Đề thi giữa học kì 2 Văn 8
Đề thi giữa kì 2 Văn 8 Kết nối tri thức - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản và trả lời câu hỏi bên dưới
ANH BÉO VÀ ANH GẦY
(Chekhov)
Trên sân ga của tuyến đường sắt Nikôlai [1] có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi lánh nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam.
Còn anh gây thì mới xuống tàu, hai tay linh kinh nào vali, nào hộp, nào túi. Người anh ta loát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê. Sau lưng anh ta là một người đàn bà gãy gồ, cắm dài - đó là vợ anh ta, và một cậu học sinh cao lêu nghêu mắt nhíu lại .. Đó là con trai anh ta
- Porphiri đấy à? . Anh béo kêu lên, khi vừa nhác thấy anh gầy. - Đúng là cậu ư? Ôi, ông bạn thân mến của tôi! Bao nhiêu đông qua hè lại chúng mình không gặp nhau rồi!
- Trời! .. Anh gây sửng sốt. – Misa! Bạn từ thuở nhỏ của tôi! Cậu ở đâu ra thế?
Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị.
- Cậu ạ, - anh gây bắt đầu nói sau khi hôn xong - Mình quả không ngờ! Đột ngột quái Nào, cậu nhìn thẳng vào mình xem nào! Ô, trông cậu vẫn đẹp trai như xưa, vẫn lịch thiệp, sang trọng như xưa! Chà, hay thật! À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? Mình thì có vợ rồi, cậu thấy đấy... Đây, vợ mình đây, Luida, nguyên họ là Vanxenbắc, theo đạo Luyte[2]... Còn đây là con trai mình, Naphanain, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy! Cùng học phổ thông với nhau đây.
Naphanain ngập ngừng một lát rồi bỏ chiếc mũ mềm xuống.
- Cùng học phổ thông với bố đấy con ạ! – Anh gầy nói tiếp – À này, cậu còn nhớ cậu bị chúng nó trêu chọc thế nào không? Chúng nó gọi cậu là Gêrôxtrát[3] vì cậu lấy thuốc lá châm cháy một cuốn sách mượn của thư viện, còn mình thì chúng nó gọi là Ephian[4] vì mình hay mách. Hô... hô... Dạo ấy bọn mình trẻ con thật! Đừng sợ con, Naphanain! Con lại gần bác chút nữa nào... Còn đây là vợ mình; nguyên họ là Vanxenbắc... theo đạo Luyte...
Naphanain suy nghĩ một lát rồi nép vào sau lưng bố.
- Này anh bạn, bây giờ sống ra sao? – Anh béo hỏi, nhìn bạn mình với vẻ đầy hoan hỉ. – Làm ở đâu? Thành đạt rồi chứ?
– Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay “Xtanixláp”[5]. Lương lậu chẳng đáng là bao... nhưng mà thôi, thấy kệ nó! Vợ mình dạy nhạc, mình thì làm thêm tẩu thuốc bằng gỗ. Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Mình bán một rúp một cái đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì, cậu biết đấy, có bớt chút ít. Cũng cố sống qua loa thế nào xong thôi. Cậu biết không, trước mình làm ở cục, bây giờ thì mình được chuyển về đây, thăng lên bậc bảy cũng trong ngành đó thôi... Mình sẽ làm ở đây. Còn cậu sao rồi? Chắc là cỡ viên chức bậc năm rồi chứ? Phải không?
- Không đâu, anh bạn ạ, cao hơn thế nữa đấy, - Anh béo nói. - Mình là viên chức bậc ba rồi… có hai mề đay của Nhà nước
Anh gầy bóng dưng tái mét mặt, ngây ra như phóng dá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ vali, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cảm dài của bà vợ như dài thêm ra; thắng Naphanain thì rụt chân vào và gái hết cúc áo lại...
- Dạ, bẩm quan trên, tôi... tôi rất lấy làm hận hạnh ạ. Bạn... nghĩa là bạn….từ thuở nhỏ, thế rồi bỗng nhiên làm chức to thể. Hì hì hì.
- Thôi, cậu dừng nói thế đi! - Anh béo cau mặt. - Sao cậu lại giở giọng thế. Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ – Việc gì cậu lại giở giọng quan cách thế
- Dạ bẩm quan... Quan lớn dạy gì kia ạ... - Anh gây cười hì hì, người càng rúm ró hơn. - Quan lớn chiếu cố cho thế này là đội ơn mưa móc cho kẻ bần dân đấy ạ... Dạ bẩm quan trên, thưa đây là con trai tôi Naphanain... và vợ là Luida, theo đạo Luyte đấy ạ...
Anh béo định quở trách điều gì thêm, nhưng gương mặt anh gầy toát ra và kính cẩn, làng làng hoan hỉ đến mức anh béo cảm thấy buồn nôn. Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy.
Anh gây nắm ba ngón tay anh béo, củi gập mình xuống chào và cười lên như
một chú tẩu: “Hì hì hì”. Bà vợ mỉm cười. Naphanain kéo chân lại và buông thống
chiếc mũ xuống.
Cả ba người đều sững sờ một cách đầy thú vị.
(Truyện ngắn A. Sê Khốp, NXB Hồng Đức, 2013)
(*)Anton Pavlovich Chekhov (tiếng Nga: Антон Павлович чеxов; phiên âm: An-Ton
Páp-Lô-vích Sê-khốp, 1860–1904) là nhà viết kịch, nhà văn chuyên thể loại truyện ngắn người Nga
1. Tuyến đường sắt Nikôlai-Đường sắt nối liền Pêtérburg (nay là Lêningrát) và Mátxcơva.
2. Đạo Luyte-Một trong những biến dạng của đạo Tin Lành.
3. Gêrôxtrát-Người Hy Lạp, năm 356 trước công nguyên đã đốt đền Áctêmida Ephecxcaia để tên mình trở thành bất tử.
4. Ephian (khoảng 500 đến 461 trước công nguyên)-Nhà hoạt động chính trị của Aten
thời cổ.
5. Mề đay “Xtanixláp” -Thứ huân chương dành để thưởng cho các quan chức cơ quan
dân sự, ở nước Nga trước Cách mạng.
Câu hỏi:
Câu 1. Dòng nào chứa thông tin cơ bản về câu chuyện, nhân vật chính trong truyện?
A. Trên sân ga của tuyến đường sắt Nikolai có hai người bạn cũ gặp nhau.
B. Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị.
C. Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay “Xtanixláp”.
D. Còn đây là con trai mình, Naphanain, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy!
Câu 2. Dòng nào nói đúng về nội dung của truyện ngắn?
A. Cuộc gặp gỡ các bạn cũ.
B. Suy nghĩ về tình bạn.
C. Khoảnh khắc gặp gỡ của đôi bạn cũ.
D. Kể về gia đình người bạn.
Câu 3. Dòng nào sắp xếp các sự việc theo đúng trình tự kể của văn bản
A. Nhắc lại kỉ niệm; Gặp gỡ xúc động; Hỏi thăm gia cảnh; Tôn kính bạn xưa.
B. Gặp gỡ xúc động; Nhắc lại kỉ niệm; Hỏi thăm gia cảnh; Tôn kính bạn xưa.
C. Gặp gỡ xúc động; Nhắc lại kỉ niệm; Tôn kính bạn xưa; Hỏi thăm gia cảnh.
D. Hỏi thăm gia cảnh; Gặp gỡ xúc động; Nhắc lại kỉ niệm; Tôn kính bạn xưa.
Câu 4. Đoạn mở đầu, tác giả chú ý khắc họa nhân vật bằng thủ pháp nghệ thuật nào?
A. Đối lập ngoại hình.
B. Tương phản gia cảnh.
C. Đặc tả mùi hương toát ra từ cơ thể.
D. Khắc họa qua đối thoại.
Câu 5. Nhân vật chính của truyện ngắn Anh béo và anh gầy là:
A. Porphiri
B. Misa
C. Luida
D. Naphanain
Câu 6. Dòng nào không diễn tả sự xúc động vô cùng của đôi bạn khi gặp lại nhau?
A. Đột ngột quá! Nào, cậu nhìn thẳng vào mình xem nào!
B. Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau.
C. Bạn từ thuở nhỏ của tôi! Cậu ở đâu ra thế?
D. À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa?
Câu 7. “Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Minh bán một rúp một cái đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì, cậu biết đấy, có bớt chút ít” là lời của ai nhằm mục đích gì?
A. Misa, giới thiệu nghề phụ.
B. Porphiri, muốn bán hàng kiếm thêm.
C. Luida, chứng minh minh cũng tháo vát.
D. Naphanain, chứng minh minh cũng khéo léo.
Câu 8. Vì sao “Anh gầy bóng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá”?
A. Vì thấy mình quá thấp kém.
B. Vì thấy bạn quá thành đạt.
C. Vì hoảng sợ
D. Vì xúc động
Câu 9: Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi a,b,c (1đ)
Anh ấy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm… Cả mấy thứ vali, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó… Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Naphanain thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại…
a. Đoạn văn mô tả điều gì? Các từ ngữ nào thể hiện điều đó?
b. Các chi tiết vali, hộp, túi, vợ có vai trò như thế nào đối với việc khắc họa nhân vật anh gầy
c. Đoạn văn làm hiện lên trước mắt độc giả con người như thế nào? Nhằm mục đích gì?
Câu 10: Chi tiết/hình ảnh/câu văn nào trong truyện ngắn khiến em phải huy động trí tưởng tượng để cảm thụ, vì sao? Em hãy viết 1 đoạn mô tả nhân vật anh gầy ở phần kết truyện (0.5đ)
II. LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Quan sát ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)


a. Đặt tên cho mỗi bức hình trên
b. Viết đoạn văn hoặc vẽ sơ đồ/ lập bảng thể hiện mối liên quan về nội dung giữa 2 bức hình với truyện Anh béo và anh gầy ở phần đọc hiểu
Câu 2. Gọi tên hiện tượng ở 2 bức hình trên và viết bài văn nghị luận thể hiện thái độ, quan điểm của cá nhân về hiện tượng đó (3đ)
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
A |
C |
B |
A |
A |
D |
B |
B |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1. Dòng nào chứa thông tin cơ bản về câu chuyện, nhân vật chính trong truyện? A. Trên sân ga của tuyến đường sắt Nikolai có hai người bạn cũ gặp nhau. B. Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị. C. Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay “Xtanixláp”. D. Còn đây là con trai mình, Naphanain, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy! |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Dòng chứa thông tin cơ bản về câu chuyện, nhân vật chính trong truyện: Trên sân ga của tuyến đường sắt Nikolai có hai người bạn cũ gặp nhau
→ Đáp án: A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu 2. Dòng nào nói đúng về nội dung của truyện ngắn? A. Cuộc gặp gỡ các bạn cũ. B. Suy nghĩ về tình bạn. C. Khoảnh khắc gặp gỡ của đôi bạn cũ. D. Kể về gia đình người bạn. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Nội dung của truyện ngắn: Khoảnh khắc gặp gỡ của đôi bạn cũ
→ Đáp án: C
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu 3. Dòng nào sắp xếp các sự việc theo đúng trình tự kể của văn bản A. Nhắc lại kỉ niệm; Gặp gỡ xúc động; Hỏi thăm gia cảnh; Tôn kính bạn xưa. B. Gặp gỡ xúc động; Nhắc lại kỉ niệm; Hỏi thăm gia cảnh; Tôn kính bạn xưa. C. Gặp gỡ xúc động; Nhắc lại kỉ niệm; Tôn kính bạn xưa; Hỏi thăm gia cảnh. D. Hỏi thăm gia cảnh; Gặp gỡ xúc động; Nhắc lại kỉ niệm; Tôn kính bạn xưa. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Dòng sắp xếp các sự việc theo đúng trình tự kể của văn bản: Gặp gỡ xúc động; Nhắc lại kỉ niệm; Hỏi thăm gia cảnh; Tôn kính bạn xưa
→ Đáp án: B
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu 4. Đoạn mở đầu, tác giả chú ý khắc họa nhân vật bằng thủ pháp nghệ thuật nào? A. Đối lập ngoại hình. B. Tương phản gia cảnh. C. Đặc tả mùi hương toát ra từ cơ thể. D. Khắc họa qua đối thoại. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn văn mở đầu
Lời giải chi tiết:
Đoạn mở đầu, tác giả chú ý khắc họa nhân vật bằng thủ pháp nghệ thuật Đối lập ngoại hình
→ Đáp án: A
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Câu 5. Nhân vật chính của truyện ngắn Anh béo và anh gầy là: A. Porphiri B. Misa C. Luida D. Naphanain |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý nhân vật được tác giả chú ý khắc họa tâm lý rõ ràng nhất
Lời giải chi tiết:
Nhân vật chính của truyện là Porphiri
→ Đáp án: A
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Câu 6. Dòng nào không diễn tả sự xúc động vô cùng của đôi bạn khi gặp lại nhau? A. Đột ngột quá! Nào, cậu nhìn thẳng vào mình xem nào! B. Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. C. Bạn từ thuở nhỏ của tôi! Cậu ở đâu ra thế? D. À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Dòng không diễn tả sự xúc động vô cùng của đôi bạn khi gặp lại nhau: À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa?
→ Đáp án: D
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Câu 7. “Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Minh bán một rúp một cái đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì, cậu biết đấy, có bớt chút ít” là lời của ai nhằm mục đích gì? A. Misa, giới thiệu nghề phụ. B. Porphiri, muốn bán hàng kiếm thêm. C. Luida, chứng minh minh cũng tháo vát. D. Naphanain, chứng minh minh cũng khéo léo. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Tìm kiếm câu văn
Lời giải chi tiết:
Câu văn trên là lời của Porphiri, mục đích muốn bán hàng kiếm thêm
→ Đáp án: B
Câu 8 (0.5 điểm)
|
Câu 8. Vì sao “Anh gầy bóng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá”? A. Vì thấy mình quá thấp kém. B. Vì thấy bạn quá thành đạt. C. Vì hoảng sợ D. Vì xúc động |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Anh gầy bóng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá vì thấy bạn quá thành đạt
→ Đáp án B
Câu 9 (1.0 điểm)
|
Câu 9: Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi a,b,c (1đ) Anh ấy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm… Cả mấy thứ vali, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó… Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Naphanain thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại… a. Đoạn văn mô tả điều gì? Các từ ngữ nào thể hiện điều đó? b. Các chi tiết vali, hộp, túi, vợ có vai trò như thế nào đối với việc khắc họa nhân vật anh gầy c. Đoạn văn làm hiện lên trước mắt độc giả con người như thế nào? Nhằm mục đích gì? |
Phương pháp:
a. Đọc kĩ đoạn văn
b. Đọc kĩ đoạn văn, phân tích các chi tiết trong đề bài
c. Dựa vào phần phân tích ở trên
Lời giải chi tiết:
a. Đoạn mô tả sự biến đổi trạng thái cảm xúc nhanh chóng của nhân vật anh gầy
- Các từ ngữ: tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá; toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ra rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm
b. Các chi tiết vali, hộp, túi, vợ bổ sung, tô đậm thêm sự thảm hại của chủ nhân
c. Đoạn văn bản làm hiện lên trước mắt độc giả con người thảm hại, khúm núm, sợ sệt, sẵn sàng nịnh bợ, quỳ gối để nhờ vả, cầu cạnh
Câu 10 (1.0 điểm)
|
Câu 10: Chi tiết/hình ảnh/câu văn nào trong truyện ngắn khiến em phải huy động trí tưởng tượng để cảm thụ, vì sao? Em hãy viết 1 đoạn mô tả nhân vật anh gầy ở phần kết truyện (0.5đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào trí tưởng tượng và lựa chọn của bản thân
Lời giải chi tiết:
Học sinh tự làm theo cảm nhận và tưởng tượng của cá nhân
Gợi ý:
- Lựa chọn chi tiết/ hình ảnh/ câu văn giàu sức gợi, lột tả bản chất kẻ xu nịnh ở nhân vật anh gầy
- Làm rõ sự tác động tới nhận thức, cảm xúc độc giả từ chi tiết/ hình ảnh/câu văn giàu sức gợi đã lựa chọn
- Dựa vào những ý trên để viết đoạn hoặc vẽ tranh
PHẦN II –LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1.
a. Đặt tên cho mỗi bức hình trên
b. Viết đoạn văn hoặc vẽ sơ đồ/ lập bảng thể hiện mối liên quan về nội dung giữa 2 bức hình với truyện Anh béo và anh gầy ở phần đọc hiểu
Phương pháp giải:
a. Quan sát kĩ bức hình và rút ra nội dung chính
b. Quan sát kĩ bức hình và đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
a. Học sinh tự đặt tên theo suy nghĩ và cách hiểu của bản thân
b. Nội dung: Cùng nói về hiện tượng: xu nịnh (Hình thức: Học sinh tự lựa chọn và thể hiện)
Câu 2. Gọi tên hiện tượng ở 2 bức hình trên và viết bài văn nghị luận thể hiện thái độ, quan điểm của cá nhân về hiện tượng đó (3đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Thể hiện thái độ, quan điểm về hiện tượng xu nịnh |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Nêu hiện tượng/ vấn đề bàn luận - Thái độ đối với hiện tượng xu nịnh |
|
Thân bài |
2,5 |
- Mô tả khái quát biểu hiện của hiện tượng qua kẻ xu nịnh và kẻ thích xu nịnh - Nguyên nhân và hậu quả của hiện tượng (phân tích bản chất của kẻ xu nịnh là mong được lợi lộc không chính đáng cho bản thân; kẻ ưa xu nịnh thường ban phát ân huệ do vị trí công tác mà có) - Thái độ đồng tình/ phản đối + Thái độ cảm xúc khi chứng kiến hiện tượng +Phân tích hệ lụy của hiện tượng: thể hiện rõ quan điểm cá nhân (lí lẽ+ dẫn chứng) Lưu ý: cần có ví dụ từ sử sách và thực tiễn |
|
Kết bài |
0,5 |
- Thái độ đối với hiện tượng xu nịnh - Nhận thức và hành động của bản thân trước những người có quyền lực |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Thể hiện rõ quan điểm cá nhân (đồng tình/phản bác) - Dẫn chứng đa dạng phù hợp với lí lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 8 Kết nối tri thức - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản và trả lời câu hỏi bên dưới
ANH BÉO VÀ ANH GẦY
(Chekhov)
Trên sân ga của tuyến đường sắt Nikôlai [1] có hai người bạn cũ gặp nhau: một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi lánh nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam.
Còn anh gây thì mới xuống tàu, hai tay linh kinh nào vali, nào hộp, nào túi. Người anh ta loát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê. Sau lưng anh ta là một người đàn bà gãy gồ, cắm dài - đó là vợ anh ta, và một cậu học sinh cao lêu nghêu mắt nhíu lại .. Đó là con trai anh ta
- Porphiri đấy à? . Anh béo kêu lên, khi vừa nhác thấy anh gầy. - Đúng là cậu ư? Ôi, ông bạn thân mến của tôi! Bao nhiêu đông qua hè lại chúng mình không gặp nhau rồi!
- Trời! .. Anh gây sửng sốt. – Misa! Bạn từ thuở nhỏ của tôi! Cậu ở đâu ra thế?
Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị.
- Cậu ạ, - anh gây bắt đầu nói sau khi hôn xong - Mình quả không ngờ! Đột ngột quái Nào, cậu nhìn thẳng vào mình xem nào! Ô, trông cậu vẫn đẹp trai như xưa, vẫn lịch thiệp, sang trọng như xưa! Chà, hay thật! À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? Mình thì có vợ rồi, cậu thấy đấy... Đây, vợ mình đây, Luida, nguyên họ là Vanxenbắc, theo đạo Luyte[2]... Còn đây là con trai mình, Naphanain, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy! Cùng học phổ thông với nhau đây.
Naphanain ngập ngừng một lát rồi bỏ chiếc mũ mềm xuống.
- Cùng học phổ thông với bố đấy con ạ! – Anh gầy nói tiếp – À này, cậu còn nhớ cậu bị chúng nó trêu chọc thế nào không? Chúng nó gọi cậu là Gêrôxtrát[3] vì cậu lấy thuốc lá châm cháy một cuốn sách mượn của thư viện, còn mình thì chúng nó gọi là Ephian[4] vì mình hay mách. Hô... hô... Dạo ấy bọn mình trẻ con thật! Đừng sợ con, Naphanain! Con lại gần bác chút nữa nào... Còn đây là vợ mình; nguyên họ là Vanxenbắc... theo đạo Luyte...
Naphanain suy nghĩ một lát rồi nép vào sau lưng bố.
- Này anh bạn, bây giờ sống ra sao? – Anh béo hỏi, nhìn bạn mình với vẻ đầy hoan hỉ. – Làm ở đâu? Thành đạt rồi chứ?
– Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay “Xtanixláp”[5]. Lương lậu chẳng đáng là bao... nhưng mà thôi, thấy kệ nó! Vợ mình dạy nhạc, mình thì làm thêm tẩu thuốc bằng gỗ. Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Mình bán một rúp một cái đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì, cậu biết đấy, có bớt chút ít. Cũng cố sống qua loa thế nào xong thôi. Cậu biết không, trước mình làm ở cục, bây giờ thì mình được chuyển về đây, thăng lên bậc bảy cũng trong ngành đó thôi... Mình sẽ làm ở đây. Còn cậu sao rồi? Chắc là cỡ viên chức bậc năm rồi chứ? Phải không?
- Không đâu, anh bạn ạ, cao hơn thế nữa đấy, - Anh béo nói. - Mình là viên chức bậc ba rồi… có hai mề đay của Nhà nước
Anh gầy bóng dưng tái mét mặt, ngây ra như phóng dá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ vali, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cảm dài của bà vợ như dài thêm ra; thắng Naphanain thì rụt chân vào và gái hết cúc áo lại...
- Dạ, bẩm quan trên, tôi... tôi rất lấy làm hận hạnh ạ. Bạn... nghĩa là bạn….từ thuở nhỏ, thế rồi bỗng nhiên làm chức to thể. Hì hì hì.
- Thôi, cậu dừng nói thế đi! - Anh béo cau mặt. - Sao cậu lại giở giọng thế. Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ – Việc gì cậu lại giở giọng quan cách thế
- Dạ bẩm quan... Quan lớn dạy gì kia ạ... - Anh gây cười hì hì, người càng rúm ró hơn. - Quan lớn chiếu cố cho thế này là đội ơn mưa móc cho kẻ bần dân đấy ạ... Dạ bẩm quan trên, thưa đây là con trai tôi Naphanain... và vợ là Luida, theo đạo Luyte đấy ạ...
Anh béo định quở trách điều gì thêm, nhưng gương mặt anh gầy toát ra và kính cẩn, làng làng hoan hỉ đến mức anh béo cảm thấy buồn nôn. Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy.
Anh gây nắm ba ngón tay anh béo, củi gập mình xuống chào và cười lên như
một chú tẩu: “Hì hì hì”. Bà vợ mỉm cười. Naphanain kéo chân lại và buông thống
chiếc mũ xuống.
Cả ba người đều sững sờ một cách đầy thú vị.
(Truyện ngắn A. Sê Khốp, NXB Hồng Đức, 2013)
(*)Anton Pavlovich Chekhov (tiếng Nga: Антон Павлович чеxов; phiên âm: An-Ton
Páp-Lô-vích Sê-khốp, 1860–1904) là nhà viết kịch, nhà văn chuyên thể loại truyện ngắn người Nga
1. Tuyến đường sắt Nikôlai-Đường sắt nối liền Pêtérburg (nay là Lêningrát) và Mátxcơva.
2. Đạo Luyte-Một trong những biến dạng của đạo Tin Lành.
3. Gêrôxtrát-Người Hy Lạp, năm 356 trước công nguyên đã đốt đền Áctêmida Ephecxcaia để tên mình trở thành bất tử.
4. Ephian (khoảng 500 đến 461 trước công nguyên)-Nhà hoạt động chính trị của Aten
thời cổ.
5. Mề đay “Xtanixláp” -Thứ huân chương dành để thưởng cho các quan chức cơ quan
dân sự, ở nước Nga trước Cách mạng.
Câu hỏi:
Câu 1. Dòng nào chứa thông tin cơ bản về câu chuyện, nhân vật chính trong truyện?
A. Trên sân ga của tuyến đường sắt Nikolai có hai người bạn cũ gặp nhau.
B. Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị.
C. Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay “Xtanixláp”.
D. Còn đây là con trai mình, Naphanain, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy!
Câu 2. Đoạn sau đây cho thấy anh gầy là người như thế nào?
Dạ bẩm quan…Quan lớn dạy gì kia ạ…- anh gầy cười hì hì, người càng rúm ró hơn – Quan lớn chiếu cố cho thế này là đội ơn mưa móc cho kẻ bần dân đấy ạ… Dạ bẩm quan trên, thưa đây là con trai tôi Naphanain… và vợ là Luida,theo đạo Luyte đấy ạ…
A. Kẻ háo danh
B. Kẻ cơ hội
C. Kẻ xu nịnh
D. Kẻ tham lam
Câu 3. Hai câu “Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam” làm nổi bật đặc điểm gì, của nhân vật nào?
A. Sự giàu có của nhân vật Misa
B. Sự thớ lợ của nhân vật Porphiri
C. Sự ngu đần của Luida
D. Sự phè phỡn của Misa
Câu 4. Vì sao anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy?
A. Vì sợ anh gầy nhờ vả
B. Vì khó chịu trước sự khúm núm của người bạn
C. Vì đang rất vội
D. Vì sợ phải thiết đãi cả gia đình bạn
Câu 5. Điền từ vào ngoặc vuông sau (cho phù hợp) để hoàn chỉnh nhận định về truyện ngắn Anh béo và anh gầy
Cốt truyện thường đơn giản […] nhưng thường đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, ý nghĩa nhân bản sâu xa
A. Ít yếu tố gay cấn
B. Nhiều yếu tố gay cấn
C. Chứa sự việc bất ngờ
D. Đầy mâu thuẫn
Câu 6. Dòng nào nói lên chủ đề của truyện và những biểu hiện của chủ đề ấy?
A. Tình bạn thắm thiết. Qua thái độ vồ vập của anh gầy
B. Xu nịnh kệch cỡm. Qua lời nói cử chỉ của anh gầy, thái độ anh béo cuối tác phẩm
C. Không nên nhờ vả. Qua thái độ của anh béo cuối tác phẩm
D. Biết chớp thời cơ để nhờ vả. Qua lời nói cử chỉ của anh gầy
Câu 7. “Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Minh bán một rúp một cái đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì, cậu biết đấy, có bớt chút ít” là lời của ai nhằm mục đích gì?
A. Misa, giới thiệu nghề phụ.
B. Porphiri, muốn bán hàng kiếm thêm.
C. Luida, chứng minh minh cũng tháo vát.
D. Naphanain, chứng minh minh cũng khéo léo.
Câu 8. Vì sao “Anh gầy bóng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá”?
A. Vì thấy mình quá thấp kém.
B. Vì thấy bạn quá thành đạt.
C. Vì hoảng sợ
D. Vì xúc động
Câu 9: Phân tích cách khắc họa nhân vật anh béo qua các chi tiết sau (1đ)
- Thôi cậu đừng nói thế đi! – anh béo cau mặt – Sao cậu lại giở giọng thế? Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ - việc gì cậu lại giở giọng quan cách thế…
- Anh béo định quở trách điều gì thêm, nhưng gương mặt anh gầy toát ra vẻ kính cẩn, lâng lâng hoan hỉ đến mức anh béo cảm thấy buồn nôn. Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy
Câu 10: Nếu gặp một người bạn như anh gầy, em sẽ ứng xử như thế nào? Cách ứng xử của anh béo có gợi ý cho em điều gì không? (0.5đ)
II. LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Quan sát ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)


a. Đặt tên cho mỗi bức hình trên
b. Viết đoạn văn hoặc vẽ sơ đồ/ lập bảng thể hiện mối liên quan về nội dung giữa 2 bức hình với truyện Anh béo và anh gầy ở phần đọc hiểu
Câu 2. Gọi tên hiện tượng ở 2 bức hình trên và viết bài văn nghị luận thể hiện thái độ, quan điểm của cá nhân về hiện tượng đó (3đ)
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
A |
C |
A |
B |
A |
B |
B |
B |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1. Dòng nào chứa thông tin cơ bản về câu chuyện, nhân vật chính trong truyện? A. Trên sân ga của tuyến đường sắt Nikolai có hai người bạn cũ gặp nhau. B. Hai người bạn ôm nhau hôn đến ba lần, mắt rưng rưng chăm chăm nhìn nhau. Cả hai đều kinh ngạc một cách đầy thú vị. C. Ừ, mình cũng có đi làm, anh bạn ạ! Hai năm nay mình là viên chức bậc tám, cũng được mề đay “Xtanixláp”. D. Còn đây là con trai mình, Naphanain, học sinh lớp ba. Này con, bác đây là bạn hồi nhỏ của bố đấy! |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Dòng chứa thông tin cơ bản về câu chuyện, nhân vật chính trong truyện: Trên sân ga của tuyến đường sắt Nikolai có hai người bạn cũ gặp nhau
→ Đáp án: A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu 2. Đoạn sau đây cho thấy anh gầy là người như thế nào? Dạ bẩm quan…Quan lớn dạy gì kia ạ…- anh gầy cười hì hì, người càng rúm ró hơn – Quan lớn chiếu cố cho thế này là đội ơn mưa móc cho kẻ bần dân đấy ạ… Dạ bẩm quan trên, thưa đây là con trai tôi Naphanain… và vợ là Luida,theo đạo Luyte đấy ạ… A. Kẻ háo danh B. Kẻ cơ hội C. Kẻ xu nịnh D. Kẻ tham lam |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn văn, chú ý những chi tiết miêu tả anh gầy
Lời giải chi tiết:
Đoạn trên cho thấy anh gầy là người Kẻ xu nịnh
→ Đáp án: C
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu 3. Hai câu “Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, môi láng nhẫy bơ như quả đào chín. Người anh ta toát ra mùi rượu nho loại nặng, mùi nước hoa cam” làm nổi bật đặc điểm gì, của nhân vật nào? A. Sự giàu có của nhân vật Misa B. Sự thớ lợ của nhân vật Porphiri C. Sự ngu đần của Luida D. Sự phè phỡn của Misa |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn văn
Đối chiếu với chỉnh thể toàn văn bản để trả lời câu hỏi của nhân vật nào
Lời giải chi tiết:
Hai câu làm nổi bật sự giàu có của nhân vật Misa
→ Đáp án: A
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu 4. Vì sao anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy? A. Vì sợ anh gầy nhờ vả B. Vì khó chịu trước sự khúm núm của người bạn C. Vì đang rất vội D. Vì sợ phải thiết đãi cả gia đình bạn |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy vì khó chịu trước sự khúm núm của người bạn
→ Đáp án: B
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Câu 5. Điền từ vào ngoặc vuông sau (cho phù hợp) để hoàn chỉnh nhận định về truyện ngắn Anh béo và anh gầy Cốt truyện thường đơn giản […] nhưng thường đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, ý nghĩa nhân bản sâu xa A. Ít yếu tố gay cấn B. Nhiều yếu tố gay cấn C. Chứa sự việc bất ngờ D. Đầy mâu thuẫn |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và các đáp án
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Cốt truyện thường đơn giản ít yếu tố gay cấn nhưng thường đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, ý nghĩa nhân bản sâu xa
→ Đáp án: A
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Câu 6. Dòng nào nói lên chủ đề của truyện và những biểu hiện của chủ đề ấy? A. Tình bạn thắm thiết. Qua thái độ vồ vập của anh gầy B. Xu nịnh kệch cỡm. Qua lời nói cử chỉ của anh gầy, thái độ anh béo cuối tác phẩm C. Không nên nhờ vả. Qua thái độ của anh béo cuối tác phẩm D. Biết chớp thời cơ để nhờ vả. Qua lời nói cử chỉ của anh gầy |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Chủ đề của truyện: Xu nịnh kệch cỡm
Những biểu hiện của chủ đề ấy: Qua lời nói cử chỉ của anh gầy, thái độ anh béo cuối tác phẩm
→ Đáp án: B
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Câu 7. “Tẩu đẹp lắm cậu ạ! Minh bán một rúp một cái đấy. Nếu ai mua cả chục hay nhiều hơn thì, cậu biết đấy, có bớt chút ít” là lời của ai nhằm mục đích gì? A. Misa, giới thiệu nghề phụ. B. Porphiri, muốn bán hàng kiếm thêm. C. Luida, chứng minh minh cũng tháo vát. D. Naphanain, chứng minh minh cũng khéo léo. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Tìm kiếm câu văn
Lời giải chi tiết:
Câu văn trên là lời của Porphiri, mục đích muốn bán hàng kiếm thêm
→ Đáp án: B
Câu 8 (0.5 điểm)
|
Câu 8. Vì sao “Anh gầy bóng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá”? A. Vì thấy mình quá thấp kém. B. Vì thấy bạn quá thành đạt. C. Vì hoảng sợ D. Vì xúc động |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Anh gầy bóng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá vì thấy bạn quá thành đạt
→ Đáp án B
Câu 9 (1.0 điểm)
|
Câu 9: Phân tích cách khắc họa nhân vật anh béo qua các chi tiết sau (1đ) - Thôi cậu đừng nói thế đi! – anh béo cau mặt – Sao cậu lại giở giọng thế? Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ - việc gì cậu lại giở giọng quan cách thế… - Anh béo định quở trách điều gì thêm, nhưng gương mặt anh gầy toát ra vẻ kính cẩn, lâng lâng hoan hỉ đến mức anh béo cảm thấy buồn nôn. Anh béo ngoảnh mặt đi và đưa tay từ biệt anh gầy |
Phương pháp:
Đọc kĩ các chi tiết
Lời giải chi tiết:
-Khắc họa nhân vật anh béo qua chuỗi lời nói, cử chỉ: khó chịu – ghê tởm – chạy trốn (cau mặt… cảm thấy buồn nôn… biệt anh gầy)
- Tác giả đặc biệt chú ý khắc họa cảm giác, cảm xúc của nhân vật
Câu 10 (1.0 điểm)
|
Câu 10: Nếu gặp một người bạn như anh gầy, em sẽ ứng xử như thế nào? Cách ứng xử của anh béo có gợi ý cho em điều gì không? (0.5đ) |
Phương pháp:
Dựa vào những phân tích ở trên
Nêu ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
- HS tự trả lời (cần thể hiện rõ nét riêng, sự tinh tế thông minh trong ứng xử của cá nhân nhằm đạt mục đích: để anh gầy thấy nhược điểm của mình)
- Chủ động thể hiện quan điểm cá nhân khi nhìn nhận cách ứng xử của anh béo (lảng tránh không phải là cách ứng xử hiệu quả)
PHẦN II –LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1.
a. Đặt tên cho mỗi bức hình trên
b. Viết đoạn văn hoặc vẽ sơ đồ/ lập bảng thể hiện mối liên quan về nội dung giữa 2 bức hình với truyện Anh béo và anh gầy ở phần đọc hiểu
Phương pháp giải:
a. Quan sát kĩ bức hình và rút ra nội dung chính
b. Quan sát kĩ bức hình và đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
a. Học sinh tự đặt tên theo suy nghĩ và cách hiểu của bản thân
b. Nội dung: Cùng nói về hiện tượng: xu nịnh (Hình thức: Học sinh tự lựa chọn và thể hiện)
Câu 2. Gọi tên hiện tượng ở 2 bức hình trên và viết bài văn nghị luận thể hiện thái độ, quan điểm của cá nhân về hiện tượng đó (3đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Thể hiện thái độ, quan điểm về hiện tượng xu nịnh |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Nêu hiện tượng/ vấn đề bàn luận - Thái độ đối với hiện tượng xu nịnh |
|
Thân bài |
2,5 |
- Mô tả khái quát biểu hiện của hiện tượng qua kẻ xu nịnh và kẻ thích xu nịnh - Nguyên nhân và hậu quả của hiện tượng (phân tích bản chất của kẻ xu nịnh là mong được lợi lộc không chính đáng cho bản thân; kẻ ưa xu nịnh thường ban phát ân huệ do vị trí công tác mà có) - Thái độ đồng tình/ phản đối + Thái độ cảm xúc khi chứng kiến hiện tượng +Phân tích hệ lụy của hiện tượng: thể hiện rõ quan điểm cá nhân (lí lẽ+ dẫn chứng) Lưu ý: cần có ví dụ từ sử sách và thực tiễn |
|
Kết bài |
0,5 |
- Thái độ đối với hiện tượng xu nịnh - Nhận thức và hành động của bản thân trước những người có quyền lực |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Thể hiện rõ quan điểm cá nhân (đồng tình/phản bác) - Dẫn chứng đa dạng phù hợp với lí lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 8 Kết nối tri thức - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản và trả lời câu hỏi bên dưới
AI BIỂU XẤU
(Nguyễn Ngọc Tư)
“… Bạn diễn đạt hơi thiếu biểu cảm. Giọng bạn đuối đi khi đến cao trào. Một điểm nữa là ngoại hình bạn bị hạn chế. Mà đây là thi Tiếng hát truyền hình chứ không phải tiếng hát phát thanh …”. Lời nhận xét này của một thành viên ban giám khảo cuộc thi tiếng hát truyền hình tỉnh trong đêm trung kết. Tôi thấy một chút điếng dại đi thoáng qua trên gương mặt thí sinh, khi giữa sân khấu lấp lóa ánh đèn, trước hàng ngàn người và đông đảo bạn xem truyền hình trực tiếp, anh bị chê... xấu.
Hẳn anh không muốn mình xấu. Hẳn cha mẹ anh cũng không muốn sinh con xấu. Nhưng vào cái lúc vị giám khảo đến từ thành phố văn minh kia “âu yếm” (quả thật vẻ mặt ông rất hồn nhiên) nhận xét về ngoại hình minh, anh sẽ oán giận cuộc đời, oán giận mẹ cha đã tạo ra anh giữa đời này, làm cho anh tới nông nỗi này, chết đứng trên sân khấu. Mà anh vẫn phải gượng gạo cưới, chở người ta chê xong, cảm ơn, và rời sân khấu trên đôi chân không phải của mình, gương mặt không còn là của mình, di chuyển một thần xác đã khó những máu, thân xác cũng không còn là của anh.
Tôi bỗng nghĩ mình may, phải biết hát hò, có khả năng tôi cũng đi thi. Và cái cô Hà Há Ha mang số báo danh Không Không Có cũng bị trời trong bởi “ngoại hình hạn chế” hay “tên bạn rất không hợp để làm... ca sĩ”. Bất ngờ? Không, ta vẫn biết vậy khi nhìn vào gương, khi nghĩ về mình, nhưng ta vẫn đau một cách không kiềm chế. Và ánh đèn đêm đó, vẻ mặt vô tư của vị giám khảo đó, biển người đó, bài ca đó... mãi mãi là nỗi ám ảnh không nguôi được. Chỉ muốn làm cát, làm nước, làm giun dế cho rồi...
Sao ngay từ đầu, trong thể lệ cuộc thi, người ta không đưa ra điều kiện “ngoại hình đẹp” như mấy nhà hàng vẫn thường dán thông báo tuyển tiếp viên. Nhất thiết phải dán mấy cái hình mẫu Jude Law, Lương Triều Vỹ hay Mai Phương Thúy để người ta hiểu đẹp là phải như thế này. Bởi mỗi người có một quan niệm khác nhau về cái đẹp, như tôi, lam lũ, đen đúa, bụi bặm... là đẹp, thì bạn nói bạn thích vẻ dịu dàng, thuần khiết, mỏng manh, sang trọng... Người dự thi, sau khi ngó qua tiêu chí và mấy tấm hình mẫu thì dù có giọng đẹp như Lê Dung, Tuấn Ngọc, Mỹ Linh cũng ngó lại cái “ngoại hình hạn chế” mà rút lui không nuối tiếc.
Để không phải trút tâm huyết gan ruột mình hát cả chục bài, vượt qua bốn năm vòng thi; để không nuôi chút vui, chút hy vọng, khát vọng gì khi qua mỗi ải; để không phải xót lòng nghe người đời hỏi, “Ê, sao ba má bạn đẻ bạn xấu vậy?”. Để đi qua một giấc mơ dài, chợt tỉnh bất ngờ vì bị dội vào người thứ nước lấy lên từ những dòng sông băng, buốt nhức, cắt da cắt thịt. Tỉnh dậy, để thấy đời buồn vì những chuyện không đâu.
Cảm giác và nói ra cảm giác là hai chuyện khác nhau, một cái là của riêng mình và cái kia tác động đến người khác. Ai cũng nghĩ như vị giám khảo kia, nhưng không phải ai cũng thiếu tế nhị, thừa tàn nhẫn để thể hiện nó bằng lời, công khai giữa đám đông.
Tôi nhớ có lần, bạn bè hỏi tôi sao mà lúc này quan tâm quá nhiều tới nhan sắc. Tôi cười thẩm, ngoài miệng nói vậy thôi, chứ thật ra tôi tin là mình cùng hạn chế" chắc chắn tôi không thể thi “tiếng hát truyền hình” (nếu có giọng c có chút duyên ngầm. Nhưng tin cũng chẳng làm gì, vì tôi biết với “ngoại hình khá), không thể làm nhân viên tiếp thị (nếu chẳng còn viết văn được nữa), và nếu khó khăn hơn nữa, để nuôi dám con ăn học, tôi cũng không tìm được chân bưng bê trong quán bia.
Ai biểu xấu?!
Nguyễn Ngọc Tư, Đảo ( tập truyện ngắn), NXB Trẻ, 2014
Câu hỏi:
Câu 1. Dòng nào không nói lên dấu hiệu cho biết văn bản trên là truyện ngắn
A. Nhân vật ít.
B. Dung lượng ngắn (gần 2 trang).
C. Ít sự việc (diễn ra trong thời gian rất ngắn).
D. Cảm nghĩ của người kể chuyện.
Câu 2. Dòng nào nói đúng về nội dung của truyện ngắn
A. Về việc nhận xét (của giám khảo) trong cuộc thi hát.
B. Suy nghĩ của khán giả về cuộc thi hát.
C. Ý định đi thi hát của người kể chuyện.
D. Kể chuyện nhan sắc của ca sĩ.
Câu 3. Dòng nào sắp xếp các sự việc theo đúng trình tự kể của văn bản
A. Cảm giác của thí sinh; Giám khảo nhận xét thí sinh thi hát; Suy nghĩ của người kể chuyện về cuộc thi hát.
B. Giám khảo nhận xét thí sinh thi hát; Suy nghĩ của người kể chuyện về cuộc thi hát; Suy nghĩ của người kể chuyện về nhan sắc con người.
C. Suy nghĩ của người kể chuyện về cuộc thi hát; Suy nghĩ của người kể chuyện về nhan sắc con người.
D. Nỗi khổ của người đi thi; Giám khảo nhận xét thí sinh thi hát; Suy nghĩ của người kể chuyện về cuộc thi hát.
Câu 4. “... Bạn diễn đạt hơi thiếu biểu cảm. Giọng bạn đuổi đi khi đến cao trào. Một điểm nữa là ngoại hình bạn bị hạn chế” là lời nói của ai? Tác động đến những đối tượng nào?
a. Của tác giả, tác động tới độc giả.
b. Lời của người kể chuyện, tác động đến độc giả.
c. Của giám khảo cuộc thi hát, tác động đến thí sinh, toàn bộ người tham dự.
d. Của người tham dự, tác động đến thí sinh và giám khảo.
Câu 5. Dòng nào sau đây là sản phẩm của trí tưởng tượng trong sáng tạo văn học?
A. Anh sẽ oán giận cuộc đời, oán giận mẹ cha đã tạo ra anh giữa đời này, làm cho anh tới nông nỗi này, chết đứng trên sân khấu.
B. Anh vẫn phải gượng gạo cười, chờ người ta chê xong, cảm ơn, và rời sân khấu trên đôi chân không phải của mình.
C. Vị giám khảo đến từ thành phố văn minh kia “âu yếm” (quả thật vẻ mặt ông rất hồn nhiên) nhận xét về ngoại hình mình.
D. Tôi bỗng nghĩ mình may, phải biết hát hò, có khả năng tôi cũng đi thi.
Câu 6. Vì sao người kể chuyện không tán thành với nhận xét của một vị giám khảo
ngoại hình bạn bị hạn chế”?
A. Thiếu tế nhị.
B. Không phù hợp với tiêu chí của cuộc thi.
C. Khiến thí sinh bị tổn thương.
D. Khán giả mất cảm tình.
Câu 7. Đoạn văn sau là lời của ai, nói về điều gì? Nhằm mục đích gì?
Bởi mỗi người có một quan niệm khác nhau về cái đẹp, như tôi, lam lũ, đen đúa, bụi bặm... là đẹp, thì bạn nói bạn thích vẻ dịu dàng, thuần khiết, mỏng manh, sang trọng...
A. Lời của một thí sinh, nói về các quan niệm về cái đẹp. Thể hiện thái độ không đồng tình với nhận xét của 1 vị giám khảo.
B. Lời của người kể chuyện, nói về các quan niệm về cái đẹp. Thể hiện thái độ đồng tình với nhận xét của 1 vị giám khảo.
C. Lời của người kể chuyện, nói về các quan niệm về cái đẹp. Thể hiện thái độ không đồng tình với nhận xét của 1 vị giám khảo.
D. Lời của một giám khảo, nói về các quan niệm về cái đẹp. Thể hiện thái độ
không đồng tình với nhận xét của 1 vị giám khảo trước đó.
Câu 8. Những chuyện không đâu trong dòng “Tỉnh dậy, để thấy đời buồn vì những chuyện không đâu” là chuyện gì?
A. Đi thi
B. Ngoại hình
C. Người khác nhận xét về ngoại hình của mình
D. Thi hát
Câu 9. Tác giả muốn nói điều gì trong câu: “Hẳn anh không muốn mình xấu. Hẳn cha mẹ anh cũng không muốn sinh con xấu”. Em có đồng ý với điều đó không? Vì sao? (0,5đ)
Câu 10. Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi a,b,c (1đ)
… Mà anh vẫn phải gượng gạo cười, chờ người ta chê xong, cảm ơn, và rời sân khấu trên đôi chân không phải của mình, di chuyển một thân xác đã khô những máu, thân xác cũng không còn là của anh.”
a. Xác định các chi tiết, hình ảnh tả thực, điều tưởng tượng trong đoạn trên
b. “Mà anh vẫn phải gượng gạo cười, chờ người ta chê xong, cảm ơn” miêu tả ai? Nhằm thể hiện điều gì ở đối tượng?
c. Ngôn từ của văn bản khiến em tưởng tượng ra điều gì? Hãy diễn tả điều đó (4-6 câu)
II. LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Đọc ngữ liệu sau và thực hiện yêu cầu kế tiếp (1đ)
NGỪNG PHÁN XÉT NGOẠI HÌNH NGƯỜI KHÁC
Không có ai muốn mình xấu, cũng chẳng có ai thích bị người khác chê bai ngoại hình cả.
“Con này béo thế”, “con kia lùn thật”, “khiếp, con gái gì mà xấu thế, mặt toàn mụn là mụn”, “eo ôi, da nó đen như da trâu ấy”, “trông nó kìa, mặt đã xấu rồi răng lại còn vẩu nữa”, “người đâu gầy như que tăm thể”.. Bạn đã bao giờ nghe được những lời nhận xét như vậy về mình hay một ai đó chưa?
[…] Trong thực tế, có những người rất hay đi soi mói ngoại hình của người khác rồi chê bai và cười nhạo họ. Cũng có những kẻ chỉ vì sự ganh ghét, đô kỵ mà sẵn sàng đem ngoại hình của người ta ra đùa cợt, bôi nhọ và tưởng như thế là hay. Nhưng thực chất, hành động ấy không những chẳng hề hay họ một chút nào, mà còn gây những ảnh hưởng rất tiêu cực tới những đối tượng bị nhắm tới.
Hình hài của con người khi sinh ra là được thừa hưởng từ cha mẹ, cho nên chẳng ai có thể định đoạt được mặt mũi, dáng vẻ, chiều cao của bản thân mình sẽ như thế nào ngay từ đầu. Trên đời này, không có ai muốn mình xấu, cũng chẳng có ai thích bị chê cả. Vậy thử hỏi, khi bạn chế bai ngoại hình của một ai đó, bạn có bao giờ đặt cảm xúc của mình vào họ không? Bạn nghĩ họ có vui không? Bạn nghĩ họ muốn mình xấu sao? Hay là bạn nghĩ họ thích bị chê bai?
Câu trả lời là “không”, họ không hề, bạn chê ngoại hình của họ chỉ đơn giản là vì bạn thích thế, bạn thấy nó vui hoặc là do bạn không ưa họ mà thôi. Bạn thử nghĩ xem, khi bản thân bị người khác chê bai thì bạn có buồn không, có tức không? Đương nhiên là có, đôi khi còn cay cú mà chửi lại.
Với người bình thường, có bản lĩnh, khi bị chê bai ngoại hình có thể thấy không sao. Nhưng đối với những người có tâm lý yếu mềm, đó lại là một chuyện khác. Khi họ bị quá nhiều người chê bai ngoại hình, lâu dần sẽ thấy rất chạnh lòng, buồn rầu, cảm thấy tự ti về bản thân, đôi lúc còn có nguy cơ dẫn đến trầm cảm.
Con người chứ đâu phải khúc gỗ mà không biết đau lòng. Từng lời chê cộng dồn lại như những vết dao cứa sâu vào trong lòng họ vậy. Và sự tổn thương đó sẽ lớn dần lên theo từng năm tháng. Bạn chỉ có quyền chê bai người khác khi người đó làm gì đó sai trái, còn ngoại hình không được hoàn mỹ không phải lỗi lầm hay gây hại cho ai cả. Chính vì vậy, trước khi buông lời phán xét hay chê bai ngoại hình của người khác, bạn hãy tự nhìn lại chính bản thân mình xem liệu có tốt đẹp hơn người ta không?
Cho dù nhan sắc bạn có đẹp đến cỡ nào đi chăng nữa thì khi bạn chê bai ngoại hình của người khác một cách thô thiển, chính bạn cũng trở nên xấu xí. Xấu ở đây không phải là nhan sắc mà là nhân cách của bạn. Họ sinh ra không phải để cho mình bạn ngắm, cũng chẳng phải để làm hài lòng bạn và đặc biệt là họ xấu hay đẹp cũng không cần bạn phải quan tâm. Xấu người nhưng đẹp nết thì vẫn đầy người quý, nhưng đẹp người mà xấu nết thì không thiếu người ghét.
Khi nhắc tới người đẹp, người ta thường nghĩ ngay đến một người có nhan sắc. Nhưng khi nói đến người xấu, ắt hẳn ai cũng sẽ hiểu rằng đó chính là một người có nhân cách tệ.
(vnexpress.net)
a. Lựa chọn, điền vào bảng câu văn có nội dung tương đồng của ngữ liệu trên với truyện ngắn Ai biểu xấu của tác giả Nguyễn Ngọc Tư.
|
Ngừng phán xét ngoại hình người khác |
Ai biểu xấu |
|
Không có ai muốn mình xấu, cũng chẳng có ai thích bị người khác chê bai ngoại hình cả |
|
|
Con người chứ đâu phải khúc gỗ mà không biết đau lòng. Từng lời chê cộng dồn lại như những vết dao cứa sâu vào trong lòng họ vậy |
|
b. Xác định từ lặp 2 lần ở 2 đoạn cuối để xác định nét khác biệt về nội dung và hình thức của văn bản Ngừng phán xét ngoại hình người khác với Ai biểu xấu của tác giả Nguyễn Ngọc Tư
Câu 2. Viết bài văn nghị luận thể hiện quan điểm của cá nhân mình (đồng tình/ phản đối) về hiện tượng phán xét ngoại hình của người khác (dài 1-1,5 trang giấy thi) (3đ)
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
D |
A |
B |
C |
A |
D |
B |
C |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1. Dòng nào không nói lên dấu hiệu cho biết văn bản trên là truyện ngắn A. Nhân vật ít. B. Dung lượng ngắn (gần 2 trang). C. Ít sự việc (diễn ra trong thời gian rất ngắn). D. Cảm nghĩ của người kể chuyện. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại đặc điểm thể loại truyện ngắn
Lời giải chi tiết:
Dòng không nói lên dấu hiệu cho biết văn bản trên là truyện ngắn: Cảm nghĩ của người kể chuyện
→ Đáp án: D
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu 2. Dòng nào nói đúng về nội dung của truyện ngắn A. Về việc nhận xét (của giám khảo) trong cuộc thi hát. B. Suy nghĩ của khán giả về cuộc thi hát. C. Ý định đi thi hát của người kể chuyện. D. Kể chuyện nhan sắc của ca sĩ. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Nội dung của truyện ngắn: Về việc nhận xét (của giám khảo) trong cuộc thi hát
→ Đáp án: A
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu 3. Dòng nào sắp xếp các sự việc theo đúng trình tự kể của văn bản A. Cảm giác của thí sinh; Giám khảo nhận xét thí sinh thi hát; Suy nghĩ của người kể chuyện về cuộc thi hát. B. Giám khảo nhận xét thí sinh thi hát; Suy nghĩ của người kể chuyện về cuộc thi hát; Suy nghĩ của người kể chuyện về nhan sắc con người. C. Suy nghĩ của người kể chuyện về cuộc thi hát; Suy nghĩ của người kể chuyện về nhan sắc con người. D. Nỗi khổ của người đi thi; Giám khảo nhận xét thí sinh thi hát; Suy nghĩ của người kể chuyện về cuộc thi hát. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Các sự việc theo đúng trình tự kể của văn bản: Giám khảo nhận xét thí sinh thi hát; Suy nghĩ của người kể chuyện về cuộc thi hát; Suy nghĩ của người kể chuyện về nhan sắc con người.
→ Đáp án: B
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu 4. “... Bạn diễn đạt hơi thiếu biểu cảm. Giọng bạn đuổi đi khi đến cao trào. Một điểm nữa là ngoại hình bạn bị hạn chế” là lời nói của ai? Tác động đến những đối tượng nào? A. Của tác giả, tác động tới độc giả. B. Lời của người kể chuyện, tác động đến độc giả. C. Của giám khảo cuộc thi hát, tác động đến thí sinh, toàn bộ người tham dự. D. Của người tham dự, tác động đến thí sinh và giám khảo. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đề bài và đối chiếu với văn bản đọc ở trên
Lời giải chi tiết:
Câu trên là lời nói của giám khảo cuộc thi hát, tác động đến thí sinh, toàn bộ người tham dự
→ Đáp án: C
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Câu 5. Dòng nào sau đây là sản phẩm của trí tưởng tượng trong sáng tạo văn học? A. Anh sẽ oán giận cuộc đời, oán giận mẹ cha đã tạo ra anh giữa đời này, làm cho anh tới nông nỗi này, chết đứng trên sân khấu. B. Anh vẫn phải gượng gạo cười, chờ người ta chê xong, cảm ơn, và rời sân khấu trên đôi chân không phải của mình. C. Vị giám khảo đến từ thành phố văn minh kia “âu yếm” (quả thật vẻ mặt ông rất hồn nhiên) nhận xét về ngoại hình mình. D. Tôi bỗng nghĩ mình may, phải biết hát hò, có khả năng tôi cũng đi thi. |
Phương pháp:
Đọc kĩ các đáp án
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Dòng nào là sản phẩm của trí tưởng tượng trong sáng tạo văn học: Anh sẽ oán giận cuộc đời, oán giận mẹ cha đã tạo ra anh giữa đời này, làm cho anh tới nông nỗi này, chết đứng trên sân khấu
→ Đáp án: A
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Câu 6. Vì sao người kể chuyện không tán thành với nhận xét của một vị giám khảo “ngoại hình bạn bị hạn chế”? A. Thiếu tế nhị. B. Không phù hợp với tiêu chí của cuộc thi. C. Khiến thí sinh bị tổn thương. D. Cả ba đáp án trên. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Người kể chuyện không tán thành với nhận xét của một vị giám khảo “ngoại hình bạn bị hạn chế” vì:
Thiếu tế nhị
Không phù hợp với tiêu chí của cuộc thi
Khiến thí sinh bị tổn thương
→ Đáp án: D
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Câu 7. Đoạn văn sau là lời của ai, nói về điều gì? Nhằm mục đích gì? Bởi mỗi người có một quan niệm khác nhau về cái đẹp, như tôi, lam lũ, đen đúa, bụi bặm... là đẹp, thì bạn nói bạn thích vẻ dịu dàng, thuần khiết, mỏng manh, sang trọng... A. Lời của một thí sinh, nói về các quan niệm về cái đẹp. Thể hiện thái độ không đồng tình với nhận xét của 1 vị giám khảo. B. Lời của người kể chuyện, nói về các quan niệm về cái đẹp. Thể hiện thái độ đồng tình với nhận xét của 1 vị giám khảo. C. Lời của người kể chuyện, nói về các quan niệm về cái đẹp. Thể hiện thái độ không đồng tình với nhận xét của 1 vị giám khảo. D. Lời của một giám khảo, nói về các quan niệm về cái đẹp. Thể hiện thái độ không đồng tình với nhận xét của 1 vị giám khảo trước đó. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn văn và đưa ra phân tích
Lời giải chi tiết:
Đoạn văn trên là lời của người kể chuyện, nói về các quan niệm về cái đẹp. Thể hiện thái độ đồng tình với nhận xét của 1 vị giám khảo
→ Đáp án: B
Câu 8 (0.5 điểm)
|
Câu 8. Những chuyện không đâu trong dòng “Tỉnh dậy, để thấy đời buồn vì những chuyện không đâu” là chuyện gì? A. Đi thi B. Ngoại hình C. Người khác nhận xét về ngoại hình của mình D. Thi hát |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Những chuyện không đâu trong dòng “Tỉnh dậy, để thấy đời buồn vì những chuyện không đâu” là chuyện người khác nhận xét về ngoại hình của mình
→ Đáp án C
Câu 9 (1.0 điểm)
|
Câu 9. Tác giả muốn nói điều gì trong câu: “Hẳn anh không muốn mình xấu. Hẳn cha mẹ anh cũng không muốn sinh con xấu”. Em có đồng ý với điều đó không? Vì sao? (0,5đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ câu nói, đối chiếu với chỉnh thể toàn đoạn văn
Nêu ý kiến của bản thân và giải thích
Lời giải chi tiết:
- Ngoại hình không đẹp là do tạo hóa, là con người, ai cũng mong muốn có một ngoại hình đẹp ( không nói tới yếu tố thẩm mỹ vì nó rất tốn kém, không phải ai cũng đủ điều kiện để thực hiện)
- Em có đồng ý không? Học sinh tự trình bày quan điểm cá nhân
Câu 10 (1.0 điểm)
|
Câu 10. Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi a,b,c (1đ) … Mà anh vẫn phải gượng gạo cười, chờ người ta chê xong, cảm ơn, và rời sân khấu trên đôi chân không phải của mình, di chuyển một thân xác đã khô những máu, thân xác cũng không còn là của anh.” a. Xác định các chi tiết, hình ảnh tả thực, điều tưởng tượng trong đoạn trên b. “Mà anh vẫn phải gượng gạo cười, chờ người ta chê xong, cảm ơn” miêu tả ai? Nhằm thể hiện điều gì ở đối tượng? c. Ngôn từ của văn bản khiến em tưởng tượng ra điều gì? Hãy diễn tả điều đó (4-6 câu) |
Phương pháp:
a. Đọc kĩ đoạn văn
b. Đọc kĩ câu văn, đối chiếu với văn bản ở trên
c. Dựa vào những phân tích ở trên và trí tưởng tượng của bản thân
Lời giải chi tiết:
a. Chi tiết, hình ảnh tả thực: gượng gạo cười, chờ người ta chê xong, cảm ơn và rời sân khấu; Chi tiết, hình ảnh tưởng tượng: chân không phải của mình, gương mặt không còn là của mình, di chuyển một thân xác đã khô những máu …
b. Tả thí sinh sau khi nghe lời nhận xét. Nhằm thể hiện nỗi đau tinh thần của người bị tổn thương bởi lời nói khô, thiếu tế nhị, không văn minh
c. Em tưởng tượng: Học sinh tự làm
PHẦN II –LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1.
a. Lựa chọn, điền vào bảng câu văn có nội dung tương đồng của ngữ liệu trên với truyện ngắn Ai biểu xấu của tác giả Nguyễn Ngọc Tư.
|
Ngừng phán xét ngoại hình người khác |
Ai biểu xấu |
|
Không có ai muốn mình xấu, cũng chẳng có ai thích bị người khác chê bai ngoại hình cả |
|
|
Con người chứ đâu phải khúc gỗ mà không biết đau lòng. Từng lời chê cộng dồn lại như những vết dao cứa sâu vào trong lòng họ vậy |
|
b. Xác định từ lặp 2 lần ở 2 đoạn cuối để xác định nét khác biệt về nội dung và hình thức của văn bản Ngừng phán xét ngoại hình người khác với Ai biểu xấu của tác giả Nguyễn Ngọc Tư
Phương pháp giải
a. Đọc kĩ hai văn bản và đối chiếu hai nội dung tương đương
b. Đọc kĩ hai văn bản, so sánh để thấy được sự khác biệt về nội dung và hình thức
Lời giải chi tiết
a.
|
Ngừng phán xét ngoại hình người khác |
Ai biểu xấu |
|
Không có ai muốn mình xấu, cũng chẳng có ai thích bị người khác chê bai ngoại hình cả |
Hẳn anh không muốn mình xấu. Hẳn cha mẹ anh cũng không muốn sinh con xấu |
|
Con người chứ đâu phải khúc gỗ mà không biết đau lòng. Từng lời chê cộng dồn lại như những vết dao cứa sâu vào trong lòng họ vậy |
… bị dội vào người thứ nước lấy lên từ những dòng sông băng, buốt nhức, cắt da cắt thịt |
b.
-Nhân cách
- Nét khác biệt:
+ Văn bản truyện: thiếu tế nhị, thừa tàn nhẫn; Văn bản Ngừng phán xét ngoại hình người khác khẳng định: Chê bai ngoại hình người khác đã khẳng định thuộc nhân cách con người
+ Kiểu văn bản: truyện ngắn – văn bản văn học và văn bản sau là nghị luận
Câu 2. Viết bài văn nghị luận thể hiện quan điểm của cá nhân mình (đồng tình/ phản đối) về hiện tượng phán xét ngoại hình của người khác (dài 1-1,5 trang giấy thi) (3đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Thể hiện quan điểm của cá nhân mình (đồng tình/ phản đối) về hiện tượng phán xét ngoại hình của người khác |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Nêu hiện tượng/ vấn đề bàn luận - Thái độ đối với hiện tượng phán xét ngoại hình của người khác |
|
Thân bài |
2,5 |
- Mô tả khái quát hiện tượng - Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng (người phán xét) - Thái độ đồng tình/ phản đối: + Thái độ cảm xúc khi chứng kiến 2 đối tượng (người phán xét, người bị phán xét) +Phân tích hệ lụy của hiện tượng (người bị nhận xét) ; thể hiện rõ quan điểm cá nhân (lí lẽ+ dẫn chứng) |
|
Kết bài |
0,5 |
- Thái độ đối với hiện tượng đồng tình/ phản đối - Nhận thức và hành động của bản thân khi chứng kiến hiện tượng phán xét ngoại hình của người khác |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Thể hiện rõ quan điểm cá nhân (đồng tình/phản bác) - Dẫn chứng đa dạng phù hợp với lí lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 8 Kết nối tri thức - Đề số 4
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản và trả lời câu hỏi bên dưới
AI BIỂU XẤU
(Nguyễn Ngọc Tư)
“… Bạn diễn đạt hơi thiếu biểu cảm. Giọng bạn đuối đi khi đến cao trào. Một điểm nữa là ngoại hình bạn bị hạn chế. Mà đây là thi Tiếng hát truyền hình chứ không phải tiếng hát phát thanh …”. Lời nhận xét này của một thành viên ban giám khảo cuộc thi tiếng hát truyền hình tỉnh trong đêm trung kết. Tôi thấy một chút điếng dại đi thoáng qua trên gương mặt thí sinh, khi giữa sân khấu lấp lóa ánh đèn, trước hàng ngàn người và đông đảo bạn xem truyền hình trực tiếp, anh bị chê... xấu.
Hẳn anh không muốn mình xấu. Hẳn cha mẹ anh cũng không muốn sinh con xấu. Nhưng vào cái lúc vị giám khảo đến từ thành phố văn minh kia “âu yếm” (quả thật vẻ mặt ông rất hồn nhiên) nhận xét về ngoại hình minh, anh sẽ oán giận cuộc đời, oán giận mẹ cha đã tạo ra anh giữa đời này, làm cho anh tới nông nỗi này, chết đứng trên sân khấu. Mà anh vẫn phải gượng gạo cưới, chở người ta chê xong, cảm ơn, và rời sân khấu trên đôi chân không phải của mình, gương mặt không còn là của mình, di chuyển một thần xác đã khó những máu, thân xác cũng không còn là của anh.
Tôi bỗng nghĩ mình may, phải biết hát hò, có khả năng tôi cũng đi thi. Và cái cô Hà Há Ha mang số báo danh Không Không Có cũng bị trời trong bởi “ngoại hình hạn chế” hay “tên bạn rất không hợp để làm... ca sĩ”. Bất ngờ? Không, ta vẫn biết vậy khi nhìn vào gương, khi nghĩ về mình, nhưng ta vẫn đau một cách không kiềm chế. Và ánh đèn đêm đó, vẻ mặt vô tư của vị giám khảo đó, biển người đó, bài ca đó... mãi mãi là nỗi ám ảnh không nguôi được. Chỉ muốn làm cát, làm nước, làm giun dế cho rồi...
Sao ngay từ đầu, trong thể lệ cuộc thi, người ta không đưa ra điều kiện “ngoại hình đẹp” như mấy nhà hàng vẫn thường dán thông báo tuyển tiếp viên. Nhất thiết phải dán mấy cái hình mẫu Jude Law, Lương Triều Vỹ hay Mai Phương Thúy để người ta hiểu đẹp là phải như thế này. Bởi mỗi người có một quan niệm khác nhau về cái đẹp, như tôi, lam lũ, đen đúa, bụi bặm... là đẹp, thì bạn nói bạn thích vẻ dịu dàng, thuần khiết, mỏng manh, sang trọng... Người dự thi, sau khi ngó qua tiêu chí và mấy tấm hình mẫu thì dù có giọng đẹp như Lê Dung, Tuấn Ngọc, Mỹ Linh cũng ngó lại cái “ngoại hình hạn chế” mà rút lui không nuối tiếc.
Để không phải trút tâm huyết gan ruột mình hát cả chục bài, vượt qua bốn năm vòng thi; để không nuôi chút vui, chút hy vọng, khát vọng gì khi qua mỗi ải; để không phải xót lòng nghe người đời hỏi, “Ê, sao ba má bạn đẻ bạn xấu vậy?”. Để đi qua một giấc mơ dài, chợt tỉnh bất ngờ vì bị dội vào người thứ nước lấy lên từ những dòng sông băng, buốt nhức, cắt da cắt thịt. Tỉnh dậy, để thấy đời buồn vì những chuyện không đâu.
Cảm giác và nói ra cảm giác là hai chuyện khác nhau, một cái là của riêng mình và cái kia tác động đến người khác. Ai cũng nghĩ như vị giám khảo kia, nhưng không phải ai cũng thiếu tế nhị, thừa tàn nhẫn để thể hiện nó bằng lời, công khai giữa đám đông.
Tôi nhớ có lần, bạn bè hỏi tôi sao mà lúc này quan tâm quá nhiều tới nhan sắc. Tôi cười thẩm, ngoài miệng nói vậy thôi, chứ thật ra tôi tin là mình cùng hạn chế" chắc chắn tôi không thể thi “tiếng hát truyền hình” (nếu có giọng c có chút duyên ngầm. Nhưng tin cũng chẳng làm gì, vì tôi biết với “ngoại hình khá), không thể làm nhân viên tiếp thị (nếu chẳng còn viết văn được nữa), và nếu khó khăn hơn nữa, để nuôi dám con ăn học, tôi cũng không tìm được chân bưng bê trong quán bia.
Ai biểu xấu?!
Nguyễn Ngọc Tư, Đảo ( tập truyện ngắn), NXB Trẻ, 2014
Câu hỏi:
Câu 1. Dòng nào không nói lên dấu hiệu cho biết văn bản trên là truyện ngắn
A. Nhân vật ít.
B. Dung lượng ngắn (gần 2 trang).
C. Ít sự việc (diễn ra trong thời gian rất ngắn).
D. Cảm nghĩ của người kể chuyện.
Câu 2. Tác giả dùng phép tu từ nào trong dòng sau? Để diễn tả điều gì?
Để đi qua một giấc mơ dài, chợt tỉnh bất ngờ vì bị dội vào người thứ nước lấy lên từ những dòng sông băng, buốt nhức, cắt da cắt thịt
A. Ẩn dụ, diễn tả nỗi đau đến quá bất ngờ
B. Ẩn dụ, diễn tả nỗi nhục nhã đến quá bất ngờ
C. Hoán dụ, diễn tả nỗi đau đến quá bất ngờ
D. Tượng trưng, diễn tả nỗi thất vọng
Câu 3. Vị giám khảo cần nhận xét tiêu chí nào để đánh giá năng lực của thí sinh?
A. Trang phục
B. Giọng hát
C. Khả năng biểu cảm
D. Khả năng vũ đạo
Câu 4. Nghệ thuật kể chuyện của văn bản trên có gì đặc biệt?
A. Chủ yếu là suy ngẫm của người kể chuyện
B. Sự việc tản mạn theo dòng suy ngẫm
C. Đan cài kể chuyện với suy ngẫm, bình luận của người kể chuyện
D. Không thể xác định được nhân vật của chuyện
Câu 5. Dòng nào không nói lên thông điệp của câu chuyện trên?
A. Không nên làm người khác tổn thương
B. Vẻ đẹp ngoại hình không phải là yếu tố quan trọng nhất
C. Giám khảo cần nhận xét hướng vào tiêu chí của cuộc thi
D. Không được nhận xét về ngoại hình trong cuộc thi hát
Câu 6. Dòng nào nói lên chủ đề của văn bản và một số biểu hiện của chủ đề đó?
A. Đánh giá cần tế nhị. Qua câu chuyện mở đầu và suy nghĩ của “tôi”
B. Đánh giá ngoại hình người khác rất khó. Qua câu chuyện mở đầu
C. Đi thi hát dễ bị tổn thương. Qua biểu hiện của thí sinh
D. Ngoại hình là yếu tố quan trọng. Qua suy nghĩ của “tôi”
Câu 7. Đoạn văn sau là lời của ai, nói về điều gì? Nhằm mục đích gì?
Bởi mỗi người có một quan niệm khác nhau về cái đẹp, như tôi, lam lũ, đen đúa, bụi bặm... là đẹp, thì bạn nói bạn thích vẻ dịu dàng, thuần khiết, mỏng manh, sang trọng...
A. Lời của một thí sinh, nói về các quan niệm về cái đẹp. Thể hiện thái độ không đồng tình với nhận xét của 1 vị giám khảo.
B. Lời của người kể chuyện, nói về các quan niệm về cái đẹp. Thể hiện thái độ đồng tình với nhận xét của 1 vị giám khảo.
C. Lời của người kể chuyện, nói về các quan niệm về cái đẹp. Thể hiện thái độ không đồng tình với nhận xét của 1 vị giám khảo.
D. Lời của một giám khảo, nói về các quan niệm về cái đẹp. Thể hiện thái độ
không đồng tình với nhận xét của 1 vị giám khảo trước đó.
Câu 8. Những chuyện không đâu trong dòng “Tỉnh dậy, để thấy đời buồn vì những chuyện không đâu” là chuyện gì?
A. Đi thi
B. Ngoại hình
C. Người khác nhận xét về ngoại hình của mình
D. Thi hát
Câu 9. Phân tích dụng ý, thái độ của nhà văn trong câu sau (dùng từ, sử dụng dấu ngoặc đơn, ngoặc kép): “Nhưng vào cái lúc vị giám khảo đến từ thành phố văn minh kia “âu yếm” (quả thật vẻ mặt ông rất hồn nhiên)” (0,5đ)
Câu 10. Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi a,b,c (1đ)
Cảm giác và nói ra cảm giác là hai chuyện khác nhau, một cái là của riêng mình và cái kia tác động đến người khác. Ai cũng nghĩ như vị giám khảo kia, nhưng không phải ai cũng thiếu tế nhị, thừa tàn nhẫn để thể hiện nó bằng lời, công khai giữa đám đông
a. “…thiếu tế nhị, thừa tàn nhẫn” là biểu hiện của ai? Vì sao người đó lại bị đánh giá như vậy?
b. Vì sao tác giả nói: Cảm giác và nói ra cảm giác là hai chuyện khác nhau
c. Tác giả muốn nhắn gửi điều gì tới người đọc từ đoạn văn bản trên?
II. LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Đọc ngữ liệu sau và thực hiện yêu cầu kế tiếp (1đ)
NGỪNG PHÁN XÉT NGOẠI HÌNH NGƯỜI KHÁC
Không có ai muốn mình xấu, cũng chẳng có ai thích bị người khác chê bai ngoại hình cả.
“Con này béo thế”, “con kia lùn thật”, “khiếp, con gái gì mà xấu thế, mặt toàn mụn là mụn”, “eo ôi, da nó đen như da trâu ấy”, “trông nó kìa, mặt đã xấu rồi răng lại còn vẩu nữa”, “người đâu gầy như que tăm thể”.. Bạn đã bao giờ nghe được những lời nhận xét như vậy về mình hay một ai đó chưa?
[…] Trong thực tế, có những người rất hay đi soi mói ngoại hình của người khác rồi chê bai và cười nhạo họ. Cũng có những kẻ chỉ vì sự ganh ghét, đô kỵ mà sẵn sàng đem ngoại hình của người ta ra đùa cợt, bôi nhọ và tưởng như thế là hay. Nhưng thực chất, hành động ấy không những chẳng hề hay họ một chút nào, mà còn gây những ảnh hưởng rất tiêu cực tới những đối tượng bị nhắm tới.
Hình hài của con người khi sinh ra là được thừa hưởng từ cha mẹ, cho nên chẳng ai có thể định đoạt được mặt mũi, dáng vẻ, chiều cao của bản thân mình sẽ như thế nào ngay từ đầu. Trên đời này, không có ai muốn mình xấu, cũng chẳng có ai thích bị chê cả. Vậy thử hỏi, khi bạn chế bai ngoại hình của một ai đó, bạn có bao giờ đặt cảm xúc của mình vào họ không? Bạn nghĩ họ có vui không? Bạn nghĩ họ muốn mình xấu sao? Hay là bạn nghĩ họ thích bị chê bai?
Câu trả lời là “không”, họ không hề, bạn chê ngoại hình của họ chỉ đơn giản là vì bạn thích thế, bạn thấy nó vui hoặc là do bạn không ưa họ mà thôi. Bạn thử nghĩ xem, khi bản thân bị người khác chê bai thì bạn có buồn không, có tức không? Đương nhiên là có, đôi khi còn cay cú mà chửi lại.
Với người bình thường, có bản lĩnh, khi bị chê bai ngoại hình có thể thấy không sao. Nhưng đối với những người có tâm lý yếu mềm, đó lại là một chuyện khác. Khi họ bị quá nhiều người chê bai ngoại hình, lâu dần sẽ thấy rất chạnh lòng, buồn rầu, cảm thấy tự ti về bản thân, đôi lúc còn có nguy cơ dẫn đến trầm cảm.
Con người chứ đâu phải khúc gỗ mà không biết đau lòng. Từng lời chê cộng dồn lại như những vết dao cứa sâu vào trong lòng họ vậy. Và sự tổn thương đó sẽ lớn dần lên theo từng năm tháng. Bạn chỉ có quyền chê bai người khác khi người đó làm gì đó sai trái, còn ngoại hình không được hoàn mỹ không phải lỗi lầm hay gây hại cho ai cả. Chính vì vậy, trước khi buông lời phán xét hay chê bai ngoại hình của người khác, bạn hãy tự nhìn lại chính bản thân mình xem liệu có tốt đẹp hơn người ta không?
Cho dù nhan sắc bạn có đẹp đến cỡ nào đi chăng nữa thì khi bạn chê bai ngoại hình của người khác một cách thô thiển, chính bạn cũng trở nên xấu xí. Xấu ở đây không phải là nhan sắc mà là nhân cách của bạn. Họ sinh ra không phải để cho mình bạn ngắm, cũng chẳng phải để làm hài lòng bạn và đặc biệt là họ xấu hay đẹp cũng không cần bạn phải quan tâm. Xấu người nhưng đẹp nết thì vẫn đầy người quý, nhưng đẹp người mà xấu nết thì không thiếu người ghét.
Khi nhắc tới người đẹp, người ta thường nghĩ ngay đến một người có nhan sắc. Nhưng khi nói đến người xấu, ắt hẳn ai cũng sẽ hiểu rằng đó chính là một người có nhân cách tệ.
(vnexpress.net)
a. Lựa chọn, điền vào bảng câu văn có nội dung tương đồng của ngữ liệu trên với truyện ngắn Ai biểu xấu của tác giả Nguyễn Ngọc Tư.
|
Ngừng phán xét ngoại hình người khác |
Ai biểu xấu |
|
Không có ai muốn mình xấu, cũng chẳng có ai thích bị người khác chê bai ngoại hình cả |
|
|
Con người chứ đâu phải khúc gỗ mà không biết đau lòng. Từng lời chê cộng dồn lại như những vết dao cứa sâu vào trong lòng họ vậy |
|
b. Xác định từ lặp 2 lần ở 2 đoạn cuối để xác định nét khác biệt về nội dung và hình thức của văn bản Ngừng phán xét ngoại hình người khác với Ai biểu xấu của tác giả Nguyễn Ngọc Tư
Câu 2. Viết bài văn nghị luận thể hiện quan điểm của cá nhân mình (đồng tình/ phản đối) về hiện tượng phán xét ngoại hình của người khác (dài 1-1,5 trang giấy thi) (3đ)
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
D |
A |
B |
C |
D |
A |
B |
C |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1. Dòng nào không nói lên dấu hiệu cho biết văn bản trên là truyện ngắn A. Nhân vật ít. B. Dung lượng ngắn (gần 2 trang). C. Ít sự việc (diễn ra trong thời gian rất ngắn). D. Cảm nghĩ của người kể chuyện. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại đặc điểm thể loại truyện ngắn
Lời giải chi tiết:
Dòng không nói lên dấu hiệu cho biết văn bản trên là truyện ngắn: Cảm nghĩ của người kể chuyện
→ Đáp án: D
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu 2. Tác giả dùng phép tu từ nào trong dòng sau? Để diễn tả điều gì? Để đi qua một giấc mơ dài, chợt tỉnh bất ngờ vì bị dội vào người thứ nước lấy lên từ những dòng sông băng, buốt nhức, cắt da cắt thịt A. Ẩn dụ, diễn tả nỗi đau đến quá bất ngờ B. Ẩn dụ, diễn tả nỗi nhục nhã đến quá bất ngờ C. Hoán dụ, diễn tả nỗi đau đến quá bất ngờ D. Tượng trưng, diễn tả nỗi thất vọng |
Phương pháp:
Đọc kĩ câu văn
Nhớ lại kiến thức về biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết:
Tác giả sử dụng biện pháp ẩn dụ để diễn tả nỗi đau đến quá bất ngờ
→ Đáp án: A
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu 3. Vị giám khảo cần nhận xét tiêu chí nào để đánh giá năng lực của thí sinh? A. Trang phục B. Giọng hát C. Khả năng biểu cảm D. Khả năng vũ đạo |
Phương pháp:
Rút ra bài học từ văn bản
Dựa vào hiểu biết của bản thân
Lời giải chi tiết:
Để đánh giá năng lực của thí sinh, các vị giám khảo cần dựa vào giọng hát
→ Đáp án: B
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu 4. Nghệ thuật kể chuyện của văn bản trên có gì đặc biệt? A. Chủ yếu là suy ngẫm của người kể chuyện B. Sự việc tản mạn theo dòng suy ngẫm C. Đan cài kể chuyện với suy ngẫm, bình luận của người kể chuyện D. Không thể xác định được nhân vật của chuyện |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý cách sử dụng từ ngữ, điểm nhìn và thông điệp văn bản muốn gửi gắm
Lời giải chi tiết:
Nghệ thuật kể chuyện của văn bản: Đan cài kể chuyện với suy ngẫm, bình luận của người kể chuyện
→ Đáp án: C
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Câu 5. Dòng nào không nói lên thông điệp của câu chuyện trên? A. Không nên làm người khác tổn thương B. Vẻ đẹp ngoại hình không phải là yếu tố quan trọng nhất C. Giám khảo cần nhận xét hướng vào tiêu chí của cuộc thi D. Không được nhận xét về ngoại hình trong cuộc thi hát |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Rút ra thông điệp của văn bản
Lời giải chi tiết:
Thông điệp của câu chuyện trên:
- Không nên làm người khác tổn thương
- Vẻ đẹp ngoại hình không phải là yếu tố quan trọng nhất
- Giám khảo cần nhận xét hướng vào tiêu chí của cuộc thi
→ Đáp án: D
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Câu 6. Dòng nào nói lên chủ đề của văn bản và một số biểu hiện của chủ đề đó? A. Đánh giá cần tế nhị. Qua câu chuyện mở đầu và suy nghĩ của “tôi” B. Đánh giá ngoại hình người khác rất khó. Qua câu chuyện mở đầu C. Đi thi hát dễ bị tổn thương. Qua biểu hiện của thí sinh D. Ngoại hình là yếu tố quan trọng. Qua suy nghĩ của “tôi” |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Chủ đề của văn bản: Đánh giá cần tế nhị
Biểu hiện của chủ đề: Qua câu chuyện mở đầu và suy nghĩ của “tôi”
→ Đáp án: A
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Câu 7. Đoạn văn sau là lời của ai, nói về điều gì? Nhằm mục đích gì? Bởi mỗi người có một quan niệm khác nhau về cái đẹp, như tôi, lam lũ, đen đúa, bụi bặm... là đẹp, thì bạn nói bạn thích vẻ dịu dàng, thuần khiết, mỏng manh, sang trọng... A. Lời của một thí sinh, nói về các quan niệm về cái đẹp. Thể hiện thái độ không đồng tình với nhận xét của 1 vị giám khảo. B. Lời của người kể chuyện, nói về các quan niệm về cái đẹp. Thể hiện thái độ đồng tình với nhận xét của 1 vị giám khảo. C. Lời của người kể chuyện, nói về các quan niệm về cái đẹp. Thể hiện thái độ không đồng tình với nhận xét của 1 vị giám khảo. D. Lời của một giám khảo, nói về các quan niệm về cái đẹp. Thể hiện thái độ không đồng tình với nhận xét của 1 vị giám khảo trước đó. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn văn và đưa ra phân tích
Lời giải chi tiết:
Đoạn văn trên là lời của người kể chuyện, nói về các quan niệm về cái đẹp. Thể hiện thái độ đồng tình với nhận xét của 1 vị giám khảo
→ Đáp án: B
Câu 8 (0.5 điểm)
|
Câu 8. Những chuyện không đâu trong dòng “Tỉnh dậy, để thấy đời buồn vì những chuyện không đâu” là chuyện gì? A. Đi thi B. Ngoại hình C. Người khác nhận xét về ngoại hình của mình D. Thi hát |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Những chuyện không đâu trong dòng “Tỉnh dậy, để thấy đời buồn vì những chuyện không đâu” là chuyện người khác nhận xét về ngoại hình của mình
→ Đáp án C
Câu 9 (1.0 điểm)
|
Câu 9. Phân tích dụng ý, thái độ của nhà văn trong câu sau (dùng từ, sử dụng dấu ngoặc đơn, ngoặc kép): “Nhưng vào cái lúc vị giám khảo đến từ thành phố văn minh kia “âu yếm” (quả thật vẻ mặt ông rất hồn nhiên)” (0,5đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ câu nói, đối chiếu với chỉnh thể toàn đoạn văn
Nhớ lại kiến thức về cách dùng từ, dấu ngoặc đơn, ngoặc kép
Lời giải chi tiết:
- Dùng từ : văn minh để tạo ra sự tương phản ngầm với lời nói không văn minh của một vị giám khảo
- Dùng dấu:
+ Ngoặc kép “âu yếm”: với ý nghĩa đặc biệt – mỉa mai
+ Ngoặc đơn (quả thật vẻ mặt ông rất hồn nhiên): diễn tả thái độ vô tình đến vô tâm của vị giám khảo khi làm tổn thương người khác, tức là không hề biết đến cảm xúc. Cảm giác của thí sinh (khi nghe: ngoại hình bạn bị hạn chế)
- Thái độ nhà văn: không đồng tình với ứng xử, lời nói thiếu tế nhị của vị giám khảo
Câu 10 (1.0 điểm)
|
Câu 10. Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi a,b,c (1đ) Cảm giác và nói ra cảm giác là hai chuyện khác nhau, một cái là của riêng mình và cái kia tác động đến người khác. Ai cũng nghĩ như vị giám khảo kia, nhưng không phải ai cũng thiếu tế nhị, thừa tàn nhẫn để thể hiện nó bằng lời, công khai giữa đám đông a. “…thiếu tế nhị, thừa tàn nhẫn” là biểu hiện của ai? Vì sao người đó lại bị đánh giá như vậy? b. Vì sao tác giả nói: Cảm giác và nói ra cảm giác là hai chuyện khác nhau c. Tác giả muốn nhắn gửi điều gì tới người đọc từ đoạn văn bản trên? |
Phương pháp:
a. Đọc kĩ đoạn văn bản và đối chiếu lên đoạn văn ở trên
b. Đọc kĩ đoạn văn bản và đối chiếu lên đoạn văn ở trên
Lý giải lý do
c. Dựa vào những phân tích ở trên
Nêu quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
a. Của 1 vị giám khảo, vì làm tổn thương người khác vì thiếu tế nhị, không lịch sự
b. Vì: Cảm giác là của một cá nhân diễn ra âm thầm trong suy nghĩ, xúc cảm một con người, nhưng khi nói ra sẽ tác động đến người trong cuộc giao tiếp (có thể tạo cảm giác không tích cực… làm tổn thương người khác…)
c. Tác giả muốn nhắn gửi tới người đọc: bài học ứng xử, khi nói hay làm đều cần quan tâm đến cảm xúc, cảm giác của người trong cuộc giao tiếp… hiểu những quy tắc ứng xử…)
PHẦN II –LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1.
a. Lựa chọn, điền vào bảng câu văn có nội dung tương đồng của ngữ liệu trên với truyện ngắn Ai biểu xấu của tác giả Nguyễn Ngọc Tư.
|
Ngừng phán xét ngoại hình người khác |
Ai biểu xấu |
|
Không có ai muốn mình xấu, cũng chẳng có ai thích bị người khác chê bai ngoại hình cả |
|
|
Con người chứ đâu phải khúc gỗ mà không biết đau lòng. Từng lời chê cộng dồn lại như những vết dao cứa sâu vào trong lòng họ vậy |
|
b. Xác định từ lặp 2 lần ở 2 đoạn cuối để xác định nét khác biệt về nội dung và hình thức của văn bản Ngừng phán xét ngoại hình người khác với Ai biểu xấu của tác giả Nguyễn Ngọc Tư
Phương pháp giải
a. Đọc kĩ hai văn bản và đối chiếu hai nội dung tương đương
b. Đọc kĩ hai văn bản, so sánh để thấy được sự khác biệt về nội dung và hình thức
Lời giải chi tiết
a.
|
Ngừng phán xét ngoại hình người khác |
Ai biểu xấu |
|
Không có ai muốn mình xấu, cũng chẳng có ai thích bị người khác chê bai ngoại hình cả |
Hẳn anh không muốn mình xấu. Hẳn cha mẹ anh cũng không muốn sinh con xấu |
|
Con người chứ đâu phải khúc gỗ mà không biết đau lòng. Từng lời chê cộng dồn lại như những vết dao cứa sâu vào trong lòng họ vậy |
… bị dội vào người thứ nước lấy lên từ những dòng sông băng, buốt nhức, cắt da cắt thịt |
b.
-Nhân cách
- Nét khác biệt:
+ Văn bản truyện: thiếu tế nhị, thừa tàn nhẫn; Văn bản Ngừng phán xét ngoại hình người khác khẳng định: Chê bai ngoại hình người khác đã khẳng định thuộc nhân cách con người
+ Kiểu văn bản: truyện ngắn – văn bản văn học và văn bản sau là nghị luận
Câu 2. Viết bài văn nghị luận thể hiện quan điểm của cá nhân mình (đồng tình/ phản đối) về hiện tượng phán xét ngoại hình của người khác (dài 1-1,5 trang giấy thi) (3đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Thể hiện quan điểm của cá nhân mình (đồng tình/ phản đối) về hiện tượng phán xét ngoại hình của người khác |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Nêu hiện tượng/ vấn đề bàn luận - Thái độ đối với hiện tượng phán xét ngoại hình của người khác |
|
Thân bài |
2,5 |
- Mô tả khái quát hiện tượng - Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng (người phán xét) - Thái độ đồng tình/ phản đối: + Thái độ cảm xúc khi chứng kiến 2 đối tượng (người phán xét, người bị phán xét) +Phân tích hệ lụy của hiện tượng (người bị nhận xét) ; thể hiện rõ quan điểm cá nhân (lí lẽ+ dẫn chứng) |
|
Kết bài |
0,5 |
- Thái độ đối với hiện tượng đồng tình/ phản đối - Nhận thức và hành động của bản thân khi chứng kiến hiện tượng phán xét ngoại hình của người khác |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Thể hiện rõ quan điểm cá nhân (đồng tình/phản bác) - Dẫn chứng đa dạng phù hợp với lí lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 8 Kết nối tri thức - Đề số 5
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản và trả lời câu hỏi bên dưới
ĐI ĐƯỜNG (*)
(Tẩu lộ - Hồ Chí Minh)
Phiên âm
Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan
Trùng san chi ngoại hựu trùng san
Trùng san đăng đáo cao phong hậu
Vạn lý dư đồ cố miện gian
Dịch nghĩa
Có đi đường mới biết đường đi khó,
Hết lớp núi này lại tiếp đến lớp núi khác;
Khi đã vượt các lớp núi lên đến đỉnh cao chót,
Thì muôn dặm nước non thu cả vào tầm mắt.
Dịch thơ
Đi đường mới biết gian lao,
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng;
Núi cao lên đến tận cùng,
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.
(Hồ Chí Minh, Nhật kí trong tù, NXB trẻ, 2020)
(*) Tác phẩm được rút ra từ tập Nhật kí trong tù (1942 – 1943) của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những ngày bị giam ở nhà tù Tưởng Giới Thạch, Bác Hồ đã bị áp giải qua nhiều nhà lao. Và cuộc hành trình chuyển giao đầy gian nan được Hồ Chí Minh khắc họa chân thực qua bài thơ Đi đường (Tẩu lộ)
Câu hỏi
Câu 1. Xác định thể thơ của Đi đường căn cứ vào:
A. Bản phiên âm.
B. Bản dịch nghĩa.
C. Bản dịch thơ.
D. Bản gốc tiếng Hán.
Câu 2. Bài thơ diễn tả cảm xúc của ai? Ở thời điểm nào?
A. Của Hồ Chí Minh - người tù cách mạng, trên đường chuyển lao.
B. Của thi sĩ yêu thiên nhiên, trên đường luyện tập.
C. Của thi sĩ yêu thiên nhiên, đang ngắm cảnh.
D. Của chiến sĩ trên hành trình cách mạng.
Câu 3. Xác định ngắt nhịp của dòng thơ thứ 2 trên bản dịch thơ?
A. Nhịp 2/2/4.
B. Nhịp 2/4/2.
C. Nhịp 4/4.
D. Nhịp phá cách.
Câu 4. Cách gieo vần nào được sử dụng nhiều nhất trong bản dịch thơ
A. Vần lưng.
B. Vần cách.
C. Vẫn liền.
D. Linh hoạt, đa dạng.
Câu 5. Câu thơ nào dịch chưa sát nghĩa so với bản phiên âm, dịch nghĩa
A. Đi đường mới biết gian lao.
B. Núi cao rồi lại núi cao trập trùng.
C. Núi cao lên đến tận cùng.
D. Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.
Câu 6. Dòng thơ thứ mấy gợi mở về nguyên nhân dẫn đến cảm xúc chính của bài thơ
A. Dòng thứ nhất.
B. Dòng thứ hai.
C. Dòng thứ ba.
D. Dòng thứ tư.
Câu 7. Câu thơ đầu tiên cho độc giả nhận thức về điều gì?
A. Những chặng đường dài cứ nối tiếp nhau, không thấy đích đến
B. Phải trải qua thực tiễn mới hiểu được khó khăn.
C. Chỉ có người đã đi đường dài mới thấu hiểu những khó khăn, gian khổ
D. Sẽ gặp khó khăn chồng chất trên đường dài
Câu 8. Dòng thơ “Hết lớp núi này lại đến lớp núi khác” có chức năng nào trong bài thơ tứ tuyệt?
A. Nối tiếp câu khởi để làm trọn vẹn ý thơ
B. Có chức năng mở bài, gợi mở ý thơ
C. Kết hợp với câu chuyển làm cô đúc ý thơ, thể hiện nỗi niềm của tác giả
D. Gợi mở về bản chất, nguyên nhân của sự vật, hiện tượng được phản ánh
Câu 9. Cảm xúc ở câu thơ đầu và câu thơ cuối khác nhau như thế nào? Hãy phân tích sự vận động mạch cảm xúc của bài thơ (1đ)
Câu 10. Em rút ra bài học nào cho bản thân từ bài thơ Đi đường của tác giả Hồ Chí Minh? (1đ)
II. LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Đọc bài thơ sau và xác định nét tương đồng, khác biệt với bài thơ Đi đường (phần đọc hiểu), từ đó nhận xét về bài học cuộc sống sâu sắc trong thơ Hồ Chí Minh (1đ)
NGHE TIẾNG GIÃ GẠO
(Hồ Chí Minh)
Gạo đem vào giã bao đau đớn,
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông;
Sống ở trên đời người cũng vậy,
Gian nan rèn luyện mới thành công.
Câu 2. Từ nội dung, ý nghĩa 2 bài thơ Đi đường và Nghe tiếng giã gạo của tác giả Hồ Chí Minh, em hãy viết bài văn nghị luận thể hiện suy nghĩ của mình về thái độ của con người khi buộc phải đối mặt với khó khăn của đời sống (có độ dài từ 1-1,5 trang giấy thi (3đ)
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
A |
A |
B |
C |
A |
C |
B |
A |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1. Xác định thể thơ của Đi đường căn cứ vào: A. Bản phiên âm. B. Bản dịch nghĩa. C. Bản dịch thơ. D. Bản gốc tiếng Hán. |
Phương pháp:
Đọc kĩ 3 bản của bài thơ
Nhớ lại kiến thức đọc hiểu thể thơ đường luật
Lời giải chi tiết:
Xác định thể thơ của Đi đường căn cứ vào: Bản phiên âm
→ Đáp án: A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu 2. Bài thơ diễn tả cảm xúc của ai? Ở thời điểm nào? A. Của Hồ Chí Minh - người tù cách mạng, trên đường chuyển lao. B. Của thi sĩ yêu thiên nhiên, trên đường luyện tập. C. Của thi sĩ yêu thiên nhiên, đang ngắm cảnh. D. Của chiến sĩ trên hành trình cách mạng. |
Phương pháp:
Đọc kĩ phần chú thích bên dưới
Lời giải chi tiết:
Bài thơ diễn tả cảm xúc của: Hồ Chí Minh - người tù cách mạng, trên đường chuyển lao
→ Đáp án: A
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu 3. Xác định ngắt nhịp của dòng thơ thứ 2 trên bản dịch thơ? A. Nhịp 2/2/4. B. Nhịp 2/4/2. C. Nhịp 4/4. D. Nhịp phá cách. |
Phương pháp:
Đọc kĩ dòng thơ thứ 2
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Ngắt nhịp của dòng thơ thứ 2 trên bản dịch thơ: Nhịp 2/4/2
Núi cao / rồi lại núi cao/ trập trùng
→ Đáp án: B
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu 4. Cách gieo vần nào được sử dụng nhiều nhất trong bản dịch thơ A. Vần lưng. B. Vần cách. C. Vẫn liền. D. Linh hoạt, đa dạng. |
Phương pháp:
Đọc kĩ bản dịch thơ và chú ý cách gieo vần
Lời giải chi tiết:
Vần được sử dụng nhiều nhất trong bản dịch thơ: vần liền
Đi đường mới biết gian lao,
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng;
Núi cao lên đến tận cùng,
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.
→ Đáp án: C
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Câu 5. Câu thơ nào dịch chưa sát nghĩa so với bản phiên âm, dịch nghĩa A. Đi đường mới biết gian lao. B. Núi cao rồi lại núi cao trập trùng. C. Núi cao lên đến tận cùng. D. Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non. |
Phương pháp:
Đọc kĩ 3 bản dịch
Lời giải chi tiết:
Câu thơ dịch chưa sát nghĩa so với bản phiên âm, dịch nghĩa: Đi đường mới biết gian lao
→ Đáp án: A
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Câu 6. Dòng thơ thứ mấy gợi mở về nguyên nhân dẫn đến cảm xúc chính của bài thơ A. Dòng thứ nhất. B. Dòng thứ hai. C. Dòng thứ ba. D. Dòng thứ tư. |
Phương pháp:
Đọc kĩ 3 bản dịch
Lời giải chi tiết:
Dòng thơ thứ ba gợi mở về nguyên nhân dẫn đến cảm xúc chính của bài thơ: “Khi đã vượt các lớp núi lên đến đỉnh cao chót” là tiền đề để tác giả chốt lại ở câu thơ cuối
→ Đáp án: C
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Câu 7. Câu thơ đầu tiên cho độc giả nhận thức về điều gì? A. Những chặng đường dài cứ nối tiếp nhau, không thấy đích đến B. Phải trải qua thực tiễn mới hiểu được khó khăn. C. Chỉ có người đã đi đường dài mới thấu hiểu những khó khăn, gian khổ D. Sẽ gặp khó khăn chồng chất trên đường dài |
Phương pháp:
Đọc kĩ câu thơ đầu tiên ở cả 3 bản dịch
Lời giải chi tiết:
Câu thơ đầu tiên cho độc giả nhận thức về: Phải trải qua thực tiễn mới hiểu được khó khăn
→ Đáp án: B
Câu 8 (0.5 điểm)
|
Câu 8. Dòng thơ “Hết lớp núi này lại đến lớp núi khác” có chức năng nào trong bài thơ tứ tuyệt? A. Nối tiếp câu khởi để làm trọn vẹn ý thơ B. Có chức năng mở bài, gợi mở ý thơ C. Kết hợp với câu chuyển làm cô đúc ý thơ, thể hiện nỗi niềm của tác giả D. Gợi mở về bản chất, nguyên nhân của sự vật, hiện tượng được phản ánh |
Phương pháp:
Đọc kĩ câu thơ và liên hệ với chỉnh thể toàn bài để suy ra chức năng
Lời giải chi tiết:
Dòng thơ “Hết lớp núi này lại đến lớp núi khác” có chức năng: Nối tiếp câu khởi để làm trọn vẹn ý thơ
→ Đáp án A
Câu 9 (1.0 điểm)
|
Câu 9. Cảm xúc ở câu thơ đầu và câu thơ cuối khác nhau như thế nào? Hãy phân tích sự vận động mạch cảm xúc của bài thơ (1đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ câu thơ đầu và cuối ở cả 3 bản dịch
Rút ra mạch cảm xúc của bài thơ từ đó phân tích sự thay đổi (vận động)
Lời giải chi tiết:
- Câu thơ đầu: Đi đường mới biết gian lao gợi lên hình ảnh người đi đường đối
mặt với khó khăn thử thách và đã rút ra quy luật, nhận định thấm thía sâu sắc.
trải qua thực tiễn mới thấu hiểu khó khăn → cảm xúc dường như được nén chặt
giấu kín,...
- Câu cuối: Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non - với nhịp thơ 4/4 và không
gian rộng mở, hình ảnh thơ tươi sáng chở theo dòng cảm xúc tự do sảng khoái
từ dáng vẻ hiên ngang, ngạo nghễ của người vượt qua khó khăn thử thách để dạo
chơi nhàn tản giữa non nước mây trời.
- Mạch cảm xúc của bài thơ vận động từ: từ nén chặt, giấu kín,... dần mở ra
theo hành trình chinh phục con đường,... Câu thơ thứ 3 dường như là một sự
reo vui khi đã vượt qua được hàng ngàn núi để lên được tới đỉnh núi cao nhất,
tận cùng nhất. Khi lên đến đỉnh núi cao rồi, cũng là lúc con người ta có thể phóng
tầm mắt bao quát và chiếm lĩnh cả một khoảng không bao la, như làm chủ vũ trụ,
đất trời tự do, tự tại.
Câu 10 (1.0 điểm)
|
Câu 10. Em rút ra bài học nào cho bản thân từ bài thơ Đi đường của tác giả Hồ Chí Minh? (1đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ 3 bản dịch của bài thơ
Dựa vào phần phân tích ở trên
Lời giải chi tiết:
- Hs tự trả lời theo nhận thức của cá nhân
- Gợi ý: Bám sát nội dung của câu thơ thứ nhất và kết quả mà nhân vật trữ tình có được ở câu thơ cuối để hiểu về điều kiện con người được hưởng cảm xúc tự do, tự tại… Hành trình đi đường của nhân vật trữ tình sẽ là bài học quý cho bạn đọc
II. LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Đọc bài thơ sau và xác định nét tương đồng, khác biệt với bài thơ Đi đường (phần đọc hiểu), từ đó nhận xét về bài học cuộc sống sâu sắc trong thơ Hồ Chí Minh (1đ)
NGHE TIẾNG GIÃ GẠO
(Hồ Chí Minh)
Gạo đem vào giã bao đau đớn,
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông;
Sống ở trên đời người cũng vậy,
Gian nan rèn luyện mới thành công.
Phương pháp giải
Đọc kĩ 2 bài thơ để tìm ra nét tương đồng và khác biệt
Rút ra bài học cho bản thân
Lời giải chi tiết
Nét tương đồng:
+ Cả 2 bài thơ đều chuyển đến người đọc bức thông điệp: con người trải khó khăn, gian khổ (cả đau đớn) mới trưởng thành; phải trải qua khó khăn khổ mới thành công. Khó khăn gian khổ thử thách là quá trình rèn luyện của mỗi người.
+ Mỗi bài thơ đều đi từ sự việc cụ thể đến khái quát, triết lý nên bài học mà độc giả nhận được vô cùng sâu sắc, thuyết phục; cùng sử dụng thể thơ tứ tuyệt.
- Nét khác biệt:
+ Sự việc cụ thể (đi đường và nghe tiếng giã gạo).
+ Bài học về cuộc sống ở bài thơ thứ 2 bộc lộ trực tiếp (Gian nan rèn luyện mới thành công); bài học ở bài Đi đường được thể hiện trong sự vận động của hình tượng thơ, không thể hiện trực tiếp).
- Thơ của tác giả Hồ Chí Minh mang đến cho độc giả những bài học sống sâu sắc được chắt gạn, đúc rút từ thực tiễn, thấm vào nhận thức của người đọc một
cách tự nhiên, không áp đặt... nên đạt hiệu quả giáo dục cao.
Câu 2. Từ nội dung, ý nghĩa 2 bài thơ Đi đường và Nghe tiếng giã gạo của tác giả Hồ Chí Minh, em hãy viết bài văn nghị luận thể hiện suy nghĩ của mình về thái độ của con người khi buộc phải đối mặt với khó khăn của đời sống (có độ dài từ 1-1,5 trang giấy thi (3đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Từ nội dung, ý nghĩa của 2 bài thơ Đi đường, Nghe tiếng giã gạo của tác giả Hồ Chí Minh, em hãy viết bài văn nghị luận thể hiện suy nghĩ của mình về thái độ của con người khi buộc phải đối mặt với khó khăn của đời sống |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Nêu ý kiến bàn luận: thái độ của con người khi buộc phải đối mặt với khó khăn của đời sống - Tầm quan trọng của vấn đề đối với cuộc sống |
|
Thân bài |
2,5 |
-Làm rõ cách hiểu về vấn đề (thái độ của con người khi buộc phải đối mặt với khó khăn của đời sống); cách ứng xử, hành động của con người khi đối mặt với khó khăn. - Tóm tắt, dẫn dắt ngắn gọn bài học từ 2 văn bản thơ Đi đường. Nghe tiếng giữ gạo của tác giả Hồ Chí Minh. - Bài học từ 2 văn bản thơ Đi đường, Nghe tiếng giã gạo đã tác động và khiến nhận thức vấn đề của em thay đổi...; Vì sao con người cần có cách ứng xử tích cực trước khó khăn (khó khăn là thử thách khiến con người được khám phá, rèn luyện và khẳng định,...). - Đề xuất cách ứng xử, hành động của con người khi đối mặt với khó khăn,... - Lập lại vấn đề (phản biện): nếu không vượt qua được khó khăn thì con người đó,... |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định vai trò của thái độ sống tích cực, của quá trình rèn luyện... - Nhận thức, hành động của bản thân để rèn luyện bản lĩnh... |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận). - Thể hiện rõ quan điểm cá nhân (ý thức, hành động). - Dẫn chứng đa dạng phù hợp với lí lẽ, ý kiến. |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 8 Kết nối tri thức - Đề số 6
Đề thi
PHẦN I – ĐỌC HIỂU (5 điểm)
Đọc văn bản sau:
Bàn tay của Marie
Ngày xưa có một cô giá nhà quê mang một cái tên xấu xí là Marie. Cô đi khập khiễng và mắt thì lé. Cha mẹ của cô cũng thường chửi mắng cô rất nặng nề. Tất cả điều đó khiến cô căm ghét mọi người. Một hôm, cô đi nhổ cỏ phụ giúp cho người làm vườn ở trong làng mình, bỗng người vợ ông này đột nhiên bảo cô: Coi kia, em có đôi tay đẹp quá Marie ơi! Sao không đến đây mà chăm sóc hoa với cô? Ban đầu, Marie tưởng bà này chế giễu mình. Nhưng sau đó, người vợ của kẻ làm vườn đã giúp cô gái kết những bó hoa thật đẹp mang ra chợ bán. Đó là giai đoạn Marie bắt đầu lột xác: Cô săn sóc đôi tay mình, rồi chăm sóc đến mặt mày thân thể mình, rồi sửa soạn sự ăn mặc và cả dáng đi. Cuối cùng cô trở thành người bán hoa thực thụ. Một hôm, một kiến trúc sư trẻ tuổi đến ngắm hoa cô bày bán và khen: Những bó hoa của cô tuyệt đẹp cô à! Chưa bao giờ Marie lại thẹn đỏ mặt một cách dễ thương như hôm nhận được lời khen tặng ấy. Sau đó, cô đã làm vợ người kiến trúc sư, rồi cô theo học một cách say mê môn trang trí và trở thành một trong những người chưng hàng nổi tiếng của thủ đô Paris.
(Đắc Nhân tâm, Bí quyết của thành công – Dale Carnegie, NXB Thanh Niên, 20080
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên?
A. Tự sự
B. Miêu tả
C. Biểu cảm
D. Nghị luận
Câu 2. Truyện được kể ở ngôi thứ mấy?
A. Thứ nhất
B. Thứ hai
C. Thứ ba
D. Đa ngôi kể
Câu 3. Điều gì khiến Marie căm ghét mọi người?
A. Vì cô xấu xí, đi khập khiễng và bị lé
C. Vì cô bị cha mẹ và mọi người chửi, hắt hủi
B. Vì cô không thích giao lưu, nói chuyện với những người xung quanh
D. Vì cô bị hoang tưởng nên luôn nghĩ mọi người nói xấu mình
Câu 4. Điều gì đã khiến Marie thay đổi suy nghĩ của mình?
A. Cô được người vợ của kẻ làm vườn dạy kết những bó hoa đẹp để bán.
B. Cô tự ý thức được vẻ đẹp của bản thân.
C. Cô được anh kĩ sư khen ngợi về những bó hoa của mình.
D. Cô được bố mẹ động viên.
Câu 5. Xác định trợ từ trong câu sau: Một hôm, một kiến trúc sư trẻ tuổi đến ngắm hoa cô bày bán và khen: Những bỏ hoa của cô tuyệt đẹp cô à!
A. khen.
B. những.
C. tuyệt đẹp.
D. à.
Câu 6. Xác định biện pháp tu từ có trong câu: Đó là giai đoạn Marie bắt đầu lột xác: Cô săn sóc đôi tay mình, rồi chăm sóc đến mặt mày thân thể mình, rồi sửa soạn sự ăn mặc và cả dáng đi
A. so sánh.
B. điệp.
C. liệt kê.
D. nhân hóa.
Câu 7. “mặt mày, thân thể” là:
A. Từ ghép chính phụ.
B. Từ ghép đẳng lập.
C. Từ láy bộ phận.
D. Từ đơn đa âm.
Câu 8. Em rút ra được bài học gì từ câu chuyện trên?
A. Mỗi người đều có vẻ đẹp, giá trị của riêng mình.
B. Phải nhận thức được những hạn chế, yếu kém của mình.
C. Điểm yếu là yếu tố khiến ta không bao giờ có thể vươn đến thành công.
D. Gặp khó khăn cần phải tìm hướng đi mới.
Câu 9. Em hãy rút ra hai thông điệp tâm đắc từ câu chuyện trên?
Câu 10. Em có đồng ý với suy nghĩ “căm ghét tất cả mọi người” lúc ban đầu của Marie không? Vì sao?
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (5 điểm)
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của em về bài học cuộc sống mà em tâm đắc nhất được gợi ra từ câu chuyện trên
Đáp án
PHẦN I – ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 |
Câu 2 |
Câu 3 |
Câu 4 |
Câu 5 |
Câu 6 |
Câu 7 |
Câu 8 |
|
A |
C |
B |
A |
D |
C |
B |
A |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên? A. Tự sự B. Miêu tả C. Biểu cảm D. Nghị luận |
Phương pháp:
Dựa vào các phương thức biểu đạt đã học
Lời giải chi tiết:
Phương thức biểu đạt chính: tự sự
=> Đáp án: A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Truyện được kể ở ngôi thứ mấy? A. Thứ nhất B. Thứ hai C. Thứ ba D. Đa ngôi kể |
Phương pháp:
Căn cứ nội dung bài ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Ngôi thứ ba
=> Đáp án: C
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Điều gì khiến Marie căm ghét mọi người? A. Vì cô xấu xí, đi khập khiễng và bị lé C. Vì cô bị cha mẹ và mọi người chửi, hắt hủi B. Vì cô không thích giao lưu, nói chuyện với những người xung quanh D. Vì cô bị hoang tưởng nên luôn nghĩ mọi người nói xấu mình |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Cô căm ghét mọi người vì: cô bị cha mẹ và mọi người chửi, hắt hủi
=> Đáp án: B
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Điều gì đã khiến Marie thay đổi suy nghĩ của mình? A. Cô được người vợ của kẻ làm vườn dạy kết những bó hoa đẹp để bán. B. Cô tự ý thức được vẻ đẹp của bản thân. C. Cô được anh kĩ sư khen ngợi về những bó hoa của mình. D. Cô được bố mẹ động viên. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Điều khiến cô thay đổi là: Cô được người vợ của kẻ làm vườn dạy kết những bó hoa đẹp để bán
=> Đáp án: A
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Xác định trợ từ trong câu sau: Một hôm, một kiến trúc sư trẻ tuổi đến ngắm hoa cô bày bán và khen: Những bỏ hoa của cô tuyệt đẹp cô à! A. khen. B. những. C. tuyệt đẹp. D. à. |
Phương pháp:
Căn cứ nội dung bài trợ từ
Lời giải chi tiết:
Trợ từ: à
=> Đáp án: D
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Xác định biện pháp tu từ có trong câu: Đó là giai đoạn Marie bắt đầu lột xác: Cô săn sóc đôi tay mình, rồi chăm sóc đến mặt mày thân thể mình, rồi sửa soạn sự ăn mặc và cả dáng đi A. so sánh. B. điệp. C. liệt kê. D. nhân hóa. |
Phương pháp:
Căn cứ nội dung bài liệt kê
Lời giải chi tiết:
Biện pháp liệt kê: Cô săn sóc đôi tay mình, rồi chăm sóc đến mặt mày thân thể mình, rồi sửa soạn sự ăn mặc và cả dáng đi
=> Đáp án: C
Câu 7 (0.5 điểm)
|
“mặt mày, thân thể” là: A. Từ ghép chính phụ. B. Từ ghép đẳng lập. C. Từ láy bộ phận. D. Từ đơn đa âm. |
Phương pháp:
Căn cứ nội dung bài từ ghép
Lời giải chi tiết:
Mặt mày, thân thể là từ ghép đẳng lập
=> Đáp án: B
Câu 8 (0.5 điểm)
|
Em rút ra được bài học gì từ câu chuyện trên? A. Mỗi người đều có vẻ đẹp, giá trị của riêng mình. B. Phải nhận thức được những hạn chế, yếu kém của mình. C. Điểm yếu là yếu tố khiến ta không bao giờ có thể vươn đến thành công. D. Gặp khó khăn cần phải tìm hướng đi mới. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Bài học: Mỗi người đều có vẻ đẹp, giá trị của riêng mình
=> Đáp án: A
Câu 9 (0.5 điểm)
|
Em hãy rút ra hai thông điệp tâm đắc từ câu chuyện trên? |
Phương pháp:
Nêu suy nghĩ của em
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
Câu chuyện đặt ra cho chúng ta những thông điệp giàu ý nghĩa:
- Con người là không hoàn hảo nhưng mỗi người đều có giá trị riêng và đáng được trân trọng
- Những lời chê bai sẽ khiến con người có cái nhìn tiêu cực về chính bản thân mình và về cuộc sống. Những lời khen tặng sẽ đem đến cho con người động lực để phát huy điểm mạnh, hoàn thiện bản thân và đi đến thành công.
- Sự tự tin vào bản thân là động lực để thay đổi cuộc sống
Câu 10 (0.5 điểm)
|
Em có đồng ý với suy nghĩ “căm ghét tất cả mọi người” lúc ban đầu của Marie không? Vì sao? |
Phương pháp:
Nêu suy nghĩ của em
Lời giải chi tiết:
Gợi ý: Không đồng tình. Vì, thay vì cô ấy đi căm ghét mọi người thì hãy yêu quý bản thân, không ngừng thay đổi theo hướng tích cực để mọi người nhận ra vẻ đẹp, giá trị của chính mình.
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (5 điểm)
|
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của em về bài học cuộc sống mà em tâm đắc nhất được gợi ra từ câu chuyện trên. |
Phương pháp:
Căn cứ các bài học về văn tự sự, kết hợp linh hoạt các phương thức biểu đạt
Lời giải chi tiết:
1. Giới thiệu chung
Khái quát nội dung câu chuyện, rút ra bài học.
2. Bàn luận
- Câu chuyện kể về cuộc đời, số phận của Marie.
+ Trước khi gặp được bà vợ người làm vườn, Marie là một cô bé xấu xí có nhiều khiếm khuyết và phải đối diện với những lời chê bai, chửi mắng nặng nề. Tất cả những điều đó khiến cô căm ghét mọi người, mất niềm tin vào chính bản thân mình.
+ Sau khi gặp được bà vợ người làm vườn, được nhận lời khen về đôi bàn tay và được giúp kết những bó hoa thật đẹp mang ra chợ bá. Đó là giai đoạn Marie bắt đầu lột xác, cô săn sóc đôi bàn tay và cả bản thân mình. Cuối cùng cô không những thành công mà còn tìm được hạnh phúc.
=> Câu chuyện đặt ra cho chúng ta những thông điệp giàu ý nghĩa:
+ Con người là không hoàn hảo nhưng mỗi người đều có giá trị riêng và đáng được trân trọng.
+ Những lời chê bai sẽ khiến con người có cái nhìn tiêu cực về chính bản thân mình và về cuộc sống. Những lời khen sẽ đem đến cho con người động lực để phát huy điểm mạnh, hoàn thiện bản thân và đi đến thành công.
+ Sự tự tin vào bản thân là động lực để thay đổi cuộc sống.
…
Lưu ý: Thí sinh chỉ cần chỉ ra một bài học tâm đắc nhất.
- Bàn luận: Tự nhận thức và bằng những trải nghiệm riêng, thí sinh cần bày tỏ suy nghĩ của mình về một bài học tâm đắc nhất mà câu chuyện gợi ra. Việc bàn luận phải có lí lẽ chặt chẽ, dẫn chứng xác đáng và có thái độ nghiêm túc, phù hợp đạo lí.
- Bài học nhận thức và hành động: Thí sinh rút ra bài học nhận thức và hành động phù hợp, suy nghĩ tích cực.
3. Tổng kết vấn đề
Đề thi giữa kì 2 Văn 8 Kết nối tri thức - Đề số 7
Đề thi
PHẦN I – ĐỌC HIỂU (4 điểm)
Đọc văn bản sau:
|
|
Trên những trang vở học sinh Trên bàn học trên cây xanh Trên đất cát và trên tuyết Tôi viết tên em
… Trên sức khỏe được phục hồi Trên hiểm nguy đã tan biến Trên hi vọng chẳng vấn vương Tôi viết tên em
Và bằng phép màu một tiếng Tôi bắt đầu lại cuộc đời Tôi sinh ra để biết em Để gọi tên em TỰ DO |
|
(Tự do – Pôn Ê-luy-a – SGK Ngữ văn 12, cơ bản, tập 1, tr.120)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của bài thơ trên?
A. Tự sự
B. Miêu tả
C. Biểu cảm
D. Nghị luận
Câu 2. Xác định thể thơ của bài thơ trên?
A. 4 chữ
B. 5 chữ
C. Tự do
D. Lục bát
Câu 3. Khổ thơ 1 sử dụng chủ yếu biện pháp tu từ gì?
A. Nhân hóa
B. Điệp ngữ
C. Hoán dụ
D. Ẩn dụ
Câu 4. Chủ đề bài thơ “Tự do” là gì?
A. Khát vọng tự do
B. Tình yêu cuộc sống
C. Khát vọng hòa bình
D. Mong muốn độc lập
Câu 5. Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên.
Câu 6. Anh/chị hãy giải thích ngắn gọn mục đích của tác giả khi viết từ TỰ DO ở cuối bài thơ bằng chữ in hoa?
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (6 điểm)
Viết bài văn phân tích nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa”.
Đáp án
PHẦN I – ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 |
Câu 2 |
Câu 3 |
Câu 4 |
|
C |
C |
B |
A |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên? A. Tự sự B. Miêu tả C. Biểu cảm D. Nghị luận |
Phương pháp:
Dựa vào các phương thức biểu đạt đã học
Lời giải chi tiết:
Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm
=> Đáp án: C
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Truyện được kể ở ngôi thứ mấy? A. Thứ nhất B. Thứ hai C. Thứ ba D. Đa ngôi kể |
Phương pháp:
Căn cứ các thể thơ đã học
Lời giải chi tiết:
Thể thơ tự do
=> Đáp án: C
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Điều gì khiến Marie căm ghét mọi người? A. Vì cô xấu xí, đi khập khiễng và bị lé C. Vì cô bị cha mẹ và mọi người chửi, hắt hủi B. Vì cô không thích giao lưu, nói chuyện với những người xung quanh D. Vì cô bị hoang tưởng nên luôn nghĩ mọi người nói xấu mình |
Phương pháp:
Căn cứ các biện pháp tu từ đã học
Lời giải chi tiết:
Điệp ngữ: trên…
=> Đáp án: B
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Điều gì đã khiến Marie thay đổi suy nghĩ của mình? A. Cô được người vợ của kẻ làm vườn dạy kết những bó hoa đẹp để bán. B. Cô tự ý thức được vẻ đẹp của bản thân. C. Cô được anh kĩ sư khen ngợi về những bó hoa của mình. D. Cô được bố mẹ động viên. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Chủ đề bài thơ “Tự do” là khát vọng tự do
=> Đáp án: A
Câu 5 (1.0 điểm)
|
Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên. |
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp
Lời giải chi tiết:
Nội dung: đoạn thơ bộc lộ tình yêu Tự do tha thiết, mãnh liệt của tác giả
Câu 6 (1.0 điểm)
|
Anh/chị hãy giải thích ngắn gọn mục đích của tác giả khi viết từ TỰ DO ở cuối bài thơ bằng chữ in hoa? |
Phương pháp:
Căn cứ nội dung đoạn trích, phân tích
Lời giải chi tiết:
Tác giả viết hoa từ TỰ DO ở cuối bài nhằm mục đích:
- Thể hiện sự thiêng liêng, cao cả của hai tiếng TỰ DO.
- Nhấn mạnh đề tài của bài thơ, giải thích tình cảm gắn bó, khao khát, tôn thờ,… của tác giả dành trọn cho TỰ DO. TỰ DO là tất cả những gì ông mong mỏi, mơ ước mọi lúc, mọi nơi.
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (6 điểm)
|
Viết bài văn phân tích nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa”. |
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp
Lời giải chi tiết:
1. Giới thiệu chung
- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu nhân vật anh thanh niên.
2. Phân tích vẻ đẹp của con người làm việc và lo nghĩ cho đất nước qua nhân vật anh thanh niên.
a. Hoàn cảnh sống và làm việc
- Quê quán, nghề nghiệp: Đó là một chàng trai 27 tuổi, quê ở Lào Cai, làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu. Nhiệm vụ của anh là đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất và vào công việc báo trước thời tiết hàng ngày để phục vụ sản xuất và chiến đấu.
- Hoàn cảnh sống: Anh sống một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2.600m, quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa.
=> Hoàn cảnh sống khắc nghiệt; công việc đòi hỏi sự nghị lực, tinh thần kỷ luật và tính chính xác cao.
b. Vẻ đẹp của con người làm việc và suy nghĩ cho đất nước
- Rất say mê công việc đo gió, đo mưa trên đỉnh Yên Sơn:
+ Chấp nhận sống và làm việc một mình trên đỉnh núi cao mấy nghìn m so với mặt biển -> dám đối mặt và vượt lên nỗi cô đơn vì tình yêu công việc.
+ Coi công việc như một người bạn “ta với công việc là đôi”
+ Thấy hạnh phúc khi được làm việc: tin vào ý nghĩa công việc mình làm, dự báo chính xác thời tiết giúp người nông dân sản xuất, từng giúp không quân bắn rơi máy bay.
- Làm việc với một tinh thần trách nhiệm rất cao:
+ Có những đêm trời lạnh giá anh vẫn trở dậy đo gió, đo mưa.
+ Anh đã vượt lên hoàn cảnh và vượt lên chính mình để hoàn công việc.
-> Tinh thần trung thực và ý thức trách nhiệm với
- Không chỉ là con người yêu công việc, anh còn biết sắp xếp cuộc sống một cách khoa học, luôn trau dồi tri thức cho bản thân bằng cách đọc sách báo và đó cũng chính là cách anh làm cho tâm hồn mình phong phú hơn. Ngoài ra, anh còn là một người thân thiện, luôn biết quan tâm giúp đỡ người khác.
- Tất cả đều bắt nguồn từ lí tưởng sống đẹp của anh thanh niên:
+ Anh muốn góp sức mình vào công cuộc dựng xây và bảo vệ cuộc sống mới (công việc của anh giúp ích cho lao động sản xuất và chiến đấu)
+ Anh không lẻ loi, đơn độc mà tìm thấy những người bạn đồng hành trên con đường mình đã chọn: ông kĩ sư vườn rau Sa Pa, anh cán bộ địa chất lập bản đồ sét -> tất cả đều lặng lẽ và bền bỉ với đời sống, với công việc.
+ Anh tác động lớn tới ông họa sĩ và cô kĩ sư. Ông họa sĩ tìm thấy ở anh lí tưởng sáng tạo của mình. Còn cô kĩ sư cũng tìm thấy ở anh một tấm gương về tình yêu cuộc sống, tình yêu công việc.
=> Những suy nghĩ ấy chỉ có ở những con người yêu lao động, yêu công việc của mình dù nó thật khó khăn, đơn điệu và buồn tẻ. Công việc là niềm vui, là cuộc sống của anh.
=> Là hiện thân cho vẻ đẹp của một lớp người đang tích cực góp phần tạo dựng lên cuộc sống mới cho quê hương, đất nước.
3. Tổng kết
Đề thi giữa kì 2 Văn 8 Kết nối tri thức - Đề số 8
Đề thi
PHẦN I – ĐỌC HIỂU (5 điểm)
Cô bé bán diêm
(Trích Cô bé bán diêm – An-đéc-xen)
Rét dữ dội. Tuyết rơi. Trời đã tối hẳn. Đêm nay là đêm giao thừa.
Giữa trời đông giá rét, một em gái nhỏ đầu trần, chân đi đất, đang dò dẫm trong đêm tối.
Lúc ra khỏi nhà em có đi giày vải, nhưng giày vải phỏng có tác dụng gì kia chứ!
Giày ấy của mẹ em để lại, rộng quá em đã liên tiếp làm văng mất cả hai chiếc khi em chạy qua đường, vào lúc hai chiếc xe ngựa đang phóng nước đại.
Chiếc thứ nhất bị xe song mã nghiến, rồi dính theo tuyết vào bánh xe; thế là mất hút. Còn chiếc thứ hai, một thằng bé lượm được, cười sằng sặc đem tung lên trời. Nó còn nói với em bé rằng nó sẽ giữ chiếc giày để làm nôi cho con chó sau này.
Thế là em phải đi đất, chân em đỏ ửng lên rồi tím bầm lại vì rét.
Chiếc tạp dề cũ kĩ của em đựng đầy diêm và tay em còn cầm thêm một bao.
Em cố kiếm một nơi có nhiều người qua lại. Nhưng trời rét quá, khách qua đường đều rảo bước rất nhanh, chẳng ai đoái hoài đến lời chào hàng của em.
Suốt ngày em chẳng bán được gì cả và chẳng ai bố thí cho em chút đỉnh. Em bé đáng thương, bụng đói cật rét, vẫn lang thang trên đường. Bông tuyết bám đầy trên mái tóc trên lưng em, em cũng không để ý.
Cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sự nức mùi ngỗng quay. Chả là đêm giao thừa mà! Em tưởng nhớ lại năm xưa, khi bà nội hiền hậu của em còn sống, em cũng được đón giao thừa ở nhà. Nhưng Thần Chết đã đến cướp bà em đi mất, gia sản tiêu tán, và gia đình em đã phải lìa ngôi nhà xinh xắn có dây trường xuân bao quanh, nơi em đã sống những ngày đầm ấm, để đến chui rúc trong một xó tối tăm, luôn luôn nghe những lời mắng nhiếc chửi rủa.
Em ngồi nép trong một góc tường, giữa hai ngôi nhà, một cái xây lùi vào chút ít.
Em thu đôi chân vào người, nhưng mỗi lúc em càng thấy rét buốt hơn.
Tuy nhiên, em không thể nào về nhà nếu không bản được ít bao diêm, hay không ai bố thí cho một đồng xu nào đem về; nhất định là cha em sẽ đánh em.
Câu 1. Văn bản trên được kể theo ngôi thứ mấy?
A. Ngôi thứ nhất
B. Ngôi thứ hai
C. Ngôi thứ ba
D. Ngôi thứ hai và ngôi thứ ba
Câu 2. Nhân vật chính trong đoạn trích là ai?
A. Cô bé bán diêm
B. Những người đi đường
C. Người bố
D. Người già
Câu 3. Nội dung chính của đoạn trích trên là:
A. Kể về cô bé bán diêm nhà nghèo nhưng được mọi người yêu thương, giúp đỡ.
B. Kể về hoàn cảnh đáng thương của cô bé bán diêm và sự vô cảm của mọi người.
C. Kể về người bố độc ác bắt cô bé đi bán diêm cả trong đêm giao thừa.
D. Kể về đêm giao thừa cô bé bán diêm được gặp bà nội.
Câu 4. Cuộc sống của nhân vật cô bé bán diêm thể hiện qua những chi tiết nào?
A. Một em gái nhỏ đầu trần, chân đi đất, đang dò dẫm trong đêm tối.
B. Chân em đỏ ửng hết lên rồi bầm tím lại. Tóc em xõa, em đeo chiếc tạp rề cũ kỹ, lê hết các con phố ngõ ngách để bán những bao diêm.
C. Em bé bụng đói cật rét, cả một ngày em chưa được ăn...
D. Cả ba đáp án trên đúng.
Câu 5. Khi thấy cô bé bán diêm trong đêm giao thừa, thái độ của người đi đường như thế nào?
A. Nhiều người quan tâm, mua ủng hộ cho cô bé.
B. Lo lắng, hỏi thăm và cho cô bé một ít tiền.
C. Ai cũng rảo bước rất nhanh, chẳng ai đoái hoài đến lời chào hàng của em.
D. Một vài người nán lại để mua diêm cho cô bé.
Câu 6. Vì sao thời tiết rét dữ dội nhưng cô bé bán diêm không dám trở về nhà?
A. Cô bé không dám trở về nhà vì nếu không bán được ít bao diêm, hay không ai bố thí cho một đồng xu nào đem về; nhất định là cha em sẽ đánh em.
B. Cô bé không dám trở về nhà vì ở nhà cũng không có ai.
C. Cô bé không dám trở về nhà vì cô bé thích đi bán diêm.
D. Cô bé không dám trở về nhà vì cô mong gặp được bà của mình.
Câu 7. Đoạn trích trên giúp em hình dung ra hoàn cảnh sống của nhân vật như thế nào?
A. Sung sướng, được mọi người yêu thương.
B. Khó khăn, nghèo khổ, không có ai yêu thương, chăm sóc.
C. Khó khăn, nghèo khổ nhưng được bố mẹ yêu thương.
D. Sung sướng nhưng cô đơn, không có ai quan tâm.
Câu 8. Đâu là từ láy trong các từ sau:
A. hiền hậu.
B. tiêu tán.
C. lang thang.
D. bao diêm
Câu 9. Đoạn trích được tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì để khắc họa làm nổi bật nhân vật?
Câu 10. Theo em, tình cảm, cảm xúc của người viết thể hiện qua ngôn ngữ văn bản là gì?
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (5 điểm)
Viết bài văn nêu suy nghĩ của em về tình yêu thương trong cuộc sống?
Đáp án
PHẦN I – ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 |
Câu 2 |
Câu 3 |
Câu 4 |
Câu 5 |
Câu 6 |
Câu 7 |
Câu 8 |
|
C |
A |
B |
D |
C |
A |
B |
C |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Văn bản trên được kể theo ngôi thứ mấy? A. Ngôi thứ nhất B. Ngôi thứ hai C. Ngôi thứ ba D. Ngôi thứ hai và ngôi thứ ba |
Phương pháp:
Căn cứ nội dung bài ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Ngôi thứ ba
=> Đáp án: C
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Nhân vật chính trong đoạn trích là ai? A. Cô bé bán diêm B. Những người đi đường C. Người bố D. Người già |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Nhân vật chính: cô bé bán diêm
=> Đáp án: C
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Nội dung chính của đoạn trích trên là: A. Kể về cô bé bán diêm nhà nghèo nhưng được mọi người yêu thương, giúp đỡ. B. Kể về hoàn cảnh đáng thương của cô bé bán diêm và sự vô cảm của mọi người. C. Kể về người bố độc ác bắt cô bé đi bán diêm cả trong đêm giao thừa. D. Kể về đêm giao thừa cô bé bán diêm được gặp bà nội. |
Phương pháp:
Căn cứ nội dung bài học hiểu và phân tích
Lời giải chi tiết:
Nội dung chính: kể về hoàn cảnh đáng thương của cô bé bán diêm và sự vô cảm của mọi người
=> Đáp án: B
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Cuộc sống của nhân vật cô bé bán diêm thể hiện qua những chi tiết nào? A. Một em gái nhỏ đầu trần, chân đi đất, đang dò dẫm trong đêm tối. B. Chân em đỏ ửng hết lên rồi bầm tím lại. Tóc em xõa, em đeo chiếc tạp rề cũ kỹ, lê hết các con phố ngõ ngách để bán những bao diêm. C. Em bé bụng đói cật rét, cả một ngày em chưa được ăn... D. Cả ba đáp án trên đúng. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Cuộc sống của cô bé được thể hiện qua:
Một em gái nhỏ đầu trần, chân đi đất, đang dò dẫm trong đêm tối
Chân em đỏ ửng hết lên rồi bầm tím lại. Tóc em xõa, em đeo chiếc tạp rề cũ kỹ, lê hết các con phố ngõ ngách để bán những bao diêm.
Em bé bụng đói cật rét, cả một ngày em chưa được ăn…
=> Đáp án: D
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Khi thấy cô bé bán diêm trong đêm giao thừa, thái độ của người đi đường như thế nào? A. Nhiều người quan tâm, mua ủng hộ cho cô bé. B. Lo lắng, hỏi thăm và cho cô bé một ít tiền. C. Ai cũng rảo bước rất nhanh, chẳng ai đoái hoài đến lời chào hàng của em. D. Một vài người nán lại để mua diêm cho cô bé. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Hành động của người đi đường: Ai cũng rảo bước rất nhanh, chẳng ai đoái hòa đến lời chào hàng của em.
=> Đáp án: C
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Vì sao thời tiết rét dữ dội nhưng cô bé bán diêm không dám trở về nhà? A. Cô bé không dám trở về nhà vì nếu không bán được ít bao diêm, hay không ai bố thí cho một đồng xu nào đem về; nhất định là cha em sẽ đánh em. B. Cô bé không dám trở về nhà vì ở nhà cũng không có ai. C. Cô bé không dám trở về nhà vì cô bé thích đi bán diêm. D. Cô bé không dám trở về nhà vì cô mong gặp được bà của mình. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Cô không về nhà vì: Cô bé không dám trở về nhà vì nếu không bán được ít bao diêm, hay không ai bố thí cho một đồng xu nào đem về; nhất định là cha em sẽ đánh em
=> Đáp án: A
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Đoạn trích trên giúp em hình dung ra hoàn cảnh sống của nhân vật như thế nào? A. Sung sướng, được mọi người yêu thương. B. Khó khăn, nghèo khổ, không có ai yêu thương, chăm sóc. C. Khó khăn, nghèo khổ nhưng được bố mẹ yêu thương. D. Sung sướng nhưng cô đơn, không có ai quan tâm. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Nhân vật: khó khăn, nghèo khổ, không có ai yêu thương, chăm sóc
=> Đáp án: B
Câu 8 (0.5 điểm)
|
Đâu là từ láy trong các từ sau: A. hiền hậu. B. tiêu tán. C. lang thang. D. bao diêm |
Phương pháp:
Căn cứ nội dung bài từ láy
Lời giải chi tiết:
Từ láy: lang thang
=> Đáp án: C
Câu 9 (0.5 điểm)
|
Đoạn trích được tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì để khắc họa làm nổi bật nhân vật? |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích được tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật đối lập – tương phản để khắc họa làm nổi bật nhân vật em bé bán diêm trong đêm giao thừa
Câu 10 (0.5 điểm)
|
Theo em, tình cảm, cảm xúc của người viết thể hiện qua ngôn ngữ văn bản là gì? |
Phương pháp:
Căn cứ nội dung đoạn trích, phân tích
Lời giải chi tiết:
Theo em, tình cảm, cảm xúc của người viết thể hiện qua ngôn ngữ văn bản thể hiện sự thương xót, cảm thông cho số phận của đứa trẻ nghèo
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (5 điểm)
|
Viết bài văn nêu suy nghĩ của em về tình yêu thương trong cuộc sống? |
Phương pháp:
Phân tích, kết hợp linh hoạt các phương thức biểu đạt khác…
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề cần nghị luận.
- Nêu vấn đề: Tình yêu thương trong cuộc sống.
2. Thân bài:
- Nêu quan niệm về tình yêu thương? Tình yêu thương là sự quan tâm, chăm sóc, che chở, lo lắng cho nhau giữa con người với con người.
- Nêu biểu hiện của tình yêu thương trong đời sống
+ Trong gia đình ông bà cha mẹ anh chị em yêu thương đùm bọc nhau.
+ Cha mẹ hi sinh, chấp nhận những khó khăn gian khổ để đổi lấy cuộc sống ấm no hạnh phúc cho con.
+ Con cái biết hiếu thảo với ông bà, cha mẹ và yêu thương anh chị em.
+ Ngoài xã hội: Tình yêu thương được biểu hiện ở hành động nhường chỗ trên xe bus cho cụ già, chia sẻ phần ăn sáng của mình cho em bé đang đói bụng, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, quan tâm với họ cả vật chất lẫn tinh thần...
- Phân tích ý nghĩa của tình yêu thương:
+ Tình yêu thương thể hiện phẩm chất đạo đức cần có ở mỗi chúng ta.
+ Tình yêu thương sẽ khiến cho con người trở nên tốt đẹp hơn.
+ Là cơ sở tạo nên mối quan hệ tốt đẹp, lành mạnh giữa con người
+ Thúc đẩy tinh thần tương thân tương ái trong cộng đồng.
+ Yêu thương còn tạo sức mạnh cảm hóa kì diệu đối với những người lầm đường lạc lối, mang lại niềm hạnh phúc, niềm tin để họ sống tốt đẹp hơn.
+ Tình yêu thương con người còn là cơ sở để hình thành nên những phẩm chất tốt đẹp khác như lòng biết ơn, dũng cảm, vị tha...Chúng ta cần có tình yêu thương còn bởi nó là truyền thống tốt đẹp của dân tộc VN...
+ Dẫn chứng về tình yêu thương
- Trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, nhân dân ta đã biết yêu thương đùm bọc nhau để chống lại kẻ thù xâm lược, có biết bao nhiêu bà mẹ VN nuôi giấu bộ đội như con đẻ của mình, biết bao nhiêu chiến sĩ coi đồng đội của mình như anh em ruột thịt, sẵn sàng đồng cam cộng khổ, thậm chí hi sinh cả tính mạng của mình để cứu đồng đội. Và chính có tình yêu thương, đoàn kết đó mà nhân dân ta đã dành lại được độc lập, tự do.
- Ngày nay, nhân dân ta thể hiện tình yêu thương qua những hành động cụ thể như giúp đỡ nhau để xoá đói giảm nghèo, chia sẻ kinh nghiệm làm giàu, giúp nhau vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Hay mỗi khi một vùng nào trong cả nước gặp thiên tai hạn hán, lũ lụt thì nhân dân cả nước cũng như kiều bào ở nước ngoài cùng chung tay giúp đỡ chia sẻ vật chất, động viên tinh thần để họ có thể ổn định cuộc sống.
- Nhiều phong trào nhân đạo được nhân dân nhiệt tình hưởng ứng như “Trái tim cho em”, “Lục lạc vàng”, “Vì bạn xứng đáng”, “Cặp lá yêu thuơng”, “Hiến máu nhân đạo” ...
* Phản biện:
Bên cạnh những người sống có tình yêu thương thì trong XH vẫn còn những người sống vô cảm, ích kỉ, chỉ nghĩ đến bản thân mình, nhận vào thật nhiều nhưng không muốn cho đi, không quan tâm, giúp đỡ người khác.
Hay những thể hiện tình yêu thương mà thiếu đi sự chân thành... Những người đó cần phải lên án và phê phán
* Liên hệ bản thân
- Tiếp theo cần có ý thức rèn luyện tình yêu thương ở mọi lúc mọi nơi bằng những hành động thiết thực trong cuộc sống.
- Quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ người khác lúc gặp khó khăn.
- Học tập theo những tấm gương có tình yêu thương con người.
- Sống có trách nhiệm với những người thân yêu trong gia đình và những người xung quanh.
- Tham gia các phong trào ủng hộ, các hoạt động từ thiện: chăm sóc người già yếu, bệnh tật, an ủi người đau thương, giúp đỡ trẻ mồ côi, đồng bào bị thiên tai, dịch bệnh...
3. Kết bài:
+ Khẳng định vai trò của tình yêu thương.
+ Nêu suy nghĩ về hướng rèn luyện của em
Đề thi giữa kì 2 Văn 8 - Đề số 9
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
Không có gì tự đến đâu Con ..
Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa
Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.
Mùa bội thu phải một nắng hai sương,
Không có gì tự đến dẫu bình thường.
Phải bằng cả bàn tay và nghị lực!
Như con chim suốt ngày chọn hạt,
Năm tháng bao dung khắc nghiệt lạ kỳ.
Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi khi,
Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi.
Có roi vọt khi con hư và có lỗi
Thương yêu Con, đâu đồng nghĩa với nuông chiều!
Đường Con đi dài rộng biết bao nhiêu ..
Năm tháng nụ xanh giữ cây vươn thẳng,
Trời cao đó nhưng chẳng bao giờ lặng,
Chi có Con mới nâng nổi chính mình ..
(Không có gì tự đến đâu Con - Nguyễn Đăng Tấn)
Câu 1 (0.5 điểm): Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2 (0.5 điểm): Bài là lời nhắn nhủ của ai dành cho ai?
Câu 3 (1.0 điểm): Chỉ ra các từ ngữ thể hiện tình cảm của nhân vật khi con hư và có lỗi.
Câu 4 (1.0 điểm): Câu thơ “năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kì” sử dụng biện pháp tu từ nghệ thuật nào. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.
Câu 5 (1.0 điểm): Em hiểu thế nào về nội dung những dòng thơ sau?
Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa
Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa.
Mùa bội thu phải một nắng hai sương,
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về tình cảm của tác giả với người con được thể hiện trong bài thơ.
Câu 2 (4.0 điểm) Hãy viết bài văn phân tích một tác phẩm truyện đã để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất.
Đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Nhận diện thể thơ qua đặc điểm số câu, số chữ, cách gieo vần.
Lời giải chi tiết:
Bài thơ được viết theo thể tự do vì không có khuôn khổ cố định về số chữ, số dòng.
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc hiểu nội dung bài thơ, xác định chủ thể gửi gắm thông điệp.
Lời giải chi tiết:
Đây là lời nhắn nhủ của cha mẹ dành cho con cái, thể hiện sự yêu thương và dạy dỗ.
Câu 3.
Phương pháp:
Xác định các từ ngữ thể hiện cảm xúc của cha mẹ khi con mắc lỗi
Lời giải chi tiết:
Các từ ngữ thể hiện tình cảm của cha mẹ khi con hư và có lỗi:
- “nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi”
- “roi vọt”
- “thương yêu” nhưng không “nuông chiều”
=> Những từ này cho thấy cha mẹ vừa nghiêm khắc, vừa bao dung, dạy con nên người.
Câu 4.
Phương pháp:
Xác định biện pháp tu từ và phân tích tác dụng của nó.
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ: Nhân hóa (năm tháng bao dung nhưng cũng khắc nghiệt).
- Tác dụng: Làm cho thời gian trở nên có cảm xúc như con người, thể hiện quy luật cuộc sống: thời gian vừa là người thầy nghiêm khắc, vừa là nơi bao dung giúp con người trưởng thành.
Câu 5.
Phương pháp:
Giải thích hình ảnh ẩn dụ và rút ra bài học.
Lời giải chi tiết:
Những câu thơ này ẩn dụ về quy luật của sự trưởng thành và thành công:
- “Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa” → Thành công đòi hỏi sự nỗ lực lâu dài.
- “Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa” → Vượt qua khó khăn mới đạt được kết quả tốt.
- “Mùa bội thu phải một nắng hai sương” → Cần kiên trì, chịu đựng gian khổ để đạt được thành tựu.
=> Thành công không tự nhiên mà có, phải trải qua gian nan, vất vả mới đạt được.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
- Hình thức: đoạn văn
- Vấn đề cần bàn luận: tình cảm của tác giả với người con
Lời giải chi tiết:
Trong bài thơ “Không có gì tự đến đâu Con”, tác giả Nguyễn Đăng Tấn thể hiện tình cảm yêu thương sâu sắc của cha mẹ dành cho con. Tình yêu thương ấy không chỉ là sự che chở mà còn chứa đựng sự dạy dỗ, răn đe để con trưởng thành. Những câu thơ như “Có roi vọt khi con hư và có lỗi / Thương yêu Con, đâu đồng nghĩa với nuông chiều” cho thấy cha mẹ nghiêm khắc nhưng luôn hướng đến điều tốt đẹp nhất cho con. Đặc biệt, tác giả khẳng định rằng con phải tự mình cố gắng, không thể dựa dẫm vào ai: “Chỉ có Con mới nâng nổi chính mình”. Bài thơ không chỉ là lời dặn dò của cha mẹ mà còn là bài học quý giá về cuộc sống, giúp con hiểu rằng thành công chỉ đến khi ta có nghị lực, kiên trì và biết vươn lên sau những khó khăn.
Câu 2.
Phương pháp:
- Chọn một tác phẩm truyện mà em yêu thích và nhớ rõ nội dung.
- Lập dàn ý với các phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
- Viết bài văn theo bố cục rõ ràng.
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao.
- Nêu ấn tượng về nhân vật Lão Hạc: một người nông dân nghèo nhưng giàu lòng tự trọng.
2. Thân bài:
a. Hoàn cảnh sống của Lão Hạc:
- Nghèo khổ, sống cô đơn, chỉ có con chó Vàng làm bạn.
- Con trai đi xa vì không lấy được vợ.
- Phải bán chó để dành tiền cho con, nhưng sau đó day dứt và đau khổ.
b. Phẩm chất đáng quý của Lão Hạc:
- Yêu thương con: Dành dụm tiền cho con dù bản thân khổ cực.
- Lòng tự trọng cao: Không muốn làm phiền ai, không nhận sự giúp đỡ từ ông giáo.
- Sự hi sinh cao cả: Chọn cái chết để giữ gìn phẩm giá.
c. Nghệ thuật của truyện:
- Xây dựng nhân vật chân thực, giàu cảm xúc.
- Giọng văn bình dị nhưng sâu sắc, gây xúc động mạnh.
- Tố cáo xã hội phong kiến bất công khiến người lương thiện phải chịu đau khổ.
3. Kết bài:
- Khẳng định giá trị nhân văn của truyện Lão Hạc.
- Bài học về tình yêu thương, lòng tự trọng và sự hi sinh.
- Cảm nghĩ của em: Xúc động, đồng cảm với nhân vật và trân trọng những người có lòng tự trọng trong cuộc sống.
Bài tham khảo
Trong nền văn học Việt Nam, Nam Cao là một nhà văn hiện thực xuất sắc, chuyên viết về số phận của những con người nghèo khổ trong xã hội phong kiến. Một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là truyện ngắn Lão Hạc, câu chuyện đầy xúc động về cuộc đời của một người nông dân giàu lòng tự trọng nhưng lại chịu nhiều bất hạnh.
Lão Hạc là một người nông dân nghèo, sống cô đơn trong một căn nhà nhỏ cùng con chó Vàng – kỷ vật của đứa con trai duy nhất. Con trai lão vì không lấy được vợ do quá nghèo nên phẫn chí bỏ đi làm đồn điền cao su, để lại lão sống đơn độc trong cảnh túng thiếu. Không có đất đai canh tác, sức khỏe lại yếu, lão phải sống qua ngày bằng những công việc vặt vãnh. Trong hoàn cảnh khốn cùng ấy, lão vẫn cố gắng dành dụm chút tiền cho con trai với mong muốn sau này con về có vốn làm ăn.
Bi kịch lớn nhất của lão là phải bán đi cậu Vàng – người bạn duy nhất trong những ngày tháng cô đơn. Lão coi cậu Vàng như một đứa con, chăm sóc chu đáo, nhưng vì hoàn cảnh quá khó khăn, lão buộc phải bán nó. Ngay sau khi bán chó, lão đau đớn, dằn vặt, tự trách mình là "đồ ác", "đồ bất nhân". Tình huống này cho thấy tình yêu thương sâu sắc của lão dành cho con vật và tấm lòng nhân hậu của lão.
Nhưng bi kịch của lão không dừng lại ở đó. Khi không còn sức lao động, không muốn làm phiền hàng xóm hay nhận sự giúp đỡ từ ông giáo, lão quyết định chọn cái chết bằng cách ăn bả chó. Cái chết đau đớn ấy không chỉ thể hiện sự quẫn bách của lão mà còn thể hiện lòng tự trọng cao cả. Lão thà chết chứ không chịu nhờ vả hay phiền lụy người khác.
Nam Cao đã xây dựng hình tượng Lão Hạc như một con người khốn khổ nhưng có phẩm chất đáng trân trọng. Truyện thể hiện sự xót thương đối với số phận bất hạnh của người nông dân nghèo trước xã hội phong kiến đầy bất công. Đồng thời, tác phẩm cũng tố cáo xã hội lúc bấy giờ đã đẩy những con người hiền lành, lương thiện vào bước đường cùng.
Bên cạnh đó, Lão Hạc còn phản ánh triết lý nhân sinh sâu sắc: Trong hoàn cảnh khắc nghiệt, con người vẫn giữ được lòng tự trọng và nhân cách cao đẹp. Qua nhân vật ông giáo – người kể chuyện – Nam Cao thể hiện sự đồng cảm với những con người nghèo khổ nhưng đáng kính.
Tác phẩm Lão Hạc không chỉ thành công ở nội dung mà còn gây ấn tượng mạnh mẽ nhờ nghệ thuật đặc sắc. Giọng văn trần thuật nhẹ nhàng nhưng sâu lắng, giàu cảm xúc giúp người đọc đồng cảm với nhân vật. Nam Cao đã xây dựng hình tượng nhân vật chân thực, điển hình cho người nông dân nghèo trong xã hội cũ. Bên cạnh đó, cách kể chuyện xen lẫn đối thoại giữa Lão Hạc và ông giáo giúp nhân vật bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc rõ nét. Những chi tiết chân thực, giản dị nhưng đầy ám ảnh đã tạo nên sức hấp dẫn cho truyện, làm nổi bật giá trị nhân văn sâu sắc mà tác phẩm mang lại.
Truyện ngắn Lão Hạc không chỉ là một câu chuyện cảm động về số phận người nông dân nghèo mà còn là lời tố cáo xã hội phong kiến tàn nhẫn, khiến con người rơi vào bước đường cùng. Qua đó, Nam Cao thể hiện niềm xót thương và trân trọng những con người giàu lòng tự trọng, luôn giữ gìn nhân cách ngay cả trong hoàn cảnh khốn cùng. Tác phẩm để lại trong lòng người đọc những bài học sâu sắc về tình người, lòng nhân hậu và sự hy sinh cao cả.
Đề thi giữa kì 2 Văn 8 - Đề số 10
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
Vì sao nước biển lại mặn?
Vì sao nước biển lại mặn? Đó là vì trong nước biển hoà tan nhiều loại muối. Nếu ta có một chậu nước máy và một chậu nước biển, sau khi phơi khô dưới ánh nắng mặt trời, ta sẽ phát hiện chậu nước máy thì khô hết, còn dưới đáy chậu nước biển có một lớp trắng lấp lánh. Đó là muối.
Vậy muối trong nước biển từ đâu mà có? Muối từ trong đất đá của lục địa, tan trong nước mưa, chảy vào khe suối, sông rồi đổ vào biển. Thời gian lâu, nước bị bốc hơi, còn muối dần dần tích lũy lại. Những kết quả quan sát chứng tỏ, hằng năm lượng muối sông hồ đổ ra biển khoảng 3,9 tỷ tấn.
Nước biển thực chất có bao nhiêu muối? Căn cứ thí nghiệm bình quán 1.000g nước biển chứa 35 g muối, trong đó chủ yếu là muối ăn (NaCl) vì nước biển chứa nhiều muối ăn nên có vị mặn, tiếp theo là magie clorua (MgCI,), magie sunfat, canxi sunfat, kali sunfat và magie oxit ... Chúng gây nên vị mặn của nước biển.
(Mười vạn câu hỏi vì sao - NXBGD Việt Nam)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể loại của đoạn trích trên.
Câu 2 (0.5 điểm): Nêu nội dung chính của văn bản
Câu 3 (0.5 điểm): Theo tác giả, muối trong nước biển từ đâu mà có?
Câu 4 (1.0 điểm): Tìm tất cả các câu nghi vấn có trong văn bản. Vì sao em lại xác định các câu đó là câu nghi vấn?
Câu 5 (0.5 điểm): Qua văn bản, em nhận thấy mình phải có những “hành động đẹp” nào để bảo vệ tài nguyên biển của quê hương?
PHẦN VIẾT (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận với câu chủ đề sau:
“Siêng năng, kiên trì học tập là chìa khóa vàng mở cảnh cửa thành công.”
Câu 2 (5.0 điểm) Cảm nghĩ của em về vẻ đẹp của người chiến sĩ Cách mạng trong bài thơ “Tức cảnh Pác Bó” của Hồ Chí Minh.
Sáng ra bờ suối, tối vào hang,
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,
Cuộc đời cách mạng thật là sang.
(Tháng 2 năm 1941)
Đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Câu 1.
|
Xác định thể loại của đoạn trích trên |
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích thuộc văn bản thuyết minh vì cung cấp thông tin khoa học về nguyên nhân nước biển mặn một cách khách quan, dễ hiểu.
Câu 2.
|
Nêu nội dung chính của văn bản |
Phương pháp:
- Xác định vấn đề chính mà văn bản đề cập.
- Tóm tắt ngắn gọn nội dung trong 1-2 câu.
Lời giải chi tiết:
Văn bản giải thích nguyên nhân nước biển có vị mặn, nguồn gốc muối trong nước biển và thành phần của nước biển.
Câu 3.
|
Theo tác giả, muối trong nước biển từ đâu mà có? |
Phương pháp:
Đọc kỹ đoạn văn, tìm câu trả lời trực tiếp trong văn bản
Lời giải chi tiết:
Muối trong nước biển có nguồn gốc từ đất đá trên lục địa, tan trong nước mưa, chảy vào sông suối rồi đổ ra biển
Câu 4.
|
Tìm tất cả các câu nghi vấn có trong văn bản. Vì sao em lại xác định các câu đó là câu nghi vấn? |
Phương pháp:
- Tìm các câu có dấu “?” hoặc chứa từ nghi vấn (“vì sao”, “bao nhiêu”, “tại sao”...).
- Xác định mục đích của câu: có phải dùng để hỏi không?
Lời giải chi tiết:
- Các câu nghi vấn trong văn bản:
+ “Vì sao nước biển lại mặn?”
+ “Vậy muối trong nước biển từ đâu mà có?”
+ “Nước biển thực chất có bao nhiêu muối?”
- Những câu trên là câu nghi vấn vì:
+ Có dấu chấm hỏi.
+ Dùng để đặt câu hỏi, yêu cầu giải thích.
Câu 5.
|
Qua văn bản, em nhận thấy mình phải có những “hành động đẹp” nào để bảo vệ tài nguyên biển của quê hương? |
Phương pháp:
Liên hệ thực tế, nêu ra những việc làm giúp bảo vệ biển.
Lời giải chi tiết:
Để bảo vệ tài nguyên biển, em cần:
- Giữ gìn vệ sinh, không xả rác thải ra biển.
- Hạn chế sử dụng túi ni-lông, bảo vệ sinh vật biển.
- Tuyên truyền, vận động mọi người cùng bảo vệ môi trường biển.
PHẦN VIẾT (7.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn văn nghị luận với câu chủ đề sau: “Siêng năng, kiên trì học tập là chìa khóa vàng mở cảnh cửa thành công.” |
Phương pháp:
- Giải thích ý nghĩa câu chủ đề.
- Chứng minh bằng dẫn chứng thực tế.
- Nêu bài học cho bản thân.
Lời giải chi tiết:
Siêng năng, kiên trì học tập là yếu tố quyết định sự thành công của con người. Học tập không chỉ giúp ta tiếp thu tri thức mà còn rèn luyện tính kiên trì, nhẫn nại. Lịch sử cho thấy nhiều tấm gương kiên trì học tập đã đạt được thành tựu lớn như Chủ tịch Hồ Chí Minh miệt mài tự học để tìm ra con đường cứu nước, hay Thomas Edison thử nghiệm hàng nghìn lần mới phát minh ra bóng đèn. Nếu không có sự siêng năng và ý chí kiên trì, con người sẽ dễ nản lòng, không đạt được mục tiêu. Vì vậy, mỗi chúng ta cần rèn luyện tinh thần học tập bền bỉ, không ngừng phấn đấu để mở cánh cửa thành công.
Câu 2.
|
Cảm nghĩ của em về vẻ đẹp của người chiến sĩ Cách mạng trong bài thơ “Tức cảnh Pác Bó” của Hồ Chí Minh. Sáng ra bờ suối, tối vào hang, (Tháng 2 năm 1941) |
Phương pháp:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Phân tích vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ.
- Rút ra bài học và liên hệ bản thân.
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở bài:
Bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh không chỉ ghi lại cảnh sống giản dị của Bác mà còn thể hiện tinh thần lạc quan, yêu nước của người chiến sĩ cách mạng. Qua đó, ta cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của vị lãnh tụ vĩ đại.
2. Thân bài:
a. Hoàn cảnh sáng tác
- Bài thơ được viết năm 1941, khi Bác Hồ trở về nước lãnh đạo cách mạng sau nhiều năm hoạt động ở nước ngoài.
- Thời gian này, Bác sống trong hoàn cảnh thiếu thốn ở hang Pác Bó, Cao Bằng.
b. Phân tích vẻ đẹp người chiến sĩ cách mạng
- Tinh thần lạc quan, yêu đời
+ Dù sống trong điều kiện khó khăn (“Sáng ra bờ suối, tối vào hang”), Bác vẫn không than phiền.
+ Cuộc sống thiếu thốn nhưng Bác vẫn coi đó là niềm vui: “Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng”.
- Phong thái ung dung, yêu thiên nhiên
+ Cuộc sống giản dị nhưng hòa hợp với thiên nhiên, thể hiện tâm hồn thanh cao của Bác.
- Lý tưởng cách mạng cao đẹp
+ Dù hoàn cảnh khắc nghiệt, Bác vẫn miệt mài làm việc: “Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng”.
+ “Dịch sử Đảng” là công việc quan trọng để tìm ra đường lối cách mạng cho dân tộc.
+ Qua đó, ta thấy được tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nước sâu sắc của Bác.
- Kết thúc bài thơ - Tư thế của người chiến sĩ cách mạng: “Cuộc đời cách mạng thật là sang” thể hiện niềm vui, sự tự hào của Bác về con đường cách mạng dù gian khổ.
3. Kết bài:
Bài thơ Tức cảnh Pác Bó không chỉ tái hiện cuộc sống đơn sơ của Bác mà còn cho thấy tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường của người chiến sĩ cách mạng. Qua đó, ta càng thêm kính trọng và tự hào về Hồ Chí Minh – một lãnh tụ vĩ đại với tâm hồn cao đẹp.
Bài tham khảo
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam mà còn là một nhà thơ với tâm hồn thanh cao, lạc quan. Trong những năm tháng hoạt động cách mạng gian khổ, Người đã sáng tác nhiều bài thơ giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Tức cảnh Pác Bó là một trong những bài thơ như vậy. Bài thơ không chỉ phác họa cuộc sống gian khổ của Bác tại núi rừng Pác Bó mà còn thể hiện vẻ đẹp của một người chiến sĩ cách mạng kiên cường, lạc quan và yêu nước sâu sắc.
Bài thơ được Bác viết vào tháng 2 năm 1941, khi Người hoạt động cách mạng ở Pác Bó (Cao Bằng) sau hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Ở nơi rừng núi hiểm trở, cuộc sống vô cùng thiếu thốn, Bác phải ở trong hang, ăn cháo bẹ, rau măng và làm việc trên bàn đá chông chênh. Thế nhưng, giữa những khó khăn ấy, Người vẫn giữ tinh thần lạc quan, yêu đời, xem đó là niềm vui lớn lao của cuộc đời cách mạng.
Sáng ra bờ suối, tối vào hang,
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.
Câu thơ mở đầu gợi lên nhịp sống đều đặn, giản dị của Bác nơi núi rừng. “Sáng ra bờ suối, tối vào hang” cho thấy cuộc sống hoà mình với thiên nhiên, dù khó khăn nhưng không hề u sầu hay bi lụy. “Cháo bẹ, rau măng” – những món ăn đơn sơ, đạm bạc, nhưng cách dùng từ “vẫn sẵn sàng” thể hiện thái độ ung dung, không màng vật chất, luôn trong tư thế chủ động và vững vàng trước mọi thử thách.
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,
Hình ảnh “bàn đá chông chênh” vừa gợi tả điều kiện làm việc khó khăn, vừa mang ý nghĩa tượng trưng cho con đường cách mạng đầy gian truân. Động từ “dịch” cho thấy Bác miệt mài nghiên cứu, dịch tài liệu để tìm ra con đường cứu nước đúng đắn. Qua đó, ta thấy được tinh thần trách nhiệm, ý chí kiên cường và lòng tận tụy với cách mạng của Bác.
Cuộc đời cách mạng thật là sang.
Từ “sang” ở đây không phải là sự giàu có về vật chất mà là sự giàu có về tinh thần, về lý tưởng cao đẹp. Dù sống trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, Bác vẫn cảm thấy vui vẻ, tự hào vì được cống hiến cho cách mạng. Câu thơ thể hiện niềm tin tưởng mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của đất nước.
Bài thơ Tức cảnh Pác Bó không chỉ khắc họa cuộc sống giản dị của Bác mà còn cho ta thấy vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng: ung dung, lạc quan, kiên trì và hết lòng vì dân, vì nước. Hình ảnh Bác Hồ sống giữa núi rừng, miệt mài làm việc trong gian khổ là nguồn cảm hứng lớn lao cho thế hệ trẻ hôm nay. Chúng ta cần học tập tinh thần ấy, rèn luyện bản thân, kiên trì theo đuổi ước mơ và cống hiến cho đất nước ngày càng giàu đẹp.
Đề thi giữa kì 2 Văn 8 - Đề số 11
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu:
BẠN ĐẾN CHƠI NHÀ
Đã bấy lâu nay, bác tới nhà
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây, ta với ta.
(Nguyễn Khuyến)
Câu 1. (0,5 điểm): Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2. (0,5 điểm): Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai ?
Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của nghệ thuật đối trong hai câu thơ sau:
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Câu 4. (1,0 điểm): Nêu chủ đề của bài thơ.
Câu 5. (1,0 điểm): Qua nội dung của bài thơ Bạn đến chơi nhà, em thấy nhà thơ Nguyễn Khuyến có quan niệm như thế nào về tình bạn?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm): Từ nội dung bài thơ ở phần Đọc hiểu, hãy nêu suy nghĩ: làm gì để xây dựng một tình bạn đẹp trong cuộc sống hiện đại ngày nay?
Câu 2 (4.0 điểm): Viết bài văn phân tích truyện ngắn Nhát đinh của Bác thợ của Phong Thu
NHÁT ĐINH CỦA BÁC THỢ
Cứ mỗi dịp trở về thăm ngôi nhà nơi tôi ra đời và lớn lên ở đó, tôi lại bồi hồi ngắm chiếc ghế tựa đã cũ lắm, một bên chân đã phải nối và nhớ lại một chuyện xưa.
Trong lúc nô đùa, mấy anh em tôi đã làm bong mặt ghế. Cha tôi phải mời bác thợ vào chữa lại cho khỏi hỏng thêm. Chúng tôi tò mò ngắm bác thợ lụi cụi làm việc. Mỗi khi cúi xuống, ngẩng lên, chiếc kính mắt trắng trên mắt bác lại tụt xuống. Đôi bàn tay có những ngón tay sần sùi, gân guốc đặt vào đâu, chỗ đó lập tức thay đổi và chiếc ghế dần dần lành lại như mới. Cuối cùng sau mấy nhát đinh “chát chát…”, chiếc ghế được đặt ngay ngắn, xong xuôi trước mắt chúng tôi.
Cha tôi trả tiền và cảm ơn bác thợ. Bác thợ xoa xoa tay trên mặt ghế vừa được thay lại như thể từ biệt đứa con của mình rồi chào cả cha tôi, lẫn chúng tôi, ra về.
Một lúc sau, trời mưa to. Anh em chúng tôi lại leo lên ghế chơi trò “tàu hỏa” mà quên cả trời mưa. Bỗng có ai gõ cửa. Cha tôi vội bước ra, thì thấy bác thợ đã trở lại, toàn thân ướt đẫm. Nước nhỏ giọt từ trong chiếc hòm đồ nghề của bác. Bố tôi hỏi:
- Bác quên gì đấy ạ?
Bác thợ đưa tay vuốt mặt lắc đầu nói nhanh:
- Tôi không quên gì, nhưng…
Vừa nói, bác vừa bước tới chiếc ghế do tay bác vừa chữa, xoa xoa tay để tìm cái gì. Anh em chúng tôi không hiểu đầu đuôi như thế nào nữa, cứ trố mắt ra nhìn. Chợt bác khẽ reo lên:
- Đây rồi!
Đoạn, bác mở hòm đồ nghề, lấy cái búa ra, đeo kính vào, nheo nheo mắt và bất thần vung búa gõ đánh “chát” một cái. Xong bác ngẩng lên, cười, nói với cha tôi:
- Đi được một quãng xa, tôi chợt nhớ còn cái đinh chưa đóng hết đầu đinh. Để vậy, có người sẽ rách quần áo, bác ạ!
Cha tôi cảm động, lấy thêm tiền biếu bác. Bác không nhận và vội vàng chào. Cha con chúng tôi không ai bảo ai, cùng đứng lặng nhìn theo bác thợ vai khoác cái cưa, tay xách hộp gỗ cắm cúi đi trong mưa. Bóng bác nhòa dần nhòa dần trên con đường quốc lộ mịt mù gió thốc…
Từ buổi ấy, trong trí nhớ non thơ của tôi không bao giờ phai mờ hình dáng bác thợ và cứ nghe rõ mãi nhát đinh của người thợ tận tụy với công việc, với nghề của mình.
(Trích Những truyện hay viết cho thiếu nhi, Phong Thu, NXB Kim Đồng, 2015, tr. 213)
* Chú thích: Nhà văn Phong Thu (1934 – 2020), tên đầy đủ là Nguyễn Phong Thu, quê ở tỉnh Thái Bình. Ông từng giành giải thưởng của Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội; Giải thưởng cuộc thi viết cho thiếu nhi do Hội Nhà văn, Nhà xuất bản Kim Đồng và Ủy ban Thiếu niên Nhi đồng Việt Nam tổ chức. Ông là nhà văn suốt cuộc đời sáng tác chỉ chuyên viết cho thiếu nhi. Các tác phẩm của ông giàu giá trị nhân văn, góp phần bồi đắp tâm hồn thế hệ trẻ.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
- Quan sát số chữ trong mỗi dòng thơ.
- Xác định số câu của bài thơ.
Lời giải chi tiết:
Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2.
Phương pháp:
Xác định người bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ trong bài thơ.
Dựa vào cách xưng hô, giọng điệu và nội dung lời thơ để nhận ra ai đang nói.
Lời giải chi tiết:
Nhân vật trữ tình trong bài thơ: Tác giả
Câu 3.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về phép đối, chỉ ra các cặp từ/cụm từ đối nhau
Lời giải chi tiết:
- Nghệ thuật đối trong hai câu thơ:
+ “Cải chửa ra cây” – “bầu vừa rụng rốn”
+ “Cà mới nụ” - “mướp đương hoa”
- Tác dụng:
+ Tạo sự hài hòa, cân đối cho hai câu thơ.
+ Làm nổi bật tình huống trớ trêu khi bạn đến chơi nhà: không có cả cải, cà, bầu hay mướp để mời bạn đó là cuộc sống thiếu thốn.
+ Thể hiện sự hóm hỉnh, lạc quan, yêu đời của tác giả
Câu 4.
Phương pháp:
Đọc toàn bộ bài thơ để xác định nội dung chính mà tác giả muốn gửi gắm
Lời giải chi tiết:
Chủ đề của bài thơ: Ca ngợi tình bạn bè chân thành, thắm thiết.
Câu 5.
Phương pháp:
Xác định nội dung thể hiện tình bạn trong bài thơ
Rút ra quan niệm của tác giả về tình bạn
Lời giải chi tiết:
Nguyễn Khuyến có quan niệm về tình bạn:
- Tình bạn là tình cảm chân thành, đáng quý, đáng trân trọng trong cuộc đời mỗi người.
- Tình bạn giản dị, chân thành sẽ cao hơn mọi của cải, vật chất và không thể dùng bất cứ vật chất nào để so sánh, đổi chác được...
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
- Nêu vấn đề: Giới thiệu ý nghĩa của tình bạn đẹp trong cuộc sống.
- Giải thích: Tình bạn đẹp là tình bạn chân thành, tin tưởng, giúp đỡ nhau.
- Bàn luận – nêu cách xây dựng tình bạn đẹp:
+ Biết "chọn bạn" mà chơi, phù hợp với mình.
+ Hãy lắng nghe, tôn trọng những bí mật của bạn.
+ Luôn trung thực, thẳng thắn với bạn.
+ Trân trọng những tình bạn trong sáng mà mỗi người đang có.
+ Biết hiểu, đồng cảm giúp đỡ, quan tâm lẫn nhau khi gặp khó khăn mà không tính toán vụ lợi và sẵn sàng tha thứ, ...
+ Biết nói lời xin lỗi với bạn khi cần.
- Liên hệ bản thân và khẳng định ý nghĩa của tình bạn.
Lời giải chi tiết:
Tình bạn là một trong những tình cảm đẹp và đáng quý trong cuộc sống của mỗi con người. Tình bạn đẹp là tình bạn được xây dựng trên sự chân thành, tin tưởng và luôn sẵn sàng giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Để xây dựng một tình bạn tốt đẹp, mỗi người cần biết lựa chọn những người bạn phù hợp với mình, có lối sống tích cực và suy nghĩ đúng đắn. Trong tình bạn, chúng ta cần biết lắng nghe, tôn trọng và giữ gìn những bí mật của bạn. Bên cạnh đó, sự trung thực, thẳng thắn cũng là yếu tố quan trọng giúp tình bạn trở nên bền chặt hơn. Mỗi người cũng cần biết trân trọng những tình bạn trong sáng mà mình đang có, luôn quan tâm, đồng cảm và sẵn sàng giúp đỡ bạn khi gặp khó khăn mà không tính toán vụ lợi, đồng thời biết tha thứ cho những sai lầm của nhau. Khi mắc lỗi, chúng ta cũng cần dũng cảm nói lời xin lỗi với bạn. Bản thân em luôn cố gắng sống chân thành, hòa đồng và biết chia sẻ với bạn bè để giữ gìn những tình bạn tốt đẹp. Có thể nói, tình bạn chân thành sẽ giúp cuộc sống của mỗi người trở nên ý nghĩa và tốt đẹp hơn.
Câu 2.
Phương pháp:
* Giới thiệu tên tác phẩm, tên tác giả, nêu ý kiến khái quát về tác phẩm.
* Triển khai vấn đề nghị luận:
- Về nội dung: Truyện “Nhát đinh của bác thợ ” Thông qua việc bác thợ mộc chữa một cái ghế hỏng, tác giả đề cao vẻ đẹp của lòng yêu nghề, sự tử tế và trách nhiệm trong công việc. Truyện nhắc nhở trong bất kì công việc nào, chú ý đến từng chi tiết nhỏ cũng là điều quan trọng, bất kỳ công việc nào cũng cần được thực hiện với sự tôn trọng và tự hào.
- Về nghệ thuật: Truyện được kể theo ngôi thứ nhất khiến cho câu chuyện được kể trở nên chân thực. Cốt truyện đơn giản, đời thường, gần gũi theo kết cấu hồi tưởng giúp chủ đề thêm sâu sắc; Nghệ thuật xây dựng nhân vật thông qua những chi tiết cụ thể về ngoại hình, hành động…
* Khẳng định lại giá trị, ý nghĩa của tác phẩm truyện
Lời giải chi tiết:
Tác phẩm “Nhát đinh của bác thợ” của Phong Thu không chỉ là một câu chuyện đơn giản về việc chữa sửa một chiếc ghế, mà còn là một bức tranh về những giá trị nhân văn sâu sắc.
Điểm nhấn của câu chuyện là sự tận tụy và tinh thần trách nhiệm của bác thợ. Dù đã rời khỏi nhà và đang bước đi trên đường, bác vẫn nhớ tới chiếc đinh chưa đóng hết đầu đinh trên chiếc ghế, và quyết định quay lại chỉ để hoàn thiện công việc của mình. Hành động này không chỉ thể hiện sự chăm chỉ và tỉ mỉ trong công việc, mà còn là biểu hiện của sự tôn trọng và trách nhiệm với khách hàng.
Ngoài ra, câu chuyện cũng tạo ra một bức tranh về tình cảm gia đình và kỷ niệm tuổi thơ. Những khoảnh khắc anh em cùng nhau nô đùa trên chiếc ghế, và sự hiểu biết, cảm thông từ phía cha trước tinh thần hăng hái chơi trò 'tàu hỏa' của con cái, tạo nên một không khí ấm áp và gắn kết gia đình.
Bên cạnh đó, tác phẩm còn làm nổi bật vẻ đẹp của nghề thợ mộc và tác dụng của sự tinh tế trong công việc. Mỗi cú đánh "chát" của bác thợ không chỉ là việc đóng đinh, mà còn là cách thể hiện sự tinh tế và tâm huyết với nghề, mang lại cho chiếc ghế không chỉ sự bền vững mà còn là vẻ đẹp tinh tế.
Tóm lại, “Nhát đinh của bác thợ” không chỉ là một câu chuyện đơn giản về việc sửa chữa một chiếc ghế, mà còn là một tấm gương sáng cho tinh thần trách nhiệm, tình cảm gia đình và vẻ đẹp của nghề nghiệp tinh tế."
Đề thi giữa kì 2 Văn 8 - Đề số 12
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
[..] Có những ngày mà tự nhiên không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu, và hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì. Tôi đang ở vào một ngày như thế mà chiều trời hôm ấy lại ảm đạm và rét mướt càng khiến cho cảm giác đó rõ rệt hơn.
Tôi đi vài bước trên con đường phố vắng người. Một cái xe tay dằng xa đi lại, anh phu xe co ro vì rét, hai tay giấu dưới manh áo tơi tàn. Theo lệ như mọi khi, tôi mặc cả:
- Xe đi không? Bốn xu về gần nhà bò Yên Phụ.
- Thầy cho sáu xu.
- Không, bốn xu là đúng giá rồi.
Tôi vừa nói vừa bước đi. Người phu xe đã có tuổi, cứ kéo cái xe theo sau tôi mà lẩm bẩm: "Bốn đồng xu từ đây về nhà bò". Cái tiếng nhà bò anh ta nhắc đi nhắc lại làm cho tôi khó chịu. Tôi biết đó là một cách của các phu xe cứ đi theo sau khách để làm cho người ta bực tức, tôi lại càng ghét và quay lại gắt:
- Có đi hay không thì thôi! Đừng có theo sau người ta mà lải nhải.
Thấy tôi gắt, người phu xe đứng lại, không dám theo nữa. Nhưng để tôi đi một quãng xa, anh ta ới gọi:
- Lại đây đi mà.
Rồi anh ta hạ càng xe xuống, cứ đứng yên chỗ ấy đợi chứ không kéo lại phía tôi. Cái cử chỉ ấy làm tôi sinh ghét thêm, đã toan không đi, nhưng lúc ấy không có cái xe nào khác. Tôi giận dữ bước mạnh lên xe, vừa mắng:
- Anh thật là lắm chuyện, không đi ngay lại còn vẽ.
Anh xe cãi lại:
- Từ đây về đấy thầy cho được bốn đồng xu thật rẻ quá!
- Thì ai bảo anh đi? Không có tôi đã gọi xe khác.
Người phu xe khẽ thở dài, yên lặng nhấc xe lên. Lúc bấy giờ tôi mới ngả mình ra phía sau, nhưng thấy cái đệm cứng như gỗ đập vào lưng, tôi cúi xuống bên nhìn cái tay xe.
Tôi đoán không sai, chính là một cái xe hiệu "con lợn" cái tên hiệu cũng xứng đáng một hạng xe tàng ở ngoại ô mà tôi vẫn phải đi. Anh xe này đã vào đây kéo trộm, vì xe ngoại ô không được phép vào thành phố đón khách, nếu không tuân lệnh thì bị phạt từ ba đến bốn đồng bạc. Sự tồi tàn của cái xe làm tôi càng ghét anh xe nữa.
- Xe khổ thế này mà anh lại còn đòi cao giá.
- Xe thế mà thầy chê thì còn thế nào nữa!
Anh xe bướng bỉnh cũng không chịu kém. Tôi nói câu gì là anh ta đối lại liền. Sau cùng, giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt:
- Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa. Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá.
Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ thấy tức người xe ấy đến cực điểm, vì hắn dám cãi lại tôi mà không sợ.
Xe đi khỏi nhà máy nước thì gặp một người đội xếp tây đi xe đạp lại, theo sau một người đội xếp ta. Tôi nhận thấy anh xe kéo tôi có ý luống cuống và sợ hãi. Có lẽ vì thế mà người cảnh sát để ý, đi giáp vào cái xe kéo để xem dấu hiệu.
- Ê! Đứng lại!
Người kéo xe dừng chân… Anh ta quay lại tôi hớt hải van xin:
- Lạy thầy… thầy nói giúp con... thầy làm ơn…
Dưới ánh đèn tôi thấy mặt anh xe tái mét. Những vết răn in sâu xuống trên mặt già nua hốc hác, chân tay người khốn nạn ấy run bật lên và tôi thấy cái rung động chuyển cả vào chiếc thân xe.
Người cảnh sát tây đến, nói bằng tiếng ta hơi sõi:
- Mày chết nhé! Mày sẽ bị phạt!
Người phu xe ấp úng nói thì ông ta khoát tay bảo im, rồi quay lại tôi hỏi, lần này bằng tiếng Pháp.
- Người này kéo ông từ trong phố ra hay ông đi khứ hồi?
Tôi liếc mắt nhìn anh kéo xe. Trong bóng tối của vành nón qua ngang mặt, tôi thấy hai mắt anh ta long lanh nhìn tôi, như khẩn cầu van xin yên lặng. Tôi biết lời nói của tôi sẽ làm anh ta bị bắt hay không. Những khi nói chuyện với các phu xe khác, tôi được biết rằng nếu người khách nói là đi khứ hồi từ ngoại ô, thì người xe không việc gì. Nhưng lúc ấy, lời van xin của anh xe kia không làm cho tôi động lòng, mà lại làm cho tôi ghét anh thêm. Tôi trả lời người đội xếp:
- Tôi đi từ phố hàng Bún.
- Vậy phiền ông xuống xe.
Rồi anh ta nhìn anh phu xe, cười một cách tinh quái:
- Allez! Đi về bót!
Khi anh phu xe run sợ và hai người cảnh sát đã khuất đầu phố, tôi mới quay đi thong thả trên bờ hè. Cơn giận của tôi đã hết rồi. Sự hối hận dần thấm thía vào lòng tôi, tôi thấy một cái chán nản bực tức rung động trong người. [..]
(Trích Một cơn giận, Thạch Lam)
Câu 1 (0,5 điểm) Xác định ngôi kể của truyện ngắn trên?
Câu 2 (0,5 điểm) Tình huống được kể trong đoạn trích là tình huống gì?
Câu 3 (1,0 điểm) Tâm trạng của nhân vật “tôi” được đặt trong một ngày như thế nào?
Câu 4 (1,0 điểm) Hãy rút ra thông điệp từ đoạn trích.
Câu 5 (1,0 điểm) Phần sau truyện, nhân vật tôi đã tìm đến nhà anh phu xe, biết được gia cảnh nghèo khổ của anh cũng như việc anh bị giữ xe, bị phạt, bị đánh đập… Nhân vật tôi càng cảm thấy hối hận về cách cư xử của mình. Câu chuyện khiến em suy nghĩ như thế nào về hậu quả của sự giận dữ?
II. Viết (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm) Từ nội dung truyện ngắn Một cơn giận của Thạch Lam, em hãy viết đoạn văn bàn về vai trò của sự cảm thông trong cuộc sống.
Câu 2 (4,0 điểm) Em hãy viết bài văn phân tích truyện ngắn Một cơn giận của Thạch Lam ở phần đọc hiểu.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
- Đọc văn bản và chú ý các từ xưng hô của người kể chuyện.
- Người kể xưng “tôi”, “ta”, “mình”… hay giấu mặt?
Lời giải chi tiết:
Ngôi kể: ngôi thứ nhất.
Câu 2.
Phương pháp:
Xác định sự việc chính làm nảy sinh câu chuyện.
Xác định hoàn cảnh đặc biệt khiến các nhân vật bộc lộ tính cách, tâm trạng.
Lời giải chi tiết:
Tình huống: nhân vật tôi thuê xe kéo trở về nhà trong tâm trạng tồi tệ.
Câu 3.
Phương pháp:
Đọc phần đầu văn bản vì tác giả thường giới thiệu hoàn cảnh và tâm trạng nhân vật ở đây.
Tìm các chi tiết miêu tả thời tiết, không gian và cảm xúc của nhân vật.
Lời giải chi tiết:
Tâm trạng của nhân vật “tôi” được đặt trong một ngày âm u, rét mướt, khi “tự nhiên không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu, hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì”.
→ Đó là một ngày u ám cả về thời tiết lẫn tâm trạng, khiến “tôi” dễ nổi nóng, bực bội vô cớ và nhìn mọi việc quanh mình bằng con mắt khó chịu.
Câu 4.
Phương pháp:
- Xác định hành động chính của nhân vật trong câu chuyện.
- Xem hậu quả của hành động đó.
- Từ đó rút ra bài học, thông điệp về cách sống.
Lời giải chi tiết:
- Trong đoạn trích trên, nhân vật tôi đã bị cảm xúc bực bội, khó chịu của mình điều khiển, dẫn đến việc có thái độ cư xử thiếu tình cảm đối với người phu xe nghèo khó, cuối cùng còn không giúp anh phu xe ngay cả khi anh ta năn nỉ. Nhân vật tôi sau khi cơn nóng giận qua đi đã cảm thấy hối hận vì cách cư xử của mình.
- Qua câu chuyện trên, em rút ra bài học cho bản thân là: Không nên để cảm xúc chi phối, hãy biết cách giữ bình tĩnh, điều khiển cảm xúc của mình. Bởi làm chủ được cảm xúc thì chúng ta mới không gây tổn thương cho người khác, không phải hối hận như nhân vật trong câu chuyện.
Câu 5.
Phương pháp:
- Xác định vấn đề cần bàn luận: hậu quả của sự giận dữ.
- Dựa vào câu chuyện để rút ra nhận xét chung.
Lời giải chi tiết:
- Phần sau truyện, nhân vật tôi đã tìm đến nhà anh phu xe, biết được gia cảnh nghèo khó của anh cũng như việc anh bị giữ xe, bị phạt, bị đánh đập… Nhân vật tôi càng cảm thấy hối hận về cách cư xử của mình.
- Câu chuyện khiến em suy nghĩ về hậu quả sự giận dữ: Sự giận dữ khiến con người dễ đánh mất lí trí, làm những việc không nên làm, nói những điều không nên nói; sự giận dữ gây tổn thương cho những người xung quanh; làm rạn nứt các mối quan hệ; thậm chí còn đẩy người khác vào hoàn cảnh ngặt nghèo như anh phu xe trong câu chuyện trên.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
- Giải thích: Cảm thông là biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để hiểu và chia sẻ nỗi khổ, khó khăn của họ.
- Phân tích, bàn luận:
+ Sự cảm thông giúp con người sống nhân hậu, biết yêu thương, giúp đỡ nhau.
+ Khi có cảm thông, ta dễ kiềm chế cơn giận, tránh làm tổn thương người khác.
+ Cảm thông là cầu nối gắn kết con người, giúp xã hội trở nên tốt đẹp, ấm áp hơn.
- Phản đề: Người sống ích kỉ, vô cảm dễ gây tổn thương, đánh mất tình người.
- Nêu bài học: Mỗi người cần rèn luyện tấm lòng biết lắng nghe, thấu hiểu và bao dung với người khác.
Lời giải chi tiết:
Từ truyện ngắn Một cơn giận của Thạch Lam, ta thấy rõ vai trò quan trọng của sự cảm thông trong cuộc sống. Cảm thông là biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để hiểu và chia sẻ những nỗi khổ, khó khăn mà họ đang trải qua. Khi có sự cảm thông, con người sẽ sống nhân hậu hơn, biết yêu thương và sẵn sàng giúp đỡ những người xung quanh. Nhờ thấu hiểu hoàn cảnh của người khác, ta cũng dễ kiềm chế cơn nóng giận, tránh những lời nói hay hành động gây tổn thương. Sự cảm thông vì thế trở thành chiếc cầu nối gắn kết con người với con người, góp phần làm cho xã hội trở nên ấm áp và tốt đẹp hơn. Ngược lại, nếu sống ích kỉ, vô cảm, con người dễ làm tổn thương người khác và đánh mất tình người trong cuộc sống. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cho mình tấm lòng biết lắng nghe, thấu hiểu và bao dung, để cuộc sống trở nên nhân ái và ý nghĩa hơn.
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ nội dung truyện ngắn
Xác định giá trị nội dung, nghệ thuật
Vận dụng thao tác lập luận phân tích
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả: Thạch Lam là cây bút tiêu biểu của Tự lực văn đoàn, nổi tiếng với giọng văn nhẹ nhàng, tinh tế, giàu chất nhân đạo.
- Giới thiệu tác phẩm: Một cơn giận là truyện ngắn đặc sắc, thể hiện khả năng miêu tả tâm lý tinh vi và tấm lòng nhân hậu của nhà văn.
2. Thân bài
a. Hoàn cảnh, tình huống truyện
- Câu chuyện diễn ra trong một buổi chiều “ảm đạm và rét mướt".
- Nhân vật “tôi” trong tâm trạng bực bội, khó chịu vô cớ.
- Gặp một người phu xe nghèo, từ đó xảy ra chuỗi hành động thể hiện “một cơn giận” và hậu quả của nó.
b. Diễn biến tâm lý của nhân vật "tôi"
- Tâm trạng ban đầu:
+ Khó chịu, dễ nổi cáu, thiếu kiềm chế.
+ Không nguyên nhân rõ ràng - biểu hiện tâm lý con người rất thực.
- Khi gặp người phu xe:
+ Ban đầu chỉ là mặc cả nhỏ nhặt, nhưng do tâm trạng xấu nên “tôi” sinh cáu gắt.
+ Thái độ gay gắt, lời nói khinh miệt, coi thường người lao động nghèo.
+ Khi bị anh phu xe “cãi lại”, cơn giận của "tôi" tăng lên thành sự bực tức vô lý.
- Khi người phu xe bị cảnh sát bắt:
+ "Tôi" thấy rõ sự sợ hãi, van xin của anh ta nhưng vẫn lạnh lùng khai thật, khiến anh bị bắt.
+ Hành động bộc lộ sự tàn nhẫn nhỏ bé khi con người mất đi lòng cảm thông.
- Sau khi sự việc xảy ra:
+ Cơn giận qua đi, “tôi" bắt đầu hối hận, dằn vặt, chán nản.
+ Nhận ra lỗi lầm và cảm thấy xót xa cho người phu xe.
=> Diễn biến tâm lý được miêu tả tinh tế, tự nhiên, phản ánh sự đấu tranh giữa phần xấu và phần thiện trong con người.
c. Nghệ thuật đặc sắc
- Giọng văn nhẹ nhàng, trầm lắng nhưng giàu sức gợi cảm.
- Miêu tả tâm lý tinh vi, chân thực theo dòng cảm xúc tự nhiên.
- Tình huống truyện đơn giản nhưng mang ý nghĩa đạo lý sâu xa.
- Ngôn ngữ giản dị, gần gũi, thấm đẫm tinh thần nhân văn.
d. Ý nghĩa nội dung
- Truyện gửi gắm bài học đạo đức: con người cần biết kiềm chế cảm xúc, sống nhân hậu, cảm thông với người khác.
- Phơi bày một mặt yếu đuối của con người - khi nóng giận, ta có thể trở nên vô tâm, tàn nhẫn.
- Đồng thời thể hiện niềm tin vào lương thiện, vì sau cơn giận, nhân vật biết hối hận - dấu hiệu của tâm hồn còn trong sáng.
3. Kết bài
- Khẳng định giá trị của truyện ngắn Một cơn giận: chuyện nhỏ nhưng chứa đựng thông điệp lớn về tình người và sự cảm thông.
- Đánh giá nghệ thuật viết truyện tâm lý nhẹ nhàng, tinh tế đặc trưng của Thạch Lam.
- Bài học rút ra: Mỗi người cần học cách kiềm chế cảm xúc và sống bao dung để cuộc sống trở nên nhân ái hơn.
Đề thi giữa kì 2 Văn 8 - Đề số 13
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc ngữ liệu dưới đây và trả lời các câu hỏi:
ÔNG NGOẠI
Sáng nay, con em họ Dung khoe:
- Em vừa đi phỏng vấn, má em nói một tháng nữa sẽ bay.
Chiều, cậu mợ ghé nhà, mếu máo. Ông ngoại cương quyết không đi. Ông bảo: "Ba sống ở đây một mình mà vui, sang bên đó, xứ lạ xa người... các con lớn rôì, chọn đường thì cứ đi..."
Mợ khóc lu loa.
- Thà ba mắng chửi, chứ nói vậy, tụi em đau lòng.
Mẹ Dung an ủi:
- Thôi, có dịp thì cứ đi, ở bên này chị thu xếp cho mấy cháu sang sống với Ba.
Dung như ở trên trời rơi xuống. Mẹ bảo nó:
- Con là con gái lớn, biết nấu cơm, chăm sóc ngoại.
Dung gân cổ cãi:
- Thì con Huệ cũng biết nấu cơm vậy.
Mẹ nghiêm mặt:
Thế hồi mầy lên bốn, mẹ đi vắng gần tròn năm, ai nuôi mầy, ai kéo võng cho mầy suốt đêm, ai dạy cho mày "Bần tất cộng lạc, phú tất cộng ưu" là sao. Mày có thương ông không hả?
Dung cúi đầu. Ừ, thương thì có thương, mà có phải xa cách gì cho cam, ngày nào Dung cũng sang nhà chở em họ đi học, gặp ngoại thì chào hỏi, đôi khi ông ngoại lì xì ít tiền, dăm tối nó qua cậu hát Karaoke, xem phim, ông ngoại với nó cũng thân thuộc vậy. Nhưng suy đi nghĩ lại, sang sống với ông lại là chuyện khác. Lũ em hùa đến:
- Lần này chị chết chắc.
Con em họ dụ khị
- Thôi thì cho chị dàn Karaoke của em luôn.
Sang bên ấy được hai hôm, Dung chạy về mẹ, than thở lướt sướt: "Ở với ông ngoại buồn muốn chết, đi học về, mở Karaoke lại sợ ồn, nói chưa được mấy câu thì hết chuyện. Chẳng lẽ con lại nói chuyện tình yêu với ông ngoại à? Bọn bạn không dám lại nhà chơi. Ông khó lắm. Con mở nhạc cũng ngại, con nấu cơm khét ông mắng cả buổi. Suốt ngày ông cứ lo tỉa tót cho mấy chậu kiểng, mất con cá vàng. Con hỏi:" Ngoại chăm sóc hoài không chán sao?", Ngoại nói " Cây cũng có linh hồn. Con không tin, ghé tai vào nghe thử, có cây nào than buồn, có cây nào thèm nghe Michael Jackson đâu".
Mẹ cười:
- Con vì ông một chút, ông cũng vì con thôi, thử xem.
Dung anh ách lái xe về nhà ngoại, cậu đi để lại chiếc Chaly màu xanh, Dung dùng đi học. Hồi sáng này, ông ngoại dắt xe ra đến cửa Dung hỏi:
- Ngoại định đi đâu
- Ông lên quận một chút.
Dung ngăn:
- Thôi, ngoại già rồi, không nên lái xe, có đi, con chở ông đi.
Ông tỏ vẻ giận, quầy quả vào nhà. Ôi, người già sao mà khổ đến vậy. Thế nghĩa là có hai thế giới ở trong ngôi nhà. Thế giới của ông là mấy ông bạn già, là mấy chồng nhựt báo, là cái radio đâu hồi còn đánh nhau, là trầm tư suy ngẫm, là mảnh sân hoa trái. Thế giới của Dung là tiếng nhạc gào thét xập sinh, là sắc màu xanh đỏ, là quả đất như nằm gọn trong bàn tay. Sáng nó dậy thật sớm để nấu cơm, sau đó đi học, chiều lại học, buổi tối nó vù xe đến bạn chơi hoặc về nhà nghe mấy đứa em cãi nhau ỏm tỏi. Hai thế giới vừa giành giựt vừa hoà tan nhau.
Mặc dầu Dung đang ở trong thế giới của ông, mà không biết mình đang chìm dần vào đấy. Lọt thỏm giữa cái sân xanh lá, Dung vẫn buồn. Rảnh rỗi, nó leo lên cây me già ở góc sân, nhấm nháp vị me non. Ông ngoại tặng Dung cái chậu sứ trắng nó trồng vào đấy một cây mai. Lâu ngày quên bẵng, nhìn lại thấy cây mai đã lớn từ hồi nào, mượt mà những lá Dung cảm thấy vui vui. Hôm bữa Dung nói với ông:
- Sao ông Chín bên nhà rủ ngoại đi tham gia câu lạc bộ gì đó, ngoại không đi?
Ông nhìn Dung thật lâu" Ngoại sợ con ở nhà một mình buồn". Dung chột dạ, "Có bao giờ đi chơi mà mình nghĩ tới ông không"
- Mưa thì ông ghé vào phòng
- Con khỏi phải nấu cơm, lo mà ôn thi, ngoại ra quán ăn cũng được.
Dung mừng rỡ, gật đầu, lòng thầm toan tính. "Chuyện này chẳng nói cho mẹ hay kẻo mẹ mắng" Bẳng mấy hôm, bạn chèo kéo "Ôn bài mệt thấy mồ, xả hơi một bữa" Nhảy nhót ca múa một hồi, cuộc chơi nhạt dần, Dung cong cổ húp bún, ngán quá, liền vòi về nhà "Nấu cơm có bao lâu...tại mình lười thôi".
Có những sự thay đổi Dung không thể ngờ được. Bây giờ mỗi đêm Dung trở mình nghe ông ngoại ho khúc khắc. Nghe cây mai nhỏ nứt mình, nảy chồi Dung nghiện hương trầm tối tối ông thắp lên bàn thờ bà ngoại. Lắm khi lũ em Dung sang, chúng nó phá phách quậy tung cả lên, Dung mắng, chúng nó trề môi "Chị hai khó như một bà già", Dung giật mình. Có lẽ quen với cái tĩng lặng trong sân mà mỗi chiều Dung giúp ông tưới cây, cái khoảng không xanh lạc lõng trong khói bụi, đâu đó, trên tàng me già, dăm chú chim hót líu lo Dung quen dáng ông ngoại với mái tóc bạc, với đôi mắt hõm, cái cằm vuông, quen mỗi tháng một lần cọc cạch lên phường lương hưu. Có một điều Dung ngày càng nhận ra tiếng ho của ông ngày càng khô và rời rạc như lời kêu cứu. Chủ nhật Dung cắm cúi lau chùi bên dàn karaoke phủ bụi, ônsg đứng lên nheo mắt:
- Sao con không hát, con hát rất hay mà. - Dung thoáng ngỡ ngàng, nó hỏi:
- Ngoại có thích nghe không?
Rồi mở máy. Hôm ấy Dung rất vui, lần đầu tiên nó hát cho riêng ông nghe và quan trọng nhất là ông đã ngồi lại đấy, gật gù.
Ngày 18 tháng 12, Dung mở tờ lịch mới, hôm nay là sinh nhật của nó. Hôm qua, mẹ cho Dung một món tiền kha khá, bọn bạn reo lên inh ỏi “Party nghe Dung, làm xôm tụ, tụi này kéo lại “Dung nói với ông, ông gật đầu:
- Ừ thì sinh nhật mà, con có mua bánh kem chưa? Ông biết làm đấy.
Dung tròn mắt:
- Thật ư?
Ông khẽ cốc đầu nó.
- Đừng có khinh ngoại.
Nói rồi hai ông cháu lăn vào khuấy bột, trộn sữa. Tay ông nhẹ nhàng, nắn nót mười tám nụ hồng trên mặt bánh Dung thòm thèm mãi. Buổi sinh nhật thật rôm rả, bọn Dung khiêu vũ với nhau ông ngoại cũng nhảy, ông mặc chiếc áo màu xanh thắt nơ hoa rất đẹp. Lúc ông nắm tay nó, nhạc dạo bài Tango “Xa vắng”.
Dung ngạc nhiên và buồn cười đến nỗi giẫm lên cả chân ông. Bọn bạn reo ầm lên, chúng khen bánh kem ngon, khen ông nhảy giỏi, Dung hãnh diện lắm, nói bâng quơ.
- Ông học ở đâu vậy?
- Ở câu lạc bộ. – Ông cười
Dung nghĩ bụng, mình phải đến đó một phen. Tàn tiệc dung tất tả đi mua thuốc, ở trong phòng ông đang ho cành cạch. Nó thấy thương ông quá. Lúc đem thuốc vào phòng, ông kể:
- Hồi ngoại ở Trường Sơn, ngoại có cậu lính hát rất hay, bọn ngoại đi săn nai về liên hoan khi về đến, cậu ấy chết trên tay ngoại bởi cơn sốt rét rừng, lúc ấy cậu ta vừa tròn mười chín. Dung hoảng hốt:
- Thật ư?
Dung theo ông đến câu lạc bộ, không như Dung nghĩ, ở đó cũng có tiếng nhạc dìu dặt, tiếng cười nói lao xao Dung thơ thẩn, quẩn quanh ngóng những chuyện không phải của mình
- Lúc này ông ăn được không?
- Yếu lắm rồi, ăn cơm mà nhạt như nhai giẻ rách, khéo năm nữa tôi chẳng đến được đâu.
Có tiếng đàn bà cười khanh khách.
- Ôi, bà nhuộm tóc đấy à? Bà đi đâu mà lâu lắm chẳng gặp.
- Tôi đi học Anh ngữ đêm, bọn trẻ tóc còn xanh mà cứ đi chơi luôn, bà ạ.
- Ừ nghĩ mà tủi, tôi gò lưng may cho con cháu một cái áo, nhưng nó bảo khó coi lắm. Chắc mắt tôi mờ rồi.
Dung nín lặng. Ra về:
- Hôm nay ngoại nhất định chở con về nhà.
Ngoại cười, dưới ánh đèn, mắt ông cũng cười.
Hết mùa me dốt, ông cháu Dung nhặt là mai đón Tết. Cậu gửi thư và quà về. Ông ôm chầm lấy thư bảo Dung.
- Con đọc ngoại nghe.
Dung đọc một lèo, lúc ngước lên đã thấy mắt ông đỏ rưng. Ông đến bàn thờ bà, đốt nén hương, mùi trầm ngào ngạt, Dung hỏi:
- Ngoại thương cậu như vậy, sao không theo cậu?
Ông trìu mến:
- Ngoại muốn mỗi năm cùng con đón giao thừa và nghe con hát.
(Nguồn: Ông ngoại – Nguyễn Ngọc Tư, https://isach.info)
Câu 1 (0,5 điểm): Truyện Ông ngoại viết về đề tài gì?
Câu 2 (0,5 điểm): Nhân vật chính trong truyện ngắn trên là ai?
Câu 3 (1.0 điểm): Biện pháp tu từ đảo ngữ được sử dụng trong câu sau có tác dụng gì: Lâu ngày quên bẵng, nhìn lại thấy cây mai đã lớn từ hồi nào, mượt mà những lá Dung cảm thấy vui vui.
Câu 4 (1,0 điểm): Em có nhận xét gì về tình cảm của bé Dung dành cho người ông của mình trong câu chuyện trên?
Câu 5 (1,0 điểm): Qua nội dung câu chuyện trên, tác giả muốn gửi gắm tới người đọc thông điệp gì?
II. VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm): Hãy viết đoạn văn nêu suy nghĩ về những việc bản thân cần làm để gắn kết tình cảm gia đình.
Câu 2 (4.0 điểm): Từ ngữ liệu được trích dẫn ở phần Đọc –hiểu, em hãy viết bài văn phân tích truyện ngắn Ông ngoại của Nguyễn Ngọc Tư.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Xác định nội dung chính của truyện (xoay quanh mối quan hệ nào)
Lời giải chi tiết:
Đề tài: tình cảm gia đình
Câu 2.
Phương pháp:
Xác định nhân vật xuất hiện nhiều nhất, trung tâm câu chuyện.
Lời giải chi tiết:
Nhân vật chính: bé Dung
Câu 3.
Phương pháp:
Xác định vị trí đảo ngữ (đưa tính từ/cụm từ lên trước hoặc nhấn mạnh sau).
Lời giải chi tiết:
Tác dụng: nhấn mạnh vẻ đẹp, đặc điểm của những chiếc lá
Câu 4.
Phương pháp:
Theo dõi sự thay đổi tâm lí nhân vật qua các giai đoạn.
Lời giải chi tiết:
- Sau thời gian sống cùng ông, cô bé nhận ra được sự vô tâm của mình, bắt đầu cảm nhận được tình yêu thương, sự hi sinh của ông.
- Về sau, cô bé biết hi sinh những thú vui của riêng mình để cùng ông làm những việc ông thích, giành nhiều thời gian cho ông, trò chuyện cùng ông, hiểu và thương ông nhiều hơn.
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung và sự thay đổi của nhân vật rút ra bài học.
Lời giải chi tiết:
Mỗi người phải biết yêu thương, trân trọng, hi sinh, chia sẽ và gắn kết người thân gia đình.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Xác định vấn đề cần bàn luận, liên hệ thực tế
Vận dụng thao tác lập luận chứng minh, gợi ý:
- Trân trọng tình cảm gia đình, giành cho gia đình những điều tốt đẹp nhất.
- Giành nhiều thời gian để hỗ trợ, chia sẽ công việc với mọi người.
- Yêu thương, quan tâm, tôn trọng và biết ơn cha mẹ, ông bà…
- Biết lắng nghe ý kiến đóng góp và sống hòa thuận với mọi người.
Lời giải chi tiết:
Gia đình là nơi nuôi dưỡng tâm hồn và là chỗ dựa vững chắc của mỗi con người, vì vậy việc gắn kết tình cảm gia đình có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Gắn kết tình cảm gia đình là sự yêu thương, quan tâm, chia sẻ và thấu hiểu giữa các thành viên. Trong cuộc sống hiện đại, khi con người dễ bị cuốn vào công việc và các mối quan hệ bên ngoài, việc giữ gìn tình cảm gia đình càng trở nên cần thiết, bởi đó chính là nguồn động lực và bình yên. Để làm được điều này, mỗi người cần biết trân trọng tình cảm gia đình, luôn dành những điều tốt đẹp nhất cho người thân; đồng thời, nên dành nhiều thời gian để hỗ trợ, chia sẻ công việc trong gia đình. Bên cạnh đó, cần thể hiện tình yêu thương, sự quan tâm, tôn trọng và lòng biết ơn đối với cha mẹ, ông bà; biết lắng nghe ý kiến của nhau và sống hòa thuận. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có không ít người sống thờ ơ, vô tâm, chỉ quan tâm đến bản thân mà quên đi gia đình, khiến tình cảm dần rạn nứt, xa cách. Vì vậy, mỗi chúng ta cần ý thức rõ trách nhiệm của mình để vun đắp, giữ gìn tình cảm gia đình, bởi đó chính là nơi bình yên và hạnh phúc nhất trong cuộc sống.
Câu 2.
Phương pháp:
Xác định yêu cầu đề: phân tích truyện ngắn (nội dung + nghệ thuật).
Xác định các mạch nội dung chính (nhân vật, sự việc, tình cảm nổi bật).
Lời giải chi tiết:
* Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn về truyện Ông ngoại (nhan đề, tác giả); nêu ý kiến khái quát về tác phẩm đó.
* Thân bài:
- Nêu nội dung chính của truyện (Câu chuyện kể về những khoảnh khắc đời thường hài hước và cảm động của ông ngoại và cháu gái. Ông luôn dành thời gian dạy dỗ và chăm sóc cháu, giúp cô hiểu ra nhiều điều. Đồng thời truyện cũng thể hiện tình cảm gia đình ấm áp và sâu sắc giữa ông và cháu…)
- Nêu chủ đề của tác phẩm (Tác phẩm hướng tới đề cao những giá trị nhân văn truyền thống: tình cảm gia đình, tinh thần trách nhiệm, biết hi sinh..).
- Chỉ ra và phân tích được tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức và nghệ thuật của tác phẩm:
+ Cốt truyện đơn giản, thời gian ngắn, không gian xoay quanh cuộc sống đời thường và mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình.
+ Ngôi kể thứ ba linh hoạt giúp người kể chuyện quan sát được tất cả các nhân vật.
+ Ngôn ngữ đời thường, giọng điệu tự nhiên nhưng nhẹ nhàng, thấm thía.
- Sử dụng các bằng chứng từ tác phẩm để làm sáng tỏ ý kiến nêu trong bài viết.
- Kết bài: Nêu được ý nghĩa, giá trị của tác phẩm truyện (Câu chuyện đơn giản kể về quá trình rút ngắn khoảng cách thế hệ để thấu hiểu và yêu thương giữa Dung và ông ngoại nhưng mang lại nhiều giá trị ý nghĩa: hãy trân trọng và giành cho gia đình những gì tốt đẹp nhất. Biết chia sẽ, hi sinh và gắn kết các thành viên trong gia đình, sẵn sàng bỏ qua những lợi ích cá nhân để vì hạnh phúc gia đình…).
Đề thi giữa kì 2 Văn 8 - Đề số 14
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
– Ăn thêm cái nữa đi con!
– Ngán quá, con không ăn đâu!
– Ráng ăn thêm một cái, má thương. Ngoan đi cưng!
– Con nói là không ăn mà. Vứt đi! Vứt nó đi!
Thằng bé lắc đầu nguầy nguậy, gạt mạnh tay. Chiếc bánh kem văng qua cửa xe rơi xuống đường sát mép cổng. Chiếc xe hơi láng bóng rồ máy chạy đi. Hai đứa trẻ đang bới móc đống rác gần đó, thấy chiếc bánh nằm chỏng chơ xô đến nhặt. Mắt hai đứa sáng rực lên, dán chặt vào chiếc bánh thơm ngon. Thấy bánh lấm láp, đứa con gái nuốt nước miếng bảo thằng con trai:
– Anh Hai thổi sạch rồi mình ăn.
Thằng anh phùng má thổi. Bụi đời đã dính, chẳng chịu đi cho. Đứa em sốt ruột cũng ghé miệng thổi tiếp. Chính cái miệng háu đói của nó làm bánh rơi tõm xuống cống hôi hám, chìm hẳn.
– Ai biểu anh Hai thổi chi cho mạnh.
Con bé nói rồi thút thít.
– Ừ. Tại anh! Nhưng kem còn dính tay nè. Cho em ba ngón, anh chỉ liếm hai ngón thôi!
(Lý Thanh Thảo, Trích “Bốn mươi truyện rất ngắn”, NXB Hội nhà văn 1994)
Câu 1. Văn bả trên được kể theo ngôi thứ mấy?
Câu 2. Trong câu: “Chính cái miệng háu đói của nó làm bánh rơi tõm xuống cống hôi hám, chìm hẳn.”, từ nào là trợ từ?
Câu 3. Nội dung chính của văn bản trên là gì?
Câu 4. Câu “Bụi đời đã dính, chẳng chịu đi cho” có ý nghĩa gì?
Câu 5. Qua câu chuyện trên, em rút ra được bài học gì?
II. PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm): Qua câu chuyện, em hãy viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ của mình về ý nghĩa tình yêu thương trong cuộc sống.
Câu 2 (4.0 điểm): Viết bài văn phân tích một tích tác phẩm truyện mà em ấn tượng nhất.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Xác định người kể chuyện có xưng “tôi” hay giấu mặt
Lời giải chi tiết:
Ngôi kể thứ ba
Câu 2.
Phương pháp:
Xác định từ dùng để nhấn mạnh sự vật, hành động (trợ từ).
Lời giải chi tiết:
Trợ từ: Chính
Câu 3.
Phương pháp:
Xác định nhân vật trung tâm và sự việc chính.
Tìm ý nghĩa nổi bật mà câu chuyện muốn thể hiện.
Lời giải chi tiết:
Nội dung: Ca ngợi tình cảm anh em gắn bó, yêu thương trong hoàn cảnh bất hạnh.
Câu 4.
Phương pháp:
Phân tích theo 2 lớp nghĩa: nghĩa tả thực và nghĩa biểu tượng
Lời giải chi tiết:
Câu “Bụi đời đã dính, chẳng chịu đi cho” gợi được nhiều tầng nghĩa:
- Nghĩa tả thực: Bụi đã dính vào bánh khó lòng thổi mà có thể đi hết.
- Nghĩa biểu tượng: Những lớp bụi trên bánh kia cũng chính là những cơ cực vất vả mà hai anh em đã trải qua, nó sẽ mãi hằn dấu trong cuộc đời của hai đứa trẻ. Nhưng cũng chính lớp bụi đời đó khiến tình cảm của hai anh em càng trở nên gắn bó, khăng khít hơn.
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung câu chuyện rút ra bài học.
Lời giải chi tiết:
Bài học: Cần biết yêu thương, chia sẻ, trân trọng tình thân và không lãng phí những điều mình có.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
- Xác định vấn đề cần bàn luận, liên hệ thực tế
- Vận dụng thao tác lập luận chứng minh, gợi ý:
+ Giúp ta thấy vui tươi, niềm vui hạnh phúc, yêu đời, biết sống có ý nghĩa hơn.
+ Kết nối mọi người, tạo mối quan hệ gắn bó, thân thiết giữa người với người.
+ Là động lực, ý chí, sức mạnh vượt qua khó khăn, vất vả, thử thách.
+ Được mọi người yêu quý, quý trọng, thành công trong công việc, đời sống.
+ Nuôi dưỡng rèn luyện tâm hồn, nhân phẩm, xã hội văn minh tân tiến.
Lời giải chi tiết:
Tình yêu thương là một giá trị vô cùng quan trọng trong cuộc sống mỗi con người. Đó là sự quan tâm, sẻ chia, gắn bó giữa người với người, đặc biệt là trong gia đình và những hoàn cảnh khó khăn. Tình yêu thương giúp con người cảm thấy ấm áp, hạnh phúc, có thêm động lực vượt qua thử thách và tạo nên những mối quan hệ bền chặt. Khi biết yêu thương, ta sẽ biết trân trọng gia đình, dành cho người thân những điều tốt đẹp nhất, chủ động chia sẻ, giúp đỡ công việc, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhau để sống hòa thuận. Ngược lại, trong cuộc sống vẫn còn những người thờ ơ, vô cảm, chỉ biết nghĩ cho bản thân, điều đó khiến các mối quan hệ trở nên lạnh nhạt và xã hội thiếu đi sự gắn kết. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nuôi dưỡng tình yêu thương từ những hành động nhỏ nhất để cuộc sống trở nên ý nghĩa và tốt đẹp hơn.
Câu 2.
Phương pháp:
- Mở bài: Giới thiệu tác phẩm và lí do ấn tượng.
- Thân bài:
+ Tóm tắt ngắn nội dung.
+ Phân tích nội dung: chủ đề, nhân vật, ý nghĩa.
+ Phân tích nghệ thuật: cốt truyện, ngôi kể, ngôn ngữ, chi tiết đặc sắc.
- Kết bài:
+ Khẳng định giá trị tác phẩm.
+ Nêu cảm nhận/bài học.
Lời giải chi tiết:
Truyện ngắn “Cuộc chia tay của những con búp bê” của nhà văn Khánh Hoài gửi gắm bài một bài học sâu sắc. Tổ ấm gia đình là vô cùng quý giá và quan trọng. Mỗi người hãy cố gắng bảo vệ và giữ gìn, không nên vì bất cứ lý do gì làm tổn hại những tình cảm tự nhiên, trong sáng.
Nhan đề “Cuộc chia tay của những con búp bê” đem đến nhiều ý nghĩa. Búp bê chỉ là một món đồ vật không có nhận thức, không có cảm giác. Vậy nên chúng không thể chia tay nhau. Trong truyện, hai anh em Thành và Thủy không được sống cùng với nhau nữa vì bố mẹ ly hôn nên dẫn đến hai con búp bê là Vệ Sĩ và Em Nhỏ mới phải chia tay.
Hai anh em Thành và Thủy hết mực yêu thương nhau. Nhưng vì bố mẹ ly hôn nên hai anh em không thể tiếp tục sống với nhau được nữa. Trước ngày chia tay, mẹ ra lệnh cho cả hai phải chia đồ chơi. Khi nghe thấy mẹ yêu cầu, Thành và Thủy đau đớn nhận ra sự thật rằng cả hai sắp phải chia tay nhau. Thủy bất giác “run lên bần bật, kinh hoàng đưa cặp mắt tuyệt vọng nhìn anh; cặp mắt đen của em lúc này buồn thăm thẳm, hai bờ mi đã sưng mọng lên vì khóc nhiều, khóc cả đêm”. Còn Thành khi “n ghe tiếng khóc tức tưởi của em, cứ phải cắn chặt môi để khỏi bật lên tiếng khóc to, nhưng nước mắt cứ tuôn ra như suối, ướt đầm cả gối và hai cánh tay áo”. Những câu văn trên đã diễn tả tâm trạng buồn bã, đau đớn của Thành và Thủy.
Tiếp đến, cảnh tượng chia đồ chơi diễn ra thật cảm động. Thành dành toàn bộ độ chơi cho em dù chẳng có gì nhiều: bộ tú lơ khơ, bàn cá ngựa, những con ốc biển và bộ chỉ màu và ngay cả hai con búp bê là Em Nhỏ và Vệ Sĩ. Ngay cả Thủy cũng muốn để lại hết cho anh. Có thể thấy, Thành và Thủy rất mực gần gũi, cả hai anh em đều nhường nhịn và yêu thương nhau. Sau khi chia đồ chơi, Thành đã đưa Thủy đến trường. Thủy đứng ở ngoài nhìn vào lớp học. Em “cắn chặt môi im lặng, mắt đăm đăm nhìn khắp sân trường rồi bật khóc thút thít”. Cô giáo nhận ra Thủy và kêu em vào lớp học. Cô tặng cho em một cái bút máy nắp vàng và một quyển sổ. Cô tặng cho Thủy một quyển sổ và một chiếc bút mực nhưng Thủy không dám nhận vì không còn được đi học nữa. Điều đó đã khiến cho cô giáo và các bạn sửng sốt. Ai cũng cảm thấy thương cho Thủy. Một đứa trẻ đáng lẽ ra phải được học hành mà bây giờ đã phải mang gánh nặng mưu sinh.
Cuối truyện, một cuộc chia tay chính thức đã diễn ra. Khi vừa tới nhà, hai anh em đã nhìn thấy một chiếc xe tải đỗ trước cổng, mấy người hàng xóm đang giúp khuân đồ lên xe. Cuộc chia tay quá đột ngột khiến Thành và Thủy vô cùng bất ngờ. Thủy thì người như người mất hồn, mặt tái xanh như tàu lá. Em vội vàng chạy vào trong nhà lấy con Vệ Sĩ đưa cho anh để nó trông cho anh ngủ. Còn Thành thì qua những làn nước mắt, Thành nhìn theo mẹ và em đang trèo lên xe. Bỗng nhiên Thủy chạy lại và đưa con Em Nhỏ cho anh, bắt anh phải hứa không bao giờ để chúng xa nhau. Thành hứa với em, rồi đứng lặng nhìn theo cái bóng nhỏ liêu xiêu của em. Chi tiết này gợi lên tình cảm yêu thương sâu sắc mà Thủy dành cho anh trai. Đối với Thủy, hai con búp bê cũng giống như hai anh em và Thủy thì không muốn chúng phải chia cắt. Truyện kết thúc thật ám ảnh “ chiếc xe tải rồ máy, lao ra đường và phóng đi mất hút”.
Tác phẩm đã cho thấy được rằng tổ ấm gia đình là vô cùng quan trọng với mỗi con người. Chính vì vậy, mọi người hãy cố gắng bảo vệ và gìn giữ nó.
Đề thi giữa kì 2 Văn 8 - Đề số 15
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:
Bộ đội về làng *
(trích)
Các anh về
Mái ấm nhà vui,
Tiếng hát câu cười
Rộn ràng xóm nhỏ.
Các anh về
Tưng bừng trước ngõ,
Lớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sau.
Me già bịn rịn áo nâu
Vui đàn con ở rừng sâu mới về.
Làng tôi nghèo
Mái lá nhà tre.
Các anh về
Xôn xao làng bé nhỏ.
Nhà lá đơn sơ
Tấm lòng rộng mở
Nồi cơm nấu dở
Bát nước chè xanh
Ngồi vui kể chuyện tâm tình bên nhau.
(Hoàng Trung Thông, NXB Văn nghệ, 1955)
* Bài thơ được viết trong thời kỳ tác giả tham gia kháng chiến chống Pháp (1946-1954). Nhà thơ Hoàng Trung Thông (1925-1993), quê ở Nghệ An, là một cây bút tiêu biểu cho nền thơ cách mạng của nước ta.
Câu 1 (0.5 điểm): Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
Câu 2 (0.5 điểm): Từ “anh” trong bài thơ chỉ ai?
Câu 3 (1.0 điểm): Nêu tác dụng của phép tu từ điệp ngữ cách anh về.
Câu 4 (1.0 điểm): Nguyên nhân nào khiến bà con xóm làng yêu quý, mừng vui đón các anh về?
Câu 5 (1.0 điểm): Thông điệp ý nghĩa nhất mà em rút ra được từ đoạn thơ trên là gì?
PHẦN II. VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ của em sau khi đọc đoạn thơ trong phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4.0 điểm): Viết bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về ý kiến: “Biết yêu thương, chia sẻ có ý nghĩa rất lớn trong cuộc sống. Khi ta biết yêu thương, chia sẻ thì chúng ta sẽ nhận lại được niềm vui, sự tôn trọng của mọi người, cuộc sống sẽ trở nên vui vẻ và hạnh phúc hơn.”
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại, quan sát số tiếng ở mỗi dòng
Lời giải chi tiết:
Thể thơ tự do
Câu 2.
Phương pháp:
Dựa vào ngữ cảnh, xác định đối tượng trữ tình
Lời giải chi tiết:
Từ “anh” chỉ người lính/ bộ đội
Câu 3.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về điệp ngữ
Xác định từ “các anh về” được lặp lại mấy lần, nêu tác dụng biểu đạt
Lời giải chi tiết:
- Điệp ngữ “các anh về” được lặp lại ba lần.
- Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu cho bài thơ, kết nối cảm xúc liền mạch giữa các khổ thơ.
+ Nhấn mạnh hình ảnh “các anh về” đem đến niềm vui cho xóm làng, thể hiện tình cảm quân dân thắm thiết trong thời kì kháng chiến chống Pháp.
+ Thể hiện tình cảm yêu quý của tác giả với các anh bộ đội.
Câu 4.
Phương pháp:
Đọc kĩ nội dung bài thơ, dựa vào ngữ cảnh, xác định nguyên nhân
Lời giải chi tiết:
- Nguyên nhân khiến bà con xóm làng yêu quý, mừng vui đón các anh về:
+ Các anh đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
+ Các anh đem lại niềm vui cho mẹ già và đàn em nhỏ.
+ Các anh rất gần gũi, quý mến mọi người.
Câu 5.
Phương pháp:
Đọc kĩ nội dung, từ nội dung rút ra thông điệp phù hợp
Lời giải chi tiết:
- Thông điệp có ý nghĩa nhất với bản thân:
+ Tình cảm gắn bó thắm thiết giữa bộ đội và nhân dân là tình cảm đáng quý, đáng tự hào cần được giữ gìn, vun đắp.
+ Yêu mến, kính trọng, biết ơn, noi gương các anh bộ đội cụ Hồ.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc kĩ nội dung văn bản
Xác định giá trị nội dung, nghệ thuật
Vận dụng thao tác lập luận phân tích
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn:
- Giới thiệu tác giả và đoạn trích.
- Nêu cảm nghĩ chung về đoạn trích.
2. Thân đoạn
a. Cảm nghĩ về nội dung:
- Cảnh đón bộ đội về làng:
+ Không khí: Mái ấm nhà vui, rộn ràng xóm nhỏ, tưng bừng trước ngõ... rộn ràng, mừng vui, náo nhiệt.
+ Đàn em nhỏ: hớn hở chạy theo sau hồn nhiên, thấy người đi xa về là vui thích.
+ Mẹ già: bịn rịn, xúc động, thương bộ đội ở rừng sâu thiếu thốn, gian khổ.
=> Xóm làng rộn ràng, vui mừng như đón người thân (người anh, người con) đi chiến đấu trở về.
- Cảnh làng quê:
+ Hình ảnh Mái lá nhà tre, nhà lá đơn sơ, nồi cơm nấu dở, bát nước chè xanh thể hiện cuộc sống đạm bạc, đơn sơ nhưng quân dân quây quần ấm cúng.
+ Hình ảnh Ngồi vui kể chuyện tâm tình bên nhau khắc họa tình cảm quân dân gần gũi, gợi liên tưởng đến hình ảnh đoàn tụ gia đình đầm ấm.
+ Hình ảnh Tấm lòng rộng mở tô đậm tình cảm nồng ấm, thân tình, quý mến của dân làng dành cho các anh bộ đội.
=> Tình quân dân thắm thiết như tình cảm ruột thịt.
b. Cảm nghĩ về nghệ thuật:
- Ngôn ngữ bình dị, chân thực; hình ảnh giản dị, thân thương ...
- Tác dụng của thể thơ tự do, vần, nhịp linh hoạt; các từ láy tượng hình, tượng thanh; điệp ngữ ... thể hiện tình cảm chân thành, mộc mạc, gắn bó giữa nhân dân và bộ đội khi trở về làng trong những năm kháng chiến chống Pháp.
3. Kết đoạn: Nêu khái quát cảm nghĩ về đoạn trích
Câu 2.
Phương pháp:
a. Mở bài
- Giới thiệu vấn đề: Yêu thương và chia sẻ là những giá trị quan trọng giúp cuộc sống trở nên ý nghĩa, gắn kết con người với nhau.
- Dẫn dắt đến luận điểm: Khi biết yêu thương, chia sẻ, ta không chỉ làm người khác hạnh phúc mà còn nhận lại niềm vui và sự tôn trọng.
b. Thân bài
- Giải thích vấn đề
+ Yêu thương là sự quan tâm, đồng cảm, trân trọng những người xung quanh.
+ Chia sẻ là hành động giúp đỡ, san sẻ niềm vui, nỗi buồn, khó khăn với người khác.
- Ý nghĩa của việc biết yêu thương, chia sẻ
+ Giúp gắn kết con người, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp trong xã hội.
+ Khi cho đi yêu thương, ta sẽ nhận lại niềm vui, sự tôn trọng và tình cảm chân thành.
+ Giúp cuộc sống trở nên nhẹ nhàng, ý nghĩa hơn, bớt đi những nỗi cô đơn và buồn tủi.
+ Góp phần xây dựng một xã hội nhân ái, đoàn kết và tốt đẹp hơn.
- Dẫn chứng minh họa
+ Những tấm gương về lòng nhân ái: các tổ chức từ thiện, cá nhân giúp đỡ người nghèo, trẻ em mồ côi.
+ Những hành động nhỏ trong đời sống hằng ngày như giúp đỡ bạn bè, chia sẻ khó khăn với người thân.
- Phản đề
+ Một số người sống ích kỷ, thờ ơ, chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân dẫn đến sự vô cảm, làm mất đi giá trị của tình người.
+ Phê phán lối sống thiếu trách nhiệm, không quan tâm đến người khác.
c. Kết bài
- Khẳng định lại ý nghĩa của yêu thương, chia sẻ.
- Mỗi người hãy học cách cho đi để nhận lại những điều tốt đẹp trong cuộc sống.
Lời giải chi tiết:
Cuộc sống sẽ trở nên vô nghĩa nếu con người sống mà không có tình yêu thương và sự chia sẻ. Yêu thương và chia sẻ không chỉ là những đức tính tốt đẹp giúp gắn kết con người, mà còn mang lại niềm vui, sự tôn trọng và hạnh phúc trong cuộc sống. Khi một người biết quan tâm, giúp đỡ người khác, họ không chỉ mang lại giá trị cho cộng đồng mà còn nhận về sự ấm áp và ý nghĩa trong chính tâm hồn mình.
Yêu thương là sự đồng cảm, quan tâm và trân trọng những người xung quanh. Đó có thể là tình cảm gia đình thiêng liêng, tình bạn chân thành hay sự quan tâm dành cho những người kém may mắn hơn mình. Chia sẻ là hành động cho đi, giúp đỡ, san sẻ niềm vui, nỗi buồn và khó khăn trong cuộc sống. Khi ta biết yêu thương và chia sẻ, không chỉ những người nhận được giúp đỡ cảm thấy ấm áp mà ngay chính bản thân ta cũng cảm thấy vui vẻ và hạnh phúc hơn.
Một người sống biết yêu thương sẽ luôn có những mối quan hệ tốt đẹp, được mọi người yêu quý và tôn trọng. Một nụ cười, một lời động viên hay một hành động nhỏ bé nhưng đầy ý nghĩa có thể làm thay đổi một ngày của ai đó, thậm chí thay đổi cả cuộc đời họ. Khi một người nghèo được nhận một bữa cơm từ thiện, họ không chỉ nhận được thức ăn mà còn cảm thấy mình không bị bỏ rơi, vẫn có người quan tâm đến mình. Khi một học sinh yếu kém được bạn bè giúp đỡ, em ấy không chỉ tiến bộ hơn trong học tập mà còn cảm nhận được sự gắn kết, tình bạn chân thành. Chính vì thế, yêu thương và chia sẻ giúp cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn, con người gần gũi nhau hơn và thế giới trở thành một nơi tràn đầy sự tử tế.
Những tấm gương về lòng nhân ái trong xã hội là minh chứng rõ ràng nhất cho ý nghĩa của sự sẻ chia. Chúng ta có thể bắt gặp những tổ chức từ thiện, những con người sẵn sàng giúp đỡ người nghèo, những y bác sĩ tình nguyện đến vùng sâu vùng xa chữa bệnh miễn phí cho người dân. Những việc làm cao đẹp ấy không chỉ giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn mà còn lan tỏa tinh thần nhân ái đến cộng đồng. Trong đời sống hằng ngày, sự chia sẻ có thể đơn giản như giúp đỡ một cụ già qua đường, an ủi một người đang buồn hay đơn giản là nhường ghế cho người lớn tuổi trên xe buýt. Những hành động nhỏ bé nhưng xuất phát từ trái tim sẽ tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn.
Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu được giá trị của yêu thương và chia sẻ. Có những người sống ích kỷ, chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân mà không quan tâm đến những người xung quanh. Xã hội hiện đại đôi khi làm con người trở nên thờ ơ, vô cảm trước những nỗi đau của người khác. Khi một người gặp tai nạn trên đường, có những người chỉ đứng nhìn mà không đưa tay giúp đỡ. Khi ai đó cần sự an ủi, có người lại quay lưng đi. Chính sự thờ ơ ấy đã làm mất đi giá trị của tình người và khiến cuộc sống trở nên lạnh lẽo. Vì vậy, mỗi chúng ta cần tự hỏi bản thân rằng liệu mình có đang sống một cuộc đời ý nghĩa, liệu mình có sẵn sàng cho đi để nhận lại những điều tốt đẹp hay không.
Cuộc sống không chỉ là nhận mà còn là cho đi. Khi ta biết yêu thương và chia sẻ, ta không chỉ làm cho thế giới này trở nên tốt đẹp hơn mà còn khiến trái tim mình tràn đầy niềm vui và hạnh phúc. Hãy học cách mở rộng trái tim, biết quan tâm, giúp đỡ những người xung quanh, vì khi cho đi yêu thương, ta sẽ nhận lại yêu thương. Một thế giới đầy ắp sự sẻ chia sẽ là một thế giới đáng sống, và mỗi người chúng ta chính là một phần quan trọng để tạo nên thế giới ấy.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP8
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
