Đề thi giữa kì 1 Ngữ Văn 12
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 1
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
NGƯỜI LIỆT NỮ Ở AN ẤP
(Trích Truyền kì tân phả, Đoàn Thị Điểm)
Hoàng triều về đời niên hiệu Vĩnh Thịnh, đời Lê Dụ Tông có vị Tiến sĩ trẻ tên là Đinh Hoàn, hiệu Mặc Trai, người làng An Ấp, tỉnh Nghệ An), cha mẹ mất sớm, ít anh em. Lớn lên, lập gia thất nhưng bà vợ đầu cứ sinh luôn con gái, nên ông lấy con gái Hà quan, họ Nguyễn làm vợ thiếp. Bà này nghi dung nhàn nhã, ăn nói đoan trang, thêu thùa, khâu vá rất lành nghề, lại có tài văn thơ nổi tiếng. Khi về nhà chồng tự sửa mình nghiêm chỉnh, rất có lễ độ với chồng. Đinh Hoàn vừa yêu, vừa kính trọng. Gặp những khi ở triều lui về rảnh việc, thường cùng với bà xướng hoạ văn thơ, hâm mộ các vị trung thần liệt nữ. Các bài xướng hoạ đã chép ở tập Quan thư hoà minh, nay không lục ra đây. Nhớ lại có một hôm về mùa xuân, ông ngủ dậy muộn, bà làm một bài thơ “thoát trầm”(3) có ý khuyên can.
Lược một bài thơ [...]
Ông xem thơ than rằng: “Lời thơ tao nhã, ngụ ý sâu xa, đời xưa khen Khương hậu)... và Từ phi(5) cũng chưa là tột bực vậy”. Bèn vời phu nhân đến, nhận lỗi từ tạ. Từ đó, ông vắt tóc nhà cơm(6), ăn muộn dậy sớm, trong hàng quan nổi tiếng là người cần mẫn. Đến năm Ất Tí, triều đình kén sứ thần đi Trung Quốc kết nối bang giao, quần thần cử ông sung vào chức ấy. Ông lại về nhà riêng, gọi phu nhân bảo rằng:
– Ta sinh vào thời Lê, nhận quan tước triều Lê, ăn bổng lộc triều Lê, đông, tây, nam, bắc vua sai đi đâu là đi đấy, nếu làm được hết phận sự không phụ lòng uỷ thác của nhà vua thì ta cũng lấy làm thoả mãn cái chí bình sinh của ta vậy. Suy nghĩ nàng liễu bồ yếu ớt, vắng vẻ cô phòng, chặn sương gối tuyết gia lòng trinh, hoa xuân trăng thu gửi mối hận, nghĩ đến tâm tình ấy, càng thêm bồi hồi, đó là lòng ta quyến luyến vì nàng mà không sao dời đi được. Phu nhân nghe nói ngậm ngùi hôi lâu chứa chan mà rằng:
– Sứ mệnh cần lao, tang bồng khí khái, là phận sự của trượng phu. Thiếp nay không những là người không biết và cũng không dám can thiệp đến. Còn như bèo bọt chút thân, phấn hoa phận gái, như thiếp này thật không đáng kể. Duy có một điều đáng lo ngại là: lang quân thể chất vàng ngọc, dấn thân vào nơi giá lạnh, lên núi lội nước, gội gió tắm mưa, tiêu điều nơi đất khách, vất vả phong trần, khi ấy mỗi người ở một nơi, thiếp này dù có can trường như sắt đá cũng không tài nào không mềm rủ được. Nói xong, nước mắt tràn xuống như mưa. Ông nhiều lần vỗ về nhưng phu nhân do lòng lo buồn mà sinh bệnh. Ông rất lấy làm áy náy nhưng vì việc nước rất cần nên đành phải tạm khuây khoả.
(Tóm tắt đoạn lược: Đến kì đăng trình, trăm quan làm lễ tiễn hành, người nhà ông đi theo đến trạm Lữ tư tạm nghỉ lại. Phu nhân nâng chén rượu làm bài thơ tặng chồng, trước khi đi, chồng có tặng cho bà cái la y, bà quyến luyến nửa mê nửa tỉnh. Đinh Hoàn đi sử di qua nhiều nơi, mỗi nơi đều để vịnh thơ. Thơ ông hay và được so sánh với thơ của những bậc danh nhân: Lý Bạch (7) Hạ Tri Chương (8), Mạnh Giao (9), Thiếu Lăng(10) Vệ Giới(11),... Đường đi gian nan, vì sức yếu lại lo lắng thương tâm trước cái chết của những người đi cùng nên ông đã mất tại Yên Kinh. Trước khi mất, ông chỉ băn khoăn việc nước chưa lo trọn vẹn. Biết tin chồng mất, phu nhân thương tiếc làm một bài văn tế ca ngợi công đức của chồng và bày tỏ tình cảm sâu sắc, nguyện hi sinh theo chồng.)
Thấy lời lẽ bài văn tế ấy là bà có ý quyên sinh, mọi người đều đã khuyên giải:
- Phu nhân ngày thường vốn nổi tiếng là người thông tuệ. Sao nay cố chấp quả như thế. Này, vợ chồng dẫu là đạo cả nhưng âm dương hai ngả khác nhau. Cho nên nàng Lục Chân(12) tự gieo mình xuống lầu, chưa chắc theo được chồng; người trinh nữ đứng trên núi hoá đá, cũng chỉ là vô ích. Huống chi sứ quân chết về việc nước, phu nhẫn cần gì phải làm cho mai tàn, liễu úa, nát ngọc chìm châu. Nếu vậy không phải là tấm lòng trung của sử quân lúc ngày thường vậy.
Phu nhân gạt nước mắt mà rằng:
- Vị vong nhân này không dám mua cái tiếng chặt vai khoét mắt đâu, chỉ vì xuân về hoa héo, lòng chết hình còn, không tưởng gì đến nhân gian nữa.
Người nhà thấy khuyên giải không ăn thua gì, có ý để phòng cẩn thận không
rời phu nhân một bước. Một hôm, phu nhân đốt đèn ngồi một mình, khi ấy là mùa thu muộn, giờ vàng hiu hắt, cây khuya xào xạc, sấu tường nỉ non, tiếng đập vải lạnh lùng như giã vào lòng người cô phụ, trăng suông như rọi vào giọt lệ Vương sinh.
Nỗi thương tâm khiến phu nhân đờ đẫn, nhìn đâu cũng toàn thấy cảm sau. Phu nhân càng thêm thê thảm, gục xuống bàn mà nức nở khiến cõi lòng chìm sâu vào cõi đê mê. Trong cơn dật dờ đó, thấy một người khăn vuông đai rộng từ xa đến gần, nhìn kĩ hoá ra chính là chồng vậy. Phu nhân đón chào, mừng quá chảy nước mắt mà rằng:
- Từ khi cách biệt đã bốn năm rồi, biết bao nỗi bị sầu, mộng hồn tản mát, không nơi nào là không tìm đến tung tích lang quân, ấy thế mà lang quân chẳng có đoái hoài gì đến thiếp. Nếu bảo rằng trần gian và thiên thượng hai nơi cách biệt, thì sao Thuần phi (13) có hội ngộ, Chức Nữ (4) lại tương phùng, vậy thì lang quân đối với thiếp rất là bạc tình!
Ông buồn nét mặt mà rằng:
– Ta từ khi về chầu thiên đình, được trông coi về việc bút nghiên, nơi thiên tào công việc nhiều, không có thì giờ đến thăm nàng, còn tấm lòng khăng khít thuỷ chung này không bao giờ thay đổi.
Phu nhân muốn lưu ông ở lại tự tình. Ông vỗ về nói:
– Chết sống là lẽ thường xưa nay, hợp tan là tuần hoàn việc thế. Vì Ngọc Tiên(15) có duyên tái hợp, Dương Thái Chân(16) cơ ước lai sinh. Vi Ngọc phải bỏ phiền về nơi học lãnh gương tan, cái ngày chúng ta gặp nhau sắp đến rồi.
Nói xong, có một trận thanh phong, không biết ông biến đi đậu mất. Phu nhân thương khóc chợt tỉnh dậy, sai thị nữ ra xem trời đất chỉ thấy sương mù trăng mờ, đêm đã gần sáng rồi.
Từ đó phu nhân lại càng có ý quyên sinh nhưng chưa có dịp. Đến ngày lễ tiểu tường (17) ông, người nhà bận việc, phu nhân ở trong buồng xé cái áo mà ngày trước ông tặng tự thắt cổ đến chết. Đến khi người nhà biết thì phu nhân đã tắt thở rồi. Cả nhà thương cảm, tống táng theo tang lễ. Việc ấy tâu lên, triều đình cho lập đền thờ, đề bảng nêu ra cửa, khắc chữ: “Trinh liệt phu nhân từ ban cấp tổ điển” bốn mùa có tế lễ, người làng cầu đảo đều có linh ứng.
(Lược một đoạn...)
Vài năm sau, có người thư sinh họ Hà đi vãn cảnh đến đền Liệt nữ, làm bài thơ ca ngợi phu nhân nhưng tỏ ý không coi trọng Đinh Hoàn. Phu nhân đã mời thư sinh đến tranh luận và đưa ra lí lẽ để bảo vệ Đinh Hoàn, cho rằng ông là người sống trung nghĩa, chết vì non sông, đáng trân trọng.
(Nguyễn Đăng Na, Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, NXB Giáo dục, 2001)
(1)Vĩnh Thịnh: Niên hiệu của Lê Dụ Tôn.
(2) Nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
(3) Thoát trâm: trút cái trâm cài đầu. Chu Tuyên vương thường dậy muộn, bà Khương hậu rút bỏ trâm cài đầu và hoa đeo tai, đứng ở Vĩnh Hạng để can vua. Tuyên vương cảm ngộ, từ đó ra chầu thật sớm, làm nên nghiệp Trung Hưng.
(4) Khương hậu: Vợ Chu Tuyên vương.
(5) Từ Phi: Vợ Dương Thái Tông.
(6) Vắt tóc, nhả cơm: Chu công đang gội đầu có hiền sĩ đến, ba lần vắt tóc cho khô để ra tiếp, đang ăn cơm, có hiền sĩ đến, ba lần nhả miếng cơm ra để đón khách.
(7) Thi nhân danh tiếng thời Đường.
(8) Thi nhân danh tiếng thời Đường.
(9) Thi nhân danh tiếng thời Đường.
(10) Thiếu Lăng: Đỗ Phủ, vì ông ở Thiếu Lăng cho nên người ta gọi là Đỗ Thiếu Lăng, thơ ông hay nhất thời Đường.
(11) Vệ Giới: Người đời Tấn, từ nhỏ nổi tiếng là con người ngọc, sau thích bàn về huyền lí.
(12) Nàng Lục Chân là thiếp yêu của Thạch Sùng rất đẹp. Khi Sùng bị Tôn Tú bắt, nàng nhảy từ trên lầu xuống chết.
(13) Thuần phi: Vợ vua Thuấn, Nga Hoàng và Nữ Anh hai chị em (con vua Nghiêu) đều lấy Thuần, khi mất làm thần sông Tương.
(14) Chức Nữ: Tích “Ngưu Lang, Chức Nữ”, hằng năm được gặp nhau một lần vào ngày 7 tháng 7
(15) Vi Ngọc Tiên: Đời Đường, Vi Cao lúc hàn vi, ở trọ nhà họ Khương, chung tình với nàng Ngọc Tiên và tặng nàng một cái vòng tay, hẹn 7 năm đến cưới làm vợ. Quá hạn không đến, nàng tự sát.
(16) Dương Thái Chân: Dương Quý phi bị chết ở núi Mã Ngôi, sau lại tái sinh cùng với Đường Minh Hoàng kết làm vợ chồng lần nữa.
(17) Lễ tiểu tường: Lễ tang chẵn một năm, cũng gọi là luyện tế.
* Đoàn Thị Điểm (1705 –1749), hiệu: Hồng Hà nữ sĩ, là nữ sĩ Việt Nam thời Lê Trung Hưng. Bà là tác giả tập Truyền kì tân phả (chữ Hán) và tác giả của truyện thơ Chinh phụ ngâm (bản chữ Nôm – 412 câu thơ). Bà là người được đánh giá là bậc nhất về sắc đẹp lẫn tài văn trong những nữ sĩ danh tiếng nhất, bên cạnh Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan và Sương Nguyệt Anh.
Câu 1. Xác định những dấu hiệu đặc trưng của truyện truyền kì trong văn bản Người liệt nữ ở An Ấp (0,5đ)
Câu 2. Truyện Người liệt nữ ở An Ấp có những sự việc nào? Sự việc chính nào thể hiện vẻ đẹp của nhân vật chính?(0,5đ)
Câu 3. Phân tích vẻ đẹp nổi bật ở nhân vật chính. Nêu nhận xét của em về sự việc quyên sinh của phu nhân ở gần cuối tác phẩm (1đ)
Câu 4. Phân tích ý nghĩa của yếu tố kì ảo trong tác phẩm và cho biết: Chúng có vai trò như thế nào trong việc khắc họa nhân vật chính (1đ)
Câu 5. Nhận xét đặc điểm ngôn ngữ của tác phẩm và cho biết: Đoạn nào thể hiện rõ nhất đặc điểm ngôn ngữ ấy (1đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Xác định chủ đề, cảm hứng chủ đạo của tác phẩm. Từ đó, nhận xét về thái độ, tình cảm mà tác giả Đoàn Thị Điểm dành cho người phụ nữ trong xã hội xưa. Em có đồng ý với quan điểm đó không? (Trả lời thành đoạn văn có độ dài từ 200 chữ) (2đ)
Câu 2. So sánh, đánh giá hình tượng nhân vật nữ chính ở hai tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ (đã học ở lớp 9 – 3 bộ SGK) và Người liệt nữ ở An Ấp của Đoàn Thị Điểm (4đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 1
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Xác định những dấu hiệu đặc trưng của truyện truyền kì trong văn bản Người liệt nữ ở An Ấp (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về đặc trưng của truyện truyền kì
Lời giải chi tiết:
- Dấu hiệu đặc trưng về nội dung:
+ Người liệt nữ ở An Ấp: Đề tài liệt nữ (đề tài quen thuộc của truyện truyền kỳ).
+ Người liệt nữ ở An Ấp: thấm đẫm giá trị nhân đạo, đậm chất nhân văn. Ca ngợi tài năng và phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ – vợ của Đinh Hoàn: nghi dung nhàn nhã, ăn nói đoan trang,… có tài văn thơ nổi tiếng, là tấm gương tử tiểu.
Khi mất được dựng đền, khắc chữ: “Trinh liệt phu nhân từ ban cấp tổ điển, bốn mùa có tế lễ, người làng cầu đảo đều có linh ứng”.
- Dấu hiệu đặc trưng về hình thức nghệ thuật:
+ Yếu tố kì ảo là cuộc gặp gỡ của hai vợ chồng Đinh Hoàn trong giấc mơ: nhìn kĩ hoá ra chính là chồng vậy. Phu nhân đón chào, mừng quá chảy nước mắt...
Nói xong, có một trận thanh phong, không biết ông biến đi đâu mất”
+ Nhân vật con người của đời sống thực với những vui buồn, sướng khổ; được xây dựng khá đơn giản, tính cách nhân vật thể hiện qua hành động, ngôn ngữ, ít khi các tác giả đi sâu vào phân tích tâm lí.
+ Không gian cõi thực và cõi mơ (hai vợ chồng gặp nhau)
+ Ngôn ngữ: lối nói so sánh, ẩn dụ, biểu đạt cầu kì hoa mĩ (nàng liễu bồ yếu ớt, vắng vẻ cô phòng, chăn sương gối tuyết giá lòng trinh, hoa xuân trăng thu gửi mới
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Truyện Người liệt nữ ở An Ấp có những sự việc nào? Sự việc chính nào thể hiện vẻ đẹp của nhân vật chính? (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Người vợ khuyên giải chồng; người chồng đi sứ; vợ nhớ thương chồng; vợ gặp chồng trong cõi mộng và quyên sinh
- Sự việc người chồng đi sứ đã thể hiện phẩm chất của người vợ (phu nhân)
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Phân tích vẻ đẹp nổi bật ở nhân vật chính. Nêu nhận xét của em về sự việc quyên sinh của phu nhân ở gần cuối tác phẩm (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý các chi tiết thể hiện vẻ đẹp của nhân vật chính
Đọc kĩ phần cuối tác phẩm và phân tích sự việc
Lời giải chi tiết:
-Vẻ đẹp nổi bật ở nhân vật chính:
+Nghi dung nhàn nhã, ăn nói đoan trang, thêu thùa, khâu vá rất lành nghề.
+ Có tài văn thơ.
+ Hiểu chồng, luôn coi trọng việc thực hiện chức phận, trách nhiệm của mỗi cá nhân.
- Đánh giá sự việc quyên sinh: Hành vi liệt nữ xé áo chồng tặng trước khi đi xa, thắt cổ chết của nhân vật phu nhân theo là vì tình yêu, lòng tương kính với người chồng tri âm tri kỉ. Tuy nhiên, cách ứng xử này vẫn là tiêu cực, để lại đau buồn cho người thân, không phù hợp với thời đại.
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Phân tích ý nghĩa của yếu tố kì ảo trong tác phẩm và cho biết: Chúng có vai trò như thế nào trong việc khắc họa nhân vật chính (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý để chỉ ra các yếu tố kì ảo trong tác phẩm và phân tích vai trò của các yếu tố ấy
Lời giải chi tiết:
– Xác định và tóm tắt ngắn gọn yếu tố kì ảo:
+ Phu nhân trách cứ chồng: Từ khi cách biệt đã bốn năm rồi, biết bao nỗi bị cầu,
mộng hồn tản mát, không nơi nào là không tìm đến tung tích lang quân, ấy thế mà lang quân chẳng có đoái hoài gì đến thiếp... rất là bạc tình!
+ Ông buồn nét mặt mà rằng: tấm lòng khăng khít, thuỷ chung này không bao
giờ thay đổi. Chết sống là lẽ thường xưa nay, hợp tan là tuần hoàn việc thế.
+ Nói xong, có một trận thanh phong, không biết ông biến đi đâu mất.
- Ý nghĩa:
+Trong truyện truyền kì, thế giới con người và thế giới siêu nhiên có sự tương giao. Đến với truyền kì, người đọc có thể phiêu diêu qua nhiều cõi khác nhau.
+ Thể hiện khao khát của con người chưa đạt được ở hiện thực.
+ Thể hiện trọn vẹn vẻ đẹp của nhân vật chính: tình yêu, lòng tương kính với người chồng tri âm, tri kỉ.
Câu 5 (1 điểm)
|
Câu 5. Nhận xét đặc điểm ngôn ngữ của tác phẩm và cho biết: Đoạn nào thể hiện rõ nhất đặc điểm ngôn ngữ ấy (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý ngôn ngữ được tác giả sử dụng
Lời giải chi tiết:
- Đặc điểm ngôn ngữ của tác phẩm: mang đặc điểm chung của truyện truyện kì
+ Ngôn ngữ giàu tính ước lệ tượng trưng.
+ Sử dụng nhiều điển tích, điển cố.
- Đoạn thể hiện rõ nhất đặc điểm:
+ Giàu tính ước lệ tượng trưng: “Một hôm, phu nhân đốt đèn ngồi một mình, khi ấy là mùa thu muộn, giờ vàng hiu hắt, cây khuya xào xạc, sấu tường nỉ non, tiếng đập vải lạnh lùng như giã vào lòng người cô phụ, trăng suông như rọi vào giọt lệ Vương sinh. Nỗi thương tâm khiến phu nhân đờ đẫn, nhìn đâu cũng toàn thấy cảm sầu. Phu nhân càng thêm thê thảm, gục xuống bàn mà nức nở khiến cõi lòng chìm sâu vào cõi đê mê”
+ Nhiều điển tích, điển cố: “Chết sống là lẽ thường xưa nay, hợp tan là tuần hoàn việc thế. Vì Ngọc Tiên có duyên tái hợp, Dương Thái Chân cơ ước lại sinh. Vi Ngọc phải bỏ phiền về nói học lãnh gương tan, cái ngày chúng ta gặp nhau sắp đến rồi.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 5. Xác định chủ đề, cảm hứng chủ đạo của tác phẩm. Từ đó, nhận xét về thái độ, tình cảm mà tác giả Đoàn Thị Điểm dành cho người phụ nữ trong xã hội xưa. Em có đồng ý với quan điểm đó không? (Trả lời thành đoạn văn có độ dài từ 200 chữ) (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nêu quan điểm của cá nhân
Lời giải chi tiết:
Học sinh viết đoạn đảm bảo độ dài và hướng vào các nội dung chính sau:
- Chủ đề, cảm hứng chủ đạo của tác phẩm.
+ Ca ngợi phẩm chất của người phụ nữ
+ Cảm hứng: trân trọng, ngợi ca.
- Tác giả ngợi ca, trân trọng người phụ nữ.
– Đoàn Thị Điểm quan niệm hồng nhan không sinh ra chỉ để tựa nương, chịu sự chở che, đùm bọc mà cũng tự mình độc lập, cùng gánh vác giang sơn, nếu cần cũng có thể chở che, đùm bọc, là nơi nương tựa cho người khác. Đó là khát vọng lớn lao của Đoàn Thị Điểm.
– Ý kiến cá nhân: Học sinh tự trả lời (lập luận thuyết phục, có cơ sở)
Câu 2.
|
So sánh, đánh giá hình tượng nhân vật nữ chính ở hai tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ (đã học ở lớp 9 – 3 bộ SGK) và Người liệt nữ ở An Ấp của Đoàn Thị Điểm |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
So sánh, đánh giá hình tượng nhân vật nữ chính ở hai tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ (đã học ở lớp 9 – 3 bộ SGK) và Người liệt nữ ở An Ấp của Đoàn Thị Điểm |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề (điểm chung giữa hai tác phẩm để yêu cầu so sánh) - Nêu bình diện cần so sánh, vị trí của chúng đối với tác phẩm/ dư luận |
|
Thân bài |
3,0 |
* Điểm tương đồng: - Nhân vật nữ chính với nhiều phẩm chất đáng quý + Vũ Nương ở Chuyện người con gái Nam Xương: Có nhiều phẩm chất tốt đẹp: tư dung xinh đẹp, yêu thương chồng con, có hiếu với cha mẹ, khao khát hạnh phúc gia đình + Phu nhân ở Người liệt nữ ở An Ấp: Ca ngợi tài năng và phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ - vợ của Đinh Hoàn: nghi dung nhàn nhã, ăn nói đoan trang,... có tài văn thơ nổi tiếng, là tấm gương tử tiết. – Dùng yếu tố kì ảo để xây dựng cốt truyện và khắc hoạ nhân vật chính. - Cả hai tác phẩm đều thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc (học sinh tự diễn giải, chứng minh). * Điểm khác biệt: - Ý nghĩa của yếu tố kì ảo: + Người liệt nữ ở An Ấp: Hai vợ chồng gặp nhau trong cõi mộng là để chứng minh tình tri kỉ, tình yêu tha thiết với chồng (dẫn chứng lời nói của phu nhân). + Ở Chuyện người con gái Nam Xương: Sự trở về của Vũ Nương thể hiện niềm thương nhớ chồng con và để lên án Trương Sinh. - Cái chết của hai nhân vật: + Cái chết của Vũ Nương (Chuyện người con gái Nam Xương) là bi kịch đau đớn tột cùng bởi chỉ có cái chết mới chứng minh tiết hạnh của mình. + Cái chết của phu nhân (Người liệt nữ ở An Ấp) là lựa chọn trong thời gian dài của nhân vật để thể hiện tình yêu, lòng tương kính với người chồng tri âm, tri kỉ. * Lí giải nguyên nhân của sự khác biệt: sự chi phối của cảm hứng và tư tưởng. - Cảm hứng chủ đạo của Chuyện người con gái Nam Xương là thương cảm, lên án tư tưởng trọng nam khinh nữ. – Cảm hứng chủ đạo của Người liệt nữ ở An Ấp: ngợi ca, trân trọng người phụ nữ; tư tưởng bình đẳng, đề cao người phụ nữ. |
|
Kết bài |
0,25 |
– Cảm nhận của cá nhân về hai hình tượng nhân vật nữ chính. - Khẳng định thành công của hai tác phẩm và đóng góp của hai tác giả đối với nền văn học nước nhà. |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng thành thạo thao tác lập luận so sánh, tổng hợp, chứng minh. – Thể hiện rõ sự đánh giá của cá nhân về nhân vật được so sánh. |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 2
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
TRUYỆN ĐỔNG THIÊN VƯƠNG
(Lĩnh Nam chích quái, Trần Thế Pháp)
Hùng Vương cậy nước mình giàu mạnh mà chểnh mảng việc triều cận Bắc phương. Vua nhà Ân mượn cớ tuần thú sang xâm lược. Hùng Vương nghe tin, triệu tập quần thần hỏi kế công thủ. Có người phương sĩ tâu rằng: “Sao không cầu Long Vương đưa quân âm lên giúp!”. Vua nghe lời, bèn lập đàn, bày vàng bạc lụa là lên trên, ăn chay, thắp hương, cầu đảo ba ngày
Trời nổi mưa to gió lớn, bỗng thấy một cụ già cao hơn chín thước, mặt vàng
bụng lớn, mày râu bạc trắng, ngồi ở ngã ba đường mà cười nói ca múa. Những
người trông thấy biết là kẻ phi thường, mới vào tâu vua. Vua thân hành ra vải
chào, rước vào trong đàn. Cụ già không ăn uống cũng không nói năng.
Vua nhân hỏi: “Nghe tin quân Bắc sang xâm lược, ta thua được thế nào, ngài có kiến văn xin bảo giúp.. Cụ già ngồi im một lúc rồi bảo vua rằng: “Ba năm nữa, giặc Bắc sẽ sang, phải nghiêm chỉnh khí giới, tinh luyện sĩ binh mà giữ nước, lại phải đi tìm bậc kì tài trong thiên hạ, kẻ nào phá được giặc thì phân phong tước ấp, truyền hưởng lâu dài. Nếu được người giỏi, có thể dẹp được giặc vậy..
Dứt lời, bay lên không mà đi, mới biết đó là Long Quân. Ba năm sau, người biên giới cấp báo có giặc Ân tới. Vua làm theo lời cụ già dặn, sai sứ đi khắp các nơi cầu hiền tài. Tới làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, Bắc Ninh, có một phú ông tuổi hơn sáu mươi, sinh được một người con trai vào giữa ngày mồng 7 tháng giêng, ba tuổi còn không biết nói, nằm ngửa không ngồi dậy được. Người mẹ nghe tin sứ giả tới mới nói giỡn rằng: “Sinh được thằng con trai này chỉ biết ăn, không biết đánh giặc để lấy thưởng của triều đình, báo đáp công bú mớm…” Người con nghe thấy mẹ nói, đột nhiên bảo: “Mẹ gọi sứ giả tới đây!”. Người mẹ rất lấy làm kinh ngạc, kể lại với hàng xóm. Hàng xóm cả mừng, tức tốc gọi sứ giả tới. Sứ giả hỏi: “Mày là đứa trẻ mới biết nói, mời ta đến làm gì?”
Đứa trẻ nhỏm dậy bảo sứ giả rằng: “Mau về tâu với vua rèn một ngựa sắt cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài bảy thước, một roi sắt và một nón sắt. Ta cưỡi ngựa đội nón ra đánh, giặc tất phải kinh bại, vua phải lo gì nữa?”. Sứ giả mừng rỡ vội về tâu vua. Vua vừa kinh vừa mừng nói rằng: “Ta không lo nữa.” Quần thần tâu: “Một người thì làm sao mà đánh bại được giặc?”. Vua nổi giận nói: “Lời nói của Long Quân ngày trước không phải là ngoa, các quan chớ nghi ngờ gì nữa! Mau đi tìm năm mươi cân sắt luyện thành ngựa, kiếm, roi và nón”. Sứ giả tới gặp, người mẹ sợ hãi cho rằng tai hoạ đã đến, bèn bảo người con. Con cả cười bảo rằng: “Mẹ hãy đưa nhiều cơm rượu cho tôi ăn, việc đánh giặc mẹ chớ có lo”.
Người con lớn lên rất nhanh, ăn uống tốn rất nhiều, người mẹ cung đốn không đủ. Hàng xóm sửa soạn trâu rượu, bánh quả rất nhiều mà người con ăn vẫn không no bụng. Vải lụa gấm vóc rất nhiều mà mặc vẫn không kín thân, phải đi lấy hoa lau buộc thêm vào cho kín người. Kíp đến lúc quân nhà Ân tới chân núi Trâu Sơn ở Vũ Ninh, người con duỗi chân đứng dậy cao hơn mười thước (có chỗ nói là trượng), ngửa mũi hắt hơi hơn mười tiếng, rút kiếm thét lớn: “Ta là thiết tướng đây!” rồi đội nón cưỡi ngựa. Ngựa chồm lên, hí dài một tiếng mà phi như bay, nháy mắt đã tới trước quân vua, vỗ kiếm đi trước, quan quân đều theo sau tiến sát đồn giặc. Vua nhà Ân bị giết ở núi Trâu, quân lính còn lại đều bái lạy, xưng gọi “Tướng nhà trời” rồi cùng hàng phục. Đi đến đất Sóc Sơn, huyện Kim Hoa, thiên tướng cởi áo cưỡi ngựa mà lên trời, hôm đó là ngày mồng 9 tháng 4, còn để vết tích ở hòn đá trên núi. Hùng Vương nhớ công ơn đó mới tôn là Phù Đổng Thiên Vương, lập miếu thờ ở nhà cũ trong làng, lại ban cho một ngàn mẫu ruộng, sớm hôm hương lửa. Nhà An đời đời, 644 năm không dám ra quân. Sau Lí Thái Tổ phong làm Xung Thiên Thần Vương, lập miếu ở làng Phù Đổng cạnh chùa Kiến Sơ, lại tạc tượng ở núi Vệ Linh, xuân thu hai mùa tế lễ. Tới đời vua Thuần Đế nhà Lê, ở xã Phù Lỗ có người con gái tên là Ngô Chi Lan chăm đọc sách, rành văn chương, thơ ca điêu luyện, nhân đi dạo chơi tới núi này có đề bài thơ rằng:
“Vệ Linh cây cỏ lẫn mây ngàn, Vạn tía muôn hồng rỡ thế gian. Ngựa sắt bay rồi tên vẫn đó, Anh hùng sống mãi với giang san.”.
(Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái, NXB Trẻ 2011)
* Tác phẩm còn có tên là: Truyện Phù Đổng Thiên Vương, do Nguyễn Hữu Vinh dịch.
* Trần Thế Pháp: Sử sách biên chép về Trần Thế Pháp rất ít, chỉ biết ông là người ở huyện Thạch Thất, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (sau thuộc Hà Tây, nay thuộc thành phố Hà Nội).
Ông là người nổi tiếng văn chương, được cử làm một chức quan nhỏ tại Tàng thư Quốc tử giám. Tiến sĩ Vũ Quỳnh, trong bài Tựa của ông, cho biết ông đã tìm được sách Lĩnh Nam chích quái và tiến hành nhuận chính vào năm Nhâm Tí (1492).
Câu 1. Xác định 2 đặc điểm nổi bật của truyện truyền kì thể hiện trong văn bản Truyện Đổng Thiên Vương (0,5đ)
Câu 2. Xác định đề tài và các sự việc chính trong văn bản Truyện Đổng Thiên Vương (0,5đ)
Câu 3. Việc ăn, mặc, lớn nhanh của cậu bé được miêu tả như thế nào? Xác định sự sáng tạo của truyện truyền kì ở sự việc này và cho biết chúng có ý nghĩa như thế nào? (1đ)
Câu 4. Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi a, b, c (1đ)
Đứa trẻ nhỏm dậy bảo sứ giả rằng: “Mau về tâu với vua rèn một ngựa sắt cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài bảy thước, một roi sắt và một nón sắt. Ta cưỡi ngựa đội nón ra đánh, giặc tất phải kinh bại, vua phải lo gì nữa?” Sứ giả mừng rỡ vội về tâu với vua. Vua vừa kinh vừa mừng nói rằng: “Ta không lo nữa”. Quần thần tâu: “Một người thì làm sao mà đánh bại được giặc?” Vua nổi giận nói: “Lời nói của Long Quân ngày trước không phải là ngoa, các quan chớ nghi ngờ gì nữa, kiếm, roi và nón.” Sứ giả tới gặp, người mẹ sợ hãi cho rằng tai họa đã đến, bèn bảo người con. Con cả cười bảo rằng: “Mẹ hãy đưa nhiều cơm rượu cho tôi ăn, việc đánh giặc mẹ chớ có lo”
a. Sự sáng tạo trong khắc họa nhân vật Thánh Gióng thể hiện ở điểm nào? Chúng có ý nghĩa như thế nào?
b. Đoạn văn là lời của nhân vật nào? Chúng có tác dụng gì?
c. Đoạn văn thể hiện quan điểm nào về việc cứu nước?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2đ)
Xác định các yếu tố kì ảo tiêu biểu trong tác phẩm, phân tích ý nghĩa của chúng và đánh giá thái độ của tác giả đối với nhân vật, sự kiện lịch sử (đánh giặc giữ nước) (trả lời bằng đoạn văn khoảng 200 chữ)
Câu 2. (4đ)
So sánh, đánh giá hai tác phẩm viết về người anh hùng Thánh Gióng ở Truyện Đổng Thiên Vương (Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp) và truyền thuyết Thánh Gióng (SGK Ngữ văn 6 – 3 bộ SGK) ở việc xây dựng cốt truyện và sử dụng các yếu tố kì ảo. Từ đó nhận xét về sự ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 2
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Xác định 2 đặc điểm nổi bật của truyện truyền kì thể hiện trong văn bản Truyện Đổng Thiên Vương (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về thể loại truyện truyền kì
Lời giải chi tiết:
- Thứ nhất, tuy là văn học viết, nhưng Truyện Đổng Thiên Vương dựa trên cơ sở truyền thống tự sự dân gian – Truyền thuyết Thánh Gióng khai thác các mô – típ, nhân vật, cốt truyện (Học sinh đưa dẫn chứng cụ thể về mô-típ cốt truyện và nhân vật Thánh Gióng)
- Thứ hai, Truyện Đổng Thiên Vương lấy yếu tố kì ảo làm phương thức thể hiện nội dung (việc cậu bé ba tuổi còn không biết nói, nằm ngửa không ngồi dậy được… Người con nghe thấy mẹ nói, đột nhiên bảo: “Mẹ gọi sứ giả tới đây!”; “Mau về vua rèn một ngựa sắt cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài bảy thước, một roi sắt và một nón sắt!”; ăn không no; đánh giặc, về trời).
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Xác định đề tài và các sự việc chính trong văn bản Truyện Đổng Thiên Vương (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Đề tài: lịch sử
- Các sự việc chính: Nghe tin giặc xâm lược, Hùng Vương lập đàn cầu Long Vương giúp; Sự lớn lên kì lạ của Thánh Gióng; Long Vương dặn sai sứ đi khắp các nơi cầu hiền tài; gặp đứa trẻ 3 tuổi chỉ biết nằm điềm nhiên bảo: “Mẹ gọi sứ giả tới đây!” và “tâu vua rèn ngựa, roi, mũ, giáp,..; Đứa trẻ lớn nhanh như thổi; thành tráng sĩ cưỡi ngựa sắt, mặc áo giáp sắt, cầm roi sắt đi đánh giặc; Giặc tan, Gióng lên núi, cởi bỏ áo giáp sắt bay về trời; lập đền ghi nhớ công ơn, người đời ngợi ca.
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Việc ăn, mặc, lớn nhanh của cậu bé được miêu tả như thế nào? Xác định sự sáng tạo của truyện truyền kì ở sự việc này và cho biết chúng có ý nghĩa như thế nào? (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết miêu tả việc ăn, mặc, lớn nhanh của cậu bé
Lời giải chi tiết:
Việc ăn, mặc, lớn nhanh của cậu bé được miêu tả khá chi tiết:
+ Người con lớn lên rất nhanh, ăn uống tốn rất nhiều, người mẹ cung đón không đủ. Hàng xóm sửa soạn trâu, rượu, bánh, quả rất nhiều mà người con ăn vẫn không no bụng.
+ Vải lụa gấm vóc rất nhiều mà mặc vẫn không kín thân, phải đi lấy hoa lau buộc thêm vào cho kín người.
Sáng tạo các chi tiết của truyện truyền kì (ở 2 ô sau):
|
Sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã chật ních. Hai vợ chồng làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con, thành thử phải chạy nhờ bà con, hàng xóm. Bà con đều vui lòng gom góp gạo thóc nuôi chú bé, vì ai cũng mong chú giết giặc, cứu nước (Ngữ văn 6, Tập hai, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, trang 6) |
Người con lớn lên rất nhanh, ăn uống tốn rất nhiều, người mẹ cung đốn không đủ. Hàng xóm sửa soạn trâu rượu bánh quả rất nhiều mà người con ăn vẫn không no bụng. Vải lụa gấm vóc rất nhiều mà mặc vẫn không kín thân, phải đi lấy hoa lau buộc thêm vào cho kín người (Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái) |
→ Tuy khác nhau ở một số chi tiết, tiểu tiết nhưng vẫn đảm bảo tinh thần, ý nghĩa của sự việc: Gióng lớn lên bằng cơm gạo của nhân dân nên mang sức mạnh của nhân dân.
Câu 4 (1 điểm)
|
a. Sự sáng tạo trong khắc họa nhân vật Thánh Gióng thể hiện ở điểm nào? Chúng có ý nghĩa như thế nào? b. Đoạn văn là lời của nhân vật nào? Chúng có tác dụng gì? c. Đoạn văn thể hiện quan điểm nào về việc cứu nước? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn và yêu cầu
Lời giải chi tiết:
a. Sáng tạo trong khắc hoạ nhân vật Thánh Gióng qua hành động, lời thoại với nhiều đối tượng:
+ “Mau về tâu với vua rèn một ngựa sắt cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài bảy thước, một roi sắt và một nón sắt. Ta cưỡi ngựa đội nón ra đánh, giặc tất phải kinh bại, vua phải lo gì nữa?”
+ “Mẹ hãy đưa nhiều cơm rượu cho tôi ăn, việc đánh giặc mẹ chở có lo”
- Ý nghĩa của sáng tạo:
+ Lời thoại thể hiện sự ý thức về sức mạnh và trách nhiệm của cá nhân đối với việc cứu nước.
+ Nhân vật chính được khắc hoạ rõ nét hơn, chân thực hơn.
b. Đoạn bao gồm lời của người kể chuyện: để dẫn chuyện, mô tả hành động của nhân vật; Lời của các nhân vật: vua, Thánh Gióng, quần thần. (Học sinh tự lấy dẫn chứng.)
- Tác dụng: Sự việc được nhìn từ các góc độ khác nhau; hai nhân vật vua, Thánh Gióng thể hiện sự tự tin vào sức mạnh, sự quyết đoán của bản thân, trách nhiệm đối với đất nước; Đoạn khắc hoạ được khung cảnh “đặc biệt” ở thời điểm quan trọng của lịch sử: hành động cứu nước.
c. Đoạn trên đã thể hiện quan điểm về việc cứu nước: cứu nước là nhiệm vụ lớn lao cần có sự chỉ đạo, đồng lòng nhất trí của người đứng đầu với nhân dân, cần phải sử dụng sức mạnh tổng hợp.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2đ)
|
Câu 1. Xác định các yếu tố kì ảo tiêu biểu trong tác phẩm, phân tích ý nghĩa của chúng và đánh giá thái độ của tác giả đối với nhân vật, sự kiện lịch sử (đánh giặc giữ nước) (trả lời bằng đoạn văn khoảng 200 chữ) (2đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức phân tích ở trên và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Học sinh viết đoạn đảm bảo độ dài và hướng vào các nội dung chính sau:
– Yếu tố kì ảo tiêu biểu trong tác phẩm:
+ Vua lập đàn... Trời nổi mưa to gió lớn, bỗng thấy một cụ già cao hơn chín thước, mặt vàng bụng lớn, mày râu bạc trắng, ngồi ở ngã ba đường mà cười nói ca múa... dự đoán thời gian giặc tới, cách tìm người tài... biến mất.
+ Việc lớn lên kì lạ của cậu bé chỉ biết nằm, nhận trách nhiệm đánh giặc.
+ Cưỡi ngựa mà lên trời.
- Ý nghĩa, tư tưởng của các yếu tố kì ảo:
+ Tác giả đã vận dụng thành công yếu tố thần kì để xây dựng và ca ngợi nhân vật anh hùng. Phù Đổng Thiên Vương đã hiện lên với vẻ đẹp kì vĩ, cùng sức mạnh phi thường và trở thành biểu tượng biểu trưng cho những nét đẹp hào hùng nhất về người anh hùng chống ngoại xâm → Thể hiện lòng yêu nước, tự hào dân tộc.
+ Đánh giặc giữ nước cần phải sử dụng sức mạnh tổng hợp, sự đồng lòng nhất trí của toàn dân và sự chỉ đạo của người đứng đầu đất nước; Đánh giặc giữ nước cần có sự ủng hộ, phù trợ của cha ông, đất trời,...
- Thái độ của tác giả đối với nhân vật, sự kiện lịch sử:
+ Đánh giặc giữ nước là sự kiện quan trọng, người dân, người đứng đầu đất nước luôn có ý phòng vệ và bảo vệ đất nước.
+ Đánh thắng giặc Ân là sự kiện lịch sử quan trọng, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.
+ Tác giả tôn vinh ngợi ca vua Hùng và Thánh Gióng – những bậc vĩ nhân, kì tài trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc.
Câu 2. (4đ)
|
So sánh, đánh giá hai tác phẩm viết về người anh hùng Thánh Gióng ở Truyện Đổng Thiên Vương (Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp) và truyền thuyết Thánh Gióng (SGK Ngữ văn 6 – 3 bộ SGK) ở việc xây dựng cốt truyện và sử dụng các yếu tố kì ảo. Từ đó nhận xét về sự ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
So sánh, đánh giá hai tác phẩm viết về người anh hùng Thánh Gióng ở Truyện Đổng Thiên Vương (Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp) và truyền thuyết Thánh Gióng (SGK Ngữ văn 6 – 3 bộ SGK) ở việc xây dựng cốt truyện và sử dụng các yếu tố kì ảo. Từ đó nhận xét về sự ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề (điểm chung giữa hai tác phẩm đề yêu cầu so sánh); hai tác phẩm và tác giả cần so sánh. - Nêu bình diện cần so sánh, vị trí của chúng đối với tác phẩm/dư luận |
|
Thân bài |
3,0 |
* Điểm tương đồng về cốt truyện, các yếu tố kì ảo. Học sinh liệt kê các sự việc chính trong Truyện Đổng Thiên Vương (Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp) và truyền thuyết Thánh Gióng (SGK Ngữ văn 6 – 3 bộ SGK) → Phân tích, so sánh, bình luận để làm nổi bật ý nghĩa của điểm tương đồng (thái độ đối với nhân vật lịch sử; thể hiện lòng yêu nước, tự hào dân tộc) * Điểm khác biệt về cốt truyện, các yếu tố kì ảo - Học sinh liệt kê các sự khác biệt về cốt truyện ở Truyện Đổng Thiên Vương (Lĩnh Nam chích quái – Trần Thế pháp) so với truyền thuyết Thánh Gióng (SGK Ngữ văn 6 – 3 bộ SGK) - Phân tích, so sánh, bình luận để làm nổi bật ý nghĩa của khác trách nhiệm của cá nhân đối với đất nước, chân dung nhân vật chính,...). * Lí giải nguyên nhân của sự khác biệt - Truyền thuyết Thánh Gióng (SGK Ngữ văn 6 – 3 bộ SGK) thuộc văn dân gian. Truyện Đổng Thiên Vương (Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp) là truyện truyền kì được sáng tạo, phát triển từ văn học dân gian, Truyền thuyết Thánh Gióng. Yếu tố kì ảo trở thành phương tiện nghệ thuật để truyền tải nội dung mang ý nghĩa rộng lớn hơn. |
|
Kết bài |
0,25 |
- Sự ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết: + Văn học dân gian là nền tảng của văn học viết, là chặng đầu của nền văn học dân tộc. + Văn học viết chịu ảnh hưởng văn học dân gian về nhiều phương diện, từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật. - Khẳng định sự thành công của hai tác phẩm: thể hiện lòng yêu nước và tôn vinh anh hùng dân tộc, thể hiện niềm tự hào dân tộc,... |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng thành thạo thao tác so sánh, tổng hợp, chứng minh. – Thể hiện rõ sự đánh giá của cá nhân về các yếu tố được so sánh. |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 3
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
KHÔNG THỂ THÀNH NGƯỜI
(A – dít Nê - xin)
Trong bọn tôi chỉ cần có một kẻ nào đó hoài nghi kêu lên rằng: “Không thể được, anh em ơi, lũ chúng ta không thành người được!” là lập tức mọi người gật đầu tán thưởng: “Đu-u-úng! Chí phải, chí chí phải, không thể thành người!”. Và không bói đâu ra một người phản bác: “Sai lại thế! Phải tự trọng chứ!”
Hồi còn trẻ, có một lần, dạo ấy tôi vào quãng hai mươi nhăm tuổi, bầu nhiệt huyết còn sôi sục, tôi đã cả gan chống lại luận thuyết đó.
Lần ấy tôi đi tàu thuỷ ra đảo Hoàng Nam, bỗng có một người đàn ông làu nhàu:
“Xin lỗi các người, làm sao chúng ta có thể thành người được!”. Mọi người có mặt trong phòng lúc ấy đều gật đầu đồng ý. Riêng tôi thì nóng mắt cự lại: “Sao lại không thành? Dứt khoát là thành!”.. Mà còn thành những người làm chấn động địa cầu là khác.
Mọi người trong phòng khách tuồng như ăn ý với nhau từ trước, đồng thanh kêu ầm lên: Bậy nào, bậy nào, không thể thành người được....
Được mọi người hỗ trợ, ông già kia bớt nóng: “Nghe thấy chưa, con?... Các vị đây đều nhất trí ủng hộ tôi đấy. “Thành người!... Nhất định sẽ thành người!” – Tôi lặp lại.
Ông già cười nhạt: “Đó, con vừa nói: “Nhất định sẽ thành người.” Như thế nghĩa là trước đây và bây giờ chưa thành người chứ sao.
Từ bấy đến nay bao nhiêu năm trôi qua mà lúc nào tôi cũng băn khoăn: “Vì sao chúng ta không thành người được?”. Lần đi tù mới đây đã mở cho tôi đôi mắt; cuối cùng tôi đã tìm ra câu đáp.
Những ngày tiếp người nhà, tôi được nghe toàn những tin xấu. Tôi thấy nặng nề, ủ dột. Tệ hơn nữa là tôi có mặc cảm tuyệt vọng và nghĩ chỉ còn một lối thoát: phải lập tức ngồi viết tiểu thuyết. Không được lãng phí thời giờ! Phải chấm dứt chuyện trò ba láp hoặc ngồi không, nghĩ vớ nghĩ vẩn.
Chưa viết được mươi dòng thì một vị phạm nhân đầu óc sáng láng đến gần tôi: “Chúng ta không thể thành người được! Quyết không, quyết không!”. Rồi ông ta kể lể dài dòng và cặn kẽ về cuộc sống ở hai nước Anh và Bỉ. Tôi phát rầu rĩ và đưa mắt nhìn xuống, cố ý cho ông ta hiểu rằng tôi rất bận và mong ông ta đứng dậy. Than ôi!
Bạn tôi nào có biết phán đoán. Ông ta cứ thế mà nhớ đâu nói đấy: “Bên ấy, anh sẽ thấy không ai không cầm sách vở. Đi ô tô, đi tàu hoả, chỗ nào cũng đọc”.
– Chà, ghê thật, ghê thật! – Tôi ngắt lời ông với hi vọng ông ấy tha cho tôi nhờ.
– Ghê hẳn đi chứ lị! – Ông ta nói tiếp. – Còn bây giờ anh cứ thử nhìn những
người quanh đây xem. Ai cũng nhận mình là trí thức mà không có ai cầm sách cả.
Không, bạn thân mến của tôi ơi, chúng ta không thành người được...[...]
Thế là tôi mất đứt nửa ngày để nghe một bài giảng về lòng hiếu sách của người Thuỵ Sĩ và của người Bỉ.
Nuốt vội vàng mấy hạt cơm trưa, tôi lại leo lên giường viết sách. Tờ giấy trên đầu gối, cây bút trong tay, tôi vừa ngồi vừa nghĩ. Chưa viết được một chữ nào, lại một người quen bước đến:
– Anh làm gì vậy?
– Tôi viết tiểu thuyết.
Ở đây viết không ra cái gì đâu. Anh này ngộ thật... Anh đã ở châu Âu lần nào chưa!
- Không, tôi chưa bao giờ ra khỏi đất Thổ.
- Tiếc quá! Thế thì anh phải đi châu Âu mới được. Sống bên đó, được tận mắt
nhìn thấy mọi vẻ sinh hoạt là điều rất thú vị. Những chuyến đi ấy làm con người
mở rộng được tầm mắt. Tôi đã đi hầu khắp châu Âu, có lẽ không nước nào không đặt chân tới. Lâu nhất là thời kì tôi ở Đan Mạch, Hà Lan, Thụy Điển. Ở các nước đó, mọi người tôn trọng nhau hết sức. Thậm chí người ta không nói to để khỏi phiền người bên cạnh. Còn ở nước ta, anh xem! Muốn thủng hai màng nhĩ! Có lúc tôi muốn chợp mắt một tí, muốn đọc hoặc viết một tí, tôi thiếu gì việc phải làm hả anh, thế mà cũng không được. Ôn như chợ vỡ thế này thì anh không viết tiểu thuyết được đâu. Không thể viết được.
- Ôn như chợ vỡ tôi cũng viết được. Tôi chỉ không viết được khi bị người khác
lải nhải bên tại mà thôi.
- Bạn thân mến ơi, nhưng được yên tĩnh thì thích hơn biết mấy. Có phải thế
không? Mà họ có quyền gì quấy rầy anh kia chứ. Họ có thể nói nhỏ được quá chứ lị. Ở Đan Mạch, Thuỵ Điển, Hà Lan, không có ai bất lịch sự như thế bao giờ. Dân chúng người ta tân tiến vì biết tôn trọng lẫn nhau...
Ông ta cứ nói lảm nhảm hết chuyện này chuyện khác, lôi ra trăm thứ dẫn dụ để minh hoạ cho trình độ lịch thiệp và giáo dục của người châu Âu.
Tôi cúi xuống mặt giấy và bắt đầu viết. Nói đúng hơn là tôi làm ra bộ viết. Hẳn như thế là bất nhã, nhưng tôi còn biết làm sao khác được?
- Đừng hoài công vô ích. – Ông bạn lại nói. – Không viết được gì đâu. Viết thế anh chỉ làm hỏng đầu óc. Nước Thổ chứ có phải châu Âu đâu. Bạn thân mến của tôi ơi, chính vì lẽ đó mà chúng ta không nên người được đâu. Không, chẳng
thể nào được.
Chắc ông ta chưa chịu kết thúc ngay, nhưng may quá, luật sư của ông ta đến cho tôi.
Sợ rằng có người khác đến ám, tôi cúi gằm hẳn mặt xuống.
Vừa viết được hai dòng, lại một ông bạn cùng xà lim bước đến.
– Chúc anh thành công! – Ông ta nói.
Ông ta ngồi xuống giường tôi, nói: “Còn xa chúng ta mới thành những người chân chính.” Tôi không hé răng nửa lời hòng chặn đứng câu chuyện ngay khởi thuỷ.
- Tiếc thật! Anh được ở bên Mĩ vài tháng anh sẽ thấy ngay vì sao chúng ta lạc hậu thế này. Người Mĩ đâu có như ta, họ không thích tán gẫu. Bên họ có câu: “Time is money. (Thời gian là tiền bạc). Còn nước Thổ ta thì sao? Cứ lấy chúng ta ra mà xem. Chúng ta đang làm gì? Chính vì vậy mà họ tân tiến.
Tôi thở dài liên tiếp, lòng thầm mong ông ta hiểu cho rằng tôi rất bận và mong ông ta đi đi cho rồi. Nhưng ông ta cứ tiếp tục... Đến giờ ăn tối, ông ta bảo:
Chúng ta không thành người được! Đúng thế. Cứ cái lối sa đà trò chuyện thế
này thì chẳng có bao giờ nên người.
– Bác nói thật chí lí. – Tôi đáp. Khoắng vội cho xong bát cơm, tôi quay về làm việc. Tiểu thuyết! Phải viết tiểu thuyết.
– Cái chính là phải lao động. Những việc khác là phụ. – Tôi bỗng nghe có tiếng người nói bên cạnh.
- Theo anh thì sao? – Anh ta hỏi và ngồi xuống giường bên.
– Ai dám tranh luận chuyện đó? Lao động cần quá đi chứ. – Tôi đáp
Còn anh bạn thì sôi nổi tiếp tục: “Tôi sang Đức học đại học, sau đó tôi lại làm
việc ở bên ấy nhiều năm. Người Đức chả có ai ăn không ngồi rồi cả. Còn bên ta thì thế nào? Cứ lấy tất cả những người trong khám này ra làm bằng mà xem.
chúng ta không thể thành người được. Còn lâu chúng ta mới thành những người
chân chính.”
Tôi hiểu ra: Người ta không cho tôi viết tiểu thuyết. Cố viết, tôi chỉ giết chết thần kinh của mình thôi. Tận nửa đêm anh ta mới về. Bây giờ có thể làm việc được rồi. Không ai còn đến ngồi quấy phá và lên lớp cho tôi về chuyên đề lí do khiến chúng ta không nên người được.
Chao ôi, tôi đã lầm to: lại có người đến. Ông ta khe khẽ thì thầm sợ phiền đến giấc ngủ mọi người. Theo lời ông, người Pháp biết làm việc ra trò, nghỉ ngơi và vui chơi ra trò, dân tộc đó không bao giờ lẫn lộn thời gian làm việc với thời gian nghỉ ngơi. Rồi ông ta khuyên tôi không nên làm việc qua nửa đêm như thế.
- Bây giờ anh đi ngủ đi, sáng mai, đầu óc tỉnh táo, anh lại tiếp tục viết. Bên nước ta, mọi thứ cứ lùng nhùng với nhau không ra cái gì cả. Lúc nghỉ thì mình làm việc, giờ làm việc thì lại muốn nghỉ. Không bao giờ chúng ta thành người được đâu.
Không bao giờ.
Lúc ông ta đi thì tôi cũng không còn sức để viết được nữa. Hai mí mắt tôi cứng lại, tôi lăn ra ngủ vùi. Sáng hôm sau, tôi dậy thật sớm và bắt tay vào việc. Một người cùng khám mà tôi rất kính nể vừa đi ngoài về. Thấy tôi, ông ta bước lại
- Mọi thứ ở bên Anh không có như bên ta. – Ông ta nhận xét. – Anh đã ở bên Anh bao giờ chưa?
- Anh cứ hình dung anh đang ở bên ấy và đang đi tàu. Người cùng phòng với anh suốt nửa ngày không thèm nói câu nào... Còn bên ta, anh đang bận hay đang
rỗi, mặc, cứ tán phét. Chính vì thế mà chúng ta chẳng bao giờ thành người được cả.
Tôi vò nát tờ giấy trên đầu gối, quẳng xuống gậm giường và nhét bút vào túi. Thế là hết... Thế là tiêu tan cái mộng tiểu thuyết của tôi. Phải, trong tù, tôi không viết được gì cả. Nhưng nhà tù đã mở ra cho tôi chân lí trăm ngàn lần quý hơn cuốn sách thai nghén kia. Tôi đã hiểu ra vì sao chúng ta không thể thành người được.
Giờ chỉ cần ai nói rằng: “Không, chúng ta không thể thành người được... thì lập tức tôi giơ tay hô lớn: Tôi biết lí do rồi. Tôi trưởng thành hẳn lên.
Đức Mẫn dịch
(A-dít Nê-xin, Những người thích đùa, NXB Hội Nhà văn, 1998)
* Tác giả A-dít Nê-xin, (1915 –1995): tên khai sinh là Mehmet Nusret. Ông là một nhà văn châm biếm được ngưỡng mộ ở Thổ Nhĩ Kì và là tác giả của hơn 100 cuốn sách. Sau khi làm viên chức trong vài năm, ông trở thành người biên tập của một loạt tạp chí trào phúng châm biếm nghiêng về chủ nghĩa xã hội.
Câu 1. Xác định tình huống truyện Không thể thành người. Phân tích mối quan hệ giữa tình huống truyện với nội dung của truyện (0,5đ)
Câu 2. Truyện được thuật kể từ điểm nhìn trần thuật nào? Điều đó có ý nghĩa gì? Các cụm từ chỉ thời gian có tác dụng như thế nào trong trần thuật? (1đ)
Câu 3. Vì sao nhân vật “tôi” không thể thực hiện được ý định viết tiểu thuyết của mình? Một số người trong tù (nói chuyện với “tôi”) có đặc điểm chung nào? Đặc điểm ấy có tồn tại trong đời sống chúng ta không?(1đ)
Câu 4. Nêu ý nghĩa về phong cách viết của truyện? Điều đó có ý nghĩa gì? Em hãy dẫn tên tác giả hoặc tác phẩm văn học của Việt Nam có phong cách như vậy (1đ)
Câu 5.
Văn bản đọc hiểu Không thể thành người (A – dít Nê – xin) đã đề cập tới vấn đề nào của con người thời hiện đại? Em hãy vẽ sơ đồ thể hiện 4 vấn đề em cho là quan trọng nhất trong văn bản đó (0,5đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Nhận xét của em về nhân vật “tôi” và cho biết: Nhân vật này đem tới cho em nhận thức, bài học gì? Tác giả đã thể hiện quan điểm như thế nào về việc nhận thức, đánh giá con người và cuộc sống (Trả lời bằng đoạn văn khoảng 200 chữ) (2đ)
Câu 2.
Em hãy lựa chọn từ một vấn đề cần thiết đối với thanh niên (trong những vấn đề đã xác định ở câu 1) và viết bà luận (khoảng 500 chữ) thể hiện quan điểm của mình về vấn đề đó (4đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 3
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Xác định tình huống truyện Không thể thành người. Phân tích mối quan hệ giữa tình huống truyện với nội dung của truyện (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Mọi người gật đầu tán thưởng ý kiến: “Không thể được, anh em ơi, lũ chúng ta không thành người được!... chỉ “tôi” đã cả gan chống lại luận thuyết đó
- Mối quan hệ giữa tình huống truyện với nội dung của truyện: tình huống nhận thức đã mở đầu cho hành trình nhận thức của nhân vật “tôi”: từ phản đối luận thuyết đến đồng tình và hiểu sâu sắc “luận thuyết”
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2. Truyện được thuật kể từ điểm nhìn trần thuật nào? Điều đó có ý nghĩa gì? Các cụm từ chỉ thời gian có tác dụng như thế nào trong trần thuật? (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, nhớ lại kiến thức về điểm nhìn trần thuật
Chú ý các cụm từ chỉ thời gian
Lời giải chi tiết:
– Truyện được thuật kể từ điểm nhìn trần thuật của nhân vật “tôi” (với điểm nhìn bên trong và bên ngoài) để diễn tả nhận thức của “tôi” từ những tác động của cuộc sống.
– Các mốc thời gian quan trọng:
+ Hồi còn trẻ
+ Lần ấy
+ Từ bấy đến nay
+ Bây giờ .
- Ý nghĩa các mốc thời gian: để diễn tả quá trình/hành trình nhận thức của “tôi” về một vấn đề “chúng ta không thành người được!” → Nhận thức là cả một quá trình, không thể hiểu và thể hiện quan điểm, chính kiến của bản thân về một vấn đề khi chưa nhận thức sâu sắc về vấn đề đó.
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Vì sao nhân vật “tôi” không thể thực hiện được ý định viết tiểu thuyết của mình? Một số người trong tù (nói chuyện với “tôi”) có đặc điểm chung nào? Đặc điểm ấy có tồn tại trong đời sống chúng ta không?(1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Liên hệ tới thực tế đời sống
Lời giải chi tiết:
- “Tôi” không thể thực hiện được ý định viết tiểu thuyết: bởi thường xuyên bị làm phiền, không có thời gian để suy nghĩ, không dám nói thẳng và từ chối những câu chuyện làm mất thời gian của mình.
- Đặc điểm chung của một số người tù:
+ Hay viện dẫn các nước châu Âu để chứng tỏ sự hiểu biết của mình.
+ Lời nói mâu thuẫn với việc làm; nói một đằng, làm một nẻo (biết rõ con người
cần đọc sách, không để thời gian lãng phí bởi câu chuyện nhảm... nhưng mình lại làm những điều đó và không chịu đọc sách).
+ Thường xuyên làm phiền người khác, không nhận thức được việc mình làm
+ Biết rõ lí do vì sao khó thành người nhưng không sao khắc phục được.
- Hay viện dẫn các nước châu Âu để chứng tỏ sự hiểu biết của mình là một căn bệnh nặng, vẫn hiện hiện trong đời sống của chúng ta
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Nêu ý nghĩa về phong cách viết của truyện? Điều đó có ý nghĩa gì? Em hãy dẫn tên tác giả hoặc tác phẩm văn học của Việt Nam có phong cách như vậy (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và rút ra phong cách viết của truyện
Liên hệ tới tác giả tác phẩm văn học Việt Nam
Lời giải chi tiết:
- Truyện được viết theo phong cách trào phúng:
+ Khai thác mâu thuẫn giữa hành động với lời nói của các nhân vật.
+ Giọng văn hài hước châm biếm rất dí dỏm nhưng cũng rất sâu sắc .
+ Biệt tài của A-dít Nê-xin không chỉ ở chỗ biết phát hiện ra những khía cạnh tức cười trong những chuyện tưởng như không có gì đáng cười xảy ra hằng ngày.
+Ông biết “kể” lại chúng với một giọng hài hước khiến ta không thể không bật cười.
- Ý nghĩa:
+ Ông châm biếm các thói hư tật xấu của con người trong xã hội. (Học sinh tự đưa dẫn chứng.).
+ Truyện làm bật lên tiếng cười hài hước khiến độc giả tự soi vào mình.
Tên tác giả/tác phẩm (có phong cách trào phúng): Nguyễn Công Hoan, Vũ
Trọng Phụng,...
Câu 5 (0,5 điểm)
Văn bản đọc hiểu Không thể thành người (A – dít Nê – xin) đã đề cập tới vấn đề nào của con người thời hiện đại? Em hãy vẽ sơ đồ thể hiện 4 vấn đề em cho là quan trọng nhất trong văn bản đó (0,5đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:

II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Nhận xét của em về nhân vật “tôi” và cho biết: Nhân vật này đem tới cho em nhận thức, bài học gì? Tác giả đã thể hiện quan điểm như thế nào về việc nhận thức, đánh giá con người và cuộc sống (Trả lời bằng đoạn văn khoảng 200 chữ) (2đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức phân tích ở trên và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Học sinh viết đoạn văn đảm bảo độ dài và hướng vào các nội dung chính sau:
- Nhân vật “tôi” là người: (Học sinh tham khảo gợi ý sau; bổ sung theo ý hiểu
của cá nhân.)
+ Có nhận thức, quan điểm và dám bày tỏ nhận thức, quan điểm của mình.
+ Là người chắt lọc được những bài học quý giá từ cuộc sống.
+ Chưa quyết liệt bày tỏ hoặc từ chối những điều đáng từ chối... thái độ không quyết liệt của anh ta đã tiêu tán thời gian, khiến thời gian của mình trôi đi trong vô ích.
+ Quan điểm của nhân vật tôi đã thay đổi: Từ cả gan chống lại luận thuyết:
“Không thể được, anh em ơi, lũ chúng ta không thành người được!” – đến đồng tình và hiểu sâu sắc lí do con người không thể thành người. (chỉ cần ai nói rằng: “Không, chúng ta không thể thành người được!” thì lập tức “tôi” giơ tay hô lớn: “Tôi biết lí do rồi. Tôi trưởng thành hẳn lên.).
- Nhận thức, bài học từ “tôi”: Học sinh từ đúc rút (cần sát với biểu hiện của “tôi”)
- Quan điểm của tác giả:
+Để nhận thức sâu sắc một vấn đề cần có một quá trình.
+ Hiện thực cuộc sống trao cho con người những bài học quý giá.
+ Từ nhận thức/lời nói đến việc làm là một khoảng cách lớn.
+ Đánh giá một con người cần chú trọng đến hành động/việc làm của họ hơn là lời nói,
Câu 2.
|
Em hãy lựa chọn từ một vấn đề cần thiết đối với thanh niên (trong những vấn đề đã xác định ở câu 1) và viết bà luận (khoảng 500 chữ) thể hiện quan điểm của mình về vấn đề đó (3,5đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Em hãy lựa chọn từ một vấn đề cần thiết đối với thanh niên (trong những vấn đề đã xác định ở câu 1) và viết bà luận (khoảng 500 chữ) thể hiện quan điểm của mình về vấn đề đó (3,5đ) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
– Giới thiệu vấn đề nghị luận (xác định được vấn đề của tuổi trẻ). – Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ. |
|
Thân bài |
2,5đ |
* Làm rõ cách hiểu vấn đề; vai trò của vấn đề đối với tuổi trẻ - Cách hiểu vấn đề theo số đông. – Vai trò của vấn đề đối với học sinh lớp 12 trong thời điểm lựa chọn ngành nghề để học tập, để phát triển bản thân trong tương lai * Biểu hiện của vấn đề trong đời sống hiện đại - Một số dạng hiểu hiện (phân tích nguyên nhân và tác động đến giới trẻ, bản thân). - Nhận thức, hành động của thanh niên (Các góc nhìn về vấn đề). - Những tồn tại của vấn đề cần giải quyết (qua một số đối tượng). + Phân tích nguyên nhân, tác hại từ những tồn tại đã nêu *Đề xuất một số giải pháp (khả thi) để cải biến thực tại |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề. - Hành động của cá nhân (với bản thân, với những người gần gũi) |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng thành thạo thao tác so sánh, tổng hợp, chứng minh. - Dẫn chứng phong phú, đa dạng phù hợp với lí lẽ, luận điểm. |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 4
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
BÍ ẨN CỦA LÀN NƯỚC
(Bảo Ninh)
(1) Các dòng sông trôi đi như thời gian, và cũng như thời gian, trên mặt nước các triền sông biết bao nhiêu là chuyện đời đã diễn ra. Nhất là về đêm, trên làn nước của dòng sông quê hương tôi lấp lánh hằng hà những đốm sáng bí ẩn, có cả điều bí ẩn của đời tôi.
(2) Năm ấy, nhằm trúng đỉnh lũ đêm Rằm tháng Bảy, một loạt bom Mĩ phá tan vệt đê canh giữ đằng trước làng tôi. Dứt dậy nổ của bom và tiếng gầm ghê rợn của máy bay cường kích là chuỗi ầm ầm long lở của dòng sông phá bụng đê tràn ngang vào đồng ruộng.
Từ trên điếm canh, tôi chạy lao về làng. Hồi chiều, hay tin vợ ở nhà trở dạ nhưng tôi không thể rời vị trí hộ đê. Bây giờ giời đất sập rồi, trong tôi chỉ còn con tôi, vợ tôi. Tôi dốc toàn lực bình sinh vào đôi chân. Đằng sau, cơn đại hồng thuỷ đuổi bén gót.
Nước đã ngập làng. Tôi về, kịp dìu vợ leo lên mái. Mái nhà tranh của vợ chồng tôi bị lôi đi trong đêm đen. Đến khi mái rạ sắp rã tan ra thì ơn trời nó vướng vào thân đa trước đình làng. Đã cả một đám đông bám trên các cành. Nhiều bàn tay chìa xuống giúp tôi đỡ vợ con trèo lên. Vợ tôi ôm khư khư đứa con mới sinh, nhất định không để tôi bế đỡ.
– Con trai... con trai mà... con trai... Để yên em ẵm, anh vụng...
Nhiều giờ trôi qua. Mưa tuôn, gió thổi. Mực nước không dâng cao hơn, nhưng chảy xiết hơn. Cây đa đầy người hơn. Tôi mỏi nhừ. Tay ôm chặt vợ, tay níu mình vào chạc cây. Vợ tôi yếu lả, ướt lướt thướt, lạnh ngắt.
Khoảng gần sáng, bỗng có tiếng quẫy nước ngay dưới cành đa của vợ chồng tôi. Một giọng nghẹn sặc với lên:
- Cứu mẹ con tôi mấy... cứu mấy, người ơi...
Một bàn tay nhớt và lạnh như tay ma rờ vào chân tôi đang buông thống. Tôi vội cúi xuống, đưa tay ra. Nhưng bàn tay của người đàn bà dưới nước truội đi, chìm
nghỉm. Cành đa kêu rắc, chao mạnh. Vợ tôi “ối” kêu một tiếng thảng thốt, và “ùm” con trai tôi, đứa con sơ sinh tôi chưa được nhìn thấy mặt, tuột khỏi bọc ni-lông trên tay mẹ nó, sa xuống làn nước tối tăm.
- Con tôi...! – Vợ tôi hét rú lên và lao ngay lập tức xuống nước hòng chụp lấy con.
Tôi phóng mình theo. Nước lạnh, ngầu bùn, sâu hút và cuốn mạnh. Tôi vớ kịp thằng con, nhao vội lên, trao nó cho những bàn tay đang chìa xuống, rồi lại lặn tiếp ngay để cứu vợ. Nhiều người phi xuống theo để trợ sức tôi...
Tôi tỉnh lại, thấy trời sáng rồi và đã tạnh mưa. Tôi nằm trong khoang một ca-nô cứu nạn đầy ắp người. Hồi đêm, tôi đã vật lộn điên dại quyết sống mái một phen với làn nước giết người, nhưng tôi đã thua cuộc. Ứa ra cả máu tai máu mũi mà không những không cứu nổi vợ, đến thi thể cô ấy tôi cũng bất lực không tìm thấy. Khi ca-nô quân đội tới, mọi người đã phải dùng sức để buộc tôi rời mặt nước. Kiệt sức, tôi ngất đi. Khổ đau, tôi tỉnh dậy, nước mắt nóng rực, tế nhói. Một chị phụ nữ chen tới bên tôi, lên lời an ủi:
– Phận chị ấy đã vậy, thôi thì anh phải nén lòng lại, giữ sức khoẻ mà nuôi con.
Ơn trời, anh còn kịp cứu được cháu. Chao ôi, vừa kịp khóc chào đời đã trải một cơn kinh hoàng hú vía. Anh coi con anh này. Cứ như không. Đã bú, đã ngủ rồi đây này.
Ngoan chưa này... Ôi chao, nó tè dầm rồi này.
Chị nựng nịu, và từ từ giở bọc chăn chiên đang ủ kín con tôi. Chị thay tã cho nó. Tôi nhìn, chết lặng.
- Con tôi... – Tôi khóc, đỡ lấy bọc chăn. – Con tôi!
(3) Từ bấy tới nay, thời gian trôi qua và triền nước trôi đi, tôi đã có tuổi và con gái tôi đã thành một thiếu nữ. Nó là đứa con của làn nước, mọi người đều nói thế bởi vì chuyện nó sa xuống dòng nước lụt rồi được cha nó cứu lên thì cả làng ai cũng biết. Nhưng điều bí mật kia thì không ai hay, kể cả con gái tôi cũng không thể biết.
Chỉ có dòng sông biết.
Có ngày nào mà tôi không ra đê ngắm làn nước trôi. Vợ tôi, con tôi và người đàn bà vô danh nhìn tôi từ đáy nước. Thời gian, năm tháng cứ trôi, dòng sông và lịch sử, tất cả đều đổi thay nhưng mà niềm đau của đời tôi thì khôn nguôi bởi ấy là một niềm đau không thể nói nên lời.
(Bảo Ninh, Những truyện ngắn, NXB Trẻ, Tái bản 2021)
* Bảo Ninh sinh năm 1952, tên thật là Hoàng Ấu Phương, quê ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh (nay thuộc thành phố Đồng Hới), tỉnh Quảng Bình, Việt Nam. Ông từng chiến đấu ở mặt trận B3 Tây Nguyên. Từ 1976 – 1981, ông học đại học ở Hà Nội, sau đó làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam. Từ 1984 – 1986, ông học khoá 2 Trường Viết văn Nguyễn Du. Ông làm việc tại báo Văn nghệ Trẻ và là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1997.
Câu 1. Tóm tắt ngắn gọn nội dung truyện xác định tình huống thử thách đối với nhân vật “tôi” và ý nghĩa của tình huống ấy (1đ)
Câu 2. Nhân vật “tôi” là người thế nào? Em có đồng ý với nhân vật “tôi” để “điều bí mật kia không ai hay… chỉ có dòng sông biết” không? (1đ)
Câu 3. Xác định điểm nhìn trần thuật, nghệ thuật trần thuật trong văn bản Bí ẩn của làn nước. Việc sử dụng điểm nhìn, nghệ thuật trần thuật ấy có ý nghĩa như thế nào đối với việc truyền tải nội dung của văn bản? (1đ)
Câu 4. Bí ẩn của làn nước là gì? Em hãy xác định cảm hứng và thông điệp của văn bản bằng đoạn văn dài từ 7- 10 dòng (1đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Truyện ngắn Bí ẩn của làn nước có ý nghĩa như thế nào với đời sống hôm nay? Tác phẩm tác động tới nhận thức và cảm xúc của em như thế nào? (trả lời bằng đoạn văn khoảng 200 chữ) (2đ)
Câu 2.
Đọc đoạn trích từ văn bản Sống chết mặc bay của Phạm Huy Tốn sau đây và viết bài luận so sánh, đánh giá nét tương đồng và khác biệt với tác phẩm Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh (4đ)
SỐNG CHẾT MẶC BAY
(Phạm Huy Tốn)
Gần một giờ đêm, trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên lên to quá, khúc đê làng… thuộc phủ….. xem chừng núng thế lắm, hai ba đoạn đã thẩm lậu rồi, không khéo thì vỡ mất.
Dân phu kể hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ hết sức giữ gìn, kẻ thì thuổng kẻ thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy ngập quá khuỷu chân, người nào người nấy ướt lướt thướt như chuột lột. Tình
cảnh trông thật thảm.
Tuy trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người gọi nhau sang hộ, nhưng xem chừng ai ai cũng mệt lử cả, ấy vậy mà trên trời vẫn mưa tầm tã trút xuống, dưới sông thì nước bốc lên. Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi sức trời! Thế đê không sao cự lại được với thế nước! Lo thay! Nguy thay! Khúc đề này hỏng mất, ấy lũ con dân đang chân lấm tay bùn, trăm lo nghìn sợ, đem thân yếu hèn mà chống với mưa to gió lớn, để bảo thủ lấy tính mạng, gia tài, thế thời quan cha mẹ ở đâu?
Thưa rằng: đang ở trong đình kia. Cách đó chừng bốn năm trăm thước. Đình ấy cũng ở trên mặt đề, nhưng cao mà vững chãi, dẫu nước to thế nào cũng không việc gì.
Trong đình đèn thắp sáng trưng, nha lệ, lính tráng, kẻ hầu người hạ, đi lại rộn ràng. Trên sập mới kê ở gian giữa, có một mình quan phụ mẫu, uy nghi chễm chệ ngồi. Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra, để cho tên người nhà quỳ dưới đất mà gãi. Một tên lính lệ đứng bên, cầm cái quạt lông chốc chốc lại phe phẩy.
Tên nữa đứng khoanh tay chực hầu điếu đóm. Bên cạnh ngài, mé tay trái, bát yến hấp đường phèn, để trong khay khảm, khói bay nghi ngút, tráp đổi mới chữ nhật để mở, trong ngăn bạc đẩy những trầu vàng... trông mà thích mắt.
Ngoài kia tuy mưa gió ầm ầm, dân phu rối rít, nhưng trong này xem chừng tĩnh mịch, nghiêm trang lắm: trừ quan phụ mẫu, mọi người không dám to tiếng.
So với cảnh trăm họ đang lấm láp, gội gió tắm mưa như đàn sâu lũ kiến ở trên đê, thời ở trong đình rất là nhàn nhã, đường bệ, nguy nga: nào quan ngôi trên, nào nha ngồi dưới, người nhà lính lệ khoanh tay sắp hàng, nghi vệ tôn nghiêm, như thần như thánh. Thỉnh thoảng nghe tiếng quan phụ mẫu gọi: “Điếu mày”, tiếng tên lính hầu thưa: “Dạ”; tiếng thầy để hỏi: “Bẩm bốc”, tiếng quan lớn truyền: “Kẻ này “Bát sách! Ăn. Người kia “Thất văn”!... “Phỗng” lúc mau, lúc khoan, dung êm ái; khi cười, khi nói, vui vẻ, dịu dàng. Thật là tôn kính, xứng đáng với một vị phúc tinh.[...]
Quan lớn ù thêm. Người đầu cánh, kẻ cuối tay, tranh nhau phô bài để lớn rõ rằng: “Mình có đôi mà không dám phỗng qua mặt!”. Hèn chi mà quan chẳng ù luôn! Quan ù ấy là hạnh phúc....
Khi đó, ván bài quan đã chờ rồi. Ngài xơi xong bát yến vừa xong, ngồi khểnh vuốt râu rung đùi, mắt đang mãi trông đĩa nọc, bỗng nghe ngoài xa tiếng kêu vang dậy trời đất. Mọi người đều giật nảy mình, quan vẫn điềm nhiên, chỉ lăm le chờ người ta bốc trúng quân mình chờ mà hạ, vì ngài sắp ù to.
Có người khẽ nói:
- Bẩm, dễ có khi đê vỡ?
- Bẩm... quan lớn... đê vỡ mất rồi!
Ngài cau mặt, gắt rằng:
- Mặc kệ! [...]
- Đê vỡ rồi!... Đê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày. Có biết không... Lính đâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đây như vậy? Không còn phép tắc gì nữa à?
[...]
(Nguyễn Cừ, Phạm Duy, Phạm Duy Tốn – Tác phẩm chọn lọc, NXB Văn học 2002)
(*) “Sống chết mặc bay” đăng trên tạp chí Nam Phong, số 18/12/1918.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 4
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1. Tóm tắt ngắn gọn nội dung truyện xác định tình huống thử thách đối với nhân vật “tôi” và ý nghĩa của tình huống ấy (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Tóm tắt: “Tôi” nhớ lại đỉnh lũ đêm Rằm tháng Bảy, một loạt bom Mĩ phá
tan vệt đê, “tôi” hộ đê, vợ vừa sinh con trai, lũ cuốn nhà, cả nhà mắc lại trên cành đa cùng nhiều người trong đêm. Đúng lúc có người kêu cứu mẹ con tôi với, “tôi” với tay thì cành gãy, cả vợ con rơi xuống nước. “Tôi” lao vào dòng nước nhưng chỉ cứu được đứa bé gái. Ai cũng tưởng rằng “tôi” cứu được con. Tôi nuôi bé gái khôn lớn và ôm nỗi đau cùng bí mật chỉ dòng nước biết.
* Tình huống thử thách bất thường nằm ở đoạn số 2: người kêu, cành cây gãy, vợ con rơi xuống nước, “tôi” lao vào dòng nước nhưng chỉ cứu được đứa bé gái
(con người kêu cứu). Ai cũng tưởng rằng “tôi” cứu được con.
+ Tình huống, khoảnh khắc gay cấn, căng thẳng, sự đe doạ dồn dập... tính mạng người khó bảo toàn.
+ Tình huống phản ánh được hiện thực cuộc sống khó khăn: Chiến tranh và thiên tại.
+ Con người không thể toan tính buộc phải hành động gấp,... Bối cảnh buộc mỗi con người bộc bộ nhân cách, bản tính của mình.
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2. Nhân vật “tôi” là người thế nào? Em có đồng ý với nhân vật “tôi” để “điều bí mật kia không ai hay… chỉ có dòng sông biết” không? (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nêu ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Về nhân vật “tôi”: Học sinh dựa vào gợi ý sau và bổ sung dẫn chứng
+ Là người trải qua nhiều đau thương, mất mát, sống sâu sắc.
+ Là người trách nhiệm với vợ con, với xã hội.
+ Là người giàu yêu thương, nhân ái.
- Về việc giữ bí mật: Học sinh tự nêu ý kiến cá nhân (chú ý đến giả định nếu công khai/ không công khai bí mật điều gì sẽ xảy ra).
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Xác định điểm nhìn trần thuật, nghệ thuật trần thuật trong văn bản Bí ẩn của làn nước. Việc sử dụng điểm nhìn, nghệ thuật trần thuật ấy có ý nghĩa như thế nào đối với việc truyền tải nội dung của văn bản? (1đ) |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về điểm nhìn trần thuật và nghệ thuật trần thuật
Lời giải chi tiết:
- Điểm nhìn: Thuật kể từ điểm nhìn của nhân vật “tôi” (phối hợp điểm nhìn bên ngoài và điểm nhìn bên trong); điểm nhìn thuật trần thuật phù hợp để truyền tải nội dung của văn bản: những sự việc xảy ra với gia đình nhân vật “tôi” trong quá khứ nay đã thành nỗi đau không thể nguôi quên.
→ Nghệ thuật trần thuật từ người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, với điểm nhìn từ bên trong (suy ngẫm đoạn đầu và cuối) đã giúp độc giả đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật, khiến tác phẩm trở nên chân thực, giàu chất trữ tình.
- Nhịp điệu trần thuật:
+ Đoạn số 2: sự việc, chi tiết diễn ra nhanh, gấp gáp, nhịp câu ngắn để diễn tả tình thế hiểm nguy, kịch tính của cuộc sống;
+ Đoạn 1, 3 sử dụng điểm nhìn từ bên trong, nhịp điệu chậm để diễn tả nỗi đau, những suy nghĩ, trải nghiệm sâu sắc từ tấm lòng nhân ái của nhân vật “tôi”
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Bí ẩn của làn nước là gì? Em hãy xác định cảm hứng và thông điệp của văn bản bằng đoạn văn dài từ 7- 10 dòng (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Rút ra nội dung chính từ đó suy ra thông điệp
Lời giải chi tiết:
– Bí ẩn của làn nước: Vợ nhân vật “tôi” sinh con trai nhưng đứa bé anh cứu sống là con gái. Điều mọi người không biết là: vợ anh sinh con trai và ngay trước khi cành đa gãy có một người mẹ kêu: “cứu con tôi với!”. “Tôi” mất cả vợ con trong cơn lũ dữ.
– Cảm hứng: hiện thực; cảm thương
– Thông điệp
+ Trong những tình huống nguy nan, ranh giới sống chết chỉ như sợi tóc
con người vẫn có thể sống yêu thương, đùm bọc, sẻ chia, thậm chí hi sinh cả sinh mạng cho người khác, cao thượng, nhân hậu.
+ Trong cuộc sống vô tận, thời gian có thể xoá nhoà đi nhiều thứ song có những nỗi đau, mất mát còn đọng mãi, không thể nguôi yên hành động cao cả, tình thương và đức hi sinh đôi khi khiến người ta vẫn phải chịu ám ảnh, xót xa.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Truyện ngắn Bí ẩn của làn nước có ý nghĩa như thế nào với đời sống hôm nay? Tác phẩm tác động tới nhận thức và cảm xúc của em như thế nào? (trả lời bằng đoạn văn khoảng 200 chữ) (2đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức phân tích ở trên và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Học sinh viết đoạn đảm bảo độ dài và hướng vào các nội dung chính sau:
- Truyện ngắn Bí ẩn của làn nước có ý nghĩa:
+ Đề cập đến hiện thực – tình huống bất thường của cuộc sống – thiên tai lũ lụt) xảy ra hằng năm trên khắp đất nước ta và thế giới.
+ Sự mất mát, nỗi đau và tình người trong hoạn nạn.
– Tác động đến nhận thức, cảm xúc: Học sinh tự làm (Gợi ý: nhận thức cuộc sống luôn có biến động bất thường (thiên tai, tai nạn,...); Cảm xúc: đau xót, cảm thông, trân trọng cách ứng xử của nhân vật “tôi”).
Câu 2.
|
Đọc đoạn trích từ văn bản Sống chết mặc bay của Phạm Huy Tốn sau đây và viết bài luận so sánh, đánh giá nét tương đồng và khác biệt với tác phẩm Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Đọc đoạn trích từ văn bản Sống chết mặc bay của Phạm Huy Tốn sau đây và viết bài luận so sánh, đánh giá nét tương đồng và khác biệt với tác phẩm Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Giới thiệu hai tác phẩm và tác giả cần so sánh; vấn đề (điểm chung giữa hai tác phẩm đề yêu cầu so sánh). - Nêu bình diện cần so sánh và vị trí của chúng đối với tác phẩm/dư luận. |
|
Thân bài |
2,5đ |
* Điểm chung ở hai tác phẩm (dùng hình ảnh/chi tiết giàu ý nghĩa) – Thể loại: truyện ngắn - Bối cảnh, tình huống gay cấn, nguy hiểm bởi thiên tai, lũ lụt → Hai tác giả chọn thể loại truyện ngắn và bối cảnh lũ lụt để phản ánh cuộc sống và bản chất con người. - Phong cách hiện thực; tư tưởng nhân đạo (xót thương thảm cảnh con người trước thiên tai...). * Điểm khác biệt - Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn: tố cáo sự vô đạo, bất nhân của bọn quan lại, mang đậm giá trị hiện thực, nhân đạo cao cả về tình người. - Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh: Trong những tình huống nguy nan, ranh giới sống chết chỉ như sợi tóc, con người vẫn có thể sống yêu thương, đùm bọc, sẻ chia, thậm chí hi sinh cả sinh mạng cho người khác, cao thượng, nhân hậu. * Lí giải sự khác biệt: căn cứ vào hoàn cảnh ra đời của hai tác phẩm |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức, đánh giá của cá nhân về ý nghĩa của từng tác phẩm theo bình diện đã so sánh ở trên. - Đánh giá sự đóng góp, thành công của từng nhà văn (rút ra từ phần phân tích trên) đối với nền văn học. |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng thành thạo thao tác so sánh, tổng hợp, chứng minh. - Dẫn chứng phong phú, đa dạng phù hợp với lí lẽ, luận điểm. |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 5
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
HƠI ẤM BÀN TAY
(Lưu Quang Vũ)
Phút đưa nhau ta chỉ nắm tay mình
Điều chưa nói thì bàn tay đã nói
Mình đi rồi hơi ấm còn ở lại
Còn bồi hồi trong những ngón tay ta.
Như hai dòng sông gặp gỡ đổi phù sa
Nhập luồng nước, hoà nhau màu sắc
Trao cảm thương, hai bàn tay nắm chặt
Nghe máu mẹ cha chuyển giữa mỗi tay mình.
Những ngày xa, trời nhớ một màu xanh
Xây trận địa bàn tay ta rám nắng
Khi vuốt ngọn cỏ non khi lắp đạn
Khi áp lên vầng trán thấm mồ hôi.
Bàn tay ta trên ngực lớn cuộc đời
Ấm hơi ấm ở tay mình lưu luyến
Và ở tận đầu kia trận tuyến
Bàn tay mình mang ánh nắng tay ta.
Khi đàn chim bay tới rợp trời trưa
Cồn mây về mang cơn mưa đầu hạ
Hai vì sao đổi ngôi trong đêm gió...
Đó chính tay mình đang vượt khoảng xa
Tìm đến nơi này âu yếm nắm tay ta.
(Lưu Quang Vũ, Thơ tình, NXB Văn học, 2002)
Câu 1. Bài thơ có thể chia thành mấy đoạn? Hãy đặt tên cho từng đoạn để từ đó xác định mạch cảm xúc, cấu tứ độc đáo và hình tượng chính của bài thơ. (0.5 điểm)
Câu 2. Đọc khổ thơ đầu và trả lời câu hỏi a, b, c. (1.5 điểm)
a) Chủ thể trữ tình cảm nhận được hơi ấm bàn tay trong hoàn cảnh đặc biệt nào
b) Tác giả Lưu Quang Vũ muốn nói điều gì trong dòng thơ “Điều chưa nói thì bàn tay đã nói”? Phân tích thủ pháp nghệ thuật trong dòng thơ để làm rõ điều đó.
c) Phân tích cảm xúc của chủ thể trữ tình trong khổ thơ.
Câu 3.
Thi sĩ đã dùng những từ ngữ nào, thủ pháp nghệ thuật nào để diễn tả những cảm nhận của mình về hai bàn tay nắm chặt? Phân tích đôi điều làm rõ những cảm nhận đó trong khổ thơ thứ hai. (1.0 điểm)
Câu 4.
Đọc khổ 3, 4 và trả lời các câu hỏi a, b, c. (1.0 điểm)
a) Hình ảnh bàn tay ta được gợi tả trong những hoàn cảnh nào?
b) Các từ ngữ “Xây trận địa”, “lắp đạn” có vai trò như thế nào trong khắc hoạ bàn tay ta?
c) Điều gì làm nên vẻ đẹp cho bàn tay ta? Cảm xúc của tác giả khi nói và bàn tay ta?
Câu 5.
Tác giả gửi đến người đọc bức thông điệp nào? Em có đồng ý với điều đó
không? Những yếu tố nghệ thuật đặc sắc nào đã chuyển tải bức thông điệp đó?
(1.0 điểm)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Nêu đánh giá của em về nghệ thuật đặc sắc của bài thơ và ý nghĩa của hình ảnh bàn tay. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ để trả lời câu hỏi. (2.0 điểm) (2đ)
Câu 2.
Viết văn bản (600 chữ) so sánh, đánh giá hình ảnh đôi bàn tay trong bài thơ Hơi ấm bàn tay của Lưu Quang Vũ và trong bài thơ Bàn tay em của Xuân Quỳnh (sau đây). Từ đó làm nổi bật sự độc đáo trong cách kiến tạo hình tượng/hình ảnh thơ của mỗi tác giả.
BÀN TAY EM
(Xuân Quỳnh)
Gia tài em chỉ có bàn tay
Em trao tặng cho anh từ ngày ấy
Những năm tháng cùng nhau anh chỉ thấy
Quá khứ dài là mái tóc em đen
Vui, buồn trong tiếng nói, nụ cười em
Qua gương mặt anh hiểu điều lo lắng
Qua ánh mắt anh hiểu điều mong ngóng
Anh nghĩ gì khi nhìn xuống bàn tay?
Bàn tay em ngón chẳng thon dài
Vết chai cũ, đường gân xanh vất vả
Em đánh chắt chơi chuyền thuở nhỏ
Hái rau rền rau rệu nấu canh
Tập vá may, tết tóc một mình
Rồi úp mặt lên bàn tay khóc mẹ
Đường tít tắp, không gian như bể
Anh chờ em cho em vịn bàn tay
Trong tay anh, tay của em đây
Biết lặng lẽ vun trồng gìn giữ
Trời mưa lạnh tay em khép cửa
Em phơi mền vá áo cho anh
Tay cắm hoa, tay để treo tranh
Tay thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc
Năm tháng đi qua mái đầu cực nhọc
Tay em dừng trên vầng trán lo âu
Em nhẹ nhàng xoa dịu nỗi đau
Và góp nhặt niềm vui từ mọi ngả
Khi anh vắng bàn tay em biết nhớ
Lấy thời gian đan thành áo mong chờ
Lấy thời gian em viết những dòng thơ
Để thấy được chúng mình không cách trở....
Bàn tay em, gia tài bé nhỏ
Em trao anh cùng với cuộc đời em
(Xuân Quỳnh, Tự hát, NXB Tác phẩm mới, 1984)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 5
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1. Xác định đặc trưng của nhật kí trong văn bản Dòng suy tư cất tiếng (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về đặc trưng của thể nhật kí
Lời giải chi tiết:
- Về hình thức: có ngày tháng cụ thể 20/11/1971.
Về nội dung:
- Thể hiện những suy nghĩ thầm kín riêng tư của chủ thể – Nguyễn Văn Thạc:
+ Khao khát làm được bài thơ, nghĩ về thơ.
+ Khao khát gặp nhà thơ Phạm Tiến Duật.
– Có những yếu tố xác thực: thực tiễn diễn ra trong cuộc đời người lính trẻ (Đại
đội trưởng cũng đi rồi. Quân đội đúng là một đại gia đình, và đi đâu cũng người nhà cả mà thôi; đêm đi gác của Cầm,...).
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2. Hiện thực khách quan nào được phản ánh trong trang nhật kí Nguyễn Văn Thạc (văn bản đọc hiểu Dòng suy tư cất tiếng)? Những trang viết ấy đã bao quát vấn đề nào của cộng đồng và trong giai đoạn lịch sử nào (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào kiên thức bản thân và tìm hiểu trên sách, báo, internet
Lời giải chi tiết:
– Hiện thực khách quan được phản ánh:
+ Cuộc sống chiến đấu của những người lính trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước ở thế kỉ XX.
+ Chân dung người bạn tên Cầm.
- Những trang viết ấy đã bao quát những vấn đề của cộng đồng, trong những giai đoạn lịch sử:
+ Sự cống hiến của cá nhân đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc của đất nước.
+ Trong giai đoạn lịch sử: những năm 70 của thế kỉ XX, khi cuộc kháng chiến
chống Mĩ vào giai đoạn ác liệt nhất (gần đến ngày chiến thắng).
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Tác giả đã trăn trở, suy ngẫm về những vấn đề gì? Những trăn trở, suy ngẫm ấy cho ta biết điều gì về tác giả? (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý những chi tiết thể hiện sự trăn trở, suy ngẫm của tác giả
Lời giải chi tiết:
– Những trăn trở, suy ngẫm
+ Có điều là những cái nó viết ra xanh xao lắm, và hơi trừu tượng, nó đèm đẹp và trơn tru, nhẵn nhụi; Nó thiếu một sức ấm nóng lan toả.
+ Có điều thơ là gì mình cũng chịu. Thơ không cần chi tiết mà cần hình tượng. Hình tượng thơ phản ánh tâm hồn con người. Đó là điều quan trọng trong thơ.
+ Cuộc sống này, mình rất yêu, rất đắm mình vào. Nhưng sao ngòi bút cứ tắc.
+ Mình đã sống thật hay chưa? Chưa, chưa nghiêm túc sống Trong cả sinh hoạt,
trong cả rèn luyện và trong cả danh dự, lương tâm của người cầm bút tự giác.
→ Trăn trở về sống và viết, cống hiến cho cuộc đời.
- Tác giả mạnh mẽ, khát khao cống hiến và luôn coi sáng tác/viết phải thể hiện rõ lối sống, quan điểm và cống hiến cho cuộc đời (Cái nó viết ra xanh xao lắm, và hơi trừu tượng, nó đèm đẹp và trơn tru, nhẵn nhụi; Nó thiếu một sức ấm nóng lan toả.).
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Những sự việc nào, những ai xuất hiện trong trang nhật kí ngày 20/11/1971 của Nguyễn Văn Thạc, chúng đóng vai trò gì? Từ đó hãy nhận xét bút pháp viết nhật kí của tác giả (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản để liệt kê những nhân vật xuất hiện trong trang nhật kí
Dựa vào phong cách sáng tác nhật kí của tác giả
Lời giải chi tiết:
– Những sự việc, người xuất hiện trong trang nhật kí ngày 20/11/1971.
+ Cắt cho Đại đội trưởng cái đầu mới toe.
+ Người bạn tên Cầm.
+ An-tư-nai, Đuy Sen, P.
- Những sự việc, người xuất hiện trong trang nhật kí là cái cớ, là khơi nguồn cho
những cảm xúc suy nghĩ của anh về cuộc sống, con người và khát vọng của mình
- Bút pháp viết nhật kí của tác giả.
+ Sự việc, con người ít; cảm xúc suy tư là chủ đạo.
+ Ngôn ngữ giàu hình ảnh, cảm xúc.
+ Phối hợp kể, tả, bình luận thể hiện.
→ Thể hiện rõ nhu cầu giãi bày suy nghĩ, cảm xúc cá nhân.
→ Nhật kí của Nguyễn Văn Thạc thật sự là tiếng nói bên trong, là tiếng nói nội
tâm về những sự việc riêng tư, những tâm sự thầm kín, ý nghĩ thành thực, chất trữ tình lấn át tự sự.
Câu 5 (1 điểm)
|
Câu 5. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi a,b,c (1đ) a) Xác định biện pháp tu từ và hiệu quả thẩm mĩ của chúng trong: Thế nào là đề tài, chủ đề thơ? Thế nào là cấu tứ một bài thơ? b) Tìm những câu trong văn bản có nội dung tương đồng, gần gũi với câu: “Nhưng quan trọng hơn cả là nhìn cuộc sống ra sao để có thể đưa vào thơ, vào truyện những vấn đề nóng hổi của cuộc sống”. Chúng đã thể hiện được điều gì? c) Những câu đã xác định ở ý b nói lên điều gì về Nguyễn Văn Thạc? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ và yêu cầu của đề bài
Lời giải chi tiết:
a) Biện pháp tu từ điệp cấu trúc câu, câu hỏi → thể hiện những trăn trở, bàn về thơ, kĩ thuật làm thơ, đặc biệt là về đề tài, chủ đề và cấu tứ trong thơ
b) Những câu trong văn bản có nội dung tương đồng
- Ai đến với cuộc đời chiến đấu để làm thơ thì khó mà làm nên hỗn một bài thơ. Hãy bắt đầu từ cuộc sống, và từ đó sẽ nảy ra thơ.
- Đâu là “Đường vào thơ” ? Càng nghĩ, mình càng bị day dứt và dẫn vặt. Mình hiểu rằng không thể rời bỏ được thơ, được văn. Nhưng viết ra thì không đủ độ chín.
- Nhưng quan trọng hơn cả là nhìn cuộc sống ra sao để có thể đưa vào thơ, vào truyện những vấn đề nóng hổi của cuộc sống.
+ Tất cả đều hướng về thơ, sáng tác và ý nghĩa của chúng đối với cuộc đời
c) Những câu đã xác định ở ý b nói lên Nguyễn Văn Thạc:
- Am hiểu về thơ văn, giàu cảm xúc (Không phải là Lý Bạch để có thể quên “Hoàng hạc lâu” mà sáng tác)
- Say mê thơ và khát khao sáng tác.
- Quan niệm nghệ thuật: nghệ thuật phải bắt nguồn từ đời sống và phục phụ cuộc sống, con người.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Em có suy nghĩ và cảm xúc gì sau sau khi đọc văn bản Dòng suy tư cất tiếng? Chi tiết/câu văn nào trong văn bản để lại ấn tượng đặc biệt đối với em? Vì sao? (Trả lời bằng đoạn văn khoảng 200 chữ) (2đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức phân tích ở trên và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
- Học sinh tự trả lời (cần bám sát văn bản và chủ thể của văn bản) cần tách bạch hai ý: suy nghĩ và cảm xúc.
- Lựa chọn chi tiết trong văn bản để lại ấn tượng:
+ Xác định được chi tiết/câu văn có ý nghĩa (có thể việc phán đoán về nhà thơ
Hoàng Nhuận Cầm: Nhưng vì sao nó nắm bắt mạch thơ đúng thế. Tưởng như lời nào của nó cũng là thơ; về An-tư-nai, Đuy Sen).
+ Làm rõ ý nghĩa/lí giải tạo ấn tượng (về phản ánh/thể hiện sự đánh giá, nhận xét,...).
Câu 2.
|
Viết văn bản nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá làm rõ nét tương đồng và khác biệt về nội dung và bút pháp trong 2 đoạn nhật kí sau. Từ đó cho biết những trang nhật kí đó đã tác động tới bạn như thế nào? |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết văn bản nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá làm rõ nét tương đồng và khác biệt về nội dung và bút pháp trong 2 đoạn nhật kí sau. Từ đó cho biết những trang nhật kí đó đã tác động tới bạn như thế nào? |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
– Giới thiệu ngăn gọn về tác phẩm cần so sánh, đánh giá. – Nêu luận đề: nét khác biệt và điểm tương đồng và thành công riêng của mỗi tác giả. |
|
Thân bài |
2,5 |
* Nét tương đồng - Hoàn cảnh ra đời: trong kháng chiến chống Mĩ của dân tộc Việt Nam. – Tác giả: đều rất trẻ và đã hi sinh ở chiến trường. – Nội dung và ý nghĩa xã hội của hai đoạn nhật kí: + Phản ánh hiện thực khách quan, thời đại: cuộc kháng chiến nhiều hi sinh, mất mát. + Thể hiện chủ thể yêu nước và sống giàu tình cảm, trách nhiệm. * Khác biệt – Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm giàu sự việc, bộc lộ trực tiếp lòng yêu nước và căm thù giặc. - Nhật kí Nguyễn Văn Thạc ít sự kiện, giàu cảm xúc, văn phong mượt mà, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc. + Về sự thành công/giá trị của mỗi cá nhân. – Mở rộng bàn luận ở nhiều góc nhìn, theo sự vận động của cuộc sống hiện nay. |
|
Kết bài |
0,5 |
Nếu những tác động của hai nhật kí trên tới bản thân (cảm xúc, suy nghĩ) |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Sử dụng thành thạo thao tác so sánh, tổng hợp, chứng minh. - Dẫn chứng phong phú, đa dạng phù hợp với lí lẽ, luận điểm. |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 6
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
(Tóm tắt trước đoạn trích: Trong ấp (huyện) có chàng họ Vương, vào hàng thứ bảy, là con nhà cố gia, tuổi trẻ mộ đạo, nghe nói trên núi Lao Sơn(1) có một vị tiên, liền quẩy tráp tới thăm. Thấy đạo lí huyền diệu, họ Vương quyết định ở và tôn vị đạo sĩ ấy làm thầy. Sau hơn một tháng phải làm việc, họ Vương tay chân phỏng mọng, có bụng muốn về….)
[1] Một buổi chiều, về đến quản, thấy đạo sĩ đang ngồi uống rượu với hai người khách. Trời đã tối mà chưa thấy thắp đèn, đốt lửa gì cả. Đạo sĩ bèn cắt một miếng giấy tròn như tấm gương, dán lên vách. Phút chốc, ánh trăng vằng vặc từ trên vách chiếu xuống, sáng rõ cả ngọn cỏ, sợi tơ. Bọn học trò chạy quanh hầu hạ.
Một người khách nói:
- Đêm nay trời đẹp, cùng nhau vui uống, nên cho ai nấy đều vui.
Bèn cầm hồ rượu trên bàn, rót cho bọn học trò đứng hầu, dặn mọi người nên uống thật say. Vương nghĩ bụng hồ rượu nhỏ như thế mà chia ra bảy, tám người làm sao cho đủ. Thấy bọn chúng, đứa cầm chén, đứa vác chậu, tranh nhau uống trước, như sợ mất hết, không tới lượt mình. Vậy mà rót hết chén này đến chén khác vẫn chẳng thấy rượu vơi đi chút nào, bụng thầm lấy làm lạ.
Bỗng một vị khách nói:
- Dưới trăng đẹp mà uống suông mãi cũng buồn. Sao chẳng mời chị Hằng chơi?
Đạo sĩ bèn lấy một chiếc đũa, vứt vào giữa Mặt Trăng. Bỗng thấy một người đẹp từ trong bóng sáng bước ra: lúc mới đến, chưa đầy một thước, mà vừa đặt chân từ trong bởi cao lớn như người thường, lưng thon thả, cổ trắng muốt, áo quần phấp phới, uyển chuyển múa khúc Nghê Thường. [...]
[2] Vương thích lắm, đem lòng kính mộ đạo sĩ, bụng muốn về cũng tiêu tan. Lại qua một tháng nữa, khổ không kham, mà đạo sĩ vẫn chưa truyền cho một phép gì. Sốt ruột quá, bèn lên cáo từ, xin về:
- Đệ tử qua mấy trăm dặm đường tới xin học thầy; dẫu chẳng học được cái đạo trường sinh bất tử, cũng mong thầy dạy cho chút gì gọi là há chút lòng cầu học. Thể mà qua hai, ba tháng, chỉ những sáng đi kiếm củi, tối lại trở về. Hồi ở nhà, đệ từ chưa bao giờ khổ như thế.
Đạo sĩ cười, bảo:
- Ta đã nói trước là anh không chịu nổi khó nhọc, nay đã quả nhiên. Sáng mai, sẽ cho người dẫn anh về.
Vương lại nài nỉ:
- Đệ tử làm lụng đã nhiều, xin thầy dạy cho một thuật mọn, khỏi phụ công lao đệ tử lặn lội tới đây. Đạo sĩ hỏi muốn cầu thuật gì, Vương nói: Thường thấy thầy đi đâu, tường vách không ngăn nổi, chỉ xin một phép ấy cũng đủ lắm. Đạo sĩ cười, nhận lời. Bèn dạy cho phép bắt quyết(4), bảo miệng đọc mấy câu thần chú, rồi hô: “Vào đi! Vào đi!”. Vương đối mặt với bức tường, nhưng ngần ngừ không dám vào. Đạo sĩ lại hô rằng:
- Cứ vào đại thử coi!
Vương theo lời, thong thả tiến lại, nhưng đến tường bị vấp. Đạo sĩ bảo cúi đầu, vào thật nhanh, đừng rụt rè. Vương bước xa bức tường mấy bước, đọc câu thần chú, bước nhanh tới, cảm thấy như chỗ trống không. Quay nhìn lại thì đã thấy mình ở bên kia tường. Mừng quá, vào lạy tạ xin về.
Đạo sĩ nói:
- Về nhà phải giữ gìn đứng đắn; không thể thì phép không nghiệm nữa đâu.
Nói rồi, cấp tiền cho Vương ăn đường mà về.
Đến nhà, chàng khoe đã gặp tiên, tường vách dày đến đâu cũng không ngăn nổi. Vợ không tin. Vương theo như cách đạo sĩ đã dạy, cách tường mấy bước,cúi đầu chạy ù vào. Đầu đập tường cứng ngã lăn đùng. Vợ nâng dậy, nhìn xem, thấy trản sưng bươu bằng quả trứng. Vợ chế giễu mãi. Vương vừa thẹn vừa tức, chửi mãi lão đạo sĩ bất lương.
(Bồ Tùng Linh, Liêu trai chí dị (Nguyễn Đức Lân dịch), NXB Văn học, Hà Nội, 2006,
tr. 20–23)
(1) Núi Lao Sơn: ngọn núi nổi tiếng ở phía đông nam tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.
(2) Đạo sĩ: người tu tiên.
(3) Bồ đoàn: chiếc chiếu đan bằng cỏ bồ, hình tròn, để người đi tu hành quỳ hoặc ngồi cho êm, mỗi khi hành lễ.
(4) Bắt quyết: dùng ngón tay đan chéo vào nhau kết thành chữ để làm phép.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Xác định thể loại của đoạn trích trên.
Câu 2: Theo đoạn trích [1], sau khi đạo sĩ lấy một chiếc đũa, vứt vào giữa Mặt Trăng, điều gì đã xảy ra?
Câu 3: Chỉ ra và nêu tác dụng của yếu tố kì ảo được sử dụng trong đoạn [2].
Câu 4: Hành động "chửi mãi lão đạo sĩ bất lương" của Vương sau khi thất bại ở nhà cho thấy điều gì về tính cách của nhân vật này?
Câu 5: Từ kết cục của nhân vật họ Vương, anh/chị rút ra thông điệp gì về con đường tu luyện, rèn giũa bản thân?
II. VIẾT
Câu 1:
Anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) chỉ ra sự đối lập trong tính cách và phẩm chất giữa nhân vật đạo sĩ và nhân vật họ Vương.
Câu 2:
Martin Luther King từng nói: Trong thế giới này, chúng ta không chỉ xót xa vì những hành động và lời nói của người xấu mà còn cả vì sự im lặng đáng sợ của người tốt.
Thế nhưng hiện nay, một bộ phận học sinh đang lựa chọn cách ứng xử im lặng trước cái xấu. Hãy viết bài văn nghị luận bàn về giải pháp khiến các bạn trẻ thay đổi cách ứng xử đó.
— Hết —
Lời giải
I. Đọc hiểu
Câu 1:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về đặc điểm các yếu tố của các thể loại đã học từ đó xác định
Cách giải:
Thể loại: Truyện truyền kì
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kỹ đoạn văn [1] và tìm thông tin mô tả sự việc xảy ra ngay sau đó.
Cách giải:
Theo đoạn trích [1], sau khi đạo sĩ lấy một chiếc đũa vứt vào giữa Mặt Trăng (do ông tạo ra từ giấy), một người đẹp (chị Hằng) từ trong bóng sáng bước ra. Lúc đầu, người đẹp chỉ cao chưa đầy một thước, nhưng khi bước ra ngoài thì cao lớn như người thường, với vẻ đẹp yểu điệu, cổ trắng muốt, áo quần phấp phới, và uyển chuyển múa điệu "Nghê Thường".
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về đặc điểm yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì
Cách giải:
- Yếu tố kì ảo: Vương được đạo sĩ dạy cho phép xuyên tường.
- Tác dụng:
+ Tạo sự li kì, hấp dẫn cho câu chuyện .
+ Là phép thử đạo đức: Khẳng định bài học phép thuật chỉ linh nghiệm khi con người có đức hạnh, "giữ gìn đứng đắn".
Câu 4:
Phương pháp:
Suy luận từ hành động của nhân vật để rút ra tính cách.
Cách giải:
- Hành động này cho thấy Vương là người:
+ Thiếu trách nhiệm, đổ lỗi cho người khác.
+ Ích kỷ, vô ơn.
+ Bản chất thực dụng, tu đạo chỉ vì mục đích vụ lợi.
Câu 5:
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản kết hợp liên hệ bản thân để rút ra thông điệp phù hợp
Gợi ý:
- Tu luyện phải kiên trì, vượt khó, không thể nóng vội, ngại khổ.
- Mục đích phải trong sáng (tu tâm) chứ không phải vì lợi ích vật chất hay quyền năng.
- Đạo đức là nền tảng, mọi tài năng, phép lạ đều phải xây dựng trên đức hạnh.
Cách giải:
Từ kết cục thất bại của nhân vật họ Vương, chúng ta rút ra bài học sâu sắc về con đường tu luyện và rèn giũa bản thân. Trước hết, mọi sự thành công đều đòi hỏi một quá trình kiên trì, nhẫn nại, không thể nóng vội, ngại khó. Vương thất bại vì anh ta chỉ muốn có phép lạ mà không chịu được những tháng ngày lao động khổ luyện. Hơn thế, động cơ tu luyện phải xuất phát từ việc tu tâm, dưỡng tính chứ không phải vì mục đích thực dụng, vụ lợi. Cuối cùng, yếu tố then chốt làm nên giá trị đích thực chính là đạo đức. Phép thuật của Vương mất linh nghiệm vì anh không "giữ gìn đứng đắn", minh chứng rằng mọi tài năng, năng lực dù lớn đến đâu cũng sẽ trở nên vô nghĩa nếu không được xây dựng trên một nền tảng đạo đức vững vàng.
II. Viết
Câu 1:
Phương pháp:
* Yêu cầu hình thức:
- Đảm bảo hình thức đoạn văn, dung lượng khoảng 200 chữ
- Diễn đạt trôi chảy, mạch lạc; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
* Yêu cầu nội dung:
- Mở đoạn: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và hai nhân vật
- Thân đoạn:
+ Về mục đích sống/ sự tu dưỡng:
- Đạo sĩ: Là hiện thân của sự tu luyện kiên định, sống thuận theo tự nhiên, coi trọng đạo đức
- Họ Vương: Mộ đạo nhưng thiếu căn cơ, dễ nản lòng, tu luyện với mục đích thực dụng
+ Về thái độ với công việc/ khổ luyện:
- Đạo sĩ: Am hiểu và tôn trọng quy luật của sự tu luyện
- Họ Vương: Lười nhác, ngại khổ, chỉ muốn có thành quả ngay lập tức mà không muốn trải qua quá trình
+ Về bản lĩnh và trí tuệ:
- Đạo sĩ: Bản lĩnh vững vàng, trí tuệ thâm sâu, hành xử có chủ đích
- Họ Vương: Nhẹ dạ, cả tin, thiếu sự suy xét, không có chính kiến
+ Về cách ứng xử:
- Đạo sĩ: Điềm tĩnh, bao dung, có trách nhiệm với đệ tử
- Họ Vương: Nông nổi, ích kỷ, vô ơn
- Kết đoạn:
+ Đánh giá về ý nghĩa của sự đối lập.
+ Khẳng định sự đối lập này không phải ngẫu nhiên mà là một thủ pháp nghệ thuật đặc sắc.
Cách giải:
Trong đoạn trích "Liêu trai chí dị", tác giả Bồ Tùng Linh đã xây dựng thành công cặp nhân vật đạo sĩ và họ Vương với những nét tính cách đối lập hoàn toàn, tạo nên chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm. Trước hết, về mục đích sống và sự tu dưỡng, đạo sĩ là hiện thân của sự tu luyện kiên định, sống thuận theo tự nhiên và luôn coi trọng đạo đức như kim chỉ nam. Ngược lại, họ Vương tuy mộ đạo nhưng thiếu căn cơ vững chắc, dễ dàng nản lòng trước khó khăn, và động cơ tu luyện mang tính thực dụng rõ rệt. Về thái độ với công việc và khổ luyện, vị đạo sĩ tỏ ra am hiểu và tôn trọng quy luật của sự tu luyện, xem đó là hành trình rèn giũa bản thân. Trong khi đó, họ Vương lại bộc lộ sự lười nhác, ngại khổ, chỉ mong có được thành quả ngay lập tức mà không muốn trải qua quá trình gian nan. Ở phương diện bản lĩnh và trí tuệ, đạo sĩ hiện lên với bản lĩnh vững vàng, trí tuệ thâm sâu, mỗi hành động đều có chủ đích rõ ràng. Còn họ Vương lại thể hiện sự nhẹ dạ, cả tin, thiếu đi sự suy xét thấu đáo và không có chính kiến vững vàng. Cuối cùng, trong cách ứng xử, đạo sĩ luôn điềm tĩnh, bao dung và có trách nhiệm với đệ tử, ngay cả khi phải nói lời từ biệt. Họ Vương thì hoàn toàn trái ngược: nông nổi, ích kỷ và thậm chí là vô ơn khi thất bại. Sự đối lập này không hề ngẫu nhiên mà là một thủ pháp nghệ thuật đặc sắc, góp phần làm nổi bật bài học sâu sắc về con đường tu dưỡng chân chính.
Câu 2:
Phương pháp:
* Hình thức: Bài văn nghị luận xã hội hoàn chỉnh (Mở bài, Thân bài, Kết bài), dung lượng khoảng 600 chữ.
* Nội dung:
I. Mở bài
- Dẫn dắt vấn đề từ câu nói của Martin Luther King và thực trạng im lặng của một bộ phận giới trẻ.
- Nêu vấn đề nghị luận
II. Thân bài
1. Giải thích
- "Lời nói và hành động của kẻ xấu": Là nguyên nhân trực tiếp gây ra đau khổ, bất công.
- "Sự im lặng đáng sợ của người tốt": Là thái độ thờ ơ, vô cảm, không dám lên tiếng bảo vệ lẽ phải, chống lại cái xấu.
2. Thực trạng
- Trong học đường: nhiều học sinh thấy bạn bị bắt nạt, gian lận, nói xấu, bạo lực học đường… nhưng chọn cách làm ngơ.
- Ngoài xã hội: chứng kiến hành vi tiêu cực (xả rác, gian dối, tham lam) nhưng không dám hoặc không muốn phản đối.
- …
3. Nguyên nhân
- Tâm lý sợ hãi: Sợ bị trả thù, bị cô lập, trở thành mục tiêu tiếp theo.
- Tâm lý đám đông
- Thiếu kỹ năng và phương pháp trong giải quyết tình huống: Không biết lên tiếng như thế nào cho hiệu quả và an toàn.
- Quan niệm sai lầm: "Im lặng là vàng", "chuyện của ai người nấy lo".
- Sự thiếu gương mẫu từ người lớn.
4. Hậu quả
- Với cá nhân:
+ Khiến bản thân trở nên vô cảm, yếu đuối, mất đi lòng dũng cảm.
+ Có thể trở thành nạn nhân tiếp theo của cái xấu.
- Với xã hội:
+ Cái xấu được thể lan rộng, không bị kiểm soát.
+ Môi trường sống và học tập trở nên tiêu cực, bất an.
+ Lẽ phải và công bằng bị chà đạp.
5. Giải pháp
- Với cá nhân:
+ Rèn luyện tinh thần dũng cảm, thái độ sống tích cực.
+ Học cách nói “không” với cái xấu; biết tìm sự hỗ trợ từ thầy cô, cha mẹ, bạn bè khi cần.
+ Nâng cao kỹ năng giao tiếp, ứng xử để phản ứng phù hợp, văn minh.
- Với nhà trường:
+ Tăng cường giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, kỹ năng phản biện.
+ Tạo môi trường an toàn, khuyến khích học sinh lên tiếng.
- Với gia đình và xã hội:
+ Cha mẹ làm gương, khích lệ con cái dám bảo vệ lẽ phải.
+ Xây dựng môi trường xã hội công bằng, có chế tài bảo vệ người lên tiếng.
III. Kết bài
- Khẳng định ý nghĩa của việc thay đổi thái độ im lặng thành hành động tích cực.
- Kêu gọi sự chung tay của toàn xã hội trong việc tạo ra môi trường sống tốt đẹp hơn.
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Martin Luther King từng đưa ra một nhận định sâu sắc: “Trong thế giới này, chúng ta không chỉ xót xa vì những hành động và lời nói của người xấu mà còn cả vì sự im lặng đáng sợ của người tốt”. Câu nói ấy như một lời cảnh tỉnh vang vọng qua thời gian, đặc biệt có ý nghĩa khi ta nhìn vào thực trạng của một bộ phận giới trẻ hiện nay: thờ ơ, im lặng trước cái xấu. Làm thế nào để thay đổi điều này? Đó là câu hỏi đòi hỏi một câu trả lời bằng những giải pháp thiết thực.
Trước hết, cần hiểu rõ ý nghĩa trong lời cảnh báo của Martin Luther King. “Lời nói và hành động của kẻ xấu” chính là nguyên nhân trực tiếp gây ra những đau khổ, bất công và hỗn loạn trong xã hội. Nhưng “sự im lặng đáng sợ của người tốt” mới là điều khiến chúng ta phải giật mình. Nó không đơn thuần là không nói gì, mà là một thái độ thờ ơ, vô cảm, hèn nhát, từ chối đương đầu, từ chối bảo vệ lẽ phải. Sự im lặng ấy “đáng sợ” bởi nó trở thành bức tường thành vô hình bao bọc, dung túng cho cái xấu hoành hành, khiến lương tâm xã hội dần bị bào mòn.
Thực tế đáng buồn là sự im lặng ấy đang hiện hữu ngay trong môi trường học đường và ngoài xã hội. Trong trường học, không khó để bắt gặp hình ảnh những học sinh đứng nhìn bạn mình bị bắt nạt, bị cô lập, hay thậm chí chứng kiến những hành vi gian lận trong thi cử, nói xấu nhau trên mạng xã hội… nhưng lại chọn cách làm ngơ. Ngoài xã hội, nhiều bạn trẻ chứng kiến cảnh xả rác bừa bãi, hành vi gian dối, bất công… nhưng cũng chỉ dừng lại ở những cái lắc đầu ngao ngán mà không dám lên tiếng.
Sự im lặng ấy xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Đó có thể là nỗi sợ hãi chính đáng: sợ bị trả thù, sợ trở thành mục tiêu tiếp theo, sợ bị cô lập giữa đám đông. Đó cũng có thể là do tâm lý đám đông, “cha chung không ai khóc”, và quan trọng hơn, là sự thiếu hụt những kỹ năng cần thiết để lên tiếng một cách an toàn và hiệu quả. Thêm vào đó, một số quan niệm sai lầm như “im lặng là vàng”, “chuyện của ai người nấy lo” vô tình trở thành chiếc mặt nạ biện minh cho sự hèn nhát.
Hậu quả của sự im lặng này là vô cùng nghiêm trọng. Với cá nhân, nó khiến các bạn trẻ trở nên vô cảm, mất đi lòng dũng cảm và sự tự trọng. Một ngày nào đó, chính họ có thể trở thành nạn nhân tiếp theo trong một vòng tròn bạo lực và bất công không hồi kết. Với xã hội, sự im lặng của người tốt chính là liều thuốc độc giết chết lẽ phải. Nó tạo ra một môi trường sống ngột ngạt, nơi cái xấu được dịp lộng hành, công lý bị chà đạp, và các giá trị đạo đức chuẩn mực dần bị đảo lộn.
Vậy, đâu là những giải pháp để phá vỡ bức tường im lặng ấy? Trước hết, giải pháp phải bắt nguồn từ chính mỗi cá nhân. Mỗi bạn trẻ cần ý thức rằng lên tiếng không phải là hành động của kẻ hiếu chiến, mà là trách nhiệm của một công dân có lương tri. Hãy rèn luyện cho mình lòng dũng cảm, dám đối mặt với sự sợ hãi. Đồng thời, cần trau dồi các kỹ năng sống, học cách nói “không” với cái xấu một cách văn minh, thuyết phục, và biết tìm kiếm sự hỗ trợ từ thầy cô, gia đình, bạn bè hoặc các cơ quan chức năng khi cần thiết. Tuy nhiên, để các bạn trẻ có đủ dũng khí và kỹ năng, vai trò của gi
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 7
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
Những vườn xung quanh, mai đã bắt đầu trụi lá. Ngày nào, chú Tảo cũng cái quần soọc đen lơ lửng, áo may-ô thủng lỗ chỗ, đầu đội cái nón kết đỏ, len lỏi giữa những hàng cây hỏi sang: "Bên ấy chưa nhặt lá à?". Chưa ai nhặt lá mai cả.
Trong vườn, mai vẫn rậm rịt, không ai rảnh mà làm việc ấy, gần cuối năm, bà cụ lại được mời đi tỉnh chơi, những người trẻ còn lại trong nhà đùn đẩy nhau, ai cũng ngại, ai cũng cố cho rằng người ta chỉ bày vẽ, chứ cứ thử không nhặt xem, nó có nở không? Nở quá đi chứ!
Rồi một người nhớ ra, bảo "Ờ năm nay không có chú nhỏ nào đến nhặt lá giùm nhỉ?". Ở nhà, không cần quy ước, cứ ai lân la tán tỉnh Hạc đều được gọi là "chú nhỏ", có chú đến rồi đi luôn, có chú lai rai lâu lâu đảo qua một lần rồi biến mất, mỗi chú để lại một vài kỷ niệm trong nhà, trong vườn, trong cái trại gà lợp lá dừa mục nát. Đó là những cái ghế con đóng vuông vức đầy đinh; những cành cây bị bẻ quặt, uốn cong, cố vặn theo hình con lân, con phụng; là hệ thống máng ăn cho gà, dùng không biết bao giờ mới hỏng... Mọi người vẫn đùa, hỏi: "Hạc! Mày có nhớ thằng nào làm việc nào không?". Hạc vêu mặt cười: "Nhớ chứ, tôi ghi sổ hết mà!". Mọi người cười đe: "Cẩn thận! Một trong những thằng ấy mà vớ được cuốn sổ thì mày khốn!"
Ờ đúng rồi, mấy năm nay chẳng có ai đến nhặt lá mai cho Hạc. Tuyến lấy vợ. Nhật xuất cảnh. Chức cách đây mấy hôm thấy chạy xe vèo vèo ngoài ngã ba, chở một đứa con gái bé như cái kẹo, không ôm iếc gì cả nhưng nhìn thì biết ngay là bồ bịch. Đó là những "chú nhỏ" năm xưa, tay lăm lăm kéo, đứng chông chênh trên cái ghế gỗ, hay khom lưng giữa những tàn mai già, nhặt lá. Lá mai xạm màu rơi đầy gốc, họ lại nghĩ ra việc quét vườn. Hạc lúc tựa gốc mít, lúc đi quanh chú nhỏ, nói chuyện "ngụ ngôn", đôi khi buồn cười, thấy hình như đã nói những câu thế này, cũng trong tiếng chổi lạt xạt quét vườn, vào năm ngoái, với người năm ngoái. Rồi về, nấn ná ở cổng, hẹn Tết nhớ đến coi mai nở, à trước Tết chứ, để còn chở đi chợ. Năm nào Hạc cũng phải giảng giải việc đi chợ Tết cho một người nào đấy, anh chị trong nhà lại cười: "Người vô duyên, không giữ ai được quá một năm!".
Rốt cuộc, cả đám người trẻ tuổi trong nhà vừa quyết định vừa cười láu cá: "Khỏi, thử một năm không nhặt lá, biết đâu hoa ra lác đác lại chẳng đẹp hơn?". Họ vùi đầu vào mua sắm, may cho nhanh mấy bộ quần áo Tết. Hai mươi tám Tết bà cụ mới về, đứng lọt thỏm giữa những bị cói, giỏ cước, trẻ con trong nhà ùa ra, miệng hét, tay xách, người lớn cũng ùa ra, cười: "Tết về rồi!". Bà cụ nhìn khoảng vườn còn rậm rịt lá mai, lắc đầu: "Chúng mày đáng sợ thật!" . Cả lũ lại cười.
Mùng Một, mùng hai Tết, không có mai, Hạc thấy Tết giống như một ngày chủ nhật, như nhà ai giàu có làm đám cưới đốt pháo thật nhiều. Một người nói: "Mày đừng có đổ thừa! Cái hoa mai quê mùa ấy việc gì làm mày mất Tết", rồi ngậm miệng ngay, nhìn Hạc như muốn nói: "Chẳng qua năm nay không thằng nào đến nữa mà thôi!". Hạc cũng chỉ cười, vào nhà nằm, lôi mấy tờ báo Xuân ra xem mà thấy buồn rũ rượi: "Năm nay mình đã bao nhiêu tuổi? Vì sao những ngày lễ Tết mình luôn phải nằm nhà?".
Một đứa cháu trèo lên giường, moi móc từ trong túi ra một đống hạt dưa và một nắm phong bao ra đếm lại. Hạc cười: " Dì thấy con đếm phải đến chục lần chứ không ít!". Cô nghĩ: "Ngày xưa mình cũng như thế này" rồi lơ mơ ngủ mất.
Mọi người kêu lên ngán ngẩm: "Hết Tết!". Rồi vặn đồng hồ báo thức, dậy sớm đi làm trở lại. Bây giờ bà cụ mới đi nhặt lá mai được, lụi cụi từ gốc này qua gốc khác, thỉnh thoảng pháo sót lẹt đẹt đâu đó trong xóm nhỏ. Hạc đi quanh mẹ: "Chi vậy?". Bà cụ móm mém cười: "Tội nghiệp, nhặt để nó nở!”
Mai nở. Một chiều kia, như đã hẹn, một cô bạn dẫn ông anh họ đến nhà Hạc, gửi anh ta lại bảo: "Ra chợ một chút" rồi phóng xe đi mất, lại bỏ nhỏ: "Ông đàng hoàng lắm đó!". Anh ta lù khù, tay khư khư giữ cái mũ vàng như củ nghệ, chậm chạp, mãi mới cởi được xăng-đan để vào nhà. Hạc cau mày: "Khi mình còn trẻ, cỡ này đừng hòng bò đến gần!". Rồi đau đớn nghĩ: "Sao mình cay đắng thế này!".
Họ ngồi một lúc lâu, có tám trang báo giở qua giở lại, chẳng đọc được tin gì. Cũng không biết nói chuyện gì. Hạc rủ: "Ra vườn xem mai chơi!". Họ đi qua những góc vườn, nơi khoảng một chục cây mai bung ra đặc kịt những hoa vàng nở muộn. Hạc nghĩ: "Có mai rồi đấy, mà vẫn không thành Tết!". Hai người khoanh tay bước, chỉ có tiếng lá mai lạt xạt dưới chân. Họ vẫn không biết nói gì, nghiêm trang như giám khảo hội hoa Xuân... Và nắng chiều tắt dần, như một dải voan cũ vắt trên ngọn cây, nhợt nhạt...
(Hoa muộn, Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2012, tr 198 – 201)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định chủ đề của văn bản
Câu 2. Chỉ ra tình huống truyện của tác phẩm.
Câu 3. Nhân vật Hạc đã trải qua những nấc thang tâm lí như thế nào trong câu chuyện?
Câu 4. Phân tích tác dụng của việc sử dụng dấu ba chấm (…) trong câu văn sau: “Họ vẫn không biết nói gì, nghiêm trang như giám khảo hội hoa Xuân...”
Câu 5. Từ câu chuyện của nhân vật Hạc, anh (chị) có suy nghĩ gì về giá trị của kí ức đối với mỗi con người?
II. VIẾT
Câu 1:
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày phân tích giá trị chủ đề của của truyện ngắn Hoa muộn (Phan Thị Vàng Anh).
Câu 2:
Có ý kiến cho rằng: “Trong thời đại hội nhập, biết giữ gìn bản sắc dân tộc là điều vô cùng quan trọng.” Em hãy viết một bài văn nghị luận xã hội trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên.
— Hết —
Lời giải
I. Đọc hiểu
Câu 1:
Phương pháp:
Đọc toàn bộ văn bản, xác định nội dung chính từ đó rút ra chủ đề
Cách giải:
Chủ đề của văn bản: Nét đẹp truyền thống trong ngày Tết/Nhặt lá mai/Hoa mai ngày tết.
Câu 2.
Phương pháp:
Xác định sự kiện bất thường hoặc mâu thuẫn cao trào của câu chuyện.
Cách giải:
Tình huống truyện của tác phẩm: Nhà Hạc có vườn mai thường nở đúng dịp Tết vì năm nào cũng có bạn của Hạc giúp nhặt lá đúng thời điểm trước tết. Nhưng năm nay, không có ai đến giúp Hạc nhặt lá mai nên mai nở muộn.
Câu 3.
Phương pháp:
Dựa vào nội dung văn bản tìm các chi tiết khắc họa nhân vật Hạc và đưa ra nhận xét
Cách giải:
Nhân vật Hạc đã trải qua những nấc thang tâm lí trong câu chuyện:
- Hồn nhiên, nhí nhảnh, vui tươi khi có nhiều “chú nhỏ” đến giúp đỡ việc nhà.
- Thấy buồn rũ rượi khi không còn ai đến nhặt lá mai giúp Hạc dịp Tết nữa: "Năm nay mình đã bao nhiêu tuổi? Vì sao những ngày lễ Tết mình luôn phải nằm nhà?".
- Thấy nuối tiếc, xót xa khi nhận ra mình không còn trẻ nữa: Hạc cau mày: "Khi mình còn trẻ, cỡ này đừng hòng bò đến gần!". Rồi đau đớn nghĩ: "Sao mình cay đắng thế này!".
Câu 4.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các tác dụng của dấu chấm lửng
Cách giải:
Tác dụng của việc sử dụng dấu ba chấm (…):
- Diễn tả khoảng lặng trong giao tiếp giữa Hạc và người anh họ của cô bạn thân.
- Góp phần bộc lộ cảm xúc ngại ngùng, khó nói của hai nhân vật trong hoàn cảnh chỉ có họ với nhau.
- Khiến lời kể giàu cảm xúc, bộc lộ sự đồng cảm, sẻ chia của tác giả với nhân vật Hạc trong truyện ngắn.
Câu 5.
Phương pháp:
Rút ra bài học từ câu chuyện của nhân vật Hạc.
Cách giải:
Từ câu chuyện của nhân vật Hạc, ta thấy được giá trị của kí ức đối với mỗi con người vô cùng lớn.
- Kí ức là những gì thuộc về quá khứ, để lại ấn tượng khó phai cho con người.
- Kí ức giúp con người nhìn nhận lại những gì đã qua, khơi dậy nguồn cảm xúc đẹp đẽ và là liều thuốc tinh thần quý giá.
- Kí ức có vai trò điều chỉnh suy nghĩ, hành động của con người trong thực tại và tương lai.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
- Hình thức: Đảm bảo cấu trúc đoạn văn (diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp…); đảm bảo dung lượng 200 chữ.
- Nội dung: Có thể triển khai những ý cơ bản sau:
+ Khái quát tác giả, tác phẩm, đoạn trích.
+ Các chủ đề văn bản: sự thay đổi của thời gian và cuộc sống; sự trôi qua của thời gian và tuổi trẻ; sự lãng quên và cô đơn, sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại.
+ Vai trò của chủ đề chính, chủ đề phụ.
+ Đánh giá chung
Cách giải:
Truyện ngắn "Hoa muộn" của Phan Thị Vàng Anh khắc họa thành công chủ đề về sự thay đổi của thời gian và cuộc sống, thể hiện qua những biến chuyển trong các mối quan hệ và tâm trạng của nhân vật Hạc. Hình ảnh những chiếc lá mai rụng và sự vắng bóng của các "chú nhỏ" năm xưa đã cho thấy sự trôi qua của thời gian một cách rõ rệt. Khi những người trẻ trong gia đình bận rộn với cuộc sống riêng, không còn ai đến nhặt lá mai như trước, Hạc cảm thấy cô đơn và lạc lõng giữa dòng đời. Sự đối lập giữa quá khứ rộn ràng và hiện tại tẻ nhạt càng làm nổi bật nỗi buồn và sự tiếc nuối trong tâm hồn nhân vật. Việc mọi người quên đi truyền thống nhặt lá mai không chỉ khiến hoa nở muộn mà còn phản ánh sự thiếu vắng tình cảm và gắn kết gia đình. Qua đó, tác phẩm gửi gắm thông điệp nhân văn về giá trị của kỷ niệm và những rung cảm con người trong dòng chảy cuộc sống.
Câu 2:
Phương pháp:
I. Mở bài
- Trích dẫn ý kiến: Khẳng định đây là một quan điểm đúng đắn.
- Dẫn dắt và nêu vấn đề: vấn đề về hội nhập và giữ gìn bản sắc.
II. Thân bài
1. Giải thích
- Hội nhập: Là xu thế mở cửa, giao lưu quốc tế
- Bản sắc dân tộc: Là cái riêng, độc đáo, tạo nên "linh hồn" dân tộc (ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tinh thần).
=> Ý kiến khẳng định: Giữa quá trình hội nhập, việc giữ gìn bản sắc dân tộc có ý nghĩa sống còn.
2. Thực trạng
- Tích cực: Ngày càng có nhiều phong trào, dự án bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc (phục dựng lễ hội, đưa di sản vào trường học, giới trẻ quay về với âm nhạc dân tộc...).
- Tiêu cực & Thách thức:
+ Một bộ phận giới trẻ có xu hướng "sùng ngoại", coi nhẹ văn hóa truyền thống, đam mê văn hóa nước ngoài một cách thái quá mà quên lãng cội nguồn.
+ Nguy cơ mai một các giá trị văn hóa phi vật thể (các làn điệu dân ca, nghề thủ công truyền thống...).
+ Sự xâm nhập ồ ạt của các sản phẩm văn hóa ngoại lai thiếu lành mạnh qua internet và mạng xã hội.
3. Tại sao phải giữ gìn bản sắc?
- Bản sắc dân tộc là cội nguồn, căn tính, tạo nên sự khác biệt, tự hào của dân tộc.
- Giữ gìn bản sắc giúp khẳng định vị thế dân tộc trên trường quốc tế, tránh hòa tan, mất gốc.
- Đây là điều kiện để phát triển bền vững: vừa tiếp thu tinh hoa nhân loại, vừa giữ bản lĩnh riêng.
- Bản sắc dân tộc góp phần tăng sức hấp dẫn với bạn bè thế giới (ẩm thực, lễ hội, nghệ thuật, du lịch…).
4. Bài học nhận thức và hành động
* Nhận thức:
- Mỗi người cần ý thức sâu sắc rằng giữ gìn bản sắc dân tộc là trách nhiệm của chính mình, không phải của riêng ai.
- Cần có cái nhìn đúng đắn: Giữ gìn không có nghĩa là bảo thủ, khép kín; Hội nhập không có nghĩa là từ bỏ bản sắc. Đó là một quá trình "hòa nhập nhưng không hòa tan".
* Hành động:
- Trân trọng, bảo tồn di sản văn hóa (vật thể, phi vật thể).
- Giữ gìn tiếng Việt, phong tục tập quán, truyền thống tốt đẹp.
- Sáng tạo, hiện đại hóa trên nền tảng văn hóa dân tộc.
- Lan tỏa nét đẹp văn hóa: Áo dài Việt Nam, nhã nhạc cung đình, ca trù, nghệ thuật đờn ca tài tử, phở Việt…
- Các cơ quan chức năng cần có chính sách bảo tồn và phát huy hiệu quả; đưa văn hóa truyền thống vào giảng dạy trong nhà trường; truyền thông cần định hướng thẩm mỹ, tôn vinh cái đẹp của dân tộc.
5. Mở rộng
Phê phán: Một bộ phận giới trẻ sính ngoại, coi nhẹ giá trị truyền thống, chạy theo lối sống lai căng.
III. Kết bài
- Khẳng định lại: Trong hội nhập, giữ gìn bản sắc dân tộc chính là giữ lấy hồn cốt của dân tộc.
Cách giải:
Thời đại toàn cầu hóa đã mở ra những cánh cửa kỳ diệu, đưa thế giới xích lại gần nhau hơn bao giờ hết. Trong dòng chảy hội nhập ấy, một câu hỏi lớn được đặt ra: Làm thế nào để vừa bắt kịp nhịp sống hiện đại, vừa giữ được cốt cách tâm hồn dân tộc? Ý kiến “Trong thời đại hội nhập, biết giữ gìn bản sắc dân tộc là điều vô cùng quan trọng” chính là lời giải đáp thấu tình đạt lý cho câu hỏi đó, khẳng định một chân lý sống còn cho mọi quốc gia.
Vậy, “hội nhập” và “bản sắc dân tộc” là gì? Hội nhập là xu thế tất yếu khi các quốc gia mở cửa, giao lưu, hợp tác trên mọi lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa đến khoa học kỹ thuật. Đó là cánh cửa đưa chúng ta ra biển lớn, tiếp thu tinh hoa nhân loại. Còn “bản sắc dân tộc” chính là linh hồn, là căn cước tinh thần của một dân tộc. Nó được kết tinh từ ngôn ngữ, phong tục tập quán, lễ hội, văn học nghệ thuật và hệ giá trị tinh thần (như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, hiếu học) được vun đắp qua hàng ngàn năm lịch sử. Như vậy, ý kiến trên khẳng định: Giữa dòng xoáy hội nhập, việc giữ gìn bản sắc không phải là lựa chọn, mà là điều kiện sống còn để một dân tộc tồn tại và phát triển.
Thực tế hiện nay cho thấy một bức tranh với nhiều mảng sáng - tối đan xen. Mặt tích cực, chúng ta có thể thấy ngày càng nhiều những phong trào, dự án ý nghĩa nhằm bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc: các lễ hội truyền thống được phục dựng quy mô, di sản được đưa vào giảng dạy trong nhà trường, và đáng mừng hơn là sự quay về của một bộ phận giới trẻ với âm nhạc dân tộc, với trang phục truyền thống. Tuy nhiên, mặt tiêu cực cũng không hề nhỏ. Một bộ phận giới trẻ có xu hướng “sùng ngoại”, coi thường văn hóa truyền thống, đuổi theo những trào lưu văn hóa ngoại lai một cách thái quá. Nguy cơ mai một các giá trị văn hóa phi vật thể như các làn điệu dân ca, nghề thủ công truyền thống là có thật. Sự xâm nhập ồ ạt của các sản phẩm văn hóa thiếu lành mạnh qua internet càng làm cho bài toán giữ gìn bản sắc thêm phần thách thức.
Vậy tại sao việc giữ gìn bản sắc lại quan trọng đến vậy? Trước hết, bản sắc là cội nguồn, là căn tính để chúng ta biết mình là ai, từ đâu đến. Nó nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc và là điểm tựa tinh thần vững chắc cho mỗi cá nhân. Thứ hai, giữ gìn bản sắc chính là cách để chúng ta khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Một dân tộc không có bản sắc riêng sẽ dễ dàng bị “hòa tan”, trở nên mờ nhạt và lệ thuộc. Ngược lại, chính những nét độc đáo của văn hóa Việt như áo dài, phở, nhã nhạc cung đình Huế, dân ca Quan họ... lại là “sứ giả” đầy quyến rũ, thu hút sự quan tâm và tôn trọng của bạn bè quốc tế. Cuối cùng, giữ gìn bản sắc là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững. Chúng ta chỉ có thể tiếp thu tinh hoa thế giới một cách chủ động, sáng tạo và có bản lĩnh khi chúng ta có một nền tảng văn hóa vững chắc. Nó là nguồn lực nội sinh, là sức mạnh mềm để phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa, góp phần vào sự phồn vinh của đất nước.
Trước thực trạng và tầm quan trọng đó, mỗi chúng ta cần có những nhận thức và hành động cụ thể. Về nhận thức, phải hiểu rằng giữ gìn bản sắc là trách nhiệm của mỗi cá nhân, không của riêng ai. Chúng ta cần có cái nhìn đúng đắn: giữ gìn không đồng nghĩa với bảo thủ, khép kín, và hội nhập không có nghĩa là từ bỏ cội nguồn. Đó là một quá trình “hòa nhập nhưng không hòa tan”. Về hành động, mỗi người cần tích cực tìm hiểu, trân trọng và bảo vệ các di sản văn hóa. Hãy giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, sống đẹp với những phong tục, truyền thống tốt đẹp của ông cha. Đặc biệt, thế hệ trẻ cần sáng tạo để hiện đại hóa những giá trị truyền thống, biến tà áo dài, làn điệu dân ca, món ăn Việt... thành những sản phẩm văn hóa đương đại, lan tỏa mạnh mẽ. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phê phán lối sống lai căng, sính ngoại, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc của một bộ phận giới trẻ hiện nay.
Tóm lại, trong hành trình hội nhập toàn cầu, việc giữ gìn bản sắc dân tộc chính là giữ lấy hồn cốt, linh hồn của dân tộc. Nó là la bàn định hướng để chúng ta tiến ra biển lớn mà không bị lạc lối. Là những học sinh - chủ nhân tương lai của đất nước, chúng ta hãy trở thành những công dân toàn cầu năng động, nhưng trong tim vẫn cháy mãi một tình yêu, một niềm tự hào sâu sắc với những giá trị tinh thần mà cha ông đã dày công vun đắp.
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 8
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
(Giới thiệu: nhân vật Thành có một người anh họ tên là Bân rất giàu. Bân cho rằng Thành khôn ngoan hơn mình nên động việc gì hay mua bán gì cũng đều tìm đến Thành để hỏi han..)
Hôm ấy, Bân đến rủ tôi cùng đi mua một cái đồng hồ. Anh ta muốn mua hạng thật tốt, và nhờ tôi xem hộ. (...) Lúc trả tiền, tôi thấy hắn giở ra một cái ví da lớn, phồng chặt. Hắn đếm giấy bạc thong thả và cẩn thận.
Thoảng nhìn qua, tôi cũng biết trong ví nhiều tiền lắm: Ngoài số tiền bạc lẻ mà hắn mang ra trả, tôi còn thấy gấp ở ngăn trên đến năm, sáu cái giấy bạc một trăm nữa, những giấy bạc mới, màu còn tươi nguyên. "Quái, thằng cha này làm gì mà lắm tiền thế? Mình thì chả bao giờ có đến được một trăm bạc bỏ túi!"
Tôi nghĩ thầm và so sánh thế.
Mua xong đồng hồ. Bân rủ tôi đi ăn:
- Ta lên hiệu chén, rồi lát nữa làm một chầu chứ. - Hắn vỗ vào túi - Tôi có đủ tiền đây!
Chúng tôi vào hiệu. Bân ăn vui vẻ lắm, có lẽ hắn vừa ý vì cái đồng hồ mua rẻ. Tôi thì trong óc cứ vơ vẩn cái ý nghĩ sao một thằng ngốc như hắn - tôi thẩy hắn càng ngốc - lại có lắm tiền thế, còn mình...
Tuy vậy, ý nghĩ cũng không làm tôi ăn mất ngon. Tôi tỏ mặt sành, gọi những thức ăn quý và đắt tiền, và hai chúng tôi uống rượu say sưa.
Cơm xong, Bân đưa tôi xuống Vạn Thái, vào nhà một người nhân tình của hắn. (...]. Hắn không quên - tính cẩn thận của anh kiệt! - đem cả cái áo tây trong có ví tiền vào chỗ nằm, vất trên thành đầu giường.
Một mình tôi ở ngoài đâm chán. Nằm một lát rồi tôi cũng đứng dậy sửa soạn ra về; Bân vẫn ở trong màn, nói vọng ra giữ lại:
- Anh hãy ở chơi đã, về làm gì vội. Ngày mai Chủ nhật cơ mà.
- Thôi, tôi phải về. Sáng mai còn có việc.
Vừa nói tôi vừa với cái áo tây của tôi treo trên mắc. Bỗng nhiên có cái gì chuyển mạnh qua tim: Tay tôi yên hẳn lại, tôi vừa mới nhận ra rằng cái áo tôi đương cầm không phải là "áo của tôi". Thì ra lúc mang áo vào giường nằm, Bân đã mang nhầm áo. Hai chúng tôi cùng mặc thứ hàng len giống màu, như vậy dễ lầm lắm. Tôi ghé nhìn vào phía trong áo thấy cái ví tiền ở túi thò ra ngoài một tí. Cái ví tiền... mấy tờ giấy bạc...
[...]
Trước mắt tôi, mấy tờ giấy bạc một trăm gấp trong ngăn ví, hiện ra rất rõ rệt. Lấy mấy tờ, độ hai tờ - tại sao lại hai? Tôi không biết - thật dễ dàng quá. Tôi cứ việc điểm nhiên với lấy áo, mở ví rút ra hai tờ, rồi khoác áo ở trên vai, ra ý sắp sửa về. Rồi chọn lúc mọi người vô ý - mà dầu có ý cũng không ai biết được - tôi đối lấy áo của tôi vắt ở đầu giường Bân... Thế là xong, và gọn. Mai dậy, Bân biết mất chắc chẳng bao giờ dám nghi ngờ cho tôi. Mà nghi ngờ thê nào được?
(Lược dẫn: Thành còn suy nghĩ về tình huống khi Bân phát hiện mất ví, Thành sẽ diễn một cách tự nhiên để tránh bị nghi ngờ. Khi Thành chuẩn bị ăn cắp tiền, anh ta bị giật mình và quay về hiện thực.
Sau nhiều đắn đo và suy nghĩ, Thành rời khỏi nhà hát với chiếc áo của mình trên tay và không lấy đi bất kì số tiền nào của Bân.)
Tôi bước một bước lùi ra. Thế là hết. Bây giờ thì không sao đụng đến ví được nữa. Tôi bần thần ngơ ngác, mặc lấy chiếc "áo của tôi", và đội mũ... Vừa gài khuy, tôi vừa nói mấy câu bông đùa vô vị với cô ả đứng ở chân giường sắp tiễn tôi về. Tôi chùng chình uống nước và hút thuốc, muốn cái thời khắc này cứ kéo dài mãi ra.
Đến khi ngồi trên xe về qua những phố khuya vắng vẻ, tâm trí tôi mới dần bình tĩnh lại. Gió lạnh thổi mát trên vừng trán nóng, và cái cảm giác mát ấy khiến tôi dễ chịu. Tôi nghĩ lại đến những cử chỉ và dự định của tôi lúc nãy, thật vừa như một người khôn khéo lại như một người mất hồn. Tất cả những cái đó bây giờ xa quá. Tâm trí tôi giãn ra như một cây tre uốn cong trở lại cái thẳng thắn lúc thường. Tôi cảm thấy một cái thú khoái lạc kì dị, khe khẽ và thầm lặng rung động trong người có lẽ là cái khoái lạc bị cám dỗ mà cũng có lẽ là cái khoái lạc đã đè nén được sự cám dỗ và một nuối tiếc ngấm ngầm, tôi không tự thú cho tôi biết và cũng cố ý không nghĩ đến, khiến cho cái cảm giác ấy của tâm hồn tôi thêm một vẻ rờn rợn và sâu sắc.
Sáng hôm sau tỉnh dậy ở nhà, tôi ngẩn ngơ nghĩ lại các việc tối hôm trước, y như trong một giấc mộng, chứ không phai việc đã xảy ra.. Tôi ngạc nhiên tự hỏi sao mình hãy còn là người lương thiện, không phải là kẻ ăn cắp. Mà tôi thú thực rằng nêu bây giờ tôi đã là kẻ ăn cắp, cái đó cũng không khiến tôi lấy làm ngạc nhiên hơn. Mà còn là người lương thiện, tôi tự thấy cũng chẳng có gì là đáng khen.
Tôi nhớ rõ lúc đó không có một ý nghĩ nào về danh dự, về điều phải, điều trái ngăn cản tôi, và khiến tôi đi vào con đường ngay, như người ta vẫn nói. Không, không có một chút gì như thế. Cái gì đã giữ tôi lại? Tôi không biết... Có lẽ chỉ một lời nói không đâu, một cử chỉ nào đấy, về phía này hay phía kia, đã khiến tôi có ăn cắp hay không ăn cắp. Chỉ một sợi tóc nhỏ, một chút gì đó, chia địa giới của hai bên...
(Trích Sợi tóc, Thạch Lam, in trong Gió lạnh đầu mùa, NXB Văn học, 2023, tr.208-218)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định ngôi kể của câu chuyện trong đoạn trích.
Câu 2. Cho biết nguyên nhân khiến Bân mang nhầm áo của Thành.
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong câu: "Tâm trí tôi giãn ra, như một cây tre uốn cong trở lại cái thẳng thắn lúc thường"
Câu 4. Anh/Chị hiểu như thế nào về ý nghĩa của sợi tóc trong câu: "Chỉ một sợi tóc nhỏ, một chút gì đó, chia địa giới của hai bên..."?
Câu 5. Qua đoạn trích, hãy nêu một bài học mà anh/chị thấy có ý nghĩa nhất đối với bản thân và giải thích lí do. (trình bày khoảng 5-7 dòng).
II. VIẾT
Câu 1.
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích diễn biến tâm lí của nhân vật Thành trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2.
Tại đại lễ kỉ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, ca khúc Viết tiếp câu chuyện hòa bình của nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung đã vang lên đầy tự hào: “Cha ông ta ngày xưa ngã xuống để cho đời ta ngày sau đổi lấy hòa bình/ Giữa khói binh ai cũng nguyện lòng hy sinh. Cùng tôi viết tiếp câu chuyện hòa bình”
Từ gợi dẫn trên, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề: Tuổi trẻ cần làm gì để viết tiếp “câu chuyện hòa bình” của dân tộc?
Lời giải
Phần I. Đọc hiểu
Câu 1:
Phương pháp:
Xác định đại từ nhân xưng người kể chuyện sử dụng trong văn bản
Cách giải:
Ngôi kể của câu chuyện trong đoạn trích: Ngôi kể thứ nhất.
Câu 2:
Phương pháp:
Tìm chi tiết trực tiếp trong văn bản
Cách giải:
Nguyên nhân khiến Bân mang nhầm áo của Thành: cả hai cùng mặc thứ hàng len giống màu.
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ so sánh và phân tích tác dụng
Cách giải:
Biện pháp tu từ: so sánh được sử dụng trong câu trên: "Tâm trí tôi giãn ra, như một cây tre uốn cong”.
- Biện pháp tu từ: so sánh: Tâm trí tôi - cây tre uốn cong
- Tác dụng:
+ Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu văn.
+ Khắc họa rõ nét trạng thái thư thái, nhẹ nhõm, trở về với sự bình ổn trong tâm trí của nhân vật Thành.
+ Tâm trí thanh thản vì đã giữ vững lập trường trước cám dỗ của đồng tiền,
giữ được nhân phẩm, nhân cách.
Câu 4:
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản để phân tích ý nghĩa của sợi tóc
Cách giải:
Ý nghĩa của “sợi tóc” trong câu trên:
- “Sợi tóc” chỉ ranh giới mong manh giữa cái thiện và cái ác, giữa lòng tham và lương tri của con người.
- Ranh giới đó dù nhỏ bé nhưng nếu vô tình làm đứt và vượt qua nó, con người sẽ đánh mất chính mình.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý như sau: bài học về sự trung thực ngay trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất; cảnh giác trước ranh giới mong manh giữa cái tốt đẹp và xấu xa; vững vàng trước những cám dỗ có thể tha hoá bản thân,…
Cách giải:
Điều em tâm đắc nhất từ đoạn trích là bài học về sức mạnh của lương tâm. Thành cuối cùng đã không lấy tiền, không phải vì sợ bị bắt, mà vì một sức mạnh nội tâm vô hình nào đó đã kéo anh lại. Bài học này giúp em hiểu rằng, lương tâm chính là "tòa án" công bằng nhất bên trong mỗi người. Sống theo sự dẫn dắt của lương tâm, dù có đánh mất cơ hội về vật chất, chúng ta vẫn giữ được sự bình yên trong tâm hồn - một thứ của cải vô giá. Trong cuộc sống, trước mọi quyết định, em sẽ học cách lắng nghe tiếng nói ấy để hành xử đúng đắn.
Phần II. Viết
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Thành đấu tranh nội tâm khi thấy chiếc ví, anh còn nghĩ đến việc bản thân sẽ không bị nghi ngờ, sẽ vô can trong mắt Bân.
- Thành bần thần, ngơ ngác sau khi bước lùi ra và không đụng đến chiếc ví nữa.
- Thành vừa hụt hẫng, nuối tiếc vì không thể quay lại lấy chiếc ví vừa tự hào, nhẹ nhõm khi bảo toàn được nhân cách; vừa muốn quên đi chuyện vừa qua lại vừa muốn giữ mãi trong tâm trí niềm vui đã tự chiến thắng bản thân.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Đoạn trích đã khắc họa một hành trình nội tâm hết sức phức tạp và chân thực của nhân vật Thành. Ban đầu, khi phát hiện cơ hội mà anh cho là "trời cho", chiếc áo nhầm với chiếc ví đầy tiền bên trong, lòng tham trong Thành trỗi dậy mạnh mẽ. Anh nhanh chóng lên kế hoạch cho hành vi trộm cắp với một sự điềm nhiên đáng sợ, đồng thời tự thuyết phục bản thân bằng những lý lẽ về sự dễ dàng và khả năng thoát tội hoàn hảo. Thậm chí, anh còn cảm thấy người anh họ giàu có kia càng ngốc và bản thân mình mới xứng đáng có số tiền đó hơn. Tuy nhiên, ở khoảnh khắc then chốt, một sức mạnh vô hình từ lương tri đã kéo anh lại, thể hiện qua hành động bước một bước lùi ra. Cảm xúc sau đó không phải là sự thanh thản ngay lập tức mà là tâm trạng bần thần ngơ ngác, chùng chình đầy nuối tiếc và hụt hẫng. Chỉ khi đã rời xa hiện trường, tâm trí anh mới thực sự giãn ra và cảm nhận được sự nhẹ nhõm, dễ chịu của một người vừa chiến thắng chính mình. Cuối cùng, anh suy ngẫm về sự mong manh của lằn ranh thiện ác, tự hỏi điều gì đã giữ mình lại. Qua đó, tác giả Thạch Lam đã cho thấy cuộc chiến nội tâm gay gắt giữa lòng tham và lương tri, đồng thời khẳng định giá trị của sự tự chiến thắng bản thân để giữ vững nhân cách.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
2. Thân bài:
* Giải thích:
Viết tiếp “câu chuyện hòa bình” nghĩa là tiếp nối truyền thống cha ông giữ gìn nền hòa bình của dân tộc.
* Bàn luận:
- Tuổi trẻ cần nhận thức rõ vì sao phải viết tiếp “câu chuyện hòa bình” của dân tộc:
+ Hòa bình không tự nhiên mà có, để có được hoà bình nhân dân đã đánh đổi bằng máu xương, mồ hôi, nước mắt qua biết bao nhiêu thế hệ .
+ Hòa bình là nền tảng quan trọng đem lại sự sống, niềm vui, hạnh phúc cho mọi người, tạo điều kiện để đất nước, xã hội phát triển vững bền.
+ Ý thức được trách nhiệm và vai trò quan trọng của tuổi trẻ đối với sự nghiệp giữ gìn hòa bình dân tộc.
+ Tuổi trẻ cần có bản lĩnh, luôn cố gắng, nỗ lực, xông pha, dám nghĩ dám làm, đối mặt với khó khăn thách thức để có thể gánh vác những trọng trách của đất nước trong thời đại mới.
- Mở rộng vấn đề: trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác: phê phán, lên án những suy nghĩ và hành động phá hoại nền hoà bình của đất nước.
* Bài học nhận thức và hành động:
- Mỗi người cần biết ơn các thế hệ cha anh, yêu quý hoà bình và có những hành động thiết thực để bảo vệ nền hòa bình của đất nước.
- Tuổi trẻ ra sức học tập, rèn luyện, làm việc,… góp phần xây dựng đất nước phồn vinh giàu đẹp; nâng cao bản lĩnh cách mạng, sẵn sàng lên đường khi tổ quốc kêu gọi..
3. Kết bài
- Khái quát vấn đề nghị luận.
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong không khí trang nghiêm của đại lễ kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, ca khúc "Viết tiếp câu chuyện hòa bình" của nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung vang lên như lời nhắc nhở thiêng liêng về sự hy sinh của thế hệ đi trước. Lời bài hát khẳng định: "Cha ông ta ngày xưa ngã xuống để cho đời ta ngày sau đổi lấy hòa bình". Và giờ đây, trách nhiệm "viết tiếp" câu chuyện ấy đang đặt lên vai thế hệ trẻ chúng ta. Nhưng viết tiếp bằng cách nào, và bắt đầu từ đâu?
Trước hết, cần hiểu rằng "viết tiếp câu chuyện hòa bình" không đơn thuần là sống trong một đất nước không có chiến tranh. Đó là quá trình chủ động gìn giữ, bảo vệ và làm giàu có thêm nền hòa bình mà cha ông đã đánh đổi bằng xương máu. Nếu thế hệ cha anh đã viết nên những trang sử hào hùng bằng sự hy sinh quả cảm, thì thế hệ trẻ hôm nay phải viết tiếp bằng trí tuệ, bằng nhiệt huyết và bằng những hành động thiết thực trong thời bình.
Điều đầu tiên tuổi trẻ cần làm để viết tiếp câu chuyện hòa bình chính là không ngừng học tập và rèn luyện. Trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, tri thức chính là vũ khí mạnh nhất để bảo vệ và xây dựng đất nước. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua tấm gương của Nguyễn Thị Ánh Viên - "kình ngư vàng" của thể thao Việt Nam. Cô không chỉ luyện tập thể thao mà còn không ngừng học hỏi kỹ thuật tiên tiến, nghiên cứu phương pháp khoa học để mang về những tấm huy chương quý giá, làm rạng danh Tổ quốc trên đấu trường quốc tế. Hay hình ảnh những nhà khoa học trẻ tại Viện Nghiên cứu Trí tuệ Nhân tạo, những kỹ sư công nghệ tại tập đoàn FPT đang ngày đêm sáng tạo, góp phần đưa Việt Nam bắt kịp xu thế toàn cầu. Một thế hệ trẻ giỏi giang chính là nền tảng vững chắc nhất cho một quốc gia hùng cường.
Thứ hai, tuổi trẻ cần tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ nền văn hóa dân tộc. Hòa bình không chỉ là không có tiếng súng mà còn là sự bình yên trong tâm hồn, là bản sắc văn hóa được gìn giữ và phát huy. Chúng ta có thể thấy điều này qua phong trào "Mặc áo dài đi chợ Tết" của giới trẻ Hà Nội những năm gần đây, hay sự lan tỏa mạnh mẽ của các dự án như "Vietnam Beautiful Memories" - nơi các bạn trẻ dùng công nghệ để số hóa và quảng bá di sản văn hóa. Đặc biệt, hình ảnh nữ sinh Phan Thị Mỹ Dung với bộ ảnh áo dài tại Nhật Bản đã trở thành biểu tượng đẹp về việc giới trẻ mang văn hóa Việt ra thế giới. Những hành động ấy chính là cách "viết tiếp" rất ý nghĩa, bởi một dân tộc mất đi bản sắc văn hóa thì dù có hòa bình cũng chỉ là sự tồn tại vô hồn.
Thứ ba, tuổi trẻ cần sống có trách nhiệm với cộng đồng và bảo vệ môi trường. Hòa bình chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người được sống trong môi trường trong lành và xã hội nhân ái. Chúng ta không thể không nhắc đến phong trào "Thanh niên tình nguyện" với những mùa hè xanh đầy ý nghĩa, hay các dự án thiện nguyện như "Cơm có thịt" của anh Phạm Anh Cường đã mang đến hàng triệu bữa ăn no cho trẻ em vùng cao. Gần đây nhất, hình ảnh các bạn trẻ tham gia dọn rác ở các bãi biển, phong trào "Chống rác thải nhựa" hay dự án "Green Life" đã cho thấy ý thức bảo vệ môi trường sống - một phần quan trọng của hòa bình bền vững.
Tuy nhiên, vẫn còn không ít bạn trẻ sống thờ ơ, vô cảm, chạy theo lối sống thực dụng mà quên đi trách nhiệm với đất nước. Thậm chí có những người sẵn sàng phát tán thông tin xuyên tạc, bôi xấu hình ảnh Đảng và nhà nước, những hành động đi ngược lại với sự nghiệp bảo vệ hòa bình dân tộc. Đó chính là những biểu hiện cần nghiêm túc phê phán và thay đổi.
Lời bài hát "Viết tiếp câu chuyện hòa bình" không chỉ là giai điệu cảm xúc mà còn là lời hiệu triệu mạnh mẽ. Mỗi bạn trẻ hãy là một "nhà văn" tích cực, dùng trí tuệ, tài năng và trái tim nhiệt huyết của mình để viết nên những trang sử mới cho dân tộc. Bằng việc học tập không ngừng, bằng tình yêu văn hóa nước nhà, bằng trách nhiệm với cộng đồng và môi trường, chúng ta đang từng bước viết tiếp câu chuyện hòa bình một cách ý nghĩa nhất. Hãy để thế hệ trẻ Việt Nam không chỉ là người thụ hưởng hòa bình, mà còn là những kiến trúc sư kiến tạo tương lai hòa bình, phồn vinh cho đất nước.
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 9
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
Phần I. Đọc hiểu
Đọc đoạn trích sau:
(Tóm tắt. Lời hứa thời gian của Nguyễn Quang Thiều kể về nhân vật chính là ông Miêng, sau chiến tranh, ông ở lại đồi thông để trồng thông kín cả những quả đồi vì nỗi đau chiến tranh, nơi mà cả tiểu đội đã hy sinh hết chỉ còn mình ông. Sau chiến tranh, ông Miêng nhận phải bi kịch thời hậu chiến. Nhiễm chất độc màu da cam, con ông sinh ra cũng bị nhiễm chất độc đó và không thể sống được. Người vợ đợi chờ ông đằng đẵng suốt mười năm thời chiến thì nay bỏ ông trong thời bình. Một hy vọng hạnh phúc khác vừa nhen nhóm lên trong đời ông Miêng đã nhanh chóng vụt tắt, đấy là khi Hoa cuốc phải quả mìn còn sót trong chiến tranh và qua đời. Nỗi đau cũ còn chưa nguôi thì nỗi đau mới lại chồng lên người cựu chiến binh. Phần cuối truyện, con của vợ cũ đến tìm cha theo lời trăng trối của mẹ. Ông sống cùng con của vợ cũ và giữ kín bí mật mình không thể có con để hai người đàn ông sẽ mang đến cho nhau hơi ấm cuộc đời trong tất cả những tháng ngày sắp tới.)
[…]
Rồi vợ ông mang thai, ông ôm vợ và nói: “Chúng mình sẽ có một thằng con trai. Vùng đồi này sẽ có thêm một người trồng thông”. Nhưng ngày vợ ông sinh là ngày khủng khiếp nhất trong đời ông. Đứa bé không thành người. Nó chết ngay sau khi được sinh ra... Ông chôn đứa bé trên đỉnh đồi nơi cả tiểu đội của ông đã nằm ở đó. Những ngày sau đó thỉnh thoảng ông để cho vợ đánh chiếc xe trâu lọc cọc về thị xã chơi với người quen cho khuây khỏa. Còn ông lại lao vào trồng thông từ sáng đến tối... Ông quyết liệt trồng thông phủ kín những quả đồi và quyết liệt có con. Vợ ông mỗi ngày một ít nói và đánh xe trâu về thị xã nhiều hơn... Chị đã bỏ ông, bỏ vùng đồi đi theo một người đàn ông khác mà chị gặp và trở nên thân thiết trong những lần đánh xe trâu về thị xã. (...)
Đêm đó, ông lên cơn sốt thật. Trong cơn mê man, ông thấy đồng đội ông ôm súng nằm phủ kín những quả đồi. Ông đi lang thang trên những quả đồi và gọi tên đồng đội. Không ai trả lời ông. Tất cả đã yên nghỉ mãi mãi trên những quả đồi kia. Ông nằm bệt trên giường hai ngày liền. Một nhân viên của trạm cây giống lên thăm ông. Thấy ông ốm, anh ta vội đón một nữ y tá đến thăm bệnh và chăm sóc ông. Mấy ngày sau ông khỏi và lại đánh xe đến trạm cây giống lấy thông con. Ông lại trồng thông từ sáng đến tối mịt. Lúc nào đói thì nấu ăn, lúc nào mệt thì nằm ngủ, không theo quy luật nào cả.
Cứ khoảng một tháng, ông Miêng lại đánh xe về thị xã. Sau khi mua sắm những thứ cần thiết cho sinh hoạt và công việc, ông ghé qua nhà quen của vợ chồng ông. “Có thấy cô ấy về đây không?” Khi gặp người quen, ông thường hỏi câu đó. Người đàn bà nhìn ông vừa ái ngại vừa như có lỗi và lắc đầu. Và trước khi bước lên xe để trở về ông đều nói: “Có gặp vợ tôi thì bảo với cô ấy là tôi vẫn đợi cô ấy”.
(Trích Lời hứa của thời gian, Nguyễn Quang Thiều, Mùa hoa cải bên sông, NXB Hội nhà văn, 2012)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5
Câu 1. Xác định ngôi kể và người kể chuyện.
Câu 2 . Xác định đề tài của văn bản
Câu 3. Nêu tác dụng của phép tu từ liệt kê trong đoạn văn sau
Đêm đó, ông lên cơn sốt thật. Trong cơn mê man, ông thấy đồng đội ông ôm súng nằm phủ kín những quả đồi. Ông đi lang thang trên những quả đồi và gọi tên đồng đội. Không ai trả lời ông. Tất cả đã yên nghỉ mãi mãi trên những quả đồi kia. Ông nằm bệt trên giường hai ngày liền. Một nhân viên của trạm cây giống lên thăm ông. Thấy ông ốm, anh ta vội đón một nữ y tá đến thăm bệnh và chăm sóc ông. Mấy ngày sau ông khỏi và lại đánh xe đến trạm cây giống lấy thông con. Ông lại trồng thông từ sáng đến tối mịt. Lúc nào đói thì nấu ăn, lúc nào mệt thì nằm ngủ, không theo quy luật nào cả.
Câu 4. Phân tích hiệu quả của điểm nhìn trần thuật và nhận xét về chủ thể trần thuật trong đoạn văn sau:
Cứ khoảng một tháng, ông Miêng lại đánh xe về thị xã. Sau khi mua sắm những thứ cần thiết cho sinh hoạt và công việc, ông ghé qua nhà quen của vợ chồng ông. “Có thấy cô ấy về đây không?” Khi gặp người quen, ông thường hỏi câu đó. Người đàn bà nhìn ông vừa ái ngại vừa như có lỗi và lắc đầu. Và trước khi bước lên xe để trở về ông đều nói: “Có gặp vợ tôi thì bảo với cô ấy là tôi vẫn đợi cô ấy”.
Câu 5. Thông điệp có ý nghĩa nhất với anh/chị qua văn bản. Lí giải thông điệp.
Phần II. Làm văn
Câu 1:
Anh/Chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích chi tiết "Ông lại trồng thông từ sáng đến tối mịt" để làm rõ ý nghĩa của hành động này trong việc khắc họa số phận và vẻ đẹp tâm hồn nhân vật ông Miêng.
Câu 2:
Anh/Chị hãy viết 1 bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) với chủ đề: Yêu những điều giản dị.
Lời giải
Phần I. Đọc hiểu
Câu 1:
Phương pháp:
Đọc kỹ văn bản, vận dụng kiến thức về người kể chuyện (ngôi kể, điểm nhìn trần thuật)
Cách giải:
- Ngôi thứ 3
- Người kể truyện toàn tri
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để xác định đối tượng, phạm vi đời sống văn bản thể hiện
Cách giải:
Đề tài: Người lính sau chiến tranh
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ liệt kê để phân tích tác dụng
Cách giải:
- Phép tu từ liệt kê: ông thấy đồng đội ông ôm súng nằm phủ kín những quả đồi... ông đi lang thang trên những quả đồi và gọi tên đồng đội... ông nằm bệt trên giường hai ngày liền… ông khỏi và lại đánh xe đến trạm cây giống lấy thông con... ông lại trồng thông từ sáng đến tối mịt...
- Tác dụng:
+ Giúp cho sự miêu tả chi tiết, đầy đủ hơn, tăng tính biểu cảm cho đoạn văn
+ Khẳng định nghị lực, sự quyết tâm của ông Miêng, tình cảm thiêng liêng của ông Miêng dành cho đồng đội
+ Khẳng định chỉ có người lính đã trải qua sinh tử như ông Miêng mới có thể biến đồi trọc thành đồi thông xanh, thành sự sống xanh tươi
Câu 4:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các yếu tố trong văn bản tự sự: điểm nhìn, chủ thể trần thuật để nhận xét và phân tích
Cách giải:
- Điểm nhìn trần thuật: từ điểm nhìn bên ngoài (lời kể của người kể chuyện) đến điểm nhìn bên trong(lời của ông Miêng hỏi người quen). Di chuyển vào điểm nhìn bên trong khiến độc giả có cảm giác được kết nối với nhân vật để thấu hiểu nỗi đau của nhân vật.
- Chủ thể trần thuật ngôi thứ 3 có tác dụng thể niềm cảm thông với nỗi đau, sự bất hạnh của ông Miêng; trân trọng cảm phục tình cảm ông dành cho vợ cũ; khâm phục nghị lực sống và niềm khát khao hạnh phúc gia đình của nhân vật, đồng thời nói lên lòng thuỷ chung của nhân vật
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Sống nghị lực để vượt quan nỗi đau
- Hãy sống nhân ái để chiến tranh không xảy ra
- Hãy trân trọng quá khứ…
Cách giải:
Thông điệp có ý nghĩa nhất với em qua văn bản là: Dù cuộc sống có nghiệt ngã đến đâu, con người vẫn có thể tìm thấy ý nghĩa sống và hàn gắn vết thương bằng tình yêu thương và lao động. Ông Miêng đã mất đồng đội, con trai chết yểu, vợ bỏ đi. Thế nhưng, ông không gục ngã. Ông chọn cách sống tiếp bằng việc trồng thông – một hành động lao động cần mẫn và đầy yêu thương. Những cây thông xanh mướt phủ kín đồi trọc không chỉ là lời hứa với quá khứ, mà còn là sự hồi sinh cho hiện tại, minh chứng rằng sự sống luôn chiến thắng cái chết, và tình yêu có thể chữa lành mọi nỗi đau.
Phần II. Viết
Câu 1:
Phương pháp:
* Yêu cầu chung:
- Đảm bảo cấu trúc đoạn văn: có câu mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn.
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Ý nghĩa của chi tiết "trồng thông".
- Vận dụng tốt các thao tác lập luận (phân tích, giải thích, chứng minh...).
* Yêu cầu cụ thể: Học sinh có thể triển khai theo các ý sau:
- Giới thiệu vấn đề: Giới thiệu chi tiết và khẳng định đây là một chi tiết nghệ thuật giàu ý nghĩa.
- Phân tích ý nghĩa chi tiết:
+ Biểu tượng của sự hàn gắn và lời hứa
+ Phương thức để vượt thoát nỗi đau cá nhân
+ Biểu hiện của nghị lực sống phi thường
+ Sự gắn bó máu thịt với quá khứ và hiện tại
- Đánh giá chung: Khẳng định đây là chi tiết đắt giá, góp phần quan trọng trong việc xây dựng hình tượng nhân vật mang tầm biểu tượng: người lính sau chiến tranh, dù bị tổn thương nhưng vẫn ngời sáng phẩm chất anh hùng và lòng yêu sự sống.
Cách giải:
Trong tác phẩm “Lời hứa của thời gian”, chi tiết "Ông lại trồng thông từ sáng đến tối mịt" là một chi tiết nghệ thuật đắt giá, có sức gợi hình và gợi cảm mạnh mẽ, góp phần quan trọng trong việc khắc họa số phận và vẻ đẹp tâm hồn nhân vật ông Miêng. Trước hết, đây là biểu tượng của sự hàn gắn và lời hứa. Hành động ấy xuất phát từ lời hứa với đồng đội đã khuất, biến những quả đồi tử địa năm xưa thành cánh rừng bạt ngàn sự sống, như một cách thức thiết thực nhất để xoa dịu những vết thương chiến tranh in hằn lên mảnh đất. Đồng thời, trong bối cảnh chịu nhiều mất mát cá nhân: đứa con chết yểu, người vợ bỏ đi thì hành động ấy trở thành một phương thức để ông vượt thoát nỗi đau. Ông "lao vào trồng thông" như một liệu pháp tinh thần, dùng sự mệt nhoài của thể xác để lấp đầy những khoảng trống tâm hồn đang dày vò ông. Không dừng lại ở đó, hành động miệt mài "từ sáng đến tối mịt" còn là biểu hiện sinh động của một nghị lực sống phi thường. Nó cho thấy một ý chí kiên cường, một sức sống mãnh liệt luôn âm ỉ cháy, giúp ông không gục ngã trước nghịch cảnh và tìm thấy một lẽ sống tích cực, có ích. Hơn thế nữa, cánh rừng thông chính là nơi giao thoa giữa ký ức đau thương (nơi chôn cất đồng đội và đứa con) với hi vọng về tương lai (màu xanh của sự sống mới). Hành động trồng cây của ông chính là sự gánh vác cả quá khứ và hiện tại trên đôi vai mình. Tóm lại, chi tiết này không chỉ khắc họa số phận đầy bi kịch của người lính sau chiến tranh mà còn làm toát lên vẻ đẹp tâm hồn đáng trân trọng: sự kiên cường, lòng thủy chung và một tình yêu cuộc sống mãnh liệt.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận và nêu khái quát quan điểm cá nhân.
2. Thân bài
- Giải thích “Những điều giản dị”: là những điều giản đơn, nhỏ bé, gần gũi xung quanh nhưng lại có ý nghĩa trong cuộc sống. Yêu những điều giản dị là một lối sống tích cực trong cuộc sống ngày hôm nay.
- Nhìn nhận vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau:
+ Yêu những điều giản dị là yêu cuộc sống đời thường với những âm thanh trò chuyện của gia đình, bạn bè; yêu những bông hoa dại nhỏ bé mà điểm tô cho đời;…
+ Yêu những điều giản dị là yêu cuộc sống giản đơn và biết đủ, biết trân quý những gì mình đang có
- Ý nghĩa của việc yêu những điều giản dị:
+ Làm nên một cuộc sống hạnh phúc và ý nghĩa, bởi lẽ hạnh phúc thường đến từ những điều giản đơn: bữa ăn ấm cúng bên gia đình, những lời động viên an ủi; những tiếng cười;…
+ Giúp con người cân bằng cuộc sống, hài lòng với những gì mình đang có, từ đó hướng tới những cảm xúc tích cực: lạc quan, yêu đời, tin vào những giá trị tốt đẹp giữa đời thường.
+ Tạo ra sự cân bằng, phát triển bền vững của toàn xã hội.
* Dẫn chứng chứng minh
* Mở rộng vấn đề: Yêu những điều giản dị cách sống tích cực. Nhưng không có nghĩa giành thời gian cho những thứ tầm thường, vụn vặt
* Bài học nhận thức, hành động cho bản thân: sống chậm lại để cảm nhận được cuộc đời; hãy yêu thương nhiều hơn;…
….
3. Kết bài
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong nhịp sống hối hả của xã hội hiện đại, khi con người luôn bận rộn theo đuổi những giá trị vật chất phù phiếm, chúng ta dường như đã lãng quên những điều nhỏ bé, bình thường nhất. Phải chăng, hạnh phúc thực sự lại ẩn chứa trong những khoảnh khắc giản đơn quanh ta? Bởi vậy, "yêu những điều giản dị" không chỉ là một lựa chọn, mà đã trở thành một triết lý sống cần thiết, một nghệ thuật sống sâu sắc giúp mỗi người tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn.
Trước hết, chúng ta cần hiểu "những điều giản dị" là gì? Đó là tất cả những gì nhỏ bé, gần gũi, mộc mạc trong cuộc sống đời thường: đó là hương vị của bữa cơm gia đình, là ánh nắng ban mai lấp ló qua kẽ lá, là tiếng cười giòn tan của trẻ thơ, hay đơn giản chỉ là khoảnh khắc được lắng nghe một bản nhạc hay. "Yêu những điều giản dị" là biết trân trọng, nâng niu và tìm thấy niềm vui, hạnh phúc từ những điều tưởng chừng như rất đỗi bình thường ấy.
Vì sao chúng ta nên yêu những điều giản dị? Bởi lẽ, chính những điều tưởng chừng nhỏ bé ấy mới là cội nguồn của hạnh phúc đích thực và bền vững. Hạnh phúc không nằm ở những thứ xa xỉ, phù phiếm bên ngoài, mà hiện hữu ngay trong những khoảnh khắc đời thường nhất. Khi ta biết yêu những điều giản dị, tâm hồn ta sẽ trở nên thanh thản và nhẹ nhàng hơn. Ta sẽ không còn bị cuốn vào vòng xoáy của sự bon chen, vật chất, mà học cách hài lòng với những gì mình đang có. Điều này giúp ta giảm bớt những muộn phiền, âu lo, để tìm thấy sự cân bằng trong cuộc sống. Hơn thế, khi biết trân trọng những điều giản dị, ta sẽ phát triển được khả năng cảm nhận cuộc sống một cách sâu sắc và tinh tế hơn. Ta nhận ra vẻ đẹp tiềm ẩn trong từng sự vật, hiện tượng, và từ đó, nuôi dưỡng một trái tim biết yêu thương, biết rung động.
Trong cuộc sống, chúng ta thực sự bắt gặp rất nhiều tấm gương về lối sống giản dị mà cao đẹp. Đó có thể là một bác nông dân vui với mùa vụ bội thu, một người mẹ hạnh phúc khi thấy con khôn lớn, hay những con người lam lũ vẫn giữ được nụ cười rạng rỡ. Tất cả đều chứng minh rằng, hạnh phúc không ở đâu xa, mà ở ngay trong những điều bình dị nhất.
Tuy nhiên, yêu những điều giản dị không có nghĩa là sống buông thả, không mục đích, hay từ chối những nỗ lực vươn lên. Trái lại, đó là một lựa chọn có ý thức, hướng tới những giá trị tinh thần bền vững, giúp ta giữ vững bản chất chân thật của mình giữa dòng đời xô bồ. Nó dạy ta biết đủ, biết dừng lại đúng lúc để cảm nhận và trân trọng những gì mình đang có, từ đó sống một cách trọn vẹn và ý nghĩa hơn.
Để có thể yêu và sống với những điều giản dị, mỗi chúng ta cần học cách "sống chậm" lại. Hãy dành thời gian lắng nghe, quan sát và kết nối với thế giới xung quanh. Hãy tập biết ơn vì những điều nhỏ bé mình nhận được mỗi ngày. Và trên hết, hãy nuôi dưỡng một trái tim biết yêu thương, biết rung động trước cái đẹp ẩn chứa trong từng khoảnh khắc của cuộc sống.
Tóm lại, "yêu những điều giản dị" là một thái độ sống tích cực, một triết lý nhân văn sâu sắc. Nó cho ta thấy rằng, hạnh phúc không phải là đích đến xa xôi, mà là hành trình ta đi và cách ta cảm nhận từng bước chân ấy. Khi ta biết yêu những điều giản dị, tâm hồn ta sẽ trở nên phong phú, cuộc sống của ta sẽ nhẹ nhàng và hạnh phúc hơn. Hãy cởi mở lòng mình để đón nhận và trân trọng những món quà giản dị mà cuộc sống ban tặng, bởi chính những điều nhỏ bé ấy mới là những viên ngọc quý giá nhất kết tinh nên ý nghĩa đích thực của cuộc đời mỗi con người.
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 10
Đề bài
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
(1) Nhưng rồi ông cảm thấy ngỡ ngàng khi thằng con trai đầu ra thành phố học sau đó chẳng chịu trở lại. “Con đi rồi con sẽ trở về”, nó vừa nói vừa khóc khi rời nhà đi học đại học. Nhưng thành phố giữ riết chân nó lại. Sau nhiều đêm nghĩ ngợi cuối cùng ông đành chặc lưỡi: ”Ừ, thì thôi, cứ để nó bay nhảy, ta còn mấy đứa khác”. Ra trường, thằng cả chuyển vào làm việc ở một thành phố xa hơn ngàn cây số. Linh tính cho ông Bừng biết rằng hình như ông đang dần mất nó. Đứa con gái theo chân anh khi thằng Đức học năm thứ hai. Lúc ấy thì ông hiểu bắt đầu có sự biến động ở gia đình ông. Trong ký ức thế hệ ông, con gái cứ phải trồng dâu, nuôi tằm, quay tơ, dệt lụa. Lấy chồng rồi sinh con đẻ cái.
Cứ thế, loanh quanh như một kiểu đèn cù bao lấy những số phận được sắp đặt sẵn. Hễ vượt ra là không yên. Chỉ những đứa con gái hư mới dại dột vượt ra khỏi vòng cương tỏa bất thành văn ấy. Giờ thì đến lượt con gái yêu quý của ông. Nó rời nhà đi với sự hồn nhiên trong trẻo càng khiến ruột gan ông đau xé. “Làm sao nó đủ sức chống chọi với đời?”. Bao nhiêu đêm ông thức trắng con mắt cùng tiếng thở dài.
Từ nhà trong tiếng sụt sịt của vợ làm đầu óc ông muốn vỡ tung lên. Ông chỉ muốn đập phá, ông muốn đập phá hết. …. Bà Duyên chắc chẳng khác gì ông. Đầu óc nông dân và mong muốn bình yên đã khiến ông lo sợ trước sự đổi thay, càng sợ trước những đổi thay mà ông chẳng thể hiểu, chẳng lường trước được. Nhiều khi ông nghĩ, chúng nó, thằng Đức, con Hạnh đang làm gì nơi ấy? Liệu chúng có đủ sức vượt qua bao chông gai, cạm bẫy ngày ngày vây lấy chúng? Cứ nghĩ đến đấy là ruột gan ông lại thót lên. Là tim ông nhói lên– ông trở nên già cỗi mất rồi.
Đến khi con Hạnh về xin cho thằng cu út thi vào trường chuyên của tỉnh thì ông thật sự hoảng. Trong lòng ông mọi thứ đổ ào. Đến thế này thì ông chẳng thể nào chịu đựng nổi. Nó không chỉ là những quả pháo vu vơ bắn vào thuyền ông hơn ba mươi năm trước nữa mà là từng chùm pháo cấp tập nã vào ngực ông. Mặt ông tái nhợt khiến con Hạnh hoảng hồn. Nó len lén nhìn ông rồi nhìn bà. “Là con nghĩ vậy thôi. Quyết định là ở ba mà”. Nó nói vậy nhưng trong ánh mắt nó lại ánh lên suy nghĩ khác không giấu vẻ quyết liệt. Ông thở dài và nghĩ thầm : ”Con chim đủ lông đủ cánh thì phải bay đi, phải không? Có gì để níu giữ chúng đâu nào?”. Chẳng thèm trả lời Hạnh, ông đứng dậy đi vào bếp. Cùng với sự trở chứng của vết thương trong đầu ông mọi thứ chợt trở nên bất bình thường một cách tệ hại.
(2) Sau sự cố độ nửa tháng thì lụt lớn. Sáu mươi năm, đúng một hoa giáp, mới có một cơn lụt kinh khủng theo chu kỳ của trời đất. Cơn lụt dữ dằn xé toạc làng ra làm đôi ngay khúc quanh của dòng sông. Vườn nhà ông Bừng mất hẳn một góc. Ông Bừng nghĩ đến sự giận dữ của mẹ sông và không khỏi rùng mình. Chính quyền đang có dự án chặn dòng sông lại ngay chỗ ấy. Nhưng hình như cần chặn từ chính con người thì phải? Cả con Hạnh lẫn thằng cu út thi thoảng mới tạt về. Thằng Đức vài năm mới ghé về thăm quê một lần. Nó vừa mắc cho ông chiếc điện thoại. Nếu để cho ông gần gũi với bọn chúng thì được, chứ nếu để thay cho sự có mặt của chúng thì thật là…
Ông Bừng cứ nghĩ vẩn vơ. Ông có thói quen chiều chiều hoặc đêm trăng sáng lại ra bờ sông ngồi. Ông ngồi lặng và ngẫm ngợi sự đời. Và ông đã ngộ ra bao điều. Một đời, sống chẳng mất lòng ai, chưa một lần báng bổ mẹ sông, cha đất. Thế thì thanh thản lắm rồi. Ra bờ sông từ chiều ông Bừng chỉ ngồi đến nhá nhem tối, còn đêm trăng thì mãi đến tận khuya lơ. Hôm nay thì khác. Ông đã ra bờ sông từ chiều nhưng mãi đến tận lúc này ông vẫn chưa muốn về. Cũng chỉ vì đàn chim ấy. Cái đàn chim bay ngang sông hồi chiều khi mặt trời vừa khuất sau núi Cánh Diều. Chúng nép vào nhau bay về phía trời xa. Ông nhìn và chạnh nghĩ đến những đứa con của mình, những đứa con của vùng đất phù sa này. Ông chợt thấy ấm lòng khi nhìn thấy con chim đẹp đẽ ấy, con chim đã tách bầy và bay ngược hướng đàn chim đang thiên di. Hình như con chim ấy còn băn khoăn điều gì thì phải!
(Trích Mùa chim bay đi, Lê Trâm, https://vanvn.vn/mua-chim-bay-di-truyen-ngancua-le-tram, ngày12 Tháng 10, 2022)
Thực hiện các câu hỏi sau:
Câu 1. Dấu hiệu nào để xác định ngôi kể trong văn bản?
Câu 2. Theo đoạn trích, những sự kiện nào đã khiến ông Bừng lo lắng và cảm thấy “già cỗi”?
Câu 3. Câu hỏi tu từ trong câu văn sau có tác dụng như thế nào?
“Con chim đủ lông đủ cánh thì phải bay đi, phải không? Có gì để níu giữ chúng đâu nào?”?
Câu 4. Hình ảnh “con chim đã tách bầy và bay ngược hướng đàn chim đang thiên di” trong đoạn 2 có ý nghĩa gì?
Câu 5. Thế hệ Ông Bừng quan niệm: “Con gái cứ phải trồng dâu, nuôi tằm, quay tơ, dệt lụa. Lấy chồng rồi sinh con đẻ cái. Cứ thế, loanh quanh như một kiểu đèn cù bao lấy những số phận được sắp đặt sẵn. Hễ vượt ra là không yên. Chỉ những đứa con gái hư mới dại dột vượt ra khỏi vòng cương tỏa bất thành văn ấy”. Anh/ chị có đồng tình với quan niệm đó không? Vì sao?
Phần II. Viết
Câu 1.
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích tâm trạng của nhân vật ông Bừng trong đoạn trích trên.
Câu 2.
Từ kết quả đọc hiểu văn bản "Mùa chim bay đi" của Lê Trâm kết hợp với thực tế xã hội hiện nay: nhiều bạn trẻ có những khái niệm khác nhau về quê hương. Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của bạn về sự thay đổi trong quan niệm về gia đình và quê hương của thế hệ trẻ ngày nay.
HẾT
Lời giải
Phần I. Đọc hiểu
Câu 1:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về ngôi kể của người kể chuyện để xác định
Cách giải:
- Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba
+ Người kể chuyện gọi nhân vật chính bằng tên ("ông Bừng", "ông")
+ Kể lại câu chuyện từ bên ngoài, như một người quan sát toàn tri, biết rõ mọi suy nghĩ, tâm trạng của nhân vật
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để chỉ ra các chi tiết phù hợp
Cách giải:
- Những sự kiện khiến ông Bừng lo lắng và cảm thấy "già cỗi" là:
+ Người con trai đầu là Đức sau khi ra thành phố học đã không trở về, rồi vào làm việc ở một thành phố xa hơn ngàn cây số.
+ Người con gái Hạnh cũng bỏ nhà ra thành phố, khiến ông "đau xé ruột gan", lo lắng không biết nó có chống chọi được với cuộc sống không.
+ Hạnh về xin cho đứa con trai út (cu út) thi vào trường chuyên của tỉnh, ông thật sự hoảng hốt. Đây là sự kiện khiến ông cảm thấy không thể chịu đựng nổi, khiến ông cảm thấy mình "trở nên già cỗi".
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về câu hỏi tu từ để phân tích tác dụng
Cách giải:
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh sự chấp nhận đầy xót xa: Ông Bừng tự hỏi và tự tìm lời giải cho nỗi lòng mình. Ông hiểu quy luật "con lớn phải ra ở riêng" là tất yếu.
+ Thể hiện nỗi buồn và sự bất lực khi không thể giữ các con ở lại.
+ Làm nổi bật mâu thuẫn nội tâm giữa tình yêu thương, muốn giữ con ở gần và sự thấu hiểu rằng chúng cần có cuộc sống riêng.
Câu 4:
Phương pháp:
Xác định hình ảnh biểu tượng và phân tích ý nghĩa
Cách giải:
- Hình ảnh biểu tượng: con chim đã tách bầy
- Ý nghĩa:
+ Nó tượng trưng cho một đứa con trong gia đình ông Bừng (có thể là Hạnh hoặc đứa út) quay trở về quê hương, không chạy theo xu hướng ra thành phố như những người khác.
+ Nó mang đến cho ông Bừng một tia hi vọng, một sự ấm lòng, rằng vẫn có sự gắn bó, quay về với cội nguồn, rằng không phải tất cả "đàn chim" đều bay đi mãi mãi.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Trường hợp: Không đồng tình
+ Kìm hãm sự phát triển của phụ nữ.
+ Tư tưởng trọng nam khinh nữ, lạc hậu.
+ Định kiến, bất công
- Trường hợp: Đồng tình
+ Phù hợp với xã hội nông nghiệp truyền thống.
+ Đảm bảo sự ổn định, an toàn cho người phụ nữ thời đó.
Cách giải:
Em hoàn toàn không đồng tình với quan niệm của thế hệ ông Bừng. Trước hết, quan niệm ấy đã áp đặt một số phận có sẵn, kìm hãm quyền được lựa chọn, học tập và vươn tới những chân trời mới của người phụ nữ. Trong xã hội hiện đại, nam nữ bình đẳng, phụ nữ hoàn toàn có năng lực để khẳng định mình trong mọi lĩnh vực chứ không chỉ loanh quanh với "trồng dâu, nuôi tằm". Hơn nữa, việc dán nhãn "con gái hư" cho những ai dám bước ra khỏi khuôn khổ là một định kiến lạc hậu và bất công, phủ nhận khát vọng chính đáng và bản lĩnh cá nhân của họ. Mỗi người, dù là nam hay nữ, đều xứng đáng có một cuộc đời do chính mình lựa chọn.
Phần II. Viết
Câu 1:
Phương pháp:
- Hình thức: Đảm bảo cấu trúc đoạn văn (diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp…); đảm bảo dung lượng 200 chữ.
- Nội dung: Có thể triển khai những ý cơ bản sau:
+ Mở đoạn: Giới thiệu nhân vật ông Bừng và khái quát tâm trạng phức tạp của ông.
+ Thân đoạn: Phân tích các trạng thái tâm lý chính: ngỡ ngàng, bất lực, lo lắng, cô đơn, chấp nhận,...
+ Kết đoạn: Khẳng định ông Bừng là hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ cha mẹ với nhiều trăn trở, giằng xé trong thời đại mới.
Cách giải:
Trong đoạn trích “Mùa chim bay đi” của Lê Trâm, nhân vật ông Bừng hiện lên với một tâm trạng đầy mâu thuẫn và giằng xé, phản ánh nỗi lòng của một người cha truyền thống trước những đổi thay của thời đại. Ban đầu, ông cảm thấy ngỡ ngàng, thất vọng khi người con trai đầu Đức rời quê lên thành phố học rồi ở lại luôn, bất chấp lời hứa "con sẽ trở về". Cảm giác mất mát ấy càng trở nên rõ rệt và đau đớn hơn khi cô con gái Hạnh cũng nối bước anh. Ông lo sợ cực độ, tự hỏi "Làm sao nó đủ sức chống chọi với đời?" và "thức trắng" nhiều đêm vì bất an. Đến khi nghe con gái về xin cho đứa con trai út đi thi trường chuyên, tâm trạng ông chuyển sang hoảng loạn tột cùng, cảm thấy như "từng chùm pháo cấp tập nã vào ngực". Sự kiện này như giọt nước tràn ly, khiến ông nhận ra mình đang thực sự mất dần những đứa con vào thế giới rộng lớn bên ngoài. Thế nhưng, ẩn sâu trong tất cả những nỗi sợ và sự bất lực ấy là tình yêu thương con vô bờ bến. Chính tình yêu ấy đã dẫn ông đến sự chấp nhận đầy xót xa qua ý nghĩ "Con chim đủ lông đủ cánh thì phải bay đi". Dẫu đau lòng, ông cũng hiểu rằng không thể mãi níu giữ chúng trong vòng tay mình. Cuối cùng, hình ảnh "con chim tách bầy" bay ngược về đã thắp lên trong lòng ông một tia hy vọng ấm áp về sự trở lại và sự gắn bó với cội nguồn. Ông Bừng chính là hình ảnh thu nhỏ của thế hệ cha mẹ ở làng quê, mang trong mình nỗi niềm giằng xé giữa truyền thống và hiện đại, giữa ước muốn giữ con bên mình và khát vọng được thấy chúng bay xa, bay cao.
Câu 2:
Phương pháp:
I. MỞ BÀI
- Dẫn từ hình ảnh "đàn chim bay đi" trong truyện
- Giới thiệu vấn đề: sự thay đổi quan niệm về gia đình, quê hương của giới trẻ
II. THÂN BÀI
1. Giải thích
- Quan niệm truyền thống: "Quê hương" là nơi chôn rau cắt rốn, nơi "ta sinh ra và lớn lên", là không gian địa lý cố định, gắn với gia đình nhiều thế hệ. "Gia đình" là tổ ấm, là nơi các thành viên sum họp, gắn bó lâu dài, con cái có trách nhiệm "phụng dưỡng cha mẹ".
- Quan niệm mới: "Quê hương" có thể được hiểu linh hoạt hơn - là nơi ta cống hiến, nơi ta tìm thấy cơ hội phát triển bản thân. "Gia đình" là nơi cho ta tình yêu thương và sự hỗ trợ tinh thần, dù các thành viên có thể ở nhiều nơi khác nhau.
2. Biểu hiện
- Nhiều bạn trẻ xem quê hương không chỉ là nơi sinh ra, mà còn là nơi mình thuộc về, nơi tạo ra giá trị, cơ hội phát triển.
- Quan niệm về gia đình cũng rộng mở hơn: không chỉ là nơi ràng buộc huyết thống mà là môi trường cảm xúc, chỗ dựa tinh thần, bao gồm cả gia đình tự lựa chọn (bạn bè, cộng đồng).
- Sự dịch chuyển mạnh mẽ do học tập, làm việc xa nhà khiến các bạn trẻ dễ thích nghi với nhiều môi trường, tiếp cận lối sống mới → gắn bó với quê theo cách khác.
3. Nguyên nhân của sự thay đổi
- Bối cảnh toàn cầu hoá, hiện đại hoá.
- Nhu cầu khẳng định bản thân, tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp.
- Sự phát triển của công nghệ, mạng xã hội → khiến khái niệm “ở đâu cũng kết nối được với gia đình”.
- Tâm lý muốn sống cuộc đời của riêng mình, đề cao tự do cá nhân.
4. Tác động
* Mặt tích cực của sự thay đổi
- Giới trẻ năng động, sẵn sàng rời vùng an toàn để trải nghiệm và phát triển.
- Nhìn quê hương với tư duy đóng góp và xây dựng, không chỉ trông chờ vào sự níu giữ truyền thống.
- Tạo nên những giá trị mới cho chính quê hương (quay về khởi nghiệp, xây dựng cộng đồng).
* Mặt hạn chế / nguy cơ
- Một số bạn thờ ơ với cội nguồn, coi quê hương chỉ là “chỗ để về khi mệt”.
- Đặt sự nghiệp lên trên tình cảm gia đình → thiếu thời gian sẻ chia, chăm sóc cha mẹ.
- Nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc khi quá chạy theo lối sống toàn cầu.
5. Bài học nhận thức và hành động
* Nhận thức
- Dù đi đâu, quê hương và gia đình vẫn là điểm tựa tinh thần.
- Nhận ra giá trị bền vững của tình cảm và cội nguồn trong sự trưởng thành của mỗi con người.
- Hiểu rằng sự hiện đại không đồng nghĩa với việc quên đi truyền thống.
* Hành động
- Dành thời gian quan tâm, chăm sóc gia đình bằng những hành động cụ thể: những cuộc gọi, những lần trở về.
- Ý thức giữ gìn văn hóa quê hương: ngôn ngữ, truyền thống, những điều đẹp đẽ của nơi mình sinh ra.
- Sống có trách nhiệm với cộng đồng quê hương: học tập tốt, cống hiến khi có cơ hội.
III. KẾT BÀI
- Khẳng định lại vấn đề nghị luận
- Liên hệ bản thân
Cách giải:
Trong truyện “Mùa chim bay đi” của Lê Trâm, hình ảnh đàn chim rời tổ bay về phương trời lạ gợi lên biết bao suy ngẫm. Những cánh chim tung mình giữa thinh không không chỉ biểu tượng cho khát vọng tự do, mà còn khiến ta nghĩ đến hành trình của mỗi con người khi trưởng thành. Ai rồi cũng đến lúc phải rời vòng tay gia đình, rời mảnh đất thân thuộc để tìm kiếm một bầu trời mới. Thế nhưng dù bay đi xa đến đâu, trong trái tim mỗi người vẫn luôn hiện hữu một điểm tựa không thể thay thế: đó là gia đình và quê hương. Từ hình ảnh đàn chim ấy, liên hệ với thực tế hôm nay, ta dễ dàng nhận thấy quan niệm của giới trẻ về quê hương và gia đình đang có sự chuyển biến sâu sắc.
Nếu nhìn về truyền thống, quê hương là nơi chôn rau cắt rốn, nơi ta sinh ra và lớn lên, nơi những kỉ niệm tuổi thơ được cất giữ trong từng ngọn gió, dòng sông, góc vườn. Đó là một không gian địa lý cố định, nơi bao thế hệ trong gia đình cùng sum họp, gắn bó bền chặt. Gia đình cũng vì thế mà được nhìn nhận như tổ ấm thiêng liêng, nơi mỗi con người được bao bọc trong tình yêu thương, nơi con cái có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ. Tuy nhiên, trong nhịp chuyển động của thời đại mới, quan niệm ấy không còn giữ nguyên vẹn trong suy nghĩ của giới trẻ. Nhiều người cho rằng quê hương không chỉ nằm ở nơi ta được sinh ra, mà còn là bất cứ nơi đâu ta thấy mình thuộc về, nơi mình có thể sống, cống hiến và trưởng thành. Gia đình cũng được hiểu theo nghĩa rộng hơn: đó là nơi mang đến cảm giác bình yên và được yêu thương, có thể là ruột thịt, cũng có thể là những con người ta lựa chọn để đồng hành.
Những chuyển biến ấy thể hiện rõ qua lối sống hiện nay của nhiều bạn trẻ. Họ đi học, đi làm xa nhà, chấp nhận rời khỏi vòng tay gia đình để tìm cơ hội phát triển ở những miền đất mới. Có người xem quê hương là nơi nuôi dưỡng hoài bão chứ không chỉ là chỗ trở về. Có người lại tìm thấy “gia đình” ở những người bạn đồng điệu, ở cộng đồng cùng chia sẻ ước mơ và lối sống. Việc di chuyển liên tục giúp giới trẻ thích nghi nhanh với môi trường mới và tiếp cận những giá trị đa dạng. Tình cảm dành cho quê hương vì thế không còn biểu hiện bằng sự gắn bó vật lý, mà thể hiện qua hành động, qua mong muốn quay trở lại cống hiến khi đã đủ trưởng thành.
Sự thay đổi này không phải ngẫu nhiên. Toàn cầu hóa mở ra muôn vàn cơ hội học tập, làm việc và trải nghiệm. Giới trẻ ngày nay mang trong mình nhu cầu mạnh mẽ được khẳng định bản thân, được sống theo lựa chọn của chính mình. Công nghệ hiện đại xóa nhòa khoảng cách địa lý: chỉ một cuộc gọi video, ta có thể nhìn thấy nụ cười của người thân. Vì thế, việc sống xa nhà không còn đồng nghĩa với mất kết nối. Tư duy đề cao tự do cá nhân cũng khiến giới trẻ mong muốn theo đuổi con đường riêng, không bị ràng buộc bởi những khuôn mẫu truyền thống.
Những thay đổi ấy mang đến nhiều giá trị tích cực. Người trẻ dám bước ra khỏi vùng an toàn để khám phá và trưởng thành. Họ nhìn quê hương bằng cái nhìn của người kiến tạo, không chỉ của người thụ hưởng. Nhiều bạn trẻ đã mang tri thức trở về để làm giàu cho quê hương. Tuy vậy, vẫn tồn tại không ít hạn chế đáng suy ngẫm. Một số bạn thờ ơ với cội nguồn, coi quê hương chỉ là nơi trú ngụ tạm thời. Áp lực của sự nghiệp khiến thời gian dành cho gia đình trở nên ít ỏi, khiến khoảng cách tình cảm ngày càng lớn. Nếu quá mải mê theo đuổi nhịp sống toàn cầu mà quên giữ gìn những giá trị văn hóa dân tộc, con người dễ đánh mất chính mình.
Từ đó, mỗi người trẻ cần nhìn nhận rõ ràng hơn giá trị của gia đình và quê hương. Dù đi xa đến đâu, quê hương vẫn là nơi ta có thể trở về sau bão giông, gia đình vẫn là nơi sưởi ấm tâm hồn. Sự hiện đại không đồng nghĩa với việc quên đi gốc rễ. Hãy quan tâm đến gia đình bằng những hành động giản dị như những cuộc gọi hỏi thăm, những lần trở về vào dịp lễ tết. Hãy giữ gìn những nét văn hóa của quê hương và sống có trách nhiệm với cộng đồng nơi ta thuộc về.
Có lẽ mỗi người trẻ đều là một cánh chim mang theo hoài bão. Nhưng điều đẹp đẽ nhất là dù bay đến chân trời nào, ta vẫn giữ một hướng về. Bởi quê hương và gia đình không chỉ là nơi bắt đầu, mà còn là nơi ta thuộc về mãi mãi.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP12
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
