Đề thi giữa kì 1 Ngữ Văn 12
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 1
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
BƠ VƠ
(chương 2, Bỉ vỏ, Nguyên Hồng)
Tóm tắt tiểu thuyết “Bỉ vỏ”
Bính là cô gái nghèo làng Sòi. Vì nhẹ dạ, yêu một gã Tham đạc điền và bị hắn bỏ rơi giữa lúc bụng mang dạ chửa, cô bị cha mẹ hắt hủi, đay nghiến và đứa bé sinh ra phải đem bán đi vì sợ làng bắt vạ. Đau đớn, Bính trốn nhà đi Hải Phòng mong tìm được người tình nhưng lại rơi vào nhà chứa của mụ Tài sẽ cấu. Sống ê chề, cực nhục ở nơi bẩn thỉu hội hám, Bính ốm nặng.
Bính toan tự tử nhưng được Năm Sài Gòn, trùm lưu manh ở Hải Phòng, chuộc ra khỏi nhà chứa, chăm sóc hết lòng. Nhưng rồi Năm bị bắt. Thế là, bất đắc dĩ, Bính trở thành một “bỉ vỏ” – người đàn bà ăn cắp. Do một sự hiểu lầm và ghen tuông, Năm Sài Gòn đuổi Bính đi. Bính về Nam Định, gồng thuê gánh mướn kiếm ăn. Được tin bố mẹ ở quê gặp tai hoạ có thể bị tù, Bính không còn cách nào khác, đã phải nhận lời lấy một viên mật thám để có tiền gửi về cứu bố mẹ.
Năm Sài Gòn bị bắt bởi chính tay người chồng Bính. Không chút do dự, cô đã lẻn xuống trại giam, mở khoá cứu Năm rồi cùng y đi trốn. Kết cục bi thảm đã đến: một lần, Năm cướp được một đứa bé đeo vòng vàng trên tàu thuỷ. Bính hốt hoảng nhận ra đó chính là đứa con mà bao lâu Bính nhớ thương. Nhưng nó đã chết! Giữa lúc đó, đội xếp, mật thám ập vào, Năm và Bính đều bị bắt.
Đoạn trích sau là chương 2 của tác phẩm
(1) Hải Phòng. Lần này là lần đầu tiên Bính bước chân đến một tỉnh ồn ào đông đúc, khác hẳn chốn quê mùa vắng vẻ. Bính trốn đi, sau đêm ấy đến nay đã
được bốn hôm. Bốn hôm dài quá chừng! [..]
Món tiền sáu hào chắt bóp ngót nửa năm trời đã dùng để trả tiền ăn tiền tàu từ Nam ra Phòng mất bốn hào. Còn hai hào thì vừa vặn ăn uống trong hai hôm nay. Bính hoang mang, cúi gằm mặt trong dải đường nhựa lấp lánh bóng trăng nhấc từng bước một.
Bính đi như thế không cần biết rồi sẽ đi tới đâu, miễn cho qua một đêm. Lúc này Bính bỗng hồi hộp, bối rối lạ thường. Những bụm cọ đen thẫm, ù ù lộng gió ở vườn hoa sông Lấp gợi trong trí Bính bao nhiêu hình dung quái gở. Bính tưởng con đường Bính đi tối tăm hoang vắng như cảnh một bãi tha ma. Những cành xoan xao động và những cành tre là ngọn bên những ngôi mộ chơ vơ mới đắp. Những tàu lá cọ to sùm suề giống những mớ tóc người điên hay thắt cổ.
Bính bật kêu khe khẽ:
- Biết làm sao đêm nay?!
Bính lại thấy đêm lạnh và dài lắm, một thân gái quê mùa đi bỡ ngỡ lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này, gặp những sự không may lạ thường. Nếu Bính không khéo gìn giữ, biết đâu đêm nay chẳng sẽ là cái đêm bắt đầu một cuộc đời khốn nạn nhơ nhuốc khác mà dù cực nhục chừng nào, Bính cũng phải cắn răng chịu, chứ không thể quay về quê nhà được. Bính thở dài. Mấy hôm nay tai tiếng chắc đã đồn đi khắp làng trên làng ngoài. Thế nào họ chẳng bảo lại vì mê giai, theo giai mà bỏ nhà đi. Cái tiếng theo giai đó là một sự nhơ nhuốc không sự nhơ nhuốc nào bằng. Vì người ta hiểu rằng: giai là một đứa xỏ xiên chỉ phá hoại trinh tiết người đàn bà, còn kẻ theo nó phải là một con đĩ thoã vô cùng.
Bính đã đi qua Sáu kho. Hôm nay các tàu chạy hết. Trên sông chỉ còn thấp thoáng mấy ánh lửa leo lét, chập chờn của dăm chiếc thuyền con đỗ đằng xa.
(2) Thốt nhiên Bính dừng bước, trong một phút Bính tưởng như là bến Sòi quê Bính. Bính ngẩng đầu bỡ ngỡ nhìn, lắng tai nghe: tiếng đọc kinh đâu đây nhẹ nhàng vang trước gió lạnh, réo rắt và thấm thía... Sự hồi tưởng ấy làm Bính cảm thấy rõ rệt bố mẹ mình là giả dối. Bính ghê sợ cho sự “nguyện ngắm” hàng ngày
chỉ dùng che mắt thế gian. Phải, chỉ che mắt thế gian thôi! Nay đi xưng tội, mai đi chịu lễ, sáng sớm nào cũng có mặt ở nhà thờ, đêm nào cũng thức tới mười một, mười hai giờ để đọc kinh, hỏi để làm gì?
Thì cũng như trăm nghìn gia đình chỉ ngoan đạo bề ngoài, gia đình Bánh bao năm được người làng khen là êm ấm đáng làm mẫu mực nhưng thực chẳng có
lấy một chút gì yên vui, thuận hoà, đạo đức bên trong. Cha mẹ Bính cắn rứt nhau luôn, vì thiếu thốn, chửi mắng hành hạ Bính luôn vì Bính không như ai giảo hoạt, tinh ranh trong sự cạnh tranh khách đi đò và buôn bán mua rẻ bán đắt tôm cá của các thuyền chài lưới quen thuộc. Hơn nữa, Bính không biết mưu tính các cách gian lận với những khách gửi hàng để lo cho mình có cái bộ cánh mà nhà không sao sắm sửa được vì ruộng đất cày cấy không có, ngoài mảnh vườn chỉ được cái rau ăn còn đều trông vào con đò thì phải sinh sống rất khôn ngoan xoay giờ đủ mặt. Những điều này đã làm Bính suy nghĩ và đau lòng.
Bính buồn bã lắc đầu rồi giơ tay làm “dấu” đoạn thầm thì cầu kinh. “Lạy Cha chúng tôi ở trên giời, xin Cha cho chúng tôi hàng ngày dùng đủ và tha nợ cho chúng tôi như chúng tôi đã tha kẻ có nợ chúng tôi... Thì Chúa sẽ ban ơn cho tôi giữ đạo nên ở đời này cho ngày sau được lên nước thiên đàng vui vẻ đời đời....
(3) Gió sông càng ù ù, sương càng mù mịt. Bính đọc hết năm chục kinh, làm “dấu”, đoạn khép chặt tà áo vào người rồi rảo bước. Chợt có tiếng người gọi:
- Cô kia đi đâu?
Bính không dám quay lại trả lời cứ lùi lũi đi nép vào rặng cây bên đường. Một
chiếc xe tay đâm xô lại, chắn lấy lối đi, tiếp đến những tiếng cười ran:
- “Săn” kì được “mẻng” ấy cho tao.
Bính tránh hẳn sang bên kia, gằm mặt xuống xốc lại cái đẫy vải đeo sau lưng. Một người đàn ông vận quần áo lót kẻ sòng sọc rất chải chuốt và tóc bóng lộn, ngồi trên xe nom trõ mặt vào mặt Bính, Bính quay mặt ra chỗ khác. Người ấy kéo vạt áo Bính, ngọt ngào hỏi:
– Cô định tìm ai ở đây?
Bính hoảng hốt chực chạy. Nhưng chung quanh Bính năm chiếc xe đã vây kín, Bính kêu lên:
- Ô kìa!
Tên ngồi xe nhại lại, cười sặc sụa. Dáng điệu ngây thơ của Bính bảo rõ với bọn này rằng Bính là một gái quê mới ra tỉnh lần đầu và là một gái quê xinh đẹp hẳn hoi. Thật vậy, dưới ánh đèn điện, mắt Bính lấp lánh chớp luôn, đôi má mũm mĩm ửng hồng chúng trông ngon lành quá.
Một gã kéo xe nhưng tóc mai cũng xén nhọn và để dài như thằng ngồi xe, mặc hai gã khác ngồi trên xe ngăn lại không cho, rồi gã vận quần áo lót kẻ sòng sọc áo trắng là cổ bẻ và ngoài khoác áo tây vàng toan giằng lấy khăn vuông Bính, song hai gã khác ngồi trên xe ngăn lại không cho, rồi gã vận quần áo lót kẻ sòng sọc mượn cớ nhảy xuống bíu lấy vai Bính. Bính kêu thất thanh. Thừa cơ hai cái xe chạy đi đón khách dưới thuyền lên, Bính liền lẩn nhanh ra chỗ khác. Đám xe rãn cả, tản mỗi nơi một chiếc. Còn Bính, Bính đi ngược lên phố vì Bính nhận thấy nếu cứ lang thang, bơ vơ ở những chỗ đường vắng thì thế nào cũng còn bị chòng ghẹo.
Được một quãng có nhà cửa thì lại đến quãng vườn hoang. Những bụi cây là mù trước những ngọn đèn điện bóng mờ hiện ra trước mắt Bính làm trống ngực Bính lại đập thình thịnh. Chợt Bính lạnh toát cả người, quay đầu nhìn về đằng sau; một bóng người đương rảo gót như đuổi Bính. Bính đi nhanh hơn. Người theo sau cũng bước gấp, phút chốc hắn đi sát cạnh Bính và khẽ nói:
– Cô! Cô chậm bước chứ để tôi ngỏ câu chuyện này.
Nhời nói êm đềm khiến Bính bớt sợ, Bính đưa mắt nhìn thì đó là người ngồi trên xe ban nãy nhưng đã thay quần áo khác, Bính im lặng nhìn bộ y phục lạ lùng của hắn: cái áo dạ tím bó chẹt lấy lưng, hai ống quần lướt thướt như bằng lụa thì buông chùng quá gót, cái mũ dạ mới lạ làm sao, lóng lánh một chiếc tên mạ kém như dấu hiệu của lính. Bính chợt nhớ đến cái hạng công tử cũng kiểu ăn mặc như thế này những ngày hội đầu năm vùng Bính bọn chúng thường kéo về chớt nhả gái làng. Bính vội quay đi.
Hắn chẳng còn do dự, nắm ngay cánh tay Bính, cặp mắt sáng lên khác thường
– Cô đi đâu bây giờ? Đi một mình mà không buồn à?
Bính thót người lại hết sức giăng tay ra, nhưng hắn đã bá lấy cổ Bính, hôn vào má Bính đánh chụt một cái. Đường vắng vẻ quá, gió thổi lào xào trong những bụm cọ lù mù, vành trăng lại bị mây đen che đi.
Hắn bế xốc Bính lên, mặc Bính giãy giụa the thé van lơn, chạy vào trong vườn. Bính phải kêu thét lên nhưng gió thổi mạnh đánh bạt cả tiếng Bính đi.
Trong chớp mắt hắn dằn Bính xuống vệ cỏ...
Bỗng một đoàn xe đạp xăm xăm từ đằng xa tới, đèn xe kéo dài những vệt sáng rung động trên đường nhựa, có một ngọn soi chõ vào vườn như tìm tới.
Bính vội gào to:
- Các ông ơi! Cứu tôi với! Cứu tôi với!
Chẳng để Bính kêu thêm, hắn hốt hoảng buông Bính ra rồi chạy thẳng. Bính choáng váng mừng rỡ, nhặt mau cái đẫy vải lăn trên bãi cỏ chạy ra đường. Gió thổi mạnh. Mấy người ngồi xe đạp chẳng nghe thấy gì, song họ đều ngẩng đầu tò mò trông khi Bính trong vườn xô ra. Bính cố giữ tự nhiên, lẳng lặng rảo bước một lát tới đầu phố. Trống ngực Bính vẫn đập rộn. Cảnh vật vẫn u ám! Bính len lét đến trước một cái hiên rộng, ngồi thở. Đồng hồ ở trong nhà vắng lên mười một tiếng.
(4) Đường sá càng vắng tanh, vắng ngắt. Bính rùng mình. Đêm nay đối với Bính mới dài và cực nhục làm sao! Còn ê chề, cay đắng hơn cả một năm lam lũ! Bính nép người bên góc tường, gục mặt vào bàn tay, tê tái những cảm xúc đau xót sôi nổi trong lòng. Bính càng mỏi mệt, ròng rã một ngày, Bính đi không mấy lúc nghỉ chân. Đã thế lại vừa phải chống cự với thằng đểu kia nên hai đầu gối Bính mỏi dừ, bụng cồn cào ngâm ngẩm đau. Gió đêm như ru, Bính chợp mặt thiu thiu ngủ.
Bỗng không biết từ đâu đưa tới tiếng trẻ con khóc oe oe giống tiếng mèo gào vang động cả trời khuya.
Bính mở choàng mắt, chợt nhớ đến đứa con thơ chưa đầy tháng, tại cha mẹ Bính cay nghiệt, tại cái tục lệ quái ác mà Bính phải xa nó, xa nó không biết bao giờ lại được ôm nó trong lòng. Bính vừa cất tiếng khóc rưng rức thì tiếng khóc kia nín bặt, Bính vụt nghĩ đến đứa bé kia khóc thế nào chả có người vỗ về ru cho bú, còn con Bính thân phận con nuôi con mày, giá đêm khát sữa, thì dù có được chiều chuộng mấy chăng nữa cũng khó mà được bú đêm. Ấy là không kể đến người nuôi dỗ mãi không nín thì thế nào chả phát nó năm bẩy chiếc phát cho bõ cái bực tức bị thức giấc.
(Nguyên Hồng, Bỉ vỏ, NXB Văn học 1985)
(*) Tên văn bản do nhóm biên soạn đặt.
*Nguyên Hồng (1918 – 1982), tên khai sinh Nguyễn Nguyên Hồng, là một nhà văn, nhà thơ. Ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (1910). Vì có một tuổi thơ vô cùng bất hạnh, cay đắng nên ngay từ những tác phẩm đầu tay, Nguyên Hồng đã hướng ngòi bút về những người nghèo khó gần gũi mà ông yêu thương với một sự cảm thông sâu sắc, với tâm hồn của một người từng trải.
Câu 1. Đọc tóm tắt tiểu thuyết và văn bản Bơ vơ để xác định những đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại (0,5đ)
Câu 2. Tóm tắt nội dung văn bản Bơ vơ theo các đoạn đã đánh số và cho biết: Đoạn trích này có vị trí như thế nào đối với việc phản ánh số phận, cuộc đời của Tám Bính? (0,5đ)
Câu 3. Vì sao Bính phải bỏ nhà ra đi (Hãy gắn đoạn trích với phần tóm tắt để lí giải)? Lý do này có ý nghĩa như thế nào? (1đ)
Câu 4. Đọc đoạn số 1,3 và trả lời câu hỏi a,b (1đ)
a. Tình cảnh hiện tại của Tám Bính cơ cực như thế nào?
b. Cô ấy có nhận thức được cảnh ngộ của mình không? Điều này có ý nghĩa gì?
Câu 5. Điều gì khiến Tám Bính nhớ về quê hương và gia đình? Cô nhớ về điều gì nhiều nhất? Đoạn văn bản viết về nỗi nhớ quê của Bính được thuật kể từ điểm nhìn nào? Điểm nhìn đó có vai trò gì đối với văn bản đọc? (1đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Cảm nhận của em về nhân vật Tám Bính trong văn bản đọc hiểu Bơ vơ. Từ đó, nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật và xác định cảm hứng, phong cách sáng tác của văn bản đọc hiểu (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2đ)
Câu 2. (4đ)
Em có đồng tình với việc bỏ nhà ra đi của Tám Bính không? Hiện tượng này có sảy ra với thanh niên hiện nay không? Em hãy biết bài luận (600 chữ) thể hiện chính kiến của mình về hiện tượng này
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 1
Câu 1. (0,5đ)
|
Câu 1. Đọc tóm tắt tiểu thuyết và văn bản Bơ vơ để xác định những đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Nội dung phản ánh hiện thực trong phạm vi không gian thời gian rộng lớn: cuộc đời của Tám Bính khi là cô gái trẻ đến khi vào tù; Không gian làng quê và Hải Phòng
- Nhân vật: Nhiều nhân vật thuộc gia đình làng quê, Tám Bính và xã hội – nơi diễn ra cuộc đời lang bạt của Tám Bính. Phản ánh trọn vẹn số phận của Tám Bính: mở đầu là sự lỡ dở (sinh đứa con không cha, kết thúc bi đát là vào tù)
- Cốt truyện với vô số sự kiện về cuộc đời Tám Bính: Tám Bính bỏ nhà đi, vào nhà chứa, Năm Sài Gòn đuổi Bính đi, cô lấy một viên mật thám để có tiền gửi về cứu bố mẹ, Tám Bính cứu Năm Sài Gòn cùng y đi trốn. Kết thúc: chứng kiến con chết, bản thân bị bắt.
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Tóm tắt nội dung văn bản Bơ vơ theo các đoạn đã đánh số và cho biết: Đoạn trích này có vị trí như thế nào đối với việc phản ánh số phận, cuộc đời của Tám Bính? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Tóm tắt:
+ Đoạn 1: Bính bỏ nhà đi đã 4 ngày và vẫn bơ vơ, lo lắng ở Hải Phòng
+ Đoạn 2: Bính nhớ về làng Sòi, về nhà với bao nỗi cay đắng
+ Đoạn 3: Bính bị trêu ghẹo, ăn hiếp nơi phố thị
+ Đoạn 4: Bính bơ vơ, buồn bã và trào lên nỗi thương nhớ con
- Đoạn trích ở phần đầu tiểu thuyết có vai trò mở đầu số phận của nhân vật tiểu thuyết: Tám Bính bỏ nhà ra đi và bắt đầu chuỗi ngày cơ cực tại Hải Phòng, cho số phận khốn cùng của cô
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Vì sao Bính phải bỏ nhà ra đi (Hãy gắn đoạn trích với phần tóm tắt để lí giải)? Lý do này có ý nghĩa như thế nào? (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Lí do Bính phải bỏ nhà ra đi:
+ Bố mẹ Bính là người độc ác: chửi rủa Bính; bán con của Bính để lấy tiền tiêu
+ Bính không thể chịu đựng được dư luận, sự đả kích ngay chính quê nhà mình
- Lí do này có giá trị nhân đạo sâu sắc:
+ Tố cáo sự tàn độc của tư tưởng cổ hủ, những con người bất nhân (bố mẹ Bính) đã đẩy Bính vào con đường cùng (khiến Bính hư hỏng sau này)
+ Bênh vực, cảm thông với nỗi khổ của Bính, người con gái nông thôn cả tin này không thể chống đỡ được những cạm bẫy của xã hội
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Đọc đoạn số 1,3 và trả lời câu hỏi a,b (1đ) a. Tình cảnh hiện tại của Tám Bính cơ cực như thế nào? b. Cô ấy có nhận thức được cảnh ngộ của mình không? Điều này có ý nghĩa gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 1 và 3
Lời giải chi tiết:
a. Tình cảnh hiện tại của Tám Bính:
- Bỏ nhà quê ra phố, hết tiền: Món tiền sáu hào chắt bóp ngót nửa năm trời đã dùng để trả tiền ăn, tiền tàu từ Nam Định ra Phòng mất bốn hào. Còn hai hào thì vừa vặn ăn uống trong hai hôm nay; lang thang trong đêm bị trêu ghẹo, sàm sỡ,…
- Bế tắc, hoang mang tột độ: Bính đi như thế không cần biết rồi sẽ đi tới đâu: “Biết làm sao đêm nay?! Bính lại thấy đêm lạnh và dài lắm”
b. Cô nhận thức được cảnh ngộ của mình:
- Một thân gái quê mùa bỡ ngỡ lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này, gặp những sự không may là thường
- Việc mình bỏ đi sẽ đồn khắp làng: theo trai, đĩ thõa,…
- Ý nghĩa: Bính- cô gái trẻ bất lực, bế tắc trước hoàn cảnh, ý thức được cảnh ngộ nhưng không thể thoát được cảnh ngộ ấy; việc Tám Bính sẽ liên tiếp gặp tai ương trong cuộc đời là tất yếu → tố cáo, lên án xã hội đẩy con người vào cảnh ngộ khốn cùng
Câu 5 (1 điểm)
|
Câu 5. Điều gì khiến Tám Bính nhớ về quê hương và gia đình? Cô nhớ về điều gì nhiều nhất? Đoạn văn bản viết về nỗi nhớ quê của Bính được thuật kể từ điểm nhìn nào? Điểm nhìn đó có vai trò gì đối với văn bản đọc? (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về điểm nhìn
Lời giải chi tiết:
- Điều khiến Tám Bính nhớ quê: tiếng đọc kinh đâu đây nhẹ nhàng vang trước gió lạnh, réo rắt và thấm thía,…
- Nhớ về gia đình, cha mẹ:
+ Gia đình chẳng có lấy một chút gì yên vui, thuận hòa, đạo đức. Cha mẹ Bính luôn cắn rứt nhau vì thiếu thốn;
+ Chửi mắng hành hạ Bính vì Bính không biết mưu tính gian lận
+ Bố mẹ mình là giả dối, che mắt thế gian
- Đoạn được thuật kể từ điểm nhìn bên trong của nhân vật
- Vai trò của đoạn: khắc họa tâm lí nhân vật, nỗi đau khổ của cô gái trẻ, lí giải việc Tám Bính phải bỏ nhà ra đi, phản ánh một chặng đường đời của nhân vật chính
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2 điểm)
|
Cảm nhận của em về nhân vật Tám Bính trong văn bản đọc hiểu Bơ vơ. Từ đó, nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật và xác định cảm hứng, phong cách sáng tác của văn bản đọc hiểu (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các chi tiết xây dựng nhân vật để phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật và phong cách sáng tác
Lời giải chi tiết:
Triển khai viết: văn bản có 3 đoạn nhỏ hoặc đoạn lớn (đảm bảo đủ các nội dung
mà câu hỏi đã yêu cầu).
- Xác định một số đặc điểm nổi bật của nhân vật:
+ Cô gái hiền lành chân chất của thôn quê (không như ai giảo hoạt, tinh ranh).
+ Cô gái chịu nhiều đau khổ (cha mẹ mắng chửi, phải bỏ nhà ra đi,...); giàu tình yêu thương (yêu nhớ đứa con khôn nguôi).
+ Cô gái có những đánh giá về con người cuộc sống (Bố mẹ mình là giả dối, che mắt thế gian; đọc kinh, hỏi để làm gì?; một thân gái quê mùa đi bỡ ngỡ lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này,...).
+ Lâm vào tình cảnh bế tắc. (Học sinh tự lấy dẫn chứng)
(Học sinh có thể phân tích ngắn gọn 2–3 đặc điểm nổi bật của nhân vật và có
dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp.)
– Nghệ thuật xây dựng nhân vật: chú trọng diễn biến tâm lí qua độc thoại nội
tâm, hồi ức,... một số hành động)
- Cảm hứng và phong cách sáng tác của tác phẩm.
+ Cảm hứng thương cảm, phê phán.
+ Phong cách hiện thực. (Học sinh tự lấy dẫn chứng).
Câu 2. (4đ)
|
Em có đồng tình với việc bỏ nhà ra đi của Tám Bính không? Hiện tượng này có sảy ra với thanh niên hiện nay không? Em hãy biết bài luận (600 chữ) thể hiện chính kiến của mình về hiện tượng này |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Em có đồng tình với việc bỏ nhà ra đi của Tám Bính không? Hiện tượng này có sảy ra với thanh niên hiện nay không? Em hãy biết bài luận (600 chữ) thể hiện chính kiến của mình về hiện tượng này |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề nghị luận (xác định vấn đề của tuổi trẻ) - Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ |
|
Thân bài |
3,0 |
* Thái độ đối với việc bỏ nhà ra đi của Tám Bính - Tóm tắt ngắn gọn hành động, lí do Tám Bính bỏ nhà ra đi (suy nghĩ về bố mẹ và gia đình) - Phân tích ngắn gọn hậu quả trong hiện tại, tương lai (căn cứ vào số phận của Tám Bính qua tiểu thuyết Bỉ vỏ) - Thể hiện thái độ đồng tình/ không đồng tình * Hiện tượng bỏ nhà đi của thanh niên ngày nay - Một bộ phận hành xử thiếu suy nghĩ: bỏ nhà đi - Hậu quả đối với bản thân, gia đình, xã hội → Dùng lí lẽ, dẫn chứng mở rộng vấn đề (Các góc nhìn về vấn đề; tính hai mặt của vấn đề) *Ý kiến của cá nhân về hiện tượng |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề - Hành động của cá nhân (trong tình huống giả định) |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng các thao tác phân tích so sánh, tổng hợp, chứng minh - Dẫn chứng phong phú, đa dạng phù hợp tới lí lẽ, luận điểm |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 2
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
CƠN ĐAU DÀI
(Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn Kháng)
Tóm tắt tác phẩm “Mùa lá rụng trong vườn”
Mùa lá rụng trong vườn kể về gia đình ông Bằng, một nhân viên bưu điện đã nghỉ hưu tại Hà Nội. Ông Bằng có năm người con trai. Anh cả Tường đã hi sinh ngoài mặt trận, vợ anh là Hoài đã tái giá nhưng vẫn thường xuyên viết thư thăm hỏi gia đình. Đông là anh hai, trung tá đã xuất ngũ, sống cuộc sống đơn giản; Lí, cô con dâu đảm đang, nhanh nhẹn. Con trai thứ ba của ông là Luận, một nhà báo có nhiều trăn trở, suy tư về cuộc sống. Vợ anh là Phượng, một người tốt bụng, luôn sẵn lòng giúp đỡ mọi người. Người con thứ tư – Cừ, lại hư hỏng, không nghe lời cha mẹ, đã từng bị đuổi khỏi quân đội. Cuối cùng, em út Cần đang đi học ở Liên Xô, sắp về nước.
Bi kịch ập tới khi Cừ bỏ việc ở xí nghiệp, trốn ra nước ngoài, bỏ lại vợ và hai con nhỏ.
Sau khi trốn sang Canada, Cừ mới nhận ra lỗi lầm của mình thì đã muộn. Anh liền gửi bức thư cuối cùng về nhà trước khi uống thuốc tự tử. Nhận được thư, bệnh cao huyết áp của ông Bằng tái phát, khiến ông phải nhập viện, rồi qua đời. Đồng thời, vợ và hai con trai của Cừ vô cớ bị sa thải khỏi nông trường, phải đến ở nhờ nhà ông Bằng, rồi nhà chị Hoài. Trước tình cảnh khó khăn, Luận, Phượng và Hoài đã tỏ rõ mình là những người có tinh thần trách nhiệm cao đẹp, thương người như thể thương thân.
Lí chán chường khi sống cạnh Đông, nên khi ông trưởng phòng ở cơ quan dụ dỗ, Lí đã đi công tác Sài Gòn gần tháng trời với ông ta, hưởng lạc, bỏ bê gia đình. Chỉ tới lúc đã đi khỏi nhà, chị mới nhận ra lỗi sai của mình, viết thư tỏ ý muốn quay trở về. Câu chuyện kết thúc vào một đêm giáp Tết, khi mọi người nhận được thư của Lí.
Đoạn trích sau là chương 18 của tác phẩm "Mùa lá rụng trong vườn"
(1)... đêm đêm Luận nằm ngủ có lúc giật mình tỉnh giấc. Quả khô, cành khô rụng lá trên mái nhà như chạm vào nỗi xôn xao thương nhớ. Đông co ro trong
giá lạnh. Đã thôi chửi đời và thôi nguyền rủa Lí. Nhưng nỗi đau thì mỗi ngày một ngấm thêm. Đông hiểu, anh vừa mất đi một cái gì hệ trọng và thân thiết quá. Lần giở từng trang đời đã xa, anh nghiệm ra: Lí có nhiều thói xấu, nhưng sống bên chị, về cơ bản, anh vẫn thoải mái, yên vui. Chị là sắc màu, là nhịp điệu đời sống lúc nào cũng lấp lánh, tưng bừng bên anh. Với anh, chị là một người mẹ, một người chị tận tình.
Gian buồng, căn nhà, khu vườn còn nhắc nhở bao kỉ niệm thiết tha, còn vang ngân tiếng chị, còn lưu giữ vẹn nguyên bóng hình chị. Khi bị mất rồi, anh mới hiểu biết giá trị của cái không còn. Đau đớn ngấm đến tận nơi sâu thẳm nhất, anh lại nổi cơn khùng, nhưng lần này ngấm ngầm và chỉ trút nỗi căm hờn vào kẻ đã quyến rũ vợ anh – gã Trưởng phòng Vật tư khốn nạn.
Trong bữa cơm với gia đình Luận, Đông có nói tới gã trưởng phòng nọ với lời đe doạ: nó gây gió, nó phải chịu bão. Luận giật mình thấy mắt Đông lúc ấy mất hết thần sắc y như khi Đông túm cổ áo Luận và lúc nói sẽ bắn chết thằng Cừ.
Phượng lo lắng bảo chồng: “Anh Luận, nên trông nom, theo sát anh Đông, ngộ nhỡ có chuyện gì..” Luận lên ở cùng buồng với Đông, anh muốn khuây khoả và kiềm chế ông anh: con người quen sống giản lược, bị dồn vào bức bách dễ manh động bột phát lắm.
Một buổi chiều, hai người ngồi uống nước và nghe nhạc Vácne. Bỗng Đông hỏi:
– Nhạc Vácne hùng tráng đấy chứ, có gì mà ông cụ không thích nhỉ?
– Chỉ vì nghe em nói Hitle nó thích nhạc ông này thôi. – Luận đáp. – Anh thấy không, ông cụ là người có học còn vậy. Con người có những định kiến cố định, phá vỡ, đổi thay không dễ đâu.
Đông im, như nghĩ ngợi. Lát sau, Luận tiếp:
- Con người vượt ra khỏi cái quy định là rất khó. Em không muốn nói ngoại cảnh, thời đại, mà nói cái đã bị quy định ở trong mỗi con người.... Chị Lí cũng vậy. Chị là nạn nhân của chính mình. Và anh, anh nên rút kinh nghiệm.
Nói cái ý cuối cùng, Luận đã đắn đo mãi. Luận nghĩ: “Đông đã bình tâm, nên nói để Đông xem xét lại mình và tìm cách cứu vãn tình hình. Nhưng, Đông vụt
đứng dậy:
- Chẳng lẽ tôi là thằng khốn nạn à?
- Anh không hiểu ý em.
- Tôi, mấy chục tuổi Đảng, tuổi quân, có mặt ở chiến trường suốt hai cuộc kháng chiến, tôi là thằng đểu giả, lừa lọc, phản bội, lưu manh, côn đồ à? Vì chịu ảnh hưởng của tôi mà cô ấy hư hỏng à?
Đông nói dồn dập gay gắt và vẫn không vượt được ra khỏi sự sơ lược trong suy nghĩ. Luận ngắt lời anh, giọng hơi bực:
- Không ai trẻ con, ngu dốt đến mức quy kết như thế! Anh tốt, nhưng anh chưa đủ những đức tính cần thiết. Cuộc sống phức tạp. Nhưng phải sống thực sự với nó, phải có trách nhiệm với nó, vì nó. Nói cụ thể là phải có trách nhiệm với cả từng con người. Càng ngày mỗi cá thể càng nổi lên, có vị trí quan trọng vô cùng
trong cuộc sống.
Đang trong cơn phẫn khích, Đông không kìm được, cắt ngay lời Luận:
- Chỉ có vấn đề, nếu nói từ gốc, là tôi chọn nhầm thôi. Cậu lí luận đặc sệt sách vở. Chiến tranh, tất cả tâm lực phải dành cho việc đánh giặc. Người ở nhà phải tự lo lấy. Cô ấy hư đốn lẽ nào tôi phải chịu trách nhiệm?
Đông lại phải tuột những ý nghĩ tốt đẹp về Lí, lại rơi vào trạng thái thần kinh căng thẳng. Lại văng ra lời chửi rủa Lí, gã trưởng phòng và các thói tệ tư sản. Lát sau, những mặc cảm nhục nhã trỗi dậy, cay nhức tâm trí anh, anh rơi hẳn vào cuồng nộ.
Đến cao điểm, Đông tiến đến trước mặt Luận, hai mắt đỏ nọc và giọng lạc đi:
Cậu mà con bênh con đĩ ấy hả? Trời ơi sao tôi không chết luôn lúc tiến đến
cửa ngõ Sài Gòn cho rồi!
Luận ứa nước mắt vì câu kêu trời đau đớn ấy của Đông. Đông đứng lặng, to
lớn, run rẩy, đầu bạc phếch, nước mắt xối trên hai gò má xám.
(2) Chính lúc ấy, Phượng ra mở cổng vì có tiếng chuông gọi. Người gọi cổng
chào Phượng, tự giới thiệu là Cán bộ Tổ chức xí nghiệp Lí cần gặp chồng Lí vì
một việc rất cần kíp.
Đông vội lau mặt, Luận sửa soạn ấm chén xong, quay vào cái tủ sách, tiếp tục xếp dọn tư liệu, sách vở của cha. Đúng như Luận dự đoán, anh cán bộ Tổ chức sau khi hỏi qua về quan hệ vợ chồng Đông – Lí, nhìn thẳng vào mặt Đông, giọng thật nghiêm trang:
- Xin báo để anh biết, hiện giờ chị Lí sống chung như vợ chồng chính thức với một người đàn ông. Anh này nguyên là Trưởng phòng Vật tư đơn vị chúng tôi, vừa rồi đã bị chúng tôi khởi tố vì tội tham ô. Nay, tình hình như vậy, chúng tôi
quyết định kỉ luật sa thải chị ấy. Về việc này gia đình ta có ý kiến gì không? Đang quay mặt vào cái tủ sách, vờ như đang xếp dọn, để dõi theo câu chuyện,
Luận quay phắt ngay lại, vai đập đánh thình vào cánh tủ, cố kìm giữ để khỏi bật
tiếng kêu kinh sợ. Anh càng kinh sợ hơn khi nhìn thấy Đông như bất động trong
lòng ghế, bàn tay dày xoè rộng úp vào mặt, trong khi hai ngón cái và ngón trỏ bấm chặt vào hai bên thái dương. Đông đang tê dại trước một sự phũ phàng. Trong Luận lại vang lên lời kêu gào thống thiết: Anh Đông phải có ý kiến ngay đi! Không thể xử lí như vậy được!
Mặt Đông nùng nục bỗng nghiêm lại một cách ngờ nghệch, biến thái của cơn đau thất thần, lạc trí và mỗi Đông hé mở, thoát ra một giọng nói gần như tuyệt vọng:
– Cái đó thì... tuỳ các đồng chí thôi!
Luận run hết cả người lên, vừa lo sợ vừa giận dữ, Luận chỉ muốn nhảy lại quát tướng vào mặt Đông và anh cán bộ nọ. Sao các anh lại quyết định một việc hệ trong như thế trong khi thần kinh các anh không bình thường. Và anh Đông, qua
sự việc này, tôi có thể nói anh là một kẻ vô trách nhiệm hoàn toàn!
Luận lao xuống gác, đuổi theo người cán bộ nọ, tâm não bừng bừng trong
cơn gào thét dữ dội và âm thầm:
- Đồng chí ơi, chính tôi đã nghe thấy các đồng chí ở xí nghiệp khen ngợi chị
Lí hết mực. Tội trạng chị ấy chưa đáng đến mức kỉ luật ấy. Xử lí chị ấy như vậy là dứt khoát đẩy chị ấy xuống bùn, là cắt đường trở về của chị ấy. Đồng chí không nên căn cứ vào ý kiến của anh Đông. Anh ấy lúc này còn đâu là sáng suốt! Các đồng chí nên gặp chị Lí một lần nữa đi.
Nhưng người cán bộ nọ đã đi.
(3) Quay vào khu vườn, phong phanh một chiếc áo len mỏng mà người Luận nóng bừng. Lòng giận sôi lên, anh ngước lên nhìn buồng Đông. Đông vừa bật đèn. Đông vừa vặn máy hát. Không! Không thể hời hợt và vô trách nhiệm như thế! Con người thông minh và đần độn, mạnh mẽ và yếu ớt thảm hại. Dưới tác động của một ngẫu nhiên bất hạnh rất nhỏ thôi, đời một con người cũng có thể xoáy lật ngược chiều tức khắc. Con người, cần phải được thể tất, cần phải đỡ nâng, dắt dìu. Ngay ngày mai Luận phải đến cái xí nghiệp ấy để phản bác cái quyết định tắc trách của họ với Lí. Đời Lí lại thêm một hiểm hoạ, phải nhanh tay cứu chị ấy.
Lúc ấy, Phượng vừa tưới rau và vun cây quất xong. Chị ghếch cái cán cuốc vào thân cây táo, hồi hộp lo lắng vì thấy Luận mắt đăm chiêu vừa từ cổng đi vào, ngồi xuống cái ghế đá và úp mặt vào hai lòng bàn tay.
- Anh Luận. Anh vào ăn cơm đi.
– Phượng à... anh buồn quá, em ạ.
Luận ngẩng lên. Ngước theo hai cánh tay Phượng vừa nâng từ từ lên cao, vòng ra sau gáy, vơ mái tóc cặp lại, anh nhận ra hai cánh tay Phượng mảnh dẻ quá, gầy guộc quá, tiều tuỵ quá. Nao dậy trong anh nỗi lo thắt ruột gan: Phượng đã có mang được ba tháng.
– Anh Luận ạ, số tiền ông để lại ba nghìn. Tang lễ cho cụ mất một nghìn rưởi. Còn một nghìn rưởi. Em định gửi cho mẹ con thằng Quân anh, Quân em. Không thấy Luận đáp, chị hiểu chồng chị đang phân tâm và chính chị đang sốt ruột muốn biết người ở xí nghiệp Lí mang tin gì đến.
Luận quay lại, lẫn trong tiếng thở dài: Chị Lí bị sa thải rồi, em ạ. Phượng bỗng thấy rét run. Có cảm giác nỗi sợ hãi truyền kiếp vừa phát sinh từ bóng tối hư huyền trong khu vườn đang ám ảnh chị, làm chị nổi gai và gây gây như là lên cơn sốt. [...].
(Ma Văn Kháng, Mùa lá rụng trong vườn, NXB Trẻ, 2011)
(*) Tên văn bản do nhóm biên soạn đặt.
* Ma Văn Kháng (sinh năm 1936, tên khai sinh là Đinh Trọng Đoàn) là một nhà văn nổi bật của nền văn học đương đại Việt Nam nửa năm sau thế kỉ XX, đặc biệt từ khi bắt đầu thời kì Đổi mới.
Câu 1. Tóm tắt (từ 3-5 dòng) văn bản Cơn đau dài và cho biết vị trí, vai trò của văn bản đối với tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn (0,5đ)
Câu 2. “Đặc điểm nổi bật nào của thể loại tiểu thuyết thể hiện trong văn bản Cơn đau dài”? Hãy phân tích đôi nét làm rõ đặc điểm đó? (0,5đ)
Câu 3. Vì sao Đông rơi vào trạng thái đau đớn? Phân tích tính cách tiêu biểu của nhân vật Đông; từ đó, nêu những đánh giá của tác giả, của em về nhân vật này (0,5đ)
Câu 4. Em hãy đánh giá thành công đặc sắc của văn bản Cơn đau dài (nội dung, hình thức). Hãy trả lời bằng văn bản (tùy chọn hình thức đoạn nhỏ/ văn bản nhỏ) (0,5đ)
Câu 5. Nhà văn muốn nói điều gì với độc giả qua 2 lời nói, suy nghĩ sau đây của nhân vật Luận? Từ đó hãy nêu bức thông điệp em nhận được từ văn bản đọc hiểu trên (1đ)
|
a. Lời nói của Luận với Đông Cuộc sống phức tạp. Nhưng phải sống thực sự với nó, phải có trách nhiệm với nó, vì nó. Nói cụ thể là phải có trách nhiệm với cả từng con người. Càng ngày mỗi cá thể càng nổi lên, có vị trí quan trọng vô cùng trong cuộc sống, nó đòi hỏi ta phải chăm sóc |
b. Suy nghĩ của Luận sau việc của Lí Con người thông minh và đần độn, mạnh mẽ và yếu ớt thảm hại. Dưới tác động của một ngẫu nhiên bất hạnh rất nhỏ thôi, đời một con người cũng có thể xoáy lật ngược chiều tức khắc. Con người, cần phải được thể tất, cần phải đỡ nâng, dắt dìu. |
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Em có đồng ý với quan điểm, cách ứng xử của Luận sau đây không? (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2đ)
Ngay ngày mai Luận phải đến cái xí nghiệp ấy để phản bác cái quyết định tắc trách của họ với Lí. Đời Lí lại thêm một hiểm họa, phải nhanh tay cứu chị ấy
Từ đó, hãy nhận xét về Luận và vai trò của nhân vật này trong đoạn trích “Cơn đau dài”
Câu 2. (4đ)
Từ văn bản đọc hiểu “Cơn đau dài” (Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng), em hãy viết văn bản (600 chữ) bàn luận, thể hiện quan điểm của mình về mối quan hệ giữa cá nhân và trách nhiệm của mỗi cá nhân khi gia đình có người gặp biến cố (xoáy lật ngược chiều)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 2
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Tóm tắt (từ 3-5 dòng) văn bản Cơn đau dài và cho biết vị trí, vai trò của văn bản đối với tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đối chiếu văn bản với chỉnh thể tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn
Lời giải chi tiết:
- Đông nghĩ về Lí, trò chuyện, tranh luận với Luận về Lí và cho rằng Lí hư hỏng không có lỗi của mình. Cơ quan Lí đến thông báo: Lí ăn ở với tên tưởng phòng vật tư nên bị sa thải. Đông đau đớn tột cùng và chấp nhận sự thật, Luận buồn bã, thương Lí và muốn cứu Lí trong tuyệt vọng
- Văn bản Cơn đau dài nằm ở gần cuối tác phẩm phản ánh một bi kịch gia đình ông Bằng và vợ chồng Đông Lí, thể hiện tính cách, nỗi đau của nhân vật Đông Lí
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. “Đặc điểm nổi bật nào của thể loại tiểu thuyết thể hiện trong văn bản Cơn đau dài”? Hãy phân tích đôi nét làm rõ đặc điểm đó |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại đặc điểm thể loại tiểu thuyết
Lời giải chi tiết:
- Nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư; quan tâm đến cái thường ngày, cái đang diễn biến với cách tiếp cận gần gũi; không lí tưởng hóa hiện thực;
+ Cái đang diễn biến với cách tiếp cận gần gũi: việc cơ quan Lí đến thông báo sa thải Lí, ứng xử của Đông và ý nghĩ của Luận)
- Nhân vật là “con người nếm trải”, có quá trình phát triển nhiều khi quanh co, phức tạp: diễn biến tâm lí của Đông (đang nghĩ tốt đẹp về Lí; hùng hổ gọi Lí là con đĩ; đau đớn tột cùng, chỉ biết ôm mặt)
- Phản ánh mâu thuẫn, tâm lí và xung đột giữa các quan điểm: cách nhìn đời bao dung, sâu sắc của Luận và cách nhìn đơn giản lược của Đông. Ông Bằng không thích nhạc Vácne chỉ vì nghe Luận nói Hít – le cũng thích nhạc ông này
Câu 3 (0,5 điểm)
|
Câu 3. Vì sao Đông rơi vào trạng thái đau đớn? Phân tích tính cách tiêu biểu của nhân vật Đông; từ đó, nêu những đánh giá của tác giả, của em về nhân vật này (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và lí giải nguyên nhân
Chú ý các chi tiết thể hiện tính cách của nhân vật Đông
Nêu quan điểm của bản thân về nhân vật
Lời giải chi tiết:
- Vì Lí rất thân thiết với Đông, anh nhìn thấy những ưu điểm của Lí nên khi bị mất rồi, anh mới hiểu giá trị của Lí. Đau đớn ngấm đến tận nơi sâu thẳm nhất, anh lại nổi cơ khùng; vì Luận nói về Lí và trách nhiệm của Đông về sự thay đổi của Lí
- Nhân vật Đông:
+ Người lính trở về từ chiến trận, nhìn con người hết sức đơn giản: Chiến tranh, tất cả tâm lực phải giành cho việc đánh giặc. Người ở nhà phải tự lo lấy
→ Đông cho rằng Lí hư là tại cô ấy, không phải do chồng, Đông quan niệm chưa đúng về mối quan hệ, sự ràng buộc vợ chồng, trong gia đình
+ Đông là người thô lỗ, cục cằn: chửi rủa Lí, gã trưởng phòng và các thói tệ tư sản
+ Đông đang nếm trải nỗi đau và rơi vào bế tắc đau đớn: Trời ơi sao tôi không chết luôn lúc tiến đến cửa ngõ
- Đánh giá của tác giả về Đông: Đông nói dồn dập, gay gắt và vẫn không vượt được ra khỏi sự sơ lược trong suy nghĩ; Anh tốt nhưng anh chưa đủ những đức tính cần thiết. Cuộc sống phức tạp. Nhưng phải sống thực sự với nó, phải có trách nhiệm với nó, vì nó → Tác giả phê phán ứng xử và suy nghĩ của Đông qua lời người kể chuyện và qua Luận. Chính Đông đã để tuột mất hạnh phúc gia đình và bây giờ chính Đông phải chịu nỗi đau đó
- Đánh giá của cá nhân: Học sinh tự trả lời theo quan điểm cá nhân
Câu 4 (0,5 điểm)
|
Câu 4. Em hãy đánh giá thành công đặc sắc của văn bản Cơn đau dài (nội dung, hình thức). Hãy trả lời bằng văn bản (tùy chọn hình thức đoạn nhỏ/ văn bản nhỏ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý nhận xét, đánh giá về nội dung và hình thức
Lời giải chi tiết:
– Nội dung:
+ Phản ánh số phận con người trong những mối quan hệ cuộc sống phức tạp với tất cả những mâu thuẫn, tâm lí và xung đột gay gắt trong lối sống, quan điểm sống qua nhân vật Đông, Luận;
+ Truyền tải nhiều thông điệp về cách nhìn nhận đánh giá con người, ứng xử khi người thân lầm lỡ; sống có trách nhiệm (qua nhân vật Luận).
– Nghệ thuật:
+ Miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật – nỗi đau, sự bế tắc, bất lực, lối sống thờ ơ của Đông qua sự luân chuyển của các điểm nhìn trần thuật (bên trong, bên ngoài, người kể chuyện, nhân vật) với những khúc quanh phức tạp; qua đối thoại, độc thoại, biểu hiện bên ngoài (Đau đớn ngấm đến tận nơi sâu thẳm nhất, anh lại nổi cơn khùng, nhưng lần này ngấm ngầm và chỉ trút nỗi căm hờn vào kẻ đã quyến rũ vợ anh. Đông tiến đến trước mặt Luận, hai mắt đỏ nọc và giọng lạc đi. Đông đứng lặng, to lớn, run rẩy, đầu bạc phếch, nước mắt xối trên hai gò má xám; Đông như bất động trong lòng ghế, bàn tay dày xoà rộng úp vào mặt, trong khi hai ngón cái và ngón trỏ bấm chặt vào hai bên thái dương. Đông đang tê dại trước một sự phũ phàng; Đông vừa bật đèn. Đông vừa vặn máy hát.).
+ Khắc hoạ nhân vật: Nhân vật Lí chỉ hiện lên gián tiếp mà rất rõ nét (ưu điểm,
nhược điểm, cảnh ngộ hiện tại) qua suy nghĩ của Đông và đối thoại của Đông Luận và một sự việc (người của cơ quan đến thông báo sa thải).
Câu 5 (1 điểm)
|
Câu 5. Nhà văn muốn nói điều gì với độc giả qua 2 lời nói, suy nghĩ sau đây của nhân vật Luận? Từ đó hãy nêu bức thông điệp em nhận được từ văn bản đọc hiểu trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ 2 lời nói, suy nghĩ
Đặt 2 lời nói, suy nghĩ đó vào từng bối cảnh cụ thể để phân tích thông điệp của tác giả
Nêu quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Nhà văn muốn nói:
a. Xã hội phức tạp, có khả năng làm tha hóa con người, con người cá nhân đòi hỏi được đề cao, vì vậy, mỗi người cần có trách nhiệm với cuộc sống, với người thân của mình
b. Con người thông minh, đần độn đều chịu nhiều tác động của xã hội khiến cuộc sống phải đối mặt với biến động, thất bại nên cần được tha thứ, đỡ nâng, dắt dìu
- Bức thông điệp: Học sinh tự đúc rút (cần sát với nội dung của văn bản: cách nhìn nhận đánh giá con người, ứng xử khi người thân lầm lỡ; sống có trách nhiệm…)
Câu 5 (2 điểm)
|
Em có đồng ý với quan điểm, cách ứng xử của Luận sau đây không? (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn đã được học
Nêu quan điểm, ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
Đoạn thể hiện đủ, cân đối các nội dung đã yêu cầu ở trong đề (ở các gợi ý sau):
- Học sinh tự thể hiện quan điểm cá nhân về 2 nội dung: đồng ý với quan điểm, cách ứng xử của Luận; nhận xét về Luận (cần mạch lạc, thuyết phục)
- Vai trò của nhân vật Luận trong đoạn trích:
+ Thể hiện quan điểm tư tưởng (sống, nhân đạo) của nhà văn Ma Văn Kháng
+ Tạo nên nét tương phản với nhân vật Đông
+ Thể hiện vấn đề của con người, gia đình thời hiện đại
II. VIẾT (4,0 điểm)
|
Từ văn bản đọc hiểu “Cơn đau dài” (Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng), em hãy viết văn bản (600 chữ) bàn luận, thể hiện quan điểm của mình về mối quan hệ giữa cá nhân và trách nhiệm của mỗi cá nhân khi gia đình có người gặp biến cố (xoáy lật ngược chiều) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Từ văn bản đọc hiểu “Cơn đau dài” (Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng), em hãy viết văn bản (600 chữ) bàn luận, thể hiện quan điểm của mình về mối quan hệ giữa cá nhân và trách nhiệm của mỗi cá nhân khi gia đình có người gặp biến cố (xoáy lật ngược chiều) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề nghị luận (từ Cơn đau dài, Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng) - Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ |
|
Thân bài |
3,0 |
* Về vấn đề từ văn bản đọc - Tóm tắt vấn đề: Mối quan hệ giữa các cá nhân và trách nhiệm của mỗi cá nhân khi gia đình có người gặp biến cố (trong văn bản đọc) - Nhận xét ngắn gọn về ứng xử của hai cá nhân (Đông, Luận trong văn bản Cơn đau dài) * Bàn luận về vấn đề - Mối quan hệ của cá nhân với gia đình truyền thống của dân tộc - Về tính độc lập từ quan niệm hiện đại ngày nay (ảnh hưởng từ một số quan niệm phương Tây) (qua biểu hiện, ví dụ cụ thể, phân tích tính hai mặt của vấn đề,…) *Quan niệm, chính kiến của bản thân - Nêu quan niệm, lối sống (phân tích ưu điểm, hạn chế) - Ứng xử, hành động của cá nhân để hạn chế nhược điểm của quan điểm sống (đã lựa chọn) |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề - Hành động của cá nhân (trong tình huống giả định) |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng các thao tác phân tích so sánh, tổng hợp, chứng minh - Dẫn chứng phong phú, đa dạng phù hợp tới lí lẽ, luận điểm |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 3
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
HOÀNG HÔN MÀU CỎ
(Hoàng Trần Cương)
Khói lửa tạm lắng rồi
Gói chiếc ba lô phồng căng thời trai trẻ tinh sao tôi
Con trở về miền ao ước
Rải tiếng cười lăn xuống gậm giường
Ngực để trần
Áo trận lỏng tay
Một mình đứng khóc thầm cùng cỏ lác
Không còn sợ thần sắc long đong
Không còn lo chùm bom thù đi lạc
Mẹ bảo
Còn hai bàn tay là còn của nả
Còn nhớ về những nấm mộ rừng xa
Thế kỉ này vẫn lắm quỷ nhiều ma
Chỉ có bầu trời làng ta đang trong trẻo lại
Những chiều tà
Dân làng không túm tụm nhau ngoài bãi
Hoảng hốt nhìn những lằn chớp đen chèn ngang lễ cưới
Hoảng hốt nhìn những sân trường sạch bóng trẻ con
Hoảng hốt nhìn vào lòng mình thấy ruột gan nóng rần như lửa đốt người
Bói đâu ra bóng dáng của ngày thường
Bói đâu ra tiếng gà trưa đảo trứng
Tiếng mõ trâu chùng cả dáng chiều
Mẹ ơi!
Con nào dám cầu xin chi nhiều
Sau chuỗi ngày chinh chiến
Sau chuỗi ngày rụng rơi như bồ hóng
Những năm tháng hoả lò không sót lại muội than
Cho con xin vỏn vẹn một ngày
Trải lá chuối lên xó vườn rậm cỏ
Nằm dang tay dang chân
Để nghe gió thì thào to nhỏ
Để dõi theo mây núi trắng ngần
Để nỗi nhớ lần về tận ngõ
Theo chuyến đò ngang
[...]
Mẹ ơi
Xin cho con thêm một lần thả mình trên cỏ
Thiếp đi dưới bóng của làng
Giữa mơ màng thức ngủ
Nghe thì thầm trong đất
Nẻo đường dẫn đến mùa thu
Nẻo đường ngược về lịch sử
Nẻo đường dài ngắn xưa sau
Trời trong vắt
Mắt người xa xứ
Nỗi nhớ thì gần
Cái nhớ thì xa
(Hoàng Trần Cương, Trầm tích, NXB Hội Nhà văn, 1996)
Câu 1. Cảm xúc, rung động trong bài thơ là tiếng “dội” mãnh liệt của sự kiện nào vào tâm hồn nhà thơ? Xác định một số dòng/hình ảnh thơ mà em cho là đặc sắc (1đ)
Câu 2. Khổ thơ đầu gợi hình dung gì trong em, biểu tượng nào gợi ra cảnh ngộ của con người? Phân tích những cảm xúc, tâm trạng thể hiện trong khổ thơ (1đ)
Câu 3. Đọc khổ 2,3 và thực hiện các yêu cầu kế tiếp (1đ)
a. Hai khổ thơ gợi không gian, những cảm xúc, tâm trạng nào của ai, ở đâu, khi nào?
b. Những dòng thơ: “Mẹ bảo/ Còn hai bàn tay là còn của nả/ Chỉ có bầu trời làng ta đang trong trẻo lại” diễn tả, nói về điều gì trong cảm nhận người con?
c. Xác định thủ pháp nghệ thuật chính ở khổ 2,3 và hiệu quả thẩm mĩ của chúng?
d. Khổ thơ 2,3 có vai trò, vị trí như thế nào đối với toàn tác phẩm?
Câu 4. Người con khao khát điều gì? Khao khát ấy được nhà thơ thể hiện đặc biệt như thế nào? (1đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Cảm nghĩ của em về nhân vật người con trong bài thơ. Hoàng hôn màu đỏ của Hoàng Trần Cương đã mang tới cho em bài học quý giá nào? (trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2đ)
Câu 2.
Địa phương (quận/huyện) em tổ chức cuộc triển lãm, cuộc thi về ảnh/ vẽ tranh/ làm thơ/ viết bài luận có nhan đề “Tiếng nói phản đối chiến tranh và khát vọng hòa bình” để hỗ trợ nạn nhân của chiến tranh ở những vùng đang xảy ra chiến sự căng thẳng trên thế giới
Em hãy viết bài phát biểu (khoảng 600 chữ) trong Lễ phát động cuộc triển lãm trên (4đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 3
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1. Cảm xúc, rung động trong bài thơ là tiếng “dội” mãnh liệt của sự kiện nào vào tâm hồn nhà thơ? Xác định một số dòng/hình ảnh thơ mà em cho là đặc sắc (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Lựa chọn dòng/ hình ảnh bản thân cho là đặc sắc và phân tích
Lời giải chi tiết:
- Được trở về sau chiến tranh: Khói lửa tạm lắng rồi/ Gói chiếc ba lô phồng căng thời trai trẻ/ Con trở về miền ao ước
- Dòng/ Hình ảnh thơ mà em cho là đặc sắc: Học sinh tự xác định theo đánh giá của cá nhân
(Gợi ý tham khảo: Rải tiếng cười lăn xuống gậm giường; Bói đâu ra tiếng gà trưa đảo trứng; Tiếng mõ trâu chùng cả ráng chiều,…)
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2. Khổ thơ đầu gợi hình dung gì trong em, biểu tượng nào gợi ra cảnh ngộ của con người? Phân tích những cảm xúc, tâm trạng thể hiện trong khổ thơ (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ khổ thơ đầu
Nêu hình dung của bản thân
Chú ý những tính từ thể hiện cảm xúc, tâm trạng của tác giả
Lời giải chi tiết:
*Gợi hình dung
- Chiến tranh tạm yên; Người lính (không còn trẻ) trở về từ chiến trường với chiếc ba lô căng phồng; Ngực để trần…với chiếc áo lính cầm tay tâm trạng thoải mái
- “Khói lửa”, “Áo trận” là biểu tượng cho chiến tranh, loạn lạc gợi ra cảnh ngộ con người vừa trải qua
*Cảm xúc, tâm trạng của người trở về
- Vui mừng, hồ hởi:
+ Tâm trạng thoái mái hồ hởi (không phải căng mình đối mặt với trận chiến – “Áo trận lỏng tay”) ngày trở về quê hương gợi ra từ 2 dòng thơ đầu, từ hình ảnh chiếc ba lô căng phồng
+ Niềm hạnh phúc vô bờ của người lính được trở về quê hương được bộc lộ trực tiếp ở dòng thơ “Con trở về miền ao ước” → Miền ao ước là quê hương, là khát vọng, là ao ước cháy bỏng trong tâm hồn người lính
+ “Rải tiếng cười lăn xuống gậm giường” là sáng tạo độc đáo bởi nghệ thuật ẩn dụ diễn tả niềm vui của người lính được trở về quê hương, về ngôi nhà thân yêu của mình, niềm vui ấy bao trùm cả không gian, lan vào “xó xỉnh”, vào từng góc của ngôi nhà
- Thoáng buồn nhớ tới cảnh chiến trận: Một mình đứng khóc thầm cùng cỏ lác → Dòng thơ giàu sức gợi, gợi nhớ cảnh chiến trường giữa núi rừng hoang vu, với nỗi buồn mất mát, cô đơn khiến nhịp thơ chậm lại, chùng xuống
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Đọc khổ 2,3 và thực hiện các yêu cầu kế tiếp (1đ) a. Hai khổ thơ gợi không gian, những cảm xúc, tâm trạng nào của ai, ở đâu, khi nào? b. Những dòng thơ: “Mẹ bảo/ Còn hai bàn tay là còn của nả/ Chỉ có bầu trời làng ta đang trong trẻo lại” diễn tả, nói về điều gì trong cảm nhận người con? c. Xác định thủ pháp nghệ thuật chính ở khổ 2,3 và hiệu quả thẩm mĩ của chúng? d. Khổ thơ 2,3 có vai trò, vị trí như thế nào đối với toàn tác phẩm? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ khổ thơ 2,3 và các yêu cầu
Lời giải chi tiết:
a. Hai khổ thơ gợi ra: Không gian vắng lặng, thiếu sự sống của con người; cảm xúc, tâm trạng hốt hoảng lo âu của dân làng trong chiến tranh
b. Những dòng thơ nói về cảm nhận người con:
+ Mẹ bảo/ Còn hai bàn tay là còn của nả: Niềm tin của người con vào mình vào con người sau sự hủy diệt của chiến tranh
+ Chỉ có bầu trời làng ta đang trong trẻo lại: Khẳng định sức sống, sự hồi sinh kì diệu của con người và quê hương. Hai chữ “trong trẻo” gợi ra không gian tươi sáng, niềm tin vào ngày mai. Cuộc sống mới sẽ bắt đầu như chưa từng có thương đau
c. Nghệ thuật chính hiệu quả thẩm mĩ
- Nghệ thuật đối lập: Quá khứ vắng lặng, đau thương trong chiến tranh với cuộc sống thanh bình, niềm tin vào sức hồi sinh của quê hương (học sinh lựa chọn dẫn chứng)
- Điệp từ: Không còn; hoảng hốt; bói đâu
→ Hiệu quả: gợi cảnh tượng hoang tàn, tố cáo sự hủy diệt của chiến tranh nhằm diễn tả khao khát về cuộc sống bình yên, trù phú của làng quê xưa (trẻ em tới trường, tiếng gà trưa đảo trứng, tiếng mõ trâu chiều) và cuộc sống thanh bình ngày nay
d. Khổ thơ 2,3 có vai trò vị trí quan trọng đối với toàn bài thơ:
- Thể hiện cấu tứ độc đáo của bài thơ: Trở về trong thanh bình – hồi tưởng quá khứ đau thương trong chiến tranh – khao khát được đắm mình, được sống gắn bó với quê hương mình
- Tái hiện chiến tranh đau thương nơi quê nhà làm nổi bật nỗi nhớ, khát khao sống trong hòa bình của người con trải qua trận mạc, hi sinh
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Người con khao khát điều gì? Khao khát ấy được nhà thơ thể hiện đặc biệt như thế nào? (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Lời giải chi tiết:
- Người con khao khát:
+ Một ngày được nằm trên lá chuối ở xó vườn với cảm giác thật thoải mái để nghe gió, bay theo mây, thả hồn vào chuyến đò ngang để ngắm nhìn, đắm mình trong cảnh vật thiên nhiên của quê hương
+ Ngủ dưới bóng tre làng, lắng nghe tiếng đất để hiểu lịch sử, văn hóa, hiểu nỗi lòng của những người xa quê
- Cách thể hiện đặc biệt:
+ Giãi bày nỗi niềm với mẹ (thốt gọi “Mẹ ơi”! mở đầu hai nỗi khát khao); xin mẹ cho mình thực hiện khát vọng
+ Dùng nhiều điệp từ, điệp ngữ tạo nên những điệp khúc mở ra những giá trị, những khát khao cháy bỏng của mình về làng quê
+ Khát vọng của người con đi theo trình tự từ hẹp đến rộng, từ những điều cụ thể đến những giá trị lớn lao: nghe gió mây, ngắm chuyến đò → hiểu văn hóa, lịch sử, con người, để thấu hiểu có cái nhớ mới làm nên nỗi nhớ
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Cảm nghĩ của em về nhân vật người con trong bài thơ. Hoàng hôn màu đỏ của Hoàng Trần Cương đã mang tới cho em bài học quý giá nào? (trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn đã được học
Nêu quan điểm, ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Cảm nghĩ của em về nhân vật người con: Học sinh thể hiện cách cảm nhận của riêng của cá nhân nhưng cần bán sát từ tác phẩm (tham khảo gợi ý)
- Gợi ý: Người con đã trải qua chiến trận (đối mặt với hi sinh, cô đơn); Niềm vui ngày trở về quê nhà; hồi ức về chiến tranh đau thương nơi quê nhà và đồng đội hi sinh; khao khát được đắm mình, được sống gắn bó với quê hương mình)
- Bài học từ văn bản đọc hiểu (Học sinh tự đúc rút từ nhận thức của cá nhân nhưng cần bám sát chủ đề, thông điệp của văn bản: Chiến tranh gây ra đau thương, mất mát; Giá trị của hòa bình; Nhận thức về khát vọng muôn thuở của con người)
(Học sinh tự triển khai đoạn văn có mở đầu, thân, kết đoạn: thể hiện mạch lạc các ý cơ bản câu hỏi đã yêu cầu/ đã gợi ý)
Câu 2. (4đ)
|
Địa phương (quận/huyện) em tổ chức cuộc triển lãm, cuộc thi về ảnh/ vẽ tranh/ làm thơ/ viết bài luận có nhan đề “Tiếng nói phản đối chiến tranh và khát vọng hòa bình” để hỗ trợ nạn nhân của chiến tranh ở những vùng đang xảy ra chiến sự căng thẳng trên thế giới Em hãy viết bài phát biểu (khoảng 600 chữ) trong Lễ phát động cuộc triển lãm trên |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Địa phương (quận/huyện) em tổ chức cuộc triển lãm, cuộc thi về ảnh/ vẽ tranh/ làm thơ/ viết bài luận có nhan đề “Tiếng nói phản đối chiến tranh và khát vọng hòa bình” để hỗ trợ nạn nhân của chiến tranh ở những vùng đang xảy ra chiến sự căng thẳng trên thế giới Em hãy viết bài phát biểu (khoảng 600 chữ) trong Lễ phát động cuộc triển lãm trên |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Kính thưa đại biểu tham dự (Học sinh vận dụng phù hợp với thực tế) - Giới thiệu bản thân (1-2 dòng) và nêu tên phong trào |
|
Thân bài |
3,0 |
- Nêu lý do, mục đích của phong trào đối với học sinh, tuổi trẻ, xã hội; ý nghĩa của hành động ủng hộ nạn nhân chiến tranh ở vùng chiến sự - Hành động, việc làm cụ thể của học sinh: chụp ảnh, vẽ tranh hướng vào chủ đề: “Tiếng nói phản đối chiến tranh và khát vọng hòa bình” - Hành động, việc làm cụ thể của cá nhân (phù hợp với sở trường) + Lựa chọn của cá nhân + Cảm xúc, suy nghĩ của cá nhân về mục đích ý nghĩa phong trào |
|
Kết bài |
0,25 |
- Thể hiện sự ủng hộ, niềm tin vào phong trào - Cổ vũ, kêu gọi các bạn ủng hộ tham gia phong trào |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Bài viết có cảm xúc, thể hiện sự hiểu biết, nhiệt huyết về hoạt động - Kĩ thuật viết: Lời hô gọi tạo sự tương tác, cổ vũ hành động |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 4
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
TÌNH ĐÃ CHẾT
(Thomas Moore)
Thôi vĩnh biệt! Cho dù em vẫn đẹp
Nhưng tình yêu không trở lại bao giờ
Hồn hoang vu, lòng chân thành đã khép
Có nghĩa là tình đã chết trong ta.
Dù lời em ngọt ngào như đường mật
Đâu dễ gì quyến rũ được lòng anh
Nhưng đôi mắt vẫn nhìn anh chân thật
Biết làm sao không tin được cho đành!
Nhưng mà thôi, bây giờ, xin vĩnh biệt!
Em dù xinh nhưng chẳng của ngày xưa
Hồn hoang vu lòng chân thành đã khép
Tình ngọt ngào, tình đã chết trong ta.
Đôi mắt em như ngôi sao không đổi
Giữa trời xanh vẫn nhấp nháy gọi mời
Đôi má hồng kia dường như vẫn đợi
Chuyển màu hồng thành trắng, bạc như vôi.
Chỉ con tim em bây giờ phụ bạc
Cứ nói những lời gian dối không thôi
Tình vẫn sống ở một nơi nào khác
Nhưng trong tim, than ôi, đã chết rồi!
Thế mà Nên em ạ, bây giờ, xin vĩnh biệt!
Em dù xinh nhưng chẳng của ngày xưa
Hồn hoang vu, lòng chân thành đã khép
Tình ngọt ngào giờ đã chết trong ta.
* Thomas Moore (1779 – 1852) là nhà thơ, nhạc sĩ, nhà kinh tế Ireland, sinh ở Dublin, Ireland trong một gia đình buôn bán nhỏ theo đạo Tin lành. Ông tốt nghiệp trường Trinity College năm 1798 ở Dublin. Năm 1799, ông sang London. Năm 1800, ông in bản dịch thơ Anacreon, tập thơ Poems by the late Thomas Little (Thơ của Thomas Little đã quá cố) và trở thành một người nổi tiếng.
Câu 1. Xác định đề tài và cảm xúc chủ đạo, chủ thể trữ tình của bài thơ (0,5đ)
Câu 2. Xác định trạng thái cảm xúc của nhân vật “ta” trong bài thơ. Phân tích cách diễn tả/ thể hiện những trạng thái cảm xúc đó (0,5đ)
Câu 3. Vì sao hồn “ta” hoang vu, tình đã chết? Phân tích nhân vật “em” để làm rõ điều đó (1,5đ)
Câu 4. Những dòng thơ nào, từ ngữ nào cho thấy mâu thuẫn đang diễn ra trong lòng nhân vật “ta”? Đó là mâu thuẫn gì? Chúng giúp độc giả hiểu thêm điều gì về nhân vật “ta”? (1,5đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Nêu chủ đề của bài thơ. Chia sẻ suy nghĩ của em về quan điểm tình yêu thể hiện trong bài thơ (trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2đ)
Câu 2.
Từ văn bản đọc hiểu Tình đã chết (Thomas Moore) ở phần Đọc hiểu, em hãy viết văn bản (600 chữ) bàn luận và thể hiện quan điểm của mình về lòng chung thủy trong tình yêu đôi lứa của thanh niên ngày nay. (4đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 4
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Xác định đề tài và cảm xúc chủ đạo, chủ thể trữ tình của bài thơ (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Lời giải chi tiết:
- Đề tài: Tình yêu
- Cảm xúc bao trùm: buồn, đau và thất vọng
- Chủ thể trữ tình là người đang suy tư về tình yêu
+ Niềm tin, lòng thủy chung trong tình yêu
+ Nỗi đau khổ, thất vọng khi tình yêu không còn niềm tin
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Xác định trạng thái cảm xúc của nhân vật “ta” trong bài thơ. Phân tích cách diễn tả/ thể hiện những trạng thái cảm xúc đó (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ, chỉ ra những dòng thơ diễn tả trạng thái cảm xúc và phân tích
Lời giải chi tiết:
- Những dòng thơ diễn tả trạng thái cảm xúc:
Hồn hoang vu, lòng chân thành đã khép
Có nghĩa là tình đã chết trong ta
Hồn hoang vu lòng chân thành đã khép
Tình ngọt ngào, tình đã chết trong ta
Nhưng trong tim, than ôi, đã chết rồi!
Hồn hoang vu, lòng chân thành đã khép
Tình ngọt ngào giờ đã chết trong ta
→ Tâm hồn trống trải, hoang vắng với trạng thái cảm xúc đau đớn tột độ
→ Trái tim đau đớn đang rỉ máu đã đóng khép với tình yêu, một trái tim đã chết.
- Cách diễn tả/ thể hiện những trạng thái cảm xúc
+ Bộc bạch trực tiếp tới 3 lần: lòng chân thành đã khép – Tình đã chết trong ta
- Hồn hoang vu.
+ Câu cảm thán: “Nhưng trong tim, than ôi, đã chết rồi!”.
+ Khẳng định hai lần: “Tình ngọt ngào, tình đã chết trong ta/ Tình ngọt ngào giờ đã chết trong ta.
→ Nỗi đau của trái tim đang yêu được thể hiện qua những cung bậc cụ thể: lòng chân thành đã khép → tình đã chết.
→ Các điệp ngữ (“hồn hoang vu", “đã chết”), điệp cấu trúc câu; hàng loạt điệp
khúc trở đi trở lại, trải dọc bài thơ khiến tác phẩm ngập tràn nỗi đau đớn của của trái tim đang yêu, yêu say đắm nay khô cằn, hoang vắng và chết khi không còn tình yêu, không còn niềm tin vào người mình yêu.
Câu 3 (1,5 điểm)
|
Câu 3. Vì sao hồn “ta” hoang vu, tình đã chết? Phân tích nhân vật “em” để làm rõ điều đó (1,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý những câu thơ xuất hiện nhân vật “em”
Lời giải chi tiết:
– Em rất xinh đẹp, quyến rũ: Đôi mắt em như ngôi sao nhấp nháy; Đôi má hồng; lời em ngọt ngào như đường mật,...
– Em của hiện tại đã thay đổi, em không chung thuỷ.
+ Đôi má hồng kia dường như vẫn đợi
Chuyển màu hồng thành trắng, bạc như vôi.
+ Chỉ con tim em bây giờ phụ bạc
Cứ nói những lời gian dối không thôi
→ Em xuất hiện trong sự tương phản gay gắt giữa nhan sắc với tâm hồn: nhan sắc tuyệt đẹp vô cùng quyến rũ >< con tim phụ bạc, gian dối.
→ Sự gian dối, phụ bạc đã giết chết vẻ đẹp của em trong ta: Em nay là kẻ bạc như vôi, là màu trắng (chuyển màu hồng thành trắng) tang thương, đau đớn, vô nghĩa trong “ta.
→ Nhân vật “em” xuất hiện trong cảm xúc, trong nỗi đau của “ta” thật sinh động rõ nét: có vẻ ngoài tươi tắn rạng ngời, nói năng ngọt ngào nhưng là kẻ giả dối, phụ bạc. Em càng xinh đẹp, quyển rũ, sự giả dối trong em càng rõ nét hơn. Điều đó làm hồn “ta” hoang vu, tình đã chết.
Câu 4 (1,5 điểm)
|
Câu 4. Những dòng thơ nào, từ ngữ nào cho thấy mâu thuẫn đang diễn ra trong lòng nhân vật “ta”? Đó là mâu thuẫn gì? Chúng giúp độc giả hiểu thêm điều gì về nhân vật “ta”? (1,5đ) |
Phương pháp giải:
Chú ý những dòng thơ, từ ngữ cho thấy mâu thuẫn đang diễn ra trong lòng nhân vật “ta” và phân tích
Lời giải chi tiết:
* Những dòng thơ, từ ngữ cho thấy mâu thuẫn:
- “Em dù xinh nhưng chẳng của ngày xưa xuất hiện hai lần trong tác phẩm, ở dòng thơ thứ của khổ thơ thứ, thứ 6 của bài thơ.
- Từ “những”, “cho dừ”, “nhưng”, vẫn xuất hiện nhiều lần diễn tả những sự đối lập mâu thuẫn trong tâm hồn nhà thơ: em đẹp – em đã thay đổi, em không còn là em của ngày xưa; em không chung thuỷ; anh vẫn ngắm nhìn em nhưng không thể yêu em nữa, phải dằn lòng quên em.
*Hiểu thêm nhân vật “ta”
- Đã từng yêu say đắm một cô gái xinh đẹp kiều diễm và quyến rũ.
- Đang phải dằn lòng để chối từ tình yêu không chung thuỷ.
- Là người có quan niệm đúng đắn về tình yêu: tình yêu phải chân thành, không giả dối; mất niềm tin là mất tình yêu; giá trị đáng quý nhất ở cô gái chính là tình yêu Thuỷ chung, chân thành.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2 điểm)
|
Câu 1. Nêu chủ đề của bài thơ. Chia sẻ suy nghĩ của em về quan điểm tình yêu thể hiện trong bài thơ (trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn đã được học
Nêu quan điểm, ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
– Chủ đề: Sự giả dối, phản bội sẽ giết chết tình yêu/ Chỉ có tình yêu khi có niềm
tin, sự chung thuỷ và tình cảm chân thành.
– Xác định quan điểm tình yêu trong bài thơ. (Học sinh tự suy luận, đúc rút.)
– Triển khai đoạn văn bản:
+ Rõ cấu trúc (mở, thân, kết)
+ Thể hiện mạch lạc suy nghĩ, quan điểm của cá nhân về tình yêu (sự chung
thuỷ, nỗi đau của con người khi tình yêu chết).
Câu 2. (4đ)
|
Từ văn bản đọc hiểu Tình đã chết (Thomas Moore) ở phần Đọc hiểu, em hãy viết văn bản (600 chữ) bàn luận và thể hiện quan điểm của mình về lòng chung thủy trong tình yêu đôi lứa của thanh niên ngày nay. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Từ văn bản đọc hiểu Tình đã chết (Thomas Moore) ở phần Đọc hiểu, em hãy viết văn bản (600 chữ) bàn luận và thể hiện quan điểm của mình về lòng chung thủy trong tình yêu đôi lứa của thanh niên ngày nay. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề nghị luận và tác phẩm liên quan Tình đã chết (Thomas Moore) - Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ |
|
Thân bài |
3,0 |
* Về vấn đề từ văn bản đọc - Về nỗi đau khổ của nhân vật “ta” (vì mất niềm tin, bị phản bội) - Về tình yêu thiếu sự chân thành của nhân vật “em” - Về tình yêu thiếu sự chân thành của nhân vật “em” - Về quan điểm tình yêu của “ta” * Nêu khái niệm và bàn luận về lòng chung thủy trong tình yêu đôi lứa: - Biểu hiện của lòng chung thủy trong tình yêu (lí lẽ, dẫn chứng,…) - Biểu hiện của sự giả dối, không chung thủy và những hệ lụy của nó trong đời sống hiện đại (dẫn chứng từ thực tiễn) *Quan niệm, chính kiến của bản thân: - Về lòng chung thủy trong tình yêu - Ứng xử khi phải đối mặt với sự giả dối, mất niềm tin trong tình yêu |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề - Hành động của cá nhân (trong tình huống giả định) |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng các thao tác phân tích so sánh, chứng minh, bình luận - Dẫn chứng phù hợp với lí lẽ, luận điểm |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 5
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
BÀ BA VÁY (Mẫu thượng ngàn) VÀ LỖ TOÀN NHI (BÁU VẬT CỦA ĐỜI) DƯỚI GÓC NHÌN SO SÁNH
(Đào Phương Huệ)
(1) [...] Trong Mẫu thượng ngàn – Nguyễn Xuân Khánh cũng như Báu vật của Mạc Ngôn, ta bắt gặp rất nhiều nhân vật nữ. Đó là Lỗ Toàn Nhi cùng với bảy người con gái Lai Đệ, Chiêu Đệ, Lãnh Đệ, Tưởng Đệ, Phán Đệ, Niệm Đệ, Cầu Đệ, Ngọc Nữ,.. những người con của vùng Cao Mật Trung Quốc. Đó là bà ba Váy, cổ Ngát (tổ cô), cô mõ Hoa, cô Ngơ, thím Pháo, cô Mùi, bé Nhụ,... trong Mẫu thượng ngàn. Họ là những người phụ nữ của đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Thế giới nhân vật nữ trong hai sáng tác này tạo nên sức hút và giá trị cho tác phẩm, và cũng góp phần tạo nên “thương hiệu” của nhà văn. Sức cuốn hút ở họ chính là sự hoà quyện bền chặt giữa cái hư ảo và cái hiện sinh. Ở mỗi người phụ nữ này, ta thấy rất rõ vẻ đẹp rất riêng và rất chung, rất bản địa mà cũng lại rất nhân loại.
(2) Bà ba Váy trong Mẫu thượng ngàn cũng như Lỗ Toàn Nhi trong Báu vật của
đời đều là những người phụ nữ vô cùng xinh đẹp, tràn đầy sức sống nhưng cuộc đời và tình duyên của họ vô cùng éo le, chứa đựng những bí mật đau đớn. Lỗ Toàn Nhi, cô gái ở vùng quê Cao Mật xinh đẹp, dịu dàng có cuộc đời gắn liền với bao thăng trầm biến cố của lịch sử ở vùng đất Cao Mật – Đại La. Ngay những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, Toàn Nhi đã nếm trải sự tàn khốc của chiến tranh. Cả gia đình cô bị quân Đức tàn sát, chỉ có cô bé Toàn Nhi sáu tháng tuổi sống sót. Người cô ruột đã nuôi Toàn Nhi, thấy cô càng lớn càng đẹp nên đã chăm chút “đầu tư” hi vọng sẽ gả vào nơi danh giá. Vì thế mà năm tuổi, Toàn Nhi đã phải bó chân. Mười sáu tuổi, Toàn Nhi xinh tươi rực rỡ, là báu vật loại một của vùng Cao Mật cùng với lời tuyên bố của người chú: Con Toàn Nhi nhà tôi nhất định phải gả cho một trạng nguyên nhưng cuối cùng Toàn Nhi lại phải sống kiếp tôi tớ trong nhà Thượng Quan... với người chồng Thọ Hi bất tài, yếu đuối, cô đã đẻ 9 đứa con với 7 người đàn ông nhưng 7 lần sinh nở đầu toàn là con gái... Cô phải vượt cạn trong trong sự lo lắng, sợ hãi bẩn thỉu và cô đơn. Sinh con trên một giường mà đệm là đất bột trộn máu trong khi cả nhà bố mẹ chồng và chống lại đang chăm bằm, nâng niu một con lừa cũng đang đau đẻ. Những tập tục phi lí và nhà thượng quan vô nhân đạo đã biến Toàn Nhi từ cô gái dịu dàng thành nhẫn nhục, căm ghét và nuôi ý định trả thù với ý nghĩ: “Toàn Nhi này có đẻ thêm một ngàn đứa nữa, cũng không phải là giống nhà Thượng Quan” Lỗ Toàn Nhi đã phải vật lộn với đời, đã bị những biến động của lịch sử quăng quật, dày vò mà vẫn sống, sống mãnh liệt, sống như không thể gì có thể chôn vùi nổi. Đó là sức sống của vùng quê Cao Mật, của đất nước Trung Quốc – quê hương của tác giả...
Kết thúc kiếp làm dâu đau khổ chuyển sang vai trò làm chủ gia đình, tình yêu và cuộc sống của bà đều hướng đến và dâng trọn cho những đứa con thân yêu của mình.
Bà ba Váy (Mẫu thượng ngàn) là người con của đồng bằng bắc bộ Việt Nam đẹp, rất nữ tính căng tràn sức sống, vô cùng quyến rũ. Vẻ đẹp ấy phát lộ rất sớm, được nhà văn miêu tả rất sinh động, đầy cảm hứng. Ngay từ thuở mười ba, cô Váy “mặt tròn như cái đĩa. Nhà nghèo mà da lúc nào cũng trắng muốt. Cô mũm mĩm, tính tình hồn nhiên như trẻ thơ”, dường như bao nhiêu sức sống của vùng đất Cổ Đình như ẩn chứa, như dòng chảy ngầm tích tụ trong thân thể, trong tính cách hồn nhiên của cô. Vẻ đẹp ấy vừa là tín ngưỡng vừa thể hiện tính phồn thực và sự trường tồn của một vùng quê, của dân tộc Việt. Ta như thấy đích thực những lam lũ, bùn đất của cuộc sống thôn quê đang vun vào, điểm tô, nuôi dưỡng vẻ đẹp, sức sống cho nó. Đời bà ba Váy giông bão khi nhận ra sự trở về của Phác – người xưa nay là Trịnh Huyền. Từ đây, bà bị đẩy vào tình thế oái ăm: bao khao khát yêu thương với Phác đều phải dấm dúi, vụng trộm, đau đớn tột cùng khi chứng kiến cảnh con định giết cha buộc bà phải thét lên lên: “Con ơi là con! Cha mày đấy! Mày định giết cha đẻ mày sao?". Nỗi đau con không chịu nhận cha, con lánh mặt mẹ giày vò bà “đau điếng từng khúc ruột... bà khóc một mình, khóc ròng ròng”. Nỗi đau lớn nhất của đời bà ba Váy là phải chứng kiến cảnh ông Trịnh Huyền, người xưa bị giết, bị bêu đầu mà không thể kêu khóc, không được chôn cất, không được để tang... Nỗi đau buộc phải câm nín, buộc phải chôn chặt trong lòng đã hoá thành “tâm bệnh” khiến bà ba Váy đã hoàn toàn khác bà ba Váy ngày xưa. Người đàn bà hồng hào, đầy sức sống, lúc nào cũng tươi tắn nay bỗng nhiên héo hon, sầu thảm,...
Dường như, bao biến động của thời cuộc, của lịch sử đều lặn cả vào đời của Lỗ Toàn Nhi và cái đĩ Váy để biến thành những u bướu”, “di căn” hành hạ họ. Bà ba nhà Lí Cỏn, người đàn bà họ Lỗ kia có thể chống chọi với vất vả, khốn khổ của cuộc đời để sống để nuôi con nhưng họ lại không thể chống lại những nỗi đau tinh thần chôn sâu trong tâm khảm. Đây mới mới thật sự là những dâu bể cuộc đời đã đày đoạ và vắt kiệt sức của họ. Đây mới là cái nhìn sâu sắc, đầy xót thương đầy cảm thông mà nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và nhà văn Mạc Ngôn dành cho những người phụ nữ xinh đẹp tràn đầy sức sống mà khốn khổ của quê hương, đất nước mình.
Đến với Báu vật của đời và Mẫu thượng ngàn, ta đều thấy rất rõ những người
phụ nữ ở đây đều đang sống trong dòng chảy lịch sử với những biến động
dữ dội, những giết chóc đau thương, những cuộc tàn sát thảm khốc. Bối cảnh ấy đã làm nổi bật hình tượng người phụ nữ mạnh mẽ bất diệt – người mẹ nhân hậu đầy yêu thương. Đầu tiên, ta thấy biểu tượng của người mẹ, biểu tượng của nữ tính thể hiện ở hai nhan đề. Nói đến “Mẫu” là nói đến người mẹ; Nói Báu vật của đời – Phong nhũ phì đồn: vú to mông nẩy là nói đến nữ tính, nói đến vượng khí gợi sự sinh sôi, nảy nở. Những ý nghĩa này là chủ đề của tác phẩm là mạch nguồn chính lan toả trong tác phẩm... Bà ba Váy và hàng loạt nhân vật nữ trong Mẫu thượng ngàn đều là dào dạt sức sống, tràn đầy sinh lực. Họ chính cội nguồn của sự sống, là “Mẫu” của sự sống, bà đẻ một bầy con cho ông Lí một mạch bốn thằng con trai, một đứa con gái” và tất thảy chúng đều xinh đẹp và khoẻ mạnh... Thời gian và thiên chức làm mẹ như đang trao thêm nhựa sống cho bà. Ông Lí Cỏn như cũng ngỡ ngàng trước sức trẻ ấy. “Đã sáu con, không hiểu sao lại nhiều sức sống đến thế. Những lần sinh nở hình như chẳng làm suy kiệt, mà chỉ làm cho bà được vỡ da vỡ thịt, da thịt được triển nở sung mãn”.
Mặc cho chồng muốn đặt tên chúng cho văn hoa là Xuân, Hạ, Thu, Đông. Còn đứa con gái thì đặt tên là Đào (Đào, Mai, Lan, Cúc), bà cứ gọi chúng là thằng Cò, thằng Tũn, thằng Tin và thằng Bồi với cái đi Váy con. Cũng giống như ba ba Váy trong Mẫu thượng ngàn, Lỗ Toàn thị trong Báu vật của đời cũng dào dạt sức sống. Người phụ nữ này thấm nhuần chân lí nghiệt ngã: “Là đàn bà, không lấy chồng không được, lấy chồng mà không sinh con không được, sinh con toàn con gái cũng không được. Và Toàn Nhi đã sinh rất nhiều con, Tám “cuộc” là 9 đứa con (8 gái, 1 trai). Đàn con này khiến cuộc sống của Toàn Nhi thêm khốn đốn. Vậy mà người mẹ khốn khổ này vẫn vô cùng yêu thương chúng. Khi Niệm Đệ vừa lọt lòng, mẹ chồng thấy vẫn là con gái, liền túm lấy hai chân định đem dìm chết trong chum nước. Toàn Nhi nhào xuống đất ôm chặt hai chân mẹ chồng, van xin: “Mẹ ơi mẹ, xin mẹ mở lượng từ bi, thương yêu, bé bỏng chính là chỗ dựa duy nhất để bà tiếp tục sống. Người mẹ vĩ đại ấy sinh con hầu hạ mẹ nửa năm nay mà tha cho cháu bé” Với Toàn Nhi những đứa con thân nỗ lực để sinh tồn, vì chỉ có sinh tồn mới có thể nuôi dưỡng chăm lo cho các con. Vì sự sống của đàn con cháu, đã có lúc, Lỗ thị đã biến bao tử của mình thành một túi chứa đậu. Bà trộm đậu trong hợp tác xã rồi nuốt vào, về đến nhà lại nôn ra, lấy đậu để nuôi con nuôi cháu. Đối với các con, bà sẵn sàng làm ngọn gió, chắp thêm sức mạnh cho các con vươn đôi cánh bay thật xa, thật lâu và khi những đôi cánh ấy mệt mỏi, thì bà mẹ Lỗ thị lại là nguồn an ủi, là chốn quay về bình yên và an toàn nhất.
Người phụ nữ trong Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), trong Báu vật của đời (Mạc Ngôn) là những người mẹ, là “mẫu” làm nảy sinh sự sống và nuôi dưỡng sự sống vì vậy họ luôn xuất hiện gắn với hình ảnh bầu vú. Bầu vú trong nguyên bản vốn là thiên phú của cơ thể nữ, nó mang ý nghĩa phồn thực, biểu trưng cho sự sinh sôi nảy nở giống loài. Từ xa xưa, Mĩ học đã coi trọng vẻ đẹp của bầu vú. Theo thời gian, bầu vú đã dần dần đã được linh thiêng hoá, nó gắn liền với khát vọng sinh dưỡng. [...]
(3) Nguyên nhân của sự gặp gỡ của Báu vật ở đời và Mẫu thượng ngàn là do những nét tương đồng về văn hoá, về hướng phát triển của văn học, ý tưởng, khát vọng và nguồn cảm hứng sáng tác của nhà văn... Nguyễn Văn Khánh nói rằng: “Tôi yêu và kính trọng người mẹ của tôi, một người đàn bà Việt thuần chất. Tôi được cảm nhận không khí của đạo Mẫu từ thuở bé vì thường hay đi theo mẹ đến khắp các đình chùa miếu mạo Việt Nam.. Còn Mạc Ngôn cũng đã phát biểu: “Phụ nữ luôn đóng vai trò quan trọng trong các tác phẩm của tôi. Qua trải nghiệm, tôi biết được rằng, khi gặp khó khăn hoặc khi tâm trí bạn đang rối bời, thì phụ nữ sẽ là nguồn an ủi bạn.
Phụ nữ khôi phục mọi thứ mà đàn ông đã phá huỷ”. Hiện thực sinh động của đời sống, nguồn tình cảm mãnh liệt dành cho người thân là chất liệu quý để các tác giả sáng tạo nên hình tượng người mẹ, sáng tạo nên những kiệt tác văn học.
Việc “nghiên cứu song song” phát hiện những nét tương đồng trong Mẫu thượng ngàn với Báu vật của đời, tác phẩm đoạt giải nhất về tiểu thuyết của Hội Nhà văn Trung Quốc, tháng 12/1995 của Mạc Ngôn, tác giả đoạt giải Nobel Văn học năm 2012, cho thấy văn học hiện đại Việt Nam ở một khía cạnh nào đó, đã xuất hiện kiệt tác thuần tuý “nội sinh” có thể sánh đẹp với tác phẩm ưu tú ở khu vực cũng như thế giới. Với việc đề cập đến những vấn đề mang tính dân tộc, nhân loại từ sức sống mãnh liệt của người phụ nữ, chứng tỏ văn học Việt Nam đang từng bước hoà nhập vào dòng chảy của văn học thế giới.
(Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt tháng 3/2014)
Câu 1. Nhan đề Bà Ba Váy (Mẫu thượng ngàn) và Lỗ Toàn Nhi (Báu vật của đời) dưới góc nhìn so sánh cho em biết điều gì về nội dung văn bản? (0.5 điểm)
Câu 2. Đánh giá mức độ phù hợp giữa nội dung với nhan đề của văn bản. (0.5 điểm)
Câu 3. Nêu nội dung chính của từng phần đã được đánh số trong văn bản và xác
định các thao tác lập luận chính của văn bản. (1.0 điểm)
Câu 4. Xác định vấn đề trọng tâm của văn bản. Cho biết: Tác giả đã triển khai vấn đề trọng tâm của văn bản như thế nào? (1.0 điểm)
Câu 5. Mục đích của người viết văn bản là gì? Vấn đề tác giả nêu trong văn bản có ý nghĩa như thế nào đối với việc nghiên cứu văn học của nước nhà ! (1.0 điểm)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Từ văn bản đọc hiểu trên, em tích luỹ thêm được kinh nghiệm nào để viết bài văn so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện? (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm)
Câu 2. (4đ)
Hãy lựa chọn hai truyện ngắn đã đọc để so sánh, đánh giá làm nổi bật
nét tương đồng về tính cách của nhân vật chính, một nét tương đồng về nghệ
thuật xây dựng nhân vật bằng văn bản nghị luận (600 chữ).
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm
Đáp án
Đáp án đề 5
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Nhan đề Bà Ba Váy (Mẫu thượng ngàn) và Lỗ Toàn Nhi (Báu vật của đời) dưới góc nhìn so sánh cho em biết điều gì về nội dung văn bản? (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhan đề và văn bản
Lời giải chi tiết:
- Nhan đề văn bản cho biết nội dung và mục đích của văn bản:
+ Nội dung: So sánh hai hình tượng nhân vật văn học từ hai tác phẩm nổi tiếng Lỗ Toàn Nhi trong Báu vật của đời của Mạc Ngôn (Trung Quốc) và Bà Ba Váy trong Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (Việt Nam)
+ Mục đích: Làm rõ nét tượng đồng ở hai nhân vật, khẳng định tài năng của hai nhà văn Mạc Ngôn (Trung Quốc) và Nguyễn Xuân Khánh (Việt Nam)
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Đánh giá mức độ phù hợp giữa nội dung với nhan đề của văn bản. (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhan đề văn bản và nội dung
Lời giải chi tiết:
- Nhan đề Ba Ba Váy (Mẫu thượng ngàn) và Lỗ Toàn Nhi (Báu vật của đời) dưới góc nhìn so sánh phù hợp, thể hiện rõ nội dung và mục đích của văn bản
- Bởi văn bản sử dụng thao tác so sánh để làm nổi bật nét tương đồng của hai nhân vật và ý nghĩa của sự tương đồng đó
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Nêu nội dung chính của từng phần đã được đánh số trong văn bản và xác định các thao tác lập luận chính của văn bản. (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về các thao tác lập luận
Lời giải chi tiết:
- Nội dung chính:
+ Đoạn 1: Giới thiệu vấn đề
+ Đoạn 2: Những nét tương đồng ở hai nhân vật Ba Váy và Lỗ Toàn Nhi
+Đoạn 3: Ý nghĩa của việc nghiên cứu song song, so sánh nhân vật trong tác phẩm truyện/văn học của 2 quốc gia
- Thao tác lập luận chính của văn bản:
+ Thao tác so sánh
+ Thao tác phân tích, chứng minh
+ Thao tác tổng hợp
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Xác định vấn đề trọng tâm của văn bản. Cho biết: Tác giả đã triển khai vấn đề trọng tâm của văn bản như thế nào? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, xác định vấn đề trọng tâm
Lời giải chi tiết:
- Vấn đề trọng tâm của văn bản: những nét tương đồng của hai nhân vật ba Ba Váy và Lỗ Toàn Nhi trong hai tác phẩm
- Triển khai văn bản: Nội dung trọng tâm/luận đề của văn bản được triển khai ở đoạn văn bản số hai với các luận cứ
+ Bà Ba Váy trong Mẫu thượng ngàn cũng như trong Lỗ Toàn Nhi trong Báu vật của đời đều là những phụ nữ vô cùng xinh đẹp, tràn đầy sức sống nhưng cuộc đời và tình duyên của họ vô cùng éo le, chứa đựng những bí mật đau đớn
+ Bà Ba Váy trong Mẫu thượng ngàn cũng như Lỗ Toàn Nhi trong Báu vật của đời đều sống trong dòng chảy lịch sử với những biến động dữ dội, những chết chóc đau thương, những cuộc tàn sát thảm khốc
+ Người phụ nữ trong Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), trong Báu vật của đời (Mạc Ngôn) là những người mẹ, là “mẫu” làm nảy sinh sự sống và nuôi dưỡng sự sống
Câu 5 (1 điểm)
|
Câu 5. Mục đích của người viết văn bản là gì? Vấn đề tác giả nêu trong văn bản có ý nghĩa như thế nào đối với việc nghiên cứu văn học của nước nhà ! (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và rút ra mục đích của người viết
Từ đó suy ra ý nghĩa đối với việc nghiên cứu văn học nước nhà
Lời giải chi tiết:
- Mục đích của người viết văn bản:
+ Làm rõ nét tương đồng ở hai nhân vật (bà Ba Váy và Lỗ Toàn Nhi), khẳng định tài năng của hai nhà văn Mạc Ngôn (Trung Quốc) và Nguyễn Xuân Khánh (Việt Nam)
+ Khẳng định thành công, sức sống và khả năng hòa nhập vào dòng chảy của văn học thể giới của văn học Việt Nam → niềm tự hào về văn học nước nhà
- Vấn đề tác giả nêu trong văn bản (nét tương đồng ở hai tác phẩm thuộc hai quốc gia) có ý sâu sắc đối với việc nghiên cứu văn học của nước nhà, văn học khu vực và văn học thế giới trong thời kì hội nhập, thời đại 4.0, để thấy được:
+ Sự giao thoa, ảnh hưởng giữa các nền văn học, các quốc gia trong thời kì hội nhập
+ Tính dân tộc, nhân loại, sự hòa nhập của văn học mỗi quốc gia, văn học thế giới
II. VIẾT (4,0 điểm)
Câu 1. (2 điểm)
|
Câu 1. Từ văn bản đọc hiểu trên, em tích luỹ thêm được kinh nghiệm nào để viết bài văn so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện? (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đưa ra quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
Đoạn văn đảm bảo dung lượng 200 chữ và nội dung hương vào những ý sau:
- Học sinh tự trả lời (từ kiến thức nền và sự tiếp nhận, nhận thức của mỗi cá nhân)
- Tham khảo gợi ý: chú ý cách triển khai vấn đề; khái quát nét chung ở hai nhân vật, hai tác phẩm; cách lựa chọn, sắp sếp dẫn chứng; sử dụng các thao tác nghị luận như phân tích, so sánh, chứng minh,…)
Câu 2. (4đ)
|
Hãy lựa chọn hai truyện ngắn đã đọc để so sánh, đánh giá làm nổi bật nét tương đồng về tính cách của nhân vật chính, một nét tương đồng về nghệ thuật xây dựng nhân vật bằng văn bản nghị luận (600 chữ). |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Hãy lựa chọn hai truyện ngắn đã đọc để so sánh, đánh giá làm nổi bật nét tương đồng về tính cách của nhân vật chính, một nét tương đồng về nghệ thuật xây dựng nhân vật bằng văn bản nghị luận (600 chữ). |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Tên sách; Tên tác giả (hình ảnh: bìa sách và tác giả) - Nhà xuất bản; nơi phát hành (địa chỉ mua sách) |
|
Thân bài |
3,0 |
*Nét tương đồng (gọi tên nét tương đồng) - Tính cách của nhân vật ở tác phẩm 1 - Tính cách của nhân vật ở tác phẩm 2 - Ý nghĩa của nét tính cách biểu hiện ở hai nhân vật *Nét tương đồng nghệ thuật xây dựng nhân vật (Học sinh xác định ở hai tác phẩm đã lựa chọn một trong các yếu tố sau) - Miêu tả diễn biến tâm lý - Khắc họa diện mạo, đối thoại - Thể hiện cảm xúc ở nhân vật |
|
Kết bài |
0,25 |
- Khái quát giá trị, sự đóng góp của hai tác giả ở đề tài tư tưởng - Sự tác động của hai tác phẩm vào cảm xúc nhận thức của cá nhân |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Lựa chọn được hai truyện ngắn có cùng phong cách (hiện thực/ lãng mạn) như Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và Tuyết (K.G. Paustovsky) hoặc Chí Phèo (Nam Cao) và Vợ nhặt (Kim Lân) - Sử dụng thành thạo các thao tác lập luận: so sánh, phân tích, khái quát/tổng hợp |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 6
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
PHẦN I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
RỒI NGÀY MAI CON ĐI
Rồi ngày mai con xuống núi
Ngỡ ngàng
Đất rộng, trời thấp
Bước đầu tiên
Con vấp gót chân mình.
Rồi ngày mai con xuống núi
Gặp phố phường ngã bảy, ngã mười
Gặp lòng người đỏ, vàng, đen, trắng
Mỗi lần vấp, một bước đi
Sẽ sực nhớ người thầy trên núi.
Bố mẹ cho con cán rìu, lưỡi hái
Vung một sải quang ba ngọn đồi
Nhưng chưa đủ mo cơm, tay nải
Trên đường xa về phía chân trời.
Người thầy ngồi lặng lẽ sương khuya
Áo cổ lông không ngăn được rét rừng như chích
Chăm giáo án như vun từng đốm than tí tách
Thắp lửa hồng ấm mãi tim con.
Ngọn lửa ấy là mo cơm khi đói
Là chiếc gậy con vịn đường mưa
Là ngón tay gõ vào chốt cửa
Phía sau kia rộng mở nụ cười.
Ngày mai con xuống núi
Cùng tay nải hành trang đầu tiên
Đi như suối chảy về với biển
Chớ quên mạch đá cội nguồn.
(Lò Cao Nhum, Gốc trời, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2009)
Thực hiện yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định đối tượng trữ tình trong bài thơ.
Câu 2. Chỉ ra những điều mà ngày mai con xuống núi, con sẽ gặp.
Câu 3. Nêu hiệu quả nghệ thuật của phép tu từ ẩn dụ trong đoạn thơ sau:
Người thầy ngồi lặng lẽ sương khuya
Áo cổ lông không ngăn được rét rừng như chích
Chăm giáo án như vun từng đốm than tí tách
Thắp lửa hồng ấm mãi tim con.
Câu 4. Suy nghĩ của anh/ chị về lời dặn dò của người thầy dành cho con trong đoạn thơ sau:
Ngày mai con xuống núi
Cùng tay nải hành trang đầu tiên
Đi như suối chảy về với biển
Chớ quên mạch đá cội nguồn.
Câu 5. Từ nội dung của dòng thơ: Mỗi lần vấp, một bước đi, anh/ chị hãy rút ra bài học cuộc sống cho bản thân.
PHẦN II. VIẾT
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh “mạch đá cội nguồn” trong lời nhắn nhủ “Chớ quên mạch đá cội nguồn”.
Câu 2 (4,0 điểm)
“Tuổi trẻ không nhất thiết phải gắn liền với sức khỏe và vẻ tráng kiện bên ngoài, mà lại gắn với ý chí mạnh mẽ, trí tưởng tượng phong phú, sự mãnh liệt của tình cảm và cảm nhận phấn khởi với suối nguồn cuộc sống. Tuổi trẻ thể hiện ở lòng can đảm chứ không phải tính nhút nhát, sở thích phiêu lưu trải nghiệm hơn là ở sự tìm kiếm an nhàn.”
(Trích Điều kỳ diệu của thái độ sống – Mac Anderson, NXB Tổng hợp Tp.Hồ Chí Minh, 2017, tr.68)
Anh/ chị có đồng tình với quan điểm trên không? Hãy trình bày suy nghĩ của bản thân qua một bài văn nghị luận xã hội (khoảng 600 chữ)
HẾT
Lời giải
Phần I. Đọc hiểu
Câu 1:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để xác định đối tượng hướng tới xuyên suốt bài thơ
Cách giải:
Đối tượng trữ tình: người con
Câu 2:
Phương pháp:
Tìm chi tiết trực tiếp trong văn bản.
Cách giải:
- Theo văn bản, ngày mai con xuống núi, con sẽ gặp:
+ phố phường ngã bảy, ngã mười
+ lòng người đỏ, vàng, đen, trắng
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ ẩn dụ để phân tích tác dụng
Cách giải:
- Biện pháp tu từ ẩn dụ: Chăm – vun, thắp lửa
- Tác dụng :
+ Tăng sức gợi hình, gợi cảm
+ Lời thơ nhắc nhớ về người thầy cần mẫn, chăm chỉ, tận tâm chăm chút từng trang giáo án để có những bài dạy hay nhất, ý nghĩa nhất, để truyền cảm hứng, tình yêu, niềm tin cho học trò.
+ Tình yêu thương và lòng biết ơn của nhân vật trữ tình đối với người thầy của con mình.
Câu 4:
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn thơ để phân tích lời dặn dò của người thầy dành cho con
Cách giải:
Đoạn thơ: Ngày mai con xuống núi
Cùng tay nải hành trang đầu tiên
Đi như suối chảy về với biển
Chớ quên mạch đá cội nguồn.
- Lời dặn dò của người cha dành cho con: Trên con đường thực hiện ước mơ, khát vọng của mình, con hãy mạnh mẽ, kiên cường, bền bỉ và đừng bao giờ quên cội nguồn, quê hương, bản quán.
- Đó là lời dặn dò tha thiết, sâu sắc, chứa đựng tình yêu thương bao la mà người cha dành cho con.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý: Mỗi lần vấp, một bước đi
- Mỗi lần thất bại, hãy mạnh mẽ và tiếp tục bước đi.
- Không sợ thất bại.
- Chấp nhận thất bại và vượt lên nó.
…
Cách giải:
Câu thơ "Mỗi lần vấp, một bước đi" đúc kết một bài học sâu sắc về sự trưởng thành. Nó nhắc nhở chúng ta rằng thất bại hay khó khăn không phải là dấu chấm hết, mà chính là cơ hội để học hỏi, để mạnh mẽ hơn và tiến về phía trước. Mỗi lần vấp ngã, nếu ta biết đứng dậy và rút kinh nghiệm, thì đó sẽ trở thành một bước đệm vững chắc cho những bước đi kế tiếp. Bài học này khuyên ta hãy giữ vững ý chí, đừng nản lòng trước nghịch cảnh, bởi hành trình đến với thành công luôn được xây bằng chính những lần ta can đảm vượt qua thất bại của bản thân.
Phần II. Viết
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
1. Mở đoạn: Giới thiệu trực tiếp hình ảnh và lời nhắn nhủ.
2. Thân đoạn:
- Giải thích ý nghĩa biểu tượng của "mạch đá cội nguồn".
- Phân tích, bình luận về sự cần thiết của lời nhắn nhủ.
- Bài học nhận thức và hành động.
3. Kết đoạn: Khẳng định lại giá trị lâu bền của lời nhắn nhủ.
Cách giải:
Lời nhắn nhủ "Chớ quên mạch đá cội nguồn" trong bài thơ "Rồi ngày mai con đi" của Lò Cao Nhum đã xây dựng thành công một hình ảnh biểu tượng giàu sức gợi. "Mạch đá cội nguồn" không đơn thuần là hình ảnh thiên nhiên núi rừng, mà đã trở thành một ẩn dụ nghệ thuật sâu sắc. "Mạch đá" gợi sự bền vững, trường tồn, kiên cố; "cội nguồn" hướng về gốc rễ, nơi bắt đầu. Kết hợp lại, hình ảnh này biểu trưng cho những giá trị thiêng liêng, bất biến: đó là quê hương bản quán, là tình thầy trò, là truyền thống văn hóa, là những bài học đạo lý đầu đời. Trong mạch vận động của bài thơ, khi người con "xuống núi" để hòa nhập với cuộc sống hiện đại "phố phường ngã bảy, ngã mười", thì lời nhắn nhủ này càng thể hiện rõ ý nghĩa. Nó như một sự cảnh báo về nguy cơ đánh mất bản sắc, một lời nhắc nhở về mối quan hệ hữu cơ giữa con người với nguồn cội. Bằng hình tượng nghệ thuật này, nhà thơ không chỉ truyền tải thông điệp đạo lý về lòng biết ơn, mà còn khẳng định: việc gìn giữ "mạch đá cội nguồn" chính là giữ lấy cốt cách, bản sắc.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài.
Có nhiều quan niệm về lối sống của tuổi trẻ. Sau đây là một quan cần suy nghĩ, bàn luận (giới thiệu nhận định).
2. Thân bài
2.1. Ý nghĩa của nhận định là gì?
Khẳng định, đề cao bản chất thật sự, cần có của tuổi trẻ, đó là sức mạnh bên I bao gồm trí tuệ, tình cảm và tính cách.
2.2. Vì sao tuổi trẻ phải gắn với ý chí mạnh mẽ, trí tưởng tượng phong phú, sự mãnh liệt của tình cảm và cảm nhận phấn khởi với suối nguồn cuộc sống?
- Vì tuổi trẻ là giai đoạn học tập, rèn luyện để hoàn thiện bản thân, là thời kì lập lập nghiệp, có nhiều thử thách, chông gai phía trước, do đó, cần có ý chí mạnh là vượt qua những khó khăn, thách thức.
– Vì tuổi trẻ còn ít kinh nghiệm, dễ bị cám dỗ, trượt ngã, chệch hướng, lạc đường nên cần có nghị lực, sự mạnh mẽ để giữ vững lập trường, kiên định với con đường đã chọn và không bị sa ngã.
- Vì tuổi trẻ là giai đoạn “vàng”, sung sức của trí tuệ và tình cảm, của tưởng tượng và sáng tạo, cần phát huy những lợi thế đó để phát triển.
- Vì tuổi trẻ là giai đoạn thanh xuân, tương lai còn rộng dài phía trước với biết bao cơ hội tốt đẹp, do đó, cần lạc quan, phấn khởi, tiếp nhận những giá trị tốt đẹp mà cuộc sống đem lại.
- Chứng minh bằng một số tấm gương tuổi trẻ tiêu biểu trong cuộc sống theo một hoặc một số nội dung trên.
2.3. Vì sao tuổi trẻ thể hiện ở lòng can đảm chứ không phải tính nhút nhát, ở sở thích phiêu lưu trải nghiệm hơn là ở sự tìm kiếm an nhàn?
- Vì nếu nhút nhát tuổi trẻ sẽ không phát huy được sức trẻ, không thể dấn thân trên con đường tạo dựng sự nghiệp.
– Vì tuổi trẻ chưa phải là thời điểm an nhàn sau một hành trình nỗ lực, tuổi trẻ là lúc phải tăng cường trải nghiệm, giao lưu, để tìm hiểu thế giới, mở rộng hiểu biết về cuộc sống, phát triển bản thân và cống hiến cho cộng đồng.
- Chứng minh bằng một số tấm gương tuổi trẻ can đảm, dám dấn thân, mạo hiểm và đã thành công.
2.4. Bình luận mở rộng
- Tuy tác giả không hoàn toàn phủ nhận vai trò của sức khỏe và vẻ tráng kiện nhưng thực tế cho thấy hai yếu tố trên rất quan trọng với các bạn trẻ. Không có sức khỏe thể chất thì khó có sức khỏe tinh thần, một cơ thể khỏe mạnh là bệ phóng của một trí tuệ sung mãn. Tráng kiện là vẻ đẹp mà tuổi trẻ sở hữu, cần vun đắp cho nó, trước khi nó bị mai một theo thời gian.
- Tất cả sự mạnh mẽ, mãnh liệt trong suy nghĩ, tình cảm hành động không tự nhiên mà có, chúng chỉ hình thành và phát triển khi tuổi trẻ không ngừng học hỏi và rèn luyện bản thân.
Lưu ý: HS cũng có thể trình bày theo cách khác, nhưng cần đưa ra các lí lẽ, dẫn chứng và lập luận thuyết phục để làm sáng tỏ quan điểm của mình.
3. Kết bài.
- Quan điểm của Mac Anderson rất đúng đắn, thể hiện góc nhìn sâu sắc về tuổi trẻ.
- Mỗi bạn trẻ cần nhận thức đúng và có hành động đúng để xứng đáng với thời kì thanh xuân mà cuộc đời trao tặng
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Tuổi trẻ là quãng thời gian tươi đẹp và ý nghĩa nhất của đời người. Ở độ tuổi ấy, con người mang trong mình bao ước mơ, hoài bão và khát vọng vươn lên. Có nhiều quan niệm khác nhau về tuổi trẻ, nhưng ý kiến của Mac Anderson trong tác phẩm “Điều kỳ diệu của thái độ sống” thật đáng suy ngẫm: “Tuổi trẻ không nhất thiết phải gắn liền với sức khỏe và vẻ tráng kiện bên ngoài, mà lại gắn với ý chí mạnh mẽ, trí tưởng tượng phong phú, sự mãnh liệt của tình cảm và cảm nhận phấn khởi với suối nguồn cuộc sống.”
Câu nói trên khẳng định rằng giá trị của tuổi trẻ không chỉ nằm ở sức mạnh thể chất mà quan trọng hơn là ở sức mạnh tinh thần. Tuổi trẻ đẹp nhất khi con người có ý chí vươn lên, có trí tuệ sáng tạo, có tình cảm nồng nàn và niềm lạc quan yêu đời. Đó là những phẩm chất làm nên vẻ đẹp đích thực của thanh xuân, giúp con người sống có mục tiêu, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm cho những lựa chọn của mình.
Tuổi trẻ là thời điểm con người bắt đầu lập thân, lập nghiệp, đối diện với nhiều thử thách và biến động. Bởi vậy, ý chí mạnh mẽ chính là hành trang cần thiết giúp mỗi người vượt qua khó khăn, thất bại để khẳng định bản thân. Nick Vujicic, chàng trai sinh ra không có tay chân, đã không đầu hàng số phận mà nỗ lực vươn lên, trở thành diễn giả nổi tiếng thế giới. Câu chuyện của anh là minh chứng rõ ràng cho sức mạnh của ý chí và tinh thần không khuất phục. Cùng với đó, trí tưởng tượng và khát vọng sáng tạo cũng là nét đặc trưng của tuổi trẻ. Nhờ dám nghĩ khác và dám hành động, những người trẻ như Mark Zuckerberg hay Elon Musk đã tạo nên bước ngoặt cho thời đại công nghệ, mở ra tương lai mới cho nhân loại.
Tuổi trẻ còn cần lòng can đảm và tinh thần dấn thân, bởi chỉ khi dám bước ra khỏi vùng an toàn, con người mới có thể trưởng thành. Nếu sống trong nhút nhát và sợ hãi, tuổi trẻ sẽ trở nên mờ nhạt, vô nghĩa. Nguyễn Ngọc Mạnh, chàng tài xế dũng cảm cứu em bé rơi từ tầng 12 ở Hà Nội, đã thể hiện một trái tim quả cảm và tinh thần trách nhiệm của người trẻ Việt Nam hôm nay. Đó chính là hình ảnh của tuổi trẻ sống đẹp, sống có ích, không ngại khó khăn nguy hiểm để lan tỏa điều tốt đẹp trong cuộc đời.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng sức khỏe thể chất vẫn giữ vai trò quan trọng. Một cơ thể khỏe mạnh là nền tảng để con người có đủ năng lượng, nghị lực và tinh thần vượt qua mọi giới hạn. Cũng cần nhận ra rằng ý chí và nghị lực không tự nhiên mà có, chúng chỉ được hình thành khi con người không ngừng rèn luyện, học hỏi và trải nghiệm.
Quan điểm của Mac Anderson đã mang đến một cái nhìn sâu sắc về giá trị của tuổi trẻ. Tuổi trẻ không chỉ là vẻ ngoài rạng rỡ mà là nội lực mạnh mẽ từ bên trong. Mỗi người trẻ cần biết trân trọng, sống hết mình, rèn luyện bản thân và nuôi dưỡng khát vọng để xứng đáng với quãng thời gian tươi đẹp nhất của đời người.
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 7
Đề bài
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
PHẦN I. ĐỌC - HIỂU
Đọc văn bản sau:
HƯƠNG THẦM
PHAN THỊ THANH NHÀN
Cửa sổ hai nhà cuối phố
Không hiểu vì sao không khép bao giờ
Đôi bạn ngày xưa học cùng một lớp
Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa.
Giấu một chùm hoa sau chiếc khăn tay
Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm
Bên ấy có người ngày mai ra trận.
Họ ngồi im không biết nói năng chi
Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi
Nào ai đã một lần dám nói?
Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối
Anh không dám xin,
cô gái chẳng dám trao
Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao
Không giấu được cứ bay dịu nhẹ.
Cô gái như chùm hoa lặng lẽ
Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu.
(Anh vô tình anh chẳng biết điều
Tôi đã đến với anh rồi đấy...)
Rồi theo từng hơi thở của anh
Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực
Anh lên đường
hương sẽ theo đi khắp
Họ chia tay
vẫn chẳng nói điều gì
Mà hương thầm thơm mãi bước người đi.
(Dẫn theo https://dantri.com.vn/blog/nho-huong-thom-noi-ho-tinh-yeu-1397260471.htm, Báo Dân trí, 06/04/2014)
Phan Thị Thanh Nhàn (1943) là một nhà thơ nữ nổi tiếng của Việt Nam. Thơ của bà, nhất là những bài thơ nổi tiếng như: Hương thầm (1973), Con đường, Trời và Đất, … để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc bởi đó là tiếng nói của một giọng thơ nữ tính, đằm thắm, dịu dàng và sâu lắng.
Theo hồi tưởng của tác giả, thi phẩm Hương thầm được bà sáng tác đúng mùa hoa bưởi (tháng 03 - 1969) để ghi nhớ ngày cậu em Phan Hữu Khải (1953 – 1972) lên đường ra trận. Dạo ấy, nhà bà ở đê Yên Phụ, vườn sau có cây bưởi cứ tới mùa hoa lại tỏa hương ngào ngạt, em trai hay hái đầy rồi bỏ làn cho chị đi làm. Ở lớp, có một bạn gái có vẻ rất gắn bó gần gũi với Khải nhưng anh không hay biết, chỉ có người chị đa cảm là để ý. Năm 1969, sau khi anh đã lên đường đi bộ đội thì người chị Phan Thị Thanh Nhàn mới sáng tác bài thơ này.
Trong giai đoạn cam go của chiến dịch Quảng Trị, Hương thầm được Đài Tiếng nói Việt Nam soạn thành bản ngâm phát ra tiền phương. Chiến sĩ Phan Hữu Khải đã biên thư về bảo chị rằng đã nghe bài này, nhưng tác giả Phan Thị Thanh Nhàn chưa kịp hồi âm bà sáng tác bài thơ ấy từ chuyện của anh thì anh đã hy sinh tại địa phận A Lưới.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Xác định nhân vật trữ tình của văn bản trên.
Câu 2: Chỉ ra dấu hiệu nhận biết bài thơ trên thuộc thể thơ tự do.
Câu 3: Phân tích ý nghĩa của chi tiết “hương thầm” trong văn bản.
Câu 4: Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được dùng trong hai dòng thơ sau:
Cô gái như chùm hoa lặng lẽ
Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu.
Câu 5: Từ câu chuyện tình yêu của thế hệ trẻ Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ trong văn bản trên, anh/ chị hãy nêu quan niệm về một tình yêu đẹp.
PHẦN II. VIẾT
Câu 1: Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích những trạng thái cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài thơ Hương thầm (Phan Thị Thanh Nhàn).
Câu 2: Viết bài luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/ chị về việc tự khẳng định bản thân của giới trẻ hiện nay.
---------Hết--------
Lời giải
PHẦN I
Câu 1:
Phương pháp:
Đọc kỹ văn bản, xác định người đang bộc lộ cảm xúc, tâm trạng
Cách giải:
Nhân vật trữ tình: “cô gái”.
Câu 2:
Phương pháp:
Quan sát đặc điểm hình thức: số chữ, số câu, vần, nhịp
Cách giải:
Dấu hiệu nhận biết bài thơ trên thuộc thể thơ tự do:
+ Số chữ trong mỗi câu không hạn định (có dòng 6 tiếng, dòng 7 tiếng, dòng 8 tiếng, ...).
+ Số câu mỗi khổ không hạn định.
+ Không có luật lệ cố định nào về gieo vần, ngắt nhịp linh hoạt.
Câu 3:
Phương pháp:
Dựa vào ngữ cảnh bài thơ để phân tích ý nghĩa chi tiết
Cách giải:
Ý nghĩa chi tiết “hương thầm”:
- “Hương” - hương hoa bưởi + “thầm” (thầm lặng): mượn hương hoa nói hộ tình yêu của mình.
=> “Hương thầm” là hương vị tình yêu thầm lặng mà bền bỉ, tế nhị mà đậm sâu.
- Tạo ấn tượng, tăng tính gợi cảm và góp phần diễn đạt nội dung bài thơ ý nhị, tinh tế, sâu sắc.
Câu 4:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về phép tu từ để phân tích tác dụng
Cách giải:
Tác dụng phép so sánh:
- Biện pháp nghệ thuật so sánh: Hình ảnh so sánh “cô gái”, từ so sánh “như”, hình ảnh được so sánh “chùm hoa lặng lẽ”.
- Tác dụng: Gợi lên vẻ đẹp mộc mạc, e ấp, thuần khiết, thanh quý cũng như sự kín đáo, tế nhị trong cách thể hiện tình yêu của cô gái; khiến cho câu thơ trở nên giàu hình ảnh, sinh động, ấn tượng.
Câu 5:
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản và liên hệ bản thân
Cách giải:
Một số gợi ý:
- Tình yêu trong sáng, thủy chung, chân thành, kín đáo.
- Cần biết gìn giữ và vun đắp tình yêu có như vậy chúng ta mới có được hạnh phúc thực sự.
- Cần biết đặt mối quan hệ cá nhân và cộng đồng một cách hợp lý. Có như vậy cuộc sống của chúng ta mới có giá trị.
- Tình yêu cá nhân phải hoà vào tình yêu đất nước, có như vậy đất nước mới phát triển và trường tồn tới muôn đời.
PHẦN II:
Câu 1:
Phương pháp:
Có thể theo hướng sau:
- Những rung động đầu đời chưa kịp gửi trao thì chàng trai đã phải ra trận.
- Sự ngại ngùng, bẽn lẽn của người thiếu nữ dịu dàng: “ngập ngừng”.
- Sự bối rối của nhân vật trữ tình: “Họ ngồi im không biết nói năng chi – Mặt chợt tìm nhau rồi lại quay đi”; “Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối – Anh không dám xin – Cô gái chẳng dám trao”.
- Thầm kín, tinh tế, ý nhị thể hiện cảm xúc tình yêu mãnh liệt cho chàng trai: “Anh vô tình anh chẳng biết điều/ Tôi đã đến với anh rồi đấy...”
- Kết bài thơ, hương thầm vẫn tỏa hương bền bỉ như khát vọng tình yêu và hòa bình vẫn chẳng bao giờ thôi trăn trở.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Bài thơ "Hương thầm" đã tái hiện thật tinh tế những cung bậc cảm xúc của một mối tình đầu chớm nở trong hoàn cảnh éo le: những rung động đầu đời chưa kịp gửi trao thì chàng trai đã phải lên đường ra trận. Trong bối cảnh ấy, mọi cảm xúc của nhân vật trữ tình dường như cũng trở nên dồn nén và tinh tế hơn. Trước hết là sự ngại ngùng, bẽn lẽn của một người thiếu nữ dịu dàng, được cô đọng trong một từ "ngập ngừng" khi cô sang nhà hàng xóm. Tiếp đến là sự bối rối đến lúng túng, không biết phải mở lời thế nào: "Họ ngồi im không biết nói năng chi/ Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi". Ngay cả khi món quà là chùm hoa bưởi đã được giấu sẵn, họ vẫn không đủ can đảm để bày tỏ: "Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối/ Anh không dám xin/ Cô gái chẳng dám trao". Thế nhưng, ẩn sau sự im lặng và rụt rè ấy lại là một tình cảm thầm kín, mãnh liệt, được bộc lộ một cách gián tiếp mà da diết: "Anh vô tình anh chẳng biết điều/ Tôi đã đến với anh rồi đấy...". Và cuối cùng, kết bài thơ, "hương thầm" vẫn tỏa hương bền bỉ như chính khát vọng tình yêu và hòa bình vẫn cháy âm ỉ, day dứt chẳng bao giờ nguôi trong lòng người ở lại. Qua đó, bài thơ không chỉ ngợi ca vẻ đẹp của tình yêu tuổi trẻ trong sáng, ý nhị mà còn phản ánh một giai đoạn lịch sử đầy bi tráng.
Câu 2:
Phương pháp:
(1) Mở bài:
- Giới thiệu được vấn đề cần bàn luận
- Nêu khái quát quan điểm của người viết về vấn đề cần bàn luận
(2) Thân bài:
- Giải thích được vấn đề cần bàn luận:
- Thể hiện được quan điểm của người viết bằng hệ thống luận điểm (ít nhất hai luận điểm).
- Trình bày lí lẽ, bằng chứng để làm rõ luận điểm.
- Phê phán những biểu hiện tiêu cực và hậu quả/ tác hại.
- Trao đổi với người đọc để vấn đề được bàn luận khách quan hơn.
(3) Kết bài:
- Khẳng định lại quan điểm của bản thân.
- Đề xuất giải pháp/ bài học phù hợp.
Một vài gợi ý:
- Việc khẳng định mình là phát huy cao nhất năng lực, in dấu ấn cá nhân trong không gian cũng như trong thời gian, cụ thể là trong môi trường và lĩnh vực hoạt động của riêng mình.
- Tại sao vấn đề này được đặt ra cho người trẻ?
+ Trong thời đại ngày nay, việc tự khẳng định mình mang một ý nghĩa đặc biệt, khi sự phát triển mạnh mẽ của nền văn minh vật chất đưa tới nguy cơ làm tha hóa con người, khiến con người dễ sống buông thả, phó mặc cho sự lôi cuốn của dòng đời, đặc biệt là giới trẻ.
+ Khẳng định bản thân là biết đặt kế hoạch rèn luyện để có được những phẩm chất xứng đáng, đáp ứng tốt những yêu cầu của lĩnh vực hoạt động mà mình tham gia, có thể khiến cộng đồng phải tôn trọng.
+ Khi khẳng định bản thân là khi người trẻ thực sự thúc đẩy sự phát triển bền vững của cuộc sống, của xã hội.
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong xã hội hiện đại không ngừng vận động, vấn đề tự khẳng định bản thân ngày càng trở nên quan trọng đối với thế hệ trẻ. Theo quan điểm của tôi, tự khẳng định bản thân là một hành trình cần thiết để mỗi người tìm thấy giá trị đích thực của mình và có những đóng góp tích cực cho cộng đồng.
Tự khẳng định bản thân trước hết là việc phát huy cao nhất năng lực cá nhân, in dấu ấn riêng trong lĩnh vực hoạt động của mình. Đó không phải là sự thể hiện bề ngoài hay cố chứng tỏ mình hơn người, mà là quá trình không ngừng hoàn thiện bản thân để tạo ra những giá trị thực sự. Trong bối cảnh xã hội phát triển mạnh mẽ như hiện nay, việc tự khẳng định mình càng trở nên cấp thiết khi giới trẻ đứng trước nhiều cám dỗ có thể khiến họ sống buông thả, dễ dàng hòa tan vào đám đông mà đánh mất đi cá tính riêng.
Có nhiều cách để người trẻ tự khẳng định bản thân một cách tích cực. Thứ nhất, đó là việc xây dựng kế hoạch rèn luyện để hình thành những phẩm chất và năng lực xứng đáng. Chẳng hạn, một sinh viên không ngừng học tập, nghiên cứu khoa học và đạt được những thành tựu trong lĩnh vực chuyên môn chính là đang khẳng định giá trị của bản thân. Thứ hai, tự khẳng định bản thân còn thể hiện qua việc tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến cộng đồng. Những bạn trẻ tham gia các hoạt động tình nguyện, bảo vệ môi trường, hay khởi nghiệp tạo ra việc làm cho xã hội đều đang khẳng định vị trí của mình bằng những đóng góp thiết thực.
Tuy nhiên, cần phê phán những biểu hiện lệch lạc trong việc tự khẳng định bản thân. Nhiều bạn trẻ ngày nay lại chọn cách khẳng định mình qua những giá trị phù phiếm như chạy theo trào lưu, sống ảo trên mạng xã hội, hay thể hiện cái tôi quá mức mà thiếu đi sự chân thành. Những cách thức này không chỉ không mang lại giá trị thực, mà còn có thể dẫn đến những hậu quả tiêu cực như khủng hoảng danh tính, lãng phí thời gian và công sức.
Có ý kiến cho rằng trong thời đại số, việc tự khẳng định bản thân trở nên khó khăn hơn khi giới trẻ bị chi phối bởi quá nhiều yếu tố. Tuy nhiên, chính trong bối cảnh đó, việc giữ vững bản sắc cá nhân và không ngừng phát triển năng lực lại càng trở nên quan trọng. Khi mỗi người trẻ thực sự khẳng định được giá trị của mình, họ không chỉ tìm thấy ý nghĩa cuộc sống mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội.
Để tự khẳng định bản thân hiệu quả, theo tôi, người trẻ cần bắt đầu từ việc thấu hiểu chính mình, xác định rõ điểm mạnh, điểm yếu và đam mê của bản thân. Tiếp theo, cần xây dựng kế hoạch phát triển cụ thể và kiên trì thực hiện nó. Quan trọng hơn cả, cần giữ vững những giá trị nhân văn trong quá trình khẳng định bản thân, bởi thành công thực sự chỉ đến khi chúng ta vừa phát triển được năng lực cá nhân, vừa giữ được nhân cách tốt đẹp.
Tóm lại, tự khẳng định bản thân là hành trình không thể thiếu trong quá trình trưởng thành của mỗi người trẻ. Bằng sự nỗ lực không ngừng, ý thức rèn luyện và những đóng góp tích cực cho cộng đồng, thế hệ trẻ hoàn toàn có thể khẳng định được vị trí của mình và góp phần xây dựng một xã hội phát triển bền vững.
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 8
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
PHẦN I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
Trái tim anh bỗng rung rinh trở lại
Ấy là lúc làn gió heo may thổi khẽ bên sàn
Sấm bất chợt rùng mình bên tóc trắng
Là những giọt hồng cầu rắc rối chạy về tim.
Vầng mây thu điểm xuyết như lúm má đồng tiền
Trời xanh cao hút hồn mặt đất
Trái tim nhỏ, cất vào đâu cũng chật
Những nỗi niềm như con suối trào dâng.
Biết bầu trời còn mây bão ngổn ngang
Cũng se se lòng mình heo may gió thổi
Mỗi ban mai
Một mái tóc trắng ngời đứng đợi
Mùa thu xanh tặng trái tim xanh.
(Lò Cao Nhum, Cảm xúc mùa thu, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2009)
Thực hiện yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2. Mùa thu trong văn bản trên được miêu tả qua những hình ảnh thiên nhiên nào?
Câu 3. Nêu tác dụng của phép tu từ so sánh trong đoạn thơ sau:
Vầng mây thu điểm xuyết như lúm má đồng tiền
Trời xanh cao hút hồn mặt đất
Trái tim nhỏ, cất vào đâu cũng chật
Những nỗi niềm như con suối trào dâng.
Câu 4. Nêu cảm hứng chủ đạo của văn bản trên.
Câu 5. Từ nội dung của các dòng thơ: Mỗi ban mai/Một mái tóc trắng ngời đứng đợi/Mùa thu xanh tặng trái tim xanh trên đã đem lại cho anh/ chị cảm nhận gì về mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người.
PHẦN II. VIẾT
Câu 1.
Anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp của mùa thu qua cảm nhận của nhân vật trữ tình “anh”trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2.
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về sự sáng tạo của tuổi trẻ trong cuộc sống hiện nay.
HẾT
Lời giải
PHẦN I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ vào các đặc điểm hình thức để xác định thể thơ
Cách giải:
Thể thơ: tự do
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc lướt toàn bài, tìm và liệt kê các danh từ chỉ sự vật, hiện tượng thuộc về thiên nhiên.
Cách giải:
- Theo văn bản, mùa thu được miêu tả qua những hình ảnh thiên nhiên:
+ gió heo may thổi; sấm
+ mây thu điểm xuyết; trời xanh cao
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ so sánh để phân tích tác dụng
Cách giải:
- Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh:
+ Tăng sức gợi hình, gợi cảm/ làm cho câu thơ sinh động hơn;
+ Lời thơ nhấn mạnh nỗi niềm trào dâng của tác giả trước vẻ đẹp của mùa thu;
+ Tình yêu thiên nhiên, yêu con người và cuộc sống của tác giả.
Câu 4:
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản để rút ra cảm hứng chủ đạo
Cách giải:
Cảm hứng chủ đạo của văn bản:
- Vẻ đẹp của mùa thu
- Tình cảm tha thiết gắn bó của tác giả với thiên nhiên.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Thiên nhiên và con người có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
- Thiên nhiên đem lại sự thư thái, phong phú hơn cho cuộc sống của con người
…
Cách giải:
Ba dòng thơ cuối đã khắc họa một mối quan hệ hài hòa và gắn bó sâu sắc giữa con người với thiên nhiên. Hình ảnh "mái tóc trắng ngời đứng đợi" thể hiện sự chờ đợi, trân trọng và khao khát được hòa mình vào vẻ đẹp của thiên nhiên nơi con người. Đáp lại tình yêu và sự kiên nhẫn ấy, thiên nhiên qua hình ảnh "mùa thu xanh" đã ban tặng một món quà vô giá: "trái tim xanh". Đó là sự thanh thản, sức sống tươi mới và những cảm xúc tích cực giúp tâm hồn con người được tái sinh và thanh lọc. Qua đó, ta thấy được mối giao cảm kỳ diệu: thiên nhiên nuôi dưỡng tâm hồn con người, và chính con người bằng sự trân quý của mình đã làm cho thiên nhiên trở nên có ý nghĩa.
PHẦN II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Mùa thu thơ mộng, lãng mạn mang lại cảm giác xôn xao, nôn nao trong lòng nhân vật trữ tình hình ảnh: làn gió heo may thổi khẽ bên sàn, sấm bất chợt rùng mình; vầng mây thu điểm xuyết; trời xanh cao hút hồn mặt đất…)
- Thiên nhiên mùa thu trở nên hữu tình, da diết gắn bó hơn với con người.
(hình ảnh:Trái tim anh bỗng rung rinh trở lại; những nỗi niềm như con suối trào dâng; se se lòng mình heo may gió thổi; mùa thu xanh tặng trái tim xanh…)
- Tác giả đã dùng những từ ngữ giản dị, mộc mạc để miêu tả thiên nhiên mùa thu ; Biện pháp tu từ được vận dụng một cách linh hoạt mang lại điểm nhấn cho bài thơ => góp phần tạo nên một bức tranh thiên nhiên rất đẹp thơ mộng, lãng mạn và đặc trưng của mùa thu.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Qua cảm nhận của nhân vật trữ tình "anh", mùa thu trong thơ Lò Cao Nhum hiện lên với một vẻ đẹp thơ mộng, lãng mạn và đầy chất thi vị. Mùa thu ấy bắt đầu từ những tín hiệu giản dị mà tinh tế: "làn gió heo may thổi khẽ bên sàn", "sấm bất chợt rùng mình" hay "vầng mây thu điểm xuyết" trên nền "trời xanh cao hút hồn mặt đất". Những hình ảnh ấy không đơn thuần là miêu tả cảnh vật mà còn là chất xúc tác khơi gợi bao cảm xúc trong lòng thi nhân. Để rồi, "trái tim anh bỗng rung rinh trở lại" - một sự hồi sinh của những xúc cảm tưởng chừng đã ngủ quên. Cảm xúc ấy trào dâng mãnh liệt, khiến "những nỗi niềm như con suối trào dâng" và tâm hồn "se se" theo từng hơi thở của gió heo may. Sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên trở nên da diết, hữu tình hơn bao giờ hết, để rồi kết tinh trong hình ảnh đẹp đẽ: "Mùa thu xanh tặng trái tim xanh". Thành công của bài thơ còn đến từ nghệ thuật sử dụng ngôn từ giản dị, mộc mạc cùng những biện pháp tu từ linh hoạt như so sánh "như lúm má đồng tiền", "như con suối trào dâng", nhân hóa "sấm rùng mình", "mùa thu tặng" đã tạo nên điểm nhấn đặc sắc, góp phần khắc họa một bức tranh mùa thu vừa chân thực, vừa sống động, in đậm dấu ấn riêng trong lòng người đọc.
Câu 2:
Phương pháp:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Triển khai vấn đề:
- Giải thích: sáng tạo là sự say mê tìm tòi để tìm ra những phương pháp, cách thức tốt hơn so với phương pháp đã có; để tạo ra những giá trị mới mẻ về vật chất hoặc tinh thần
- Bàn luận: Sự sáng tạo cần được kêu gọi, khích lệ ở mọi lĩnh vực, mọi lứa tuổi, song đặc biệt cần thiết đối với giới trẻ, vì:
+ Cuộc sống luôn thay đổi từng ngày, những người trẻ tuổi nếu không có sự sáng tạo sẽ bị thụt lùi so với thời cuộc, thậm chí bị đào thải;
+ Tuổi trẻ là những người đang ở giai đoạn tràn đầy năng lượng, có sự năng động và nhiệt huyết, chính vì vậy cần có sự thay đổi và bứt phá, tìm ra những phương pháp mới mẻ, hiệu quả hơn để tạo ra những giá trị ưu việt hơn cho cuộc đời;
+ Những người trẻ tuổi càng năng động sáng tạo càng phát huy được năng lực, khẳng định được giá trị của bản thân, thích nghi với thời cuộc, cống hiến được nhiều hơn cho đời sống xã hội (nêu dẫn chứng về sự sáng tạo của tuổi trẻ).
- Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện hơn
+ Liên hệ thực tế, nhiều người bị sức ì của tư duy, hoặc không ý thức được sự cần thiết nên không có sự sáng tạo trong công việc
+ Sáng tạo không có nghĩa là cố tình phải làm khác đi, thay đổi hoàn toàn, sáng tạo cần phải dựa trên việc xem xét tình hình thực tế, phù hợp và hiệu quả.
* Kết luận: Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân
Cách giải:
Trong guồng quay không ngừng của cuộc sống hiện đại, một trong những yếu tố then chốt quyết định sự phát triển của cá nhân và xã hội chính là sự sáng tạo. Điều này càng trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết đối với thế hệ trẻ. Tôi tin rằng, sáng tạo không chỉ là một kỹ năng, mà còn là thái độ sống, là phương tiện để tuổi trẻ khẳng định mình và cống hiến cho cộng đồng.
Vậy, sáng tạo là gì? Đó là quá trình say mê tìm tòi, nghiên cứu để phát hiện ra những phương pháp, cách thức, giải pháp mới mẻ, hiệu quả hơn so với những gì đã có. Đồng thời, sáng tạo cũng là khả năng tạo ra những giá trị mới, có thể là vật chất hoặc tinh thần. Bản chất của sáng tạo là sự không bằng lòng với hiện tại, là khao khát vượt ra khỏi giới hạn để kiến tạo nên những điều tốt đẹp hơn.
Sự sáng tạo cần được khuyến khích ở mọi lứa tuổi, nhưng nó đặc biệt quan trọng với giới trẻ. Thứ nhất, thế giới ngày nay biến đổi chóng mặt với tốc độ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Những kiến thức hôm nay có thể ngày mai đã trở nên lỗi thời. Một người trẻ nếu chỉ biết thụ động tiếp nhận, không chịu đổi mới tư duy và sáng tạo, chắc chắn sẽ bị tụt hậu, thậm chí bị đào thải khỏi dòng chảy của thời đại. Thứ hai, tuổi trẻ chính là giai đoạn đẹp nhất của đời người, tràn đầy năng lượng, nhiệt huyết và những ước mơ. Sức trẻ là nguồn nhiên liệu vô tận cho mọi hành trình khám phá và sáng tạo. Chính sự năng động ấy thúc giục họ tìm tòi, bứt phá để tạo ra những giá trị ưu việt hơn. Thứ ba, sáng tạo chính là con đường ngắn nhất để người trẻ phát huy năng lực, khẳng định giá trị bản thân và cống hiến cho xã hội. Chúng ta có thể thấy rất nhiều tấm gương sáng tạo đáng ngưỡng mộ: Những startup trẻ với những ý tưởng khởi nghiệp đột phá, giải quyết các vấn đề xã hội; những nhà khoa học trẻ trong nước và quốc tế nghiên cứu ra các loại vắc-xin, công nghệ mới; hay đơn giản là những bạn học sinh, sinh viên sáng tạo trong cách học, trong các dự án cộng đồng. Tất cả đều chứng minh rằng, khi tuổi trẻ dám nghĩ, dám làm, họ hoàn toàn có thể tạo nên những thay đổi tích cực.
Tuy nhiên, cần có cái nhìn toàn diện về sự sáng tạo. Trong thực tế, không ít người trẻ vẫn còn thụ động, ngại thay đổi do tư duy lối mòn, sợ thất bại, hoặc đơn giản là không ý thức được tầm quan trọng của việc sáng tạo. Họ bằng lòng với những gì có sẵn, đi trên con đường đã được vạch sẵn. Điều này vô tình giết chết tiềm năng phát triển của chính họ. Mặt khác, cần hiểu rằng sáng tạo không đồng nghĩa với việc phủ nhận hoàn toàn cái cũ, hay cố tình làm khác đi một cách màu mè, hình thức. Sáng tạo thực chất phải dựa trên nền tảng của tri thức, sự quan sát thực tế và nhằm mang lại hiệu quả thiết thực. Một ý tưởng dù mới lạ đến đâu nhưng không phù hợp và không giải quyết được vấn đề thì cũng chỉ là sự sáng tạo nửa vời.
Tóm lại, sáng tạo là yêu cầu tất yếu, là sức sống của tuổi trẻ trong xã hội hiện đại. Là những học sinh cuối cấp, chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa cuộc đời, mỗi chúng ta cần ý thức rèn luyện tinh thần sáng tạo mỗi ngày. Hãy bắt đầu từ những điều nhỏ nhất: sáng tạo trong cách ghi chép bài học, trong một bài văn, một phương pháp giải toán, hay trong một hoạt động ngoại khóa. Hãy dũng cảm bước ra khỏi vùng an toàn, không ngừng học hỏi và dám thử nghiệm. Bởi chỉ khi đó, chúng ta mới thực sự sống trọn vẹn với tuổi trẻ của mình, trở thành những công dân năng động, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của đất nước.
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 9
Đề bài
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản:
KHÓI HƯƠNG TAN
(Hàn Mặc Tử)
Tối hôm nay muôn sao bơi nhấp nhánh,
Sông Mê Hà đưa đẩy sóng triền miên.
Thuyền anh buông lững lờ trong hiu quạnh,
Tới em chưa, đã tới bến lòng em?
Mộng yêu đương đang khi tim dào dạt,
Thuyền anh neo đậu trước bến Hàn Giang.
Những uyên ương khi trăng sao bàng bạc,
Biến mất rồi, anh thấy khói hương tan!
(In trong tập Thơ Hàn Mặc Tử, NXB Kim Đồng, 2024, tr. 80)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định chủ thể trữ tình của bài thơ.
Câu 2. Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh miêu tả thiên nhiên trong bài thơ.
Câu 3. Anh/Chị hiểu như thế nào về hình ảnh thuyền anh – bến lòng em được sử dụng trong khổ thơ thứ nhất?
Câu 4. Phân tích tác dụng của câu hỏi tu từ trong hai câu thơ:
Thuyền anh buông lững lờ trong hiu quạnh
Tới em chưa, đã tới bến lòng em?
Câu 5. Từ nội dung văn bản, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của khát vọng tình yêu trong cuộc sống. (trình bày từ 5 đến 7 dòng).
II. PHẦN VIẾT
Câu 1.
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong văn bản Khói hương tan (Hàn Mặc Tử).
Câu 2.
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về cách ứng xử cần có của tuổi trẻ trong thời đại công nghệ số.
HẾT
Lời giải
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Tìm đại từ xưng hô được dùng trong bài để bày tỏ cảm xúc để xác định
Cách giải:
Chủ thể trữ tình: tác giả/anh
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để tìm các từ ngữ, hình ảnh được sử dụng để miêu tả thiên nhiên trong bài thơ
Cách giải:
Những từ ngữ, hình ảnh miêu tả thiên nhiên trong bài thơ:
- muôn sao nhấp nhánh
- sóng triền miên
- trăng sao bàng bạc
Câu 3:
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn thơ đầu và Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ ẩn dụ
Cách giải:
Hình ảnh thuyền anh – bến lòng em được sử dụng trong khổ thơ thứ nhất:
- Ẩn dụ cho tình cảm chàng trai và cô gái.
- Bày tỏ khát vọng tình yêu của chủ thể trữ tình.
Câu 4:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về câu hỏi tu từ để nhận diện và phân tích tác dụng
Cách giải:
Tác dụng của câu hỏi tu từ:
- Tăng giá trị biểu cảm cho câu thơ.
- Thể hiện sự trăn trở, cô đơn, đầy lo lắng của chàng trai khi không biết tình cảm của mình liệu có được cô gái thấu hiểu.
Câu 5:
Phương pháp:
Có thể tham khảo một số gợi ý sau:
- Giúp mỗi người hoàn thiện bản thân.
- Tạo động lực để mỗi người cố gắng hoàn thành những mục tiêu, dự định trong cuộc sống.
- Mang đến sự lạc quan, hướng chúng ta đến những điều tốt đẹp.
Cách giải:
Khát vọng tình yêu chính là ngọn lửa tâm hồn giúp cuộc sống của mỗi người trở nên ấm áp và ý nghĩa hơn. Nó không đơn thuần chỉ là cảm xúc, mà còn là một sức mạnh tinh thần to lớn. Khát vọng ấy thôi thúc chúng ta hoàn thiện bản thân, sống đẹp hơn, vị tha hơn và dũng cảm hơn để vượt qua những thử thách. Hơn thế, nó mang đến cho con người niềm tin, sự lạc quan để luôn hướng về những điều tốt đẹp, biến cuộc đời từ một không gian bình thường trở thành một hành trình kỳ diệu đáng để trân trọng và yêu thương.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
1. Chỉ ra được những biểu hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình ở khổ thứ nhất.
Lo lắng, băn khoăn liệu người con gái có thấu hiểu tình yêu của mình (thể hiện qua câu hỏi tu từ)
2. Chỉ ra được những biểu hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình ở khổ thơ thứ hai.
Nỗi thất vọng, buồn đau khi tình yêu đó không được đáp trả (thể hiện qua cách cảm nhận khói hương tan)
3. Nêu được ý nghĩa của sự thay đổi trong tâm trạng của nhân vật trữ tình.
Tham khảo gợi ý sau: Sự thay đổi trong tâm trạng cho thấy được niềm hy vọng, khao khát sống, khao khát được yêu.
Cách giải:
Bài thơ "Khói hương tan" của Hàn Mặc Tử đã khắc họa thành công diễn biến tâm trạng phức tạp của nhân vật trữ tình. Ở khổ thơ đầu, tâm trạng ấy là nỗi băn khoăn, khắc khoải khôn nguôi. Hình ảnh con thuyền lẻ loi "buông lững lờ trong hiu quạnh" giữa dòng sông Mê Hà với những con sóng triền miên đã gợi lên một hành trình tình cảm đầy cô đơn và bất định. Càng da diết hơn là câu hỏi tu từ "Tới em chưa, đã tới bến lòng em?", như một lời tự vấn đầy lo âu về việc liệu tình cảm của mình có chạm được đến trái tim người mình yêu. Thế nhưng, sang khổ thơ thứ hai, tâm trạng ấy bỗng chốc chuyển sang nỗi thất vọng, xót xa khi hình ảnh lứa đôi uyên ương "biến mất rồi" và cảm giác "khói hương tan" ùa về. Sự xuất hiện và biến mất của hình ảnh uyên ương cùng cảm nhận về làn khói hương mong manh, dễ tan biến đã diễn tả thật tinh tế sự tan vỡ của những mộng ước hạnh phúc. Sự chuyển biến tâm trạng từ khắc khoải hi vọng đến thất vọng đau thương ấy không chỉ cho thấy một tâm hồn nhạy cảm, một trái tim khao khát yêu thương mãnh liệt mà còn phản chiếu những dự cảm bất an, nỗi cô đơn thường trực trong thế giới nghệ thuật của Hàn Mặc Tử.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài
Giới thiệu được vấn đề nghị luận: cách ứng xử cần có của tuổi trẻ trước cái mới trong thời đại công nghệ số.
2. Thân bài
2.1. Giải thích
2.1.1 Biết giải thích thế nào là công nghệ số?
Quá trình chuyển đổi từ mô hình truyền thống sang mô hình số, thông qua việc áp dụng các công nghệ số như AI, Big data, IoT, Cloud, blockchain,... nhằm thay đổi phương thức điều hành, quản lý quy trình làm việc cũng như văn hóa doanh nghiệp.
2.1.2 Biết giải thích thế nào là cách ứng xử trước thời đại công nghệ số?
Là khả năng thích nghi, đối mặt với sự thay đổi không ngừng của thời đại mới – thời đại của những bước tiến vượt bậc về công nghệ.
2.2. Chỉ ra được ý nghĩa (vai trò, tác dụng) của thời đại công nghệ số đối với tuổi trẻ.
- Thời đại công nghệ số giúp người trẻ tiếp cận thông tin nhanh chóng, nâng cao hiệu suất công việc. Dẫn ra và phân tích các bằng chứng.
- Thời đại công nghệ số giúp thế hệ trẻ kết nối, gia tăng cơ hội thành công. Dẫn ra và phân tích các bằng chứng.
- Thời đại công nghệ số cũng mang lại những tiện ích trong cuộc sống hàng ngày của người trẻ như mua sắm trực tuyến, thanh toán điện tử, giúp tiết kiệm thời gian và công sức. Dẫn ra và phân tích các bằng chứng
2.3. Cách ứng xử của người trẻ trong thời đại công nghệ số.
- Tiếp thu những giá trị tốt đẹp của cái mới trong thời đại công nghệ số để phát huy điểm mạnh của bản thân, từ đó dễ dàng đi đến thành công.
- Chọn lọc thông tin khi tiếp nhận, bài trừ những mặt xấu, không để bản thân thụ động khi tiếp nhận.
- Suy nghĩ thấu đáo, chủ động, đặt giá trị đạo đức lên hàng đầu.
- Chủ động học tập, trau dồi bản thân để có thể làm chủ được công nghệ số
(Học sinh tự lấy dẫn chứng phù hợp)
2.4 Biết mở rộng, nâng cao vấn đề
- Nếu không có sự ứng xử phù hợp sẽ dẫn đến những hậu quả tiêu cực không chỉ gây ảnh hưởng đến bản thân mà còn cả xã hội.
- Phê phán những người trẻ phụ thuộc quá nhiều vào công nghệ số, có những hành vi thiếu văn hóa, xâm phạm nhân phẩm của người khác…
- Đề xuất những giải pháp để người trẻ có cách ứng xử phù hợp trong thời đại công nghệ số:
+ Người trẻ cần có nhận thức rõ ràng về những lợi ích và tác hại của nó.
+ Các cơ quan, tổ chức cũng cần có những biện pháp bảo vệ, hướng dẫn và xây dựng một môi trường công nghệ lành mạnh, bảo đảm quyền riêng tư và sự an toàn của người dùng.
3. Kết bài: Khẳng định quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân.
Cách giải:
Chúng ta đang sống trong xã hội hiện đại, nơi công nghệ số trở thành một phần tất yếu của cuộc sống. Sự bùng nổ của internet, điện thoại thông minh và các nền tảng mạng xã hội đã mở ra một thế giới phẳng, kết nối toàn cầu. Trước bối cảnh đó, thế hệ trẻ cần xác định cho mình một cách ứng xử phù hợp để không chỉ thích nghi mà còn vươn lên làm chủ thời đại mới.
Trước hết, chúng ta cần hiểu rằng, công nghệ số là một công cụ trung tính. Bản thân nó không tốt cũng không xấu, mà giá trị tích cực hay tiêu cực phụ thuộc hoàn toàn vào cách con người sử dụng. Đối với giới trẻ, công nghệ số mang lại những lợi ích to lớn không thể phủ nhận. Nó mở ra kho tàng tri thức khổng lồ, giúp việc học tập và nghiên cứu trở nên dễ dàng, hiệu quả hơn. Các nền tảng mạng xã hội trở thành cầu nối, thu hẹp khoảng cách địa lý, gia tăng kết nối và mở ra vô vàn cơ hội hợp tác, khởi nghiệp. Những tiện ích như mua sắm trực tuyến, thanh toán điện tử, làm việc từ xa giúp người trẻ tiết kiệm thời gian, công sức và tối ưu hóa cuộc sống.
Tuy nhiên, mặt trái của công nghệ số cũng hiện hữu rõ ràng. Nạn tin giả, thông tin độc hại tràn lan có thể khiến giới trẻ bị định hướng sai lệch, dẫn đến những nhận thức lệch lạc. Tình trạng nghiện mạng xã hội, nghiện game khiến nhiều bạn trẻ sống trong thế giới ảo, xa rời thực tế, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe thể chất và tinh thần. Không ít người có những hành vi thiếu văn hóa, bạo lực mạng, xâm phạm đời tư người khác một cách thiếu suy nghĩ. Sự phụ thuộc quá mức vào công nghệ có thể làm thui chột kỹ năng giao tiếp trực tiếp và tư duy phản biện.
Trước những cơ hội và thách thức đó, tuổi trẻ cần có một cách ứng xử chủ động, sáng suốt và có trách nhiệm. Điều đầu tiên và quan trọng nhất là thái độ tiếp thu có chọn lọc. Hãy trở thành những người dùng thông thái, biết khai thác những lợi ích tích cực của công nghệ để phát triển bản thân, phục vụ học tập và công việc, đồng thời phải biết "gạn đục khơi trong", bài trừ những thông tin xấu, độc. Thứ hai, mỗi bạn trẻ cần đặt đạo đức và văn hóa ứng xử lên hàng đầu. Mỗi hành vi, lời nói trên mạng xã hội đều phản chiếu nhân cách. Hãy ứng xử văn minh, tôn trọng sự khác biệt và bảo vệ quyền riêng tư của người khác như chính bản thân mình. Thứ ba, thay vì chỉ là người tiêu dùng thụ động, giới trẻ cần chủ động học hỏi, trau dồi kỹ năng để trở thành chủ nhân của công nghệ, từ việc sử dụng thành thạo các phần mềm đến việc học lập trình, nắm bắt xu hướng để sáng tạo ra những giá trị mới. Cuối cùng, cần duy trì sự cân bằng giữa đời sống số và thực. Đừng để thế giới ảo chi phối hoàn toàn. Hãy dành thời gian cho các mối quan hệ ngoài đời thực, cho các hoạt động thể thao, văn hóa lành mạnh để phát triển toàn diện.
Tóm lại, thời đại công nghệ số là một thử thách lớn để tuổi trẻ khẳng định bản lĩnh và trí tuệ. Bằng thái độ ứng xử văn minh, chủ động và có trách nhiệm, người trẻ không chỉ làm chủ được công cụ đầy quyền năng này mà còn góp phần kiến tạo một xã hội số lành mạnh, tích cực. Là những chủ nhân tương lai của đất nước, thế hệ trẻ hãy để công nghệ trở thành đôi cánh đưa Việt Nam vươn xa ra biển lớn tri thức nhân loại.
Đề thi giữa kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 10
Đề bài
Môn: Ngữ văn lớp 12
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
Phần I. Đọc hiểu
Đọc đoạn trích sau:
Khác với ông Hàm, Thủ là người có mã, cao ráo trắng trẻo. Với bộ quần áo pi-gia-ma kẻ sọc như công chức. Thủ đang tưới cây ngoài vườn, đã bỏ ô- roa đi vào. Thấy Hàm đang giở ngày giờ tối thế này, Thủ biết là có việc cần. Mặc dù là bí thư quyền hành cao nhất xã, lại được học hành khá chu đảo từ bé, chứ không bị thiệt thòi như hai ông anh là Hàm và Long. Ông Long bây giờ làm công nhân trên khu gang thép cũng chỉ học hành chữ tác chữ tộ; vì khi Hàm và Long vừa lớn thì gặp ngay cái đận ông Trịnh Bá Hoành bán cả ruộng vườn để lao vào cuộc đen đỏ tranh giành cải chức lý trưởng với Vũ Đình Đại. Thật là một phen liểng xiêng. Vài năm sau gia đình mới hồi lực, có bát ăn bát để thì vừa lúc Thủ tới tuổi cắp sách đến trường. Thế là Thủ cứ đường quang lỗi rộng mà tiến. Dầu vậy chưa bao giờ Thủ dám trái lời ông anh cả. Người trưởng họ có một thứ quyền lực riêng. Không chỉ là trong gia đình ngay công việc của Thủ. Hàm cũng giữ vai trò cố vấn đặc biệt. Hôm đại hội Đảng bộ, các chi họ hồi hộp đến thắt tim khi đến mục bầu Đảng ủy mới. Rất nhiều không có chức trách gì cũng thập thò lảng vảng đến săn tin. Phải bầu đến vòng ba, tối mịt mới xong. Thủ vừa về đến nhà đã thấy ông Hàm ngồi chờ.
- Chú cao phiếu nhất phải không?
Ông Hàm hỏi thế, tức là chúc mừng đấy, nhưng mặt vẫn lạnh như tiền.
Ông nói tiếp:
- Lại đúng dịp ông Đảng về hưu đợt này, vậy chú phải thay chân ông ấy giữ ngay lấy cải triện đỏ, tức rằng là phải làm bí thư. Chứ còn chủ tịch cũng chỉ là thử triện xanh! Thằng Tùng nhà Sang cũng trúng hả? Chỉ cho nà chân chạy ngoài, hữu danh và thực thôi!
Lúc ấy Thủ đang đẩy phấn chấn vì đắc cử, đến mức không còn thấy ai là đối kháng với mình, nên lòng dạ bỗng thành dễ dãi. Với lại Thủ vốn thuộc dạng người cải lương, dễ bằng lòng và dễ chấp nhận.
- Thực ra thằng Tùng cũng được chứ không đến nỗi nào đâu. Nó còn chất lính bộc trực thẳng thắn, với công việc thi xốc vác
Ông Hàm nghiêm ngay mặt, kịp thời nhắc nhở Thủ đang nói khôn nói dại những gì.
- Được là được thế nào! Rau nào sâu ấy! Hãy giao cờ vào tay nó xem, gai ngạnh sẽ mọc ra ngay!
Gáo nước lạnh của Hàm đã làm Thủ tỉnh cơn say, và Tùng đã được phê chuẩn làm xã đội trưởng ngày sau đấy, chứ không phải chờ đến tuần sau họp Đảng ủy mới phân công, để mỗi năm cho nó dẫn đám thanh niên ra đôi nằm chổng mông lên mà nheo mắt bóp cò khan vào mấy cái bia giấy!
Hôm nay ông cố vấn sẽ chỉ thị gì đây! Thủ rửa chân tay đàng hoàng rồi mới vào nhà. Hàm hỏi ngay:
- Chú định thể nào về cái việc ấy?
Vừa hạ giọng vào chuyện. Hàm vừa thu hai bàn chân ngắn và to bè lên đi-văng. Thủ tráng ấm pha trà, cũng nói nhỏ để hai anh em vừa đủ nghe:
- Em cũng chưa định. Theo bác nên thế nào?
- Chả nhẽ chịu thua nó à?
Hàm tự rót nước ra chiếc chén hạt mít, hỏi thủng thẳng. Đó là cách nói chuyện riêng với nhau của hai anh em nhà này. Họ thường nói nửa vời, mù mờ rời rạc như vậy. Nếu có ai nghe được cũng chịu chết không hiểu họ nói gì, ám chỉ ai. Nhưng với Thủ thì anh biết ngay cái việc ấy và nó ở đây là chỉ ông Phúc và cái việc kiện cáo của ông ta khiến xã phải chôn lại lão Quềnh. Phúc đã thắng 1 - 0! Cứ đà này Phúc còn dở dói những gì nữa?
- Tôi đã nghĩ ra cách rồi - Hàm chiêu từng ngụm nước nhỏ như nhắp rượu, rồi vẫn với giọng nhát một, ông công bố kế hoạch phản công:
- Lấy độc trị độc, mỡ nó rán nó! Lại dùng ngay cách lão Phúc đã bắt các chú chôn đi chôn lại lão Quềnh - Tức rằng là... đào mộ?
Thủ quay sang sửng sốt. Bởi ở đây dạo đã lâu có hai nhà thù nhau, bên nhà yếu lực không đủ sức đánh lại đã dùng cách khủng khiếp này.
Hàm vẫn thủng thẳng:
- Có gì mà chú đã tái mào lên như thế! Nó muốn cưa đốt đục suốt, thì sẽ được người ta đục thẳng vào cây nóc nhà nó! Đây là dịp tốt để lấy âm trị dương. Phen này tôi sẽ yểm cho cả họ nhà nó
không ngóc lên được! Đào lên, lấy ván, lật sấp bố nó xuống! Còn cỗ ván dổi tôi sẽ đóng một bộ sa-lông thật mốt, rồi tìm cách bán cho chính anh em họ hàng nhà nó!
Thủ đã thấy ớn khắp người, ngập ngừng:
- Nhưng mà...
Hàm biết thóp ngay ông em chỉ được cái võ mồm, quen phòng xa giữ gìn, mà cũng là phòng cho mỗi cái thân hắn thôi! Hàm càng hạ giọng tới mức lào thào:
- Ngày thầy mất, chú với chú Long còn chưa nghĩ được đến đầu đến đũa, nên thầy chỉ dặn riêng tôi..
Rồi ông Hàm trang nghiêm kể với giọng rin rít về bức tranh thờ Hổ thần của nhà ông bị chọc mắt, bị bôi bẩn và những lời chỉ dẫn của ông bố trong quyển vở giấy giang về cách lấy âm trị dương thế nào, rồi để tránh phản hồi trở lại thì trước khi hạ cuốc phải đọc bài tạ thần ra sao. Thủ ngồi cứng người, tay cầm chén nước mà quên cả uống.
(Trích Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nguyễn Khắc Trường, NXB Văn hoá thông tin)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định ngôi kể trong đoạn trích.
Câu 2. Chỉ ra các thành ngữ xuất hiện trong đoạn trích.
Câu 3. Trong đoạn trích, ông Hàm dự định trả thù phe họ Vũ của ông Phúc bằng cách nào? Nêu nhận xét của em về việc trả thù này.
Câu 4. Tác giả đã phơi bày thực trạng nào của xã hội nông thôn Việt Nam trong thời kì đổi mới.
Câu 5. Qua đoạn trích, anh/chị hãy nhận xét về bức tranh nông thôn Việt Nam trong thời kì đổi mới.
Phần II. Làm văn
Câu 1: Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích, cảm nhận về vẻ đẹp tình yêu của nhân vật trữ tình trong khổ thơ sau
Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ, thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi
Đã hôn rồi hôn lại
Cho mãi đến muôn đời
Đến tan cả đất trời
Anh mới thôi dào dạt
(Trích Biển, Xuân Diệu, Xuân Diệu tác phẩm chọn lọc, NXB Giáo dục Việt Nam tr. 91, 92)
Câu 2:
Anh/ chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày quan điểm cho rằng: “Những người trẻ tuổi học sống thế nào bằng ngay lập tức thử trải nghiệm cuộc sống.” (Henry David Thoreau).
HẾT
Lời giải
Phần I. Đọc hiểu
Câu 1:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các ngôi kể để xác định
Cách giải:
Ngôi kể: ngôi thứ ba
Câu 2:
Phương pháp:
Vận dụng vốn kiến thức, hiểu biết về thành ngữ để xác định
Cách giải:
Thành ngữ: Lấy độc trị độc, Mỡ nó rán nó
Câu 3:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để tìm chi tiết và đưa ra nhận xét cá nhân
Cách giải:
- Trong đoạn trích, ông Hàm dự định trả thù phe họ Vũ của ông Phúc bằng cách: Ông Hàm dự định trả thù phe họ Vũ bằng việc đào mộ
- Nhận xét: Đây là cách trả thù thâm độc, mang tư duy của những kẻ phong kiến, gia trưởng... thể hiện tư tưởng cổ hủ, lạc hậu
Câu 4:
Phương pháp:
Liên hệ thực tiễn để chỉ ra
Cách giải:
Tác giả đã phơi bày một hiện trạng tiêu cực, xấu xa của con người đang lừa miếng, đấu đá, thù hằn bởi chính mối quan hệ gia tộc.
Câu 5:
Phương pháp:
Vận dụng hiểu biết bản thân và liên hệ thực tế
Cách giải:
Đoạn trích khái quát đã đi sâu vào một trong những vấn đề phức tạp và rắc rối nhất ở nông thôn nước ta thời hậu chiến là quan hệ dòng tộc; sự biến chất, tha hoá của những người có chức có quyền ở nông thôn trong giai đoạn chuyển tiếp . Ở đó quan hệ người với người có lúc còn tàn bạo hơn cả loài thú vật và nguy hiểm hơn là nó còn nhân danh Đảng, chính quyền để hạ bệ nhau, rửa thù hận bằng những mưu mô thủ đoạn độc ác một cách tàn bạo, trắng trợn.
Phần II. Làm văn
Câu 1:
Phương pháp:
- Khổ thứ nhất:
+ Nhân vật trữ tình đã không ngần ngại tỏ bày cái điều lâu nay vẫn ấp ủ trong lòng: Anh xin làm sóng biếc/ Hôn mãi cát vàng em/ Hôn thật khẽ, thật êm/ Hôn êm đềm mãi mãi. Ấy là sự háo hức, xôn xao với tất cả niềm hoan lạc trong trái tim yêu.
+ Phép điệp (từ hôn được lặp lại 3 lần) kết hợp với nhịp thơ linh hoạt, gấp gáp đã nhấn mạnh cảm xúc tình yêu nồng nàn, say đắm của nhân vật trữ tình. Qua hành động hôn đầy cuồng say, mãnh liệt ấy, ta nhận thấy khát vọng chiếm lĩnh, tận hưởng đầy nam tính, rất Xuân Diệu.
- Khổ thứ 2:
+ Như chưa thỏa mãn khát vọng chiếm lĩnh, tận hưởng, nhân vật trữ tình nhấn mạnh thêm một tầng bậc nữa của cảm xúc yêu đương: Đã hôn rồi hôn lại/ cho đến mãi muôn đời/ Đến tan cả đất trời/ Anh mới thôi dào dạt… Vẫn là nụ hôn ấy nhưng không phải là cái hôn “êm đềm mãi mãi”, mà là nụ hôn cuồng say, bạo liệt cho đến “tan cả đất trời”. Quả thật, chỉ có “biển” mới yêu “bờ” đến vậy! Nó thiêng liêng còn hơn cả một câu thề, có lẽ vì thế mà câu thơ trở nên huyền ảo và đẹp lạ. .
+ Khát vọng chiếm lĩnh đã cho biển anh được nằm trọn vẹn trong vòng tay ấm áp của bờ em mà nghe sóng vỗ, đó là những khoảnh khắc vô cùng tươi đẹp của lứa đôi.
Cách giải:
Trong kho tàng thơ tình Việt Nam, "Biển" của Xuân Diệu luôn chiếm một vị trí đặc biệt bởi sự mãnh liệt và đắm say. Đặc biệt, hai khổ thơ cuối bài đã khắc họa thành công khát vọng yêu đương cháy bỏng của một tâm hồn khao khát sống và yêu hết mình. Ở đó, nhân vật trữ tình "anh" đã hóa thân thành "sóng biếc" để được "hôn mãi cát vàng em". Động từ "hôn" được lặp lại năm lần, kết hợp với các tính từ "thật khẽ, thật êm", "êm đềm" rồi chuyển thành "dào dạt", đã vẽ nên một chuỗi hành động yêu thương từ dịu dàng, trân trọng đến cuồng nhiệt, say đắm không ngừng nghỉ. Đó không phải là một nụ hôn bình thường, mà là nụ hôn của cả vũ trụ, của thiên nhiên vĩnh hằng. Khát vọng yêu đương ấy còn được đẩy lên đến tận cùng qua những cụm từ "mãi mãi", "muôn đời", "đến tan cả đất trời". Xuân Diệu đã dùng cái vô biên của không gian và vô tận của thời gian để đo lường tình yêu. Chỉ khi nào vũ trụ này không còn tồn tại, "anh" mới thôi yêu "em". Qua đó, hình tượng "sóng" và "bờ" đã trở thành biểu tượng đẹp đẽ cho sự hòa quyện, gắn bó và khát khao chiếm lĩnh trọn vẹn trong tình yêu đôi lứa. Có thể nói, với hình tượng độc đáo và ngôn ngữ giàu sức gợi, đoạn thơ đã góp phần hoàn thiện chân dung một "ông hoàng thơ tình".
Câu 2:
Phương pháp:
- Nêu vấn đề cần bàn luận: Dẫn dắt, giới thiệu về vai trò trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc rèn luyện tài năng, trí tuệ để cống hiến sức mình cho đất nước.
- Giải thích vì sao thế trẻ cần thiết phải có trách nhiệm rèn luyện, trí tuệ, tài năng.
+ Đất nước cần có thế hệ trẻ tiếp nối, xây dựng và phát triển đất nước.
+ Tuổi trẻ là thời điểm quan trọng để mỗi con người học tập, trải nghiệm, sáng tạo để trưởng thành. .
+ Trí tuệ, tài năng, cống hiến những giá trị là thước đo cho cuộc sống tự do, hạnh phúc của con người.
- Phân tích các ý nghĩa của thanh niên trong việc chú trọng học tập và rèn luyện tài năng, trí tuệ.
+ Rèn luyện được kĩ năng
+ Rèn luyện được đạo đức
+ Rèn luyện được trí tuệ
+ Cống hiến sức mình cho đất nước
+ Nếm trải được ý nghĩ cuộc sống, bồi dưỡng tâm hồn thêm phong phú.
- Phản biện: Phê phán một bộ phận thế hệ thanh niên sống thụ động, lười biếng, hưởng thụ, sống hoài, sống phí, sống buông xuôi, hèn nhát, buông xuôi số phận, nản chí, đầu hàng khó khăn,… không tích cực học tập, rèn luyện trí tuệ tài năng, đạo đức để làm những việc có ích cho cộng đồng, cho đất nước.
- Bài học nhận thức và hành động
+ Mỗi thanh niên cần xây dựng mục tiêu, lí tưởng sống cho bản thân.
+ Chúng ta cần vạch ra kế hoạch học tập, rèn luyện cụ thể và quyết tâm thực hiện.
+ Sẵn sàng trải nghiệm, dấn thân vào các hoạt động học tập, sáng tạo để khám phá, phát triển tiềm năng sở trường của bản thân.
+ Sẵn sàng cống hiến trí tuệ, tài năng cho lợi ích của cộng đồng, đất nước.
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội, là lực lượng tiên phong trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhận thức sâu sắc về vai trò ấy, thế hệ trẻ ngày nay càng cần phải không ngừng rèn luyện, trau dồi trí tuệ và tài năng để sẵn sàng cống hiến, đóng góp sức mình vào sự phát triển chung của đất nước. Đây không chỉ là trách nhiệm, mà còn là vinh dự, là lẽ sống của mỗi người trẻ.
Vậy vì sao thanh niên lại cần có trách nhiệm này? Trước hết, bởi đất nước luôn cần một thế hệ kế cận vững vàng về tri thức, mạnh mẽ về kỹ năng và giàu lòng nhiệt huyết để tiếp tục gánh vác sứ mệnh phát triển quốc gia. Thứ hai, tuổi trẻ chính là giai đoạn vàng để học tập, trải nghiệm và sáng tạo. Đây là lúc tâm trí minh mẫn, thể chất dồi dào, dễ dàng tiếp thu cái mới và dám dấn thân để trưởng thành. Cuối cùng, chính trí tuệ, tài năng và những giá trị ta cống hiến mới là thước đo đích thực cho một cuộc sống tự do, hạnh phúc và có ý nghĩa. Một cuộc đời chỉ thực sự viên mãn khi ta sống không chỉ cho bản thân, mà còn biết hướng đến lợi ích chung của cộng đồng, dân tộc.
Việc chú trọng học tập và rèn luyện mang lại những ý nghĩa to lớn cho mỗi thanh niên. Nó giúp chúng ta trang bị một hệ thống kỹ năng toàn diện, từ chuyên môn đến kỹ năng mềm, để tự tin bước vào đời. Quá trình này cũng rèn giũa đạo đức, nhân cách, hình thành lối sống đẹp, có trách nhiệm. Đồng thời, nó mài sắc trí tuệ, mở mang hiểu biết, giúp ta có tầm nhìn và tư duy sâu rộng hơn. Từ đó, mỗi người trẻ mới có đủ năng lực để cống hiến một cách thiết thực nhất cho sự phát triển của quê hương. Và trên hết, hành trình rèn luyện ấy chính là cách để ta "nếm trải" ý nghĩa cuộc sống, bồi đắp cho tâm hồn thêm phong phú, sâu sắc.
Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, vẫn còn đâu đó một bộ phận thanh niên sống thụ động, lười biếng, chỉ chạy theo những giá trị vật chất tầm thường và hưởng thụ nhất thời. Họ sống hoài, sống phí, buông xuôi số phận, nản chí trước khó khăn, không chịu tích cực học hỏi và rèn luyện. Lối sống ấy không chỉ làm lãng phí tiềm năng của bản thân, mà còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội, kìm hãm sự phát triển chung của cộng đồng.
Trước thực trạng đó, mỗi người trẻ chúng ta cần nhận thức rõ trách nhiệm của bản thân. Trước hết, cần xây dựng cho mình một mục tiêu, lý tưởng sống rõ ràng và cao đẹp. Tiếp theo, phải biết vạch ra kế hoạch học tập, rèn luyện cụ thể và kiên trì thực hiện đến cùng. Chúng ta cần dám trải nghiệm, dám dấn thân vào các hoạt động thực tiễn, sáng tạo để khám phá và phát triển tối đa tiềm năng của bản thân. Và cuối cùng, phải luôn sẵn sàng cống hiến trí tuệ, tài năng ấy vì lợi ích của cộng đồng và đất nước.
Tóm lại, việc rèn luyện trí tuệ, tài năng để cống hiến cho đất nước là sứ mệnh thiêng liêng của tuổi trẻ mọi thời đại. Là chủ nhân tương lai của đất nước, thế hệ trẻ chúng ta hãy sống hết mình, học tập hết sức và cống hiến hết lòng, góp phần đưa Việt Nam "sánh vai với các cường quốc năm châu" như Bác Hồ kính yêu hằng mong đợi.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP12
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
