Đề thi giữa kì 1 Ngữ Văn 12
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 1
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
HOÀNG HÔN MÀU CỎ
(Hoàng Trần Cương)
Khói lửa tạm lắng rồi
Gói chiếc ba lô phồng căng thời trai trẻ tinh sao tôi
Con trở về miền ao ước
Rải tiếng cười lăn xuống gậm giường
Ngực để trần
Áo trận lỏng tay
Một mình đứng khóc thầm cùng cỏ lác
Không còn sợ thần sắc long đong
Không còn lo chùm bom thù đi lạc
Mẹ bảo
Còn hai bàn tay là còn của nả
Còn nhớ về những nấm mộ rừng xa
Thế kỉ này vẫn lắm quỷ nhiều ma
Chỉ có bầu trời làng ta đang trong trẻo lại
Những chiều tà
Dân làng không túm tụm nhau ngoài bãi
Hoảng hốt nhìn những lằn chớp đen chèn ngang lễ cưới
Hoảng hốt nhìn những sân trường sạch bóng trẻ con
Hoảng hốt nhìn vào lòng mình thấy ruột gan nóng rần như lửa đốt người
Bói đâu ra bóng dáng của ngày thường
Bói đâu ra tiếng gà trưa đảo trứng
Tiếng mõ trâu chùng cả dáng chiều
Mẹ ơi!
Con nào dám cầu xin chi nhiều
Sau chuỗi ngày chinh chiến
Sau chuỗi ngày rụng rơi như bồ hóng
Những năm tháng hoả lò không sót lại muội than
Cho con xin vỏn vẹn một ngày
Trải lá chuối lên xó vườn rậm cỏ
Nằm dang tay dang chân
Để nghe gió thì thào to nhỏ
Để dõi theo mây núi trắng ngần
Để nỗi nhớ lần về tận ngõ
Theo chuyến đò ngang
[...]
Mẹ ơi
Xin cho con thêm một lần thả mình trên cỏ
Thiếp đi dưới bóng của làng
Giữa mơ màng thức ngủ
Nghe thì thầm trong đất
Nẻo đường dẫn đến mùa thu
Nẻo đường ngược về lịch sử
Nẻo đường dài ngắn xưa sau
Trời trong vắt
Mắt người xa xứ
Nỗi nhớ thì gần
Cái nhớ thì xa
(Hoàng Trần Cương, Trầm tích, NXB Hội Nhà văn, 1996)
Câu 1. Cảm xúc, rung động trong bài thơ là tiếng “dội” mãnh liệt của sự kiện nào vào tâm hồn nhà thơ? Xác định một số dòng/hình ảnh thơ mà em cho là đặc sắc (1đ)
Câu 2. Khổ thơ đầu gợi hình dung gì trong em, biểu tượng nào gợi ra cảnh ngộ của con người? Phân tích những cảm xúc, tâm trạng thể hiện trong khổ thơ (1đ)
Câu 3. Đọc khổ 2,3 và thực hiện các yêu cầu kế tiếp (1đ)
a. Hai khổ thơ gợi không gian, những cảm xúc, tâm trạng nào của ai, ở đâu, khi nào?
b. Những dòng thơ: “Mẹ bảo/ Còn hai bàn tay là còn của nả/ Chỉ có bầu trời làng ta đang trong trẻo lại” diễn tả, nói về điều gì trong cảm nhận người con?
c. Xác định thủ pháp nghệ thuật chính ở khổ 2,3 và hiệu quả thẩm mĩ của chúng?
d. Khổ thơ 2,3 có vai trò, vị trí như thế nào đối với toàn tác phẩm?
Câu 4. Người con khao khát điều gì? Khao khát ấy được nhà thơ thể hiện đặc biệt như thế nào? (1đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Cảm nghĩ của em về nhân vật người con trong bài thơ. Hoàng hôn màu đỏ của Hoàng Trần Cương đã mang tới cho em bài học quý giá nào? (trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2đ)
Câu 2.
Địa phương (quận/huyện) em tổ chức cuộc triển lãm, cuộc thi về ảnh/ vẽ tranh/ làm thơ/ viết bài luận có nhan đề “Tiếng nói phản đối chiến tranh và khát vọng hòa bình” để hỗ trợ nạn nhân của chiến tranh ở những vùng đang xảy ra chiến sự căng thẳng trên thế giới
Em hãy viết bài phát biểu (khoảng 600 chữ) trong Lễ phát động cuộc triển lãm trên (4đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 1
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1. Cảm xúc, rung động trong bài thơ là tiếng “dội” mãnh liệt của sự kiện nào vào tâm hồn nhà thơ? Xác định một số dòng/hình ảnh thơ mà em cho là đặc sắc (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Lựa chọn dòng/ hình ảnh bản thân cho là đặc sắc và phân tích
Lời giải chi tiết:
- Được trở về sau chiến tranh: Khói lửa tạm lắng rồi/ Gói chiếc ba lô phồng căng thời trai trẻ/ Con trở về miền ao ước
- Dòng/ Hình ảnh thơ mà em cho là đặc sắc: Học sinh tự xác định theo đánh giá của cá nhân
(Gợi ý tham khảo: Rải tiếng cười lăn xuống gậm giường; Bói đâu ra tiếng gà trưa đảo trứng; Tiếng mõ trâu chùng cả ráng chiều,…)
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2. Khổ thơ đầu gợi hình dung gì trong em, biểu tượng nào gợi ra cảnh ngộ của con người? Phân tích những cảm xúc, tâm trạng thể hiện trong khổ thơ (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ khổ thơ đầu
Nêu hình dung của bản thân
Chú ý những tính từ thể hiện cảm xúc, tâm trạng của tác giả
Lời giải chi tiết:
*Gợi hình dung
- Chiến tranh tạm yên; Người lính (không còn trẻ) trở về từ chiến trường với chiếc ba lô căng phồng; Ngực để trần…với chiếc áo lính cầm tay tâm trạng thoải mái
- “Khói lửa”, “Áo trận” là biểu tượng cho chiến tranh, loạn lạc gợi ra cảnh ngộ con người vừa trải qua
*Cảm xúc, tâm trạng của người trở về
- Vui mừng, hồ hởi:
+ Tâm trạng thoái mái hồ hởi (không phải căng mình đối mặt với trận chiến – “Áo trận lỏng tay”) ngày trở về quê hương gợi ra từ 2 dòng thơ đầu, từ hình ảnh chiếc ba lô căng phồng
+ Niềm hạnh phúc vô bờ của người lính được trở về quê hương được bộc lộ trực tiếp ở dòng thơ “Con trở về miền ao ước” → Miền ao ước là quê hương, là khát vọng, là ao ước cháy bỏng trong tâm hồn người lính
+ “Rải tiếng cười lăn xuống gậm giường” là sáng tạo độc đáo bởi nghệ thuật ẩn dụ diễn tả niềm vui của người lính được trở về quê hương, về ngôi nhà thân yêu của mình, niềm vui ấy bao trùm cả không gian, lan vào “xó xỉnh”, vào từng góc của ngôi nhà
- Thoáng buồn nhớ tới cảnh chiến trận: Một mình đứng khóc thầm cùng cỏ lác → Dòng thơ giàu sức gợi, gợi nhớ cảnh chiến trường giữa núi rừng hoang vu, với nỗi buồn mất mát, cô đơn khiến nhịp thơ chậm lại, chùng xuống
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Đọc khổ 2,3 và thực hiện các yêu cầu kế tiếp (1đ) a. Hai khổ thơ gợi không gian, những cảm xúc, tâm trạng nào của ai, ở đâu, khi nào? b. Những dòng thơ: “Mẹ bảo/ Còn hai bàn tay là còn của nả/ Chỉ có bầu trời làng ta đang trong trẻo lại” diễn tả, nói về điều gì trong cảm nhận người con? c. Xác định thủ pháp nghệ thuật chính ở khổ 2,3 và hiệu quả thẩm mĩ của chúng? d. Khổ thơ 2,3 có vai trò, vị trí như thế nào đối với toàn tác phẩm? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ khổ thơ 2,3 và các yêu cầu
Lời giải chi tiết:
a. Hai khổ thơ gợi ra: Không gian vắng lặng, thiếu sự sống của con người; cảm xúc, tâm trạng hốt hoảng lo âu của dân làng trong chiến tranh
b. Những dòng thơ nói về cảm nhận người con:
+ Mẹ bảo/ Còn hai bàn tay là còn của nả: Niềm tin của người con vào mình vào con người sau sự hủy diệt của chiến tranh
+ Chỉ có bầu trời làng ta đang trong trẻo lại: Khẳng định sức sống, sự hồi sinh kì diệu của con người và quê hương. Hai chữ “trong trẻo” gợi ra không gian tươi sáng, niềm tin vào ngày mai. Cuộc sống mới sẽ bắt đầu như chưa từng có thương đau
c. Nghệ thuật chính hiệu quả thẩm mĩ
- Nghệ thuật đối lập: Quá khứ vắng lặng, đau thương trong chiến tranh với cuộc sống thanh bình, niềm tin vào sức hồi sinh của quê hương (học sinh lựa chọn dẫn chứng)
- Điệp từ: Không còn; hoảng hốt; bói đâu
→ Hiệu quả: gợi cảnh tượng hoang tàn, tố cáo sự hủy diệt của chiến tranh nhằm diễn tả khao khát về cuộc sống bình yên, trù phú của làng quê xưa (trẻ em tới trường, tiếng gà trưa đảo trứng, tiếng mõ trâu chiều) và cuộc sống thanh bình ngày nay
d. Khổ thơ 2,3 có vai trò vị trí quan trọng đối với toàn bài thơ:
- Thể hiện cấu tứ độc đáo của bài thơ: Trở về trong thanh bình – hồi tưởng quá khứ đau thương trong chiến tranh – khao khát được đắm mình, được sống gắn bó với quê hương mình
- Tái hiện chiến tranh đau thương nơi quê nhà làm nổi bật nỗi nhớ, khát khao sống trong hòa bình của người con trải qua trận mạc, hi sinh
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Người con khao khát điều gì? Khao khát ấy được nhà thơ thể hiện đặc biệt như thế nào? (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Lời giải chi tiết:
- Người con khao khát:
+ Một ngày được nằm trên lá chuối ở xó vườn với cảm giác thật thoải mái để nghe gió, bay theo mây, thả hồn vào chuyến đò ngang để ngắm nhìn, đắm mình trong cảnh vật thiên nhiên của quê hương
+ Ngủ dưới bóng tre làng, lắng nghe tiếng đất để hiểu lịch sử, văn hóa, hiểu nỗi lòng của những người xa quê
- Cách thể hiện đặc biệt:
+ Giãi bày nỗi niềm với mẹ (thốt gọi “Mẹ ơi”! mở đầu hai nỗi khát khao); xin mẹ cho mình thực hiện khát vọng
+ Dùng nhiều điệp từ, điệp ngữ tạo nên những điệp khúc mở ra những giá trị, những khát khao cháy bỏng của mình về làng quê
+ Khát vọng của người con đi theo trình tự từ hẹp đến rộng, từ những điều cụ thể đến những giá trị lớn lao: nghe gió mây, ngắm chuyến đò → hiểu văn hóa, lịch sử, con người, để thấu hiểu có cái nhớ mới làm nên nỗi nhớ
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Cảm nghĩ của em về nhân vật người con trong bài thơ. Hoàng hôn màu đỏ của Hoàng Trần Cương đã mang tới cho em bài học quý giá nào? (trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn đã được học
Nêu quan điểm, ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Cảm nghĩ của em về nhân vật người con: Học sinh thể hiện cách cảm nhận của riêng của cá nhân nhưng cần bán sát từ tác phẩm (tham khảo gợi ý)
- Gợi ý: Người con đã trải qua chiến trận (đối mặt với hi sinh, cô đơn); Niềm vui ngày trở về quê nhà; hồi ức về chiến tranh đau thương nơi quê nhà và đồng đội hi sinh; khao khát được đắm mình, được sống gắn bó với quê hương mình)
- Bài học từ văn bản đọc hiểu (Học sinh tự đúc rút từ nhận thức của cá nhân nhưng cần bám sát chủ đề, thông điệp của văn bản: Chiến tranh gây ra đau thương, mất mát; Giá trị của hòa bình; Nhận thức về khát vọng muôn thuở của con người)
(Học sinh tự triển khai đoạn văn có mở đầu, thân, kết đoạn: thể hiện mạch lạc các ý cơ bản câu hỏi đã yêu cầu/ đã gợi ý)
Câu 2. (4đ)
|
Địa phương (quận/huyện) em tổ chức cuộc triển lãm, cuộc thi về ảnh/ vẽ tranh/ làm thơ/ viết bài luận có nhan đề “Tiếng nói phản đối chiến tranh và khát vọng hòa bình” để hỗ trợ nạn nhân của chiến tranh ở những vùng đang xảy ra chiến sự căng thẳng trên thế giới Em hãy viết bài phát biểu (khoảng 600 chữ) trong Lễ phát động cuộc triển lãm trên |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Địa phương (quận/huyện) em tổ chức cuộc triển lãm, cuộc thi về ảnh/ vẽ tranh/ làm thơ/ viết bài luận có nhan đề “Tiếng nói phản đối chiến tranh và khát vọng hòa bình” để hỗ trợ nạn nhân của chiến tranh ở những vùng đang xảy ra chiến sự căng thẳng trên thế giới Em hãy viết bài phát biểu (khoảng 600 chữ) trong Lễ phát động cuộc triển lãm trên |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Kính thưa đại biểu tham dự (Học sinh vận dụng phù hợp với thực tế) - Giới thiệu bản thân (1-2 dòng) và nêu tên phong trào |
|
Thân bài |
3,0 |
- Nêu lý do, mục đích của phong trào đối với học sinh, tuổi trẻ, xã hội; ý nghĩa của hành động ủng hộ nạn nhân chiến tranh ở vùng chiến sự - Hành động, việc làm cụ thể của học sinh: chụp ảnh, vẽ tranh hướng vào chủ đề: “Tiếng nói phản đối chiến tranh và khát vọng hòa bình” - Hành động, việc làm cụ thể của cá nhân (phù hợp với sở trường) + Lựa chọn của cá nhân + Cảm xúc, suy nghĩ của cá nhân về mục đích ý nghĩa phong trào |
|
Kết bài |
0,25 |
- Thể hiện sự ủng hộ, niềm tin vào phong trào - Cổ vũ, kêu gọi các bạn ủng hộ tham gia phong trào |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Bài viết có cảm xúc, thể hiện sự hiểu biết, nhiệt huyết về hoạt động - Kĩ thuật viết: Lời hô gọi tạo sự tương tác, cổ vũ hành động |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 2
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
TÌNH ĐÃ CHẾT
(Thomas Moore)
Thôi vĩnh biệt! Cho dù em vẫn đẹp
Nhưng tình yêu không trở lại bao giờ
Hồn hoang vu, lòng chân thành đã khép
Có nghĩa là tình đã chết trong ta.
Dù lời em ngọt ngào như đường mật
Đâu dễ gì quyến rũ được lòng anh
Nhưng đôi mắt vẫn nhìn anh chân thật
Biết làm sao không tin được cho đành!
Nhưng mà thôi, bây giờ, xin vĩnh biệt!
Em dù xinh nhưng chẳng của ngày xưa
Hồn hoang vu lòng chân thành đã khép
Tình ngọt ngào, tình đã chết trong ta.
Đôi mắt em như ngôi sao không đổi
Giữa trời xanh vẫn nhấp nháy gọi mời
Đôi má hồng kia dường như vẫn đợi
Chuyển màu hồng thành trắng, bạc như vôi.
Chỉ con tim em bây giờ phụ bạc
Cứ nói những lời gian dối không thôi
Tình vẫn sống ở một nơi nào khác
Nhưng trong tim, than ôi, đã chết rồi!
Thế mà Nên em ạ, bây giờ, xin vĩnh biệt!
Em dù xinh nhưng chẳng của ngày xưa
Hồn hoang vu, lòng chân thành đã khép
Tình ngọt ngào giờ đã chết trong ta.
* Thomas Moore (1779 – 1852) là nhà thơ, nhạc sĩ, nhà kinh tế Ireland, sinh ở Dublin, Ireland trong một gia đình buôn bán nhỏ theo đạo Tin lành. Ông tốt nghiệp trường Trinity College năm 1798 ở Dublin. Năm 1799, ông sang London. Năm 1800, ông in bản dịch thơ Anacreon, tập thơ Poems by the late Thomas Little (Thơ của Thomas Little đã quá cố) và trở thành một người nổi tiếng.
Câu 1. Xác định đề tài và cảm xúc chủ đạo, chủ thể trữ tình của bài thơ (0,5đ)
Câu 2. Xác định trạng thái cảm xúc của nhân vật “ta” trong bài thơ. Phân tích cách diễn tả/ thể hiện những trạng thái cảm xúc đó (0,5đ)
Câu 3. Vì sao hồn “ta” hoang vu, tình đã chết? Phân tích nhân vật “em” để làm rõ điều đó (1,5đ)
Câu 4. Những dòng thơ nào, từ ngữ nào cho thấy mâu thuẫn đang diễn ra trong lòng nhân vật “ta”? Đó là mâu thuẫn gì? Chúng giúp độc giả hiểu thêm điều gì về nhân vật “ta”? (1,5đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Nêu chủ đề của bài thơ. Chia sẻ suy nghĩ của em về quan điểm tình yêu thể hiện trong bài thơ (trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2đ)
Câu 2.
Từ văn bản đọc hiểu Tình đã chết (Thomas Moore) ở phần Đọc hiểu, em hãy viết văn bản (600 chữ) bàn luận và thể hiện quan điểm của mình về lòng chung thủy trong tình yêu đôi lứa của thanh niên ngày nay. (4đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 2
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Xác định đề tài và cảm xúc chủ đạo, chủ thể trữ tình của bài thơ (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Lời giải chi tiết:
- Đề tài: Tình yêu
- Cảm xúc bao trùm: buồn, đau và thất vọng
- Chủ thể trữ tình là người đang suy tư về tình yêu
+ Niềm tin, lòng thủy chung trong tình yêu
+ Nỗi đau khổ, thất vọng khi tình yêu không còn niềm tin
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Xác định trạng thái cảm xúc của nhân vật “ta” trong bài thơ. Phân tích cách diễn tả/ thể hiện những trạng thái cảm xúc đó (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ, chỉ ra những dòng thơ diễn tả trạng thái cảm xúc và phân tích
Lời giải chi tiết:
- Những dòng thơ diễn tả trạng thái cảm xúc:
Hồn hoang vu, lòng chân thành đã khép
Có nghĩa là tình đã chết trong ta
Hồn hoang vu lòng chân thành đã khép
Tình ngọt ngào, tình đã chết trong ta
Nhưng trong tim, than ôi, đã chết rồi!
Hồn hoang vu, lòng chân thành đã khép
Tình ngọt ngào giờ đã chết trong ta
→ Tâm hồn trống trải, hoang vắng với trạng thái cảm xúc đau đớn tột độ
→ Trái tim đau đớn đang rỉ máu đã đóng khép với tình yêu, một trái tim đã chết.
- Cách diễn tả/ thể hiện những trạng thái cảm xúc
+ Bộc bạch trực tiếp tới 3 lần: lòng chân thành đã khép – Tình đã chết trong ta
- Hồn hoang vu.
+ Câu cảm thán: “Nhưng trong tim, than ôi, đã chết rồi!”.
+ Khẳng định hai lần: “Tình ngọt ngào, tình đã chết trong ta/ Tình ngọt ngào giờ đã chết trong ta.
→ Nỗi đau của trái tim đang yêu được thể hiện qua những cung bậc cụ thể: lòng chân thành đã khép → tình đã chết.
→ Các điệp ngữ (“hồn hoang vu", “đã chết”), điệp cấu trúc câu; hàng loạt điệp
khúc trở đi trở lại, trải dọc bài thơ khiến tác phẩm ngập tràn nỗi đau đớn của của trái tim đang yêu, yêu say đắm nay khô cằn, hoang vắng và chết khi không còn tình yêu, không còn niềm tin vào người mình yêu.
Câu 3 (1,5 điểm)
|
Câu 3. Vì sao hồn “ta” hoang vu, tình đã chết? Phân tích nhân vật “em” để làm rõ điều đó (1,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý những câu thơ xuất hiện nhân vật “em”
Lời giải chi tiết:
– Em rất xinh đẹp, quyến rũ: Đôi mắt em như ngôi sao nhấp nháy; Đôi má hồng; lời em ngọt ngào như đường mật,...
– Em của hiện tại đã thay đổi, em không chung thuỷ.
+ Đôi má hồng kia dường như vẫn đợi
Chuyển màu hồng thành trắng, bạc như vôi.
+ Chỉ con tim em bây giờ phụ bạc
Cứ nói những lời gian dối không thôi
→ Em xuất hiện trong sự tương phản gay gắt giữa nhan sắc với tâm hồn: nhan sắc tuyệt đẹp vô cùng quyến rũ >< con tim phụ bạc, gian dối.
→ Sự gian dối, phụ bạc đã giết chết vẻ đẹp của em trong ta: Em nay là kẻ bạc như vôi, là màu trắng (chuyển màu hồng thành trắng) tang thương, đau đớn, vô nghĩa trong “ta.
→ Nhân vật “em” xuất hiện trong cảm xúc, trong nỗi đau của “ta” thật sinh động rõ nét: có vẻ ngoài tươi tắn rạng ngời, nói năng ngọt ngào nhưng là kẻ giả dối, phụ bạc. Em càng xinh đẹp, quyển rũ, sự giả dối trong em càng rõ nét hơn. Điều đó làm hồn “ta” hoang vu, tình đã chết.
Câu 4 (1,5 điểm)
|
Câu 4. Những dòng thơ nào, từ ngữ nào cho thấy mâu thuẫn đang diễn ra trong lòng nhân vật “ta”? Đó là mâu thuẫn gì? Chúng giúp độc giả hiểu thêm điều gì về nhân vật “ta”? (1,5đ) |
Phương pháp giải:
Chú ý những dòng thơ, từ ngữ cho thấy mâu thuẫn đang diễn ra trong lòng nhân vật “ta” và phân tích
Lời giải chi tiết:
* Những dòng thơ, từ ngữ cho thấy mâu thuẫn:
- “Em dù xinh nhưng chẳng của ngày xưa xuất hiện hai lần trong tác phẩm, ở dòng thơ thứ của khổ thơ thứ, thứ 6 của bài thơ.
- Từ “những”, “cho dừ”, “nhưng”, vẫn xuất hiện nhiều lần diễn tả những sự đối lập mâu thuẫn trong tâm hồn nhà thơ: em đẹp – em đã thay đổi, em không còn là em của ngày xưa; em không chung thuỷ; anh vẫn ngắm nhìn em nhưng không thể yêu em nữa, phải dằn lòng quên em.
*Hiểu thêm nhân vật “ta”
- Đã từng yêu say đắm một cô gái xinh đẹp kiều diễm và quyến rũ.
- Đang phải dằn lòng để chối từ tình yêu không chung thuỷ.
- Là người có quan niệm đúng đắn về tình yêu: tình yêu phải chân thành, không giả dối; mất niềm tin là mất tình yêu; giá trị đáng quý nhất ở cô gái chính là tình yêu Thuỷ chung, chân thành.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2 điểm)
|
Câu 1. Nêu chủ đề của bài thơ. Chia sẻ suy nghĩ của em về quan điểm tình yêu thể hiện trong bài thơ (trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn đã được học
Nêu quan điểm, ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
– Chủ đề: Sự giả dối, phản bội sẽ giết chết tình yêu/ Chỉ có tình yêu khi có niềm
tin, sự chung thuỷ và tình cảm chân thành.
– Xác định quan điểm tình yêu trong bài thơ. (Học sinh tự suy luận, đúc rút.)
– Triển khai đoạn văn bản:
+ Rõ cấu trúc (mở, thân, kết)
+ Thể hiện mạch lạc suy nghĩ, quan điểm của cá nhân về tình yêu (sự chung
thuỷ, nỗi đau của con người khi tình yêu chết).
Câu 2. (4đ)
|
Từ văn bản đọc hiểu Tình đã chết (Thomas Moore) ở phần Đọc hiểu, em hãy viết văn bản (600 chữ) bàn luận và thể hiện quan điểm của mình về lòng chung thủy trong tình yêu đôi lứa của thanh niên ngày nay. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Từ văn bản đọc hiểu Tình đã chết (Thomas Moore) ở phần Đọc hiểu, em hãy viết văn bản (600 chữ) bàn luận và thể hiện quan điểm của mình về lòng chung thủy trong tình yêu đôi lứa của thanh niên ngày nay. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề nghị luận và tác phẩm liên quan Tình đã chết (Thomas Moore) - Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ |
|
Thân bài |
3,0 |
* Về vấn đề từ văn bản đọc - Về nỗi đau khổ của nhân vật “ta” (vì mất niềm tin, bị phản bội) - Về tình yêu thiếu sự chân thành của nhân vật “em” - Về tình yêu thiếu sự chân thành của nhân vật “em” - Về quan điểm tình yêu của “ta” * Nêu khái niệm và bàn luận về lòng chung thủy trong tình yêu đôi lứa: - Biểu hiện của lòng chung thủy trong tình yêu (lí lẽ, dẫn chứng,…) - Biểu hiện của sự giả dối, không chung thủy và những hệ lụy của nó trong đời sống hiện đại (dẫn chứng từ thực tiễn) *Quan niệm, chính kiến của bản thân: - Về lòng chung thủy trong tình yêu - Ứng xử khi phải đối mặt với sự giả dối, mất niềm tin trong tình yêu |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề - Hành động của cá nhân (trong tình huống giả định) |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng các thao tác phân tích so sánh, chứng minh, bình luận - Dẫn chứng phù hợp với lí lẽ, luận điểm |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 3
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
NGƯỜI LIỆT NỮ Ở AN ẤP
(Trích Truyền kì tân phả, Đoàn Thị Điểm)
Hoàng triều về đời niên hiệu Vĩnh Thịnh, đời Lê Dụ Tông có vị Tiến sĩ trẻ tên là Đinh Hoàn, hiệu Mặc Trai, người làng An Ấp, tỉnh Nghệ An), cha mẹ mất sớm, ít anh em. Lớn lên, lập gia thất nhưng bà vợ đầu cứ sinh luôn con gái, nên ông lấy con gái Hà quan, họ Nguyễn làm vợ thiếp. Bà này nghi dung nhàn nhã, ăn nói đoan trang, thêu thùa, khâu vá rất lành nghề, lại có tài văn thơ nổi tiếng. Khi về nhà chồng tự sửa mình nghiêm chỉnh, rất có lễ độ với chồng. Đinh Hoàn vừa yêu, vừa kính trọng. Gặp những khi ở triều lui về rảnh việc, thường cùng với bà xướng hoạ văn thơ, hâm mộ các vị trung thần liệt nữ. Các bài xướng hoạ đã chép ở tập Quan thư hoà minh, nay không lục ra đây. Nhớ lại có một hôm về mùa xuân, ông ngủ dậy muộn, bà làm một bài thơ “thoát trầm”(3) có ý khuyên can.
Lược một bài thơ [...]
Ông xem thơ than rằng: “Lời thơ tao nhã, ngụ ý sâu xa, đời xưa khen Khương hậu)... và Từ phi(5) cũng chưa là tột bực vậy”. Bèn vời phu nhân đến, nhận lỗi từ tạ. Từ đó, ông vắt tóc nhà cơm(6), ăn muộn dậy sớm, trong hàng quan nổi tiếng là người cần mẫn. Đến năm Ất Tí, triều đình kén sứ thần đi Trung Quốc kết nối bang giao, quần thần cử ông sung vào chức ấy. Ông lại về nhà riêng, gọi phu nhân bảo rằng:
– Ta sinh vào thời Lê, nhận quan tước triều Lê, ăn bổng lộc triều Lê, đông, tây, nam, bắc vua sai đi đâu là đi đấy, nếu làm được hết phận sự không phụ lòng uỷ thác của nhà vua thì ta cũng lấy làm thoả mãn cái chí bình sinh của ta vậy. Suy nghĩ nàng liễu bồ yếu ớt, vắng vẻ cô phòng, chặn sương gối tuyết gia lòng trinh, hoa xuân trăng thu gửi mối hận, nghĩ đến tâm tình ấy, càng thêm bồi hồi, đó là lòng ta quyến luyến vì nàng mà không sao dời đi được. Phu nhân nghe nói ngậm ngùi hôi lâu chứa chan mà rằng:
– Sứ mệnh cần lao, tang bồng khí khái, là phận sự của trượng phu. Thiếp nay không những là người không biết và cũng không dám can thiệp đến. Còn như bèo bọt chút thân, phấn hoa phận gái, như thiếp này thật không đáng kể. Duy có một điều đáng lo ngại là: lang quân thể chất vàng ngọc, dấn thân vào nơi giá lạnh, lên núi lội nước, gội gió tắm mưa, tiêu điều nơi đất khách, vất vả phong trần, khi ấy mỗi người ở một nơi, thiếp này dù có can trường như sắt đá cũng không tài nào không mềm rủ được. Nói xong, nước mắt tràn xuống như mưa. Ông nhiều lần vỗ về nhưng phu nhân do lòng lo buồn mà sinh bệnh. Ông rất lấy làm áy náy nhưng vì việc nước rất cần nên đành phải tạm khuây khoả.
(Tóm tắt đoạn lược: Đến kì đăng trình, trăm quan làm lễ tiễn hành, người nhà ông đi theo đến trạm Lữ tư tạm nghỉ lại. Phu nhân nâng chén rượu làm bài thơ tặng chồng, trước khi đi, chồng có tặng cho bà cái la y, bà quyến luyến nửa mê nửa tỉnh. Đinh Hoàn đi sử di qua nhiều nơi, mỗi nơi đều để vịnh thơ. Thơ ông hay và được so sánh với thơ của những bậc danh nhân: Lý Bạch (7) Hạ Tri Chương (8), Mạnh Giao (9), Thiếu Lăng(10) Vệ Giới(11),... Đường đi gian nan, vì sức yếu lại lo lắng thương tâm trước cái chết của những người đi cùng nên ông đã mất tại Yên Kinh. Trước khi mất, ông chỉ băn khoăn việc nước chưa lo trọn vẹn. Biết tin chồng mất, phu nhân thương tiếc làm một bài văn tế ca ngợi công đức của chồng và bày tỏ tình cảm sâu sắc, nguyện hi sinh theo chồng.)
Thấy lời lẽ bài văn tế ấy là bà có ý quyên sinh, mọi người đều đã khuyên giải:
- Phu nhân ngày thường vốn nổi tiếng là người thông tuệ. Sao nay cố chấp quả như thế. Này, vợ chồng dẫu là đạo cả nhưng âm dương hai ngả khác nhau. Cho nên nàng Lục Chân(12) tự gieo mình xuống lầu, chưa chắc theo được chồng; người trinh nữ đứng trên núi hoá đá, cũng chỉ là vô ích. Huống chi sứ quân chết về việc nước, phu nhẫn cần gì phải làm cho mai tàn, liễu úa, nát ngọc chìm châu. Nếu vậy không phải là tấm lòng trung của sử quân lúc ngày thường vậy.
Phu nhân gạt nước mắt mà rằng:
- Vị vong nhân này không dám mua cái tiếng chặt vai khoét mắt đâu, chỉ vì xuân về hoa héo, lòng chết hình còn, không tưởng gì đến nhân gian nữa.
Người nhà thấy khuyên giải không ăn thua gì, có ý để phòng cẩn thận không
rời phu nhân một bước. Một hôm, phu nhân đốt đèn ngồi một mình, khi ấy là mùa thu muộn, giờ vàng hiu hắt, cây khuya xào xạc, sấu tường nỉ non, tiếng đập vải lạnh lùng như giã vào lòng người cô phụ, trăng suông như rọi vào giọt lệ Vương sinh.
Nỗi thương tâm khiến phu nhân đờ đẫn, nhìn đâu cũng toàn thấy cảm sau. Phu nhân càng thêm thê thảm, gục xuống bàn mà nức nở khiến cõi lòng chìm sâu vào cõi đê mê. Trong cơn dật dờ đó, thấy một người khăn vuông đai rộng từ xa đến gần, nhìn kĩ hoá ra chính là chồng vậy. Phu nhân đón chào, mừng quá chảy nước mắt mà rằng:
- Từ khi cách biệt đã bốn năm rồi, biết bao nỗi bị sầu, mộng hồn tản mát, không nơi nào là không tìm đến tung tích lang quân, ấy thế mà lang quân chẳng có đoái hoài gì đến thiếp. Nếu bảo rằng trần gian và thiên thượng hai nơi cách biệt, thì sao Thuần phi (13) có hội ngộ, Chức Nữ (4) lại tương phùng, vậy thì lang quân đối với thiếp rất là bạc tình!
Ông buồn nét mặt mà rằng:
– Ta từ khi về chầu thiên đình, được trông coi về việc bút nghiên, nơi thiên tào công việc nhiều, không có thì giờ đến thăm nàng, còn tấm lòng khăng khít thuỷ chung này không bao giờ thay đổi.
Phu nhân muốn lưu ông ở lại tự tình. Ông vỗ về nói:
– Chết sống là lẽ thường xưa nay, hợp tan là tuần hoàn việc thế. Vì Ngọc Tiên(15) có duyên tái hợp, Dương Thái Chân(16) cơ ước lai sinh. Vi Ngọc phải bỏ phiền về nơi học lãnh gương tan, cái ngày chúng ta gặp nhau sắp đến rồi.
Nói xong, có một trận thanh phong, không biết ông biến đi đậu mất. Phu nhân thương khóc chợt tỉnh dậy, sai thị nữ ra xem trời đất chỉ thấy sương mù trăng mờ, đêm đã gần sáng rồi.
Từ đó phu nhân lại càng có ý quyên sinh nhưng chưa có dịp. Đến ngày lễ tiểu tường (17) ông, người nhà bận việc, phu nhân ở trong buồng xé cái áo mà ngày trước ông tặng tự thắt cổ đến chết. Đến khi người nhà biết thì phu nhân đã tắt thở rồi. Cả nhà thương cảm, tống táng theo tang lễ. Việc ấy tâu lên, triều đình cho lập đền thờ, đề bảng nêu ra cửa, khắc chữ: “Trinh liệt phu nhân từ ban cấp tổ điển” bốn mùa có tế lễ, người làng cầu đảo đều có linh ứng.
(Lược một đoạn...)
Vài năm sau, có người thư sinh họ Hà đi vãn cảnh đến đền Liệt nữ, làm bài thơ ca ngợi phu nhân nhưng tỏ ý không coi trọng Đinh Hoàn. Phu nhân đã mời thư sinh đến tranh luận và đưa ra lí lẽ để bảo vệ Đinh Hoàn, cho rằng ông là người sống trung nghĩa, chết vì non sông, đáng trân trọng.
(Nguyễn Đăng Na, Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, NXB Giáo dục, 2001)
(1)Vĩnh Thịnh: Niên hiệu của Lê Dụ Tôn.
(2) Nay thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
(3) Thoát trâm: trút cái trâm cài đầu. Chu Tuyên vương thường dậy muộn, bà Khương hậu rút bỏ trâm cài đầu và hoa đeo tai, đứng ở Vĩnh Hạng để can vua. Tuyên vương cảm ngộ, từ đó ra chầu thật sớm, làm nên nghiệp Trung Hưng.
(4) Khương hậu: Vợ Chu Tuyên vương.
(5) Từ Phi: Vợ Dương Thái Tông.
(6) Vắt tóc, nhả cơm: Chu công đang gội đầu có hiền sĩ đến, ba lần vắt tóc cho khô để ra tiếp, đang ăn cơm, có hiền sĩ đến, ba lần nhả miếng cơm ra để đón khách.
(7) Thi nhân danh tiếng thời Đường.
(8) Thi nhân danh tiếng thời Đường.
(9) Thi nhân danh tiếng thời Đường.
(10) Thiếu Lăng: Đỗ Phủ, vì ông ở Thiếu Lăng cho nên người ta gọi là Đỗ Thiếu Lăng, thơ ông hay nhất thời Đường.
(11) Vệ Giới: Người đời Tấn, từ nhỏ nổi tiếng là con người ngọc, sau thích bàn về huyền lí.
(12) Nàng Lục Chân là thiếp yêu của Thạch Sùng rất đẹp. Khi Sùng bị Tôn Tú bắt, nàng nhảy từ trên lầu xuống chết.
(13) Thuần phi: Vợ vua Thuấn, Nga Hoàng và Nữ Anh hai chị em (con vua Nghiêu) đều lấy Thuần, khi mất làm thần sông Tương.
(14) Chức Nữ: Tích “Ngưu Lang, Chức Nữ”, hằng năm được gặp nhau một lần vào ngày 7 tháng 7
(15) Vi Ngọc Tiên: Đời Đường, Vi Cao lúc hàn vi, ở trọ nhà họ Khương, chung tình với nàng Ngọc Tiên và tặng nàng một cái vòng tay, hẹn 7 năm đến cưới làm vợ. Quá hạn không đến, nàng tự sát.
(16) Dương Thái Chân: Dương Quý phi bị chết ở núi Mã Ngôi, sau lại tái sinh cùng với Đường Minh Hoàng kết làm vợ chồng lần nữa.
(17) Lễ tiểu tường: Lễ tang chẵn một năm, cũng gọi là luyện tế.
* Đoàn Thị Điểm (1705 –1749), hiệu: Hồng Hà nữ sĩ, là nữ sĩ Việt Nam thời Lê Trung Hưng. Bà là tác giả tập Truyền kì tân phả (chữ Hán) và tác giả của truyện thơ Chinh phụ ngâm (bản chữ Nôm – 412 câu thơ). Bà là người được đánh giá là bậc nhất về sắc đẹp lẫn tài văn trong những nữ sĩ danh tiếng nhất, bên cạnh Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan và Sương Nguyệt Anh.
Câu 1. Xác định những dấu hiệu đặc trưng của truyện truyền kì trong văn bản Người liệt nữ ở An Ấp (0,5đ)
Câu 2. Truyện Người liệt nữ ở An Ấp có những sự việc nào? Sự việc chính nào thể hiện vẻ đẹp của nhân vật chính?(0,5đ)
Câu 3. Phân tích vẻ đẹp nổi bật ở nhân vật chính. Nêu nhận xét của em về sự việc quyên sinh của phu nhân ở gần cuối tác phẩm (1đ)
Câu 4. Phân tích ý nghĩa của yếu tố kì ảo trong tác phẩm và cho biết: Chúng có vai trò như thế nào trong việc khắc họa nhân vật chính (1đ)
Câu 5. Nhận xét đặc điểm ngôn ngữ của tác phẩm và cho biết: Đoạn nào thể hiện rõ nhất đặc điểm ngôn ngữ ấy (1đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Xác định chủ đề, cảm hứng chủ đạo của tác phẩm. Từ đó, nhận xét về thái độ, tình cảm mà tác giả Đoàn Thị Điểm dành cho người phụ nữ trong xã hội xưa. Em có đồng ý với quan điểm đó không? (Trả lời thành đoạn văn có độ dài từ 200 chữ) (2đ)
Câu 2. So sánh, đánh giá hình tượng nhân vật nữ chính ở hai tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ (đã học ở lớp 9 – 3 bộ SGK) và Người liệt nữ ở An Ấp của Đoàn Thị Điểm (4đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 3
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Xác định những dấu hiệu đặc trưng của truyện truyền kì trong văn bản Người liệt nữ ở An Ấp (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về đặc trưng của truyện truyền kì
Lời giải chi tiết:
- Dấu hiệu đặc trưng về nội dung:
+ Người liệt nữ ở An Ấp: Đề tài liệt nữ (đề tài quen thuộc của truyện truyền kỳ).
+ Người liệt nữ ở An Ấp: thấm đẫm giá trị nhân đạo, đậm chất nhân văn. Ca ngợi tài năng và phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ – vợ của Đinh Hoàn: nghi dung nhàn nhã, ăn nói đoan trang,… có tài văn thơ nổi tiếng, là tấm gương tử tiểu.
Khi mất được dựng đền, khắc chữ: “Trinh liệt phu nhân từ ban cấp tổ điển, bốn mùa có tế lễ, người làng cầu đảo đều có linh ứng”.
- Dấu hiệu đặc trưng về hình thức nghệ thuật:
+ Yếu tố kì ảo là cuộc gặp gỡ của hai vợ chồng Đinh Hoàn trong giấc mơ: nhìn kĩ hoá ra chính là chồng vậy. Phu nhân đón chào, mừng quá chảy nước mắt...
Nói xong, có một trận thanh phong, không biết ông biến đi đâu mất”
+ Nhân vật con người của đời sống thực với những vui buồn, sướng khổ; được xây dựng khá đơn giản, tính cách nhân vật thể hiện qua hành động, ngôn ngữ, ít khi các tác giả đi sâu vào phân tích tâm lí.
+ Không gian cõi thực và cõi mơ (hai vợ chồng gặp nhau)
+ Ngôn ngữ: lối nói so sánh, ẩn dụ, biểu đạt cầu kì hoa mĩ (nàng liễu bồ yếu ớt, vắng vẻ cô phòng, chăn sương gối tuyết giá lòng trinh, hoa xuân trăng thu gửi mới
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Truyện Người liệt nữ ở An Ấp có những sự việc nào? Sự việc chính nào thể hiện vẻ đẹp của nhân vật chính? (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Người vợ khuyên giải chồng; người chồng đi sứ; vợ nhớ thương chồng; vợ gặp chồng trong cõi mộng và quyên sinh
- Sự việc người chồng đi sứ đã thể hiện phẩm chất của người vợ (phu nhân)
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Phân tích vẻ đẹp nổi bật ở nhân vật chính. Nêu nhận xét của em về sự việc quyên sinh của phu nhân ở gần cuối tác phẩm (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý các chi tiết thể hiện vẻ đẹp của nhân vật chính
Đọc kĩ phần cuối tác phẩm và phân tích sự việc
Lời giải chi tiết:
-Vẻ đẹp nổi bật ở nhân vật chính:
+Nghi dung nhàn nhã, ăn nói đoan trang, thêu thùa, khâu vá rất lành nghề.
+ Có tài văn thơ.
+ Hiểu chồng, luôn coi trọng việc thực hiện chức phận, trách nhiệm của mỗi cá nhân.
- Đánh giá sự việc quyên sinh: Hành vi liệt nữ xé áo chồng tặng trước khi đi xa, thắt cổ chết của nhân vật phu nhân theo là vì tình yêu, lòng tương kính với người chồng tri âm tri kỉ. Tuy nhiên, cách ứng xử này vẫn là tiêu cực, để lại đau buồn cho người thân, không phù hợp với thời đại.
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Phân tích ý nghĩa của yếu tố kì ảo trong tác phẩm và cho biết: Chúng có vai trò như thế nào trong việc khắc họa nhân vật chính (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý để chỉ ra các yếu tố kì ảo trong tác phẩm và phân tích vai trò của các yếu tố ấy
Lời giải chi tiết:
– Xác định và tóm tắt ngắn gọn yếu tố kì ảo:
+ Phu nhân trách cứ chồng: Từ khi cách biệt đã bốn năm rồi, biết bao nỗi bị cầu,
mộng hồn tản mát, không nơi nào là không tìm đến tung tích lang quân, ấy thế mà lang quân chẳng có đoái hoài gì đến thiếp... rất là bạc tình!
+ Ông buồn nét mặt mà rằng: tấm lòng khăng khít, thuỷ chung này không bao
giờ thay đổi. Chết sống là lẽ thường xưa nay, hợp tan là tuần hoàn việc thế.
+ Nói xong, có một trận thanh phong, không biết ông biến đi đâu mất.
- Ý nghĩa:
+Trong truyện truyền kì, thế giới con người và thế giới siêu nhiên có sự tương giao. Đến với truyền kì, người đọc có thể phiêu diêu qua nhiều cõi khác nhau.
+ Thể hiện khao khát của con người chưa đạt được ở hiện thực.
+ Thể hiện trọn vẹn vẻ đẹp của nhân vật chính: tình yêu, lòng tương kính với người chồng tri âm, tri kỉ.
Câu 5 (1 điểm)
|
Câu 5. Nhận xét đặc điểm ngôn ngữ của tác phẩm và cho biết: Đoạn nào thể hiện rõ nhất đặc điểm ngôn ngữ ấy (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý ngôn ngữ được tác giả sử dụng
Lời giải chi tiết:
- Đặc điểm ngôn ngữ của tác phẩm: mang đặc điểm chung của truyện truyện kì
+ Ngôn ngữ giàu tính ước lệ tượng trưng.
+ Sử dụng nhiều điển tích, điển cố.
- Đoạn thể hiện rõ nhất đặc điểm:
+ Giàu tính ước lệ tượng trưng: “Một hôm, phu nhân đốt đèn ngồi một mình, khi ấy là mùa thu muộn, giờ vàng hiu hắt, cây khuya xào xạc, sấu tường nỉ non, tiếng đập vải lạnh lùng như giã vào lòng người cô phụ, trăng suông như rọi vào giọt lệ Vương sinh. Nỗi thương tâm khiến phu nhân đờ đẫn, nhìn đâu cũng toàn thấy cảm sầu. Phu nhân càng thêm thê thảm, gục xuống bàn mà nức nở khiến cõi lòng chìm sâu vào cõi đê mê”
+ Nhiều điển tích, điển cố: “Chết sống là lẽ thường xưa nay, hợp tan là tuần hoàn việc thế. Vì Ngọc Tiên có duyên tái hợp, Dương Thái Chân cơ ước lại sinh. Vi Ngọc phải bỏ phiền về nói học lãnh gương tan, cái ngày chúng ta gặp nhau sắp đến rồi.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 5. Xác định chủ đề, cảm hứng chủ đạo của tác phẩm. Từ đó, nhận xét về thái độ, tình cảm mà tác giả Đoàn Thị Điểm dành cho người phụ nữ trong xã hội xưa. Em có đồng ý với quan điểm đó không? (Trả lời thành đoạn văn có độ dài từ 200 chữ) (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nêu quan điểm của cá nhân
Lời giải chi tiết:
Học sinh viết đoạn đảm bảo độ dài và hướng vào các nội dung chính sau:
- Chủ đề, cảm hứng chủ đạo của tác phẩm.
+ Ca ngợi phẩm chất của người phụ nữ
+ Cảm hứng: trân trọng, ngợi ca.
- Tác giả ngợi ca, trân trọng người phụ nữ.
– Đoàn Thị Điểm quan niệm hồng nhan không sinh ra chỉ để tựa nương, chịu sự chở che, đùm bọc mà cũng tự mình độc lập, cùng gánh vác giang sơn, nếu cần cũng có thể chở che, đùm bọc, là nơi nương tựa cho người khác. Đó là khát vọng lớn lao của Đoàn Thị Điểm.
– Ý kiến cá nhân: Học sinh tự trả lời (lập luận thuyết phục, có cơ sở)
Câu 2.
|
So sánh, đánh giá hình tượng nhân vật nữ chính ở hai tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ (đã học ở lớp 9 – 3 bộ SGK) và Người liệt nữ ở An Ấp của Đoàn Thị Điểm |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
So sánh, đánh giá hình tượng nhân vật nữ chính ở hai tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ (đã học ở lớp 9 – 3 bộ SGK) và Người liệt nữ ở An Ấp của Đoàn Thị Điểm |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề (điểm chung giữa hai tác phẩm để yêu cầu so sánh) - Nêu bình diện cần so sánh, vị trí của chúng đối với tác phẩm/ dư luận |
|
Thân bài |
3,0 |
* Điểm tương đồng: - Nhân vật nữ chính với nhiều phẩm chất đáng quý + Vũ Nương ở Chuyện người con gái Nam Xương: Có nhiều phẩm chất tốt đẹp: tư dung xinh đẹp, yêu thương chồng con, có hiếu với cha mẹ, khao khát hạnh phúc gia đình + Phu nhân ở Người liệt nữ ở An Ấp: Ca ngợi tài năng và phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ - vợ của Đinh Hoàn: nghi dung nhàn nhã, ăn nói đoan trang,... có tài văn thơ nổi tiếng, là tấm gương tử tiết. – Dùng yếu tố kì ảo để xây dựng cốt truyện và khắc hoạ nhân vật chính. - Cả hai tác phẩm đều thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc (học sinh tự diễn giải, chứng minh). * Điểm khác biệt: - Ý nghĩa của yếu tố kì ảo: + Người liệt nữ ở An Ấp: Hai vợ chồng gặp nhau trong cõi mộng là để chứng minh tình tri kỉ, tình yêu tha thiết với chồng (dẫn chứng lời nói của phu nhân). + Ở Chuyện người con gái Nam Xương: Sự trở về của Vũ Nương thể hiện niềm thương nhớ chồng con và để lên án Trương Sinh. - Cái chết của hai nhân vật: + Cái chết của Vũ Nương (Chuyện người con gái Nam Xương) là bi kịch đau đớn tột cùng bởi chỉ có cái chết mới chứng minh tiết hạnh của mình. + Cái chết của phu nhân (Người liệt nữ ở An Ấp) là lựa chọn trong thời gian dài của nhân vật để thể hiện tình yêu, lòng tương kính với người chồng tri âm, tri kỉ. * Lí giải nguyên nhân của sự khác biệt: sự chi phối của cảm hứng và tư tưởng. - Cảm hứng chủ đạo của Chuyện người con gái Nam Xương là thương cảm, lên án tư tưởng trọng nam khinh nữ. – Cảm hứng chủ đạo của Người liệt nữ ở An Ấp: ngợi ca, trân trọng người phụ nữ; tư tưởng bình đẳng, đề cao người phụ nữ. |
|
Kết bài |
0,25 |
– Cảm nhận của cá nhân về hai hình tượng nhân vật nữ chính. - Khẳng định thành công của hai tác phẩm và đóng góp của hai tác giả đối với nền văn học nước nhà. |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng thành thạo thao tác lập luận so sánh, tổng hợp, chứng minh. – Thể hiện rõ sự đánh giá của cá nhân về nhân vật được so sánh. |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 4
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
TRUYỆN ĐỔNG THIÊN VƯƠNG
(Lĩnh Nam chích quái, Trần Thế Pháp)
Hùng Vương cậy nước mình giàu mạnh mà chểnh mảng việc triều cận Bắc phương. Vua nhà Ân mượn cớ tuần thú sang xâm lược. Hùng Vương nghe tin, triệu tập quần thần hỏi kế công thủ. Có người phương sĩ tâu rằng: “Sao không cầu Long Vương đưa quân âm lên giúp!”. Vua nghe lời, bèn lập đàn, bày vàng bạc lụa là lên trên, ăn chay, thắp hương, cầu đảo ba ngày
Trời nổi mưa to gió lớn, bỗng thấy một cụ già cao hơn chín thước, mặt vàng
bụng lớn, mày râu bạc trắng, ngồi ở ngã ba đường mà cười nói ca múa. Những
người trông thấy biết là kẻ phi thường, mới vào tâu vua. Vua thân hành ra vải
chào, rước vào trong đàn. Cụ già không ăn uống cũng không nói năng.
Vua nhân hỏi: “Nghe tin quân Bắc sang xâm lược, ta thua được thế nào, ngài có kiến văn xin bảo giúp.. Cụ già ngồi im một lúc rồi bảo vua rằng: “Ba năm nữa, giặc Bắc sẽ sang, phải nghiêm chỉnh khí giới, tinh luyện sĩ binh mà giữ nước, lại phải đi tìm bậc kì tài trong thiên hạ, kẻ nào phá được giặc thì phân phong tước ấp, truyền hưởng lâu dài. Nếu được người giỏi, có thể dẹp được giặc vậy..
Dứt lời, bay lên không mà đi, mới biết đó là Long Quân. Ba năm sau, người biên giới cấp báo có giặc Ân tới. Vua làm theo lời cụ già dặn, sai sứ đi khắp các nơi cầu hiền tài. Tới làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, Bắc Ninh, có một phú ông tuổi hơn sáu mươi, sinh được một người con trai vào giữa ngày mồng 7 tháng giêng, ba tuổi còn không biết nói, nằm ngửa không ngồi dậy được. Người mẹ nghe tin sứ giả tới mới nói giỡn rằng: “Sinh được thằng con trai này chỉ biết ăn, không biết đánh giặc để lấy thưởng của triều đình, báo đáp công bú mớm…” Người con nghe thấy mẹ nói, đột nhiên bảo: “Mẹ gọi sứ giả tới đây!”. Người mẹ rất lấy làm kinh ngạc, kể lại với hàng xóm. Hàng xóm cả mừng, tức tốc gọi sứ giả tới. Sứ giả hỏi: “Mày là đứa trẻ mới biết nói, mời ta đến làm gì?”
Đứa trẻ nhỏm dậy bảo sứ giả rằng: “Mau về tâu với vua rèn một ngựa sắt cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài bảy thước, một roi sắt và một nón sắt. Ta cưỡi ngựa đội nón ra đánh, giặc tất phải kinh bại, vua phải lo gì nữa?”. Sứ giả mừng rỡ vội về tâu vua. Vua vừa kinh vừa mừng nói rằng: “Ta không lo nữa.” Quần thần tâu: “Một người thì làm sao mà đánh bại được giặc?”. Vua nổi giận nói: “Lời nói của Long Quân ngày trước không phải là ngoa, các quan chớ nghi ngờ gì nữa! Mau đi tìm năm mươi cân sắt luyện thành ngựa, kiếm, roi và nón”. Sứ giả tới gặp, người mẹ sợ hãi cho rằng tai hoạ đã đến, bèn bảo người con. Con cả cười bảo rằng: “Mẹ hãy đưa nhiều cơm rượu cho tôi ăn, việc đánh giặc mẹ chớ có lo”.
Người con lớn lên rất nhanh, ăn uống tốn rất nhiều, người mẹ cung đốn không đủ. Hàng xóm sửa soạn trâu rượu, bánh quả rất nhiều mà người con ăn vẫn không no bụng. Vải lụa gấm vóc rất nhiều mà mặc vẫn không kín thân, phải đi lấy hoa lau buộc thêm vào cho kín người. Kíp đến lúc quân nhà Ân tới chân núi Trâu Sơn ở Vũ Ninh, người con duỗi chân đứng dậy cao hơn mười thước (có chỗ nói là trượng), ngửa mũi hắt hơi hơn mười tiếng, rút kiếm thét lớn: “Ta là thiết tướng đây!” rồi đội nón cưỡi ngựa. Ngựa chồm lên, hí dài một tiếng mà phi như bay, nháy mắt đã tới trước quân vua, vỗ kiếm đi trước, quan quân đều theo sau tiến sát đồn giặc. Vua nhà Ân bị giết ở núi Trâu, quân lính còn lại đều bái lạy, xưng gọi “Tướng nhà trời” rồi cùng hàng phục. Đi đến đất Sóc Sơn, huyện Kim Hoa, thiên tướng cởi áo cưỡi ngựa mà lên trời, hôm đó là ngày mồng 9 tháng 4, còn để vết tích ở hòn đá trên núi. Hùng Vương nhớ công ơn đó mới tôn là Phù Đổng Thiên Vương, lập miếu thờ ở nhà cũ trong làng, lại ban cho một ngàn mẫu ruộng, sớm hôm hương lửa. Nhà An đời đời, 644 năm không dám ra quân. Sau Lí Thái Tổ phong làm Xung Thiên Thần Vương, lập miếu ở làng Phù Đổng cạnh chùa Kiến Sơ, lại tạc tượng ở núi Vệ Linh, xuân thu hai mùa tế lễ. Tới đời vua Thuần Đế nhà Lê, ở xã Phù Lỗ có người con gái tên là Ngô Chi Lan chăm đọc sách, rành văn chương, thơ ca điêu luyện, nhân đi dạo chơi tới núi này có đề bài thơ rằng:
“Vệ Linh cây cỏ lẫn mây ngàn, Vạn tía muôn hồng rỡ thế gian. Ngựa sắt bay rồi tên vẫn đó, Anh hùng sống mãi với giang san.”.
(Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái, NXB Trẻ 2011)
* Tác phẩm còn có tên là: Truyện Phù Đổng Thiên Vương, do Nguyễn Hữu Vinh dịch.
* Trần Thế Pháp: Sử sách biên chép về Trần Thế Pháp rất ít, chỉ biết ông là người ở huyện Thạch Thất, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (sau thuộc Hà Tây, nay thuộc thành phố Hà Nội).
Ông là người nổi tiếng văn chương, được cử làm một chức quan nhỏ tại Tàng thư Quốc tử giám. Tiến sĩ Vũ Quỳnh, trong bài Tựa của ông, cho biết ông đã tìm được sách Lĩnh Nam chích quái và tiến hành nhuận chính vào năm Nhâm Tí (1492).
Câu 1. Xác định 2 đặc điểm nổi bật của truyện truyền kì thể hiện trong văn bản Truyện Đổng Thiên Vương (0,5đ)
Câu 2. Xác định đề tài và các sự việc chính trong văn bản Truyện Đổng Thiên Vương (0,5đ)
Câu 3. Việc ăn, mặc, lớn nhanh của cậu bé được miêu tả như thế nào? Xác định sự sáng tạo của truyện truyền kì ở sự việc này và cho biết chúng có ý nghĩa như thế nào? (1đ)
Câu 4. Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi a, b, c (1đ)
Đứa trẻ nhỏm dậy bảo sứ giả rằng: “Mau về tâu với vua rèn một ngựa sắt cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài bảy thước, một roi sắt và một nón sắt. Ta cưỡi ngựa đội nón ra đánh, giặc tất phải kinh bại, vua phải lo gì nữa?” Sứ giả mừng rỡ vội về tâu với vua. Vua vừa kinh vừa mừng nói rằng: “Ta không lo nữa”. Quần thần tâu: “Một người thì làm sao mà đánh bại được giặc?” Vua nổi giận nói: “Lời nói của Long Quân ngày trước không phải là ngoa, các quan chớ nghi ngờ gì nữa, kiếm, roi và nón.” Sứ giả tới gặp, người mẹ sợ hãi cho rằng tai họa đã đến, bèn bảo người con. Con cả cười bảo rằng: “Mẹ hãy đưa nhiều cơm rượu cho tôi ăn, việc đánh giặc mẹ chớ có lo”
a. Sự sáng tạo trong khắc họa nhân vật Thánh Gióng thể hiện ở điểm nào? Chúng có ý nghĩa như thế nào?
b. Đoạn văn là lời của nhân vật nào? Chúng có tác dụng gì?
c. Đoạn văn thể hiện quan điểm nào về việc cứu nước?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2đ)
Xác định các yếu tố kì ảo tiêu biểu trong tác phẩm, phân tích ý nghĩa của chúng và đánh giá thái độ của tác giả đối với nhân vật, sự kiện lịch sử (đánh giặc giữ nước) (trả lời bằng đoạn văn khoảng 200 chữ)
Câu 2. (4đ)
So sánh, đánh giá hai tác phẩm viết về người anh hùng Thánh Gióng ở Truyện Đổng Thiên Vương (Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp) và truyền thuyết Thánh Gióng (SGK Ngữ văn 6 – 3 bộ SGK) ở việc xây dựng cốt truyện và sử dụng các yếu tố kì ảo. Từ đó nhận xét về sự ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 4
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Xác định 2 đặc điểm nổi bật của truyện truyền kì thể hiện trong văn bản Truyện Đổng Thiên Vương (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về thể loại truyện truyền kì
Lời giải chi tiết:
- Thứ nhất, tuy là văn học viết, nhưng Truyện Đổng Thiên Vương dựa trên cơ sở truyền thống tự sự dân gian – Truyền thuyết Thánh Gióng khai thác các mô – típ, nhân vật, cốt truyện (Học sinh đưa dẫn chứng cụ thể về mô-típ cốt truyện và nhân vật Thánh Gióng)
- Thứ hai, Truyện Đổng Thiên Vương lấy yếu tố kì ảo làm phương thức thể hiện nội dung (việc cậu bé ba tuổi còn không biết nói, nằm ngửa không ngồi dậy được… Người con nghe thấy mẹ nói, đột nhiên bảo: “Mẹ gọi sứ giả tới đây!”; “Mau về vua rèn một ngựa sắt cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài bảy thước, một roi sắt và một nón sắt!”; ăn không no; đánh giặc, về trời).
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Xác định đề tài và các sự việc chính trong văn bản Truyện Đổng Thiên Vương (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Đề tài: lịch sử
- Các sự việc chính: Nghe tin giặc xâm lược, Hùng Vương lập đàn cầu Long Vương giúp; Sự lớn lên kì lạ của Thánh Gióng; Long Vương dặn sai sứ đi khắp các nơi cầu hiền tài; gặp đứa trẻ 3 tuổi chỉ biết nằm điềm nhiên bảo: “Mẹ gọi sứ giả tới đây!” và “tâu vua rèn ngựa, roi, mũ, giáp,..; Đứa trẻ lớn nhanh như thổi; thành tráng sĩ cưỡi ngựa sắt, mặc áo giáp sắt, cầm roi sắt đi đánh giặc; Giặc tan, Gióng lên núi, cởi bỏ áo giáp sắt bay về trời; lập đền ghi nhớ công ơn, người đời ngợi ca.
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Việc ăn, mặc, lớn nhanh của cậu bé được miêu tả như thế nào? Xác định sự sáng tạo của truyện truyền kì ở sự việc này và cho biết chúng có ý nghĩa như thế nào? (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết miêu tả việc ăn, mặc, lớn nhanh của cậu bé
Lời giải chi tiết:
Việc ăn, mặc, lớn nhanh của cậu bé được miêu tả khá chi tiết:
+ Người con lớn lên rất nhanh, ăn uống tốn rất nhiều, người mẹ cung đón không đủ. Hàng xóm sửa soạn trâu, rượu, bánh, quả rất nhiều mà người con ăn vẫn không no bụng.
+ Vải lụa gấm vóc rất nhiều mà mặc vẫn không kín thân, phải đi lấy hoa lau buộc thêm vào cho kín người.
Sáng tạo các chi tiết của truyện truyền kì (ở 2 ô sau):
|
Sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã chật ních. Hai vợ chồng làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con, thành thử phải chạy nhờ bà con, hàng xóm. Bà con đều vui lòng gom góp gạo thóc nuôi chú bé, vì ai cũng mong chú giết giặc, cứu nước (Ngữ văn 6, Tập hai, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, trang 6) |
Người con lớn lên rất nhanh, ăn uống tốn rất nhiều, người mẹ cung đốn không đủ. Hàng xóm sửa soạn trâu rượu bánh quả rất nhiều mà người con ăn vẫn không no bụng. Vải lụa gấm vóc rất nhiều mà mặc vẫn không kín thân, phải đi lấy hoa lau buộc thêm vào cho kín người (Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái) |
→ Tuy khác nhau ở một số chi tiết, tiểu tiết nhưng vẫn đảm bảo tinh thần, ý nghĩa của sự việc: Gióng lớn lên bằng cơm gạo của nhân dân nên mang sức mạnh của nhân dân.
Câu 4 (1 điểm)
|
a. Sự sáng tạo trong khắc họa nhân vật Thánh Gióng thể hiện ở điểm nào? Chúng có ý nghĩa như thế nào? b. Đoạn văn là lời của nhân vật nào? Chúng có tác dụng gì? c. Đoạn văn thể hiện quan điểm nào về việc cứu nước? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn và yêu cầu
Lời giải chi tiết:
a. Sáng tạo trong khắc hoạ nhân vật Thánh Gióng qua hành động, lời thoại với nhiều đối tượng:
+ “Mau về tâu với vua rèn một ngựa sắt cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài bảy thước, một roi sắt và một nón sắt. Ta cưỡi ngựa đội nón ra đánh, giặc tất phải kinh bại, vua phải lo gì nữa?”
+ “Mẹ hãy đưa nhiều cơm rượu cho tôi ăn, việc đánh giặc mẹ chở có lo”
- Ý nghĩa của sáng tạo:
+ Lời thoại thể hiện sự ý thức về sức mạnh và trách nhiệm của cá nhân đối với việc cứu nước.
+ Nhân vật chính được khắc hoạ rõ nét hơn, chân thực hơn.
b. Đoạn bao gồm lời của người kể chuyện: để dẫn chuyện, mô tả hành động của nhân vật; Lời của các nhân vật: vua, Thánh Gióng, quần thần. (Học sinh tự lấy dẫn chứng.)
- Tác dụng: Sự việc được nhìn từ các góc độ khác nhau; hai nhân vật vua, Thánh Gióng thể hiện sự tự tin vào sức mạnh, sự quyết đoán của bản thân, trách nhiệm đối với đất nước; Đoạn khắc hoạ được khung cảnh “đặc biệt” ở thời điểm quan trọng của lịch sử: hành động cứu nước.
c. Đoạn trên đã thể hiện quan điểm về việc cứu nước: cứu nước là nhiệm vụ lớn lao cần có sự chỉ đạo, đồng lòng nhất trí của người đứng đầu với nhân dân, cần phải sử dụng sức mạnh tổng hợp.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2đ)
|
Câu 1. Xác định các yếu tố kì ảo tiêu biểu trong tác phẩm, phân tích ý nghĩa của chúng và đánh giá thái độ của tác giả đối với nhân vật, sự kiện lịch sử (đánh giặc giữ nước) (trả lời bằng đoạn văn khoảng 200 chữ) (2đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức phân tích ở trên và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Học sinh viết đoạn đảm bảo độ dài và hướng vào các nội dung chính sau:
– Yếu tố kì ảo tiêu biểu trong tác phẩm:
+ Vua lập đàn... Trời nổi mưa to gió lớn, bỗng thấy một cụ già cao hơn chín thước, mặt vàng bụng lớn, mày râu bạc trắng, ngồi ở ngã ba đường mà cười nói ca múa... dự đoán thời gian giặc tới, cách tìm người tài... biến mất.
+ Việc lớn lên kì lạ của cậu bé chỉ biết nằm, nhận trách nhiệm đánh giặc.
+ Cưỡi ngựa mà lên trời.
- Ý nghĩa, tư tưởng của các yếu tố kì ảo:
+ Tác giả đã vận dụng thành công yếu tố thần kì để xây dựng và ca ngợi nhân vật anh hùng. Phù Đổng Thiên Vương đã hiện lên với vẻ đẹp kì vĩ, cùng sức mạnh phi thường và trở thành biểu tượng biểu trưng cho những nét đẹp hào hùng nhất về người anh hùng chống ngoại xâm → Thể hiện lòng yêu nước, tự hào dân tộc.
+ Đánh giặc giữ nước cần phải sử dụng sức mạnh tổng hợp, sự đồng lòng nhất trí của toàn dân và sự chỉ đạo của người đứng đầu đất nước; Đánh giặc giữ nước cần có sự ủng hộ, phù trợ của cha ông, đất trời,...
- Thái độ của tác giả đối với nhân vật, sự kiện lịch sử:
+ Đánh giặc giữ nước là sự kiện quan trọng, người dân, người đứng đầu đất nước luôn có ý phòng vệ và bảo vệ đất nước.
+ Đánh thắng giặc Ân là sự kiện lịch sử quan trọng, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.
+ Tác giả tôn vinh ngợi ca vua Hùng và Thánh Gióng – những bậc vĩ nhân, kì tài trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc.
Câu 2. (4đ)
|
So sánh, đánh giá hai tác phẩm viết về người anh hùng Thánh Gióng ở Truyện Đổng Thiên Vương (Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp) và truyền thuyết Thánh Gióng (SGK Ngữ văn 6 – 3 bộ SGK) ở việc xây dựng cốt truyện và sử dụng các yếu tố kì ảo. Từ đó nhận xét về sự ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
So sánh, đánh giá hai tác phẩm viết về người anh hùng Thánh Gióng ở Truyện Đổng Thiên Vương (Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp) và truyền thuyết Thánh Gióng (SGK Ngữ văn 6 – 3 bộ SGK) ở việc xây dựng cốt truyện và sử dụng các yếu tố kì ảo. Từ đó nhận xét về sự ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề (điểm chung giữa hai tác phẩm đề yêu cầu so sánh); hai tác phẩm và tác giả cần so sánh. - Nêu bình diện cần so sánh, vị trí của chúng đối với tác phẩm/dư luận |
|
Thân bài |
3,0 |
* Điểm tương đồng về cốt truyện, các yếu tố kì ảo. Học sinh liệt kê các sự việc chính trong Truyện Đổng Thiên Vương (Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp) và truyền thuyết Thánh Gióng (SGK Ngữ văn 6 – 3 bộ SGK) → Phân tích, so sánh, bình luận để làm nổi bật ý nghĩa của điểm tương đồng (thái độ đối với nhân vật lịch sử; thể hiện lòng yêu nước, tự hào dân tộc) * Điểm khác biệt về cốt truyện, các yếu tố kì ảo - Học sinh liệt kê các sự khác biệt về cốt truyện ở Truyện Đổng Thiên Vương (Lĩnh Nam chích quái – Trần Thế pháp) so với truyền thuyết Thánh Gióng (SGK Ngữ văn 6 – 3 bộ SGK) - Phân tích, so sánh, bình luận để làm nổi bật ý nghĩa của khác trách nhiệm của cá nhân đối với đất nước, chân dung nhân vật chính,...). * Lí giải nguyên nhân của sự khác biệt - Truyền thuyết Thánh Gióng (SGK Ngữ văn 6 – 3 bộ SGK) thuộc văn dân gian. Truyện Đổng Thiên Vương (Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp) là truyện truyền kì được sáng tạo, phát triển từ văn học dân gian, Truyền thuyết Thánh Gióng. Yếu tố kì ảo trở thành phương tiện nghệ thuật để truyền tải nội dung mang ý nghĩa rộng lớn hơn. |
|
Kết bài |
0,25 |
- Sự ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết: + Văn học dân gian là nền tảng của văn học viết, là chặng đầu của nền văn học dân tộc. + Văn học viết chịu ảnh hưởng văn học dân gian về nhiều phương diện, từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật. - Khẳng định sự thành công của hai tác phẩm: thể hiện lòng yêu nước và tôn vinh anh hùng dân tộc, thể hiện niềm tự hào dân tộc,... |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng thành thạo thao tác so sánh, tổng hợp, chứng minh. – Thể hiện rõ sự đánh giá của cá nhân về các yếu tố được so sánh. |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 5
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
HƠI ẤM BÀN TAY
(Lưu Quang Vũ)
Phút đưa nhau ta chỉ nắm tay mình
Điều chưa nói thì bàn tay đã nói
Mình đi rồi hơi ấm còn ở lại
Còn bồi hồi trong những ngón tay ta.
Như hai dòng sông gặp gỡ đổi phù sa
Nhập luồng nước, hoà nhau màu sắc
Trao cảm thương, hai bàn tay nắm chặt
Nghe máu mẹ cha chuyển giữa mỗi tay mình.
Những ngày xa, trời nhớ một màu xanh
Xây trận địa bàn tay ta rám nắng
Khi vuốt ngọn cỏ non khi lắp đạn
Khi áp lên vầng trán thấm mồ hôi.
Bàn tay ta trên ngực lớn cuộc đời
Ấm hơi ấm ở tay mình lưu luyến
Và ở tận đầu kia trận tuyến
Bàn tay mình mang ánh nắng tay ta.
Khi đàn chim bay tới rợp trời trưa
Cồn mây về mang cơn mưa đầu hạ
Hai vì sao đổi ngôi trong đêm gió...
Đó chính tay mình đang vượt khoảng xa
Tìm đến nơi này âu yếm nắm tay ta.
(Lưu Quang Vũ, Thơ tình, NXB Văn học, 2002)
Câu 1. Bài thơ có thể chia thành mấy đoạn? Hãy đặt tên cho từng đoạn để từ đó xác định mạch cảm xúc, cấu tứ độc đáo và hình tượng chính của bài thơ. (0.5 điểm)
Câu 2. Đọc khổ thơ đầu và trả lời câu hỏi a, b, c. (1.0 điểm)
a) Chủ thể trữ tình cảm nhận được hơi ấm bàn tay trong hoàn cảnh đặc biệt nào
b) Tác giả Lưu Quang Vũ muốn nói điều gì trong dòng thơ “Điều chưa nói
thì bàn tay đã nói”? Phân tích thủ pháp nghệ thuật trong dòng thơ để làm
rõ điều đó.
c) Phân tích cảm xúc của chủ thể trữ tình trong khổ thơ.
Câu 3.
Thi sĩ đã dùng những từ ngữ nào, thủ pháp nghệ thuật nào để diễn tả những
cảm nhận của mình về hai bàn tay nắm chặt? Phân tích đôi điều làm rõ những
cảm nhận đó trong khổ thơ thứ hai. (1.0 điểm)
Câu 4.
Đọc khổ 3, 4 và trả lời các câu hỏi a, b, c. (1.0 điểm)
a) Hình ảnh bàn tay ta được gợi tả trong những hoàn cảnh nào?
b) Các từ ngữ “Xây trận địa”, “lắp đạn” có vai trò như thế nào trong khắc
hoạ bàn tay ta?
c) Điều gì làm nên vẻ đẹp cho bàn tay ta? Cảm xúc của tác giả khi nói và
bàn tay ta?
Câu 5.
Tác giả gửi đến người đọc bức thông điệp nào? Em có đồng ý với điều đó
không? Những yếu tố nghệ thuật đặc sắc nào đã chuyển tải bức thông điệp đó?
(0.5 điểm)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Nêu đánh giá của em về nghệ thuật đặc sắc của bài thơ và ý nghĩa của hình ảnh bàn tay. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ để trả lời câu hỏi. (2.0 điểm) (2đ)
Câu 2.
Viết văn bản (600 chữ) so sánh, đánh giá hình ảnh đôi bàn tay trong bài thơ Hơi ấm bàn tay của Lưu Quang Vũ và trong bài thơ Bàn tay em của Xuân Quỳnh (sau đây). Từ đó làm nổi bật sự độc đáo trong cách kiến tạo hình tượng/hình ảnh thơ của mỗi tác giả.
BÀN TAY EM
(Xuân Quỳnh)
Gia tài em chỉ có bàn tay
Em trao tặng cho anh từ ngày ấy
Những năm tháng cùng nhau anh chỉ thấy
Quá khứ dài là mái tóc em đen
Vui, buồn trong tiếng nói, nụ cười em
Qua gương mặt anh hiểu điều lo lắng
Qua ánh mắt anh hiểu điều mong ngóng
Anh nghĩ gì khi nhìn xuống bàn tay?
Bàn tay em ngón chẳng thon dài
Vết chai cũ, đường gân xanh vất vả
Em đánh chắt chơi chuyền thuở nhỏ
Hái rau rền rau rệu nấu canh
Tập vá may, tết tóc một mình
Rồi úp mặt lên bàn tay khóc mẹ
Đường tít tắp, không gian như bể
Anh chờ em cho em vịn bàn tay
Trong tay anh, tay của em đây
Biết lặng lẽ vun trồng gìn giữ
Trời mưa lạnh tay em khép cửa
Em phơi mền vá áo cho anh
Tay cắm hoa, tay để treo tranh
Tay thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc
Năm tháng đi qua mái đầu cực nhọc
Tay em dừng trên vầng trán lo âu
Em nhẹ nhàng xoa dịu nỗi đau
Và góp nhặt niềm vui từ mọi ngả
Khi anh vắng bàn tay em biết nhớ
Lấy thời gian đan thành áo mong chờ
Lấy thời gian em viết những dòng thơ
Để thấy được chúng mình không cách trở....
Bàn tay em, gia tài bé nhỏ
Em trao anh cùng với cuộc đời em
(Xuân Quỳnh, Tự hát, NXB Tác phẩm mới, 1984)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 5
Câu 1
|
Câu 1. Bài thơ có thể chia thành mấy đoạn? Hãy đặt tên cho từng đoạn để từ đó xác định mạch cảm xúc, cấu tứ độc đáo và hình tượng chính của bài thơ. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ để phân chia bố cục
Chú ý các hình ảnh thể hiện mạch cảm xúc, cấu tứ độc đáo
Lời giải chi tiết:
+ Đoạn 1 gồm 2 khổ thơ đầu: Hơi ấm hoà quyện từ hai đôi bàn tay.
+ Đoạn 2 gồm 2 khổ tiếp theo (khổ 3, 4): Đôi bàn tay ta giữa cuộc đời.
+ Đoạn 3 là khổ cuối (khổ thứ 5): Tay mình vượt khoảng xa đến với tay ta.
– Mạch cảm xúc: Đi từ sự cảm nhận hơi ấm hoà quyện từ hai đôi bàn tay đến
sức mạnh, nghị lực trong đôi bàn tay ta (có hơi ấm của đôi bàn tay mình), và kết thúc là hình ảnh đôi bàn tay mình vượt qua nghìn trùng để truyền hơi ấm, tiếp thêm sức sống cho tay ta (cho “ta”).
- Cấu tứ độc đáo: mở đầu là hai bàn tay, hai hơi ấm, hai sức sống hoà quyện trong nhau; kết thúc vẫn là đôi bàn tay (ở xa nhau) đang hướng về nhau, tiếp tục
truyền hơi ấm cho nhau.
- Hình tượng chính của bài thơ: đôi bàn tay.
Câu 2
|
Câu 2. Đọc khổ thơ đầu và trả lời câu hỏi a, b, c. a) Chủ thể trữ tình cảm nhận được hơi ấm bàn tay trong hoàn cảnh đặc biệt nào b) Tác giả Lưu Quang Vũ muốn nói điều gì trong dòng thơ “Điều chưa nói thì bàn tay đã nói”? Phân tích thủ pháp nghệ thuật trong dòng thơ để làm rõ điều đó. c) Phân tích cảm xúc của chủ thể trữ tình trong khổ thơ. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ khổ thơ đầu và yêu cầu đề bài
Lời giải chi tiết:
a) Chủ thể trữ tình cảm nhận được hơi ấm bàn tay trong hoàn cảnh đặc biệt: hai
người nắm tay nhau trong phút chia tay. Người ra đi lên đường ra mặt trận, người ở lại nơi hậu phương (Xây trận địa, trận tuyến).
b) Nghệ thuật
- Hoán dụ: bàn tay (lấy bộ phận chỉ toàn thể); Nhân hoá: Bàn tay đã nói.
+ Đây là dòng thơ đặc sắc có sự cộng hưởng của nhiều yếu tố ngôn ngữ để diễn
tả cảm xúc của chủ thể trữ tình: nắm bàn tay của nhau trong phút chia xa họ cảm nhận, hiểu được nỗi lòng, cảm xúc của nhau từ hơi ấm của đôi bàn tay. Đó là những tín hiệu không lời, phi ngôn ngữ đầm ấm chứa đựng những điều mà ngôn ngữ/ lời nói không thể chuyển tải được.
c) Cảm xúc của chủ thể trữ tình thể hiện rõ nhất ở hai dòng thơ cuối, trong hai
chữ “bồi hồi”
- “Mình đi rồi hơi ấm còn ở lại”: Dòng thơ giàu sức gợi (hình dung trong người
đọc về chàng trai trong phút chia tay) gợi cảm xúc nuối tiếc, lưu luyến. Phút giây ta chỉ nắm tay mình như ngưng đọng lại, thời gian và không gian không thể làm nguội lạnh hơi ấm mà trái lại chúng đã truyền làn hơi ấm nóng ấy vào tim, lưu lại vĩnh viễn trong tâm hồn người ra đi.
- Hai chữ “bồi hồi” được hiểu là những xao xuyến, xôn xao trong lòng. Nét tinh
tế ở đây là thi sĩ không nói bồi hồi trong lòng mà là “Còn bồi hồi trong những ngón tay ta ; tức là hơi ấm nóng lưu lại ở ngón tay khiến lòng ta xao xuyến, xôn xao.
Câu 3
|
Câu 3. Thi sĩ đã dùng những từ ngữ nào, thủ pháp nghệ thuật nào để diễn tả những cảm nhận của mình về hai bàn tay nắm chặt? Phân tích đôi điều làm rõ những cảm nhận đó trong khổ thơ thứ hai. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ, chú ý những từ ngữ, thủ pháp nghệ thuật diễn tả cảm nhận của tác giả và phân tích
Lời giải chi tiết:
Từ ngữ đặc sắc: gặp gỡ, nhập, hoà nhau, trao, chuyển.
Nghệ thuật: so sánh (“Như hai dòng sông gặp gỡ đổi phù sa”); Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (“Nghe máu mẹ cha chuyển giữa mỗi tay mình").
+ Hàng loạt động từ cùng nghệ thuật so sánh và ẩn dụ chuyển đổi cảm giác diễn tả sự hoà quyện từ đôi bàn tay của hai ta mình đã vận động chuyển hoá tạo nên những điều kì diệu của cho cuộc sống tươi mới, tràn đầy sức sống.... trong cái nắm tay rất chặt, ta và mình cảm nhận rõ dòng máu của mẹ cha đang “vận động” trong bàn tay mình, cơ thể của mình. Đó là sự tiếp nối, lớn mạnh từ quá khứ – hiện tại – tương lai để tạo nên mạch nguồn mạnh mẽ.
Câu 4
|
Câu 4. Đọc khổ 3, 4 và trả lời các câu hỏi a, b, c. a) Hình ảnh bàn tay ta được gợi tả trong những hoàn cảnh nào? b) Các từ ngữ “Xây trận địa”, “lắp đạn” có vai trò như thế nào trong khắc hoạ bàn tay ta? c) Điều gì làm nên vẻ đẹp cho bàn tay ta? Cảm xúc của tác giả khi nói và bàn tay ta? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ khổ 3,4 và yêu cầu đề bài
Lời giải chi tiết:
a) Hình ảnh bàn tay ta được gợi tả:
+ Xây trận địa bàn tay ta rám nắng
Khi vuốt ngọn cỏ non khi lắp đạn
Khi áp lên vầng trán thấm mồ hôi.
+ Bàn ta được gợi tả trong các hoàn cảnh khác nhau: vững vàng, khi thực hiện
nhiệm vụ của người lính; mềm mại với cỏ cây hoa lá, đầy suy tư khi áp lên vầng trán,..
b) Các từ ngữ “Xây trận địa”, “lắp đạn” gợi hoàn cảnh cụ thể làm nổi bật vẻ đẹp
của bàn tay ta – vẻ đẹp khoẻ khoắn, trẻ trung, mạnh mẽ của người lính nơi chiến trường gian khổ.
c) Điều làm nên vẻ đẹp cho bàn tay ta: “Bàn tay mình mang ánh năng tay ta” – là tình yêu của bạn gái ở hậu phương, là hơi ẩm từ bàn tay người yêu còn lưu lại từ phút giây chia tay ("Âm hơi ấm ở tay mình lưu luyến”... “Bàn tay mình mang ánh nắng tay ta”) để người lính có sức mạnh đặc biệt, sức mạnh của tình yêu, sức mạnh cộng hưởng từ hai trái tim.
Câu 5
|
Câu 5. Tác giả gửi đến người đọc bức thông điệp nào? Em có đồng ý với điều đó không? Những yếu tố nghệ thuật đặc sắc nào đã chuyển tải bức thông điệp đó? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ và suy ra thông điệp của tác giả
Nêu ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
Tác giả gửi đến người đọc thông điệp:
- Dù ở nơi đâu, khi nào, trong mọi hoàn cảnh dù khắc nghiệt nhất tình yêu đôi lứa thì sự thuỷ chung, chân thành cũng làm nên tình yêu cuộc sống và sức mạnh cho mỗi người ("Bàn tay ta trên ngực lớn cuộc đời/ Và ở tận đầu kia trận tuyến/ Bàn tay mình mang ánh nắng tay ta.)
- Tình yêu thuỷ chung, chân thành luôn có sức mạnh, có khả năng diệu kì: vượt qua muôn ngàn thử thách, khoảng cách để hướng về nhau, ở bên nhau, truyền cho nhau sức mạnh, niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống (“Đó chính tay mình đang vượt khoảng xa/ Tìm đến nơi này âu yếm nắm tay ta.”)
- Hãy biết trân trọng tình cảm chân thành và hãy tin vào sức mạnh của tình yêu.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Nêu đánh giá của em về nghệ thuật đặc sắc của bài thơ và ý nghĩa của hình ảnh bàn tay. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ để trả lời câu hỏi. (2.0 điểm) (2đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Các yếu tố nghệ thuật nổi bật:
- Cặp từ ta – mình: Cặp từ quen thuộc trong văn học truyền thống khiến cho bài thơ trở nên quen thuộc, gần gũi, nhưng cũng rất mới mẻ, rất phù hợp để diễn tả tình cảm gắn bó, chân thành, thuỷ chung.
+ Hình ảnh đôi bàn tay, với chữ tay xuất hiện 11 lần – tượng trưng cho tình yêu con người, thể hiện vẻ đẹp của con người.
+ Các biện pháp nghệ thuật đặc sắc: Hoán dụ, so sánh, nhân hoá, ẩn dụ (Học sinh đưa dẫn chứng).
- Ý nghĩa hình ảnh bàn tay: Học sinh tự rút ra tuỳ theo nhận thức của cá nhân.
– Học sinh có thể tham khảo gợi ý sau:
+ Bàn tay mình tiếp thêm sức mạnh cho ta thực hiện hoài bão lớn cuộc đời.
+ Bàn tay rám nắng, vững vàng khi thực hiện nhiệm vụ của người lính; mềm
mại với cỏ cây hoa lá; đầy suy tư khi áp lên vầng trán.
+ Bàn tay mình vỗ về, yêu thương, động viên, ta vượt qua những hoàn cảnh khó
khăn, gian khổ.
Câu 2.
|
Viết văn bản (600 chữ) so sánh, đánh giá hình ảnh đôi bàn tay trong bài thơ Hơi ấm bàn tay của Lưu Quang Vũ và trong bài thơ Bàn tay em của Xuân Quỳnh (sau đây). Từ đó làm nổi bật sự độc đáo trong cách kiến tạo hình tượng/hình ảnh thơ của mỗi tác giả. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết văn bản (600 chữ) so sánh, đánh giá hình ảnh đôi bàn tay trong bài thơ Hơi ấm bàn tay của Lưu Quang Vũ và trong bài thơ Bàn tay em của Xuân Quỳnh (sau đây). Từ đó làm nổi bật sự độc đáo trong cách kiến tạo hình tượng/hình ảnh thơ của mỗi tác giả. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
– Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm cần so sánh, đánh giá. - Nêu luận đề: điểm tương đồng xây dựng hình tượng bàn tay con người để thể hiện tình cảm yêu thương. |
|
Thân bài |
2,5 |
* Nét tương đồng về ý nghĩa hai hình tượng bàn tay Nét tương đồng (gọi tên nét tương đồng.) Gợi ý: Học sinh có thể chỉ ra điểm tương đồng trên các phương diện sau): - Cùng lựa chọn, xây dựng hình ảnh bàn tay ở tác phẩm để thể hiện + Hình ảnh bàn tay ở tác phẩm để khẳng định tình cảm con người đã làm nên sức mạnh, niềm tin ở mỗi người. + Hình ảnh bàn tay ở tác phẩm 2: thể hiện vẻ đẹp nữ tính, thiên chức làm vợ, làm mẹ, tâm hồn tinh tế, chăm lo cho gia đình. + Bàn tay thể hiện phẩm chất, tình cảm của con người. - Nét tương đồng về nghệ thuật xây dựng hình tượng: + Hình ảnh đôi bàn tay xuyên suốt bài thơ xuất hiện 11 lần. + Qua các biện pháp tu từ; thể thơ, ngôn ngữ, vần điệu,... * Nét khác biệt (gọi tên nét khác biệt): Gợi ý: Học sinh có thể tìm điểm khác biệt dựa những gợi ý sau: - Trong Hơi ấm bàn tay, chủ thể trữ tình là “ta” – chàng trai ra trận. + Hình ảnh đôi bàn tay gắn với bồi hồi, lưu luyến cùng lối xưng hô mình – ta rất quen thuộc trong ca dao đã khiến thi phẩm vừa mới mẻ, vừa gần gũi. + Đôi bàn tay chính là tình yêu đôi lứa thuỷ chung, chân thành làm nên tình yêu cuộc sống và sức mạnh cho mỗi người (“Bàn tay ta trên ngực lớn cuộc đời/ Và ở tận đầu kia trận tuyến/ Bàn tay mình mang ánh nắng tay ta”), - Trong Bàn tay em, chủ thể trữ tình là “em” – người phụ nữ từng trải trong gia đình. + Hình ảnh đôi bàn tay xuyên suốt bài thơ truyền tải đến người đọc nhiều thông điệp quý về phẩm chất và tâm hồn người phụ nữ. + Cách mở đầu: “Gia tài em chỉ có bàn tay”, |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khái quát giá trị, sự đóng góp, thành công của hai tác giả. - Sự tác động của hai tác phẩm vào cảm xúc nhận thức của cá nhân. |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Lựa chọn thêm những hình ảnh bàn tay trong các tác phẩm khác để mở rộng so sánh, liên hệ - Sử dụng thành thạo thao tác lập luận: so sánh, phân tích, khái quát/tổng hợp |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 6
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
Phần I. Đọc hiểu (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
AM CU LY XE
-Thanh Tịnh-
Mới nghe qua tên am[1], tôi đã tưởng họ bông đùa. Nhưng không, người kể cho tôi nghe nói với giọng nghiêm chỉnh lắm. Cái am ấy nhỏ bằng vôi dựng trên bờ sông Bồ thuộc về làng Thanh Trúc. Trong am chỉ đặt một bát lư hương và cặp đòn con bằng gỗ tiện. Trước cửa am có che một bức sáo xanh kẻ chữ thọ màu hồng. Cách am năm bước có cái mồ đắp lên cao. Ngôi mả của người cu-ly[2] xe.
Chuyện am này ở hai vùng Thanh Lương và Hương Cần ai cũng biết. Họ thường kể cho người lạ nghe với một giọng chắc chắn đáng tin. Ðược dịp kể nhiều nhất là bà bán quán gần am đấy. Và khách qua lại muốn được nghe chuyện chỉ việc uống một bát nước chè hay ăn vài đĩa xôi đậu. Bà quán kể lâu quá thành có duyên và lắm đoạn nghe xuôi như đọc thuộc lòng.
Ga Văn Xá làm lễ lạc thành[3] xong thì sau đó hai tuần một người mù đem chiếc xe tay đến đón khách. Ðó là một cái xe thảm khổ nhất. Ruột hai bánh độn rơm và trần xe đã thủng nhiều chỗ. Khổ hơn nữa là người kéo xe mù lại già, đầu tóc bạc phơ, người gầy gò và trán hói. Theo đúng đường và biết tránh người đi là nhờ đứa cháu nội lên mười chạy dìu phía trước. Rồi ngày bốn buổi, hai ông cháu lên ga Văn Xá đón khách về huyện Quảng Ðiền. Ðời tuy vất vả nhưng có kẻ thương tình nên cũng đủ sống. Lệ thường cứ mỗi vòng được năm xu. Hai ông cháu ngày nào cũng kiếm được một vài hào đủ tiêu dùng, cơm cháo.
[...] Từ ngày có xe lửa, dân mấy vùng quê ai cũng thèm đi. Họ cốt đi để mua vui thôi. Ði bộ đối với họ lúc ấy là một chuyện phiền. Nhưng được người kéo xe khỏe mạnh thì chẳng nói gì. Ðằng này lại khác. Bước chân lên xe người mù già, thì người khổ chưa hẳn là người phải kéo xe mà thật ra là người được ngồi. Huống chi ở đây lại phải chịu cái tội trông một đứa trẻ chạy không kịp thở, ngã tới vờn lui, theo bước chân của một ông già yếu đuối. Nên nhiều người thương hại không muốn đi xe. Nhưng lòng nhân đạo càng ban truyền ra, người kéo xe mù lại càng túng thiếu. Rồi sau chỉ những người ốm hay già yếu lắm - thỉnh thoảng có vài người say rượu - mới bước lên xe của hai ông cháu. Lắm người không đi, chỉ gửi vài bao hành lý họ cũng trả tiền hẳn hoi. Nhưng hạng người này hiếm lắm. Ðợi năm sáu chuyến tàu mới gặp được một người.
Tối đến, hai ông cháu thường ngủ trong một cái mui thuyền đặt khum khum trên bờ sông. Sáng mai ba giờ đã phải dậy. Vì phải đợi khách bên huyện Quảng qua sông đi chuyến tàu bốn giờ.
[...]Xe độ ấy ế vô cùng. Và gặp cái xe trần thủng, nước tát vào như dội, khách cũng thấy chán không buồn đi. Và đêm nào lên ga đợi chuyến tàu suốt chín giờ, hai ông cháu cũng dẫn xe về không.
[...]Một đêm trung tuần tháng chạp, chuyến xe suốt lại trễ mất ba giờ. Lúc ấy, vào giữa đêm. Nghe tàu đến, hai ông cháu đã mừng thầm trong bụng. Một lát sau, con tàu đã bắt đầu sục sịch chạy, người kéo xe vẫn chưa nhận thấy có tiếng bước chân nào khỏi ga. Ông hỏi cháu nhưng thằng bé đã lẩn đi ngả nào, ông chắc nó đang đứng đón khách ở sân ga nên định bụng chờ. Mấy phút sau, đứa bé trở về, ông già mù cảm thấy hình như có một người bước lên xe. Ðứa bé nói với giọng run run:
- Ông ơi, có người lên đó. Ông chạy đi.
Thế rồi hai ông cháu dìu nhau chạy về phía sông Bồ, qua những quãng đường lầy lội và dưới dòng mưa đêm lạnh giá.[...]. Ðến bên đò làng Thanh vào khoảng một giờ khuya. Gió ngoài thổi vào lạnh như cắt thịt. Ðứa cháu sắp dắt ông vào mui thuyền thì như nghi ngại điều gì, người kéo xe mù đã cất tiếng hỏi:
- Tiền xe mô đưa cho ông?
Ðó là một câu hỏi bất ngờ vì mấy lần trước có bao giờ ông hỏi đến đâu. Hay cũng hỏi cho biết số, chứ chưa lúc nào ông định giữ lấy. Ðứa cháu run lẩy bẩy, lúng túng rồi bỗng ôm mặt khóc. Chỉ nghĩ thoáng qua người kéo xe mù đã hiểu ra lẽ thật. Có gì đâu, không thấy khách và muốn ông nó vui lòng, thằng bé đã bê một tảng đá nặng đặt lên nệm xe và dìu ông nó chạy.
Trí non nớt của nó có ngờ đâu mấy năm lao khổ trong nghề, ông nó phân biệt rất tinh tường người ngồi và vật đặt khác nhau nhiều lắm. Nhưng ông nó vẫn chạy, vì mù quáng, vì đói rách nên lòng vẫn hy vọng những chuyện không bao giờ có được. Và biết ra thì thêm khổ. Thấy cháu khóc, ông cũng nức nở theo.
Rồi giữa đêm lạnh, phần già yếu, phần đau buồn, phần đói rét, ông gục xuống dần rồi lăn ra chết ngất.
Ðứa bé sợ thất thanh la hét nghe đứt ruột. Nhưng gió của trời thét mạnh hơn và tiếng nó đành chịu rã rời bay lạc giữa đêm mưa tầm tã. Bên kia sông, huyện Quảng Ðiền xa quá. Chỉ còn vài ngọn đèn dầu chập chờn trong xóm quê đen tối. Con đò đã cắt đường qua lại từ lâu, không đem được lòng từ thiện của bến kia qua bao trùm nỗi thảm thương của bờ nọ.
Sáng mai đi chợ Thanh Lương, khách qua đường thấy trên bờ sông vắng một đứa trẻ thơ đang ngồi khóc thảm thiết bên cạnh một người già nua đã chết cứng đờ. Dân quanh xóm thương tình, người ít kẻ nhiều dồn nhau lại mua cái hòm mới và chôn cất người kéo xe già tử tế.
Về sau đêm nào cũng như đêm nào, vào khoảng mười một giờ khuya, sau chuyến tàu suốt ra Bắc một giờ, những người ở quanh vùng đó đều thấy một cái bóng xe tay loang loáng chạy về phía làng Thanh Trúc. Người làm giữa ruộng dưới đêm trăng, các em mục đồng và cả sư cụ chùa Linh Hải đều nhận thấy nhiều lần. Và giữa đêm mưa lạnh ông từ làng Thanh Trúc còn nghe thấy cả tiếng nhạc xe trước cổng đình nữa...
Người ta bàn tán và nói rất nhiều. Lúc ấy, làng Thanh Trúc được kiện nên cho thuyền đưa khách qua lại như cũ. Gặp lúc vui dân làng liền quyên tiền để xây cái am cho người kéo xe "linh hiển".
(Thanh Tịnh - Văn & đời, Ngô Vĩnh Bình, NXB Thuận Hóa, 2011, tr. 221-224)
[1] Am: chùa nhỏ, miếu nhỏ.
[2] Cu ly: người lao động làm thuê những việc nặng nhọc như khuân vác, kéo xe... dưới thời thực dân.
[3] Lạc thành: mừng việc hoàn thành một công trình xây dựng.
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5
Câu 1. Xác định điểm nhìn trong truyện.
Câu 2. Chỉ ra những đặc điểm củanhân vật chính trong truyện.
Câu 3. Nêu tác dụng của phép tu từ chêm xen trong câu văn sau: Về sau đêm nào cũng như đêm nào, vào khoảng mười một giờ khuya, sau chuyến tàu suốt ra Bắc một giờ, những người ở quanh vùng đó đều thấy một cái bóng xe tay loang loáng chạy về phía làng Thanh Trúc
Câu 4. Nêu cảm nhận về nhân vật người cháuqua chi tiết “thằng bé đã bê một tảng đá nặng đặt lên nệm xe”.
Câu 5. Nhận xét của anh/chị về phần kết của tác phẩm “Về sau, đêm nào cũng như đêm nào.... người kéo xe linh hiển”.
Phần II. Làm văn
Câu 1.
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá tình huống truyện trong trích đoạn truyện ngắn “Am cu ly xe” của tác giả (Thanh Tịnh)
Câu 2
Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về thông điệp được gợi ra câu nói sau: Chúng ta đều là những thiên thần chỉ có một cánh, và chúng ta phải ôm lấy lẫn nhau để học bay.
Đáp án
Câu 1:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về điểm nhìn của người kể chuyện để xác định
Cách giải:
Điểm nhìn: nhân vật “tôi”
Câu 2:
Phương pháp:
Tìm chi tiết miêu tả ngoại hình, hoàn cảnh, tính cách của nhân vật ông lão kéo xe.
Cách giải:
Đặc điểm của nhân vật chính: Ông già mù, đầu tóc bạc phơ, người gầy gò và trán hói
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ chêm xen để nhận biết và phân tích tác dụng
Cách giải:
- Biện pháp tu từ chêm xen: vào khoảng mười một giờ khuya, sau chuyến tàu suốt ra Bắc một giờ
- Tác dụng:
+ Bổ sung ý nghĩa phụ chú cho trạng ngữ “Về sau đêm nào cũng như đêm nào”, giúp xác nhận thông tin một cách cụ thể, chi tiết về sự việc những người ở quanh vùng đêm nào cũng thấy một cái bóng xe tay loang loáng chạy về phía làng Thanh Trúc
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích, ý nghĩa của hành động "bê tảng đá" của người cháu
Cách giải:
Nhân vật người cháu qua chi tiết “thằng bé đã bê một tảng đá nặng đặt lên nệm xe”:
- Thằng bé bê tảng đá đặt lên xe vì không thấy khách và muốn ông nó vui lòng
- Nhân vật có tấm lòng hiếu thảo,
- Nhân vật có cảnh ngộ thật đáng thương
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
Nhận xét về phần kết của tác phẩm:
- Hình ảnh người kéo xe linh hiển xuất hiện và hành động của người dân làng Thanh Lương tuy không tạo ra kết thúc có hậu cho tác phẩm nhưng góp phần giảm bớt không khí bị thương não nề của tác phẩm.
- Chi tiết kì ảo làm câu chuyện hấp dẫn, lôi cuốn.
Cách giải:
Phần kết của tác phẩm "Am cu ly xe" để lại trong lòng người đọc nhiều dư âm sâu sắc. Bằng việc đưa vào yếu tố kì ảo là hình ảnh bóng ma người cu-ly xe hiện về đêm đêm cùng tiếng nhạc xe văng vẳng, nhà văn Thanh Tịnh đã tạo nên một kết thúc mở đầy ám ảnh. Chi tiết này không chỉ làm tăng sức hấp dẫn, li kì cho câu chuyện mà còn thể hiện một triết lí nhân văn sâu sắc. Sự "linh hiển" của người kéo xe phản ánh khát vọng về sự bất tử của những linh hồn oan khuất, đồng thời thể hiện tấm lòng thương cảm, trân trọng mà người dân dành cho một thân phận bé nhỏ, khổ đau. Kết thúc ấy vì thế không bi lụy mà chan chứa tình người, giúp giảm bớt không khí bi thương và nâng đỡ tâm hồn người đọc bằng niềm tin vào sự cao đẹp của lòng trắc ẩn.
Phần II. Viết
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
* Xác định tình huống truyện: ông già mù kéo xe ế khách, đứa cháu thương ông nên đặt tảng đá lên xe cho ông kéo; khi biết sự thật, vì buồn, già yếu, đói rét, ông già mù đã chết.
* Nghệ thuật xây dựng tình huống:
- Tạo nên một tình huống éo le khi đặt nhân vật vào hoàn cảnh éo le: nhân vật làm nghề kéo xe chở khách mà già yếu, bị mù, phải có cháu nhỏ dẫn đường; chiếu xe rách nát; khách thương hại nên không ngồi xe, xe ế; cái chết thảm thương của ông già mù.
- Tạo nên một tình huống bất ngờ thông qua hành động, lời thoại nhân vật: câu hỏi bất ngờ của ông già mù “tiền mô đưa cho ông” và sự thật trong hành động của cháu: đặt tảng đá lên xe để ông kéo vì thương ông.
- Tình huống truyện được triển khai qua kết cấu truyện trong truyện với ngôi kể thứ nhất, người kể chuyện được nghe câu chuyện và kể lại; ngôn ngữ giàu cảm xúc, có chất thơ; kết hợp yếu tố miêu tả sinh động...
* Đánh giá ý nghĩa của tình huống:
+ Góp phần khắc họa nhân vật trung tâm là ông già mù với cảnh ngộ éo le, số phận thảm thương.
+ Góp phần khắc họa nhân vật người cháu: cảnh ngộ đáng thương, có tấm lòng hiếu thảo.
+ Thể hiện niềm thương cảm của nhà văn đối với những người lao động nghèo trong xã hội thực dân nửa phong kiến.
+ Cho thấy tài năng của nhà văn Thanh Tịnh trong thể loại truyện ngắn.
Cách giải:
Truyện ngắn "Am cu ly xe" của Thanh Tịnh hấp dẫn người đọc trước hết bởi một tình huống truyện vừa chân thực, vừa éo le và đầy tính nhân văn. Tình huống ấy xoay quanh cảnh ngộ trớ trêu của hai ông cháu người kéo xe mù: vì lòng thương hại, khách không nỡ ngồi lên chiếc xe cũ nát do ông lão yếu ớt kéo, nhưng chính sự thương hại ấy lại khiến họ càng thêm túng quẫn, dẫn đến bi kịch cuối cùng. Cao trào của tình huống được đẩy lên khi người cháu, với trái tim non nớt nhưng đầy yêu thương, đã đặt một tảng đá lên xe để ông tưởng có khách, mong ông vơi bớt nỗi buồn. Hành động xuất phát từ tấm lòng hiếu thảo ấy lại trở thành giọt nước tràn ly, khiến ông lão nhận ra sự thật phũ phàng về thân phận bị xã hội ruồng bỏ của mình, và gục ngã vì tủi nhục, đói rét. Tình huống này đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một tình huống truyện hay. Nó không chỉ thắt nút và đẩy xung đột đến đỉnh điểm, làm nổi bật số phận bi kịch của con người nhỏ bé trong xã hội cũ, mà còn khắc họa sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn: tình yêu thương trong sáng của đứa cháu và sự kiên cường đến cay đắng của người ông. Qua đó, nhà văn gián tiếp lên án một xã hội thờ ơ, và cất lên tiếng nói cảm thông, trân trọng những phẩm giá cao đẹp ẩn chứa ngay trong những kiếp người tưởng chừng như thấp bé nhất.
Câu 2:
Phương pháp:
Dàn ý tham khảo:
1. Mở bài
* Dẫn dắt, giới thiệu câu danh ngôn
2. Thân bài:
* Giải thích ý kiến
- Chúng ta đều là những thiên thần một cánh: không có ai hoàn hảo cả, mỗi người đều có điểm yếu, có những khiếm khuyết;
- Ôm lấy nhau: phối hợp, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau bằng sự gắn kết, yêu thương chân thành...;
- Học bay: vượt qua những khó khăn, để thành công...
=> Câu nói mang đến một bài học/thông điệp ý nghĩa: Trong cuộc sống chúng ta phải đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Có như vậy, chúng ta mới vượt qua được những khó khăn vươn đến những tầm cao mới.
* Phân tích và chứng minh: Tại sao con người lại phải đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau?
- Con người ai có cũng những khiếm khuyết. Khi đoàn kết, tương trợ nhau, những khiếm khuyết của chúng ta sẽ được lấp đầy bằng điểm mạnh của người khác;
- Mỗi cá nhân chỉ có thể phát huy năng lực, sở trường của mình trong một tập thể;
- Trong cuộc sống, có nhiều khó khăn vượt quá khả năng của một cá nhân. Chỉ khi con người hợp sức nhau lại, những khó khăn mới được đẩy lùi;
....
- Dẫn chứng: (HS lấy dẫn chứng phù hợp, thuyết phục)
* Bàn luận, nâng cao vấn đề:
- Bằng cách nói hình ảnh, câu danh ngôn đề cao một thông điệp đã trở thành chân lí: tinh thần đoàn kết, sức mạnh tập thể chính là đôi cánh nâng đỡ cho mỗi cá nhân, giúp con người vượt qua được mọi khó khăn trong cuộc sống;
- Tuy nhiên, nếu cá nhân chỉ biết dựa vào người khác, không có ý thức tự vươn lên thì cũng không thể bay qua những khó khăn hoặc có được thành công trong cuộc sống, nếu có thì sự thành công ấy không bền vững.
- Phê bình những cá nhân luôn quay lưng lại với tập thể; những người chỉ biết vun vén lấp đầy cho những khiếm khuyết của cá nhân mà không hỗ trợ, có tinh thần cống hiến ngược lại cho tập thể
* Bài học nhận thức và hành động:
- Muốn đi xa thì hãy đi cùng nhau, sự tương trợ cho nhau sẽ khiến ta bay qua những khó khăn, đến với thành công...
- Để làm được điều đó, chúng ta cần hòa nhập với tập thể, học cách hợp tác, biết sống có trách nhiệm ...
3. Kết bài
- Khẳng định: Vai trò của đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong cuộc sống
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong bản giao hưởng của cuộc sống, mỗi chúng ta đều là những nốt nhạc riêng lẻ, chỉ khi hòa quyện cùng nhau mới tạo nên khúc ca hoàn chỉnh. Triết lý "Chúng ta đều là những thiên thần chỉ có một cánh, và chúng ta phải ôm lấy lẫn nhau để học bay" chính là minh chứng sâu sắc cho sức mạnh của sự kết nối và đồng hành trong hành trình chinh phục những ước mơ.
Thật vậy, hình ảnh "thiên thần một cánh" là một ẩn dụ đầy tính nhân văn về thân phận con người. Không ai trong chúng ta sinh ra đã hoàn hảo, mỗi người đều mang trong mình những khiếm khuyết, giới hạn riêng. Nếu chỉ đứng một mình, chúng ta như những vì sao lẻ loi giữa bầu trời đêm vẫn tỏa sáng nhưng cô độc và khó có thể vươn tới những tầm cao mới. Chính sự không hoàn hảo ấy khiến chúng ta cần đến nhau, cần "ôm lấy lẫn nhau" để tạo thành đôi cánh vững chắc, cùng nhau "học bay", cùng nhau vượt qua thử thách, chinh phục những mục tiêu mà đơn độc không thể thực hiện.
Trong dòng chảy của lịch sử nhân loại, sức mạnh của sự đoàn kết đã nhiều lần được chứng minh. Nhìn lại quá khứ hào hùng của dân tộc Việt Nam, chính tinh thần "lá lành đùm lá rách", "chung lưng đấu cật" đã giúp cha ông ta vượt qua bao cuộc xâm lăng của kẻ thù hùng mạnh. Trong đại dịch COVID-19 vừa qua, hình ảnh các y bác sĩ "chiến binh áo trắng" xông pha nơi tuyến đầu, những tình nguyện viên không ngại hiểm nguy hỗ trợ cộng đồng, hay những nghĩa cử "lá lành đùm lá rách" đã trở thành biểu tượng đẹp về sự sẻ chia. Đó không phải là những hành động đơn lẻ, mà là sự kết nối của hàng triệu trái tim, hàng triệu "đôi cánh" cùng chung sức vượt qua bão giông.
Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, khi nhịp sống ngày càng hối hả, không ít người đã chọn cho mình lối sống cá nhân, khép kín. Họ nghĩ rằng có thể tự mình "bay" thật cao, thật xa mà không cần đến sự giúp đỡ của ai. Nhưng họ không hiểu rằng, những chuyến bay đơn độc ấy sẽ nhanh chóng đuối sức và dễ dàng gục ngã trước giông bão cuộc đời. Một doanh nghiệp dù có tài năng đến đâu cũng không thể phát triển bền vững nếu thiếu đi sự đồng lòng của tập thể. Một học sinh dù thông minh xuất chúng cũng khó có thể thành công nếu không biết hợp tác, học hỏi từ bạn bè.
Bài học từ câu nói "Chúng ta đều là những thiên thần chỉ có một cánh" thật sâu sắc và ý nghĩa. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, thành công thực sự không phải là điểm đến mà ta có thể đạt được một mình, mà là hành trình ta đi cùng nhau. Khi biết "ôm lấy" người khác, chúng ta không chỉ giúp họ tỏa sáng mà còn đang hoàn thiện chính mình. Mỗi sự giúp đỡ, mỗi lần sẻ chia, mỗi hành động yêu thương đều là những chiếc lông vũ quý giá góp phần tạo nên đôi cánh vững chắc cho cả tập thể.
Là những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta hãy bắt đầu từ những điều nhỏ nhất: biết lắng nghe khi bạn bè tâm sự, sẵn sàng giúp đỡ khi ai đó gặp khó khăn trong học tập, cùng nhau xây dựng một tập thể đoàn kết. Bởi chỉ khi mỗi người biết mở lòng đón nhận và sẻ chia, chúng ta mới thực sự có thể cùng nhau "bay" cao, "bay" xa đến những chân trời tri thức và nhân văn.
Cuộc sống vốn dĩ không phải là một cuộc đua solo, mà là một hành trình đồng đội. Hãy luôn nhớ rằng, chúng ta sinh ra không phải để bay một mình, mà để cùng nhau vượt qua mọi khoảng cách, cùng nhau chạm tới những ước mơ. Và quan trọng hơn cả, khi biết "ôm lấy lẫn nhau", chúng ta không chỉ học được cách bay, mà còn cảm nhận được ý nghĩa đích thực của hạnh phúc.
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 7
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau:
Quê mẹ
(Trích - Thanh Tịnh)
[…] Cô Thảo ra lấy chồng đã ba năm. Anh Vận chồng cô hiện làm Hương thơ ở làng Mỹ Lý. Anh Vận trước kia có theo học chữ quốc ngữ, nhưng đã hai năm thi yếu lược không đậu nên anh ta lại thôi. Qua năm sau dân trong xóm bầu anh ta lên làm hương thơ trong làng. Ngày nào anh ta cũng đi nhà này qua nhà khác phát thư, rồi chiều đến lại phải ra tận đình để lấy hòm thư đem lên huyện.
Công việc của anh tuy vất vả, nhưng lương tháng - hay nói cho đúng, lương năm - của anh trông ít quá. Làng chỉ trích cho anh ta ba mẫu ruộng và năm đồng bạc làm tiền lộ phí. Nhưng năm đồng ấy thì không bao giờ anh nhận được. Vì các viên chức đã khéo léo trừ với món tiền phải đóng sưu này thuế khác gần hết.
Nhưng ở vùng quê, được một chức nghiệp như thế, anh Vận cũng cho là danh giá lắm. Và bà Lại, mẹ anh Vận, lúc nói chuyện với những người quen, cũng không quên tự hào được một người con ra đảm đương việc làng việc nước.
Cô Thảo ra lấy chồng vốn liếng không có nên không đi buôn bán gì hết. Cả nhà chỉ trông vào sáu mẫu ruộng tranh và ba mẫu ruộng làng để sống năm này tháng khác.
Lược dẫn một đoạn: Gần đến ngày giỗ ông, cô Thảo muốn xin chồng về làng, lại không muốn nói thẳng. Nhưng mãi đến chiều cũng không nghe chồng nói gì, nên cô phải mượn cây thanh trà để nhắc xa xôi cho chồng nhớ. Anh Vận xin mẹ cho vợ về làng ăn giỗ. Mẹ chồng bảo cô mang buồng chuối mật trong vườn về giỗ ông, lại cho cô một hào để đi đò. Anh Vận cũng chạy quanh xóm mượn chỗ này, chỗ khác cho cô Thảo thêm bốn hào nữa.
Tối hôm ấy cô Thảo không đi ngủ sớm. Cô đặt con ngủ yên bên chồng xong lại lật đật xách dao ra sau vườn chuối. Loay hoay một lúc lâu cô mới đem được buồng chuối mật vào nhà. Cô đem để vào một góc thật kín vì cô sợ nửa đêm chuột đến khới. Xong rồi cô mới qua bên nhà cô Thị mượn đôi hoa tai vàng và cái nón lá mới. Sắp đặt đâu đó xong xuôi cô mới lên giường nằm ngủ.
Trời tờ mờ sáng cô Thảo đã trở dậy sắm sửa đi về làng. Làng cô ở cách xa làng Mỹ Lý hơn mười lăm cây số. Vì vậy nên mỗi năm cô chỉ được về làng chừng hai ba lượt là nhiều. Xưa kia cô từng qua lại làng Mỹ Lý ngày một để bán gạo, nhưng sau lúc cô ra lấy chồng thì quê nhà đối với cô đã là nơi xa lạ.
Qua những con đường mòn chạy nấp theo bờ ruộng, cô lại nhớ đến quãng đời bán gạo của cô ngày trước. Trong trí cô hiện ra lần lần hình ảnh của cô Thu, cô Nguyệt, cô Hương, những cô bạn mà trước kia cô cho là thân nhất.
Nhưng đời các cô ấy cũng như cô, nghĩa là cũng có chồng, có con và quãng đời làm dâu cũng vất vả, cũng phẳng lặng như nhau hết.
Đi chưa được bốn cây số cô Thảo đã thấy mỏi. Cô tự nhận thấy sức cô yếu hơn trước nhiều lắm. Cô muốn đi đò cho đỡ chân, nhưng sực nhớ đến những món quà cần phải cho em, cô lại gắng gượng đi nhanh hơn trước.
Qua khỏi đầu làng Duyên Hải thì cô gặp cô Đài, người bạn cùng làng thường chơi với cô ngày trước. Cô Thảo nhờ bạn gánh hộ buồng chuối mật và mấy gói bánh mua bên chợ Kỳ Lâm. Cô Đài vui vẻ nhận lời ngay. Vào quán nước ở gần đấy nghỉ một chốc, hai cô lại cùng nhau lên đường chuyện trò không ngớt.
Về đến làng, cô Thảo gặp ai cũng đón chào niềm nở. Lòng cô lúc ấy nhẹ nhàng và vui sướng lắm. Còn họ gặp cô đi đằng xa đã kêu réo om sòm như gặp được người sống lại. Họ hỏi thăm cô chuyện này chuyện khác, mục đích là để xem cô ăn mặc độ này có khá hơn trước không. Cô Thảo thấy người làng chào hỏi mình vồn vã nên đáp lại rất vui vẻ. Cô ta không quên lấy cái nón xuống, giả vờ quạt vào mình để mấy người đứng chung quanh được thấy đôi hoa tai vàng của cô.
Đến trưa hôm ấy thì cô về đến nhà. Mấy cậu em đua nhau ra níu áo chị. Cô Thảo xoa đầu đứa này đỡ cằm đứa khác, nụ cười trên môi cô không khi nào tắt. Trông thấy mẹ trong nhà đi ra cô mừng quá. Cô chạy lại đứng bên mẹ cảm động quá đến rưng rưng nước mắt. Một lúc sau cô đưa thằng Lụn cho mẹ ẵm rồi đi thẳng vào nhà để chào những người quen biết.
Bà Vạn cứ quấn quít bên cháu, bên con quên cả ngày giờ. Bà giới thiệu cô Thảo với người này người khác, bà nhắc đến chuyện cô Thảo lúc cô còn năm sáu tuổi. Bà kể đến đoạn nào bà cũng có ý khoe cô Thảo đức hạnh và khôn ngoan đủ thứ. Bà nói mãi mà không biết chung quanh bà không ai nghe bà hết.
Sung sướng nhất là cô con gái có chồng về nhà mẹ. Cô Thảo tuy về giỗ ông nhưng không làm gì hết. Cô vào phòng mẹ nằm ngủ cả buổi chiều, mãi đến lúc gần cúng cô mới chịu đi ra ngoài.
Lúc cô đứng lễ thì ông Vạn, thân sinh cô, vuốt râu cười nói:
- Con phải lễ thế phần chồng con nữa. Nó làm gì bên ấy mà không qua.
Cô Thảo sau khi thụt lùi ra khỏi chiếu, mới khẽ đáp:
- Dạ, nhà con mắc việc quan.
Cô Khuê, chị em chú bác với cô Thảo, đứng gần đấy trề môi nói tiếp:
- Thứ đồ làm hương thơ mỗi năm ăn ba mẫu ruộng mà cũng gọi là việc quan.
Ai nấy đều nghe thấy nhưng không ai cãi lại. Ông Vạn đứng cúi đầu xuống hơi ngượng. Còn cô Thảo gương mặt đỏ bừng, quay đầu nhìn xuống bếp. Nhưng ngay lúc ấy cô lại gặp cặp mắt của mẹ đang nhìn cô chòng chọc. Cô đau lòng quá đến để hai dòng lệ chảy dài trên má.
Sáng hôm sau, cúng cơm sáng xong xuôi, cô Thảo lại sắm sửa đi qua làng Mỹ Lý. Cô gọi mấy đứa em đến gần rồi cho mỗi đứa năm xu. Trong nhà ai cũng khen cô rộng rãi và biết thương em, nên cô vui sướng lắm. Đang lúc cao hứng cô còn hứa sẽ gửi cho mẹ hai cặp quần áo mới để mặc Tết nữa. Nhưng chính cô cũng không biết sẽ lấy đâu ra hai cặp quần áo ấy. Chỉ trong nháy mắt cô Thảo đã phân phát tất cả số tiền cô đã dành dụm trong một năm.
[…]
Về nhà chồng, cô Thảo lại làm việc từ mai đến chiều, tối tăm cả mày mặt. Lúc nào cô cũng nhớ đến mẹ nghèo, đến em thơ, nhưng nhớ thì lòng cô lại bùi ngùi, trí cô lại bận rộn.\
Rồi chiều chiều gặp những lúc nhàn rỗi, cô lại ra đứng cửa sau vơ vẩn nhìn về làng Quận Lão. Nhưng làng Quận Lão ẩn sau đám tre xanh đã kéo một gạch đen dài trên ven đồi xa thẳm.
(Theo Tổng tập văn học Việt Nam, tập 33, NXB Khoa học xã hội, 2000,Tr.819-823)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định nhân vật trung tâm của câu chuyện.
Câu 2. Chỉ ra 1 biện pháp tu từ trong câu: “Còn họ gặp cô đi đằng xa đã kêu réo om sòm như gặp được người sống lại.”
Câu 3. Hãy nhận xét cách ứng xử của cô Thảo với gia đình và bà con lối xóm trong đoạn trích sau:
“Sáng hôm sau, cúng cơm sáng xong xuôi, cô Thảo lại sắm sửa đi qua làng Mỹ Lý. Cô gọi mấy đứa em đến gần rồi cho mỗi đứa năm xu. Trong nhà ai cũng khen cô rộng rãi và biết thương em, nên cô vui sướng lắm. Đang lúc cao hứng cô còn hứa sẽ gửi cho mẹ hai cặp quần áo mới để mặc Tết nữa. Nhưng chính cô cũng không biết sẽ lấy đâu ra hai cặp quần áo ấy. Chỉ trong nháy mắt cô Thảo đã phân phát tất cả số tiền cô đã dành dụm trong một năm”
Câu 4. Chi tiết: “Về nhà chồng, cô Thảo lại làm việc từ mai đến chiều, tối tăm cả mày mặt. Lúc nào cô cũng nhớ đến mẹ nghèo, đến em thơ, nhưng nhớ thì lòng cô lại bùi ngùi, trí cô lại bận rộn” góp phần khắc họa vẻ đẹp nào ở nhân vật cô Thảo?
Câu 5. Từ nội dung đoạn trích trên, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về ý kiến của Raxum-Gamzatov: Người ta chỉ có thể tách con người ra khỏi quê hương chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người (trình bày tối đa khoảng 7 dòng).
II. VIẾT
Câu 1:
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích những đặc sắc về nghệ thuật trong đoạn trích ở phần đọc hiểu.
Câu 2:
Nhà tâm lí học Edward de Bono- Người được mệnh danh là “Bậc thầy tư duy” qua cuốn “Sáu chiếc mũ tư duy” viết: “Mỗi chiếc mũ biểu thị một kiểu tư duy. Mỗi người lựa chọn cho mình một chiếc mũ nhất định. Nhưng người đó hoàn toàn có thể thay mũ khác. Những chiếc mũ cũng là những vật xung quanh mà ta thường thấy. Vì những lý do đó, tôi chọn chiếc mũ biểu thị hướng tư duy”.
Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề tư duy đa chiều trong cuộc sống hôm nay.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Đọc kỹ toàn bộ văn bản, xác định nhân vật xuất hiện xuyên suốt
Cách giải:
Nhân vật trung tâm của câu chuyện: cô Thảo
Câu 2:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ để xác định
Cách giải:
Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu Còn họ gặp cô đi đằng xa đã kêu réo om sòm như gặp được người sống lại là so sánh ''Cô Thảo'' − ''người sống lại''
Câu 3:
Phương pháp:
Tìm các chi tiết miêu tả hành động, lời nói của nhân vật và rút ra nhận xét
Cách giải:
Nhận xét cách ứng xử của Thảo: Cô Thảo luôn lễ phép, khéo léo, thân thiện và rộng rãi trong các mối quan hệ với gia đình và bà con lối xóm.
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích các phẩm chất được thể hiện qua hành động và suy nghĩ của nhân vật.
Cách giải:
Chi tiết: Về nhà chồng, cô Thảo lại làm việc từ mai đến chiều, tối tăm cả mày mặt. Lúc nào cô cũng nhớ đến mẹ nghèo, đến em thơ, nhưng nhớ thì lòng cô lại bùi ngùi, trí cô lại bận rộn góp phần khắc họa rõ nét vẻ đẹp của nhân vật Thảo:
+ Cô Thảo luôn làm tròn bổn phận của mình.
+ Cô Thảo là người: giàu tình cảm, hiếu thảo.
Câu 5:
Phương pháp:
Giải thích ngắn gọn ý kiến, liên hệ với văn bản và nêu bài học.
Cách giải:
Câu nói của Raxun Gamzatov đã khẳng định một chân lý sâu sắc: khoảng cách địa lý có thể chia cách con người với quê hương, nhưng không gì có thể xóa nhòa hình bóng quê hương trong tâm hồn mỗi người. Điều này được thể hiện rõ qua nhân vật cô Thảo. Dù đã lấy chồng xa, cuộc sống vất vả nơi làng Mỹ Lý, nhưng trong lòng cô lúc nào cũng canh cánh nỗi nhớ mẹ nghèo, em thơ. Niềm hân hoan khi được trở về, sự xúc động nghẹn ngào khi gặp lại mẹ, và cả nỗi tủi hổ, bùi ngùi khi rời đi - tất cả đều chứng minh rằng quê hương đã trở thành một phần máu thịt không thể tách rời trong cô. Dù có đi đâu, quê hương vẫn luôn là điểm tựa tinh thần vững chắc, là nguồn cội mà con người luôn hướng về.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
1. Giới thiệu đánh giá khái quát về nghệ thuật đoạn trích.
2. Phân tích những nét đặc sắc về phương diện nghệ thuật: cốt truyện dung dị, tự nhiên; trần thuật ở ngôi thứ ba điểm nhìn toàn tri; ngôn ngữ linh hoạt, đậm chất khẩu ngữ, giàu nhạc điệu; miêu tả tâm lí nhân vật sắc nét; giọng điệu nhẹ nhàng, thanh thoát, chan chứa yêu thương; chất trữ tình sâu lắng.
3. Khẳng định lại giá trị của đoạn trích, tài năng của tác giả.
Cách giải:
Đoạn trích trong Quê mẹ của Thanh Tịnh đã thể hiện những đặc sắc nghệ thuật nổi bật. Trước hết, cốt truyện được triển khai dung dị, tự nhiên như một lát cắt đời sống thôn quê, xoay quanh chuyến về quê giỗ ông của cô Thảo. Không có kịch tính lớn nhưng mỗi chi tiết đều góp phần khắc họa rõ nỗi niềm người phụ nữ lấy chồng xa, qua đó gợi xúc cảm sâu lắng. Tác giả sử dụng ngôi kể thứ ba với điểm nhìn toàn tri nên câu chuyện hiện lên khách quan, giàu tính quan sát; đồng thời vẫn theo sát tâm trạng nhân vật, giúp người đọc thấu hiểu hơn những rung động bên trong của cô Thảo. Ngôn ngữ trong đoạn trích linh hoạt, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày, đậm chất khẩu ngữ, tạo cảm giác chân thực như đang nghe một câu chuyện được kể ngay giữa làng quê. Nghệ thuật miêu tả tâm lí được thể hiện tinh tế: từ sự hồi hộp trước chuyến về quê, niềm vui gặp lại người thân đến nỗi tủi thân khi bị chê bai. Giọng điệu chung nhẹ nhàng, thanh thoát, chan chứa yêu thương, và chất trữ tình thấm đượm trong từng hình ảnh, từng câu văn. Chính sự giản dị mà sâu sắc ấy cho thấy tài năng của Thanh Tịnh trong việc viết về nông thôn Việt Nam với tất cả sự trìu mến và thấu hiểu.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài. Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề tư duy đa chiều trong cuộc sống hôm nay.
2. Thân bài.
2.1 Giải thích vấn đề:
Tư duy đa chiều là khả năng phân tích và đánh giá một vấn đề từ nhiều góc độ, quan điểm khác nhau. Nó giúp bạn nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, bao quát, từ đó đưa ra quyết định sáng suốt và giải quyết vấn đề hiệu quả.
2.2 Biểu hiện của tư duy đa chiều
- Việc cá nhân nhìn nhận sự việc một cách khách quan, công bằng, không áp đặt suy nghĩ của mình, lối sống, tình cảm cá nhân lên người khác.
- Không áp dụng cái nhìn của người khác lên sự việc mình cần nhìn nhận hoặc nếu áp dụng thì cũng cần áp dụng phù hợp.
- Thái độ bình tĩnh, khách quan khi xem xét, đánh giá, biết đặt mình ở nhiều vị trí khác nhau để đánh giá.
2.3 Ý nghĩa của tư duy đa chiều trong cuộc sống hôm nay.
- Sự đa chiều trong việc nhìn nhận một vấn đề sẽ giúp chúng ta có cách nhìn nhận tổng thể và chính xác nhất về vấn đề đó, từ đó có quyết định đúng đắn nhất.
- Tránh được những suy nghĩ chủ quan, thiên vị và sai lầm có thể xảy ra khi nhìn nhận vấn đề từ một góc độ.
- Việc học hỏi thêm những tri thức và kĩ năng mới từ những góc độ khác nhau giúp chúng ta dễ dàng đạt được thành công
- Giúp phát triển sáng tạo và tư duy linh hoạt, tăng khả năng thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển. Từ đó khiến các mối quan hệ gia đình và xã hội trở nên hài hoà hơn, cuộc sống bản thân tốt đẹp hơn.
2.4 Mở rộng, nâng cao vấn đề
- Phê phán cách nhìn vấn đề, sự vật một chiều, chủ quan.
- Không nhầm tưởng cái nhìn đa chiều với mượn cái nhìn của người khác để cùng đánh giá một vấn đề.
- Đề xuất những giải pháp để rèn luyện tư duy đa chiều: không ngừng học hỏi để hoàn thiện bản thân; khi nhìn nhận và đánh giả vấn đề cần bình tĩnh, cởi mở, khách quan có chính kiến….
3. Kết bài. Khẳng định lại ý nghĩa của vấn đề và nêu thông điệp.
Cách giải:
Trong thế giới phẳng và đa chiều ngày nay, khả năng tư duy linh hoạt trở thành chìa khóa then chốt để mỗi người trẻ thích nghi và tỏa sáng. Nhà tâm lý học Edward de Bono, "bậc thầy tư duy" với phương pháp "Sáu chiếc mũ tư duy", đã đưa ra một ẩn dụ sâu sắc: "Mỗi chiếc mũ biểu thị một kiểu tư duy... Vì những lý do đó, tôi chọn chiếc mũ biểu thị hướng tư duy". Từ góc nhìn của thế hệ trẻ, việc thấu hiểu và rèn luyện tư duy đa chiều không chỉ là một kỹ năng, mà còn là một thái độ sống cần thiết để hòa nhập và kiến tạo tương lai.
Vậy, tư duy đa chiều là gì? Đó là khả năng tiếp cận và phân tích một vấn đề từ nhiều góc nhìn, nhiều quan điểm khác nhau, thay vì chỉ bó hẹp trong một lăng kính duy nhất. Nó giống như việc chúng ta xoay một viên kim cương dưới ánh sáng, mỗi góc độ sẽ cho ta thấy một vẻ đẹp, một mặt cắt khác nhau. Người có tư duy đa chiều không vội vàng kết luận, mà luôn tìm kiếm, lắng nghe và đánh giá một cách khách quan, toàn diện. Họ biết đặt mình vào vị trí của người khác, thấu hiểu hoàn cảnh và cảm xúc để có cái nhìn thấu đáo hơn. Biểu hiện rõ nhất của lối tư duy này chính là thái độ bình tĩnh, cởi mở, không áp đặt suy nghĩ cá nhân lên người khác, và cũng không dễ dàng bị chi phối bởi những đánh giá phiến diện từ bên ngoài.
Trong bối cảnh xã hội hiện đại với vô vàn biến động và thách thức, tư duy đa chiều mang lại những ý nghĩa vô cùng to lớn. Trước hết, nó giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể và chính xác nhất về mọi vấn đề, từ đó đưa ra những quyết định sáng suốt. Trong học tập, khi phân tích một tác phẩm văn học, một sự kiện lịch sử, việc xem xét từ nhiều góc độ sẽ giúp ta hiểu sâu sắc hơn bản chất vấn đề. Trong công việc, một nhà lãnh đạo trẻ cần tư duy đa chiều để cân nhắc lợi ích của các bên, từ đó đưa ra chiến lược phù hợp. Thứ hai, tư duy đa chiều là nền tảng của sự sáng tạo và đổi mới. Khi ta không bị gò bó bởi một lối mòn, ta sẽ dễ dàng kết nối những ý tưởng tưởng chừng không liên quan để tạo ra những giải pháp độc đáo. Đặc biệt, trong thời đại 4.0, nơi thông tin đa dạng và đôi khi trái chiều, khả năng phân tích đa chiều giúp chúng ta tránh được những cái bẫy của tin giả, những định kiến xã hội và những quyết định cảm tính. Nó không chỉ giúp bản thân phát triển mà còn góp phần xây dựng các mối quan hệ gia đình, xã hội trở nên hài hòa, văn minh hơn, bởi chúng ta học được cách tôn trọng sự khác biệt.
Tuy nhiên, để thực sự sở hữu tư duy đa chiều, chúng ta cần nhận diện và vượt qua những rào cản. Đó là lối suy nghĩ một chiều, bảo thủ, chỉ nhìn nhận vấn đề theo cách của mình và cho rằng đó là chân lý duy nhất. Đó cũng có thể là sự áp đặt của đám đông, khiến chúng ta dễ dàng "a dua" theo số đông mà không dám có chính kiến. Cần phân biệt rõ, tư duy đa chiều không phải là việc mượn cái nhìn của người khác để đánh giá, mà là quá trình chủ động tiếp nhận, chắt lọc và hình thành nên quan điểm riêng của bản thân. Vậy, làm thế nào để rèn luyện kỹ năng quý giá này? Trước hết, hãy không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức từ nhiều lĩnh vực, vì tri thức là nền tảng của mọi sự suy ngẫm. Thứ hai, hãy tập thói quen đặt câu hỏi "Tại sao?" và "Nếu như...?" trước mọi sự việc. Quan trọng hơn cả, hãy giữ một tâm thế bình tĩnh, cởi mở và sẵn sàng thay đổi khi tiếp nhận những luồng thông tin mới.
Tóm lại, lời khuyên của Edward de Bono về "những chiếc mũ tư duy" chính là một bài học sâu sắc về sự linh hoạt trong tư duy. Đối với người trẻ, việc rèn luyện tư duy đa chiều không chỉ giúp chúng ta thích nghi với một thế giới đầy biến động, mà còn trang bị cho chúng ta khả năng dẫn dắt sự thay đổi đó.
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 8
Đề bài
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. PHẦN ĐỌC- HIỂU
Đọc đoạn trích:
Tóm tắt bối cảnh: Vào một chiều hè, “tôi” và bé Vin rủ nhau bẫy cò để bắt cò về chơi. “Tôi” đã làm một cái bẫy đặt ở cánh đồng. Khi chúng tôi định tháo bẫy vì không bắt được con cò nào thì có hai mẹ con nhà Cò Bợ sà xuống. Cò Bợ con đã lao về phía con cá mồi trong bẫy.
[…] Chiếc cần tre bật nhẹ cùng tiếng reo của tôi và bé Vin:
- Sập bẫy rồi!
Tôi nắm tay bé Vin chạy thục mạng về phía con vật đang vỗ cánh bành bạch. Cả đàn cò trắng bay vùng lên, kêu náo loạn. Cò Bợ mẹ bay thấp hơn, đau đớn gào to: “Cứu con tôi với! …”. Trong khi đó Cò Bợ con bị sợi cước thít vào cổ giẫy giụa tuyệt vọng. Thấy chúng tôi, nó vùng bay lên và ngay lập tức lại rơi bịch xuống, toàn thân bê bết bùn. Nhìn cảnh đó, bé Vin bỗng tái mặt, đầu gối díu vào nhau. Tôi đành vào tháo bẫy một mình. Tiếng con cò mẹ càng gào thảm thiết. Cò Bợ con chừng đã mệt, hai cánh áp xuống đất, mắt lóe lên như hai giọt nước, sợ run cầm cập. Đến lượt chân tôi khuỵu xuống. Tôi thấy rõ tiếng van xin của Bợ con: “Tôi van cậu! Cậu cũng là trẻ con, cũng có lúc dại dột. Tôi xin cậu”. Chắc nó đang nghĩ đến mẹ nó. Đêm nay mẹ nó sẽ khóc hết nước mắt. Rồi chỉ vài hôm nữa thế nào cũng thấy xác một con Cò Bợ mẹ chết ủ rũ vì mất con. Tôi không kịp nghĩ gì cả, ngồi thụp xuống, gỡ nút thòng lọng rồi ôm con vật tung bổng lên trời. Thoạt đầu Bợ con loạng quạng bay như diều đứt dây. Lát sau nó lấy lại được tư thế và hai mẹ con nó dìu nhau bay về phía làng.
Cả tôi và bé Vin đều ngửa cổ nhìn theo cho đến khi đàn cò chỉ còn lại như những chấm đen in lên hoàng hôn đỏ rực.
Bé Vin, mặt vẫn tái mét, im lặng bước theo tôi. Bỗng nó ngồi thụp xuống, khóc òa lên. Tôi phải dỗ nó:
- Vin giận anh à?
Nó nói trong tiếng nức nở:
- Con cò…sẽ gẫy cổ mất…Thế nào mẹ nó cũng đánh nó vì tội dại dột…Hấc! Hấc…
Tôi phải cam đoan với bé Vin con cò chỉ hơi đau, nó mới chịu nín. Nó bám tay áo tôi, vừa đi vừa quệt nước mắt.
Từ hôm sau, cứ chiều đến chúng tôi tìm một bãi cỏ nằm chờ từng đàn chim trở về. Thỉnh thoảng bé Vin lại đứng ngẩn người, lo lắng nhìn hút theo một con chim lạc bầy, vừa chấp chới bay vừa kêu thảm thiết.
(Trích Bẫy cò, Tạ Duy Anh, Báo Văn học & Tuổi trẻ,
số tháng 5 (382+383) năm 2017, NXB Giáo dục Việt Nam, trang 87,88,89)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định tình huống truyện.
Câu 2. Tìm những chi tiết miêu tả hình ảnh Cò Bợ con khi vừa sập bẫy.
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật nhân hóa trong những câu văn sau: Tôi thấy rõ tiếng van xin của Bợ con: “Tôi van cậu! Cậu cũng là trẻ con, cũng có lúc dại dột. Tôi xin cậu”.
Câu 4. Chi tiết Tôi không kịp nghĩ gì cả, ngồi thụp xuống, gỡ nút thòng lọng rồi ôm con vật tung bổng lên trời gợi cho anh/chị những suy nghĩ gì?
Câu 5. Qua đoạn trích, anh/chị rút ra được bài học gì về cách ứng xử của con người với thiên nhiên?
II. PHẦN VIẾT
Câu 1: Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật bé Vin qua văn bản trong phần Đọc hiểu.
Câu 2:
"Nghịch cảnh có thể mài sắc bạn nếu bạn có đủ ý chí để vượt qua nó" (Ray Kroc). Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề trên.
HẾT
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC- HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để xác định cao trào của tác phẩm truyện
Cách giải:
Tình huống truyện: Nhân vật tôi và bé Vin đi bẫy cò. Dù Cò Bợ con đã sập bẫy nhưng cuối cùng nhân vật tôi đã thả Cò Bợ con đi.
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để tìm trong văn bản các chi tiết miêu tả hình ảnh Cò Bợ con khi vừa sập bẫy
Cách giải:
- Những chi tiết miêu tả hình ảnh Cò Bợ con khi vừa sập bẫy
+ bị sợi cước thít vào cổ giẫy giụa tuyệt vọng
+ vùng bay lên và ngay lập tức lại rơi bịch xuống, toàn thân bê bết bùn.
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ nhân hóa để phân tích tác dụng
Cách giải:
- Tác dụng:
+ Làm cho cách diễn đạt sinh động, hấp dẫn, gợi cảm xúc.
+ Nhấn mạnh đến nỗi tuyệt vọng và lời cầu cứu thảm thiết của Cò Bợ con. Tác giả thể hiện sự đồng cảm, xót thương trước mọi sinh thể sống trong tự nhiên cho dù loài vật thì nó cũng có cảm xúc giống như con người.
Câu 4:
Phương pháp:
Căn cứ vào chi tiết để đưa ra nhận xét và bày tỏ suy nghĩ cá nhân
Cách giải:
- Chi tiết Tôi không kịp nghĩ gì cả, ngồi thụp xuống, gỡ nút thòng lọng rồi ôm con vật tung bổng lên trời: Nhân vật tôi hành động thả Cò Bợ con một cách dứt khoát, không do dự.
- Chi tiết gợi suy nghĩ:
+ Nhân vật tôi là người dứt khoát; biết nhận ra hậu quả của trò chơi tinh nghịch của mình; có lòng nhân ái và thấu cảm với loài vật.
+ Chúng ta cần có tinh thần nhân văn khi ứng xử với các loài vật nói riêng và tự nhiên nói chung.
Câu 5:
Phương pháp:
-Gợi ý một số bài học:
+ Cần trân trọng tự nhiên.
+ Cần có những hành động bảo vệ tự nhiên.
+ Cần xây dựng môi trường tự nhiên đa dạng và phong phú.
Cách giải:
Qua đoạn trích, ta rút ra được bài học sâu sắc về cách ứng xử giữa con người và thiên nhiên: đó là sự tôn trọng và yêu thương muôn loài. Hành động bẫy cò xuất phát từ trò chơi của những đứa trẻ đã vô tình gây ra nỗi đau và sự hoảng sợ cho sinh linh bé nhỏ, và chính sự đồng cảm, ăn năn đã khiến chúng thay đổi hành động. Bài học này nhắc nhở chúng ta rằng thiên nhiên không phải là đối tượng để chinh phục hay giải trí, mà là một thế giới sống động cần được bảo vệ. Mỗi hành động dù nhỏ của chúng ta cũng có thể tác động đến sự sống ấy, vì vậy, hãy sống có trách nhiệm, biết nâng niu và gìn giữ sự hài hòa với môi trường tự nhiên.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
1. Nêu được diễn biến tâm trạng của nhân vật bé Vin của đoạn truyện.
Tham khảo gợi ý sau:
- Tâm trạng bé Vin đã trải qua nhiều biến đổi phức tạp, từ sự háo hức, mong chờ giây phút bắt được con mồi, đến sự đau lòng, thương xót và hối hận khi thấy con cò giãy giụa kêu cứu, là sự lo lắng khi nghĩ đến việc con Cò Bợ sẽ bị gẫy cổ, bị mẹ đánh và cuối cùng là tâm trạng đợi chờ, trông ngóng khi những đàn chim bay trở về.
2. Chỉ ra được những biểu hiện diễn biến tâm trạng của nhân vật bé Vin.
Có thể nêu một số biểu hiện sau:
- Cậu ấy tỏ ra rất phấn khích và vui vẻ trước thành quả của mình.
- Bé Vin bất an, lo lắng về sự đau đớn về thể xác của cò con và sự đau đớn về tinh thần của cò mẹ.
- Cậu ăn năn, hối lỗi, day dứt trước hành động của mình gây ra cho cò con.
- Bé Vin đồng cảm mà xót thương cho số phận của cò con.
3. Nêu được ý nghĩa của sự thay đổi nêu trên.
Tham khảo gợi ý sau:
- Đây là bước ngoặt trong sự phát triển nhân cách, đánh dấu sự hình thành ý thức trách nhiệm và tình yêu thiên nhiên của nhân vật.
- Câu chuyện gửi gắm thông điệp nhân văn về sự đồng cảm, tình yêu thương và ý thức trân trọng bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống.
Cách giải:
Trong đoạn trích "Bẫy cò", diễn biến tâm trạng của nhân vật bé Vin được khắc họa vô cùng tinh tế và chân thực, cho thấy một hành trình cảm xúc phức tạp từ sự hồn nhiên, vô tư đến sự thức tỉnh của lòng trắc ẩn. Ban đầu, Vin hiện lên là một đứa trẻ ngây thơ, háo hức với trò bẫy cò. Tiếng reo "Sập bẫy rồi!" cất lên đầy phấn khích chính là khoảnh khắc đỉnh cao của niềm vui thích trẻ con ấy. Thế nhưng, niềm vui ấy nhanh chóng tan biến khi cậu chứng kiến hậu quả mà trò chơi mang lại. Hình ảnh Cò Bợ con "giẫy giụa tuyệt vọng", toàn thân "bê bết bùn" cùng tiếng kêu đau đớn của cò mẹ đã khiến Vin "tái mặt, đầu gối díu vào nhau". Những biểu hiện sinh động ấy cho thấy một cú sốc tâm lí, nỗi sợ hãi và sự thương xót đang dâng trào trong lòng cậu bé. Cảm xúc ấy càng được đẩy lên cao trào khi cậu "ngồi thụp xuống, khóc òa lên" không phải vì giận anh, mà vì lo sợ cho số phận của chính con cò: "Con cò...sẽ gẫy cổ mất… Thế nào mẹ nó cũng đánh nó vì tội dại dột…". Nỗi ám ảnh ấy không dừng lại ở đó, mà còn theo Vin cả những ngày sau, khi cậu "đứng ngẩn người, lo lắng" mỗi lần thấy một con chim lạc đàn. Sự thay đổi trong tâm trạng của Vin không chỉ dừng lại ở cảm xúc nhất thời, mà đã trở thành một bài học nhân sinh sâu sắc, đánh dấu sự trưởng thành trong nhận thức của một tâm hồn trẻ thơ biết đồng cảm, biết yêu thương và biết trân trọng mọi sự sống quanh mình.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận: "Nghịch cảnh có thể mài sắc bạn nếu bạn có đủ ý chí để vượt qua nó"
2. Thân bài.
2.1. Biết giải thích:
- "Nghịch cảnh" là những khó khăn, trắc trở, thử thách,… mà con người phải đối mặt trong cuộc sống; chính nghịch cảnh "mài sắc" con người, giúp ta trau dồi bản lĩnh, nâng cao khả năng thích nghi và phát triển bản thân. Nhưng điều kiện tiên quyết là phải có đủ "ý chí để vượt qua nó" - tức là sự kiên trì, lòng quyết tâm và tinh thần không bỏ cuộc. Như vậy, câu nói gửi gắm ý nghĩa sâu sắc: chính nghịch cảnh và ý chí vượt qua nghịch cảnh sẽ tôi luyện con người trở nên mạnh mẽ, kiên cường hướng đến giá trị trọn vẹn trong cuộc sống. Điều này càng có ý nghĩa đặc biệt đối với tuổi trẻ.
2.2. Nêu được những ý cơ bản về nghịch cảnh và ý chí có thể “mài sắc” bạn:
- Nghịch cảnh đặt con người vào những tình cảnh, những trắc trở mà ta chưa hề đối mặt bao giờ. Vì thế, nó kích thích chúng ta khả năng ứng biến, tìm cách tháo gỡ để vượt qua.
- Nghịch cảnh cùng với ý chí sẽ “mài sắc” ta:
+ Khi đối mặt với nghịch cảnh, người có ý chí sẽ kiên cường, tự tin đối mặt, chấp nhận thất bại, không dễ dàng nản lòng, từ đó trở nên vững vàng trước mọi sóng gió cuộc đời.
+ Nghịch cảnh là bài học quý giá giúp con người trưởng thành, ý chí trước nghịch cảnh giúp con người tiến xa hơn trong cuộc sống.
2.3. Hơn nữa tuổi trẻ: nhạy bén, năng động, sáng tạo, ham học hỏi, dám nghỉ, dám làm, dám chịu trách nhiệm,…đây là một ưu thế để tuổi trẻ nhanh chóng vượt qua nghịch cảnh, tôi rèn ý chí mà hướng đến giá trị tốt đẹp.
- Lấy được dẫn chứng và phân tích dẫn chứng để làm rõ (….)
2.4. Biết mở rộng, nâng cao vấn đề
- Mở rộng, bày tỏ quan điểm trái chiều, hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện hơn:
+ Có những người, đặc biệt là người trẻ khi đối mặt với khó khăn, nghịch cảnh lại mất đi niềm tin vào bản thân, từ bỏ ước mơ và buông xuôi số phận.
+ Một số khác lại đổ lỗi cho hoàn cảnh, không chịu thay đổi để thích nghi và phát triển.
- Đề xuất những giải pháp để vượt qua nghịch cảnh.
3. Kết bài: Khẳng định lại quan điểm cá nhân và rút ra bài học cho bản thân đặc biệt là tuổi trẻ trong thời đại ngày nay
Cách giải:
Cuộc sống chưa bao giờ là một con đường bằng phẳng, mà luôn ẩn chứa những khó khăn, thử thách bất ngờ. Chính trong những hoàn cảnh ấy, con người mới thực sự bộc lộ bản lĩnh và sức mạnh nội tại của mình. Câu nói của Ray Kroc: "Nghịch cảnh có thể mài sắc bạn nếu bạn có đủ ý chí để vượt qua nó" đã khẳng định giá trị tôi luyện của nghịch cảnh và vai trò quyết định của ý chí con người. Đối với thế hệ trẻ trẻ vẫn đang trên hành trình khẳng định bản thân, đây chính là kim chỉ nam để vượt qua mọi thử thách.
Nghịch cảnh là những hoàn cảnh trái ngang, khó khăn, thất bại mà con người phải đối mặt trong cuộc sống. Đó có thể là những thất bại trong học tập, những khó khăn trong công việc, hay những mất mát, tổn thương trong cuộc sống. "Mài sắc" ở đây có nghĩa là giúp chúng ta trở nên sắc bén, mạnh mẽ, kiên cường và trưởng thành hơn. Còn "ý chí" chính là nghị lực, là quyết tâm, là sự kiên trì không từ bỏ giữa những khó khăn. Như vậy, câu nói muốn nhấn mạnh rằng nghịch cảnh không đáng sợ, mà trái lại, nó chính là cơ hội để con người rèn giũa bản thân, với điều kiện tiên quyết là phải có ý chí mạnh mẽ.
Tại sao nghịch cảnh lại có thể "mài sắc" con người? Bởi lẽ, nghịch cảnh chính là ngôi trường vĩ đại nhất của cuộc đời. Khi đối mặt với khó khăn, chúng ta buộc phải vượt ra khỏi vùng an toàn, phải tìm cách giải quyết vấn đề, từ đó trở nên dạn dày và tự tin hơn. Mỗi lần vấp ngã là một lần chúng ta nhận ra điểm yếu, những sai lầm của bản thân, từ đó có cơ hội điều chỉnh và hoàn thiện chính mình. Không có thành công nào mà không trải qua thất bại, không có hạnh phúc nào mà không nếm trải những đắng cay. Chính nghịch cảnh giúp chúng ta trân trọng hơn những giá trị đích thực và bồi đắp cho mình sự kiên nhẫn, lòng dũng cảm.
Tuy nhiên, nghịch cảnh tự thân nó không thể phát huy tác dụng nếu thiếu đi ý chí của con người. Ý chí chính là ngọn đèn dẫn đường, giúp chúng ta không lạc lối giữa những khó khăn. Khi có ý chí, con người sẽ tìm ra lối thoát, dù trong hoàn cảnh tưởng chừng như bế tắc nhất. Ý chí là sức mạnh nội tâm giúp chúng ta đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. Chính ý chí kiên cường đã giúp ông thành công trong việc phát minh ra bóng đèn điện, thay đổi cả thế giới. Trong thời đại ngày nay, chúng ta cũng chứng kiến rất nhiều bạn trẻ đã biến những thất bại ban đầu thành động lực để khởi nghiệp, biến những áp lực thành đam mê để theo đuổi ước mơ.
Đối với thế hệ trẻ chúng ta, câu nói của Ray Kroc mang đến những bài học quý giá. Trước hết, chúng ta cần dám đối mặt với nghịch cảnh, không lảng tránh hay sợ hãi. Hãy xem mỗi khó khăn là một cơ hội để trưởng thành. Thứ hai, chúng ta cần rèn luyện ý chí kiên cường từ những việc nhỏ nhất trong cuộc sống: hoàn thành mục tiêu học tập, kiên trì theo đuổi đam mê, dũng cảm vượt qua những giới hạn của bản thân. Quan trọng nhất là luôn giữ cho mình thái độ lạc quan và niềm tin vào bản thân. Dù nghịch cảnh có lớn đến đâu, chỉ cần chúng ta có ý chí, chắc chắn sẽ tìm ra cách để vượt qua và trở nên mạnh mẽ hơn.
Câu nói của Ray Kroc thực sự là một chân lý sâu sắc về cuộc sống. Nghịch cảnh không phải là dấu chấm hết, mà là bước ngoặt giúp con người trở nên kiên cường hơn. Đối với tuổi trẻ - những người mang trong mình sức mạnh và khát vọng, hãy xem nghịch cảnh như một viên đá mài giũa để ý chí thêm sắc bén, để bản lĩnh thêm vững vàng.
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 9
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
Phần I. Đọc hiểu
VỊNH MÙA ĐÔNG
(Nguyễn Công Trứ)
Nghĩ lại thì trời vốn cũng sòng,
Chẳng vì rét mướt bỏ mùa đông.
Mây về ngàn Hống đen như mực,
Gió lọt rèm thưa lạnh tựa đồng.
Cảo mực hơi may ngòi bút rít,
Phím loan cưởi nhuộm sợi tơ chùng.
Bốn mùa ví những xuân đi cả,
Góc núi ai hay sức lão tùng.
(Thơ văn Nguyễn Công Trứ, NXB Văn học, 1983)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định thể thơ trong văn bản trên.
Câu 2. Chỉ ra những đặc điểm của cảnh vật mùa đông được tác giả khắc họa trong bài thơ.
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ sau:
Mây về ngàn Hống đen như mực,
Gió lọt rèm thưa lạnh tựa đồng.
Câu 4. Anh (chị) hiểu như thế nào về hình ảnh lão tùng giữa mùa đông?
Câu 5. Viết đoạn văn ngắn (khoảng 7 - 10 dòng) nêu suy nghĩ về ý nghĩa của việc dám đương đầu với khó khăn, thử thách trong cuộc sống.
Phần II. Viết
Câu 1. Qua bài thơ “Vịnh mùa đông”, hãy nhận xét về cốt cách nhà nho Nguyễn Công Trứ thể hiện trong tác phẩm.
Câu 2. Có ý kiến cho rằng “Kỳ vọng của cha mẹ là động lực cho con, nhưng cũng có thể là áp lực nếu kì vọng quá lớn”.
Theo em, học sinh nên làm gì khi cha mẹ có những kì vọng quá cao về mình? Viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) trình bày suy nghĩ của mình.
HẾT
Đáp án
Đáp án:
Phần I. Đọc hiểu
Câu 1.
Phương pháp:
Căn cứ vào các đặc điểm hình thức để xác định thể thơ
Cách giải:
Bài thơ được viết theo thể thơ Thất ngôn bát cú
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để chỉ ra các chi tiết phù hợp
Cách giải:
Những đặc điểm của cảnh vật mùa đông được tác giả khắc họa trong bài thơ:
+ mây về đen như mực
+ gió lọt rèm
+ lạnh tựa đông
+ cào mực hơi bay
+ ngòi bút rít
Câu 3.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các biện pháp tu từ để phân tích tác dụng
Cách giải:
- Biện pháp tu từ: So sánh “đen như mực”, “lạnh tựa đồng”
- Tác dụng:
+ Các hình ảnh so sánh cụ thể, giàu tính tạo hình đã khắc họa sinh động và rõ nét cái lạnh khắc nghiệt, âm u của mùa đông.
+ Làm nổi bật bức tranh thiên nhiên dữ dội và thể hiện tâm trạng con người.
Câu 4.
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản để phân tích hình ảnh lão tùng giữa mùa đông
Cách giải:
Hình ảnh lão tùng trong mùa đông được miêu tả như một góc núi cô đơn, u buồn và chịu đựng sức lão hóa của thời gian. Bức tranh mùa đông với mây đen như mực, gió lạnh thấu xương được sử dụng để tạo nên hình ảnh ẩn dụ về sự cô đơn của lão tùng giữa không gian mùa đông.
Câu 5.
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản và liên hệ bản thân
Cách giải:
Cuộc sống luôn chứa đựng những khó khăn, thử thách như một phần tất yếu. Việc dám đương đầu với chúng chính là thước đo của bản lĩnh và sự trưởng thành. Khi ta can đảm đối mặt, ta sẽ có cơ hội khám phá ra sức mạnh tiềm ẩn của bản thân, rèn luyện ý chí và nghị lực. Mỗi lần vượt qua một thử thách, ta lại cảm thấy tự tin và trưởng thành hơn. Ngược lại, nếu chỉ biết trốn tránh, chúng ta sẽ mãi là kẻ yếu đuối, không bao giờ có thể phát triển toàn diện. Hơn thế, chính những lúc gian nan ấy sẽ tôi luyện cho chúng ta một tinh thần thép, một khả năng thích nghi tuyệt vời, giúp ta vững vàng hơn trước những sóng gió của cuộc đời. Hãy xem khó khăn như một người thầy khắc nghiệt nhưng vĩ đại, vì nó dạy cho ta những bài học quý giá mà sự bình yên không thể mang lại.
Phần II. Viết
Câu 1.
Phương pháp:
Gợi ý:
* Mở bài:
Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nêu cảm nhận chung về cốt cách nhà nho của Nguyễn Công Trứ
* Thân bài:
- Ung dung, tự tại:
+ Thái độ "Chẳng vì rét mướt bỏ mùa đông"
+ Xem khó khăn là lẽ tự nhiên, không oán trách
- Bản lĩnh kiên cường trước nghịch cảnh:
+ Hình ảnh "lão tùng" biểu tượng cho khí phách
+ Sức sống bền bỉ dù "xuân đi cả"
+ Khí tiết vững vàng giữa giá rét cuộc đời
- Tâm hồn thi nhân tinh tế:
+ Cảm nhận tinh tế cái lạnh qua nhiều giác quan
+ Miêu tả sinh động: mây đen, gió lạnh, bút rít, tơ chùng
* Kết bài:
- Khẳng định vẻ đẹp cốt cách
Cách giải:
Bài thơ "Vịnh mùa đông" không chỉ là một bức tranh thiên nhiên về mùa đông lạnh giá mà còn là một bức chân dung tinh thần đầy khí phách của nhà nho Nguyễn Công Trứ. Trước hết, ông thể hiện một cái nhìn sòng phẳng, chấp nhận quy luật tự nhiên của tạo hóa: "Nghĩ lại thì trời vốn cũng sòng, Chẳng vì rét mướt bỏ mùa đông". Đó là tư tưởng "thuận thiên" nhưng không phải là thụ động, mà là sự chủ động, bình thản đón nhận mọi hoàn cảnh, kể cả những điều khắc nghiệt nhất. Ẩn sau bức tranh mùa đông với mây đen, gió lạnh, ngòi bút rít, sợi tơ chùng là hình ảnh một con người phải trải qua những tháng ngày gian truân, thử thách. Thế nhưng, điểm sáng nhất làm nên cốt cách Nguyễn Công Trứ chính là hình ảnh "lão tùng" ở cuối bài. Cây tùng già giữa mùa đông giá rét tượng trưng cho khí tiết cứng cỏi, sức sống mãnh liệt và bản lĩnh kiên cường. Dù bốn mùa như đã mất hết sức xuân, thì "góc núi" kia vẫn còn đó sức sống bền bỉ của "lão tùng". Đó chính là biểu tượng cho phẩm chất cao đẹp của nhà nho: thủ tiết, trung trực, dám đương đầu và đứng vững giữa nghịch cảnh. Qua đó, Nguyễn Công Trứ gửi gắm một triết lý nhân sinh sâu sắc: cuộc đời dù có lắm gian nan, nhưng chỉ cần giữ được khí phách, tâm hồn kiên định như cây tùng già, con người ta sẽ luôn tìm thấy sức mạnh để vượt qua tất cả.
Câu 2.
Phương pháp:
* Mở bài:
- Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề nghị luận
- Trích dẫn ý kiến được đưa ra ở đề bài
* Thân bài:
- Giải thích:
+ Kì vọng là gì?
+ Giải thích quan điểm
- Thực trạng của vấn đề đối với học sinh
- Nguyên nhân của sự kì vọng của cha mẹ dành cho con cái
- Tác hại của việc cha mẹ kì vọng quá cao về con cá
- Rút ra bài học nhận thức và hành động
- Mở rộng vấn đề, trao đổi ý kiến khác/trái chiều
- Rút ra bài học
* Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề nghị luận và rút ra thông điệp phù hợp
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong hành trình trưởng thành, mỗi đứa con đều mang trong mình những ước mơ, khát vọng và đôi khi, cả những gánh nặng vô hình từ kỳ vọng của cha mẹ. Những kỳ vọng ấy tựa như ngọn đèn soi sáng con đường phía trước, khuyến khích con bước đi. Nhưng khi kỳ vọng trở thành áp lực đè nặng trên vai, hành trình ấy bỗng chốc mệt mỏi, chênh vênh và mất đi sự tự do vốn có. Làm thế nào để giữ vững niềm tin, để không lạc lối giữa những mong đợi quá lớn của cha mẹ và ước mơ riêng của bản thân? Đó là câu hỏi mà mỗi học sinh cần tìm cho mình một lời giải đáp để vừa vững bước trên con đường của mình, vừa giữ gìn sự yêu thương và thấu hiểu giữa đôi bên.
Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ về "kỳ vọng". Đó là niềm tin, sự mong đợi mà người khác đặt vào một ai đó với hy vọng họ sẽ đạt được một điều gì lớn lao hoặc tốt đẹp trong tương lai. Kỳ vọng của cha mẹ, ở một mức độ phù hợp, là một nguồn động viên quan trọng, giúp con cái cố gắng phát huy khả năng bản thân. Thế nhưng, khi kỳ vọng ấy trở nên quá lớn, vượt xa khả năng và nguyện vọng thực tế của con, nó sẽ biến thành một gánh nặng tâm lý khổng lồ, gây ra áp lực, lo âu và làm mòn mỏi sự tự tin.
Thực trạng này không hề hiếm gặp trong xã hội ngày nay. Nhiều học sinh đang phải gánh trên vai những kỳ vọng nặng nề từ gia đình về thành tích học tập, về một ngôi trường danh giá, hay một nghề nghiệp được xem là "ổn định". Áp lực vô hình ấy đẩy không ít bạn trẻ vào tình trạng căng thẳng triền miên, sợ hãi thất bại, thậm chí là trầm cảm. Có những ước mơ, sở thích cá nhân phải khép lại để nhường chỗ cho một lộ trình khuôn mẫu mà cha mẹ đã vẽ sẵn, dẫn đến một thế hệ trẻ mệt mỏi và mất phương hướng. Nguyên nhân của những kỳ vọng ấy thường xuất phát từ tình yêu thương và mong muốn con có một tương lai tốt đẹp hơn. Cha mẹ, với những trải nghiệm và lo lắng của riêng mình, đôi khi vô tình đặt lên vai con cái những mục tiêu mà họ cho là tối ưu, như một cách để bảo vệ con khỏi những vấp ngã. Tuy nhiên, hậu quả để lại thật đáng buồn: mối quan hệ gia đình trở nên căng thẳng, khoảng cách thế hệ ngày một xa, và quan trọng nhất, con cái đánh mất đi quyền được sống với đam mê và năng lực thật của chính mình.
Vậy, học sinh chúng ta nên làm gì khi đối mặt với tình huống này? Trước tiên, hãy chân thành đối thoại với cha mẹ. Sự im lặng chịu đựng chỉ khiến mọi thứ tồi tệ hơn. Hãy tìm một thời điểm thích hợp, dùng những lời lẽ bình tĩnh và tôn trọng để chia sẻ với cha mẹ về những áp lực mình đang gánh chịu, về ước mơ, sở thích và khả năng thực sự của bản thân. Khi cha mẹ hiểu được tâm tư của con, họ sẽ có cơ hội điều chỉnh kỳ vọng để phù hợp hơn. Thứ hai, mỗi học sinh cần tự xác định rõ mục tiêu và năng lực của chính mình. Dù cha mẹ có kỳ vọng thế nào, chúng ta phải là người hiểu rõ bản thân mình nhất. Hãy đặt ra những mục tiêu vừa sức, có kế hoạch rõ ràng và từng bước chinh phục chúng. Việc chứng minh cho cha mẹ thấy sự nghiêm túc và trách nhiệm với tương lai của chính mình bằng hành động cụ thể sẽ có sức thuyết phục hơn bất kỳ lời nói nào. Nếu cuộc trò chuyện trực tiếp gặp khó khăn, đừng ngần ngại tìm kiếm sự hỗ trợ từ thầy cô, người thân hoặc các chuyên gia tâm lý. Họ có thể trở thành cầu nối đáng tin cậy, giúp cha mẹ có cái nhìn khách quan và thấu hiểu hơn.
Cần phân biệt rõ ràng giữa "kỳ vọng" và "áp đặt". Kỳ vọng chân chính xuất phát từ tình yêu thương và niềm tin, nó khuyến khích ta vươn lên. Ngược lại, áp đặt là sự ép buộc, bắt ta phải đi trên một con đường có sẵn, bất chấp ước mơ và khả năng. Cũng có ý kiến cho rằng: "Không có kỳ vọng của cha mẹ thì con cái khó thành công". Điều này chỉ đúng một phần. Kỳ vọng là một yếu tố hỗ trợ, nhưng không phải là chìa khóa duy nhất. Thành công thực sự và bền vững phải được xây dựng từ chính niềm đam mê, sự nỗ lực tự thân và khát vọng của mỗi người. Áp lực quá lớn đôi khi sẽ làm thui chột đi sự sáng tạo và khả năng tư duy độc lập, biến con cái thành những cỗ máy thụ động thay vì những cá nhân tự chủ.
Từ đó, mỗi học sinh chúng ta cần rút ra bài học cho riêng mình. Hãy chủ động mở lòng, tâm sự với cha mẹ nhiều hơn để họ thực sự hiểu mình. Cần dũng cảm lên tiếng khi cảm thấy những kỳ vọng đang vượt quá giới hạn, nhưng đồng thời phải không ngừng nỗ lực học tập và rèn luyện để chứng minh rằng mình là một người con có trách nhiệm, có chính kiến. Chỉ khi nào chúng ta sống thật với đam mê và năng lực của mình, chúng ta mới có thể tỏa sáng theo cách trọn vẹn nhất.
Kỳ vọng của cha mẹ tựa như bầu trời, nếu nó đủ rộng và thoáng đãng, con cái sẽ bay cao và bay xa hơn. Nhưng nếu bầu trời ấy chỉ là một khung cửa nhỏ hẹp, đôi cánh của con sẽ dễ dàng va chạm và đau đớn. Bởi vậy, khi đối mặt với những kỳ vọng quá cao, học sinh cần dũng cảm đối thoại, sẻ chia và bày tỏ nguyện vọng của mình một cách chân thành. Chỉ có sự thấu hiểu và đồng cảm mới có thể xoa dịu áp lực và biến kỳ vọng thành động lực. Khi ấy, hành trình trưởng thành sẽ không còn là cuộc chiến giữa đôi bờ mong đợi, mà sẽ là khúc ca đồng điệu của yêu thương và hy vọng.
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 10
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
Phần I. Đọc hiểu
NGẬM NGÙI
Nắng chia nửa bãi, chiều rồi..
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu.
Sợi buồn con nhện giăng mau,
Em ơi! Hãy ngủ.. anh hầu quạt đây.
Lòng anh mở với quạt này,
Trăm con chim mộng về bay đầu giường.
Ngủ đi em, mộng bình thường!
Ru em sẵn tiếng thuỳ dương mấy bờ…
Cây dài bóng xế ngẩn ngơ..
- Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?
Tay anh em hãy tựa đầu,
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi..
(Ngậm ngùi, 1940- Lửa thiêng - Huy Cận)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Nhân vật trữ tình trong bài thơ trên là ai?
Câu 2. Tìm 3 từ trong bài thơ bộc lộ cảm xúc của nhân vật trữ tình.
Câu 3. Nhận xét về cảnh vật được miêu tả trong bài thơ.
Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong hai câu thơ:
Tay anh em hãy tựa đầu,
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi...
Câu 5. Câu thơ: "Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?" cho em hiểu điều gì?
Phần II. Viết
Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá bài thơ “Ngậm ngùi” và một bài thơ của Huy Cận mà em đã được học hoặc em biết.
HẾT
Đáp án
Phần I. Đọc hiểu
Câu 1:
Phương pháp:
Xác định đại từ xưng hô được sử dụng trong văn bản chỉ ra nhân vật trữ tình
Cách giải:
Nhân vật trữ tình trong bài thơ trên là "anh" - cái tôi tác giả.
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để xác định các từ ngữ trong bài thơ thể hiện cảm xúc của nhân vật trữ tình
Cách giải:
Ba từ trong bài thơ bộc lộ cảm xúc của nhân vật trữ tình: rầu, buồn, thương đau (hoặc: sầu, ngẩn ngơ ).
Câu 3:
Phương pháp:
Căn cứ vào các chi tiết mô tả thiên nhiên để đưa ra những nhận xét
Cách giải:
- Cảnh vật: Nắng chia nửa bãi, chiều, vườn hoang, lá rầu, cây dài bóng xế.
- Nhận xét: Cảnh vật tĩnh lặng, quạnh hiu, hoang vắng, gợi buồn.
Câu 4:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ để nhận biết và phân tích tác dụng
Cách giải:
- Biện pháp tu từ: Ẩn dụ (ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: "Trái sầu" - bình thường "trái" được cảm nhận bằng thị giác, ở đây được cảm nhận bằng tâm trạng)
- Tác dụng:
+ Làm cho câu thơ tang tính gợi hình, gợi cảm, sinh động, hấp dẫn
+ Giúp cho người đọc cảm nhận rõ rệt hơn về nỗi buồn thương đang diễn ra trong tâm hồn nhân vật trữ tình.
Câu 5:
Phương pháp:
Đọc kĩ câu thơ để phân tích ý nghĩa
Cách giải:
Câu thơ: "Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?" cho em hiểu:
- Người con gái trong bài thơ đã từng phải trải qua nhiều đau thương, bi thảm. Tâm hồn cô là cả một khối u buồn.
- Thể hiện sự trân trọng nâng niu của những tâm hồn đồng điệu khi đến với nhau, sự cảm thông chia sẻ giữa hai linh hồn cùng nặng trĩu đau thương, cùng cô đơn giữa cõi thế.
Phần II. Viết
Câu 1:
Phương pháp:
Dàn ý tham khảo:
I. Mở bài
- Giới thiệu 2 tác phẩm, 2 tác giả
- Nêu cảm nhận chung về 2 tác phẩm
II. Thân bài
* Điểm tương đồng
- Cảm hứng chủ đạo: Nỗi buồn, sự cô đơn
+ "Tràng giang": Nỗi buồn mênh mang, vô tận trước không gian "trời rộng sông dài". Đó là nỗi sầu của một "cái tôi" nhỏ bé, lạc lõng giữa vũ trụ ("Bèo dạt về đâu hàng nối hàng").
+ "Ngậm ngùi": Nỗi buồn man mác, xót xa trước sự trôi chảy của thời gian và sự phai tàn của tuổi trẻ, tình yêu ("Nắng chia nửa bãi, chiều rồi...", "Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?").
- Chất liệu thiên nhiên và không gian:
+ Cả hai bài đều sử dụng thiên nhiên như một phương tiện để biểu đạt tâm trạng.
+ Thiên nhiên trong cả hai bài đều gợi cảm giác mênh mông, chia lìa, phôi pha.
- Âm hưởng chung: Đều mang âm hưởng trầm buồn, da diết, phù hợp với cái tôi thơ Mới lãng mạn đương thời.
* Điểm khác biệt (Sự độc đáo riêng của mỗi bài thơ)
a. Quy mô và tầm vóc của nỗi buồn:
+ "Tràng giang": Nỗi buồn vũ trụ, siêu hình: Không gian được mở ra theo chiều kích vô cùng: "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp", "Lớp lớp mây cao đùn núi bạc". Nỗi buồn không cụ thể, mà là nỗi buồn về kiếp người nhỏ nhoi, cô độc trước cái vô biên. Câu kết "Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà" nâng nỗi buồn lên thành nỗi sầu nhân thế, mang tính triết lý.
+ "Ngậm ngùi": Nỗi buồn nhân sinh, trần thế: Nỗi buồn gắn với những gì cụ thể, gần gũi hơn: cuộc chia ly của đôi lứa, sự phai tàn của tuổi trẻ và sắc đẹp ("Em ngậm ngùi, có nghe niên thiếu trôi?"). Đây là nỗi buồn về một mối tình, một thân phận con người trong vòng xoáy của thời gian.
b. Đối tượng và giọng điệu:
- "Tràng giang":
+ Đối tượng: Thiên nhiên vũ trụ (sông, sóng, mây, chim, trời...).
+ Giọng điệu: Trầm hùng, trang trọng, bàng bạc và thăm thẳm. Cái "tôi" đối diện với vũ trụ.
- "Ngậm ngùi":
+ Đối tượng: Con người ("em", "anh" – một mối quan hệ tình cảm).
+ Giọng điệu: Thủ thỉ, tâm tình, đầy tiếc nuối và ngậm ngùi. Cái "tôi" hướng vào một mối quan hệ và những cảm xúc cá nhân.
c. Hình ảnh và ngôn ngữ thơ:
- "Tràng giang":
- Hình ảnh kì vĩ, lớn lao, có tính tạo hình mạnh mẽ: "thuyền về nước lại", "củi một cành khô", "bèo dạt về đâu", "mây cao đùn núi bạc".
- Ngôn ngữ trang trọng, cổ kính, giàu chất Đường thi.
- "Ngậm ngùi":
- Hình ảnh gần gũi, tinh tế, đậm chất tượng trưng: "Nắng chia nửa bãi", "Vườn hoang trinh nữ xếp đầy cửa chết", "Hoa khuê các, bướm giang hồ".
- Ngôn ngữ giản dị, hiện đại hơn, giàu nhạc tính (sử dụng thể thơ lục bát biến hóa).
d. Triết lý được gửi gắm:
- "Tràng giang": Triết lý về sự nhỏ bé, cô đơn của con người trong vũ trụ; tình yêu quê hương đất nước thầm kín.
- "Ngậm ngùi": Triết lý về sự phù du của đời người, sự mong manh của tình yêu và tuổi trẻ trước sự tàn phá của thời gian.
* Đánh giá chung
- "Tràng giang" là bức tranh tâm trạng mang tầm vóc lớn, là "bài ca về cái hữu hạn của kiếp người trước cái vô hạn của vũ trụ". Nó xứng đáng là một trong những bài thơ hay nhất của phong trào Thơ mới.
- "Ngậm ngùi" là một bản tình ca buồn, thấm đẫm chất nhân văn. Nó thể hiện vẻ đẹp tinh tế và sự cảm nhận sâu sắc của Huy Cận trước những thay đổi của lòng người và quy luật cuộc sống.
- Cả hai bài thơ đều cho thấy tài năng và phong cách độc đáo của Huy Cận: một hồn thơ sầu mộng nhưng luôn ẩn chứa những suy tư sâu sắc về con người và cuộc đời. Sự kết hợp giữa chất cổ điển và hiện đại được thể hiện nhuần nhuyễn trong cả hai tác phẩm.
III. Kết bài
- Khẳng định lại giá trị riêng biệt và vẻ đẹp độc đáo của từng bài thơ và tài năng của hai tác giả.
Cách giải:
Trong hành trình thơ ca của mình, Huy Cận đã để lại cho đời một “Lửa thiêng” rực cháy với những vần thơ sầu mộng mà triết lí. Ở đó, “Tràng giang” và “Ngậm ngùi” nổi lên như hai viên ngọc sáng, mỗi bài một vẻ, cùng biểu đạt nỗi buồn đặc trưng của “cái tôi” Thơ mới nhưng lại mang đến những dư vị và ám ảnh riêng khó quên.
Cả hai bài thơ đều là sự cất lên từ nỗi buồn, nỗi cô đơn thấm đẫm trong tâm hồn thi nhân. “Tràng giang” mở ra một nỗi buồn “điệp điệp” trước không gian “trời rộng sông dài”, nơi con người thấy mình thật nhỏ bé, lạc lõng giữa vũ trụ bao la qua hình ảnh “củi một cành khô lạc mấy dòng”. “Ngậm ngùi” cũng chứa chan một nỗi buồn man mác, xót xa trước sự trôi chảy của thời gian và sự phai tàn của tuổi trẻ, tình yêu: “Nắng chia nửa bãi, chiều rồi…”. Cảm hứng chủ đạo ấy được bồi đắp bởi chất liệu thiên nhiên gợi cảm. Thiên nhiên trong cả hai bài đều không đơn thuần là ngoại cảnh mà là tâm cảnh, là phương tiện để biểu đạt những u hoài, chia lìa. Và trên hết, cả hai thi phẩm đều mang âm hưởng trầm buồn, da diết, rất tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận nói riêng và phong trào Thơ mới nói chung.
Thế nhưng, đi sâu vào từng tác phẩm, ta lại thấy rõ những nét độc đáo riêng không thể trộn lẫn. Trước hết là sự khác biệt về quy mô và tầm vóc của nỗi buồn. Nếu “Tràng giang” là nỗi buồn vũ trụ, siêu hình với không gian được mở ra theo chiều kích vô cùng “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc”, thì “Ngậm ngùi” lại là nỗi buồn nhân sinh, trần thế, gắn với cuộc chia ly của đôi lứa và nỗi đau cụ thể trong tâm hồn: “Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?”. Nỗi buồn trong “Tràng giang” khiến con người nhỏ bé trước cái vô biên, còn nỗi buồn trong “Ngậm ngùi” lại khiến con người thổn thức trước những mất mát, phai tàn rất đỗi đời thường.
Sự khác biệt ấy dẫn đến sự khác biệt trong đối tượng và giọng điệu. “Tràng giang” hướng đến thiên nhiên vũ trụ với giọng điệu trầm hùng, trang trọng. Nhân vật trữ tình ở đây là một cái “tôi” cô đơn, đối diện với cái mênh mông của tạo vật. Ngược lại, “Ngậm ngùi” hướng đến con người với giọng điệu thủ thỉ, tâm tình, đầy vỗ về: “Em ơi! Hãy ngủ… anh hầu quạt đây”. Cái “tôi” trong “Ngậm ngùi” không đối diện với vũ trụ mà hòa vào một mối quan hệ để sẻ chia, giãi bày.
Hình ảnh và ngôn ngữ thơ cũng là điểm tạo nên dấu ấn riêng cho mỗi bài. “Tràng giang” sử dụng những hình ảnh kì vĩ, lớn lao trong một ngôn ngữ trang trọng, đậm chất Đường thi. Trong khi đó, “Ngậm ngùi” lại chọn những hình ảnh gần gũi, tinh tế và đậm chất tượng trưng (“sợi buồn con nhện giăng mau”, “trái sầu rụng rơi”) qua thể thơ lục bát biến hóa mềm mại, giàu nhạc tính. Từ đó, mỗi bài gửi gắm một triết lí riêng: “Tràng giang” là suy tư về thân phận con người nhỏ bé trong vũ trụ và tình yêu quê hương thầm kín; còn “Ngậm ngùi” là chiêm nghiệm về sự mong manh của tình yêu, nỗi đau trước sự tàn phá của thời gian.
Có thể nói, “Tràng giang” là bản hòa ca trầm hùng về nỗi sầu vạn kỷ, là bài ca về cái hữu hạn của kiếp người trước cái vô hạn của vũ trụ. Còn “Ngậm ngùi” là khúc tình ca buồn, thấm đẫm chất nhân văn, thể hiện sự tinh tế của một tâm hồn luôn rung cảm sâu sắc trước những biến thái của lòng người. Cả hai bài thơ, với những vẻ đẹp riêng biệt, đã khẳng định tài năng của Huy Cận - một nhà thơ không chỉ biết nói những nỗi buồn vũ trụ kỳ vĩ mà còn rất tinh tế trong những rung động nhân sinh giản dị. Chúng như hai mặt của một tâm hồn, cùng góp phần làm nên sự bất tử cho hồn thơ Huy Cận trong “Lửa thiêng”.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP12
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
