Đề thi giữa kì 1 Ngữ Văn 11
Đề thi giữa kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 1
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 11; Năm học 2022 - 2023
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
NẮNG MỚI
(Lưu Trọng Lư)
Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
Chập chờn sống lại những ngày không.
Tôi nhớ mẹ tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.
Hình dáng mẹ tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.
(Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh – Hoài Chân NXB Văn học, 2000, tr. 288)
Câu 1: Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
A. Lục bát
B. Thất ngôn bát cú
C. Bảy chữ
D. Tự do
Câu 2: Bài thơ thuộc phong cách ngôn ngữ nào?
A. Nghệ thuật
B. Sinh hoạt
C. Nghị luận
D. Biểu cảm
Câu 3: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai?
A. Tôi
B. Người mẹ
C. Người con
D. Tác giả
Câu 4: Từ ngữ, hình ảnh nào trong bài thơ đánh thức kỉ niệm về người mẹ?
A. Áo đỏ
B. Giậu phơi
C. Tay áo
D. Gà trưa gáy
Câu 5: Các từ láy được sử dụng trong bài thơ trên là gì?
A. Xao xác, não nùng, thiếu thời
B. Não nùng, thiếu thời, mường tượng
C. Xao xác, não nùng, chập chờn
D. Xao xác, não nùng, nắng mới
Câu 6: Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ trên hiện lên như thế nào?
A. Hối hận, luyến tiếc
B. Vui mừng, sung sướng
C. Dửng dưng, lạnh lùng
D. Buồn nhớ, khắc khoải
Câu 7: Câu thơ “Nét cười đen nhánh sau tay áo” gợi lên điều gì về người mẹ?
A. Vẻ đẹp mềm mại, duyên dáng, quyến rũ
B. Vẻ đẹp truyền thống, rạng rỡ, tỏa sáng
C. Vẻ đẹp sang trọng, kiêu sa, thanh thoát
D. Vẻ đẹp giản dị, mộc mạc, chân chất
Câu 8: Tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng trong câu thơ “Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội” làm cho hình ảnh “nắng mới”:
A. Sinh động, có hồn, góp phần thể hiện khung cảnh tươi sáng, ấm áp và niềm vui của trẻ thơ trong những ngày bên mẹ.
B. Cụ thể, nổi bật, góp phần thể hiện khung cảnh tươi sáng, ấm áp và niềm vui của trẻ thơ trong những ngày bên mẹ.
C. Sinh động, có hồn, góp phần thể hiện bức tranh thiên nhiên tràn đầy sức sống, tươi mới và rộn ràng.
D. Cụ thể, sinh động, góp phần thể hiện bức tranh thiên nhiên trong trẻo, thanh bình.
Trả lời các câu hỏi:
Câu 9: Nêu nội dung chính của đoạn thơ?
Câu 10: Nhận xét của em về mối quan hệ giữa "nắng mới" và "mẹ tôi" trong bài thơ?
II. VIẾT (4.0 điểm)
Viết một bài luận (khoảng 500 chữ) phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Nắng mới của Lưu Trọng Lư.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 1
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
C |
A |
A |
D |
C |
B |
A |
A |
|
Câu 1: Bài thơ được viết theo thể thơ nào? A. Lục bát B. Thất ngôn bát cú C. Bảy chữ D. Tự do |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đếm số chữ và số câu trong đoạn trích để xác định thể thơ
Lời giải chi tiết:
Có 3 khổ thơ, mỗi khổ bốn câu, mỗi câu 7 chữ
→ Thể thơ 7 chữ
→ Đáp án C
|
Câu 2: Bài thơ thuộc phong cách ngôn ngữ nào? A. Nghệ thuật B. Sinh hoạt C. Nghị luận D. Biểu cảm |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định phong cách ngôn ngữ
Lời giải chi tiết:
Bài thơ thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
→ Đáp án A
|
Câu 3: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai? A. Tôi B. Người mẹ C. Người con D. Tác giả |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định người bộc lộ cảm xúc
Lời giải chi tiết:
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là “tôi”
→ Đáp án A
|
Câu 4: Từ ngữ, hình ảnh nào trong bài thơ đánh thức kỉ niệm về người mẹ? A. Áo đỏ B. Giậu phơi C. Tay áo D. Gà trưa gáy |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những từ ngữ hình ảnh gợi nhớ kỉ niệm về người mẹ
Lời giải chi tiết:
Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
Những từ ngữ, hình ảnh gợi nhớ kỉ niệm về người mẹ: nắng mới hắt bên song, gà trưa gáy
→ Đáp án D
|
Câu 5: Các từ láy được sử dụng trong bài thơ trên là gì? A. Xao xác, não nùng, thiếu thời B. Não nùng, thiếu thời, mường tượng C. Xao xác, não nùng, chập chờn D. Xao xác, não nùng, nắng mới |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định các từ láy có trong bài thơ
Lời giải chi tiết:
Các từ láy có trong bài: Xao xác, não nùng, chập chờn
→ Đáp án C
|
Câu 6: Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ trên hiện lên như thế nào? A. Hối hận, luyến tiếc B. Vui mừng, sung sướng C. Dửng dưng, lạnh lùng D. Buồn nhớ, khắc khoải |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định tâm trạng của nhân vật trữ tình
Lời giải chi tiết:
Từ hình ảnh nắng mới và tiếng gà gáy đã làm nhân vật trữ tình nhớ lại những kỉ niệm về mẹ
→ Đáp án D
|
Câu 7: Câu thơ “Nét cười đen nhánh sau tay áo” gợi lên điều gì về người mẹ? A. Vẻ đẹp mềm mại, duyên dáng, quyến rũ B. Vẻ đẹp truyền thống, rạng rỡ, tỏa sáng C. Vẻ đẹp sang trọng, kiêu sa, thanh thoát D. Vẻ đẹp giản dị, mộc mạc, chân chất |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Câu thơ “Nét cười đen nhánh sau tay áo” gợi lên vẻ đẹp truyền thống, kín đáo, rạng rỡ, tỏa sáng
→ Đáp án B
|
Câu 8: Tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng trong câu thơ “Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội” làm cho hình ảnh “nắng mới”: A. Sinh động, có hồn, góp phần thể hiện khung cảnh tươi sáng, ấm áp và niềm vui của trẻ thơ trong những ngày bên mẹ. B. Cụ thể, nổi bật, góp phần thể hiện khung cảnh tươi sáng, ấm áp và niềm vui của trẻ thơ trong những ngày bên mẹ. C. Sinh động, có hồn, góp phần thể hiện bức tranh thiên nhiên tràn đầy sức sống, tươi mới và rộn ràng. D. Cụ thể, sinh động, góp phần thể hiện bức tranh thiên nhiên trong trẻo, thanh bình. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chỉ ra và phân tích biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng trong câu thơ
Lời giải chi tiết:
Biện pháp tu từ nhân hoá: Nắng mới reo
Tác dụng: Làm cho câu thơ trở nên sinh động, có hồn, góp phần thể hiện khung cảnh tươi sáng, ấm áp và niềm vui của trẻ thơ trong những ngày bên mẹ.
→ Đáp án A
Câu 9: Nêu nội dung chính của đoạn thơ?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định nội dung chính của văn bản
Lời giải chi tiết:
Nội dung chính của cài thơ là kỉ niệm kí ức của tác giả về người mẹ thân yêu của mình gắn liền với sự biết ơn, tình yêu tha thiết.
Câu 10: Nhận xét của em về mối quan hệ giữa "nắng mới" và "mẹ tôi" trong bài thơ?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định nội dung chính của văn bản.
Chỉ ra mối quan hệ giữa “nắng mới” và “mẹ tôi”
Lời giải chi tiết:
Mối quan hệ giữa “nắng mới” và “mẹ tôi” trong bài thơ: Nắng mới là hình ảnh gắn liền với những kí ức về mẹ, gần gũi, thân thuộc. Nắng mới tượng trưng cho người mẹ nên mỗi lần nhìn thấy nắng mới, tác giả đều liên tưởng tới mẹ của mình.
II. VIẾT (4đ)
Viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Nắng mới của Lưu Trọng Lư.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Nắng mới của Lưu Trọng Lư. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận - Ý kiến cá nhân người viết với hiện tượng/vấn đề |
|
Thân bài |
2,5 |
- Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. - Giá trị về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm: + Về nội dung, bài thơ làm nổi bật hình ảnh người mẹ với những vẻ đẹp hiện lên trong tâm tưởng và tình cảm của nhân vật trữ tình… + Về nghệ thuật, Nắng mới là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho hình thức Thơ mới, sử dụng thể thơ bảy chữ; từ ngữ giản dị, gần gũi, gợi cảm mang màu sắc Bắc Bộ; giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết; sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ,... - Nêu được thông điệp rút ra từ bài thơ: Bài thơ là nỗi nhớ của nhân vật trữ tình đối với người mẹ của mình; thể hiện giá trị đạo đức truyền thống uống nước nhớ nguồn, hiếu thuận của người Việt Nam. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận - Diễn đạt rõ ràng, gãy gọn, có yếu tố biểu cảm. Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Sử dụng từ ngữ, câu văn có sự liên kết các luận điểm, giữa bằng chứng và lí lẽ đảm bảo sự mạch lạc. |
Bài viết tham khảo:
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 2
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 11; Năm học 2022 - 2023
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. Đọc hiểu (4đ)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi phía dưới:
VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG TA
Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả rập rờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều
Quê hương biết mấy thân yêu
Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau
Mặt người vất vả in sâu
Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn
Đất nghèo nuôi những anh hùng
Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên
Đạp quân thù xuống đất đen
Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa
Việt Nam đất nắng chan hoà
Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh
Mắt đen cô gái long lanh
Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung.
( Trích Bài thơ Hắc Hải, tuyển thơ Nguyễn Đình Thi)
Lựa chọn đáp án đúng
Câu 1: Bài thơ trên được sáng tác theo thể thơ gì?
A. Thất ngôn bát cú Đường luật
B. Song thất lục bát
C. Lục bát
D. Tự do
Câu 2: Nội dung chính của bài thơ trên là gì?
A. Tình cảm yêu mến, gắn bó, tự hào của tác giả dành cho con người và quê hương
Việt Nam.
B. Tác giả hồi tưởng về một thời kì “vất vả in sâu” nhưng rất “anh hùng” của dân tộc Việt Nam.
C. Ngợi ca nền văn hóa ngàn năm của quê hương, ca vẻ đẹp giàu có của thiên nhiên, đất nước Việt Nam.
D. Ngợi ca vẻ đẹp giàu có của thiên nhiên, đất nước Việt Nam.
Câu 3: Bài thơ đã gợi cho em suy nghĩ gì về con người và cảnh sắc quê hương?
A. Tự hào với sự giàu có của thiên nhiên, với những nét đẹp về văn hóa và tinh thần được hun đúc qua nhiều thế hệ của dân tộc Việt Nam.
B. Có ý thức tiếp nhận văn hóa của các nước phát triển nhằm mở rộng văn hóa của
dân tộc.
C. Có ý thức giữ gìn và phát huy những giá trị tinh thần tốt đẹp của dân tộc.
D. Yêu mến, tự hào đối với những con người đang ngày đêm canh giữ, bảo vệ những vùng đất xa xôi của Tổ quốc.
Câu 4: Khi chọn hình ảnh "đỉnh Trường Sơn", tác giả muốn ca ngợi vẻ đẹp gì của thiên nhiên?
A. Vẻ đẹp dịu dàng, mộc mạc.
B. Vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ.
C. Vẻ đẹp lãng mạn, thơ mộng.
D. Vẻ đẹp cao sang, lộng lẫy.
Câu 5: Hình ảnh "biển lúa" sử dụng biện pháp tu từ nào?
A. So sánh.
B. Ẩn dụ.
C. Nhân hóa.
D. Hoán dụ.
Câu 6: Nội dung chính của đoạn thơ sau là gì?
"Đất nghèo nuôi những anh hùng
Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên
Đạp quân thù xuống đất đen
Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa."
A. Bức chân dung của con người Việt Nam chịu thương, chịu khó.
B. Bức chân dung của con người Việt Nam kiên cường, bất khuất.
C. Bức chân dung của con người Việt Nam nỗ lực, kiên trì.
D. Bức chân dung của con người Việt Nam thuỷ chung, bất khuất.
Câu 7. Hình ảnh "áo nâu" trong câu thơ "Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn" có ý nghĩa gì?
A. Chỉ những người thuộc lớp trẻ phải vất vả, chịu thương chịu khó.
B. Chỉ những người già yếu phải vất vả, chịu thương chịu khó.
C. Chỉ những người nông dân vất vả, chịu thương chịu khó.
D. Chỉ những người nông dân nghèo khổ.
Trả lời câu hỏi/ thực hiện yêu cầu:
Câu 8: Tình cảm của tác giả đối với quê hương, đất nước được thể hiện như thế nào trong văn bản?
Câu 9: Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong câu sau và nêu tác dụng:
Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Câu 10: Từ nội dung gợi ra qua bài thơ “Việt Nam quê hương ta”, em thấy mình phải
làm gì để góp phần xây dựng và bảo vệ quê hương Việt Nam mãi giàu đẹp? (Trả lời câu hỏi bằng một chuỗi câu từ 3-5 câu)
II. VIẾT (4,0 điểm)
Câu 1:
QUÊ MẸ
(Thanh Tịnh)
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
(Ca dao)
Cô Thảo ra lấy chồng đã ba năm. Anh Vận chồng cô hiện làm hương thơ ở làng Mỹ Lý. Anh Vận trước kia có theo học chữ Quốc ngữ, nhưng đã hai năm thi yếu lược không đậu nên anh ta lại thôi. Qua năm sau dân trong xóm bầu anh ta lên làm hương thơ trong làng. Ngày nào anh ta cũng đi nhà này qua nhà khác phát thư, rồi chiều đến lại phải ra tận đình để lấy hòm thư đem lên huyện.
Công việc của anh tuy vất vả, nhưng lương tháng - hay nói cho đúng, lương năm - của anh trông ít quá. Làng chỉ trích cho anh ta ba mẫu ruộng và năm đồng bạc làm tiền lộ phí. Nhưng năm đồng ấy thì không bao giờ anh nhận được. Vì các viên chức đã khéo léo trừ với món tiền phải đóng sưu này thuế khác gần hết.
Nhưng ở vùng quê, được một chức nghiệp như thế, anh Vận cũng cho là danh giá lắm. Và bà Lại, mẹ anh Vận, lúc nói chuyện với những người quen, cũng không quên tự hào được một người con ra đảm đương việc làng việc nước.
Cô Thảo ra lấy chồng vốn liếng không có nên không đi buôn bán gì hết. Cả nhà chỉ trông vào một mẫu ruộng tranh và ba mẫu ruộng làng để sống năm này tháng khác.
(Gần đến ngày giỗ ông, cô Thảo muốn xin chồng về làng, lại không muốn nói thẳng.
Nhưng mãi đến chiều cũng không nghe chồng nói gì, nên cô phải mượn cây thanh trà để nhắc xa xôi cho chồng nhớ. Anh Vận xin mẹ cho vợ về làng ăn giỗ. Mẹ chồng bảo cô mang buồng chuối mật trong vườn về giỗ ông, lại cho cô một hào để đi đò. Anh Vận cũng chạy quanh xóm mượn chỗ này, chỗ khác cho cô Thảo thêm bốn hào nữa)
Tối hôm ấy cô Thảo không đi ngủ sớm. Cô đặt con ngủ yên bên chồng xong lại lật đật xách dao ra sau vườn chuối. Loay hoay một lúc lâu cô mới đem được buồng chuối mật vào nhà. Cô đem để vào một góc thật kín vì cô sợ nửa đêm chuột đến khới. Xong rồi cô mới qua bên nhà cô Thị mượn đôi hoa tai vàng và cái nón lá mới. Sắp đặt đâu đó xong xuôi cô mới lên giường nằm ngủ.
Trời tờ mờ sáng cô Thảo đã trở dậy sắm sửa đi về làng. Làng cô ở cách xa làng Mỹ Lý hơn mười lăm cây số. Vì vậy nên mỗi năm cô chỉ được về làng chừng hai ba lượt là nhiều. Xưa kia cô từng qua lại làng Mỹ Lý ngày một để bán gạo, nhưng sau lúc cô ra lấy chồng thì quê nhà đối với cô đã là nơi xa lạ.
Qua những con đường mòn chạy nấp theo bờ ruộng, cô lại nhớ đến quãng đời bán gạo của cô ngày trước. Trong trí cô hiện ra lần lần hình ảnh của cô Thu, cô Nguyệt, cô Hương, những cô bạn mà trước kia cô cho là thân nhất. Nhưng đời các cô ấy cũng như cô, nghĩa là cũng có chồng, có con và quãng đời làm dâu cũng vất vả, cũng phẳng lặng như nhau hết.
Đi chưa được bốn cây số cô Thảo đã thấy mỏi. Cô tự nhận thấy sức cô yếu hơn trước nhiều lắm. Cô muốn đi đò cho đỡ chân, nhưng sực nhớ đến những món quà cần phải cho em, cô lại gắng gượng đi nhanh hơn trước.
[…]
Về đến làng cô Thảo gặp ai cũng đón chào niềm nở. Lòng cô lúc ấy nhẹ nhàng và vui sướng lắm. Còn họ gặp cô đi đằng xa đã kêu réo om sòm như gặp được người sống lại. Họ hỏi thăm cô chuyện này chuyện khác, mục đích là để xem cô ăn mặc độ này có khá hơn trước không. Cô Thảo thấy người làng chào hỏi mình vồn vã nên đáp lại rất vui vẻ. Cô ta không quên lấy cái nón xuống, giả vờ quạt vào mình để mấy người đứng chung quanh được thấy đôi hoa tai vàng của cô.
Đến trưa hôm ấy thì cô về đến nhà. Mấy cậu em đua nhau ra níu áo chị. Cô Thảo xoa đầu đứa này đỡ cằm đứa khác, nụ cười trên môi cô không khi nào tắt. Trông thấy mẹ trong nhà đi ra cô mừng quá. Cô chạy lại đứng bên mẹ cảm động quá đến rưng rưng nước mắt. Một lúc sau cô đưa thằng Lụn cho mẹ ẵm rồi đi thẳng vào nhà để chào những người quen biết.
Bà Vạn cứ quấn quít bên cháu, bên con quên cả ngày giờ. Bà giới thiệu cô Thảo với người này người khác, bà nhắc đến chuyện cô Thảo lúc cô còn năm sáu tuổi. Bà kể đến đoạn nào bà cũng có ý khoe cô Thảo đức hạnh và khôn ngoan đủ thứ. Bà nói mãi mà không biết chung quanh bà không ai nghe bà hết.
Sung sướng nhất là cô con gái có chồng về nhà mẹ. Cô Thảo tuy về giỗ ông nhưng không làm gì hết. Cô vào phòng mẹ nằm ngủ cả buổi chiều, mãi đến lúc gần cúng cô mới chịu đi ra ngoài.
Lúc cô đứng lễ thì ông Vạn, thân sinh cô, vuốt râu cười nói:
- Con phải lễ thế phần chồng con nữa. Nó làm gì bên ấy mà không đến
Cô Thảo sau khi thụt lùi ra khỏi chiếu, mới khẽ đáp:
- Dạ, nhà con mắc việc quan.
Cô Khuê, chị em chú bác với cô Thảo, đứng gần đấy trề môi nói tiếp:
- Thứ đồ làm hương thơ mỗi năm ăn ba mẫu ruộng mà cũng gọi là việc quan.
- Ai nấy đều nghe thấy nhưng không ai cãi lại. Ông Vạn đứng cúi đầu xuống hơi ngượng. Còn cô Thảo gương mặt đỏ bừng, quay đầu nhìn xuống bếp. Nhưng ngay lúc ấy cô lại gặp cặp mắt của mẹ đang nhìn cô chòng chọc. Cô đau lòng quá đến để hai dòng lệ chảy dài trên má.
- Sáng hôm sau, cúng cơm sáng xong xuôi, cô Thảo lại sắm sửa đi qua làng Mỹ Lý. Cô gọi mấy đứa em đến gần rồi cho mỗi đứa năm xu. Trong nhà ai cũng khen cô rộng rãi và biết thương em, nên cô vui sướng lắm. Đang lúc cao hứng cô còn hứa sẽ gửi cho mẹ hai cặp quần áo mới để mặc Tết nữa. Nhưng chính cô cũng không biết sẽ lấy đâu ra hai cặp quần áo ấy. Chỉ trong nháy mắt cô Thảo đã phân phát tất cả số tiền cô đã dành dụm trong một năm.
- […]
- Về nhà chồng, cô Thảo lại làm việc từ mai đến chiều, tối tăm cả mày mặt. Lúc nào cô cũng nhớ đến mẹ nghèo, đến em thơ, nhưng nhớ thì lòng cô lại bùi ngùi, trí cô lại bận rộn. Rồi chiều chiều gặp những lúc nhàn rỗi, cô lại ra đứng cửa sau vơ vẩn nhìn về làng Quận Lão. Nhưng làng Quận Lão ẩn sau đám tre xanh đã kéo một gạch đen dài trên ven đồi xa thẳm.
-(Theo Tổng tập văn học Việt Nam, tập 33, NXB Khoa học xã hội, 2000,Tr.819-823)
Anh/chị hãy viết bài văn phân tích, đánh giá về đoạn trích trên.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1(0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3(0.5đ) |
Câu 4(0.5đ) |
Câu 5(0.5đ) |
Câu 6(0.5đ) |
Câu 7(0.5đ) |
|
C |
A |
A |
B |
B |
B |
C |
|
Câu 1: Bài thơ trên được sáng tác theo thể thơ gì? A. Thất ngôn bát cú Đường luật B. Song thất lục bát C. Lục bát D. Tự do |
Phương pháp giải:
Đếm số chữ trong một câu và số câu trong bài
Lời giải chi tiết:
Bài thơ trên được sáng tác theo thể thơ: Lục bát
→ Đáp án C
|
Câu 2: Nội dung chính của bài thơ trên là gì? B. Tác giả hồi tưởng về một thời kì “vất vả in sâu” nhưng rất “anh hùng” của dân tộc Việt Nam. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Nội dung chính của bài thơ trên là: Tình cảm yêu mến, gắn bó, tự hào của tác giả dành cho con người và quê hương Việt Nam.
→ Đáp án A
|
Câu 3: Bài thơ đã gợi cho em suy nghĩ gì về con người và cảnh sắc quê hương? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Bài thơ đã gợi nên niềm tự hào với sự giàu có của thiên nhiên, với những nét đẹp về văn hóa và tinh thần được hun đúc qua nhiều thế hệ của dân tộc Việt Nam.
→ Đáp án A
|
Câu 4: Khi chọn hình ảnh "đỉnh Trường Sơn", tác giả muốn ca ngợi vẻ đẹp gì của thiên nhiên? A. Vẻ đẹp dịu dàng, mộc mạc. B. Vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ. C. Vẻ đẹp lãng mạn, thơ mộng. D. Vẻ đẹp cao sang, lộng lẫy. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Khi chọn hình ảnh "đỉnh Trường Sơn", tác giả muốn ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ của thiên nhiên.
→ Đáp án B
|
Câu 5: Hình ảnh "biển lúa" sử dụng biện pháp tu từ nào? A. So sánh. B. Ẩn dụ. C. Nhân hóa. D. Hoán dụ. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết:
Hình ảnh "biển lúa" sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ
→ Đáp án B
|
Câu 6: Nội dung chính của đoạn thơ sau là gì? "Đất nghèo nuôi những anh hùng Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên Đạp quân thù xuống đất đen Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa." A. Bức chân dung của con người Việt Nam chịu thương, chịu khó. B. Bức chân dung của con người Việt Nam kiên cường, bất khuất. C. Bức chân dung của con người Việt Nam nỗ lực, kiên trì. D. Bức chân dung của con người Việt Nam thuỷ chung, bất khuất. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn thơ
Xác định nội dung
Lời giải chi tiết:
Nội dung chính của đoạn thơ là: Bức chân dung của con người Việt Nam kiên cường, bất khuất.
→ Đáp án B
|
Câu 7. Hình ảnh "áo nâu" trong câu thơ "Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn" có ý nghĩa gì? A. Chỉ những người thuộc lớp trẻ phải vất vả, chịu thương chịu khó. B. Chỉ những người già yếu phải vất vả, chịu thương chịu khó. C. Chỉ những người nông dân vất vả, chịu thương chịu khó. D. Chỉ những người nông dân nghèo khổ. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi
Lời giải chi tiết:
Hình ảnh "áo nâu" trong câu thơ "Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn" có ý nghĩa: Chỉ những người nông dân vất vả, chịu thương chịu khó.
→ Đáp án C
|
Câu 8: Tình cảm của tác giả đối với quê hương, đất nước được thể hiện như thế nào trong văn bản? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định tình cảm của tác giả đối với quê hương, đất nước
Lời giải chi tiết:
Tình cảm yêu mến, quý trọng với quê hương, đất nước, dân tộc và con người Việt Nam.
|
Câu 9: Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ được sử dụng trong câu sau: Việt Nam đất nước ta ơi |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết:
- Các biện pháp tu từ:
+ Nhân hóa: ơi
+ Ẩn dụ: Biển lúa
+ So sánh: Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
- Tác dụng: Bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, yên bình, mênh mông, khoáng đạt. Nền cảnh đặc trưng của Việt Nam.
|
Câu 10: Từ nội dung gợi ra qua bài thơ “Việt Nam quê hương ta”, em thấy mình phải làm gì để góp phần xây dựng và bảo vệ quê hương Việt Nam mãi giàu đẹp? (Viết đoạn văn từ 7- 10 dòng) |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
- H nêu quan điểm của bản thân
- Gợi ý:
+ Giữa chúng ta và đất nước có liên hệ mật thiết như liên hệ giữa ta và gia đình ta.
+ Cần học hành chăm chỉ, giữ thân thể khỏe mạnh, giữ đầu óc sáng suốt, giúp người già yếu nghèo khổ, giữ sạch nhà cửa/đường phố…
+ Không làm điều xấu: Không hút sách, không trộm cắp, không dối trá, không đánh nhau, không nhũng lạm…
+ Luôn làm cho mình giàu mạnh thêm, luôn làm cho mình giỏi giang thêm, luôn hỗ trợ các anh em của mình để họ giàu mạnh thêm và giỏi giang thêm…
II. VIẾT (4đ)
|
Câu 1: QUÊ MẸ ( Thanh Tịnh) Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều (Ca dao) Cô Thảo ra lấy chồng đã ba năm. Anh Vận chồng cô hiện làm hương thơ ở làng Mỹ Lý. Anh Vận trước kia có theo học chữ Quốc ngữ, nhưng đã hai năm thi yếu lược không đậu nên anh ta lại thôi. Qua năm sau dân trong xóm bầu anh ta lên làm hương thơ trong làng. Ngày nào anh ta cũng đi nhà này qua nhà khác phát thư, rồi chiều đến lại phải ra tận đình để lấy hòm thư đem lên huyện. Công việc của anh tuy vất vả, nhưng lương tháng - hay nói cho đúng, lương năm - của anh trông ít quá. Làng chỉ trích cho anh ta ba mẫu ruộng và năm đồng bạc làm tiền lộ phí. Nhưng năm đồng ấy thì không bao giờ anh nhận được. Vì các viên chức đã khéo léo trừ với món tiền phải đóng sưu này thuế khác gần hết. Nhưng ở vùng quê, được một chức nghiệp như thế, anh Vận cũng cho là danh giá lắm. Và bà Lại, mẹ anh Vận, lúc nói chuyện với những người quen, cũng không quên tự hào được một người con ra đảm đương việc làng việc nước. Cô Thảo ra lấy chồng vốn liếng không có nên không đi buôn bán gì hết. Cả nhà chỉ trông vào một mẫu ruộng tranh và ba mẫu ruộng làng để sống năm này tháng khác. (Gần đến ngày giỗ ông, cô Thảo muốn xin chồng về làng, lại không muốn nói thẳng. Nhưng mãi đến chiều cũng không nghe chồng nói gì, nên cô phải mượn cây thanh trà để nhắc xa xôi cho chồng nhớ. Anh Vận xin mẹ cho vợ về làng ăn giỗ. Mẹ chồng bảo cô mang buồng chuối mật trong vườn về giỗ ông, lại cho cô một hào để đi đò. Anh Vận cũng chạy quanh xóm mượn chỗ này, chỗ khác cho cô Thảo thêm bốn hào nữa) Tối hôm ấy cô Thảo không đi ngủ sớm. Cô đặt con ngủ yên bên chồng xong lại lật đật xách dao ra sau vườn chuối. Loay hoay một lúc lâu cô mới đem được buồng chuối mật vào nhà. Cô đem để vào một góc thật kín vì cô sợ nửa đêm chuột đến khới. Xong rồi cô mới qua bên nhà cô Thị mượn đôi hoa tai vàng và cái nón lá mới. Sắp đặt đâu đó xong xuôi cô mới lên giường nằm ngủ. Trời tờ mờ sáng cô Thảo đã trở dậy sắm sửa đi về làng. Làng cô ở cách xa làng Mỹ Lý hơn mười lăm cây số. Vì vậy nên mỗi năm cô chỉ được về làng chừng hai ba lượt là nhiều. Xưa kia cô từng qua lại làng Mỹ Lý ngày một để bán gạo, nhưng sau lúc cô ra lấy chồng thì quê nhà đối với cô đã là nơi xa lạ. Qua những con đường mòn chạy nấp theo bờ ruộng, cô lại nhớ đến quãng đời bán gạo của cô ngày trước. Trong trí cô hiện ra lần lần hình ảnh của cô Thu, cô Nguyệt, cô Hương, những cô bạn mà trước kia cô cho là thân nhất. Nhưng đời các cô ấy cũng như cô, nghĩa là cũng có chồng, có con và quãng đời làm dâu cũng vất vả, cũng phẳng lặng như nhau hết. Đi chưa được bốn cây số cô Thảo đã thấy mỏi. Cô tự nhận thấy sức cô yếu hơn trước nhiều lắm. Cô muốn đi đò cho đỡ chân, nhưng sực nhớ đến những món quà cần phải cho em, cô lại gắng gượng đi nhanh hơn trước. […] Về đến làng cô Thảo gặp ai cũng đón chào niềm nở. Lòng cô lúc ấy nhẹ nhàng và vui sướng lắm. Còn họ gặp cô đi đằng xa đã kêu réo om sòm như gặp được người sống lại. Họ hỏi thăm cô chuyện này chuyện khác, mục đích là để xem cô ăn mặc độ này có khá hơn trước không. Cô Thảo thấy người làng chào hỏi mình vồn vã nên đáp lại rất vui vẻ. Cô ta không quên lấy cái nón xuống, giả vờ quạt vào mình để mấy người đứng chung quanh được thấy đôi hoa tai vàng của cô. Đến trưa hôm ấy thì cô về đến nhà. Mấy cậu em đua nhau ra níu áo chị. Cô Thảo xoa đầu đứa này đỡ cằm đứa khác, nụ cười trên môi cô không khi nào tắt. Trông thấy mẹ trong nhà đi ra cô mừng quá. Cô chạy lại đứng bên mẹ cảm động quá đến rưng rưng nước mắt. Một lúc sau cô đưa thằng Lụn cho mẹ ẵm rồi đi thẳng vào nhà để chào những người quen biết. Bà Vạn cứ quấn quít bên cháu, bên con quên cả ngày giờ. Bà giới thiệu cô Thảo với người này người khác, bà nhắc đến chuyện cô Thảo lúc cô còn năm sáu tuổi. Bà kể đến đoạn nào bà cũng có ý khoe cô Thảo đức hạnh và khôn ngoan đủ thứ. Bà nói mãi mà không biết chung quanh bà không ai nghe bà hết. Sung sướng nhất là cô con gái có chồng về nhà mẹ. Cô Thảo tuy về giỗ ông nhưng không làm gì hết. Cô vào phòng mẹ nằm ngủ cả buổi chiều, mãi đến lúc gần cúng cô mới chịu đi ra ngoài. Lúc cô đứng lễ thì ông Vạn, thân sinh cô, vuốt râu cười nói: - Con phải lễ thế phần chồng con nữa. Nó làm gì bên ấy mà không đến Cô Thảo sau khi thụt lùi ra khỏi chiếu, mới khẽ đáp: - Dạ, nhà con mắc việc quan. Cô Khuê, chị em chú bác với cô Thảo, đứng gần đấy trề môi nói tiếp: - Thứ đồ làm hương thơ mỗi năm ăn ba mẫu ruộng mà cũng gọi là việc quan. - Ai nấy đều nghe thấy nhưng không ai cãi lại. Ông Vạn đứng cúi đầu xuống hơi ngượng. Còn cô Thảo gương mặt đỏ bừng, quay đầu nhìn xuống bếp. Nhưng ngay lúc ấy cô lại gặp cặp mắt của mẹ đang nhìn cô chòng chọc. Cô đau lòng quá đến để hai dòng lệ chảy dài trên má. - Sáng hôm sau, cúng cơm sáng xong xuôi, cô Thảo lại sắm sửa đi qua làng Mỹ Lý. Cô gọi mấy đứa em đến gần rồi cho mỗi đứa năm xu. Trong nhà ai cũng khen cô rộng rãi và biết thương em, nên cô vui sướng lắm. Đang lúc cao hứng cô còn hứa sẽ gửi cho mẹ hai cặp quần áo mới để mặc Tết nữa. Nhưng chính cô cũng không biết sẽ lấy đâu ra hai cặp quần áo ấy. Chỉ trong nháy mắt cô Thảo đã phân phát tất cả số tiền cô đã dành dụm trong một năm. - […] - Về nhà chồng, cô Thảo lại làm việc từ mai đến chiều, tối tăm cả mày mặt. Lúc nào cô cũng nhớ đến mẹ nghèo, đến em thơ, nhưng nhớ thì lòng cô lại bùi ngùi, trí cô lại bận rộn. Rồi chiều chiều gặp những lúc nhàn rỗi, cô lại ra đứng cửa sau vơ vẩn nhìn về làng Quận Lão. Nhưng làng Quận Lão ẩn sau đám tre xanh đã kéo một gạch đen dài trên ven đồi xa thẳm. -(Theo Tổng tập văn học Việt Nam, tập 33, NXB Khoa học xã hội, 2000,Tr.819-823) Anh/chị hãy viết bài văn phân tích, đánh giá về đoạn trích trên. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
a. Bức ảnh 1: Hình ảnh vũ trụ do NASA phóng vào một tiểu hành tinh ngoài vũ trụ, làm chệch quỹ đạo để không ảnh hưởng tới trái đất
Bức ảnh 2: Hình ảnh tên lửa, bệ phóng,… thăm dò vũ trụ. Như vậy, bức 1 có nhiều tương đồng với chủ đề văn bản
b.
|
Viết bài Nghị luận xã hội về “Khát vọng chinh phục vũ trụ của con người” |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận - Ý kiến cá nhân người viết với hiện tượng/vấn đề |
|
Thân bài |
2,5 |
- Nhan đề và lời đề từ của truyện có thể gợi ra những suy nghĩ như: Quê là nơi gia đình, dòng họ đã nhiều đời làm ăn sinh sống, nơi gắn bó thân thương với mỗi người. Nói đến quê mẹ là nói đến nơi ta sinh ra, lớn lên, gắn bó suốt tuổi thơ, khi đi xa thì quê mẹ là nơi chốn yêu thương để ta nhớ, lúc buồn khổ ta hướng về để được chia sẻ. - Lời đề từ của truyện là ca dao về nỗi niềm và tâm trạng của người con gái lấy chồng xa. - Nhân vật cô Thảo trong truyện ngắn Quê mẹ được khắc hoạ qua những chi tiết cụ thể gắn với tâm trạng, hành động, cử chỉ : đêm trước khi về dỗ ông, trên đường về quê, khi về đến làng, khi về đến nhà mẹ, khi trở lại nhà chồng. à Nhân vật cô Thảo là mẫu phụ nữ tiêu biểu cho gia đình, cô là ngươi “ít hay chữ” nhưng nặng lòng với quê hương, gia đình. Cô con dâu chăm chỉ luôn biết giữ gìn nề nếp gia phong; “cô gái có chồng về nhà mẹ” luôn nở nụ cười với hàng xóm, với những đứa em thơ cô sẵn sàng phân phát cho các em “ cả số tiền cô đã dành dụm trong một năm”… Hình ảnh cô Thảo đã nói lên nỗi lòng của người con gái lấy chồng xa quê, nói lên mong ước của Thanh Tịnh về cuộc sống bình dị, chân thành, ca ngợi những con người quê hương luôn giàu tình người, tình quê. * Qua câu chuyện, có thể rút ra những thông điệp: tình yêu quê hương, gia đình và nỗi nhớ quê trong lòng người con gái. * Nhận xét về cách ửng xử của các nhân vật trong truyện ngắn Quê mẹ: - Anh Vân hơi vô tâm nhưng yêu thương vợ. - Mẹ chồng cô Thảo ân cần, quan tâm đến con dâu. - Cô Thảo luôn lễ phép, khéo léo trong các mối quan hệ, thân thiện với bà con lối xóm. à Đó là những ứng xửu đẹp và rất đời thường, vừa truyền thống vừa hiện đại. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề
|
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. - Sử dụng từ ngữ, câu văn có sự liên kết các luận điểm, giữa bằng chứng và lí lẽ đảm bảo sự mạch lạc |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 3
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 11; Năm học 2022 - 2023
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
LÁ ĐỎ
Gặp em trên cao lộng gió
Rừng lạ ào ào lá đỏ
Em đứng bên đường như quê hương
Vai áo bạc quàng súng trường.
Đoàn quân vẫn đi vội vã
Bụi Trường Sơn nhòa trời lửa.
Chào em, em gái tiền phương
Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn.
Em vẫy cười đôi mắt trong.
1974
(Trích từ Tuyển tập thơ Việt Nam giai đoạn chống Mĩ cứu nước, Nguyễn Đình Thi, NXB Hội nhà văn, 1999)
Câu 1. Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?
A. Thể thơ 5 chữ
B. Thể thơ 6 chữ
C. Thể thơ 7 chữ
D. Thể thơ tự do
Câu 2. Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu thơ: “Em đứng bên đường như quê hương”
A. Nhân hóa
B. So sánh
C. Hoán dụ
D. Ẩn dụ
Câu 3. Các hình ảnh miêu tả thiên nhiên: đỉnh Trường Sơn lộng gió, rừng ào ào lá đỏ khắc họa khung cảnh Trường Sơn như thế nào?
A. Khoáng đạt, hùng vĩ
B. Thơ mộng, trữ tình
C. Khắc nghiệt, dữ dội
D. Tráng lệ, kì vĩ
Câu 4. Nhân vật trữ tình trong văn bản là ai?
A. Người lính Trường Sơn
B. Nguyễn Đình Thi
C. Em gái tiền phương
D. Người lính Trường Sơn và em gái tiền phương
Câu 5. Hai câu sau gợi điều gì?
Chào em, em gái tiền phương
Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn
A. Niềm tin và hi vọng vào ngày chiến thắng của người lính Trường Sơn
B. Lời chào và lời ước hẹn của cô gái tiền phương và người lính Trường Sơn
C. Lời chào và lời ước hẹn của người lính Trường Sơn với cô gái tiền phương
D. Lời hẹn ước giữa hai nhân vật trữ tình
Câu 6. Cảm xúc của tác giả qua văn bản là
A. Niềm vui, tự hào và hy vọng vào tương lai của người lính Trường Sơn.
B. Niềm vui, lạc quan, tin tưởng, tự hào và hy vọng vào ngày mai chiến thắng.
C. Niềm vui sướng, hạnh phúc khi gặp lại người em gái tiền phương.
D. Niềm tin tất thắng vào cuộc kháng chiến.
Câu 7. Không khí hành quân hào hùng thần tốc được thể hiện qua hình ảnh nào?
A. Rừng ào ào lá đỏ, Bụi Trường Sơn nhoà trời lửa
B. Đoàn lính Trường Sơn hành quân vội vã, rừng ào ào lá đỏ.
C. Đoàn quân đi vội vã, bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa
D. Ào ào lá đỏ, vai áo bạc quàng súng trường
Câu 8. Câu thơ “Vai áo bạc quàng súng trường” gợi lên vẻ đẹp gì của người con gái tiền phương?
A. Vẻ đẹp mộc mạc, giản dị, chân chất, dịu dàng, kiêu sa.
B. Vẻ đẹp kiêu sa, đài các, lộng lẫy, dũng cảm.
C. Vẻ đẹp mộc mạc, giản dị, gần gũi, dịu dàng
D. Vẻ đẹp giản dị, gần gũi, kiên cường, mạnh mẽ.
Trả lời câu hỏi/ thực hiện yêu cầu:
Câu 9. Trình bày ngắn gọn nội dung của văn bản.
Câu 10. Hình ảnh “em gái tiền phương” gợi lên cho anh/chị suy nghĩ gì về sự góp mặt của những người phụ nữ trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc?
II. VIẾT (4,0 điểm)
Đọc đoạn thơ:
Nếu là con chim, chiếc lá,
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh.
Lẽ nào vay mà không có trả
Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?
(Một khúc ca, Tố Hữu)
Thực hiện yêu cầu:
Anh/ chị nghĩ gì về quan niệm sống của Tố Hữu trong đoạn thơ trên? Hãy trả lời câu hỏi bằng cách viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ).
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
D |
B |
A |
A |
A |
B |
C |
D |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Văn bản trên được viết theo thể thơ nào? A. Thể thơ 5 chữ B. Thể thơ 6 chữ C. Thể thơ 7 chữ D. Thể thơ tự do |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đếm số chữ và số câu trong đoạn trích để xác định thể thơ.
Lời giải chi tiết:
Văn bản trên được viết theo thể thơ: Tự do
→ Đáp án D
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu thơ: “Em đứng bên đường như quê hương” A. Nhân hóa B. So sánh C. Hoán dụ D. Ẩn dụ |
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: “Em đứng bên đường như quê hương” là: So sánh
→ Đáp án B
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Các hình ảnh miêu tả thiên nhiên: đỉnh Trường Sơn lộng gió, rừng ào ào lá đỏ khắc họa khung cảnh Trường Sơn như thế nào? A. Khoáng đạt, hùng vĩ B. Thơ mộng, trữ tình C. Khắc nghiệt, dữ dội D. Tráng lệ, kì vĩ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Các hình ảnh miêu tả thiên nhiên: đỉnh Trường Sơn lộng gió, rừng ào ào lá đỏ khắc họa khung cảnh Trường Sơn: Khoáng đạt, hùng vĩ.
→ Đáp án A
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Nhân vật trữ tình trong văn bản là ai? A. Người lính Trường Sơn B. Nguyễn Đình Thi C. Em gái tiền phương D. Người lính Trường Sơn và em gái tiền phương |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định nhân vật trữ tình.
Lời giải chi tiết:
Nhân vật trữ tình trong văn bản là: Người lính Trường Sơn
→ Đáp án A
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Hai câu sau gợi lên điều gì? Chào em, em gái tiền phương A. Niềm tin và hi vọng vào ngày chiến thắng của người lính Trường Sơn B. Lời chào và lời ước hẹn của cô gái tiền phương và người lính Trường Sơn C. Lời chào và lời ước hẹn của người lính Trường Sơn với cô gái tiền phương D. Lời hẹn ước giữa hai nhân vật trữ tình |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Hai câu sau gợi lên: Niềm tin và hi vọng vào ngày chiến thắng của người lính Trường Sơn
→ Đáp án A
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Cảm xúc của tác giả qua văn bản là A. Niềm vui, tự hào và hy vọng vào tương lai của người lính Trường Sơn. B. Niềm vui, lạc quan, tin tưởng, tự hào và hy vọng vào ngày mai chiến thắng. C. Niềm vui sướng, hạnh phúc khi gặp lại người em gái tiền phương. D. Niềm tin tất thắng vào cuộc kháng chiến. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Cảm xúc của tác giả qua văn bản là: . Niềm vui, lạc quan, tin tưởng, tự hào và hy vọng vào ngày mai chiến thắng.
→ Đáp án B
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Không khí hành quân hào hùng thần tốc được thể hiện qua hình ảnh nào? A. Rừng ào ào lá đỏ, Bụi Trường Sơn nhoà trời lửa B. Đoàn lính Trường Sơn hành quân vội vã, rừng ào ào lá đỏ. C. Đoàn quân đi vội vã, bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa D. Ào ào lá đỏ, vai áo bạc quàng súng trường |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Không khí hành quân hào hùng thần tốc được thể hiện qua hình ảnh: Đoàn quân đi vội vã, bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa
→ Đáp án C
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Câu thơ “Vai áo bạc quàng súng trường” gợi lên vẻ đẹp gì của người con gái tiền phương? A. Vẻ đẹp mộc mạc, giản dị, chân chất, dịu dàng, kiêu sa. B. Vẻ đẹp kiêu sa, đài các, lộng lẫy, dũng cảm. C. Vẻ đẹp mộc mạc, giản dị, gần gũi, dịu dàng D. Vẻ đẹp giản dị, gần gũi, kiên cường, mạnh mẽ. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Câu thơ “Vai áo bạc quàng súng trường” gợi lên vẻ đẹp giản dị, gần gũi, kiên cường, mạnh mẽ của người con gái tiền phương
→ Đáp án D
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Trình bày ngắn gọn nội dung của văn bản. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Nội dung của văn bản: Khung cảnh cuộc hành quân hào hùng, thần tốc; vẻ đẹp của thiên nhiên rừng Trường Sơn; vẻ đẹp của người con gái trẻ trung, tươi tắn; niềm tin tất thắng vào cuộc kháng chiến.
Câu 10: (1.0 diểm)
|
Hình ảnh “em gái tiền phương” gợi lên cho anh/chị suy nghĩ gì về sự góp mặt của những người phụ nữ trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc? |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS nêu quan điểm của bản thân
- Gợi ý:
- Hình ảnh những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn thật đẹp và oai hùng.
- Họ không tiếc tuổi xuân, không sợ nguy hiểm mà đã ra trận. Họ ra đi với tinh thần ” Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”…
II. VIẾT (4đ)
|
Đọc đoạn thơ: Nếu là con chim, chiếc lá, (Một khúc ca, Tố Hữu) Thực hiện yêu cầu: Anh/ chị nghĩ gì về quan niệm sống của Tố Hữu trong đoạn thơ trên? Hãy trả lời câu hỏi bằng cách viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ). |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài Nghị luận phân tích “ Tình cảm của tác giả đối với làng quê và mảnh đất quê hương” |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Dưới đây là một vài gợi ý: - Quan niệm sống của Tố Hữu qua đoạn thơ: Bằng cách nói giả định “Nếu… thì” Tố Hữu đã đưa ra hai hình ảnh: Những sinh vật bé nhỏ trong vũ trụ bao la, “con chim”, “chiếc lá”, và nói lên trách nhiệm của chúng ta đối với đời.
- Đoạn thơ trên đã nêu lên một quan niệm, một lẽ sống đẹp + Sống không chỉ hưởng thụ, nhận về mà phải biết cho đi, cống hiến. + Quan niệm sống đẹp không chỉ có giá trị nhân văn trong thời đại tác giả đang sống mà còn mãi đến muôn đời sau. - Tuy nhiên, trong cuộc sống không phải ai cũng sống với tình thương, sẵn sàng cho đi, giúp đỡ người khác. Ngoài kia vẫn còn có nhiều người ích kỉ, nhỏ nhen, lạnh lùng, vô cảm trước nỗi đau, nỗi bất hạnh của người khác, chỉ biết sống cho bản thân mình,… những người này đáng bị xã hội lên án. Mỗi người chỉ được sống một lần, chúng ta hãy sống, cho đi và yêu thương để làm cho xã hội này ngày càng tốt hơn, con người được sống tình cảm hơn vì vốn dĩ: “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 4
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 11; Năm học 2022 - 2023
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
(…)Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà.
Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ, dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói, mấy đứa nhỏ nhất: con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó. (…)
Cuộc đời của gia đình bác Lê cứ như thế mà lặng lẽ qua, ngày no rồi lại ngày đói. Tuy vậy, cũng có những ngày vui vẻ. Những ngày nắng ấm trong năm, hay những buổi chiều mùa hạ, mẹ con bác Lê cùng nhau ngồi chơi ở trước cửa nhà. Các người hàng xóm cũng làm như thế. Các bà mẹ ngồi rủ rỉ với nhau những câu chuyện kín đáo, các trẻ con nô đùa dưới quán chợ, còn các bà già thì ngồi rũ tóc tìm chấy ngoài bóng nắng. Bác Lê đem thằng Hi, con Phún ra gọt tóc cho chúng nó bằng một cái mảnh chai sắc. Thằng cả ngồi đan lại cái lờ, còn những đứa khác chơi quanh gần đấy. Trong ngày hè nóng nực, con bác Lê đứa nào cũng lở đầu - bác ta bảo là một cái bệnh gia truyền từ đời ông tam đại - nên bác lấy phẩm xanh bôi cho chúng nó. Trông mẹ con bác lại giống mẹ con đàn gà, mà những con gà con người ta bôi xanh lên đầu cho khỏi lẫn. Người phố chợ vẫn thường nói đùa bác Lê về đàn con đông đúc ấy. Bác Đối, kéo xe, người vui tính nhất xóm, không lần nào đi qua nhà bác Lê mà không bảo:
- Bác phải nhớ thỉnh thoảng đếm lại con không quên mất.
Bác Lê bao giờ cũng trả lời một câu:
- Mất bớt đi cho nó đỡ tội!
Nhưng mọi người biết bác Lê quí con lắm. Tuy bác hết sức công bằng, người ta cũng thấy bác yêu thằng Hi hơn cả, nó là con thứ chín, và ốm yếu xanh xao nhất nhà. Bác thường bế nó lên lòng, hôn hít, rồi khoe với hàng xóm: nội cả nhà chỉ có nó là giống thầy cháu như đúc. Rồi bác ôm con ngồi lặng yên một lát, như để nhớ lại chuyện gì đã lâu lắm.
(Thạch Lam – Trích Nhà mẹ Lê - Truyện ngắn Thạch Lam – NXB Hội Nhà văn 2008)
Lựa chọn đáp án đúng :
Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại nào?
A.Truyện vừa
B.Truyện ngắn
C.Tiểu thuyết
D.Truyện dài
Câu 2: Một số phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn văn bản là:
A.Tự sự, miêu tả
B.Tự sự, nghị luận
C.Miêu tả, biểu cảm
D.Nghị luận, miêu tả
Câu 3: Truyện được kể theo ngôi
A.Thứ nhất
B.Thứ hai
C.Thứ ba
D.Không có ngôi kể
Câu 4: Đề tài của văn bản là gì?
A.Số phận người nông dẫn
B.Hủ tục xã hội
C.Tình yêu thiên nhiên
D.Cuộc sống của người trí thức
Câu 5: Đoạn văn bản “ Người phố chợ vẫn thường nói đùa bác Lê về đàn con đông đúc ấy. Bác Đối, kéo xe, người vui tính nhất xóm, không lần nào đi qua nhà bác Lê mà không bảo: “Bác phải nhớ thỉnh thoảng đếm lại con không quên mất.”” cho anh/chị hiểu gì về những con người lao động phố chợ:
A.Họ thích buôn chuyện và có nhiều thời gian rảnh rỗi.
B.Họ có cuộc sống nghèo khổ, đói rách.
C.Họ sống lạc quan, quan tâm tới những người xung quanh.
D.Họ sống chật chội, chen chúc ở phố chợ.
Câu 6: Từ “gia truyền” được hiểu là
A.Truyền nhiều đời trong một nhà/một họ.
B.Truyền từ nhà này sang nhà kia.
C. Lưu truyền trong một gia đình nhất định.
D. Bí quyết được truyền qua nhiều đời.
Câu 7: Ý nào không nói lên đặc sắc về nghệ thuật của đoạn văn bản trên?
A. Truyện không có cốt truyện
B. Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, giàu chất thơ.
C. Có những hình ảnh so sánh độc đáo
D. Sử dụng nghệ thuật biếm họa, khoa trương
Trả lời câu hỏi/ thực hiện các yêu cầu:
Câu 8: Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu văn sau: “Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét như thịt con trâu chết”.
Câu 9: Cảm nhận về nhân vật bác Lê trong đoạn văn bản (trình bày bằng một đoạn văn ngắn khoảng 5-6 câu).
Câu 10: Thông điệp sâu sắc nhất anh/chị rút ra được từ đoạn văn trên là gì? Vì sao?
II. VIẾT (4 điểm)
Viết một bài luận (khoảng 500 chữ) phân tích đánh giá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Thời gian (Văn Cao)
Thời gian qua kẽ tay
Làm khô những chiếc lá
Kỷ niệm trong tôi
Rơi
như tiếng sỏi
trong lòng giếng cạn
Riêng những câu thơ
còn xanh
Riêng những bài hát
còn xanh
Và đôi mắt em
như hai giếng nước
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
B |
A |
C |
A |
C |
A |
D |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Văn bản trên thuộc thể loại nào? A. Truyện vừa B. Truyện ngắn C. Tiểu thuyết D. Truyện dài |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định thể loại.
Lời giải chi tiết:
Văn bản trên thuộc thể loại: Truyện ngắn
→ Đáp án B
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Một số phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn văn bản là: A.Tự sự, miêu tả B.Tự sự, nghị luận C.Miêu tả, biểu cảm D.Nghị luận, miêu tả |
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về phương thức biểu đạt để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Một số phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn văn bản là: Tự sự, miêu tả
→ Đáp án A
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Truyện được kể theo ngôi A.Thứ nhất B.Thứ hai C.Thứ ba D.Không có ngôi kể |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Xác định ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Truyện được kể theo ngôi: Thứ ba
→ Đáp án C
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Đề tài của văn bản là gì? A.Số phận người nông dân. B.Hủ tục xã hội C.Tình yêu thiên nhiên D.Cuộc sống của người trí thức |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định đề tài của văn bản.
Lời giải chi tiết:
Đề tài của văn bản là: Số phận người nông dân.
→ Đáp án A
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Đoạn văn bản “ Người phố chợ vẫn thường nói đùa bác Lê về đàn con đông đúc ấy. Bác Đối, kéo xe, người vui tính nhất xóm, không lần nào đi qua nhà bác Lê mà không bảo: “Bác phải nhớ thỉnh thoảng đếm lại con không quên mất.”” cho anh/chị hiểu gì về những con người lao động phố chợ: A.Họ thích buôn chuyện và có nhiều thời gian rảnh rỗi. B.Họ có cuộc sống nghèo khổ, đói rách. C.Họ sống lạc quan, quan tâm tới những người xung quanh. D.Họ sống chật chội, chen chúc ở phố chợ. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Đoạn văn giúp ta hiểu những con người lao động ở phố chợ: Họ sống lạc quan, quan tâm tới những người xung quanh.
→ Đáp án C
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Từ “gia truyền” được hiểu là A.Truyền nhiều đời trong một nhà/một họ. B.Truyền từ nhà này sang nhà kia. C. Lưu truyền trong một gia đình nhất định. D. Bí quyết được truyền qua nhiều đời. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Từ “gia truyền” được hiểu là: Truyền nhiều đời trong một nhà/một họ.
→ Đáp án A
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Ý nào không nói lên đặc sắc về nghệ thuật của đoạn văn bản trên? A. Truyện không có cốt truyện B. Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, giàu chất thơ. C. Có những hình ảnh so sánh độc đáo D. Sử dụng nghệ thuật biếm họa, khoa trương |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Ý không nói lên đặc sắc về nghệ thuật của đoạn văn bản: Sử dụng nghệ thuật biếm họa, khoa trương
→ Đáp án D
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu văn sau: “Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét như thịt con trâu chết”. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
-Biện pháp tu từ: so sánh: da thịt thâm tím vì rét như thịt con trâu chết.
-Tác dụng:
+Tăng sức gợi hình, gợi cảm, tạo lối diễn đạt mới mẻ cho câu văn.
+Khắc họa rõ cuộc sống đói rách cùng cực của gia đình bác Lê. Qua đó, cũng cho thấy sự cảm thương, chia sẻ của nhà văn với cuộc sống của người nông dân.
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Cảm nhận về nhân vật bác Lê trong đoạn văn bản (trình bày bằng một đoạn văn ngắn khoảng 5-6 câu). |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- Yêu cầu về hình thức: viết thành đoạn văn hoàn chỉnh (không xuống dòng, đảm bảo đủ số câu).
- Yêu cầu về nội dung:
HS có thể trình bày theo cách cảm nhận riêng. Nên hướng vào một số ý chính sau sau:
Một người mẹ nghèo, đông con, cả đời vất vả, lam lũ, khổ cực.
Một người mẹ yêu thương, chăm sóc, hết lòng vì con cái.
Hình ảnh tiêu biểu cho số phận của người nông dân lao động nghèo khổ
Câu 10: (1.0 diểm)
|
Thông điệp sâu sắc nhất anh/chị rút ra được từ đoạn văn trên là gì? Vì sao? |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
-Thí sinh trình bày được 01 thông điệp sâu sắc nhất theo quan điểm cá nhân,
-Thí sinh lí giải hợp lí, thuyết phục.
Một số thông điệp gợi ý:
+Cần biết sống lạc quan, yêu thương, chia sẻ
+Cần biết yêu thương, quý trọng gia đình.
+Sống là không ngừng nỗ lực, cố gắng
II. VIẾT (4đ)
|
Viết một bài luận (khoảng 500 chữ) phân tích đánh giá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Thời gian (Văn Cao) Thời gian qua kẽ tay Kỷ niệm trong tôi Rơi
|
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài Nghị luận phân tích “ Tình cảm của tác giả đối với làng quê và mảnh đất quê hương” |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
* Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tácphẩm * Đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm: Về nội dung - Thông điệp Văn Cao muôn gửi tới chúng ta qua bài thơ Thời gian + Thời gian không vô hình, thời gian là khôi vật chất có thể cân, đong, đo đếm được, nó trôi chảy nhẹ nhàng lặng lẽ, ta có thể cảm nhận được qua “kẽ tay”. + Thời gian vô cùng nghiệt ngã, thời gian có thể làm biến đổi tất cả, làm cho cuộc đời và kỉ niệm của con người tàn tạ, thậm chí bị xóa nhòa, đi vào cát bụi, rơi vào quên lãng: Thời gian qua kẽ tay / làm khô những chiếc lá / Ki niệm trong tôi / Rơi / như tiếng sỏi / trong lòng giểng cạn. + Riêng thơ, nhạc và tình yêu (cái đẹp của cuộc sống) thì bất chấp thời gian, vượt qua quy luật của thời gian, ở lại với đời “xanh” mãi mãi: Riêng những câu thơ / còn xanh / Riêng những bài hát / còn xanh / Và đôi mắt em / như hai giếng nước. Bài thơ ngắn, hình tượng ẩn dụ có sức khái quát cao thể hiện quan niệm sâu sắc về thời gian của nghệ sĩ Văn Cao: Thời gian làm khô chiếc lá đời người nhưng lại làm tươi xanh chiếc lá thơ, chiếc lá nhạc, chiếc lá tình yêu. -> Bài thơ giúp ta hiểu hơn về quan niệm thời gian, đồng thời hiểu thêm giá trị của Cái Đẹp qua những vần thơ chan chứa tình yêu cuộc sông của người nghệ sĩ đa tài. - Những suy cảm của bản thân về thời gian và cuộc sống: + Con người sông trong thời gian, sông cùng thời gian, không có cuộc sống nào không có quan hệ với thời gian. Có người chạy đua với thời gian, sống tích cực chói chang, có người bị thời gian bỏ mặc, sống mỏi mòn vô nghĩa (dẫn chứng). + Tốc độ dòng thời gian trôi đi trong không gian sống của chúng ta là luôn như nhau, nhưng mỗi người, mỗi lúc lại có các cảm giác và cảm nhận khác nhau là do tâm thế và tinh thần của mỗi người, do những hoàn cảnh và tác động khác nhau từ môi trường sống. Về nghệ thuật: - Kết cấu độc đáo: Số câu trong mỗi đoạn không ổn định, đoạn đầu bốn câu và đoạn cuối ba câu. Số câu trong mỗi đoạn theo hướng giảm dần. Đó là cái lạ của bài thơ, xét về cấu trúc đoạn và văn bản. - Câu thơ độc đáo: vắt dòng, cũng có thể hiểu 12 dòng ấy chỉ có một câu vì toàn bộ bài thơ không có dấu chấm cuối câu. Đó là một cấu trúc mơ hồ khó hiểu. phần lớn là câu đặc biệt hoặc không xác định được thành phần nòng cốt của câu. Có câu theo cấu trúc đặc biệt như: “ Rơi”. Có câu không xác định được thành phần nòng cốt: “Làm khô những chiếc lá”. - Nhịp điệu của câu thơ cũng lạ thường và rất linh hoạt. Chẳng hạn như : “Rơi / như / tiếng sỏi / trong lòng giếng cạn.” Có thể ngắt nhịp cho câu này là 2/2/4...... -> Thời gian trôi qua rất nhanh và không bao giờ dừng lại, thời gian từ từ lặng lẽ tàn phá dần từng phần cuộc đời của con người. Chỉ có văn học nghệ thuật và những kỉ niệm đẹp về tình yêu là có sức sống lâu dài và không bị thời gian hủy hoại. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 5
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 11; Năm học 2022 - 2023
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. Đọc hiểu (6,0 điểm)
Đọc văn bản sau :
(1) Sau Tết Nguyên Đán một tháng là thời gian thích nhất ở rừng. Cây cối đều nhú lộc non. Rừng xanh ngắt vầ ẩm ướt. Thiên nhiên vừa trang trọng vừa tình cảm. Điều ấy một phần là do mưa xuân
(2) Khoảng thời gian này mà đi trong rừng, chân giẫm lên lớp lá ải mục, hít thở không khí trong lọc, thỉnh thoảng lại được thót mình bởi một giọt nước trên cây rỏ xuống vai trần thì thật tuyệt thú. Tất cả những trò nhố nhăng đê tiện vấp phải hàng ngày hoàn toàn có thể rũ sạch bởi một cú nhảy của con sóc nhỏ trên cành dâu da.
(3) Chính dịp đó ông Diểu đi săn.
(4) Ý nghĩ đi săn nảy sinh khi thằng con học ở nước ngoài gửi về biếu ông khẩu súng hai nòng. Khẩu súng tuyệt vời, nhẹ bỗng, hệt như một thứ đồ chơi, thật nằm mơ cũng không thấy được. Ở tuổi sáu mươi, đi săn trong rừng vào một ngày xuân kể cũng đáng sống.
…
(5) Ông Diểu thấy buồn tê tái đến tận đáy lòng. Ông nhìn cả hai con khỉ và thấy cay cay sống mũi. Hóa ra ở đời, trách nhiệm đè lên lưng mỗi sinh vật quả thật nặng nề. « Thôi tao phóng sainh cho mày ! » - Ông Diểu ngồi yên một lát rồi bỗng đứng dậy nhổ bãi nước bọt dưới chân mình. Lưỡng lự giây phút rồi ông vội vã bước đi. Hình như chỉ chờ có thế, con khỉ cái vọt ngay ra khỏi chỗ nấp, chạy vội đến con khỉ đực nằm.
(6) ÔngDiểu rẽ sang một lối đi khác. Ông muốn tránh sẽ gặp người. Lối này đầy những bụi gai ngáng đường nhưng hoa tử huyết nhiều không kể xiết. Ông Diểu dừng lại sững sờ. Loài hoa từ huyền cứ ba chục năm mởi nở một lần. Người nào gặp hoa tử huyền sẽ gặp may mắn. Hoa này màu trắng, vị mặn, bé bằng đầu tăm, người ta vẫn gọi hoa này là muối của rừng. Khi rừng kết muối, đấy là điềm báo đất nước thanh bình, mùa màng phong túc.
(Muối của rừng, Nguyễn Huy Thiệp, Tập truyện Tình yêu, tội ác và trừng phạt, NXB Trẻ, 2012)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích:
A. Tự sự
B. Miêu tả
C. Biểu cảm
D. Nghị luận
Câu 2. Trong đoạn (1), tác giả đã sử dụng phép liên kết hình thức nào?
A. Phép nối
B. Phép lặp
C. Phép thế
D. Phép điệp
Câu 3. Ý nghĩ đi săn của ông Diểu nảy sinh khi nào?
A. Khi cây cối đều nhú lộc non
B. Khoảng thời gian rừng xanh ngắt và ẩm ướt
C. Khi ông sáu mươi tuổi
D. Khi thằng con học ở nước ngoài gửi về biếu ông khẩu súng hai nòng
Câu 4. Tính từ “tuyệt thú” là sự kết hợp của 2 từ nào?
A. Tuyệt vời, thú vị.
B. Tuyệt bích, hứng thú.
C. Tuyệt vời, thú vui.
D. Tuyệt vời, hứng thú
Câu 5. Xét theo cấu trúc ngữ pháp, câu văn sau thuộc loại câu gì?
Khoảng thời gian này mà đi trong rừng, chân giẫm lên lớp lá ải mục, hít thở không khí trong lọc, thỉnh thoảng lại được thót mình bởi một giọt nước trên cây rỏ xuống vai trần thì thật tuyệt thú.
A. Câu ghép
B. Câu đơn
C. Câu miêu tả
D. Câu trần thuật
Câu 6.Tại sao tác giả lại cho rằng: Tất cả những trò nhố nhăng đê tiện vấp phải hàng ngày hoàn toàn có thể rũ sạch bởi một cú nhảy của con sóc nhỏ trên cành dâu da. ?
A. Tác giả muốn nhấn mạnh con sóc có thể xua đi những suy nghĩ xấu xa của con người
B. Tác giả muốn khẳng định sự thú vị của việc đi vào rừng ngắm cảnh thiên nhiên
C. Tác giả muốn nhấn mạnh việc ngắm nhìn, hòa mình vào thiên nhiên có thể thanh lọc tâm hồn con người
D. Cả ba ý trên
Câu 7. Xác định các phép liên kết hình thức được sử dụng trong những câu văn sau: Loài hoa từ huyền cứ ba chục năm mởi nở một lần. Người nào gặp hoa tử huyền sẽ gặp may mắn. Hoa này màu trắng, vị mặn, bé bằng đầu tăm, người ta vẫn gọi hoa này là muối của rừng?
A. Phép nối
B. Phép lặp
C. Phép thế
D. Cả B và C
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. Theo anh (chị), tại sao ông Diểu lại phóng sinh cho con khỉ đực?
Câu 9. Hình ảnh hoa tử huyền có ý nghĩa biểu tượng gì?
Câu 10. Từ văn bản, anh(chị) hãy nêu quan điểm của bản thân về cách con người nên ứng xử với thiên nhiên.
II. VIẾT: (4,0 điểm)
“Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” – Hoài Thanh. Bằng sự hiểu biết của em, hãy phân tích bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu để làm sáng tỏ ý kiến trên.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
A |
C |
D |
A |
B |
C |
D |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích: A. Tự sự B. Miêu tả C. Biểu cảm D. Nghị luận |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định phương thức biểu đạt chính
Lời giải chi tiết:
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: Tự sự
→ Đáp án A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Trong đoạn (1), tác giả đã sử dụng phép liên kết hình thức nào? A. Phép nối B. Phép lặp C. Phép thế D. Phép điệp |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn (1)
Xác định phép liên kết
Lời giải chi tiết:
Trong đoạn (1), tác giả đã sử dụng phép thế
→ Đáp án C
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Ý nghĩ đi săn của ông Diểu nảy sinh khi nào? A. Khi cây cối đều nhú lộc non B. Khoảng thời gian rừng xanh ngắt và ẩm ướt C. Khi ông sáu mươi tuổi D. Khi thằng con học ở nước ngoài gửi về biếu ông khẩu súng hai nòng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Chú ý đoạn (4)
Lời giải chi tiết:
Ý nghĩ đi săn của ông Diểu nảy sinh khi: Thằng con học ở nước ngoài gửi về biếu ông khẩu súng hai nòng
→ Đáp án D
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Tính từ “tuyệt thú” là sự kết hợp của 2 từ nào? A. Tuyệt vời, thú vị. B. Tuyệt bích, hứng thú. C. Tuyệt vời, thú vui. D. Tuyệt vời, hứng thú |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Tính từ “tuyệt thú” là sự kết hợp của 2 từ: Tuyệt vời, thú vị.
→ Đáp án A
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Xét theo cấu trúc ngữ pháp, câu văn sau thuộc loại câu gì? Khoảng thời gian này mà đi trong rừng, chân giẫm lên lớp lá ải mục, hít thở không khí trong lọc, thỉnh thoảng lại được thót mình bởi một giọt nước trên cây rỏ xuống vai trần thì thật tuyệt thú. A. Câu ghép B. Câu đơn C. Câu miêu tả D. Câu trần thuật |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Xét theo cấu trúc ngữ pháp, câu văn trên thuộc loại câu đơn.
→ Đáp án B
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Tại sao tác giả lại cho rằng: Tất cả những trò nhố nhăng đê tiện vấp phải hàng ngày hoàn toàn có thể rũ sạch bởi một cú nhảy của con sóc nhỏ trên cành dâu da. ? A. Tác giả muốn nhấn mạnh con sóc có thể xua đi những suy nghĩ xấu xa của con người B. Tác giả muốn khẳng định sự thú vị của việc đi vào rừng ngắm cảnh thiên nhiên C. Tác giả muốn nhấn mạnh việc ngắm nhìn, hòa mình vào thiên nhiên có thể thanh lọc tâm hồn con người D. Cả ba ý trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Tác giả lại cho rằng: Tất cả những trò nhố nhăng đê tiện vấp phải hàng ngày hoàn toàn có thể rũ sạch bởi một cú nhảy của con sóc nhỏ trên cành dâu da vì: Tác giả muốn nhấn mạnh việc ngắm nhìn, hòa mình vào thiên nhiên có thể thanh lọc tâm hồn con người.
→ Đáp án C
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Xác định các phép liên kết hình thức được sử dụng trong những câu văn sau: Loài hoa từ huyền cứ ba chục năm mởi nở một lần. Người nào gặp hoa tử huyền sẽ gặp may mắn. Hoa này màu trắng, vị mặn, bé bằng đầu tăm, người ta vẫn gọi hoa này là muối của rừng? A. Phép nối B. Phép lặp C. Phép thế D. Cả B và C |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi
Lời giải chi tiết:
Phép liên kết hình thức được sử dụng trong những câu văn trên: Phép thế, phép nối.
→ Đáp án D
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Theo anh (chị), tại sao ông Diểu lại phóng sinh cho con khỉ đực? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Ông Diểu phóng sinh vì nhìn thấy con khỉ đực này còn có gia đình, có trách nhiệm với gia đình của khỉ đực; vì ông nhận ra hành động đi săn sẽ giết chết con khỉ đực, phá hoại một gia đình.
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Hình ảnh hoa tử huyền có ý nghĩa biểu tượng gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Hình ảnh hoa tử huyền gợi đến nhiều ý nghĩa:
- Kết tinh vẻ đẹp của núi rừng thiên nhiên.
- Hình ảnh mang tính chất đánh giá và dự báo
Câu 10: (1.0 diểm)
|
Từ văn bản, anh(chị) hãy nêu quan điểm của bản thân về cách con người nên ứng xử với thiên nhiên. |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS nêu quan điểm của bản thân
- Gợi ý:
- Bản thân mỗi cá nhân có trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ thiên nhiên.
- Học sinh chỉ ra được những hành động cụ thể, thể hiện được trách nhiệm của mình với thiên nhiên như không chặt phá rừng, trồng cây xanh, bảo vệ môi trường...
II. VIẾT (4đ)
|
“Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” – Hoài Thanh. Bằng sự hiểu biết của em, hãy phân tích bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu để làm sáng tỏ ý kiến trên. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài Nghị luận phân tích “ Tình cảm của tác giả đối với làng quê và mảnh đất quê hương” |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm: + Xuân Diệu (1916 - 1985) là một trong những nhà thơ lớn của Việt Nam, được mệnh danh là "ông hoàng thơ tình" nổi tiếng với nhiều tác phẩm đặc sắc viết về tình yêu. + "Vội vàng" là một trong những tác phẩm đặc sắc và nổi tiếng của Xuân Diệu, là tiếng nói con tim của một kẻ đang say mê trong tình yêu với những cung bậc cảm xúc khác nhau. - Dẫn dắt vấn đề và trích dẫn nhận định của Hoài Thanh: "Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới". |
|
Thân bài |
2,5 |
Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Dưới đây là một vài gợi ý: a) Giải thích ý kiến nhận định - Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất” do thơ ông tiếp thu có sáng tạo luồng tư tưởng, văn học văn hóa phương Tây, nhất là văn học lãng mạn và tượng trưng của thơ ca Pháp. - Thơ ông có phong cách nghệ thuật hiện đại rõ nét nhất trong các nhà thơ mới. b) Phân tích bài thơ Vội vàng - Luận điểm 1: Tình yêu thiên nhiên tha thiết và niềm say mê của tác giả + Điệp từ "tôi muốn" nhấn mạnh những ước muốn tưởng chừng như vô lí, viển vông của Xuân Diệu: "tắt nắng đi", "buộc gió lại". → Xuân Diệu muốn cưỡng lại quy luật của tự nhiên, những vận động của đất trời để lưu giữ những vẻ đẹp tự nhiên của đất trời bên mình một cách trọn vẹn, mãi mãi. + “Thiên đường trên mặt đất”: bức tranh thiên nhiên + “Ong bướm tuần tháng mật”, “hoa của đồng nội xanh rì”, “yến anh khúc tình si”, “ánh sáng chớp hàng mi” → Hình ảnh thơ tươi vui, trẻ trung, có đôi có cặp, tất cả như đang tràn trề ra + Điệp từ “này đây” bộc lộ niềm vui phơi phới, hân hoan của tác giả khi được đắm say trong khung cảnh tuyệt vời. → Một bức tranh thiên nhiên đầy ánh sáng mới mẻ, tinh khôi, đầy âm thanh rộn rã, đầy màu sắc, hương thơm và đầy tình tứ. + "Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần". Trong bức tranh ấy, tất cả vạn vật dường như đều căng tràn sự sống và đanh chếnh choáng trong men say của luyến ái, của tình yêu. → Niềm vui sướng, hân hoan, vội vàng muốn tận hưởng “thiên đường trên mặt đất” của cái tôi trữ tình. - Luận điểm 2: Nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc đời. + Điệp từ “nghĩa là” + "Đương tới / đương qua; còn non / sẽ già": cú pháp đối lập diễn tả sự trôi đi của thời gian và tuổi trẻ. → Xuân Diệu có một quan niệm mới mẻ về thời gian, về tuổi trẻ. Quan niệm về thời gian, tuổi trẻ: thời gian, tuổi trẻ của mỗi người là một quãng thời gian hữu hạn, chật hẹp, nó sẽ trôi chảy theo nhịp tuyến tính và một đi không trở lại. + Điệp từ: "phải chăng" + Hình ảnh thơ đối lập: “lòng tôi rộng” – “lượng trời chật”, “xuân tuần hoàn” – “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”, “còn trời đất” – “chẳng còn tôi mãi” → Tâm trạng nuối tiếc, ngậm ngùi trước sự chảy trôi của thời gian, của tuổi trẻ. - Luận điểm 3: Khát vọng sống cuồng nhiệt của tác giả + Điệp từ “ta muốn” thể hiện nỗi khát khao cháy bỏng, muốn sống, muốn yêu, muốn đi ngược với tự nhiên và tạo hóa để đoạt lấy tuổi trẻ. + “ôm” – “riết” – “say” – “thâu” – “cắn” → động từ mạnh theo cấp độ tăng dần. Diễn tả một cách trọn vẹn và sâu sắc lời giục giã sống vội vàng, sống sôi nổi và luôn trân quý thời gian, tuổi trẻ của của tác giả. → Biểu hiện của một cái tôi khát khao sống, khát khao tận hưởng những vẻ đẹp giữa chốn trần gian. + "Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi" → Khát khao đã không còn là khát khao nữa mà là muốn chiếm đoạt, muốn giữ lấy cho riêng mình mùa xuân của tuổi trẻ. c) Chứng minh nhận định: Về nội dung tư tưởng: - Thơ ông là tiếng nói cá nhân tự ý thức. Cái tôi trong thơ ông rất cô đơn, luôn ám ảnh bởi thời gian trôi chảy nên khao khát giao cảm với đời. Một trong những cách giao cảm với đời đó là tình yêu, nên đặc sản của thơ Xuân Diệu là tình yêu, bởi tình yêu là một nhịp cầu giao cảm tuyệt vời nhất. Và một cách giao cảm khác đó là cái tôi của ông tương ứng, vang hưởng cùng với sự tương ứng, vang hưởng cùng với mọi hiện tượng sự vật trong trời đất và con người trong cuộc sống. - Tình yêu theo quan niệm của Xuân Diệu là sự giao hòa, giao cảm giữa thể sáng và linh hồn của hai cá thể. Vì thế vũ trụ trong thơ ông là vũ trụ xuân và tình. Thơ ông không lơ lửng ở trên không mà đặt nền móng rất vững, rất sâu trên mảnh đất trần gian. Ông cũng thể hiện trong thơ tư tưởng nhân sinh mới mẻ, tạo một bước phát triển hơn về tư tưởng nhân văn trong văn học dân tộc. Đó là ý nghĩa và giá trị một đời người không ở chỗ sống dài hay sống ngắn mà ở chất lượng sống mà chất lượng sống cao nhất là tuổi trẻ và tình yêu là phẩm chất, năng lượng của tuổi trẻ. Về nghệ thuật: - Với ông, làm thơ là thả một chiếc lá thơ vào dòng thời gian để bất tử hóa chính mình, vì thơ là năng lực siêu việt thời gian. Thơ là sản xuất cá thể với cảm xúc mới nên “ý văn xô đẩy, khuôn khổ câu văn phải lung lay” (Hoài Thanh). - Thiên nhiên trong thơ ông bao giờ cũng được cảm nhận bằng ánh mắt phong tình ái ân. - Thiên nhiên được tái tạo bằng bút pháp mĩ nhân hóa. - Ông hoạt động cả 5 giác quan để khám phá và miêu tả sự vật bằng tất cả những biến thái tinh vi nhất. - Cách đặt câu, dùng câu trong thơ ông rất mới, rất Tây |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ. - Khẳng định sự đúng đắn của nhận định, bày tỏ cảm xúc cá nhân. |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 6
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi kế tiếp
MỘT CƠN GIẬN
(Thạch Lam)
[…] Cũng một buổi chiều mùa đông như hôm nay, tôi ở tòa báo ra về, trong lòng chán nản và buồn bực. Có những ngày mà tự nhiên không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu, và hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì. Tôi đang ở vào một ngày như thế mà chiều trời hôm ấy lại ảm đạm và rét mướt càng khiến cho cảm giác đó rõ rệt hơn.
Tôi đi vài bước trên con đường phố vắng người. Một cái xe tay dằng xa đi lại, anh phu xe co ro vì rét, hai tay giấu dưới manh áo tơi tàn. Theo lệ như mọi khi, tôi mặc cả:
- Xe đi không? Bốn xu về gần nhà bò Yên Phụ.
- Thầy cho sáu xu.
- Không, bốn xu là đúng giá rồi. [...]
Tôi lại càng ghét và quay lại gắt:
- Có đi hay không thì thôi! Đừng có theo sau người ta mà lải nhải.
Thấy tôi gắt, người phu xe đứng lại, không dám theo nữa. Nhưng để tôi đi một quãng xa, anh ta ới gọi:
- Lại đây đi mà.
Rồi anh ta hạ càng xe xuống, cứ đứng yên chỗ ấy đợi chứ không kéo lại phía tôi. Cái cử chỉ ấy làm tôi sinh ghét thêm, đã toan không đi, nhưng lúc ấy không có cái xe nào khác. Tôi giận dữ bước mạnh lên xe, vừa mắng:
- Anh thật là lắm chuyện, không đi ngay lại còn vẽ.
Anh xe cãi lại:
- Từ đây về đấy thầy cho được bốn đồng xu thật rẻ quá!
- Thì ai bảo anh đi? Không có tôi đã gọi xe khác.
Người phu xe khẽ thở dài, yên lặng nhấc xe lên. Lúc bấy giờ tôi mới ngả mình ra phía sau, nhưng thấy cái đệm cứng như gỗ đập vào lưng, tôi cúi xuống bên nhìn cái tay xe.... Sự tồi tàn của cái xe làm tôi càng ghét anh xe nữa.
- Xe khổ thế này mà anh lại còn đòi cao giá.
- Xe thế mà thầy chê thì còn thế nào nữa!
Sau cùng, giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt:
- Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa.
Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ thấy tức người xe ấy đến cực điểm, vì hắn dám cãi lại tôi mà không sợ.
Xe đi khỏi nhà máy nước thì gặp một người đội xếp tây đi xe đạp lại, theo sau một người đội xếp ta. Tôi nhận thấy anh xe kéo tôi có ý luống cuống và sợ hãi. Có lẽ vì thế mà người cảnh sát để ý, đi giáp vào cái xe kéo để xem dấu hiệu.
- Ê! Đứng lại!
Người kéo xe dừng chân... Anh ta quay lại tôi hớt hải van xin:
- Lạy thầy... thầy nói giúp con... thầy làm ơn...
Dưới ánh đèn tôi thấy mặt anh xe tái mét. Những vết rạn in sâu xuống trên mặt già nua hốc hác, chân tay người khốn nạn ấy run bật lên và tôi thấy cái rung động chuyển cả vào chiếc thân xe. Người cảnh sát tây đến, nói bằng tiếng ta hơi sõi:
- Mày chết nhé! Mày sẽ bị phạt!
Người phu xe ấp úng nói thì ông ta khoát tay bảo im, rồi quay lại tôi hỏi, lần này bằng tiếng Pháp.
- Người này kéo ông từ trong phố ra hay ông đi khứ hồi?
Tôi liếc mắt nhìn anh kéo xe. Tôi thấy hai mắt anh ta long lanh nhìn tôi, như khẩn cầu van xin yên lặng. Tôi biết lời nói của tôi sẽ làm anh ta bị bắt hay không. Tôi được biết rằng nếu người khách nói là đi khứ hồi từ ngoại ô, thì người xe không việc gì. Nhưng lúc ấy, lời van xin của anh xe kia không làm cho tôi động lòng, mà lại làm cho tôi ghét anh thêm. Tôi trả lời người đội xếp:
- Tôi đi từ phố hàng Bún.
- Vậy phiền ông xuống xe.
Rồi anh ta nhìn anh phu xe, cười một cách tinh quái:
- Allez! Đi về bót!
Khi anh phu xe run sợ và hai người cảnh sát đã khuất đầu phố, tôi mới quay đi thong thả trên bờ hè. Cơn giận của tôi đã hết rồi. Sự hối hận dần thấm thía vào lòng tôi, tôi thấy một cái chán nản bực tức rung động trong người.
Tôi rùng mình nghĩ đến số phận của anh xe khốn nạn. Ba đồng bạc phạt! Anh ta phải vay cai xe để nộp phạt; nhưng ba đồng bạc nợ ấy, bao giờ anh ta trả xong, sau những ngày nhịn đói, bị cai xe hành hạ, đánh đập vì thù hằn?
Những ngày hôm sau thực là những ngày khổ cho tôi. Lòng hối hận không để tôi yên. Hình như có một cái gì nặng nề đè nén trên ngực làm cho tôi khó thở, và lúc nào hình ảnh anh phu xe cũng hiển hiện ra trước mắt. Tôi nhất định đem tiền đến cho người xe kia để chuộc tội lỗi của mình...
Lần ấy là lần đầu tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở như thế. Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới như những người trong một cơn mê. Người phu xe Dư ở trong ấy. Tôi cúi mình bước vào, chỉ thấy tối như bưng lấy mắt và thấy hơi ẩm lạnh thấm vào tận trong mình. Có tiếng người đàn bà khẽ hỏi:
- Bẩm thầy muốn gì?
Khi mắt mắt đã quen tối, tôi nhận thấy người đàn bà vừa hỏi, một bà già ở mép một chiếc giường tre mục nát kê ở sát tường. Sau lưng bà này, một người đàn bà nữa ngồi ôm trong lòng một vật gì hơi động đậy. Cả hai cùng ngước mắt lên nhìn tôi một cách ngạc nhiên và đầu họ chạm vào mái nhà thấp, đây những mảng giẻ rách nát vắt trên xà.
- Bác Dư có nhà không?
- Bẩm, chú nó đi về quê vắng từ hôm nọ.
Một vẻ sợ hãi thoáng qua trên mặt đủ tỏ cho tôi biết họ không nói thật, tôi giảng giải:
- Không, cụ cứ nói thật cho tôi biết. Tôi đến để giúp bác ta chứ không có ý gì khác.
Bà cụ nhìn tôi nghĩ ngợi một lát rồi nói:
- Thế thầy đã biết việc chú nó bị bắt xe hôm nọ?
Tôi gật đầu ra hiệu cho bà cụ cứ nói:
- Hôm ấy cai nó phải đem tiền lên nộp phạt để chuộc xe về. Chú nó đã xin khất với cai để rồi trả dân số tiền đó. Nhưng nó nhất định không nghe, bắt phải trả một nửa ngay. Khốn nạn, thì lấy đâu ra mà trả. Thế là bị nó lột quần áo đánh một trận thừa sống thiếu chết thầy ạ. Khi về đây lê đi không được nữa. Thế mà nó còn bắt mai phải trả ngay.
- Thế bây giờ bác ta đâu?
Bà cụ trả lời:
- Đi ngay từ hôm ấy, mà không biết đi đâu. Đã ba hôm nay chúng tôi dò mà không thấy. Chắc là sợ cai không dám về nữa, dù có về mà không có tiền cũng chết với nó. Thật cũng là cái vạ, nghe đâu chú nó nói hôm ấy tại người khách đi xe không biết nói với người đội xếp thế nào mới bị bắt, chứ không cũng chẳng việc gì.
Bà cụ chép miệng, chỉ người đàn bà ngồi sau:
- Tội cho vợ con chú đây, ốm đã mấy ngày hôm nay không có thuốc. Đứa cháu không biết có qua khỏi được không?
Tôi đứng lại gần xem. Trên cánh tay người mẹ, chỉ còn là một dúm thịt con đã nhăn nheo: đứa bé há hốc miệng thở ra, mặt xám nhợt. Người mẹ thỉnh thoảng lấy cái lông gà dúng vào chén mật ong để bên cạnh, phết lên lưỡi của đứa bé.
- Cháu nó sài đã hơn một tháng nay. Hôm nọ đã đỡ. Mấy hôm nay vì không có tiền mua thuốc lại tăng. Ông lang bảo cháu khó qua khỏi được.
Người mẹ nói xong nấc lên một tiếng rồi nức nở khóc. Bà cụ già lê nhích lại gần, cúi xuống khe khẽ kéo lại những cái tã rách như xơ mướp.
Cái cảnh đau thương ấy làm tôi rơm rớm nước mắt. Một cảm giác nghẹn ngào đưa lên chẹn lấy cổ. Tôi lấy tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bước ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực [...].
Ra đến bên đường, tôi nghe thấy trong căn nhà lụp xụp đưa ra tiếng khóc của hai người đàn bà... Đứa bé con đã chết.
(Nguồn: Tuyển Tập Thạch Lam. XXB văn học, 2018)
Thạch Lam (1910 -1942), tên thật là Nguyễn Tường Lân, là một nhà văn Việt Nam thuộc nhóm Tự Lực văn đoàn. Ông là em ruột của hai nhà văn khác cũng trong nhóm Tự Lực văn đoàn là Nhất Linh và Hoàng Đạo. Ngoài bút danh Thạch Lam, ông còn có các bút danh là Việt Sinh, Thiện Sỹ.
Câu hỏi
Câu 1. Cảm hứng chủ đạo của văn bản Một cơn giận – Thạch Lam là gì? (0,5đ)
Câu 2. Vì sao người kéo xe liên tục bị nhân vật tôi mắng mỏ thậm tệ? (0,5đ)
Câu 3. Chi tiết nào thể hiện rõ sự nhẫn tâm của nhân vật “tôi”? (0,5đ)
Câu 4. Suy nghĩ của nhân vật “tôi” ở dòng sau diễn ra vào thời điểm nào? Nó có tác dụng gì trong khắc họa nhân vật? (0,5đ)
Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá.
Câu 5. Văn bản đã gửi đến người đọc tư tưởng, thông điệp nào? Hình thức nghệ thuật nào của văn bản chuyển tải điều đó (1đ)
Câu 6. Em rút được kinh nghiệm gì trong việc giải tỏa cơn giận của bản thân? Theo em, nhân vật “tôi” cần làm gì để giảm tội lỗi của mình? (1đ)
II. VIẾT (6 điểm)
Chọn vấn đề em cho là cần thiết nhất đối với thanh niên hiện nay trong những ô chữ sau và viết bài luận về vấn đề đó (Dùng yếu tố thuyết minh hoặc miêu tả, tự sự để hỗ trợ nghị luận. Bài dài từ 1,5 – 2 trang)

-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 6
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1. Cảm hứng chủ đạo của văn bản Một cơn giận – Thạch Lam? |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và các đáp án
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Cảm hứng chủ đạo của văn bản Một cơn giận – Thạch Lam: Phê phán sự nhẫn tâm; Xót thương kiếp nghèo khổ
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu 2. Vì sao người kéo xe liên tục bị nhân vật tôi mắng mỏ thậm tệ? |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Người kéo xe liên tục bị nhân vật tôi mắng mỏ thậm tệ vì: Khách hàng bực bội trong người, mắng lây sang người khác
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu 3. Chi tiết nào sau thể hiện rõ sự nhẫn tâm của nhân vật “tôi”? |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Đọc kĩ các đáp án
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Chi tiết thể hiện rõ sự nhẫn tâm của nhân vật “tôi”: Thấy người kéo xe van lơn...ghét thêm...trả lời: tôi đi từ Hàng Bún
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu 4. Suy nghĩ của nhân vật “tôi” ở dòng sau diễn ra vào thời điểm nào? Nó có tác dụng gì trong khắc họa nhân vật? Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. |
Phương pháp:
Đọc kĩ câu văn và đối chiếu vào văn bản phía trên
Phân tích tác dụng
Lời giải chi tiết:
Suy nghĩ của nhân vật “tôi” ở dòng trên diễn ra vào thời điểm: Trước khi người kéo xe bị đội sếp tây phạt
Tác dụng: thể hiện sự nhẫn tâm của “tôi”
Câu 5 (1.0 điểm)
|
Câu 5. Văn bản đã gửi đến người đọc tư tưởng, thông điệp nào? Hình thức nghệ thuật nào của văn bản chuyển tải điều đó (1đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Rút ra tư tưởng và thông điệp từ văn bản
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
- Tư tưởng nhân văn: xót thương người nghèo khổ; phê phán ứng xử nhẫn tâm…
-Thông điệp: thận trọng trong ứng xử; sống rộng lượng nhân ái hơn; không phải lỗi ầm nào cũng có thể sửa chữa được; là con người cần biết chịu trách nhiệm với lỗi lầm của bản thân
- Hình thức nghệ thuật: suy nghĩ của nhân vật “tôi”; lời thoại của 2 người phụ nữ
Câu 6 (1.0 điểm)
|
Câu 6. Em rút được kinh nghiệm gì trong việc giải tỏa cơn giận của bản thân? Theo em, nhân vật “tôi” cần làm gì để giảm tội lỗi của mình? (1đ) |
Phương pháp:
Hs tự đúc rút từ nhận thức của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Vế 1: HS tự làm theo nhận thức cá nhân
- Vế 2: HS đề xuất phương án cụ thể (phương án thể hiện tấm lòng và tầm nhìn)
- Tham khảo gợi ý: Tìm gặp anh phu xe và xin lỗi; Giúp đỡ anh phu xe, vợ anh ta: có kể sinh nhai ổn định hơn
PHẦN II –LÀM VĂN (6 điểm)
Chọn vấn đề em cho là cần thiết nhất đối với thanh niên hiện nay trong những ô chữ sau và viết bài luận về vấn đề đó (Dùng yếu tố thuyết minh hoặc miêu tả, tự sự để hỗ trợ nghị luận. Bài dài từ 1,5 – 2 trang)
Phương pháp giải
Đọc kĩ văn bản và ô chữ bên dưới
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết
|
Chọn vấn đề em cho là cần thiết nhất đối với thanh niên hiện nay trong những ô chữ sau và viết bài luận về vấn đề đó |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Nêu, giới thiệu luận đề - Sự quan tâm của cá nhân, số đông tới luận đề |
|
Thân bài |
2,0 |
- Làm rõ cách hiểu về luận đề, vai trò của luận đề trong đời sống hiện nay - Biểu hiện của vấn đề/ luận đề trong xã hội (tính hai mặt) - Tác động của luận đề đối với mỗi con người và xã hội - Các giải pháp… Lưu ý: Dùng truyện Một cơn giận làm bằng chứng (yếu tố tự sự) |
|
Kết bài |
0,5 |
Nhận thức và hành động của bản thân |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Thể hiện rõ quan điểm cá nhân (đồng tình/phản bác) - Dẫn chứng đa dạng phù hợp với lí lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi kế tiếp
MỜI TRẦU CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG
(Hoàng Hữu Yên)
(1) Bài thơ Mời trầu đi vào lòng người như một câu chuyện tâm tình. Là một bài tứ tuyệt (bốn câu ba vần) rất hay và rất mẫu mực về cấu trúc, về niêm luật và
vần điệu, có thể so sánh với bất cứ bài thơ luật Đường đặc sắc nào bằng chữ Hán. Thế mà đọc thơ chúng ta không có cảm tưởng đó là một thể thơ nhập nội, bởi lẽ “Bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương đã Việt hóa đến kì tài về cả hai mặt nội dung diễn đạt và hình thức biểu hiện.
(2) Câu chuyện chẳng có gì cao siêu mà hết sức thông thường gắn với phong tục tập quán về giao tiếp của người Việt : tục mời trầu “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Dù khách quen hay khách lạ, khách thường hay khách sang, chủ nhân bao giờ cũng có cơi trầu đãi khách. Đã thành tục lệ truyền thống lâu đời thì từ
lá trầu, quả cau cho đến cách bổ cau, têm trầu cũng khá nhiêu khê! Có trầu quế, trầu hối cũng có trầu cay, trầu hội; có cách tâm bình thường cũng có cách têm
cánh phượng. Có cau tươi, cau khô, cau già, cau non, cau quà to, cau quả nhỏ, cau tiễn chũm lòng đào... Miếng trầu phần nào nói lên sự ứng xử đa dạng của con người “Cau non tiễn chũm lòng đào, trầu têm cánh phượng” thường dùng để đãi khách quý.
(3) Xuân Hương cũng đãi khách bằng “mời trầu” nhưng có khác người thường
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,
Này của Xuân Hương đã quệt rồi.
Cơi trầu Xuân Hương đãi khách - chắc chắn là khách quý, có thể là người tình đã ít nhiều qua lại, gắn bó - xem ra đơn bạc quá sao ? (Cau nhỏ, trầu hôi). Không, đừng vội lầm tưởng Xuân Hương đãi bôi, không trọng thị khách quen, vì quen quá hóa nhờn! Cả hai câu toát lên ý nghĩa về cách ứng xử khiêm tốn mà rất chân tình. “Này của Xuân Hương” lời chan chứa cái chân tình hồn hậu vốn có, không chút khoa trương, khách khí. Tất cả những gì thuộc về Xuân Hương đều không tô vẽ hoa lá mà mộc mạc chân chất như thế đó. Cách nói khiêm tổn này vốn là lối ứng xử tế nhị của nhân dân. Ta đã chẳng thấy cô thôn nữ đáng yêu cũng đã từng tự khiêm như vậy sao ? “Thân em như hạt mưa sa ; thân em như quả mít trên cây..” Càng nói khiêm càng chứng tỏ phẩm chất đáng quý của chính bản thân mình.
Tự khiêm khác với tự ti, không năn nỉ cầu xin sự ban ơn nào cả! Xuân Hương tự khiêm vì nàng ý thức được phẩm giá của chính mình.
Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Đừng xanh như lá bạc như vôi!
Chính do có ý thức sâu sắc về mình như thế, Xuân Hương đã không dè dặt ngần ngại giãi bày minh bạch thái độ của mình trước một chuyện hệ trọng chuyện nhân duyên. Có phải duyên nghĩa là nếu đúng là duyên số, duyên ưa phận đẹp như cách nói văn hoa trong Truyện Kiều: “Rằng : trong tác hợp cơ trời”, thì thắm lại tức là duyên đằm thắm gắn bó sắt son, nên đội nên lứa hay nói như dân gian “Có thương thì thương cho chắc; Bằng trục trặc thì trục trặc cho luôn... (Dân ca Nghệ Tĩnh). Phải có bản lĩnh cao mới sòng phẳng đặt vấn đề như vậy. Nó sẽ là cái “kính chiếu yêu” để soi thấu cái quan hệ nhập nhằng “già nhân ngãi non vợ chồng”, cái tâm địa “tiếc rẻ” của đấng mày râu nào đó. Và một khi đường ranh giới đã được phân định trắng và đen không có khả năng nhập nhèm lẫn lộn thì lời răn vừa nhắc nhủ vừa phê phán “Đừng xanh như lá, bạc như vôi” hẳn là hoàn toàn thích đáng.
Cái “màu xanh như lá, không phải là màu xanh của thương nhớ như “Ngàn dâu xanh ngắt một màu “ (Chinh phụ ngâm khúc) và màu trắng là màu vôi tôi bạc thếch. Chỉ có màu mà không có hương sắc. Nhạt nhẽo quá! Liệu còn chút gì là tình nghĩa, là hi vọng?
Bài Mời trầu chưa đưa nữ sĩ vào thế giới của tuyệt vọng - hẳn là nhà thơ hãy còn rất trẻ - Nhưng vẫn ngân lại trong lòng người đọc một nỗi buồn lai láng. Cuộc đời sao lại phũ phàng đến thế!
(4) Chỉ là một tục lệ “mời trầu” phổ thông nhưng với lời thơ bình dị có âm vang, với cấu tứ độc đáo và gợi cảm, bài tứ tuyệt dạo lên một khúc nhạc đầu về số phận không mấy suôn sẻ của người phụ nữ và về bản lĩnh của họ trong cuộc sống.
Đó là tài thơ cũng là phong cách của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
(Giảng văn văn học Việt Nam - Nhiều tác giả. NXB GD 1999)
Câu hỏi
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại/tiểu loại nào? Chỉ ra dấu hiệu nhận biết (0,5đ)
Câu 2. Nhan đề văn bản Mời trầu của Hồ Xuân Hương cung cấp cho người đọc thông tin nào? (0,5đ)
Câu 3. Các luận điểm của văn bản Mời trầu của Hồ Xuân Hương là gì? (0,5đ)
Câu 4. Dòng: “Nhưng vẫn ngân lại trong lòng người đọc một nỗi buồn lai láng” làm sáng tỏ luận điểm nào? (0,5đ)
Câu 5. Xác định ý nghĩa của văn bản, thái độ và tình cảm của người viết dành cho nhà thơ Hồ Xuân Hương (1đ)
Câu 6. Em đồng ý với nhận định: câu thơ “Đừng xanh như lá, bạc như vôi” đã phân định trắng và đen không có khả năng nhập nhèm lẫn lộn vừa là lời răn vừa là lời nhắc nhưng lại vừa phê phán không? (1đ)
II. VIẾT (6 điểm)
Câu 1. Đọc khổ thơ sau và trả lời câu hỏi a,b (2đ)
Em lo âu trước xa tắp đường mình
Trái tim đập những điều không thể nói
Trái tim đập cồn cào cơn đói
Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn
(Tự hát – Xuân Quỳnh)
a. Xác định nhân vật trữ tình và tâm trạng, cảm xúc được thể hiện trong khổ thơ
b. Luận điểm nào ở văn bản đọc hiểu Mời trầu của Hồ Xuân Hương (Hoàng Hữu Yên) đề cập đến nội dung tương tự với nội dung của khổ thơ trên (trong bài Tự Hát – Xuân Quỳnh)? Hãy nói ngắn gọn về điều đó
Câu 2. Từ nội dung viết về tình duyên, tình yêu trong hai ngữ liệu trên, em hãy bày tỏ quan điểm của em về một tình yêu đẹp mà em hằng mơ ước (dài 1,5 đến 2 trang)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 6
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại/tiểu loại nào? Chỉ ra dấu hiệu nhận biết (0,5đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về thể loại
Lời giải chi tiết:
Văn bản trên là văn bản nghị luận văn học
Dấu hiệu: nội dung là đánh giá giá trị tác phẩm thơ
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu 2. Nhan đề văn bản Mời trầu của Hồ Xuân Hương cung cấp cho người đọc thông tin nào? (0,5đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ nhân đề và đọc lướt văn bản
Lời giải chi tiết:
Cung cấp cho người đọc biết về đối tượng, phạm vi luận bàn của văn bản
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu 3. Các luận điểm của văn bản Mời trầu của Hồ Xuân Hương là gì? (0,5đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Các luận điểm chính:
- Đặc sắc về thể loại
- Nội dung gắn với phong tục tập quán về giao tiếp của người Việt
- Xuân Hương đãi khách bằng “mời trầu” khác người thường
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu 4. Dòng: “Nhưng vẫn ngân lại trong lòng người đọc một nỗi buồn lai láng” làm sáng tỏ luận điểm nào? (0,5đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Dòng trên làm sáng tỏ luận điểm: Xuân Hương đãi khách bằng “mời trầu” khác người thường
Câu 5 (1.0 điểm)
|
Câu 5. Xác định ý nghĩa của văn bản, thái độ và tình cảm của người viết dành cho nhà thơ Hồ Xuân Hương (1đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết thể hiện thái độ và tình cảm của người viết
Lời giải chi tiết:
- Bàn đến vấn đề thời đại
+ Xuân Hương đã không dè dặt ngần ngại giãi bày minh bạch thái độ của mình trước một chuyện hệ trọng: chuyện nhân duyên
+ Tình duyên, tình yêu cần phân định trắng và đen không có khả năng nhập nhèm lẫn lộn, câu thơ như lời răn vừa nhắn nhủ vừa phê phán “Đừng xanh như lá bạc như vôi”
- HS tự bày tỏ quan điểm của cá nhân mình
Câu 6 (1.0 điểm)
|
Câu 6. Em đồng ý với nhận định: câu thơ “Đừng xanh như lá, bạc như vôi” đã phân định trắng và đen không có khả năng nhập nhèm lẫn lộn vừa là lời răn vừa là lời nhắc nhưng lại vừa phê phán không? (1đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ nhận định
Nêu quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Ý nghĩa: Khẳng định giá trị của bài thơ Mời trầu từ góc nhìn riêng. Trong lời mời trầu tưởng như bình thường nhưng chứa đựng những ý nghĩa nhân văn, khẳng định tài năng, bản lĩnh của nhà thơ
- Tình cảm của người viết dành cho nhà thơ Hồ Xuân Hương: Trân trọng tài năng, bản lĩnh của nhà thơ
II. VIẾT (6 điểm)
Câu 1. Đọc khổ thơ sau và trả lời câu hỏi a,b (2đ)
Em lo âu trước xa tắp đường mình
Trái tim đập những điều không thể nói
Trái tim đập cồn cào cơn đói
Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn
(Tự hát – Xuân Quỳnh)
a. Xác định nhân vật trữ tình và tâm trạng, cảm xúc được thể hiện trong khổ thơ
b. Luận điểm nào ở văn bản đọc hiểu Mời trầu của Hồ Xuân Hương (Hoàng Hữu Yên) đề cập đến nội dung tương tự với nội dung của khổ thơ trên (trong bài Tự Hát – Xuân Quỳnh)? Hãy nói ngắn gọn về điều đó
Phương pháp giải
Đọc kĩ khổ thơ và yêu cầu đề bài
a. Chú ý những chi tiết thể hiện tâm trạng, cảm xúc của nhà thơ
b. Rút ra các luận điểm của văn bản đọc hiểu
Liên hệ với khổ thơ
Lời giải chi tiết
a. Nhân vật trữ tình: người phụ nữ đang yêu, yêu mãnh liệt; Tâm trạng, cảm xúc: lo âu về tương lai của tình yêu, về sự cô đơn; dự cảm những điều không hay sẽ đến với mình
b. Luận điểm 3 (đoạn cuối):
- Văn bản Mời trầu của Hồ Xuân Hương (cuối luận điểm 3)
+ Cái “màu xanh như lá”, không phải là màu xanh của thương nhớ và màu trắng là màu vôi tôi bạc phếch. Chỉ có màu mà không có hương sắc. Nhạt nhẽo quá! Liệu còn chút gì là tình nghĩa, là hi vọng?
+ Bài “Mời trầu” chưa đưa nữ sĩ vào thế giới của tuyệt vọng – hẳn là nhà thơ hãy còn rất trẻ - Nhưng vẫn ngân lại trong lòng người đọc một nỗi buồn lai láng. Cuộc đời sao lại phũ phàng đến thế!
- Cả 2 ngữ liệu cùng nói đến tâm trạng buồn, dự cảm về tương lại buồn
Câu 2. Từ nội dung viết về tình duyên, tình yêu trong hai ngữ liệu trên, em hãy bày tỏ quan điểm của em về một tình yêu đẹp mà em hằng mơ ước (dài 1,5 đến 2 trang)
Phương pháp giải
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết
|
Từ nội dung viết về tình duyên, tình yêu trong hai ngữ liệu trên, em hãy bày tỏ quan điểm của em về một tình yêu đẹp mà em hằng mơ ước (dài 1,5 đến 2 trang) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Giới thiệu luận đề: Quan điểm về một tình yêu đẹp - Khái quát: Vai trò của luận đề đối với thanh niên |
|
Thân bài |
2,0 |
Gồm 3 luận điểm chính: - Luận điểm 1: Cách hiểu về tình yêu, biểu hiện của tình yêu… - Luận điểm 2: Một số quan niệm về tình yêu; nhận xét khái quát về những quan điểm đó (Lí lẽ, dẫn chứng) - Luận điểm 3: Quan điểm |
|
Kết bài |
0,5 |
Nhận thức và hành động của bản thân |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Thể hiện rõ quan điểm cá nhân (đồng tình/phản bác) - Dẫn chứng đa dạng phù hợp với lí lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 8
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi kế tiếp
THƯƠNG VỢ - BÀI THƠ TRỮ TÌNH, TRÀO PHÚNG ĐẬM SẮC DÂN GIAN CỦA TÚ XƯƠNG
(Nguyễn Quốc Túy)
Thương vợ (Trần Tế Xương)
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
[...]
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
Cha me thói đời ăn ở bạc:
Có chồng hờ hững cũng như không!
Tình cảm thương vợ của Tú Xương trước hết được biểu hiện ở câu thơ đầu tức là ở hai câu để qua việc nhà thơ tạo dựng hình ảnh một bà vợ buôn bán, tần tảo nuôi chồng nuôi con.
Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi dù năm con với một chồng
Hai câu mở đầu của bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật thường là hai câu vào để, thế mà hai câu đề của bài thơ này lại mang sắc thái của hai câu thực”: cho bạn đọc thấy nỗi vất vả, khó nhọc của người vợ. Về thời gian nỗi vất vả đó là “quanh năm”, nghĩa là ngày nào, tháng nào cũng như vậy. Về không gian đó là địa điểm sầm uất Bà Tú cũng không có nốt một cái lều, một gian hàng buôn bán ổn định ở cửa chợ, đình chợ. Bà buôn bán ở nơi có thế đất chênh vênh, hiểm trở.
Cũng ở ngay hai câu thơ đầu, nhà thơ đã nói được một cách cụ thể về công lao to lớn của bà Tú:
Nuôi đủ năm con với một chồng
Chúng ta chú ý các từ ngữ : nuôi đủ, năm, một. Như vậy là bà Tú đã nuôi đủ 6 người. Chúng ta thấy thấp thoáng nụ cười trào lộng hay đúng hơn là nụ cười tự trào của nhà thơ qua cách tính đếm của ông : Năm con với một chồng. Chồng cũng như con phải để vợ nuôi.
Ta biết Tú Xương là nho sĩ, là học trò chữ nho thời xưa đi thị và hỏng mãi, cuối cùng mới đậu được tú tài.
Nụ cười tự trào của Tú Xương, cách đánh giá mình sống nhờ vợ như lũ con : “năm con với một chồng” có cái gì rất gần gũi với câu ca dân gian “Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”. Biết đánh giá đúng thực trạng kém cỏi của mình, biết công lao vợ phải nuôi mình và cả năm đứa con, đó là nét đẹp của nhân cách Tú Xương được biểu hiện qua nụ cười tự trào của ông.
Đây là hai câu “thực” đã khắc họa thành công hình ảnh bà Tú vất vả ở chi tiết nghệ thuật hình ảnh : “lặn lội thân cò”.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
Nó gợi ta nhớ đến câu ca dao :
Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Rồi các câu: “Con cò mà đi ăn đêm”, “cò dò bắt tép”... Cả câu thơ: “Lặn lội thân cò khi quãng vắng” làm hiện lên trong trí tưởng tượng của ta hình ảnh một bà Tú lặn lội đêm hôm buôn bán vật và để nuôi con, nuôi chồng giống như biểu tượng hình ảnh những con cò trong thơ ca dân gian. Biểu tượng đó còn sâu đậm thêm khi ta đọc tiếp câu thơ : “Eo sèo mặt nước buổi đò đồng”, Hình ảnh bà Tú “lặn lội”
gắn với “quãng văng”, gắn với “mặt nước” cũng giống như hình ảnh con có trong thơ ca dân gian gắn với “ăn đêm”, “cò dò bắt tép”, “lặn lội bờ sông”. Tóm lại, ở hai câu thơ này, Tú Xương đã sử dụng một số “tín hiệu nghệ thuật” thơ để nói về nỗi vất vả, khó nhọc của người phụ nữ nông thôn trước đây.
Chính nhờ những phương tiện biểu hiện nghệ thuật của văn học dân gian nên ở một phương diện và mức độ nào đó, hình ảnh của bà Tú ở hai câu thơ này cũng
mang ý nghĩa tượng trưng cho người phụ nữ Việt Nam tần tảo, đảm đang.
Đây là hai câu “luận”, “bàn” về nỗi vất vả khó nhọc, đức tính chịu đựng của bà Tú. Nó cũng là lời thơ biểu hiện tâm trạng của bà Tú :Chịu đựng, không phàn
nàn, oán trách, kêu ca.
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công
Bài thơ không phải là lời “tự bạch” của bản thân bà Tú mà là lời kể, lời tả bà Tú của Tú Xương. Nhưng tác giả Tú Xương sau khi tả, kể, dựng lại hình ảnh của vợ đã chửi ai vậy ? Nhà thơ chửi “thói đời ăn ở bạc”, “có chồng hờ hững cũng như không”, nghĩa là nhà thơ chửi thói đời vì cái thói đời ấy mà bà Tú có chồng cũng như không, chồng chẳng giúp được gì thậm chí bà còn phải nuôi chồng. Cái thời đời ấy là cái tập tục ngày xưa : vợ phải nuôi chồng ăn học. Cái thói đời ấy đã đưa lại cho bà Tú một ông chồng vô tích sự mà bà phải nuôi. Hóa ra Tú Xương tự chửi mình là vô tích sự. Ở đây, một lần nữa ta lại thấy thấp thoáng nụ cười tự trào của Tú Xương và thấy nhân cách cao đẹp của Tú Xương.
Bài thơ Thương vợ là một bài thơ trữ tình - trữ tình trào phúng - một phong cách nghệ thuật độc đáo mang đậm sắc thái dân gian.
Câu hỏi
(Giảng văn văn học Việt Nam - Nhiều tác giả. NXB Giáo Dục 1999)
Câu hỏi
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại/tiểu loại nào? Chỉ ra dấu hiệu nhận biết (0,5đ)
Câu 2. Nhan đề văn bản Thương vợ - Bài thơ trữ tình, trào phúng đậm sắc dân gian của Tú Xương cung cấp cho người đọc thông tin nào? (0,5đ)
Câu 3. Đoạn: “Nụ cười tự trào của Tú Xương, cách đánh giá mình sống nhờ vợ như lũ con: “năm con với một chồng” có cái gì rất gần gũi với câu ca giao dân gian “Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm” thuộc thành phần nào của văn bản, để làm nổi bật điều gì ở Thương vợ?(0,5đ)
Câu 4. Luận điểm 2 (bàn về 2 câu thực của bài thơ) có vai trò như thế nào đối với luận đề của văn bản? (0,5đ)
Câu 5. Xác định ý nghĩa của văn bản, thái độ và tình cảm của người viết dành cho nhà thơ Tú Xương (1đ)
Câu 6. Em đồng ý với nhận định: Bài thơ Thương vợ là một bài thơ trữ tình – trữ tình trào phúng – một phong cách nghệ thuật độc đáo mang đậm sắc thái dân gian không, vì sao? (1đ)
II. VIẾT (6 điểm)
Câu 1. Đọc khổ thơ sau và trả lời câu hỏi a,b (2đ)
CHÂN QUÊ
(Nguyễn Bính)
Hôm qua em đi tỉnh về,
Đợi em ở mãi con đê đầu làng.
Khăn nhung, quần lĩnh rộng ràng.
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!
Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?
Nói ra sợ mất lòng em,
Van em! Em hãy giữ nguyên quê mùa.
Như hôm em đi lễ chùa,
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.
Hoa chanh nở giữa vườn chanh,
Thầy u mình với chúng mình chân quê.
Hôm qua em đi tỉnh về,
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.
(Hoàng Xuân, Nguyễn Bính – thơ và đời, NXB Văn học, 2003)
a. Xác định yếu tố văn học dân gian trong bài thơ Chân quê – Nguyễn Bính
b. Từ văn bản đọc hiểu và bài thơ Chân quê – Nguyễn Bính, em hãy cho biết những bài thơ hiện đại dùng chất liệu dân gian có chung đặc điểm gì?
Câu 2. Viết bài văn nghị luận phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của bài thơ Thương vợ - Trần Tế Xương (dài từ 1,5 đến 2 trang)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 8
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại/tiểu loại nào? Chỉ ra dấu hiệu nhận biết (0,5đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về thể loại
Lời giải chi tiết:
Văn bản nghị luận văn học, đánh giá giá trị tác phẩm thơ
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu 2. Nhan đề văn bản Thương vợ - Bài thơ trữ tình, trào phúng đậm sắc dân gian của Tú Xương cung cấp cho người đọc thông tin nào? (0,5đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ nhan đề và đọc lướt văn bản
Lời giải chi tiết:
Cung cấp: Đối tượng, phạm vi, nội dung luận bàn của văn bản
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu 3. Đoạn: “Nụ cười tự trào của Tú Xương, cách đánh giá mình sống nhờ vợ như lũ con: “năm con với một chồng” có cái gì rất gần gũi với câu ca giao dân gian “Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm” thuộc thành phần nào của văn bản, để làm nổi bật điều gì ở Thương vợ?(0,5đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn văn
Nhớ lại kiến thức về các thành phần trong văn bản
Lời giải chi tiết:
Thuộc thành phần: lí lẽ, dẫn chứng; Làm nổi bật chất trữ tình đậm sắc thái dân gian
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu 4. Luận điểm 2 (bàn về 2 câu thực của bài thơ) có vai trò như thế nào đối với luận đề của văn bản? (0,5đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ luận điểm 2 và luận đề
Lời giải chi tiết:
Làm sáng tỏ sắc thái dân gian qua hình ảnh bà Tú
Câu 5 (1.0 điểm)
|
Câu 5. Xác định ý nghĩa của văn bản, thái độ và tình cảm của người viết dành cho nhà thơ Tú Xương (1đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết thể hiện thái độ và tình cảm của người viết
Lời giải chi tiết:
Ý nghĩa: Khẳng định yếu tố trữ tình, trào phúng trong bài thơ Thương vợ - Trần Tế Xương đậm sắc dân gian; Khẳng định giá trị của bài thơ; Sự ảnh hưởng của văn học dân gian tới văn học viết
- Tình cảm của người viết dành cho nhà thơ Tú Xương: Trân trọng tài năng của nhà thơ; Trân trọng, yêu mến nhân cách của nhà thơ (yêu thương, biết ơn vợ và đánh giá đúng khả năng của mình)
Câu 6 (1.0 điểm)
|
Câu 6. Em đồng ý với nhận định: Bài thơ Thương vợ là một bài thơ trữ tình – trữ tình trào phúng – một phong cách nghệ thuật độc đáo mang đậm sắc thái dân gian không, vì sao? (1đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và đối chiếu với nhận định
Nêu quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
- HS tự trả lời theo quan điểm cá nhân
- Gợi ý: Làm rõ 2 lí do (chú ý: tính thuyết phục của lí lẽ, dẫn chứng ở từng luận điểm)
II. VIẾT (6 điểm)
Câu 1. Đọc khổ thơ sau và trả lời câu hỏi a,b (2đ)
a. Xác định yếu tố văn học dân gian trong bài thơ Chân quê – Nguyễn Bính
b. Từ văn bản đọc hiểu và bài thơ Chân quê – Nguyễn Bính, em hãy cho biết những bài thơ hiện đại dùng chất liệu dân gian có chung đặc điểm gì?
Phương pháp giải
Đọc kĩ khổ thơ và yêu cầu đề bài
a. Chú ý những chi tiết mang màu sắc dân gian
b. Tìm hiểu một số đặc điểm của chất liệu dân gian
Lời giải chi tiết
a. Thể thơ lục bát; hình ảnh quen thuộc của đời sống thôn quê xưa: Khăn nhung, quần lĩnh, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, quần nái đen…
b. Bài thơ hiện đại dùng chất liệu dân gian đặc điểm: đọc bài thơ luôn có cảm giác gần gũi, thân quen, dễ thuộc, dễ nhớ; làm sâu sắc hơn những cảm xúc tình cảm sẵn có trong mỗi người; gợi ra không gian quen thuộc…
Câu 2. Viết bài văn nghị luận phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của bài thơ Thương vợ - Trần Tế Xương (dài từ 1,5 đến 2 trang)
Phương pháp giải
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết
|
Viết bài văn nghị luận phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của bài thơ Thương vợ - Trần Tế Xương (dài từ 1,5 đến 2 trang) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Giới thiệu tác phẩm, tác giả; nêu giá trị nổi bật của tác phẩm |
|
Thân bài |
2,0 |
Gồm 3 luận điểm chính: - Luận điểm 1: Giới thiệu chung về tác phẩm (chủ đề, thể loại) - Luận điểm 2: Giá trị nội dung (thương vợ, thấu hiểu nỗi vất vả của vợ; đánh giá bản thân) - Luận điểm 3: Giá trị nghệ thuật (đặc sắc thể loại, hình ảnh, ngôn ngữ thơ… âm sắc dân gian) Lưu ý: Vận dụng kiến thức từ văn bản đọc vào bài viết. Tránh sao chép |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khái quát giá trị tác phẩm - Tác động của tác phẩm tới cảm xúc nhận thức cá nhân |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Vận dụng linh hoạt các yếu tố hỗ trợ: biểu cảm, miêu tả… |
trithuchub.com
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP11
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
