Đề thi giữa kì 2 Ngữ Văn 10
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
Ngôn chí – bài 10
(Nguyễn Trãi)
Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy.
Có thân chớ phải lợi danh vây.
Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén,
Ngày vắng xem hoa bợ (1) cây.
Cây rợp chồi cành chim kết tổ,
Ao quang mấu ấu (2) cá nên bầy.
Ít nhiều tiêu sái (3) lòng ngoài thế,
Năng một ông này đẹp thú này
(Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, 1976)
Chú thích:
(1) Bợ cây: chăm nom, săn sóc cây
(2) Mấu ấu: mầm cây củ ấu.
(4) Tiêu sái: thảnh thơi, thoát tục.
(5) Năng: có thể, hay.
Câu 1: Bài thơ Ngôn chí 10 thuộc sáng tác nào sau đây của Nguyễn Trãi?
A. Văn chính luận
B. Thơ chữ Hán
C. Thơ Nôm
D. Thơ tự thuật
Câu 2: Văn bản Ngôn chí 10 thuộc thể thơ nào? Vì sao?
A. Thể thơ tự do, vì các dòng không theo quy luật
B. Thể thơ thất ngôn, vì mỗi dòng có 7 chữ
C. Thể thơ tứ tuyệt, vì có 4 khổ, mỗi khổ 4 dòng
D. Thể thơ thất ngôn bát cú xen lục ngôn vì có 7 dòng, mỗi dòng có 8 hoặc 6 chữ
Câu 3: Đối tượng trữ tình của bài thơ là?
A. Cảnh chùa
B. Đêm trăng
C. Ao cá
D. Cuộc sống điền viên nơi thôn quê
Câu 4: Dòng nào gợi lên bức “chân dung” của nhân vật trữ tình trong bài thơ?
A. Gắn bó với cuộc sống nơi thôn dã, yêu và hòa hợp với thiên nhiên
B. Quyết tránh xa vòng danh lợi để vui thú điền viên
C. Lòng thanh tịnh như nhà tu hành
D. Tận hưởng thú vui tao nhã
Câu 5: Hình ảnh thơ trong Ngôn chí 10 có đặc điểm nổi bật nào sau đây?
A. Hình ảnh thơ tươi sáng
B. Hình ảnh xưa cũ
C. Hình ảnh gần gũi, quen thuộc
D. Hình ảnh tưởng tượng
Câu 6: Nội dung hai câu đề là?
A. Sức sống nơi làng quê
B. Thú vui tao nhã
C. Cảnh vật, lòng người
D. Ít vướng bận, vui sống
Câu 7: Nghệ thuật đối thể hiện ở hai dòng thơ nào?
A. Hai câu đề, hai câu luận
B. Hai câu luận, hai câu kết
C. Hai câu kết, hai câu thực
D. Hai câu thực, hai câu luận
Câu 8: Dòng nào sau đây nói lên cách đối trong hai câu luận của bài thơ?
A. Ngôn đối: là đối bằng lời suông
B. Sự đối: đối bằng điển cố
C. Chính đối: mỗi câu trình bày một sự việc nhưng nói lên cùng một ý
D. Phản đối: nêu hai sự việc trái ngược nhau
Câu 9: Phân tích nghệ thuật đối đặc sắc và vẻ đẹp tâm hồn của thi nhân được thể hiện qua hai câu thực của bài thơ (1đ)
Câu 10: Cảm nhận của em về bức chân dung tinh thần của Nguyễn Trãi qua bài thơ Ngôn chí 10 (viết từ 6-8 dòng) (1đ)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Quan sát bức họa, đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)

2. Từ khi có văn minh, con người đã nghĩ đến danh và lợi. Bởi luôn muốn thu vén địa vị và lợi lộc cho riêng mình, biết bao tham quan đã gây nên nghiệp chướng, oan tình, kì án, gieo rắc đau thương trên khắp thế gian. Danh và lợi là hai lưỡi kiếm rất ác độc và mãnh liệt, thường theo đuổi ta trên suốt đường đời không sao dứt bỏ được.
a. Đặt tên cho bức họa và văn bản trên
b. Làm rõ nét tương đồng ở bức họa và đoạn văn bản trên. Chỉ ra sự khác biệt của chúng do phương tiện chuyển tải thông tin mang lại (trả lời từ 5-7 dòng)
Câu 2: Viết bài luận thuyết phục người thân (bố mẹ, anh chị, bạn bè) điều chỉnh quan niệm sống: tiền là thước đo năng lực, tiền phản ánh giá trị sống của con người (3đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU

|
Câu 1: Bài thơ Ngôn chí 10 thuộc sáng tác nào sau đây của Nguyễn Trãi? A. Văn chính luận B. Thơ chữ Hán C. Thơ Nôm D. Thơ tự thuật |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Bài thơ Ngôn chí 10 thuộc những sáng tác trong thể loại thơ Nôm của Nguyễn Trãi.
→ Đáp án C
|
Câu 2: Văn bản Ngôn chí 10 thuộc thể thơ nào? Vì sao? A. Thể thơ tự do, vì các dòng không theo quy luật B. Thể thơ thất ngôn, vì mỗi dòng có 7 chữ C. Thể thơ tứ tuyệt, vì có 4 khổ, mỗi khổ 4 dòng D. Thể thơ thất ngôn bát cú xen lục ngôn vì có 7 dòng, mỗi dòng có 8 hoặc 6 chữ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý số chữ và số câu của bài thơ
Nhớ lại những đặc điểm của các thể thơ thường gặp
Lời giải chi tiết:
Văn bản thuộc thể thơ thất ngôn bát cú xen lục ngôn vì có 7 dòng, mỗi dòng có 8 hoặc 6 chữ
→ Đáp án D
|
Câu 3: Đối tượng trữ tình của bài thơ là? A. Cảnh chùa B. Đêm trăng C. Ao cá D. Cuộc sống điền viên nơi thôn quê |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý vào những hình ảnh được lặp lại nhiều lần trong bài thơ
Lời giải chi tiết:
Đối tượng trữ tình của bài thơ là cuộc sống điền viên nơi thôn quê thông qua những hình ảnh: hoa bợ, chim, cá,…
→ Đáp án D
|
Câu 4: Dòng nào gợi lên bức “chân dung” của nhân vật trữ tình trong bài thơ? A. Gắn bó với cuộc sống nơi thôn dã, yêu và hòa hợp với thiên nhiên B. Quyết tránh xa vòng danh lợi để vui thú điền viên C. Lòng thanh tịnh như nhà tu hành D. Tận hưởng thú vui tao nhã |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ và phân tích bài thơ
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Nhân vật trữ tình hiện lên trong cuộc sống yên bình, gắn bó với cuộc sống nơi thôn dã, yêu và hòa hợp với thiên nhiên
→ Đáp án A
|
Câu 5: Hình ảnh thơ trong Ngôn chí 10 có đặc điểm nổi bật nào sau đây? A. Hình ảnh thơ tươi sáng B. Hình ảnh xưa cũ C. Hình ảnh gần gũi, quen thuộc D. Hình ảnh tưởng tượng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý những hình ảnh trong bài thơ và rút ra đặc điểm nổi bật
Lời giải chi tiết:
Hình ảnh thơ trong Ngôn chí 10 mang nét gần gũi, quen thuộc, nét bình dị của làng quê Việt Nam
→ Đáp án C
|
Câu 6: Nội dung hai câu đề là? A. Sức sống nơi làng quê B. Thú vui tao nhã C. Cảnh vật, lòng người D. Ít vướng bận, vui sống |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai câu đề và rút ra nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Nội dung hai câu đề: Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy.
Có thân chớ phải lợi danh vây.
Hai câu đề mượn cảnh thiên nhiên để nói về lòng người: cảnh thanh bình như chốn chùa thiêng, lòng người cũng an nhiên, không vướng chút danh lợi quan trường
→ Đáp án C
|
Câu 7: Nghệ thuật đối thể hiện ở hai dòng thơ nào? A. Hai câu đề, hai câu luận B. Hai câu luận, hai câu kết C. Hai câu kết, hai câu thực D. Hai câu thực, hai câu luận |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Nhớ lại kiến thức về nghệ thuật đối
Lời giải chi tiết:
→ Đáp án D
|
Câu 8: Dòng nào sau đây nói lên cách đối trong hai câu luận của bài thơ? A. Ngôn đối: là đối bằng lời suông B. Sự đối: đối bằng điển cố C. Chính đối: mỗi câu trình bày một sự việc nhưng nói lên cùng một ý D. Phản đối: nêu hai sự việc trái ngược nhau |
Phương pháp giải:
Chú ý hai câu luận của bài thơ
Lời giải chi tiết:
Hai câu luận của bài thơ sử dụng cách đối Chính đối: mỗi câu trình bày một sự việc nhưng nói lên cùng một ý
→ Đáp án C
Câu 9: : Phân tích nghệ thuật đối đặc sắc và vẻ đẹp tâm hồn của thi nhân được thể hiện qua hai câu thực của bài thơ
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai câu thực và phân tích nghệ thuật đối
Lời giải chi tiết:
- Hai câu thực: Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén,
Ngày vắng xem hoa bẻ cây
- Nghệ thuật đối- chính đối: Mỗi câu trình bày một sự việc ở thời điểm khác nhau nhưng cùng nói lên một ý – lối sống thanh cao của cao nhân mặc khách diễn ra nơi thôn quê với trăng gió, cây và hoa
+Đêm trăng thanh uống rượu, nghiêng chén uống cả ánh trăng. Trăng soi bóng trong chén, lắng vào hồn thi nhân… uống rượu thưởng trăng
+Ngày ngắm hoa, chăm cây, tỉa cành…
Câu 10: Cảm nhận của em về bức chân dung tinh thần của Nguyễn Trãi qua bài thơ Ngôn chí 10 (viết từ 6-8 dòng)
Phương pháp giải:
Dựa vào phân tích của bản thân, kiến thức và kĩ năng đã học để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
- HS tự cảm nhận bằng cảm xúc của riêng mình nhưng cần thể hiện các nét chính về bức chân dung tinh thần của Nguyễn Trãi qua bài thơ
- Tham khảo những ý chính sau:
+ Lòng người trong sạch như lòng thầy chùa chân tu, không vướng bận danh lợi
+Mở rộng tâm hồn giao hòa cùng cảnh vật thôn quê: uống rượu ngắm trăng, hoa; chăm cây cảnh; ngắm chim làm tổ trên cây, cá bơi từng đàn dưới nước
+Không quan tâm sự đời, thấy lòng thanh thản với thú vui đẹp…
PHẦN II. VIẾT
Câu 1: Quan sát bức họa, đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi a,b
a. Đặt tên cho bức họa và văn bản trên
Phương pháp giải:
Quan sát kĩ bức họa và đọc kĩ văn bản để rút ra nội dung chính, từ đó đưa ra câu trả lời
Lời giải chi tiết:
- HS tự đặt tên theo ý cá nhân, cần làm nổi bật bản chất của bức họa, đoạn văn bản
- Tham khảo gợi ý sau:
+Bức họa: Hành trình danh vọng, tiền tài/ Sức mạnh của đồng tiền
+Đoạn văn bản : Hậu họa của danh vọng
b. Làm rõ nét tương đồng ở bức họa và đoạn văn bản trên. Chỉ ra sự khác biệt của chúng do phương tiện chuyển tải thông tin mang lại (trả lời từ 5-7 dòng)
Phương pháp giải:
- Quan sát kĩ bức họa và đọc kĩ đoạn văn bản
Lời giải chi tiết:
- Nét tương đồng: cùng nói về vấn đề danh lợi, tiền tài của đời người
- Khác biệt:
+ Bức họa: dùng hình ảnh, hình khối minh họa cụ thể sinh động hành trình, thái độ con người trước danh lợi; thế đứng của con người khi có danh lợi
+ Đoạn văn bản: dùng ngôn ngữ diễn tả nỗi đau của con người do lòng tham danh lợi mang đến… Con người khó thoát khỏi vòng danh lợi.
Câu 2: Viết bài văn
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
|
… thuyết phục người thân (bố mẹ, anh chị, bạn bè) điều chỉnh quan niệm sống: tiền là thước đo năng lực, tiền phản ánh giá trị sống của con người. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0.25 |
- Giới thiệu vấn đề: tiền là thước đo năng lực, tiền phản ánh giá trị sống của con người - Thái độ người viết về quan niệm trên |
|
Thân bài |
2.0 |
Gồm các ý chính (từ 2 luận điểm trở lên) - Nhận thức, phân tích về vai trò của đồng tiền +Hiểu đúng: là phương tiện của cuộc sống, mỗi người cần làm ra tiền tự nuôi sống bản thân, giúp đỡ gia đình… +Tác hại của việc hiểu chưa đúng: coi tiền là mục đích sống → dễ dẫn đến sai lầm, hy sinh sức khỏe, hạnh phúc,… - Nêu ngắn gọn quan điểm của bản thân và đề xuất sự điều chỉnh quan niệm và hành động sống… |
|
Kết bài |
0.5 |
- Khẳng định vai trò của quan niệm sống đúng, phù hợp với thời đại - Nhận thức, lựa chọn lối sống, hành động của bản thân… |
|
Yêu cầu khác |
0.25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận). - Diễn đạt rõ ý, lập luận logic; suy luận, bình luận phù hợp với văn hóa dân tộc,.. - Dẫn chứng đa dạng |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
Ngôn chí – bài 10
(Nguyễn Trãi)
Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy.
Có thân chớ phải lợi danh vây.
Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén,
Ngày vắng xem hoa bợ (1) cây.
Cây rợp chồi cành chim kết tổ,
Ao quang mấu ấu (2) cá nên bầy.
Ít nhiều tiêu sái (3) lòng ngoài thế,
Năng một ông này đẹp thú này
(Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, 1976)
Chú thích:
(1) Bợ cây: chăm nom, săn sóc cây
(2) Mấu ấu: mầm cây củ ấu.
(4) Tiêu sái: thảnh thơi, thoát tục.
(5) Năng: có thể, hay.
Câu 1: Bài thơ Ngôn chí 10 thuộc sáng tác nào sau đây của Nguyễn Trãi?
A. Văn chính luận
B. Thơ chữ Hán
C. Thơ Nôm
D. Thơ tự thuật
Câu 2: Văn bản Ngôn chí 10 thuộc thể thơ nào? Vì sao?
A. Thể thơ tự do, vì các dòng không theo quy luật
B. Thể thơ thất ngôn, vì mỗi dòng có 7 chữ
C. Thể thơ tứ tuyệt, vì có 4 khổ, mỗi khổ 4 dòng
D. Thể thơ thất ngôn bát cú xen lục ngôn vì có 7 dòng, mỗi dòng có 8 hoặc 6 chữ
Câu 3: Dòng nào nói lên đặc điểm thiên nhiên trong Ngôn chí 10- Nguyễn Trãi?
A. Cảnh trí thiên nhiên tươi đẹp với màu sắc, âm thanh tươi tắn, rộn ràng
B. Hiện lên rất đa dạng, sinh động, có sức sống riêng
C. Những nét phác họa hết sức tài tình về vẻ đẹp hùng vĩ
D. Thiên nhiên thấm đẫm nỗi buồn của thi nhân
Câu 4: Bài thơ Ngôn chí 10 đã thể hiện:
A. Tình yêu thiên nhiên say đắm, nồng nàn của bậc hiền nhân
B. Sự gắn bó với làng quê của một nông dân hồn hậu, chất phác
C. Cách thưởng thức thiên nhiên của một nghệ sĩ
D. Thiên nhiên đầy ắp chất nhạc, chất họa
Câu 5: Nội dung hai câu luận nói về điều gì?
A. Cảnh vật, lòng người
B. Thú vui tao nhã
C. Sức sống nơi làng quê
D. Ít vướng bận,vui sống
Câu 6: Câu thơ: Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy được hiểu là?
A. Quang cảnh vắng như cảnh chùa Bà Đanh
B. Quang cảnh thanh tĩnh như cảnh chùa, lòng người trong sạch như lòng thầy chùa chân tu
C. Lòng người lạnh băng, dửng dưng như thầy chùa chân tu
D. Lòng người như cảnh tĩnh lặng, hoang vắng
Câu 7: Dòng nào nói lên nội dung câu thơ: Có thân chớ phải lợi danh vậy?
A. Thân chớ bị vây bọc, lệ thuộc vào danh lợi
B. Có thân phải có danh lợi
C. Sống trong vòng vây danh lợi mới thú vị
D. Danh lợi là giá trị của bản thân
Câu 8: Câu thơ: Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén được hiểu là?
A. Uống rượu nghiêng chén uống cả trăng
B. Nghiêng chén uống rượu như hớp cả bóng trăng trong chén
C. Uống rượu và ngắm trăng trong chén
D. Thưởng trăng và uống rượu – thú vui tao nhã
Câu 9: Phân tích nghệ thuật đối đặc sắc và vẻ đẹp tâm hồn của thi nhân được thể hiện qua hai câu thực của bài thơ (1đ)
Câu 10: Cảm nhận của em về bức chân dung tinh thần của Nguyễn Trãi qua bài thơ Ngôn chí 10 (viết từ 6-8 dòng) (1đ)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Quan sát bức họa, đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)

2. Từ khi có văn minh, con người đã nghĩ đến danh và lợi. Bởi luôn muốn thu vén địa vị và lợi lộc cho riêng mình, biết bao tham quan đã gây nên nghiệp chướng, oan tình, kì án, gieo rắc đau thương trên khắp thế gian. Danh và lợi là hai lưỡi kiếm rất ác độc và mãnh liệt, thường theo đuổi ta trên suốt đường đời không sao dứt bỏ được.
a. Đặt tên cho bức họa và văn bản trên
b. Làm rõ nét tương đồng ở bức họa và đoạn văn bản trên. Chỉ ra sự khác biệt của chúng do phương tiện chuyển tải thông tin mang lại (trả lời từ 5-7 dòng)
Câu 2: Viết bài luận thuyết phục người thân (bố mẹ, anh chị, bạn bè) điều chỉnh quan niệm sống: tiền là thước đo năng lực, tiền phản ánh giá trị sống của con người (3đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU

|
Câu 1: Bài thơ Ngôn chí 10 thuộc sáng tác nào sau đây của Nguyễn Trãi? A. Văn chính luận B. Thơ chữ Hán C. Thơ Nôm D. Thơ tự thuật |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Bài thơ Ngôn chí 10 thuộc những sáng tác trong thể loại thơ Nôm của Nguyễn Trãi.
→ Đáp án C
|
Câu 2: Văn bản Ngôn chí 10 thuộc thể thơ nào? Vì sao? A. Thể thơ tự do, vì các dòng không theo quy luật B. Thể thơ thất ngôn, vì mỗi dòng có 7 chữ C. Thể thơ tứ tuyệt, vì có 4 khổ, mỗi khổ 4 dòng D. Thể thơ thất ngôn bát cú xen lục ngôn vì có 7 dòng, mỗi dòng có 8 hoặc 6 chữ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý số chữ và số câu của bài thơ
Nhớ lại những đặc điểm của các thể thơ thường gặp
Lời giải chi tiết:
Văn bản thuộc thể thơ thất ngôn bát cú xen lục ngôn vì có 7 dòng, mỗi dòng có 8 hoặc 6 chữ
→ Đáp án D
|
Câu 3: Dòng nào nói lên đặc điểm thiên nhiên trong Ngôn chí 10- Nguyễn Trãi? A. Cảnh trí thiên nhiên tươi đẹp với màu sắc, âm thanh tươi tắn, rộn ràng B. Hiện lên rất đa dạng, sinh động, có sức sống riêng C. Những nét phác họa hết sức tài tình về vẻ đẹp hùng vĩ D. Thiên nhiên thấm đẫm nỗi buồn của thi nhân |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý vào những hình ảnh thiên nhiên trong bài
Lời giải chi tiết:
Thiên nhiên trong bài thơ hiện lên rất đa dạng: từ cảnh thanh tịnh nơi chùa chiền, đến đêm trăng tròn, cây cối đâm chồi nảy lộc, ao cá,… tất cả tạo nên sức sống sinh động, tạo điểm nhấn cho toàn bài thơ.
→ Đáp án B
|
Câu 4: Bài thơ Ngôn chí 10 đã thể hiện: A. Tình yêu thiên nhiên say đắm, nồng nàn của bậc hiền nhân B. Sự gắn bó với làng quê của một nông dân hồn hậu, chất phác C. Cách thưởng thức thiên nhiên của một nghệ sĩ D. Thiên nhiên đầy ắp chất nhạc, chất họa |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ và phân tích bài thơ
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Nhân vật trữ tình hiện lên trong cuộc sống yên bình, gắn bó với cuộc sống nơi thôn dã, yêu và hòa hợp với thiên nhiên
→ Đáp án A
|
Câu 5: Nội dung hai câu luận nói về điều gì? A. Cảnh vật, lòng người B. Thú vui tao nhã C. Sức sống nơi làng quê D. Ít vướng bận,vui sống |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai câu luận
Lời giải chi tiết:
Hai câu luận:
Cây rợp chồi cành chim kết tổ,
Ao quang mấu ấu cá nên bầy.
Hình ảnh cây đâm chồi, chim kết tổ, ao quang mấu ấu thể hiện cho sức sống mới của thiên nhiên, sự sinh sôi nảy nở và phát triển của tạo hóa. Đó cũng chính là sức sống mãnh liệt nơi làng quê
→ Đáp án C
|
Câu 6: Câu thơ: Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy được hiểu là? A. Quang cảnh vắng như cảnh chùa Bà Đanh B. Quang cảnh thanh tĩnh như cảnh chùa, lòng người trong sạch như lòng thầy chùa chân tu C. Lòng người lạnh băng, dửng dưng như thầy chùa chân tu D. Lòng người như cảnh tĩnh lặng, hoang vắng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu thơ
Chú ý những hình ảnh nổi bật
Lời giải chi tiết:
Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy: Quang cảnh thanh tĩnh như cảnh chùa, lòng người trong sạch như lòng thầy chùa chân tu
→ Đáp án B
|
Câu 7: Dòng nào nói lên nội dung câu thơ: Có thân chớ phải lợi danh vây? A. Thân chớ bị vây bọc, lệ thuộc vào danh lợi B. Có thân phải có danh lợi C. Sống trong vòng vây danh lợi mới thú vị D. Danh lợi là giá trị của bản thân |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu thơ
Lời giải chi tiết:
Nội dung câu thơ: Thân chớ bị vây bọc, lệ thuộc vào danh lợi
→ Đáp án A
|
Câu 8: Câu thơ: Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén được hiểu là? A. Uống rượu nghiêng chén uống cả trăng B. Nghiêng chén uống rượu như hớp cả bóng trăng trong chén C. Uống rượu và ngắm trăng trong chén D. Thưởng trăng và uống rượu – thú vui tao nhã |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu thơ
Chú ý những hình ảnh xuất hiện trong câu thơ
Lời giải chi tiết:
Nội dung câu thơ: Nghiêng chén uống rượu như hớp cả bóng trăng trong chén
→ Đáp án B
Câu 9: : Phân tích nghệ thuật đối đặc sắc và vẻ đẹp tâm hồn của thi nhân được thể hiện qua hai câu thực của bài thơ
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai câu thực và phân tích nghệ thuật đối
Lời giải chi tiết:
- Hai câu thực: Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén,
Ngày vắng xem hoa bẻ cây
- Nghệ thuật đối- chính đối: Mỗi câu trình bày một sự việc ở thời điểm khác nhau nhưng cùng nói lên một ý – lối sống thanh cao của cao nhân mặc khách diễn ra nơi thôn quê với trăng gió, cây và hoa
+Đêm trăng thanh uống rượu, nghiêng chén uống cả ánh trăng. Trăng soi bóng trong chén, lắng vào hồn thi nhân… uống rượu thưởng trăng
+Ngày ngắm hoa, chăm cây, tỉa cành…
Câu 10: Cảm nhận của em về bức chân dung tinh thần của Nguyễn Trãi qua bài thơ Ngôn chí 10 (viết từ 6-8 dòng)
Phương pháp giải:
Dựa vào phân tích của bản thân, kiến thức và kĩ năng đã học để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
- HS tự cảm nhận bằng cảm xúc của riêng mình nhưng cần thể hiện các nét chính về bức chân dung tinh thần của Nguyễn Trãi qua bài thơ
- Tham khảo những ý chính sau:
+ Lòng người trong sạch như lòng thầy chùa chân tu, không vướng bận danh lợi
+Mở rộng tâm hồn giao hòa cùng cảnh vật thôn quê: uống rượu ngắm trăng, hoa; chăm cây cảnh; ngắm chim làm tổ trên cây, cá bơi từng đàn dưới nước
+Không quan tâm sự đời, thấy lòng thanh thản với thú vui đẹp…
PHẦN II. VIẾT
Câu 1: Quan sát bức họa, đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi a,b
a. Đặt tên cho bức họa và văn bản trên
Phương pháp giải:
Quan sát kĩ bức họa và đọc kĩ văn bản để rút ra nội dung chính, từ đó đưa ra câu trả lời
Lời giải chi tiết:
- HS tự đặt tên theo ý cá nhân, cần làm nổi bật bản chất của bức họa, đoạn văn bản
- Tham khảo gợi ý sau:
+Bức họa: Hành trình danh vọng, tiền tài/ Sức mạnh của đồng tiền
+Đoạn văn bản : Hậu họa của danh vọng
b. Làm rõ nét tương đồng ở bức họa và đoạn văn bản trên. Chỉ ra sự khác biệt của chúng do phương tiện chuyển tải thông tin mang lại (trả lời từ 5-7 dòng)
Phương pháp giải:
- Quan sát kĩ bức họa và đọc kĩ đoạn văn bản
Lời giải chi tiết:
- Nét tương đồng: cùng nói về vấn đề danh lợi, tiền tài của đời người
- Khác biệt:
+ Bức họa: dùng hình ảnh, hình khối minh họa cụ thể sinh động hành trình, thái độ con người trước danh lợi; thế đứng của con người khi có danh lợi
+ Đoạn văn bản: dùng ngôn ngữ diễn tả nỗi đau của con người do lòng tham danh lợi mang đến… Con người khó thoát khỏi vòng danh lợi.
Câu 2: Viết bài văn
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
|
… thuyết phục người thân (bố mẹ, anh chị, bạn bè) điều chỉnh quan niệm sống: tiền là thước đo năng lực, tiền phản ánh giá trị sống của con người. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0.25 |
- Giới thiệu vấn đề: tiền là thước đo năng lực, tiền phản ánh giá trị sống của con người - Thái độ người viết về quan niệm trên |
|
Thân bài |
2.0 |
Gồm các ý chính (từ 2 luận điểm trở lên) - Nhận thức, phân tích về vai trò của đồng tiền +Hiểu đúng: là phương tiện của cuộc sống, mỗi người cần làm ra tiền tự nuôi sống bản thân, giúp đỡ gia đình… +Tác hại của việc hiểu chưa đúng: coi tiền là mục đích sống → dễ dẫn đến sai lầm, hy sinh sức khỏe, hạnh phúc,… - Nêu ngắn gọn quan điểm của bản thân và đề xuất sự điều chỉnh quan niệm và hành động sống… |
|
Kết bài |
0.5 |
- Khẳng định vai trò của quan niệm sống đúng, phù hợp với thời đại - Nhận thức, lựa chọn lối sống, hành động của bản thân… |
|
Yêu cầu khác |
0.25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận). - Diễn đạt rõ ý, lập luận logic; suy luận, bình luận phù hợp với văn hóa dân tộc,.. - Dẫn chứng đa dạng |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
BÀ LÃO LÒA
(Vũ Trọng Phụng)
76 tuổi đầu, mỗi bữa thất thểu ăn một lưng cơm, bà lão lòa ở nhờ một đứa cháu họ, thật đã lắm phen cực nhục. Cháu bà, bác đánh giậm, với vợ, một chị mò cua bắt ốc, khốn thay, dưới nách hai đứa con mọn, cũng lắm phen nhăn nhó vì chẳng đủ ăn. Hai mươi năm về trước, bà lão lòa này còn là người có của trong làng. Con trai bà nó chơi, nó phá, nó bán ruộng, cầm nhà rồi nó bỏ bà nó đi, chẳng biết đi đâu, lòng mẹ đối với con tuy có giận mà vẫn có thương, bà khóc lóc một mình đến nỗi lòa cả mắt. Trong thời bà còn giàu có, ngoài những việc cúng tiền tô tượng đúc chuông, bà còn năng giúp đỡ kẻ nghèo khó; trong họ ngoài làng, nhiều người đã được nhờ bà mà đến khi bà gặp bước khốn cùng thì chẳng ai thương cả. Cũng vì xưa kia đã nhiều phen ngửa tay nhận lấy đồng tiền cứu giúp của bà, bác đánh giậm đành cắn răng, vuốt bụng, nhắm mắt nuôi cô trong lúc hoạn nạn. Nhưng vốn bị ma nghèo ám ảnh, mới nuôi cô được độ ba năm, bác đánh giậm đã thấy nản lòng. Cái cảnh túng bấn nó thường đẩy người ta vào chốn bùn nhơ, nó thường buộc người vào vòng tội lỗi, đối với bác đánh giậm, ác hơn, nó làm bác quên bỏ cả lương tâm. Quên hẳn cái ơn ngày trước, bác ta chỉ còn biết xót ruột khi bà lão lòa lò rò ngồi vào mâm, cướp cơm của vợ, của con nhà bác.
Buổi chiều hôm ấy... Trước túp lều tranh xiêu vẹo như chỉ còn chờ một trận gió to là đổ ụp xuống, cái sân đầy những bã mía, lá khô, một mâm cơm bát đàn đũa mộc trong để đĩa cá rô kho chuối với đĩa cá đen sịt đen sì, cầm trên tay mấy bát cơm ngô vàng ói, bà lão lòa, bác gái và hai đứa bé chỉ còn chờ bác trai rửa mặt rửa chân tay, ngồi vào là cùng cầm đũa. Đàn ruồi vù vù bay lung tung như đánh trận, hết bâu đầy vào mấy nốt mụn chốc trên đầu thắng cụ còn lại bay xuống đặt mình vào đĩa cá.
Bác trai, người mảnh khảnh, đen như củ súng, trấn răn, má hợp, mặt kèm nhèm, mặc cái áo vải và đã đến năm mười miếng mụn, đóng khổ, vừa ngồi xổm xuống đất cầm lấy bát cơm, vợ đã vội hỏi:
- Bố nó hôm nay kiếm được bao nhiêu tất cả...? Ấy tôi chỉ được có bốn sóc cua hai xu với một mẹt tôm riu năm xu là bảy dãy thôi. Gạo ăn bữa mại hết rồi […]
Bà lão lòa, ăn hết một lưng, tay lấy bẩy chìa bát ra toàn xin ít nữa, chưa kịp nói, bác gái đã quát:
- Hết rồi... Còn đâu nữa mà chìa mãi bát ra... Đến tôi đây quần quật suốt ngày, đã ốm cả xác mà cũng chỉ được có ba lưng thôi đấy… Bà không phải làm gì, ngồi nhà ăn ít cũng được.
Bà lão giật mình, đó người ra một lúc rồi đứng lên đi vào trong nhà, ngồi xuống bậu cửa, lấy cái tăm gài trên mái tóc xuống xỉa răng. trong trí nhớ của bà lại thấy hiện ra:
[....] Giữa chợ gần chỗ hàng gà, hàng cá, mùi hôi tanh xông lên nhức đầu, một đám đông xúm quanh một người đàn bà ăn mặc rách rưới, tay ôm đứa bé chừng bốn năm tháng.
- Thưa bà, cháu chỉ lấy có năm đồng thôi đấy ạ.
- Thôi, chả của đâu mà trả đến năm đồng. Trông gầy thế kia, biết rồi có sống được không? Ba đồng đấy, bằng lòng đi!...
- Rõ tội nghiệp chưa! Tôi mà có năm đồng thì tôi trả ngay..!
Bỗng có một bà ăn mặc lụa là, phúc hậu, len lỏi vào cất tiếng dõng dạc hỏi:
- Này nhà bác kia! Làm gì mà đến nỗi phải bán con đi thế?
- Thưa bà, nhà con phải bệnh, liệt giường liệt chiếu đã hơn nửa tháng nay, không có tiền thuốc thang gì thì chết mất. Con phải bán cháu đi để cứu lấy nhà con...
- Này..! Cứ ẵm cháu về, đừng có bán nó đi mà phải tội đấy! Năm đồng đây tôi xin giúp. Hãy cầm về mà liệu thuốc men cho bác trai. Người kia ngạc nhiên ngơ ngác nhìn lên, mãi chưa dám tin là thật, bàng hoàng như đang lúc chiêm bao… phục ngay xuống đất mà rưng rức khóc. Đám người tản mát, có kẻ thì thào: người đâu mà phúc đức tệ.
Ấy đó, đổi lại bao nhiêu điều thiện xưa kia ông trời cay nghiệt nay đều trả bà bằng hai con mắt lòa với một cảnh ăn gửi nằm nhở cực kỳ khổ sở. Cho rằng kiếp xưa tiền oan nghiệp chướng chỉ đây, nghĩ thương mình, thương đứa con bất hiếu, thương vợ chồng con cái bác đánh giậm, bà lão lòa thổn thức, trên hai gò má răn reo lại thấy mấy giọt nước mắt chảy ròng ròng. Bà lão gục đầu xuống gối tỉ tê khóc không ra tiếng, chỉ thấy sụt sùi hậm hực, khiến thằng cu con lò rò bò đến với bà, không hiểu ra sao bỗng cũng khóc thét lên. Bác gái chạy vào bực mình xỉa xói [...]
- Trời làm đói kém thế này, vợ chồng chúng tôi không thể nuôi bà được nữa
đâu, bà phải liệu mà giúp đỡ chúng tôi mới được. Rồi từ mai trở đi, để thằng cháu nó giắt bà ra đầu đê, bà ngả nón dưới bóng cây gạo mà ngồi, thấy tiếng người chợ búa qua lại thì bà chìa rá ra xin, nếu có được mỗi ngày một vài xu cũng là đỡ được cái mồm bà rồi đấy...
Đã được nửa tháng nay, sáng nào cũng thấy thắng cu lớn dắt bà ra ngồi đầu đê rồi chiều đến lại dắt về... Chẳng may, nếu hôm nào về tay không thì vợ bác đánh giậm - cháu bà - lại nghiến răng xỉa xói thậm tệ:
- Hôm nay chẳng ai thí cho bà đồng nào..! Bà có biết thế là bà lại ăn phần cơm của thăng cu lớn đấy không? Từ mai, bà liệu mà kêu to lên mới được... Hay tại bà ngồi dưới bóng cây mát mà ngủ thiếp đi...? Bà liệu đấy…!
Bát cơm ngô điểm quả cà thiu, bà lão lòa trước khi và vào mồm đã chan đầy như canh bằng nước mắt.
Một ngày kia, trời tháng ba nắng gay gắt, bà lão lòa dưới gốc cây gạo, ngồi từ sáng đến quá trưa, bụng đã đói mềm mà chẳng thấy người khách đi đường nào vứt cho lấy một đồng trinh...bốn bề im lặng như tờ. Hai cánh tay khẳng khiu ôm lấy bụng mà nhăn nhó, cố quật lại với cái đói nó cào xé ruột gan, bà lão lòa thở hổn ha hổn hển.
Chợt có tiếng người giẫm lạo xạo trên đống lá khô, đi về phía mình bà lão vội chìa ngay nón:
- Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại...! Cứu cho thân tôi lấy một miếng cơm...
- Tôi đây...! Phải ai đâu mà lạy với lục...? Bà được đồng nào chưa thì đưa đây cho tôi...
- Đã được đồng nào đâu...? Chẳng thấy ai đi qua đây cả... Mẹ nó có dắt tôi về thì dắt, tôi đói lắm rồi...!
- Bà đói à? Bà đói thì dễ tôi no à? Bà hãy ngồi đấy xem sao, buổi chợ chiều nay, rồi họ về qua đây nhiều... chốc nữa, tôi sẽ bảo thằng cu nó ra nó dắt....
Rồi bác ta thoăn thoắt bước đi...Bỗng trên trời mây kéo đen nghịt tối sầm hẳn lại, rồi nổi một cơn giông. Bác đánh giậm chạy vội ra sân vơ quần áo đem vào nhà, giục thằng cu lớn mau mau chạy ra để dắt bà về kẻo mưa to gió lớn. Nghe câu ấy, bác gái ngồi ôm con một góc giường cau mày ngẫm nghĩ: Thật vậy! Ba bốn năm nay, bác ta đã nhịn như nhịn cơm sống ấy rồi, quá lắm thì không chịu được. Mặc kệ bà ấy! Để bà ấy chết quách đi cho rãnh mắt.
[....] Không, không! Không thể thế được... Bà lão ấy chỉ là một bà cô... mà lạ là cô họ chồng, có lẽ nào báo hại mãi nhau.
Kìa! Thằng cu! Tao bảo thế nào…? Không bỏ bếp đấy mà ra dắt bà về à?
Bỗng bác gái đặt phịch con xuống giường, quặn mình nhăn nhó:
- Ôi trời đất ôi...! Ôi trời đất ôi…!
- Chết chửa… làm sao thế? Sao thế hở mẹ nó?
- Sao mà bụng tôi cứ thấy đau xoắn lại thế này! Ối trời đất ôi, đau thế này thì đến chết mất thôi
- Chết chửa! Kìa thằng cu.. ẵm em dỗ đi.. dỗ đi cho nó nín rồi dậy đấm cho u mày một chốc… để tao đi nướng hòn gạch mà chườm bụng vậy… Rõ khổ chửa?
[…]Tiếng sấm động ù ù, mỗi khi chớp nhoảng chớp nhoáng nó lại nom rõ thấy giữa những vũng bong bóng phập phồng, những dây nước ròng ròng từ mái tranh rỏ xuống. Chợt nghĩ đến bà nó ở ngoài đầu đê không biết ra sao, quay lại nhìn thì bố nó vẫn lúi húi dọn cơm, nét mặt thản nhiên như không, thằng cu phụng phịu nét mặt, hỏi gắt:
- Kìa thày! Thế bà ở ngoài đầu đê,
Nó chưa nói hết cầu, bố nó đã như bị một luồng điện giật nảy người ra, mắt tròn xoe, mãi mới nói được.
- Chết chửa! Biết làm thế nào bây giờ. U mày đau bụng, kêu rồi rít lên, làm tao cũng quên bẵng đi mất…
- Thế thì chắc bà chết rét mất rồi... Còn gì nữa…
Nghĩ đến cái chết của bà lão lòa ở ngoài đầu đề - tình cháu đối với cô – bác đánh giậm rùng mình, rợn tóc gáy nhưng bác tự dối lương tâm, bác đáp lại con:
- Ôi già... chả việc gì phải sợ.. dễ bà lại không biết lần mò đến một cải quán nào đẩy mà ẩn hay sao...?
Rồi bác gọi vợ con dậy ăn cơm. Bữa ấy bác gái tuy kêu đau bụng mà cũng cố ăn được đến bốn năm lưng, mặc dầu hai đứa bé không thấy bà nó đâu, thường nhắc đi nhắc lại. Trời vẫn mưa, lúc to lúc nhỏ, rả rích suốt đêm.
Sáng hôm sau, ánh sáng mặt trời xé những đám mây bay tan tác, chiều xuống trông lại càng tươi càng đẹp. [...]
Bác đánh giậm hôm ấy dậy rất sớm, đóng khổ, cài rổ, vác vợt ra đi... Mon men ở dưới chân để, lội lõm bom qua mấy vũng bùn lầy xa xa, phía dưới cây gạo - chỗ bà lão lòa vẫn ngồi, bác thấy giữa ruộng, trong một đám mạ xanh tươi tốt, một đàn quạ, con bay con liệng, kêu sào sạc rồi đậu xúm xít vào một chỗ. Bụng tưởng hẳn là một tổ rắn chi đây, bác ta vác ngay một vợt tre lên mặt rồi phăm phăm chạy lại. Đàn quạ vùng bay lên rồi tản mác đi... Chao ôi! Bước vừa đến nơi thì bỗng bác ta rú lên một tiếng, trợn mắt rít răng mà ngã phục xuống.[…]
(https://by.com.vn/YYE12)
Câu 1: Những dấu hiệu KHÔNG cho biết văn bản trên là truyện ngắn?
A. Nhân vật ít
B. Dung lượng ngắn (gần 4 trang)
C. Sự việc diễn ra chủ yếu ở một gia đình
D. Phản ánh xã hội rộng lớn
Câu 2: Dòng nào nói lên thông tin từ nhan đề của tác phẩm?
A. Đề tài
B. Nhân vật chính
C. Chủ đề
D. Bức thông điệp
Câu 3: Nhân vật chính của truyện ngắn trên là?
A. Bà lão lòa
B. Hai mẹ con bà lão lòa
C. Bà lão lòa, hai vợ chồng người cháu họ
D. Hai bố con người cháu họ
Câu 4: Nội dung của đoạn mở đầu văn bản là?
A. Cực nhục và kí ức
B. Bà lão chết trong mưa gió
C. Gia cảnh bà lão lòa
D. Bà lão lòa phải đi ăn xin
Câu 5: Nội dung nào sau đây nén nhiều sự việc (hàm súc) có khả năng phản ánh số phận của nhân vật như tiểu thuyết?
A. Bà lão lòa phải đi ăn xin
B. Gia cảnh bà lão lòa
C. Bà lão chết trong mưa gió
D. Cực nhục và kí ức
Câu 6: Đoạn có chứa nội dung Cực nhục và kí ức sử dụng thủ pháp nghệ thuật chính nào? Để làm gì?
A. Đối thoại để làm nổi bật bản chất của người cháu dâu
B. Tái hiện hồi ức để làm nổi bật tấm lòng nhân hậu của bà lão
C. Đối lập tương phản để khắc họa nỗi cực nhục hiện tại của bà lão
D. Đối thoại để làm nổi bật tình cảnh cơ cực của vợ chồng người cháu họ
Câu 7: Các sự việc trong tác phẩm được sắp xếp theo trình tự nào?
A. Thời gian
B. Không gian
C. Hiện thực, hồi ức đan xen
D. Tất cả các ý trên
Câu 8: Dòng nào nói lên cảm hứng bao trùm toàn tác phẩm?
A. Phê phán người cháu dâu tệ bạc
B. Xót thương cho bao kiếp người cơ cực
C. Ngợi ca tấm lòng cậu bé (con trai người cháu)
D. Lên án người con trai của bà lão lòa
Câu 9: Phân tích lời nói, hành động người cháu họ của bà lão lòa khi vợ kêu đau bụng, khi bà lão lòa ở ngoài đê trong mưa cho đến sáng hôm sau để thấy được bản chất con người này (1đ)
Câu 10: Em hãy viết tiếp câu chuyện về 3 nhân vật trong gia đình người cháu họ sau khi người chồng rú lên một tiếng, trợn mắt rít răng mà ngã phục xuống ngoài cánh đồng (khoảng 5-10 câu)(1đ)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Quan sát 2 bức ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)


a. Chỉ ra nét tương đồng và khác biệt ở 2 bức ảnh trên và đề xuất một chủ đề liên quan tới hai bức ảnh
b. Bức ảnh nào gây nên cảm xúc mãnh liệt ở em? Yếu tố nào gợi lên cảm xúc đó?
Câu 2: Chọn 1 trong 2 đề sau:
Đề 1: Viết bài luận thể hiện suy nghĩ, thái độ và quan điểm của cá nhân về vấn đề được phản ánh trong bức ảnh số 2
Đề 2: Viết bài luận phân tích truyện ngắn Bà lão lòa
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1: Những dấu hiệu KHÔNG cho biết văn bản trên là truyện ngắn? A. Nhân vật ít B. Dung lượng ngắn (gần 4 trang) C. Sự việc diễn ra chủ yếu ở một gia đình D. Phản ánh xã hội rộng lớn |
Phương pháp giải:
Nhớ lại dấu hiệu nhận biết thể loại truyện ngắn
Lời giải chi tiết:
Dấu hiệu nhận biết thể loại truyện ngắn:
- Truyện ngắn chỉ chứa một biến cố cơ bản. Sự kiện ít, xung đột ít, cốt truyện thì đơn giản.
- Truyện ngắn có thời gian và không gian của câu chuyện phụ thuộc vào người kể, môi trường, hoàn cảnh câu chuyện.
- Truyện ngắn miêu tả nhân vật ở những khía cạnh nổi bật nhất.
- Truyện ngắn thường ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp.
- Truyện ngắn được tạo dựng từ những chi tiết hết sức hấp dẫn, sinh động.
- Truyện ngắn thường có kết cấu bất ngờ đột biến, hoặc tương phản, hoặc liên tưởng.
→ Đáp án D (phản ánh xã hội rộng lớn là đặc điểm của thể loại tiểu thuyết)
|
Câu 2: Dòng nào nói lên thông tin từ nhan đề của tác phẩm? A. Đề tài B. Nhân vật chính C. Chủ đề D. Bức thông điệp |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhan đề tác phẩm
Rút ra thông tin từ nhan đề
Lời giải chi tiết:
Nhan đề: Bà lão lòa cho người đọc biết nhân vật chính của tác phẩm
→ Đáp án B
|
Câu 3: Nhân vật chính của truyện ngắn trên là? A. Bà lão lòa B. Hai mẹ con bà lão lòa C. Bà lão lòa, hai vợ chồng người cháu họ D. Hai bố con người cháu họ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ tác phẩm
Đưa ra câu trả lời về nhân vật chính của truyện
Lời giải chi tiết:
Câu chuyện xoay quanh nhân vật chính là Bà lão lòa (cũng chính là nhan đề tác phẩm)
→ Đáp án A
|
Câu 4: Nội dung của đoạn mở đầu văn bản là? A. Cực nhục và kí ức B. Bà lão chết trong mưa gió C. Gia cảnh bà lão lòa D. Bà lão lòa phải đi ăn xin |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn đầu tác phẩm
Rút ra nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Nội dung chính của đoạn mở đầu tác phẩm: Gia cảnh bà lão lòa thông qua những chi tiết:
- Ở nhờ một đứa cháu họ, lắm phen cực nhục
- Hai mươi năm về trước, bà lão lòa này còn là người có của trong làng. Con trai bà bó chơi, nó phá, nó bán ruộng,…
….
→ Đáp án C
|
Câu 5: Nội dung nào sau đây nén nhiều sự việc (hàm súc) có khả năng phản ánh số phận của nhân vật như tiểu thuyết? A. Bà lão lòa phải đi ăn xin B. Gia cảnh bà lão lòa C. Bà lão chết trong mưa gió D. Cực nhục và kí ức |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Nội dung nén nhiều sự việc (hàm súc) có khả năng phản ánh số phận của nhân vật như tiểu thuyết là Gia cảnh bà lão lòa
- Trước đây, gia cảnh bà lão thuộc dạng khá nhưng vì người con ăn chơi nên bà mới ra cơ sự như vậy
- Trong thời gian còn giàu có, bà năng làm việc thiện, giúp đỡ những kẻ nghèo khó
- Sau này, khi túng quẫn phải ở cùng gia đình người cháu, tất cả sự đau khổ của bà lão mới thực sự bắt đầu
→ Đáp án B
|
Câu 6: Đoạn có chứa nội dung Cực nhục và kí ức sử dụng thủ pháp nghệ thuật chính nào? Để làm gì? A. Đối thoại để làm nổi bật bản chất của người cháu dâu B. Tái hiện hồi ức để làm nổi bật tấm lòng nhân hậu của bà lão C. Đối lập tương phản để khắc họa nỗi cực nhục hiện tại của bà lão D. Đối thoại để làm nổi bật tình cảnh cơ cực của vợ chồng người cháu họ |
Phương pháp giải:
Xác định đoạn có nội dung Cực nhục và kí ức
Phát hiện thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn đó
Rút ra kết luận về tác dụng của thủ pháp nghệ thuật đó
Lời giải chi tiết:
Đoạn có chứa nội dung Cực nhục và kí ức sử dụng thủ pháp nghệ thuật chính: Đối lập tương phản
Tác dụng: để khắc họa nỗi cực nhục hiện tại của bà lão
→ Đáp án C
|
Câu 7: Các sự việc trong tác phẩm được sắp xếp theo trình tự nào? A. Thời gian B. Không gian C. Hiện thực, hồi ức đan xen D. Tất cả các ý trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý cách sắp xếp các sự việc trong tác phẩm
Lời giải chi tiết:
Trình tự sắp xếp các sự việc trong tác phẩm: Hiện thực, hồi ức đan xen
→ Đáp án C
|
Câu 8: Dòng nào nói lên cảm hứng bao trùm toàn tác phẩm? A. Phê phán người cháu dâu tệ bạc B. Xót thương cho bao kiếp người cơ cực C. Ngợi ca tấm lòng cậu bé (con trai người cháu) D. Lên án người con trai của bà lão lòa |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ tác phẩm
Rút ra kết luận về cảm hứng bao trùm
Lời giải chi tiết:
Cảm hứng bao trùm toàn tác phẩm: Xót thương cho bao kiếp người cơ cực mà cụ thể ở đây là số phận của bà lão lòa
→ Đáp án B
Câu 9: Phân tích lời nói, hành động người cháu họ của bà lão lòa khi vợ kêu đau bụng, khi bà lão lòa ở ngoài đê trong mưa cho đến sáng hôm sau để thấy được bản chất con người này
Phương pháp giải:
- Liệt kê lời nói, hành động của người cháu họ
- Phân tích để rút ra kết luận về bản chất con người này
Lời giải chi tiết:
- Lời nói, hành động của người cháu:
+Kìa! Thằng cu! Tao bảo thế nào…? Không bỏ bếp đấy mà ra dắt bà về à? Ông lại đét cho bây giờ.
+ Để tao đi nướng hòn gạch mà chườm bụng vậy. Rõ khổ chửa?
+ Chết chửa! Biết làm thế nào bây giờ? U mày đau bụng, kêu rối rít lên, làm tao cũng quên bẵng đi mất…
+Nghĩ đến cái chết của bà lão lòa ở ngoài đầu đê- tình cháu đối với cô- bác đánh giậm rùng mình, rợn tóc gáy.
+ Dễ bà lại không biết lần mò đến một cái quán nào đấy mà ẩn hay sao…?
+ Chao ôi! Bước vừa đến nơi thì bỗng bác ta rú lên một tiếng, trợn mắt rít răng mà ngã phục xuống…
- Phân tích: Tác giả khắc họa nhân vật qua lời thoại, hành động, suy nghĩ…
→ Làm rõ con người chân thật, mộc mạc, thương người: lo lắng cho vợ, cho bà cô họ; nhiều lần nhân vật này phải tự trấn an mình, tự lảng đi… rất lo lắng cho bà cô già mù lòa đang ở ngoài đê, dưới mưa
→ Tình thương bị nghèo đói che khuất… cái đói, nghèo chưa thể bào mòn nhân tâm của người nông dân
Câu 10: Em hãy viết tiếp câu chuyện về 3 nhân vật trong gia đình người cháu họ sau khi người chồng rú lên một tiếng, trợn mắt rít răng mà ngã phục xuống ngoài cánh đồng (khoảng 5-10 câu)
Phương pháp giải:
Dựa vào trí tưởng tượng và sắp xếp sự kiện câu chuyện của bản thân
Lời giải chi tiết:
Học sinh tự làm (gợi ý: phát triển sự việc phù hợp với tính cách nhân vật hoặc có sự chuyển biến tính cách… Cần hướng về tính nhân văn)
PHẦN II. VIẾT
Câu 1:
a. Chỉ ra nét tương đồng và khác biệt ở 2 bức ảnh trên và đề xuất một chủ đề liên quan tới hai bức ảnh
Phương pháp giải:
Quan sát kĩ 2 bức ảnh
Rút ra nét tương đồng và khác biệt ở 2 bức ảnh
Đề xuất một chủ đề liên quan tới hai bức ảnh
Lời giải chi tiết:
- Nét tương đồng và khác biệt
+Ảnh 1: Cảnh đối lập giữa 2 đứa trẻ: giàu và đói nghèo
+ Ảnh 2: Bé trai chết bên bờ biển
+Tương đồng: cùng đề cập đến nỗi khốn khổ bất hạnh của những đứa trẻ
- Đề xuất chủ đề: Học sinh tự làm ( ngôn từ ngắn gọn, hướng vào bản chất của vấn đề)
b. Bức ảnh nào gây nên cảm xúc mãnh liệt ở em? Yếu tố nào gợi lên cảm xúc đó?
Phương pháp giải:
- Chọn một bức ảnh mà bản thân cảm thấy có cảm xúc mãnh liệt
- Đưa ra yếu tố gợi lên cảm xúc đó
Lời giải chi tiết:
- Học sinh tự lựa chọn
- Nêu yếu tố gợi cảm xúc cần logic với bức ảnh đã lựa chọn và phù hợp với văn hóa dân tộc, tính nhân, nhân loại.
Câu 2: Viết bài văn
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
Đề 1:
- Về nguồn gốc bức ảnh số 2: Cậu bé 3 tuổi người Syria bị chết đuối vào ngày 2/9/2015 ở Địa Trung Hải. Hình ảnh em nằm chết đã lên trang đầu của báo chí toàn cầu. Em cùng gia đình là những người tị nạn Syria đã vượt biên đến Châu Âu giữa cuộc khủng hoảng tị nạn Châu Âu.
|
- Xác định luận đề: Di dân đến Châu Âu |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0.25 |
- Giới thiệu nguồn gốc bức ảnh - Đánh giá khái quát của người viết |
|
Thân bài |
2.00 |
Gồm các ý chính (từ 2 luận điểm trở lên) - Làm rõ cách hiểu, hiện trạng của di dân (có dẫn chứng) - Phân tích nguyên nhân, tác hại, hệ lụy của việc di dân +Vì sao người dân lại chọn cách nhập cư trái phép/di dân? +Gây ra những cái chết trên hành trình di dân +Giải quyết vấn đề về người tị nạn + Gây ra các vấn đề về an ninh cho nước sở tại - Quan điểm người viết trong đề xuất giải pháp nhân đạo +Về phía những người di dân +Hành động nhân đạo của nước sở tại có người di dân tới (lập luận + dẫn chứng xác thực; dùng yếu tố biểu cảm) |
|
Kết bài |
0.25 |
- Vai trò của tổ chức, hành động nhân đạo với người di dân - Nhận thức, hành động của bản thân |
|
Yêu cầu khác |
0.25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Diễn đạt rõ ý; lập luận logic; suy luận, bình luận phù hợp với văn hóa dân tộc… |
Đề 2:
Truyện ngắn Bà lão lòa tái hiện cho ta ngay từ đầu thời khắc tăm tối, ê chề trong phận sống nhờ của nhân vật cùng tên - là người cô họ của bác đánh giậm. Lần hồi sau đó, tác giả đưa ta trở về với quá khứ khi bà lão còn giàu có, bà đã “giúp đỡ kẻ nghèo khó; trong họ ngoài làng, nhiều người đã được nhờ bà” thế nhưng “đến khi gặp bà bước khốn cùng thì chẳng ai thương cả”. Tác giả cũng cho ta biết rằng ngày trước bác đánh giậm “đã nhiều phen ngửa tay nhận lấy đồng tiền cứu giúp của bà” nên bây giờ “đành cắn răng, vuốt bụng, nhắm mắt” nuôi bà trong lúc hoạn nạn với nỗi niềm biết bao “xót ruột khi bà lão lòa lò rò ngồi vào mâm, cướp cơm của vợ, của con nhà bác”. Quay ngược thời gian như vậy, nhà văn đã cho ta một cái nhìn toàn diện hơn về cuộc đời bà lão lòa; đồng thời ông cũng nhấn mạnh thái độ lên án, phê phán đối với cuộc đời này. Một quá khứ tử tế, ăn ở phúc đức nhưng đổi lại chỉ là một hiện thực cay đắng : con trai ăn chơi, phá của đến nỗi “bán ruộng, cầm nhà” khiến bà thành tật nguyền, nghèo khổ và đứa cháu họ vô ơn bạc nghĩa đối xử với ân nhân của mình không ra gì. Hiện tại bà cụ chẳng gặp lành dù ngày trước đã ăn ở rất hiền lành, hiện tại người ta vong ân dù quá khứ vốn chịu nhiều ơn cứu giúp của bà – những đối nghịch thời gian đi kèm với nghịch lí cuộc đời khiến câu chuyện cứ ám ảnh chúng ta mãi.
Trong diễn tiến cuộc đời cơ cực của bà lão tội nghiệp chịu cảnh tật nguyền sống nhờ nhục nhã bỗng xuất hiện ba câu chuyện nhỏ về những hành động nhân đức của một người phụ nữ : thấy người ăn mày lụ khụ đến xin ăn bị mấy con chó “nhảy xổ ra cắn xa xả”, bà đã “quát thằng nhỏ ra mắng chó, dắt ông ăn mày vào thết một lưng cơm”; trước gia cảnh bác nhiêu B. vợ chết, nhà bị hỏa hoạn, đàn con nheo nhóc, đói kém, bà đã “cởi hầu bao, lấy ra một cuộn giấy bạc” đem cho; và cuối cùng trước cảnh đau xót của một người phụ nữ phải bán con để mong cứu chồng bệnh liệt giường liệt chiếu đã hơn nửa tháng, bà cũng đã cho năm đồng về lo thuốc men cho chồng mà không phải bán con. Đến cuối cùng Vũ Trọng Phụng mới cho ta biết hóa ra đó chính là bà lão lòa tội nghiệp bây giờ. Ba câu chuyện nhỏ về sự phúc đức để góp phần làm rõ một nghịch lí : bà đã từng rất tử tế với người không ruột thịt thân thích, bà đã từng động lòng trắc ẩn trước bao số phận vật vờ tận đáy cuộc đời; song giờ đây, người thân thích ruột rà không mảy may động lòng xót xa cho thân già tật nguyền cô độc của bà, nhẫn tâm tàn tệ với bà hơn cả với người dưng nước lã, đay nghiến chà đạp lên thân phận sống nhờ đầy nghịch cảnh bà đang phải chịu. Trần thuật với kết cấu “truyện lồng trong truyện”, Vũ Trọng Phụng đã dựng lên sự đối lập gay gắt giữa quá khứ và thực tại, giữa thiện tâm và ác tâm, giữa vị tha và ích kỉ để phê phán sự bội bạc, bất nhân của người đời và tố cáo cái nghèo làm nhân cách con người dần thảm hại như nó.
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 4
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
BÀ LÃO LÒA
(Vũ Trọng Phụng)
76 tuổi đầu, mỗi bữa thất thểu ăn một lưng cơm, bà lão lòa ở nhờ một đứa cháu họ, thật đã lắm phen cực nhục. Cháu bà, bác đánh giậm, với vợ, một chị mò cua bắt ốc, khốn thay, dưới nách hai đứa con mọn, cũng lắm phen nhăn nhó vì chẳng đủ ăn. Hai mươi năm về trước, bà lão lòa này còn là người có của trong làng. Con trai bà nó chơi, nó phá, nó bán ruộng, cầm nhà rồi nó bỏ bà nó đi, chẳng biết đi đâu, lòng mẹ đối với con tuy có giận mà vẫn có thương, bà khóc lóc một mình đến nỗi lòa cả mắt. Trong thời bà còn giàu có, ngoài những việc cúng tiền tô tượng đúc chuông, bà còn năng giúp đỡ kẻ nghèo khó; trong họ ngoài làng, nhiều người đã được nhờ bà mà đến khi bà gặp bước khốn cùng thì chẳng ai thương cả. Cũng vì xưa kia đã nhiều phen ngửa tay nhận lấy đồng tiền cứu giúp của bà, bác đánh giậm đành cắn răng, vuốt bụng, nhắm mắt nuôi cô trong lúc hoạn nạn. Nhưng vốn bị ma nghèo ám ảnh, mới nuôi cô được độ ba năm, bác đánh giậm đã thấy nản lòng. Cái cảnh túng bấn nó thường đẩy người ta vào chốn bùn nhơ, nó thường buộc người vào vòng tội lỗi, đối với bác đánh giậm, ác hơn, nó làm bác quên bỏ cả lương tâm. Quên hẳn cái ơn ngày trước, bác ta chỉ còn biết xót ruột khi bà lão lòa lò rò ngồi vào mâm, cướp cơm của vợ, của con nhà bác.
Buổi chiều hôm ấy... Trước túp lều tranh xiêu vẹo như chỉ còn chờ một trận gió to là đổ ụp xuống, cái sân đầy những bã mía, lá khô, một mâm cơm bát đàn đũa mộc trong để đĩa cá rô kho chuối với đĩa cá đen sịt đen sì, cầm trên tay mấy bát cơm ngô vàng ói, bà lão lòa, bác gái và hai đứa bé chỉ còn chờ bác trai rửa mặt rửa chân tay, ngồi vào là cùng cầm đũa. Đàn ruồi vù vù bay lung tung như đánh trận, hết bâu đầy vào mấy nốt mụn chốc trên đầu thắng cụ còn lại bay xuống đặt mình vào đĩa cá.
Bác trai, người mảnh khảnh, đen như củ súng, trấn răn, má hợp, mặt kèm nhèm, mặc cái áo vải và đã đến năm mười miếng mụn, đóng khổ, vừa ngồi xổm xuống đất cầm lấy bát cơm, vợ đã vội hỏi:
- Bố nó hôm nay kiếm được bao nhiêu tất cả...? Ấy tôi chỉ được có bốn sóc cua hai xu với một mẹt tôm riu năm xu là bảy dãy thôi. Gạo ăn bữa mại hết rồi […]
Bà lão lòa, ăn hết một lưng, tay lấy bẩy chìa bát ra toàn xin ít nữa, chưa kịp nói, bác gái đã quát:
- Hết rồi... Còn đâu nữa mà chìa mãi bát ra... Đến tôi đây quần quật suốt ngày, đã ốm cả xác mà cũng chỉ được có ba lưng thôi đấy… Bà không phải làm gì, ngồi nhà ăn ít cũng được.
Bà lão giật mình, đó người ra một lúc rồi đứng lên đi vào trong nhà, ngồi xuống bậu cửa, lấy cái tăm gài trên mái tóc xuống xỉa răng. trong trí nhớ của bà lại thấy hiện ra:
[....] Giữa chợ gần chỗ hàng gà, hàng cá, mùi hôi tanh xông lên nhức đầu, một đám đông xúm quanh một người đàn bà ăn mặc rách rưới, tay ôm đứa bé chừng bốn năm tháng.
- Thưa bà, cháu chỉ lấy có năm đồng thôi đấy ạ.
- Thôi, chả của đâu mà trả đến năm đồng. Trông gầy thế kia, biết rồi có sống được không? Ba đồng đấy, bằng lòng đi!...
- Rõ tội nghiệp chưa! Tôi mà có năm đồng thì tôi trả ngay..!
Bỗng có một bà ăn mặc lụa là, phúc hậu, len lỏi vào cất tiếng dõng dạc hỏi:
- Này nhà bác kia! Làm gì mà đến nỗi phải bán con đi thế?
- Thưa bà, nhà con phải bệnh, liệt giường liệt chiếu đã hơn nửa tháng nay, không có tiền thuốc thang gì thì chết mất. Con phải bán cháu đi để cứu lấy nhà con...
- Này..! Cứ ẵm cháu về, đừng có bán nó đi mà phải tội đấy! Năm đồng đây tôi xin giúp. Hãy cầm về mà liệu thuốc men cho bác trai. Người kia ngạc nhiên ngơ ngác nhìn lên, mãi chưa dám tin là thật, bàng hoàng như đang lúc chiêm bao… phục ngay xuống đất mà rưng rức khóc. Đám người tản mát, có kẻ thì thào: người đâu mà phúc đức tệ.
Ấy đó, đổi lại bao nhiêu điều thiện xưa kia ông trời cay nghiệt nay đều trả bà bằng hai con mắt lòa với một cảnh ăn gửi nằm nhở cực kỳ khổ sở. Cho rằng kiếp xưa tiền oan nghiệp chướng chỉ đây, nghĩ thương mình, thương đứa con bất hiếu, thương vợ chồng con cái bác đánh giậm, bà lão lòa thổn thức, trên hai gò má răn reo lại thấy mấy giọt nước mắt chảy ròng ròng. Bà lão gục đầu xuống gối tỉ tê khóc không ra tiếng, chỉ thấy sụt sùi hậm hực, khiến thằng cu con lò rò bò đến với bà, không hiểu ra sao bỗng cũng khóc thét lên. Bác gái chạy vào bực mình xỉa xói [...]
- Trời làm đói kém thế này, vợ chồng chúng tôi không thể nuôi bà được nữa
đâu, bà phải liệu mà giúp đỡ chúng tôi mới được. Rồi từ mai trở đi, để thằng cháu nó giắt bà ra đầu đê, bà ngả nón dưới bóng cây gạo mà ngồi, thấy tiếng người chợ búa qua lại thì bà chìa rá ra xin, nếu có được mỗi ngày một vài xu cũng là đỡ được cái mồm bà rồi đấy...
Đã được nửa tháng nay, sáng nào cũng thấy thắng cu lớn dắt bà ra ngồi đầu đê rồi chiều đến lại dắt về... Chẳng may, nếu hôm nào về tay không thì vợ bác đánh giậm - cháu bà - lại nghiến răng xỉa xói thậm tệ:
- Hôm nay chẳng ai thí cho bà đồng nào..! Bà có biết thế là bà lại ăn phần cơm của thăng cu lớn đấy không? Từ mai, bà liệu mà kêu to lên mới được... Hay tại bà ngồi dưới bóng cây mát mà ngủ thiếp đi...? Bà liệu đấy…!
Bát cơm ngô điểm quả cà thiu, bà lão lòa trước khi và vào mồm đã chan đầy như canh bằng nước mắt.
Một ngày kia, trời tháng ba nắng gay gắt, bà lão lòa dưới gốc cây gạo, ngồi từ sáng đến quá trưa, bụng đã đói mềm mà chẳng thấy người khách đi đường nào vứt cho lấy một đồng trinh...bốn bề im lặng như tờ. Hai cánh tay khẳng khiu ôm lấy bụng mà nhăn nhó, cố quật lại với cái đói nó cào xé ruột gan, bà lão lòa thở hổn ha hổn hển.
Chợt có tiếng người giẫm lạo xạo trên đống lá khô, đi về phía mình bà lão vội chìa ngay nón:
- Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại...! Cứu cho thân tôi lấy một miếng cơm...
- Tôi đây...! Phải ai đâu mà lạy với lục...? Bà được đồng nào chưa thì đưa đây cho tôi...
- Đã được đồng nào đâu...? Chẳng thấy ai đi qua đây cả... Mẹ nó có dắt tôi về thì dắt, tôi đói lắm rồi...!
- Bà đói à? Bà đói thì dễ tôi no à? Bà hãy ngồi đấy xem sao, buổi chợ chiều nay, rồi họ về qua đây nhiều... chốc nữa, tôi sẽ bảo thằng cu nó ra nó dắt....
Rồi bác ta thoăn thoắt bước đi...Bỗng trên trời mây kéo đen nghịt tối sầm hẳn lại, rồi nổi một cơn giông. Bác đánh giậm chạy vội ra sân vơ quần áo đem vào nhà, giục thằng cu lớn mau mau chạy ra để dắt bà về kẻo mưa to gió lớn. Nghe câu ấy, bác gái ngồi ôm con một góc giường cau mày ngẫm nghĩ: Thật vậy! Ba bốn năm nay, bác ta đã nhịn như nhịn cơm sống ấy rồi, quá lắm thì không chịu được. Mặc kệ bà ấy! Để bà ấy chết quách đi cho rãnh mắt.
[....] Không, không! Không thể thế được... Bà lão ấy chỉ là một bà cô... mà lạ là cô họ chồng, có lẽ nào báo hại mãi nhau.
Kìa! Thằng cu! Tao bảo thế nào…? Không bỏ bếp đấy mà ra dắt bà về à?
Bỗng bác gái đặt phịch con xuống giường, quặn mình nhăn nhó:
- Ôi trời đất ôi...! Ôi trời đất ôi…!
- Chết chửa… làm sao thế? Sao thế hở mẹ nó?
- Sao mà bụng tôi cứ thấy đau xoắn lại thế này! Ối trời đất ôi, đau thế này thì đến chết mất thôi
- Chết chửa! Kìa thằng cu.. ẵm em dỗ đi.. dỗ đi cho nó nín rồi dậy đấm cho u mày một chốc… để tao đi nướng hòn gạch mà chườm bụng vậy… Rõ khổ chửa?
[…]Tiếng sấm động ù ù, mỗi khi chớp nhoảng chớp nhoáng nó lại nom rõ thấy giữa những vũng bong bóng phập phồng, những dây nước ròng ròng từ mái tranh rỏ xuống. Chợt nghĩ đến bà nó ở ngoài đầu đê không biết ra sao, quay lại nhìn thì bố nó vẫn lúi húi dọn cơm, nét mặt thản nhiên như không, thằng cu phụng phịu nét mặt, hỏi gắt:
- Kìa thày! Thế bà ở ngoài đầu đê,
Nó chưa nói hết cầu, bố nó đã như bị một luồng điện giật nảy người ra, mắt tròn xoe, mãi mới nói được.
- Chết chửa! Biết làm thế nào bây giờ. U mày đau bụng, kêu rồi rít lên, làm tao cũng quên bẵng đi mất…
- Thế thì chắc bà chết rét mất rồi... Còn gì nữa…
Nghĩ đến cái chết của bà lão lòa ở ngoài đầu đề - tình cháu đối với cô – bác đánh giậm rùng mình, rợn tóc gáy nhưng bác tự dối lương tâm, bác đáp lại con:
- Ôi già... chả việc gì phải sợ.. dễ bà lại không biết lần mò đến một cải quán nào đẩy mà ẩn hay sao...?
Rồi bác gọi vợ con dậy ăn cơm. Bữa ấy bác gái tuy kêu đau bụng mà cũng cố ăn được đến bốn năm lưng, mặc dầu hai đứa bé không thấy bà nó đâu, thường nhắc đi nhắc lại. Trời vẫn mưa, lúc to lúc nhỏ, rả rích suốt đêm.
Sáng hôm sau, ánh sáng mặt trời xé những đám mây bay tan tác, chiều xuống trông lại càng tươi càng đẹp. [...]
Bác đánh giậm hôm ấy dậy rất sớm, đóng khổ, cài rổ, vác vợt ra đi... Mon men ở dưới chân để, lội lõm bom qua mấy vũng bùn lầy xa xa, phía dưới cây gạo - chỗ bà lão lòa vẫn ngồi, bác thấy giữa ruộng, trong một đám mạ xanh tươi tốt, một đàn quạ, con bay con liệng, kêu sào sạc rồi đậu xúm xít vào một chỗ. Bụng tưởng hẳn là một tổ rắn chi đây, bác ta vác ngay một vợt tre lên mặt rồi phăm phăm chạy lại. Đàn quạ vùng bay lên rồi tản mác đi... Chao ôi! Bước vừa đến nơi thì bỗng bác ta rú lên một tiếng, trợn mắt rít răng mà ngã phục xuống.[…]
(https://by.com.vn/YYE12)
Câu 1: Dòng nào sau đây nói lên mục đích của đoạn mở đầu văn bản?
A. Cuộc đời khốn khó đầy biến động của bà lão lòa
B. Lý do vợ chồng đứa cháu họ nuôi bà
C. Bà lão lòa cũng từng là người giàu có
D. Cả A và B
Câu 2: Bà lão lòa phản ứng thế nào trước lời lẽ cay nghiệt của người cháu dâu?
A. Im lặng và làm theo
B. Tủi cực, khóc, nhớ ngày xưa và làm theo
C. Tủi cực, khóc
D. Làm theo, không dám phản ứng gì
Câu 3: Đoạn: Không, không! Không thể thế được…! Bà lão ấy chỉ là một bà cô… mà lại là cô họ một người chồng, có lẽ nào lại báo hại mãi nhau…? Tác giả sử dụng nghệ thuật nào? Diễn tả nỗi niềm gì của người cháu dâu?
A. Độc thoại nội tâm, thể hiện ý định quyết bỏ mặc bà lão
B. Đối thoại, thể hiện niềm xót thương bà cô họ
C. Độc thoại nội tâm, diễn tả sự giằng xé: có nên bỏ mặc bà lão không?
D. Độc thoại nội tâm, khẳng dịnh không thể bỏ mặc bà lão được
Câu 4: “Kìa thày! Thế bà ở ngoài đầu đê?” thể hiện điều gì ở cậu bé này?
A. Nhắc thầy nó nhớ chuyện ban nãy (bố bảo đi dắt bà về)
B. Lo lắng cho người bà lòa dưới trời mưa
C. Nói lấp lửng để mẹ nó khỏi nghe thấy
D. Tất cả các ý trên
Câu 5: Câu: Cái cảnh túng bấn nó thường đẩy người ta vào chốn bùn nhơ, nó thường buộc người vào vòng tội lỗi, đối với bác đánh giậm, ác hơn, nó làm bác quên bỏ cả lương tâm nhằm mục đích gì?
A. Lý giải sự cay nghiệt của vợ chồng người cháu đối với bà lão lòa
B. Triết lý về cuộc đời đen bạc
C. Bênh vực vợ chồng người cháu họ
D. Đưa ra lời cảnh báo: nghèo khổ, túng quẫn sẽ bào mòn nhân cách con người
Câu 6: Dòng nào nói ĐÚNG về ngôi kể của tác phẩm?
A. Người kể chuyện hạn tri trực tiếp tham dự, chứng kiến những sự việc sảy ra
B. Người kể chuyện toàn tri, quan sát bằng toàn năng, biết hết mọi sự việc
C. Phối hợp 2 điểm nhìn trần thuật vừa biết hết mọi sự việc, vừa diễn tả được cảm xúc nhân vật
D. Dùng 2 ngôi kể luân phiên để kể chuyện bà lão lòa và gia đình người cháu
Câu 7: Dòng nào chứng tỏ người kể chuyện toàn tri trong văn bản là người quan sát toàn năng, biết hết mọi việc?
A. Nó chưa nói hết câu, bố nó đã như bị một luồng điện giật nẩy người ra, mắt tròn xoe, mãi mới nói được
B. Nghĩ đến cái chết của bà lão lòa ở đầu đê – tình cháu đối với cô – bác đánh giậm rùng mình, rợn tóc gáy
C. Bữa ấy bác gái tuy kêu đau bụng mà cũng cố ăn được đến bốn năm lưng
D. Cả A và B
Câu 8: Dòng nào nói lên cảm hứng bao trùm toàn tác phẩm?
A. Phê phán người cháu dâu tệ bạc
B. Xót thương cho bao kiếp người cơ cực
C. Ngợi ca tấm lòng cậu bé (con trai người cháu)
D. Lên án người con trai của bà lão lòa
Câu 9: Nêu suy nghĩ của em về bà lão lòa trong truyện ngắn trên và cho biết mục đích của nhà văn khi để bà nhớ lại những hành động giúp đỡ người nghèo của bà (trả lời bằng đoạn văn ngắn từ 5- 7 dòng) (1đ)
Câu 10: Em hãy viết tiếp câu chuyện về 3 nhân vật trong gia đình người cháu họ sau khi người chồng rú lên một tiếng, trợn mắt rít răng mà ngã phục xuống ngoài cánh đồng (trả lời bằng đoạn văn ngắn từ 5- 7 dòng)(1đ)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Quan sát 2 bức ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)


a. Chỉ ra nét tương đồng và khác biệt ở 2 bức ảnh trên và đề xuất một chủ đề liên quan tới hai bức ảnh
b. Bức ảnh nào gây nên cảm xúc mãnh liệt ở em? Yếu tố nào gợi lên cảm xúc đó?
Câu 2: Chọn 1 trong 2 đề sau:
Đề 1: Viết bài luận thể hiện suy nghĩ, thái độ và quan điểm của cá nhân về vấn đề được phản ánh trong bức ảnh số 2
Đề 2: Viết bài luận phân tích truyện ngắn Bà lão lòa
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU

|
Câu 1: Dòng nào sau đây nói lên mục đích của đoạn mở đầu văn bản? A. Cuộc đời khốn khó đầy biến động của bà lão lòa B. Lý do vợ chồng đứa cháu họ nuôi bà C. Bà lão lòa cũng từng là người giàu có D. Cả A và B |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn mở đầu văn bản
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Mục đích của đoạn mở đầu văn bản:
+Kể về cuộc đời khốn khó đầy biến động của bà lão lòa
+Nêu lý do vợ chồng đứa cháu họ nuôi bà
→ Đáp án D
|
Câu 2: Bà lão lòa phản ứng thế nào trước lời lẽ cay nghiệt của người cháu dâu? A. Im lặng và làm theo B. Tủi cực, khóc, nhớ ngày xưa và làm theo C. Tủi cực, khóc D. Làm theo, không dám phản ứng gì |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ tác phẩm và chú ý đoạn đối thoại giữa người cháu dâu và bà lão lòa
Chú ý chi tiết thể hiện phản ứng của bà lão lòa
Lời giải chi tiết:
Trước lời lẽ cay nghiệt của người cháu dâu, bà lão lòa cảm thấy tủi cực, điều duy nhất bà có thể làm là khóc và làm theo. Kí ức ngày xưa có lẽ là chỗ dựa tinh thần duy nhất giúp bà quên đi hiện thực tàn khốc dù chỉ trong tưởng tượng
→ Đáp án B
|
Câu 3: Đoạn: Không, không! Không thể thế được…! Bà lão ấy chỉ là một bà cô… mà lại là cô họ một người chồng, có lẽ nào lại báo hại mãi nhau…? Tác giả sử dụng nghệ thuật nào? Diễn tả nỗi niềm gì của người cháu dâu? A. Độc thoại nội tâm, thể hiện ý định quyết bỏ mặc bà lão B. Đối thoại, thể hiện niềm xót thương bà cô họ C. Độc thoại nội tâm, diễn tả sự giằng xé: có nên bỏ mặc bà lão không? D. Độc thoại nội tâm, khẳng dịnh không thể bỏ mặc bà lão được |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn và chú ý những dấu hiệu về biện pháp nghệ thuật
Phân tích nỗi niềm của người cháu dâu
Lời giải chi tiết:
Trong đoạn văn, tác giả dùng biện pháp nghệ thuật độc thoại nội tâm, thể hiện ý định quyết bỏ mặc bà lão của người cháu dâu độc ác, cay nghiệt
→ Đáp án A
|
Câu 4: “Kìa thày! Thế bà ở ngoài đầu đê?” thể hiện điều gì ở cậu bé này? A. Nhắc thầy nó nhớ chuyện ban nãy (bố bảo đi dắt bà về) B. Lo lắng cho người bà lòa dưới trời mưa C. Nói lấp lửng để mẹ nó khỏi nghe thấy D. Tất cả các ý trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ tác phẩm
Chú ý những lời nói, hành động của đứa con
Lời giải chi tiết:
Câu nói thể hiện cậu bé là người có tấm lòng yêu thương, lo lắng thật lòng cho người bà lòa của mình dưới mưa. Có lẽ trong gia đình ấy, chỉ còn có cậu là chưa bị cái nghèo, cái đói tha hóa dẫn đến mất hết tình thương người.
→ Đáp án A
|
Câu 5: Câu: Cái cảnh túng bấn nó thường đẩy người ta vào chốn bùn nhơ, nó thường buộc người vào vòng tội lỗi, đối với bác đánh giậm, ác hơn, nó làm bác quên bỏ cả lương tâm nhằm mục đích gì? A. Lý giải sự cay nghiệt của vợ chồng người cháu đối với bà lão lòa B. Triết lý về cuộc đời đen bạc C. Bênh vực vợ chồng người cháu họ D. Đưa ra lời cảnh báo: nghèo khổ, túng quẫn sẽ bào mòn nhân cách con người |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu văn
Phân tích mục đích của câu nói
Lời giải chi tiết:
Câu: Cái cảnh túng bấn nó thường đẩy người ta vào chốn bùn nhơ, nó thường buộc người vào vòng tội lỗi, đối với bác đánh giậm, ác hơn, nó làm bác quên bỏ cả lương tâm được nói ra nhằm mục đích: Đưa ra lời cảnh báo: nghèo khổ, túng quẫn sẽ bào mòn nhân cách con người
→ Đáp án D
|
Câu 6: Dòng nào nói ĐÚNG về ngôi kể của tác phẩm? A. Người kể chuyện hạn tri trực tiếp tham dự, chứng kiến những sự việc sảy ra B. Người kể chuyện toàn tri, quan sát bằng toàn năng, biết hết mọi sự việc C. Phối hợp 2 điểm nhìn trần thuật vừa biết hết mọi sự việc, vừa diễn tả được cảm xúc nhân vật D. Dùng 2 ngôi kể luân phiên để kể chuyện bà lão lòa và gia đình người cháu |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ tác phẩm
Chú ý những dấu hiệu nhận biết ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Tác phẩm sử dụng ngôi kể thứ 3 (người kể chuyện toàn tri): quan sát bằng toàn năng, biết hết sự việc
→ Đáp án B
|
Câu 7: Dòng nào chứng tỏ người kể chuyện toàn tri trong văn bản là người quan sát toàn năng, biết hết mọi việc? A. Nó chưa nói hết câu, bố nó đã như bị một luồng điện giật nẩy người ra, mắt tròn xoe, mãi mới nói được B. Nghĩ đến cái chết của bà lão lòa ở đầu đê – tình cháu đối với cô – bác đánh giậm rùng mình, rợn tóc gáy C. Bữa ấy bác gái tuy kêu đau bụng mà cũng cố ăn được đến bốn năm lưng D. Cả A và B |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về người kể chuyện toàn tri (ngôi kể thứ 3)
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Dòng chứng tỏ người kể chuyện toàn tri trong văn bản là người quan sát toàn năng, biết hết mọi việc là:
- Nó chưa nói hết câu, bố nó đã như bị một luồng điện giật nẩy người ra, mắt tròn xoe, mãi mới nói được
- Nghĩ đến cái chết của bà lão lòa ở đầu đê – tình cháu đối với cô – bác đánh giậm rùng mình, rợn tóc gáy
→ Đáp án D
|
Câu 8: Dòng nào nói lên cảm hứng bao trùm toàn tác phẩm? A. Phê phán người cháu dâu tệ bạc B. Xót thương cho bao kiếp người cơ cực C. Ngợi ca tấm lòng cậu bé (con trai người cháu) D. Lên án người con trai của bà lão lòa |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ tác phẩm
Rút ra kết luận về cảm hứng bao trùm
Lời giải chi tiết:
Cảm hứng bao trùm toàn tác phẩm: Xót thương cho bao kiếp người cơ cực mà cụ thể ở đây là số phận của bà lão lòa
→ Đáp án B
Câu 9: Suy nghĩ của em về bà lão lòa trong truyện ngắn trên và cho biết mục đích của nhà văn khi để bà nhớ lại những hành động giúp đỡ người nghèo của bà (trả lời bằng đoạn văn ngắn từ 5- 7 dòng)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ tác phẩm, chú ý những chi tiết xoay quanh nhân vật bà lão lòa
Phân tích mục đích của nhà văn
Lời giải chi tiết:
- Học sinh tự trả lời theo nhận thức và cảm xúc của cá nhân
- Gợi ý tham khảo:
+ Về bà lão: Bà lão lòa là người bất hạnh, vì đứa con trai hư hỏng mà đời bà khốn khổ; bà tự trọng, thấm nỗi nhục ăn nhờ ở đậu, nhẫn nhịn và chịu sự cay nghiệt của gia đình người cháu, cuối cùng phải nhận cái chết trong đói rét,…
→ kiếp người thật thảm thương, nhiều biến động, con người không thể lường hết được
+ Mục đích của nhà văn khi để bà nhớ lại hành động giúp đỡ người nghèo: thể hiện nỗi thống khổ của con người trước biến động của cuộc đời, ngầm lên án sự thờ ơ vô cảm của người đời trước tình cảnh cơ cực của bà lão già nua, mù lòa,…
Câu 10: Em hãy viết tiếp câu chuyện về 3 nhân vật trong gia đình người cháu họ sau khi người chồng rú lên một tiếng, trợn mắt rít răng mà ngã phục xuống ngoài cánh đồng (khoảng 5-10 câu)
Phương pháp giải:
Dựa vào trí tưởng tượng và sắp xếp sự kiện câu chuyện của bản thân
Lời giải chi tiết:
Học sinh tự làm (gợi ý: phát triển sự việc phù hợp với tính cách nhân vật hoặc có sự chuyển biến tính cách… Cần hướng về tính nhân văn)
PHẦN II. VIẾT
Câu 1:
a. Chỉ ra nét tương đồng và khác biệt ở 2 bức ảnh trên và đề xuất một chủ đề liên quan tới hai bức ảnh
Phương pháp giải:
Quan sát kĩ 2 bức ảnh
Rút ra nét tương đồng và khác biệt ở 2 bức ảnh
Đề xuất một chủ đề liên quan tới hai bức ảnh
Lời giải chi tiết:
- Nét tương đồng và khác biệt
+Ảnh 1: Cảnh đối lập giữa 2 đứa trẻ: giàu và đói nghèo
+ Ảnh 2: Bé trai chết bên bờ biển
+Tương đồng: cùng đề cập đến nỗi khốn khổ bất hạnh của những đứa trẻ
- Đề xuất chủ đề: Học sinh tự làm ( ngôn từ ngắn gọn, hướng vào bản chất của vấn đề)
b. Bức ảnh nào gây nên cảm xúc mãnh liệt ở em? Yếu tố nào gợi lên cảm xúc đó?
Phương pháp giải:
- Chọn một bức ảnh mà bản thân cảm thấy có cảm xúc mãnh liệt
- Đưa ra yếu tố gợi lên cảm xúc đó
Lời giải chi tiết:
- Học sinh tự lựa chọn
- Nêu yếu tố gợi cảm xúc cần logic với bức ảnh đã lựa chọn và phù hợp với văn hóa dân tộc, tính nhân, nhân loại.
Câu 2: Viết bài văn
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
Đề 1:
- Về nguồn gốc bức ảnh số 2: Cậu bé 3 tuổi người Syria bị chết đuối vào ngày 2/9/2015 ở Địa Trung Hải. Hình ảnh em nằm chết đã lên trang đầu của báo chí toàn cầu. Em cùng gia đình là những người tị nạn Syria đã vượt biên đến Châu Âu giữa cuộc khủng hoảng tị nạn Châu Âu.
|
- Xác định luận đề: Di dân đến Châu Âu |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0.25 |
- Giới thiệu nguồn gốc bức ảnh - Đánh giá khái quát của người viết |
|
Thân bài |
2.00 |
Gồm các ý chính (từ 2 luận điểm trở lên) - Làm rõ cách hiểu, hiện trạng của di dân (có dẫn chứng) - Phân tích nguyên nhân, tác hại, hệ lụy của việc di dân +Vì sao người dân lại chọn cách nhập cư trái phép/di dân? +Gây ra những cái chết trên hành trình di dân +Giải quyết vấn đề về người tị nạn + Gây ra các vấn đề về an ninh cho nước sở tại - Quan điểm người viết trong đề xuất giải pháp nhân đạo +Về phía những người di dân +Hành động nhân đạo của nước sở tại có người di dân tới (lập luận + dẫn chứng xác thực; dùng yếu tố biểu cảm) |
|
Kết bài |
0.25 |
- Vai trò của tổ chức, hành động nhân đạo với người di dân - Nhận thức, hành động của bản thân |
|
Yêu cầu khác |
0.25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Diễn đạt rõ ý; lập luận logic; suy luận, bình luận phù hợp với văn hóa dân tộc… |
Đề 2:
Truyện ngắn Bà lão lòa tái hiện cho ta ngay từ đầu thời khắc tăm tối, ê chề trong phận sống nhờ của nhân vật cùng tên - là người cô họ của bác đánh giậm. Lần hồi sau đó, tác giả đưa ta trở về với quá khứ khi bà lão còn giàu có, bà đã “giúp đỡ kẻ nghèo khó; trong họ ngoài làng, nhiều người đã được nhờ bà” thế nhưng “đến khi gặp bà bước khốn cùng thì chẳng ai thương cả”. Tác giả cũng cho ta biết rằng ngày trước bác đánh giậm “đã nhiều phen ngửa tay nhận lấy đồng tiền cứu giúp của bà” nên bây giờ “đành cắn răng, vuốt bụng, nhắm mắt” nuôi bà trong lúc hoạn nạn với nỗi niềm biết bao “xót ruột khi bà lão lòa lò rò ngồi vào mâm, cướp cơm của vợ, của con nhà bác”. Quay ngược thời gian như vậy, nhà văn đã cho ta một cái nhìn toàn diện hơn về cuộc đời bà lão lòa; đồng thời ông cũng nhấn mạnh thái độ lên án, phê phán đối với cuộc đời này. Một quá khứ tử tế, ăn ở phúc đức nhưng đổi lại chỉ là một hiện thực cay đắng : con trai ăn chơi, phá của đến nỗi “bán ruộng, cầm nhà” khiến bà thành tật nguyền, nghèo khổ và đứa cháu họ vô ơn bạc nghĩa đối xử với ân nhân của mình không ra gì. Hiện tại bà cụ chẳng gặp lành dù ngày trước đã ăn ở rất hiền lành, hiện tại người ta vong ân dù quá khứ vốn chịu nhiều ơn cứu giúp của bà – những đối nghịch thời gian đi kèm với nghịch lí cuộc đời khiến câu chuyện cứ ám ảnh chúng ta mãi.
Trong diễn tiến cuộc đời cơ cực của bà lão tội nghiệp chịu cảnh tật nguyền sống nhờ nhục nhã bỗng xuất hiện ba câu chuyện nhỏ về những hành động nhân đức của một người phụ nữ : thấy người ăn mày lụ khụ đến xin ăn bị mấy con chó “nhảy xổ ra cắn xa xả”, bà đã “quát thằng nhỏ ra mắng chó, dắt ông ăn mày vào thết một lưng cơm”; trước gia cảnh bác nhiêu B. vợ chết, nhà bị hỏa hoạn, đàn con nheo nhóc, đói kém, bà đã “cởi hầu bao, lấy ra một cuộn giấy bạc” đem cho; và cuối cùng trước cảnh đau xót của một người phụ nữ phải bán con để mong cứu chồng bệnh liệt giường liệt chiếu đã hơn nửa tháng, bà cũng đã cho năm đồng về lo thuốc men cho chồng mà không phải bán con. Đến cuối cùng Vũ Trọng Phụng mới cho ta biết hóa ra đó chính là bà lão lòa tội nghiệp bây giờ. Ba câu chuyện nhỏ về sự phúc đức để góp phần làm rõ một nghịch lí : bà đã từng rất tử tế với người không ruột thịt thân thích, bà đã từng động lòng trắc ẩn trước bao số phận vật vờ tận đáy cuộc đời; song giờ đây, người thân thích ruột rà không mảy may động lòng xót xa cho thân già tật nguyền cô độc của bà, nhẫn tâm tàn tệ với bà hơn cả với người dưng nước lã, đay nghiến chà đạp lên thân phận sống nhờ đầy nghịch cảnh bà đang phải chịu. Trần thuật với kết cấu “truyện lồng trong truyện”, Vũ Trọng Phụng đã dựng lên sự đối lập gay gắt giữa quá khứ và thực tại, giữa thiện tâm và ác tâm, giữa vị tha và ích kỉ để phê phán sự bội bạc, bất nhân của người đời và tố cáo cái nghèo làm nhân cách con người dần thảm hại như nó.
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 5
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
THƯ CHO VƯƠNG THÔNG (1)
Nguyễn Trãi
(Tư không Lê Lễ và thượng tướng Lê Xí(2) đánh nhau với quân Minh ở My Động bị thua. Vua vì sự thất bại ấy mà viết thư cho Vương Thông. My Động là Hoàng Mai động ngày nay).
Tôi nghe: Múc một gáo nước, biển cả không vì thế mà vơi; thêm một gáo nước, biển cả không vì thế mà đầy. Cho nên người dùng binh giỏi không lấy sự thắng nhỏ mà mừng, không lấy sự thua to mà sợ. Nay các ông lấy tàn tốt vài nghìn, giữ một thành trơ trọi, lương sắp hết và viện chưa thấy đến, chúng lìa lòng mà quân ngày ít đi, cái thế mạnh yếu được thua, có thể ngồi mà tính được. Huống hồ nước An – nam binh tướng thì nhiều, tâm lực đều nhau, chiến khí càng tinh, sĩ khí càng mạnh, kẻ sĩ trí mưu, các tướng sĩ vũ dũng, chẳng khác cây rừng rậm rạp, răng lược khít nhau vậy. Các ông có thắng một trận nhỏ cũng không thấy là mạnh; mà ta có thua một trận nhỏ cũng không thấy là yếu.
Vừa rồi mấy người kì tướng của ta, tuổi trẻ tính ngông, không theo ước thúc, khinh chiến lỡ cơ, các ông lấy thế làm đắc chí. Nay đem những tướng hiệu ở các nơi Tân Bình, Thuận Hóa, Diễn, Nghệ cùng ở các sở Tiền Vệ, Tam Giang, Xương Giang, Trần Di (3) và Thái đô đốc cùng các quan Tam ty (4) chỉ huy, thiên bách hộ, ước hơn vài trăm người, quân nhân một vạn vài nghìn người, trai gái lớn nhỏ hơn ba vạn người bị các ông làm lầm lỡ, mà so với vài người tỳ tướng của ta, thì ai hơn ai kém, ai được ai thua? Thế mà ông không hề lấy thế làm lo, lại còn giương vây nói mẽ, có khác gì nhà đương cháy mà chim én còn nhơn nhơn vui vẻ cùng nhau, há chẳng đáng cười lắm sao! Vả nay ở miền Lưỡng Quảng nghe tin quân ta thừa thắng ruổi dài, bọn đạo tặc đã nhân dịp mà trỗi dậy. Tích Lịch đại vương(5) đã giữ đất xưng đế, mà binh tượng của ta ngày đêm tiến đánh, Bằng tường(6) Long Châu(7) ta đều lấy được. Nay ông vẫn còn ngày ngày mong đợi viện binh mà nói phao là viện binh sắp đến, thì có khác gì trong mộng nói chuyện mộng không? Lại càng đáng cười lắm!
Ngày trước Thái đô đốc và các chỉ huy thiên vạn hộ(8) cùng các quan phủ huyện châu có bảo tôi đem sự lý trong tờ chiếu của Thái tôn hoàng đế cho lập họ Trần để vào Kinh(9) mà tâu bày và tố cáo việc quan Tổng binh không biết trấn thủ Nam phương(10) lại theo kế của người khác, tự gửi văn thư đi thu binh mã các vệ giả làm giảng hòa rồi thì bội ước để đến nỗi bọn ấy nhao nhao kêu la thất sở. Song tôi nghĩ cứ tờ tâu ngày trước bắt được thì thấy tổng binh đại nhân thực có lòng thành, chỉ vì bọn họ Phương họ Mã làm mê hoặc mới nên nỗi thế. Bởi vậy lời bàn ấy chưa quyết. Nếu ngài nay lại biết theo lời ước cũ, thì nên cho quân về ngay, cùng hòa giải với Thái đô đốc, vừa để thoát khổ can qua cho cho hai nước, vừa để giải mối oán bị bán rẻ của Thái công. Như thế thì trọn quân mà khỏi họa, há chẳng hay sao! Nhược bằng cứ chấp mê mà giữ đến chết không biết biến thông thì cũng như câu Đường Thái Tôn bảo “tận trung vô ích” (hết trung không ích gì) vậy. Vả kẻ đại trượng phu làm việc nên phải lỗi lạc đường hoàng.
Ngài muốn đánh thủy, thì nên bày hết chiến thuyền ở trên sông để quyết tử chiến, muốn đánh bộ thì nên xuất hết binh mã ra đồng rộng để quyết sống mái tromg một hai ngày, không nên chúi ở xó thành, chợt ra chợt vào, cướp lấy củi cỏ, cho thế là đắc sách. Như thế là việc làm của đàn bà con gái, không phả là việc làm của bậc đại trượng phu!
Chú thích:
(1): Trong khoảng tháng 2 tháng 3 năm Đinh Mùi (1427), Vương Thông lợi dụng một vài sơ hở của quân ta, tổ chức ba cuộc phản kích. Quân địch cũng bị đánh lui và bị truy kích đến My động (Hoàng Mai, Thanh Trì, Hà Nội). Nhưng ở đây, hai tướng Đinh Lễ, Nguyễn Xí bị giặc bắt. Vương Thông thổi phồng những thắng lợi nhỏ đó và tiếp tục phao tin viện binh sắp sang để củng cố tinh thần quân lính.
(2): Bị bắt ở My Động, Đinh Lễ bị giặc giết chết, còn Nguyễn Xí thì dùng mưu trốn thoát được
(3): Vệ Trần – di đóng ở ải Trấn- di phủ Lạng Sơn, tức ải Chi Lăng thuộc huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn
(4): Tam ty là cơ quan đứng đầu chính quyền đô hộ của nhà Minh ở nước ta
(5): Tích – lịch đại vương có lẽ là một thủ lĩnh nông dân khởi nghĩa ở vùng Lưỡng Quảng
(6): Bằng Tường thuộc tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), gần biên giới nước ta
(7): Long Châu thuộc tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), gần biên giới nước ta
(8): Trong sách in là binh, nhwg có lẽ in nhầm chữ hộ
(9): Tức là Yên – kinh (Bắc – Kinh), thủ đô của nhà Minh
(10): Trong sách in là Bắc phương thì không hợp. Chúng tôi chữa lại làm Nam phương.
Câu 1: Văn bản Thư cho Vương Thông thuộc sáng tác nào của Nguyễn Trãi?
A. Thơ chữ Hán
B. Văn chính luận
C. Thơ Nôm
D. Tập thơ Môn hoa mộc
Câu 2: Dòng nào nói đúng đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp của văn bản?
A. Tướng giặc, khi chúng phản kích và huênh hoang vì chút thắng lợi nhỏ
B. Tướng giặc, khi chúng hung hăng sang xâm chiếm nước ta
C. Tướng giặc, khi chúng chuẩn bị mở các cuộc tấn công lớn
D. Tướng giặc, khi chúng dẫn viện binh tới
Câu 3: Câu nào sau đây chứa luận điểm của đoạn văn bản 1?
A. Múc một gáo nước, biển cả không vì thế mà vơi
B. Thêm một gáo nước, biển cả không vì thế mà đầy
C. Các ông có thắng một trận nhỏ cũng không thấy là mạnh; mà ta có thua một trận nhỏ cũng không thấy là yếu
D. Ta có thua một trận nhỏ cũng không thấy là yếu
Câu 4: Dòng nào nói lên các thủ pháp nghệ thuật trong luận điểm 1?
A. Đối lập, so sánh, ẩn dụ
B. Ẩn dụ, so sánh
C. Hoán dụ, so sánh
D. Nhân hóa, so sánh
Câu 5: Dòng nào nói lên mục đích của luận điểm 1?
A. Đừng nói về mộng tưởng
B. Đừng vội huênh hoang
C. Nên cho lui quân
D. Muốn đánh hãy quyết tử
Câu 6: Câu: “Múc một gáo nước, biển cả không vì thế mà vơi; thêm một gáo nước, biển cả không vì thế mà đầy” dùng cách nói nào? Nhằm mục đích gì?
A. Dùng hình ảnh gáo nước khẳng định thắng lợi của quân giặc quá bé nhỏ
B. Dùng hình ảnh gáo nước, biển cả khẳng định thắng thua vừa rồi là không đáng kể
C. Dùng nghệ thuật đối lập khẳng định ta chỉ tạm thua
D. Dùng hình ảnh biển cả để khẳng định quân ta rất mạnh
Câu 7: Ý nào nói lên mục đích của luận điểm 3?
A. Đừng nói về mộng tưởng
B. Đừng vội huênh hoang
C. Muốn đánh hãy quyết tử
D. Nên cho lui quân
Câu 8: Ở luận điểm 2, tác giả dùng thao tác lập luận chính nào? Có tác dụng gì?
A. Thao tác đối sánh: ta – ông làm nổi bật thế từng bên
B. Thao tác phân tích làm rõ sự ngốc nghếch của tướng giặc
C. Thao tác bình luận để thể hiện sự coi thường binh lực của giặc
D. Thao tác chứng minh để khẳng định quân ta mạnh hơn
Câu 9: Phân tích nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi ở đoạn văn bản sau và chỉ ra vai trò của đoạn đối với mục đích toàn văn bản (1đ)
Ngài muốn đánh thủy, thì nên bày hết chiến thuyền ở trên sông để quyết tử chiến, muốn đánh bộ thì nên xuất hết binh mã ra đồng rộng để quyết sống mái trong một hai ngày, không nên chúi ở xó thành, chợt ra chợt vào, cướp lấy củi cỏ, cho thế là đắc sách. Như thế là việc làm của đàn bà con gái, không phải là việc làm của bậc đại trượng phu!
Câu 10: Văn bản Thư cho Vương Thông của Nguyễn Trãi đã giúp em nhận thấy những tài năng nào của Nguyễn Trãi? Em học tập được điều gì cho việc viết văn nghị luận thuyết phục một ai đó thay đổi quyết định của họ? (1đ)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Quan sát 2 bức ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)


a. Làm rõ nét tương đồng ở 2 bức ảnh và đặt tên cho từng bức ảnh đó
b. Làm rõ mối liên quan giữa 2 bức ảnh với văn bản đọc Thư cho Vương Thông của Nguyễn Trãi
Câu 2: Viết bài luận thuyết phục người đứng đầu một quốc gia mạnh từ bỏ ý đồ xâm lược và làm bá chủ thế giới (dài từ 1,5 – 2 trang và có dùng yếu tố phi ngôn ngữ để hỗ trợ lập luận) (3đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU

|
Câu 1: Văn bản Thư cho Vương Thông thuộc sáng tác nào của Nguyễn Trãi? A. Thơ chữ Hán B. Văn chính luận C. Thơ Nôm D. Tập thơ Môn hoa mộc |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý đến đặc điểm hình thức của văn bản
Lời giải chi tiết
Văn bản thuộc thể loại văn chính luận của Nguyễn Trãi
→ Đáp án B
|
Câu 2: Dòng nào nói đúng đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp của văn bản? A. Tướng giặc, khi chúng phản kích và huênh hoang vì chút thắng lợi nhỏ B. Tướng giặc, khi chúng hung hăng sang xâm chiếm nước ta C. Tướng giặc, khi chúng chuẩn bị mở các cuộc tấn công lớn D. Tướng giặc, khi chúng dẫn viện binh tới |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý chú thích 1
Chú ý đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp của văn bản
Lời giải chi tiết:
Đúng như tiêu đề, đối tượng của văn bản chính là Tướng giặc Vương thông
Văn bản được viết khi giặc phản kích nước ta và đang huênh hoang vì chút thắng lợi nhỏ
→ Đáp án A
|
Câu 3: Câu nào sau đây chứa luận điểm của đoạn văn bản 1? A. Múc một gáo nước, biển cả không vì thế mà vơi B. Thêm một gáo nước, biển cả không vì thế mà đầy C. Các ông có thắng một trận nhỏ cũng không thấy là mạnh; mà ta có thua một trận nhỏ cũng không thấy là yếu D. Ta có thua một trận nhỏ cũng không thấy là yếu |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 1 của văn bản và rút ra luận điểm
Lời giải chi tiết:
Luận điểm của đoạn văn bản 1: Các ông có thắng một trận nhỏ cũng không thấy là mạnh; mà ta có thua một trận nhỏ cũng không thấy là yếu
→ Đáp án C
|
Câu 4: Dòng nào nói lên các thủ pháp nghệ thuật trong luận điểm 1? A. Đối lập, so sánh, ẩn dụ B. Ẩn dụ, so sánh C. Hoán dụ, so sánh D. Nhân hóa, so sánh |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn chứa luận điểm 1
Rút ra các thủ pháp nghệ thuật được sử dụng
Lời giải chi tiết:
Các thủ pháp nghệ thuật được sử dụng:
- Đối lập: vơi ><đầy, thắng><thua,...
- So sánh: chẳng khác cây rừng rậm rạp
- Ẩn dụ: Múc một gáo nước, biển cả không vì thế mà vơi; thêm một gáo nước, biển cả không vì thế mà đầy
→ Đáp án A
|
Câu 5: Dòng nào nói lên mục đích của luận điểm 1? A. Đừng nói về mộng tưởng B. Đừng vội huênh hoang C. Nên cho lui quân D. Muốn đánh hãy quyết tử |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn chứa luận điểm 1
Rút ra mục đích
Lời giải chi tiết:
Mục đích của luận điểm 1 (đoạn 1): nhắc nhở giặc đừng vội huênh hoang vì một chiến thắng nhỏ
→ Đáp án B
|
Câu 6: Câu: “Múc một gáo nước, biển cả không vì thế mà vơi; thêm một gáo nước, biển cả không vì thế mà đầy” dùng cách nói nào? Nhằm mục đích gì? A. Dùng hình ảnh gáo nước khẳng định thắng lợi của quân giặc quá bé nhỏ B. Dùng hình ảnh gáo nước, biển cả khẳng định thắng thua vừa rồi là không đáng kể C. Dùng nghệ thuật đối lập khẳng định ta chỉ tạm thua D. Dùng hình ảnh biển cả để khẳng định quân ta rất mạnh |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu văn
Rút ra cách nói và mục đích của câu văn
Lời giải chi tiết:
Câu: “Múc một gáo nước, biển cả không vì thế mà vơi; thêm một gáo nước, biển cả không vì thế mà đầy” dùng hình ảnh gáo nước, biển cả khẳng định thắng thua vừa rồi là không đáng kể
→ Đáp án B
|
Câu 7: Ý nào nói lên mục đích của luận điểm 3? A. Đừng nói về mộng tưởng B. Đừng vội huênh hoang C. Muốn đánh hãy quyết tử D. Nên cho lui quân |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn chứa luận điểm 3
Rút ra mục đích
Lời giải chi tiết:
Mục đích của luận điểm 3: khuyên tướng giặc nên cho lui quân
→ Đáp án D
|
Câu 8: Ở luận điểm 2, tác giả dùng thao tác lập luận chính nào? Có tác dụng gì? A. Thao tác đối sánh: ta – ông làm nổi bật thế từng bên B. Thao tác phân tích làm rõ sự ngốc nghếch của tướng giặc C. Thao tác bình luận để thể hiện sự coi thường binh lực của giặc D. Thao tác chứng minh để khẳng định quân ta mạnh hơn |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn chứa luận điểm 2
Rút ra thao tác lập luận chính và tác dụng
Lời giải chi tiết:
Ở luận điểm 2, tác giả dùng thao tác lập luận chính là thao tác đối sánh ta – ông làm nổi bật thế từng bên
→ Đáp án A
Câu 9:Phân tích nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi ở đoạn văn bản sau và chỉ ra vai trò của đoạn đối với mục đích toàn văn bản (1đ)
Ngài muốn đánh thủy, thì nên bày hết chiến thuyền ở trên sông để quyết tử chiến, muốn đánh bộ thì nên xuất hết binh mã ra đồng rộng để quyết sống mái trong một hai ngày, không nên chúi ở xó thành, chợt ra chợt vào, cướp lấy củi cỏ, cho thế là đắc sách. Như thế là việc làm của đàn bà con gái, không phải là việc làm của bậc đại trượng phu!
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn bản
Phân tích nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi
Lời giải chi tiết:
- Nghệ thuật lập luận:
+ Chọn cách tôn trọng đối phương: tùy lựa chọn
+ Lồng ghép định hướng thể hiện lòng tự tôn của đối phương bằng lối nói tự trọng của những người cầm quân: quyết tử chiến; quyết sống mái
+ Dùng thủ pháp đối lập (quyết chiến lớn lao hành động đánh lén); hình ảnh chúi ở xó thành, chợt ra chợt vào, cướp lấy củi cỏ, đàn bà “khích tướng” để đối phương phải tỏ thái độ, hành động
- Vai trò của đoạn đối với mục đích toàn văn bản: đoạn này nằm cuối văn bản thể hiện sự nhất quán với toàn văn bản về thái độ đối với tướng giặc: coi thường, mỉa mai…; về mục đích khẳng định: không thể thắng được quân ta, sự thất bại không thể tránh khỏi của kẻ thù;…
Câu 10: Văn bản Thư cho Vương Thông của Nguyễn Trãi đã giúp em nhận thấy những tài năng nào của Nguyễn Trãi? Em học tập được điều gì cho việc viết văn nghị luận thuyết phục một ai đó thay đổi quyết định của họ? (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và kiến thức đã học trên lớp, từ đó rút ra tài năng của Nguyễn Trãi
Nêu suy nghĩ và đúc rút của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Tài năng của Nguyễn Trãi:
+ Về quân sự, chính trị: am hiểu đối phương, thời cuộc, thế trận (lực lượng hiện tại của đôi bên)
+ Về văn chương: tài thuyết phục biện luận (sử dụng nhiều thao tác lập luận, lí lẽ sắc bén, lập luận logic; bằng chứng
PHẦN II. VIẾT
Câu 1:
a. Làm rõ nét tương đồng ở 2 bức ảnh và đặt tên cho từng bức ảnh đó
Phương pháp giải:
Quan sát kĩ 2 bức ảnh
Rút ra nét tương đồng ở 2 bức ảnh
Đặt tên cho 2 bức ảnh đó
Lời giải chi tiết:
- Nét tương đồng: Đều là hình ảnh con người – những đối tượng yếu đuối cần bảo vệ, nâng niu và đang đau khổ tột cùng trong cảnh hoang tàn đổ nát của chiến tranh
- Đặt tên: Hs đặt tên theo ý cá nhân nhưng bám sát hình ảnh trung tâm, bối cảnh bức ảnh; tên ngắn gọn và làm nổi bật nội dung chính của từng bức ảnh
b. Làm rõ mối liên quan giữa 2 bức ảnh với văn bản đọc Thư cho Vương Thông của Nguyễn Trãi
Phương pháp giải:
Quan sát kĩ 2 bức tranh và đọc kĩ văn bản để chỉ ra mối liên quan
Lời giải chi tiết:
Hai bức ảnh và văn bản đọc đều nói về chiến tranh; nỗi đau và mất mát của hai bên (kẻ xâm lược và đất nước bị xâm lược)
Câu 2: Viết bài văn
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
|
… thuyết phục người đứng đầu một quốc gia mạnh từ bỏ ý đồ xâm lược và làm bá chủ thế giới |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0.25 |
- Giới thiệu đối tượng bày tỏ ý kiến; đối tượng giao tiếp (người thuyết phục – người được thuyết phục) |
|
Thân bài |
2.00 |
Gồm các ý chính (từ 2 luận điểm trở lên) - Làm rõ cách hiểu, biểu hiện của ý đồ xâm lược và làm bá chủ thế giới - Tác động tiêu cực của hành động xâm lược và làm bá chủ thế giới đối với quốc gia yếu và người dân vô tội (lí lẽ + dẫn chứng + yếu tố biểu cảm) - Phân tích làm rõ: khát vọng xâm lược và làm bá chủ thế giới là không chính đáng, vô nhân đạo (lí lẽ + dẫn chứng) - Thể hiện khát vọng của cá nhân về một thế giới hòa bình, nhân loại là sự cộng sinh để giải quyết các vấn đề về dịch bệnh, môi trường… - Đề xuất cách biểu hiện vị thế của quốc gia trong việc giải quyết các vấn đề về y tế, lương thực, môi trường… |
|
Kết bài |
0.5 |
- Khẳng định sự cần thiết của bình đẳng, cộng sinh giữa các quốc gia… - Nhận thức, hành động của bản thân để thế giới bình yên… |
|
Yêu cầu khác |
0.25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Diễn đạt rõ ý; lập luận logic; suy luận, bình luận phù hợp với văn hóa dân tộc, nhân loại… - Dẫn chứng đa dạng, phong phú - Người viết cần có hiểu biết rộng về thế giới, các xung đột gay gắt ở một số quốc gia trong hiện tại - Yếu tố phi ngôn ngữ |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 6
Đề thi
I. Đọc hiểu (6đ)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi phía dưới:
LÒNG HÀO HIỆP
(Trích Tâm hồn cao thượng - EDMOND DE AMICIS)
Giờ vào lớp, ông Perbôni chưa có đấy, ba bốn cậu đang thi nhau chế giễu anh Crôtxi khốn nạn - tức là cậu bé tóc vàng, tay liệt, con bà bán hoa quả. Họ lấy thước đánh cậu, lấy vỏ hạt dẻ ném cậu, họ gọi cậu là con quỷ què và mếu máo giả cách làm người liệt tay. Ngồi trơ một mình ở đầu ghế, cậu thẹn thùng và đưa mắt nhìn người nọ, người kia như để van lơn họ khỏi hành hạ mình. Được thể bọn học trò càng làm già. Cậu phẫn uất quá, máu đưa lên cổ và phát run người. Thình lình, Phranti, một đứa học trò mặt xấu như khỉ, đứng lên ghế, khuỳnh hai cánh tay như người khoác hai cái giỏ, bắt chước bộ tịch mẹ cậu Crôtxi những khi đứng đợi con ở cửa trường. (Đã mấy hôm nay, bà không đến đón con vì bị ốm).
Coi tấn tuồng câm ấy học trò cười ầm cả lên. Crôtxi điên tiết, về ngay lọ mực trước mặt ném Phranti, Phranti né mình, lọ mực trúng giữa ngực ông Perbon ở ngoài bước vào.
Mọi người hết vía, chạy trốn về chỗ và ngồi im thin thít.
Thầy giáo lên bục cau mày hỏi:
- Ai ném lọ mực?
Chẳng ai hé răng.
Thầy gắt:
- Ai? Ai ném?
Lúc ấy bị kích thích vì lòng thương bạn, anh Garônê đứng dậy nói quả quyết
- Thưa thầy, con.
Thấy mọi người sửng sốt về câu trả lời ấy, thầy hiểu ngay và ôn tồn nói:
- Không. Không phải con.
Xong thầy lại nói:
Ai trót dại đứng lên thú nhận, ta sẽ tha.
Crôtxi đứng lên nói:
- Thưa thầy, các anh ấy chọc con, đánh và chửi con... Con mất trí... Con trót ném...
- Thầy nói tiếp:
- Cho ngồi xuống. Bây giờ đến lượt những kẻ sinh sự đứng lên.
Bốn anh trong bọn khiêu khích đứng dậy, cúi đầu.
- Thầy mắng:
- Các anh đã vô cớ lăng mạ một người bạn không trêu chọc các anh. Các anh đã chế giễu một người tàn tật. Các anh đã xúc phạm một đứa trẻ yếu đuối không tự vệ được. Các anh đã làm một điều hèn hạ đáng xấu hổ, một điều có thể làm nhơ nhuốc đến phẩm giá của con người, các anh là những đồ đê tiện!
Nói xong thầy xuống giữa lớp, lại chỗ anh Garônê ngồi. Thấy thầy đến, anh cúi đầu. Ông Perbôni để tay xuống dưới cằm nâng mặt anh lên, nhìn thẳng vào hai mắt anh và nói:
Con có một trái tim cao thượng đáng khen!
Anh Garônê nhân dịp ấy cúi vào tai thầy nói nhỏ mấy câu. Lập tức thầy quay lại chỗ 4 kẻ tội nhân và đột nhiên bảo:
- Thôi! Tha cho các anh.
Câu 1: Những dấu hiệu cho biết văn bản trên là truyện ngắn?
A. Nhân vật ít.
B. Dung lượng ngắn (gần 2 trang).
C. Ít sự việc (diễn ra trong thời gian rất ngắn).
D. Tất cả các ý trên.
Câu 2: Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm?
A. Bạn bè.
B. Thầy trò.
C. Học đường.
D. Ứng xử.
Câu 3: Nhân vật chính của truyện ngắn là:
A. Garônê; Crôtxi.
B. Phranti.
C. Ông Perbôni.
D. Garônê.
Câu 4: Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể?
A. Chế giễu Crôtxi; Crôtxi ném lọ mực vào Phranti nhưng lại trúng thầy giáo Crôtxi nhận lỗi, thầy mắng các bạn chế giễu nặng lời; Garônê nói nhỏ với thầy, thầy tha cho hội chế giễu.
B. Chế giễu Crôtxi; Crôtxi ném lọ mực vào Phranti nhưng lại trúng thầy giáo thầy truy tìm và Garônê nhận lỗi, thầy không tin; Crôtxi nhận lỗi, thầy mắng các bạn chế giễu nặng lời; Garônê nói nhỏ với thầy, thầy tha cho hội chế giễu.
C. Chế giễu Crôtxi; Crôtxi ném lọ mực vào Phranti nhưng lại trúng thầy giáo, Garônê nói nhỏ với thầy, thầy tha cho hội chế giễu; Crôtxi nhận lỗi, thầy mắng các bạn chế giễu nặng lời.
D. Crôtxi ném lọ mực vào Phranti; Crôtxi nhận lỗi, thầy mắng các bạn chế giễu nặng lời.
Câu 5: Vì sao Crôtxi ném lọ mực vào Phranti ?
A. Phranti chế giễu Crôtxi và mẹ của cậu ấy bằng cả lời lẽ và hành động.
B. Vì Crôtxi không được ai bênh vực.
C. Vì lòng tự trọng bị tổn thương nặng nề, không kìm nén nổi sự tức giận.
D. Vì bọn học trò càng làm già. Cậu phẫn uất quá, máu đưa lên cổ....
Câu 6: Phranti và những người chế giễu Crôtxi đã phạm phải lỗi gì?
A. Không tôn trọng sự khác biệt.
B. Kỳ thị người khác.
C. Lấy việc giễu cợt người khác làm trò vui.
D. Tất cả các ý trên.
Câu 7: Vì sao Garônê nhận lỗi? Việc ấy có tác dụng gì?
A. Vì thầy truy hỏi gắt gao, vì bị kích thích vì lòng thương bạn. Hành động đi đã làm mọi người sửng sốt.
B. Vì thầy truy hỏi gắt gao, vì bị kích thích vì lòng thương bạn. Hành động đó đã khiến Crôtxi nhận lỗi; những kẻ chế giễu Crôtxi hối hận.
C. Vì bị kích thích vì lòng thương bạn. Hành động đó đã khiến những kẻ chế giễu Crôtxi hối hận.
D. Vì bị kích thích vì lòng thương bạn. Hành động đó đã mọi người công nhận Garônê là người hào hiệp
Câu 8: Vì sao thầy giáo mắng hội chế giễu bạn nặng nề lại bất ngờ tha bổng cho họ?
A. Vì họ im lặng nghe mắng mà không cãi
B. Vì Crôxti đã nhận lỗi rồi
C. Vì Garônê đã nhận lỗi, nói nhỏ với thầy, vì thái độ của các bạn mắc lỗi
D. Tất cả các ý kiến
Câu 9: Nếu được gặp Crôxi, em sẽ nói gì với bạn ấy? (trả lời bằng đoạn văn 6 dòng, hoặc hình ảnh minh họa kèm đối thoại) (0,5đ)
Câu 10: Nếu có mặt trong lớp học của Cr ô xi, khi bạn ấy bị chế giễu, em sẽ là gì? (0,5đ)
Câu 11: Em có đồng tình với việc thầy giáo mắng các bạn mắc lỗi nặng nề, rồi lại tha bổng không? (1đ)
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (6 điểm)
Suy nghĩ, thái độ của em về hiện tượng bắt nạt học đường (trả lời bằng một bài văn hoàn chỉnh từ 1-1,5 trang vở/ giấy thi)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (4 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
Câu 7 (0.25đ) |
Câu 8 (0.25đ) |
|
D |
C |
A |
B |
C |
D |
C |
C |
|
Câu 1: Những dấu hiệu cho biết văn bản trên là truyện ngắn? A. Nhân vật ít. B. Dung lượng ngắn (gần 2 trang). C. Ít sự việc (diễn ra trong thời gian rất ngắn). D. Tất cả các ý trên. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về truyện ngắn
Lời giải chi tiết:
Dấu hiệu cho biết văn bản trên là truyện ngắn:
- Nhân vật ít.
- Dung lượng ngắn (gần 2 trang).
- Ít sự việc (diễn ra trong thời gian rất ngắn).
→ Đáp án: D
|
Câu 2: Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm? A. Bạn bè. B. Thầy trò. C. Học đường. D. Ứng xử. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, chú ý tên văn bản và rút ra kết luận về đề tài
Lời giải chi tiết:
Đề tài của văn bản: học đường
→ Đáp án: C
|
Câu 3: Nhân vật chính của truyện ngắn là: A. Garônê; Crôtxi. B. Phranti. C. Ông Perbôni. D. Garônê. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Nhân vật chính của truyện ngắn: Garônê; Crôtxi
→ Đáp án: A
|
Câu 4: Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể? A. Chế giễu Crôtxi; Crôtxi ném lọ mực vào Phranti nhưng lại trúng thầy giáo Crôtxi nhận lỗi, thầy mắng các bạn chế giễu nặng lời; Garônê nói nhỏ với thầy, thầy tha cho hội chế giễu. B. Chế giễu Crôtxi; Crôtxi ném lọ mực vào Phranti nhưng lại trúng thầy giáo thầy truy tìm và Garônê nhận lỗi, thầy không tin; Crôtxi nhận lỗi, thầy mắng các bạn chế giễu nặng lời; Garônê nói nhỏ với thầy, thầy tha cho hội chế giễu. C. Chế giễu Crôtxi; Crôtxi ném lọ mực vào Phranti nhưng lại trúng thầy giáo, Garônê nói nhỏ với thầy, thầy tha cho hội chế giễu; Crôtxi nhận lỗi, thầy mắng các bạn chế giễu nặng lời. D. Crôtxi ném lọ mực vào Phranti; Crôtxi nhận lỗi, thầy mắng các bạn chế giễu nặng lời. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Trình tự kể chuyện: Chế giễu Crôtxi; Crôtxi ném lọ mực vào Phranti nhưng lại trúng thầy giáo thầy truy tìm và Garônê nhận lỗi, thầy không tin; Crôtxi nhận lỗi, thầy mắng các bạn chế giễu nặng lời; Garônê nói nhỏ với thầy, thầy tha cho hội chế giễu.
→ Đáp án: B
|
Câu 5: Vì sao Crôtxi ném lọ mực vào Phranti ? A. Phranti chế giễu Crôtxi và mẹ của cậu ấy bằng cả lời lẽ và hành động. B. Vì Crôtxi không được ai bênh vực. C. Vì lòng tự trọng bị tổn thương nặng nề, không kìm nén nổi sự tức giận. D. Vì bọn học trò càng làm già. Cậu phẫn uất quá, máu đưa lên cổ.... |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Crôtxi ném lọ mực vào Phranti vì Phranti đã có những lời chế giễu Crôtxi khiến cậu tổn thương lòng tự trọng và không kìm nén nổi sự tức giận
→ Đáp án: C
|
Câu 6: Phranti và những người chế giễu Crôtxi đã phạm phải lỗi gì? A. Không tôn trọng sự khác biệt. B. Kỳ thị người khác. C. Lấy việc giễu cợt người khác làm trò vui. D. Tất cả các ý trên. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và chú ý lời nói của thầy giáo
Lời giải chi tiết:
Phranti và những người chế giễu Crôtxi đã phạm phải lỗi:
- Không tôn trọng sự khác biệt
- Kỳ thị người khác
- Lấy việc giễu cợt người khác làm trò vui
→ Đáp án: D
|
Câu 7: Vì sao Garônê nhận lỗi? Việc ấy có tác dụng gì? A. Vì thầy truy hỏi gắt gao, vì bị kích thích vì lòng thương bạn. Hành động đi đã làm mọi người sửng sốt. B. Vì thầy truy hỏi gắt gao, vì bị kích thích vì lòng thương bạn. Hành động đó đã khiến Crôtxi nhận lỗi; những kẻ chế giễu Crôtxi hối hận. C. Vì bị kích thích vì lòng thương bạn. Hành động đó đã khiến những kẻ chế giễu Crôtxi hối hận. D. Vì bị kích thích vì lòng thương bạn. Hành động đó đã mọi người công nhận Garônê là người hào hiệp |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Garônê nhận lỗi vì thương bạn. Hành động đó đã khiến những kẻ chế giễu Crôtxi hối hận.
→ Đáp án: C
|
Câu 8: Vì sao thầy giáo mắng hội chế giễu bạn nặng nề lại bất ngờ tha bổng cho họ? A. Vì họ im lặng nghe mắng mà không cãi B. Vì Crôtxti đã nhận lỗi rồi C. Vì Garônê đã nhận lỗi, nói nhỏ với thầy, vì thái độ của các bạn mắc lỗi D. Tất cả các ý kiến |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, chú ý lời nói của thầy giáo
Lời giải chi tiết:
Thầy giáo mắng hội chế giễu bạn nặng nề lại bất ngờ tha bổng cho họ vì: Garônê đã nhận lỗi, nói nhỏ với thầy, vì thái độ của các bạn mắc lỗi
→ Đáp án: C
Câu 9: Nếu được gặp Crôtxi, em sẽ nói gì với bạn ấy? (trả lời bằng đoạn văn 6 dòng, hoặc hình ảnh minh họa kèm đối thoại) (0,5đ)
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản và nêu ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết
- Thể hiện rõ tình cảm với Crôtxti nhưng phải tế nhị, chân thành
- Nên theo hướng:
+ Bênh vực những người như bạn/ đứng về phía bạn; khẳng định mỗi người có giá trị riêng, không phụ thuộc vào ngoại hình
+ Không đồng tình với những kẻ chế giễu người khác làm trò vui
+ Thầy giáo và bạn Garônê luôn là những người tin cậy
Câu 10: Nếu có mặt trong lớp học của Crôtxi, khi bạn ấy bị chế giễu, em sẽ là gì? (0,5đ)
Phương pháp
Dựa vào ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết
- HS suy nghĩ và chia sẻ thực lòng về điều mình sẽ và có thể làm (không sáo rỗng)
- Việc làm đó cần làm dịu không khí và bênh vực được người bị bắt nạt, tuyệt đối không gây ra ẩu đả trong lớp:
+ Gọi nhanh người có uy để giải tán trò chế giễu người
+ Có thể chuyển hướng chú ý của đám đông
+ Có đủ uy thì yêu cầu các bạn dừng lại…
Câu 11: Em có đồng tình với việc thầy giáo mắng các bạn mắc lỗi nặng nề, rồi lại tha bổng không? (1đ)
Phương pháp giải
Đưa ra quan điểm cá nhân
Lời giải chi tiết
Câu hỏi gợi ý:
- Phân tích lời của thầy có làm tổn thương thêm người bị chế giễu không?
- Có quá nặng nề với những bạn có lỗi không?
- Tác động như thế nào tới các thành viên trong lớp không tham gia chế giễu bạn
- Dựa vào các căn cứ trên để lựa chọn sự đồng tình hay phản đối
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (6 điểm)
|
Suy nghĩ, thái độ của em về hiện tượng bắt nạt học đường (trả lời bằng một bài văn hoàn chỉnh từ 1-1,5 trang vở/ giấy thi) |
Phương pháp:
Dựa vào những kiến thức và kĩ năng đã học
Lời giải chi tiết:
|
|
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Nêu hiện tượng/ vấn đề bàn luận - Thái độ đối với hiện tượng |
|
Thân bài |
2,5 |
- Mô tả khái quát hiện tượng bắt nạt học đường - Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng (người bị bắt nạt): thể hiện rõ quan điểm cá nhân - Cách phòng chống hiện tượng bắt nạt học đường |
|
Kết bài |
0,5 |
- Thái độ của bản thân trước hiện tượng - Nhận thức và hành động của bản thân khi chứng kiến hiện tượng bắt nạt học đường |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Thể hiện rõ quan điểm cá nhân (đồng tình/ phản bác) - Dẫn chứng đa dạng phù hợp với lí lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
BẦU TRỜI CỦA NGƯỜI CHA
Nguyễn Quang Thiều
Bữa cơm tối của người cha tàn tật thường kéo dài đến hai tiếng đồng hồ, My vừa cho cha ăn vừa dỗ dành ông như dỗ một đứa trẻ ốm yêu. [...] Thời gian đầu, cứ mỗi khi bón cơm cho cha My lại khóc. Người cha cũng khóc không thành tiếng.
Hai năm trở lại đây cô không khóc nữa. Thay vào đó, cô nhí nhảnh kể cho cha cô nghe những chuyện đại loại như cây hoa trà ông trồng giờ đang trổ nụ, những chậu xương rồng nhiều loại của ông mọc thêm rất nhiều nhánh, hay buổi sáng nào đó trong vườn nhà xuất hiện một con chim lạ, giọng con chim rất trong và mảnh như tơ nhện. Cô cứ kể những chuyện như thế cho tới khi người cha ăn xong thìa cơm cuối cùng. Đặt cái bát sang một bên, và lúc nào ngay sau đó cô cũng nói với người cha: “Ba đã hoàn thành nhiệm vụ. Con quyết định tặng huân chương cho ba”. Người cha cố ngước mắt nhìn con và cười. Và chỉ có cô mới biết là ông đang cười. [...]
Bóng tối của đêm thường bắt đầu ùa kín những góc nhà, rồi sau đó lan vào gầm giường và gầm bàn ghế. Cô đặt những ngón tay gầy và hơi lành lạnh của người cha trong bàn tay nhỏ nhắn của cô. My thấy những ngón tay của người cha ấm dần lên. My khẽ ngước mắt nhìn cha. Cô biết cha cỗ đang bước từng bước mê dại trong ý nghĩ lạ lùng về phía vòm trời kia. Rồi ông khóc. Và chỉ có My mới biết được cha mình đang khóc... My đỡ cha lên giường và bắt đầu bài xoa bóp chân tay cho cha theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Khoảng chín giờ tối cô buông màn cho cha. “Con chúc ba ngủ ngon”, cô nói và hôn lên trán người cha lúc nào cũng như lấp dấp mồ hôi. Khi cô quay ra cửa thì giật mình nhận ra có người đang đứng tựa vào một bên cánh cửa.
“Mẹ đây”, bóng người nói (...)
“Mẹ sẽ bỏ tiền ra thuê người chăm sóc cho ông ấy, con đừng lo”.
“Chẳng ai có thể chăm sóc ba con bằng con cả - My nói và thở dài - không ai có thể hiểu được ba, ngay cả…”
Cô định nói: “Ngay cả chính mẹ”, nhưng cô lại thôi... Mãi lâu sau cô mới nói: “Mẹ về đi, hôm nay con mệt lắm”. “Cảm ơn mẹ”, My nói và lại bật cười khe khẽ. Cô đóng cửa và vội vã đi vào trong nhà.
Hơn một tháng trở lại đây, mẹ cô thường đến thăm cô vào buổi tối và... lúc nào cô cũng nói với mẹ cô câu cuối: “Con mệt lắm, mẹ về đi”, rồi bước ra mở cổng.
My lần từng bước trong bóng tối đến trước giá vẽ và ngồi xuống. Nhưng mỗi lần vẽ xong cô lại càng thấy thất vọng hơn. Và cũng đã bao nhiêu lần cô gục khóc trên giá vẽ. Cô khóc không phải vì sự thất bại trong nghệ thuật. Nói đúng hơn, chưa bao giờ cô đeo đuổi một thành công nào đó trong nghệ thuật. Cô chỉ vẽ như cô cần phải vẽ. Cô khóc về sự bất lực trong tình yêu của cô đối với người cha bệnh tật.
Cha cô vốn là một phi công lái máy bay quân sự trong chiến tranh. Sau giải
phóng ông chuyển sang lái máy bay dân sự. Sau mỗi chuyến bay trở về, ông say đắm kể cho mẹ con cô nghe về những vùng trời ông đã đi qua. Nhiều đêm, những câu chuyện của người cha đã đưa cô đến những vùng trời ấy trong giấc mơ.
Cô gặp những đứa bé trong suốt vừa bay vừa hát bên những bông hoa lạ.
“Hoa này là hoa gì, bạn nhỉ?”, cô hỏi.
“Hoa Anh My”, những đứa bé đồng thanh nói như hát.
“Ôi! Cùng tên với mình đấy - Cô thích thú kêu lên.
“Thế những con chim vàng óng kia là chim gì?”.
“Chim Tao Linh đấy”.
My định hỏi tiếp một câu thì chợt nghe một tiếng nổ. Những đứa bé vụt biến mất. My tỉnh giấc. Ngọn đèn ngủ vẫn tỏa ánh xanh nhạt trong nhà. Qua màn, My nhìn thấy ba mẹ cô đang ngồi quay ra cửa. Trên nền nhà có những mảnh cốc vỡ.
“Tôi không chịu nổi cuộc sống như thế này nữa rồi”, mẹ cô tức tưởi nói.
“Anh chưa làm một điều gì xúc phạm đến em cả. Anh không hiểu vì sao lâu nay em luôn luôn cảm thấy khó chịu khi anh về” (...)
- Còn anh chỉ thấy mang về cho vợ con anh những thứ ngớ ngẩn, hão huyền, hết sức vô dụng”.
“Em im đi. Em khác xưa quá nhiều rồi đấy”.
“Tôi không khác gì xưa có chẳng qua anh không nhận ra sự thật của cuộc đời này mà thôi" Mẹ có nói và đứng phắt dậy đi sang phòng bên. Ba có lúc đầu và đốt thuốc hút.
Một buổi sáng ít ngày sau đó, người cha phờ phạc nói với cô: “Ba và mẹ đã quyết định chia tay nhau. Chắc con cũng tự biết trước điều này”. My nấc lên khi nghe người cha nói vậy, cô bỗng thấy hoảng sợ và cô đơn khủng khiếp.
Khi My vừa kết thúc năm học cuối cùng thì cha cô bị tai nạn giao thông và bị liệt nửa người. Biết bệnh tình của người cha khó có thể hồi phục. My quyết định ngừng xin việc làm. Cô mở lớp dạy vẽ và tiếng Anh cho bọn trẻ, con cùng phố để kiếm tiền sinh sống và tiện có thời gian chăm sóc cha. Khi bóng tối đã trùm kín căn phòng thì người cha thì thầm: “Vùng trời... vùng trời, cha muốn trở lại... vùng trời”. Những lúc ấy, giọng người cha lạ lùng và xa xăm. Cô cảm thấy rùng mình và thương cha vô hạn.
Một đêm trong căn phòng của cô đầy mùi thuốc vẽ, trong đầu cô lóe lên ý nghĩ mang lại cho người cha vùng trời của ông về trên toàn. Sau ý nghĩ ấy, cô lao vào giá vẽ. Cô vẽ trong sự hoảng sợ mộng mị và mơ hồ về người cha. Và suốt hơn một năm qua cô đã vẽ, đã thất vọng và đã khóc.
Đêm đêm, cô đứng lặng hàng tiếng đồng hồ bên cửa sổ nhìn mãi vào vùng trời có những ngôi sao bé bỏng, ướt át và đầy bí ẩn kia. Cô như thoáng nghe thấy tiếng nói thì thầm của những ngôi sao và những vầng mây bạc trong những đêm sáng trăng. Cô lao vào giá vẽ và vẽ cho đến khi tưởng chừng như kiệt sức. Để rồi sáng sau tỉnh giấc, cô lại khóc cho những mảng mầu lạnh lẽo và bất động.
Mấy ngày trước, vào một buổi sáng có nắng, cô mang chiếc valy dựng những đồ lặt vặt của người cha ra phơi.
Trong valy cô thấy cuốn nhật ký của người cha. Cô cầm cuốn nhật ký bước vào hiện nhà ngồi xuống và đọc.
“Đêm qua mình tỉnh giấc mà Lan (tên mẹ cô) không hay biết gì. Hình như chưa bao giờ Lan mất ngủ. Lan vẫn đẹp và đầy sức sống như ngày mới cưới. Và... Lan chưa bao giờ hiểu mình. Sao những đếm tỉnh giấc mình hay nghe thấy những tiếng gì đó mơ hồ gọi mình. Mình thấy cô đơn”.
“Mình đã sống một tuổi thơ đầy cô đơn và ốm yếu. Không quên nổi những chiều mưa mờ mịt bên bờ sông Hàn. Ba đi thuyền chưa về. Má cũng đi chợ xa bán cá. “Cái mình cần là hơi ấm của con người. Nhưng đời sống càng đầy đủ thì con người càng xa nhau. Cái mà những người đang sống quanh mình tìm kiếm là đồng tiền. Đồng tiền hết sức cần thiết. Nhưng vì nó mà con người lao vào như rồ dại, cắn xé lẫn nhau, nghi ngờ nhau và căm thù nhau”.
“Sao từ ngày cưới nhau đến giờ, Lan chưa một lần thức dậy trong đêm và thì thầm những điều gì đấy với mình. Lan giày vò mình vì những chuyện gia đình như sắm sửa, xây cất. Lan bực tức với những người giàu hơn và tỏ vẻ khinh bỉ những người đói kém. Mình đã từng đói khát và tủi nhục. Nhưng mình không thể sống được khi chỉ nghĩ đến cái dạ dày căng tròn và lầy nhầy”.
“Những lần bay qua những vùng trời vô tận, sao mình cứ ước được bước ra khỏi khoang lái. Tất cả những gì trong khoảng mênh mông của vũ trụ mà mình cảm nhận được lại làm cho mình yên tâm tin mình khi đi trên mặt đất. Những cơn mê làm mình hạnh phúc và muốn khóc. Mình thèm khát được ngồi im lặng trong hoàng hôn và vùi bàn tay trong mái tóc đẹp lạ lùng của Lan”
Đêm nay hình như trời trong hơn. Có lẽ cũng đã khuya. My áp mặt vào những song gỗ cửa sổ. Bỗng cô nghe thấy tiếng cha gọi. Cô vội vã đẩy cửa bước sang phòng người cha.(...)
Khi người cha trở lại giấc ngủ, cô đứng dậy tắt đèn và trở lại phòng mình. Cô bước trang nghiêm và quyết liệt đến bên giá vẽ. Cô nhìn xuống và nhìn ra cửa sổ. Những ngôi sao như đang bay về. Cô ngửi thấy hương Anh My, tiếng hót của bầy Tao Linh, tiếng ríu rít của bầy trẻ trong suốt như pha lê... Đến gần trưa hôm sau My mới tỉnh dậy. Cô mở mắt ngơ ngác. Nắng tràn ngập ô cửa sổ phòng cô. Cô nhìn vào bức tranh và kinh ngạc. Cô nhận thấy có bóng cha cô trong suốt đang bay trong đó. Cổ nhớ đến cha. Cô vội chạy sang phòng cha. Người cha nằm yên lặng. Gương mặt ông như đang trôi trong vô tận... Hình như cô nghe thấy người cha hổn hển hỏi: “Có bao giờ con nghe thấy mẹ khóc không?”. Đôi môi cô mấp máy như trả lời: “Mẹ sẽ khóc, ba ạ”.
Câu hỏi
Câu 1. Dòng nào nói đúng đặc điểm thể loại của văn bản trên?
A. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc diễn ra trong phạm vi hẹp, đầy mâu thuẫn.
B. Truyện ngắn: Nhân vật ít, dung lượng ngắn, sự việc diễn ra trong phạm vi hẹp.
C. Truyện vừa: Nhân vật đa dạng, sự việc diễn ra luôn vận động.
D. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc đơn giản, giàu ý nghĩa.
Câu 2. Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm?
A. Ứng xử.
B. Ước mơ.
C. Thế sự đời thường.
D. Gia đình.
Câu 3. Nhân vật chính, nội dung của truyện ngắn là:
A. Người cha và My; Ước mơ và nỗi đau của người cha bất hạnh bên cô con gái hiểu thảo.
B. Người cha; Người cha giàu yêu thương, mơ ước nhưng bất hạnh.
C. Người cha và mẹ; Người cha giàu yêu thương, mơ ước và cuộc hôn nhân đau khổ.
D. My. Người con gái yêu thương cha và mơ ước của mình.
Câu 4. Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể?
A. My chăm sóc cha - Cha mẹ cãi nhau, li dị - Cha lái máy bay kế về vùng trời, đưa My đến giấc mơ - Cha bị tai nạn, My làm việc ở nhà để chăm cha - My về, ngủ quên tỉnh dậy, cha đã mất.
B. My chăm sóc cha - Nói chuyện với mẹ - My vẽ và khóc - Cha mẹ cãi nhau, li dị - Cha lái máy bay kể về vùng trời, đưa My đến giấc mơ - Cha bị tai nạn, My làm việc ở nhà để chăm cha - My đọc nhật kí của cha - My vẽ, ngủ quên tỉnh dậy cha đã mất.
C. Cha mẹ cãi nhau, li dị - Cha bị tai nạn, My làm việc ở nhà để chăm cha – My đọc nhật kí của cha - My vẽ, ngủ quên tỉnh dậy, cha đã mất.
D. Cha lái máy bay kể về vùng trời, đưa My đến giấc mơ - Cha bị tai nạn, My làm việc ở nhà để chăm cha - My đọc nhật kí của cha - My vẽ, ngủ quên tỉnh dậy, cha đã mất.
Câu 5. Truyện kể theo trình tự nào?
A. Trình tự thời gian.
B. Trình tự không gian.
C. Trình tự cảm xúc của nhân vật My.
D. Trình tự tuân theo ý đồ nghệ thuật của tác giả.
Câu 6. Dòng nào nói đúng việc sử dụng ngôi kể của tác phẩm:
A. Ngôi thứ ba.
B. Ngôi thứ nhất.
C. Ngôi thứ 3 và ngôi thứ nhất.
D. Hai người kể chuyện từ ngôi thứ nhất.
Câu 7. Vì sao, hai năm trở lại đây My không khóc nữa mà lại nhí nhảnh kể cho cha cô nghe những chuyện đại loại như cây hoa trà ông trồng?
A. Vì cô biết khóc lóc chẳng ích gì chỉ làm con người thêm yếu đuối mà thôi.
B. Vì cô muốn 2 cha con vui vẻ, muốn có cuộc sống lạc quan và đầy mơ ước.
C. Vì cô muốn cha sống lạc quan đầy lãng mạn.
D. Cả a & b.
Câu 8. Vì sao My điên cuồng vẽ, rồi lại khóc, trạng thái đó biểu hiện điều gì?
A. Vì My muốn mang lại cho người cha vùng trời của ông về trên toan.
B.Vì cô vẽ trong sự hoảng sợ mộng mị và mơ hồ về người cha; Vì những mảng mầu lạnh lẽo và bất động;
C. Vì My muốn mang lại cho người cha vùng trời của ông; Biểu hiện sự bất lực trước thực tại nghiệt ngã, tình yêu cha sâu sắc mãnh liệt...
D. Vì những mảng màu lạnh lẽo và bất động; Đau khổ, bất lực.
Câu 9. Cảm nhận của em về nhân vật người cha. Từ đó, hãy cho biết những yếu tố nào có khả năng nuôi dưỡng ước mơ, khát vọng đẹp trong tâm hồn con người?
Câu 10. Em yêu thích điểm nào ở nhân vật My? Việc làm, suy nghĩ, ước mơ nào của My đã tác động tới cảm xúc, suy nghĩ của em?
PHẦN II. TẠO LẬP VĂN BẢN (4đ)
Phân tích nhân vật My và từ đó thể hiện quan điểm/ thái độ của cá nhân đối với người sống giàu ước mơ và người sống thực tế
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 |
Câu 2 |
Câu 3 |
Câu 4 |
Câu 5 |
Câu 6 |
Câu 7 |
Câu 8 |
|
B |
D |
A |
B |
D |
C |
D |
C |
|
Câu 1. Dòng nào nói đúng đặc điểm thể loại của văn bản trên? A. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc diễn ra trong phạm vi hẹp, đầy mâu thuẫn. B. Truyện ngắn: Nhân vật ít, dung lượng ngắn, sự việc diễn ra trong phạm vi hẹp. C. Truyện vừa: Nhân vật đa dạng, sự việc diễn ra luôn vận động. D. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc đơn giản, giàu ý nghĩa. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại dấu hiệu nhận biết các thể loại
Lời giải chi tiết:
Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn: Nhân vật ít, dung lượng ngắn, sự việc diễn ra trong phạm vi hẹp.
→ Đáp án B
|
Câu 2. Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm? A. Ứng xử. B. Ước mơ. C. Thế sự đời thường. D. Gia đình. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý hệ thống nhân vật, các chi tiết tiêu biểu
Lời giải chi tiết:
Đề tài của tác phẩm: đề tài gia đình (tình cảm cha con)
→ Đáp án D
|
Câu 3. Nhân vật chính, nội dung của truyện ngắn là: A. Người cha và My; Ước mơ và nỗi đau của người cha bất hạnh bên cô con gái hiểu thảo. B. Người cha; Người cha giàu yêu thương, mơ ước nhưng bất hạnh. C. Người cha và mẹ; Người cha giàu yêu thương, mơ ước và cuộc hôn nhân đau khổ. D. My. Người con gái yêu thương cha và mơ ước của mình. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Nhân vật chính của truyện ngắn: Người cha và My
Nội dung của truyện ngắn: Ước mơ và nỗi đau của người cha bất hạnh bên cô con gái hiểu thảo.
→ Đáp án A
|
Câu 4. Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể? A. My chăm sóc cha - Cha mẹ cãi nhau, li dị - Cha lái máy bay kế về vùng trời, đưa My đến giấc mơ - Cha bị tai nạn, My làm việc ở nhà để chăm cha - My về, ngủ quên tỉnh dậy, cha đã mất. B. My chăm sóc cha - Nói chuyện với mẹ - My vẽ và khóc - Cha mẹ cãi nhau, li dị - Cha lái máy bay kể về vùng trời, đưa My đến giấc mơ - Cha bị tai nạn, My làm việc ở nhà để chăm cha - My đọc nhật kí của cha - My vẽ, ngủ quên tỉnh dậy cha đã mất. C. Cha mẹ cãi nhau, li dị - Cha bị tai nạn, My làm việc ở nhà để chăm cha – My đọc nhật kí của cha - My vẽ, ngủ quên tỉnh dậy, cha đã mất. D. Cha lái máy bay kể về vùng trời, đưa My đến giấc mơ - Cha bị tai nạn, My làm việc ở nhà để chăm cha - My đọc nhật kí của cha - My vẽ, ngủ quên tỉnh dậy, cha đã mất. |
Phương pháp giải
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Trình tự kể của văn bản: My chăm sóc cha - Nói chuyện với mẹ - My vẽ và khóc - Cha mẹ cãi nhau, li dị - Cha lái máy bay kể về vùng trời, đưa My đến giấc mơ - Cha bị tai nạn, My làm việc ở nhà để chăm cha - My đọc nhật kí của cha - My vẽ, ngủ quên tỉnh dậy cha đã mất.
→ Đáp án B
|
Câu 5. Truyện kể theo trình tự nào? A. Trình tự thời gian. B. Trình tự không gian. C. Trình tự cảm xúc của nhân vật My. D. Trình tự tuân theo ý đồ nghệ thuật của tác giả. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Truyện kể theo trình tự: tuân theo ý đồ nghệ thuật của tác giả
→ Đáp án D
|
Câu 6. Dòng nào nói đúng việc sử dụng ngôi kể của tác phẩm: A. Ngôi thứ ba. B. Ngôi thứ nhất. C. Ngôi thứ 3 và ngôi thứ nhất. D. Hai người kể chuyện từ ngôi thứ nhất. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản để xác định ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Văn bản được kể theo 2 ngôi: Ngôi thứ 3 và ngôi thứ nhất
+ Ngôi thứ 3: tác giả (trong phần đầu)
+ Ngôi thứ 1: khi đọc cuốn nhật kí
→ Đáp án C
|
Câu 7. Vì sao, hai năm trở lại đây My không khóc nữa mà lại nhí nhảnh kể cho cha cô nghe những chuyện đại loại như cây hoa trà ông trồng? A. Vì cô biết khóc lóc chẳng ích gì chỉ làm con người thêm yếu đuối mà thôi. B. Vì cô muốn 2 cha con vui vẻ, muốn có cuộc sống lạc quan và đầy mơ ước. C. Vì cô muốn cha sống lạc quan đầy lãng mạn. D. Cả a & b. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Hai năm trở lại đây My không khóc nữa mà lại nhí nhảnh kể cho cha cô nghe những chuyện đại loại như cây hoa trà ông trồng vì:
+ Vì cô biết khóc lóc chẳng ích gì chỉ làm con người thêm yếu đuối mà thôi
+Vì cô muốn 2 cha con vui vẻ, muốn có cuộc sống lạc quan và đầy mơ ước
→ Đáp án D
|
Câu 8. Vì sao My điên cuồng vẽ, rồi lại khóc, trạng thái đó biểu hiện điều gì? A. Vì My muốn mang lại cho người cha vùng trời của ông về trên toan. B.Vì cô vẽ trong sự hoảng sợ mộng mị và mơ hồ về người cha; Vì những mảng mầu lạnh lẽo và bất động; C. Vì My muốn mang lại cho người cha vùng trời của ông; Biểu hiện sự bất lực trước thực tại nghiệt ngã, tình yêu cha sâu sắc mãnh liệt... D. Vì những mảng màu lạnh lẽo và bất động; Đau khổ, bất lực. |
Phương pháp giải
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
My điên cuồng vẽ, rồi lại khóc, trạng thái đó biểu hiện: My muốn mang lại cho người cha vùng trời của ông; Biểu hiện sự bất lực trước thực tại nghiệt ngã, tình yêu cha sâu sắc mãnh liệt...
→ Đáp án C
Câu 9. Cảm nhận của em về nhân vật người cha. Từ đó, hãy cho biết những yếu tố nào có khả năng nuôi dưỡng ước mơ, khát vọng đẹp trong tâm hồn con người?
Phương pháp giải:
Nêu ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Xác định được những đặc điểm cơ bản của người cha và có dẫn chứng phù hợp
+ Giàu mơ ước, luôn khát khao được yêu thương
+ Yêu thương, nuôi dưỡng ước mơ của con đúng mực
+ Là người chịu nhiều bất hạnh
- Xác định những yếu tố nào có khả năng nuôi dưỡng ước mơ, khát vọng đẹp: tôn trọng ý kiến riêng của HS nhưng phải phù hợp với văn hóa của dân tộc và định hướng thẩm mỹ từ tác phẩm “Bầu trời của người cha”
Câu 10. Em yêu thích điểm nào ở nhân vật My? Việc làm, suy nghĩ, ước mơ nào của My đã tác động tới cảm xúc, suy nghĩ của em?
Phương pháp giải:
Nêu ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Là câu hỏi mở: HS chủ động thể hiện chính kiến cá nhân nhưng lí lẽ và dẫn chứng phải phù hợp, thuyết phục
- Cách hiểu và lý giải cần có căn cứ từ tác phẩm, tránh suy diễn, gượng ép bất hợp lý
PHẦN II. TẠO LẬP VĂN BẢN (4đ)
Phân tích nhân vật My và từ đó thể hiện quan điểm/ thái độ của cá nhân đối với người sống giàu ước mơ và người sống thực tế
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Phân tích nhân vật My |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật - Giới thiệu đặc điểm và vị trí nhân vật trong tác phẩm |
|
Thân bài |
2,5 |
- Phân tích 2-3 đặc điểm nổi bật của nhân vật (chọn dẫn chứng tiêu biểu phù hợp với ý kiến) + Giàu yêu thương, hiếu thảo + Giàu khát khao, ước mơ và kiên trì thực hiện ước mơ + Nhanh nhạy, hoạt bát, biết lo toan… - Nhận xét nghệ thuật khắc họa nhân vật (lời nói, suy nghĩ, việc làm ước mơ, khát khao..) - Thể hiện quan điểm về lối sống: thể hiện rõ sự lựa chọn: 1 trong 2 hoặc phối hợp (hài hòa trong từng hoàn cảnh) |
|
Kết bài |
0,5 |
- Đánh giá nhân vật - Sự tác động của nhân vật tới cảm xúc, suy nghĩ |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại - Dẫn chứng tiêu biểu phù hợp với lý lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 8
Đề thi
I. Đọc hiểu (4đ)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi phía dưới:
TỪ THIỆN
(Tạ Tư Vũ)
Bà Hai ngồi thu lu trên cái đẩu, cái gọng kính trễ xuống sống mũi như chực rơi ra, bà Hai đang tính toán số hàng người ta quyên góp ngày hôm nay. Chợt bà Hai ngẩng đầu hỏi với ông Hai: “Con Tư hàng khô lúc nãy gửi gì vậy ông?”.
Ông Hai xoa xoa bàn tay, nhìn sàn nhà ngổn ngang, buông thõng: “Hai thùng mì trứng, 5 ký đường với bao quần áo”. Bà Hai cặm cụi ghi vào sổ. Trời vẫn mưa ầm ầm như trút nước.
Bà Hai bán xôi bên hông chợ Bà Chiểu. Xe hàng xôi của bà nổi tiếng hơn chục năm nay. Mỗi gói 15 ngàn, nếp thơm, mấy miếng xá xíu, thịt chiên cùng với nhúm hành phi thơm phức bọc lại trong miếng lá chuối con con. Chỉ thế thôi mà những gói xôi lại đủ sức nuôi sống ông bà. Cứ mỗi chiều tối, mỗi khi bà Hai đẩy cái xe bán xôi của bà ra ngã tư chợ, người ta biết ngay là đã sáu giờ chiều. Khi bà mở cái nắp xửng xôi, mùi xôi chín lá dứa thơm khắp cả con đường. Bà Hai bán không ngơi tay. Cái nằm xôi lá chuối con con như vậy mà lo trọn bữa cơm chiều rẻ tiền cho cả chợ. Thỉnh thoảng bà Hai còn bán thiếu cho mấy đứa sinh viên đói muộn. Ngày rằm bà Hai còn nấu xôi chay cho không mọi người.
Mùa mưa Sài Gòn năm nay thật khắc nghiệt. Cả buổi chiều đến tối, gió mưa quăng quật, giằng xé khắp chợ. Chợ xác xơ, hàng quán bán ế chỏng gọng. Bọn mì gõ, hủ tiểu hay tụi bán quần áo, giày dép ngay ngã tư chợ dẹp luôn. Chỉ còn Bà Hai với xe xôi lạnh ngắt. Thế là bà Hai cũng nghỉ, chịu thua những cơn mưa.
Ông Hai bàn với bà Hai vận động mọi người ở chợ ủng hộ huyện miền núi ở tỉnh X làm từ thiện. Ông bà chỉ nhận hàng hóa, không nhận tiền. Bà Hai nghỉ bán bữa giờ, xem tivi thấy cảnh những con người cheo leo trên mái nhà vì lũ. Bà cũng thấy cảnh con bò bị chìm ngập giữa dòng nước, hếch cái mõm lên trời hít chút không khí tàn.
Bà chặc lưỡi nghĩ thầm, có đi trăm chùa, cho không ngàn gói xôi cũng chẳng bằng giúp người ta lúc ngặt nghèo. Nhìn mấy đứa con nít ngây thơ, quân áo tả tơi bấu víu nhau chạy lũ thấy thương hết sức, cứ nghĩ tụi nó là con mình thì lại càng thương. Thế là vợ chồng ông Hai đội mưa ngày ngày vào chợ đi vận động quyên góp. Uy tín bà Hai bán xôi thật oách, chỉ mới năm ngày phát động mà gần như cả chợ nhiệt liệt tham gia. Từ quầy hàng khô, hàng rau, hàng thịt, bọn bán quần áo trên lầu, cả mấy đứa cho vay kiếm lời ngoài chợ cũng ủng hộ. Như hôm qua, thằng Tâm Hôi chuyên chở nước đá chạy nguyên chiếc xe ba gác máy đỗ xịch trước nhà bà Hai. Miệng ngậm điếu thuốc, quần xắn đầu gối, khệ nệ khiêng vào nhà bà Hai mười thùng nước tinh khiết ủng hộ đồng bào.
Tâm Hôi cũng không quên trả luôn bà Hai tiền ba gói xôi còn thiếu. Bà Hai ngồi cười rung ghế: “Boa luôn đó con trai!”.
Mới sáng sớm mà mưa mù trời. Tư Mắm, Tâm Hôi qua nhà bà Hai để giúp mọi người vận chuyển hàng cứu trợ. Mọi người đang lăng xăng với lỉnh kỉnh hàng hóa thì một chiếc taxi bất chợt xuất hiện trước nhà. Tài xế bóp kèn tin tin gọi người ra nhận hàng ủng hộ. Tâm Hôi và ông Hai khệ nệ khiêng vào nhà thùng hàng to đùng. Tư Mắm khui thùng hàng ra để kiểm thì chợt há hốc mồm:
“Trời đất, cái gì vậy trời...?”. Mọi người quay qua nhìn Tư Mắm với bộ đầm dạ hội trên tay. Tâm Hội cười khà khà: “Cái này mới ác liệt nè.”, rồi huơ huơ hai đôi giày cao gót đỏ chót. Hàng loạt cái váy ngắn cũn cỡn, áo hai dây sexy cùng với quần áo đi khiêu vũ nằm lăn lóc trên sàn nhà. Bà Hai thở dài.
Tư Mắm chửi đổng: “Mẹ nó, ai rảnh thiệt. Người ta đói ăn đói mặc thì không cho cái gì nó thực tế. Cho chi mấy cái thứ tào lao gì đâu. Lũ lụt trốn lên nóc nhà bận đầm dạ hội à. Từ thiện kiểu gì vậy trời..”. Tâm Hôi quấn cái đầm dạ hội màu nhung gấm đi giữa nhà õng ẹo: “Mời anh Hai làm với em vài bài nào..”. Mọi người cười rần rần.
Bà Hai ngồi thừ nơi bậu cửa nhìn màn mưa xiên xéo trước nhà. Bụi mưa lấm tấm làm thành màn sương mỏng trên nền gấm đỏ bộ đầm dạ hội mà Tư Mắm vứt lăn lóc ngay góc cửa. Nhìn thùng hàng với những cái áo hai dây sexy mỏng tang, phất phơ theo từng cơn gió lạnh buốt, bà Hai kín đáo thở dài.
Yêu thương mà, nếu người ta quá vội để hời hợt nhìn nhau, thì mình cũng nên gắng sức để thương yêu đó trọn vẹn. Bỏ qua một tấm lòng mới là kỳ cục. Bà Hai nhẩm tính thùng hàng này bán đi cũng mua được hơn chục ký gạo. Mưa bắt đầu tạnh dần. Ông Hai mỉm cười ngồi nhìn bà Hai từ góc tối trong nhà. Bóng bà Hai nhỏ thó, liêu xiêu bên bậu cửa với mái đầu bạc mờ những giọt mưa. Bà đang nhẩm tính gì đó bên những đôi giày cao gót chỏng chơ, sặc sỡ.
(https://tuoitre.vn/truyen-ngan-1200-tu-thien-1210210.htm)
Câu 1: Dòng nào nói đúng đặc điểm thể loại của văn bản trên?
A. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc diễn ra trong phạm vi hẹp, đầy mâu thuẫn.
B. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc diễn ra trong thời gian, không gian hẹp.
C. Truyện vừa: Nhân vật đa dạng, sự việc diễn ra luôn vận động.
D. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc đơn giản, giàu ý nghĩa.
Câu 2: Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm?
A. Người lao động.
B. Làm từ thiện.
C. Kinh tế.
D. Tiểu thương
Câu 3: Nhân vật chính, nội dung của truyện ngắn là:
A. Ông Hai. Vận động từ thiện.
B. Tư mắm. Phân loại hàng từ thiện.
C. Bà Hai. Công việc thiện nguyện hàng ngày.
D. Không có nhân vật chính. Cả chợ làm từ thiện.
Câu 4: Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể?
A. Công việc làm ăn thường xuyên của vợ chồng bà Hai; những ngày mưa làm ăn thật vất vả; ông bà Hai và cả chợ làm từ thiện; suy nghĩ của bà Hai cách làm từ thiện hiệu quả.
B. Vợ chồng bà Hai tổng hợp hàng từ thiện; công việc làm ăn thường xuyên của vợ chồng bà Hai; những ngày mưa làm ăn thật vất vả; ông bà Hai và cả chợ làm từ thiện; suy nghĩ của bà Hai cách làm từ thiện hiệu quả.
C. Ông bà Hai, cả chợ làm từ thiện; suy nghĩ của bà Hai cách làm từ thiện.
D. Công việc làm ăn thường xuyên của vợ chồng bà Hai; suy nghĩ của bà Hai cách làm từ thiện hiệu quả.
Câu 5: Dòng nào nói đúng việc sử dụng ngôi kể của tác phẩm?
A. Ngôi thứ ba.
B. Ngôi thứ nhất.
C. Ngôi thứ 3 và ngôi thứ nhất.
D. Hai người kể chuyện từ ngôi thứ nhất.
Câu 6: Nhân vật bà Hai được khắc họa qua:
A. Hành động, suy nghĩ.
B. Lời nói, hành động.
C. Hành động, lời nói, suy nghĩ, lời người kể chuyện.
D. Ngoại hình, hành động.
Câu 7: Vì sao, tác giả khẳng định: “Uy tín bà Hai bán xôi thật oách, chỉ mới năm ngày phát động mà gần như cả chợ nhiệt liệt tham gia"?
A. Vì bà Hai luôn làm từ thiện, mọi người tin bà.
B. Vì bà Hai luôn bán xôi chịu cho người khó khăn.
C. Cái nắm xôi lá chuối con con của bà Hai lo trọn bữa cơm chiều rẻ tiền cho cả chợ.
D. Vì bà Hai làm từ thiện chỉ nhận hàng hóa, không nhận tiền.
Câu 8: “Nhìn mấy đứa con nít ngây thơ, quần áo tả tơi bấu víu nhau chạy lũ thấy thương hết sức, cứ nghĩ tụi nó là con mình thì lại càng thương” là suy nghĩ của ai?
A. Ông Hai.
B. Tư Mắm.
C. Bà Hai.
D. Tâm Hội.
Câu 9: Phân tích nghệ thuật kể chuyện và dụng ý của tác giả trong đoạn văn sau:
“Ông Hai mỉm cười ngồi nhìn bà Hai từ góc tối trong nhà. Bóng bà Hai nhỏ thó, liêu xiêu bên bậu cửa với mái đầu bạc mờ những giọt mưa. Bà đang nhẩm tính gì đó bên những đôi giày cao gót chỏng chơ, sặc sỡ”
Câu 10: Cảm nhận của em về hình tượng nhân vật bà Hai trong tác phẩm trên (bằng đoạn văn dài từ 5-7 câu)
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (6 điểm)
Suy nghĩ của em về công việc làm từ thiện đối với học sinh THCS hiện nay
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (4 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
Câu 7 (0.25đ) |
Câu 8 (0.25đ) |
|
B |
A |
C |
B |
A |
C |
A |
C |
|
Câu 1: Dòng nào nói đúng đặc điểm thể loại của văn bản trên? A. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc diễn ra trong phạm vi hẹp, đầy mâu thuẫn. B. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc diễn ra trong thời gian, không gian hẹp. C. Truyện vừa: Nhân vật đa dạng, sự việc diễn ra luôn vận động. D. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc đơn giản, giàu ý nghĩa. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, nhớ lại dấu hiệu nhận biết thể loại
Nêu đặc điểm thể loại
Lời giải chi tiết:
Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc diễn ra trong thời gian, không gian hẹp.
→ Đáp án: B
|
Câu 2: Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm? A. Người lao động. B. Làm từ thiện. C. Kinh tế. D. Tiểu thương |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Tác phẩm nói về đề tài người lao động: người bán xôi, người bán quần áo, người bán thức ăn,…
→ Đáp án: A
|
Câu 3: Nhân vật chính, nội dung của truyện ngắn là: A. Ông Hai. Vận động từ thiện. B. Tư mắm. Phân loại hàng từ thiện. C. Bà Hai. Công việc thiện nguyện hàng ngày. D. Không có nhân vật chính. Cả chợ làm từ thiện. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và rút ra kết luận về nhân vật và nội dung chính
Dựa vào tiêu đề của văn bản
Lời giải chi tiết:
Nhân vật chính của văn bản là Bà Hai. Nội dung chính là: Công việc thiện nguyện hàng ngày
→ Đáp án: C
|
Câu 4: Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể? A. Công việc làm ăn thường xuyên của vợ chồng bà Hai; những ngày mưa làm ăn thật vất vả; ông bà Hai và cả chợ làm từ thiện; suy nghĩ của bà Hai cách làm từ thiện hiệu quả. B. Vợ chồng bà Hai tổng hợp hàng từ thiện; công việc làm ăn thường xuyên của vợ chồng bà Hai; những ngày mưa làm ăn thật vất vả; ông bà Hai và cả chợ làm từ thiện; suy nghĩ của bà Hai cách làm từ thiện hiệu quả. C. Ông bà Hai, cả chợ làm từ thiện; suy nghĩ của bà Hai cách làm từ thiện. D. Công việc làm ăn thường xuyên của vợ chồng bà Hai; suy nghĩ của bà Hai cách làm từ thiện hiệu quả. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và sắp xếp trình tự được kể
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Trình tự kể: Vợ chồng bà Hai tổng hợp hàng từ thiện; công việc làm ăn thường xuyên của vợ chồng bà Hai; những ngày mưa làm ăn thật vất vả; ông bà Hai và cả chợ làm từ thiện; suy nghĩ của bà Hai cách làm từ thiện hiệu quả.
→ Đáp án: B
|
Câu 5: Dòng nào nói đúng việc sử dụng ngôi kể của tác phẩm? A. Ngôi thứ ba. B. Ngôi thứ nhất. C. Ngôi thứ 3 và ngôi thứ nhất. D. Hai người kể chuyện từ ngôi thứ nhất. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Tác phẩm được kể theo ngôi thứ 3 (người kể chuyện giấu mình)
→ Đáp án: A
|
Câu 6: Nhân vật bà Hai được khắc họa qua: A. Hành động, suy nghĩ. B. Lời nói, hành động. C. Hành động, lời nói, suy nghĩ, lời người kể chuyện. D. Ngoại hình, hành động. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các chi tiết miêu tả nhân vật bà Hai
Lời giải chi tiết:
Nhân vật bà Hai được khắc họa qua Hành động, lời nói, suy nghĩ, lời người kể chuyện
→ Đáp án: C
|
Câu 7: Vì sao, tác giả khẳng định: “Uy tín bà Hai bán xôi thật oách, chỉ mới năm ngày phát động mà gần như cả chợ nhiệt liệt tham gia"? A. Vì bà Hai luôn làm từ thiện, mọi người tin bà. B. Vì bà Hai luôn bán xôi chịu cho người khó khăn. C. Cái nắm xôi lá chuối con con của bà Hai lo trọn bữa cơm chiều rẻ tiền cho cả chợ. D. Vì bà Hai làm từ thiện chỉ nhận hàng hóa, không nhận tiền. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Tác giả khẳng định như vậy vì: Bà Hai luôn làm từ thiện, mọi người tin bà
→ Đáp án: A
|
Câu 8: “Nhìn mấy đứa con nít ngây thơ, quần áo tả tơi bấu víu nhau chạy lũ thấy thương hết sức, cứ nghĩ tụi nó là con mình thì lại càng thương” là suy nghĩ của ai? A. Ông Hai. B. Tư Mắm. C. Bà Hai. D. Tâm Hội. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Câu nói trên là suy nghĩ của Bà Hai
→ Đáp án: C
Câu 9: Phân tích nghệ thuật kể chuyện và dụng ý của tác giả trong đoạn văn sau:
“Ông Hai mỉm cười ngồi nhìn bà Hai từ góc tối trong nhà. Bóng bà Hai nhỏ thó, liêu xiêu bên bậu cửa với mái đầu bạc mờ những giọt mưa. Bà đang nhẩm tính gì đó bên những đôi giày cao gót chỏng chơ, sặc sỡ”
Phương pháp
Đọc kĩ đoạn văn
Vận dụng kiến thức về nghệ thuật kể chuyện
Lời giải chi tiết
- Nghệ thuật: Kể kết hợp tả, chú ý tả thực hình ảnh bà Hai bằng hàng loạt tính từ nhỏ thó, liêu xiêu, mái đầu bạc; hình ảnh ông Hai mỉm cười
→ Hai ông bà đều cùng chí hướng giúp người nghèo hơn mình, họ làm việc đó tự nguyện, với niềm vui góp sức nhỏ giúp người trong cơn hoạn nạn
- Nghệ thuật tương phản: 2 người già trong khung cảnh ảm đạm tương phản với những giày cao gót chỏng chơ, sặc sỡ → khiến độc giả phải suy nghĩ về những tấm lòng nhân hậu về cách làm từ thiện giúp người đang đói khổ trong mưa lũ
Câu 10: Cảm nhận của em về hình tượng nhân vật bà Hai trong tác phẩm trên (bằng đoạn văn dài từ 5-7 câu)
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Phân tích nhân vật bà Hai và nêu cảm nhận của em
Lời giải chi tiết
- Cảm nhận được tính cách, phẩm chất đáng quý ở nhân vật bà Hai: nghèo khó, vất vả nhưng xởi lởi, nhân hậu; suy nghĩ sâu sắc; làm từ thiện cụ thể hữu ích, chân tình
- Chủ động thể hiện nhận xét chủ quan của cá nhân nhưng phải phù hợp với tác phẩm và văn hóa của dân tộc
- Đoạn văn có mở- thân và kết; có liên kết câu và đảm bảo mạch lạc
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (6 điểm)
|
Suy nghĩ của em về công việc làm từ thiện đối với học sinh THCS hiện nay |
Phương pháp:
Dựa vào những kiến thức và kĩ năng đã học
Lời giải chi tiết:
|
|
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Nêu vấn đề bàn luận - Thái độ đối với hiện tượng |
|
Thân bài |
2,5 |
- Làm rõ cách hiểu về hoạt động từ thiện; biểu hiện của việc làm từ thiện đích thực - Lý do, nguồn gốc của hoạt động - Phân tích giá trị, ý nghĩa của hoạt động từ thiện - Cách làm từ thiện hiệu quả nhất |
|
Kết bài |
0,5 |
- Quan điểm của cá nhân về hoạt động từ thiện - Nhận thức và hành động của bản thân, việc làm của HS THCS trong công việc từ thiện |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (tách các luận điểm/ ý kiến) - Thể hiện rõ quan điểm cá nhân (đồng tình/phản bác) - Dẫn chứng đa dạng phù hợp với lý lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 9
Đề thi
I. Đọc hiểu (6đ)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi phía dưới:
NGƯỜI BÁN THAN VÀ ÔNG QUÝ PHÁI (*)
(EDMOND DE AMICIS)
Thứ hai, ngày mồng 7 tháng 11
Carlô Nôbix lúc nào cũng kiêu hãnh vì sinh ra ở nơi quyền quý và giàu có. Cha anh vẻ người phong nhã, đứng đắn, trán rộng, râu đen, thường đưa anh đến trường.
Sáng qua, Carlô cãi nhau với Betty là con một người bán than. Cùng lý, anh chẳng tìm được lời gì, phát cáu nói:
Bố mày là đồ bần tiện!
Betty đỏ mặt, không nói được nữa, nước mắt chạy quanh.
Trưa về, Betty kể lại cho cha hay. Buổi chiều, ông bố lập tức ra trường phàn nàn với thầy giáo. Ông ta đang phân trần thì theo lệ thường, ông Nôbix cũng vừa đến cổng và cởi áo khoác cho con. Nghe thấy có người nói đến tên mình, ông tiến vào xem có việc gì.
Ông Perbôni nói:
- Kìa ông Nôbix đã đến! Vừa khéo! Ông này đang đến phàn nàn vì Carlô đã mắng con ông ấy bằng câu “Bố mày là đồ bần tiện!”
Ông Carlô cau mày và hơi đổi sắc mặt, quay lại hỏi con:
- Có thực con đã nói thế?
Carlô đứng ngây như gỗ, cúi đầu im lặng.
Ông Carlô xin phép dắt con đến chỗ Betty và bảo:
- Con xin lỗi anh Betty đi!
- Thưa ngài xin thôi!
Người hàng than nói thế và toan chạy vào ngăn lại, nhưng ông quý phái không nghe, cứ bắt con xin lỗi:
Con nhắc lại câu này: Anh Betty ơi! Tôi xin lỗi anh về lời bất nhã và vô ý thức mà tôi đã trót nói phạm đến cha anh, người mà cha tôi rất lấy làm hân hạnh được bắt tay.
Không dám ngẩng mặt, Carlô cứ nguyên văn nhắc lại những câu cha vừa dạy bằng giọng thấp. Rồi ông Nôbix đưa tay cho người bán than bắt một cách rất nồng nàn.
Bắt tay xong “Bá tước” quay lại nói với thầy giáo.
- Thưa ngài, xin ngài làm ơn cho hai đứa trẻ này ngồi liền nhau.
Ông Perbôni đặt luôn Betty ngồi cạnh Carlô. Khi chúng đã yên chỗ, ông Carlô chào và trở ra.
Ông hàng than đứng lại một lúc, bâng khuâng, do dự. Ông ngắm hai trẻ ngồi sánh vai nhau, rồi chẳng nói chẳng rằng, ông chạy lại toan ôm lấy Carlô, song đến nơi ông bỗng dừng lại, đành lấy bàn tay chuối hột sẻ vuốt tóc anh Carlô rồi ra thẳng.
Thầy giáo bảo chúng tôi:
- Các con hãy nhớ lấy tấn kịch mà các con vừa xem. Đó là một bài học hay nhất trong năm.
* Chú thích:
(*) Có sách ghi: tác phẩm trích từ TÂM HỒN CAO THƯỢNG, Tác giả O’ Henrry
Câu hỏi
Câu 1. Dấu hiệu nào KHÔNG cho biết văn bản trên là truyện ngắn?
A. Nhân vật ít.
B. Dung lượng ngắn (gần 2 trang).
C. Ít sự việc (diễn ra trong thời gian rất ngắn).
D. Phản ánh số phận nhân vật qua nhiều thăng trầm.
Câu 2. Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm?
A. Bạn bè.
B. Thầy trò.
C. Học đường.
D. Ứng xử.
Câu 3. Nhân vật chính của truyện ngắn là:
A. Carlô.
B. Thầy giáo.
C. Betty.
D. Hai người cha.
Câu 4. Người bán than và ông quý phái kể về sự việc gì?
A. Kể việc Carlô cãi nhau với Betty, Carlô xúc phạm bố Betty.
B. Kể việc Carlô cãi nhau với Betty. Carlô nói không hay về bố của Betty và ứng xử của hai ông bố trước sự việc đó.
C. Kể việc Carlô đánh Betty và cuộc cãi cọ của hai ông bố trước sự việc đó.
D. Kể việc Carlô đánh nhau với Betty và những ứng xử, dàn xếp của thầy giáo trước sự việc đó.
Câu 5. Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể của tác phẩm?
A. Carlô cãi nhau với Betty - Carlô nói về bố của Betty - bố của Betty đến gặp thầy giáo - bố Carlô xuất hiện chào và xin lỗi.
B. Carlô cãi nhau với Betty - Carlô nói về bố của Betty - bố của Betty đến gặp thầy giáo - bố Carlô xuất hiện chào và xin lỗi - Lời nhắc nhở của thấy giáo.
C. Carlô cãi nhau với Betty - bố của Betty đến gặp thầy giáo - bố Carlô xuất hiện chào và xin lỗi - xin cho 2 đứa trẻ ngồi cạnh nhau – Lời nhắc nhở của thấy giáo.
D. Carlô nói về bố của Betty - Carlô cãi nhau với Betty - bố của Betty den gặp thầy giáo - bổ Carlô xuất hiện chào và xin lỗi - xin cho 2 đứa trẻ ngồi cạnh nhau.
Câu 6. Dòng nào KHÔNG nói lên lí do Carlô nói bố của Betty là đồ bận tiện
A. Cùng lý, Carlô chẳng tìm được lời gì.
B. Phát cáu nói bừa không suy nghĩ.
C. Sẵn kiêu hãnh vì sinh ra ở nơi quyền quý và giàu có.
D. Vì sự thật bố của Betty rất bần tiện.
Câu 7.“ Đồ bần tiện” trong Người bán than và ông quý phái được hiểu như thế nào?
A. Có những tính toán về tiền nong một cách nhỏ nhen.
B. Bần tiện: không rộng rãi, có những tính toán về tiền nong một cách nhỏ nhen, đáng khinh (tiếng mắng chửi).
C. Là người nghèo, làm công việc chân tay.
D. Là người ăn xin đáng thương.
Câu 8. Vì sao khi nghe Carlô nói bố mình là “đồ bần tiện”, Betty đỏ mặt, khỏi nói được nữa và bố của Betty phải đến gặp thầy giáo?
A. Vì Betty và bố của Betty đều cảm thấy mình bị coi thường và xúc phạm
B. Vì Carlô là học sinh làm nói những lời không hay.
C. Vì bố của Betty không phải là người bần tiện.
D. Vì lo lắng Carlô sẽ là một học sinh hư hỏng.
Câu 9. Nếu là Betty trong câu chuyện trên (khi bị bạn nói cha mình là đồ bần tiện) em sẽ ứng xử với Carlô như thế nào? Nói rõ ít nhất 2 lí do cho việc ứng xử đó (1đ)
Câu 10. Em rút ra được bài học gì từ ứng xử của hai bố con nhà Carlô trong câu chuyện? Em đã bao giờ coi thường và xúc phạm người khác chưa? Nếu đã từng, em sẽ điều chỉnh hành vi của mình như thế nào? (trả lời bằng đoạn văn dài 6-8 câu) (1đ)
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)
TÍNH KHOE KHOANG – THỨ HAI, NGÀY MỒNG 5
(EDMOND DE AMICIS)
Hôm qua, tôi đi chơi với anh Vôtini và cha anh. Khi qua phố Đôra, chúng tôi thấy anh Xtađia đang quay lại đá vung mấy người bạn đã vô ý dẫm phải chân anh trong khi anh mải nhìn một bản địa đồ treo trong hiệu sách (vì anh học cả ở trường). Chúng tôi gọi, anh chỉ hơi chào trả, thực là thiếu lịch sự!
Chúng tôi mặc anh và thẳng đường đi. Tôi để ý nhìn anh Vôtini thì bao giờ anh cũng ăn mặc xa hoa quá thể, đối với một đứa trẻ con như anh. Giày da dê, áo nẹp thêu, mũ phớt trắng, đồng hồ vàng. Anh ra bộ giương giương tự đắc lắm, nhưng lần này thì bị nhụt!
Cha anh thủng thỉnh đi sau, còn anh và tôi thì chạy trước. Chúng tôi đến một cái ghế đá, đã thấy có một cậu bé cúi đầu ngồi nghỉ, vẻ mệt nhọc. Một người đàn ông nữa, có lẽ là cha cậu, đi tản bộ dưới bóng cây, xem báo. Hai chúng tôi cùng ngồi ghế. Anh Vôtini len ngồi giữa tôi và cậu bé và tìm cách làm cho cậu chú ý đến mình.
Anh giơ một chân lên hỏi tôi:
- Anh đã xem đôi giày bốt tin kiểu “sĩ quan” của tôi rồi chứ?
Anh nói thế cốt để cậu bé kia nhìn đôi giày mới của anh nhưng cậu bé không hề liếc mắt.
Thấy vô hiệu, anh bỏ chân xuống rồi vừa trỏ vào những cái “lon” kim tuyến ở tay áo, vừa liếc sang cậu bé mà bảo tôi rằng:
- Này anh ! Lối viền này coi rợn quá ! Tôi định thay bằng bộ cúc bạc!
Nhưng cũng phí lời, vì cậu bé ngồi yên như thường.
Anh Vôtini liền đặt mũ lên ngón tay trỏ quay tít. Cậu bé nhất định không nhìn.
Tức mình, anh rút luôn đồng hồ, mở nắp cho tôi xem các bánh xe. Nhưng cậu hàng xóm vẫn không nhúc nhích.
Tôi hỏi:
-Đồng hồ anh mạ vàng?
Anh đáp :
- Không. Bằng vàng cả.
- Nhưng bao giờ người ta cũng pha ít bạc vào.
-Không. Tôi cam đoan với anh rằng đồng hồ tôi toàn vàng.
Rồi cố ý bắt cậu bé kia phải trả lời, anh giơ đồng hồ ngang mặt cậu và nói
- Này anh coi, có phải bằng vàng cả không?
Cậu kia trả lời cụt ngủn.
Tôi không biết.
Như bị trêu chọc, Vôtini kêu:
- A! A! Làm bộ nhỉ!
Anh vừa kêu thì cha anh lại. Ông nhìn cậu bé rồi vội bảo anh:
- Im!
Xong ông ghé vào tai anh nói nhỏ:
- Đứa bé khốn nạn này mù, con ạ!
Vôtini nhìn kỹ cậu bé thì thấy hai con ngươi trơ như cùi nhãn.
Anh kinh ngạc, cứng người, mắt nhìn xuống đất, lẩm bẩm:
- Chết chửa ! Mình không biết...
Cậu bé mù, hiểu cả, nở một nụ cười tử tế thoảng qua nét buồn nói:
- Không hề gì...
Xét ra, Vôtini là một kẻ hợm mình thực, nhưng lòng anh không độc vì từ lúc ấy, anh kém vui và có vẻ nghĩ ngợi.
(https://bom.so/eD7IIW)
a. Vì sao tác giả lại đặt tên văn bản lại kèm theo dòng chữ “thứ 2 ngày mồng 5”.
b. Chỉ ra điểm liên quan giữa văn bản Tính khoe khoang – Thứ 2 ngày mồng 5 với văn bản Người bán than và ông quý phái.
Câu 2. Hai văn bản Tính khoe khoang – Thứ 2 ngày mồng 5 và Người bán than và ông quý phái cùng phê phán thói xấu nào của con người? Em hãy viết bài văn trình bày ý kiến của mình về thói xấu đó. (bài viết dài từ 1-1,5 trang vở/giấy thi) (3 điểm)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
Câu 7 (0.25đ) |
Câu 8 (0.25đ) |
|
D |
C |
D |
B |
C |
D |
B |
A |
|
Câu 1. Dấu hiệu nào KHÔNG cho biết văn bản trên là truyện ngắn? A. Nhân vật ít. B. Dung lượng ngắn (gần 2 trang). C. Ít sự việc (diễn ra trong thời gian rất ngắn). D. Phản ánh số phận nhân vật qua nhiều thăng trầm. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại dấu hiệu nhận biết văn bản truyện ngắn
Lời giải chi tiết:
Dấu hiệu KHÔNG cho biết văn bản trên là truyện ngắn: Phản ánh số phận nhân vật qua nhiều thăng trầm (đây là đáp án về nội dung)
→ Đáp án: D
|
Câu 2. Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm? A. Bạn bè. B. Thầy trò. C. Học đường. D. Ứng xử. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý tiêu đề tác phẩm
Lời giải chi tiết:
Đề tài của tác phẩm: Học đường
→ Đáp án: C
|
Câu 3. Nhân vật chính của truyện ngắn là: A. Carlô. B. Thầy giáo. C. Betty. D. Hai người cha. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Nhân vật chính của truyện ngắn là: Hai người cha
→ Đáp án: D
|
Câu 4. Người bán than và ông quý phái kể về sự việc gì? A. Kể việc Carlô cãi nhau với Betty, Carlô xúc phạm bố Betty. B. Kể việc Carlô cãi nhau với Betty. Carlô nói không hay về bố của Betty và ứng xử của hai ông bố trước sự việc đó. C. Kể việc Carlô đánh Betty và cuộc cãi cọ của hai ông bố trước sự việc đó. D. Kể việc Carlô đánh nhau với Betty và những ứng xử, dàn xếp của thầy giáo trước sự việc đó. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Người bán than và ông quý phái kể về sự việc: Kể việc Carlô cãi nhau với Betty. Carlô nói không hay về bố của Betty và ứng xử của hai ông bố trước sự việc đó
→ Đáp án: B
|
Câu 5. Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể của tác phẩm? A. Carlô cãi nhau với Betty - Carlô nói về bố của Betty - bố của Betty đến gặp thầy giáo - bố Carlô xuất hiện chào và xin lỗi. B. Carlô cãi nhau với Betty - Carlô nói về bố của Betty - bố của Betty đến gặp thầy giáo - bố Carlô xuất hiện chào và xin lỗi - Lời nhắc nhở của thấy giáo. C. Carlô cãi nhau với Betty - bố của Betty đến gặp thầy giáo - bố Carlô xuất hiện chào và xin lỗi - xin cho 2 đứa trẻ ngồi cạnh nhau – Lời nhắc nhở của thấy giáo. D. Carlô nói về bố của Betty - Carlô cãi nhau với Betty - bố của Betty den gặp thầy giáo - bổ Carlô xuất hiện chào và xin lỗi - xin cho 2 đứa trẻ ngồi cạnh nhau. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Ghi chép và sắp xếp trình tự kể của tác phẩm
Lời giải chi tiết:
Các sự việc đúng trình tự kể của tác phẩm: Carlô cãi nhau với Betty - bố của Betty đến gặp thầy giáo - bố Carlô xuất hiện chào và xin lỗi - xin cho 2 đứa trẻ ngồi cạnh nhau – Lời nhắc nhở của thấy giáo
→ Đáp án: C
|
Câu 6. Dòng nào KHÔNG nói lên lí do Carlô nói bố của Betty là đồ bận tiện A. Cùng lý, Carlô chẳng tìm được lời gì. B. Phát cáu nói bừa không suy nghĩ. C. Sẵn kiêu hãnh vì sinh ra ở nơi quyền quý và giàu có. D. Vì sự thật bố của Betty rất bần tiện. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Tìm lý do Carlô nói bố của Betty là đồ bận tiện
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Dòng KHÔNG nói lên lí do Carlô nói bố của Betty là đồ bận tiện: Vì sự thật bố của Betty rất bần tiện
→ Đáp án: D
|
Câu 7.“ Đồ bần tiện” trong Người bán than và ông quý phái được hiểu như thế nào? A. Có những tính toán về tiền nong một cách nhỏ nhen. B. Bần tiện: không rộng rãi, có những tính toán về tiền nong một cách nhỏ nhen, đáng khinh (tiếng mắng chửi). C. Là người nghèo, làm công việc chân tay. D. Là người ăn xin đáng thương. |
Phương pháp:
Tìm hiểu nghĩa của từ “người bần tiện”
Áp dụng vào văn bản cụ thể
Lời giải chi tiết:
“Đồ bần tiện” trong Người bán than và ông quý phái được hiểu: Bần tiện: không rộng rãi, có những tính toán về tiền nong một cách nhỏ nhen, đáng khinh (tiếng mắng chửi)
→ Đáp án: B
|
Câu 8. Vì sao khi nghe Carlô nói bố mình là “đồ bần tiện”, Betty đỏ mặt, khỏi nói được nữa và bố của Betty phải đến gặp thầy giáo? A. Vì Betty và bố của Betty đều cảm thấy mình bị coi thường và xúc phạm B. Vì Carlô là học sinh làm nói những lời không hay. C. Vì bố của Betty không phải là người bần tiện. D. Vì lo lắng Carlô sẽ là một học sinh hư hỏng. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Khi nghe Carlô nói bố mình là “đồ bần tiện”, Betty đỏ mặt, khỏi nói được nữa và bố của Betty phải đến gặp thầy giáo vì: Betty và bố của Betty đều cảm thấy mình bị coi thường và xúc phạm
→ Đáp án: A
Câu 9. Nếu là Betty trong câu chuyện trên (khi bị bạn nói cha mình là đồ bần tiện) em sẽ ứng xử với Carlô như thế nào? Nói rõ ít nhất 2 lí do cho việc ứng xử đó (1đ)
Phương pháp
HS trả lời theo ý kiến của cá nhân
Lời giải chi tiết
Tham khảo gợi ý (tránh xung đột, ẩu đả)
+ Ứng xử một cách điềm tĩnh
+ Phản ứng mạnh, thẳng thắn
Câu 10. Em rút ra được bài học gì từ ứng xử của hai bố con nhà Carlô trong câu chuyện? Em đã bao giờ coi thường và xúc phạm người khác chưa? Nếu đã từng, em sẽ điều chỉnh hành vi của mình như thế nào? (trả lời bằng đoạn văn dài 6-8 câu) (1đ)
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
HS trả lời theo ý kiến của cá nhân
Lời giải chi tiết
- Bài học ứng xử:
+ Rút kinh nghiệm không phát ngôn thiếu cân nhắc (xúc phạm, hạ thấp người khác) của bạn Carlô
+ Học tập ứng xử, thái độ sống đúng mực của bố Carlô: tôn trọng người lao động, mọi người đều bình đẳng
- Em đã bao giờ coi thường và xúc phạm người khác: Học sinh tự kiểm điểm lại các ứng xử của mình trong quá khứ…
- Điều chỉnh hành vi: Học sinh tự trả lời cho phù hợp với những ứng xử của mình
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1
a. Vì sao tác giả lại đặt tên văn bản lại kèm theo dòng chữ “thứ 2 ngày mồng 5”.
b. Chỉ ra điểm liên quan giữa văn bản Tính khoe khoang – Thứ 2 ngày mồng 5 với văn bản Người bán than và ông quý phái.
Phương pháp giải
a. Dựa vào nội dung văn bản để lý giải
b. Đọc kĩ 2 văn bản
Lời giải chi tiết
a. Để gắn với mốc thời gian nhằm ghi nhớ lỗi lầm
b. Tự cao, tự đại (bạn Carlô; khoe khoang hợm hĩnh của Vôtini)
Câu 2. Hai văn bản Tính khoe khoang – Thứ 2 ngày mồng 5 và Người bán than và ông quý phái cùng phê phán thói xấu nào của con người? Em hãy viết bài văn trình bày ý kiến của mình về thói xấu đó. (bài viết dài từ 1-1,5 trang vở/giấy thi) (3 điểm)
Phương pháp:
Dựa vào những kiến thức và kĩ năng đã học
Lời giải chi tiết:
|
Hai văn bản Tính khoe khoang – Thứ 2 ngày mồng 5 và Người bán than và ông quý phái cùng phê phán thói xấu nào của con người? Em hãy viết bài văn trình bày ý kiến của mình về thói xấu đó. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Trả lời vế đầu: Tự cao, tự đại; khoe khoang, hợm hĩnh - Xác định đúng và nêu vấn đề bàn luận… - Thái độ bản thân đối với vấn đề bàn luận… |
|
Thân bài |
1,5
|
- Làm rõ cách hiểu: Tự cao, tự đại; khoe khoang, hợm hĩnh - Biểu hiện: Tự cao, tự đại ; khoe khoang, hợm hĩnh - Tác hại của thói tự cao, tự đại; khoe khoang, hợm hĩnh + Coi thường, hạ thấp người khác + Bị đánh giá là vênh váo → mọi người xa lánh, tự tách mình khỏi tập thể - Người viết thể hiện quan điểm của mình về thói quen xấu *Lưu ý: ở mỗi đoạn (1 luận điểm) có đủ 3 yếu tố - Câu nêu ý kiến - Lí lẽ - Dẫn chứng |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định tác hại của tự cao, tự đại; khoe khoang hợm hĩnh - Nhận thức, hành động của bản thân |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Dẫn chứng đa dạng phù hợp với lý lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 10
Đề thi
I. Đọc hiểu (6đ)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi phía dưới:
QUẢ TRỨNG VÀNG
(Tạ Duy Anh)
“Có những chuyện thường ngày lại y như cổ tích. Một lúc nào đó khi chợt nhớ lại, chính bản thân ta cũng phải ngạc nhiên về sự kỳ diệu của nó..”.
Tú Minh loay hoay ghi lại dòng nhật ký vào cuốn sổ lưu niệm cho riêng bản thân cậu. Cậu đã ở tuổi mười hai, có nghĩa là thời thơ ấu đang vùn vụt lao qua những “ga” cuối cùng. Điều này không phải không có lúc làm cậu day dứt. Nhưng chả thể làm gì được. Cậu chép miệng nuối tiếc và nhắm mắt lại, lẩm bẩm nói với chính mình:
“Thật ra tất cả bắt đầu từ những lời cầu mong tốt đẹp”.
…. Hôm nay Tú Minh từ trường về nhà. Lúc sắp vào cổng, cậu nhìn thấy vật gì trăng trắng trong đám lá tre khô. Cậu lại gần thì nhận ra vật trăng trắng đó là quả trứng gà.
- Ồ, một quả trứng gà. Cậu thầm kêu lên. Tại sao nó bị rơi vãi ở đây nhỉ
Tú Minh lượm quả trứng lên ngắm nghía. Chắc chị mái nâu nào đó trở dạ quá nhanh khi qua đây. “Thật may là mình phát hiện ra, nếu không đêm nay nó sẽ vào bụng một con rắn nào đó cũng nên”.
Minh mân mê quả trứng và cảm thấy cơn đói cứ rõ dần. Món trứng ốp-lết cũng được lắm. Chỉ cần một chút mỡ, một chút muối tiêu. Hoặc đơn giản hơn là thả béng vào nồi nước sôi và chỉ dăm bảy phút sau là có thể ngồi khoanh chân nhấm nháp vị béo ngậy của trứng luộc.
Nhưng Minh chợt nghĩ: “Mình ăn chỉ một miếng là hết, sẽ chẳng còn cơ hội nào cho mình được ngắm quả trứng đẹp đến nhường kia. Chi bằng đem đặt vào chiếc hũ sành để xuống cạnh bếp, biết đâu chả khối điều kỳ lạ xảy ra”
Minh lấy giấy bọc chặt rồi cẩn thận đặt vào chiếc hũ, không quên chèn trấu chung quanh. Cậu bê chiếc hũ đặt cạnh bếp lò, nơi mỗi tối và mỗi sáng cậu đều giúp mẹ nhóm lửa. Quả trứng trở thành người bạn im lặng của Tú Minh. Sáng nào cậu cũng thì thẩm nói một điều ước gì đó. Những điều ước của cậu đều tốt đẹp. Chẳng hạn có sáng cậu ước: “Giá như mày có thể biến thành một quả trứng vàng để tao đem chia cho các bạn nghèo trong lớp”. Điều ước này bám riết theo cậu hơn cả và có lúc nó làm cho cậu chán nản, thất vọng vì biết chắc đó là điều không bao giờ có thật.
Một buổi sáng, giống như mọi hôm. Tú Minh xuống bếp cời lò và ao ước. Chợt cậu nghe thấy tiếng cựa rất nhỏ, rất yếu ớt, như thể tiếng vươn mình của chồi cỏ sau cơn mưa. Thoạt đầu cậu nghĩ đến con chuột gian manh nào đó xơi tái quả trứng, đánh một giấc no nê đang trở mình. Nhưng tiếng cựa chỉ thoảng qua và hoàn toàn khác với tiếng sột soạt của giấy. Cậu hồi hộp mở nắp hũ ra rồi cẩn thận gỡ từng lớp giấy. Quả trứng không hề xây sát trừ một lỗ thủng nhỏ và chính cái lỗ thủng đó khiến tim cậu nhảy lên. Điều kỳ diệu đã xảy ra: quả trứng biến thành chú gà con. Quãng trưa thì chú gà vàng rực đã hiện hình ngay trước mắt cậu, có thể vuốt ve được. Tú Minh cảm động muốn khóc khi chú gà nép mình trong bàn tay che chở của cậu. Ngày ngày cậu kiểm môi về cho gà và chả mấy chốc nó đã có thể lẽo đẽo theo cậu đi bắt châu chấu.
Qua thu sang đông rồi hết xuân sang hè, chú gà nhép đã lớn vổng lên thành nàng mái nâu óng ả. Vòng cườm ở cổ nó mới sáng làm sao. Hằng ngày nó tha thẩn kiếm mồi quanh khu vườn và thỉnh thoảng ngơ ngẩn gióng lên những tiếng gọi rất lạ.
Và điều kỳ diệu nữa đã xảy ra: con gà mái của Tú Minh đẻ quả trứng đầu tiên. Tú Minh hả hệ ngắm nghía và không ngớt nghĩ đến những điều tốt đẹp. Sau khi đẻ nốt quả trứng thứ mười hai, con mái nâu đòi ấp. Tú Minh lót cho nó một chiếc ổ đẹp tuyệt trần, có lưới bảo vệ rất cẩn thận. Từ đây trở đi mọi việc xem ra suôn sẻ hơn. Đến kỳ đến hạn, cả mười hai chú gà con đều sinh nở an toàn. Lần này Tú Minh chỉ có một việc là dựng cho mẹ con mái nâu một nếp nhà xinh xắn và chắc chắn.
Nhiều lúc đứng xem đàn gà chạy nhảy, Tú Minh lại hơi giật mình nhớ đến đoạn cậu nhìn thấy quả trứng lẫn trong đám tre. Chỉ cần cậu thả vào nồi nước, đun lên là mọi phép lạ chấm dứt luôn. Sẽ chẳng bao giờ cậu có cái cảm giác sướng run người khi nhìn thấy lũ gà, hiện thân của những điều ước. Sẽ chẳng có cả cái kết thúc mà dù cậu cam đoan không hề bịa mảy may, lũ bạn cậu vẫn ngơ ngác nhìn nhau: “Chẳng lẽ thằng Minh đã thành nhà văn”. Bởi vì một câu chuyện như thế chỉ có thể được sáng tạo bởi chính cuộc sống.
Nào, để xem mình có bịa tí nào không nhỉ? Bắt đầu từ quả trứng và những điều ước... Rồi sau đó cuộc sống đã kể tiếp câu chuyện bằng sự kỳ diệu do chính nó tạo nên, chẳng ai bịa được hay đến vậy.
Cậu hoàn toàn an tâm với những dòng nhật ký.
(https://bom.so/MFuZwH)
Câu hỏi
Câu 1. Dòng nào KHÔNG nói lên đặc điểm chính của văn bản Quả trứng vàng?
A. Nhân vật ít.
B. Dung lượng ngắn (gần 2 trang).
C. Sự việc diễn ra trong phạm vi không gian hẹp.
D. Sự việc diễn ra qua hồi tưởng.
Câu 2. Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm?
A. Làng quê.
B. Tuổi thơ.
C. Tình yêu con vật.
D. Giàu tình thương yêu.
Câu 3. Nhân vật chính của văn bản Quả trứng vàng?
A. Quả trứng
B. Tú Minh.
C. Con gà mái.
D. Chú gà nhép.
Câu 4. Văn bản Quả trứng vàng kể về sự việc gì?
A. Tú Minh nhặt được quả trứng gà và tưởng tượng ra một đàn gà.
B. Tú Minh ước nhặt được quả trứng gà và sẽ phát triển thành một đàn gà.
C. Tú Minh nhặt được quả trứng gà và ấp ủ để nở thành con gà, đàn gà.
D. Tú Minh mơ mình nhặt được quả trứng gà và ấp ủ để nở thành con gà.
Câu 5. Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể của tác phẩm?
A. Nhặt trứng - ấp cạnh bếp - gà nở - gà mái nâu và đàn con.
B. Giấc mơ - nhặt trứng - ủ trứng cạnh bếp - gà nở - gà mái nâu và đàn con.
C. Ước mơ về đàn gà - nhặt trứng - ủ cạnh bếp - gà nở - gà mái nâu.
D. Ủ cạnh bếp - gà nở - gà mái nâu và đàn con.
Câu 6. Dòng nào KHÔNG thể hiện sự đấu tranh trong nhân vật Tú Minh
A. Mình ăn chỉ một miếng là hết, sẽ chẳng còn cơ hội nào cho mình được ngắm quả trứng đẹp đến nhường kia.
B. Món trứng ốp-lết, hoặc nhấm nháp vị béo ngậy của trứng luộc.
C. Cậu bê chiếc hũ đặt cạnh bếp, nơi mỗi tối, mỗi sáng cậu giúp mẹ nhóm lùa
D. Chi bằng đem đặt vào chiếc hũ sành để xuống cạnh bếp, biết đâu chả khối điều kỳ lạ xảy ra.
Câu 7. Tú Minh đã đấu tranh với đối thủ nào?
A. Bản năng con người của chính mình.
B. Thói háu đói của mình.
C. Lời dụ dỗ của các bạn trong lớp.
D. Với ước mơ của chính mình.
Câu 8. Cậu đã ở tuổi mười hai, có nghĩa là thời thơ ấu đang vùn vụt lao qua những “ga” cuối cùng được hiểu như thế nào?
A. Tú Minh đang mơ ước quay lại thời thơ ấu.
B. Thời thơ ấu đang trôi qua rất nhanh.
C. Tú Minh đang nuối tiếc tuổi thơ ấu của mình.
D. Cần nâng niu kỉ niệm thời thơ ấu.
Câu 9. Phân tích, đánh giá nghệ thuật kể chuyện (kể việc, cách dùng từ, diễn tả cảm xúc) của tác giả trong đoạn văn bản sau (1đ)
Một buổi sáng, giống như mọi hôm. Tú Minh xuống bếp cời lò và ao nghe thấy tiếng cựa rất nhỏ, rất yếu ớt, như thể tiếng của chồi cỏ sau cơn mưa. Thoạt đầu cậu nghĩ đến con chuột gian manh nào đó xơi tái quả trứng, đánh một giấc no nê đang trở mình. Nhưng tiếng cựa chỉ thoảng qua và hoàn toàn khác với tiếng sột soạt của giấy. Cậu hồi hộp mở nắp hũ ra rồi cẩn thận gỡ từng lớp giấy. Quả trứng không hề xây sát trừ một lỗ thủng nhỏ và chính cái lỗ thủng đó khiến tim cậu nhảy lên. Điều kỳ diệu đã xảy ra: quả trứng biến thành chú gà con.
Câu 10. Nhân vật Tú Minh có đặc điểm nổi bật nào? Cảm nhận của em về nhân vật này (trả lời từ 6-8 dòng) (1đ)
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Quan sát 6 bức ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)






a. Gọi tên trò chơi/ việc làm ở từng bức ảnh. Em thích trò chơi/ việc làm nào nhất? Trò chơi/ việc làm nào gợi nhớ kỉ niệm tuổi thơ của em?
b. Tham gia lao động hợp với lứa tuổi, trò chơi ở ngoài trời có tác dụng như thế nào đối với sức khỏe, trí tuệ và tình cảm của con người (trả lời từ 4-6 dòng)
Câu 2. Kể lại một việc làm/ một trò chơi mà em đã tham gia (những năm học tiểu học) khiến em thấy yêu lao động và thiên nhiên hơn (có độ dài từ 1-1,5 trang) (3đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
Câu 7 (0.25đ) |
Câu 8 (0.25đ) |
|
D |
B |
B |
C |
A |
C |
A |
B |
|
Câu 1. Dòng nào KHÔNG nói lên đặc điểm chính của văn bản Quả trứng vàng? A. Nhân vật ít. B. Dung lượng ngắn (gần 2 trang). C. Sự việc diễn ra trong phạm vi không gian hẹp. D. Sự việc diễn ra qua hồi tưởng. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về đặc điểm của văn bản truyện ngắn
Lời giải chi tiết:
Dòng không nói lên đặc điểm chính của văn bản Quả trứng vàng: Sự việc diễn ra qua hồi tưởng
→ Đáp án: D
|
Câu 2. Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm? A. Làng quê. B. Tuổi thơ. C. Tình yêu con vật. D. Giàu tình thương yêu. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và chú ý tiêu đề
Lời giải chi tiết:
Đề tài của tác phẩm: Tuổi thơ
→ Đáp án: B
|
Câu 3. Nhân vật chính của văn bản Quả trứng vàng? A. Quả trứng B. Tú Minh. C. Con gà mái. D. Chú gà nhép. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Nhân vật chính của văn bản Quả trứng vàng: Tú Minh
→ Đáp án: B
|
Câu 4. Văn bản Quả trứng vàng kể về sự việc gì? A. Tú Minh nhặt được quả trứng gà và tưởng tượng ra một đàn gà. B. Tú Minh ước nhặt được quả trứng gà và sẽ phát triển thành một đàn gà. C. Tú Minh nhặt được quả trứng gà và ấp ủ để nở thành con gà, đàn gà. D. Tú Minh mơ mình nhặt được quả trứng gà và ấp ủ để nở thành con gà. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Văn bản Quả trứng vàng kể về sự việc: Tú Minh nhặt được quả trứng gà và ấp ủ để nở thành con gà, đàn gà
→ Đáp án: C
|
Câu 5. Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể của tác phẩm? A. Nhặt trứng - ấp cạnh bếp - gà nở - gà mái nâu và đàn con. B. Giấc mơ - nhặt trứng - ủ trứng cạnh bếp - gà nở - gà mái nâu và đàn con. C. Ước mơ về đàn gà - nhặt trứng - ủ cạnh bếp - gà nở - gà mái nâu. D. Ủ cạnh bếp - gà nở - gà mái nâu và đàn con. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Ghi chép lại các sự việc theo trình tự kể của tác phẩm
Lời giải chi tiết:
Dòng sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể của tác phẩm: Nhặt trứng - ấp cạnh bếp - gà nở - gà mái nâu và đàn con
→ Đáp án: A
|
Câu 6. Dòng nào KHÔNG thể hiện sự đấu tranh trong nhân vật Tú Minh A. Mình ăn chỉ một miếng là hết, sẽ chẳng còn cơ hội nào cho mình được ngắm quả trứng đẹp đến nhường kia. B. Món trứng ốp-lết, hoặc nhấm nháp vị béo ngậy của trứng luộc. C. Cậu bê chiếc hũ đặt cạnh bếp, nơi mỗi tối, mỗi sáng cậu giúp mẹ nhóm lùa D. Chi bằng đem đặt vào chiếc hũ sành để xuống cạnh bếp, biết đâu chả khối điều kỳ lạ xảy ra. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Dòng KHÔNG thể hiện sự đấu tranh trong nhân vật Tú Minh: Cậu bê chiếc hũ đặt cạnh bếp, nơi mỗi tối, mỗi sáng cậu giúp mẹ nhóm lùa
→ Đáp án: C
|
Câu 7. Tú Minh đã đấu tranh với đối thủ nào? A. Bản năng con người của chính mình. B. Thói háu đói của mình. C. Lời dụ dỗ của các bạn trong lớp. D. Với ước mơ của chính mình. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Tú Minh đã đấu tranh với bản năng con người của chính mình
→ Đáp án: A
|
Câu 8. Cậu đã ở tuổi mười hai, có nghĩa là thời thơ ấu đang vùn vụt lao qua những “ga” cuối cùng được hiểu như thế nào? A. Tú Minh đang mơ ước quay lại thời thơ ấu. B. Thời thơ ấu đang trôi qua rất nhanh. C. Tú Minh đang nuối tiếc tuổi thơ ấu của mình. D. Cần nâng niu kỉ niệm thời thơ ấu. |
Phương pháp:
Đọc kĩ câu văn
Liên kết với chỉnh thể toàn văn bản
Lời giải chi tiết:
Cậu đã ở tuổi mười hai, có nghĩa là thời thơ ấu đang vùn vụt lao qua những “ga” cuối cùng được hiểu: Thời thơ ấu đang trôi qua rất nhanh
→ Đáp án: B
Câu 9. Phân tích, đánh giá nghệ thuật kể chuyện (kể việc, cách dùng từ, diễn tả cảm xúc) của tác giả trong đoạn văn bản sau (1đ)
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Chú ý cách dùng từ, từ đó suy ra cảm xúc được diễn tả
Lời giải chi tiết
- Sự việc kể theo trình tự thời gian, đặc biệt chú ý hành động, cảm xúc của nhân vật
- Sự việc thực xen với ý nghĩ của nhân vật chính
- Dùng từ: từ ngữ giàu hình ảnh, âm thanh, cảm xúc (tiếng cựa rất nhỏ, rất yếu ớt, như thể tiếng vươn mình của chồi cỏ sau cơn mưa… tiếng cựa chỉ thoáng qua và hoàn toàn khác với tiếng sột soạt của giấy…); nghệ thuật so sánh
- Mục đích: diễn tả phút giây diệu kì – cảm xúc hồi hộp, những cử chỉ nhẹ nhàng, nâng niu của Tú Minh khi phát hiện quả trứng nở và chú gà con ra đời
Câu 10. Nhân vật Tú Minh có đặc điểm nổi bật nào? Cảm nhận của em về nhân vật này (trả lời từ 6-8 dòng) (1đ)
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Học sinh nêu cảm nhận cá nhân về nhân vật
Lời giải chi tiết
- Tham khảo gợi ý sau:
+ Tú Minh: giàu cảm xúc, giàu trí tưởng tượng; giàu tình thương yêu (mong ước của Tú Minh: giá quả trứng bằng vàng để giúp các bạn); luôn chú ý lắng nghe quan sát để cảm nhận vẻ đẹp, sự chuyển động của cuộc sống; nâng niu, quý trọng sự sống; yêu lao động…; viết nhật kí rất hay
+ Cảm nhận về nhân vật: HS tự cảm nhận (chú ý bám sát đặc điểm của nhân vật, chú ý liên kết, logic của đoạn văn)
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (6 điểm)
Câu 1.
a. Gọi tên trò chơi/ việc làm ở từng bức ảnh. Em thích trò chơi/ việc làm nào nhất? Trò chơi/ việc làm nào gợi nhớ kỉ niệm tuổi thơ của em?
b. Tham gia lao động hợp với lứa tuổi, trò chơi ở ngoài trời có tác dụng như thế nào đối với sức khỏe, trí tuệ và tình cảm của con người (trả lời từ 4-6 dòng)
Phương pháp giải
a. Quan sát kĩ 6 bức ảnh
b. Dựa vào hiểu biết và kiến thức của bản thân
Lời giải chi tiết
a. HS tự làm (bằng việc huy động vốn sống, trải nghiệm của bản thân )
b. Gợi ý: -Giải tỏa căng thẳng sau giờ học
- Rèn luyện sức khỏe (thể lực) qua vận động; rèn luyện tư duy (trí tuệ) qua các quy tắc, luật lệ của từng trò chơi; yêu lao động (qua việc làm)
- Nuôi dưỡng tình cảm: gắn kết với bạn bè; quan sát, lắng nghe cuộc sống, thiên nhiên để giao hòa, yêu thiên nhiên thêm yêu sự sống
Câu 2. Kể lại một việc làm/ một trò chơi mà em đã tham gia (những năm học tiểu học) khiến em thấy yêu lao động và thiên nhiên hơn (có độ dài từ 1-1,5 trang) (3đ)
Phương pháp:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã được học
Lời giải chi tiết:
|
Kể lại một việc làm/ một trò chơi mà em đã tham gia (những năm học tiểu học) khiến em thấy yêu lao động và thiên nhiên hơn |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
Học sinh tự làm, thể hiện rõ màu sắc riêng (nêu rõ tên trò chơi/ hoạt động, địa điểm, thời gian tham gia) |
|
Thân bài |
1,5
|
- Kể đúng câu chuyện theo ngôi kể thứ nhất (việc mình đã làm/ trò chơi mình đã tham gia). - Bối cảnh không gian, thời gian (số lượng người tham gia, không khí nơi diễn ra trò chơi/hoạt động). - Sắp xếp các sự việc chính theo đúng trình tự hợp lí có mở đầu, có diễn biến và kết thúc. - Biết dẫn dắt, chuyển ý chuyển đoạn tạo sự liên kết giữa các sự việc, đảm bảo mạch chính cho bài văn. - Chú ý diễn tả suy nghĩ, cảm xúc của bản thân khi hoạt động, tham gia trò chơi...) - Kể rõ: thời điểm bản thân cảm thấy yêu lao động và thiên nhiên hơn. |
|
Kết bài |
0,5 |
Học sinh tự làm (chú ý sáng tạo riêng, tránh khuôn mẫu) |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (tự sự) - Dùng ngôi kể thứ nhất phải nhất quán, hợp lí |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 11
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Lời má năm xưa
Ở quê tôi, trai gái đều thuộc lòng câu hò:
Chim thằng chài có ngày mắc bẫy
Em cho anh hay anh hãy tránh xa
Mẹ cha không thể chịu hoà
Em đâu dám cãi để mà theo anh!
Mái không ấp trứng, không nuôi con. Con chào đời, tự thích nghi môi trường và rèn kĩ năng sống. Lúc trưởng thành, chúng nhìn nhau, tụ quần bảo vệ nhau và cứ thế tiếp tục trong cõi trần gian. Thằng chài chia sẻ con mồi nếu bạn tình hoặc đồng loại thiếu cái ăn. Nó nhường mặt nước ao hồ, sông rạch nhiều tôm cá cho những thẳng chài già yếu bệnh tật.
Vậy mà, hỏi nhỏ đám trẻ tụi tôi khoái rình bắn thằng chài đậu rình cá trên đầu bặp dừa nước bằng cái ná thun, đạn đất sét vo tròn. Thiệt là, chim rình cá, người rình chim... Cớ sự từ cái rình theo cuộc!
Tôi bị má đánh đòn khi bắn thằng chải rớt bến sông. “Sao con cướp đi sự sống của nó? Rồi, ai cướp sự sống của con?". Má bảo tôi ra bến vớt nó lên. Tôi rửa mặt và làm theo lời má. Thằng chài rớt khi này đã được hai thằng chải khác dùng mỏ quắp qua bên kia mẽ rạch. Nó gãy cánh không chết, nằm sải lai. Tôi đem nó về nhà nuôi và trị thương. Đút cả nó không ăn, đút thứ gì cũng chẳng thèm. Tôi hối hận và bối rối. Mấy hôm, vết thương lành, thằng chài ốm nhóm chỉ chớp cánh, không thể bay vì đuối sức. Tôi mang nó ra vườn để dưới gốc mận gần cầu nước. Trời tỉnh mơ, buổi sáng nhà quê dịu và mát. Bảy thằng chài bu quanh bạn đút mỗi, thấy nó ăn tôi bắt thèm theo. Nó vươn đôi cánh như vươn vai, hót mấy tiếng chắc là cảm ơn và chào tôi.
Gió rung nắng, hương hoa mận bay khắp vườn. Tôi tần ngần nhìn bầu trời xanh và ngẫm nghĩ, thằng chài chính cống “thú diện nhơn tâm!”
Gần bảy mươi năm, từ lúc tôi dùng ná thun bắn thằng chài rớt bến sông; tôi không thể nào quên câu hỏi của má: “Sao con cướp đi sự sống của nó? Rồi, ai cướp sự sống của con?”. Đồng thời, tận đáy lòng, tôi cũng không thể rứt ra được sự hối hận và bối rối mỗi khi nhớ lại câu chuyện cũ.
(Trích Trung họp Phật tính dân gian và môi trường sinh thái, in trong Thương những ngày ..., Trần Bảo Định, tập truyện, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh)
Chú thích: Chim thằng chài: còn gọi là chim bói cá
Câu 1. Chim thằng chài khi chào đời sẽ phải làm gì?
A. Đợi chim mẹ mang thức ăn về, không được ra khỏi tổ.
B. Tự đi kiếm ăn.
C. Đi hỗ trợ mẹ kiếm ăn.
D. Tự thích nghi môi trường và rèn kĩ năng sống.
Câu 2. Thú vui hồi nhỏ của “lũ chúng tôi” là gì?
A. Rình bắn thằng chài đậu rình cá trên đầu bặp dừa nước bằng cái ná thun, đạn đất sét vo tròn.
B. Xem những thằng chài bay qua bay lại trên mặt ao bắt cá.
C. Xem cách chim thằng chài làm tổ trên các ngọn cây và tìm cách bảo vệ chúng.
D. Chữa trị cho những con chim bị thương.
Câu 3. Nhận định nào dưới đây nói đúng nhất về người kể chuyện trong tác phẩm?
A. Người kể chuyện toàn tri có thể nắm bắt được cảm xúc của tất cả các nhân vật trong câu chuyện.
B. Người kể chuyện hạn chi trực tiếp tham dự vào câu chuyện, chứng kiến các sự kiện xảy ra.
C. Người kể chuyện toàn tri đồng thời cũng là một nhân vật trong truyện.
D. Người kể chuyện hạn tri đồng thời nắm bắt đặc cảm xúc của tấc cả các nhân vật trong câu chuyện.
Câu 4. Em hiểu cụm từ “thú diện nhơn tâm” trong văn bản nghĩa là gì?
A. Những loài động vật được con người nuôi nấng tỏ ra trung thành với chủ.
B. Tuy là động vật nhưng lại rất biết báo đáp người có ơn.
C. Mặt là loài cầm thú nhưng lòng dạ lại giống con người.
D. Mặt là loài cầm thú nhưng lại thông minh như con người.
Câu 5. Vì sao sau bao nhiêu năm nhớ lại câu chuyện cũ tác giả lại không thể dứt ra được?
A. Sau bao năm, tác giả không thể dứt ra được bởi ông ân hận vì đã làm tổn thương loài vật yếu ớt.
B. Tác giả không thể dứt ra được bởi ông vẫn chưa hiểu lí do vì sao năm đó người mẹ lại trách mắng.
C. Tác giả không thể dứt ra được vì ông không thể quên được vẻ đẹp của con chim năm đó.
D. Tác giả không dứt ra được vì kỉ niệm đó gắn liền với hình ảnh người mẹ mà ông hằng yêu thương.
Câu 6. Đánh giá nào dưới đây nói đúng về nhân vật má?
A. Má là người biết đến nhân quá báo ứng, không muốn con trai mình sau này sẽ gặp những điều xấu.
B. Má là người yêu thiên nhiên, cây cối, vạn vật. Má truyền lại cho con tình yêu và lòng trắc ẩn đó.
C. Má là người có đời sống rất nguyên tắc, nghiêm chỉnh và chính trực.
D. Má là người rất yêu thương con, rất nghiêm túc, khắt khe trong việc dạy con cái.
Câu 7. Theo em, trong câu chuyện trên ai là người trực tiếp đã cứu sống chim thằng chài? Vì sao em lại nhận định như vậy?
Câu 8. Việc lặp lại câu hỏi của người má: “Sao con cướp đi sự sống của nó? Rồi, ai cướp sự sống của con?” có ý nghĩa gì?
Câu 9. Từ nội dung “câu chuyện cũ” của nhân vật “tôi”, em có suy nghĩ gì về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, loài vật?
II. VIẾT
Câu 1. Em suy nghĩ như thế nào về lòng trắc ẩn? Lòng trắc ẩn có cần thiết trong cuộc sống của con người hay không? Em hãy viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề trên.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
|
D |
A |
B |
C |
A |
B |
|
Câu 1. Chim thằng chài khi chào đời sẽ phải làm gì? A. Đợi chim mẹ mang thức ăn về, không được ra khỏi tổ. B. Tự đi kiếm ăn. C. Đi hỗ trợ mẹ kiếm ăn. D. Tự thích nghi môi trường và rèn kĩ năng sống. |
Phương pháp:
Đọc, tìm ý.
Lời giải chi tiết:
Theo đoạn trích, chim thằng chài khi chào đời sẽ phải tự thích nghi với môi trường sống và rèn kĩ năng sống.
→ Đáp án: D
|
Câu 2. Thú vui hồi nhỏ của “lũ chúng tôi” là gì? A. Rình bắn thằng chài đậu rình cá trên đầu bặp dừa nước bằng cái ná thun, đạn đất sét vo tròn. B. Xem những thằng chài bay qua bay lại trên mặt ao bắt cá. C. Xem cách chim thằng chài làm tổ trên các ngọn cây và tìm cách bảo vệ chúng. D. Chữa trị cho những con chim bị thương. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Theo văn bản, thú vui hồi nhỏ của “lũ chúng tôi” là: Rình bắn thằng chài đậu rình cá trên đầu bặp dừa nước bằng cái ná thun, đạn đất sét vo tròn.
→ Đáp án: A
|
Câu 3. Nhận định nào dưới đây nói đúng nhất về người kể chuyện trong tác phẩm? A. Người kể chuyện toàn tri có thể nắm bắt được cảm xúc của tất cả các nhân vật trong câu chuyện. B. Người kể chuyện hạn chi trực tiếp tham dự vào câu chuyện, chứng kiến các sự kiện xảy ra. C. Người kể chuyện toàn tri đồng thời cũng là một nhân vật trong truyện. D. Người kể chuyện hạn tri đồng thời nắm bắt đặc cảm xúc của tấc cả các nhân vật trong câu chuyện. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản và kiến thức về người kể chuyện.
Lời giải chi tiết:
Tác phẩm trên được kể theo ngôi kể thứ nhất, người kể chuyện đồng thời là một nhân vật trong câu chuyện, trực tiếp tham dự, chứng kiến các sự kiện diễn ra trong chuyện. Tuy nhiên, người kể chuyện không biết rõ được những suy nghĩ, cảm xúc của người khác. Vì vậy người kể chuyện trong tác phẩm này là người kể chuyện
hạn tri.
→ Đáp án: B
|
Câu 4. Em hiểu cụm từ “thú diện nhơn tâm” trong văn bản nghĩa là gì? A. Những loài động vật được con người nuôi nấng tỏ ra trung thành với chủ. B. Tuy là động vật nhưng lại rất biết báo đáp người có ơn. C. Mặt là loài cầm thú nhưng lòng dạ lại giống con người. D. Mặt là loài cầm thú nhưng lại thông minh như con người. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản, suy luận.
Lời giải chi tiết:
Cụm từ “thú diện nhơn tâm” tức là mặt là thú nhưng lòng dạ lại giống với con người.
→ Đáp án: C
|
Câu 5. Vì sao sau bao nhiêu năm nhớ lại câu chuyện cũ tác giả lại không thể dứt ra được? A. Sau bao năm, tác giả không thể dứt ra được bởi ông ân hận vì đã làm tổn thương loài vật yếu ớt. B. Tác giả không thể dứt ra được bởi ông vẫn chưa hiểu lí do vì sao năm đó người mẹ lại trách mắng. C. Tác giả không thể dứt ra được vì ông không thể quên được vẻ đẹp của con chim năm đó. D. Tác giả không dứt ra được vì kỉ niệm đó gắn liền với hình ảnh người mẹ mà ông hằng yêu thương. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản, suy luận.
Lời giải chi tiết:
Sau bao nhiêu năm, tác giả vẫn không thể quên được chuyện cũ bởi ông thấy hối hận và bối rối. Hối hận vì bản thân đã làm tổn thương một con vật bé nhỏ, có tình người và bối rối trước chính cái “thú diện nhơn tâm” của loài vật đó.
→ Đáp án: A
|
Câu 6. Đánh giá nào dưới đây nói đúng về nhân vật má? A. Má là người biết đến nhân quá báo ứng, không muốn con trai mình sau này sẽ gặp những điều xấu. B. Má là người yêu thiên nhiên, cây cối, vạn vật. Má truyền lại cho con tình yêu và lòng trắc ẩn đó. C. Má là người có đời sống rất nguyên tắc, nghiêm chỉnh và chính trực. D. Má là người rất yêu thương con, rất nghiêm túc, khắt khe trong việc dạy con cái. |
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản, suy luận.
Lời giải chi tiết
Đánh giá đúng nhất về nhân vật má: Má là người yêu thiên nhiên, cây cối, vạn vật. Má truyền lại cho con tình yêu và lòng trắc ẩn đó.
→ Đáp án: B
|
Câu 7. Theo em, trong câu chuyện trên ai là người trực tiếp đã cứu sống chim thằng chài? Vì sao em lại nhận định như vậy? |
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
- Người thực sự cứu sống chim thằng chài là nhân vật má.
- Lý giải:
Má chính là người thức tỉnh lòng trắc ẩn của đứa con qua câu nói: “Sao con cướp đi sự sống của nó? Rồi, ai cướp sự sống của con?” Từ sau câu nói này, đứa con đã thức tỉnh từ đó dành thời gian chăm sóc, cứu sống chim thằng chài.
|
Câu 8. Việc lặp lại câu hỏi của người má: “Sao con cướp đi sự sống của nó? Rồi, ai cướp sự sống của con?” có ý nghĩa gì? |
Phương pháp
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
Việc lặp lại câu hỏi của người má “Sao con cướp đi sự sống của nó? Rồi, ai cướp sự sống của con?” cho thấy trong suy nghĩ của người mẹ bà đã đặt ngang sự sống của con người với con vật ngang nhau. Con vật cũng có quyền sống, không ai có quyền cướp đi sự sống của nó cũng như không ai có quyền cướp đi sự sống của chính chúng ta. Cũng chính từ câu nói này đã giúp nhân vật tôi thức tỉnh và thay đổi nhận thức, hành động của mình, đồng thời góp phần làm nổi bật tính chất của câu chuyện bởi đây là chuyện được kể lại.
|
Câu 9. Từ nội dung “câu chuyện cũ” của nhân vật “tôi”, em có suy nghĩ gì về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, loài vật? |
Phương pháp
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
Từ nội dung “câu chuyện cũ” của nhân vật “tôi” rút ra mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, loài vật: Con người và thiên nhiên có mối quan hệ gần gũi với nhau. Mọi vật trên đời đều bình đẳng, đều được sống và có quyền được bảo vệ sự sống. Không ai có quyền được tước đoạt đi sự sống của một sinh vật khác.
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Em suy nghĩ như thế nào về lòng trắc ẩn? Lòng trắc ẩn có cần thiết trong cuộc sống của con người hay không? Em hãy viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề trên.
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
* Đảm bảo kết cấu (mở bài, thân bài, kết bài).
a. Mở bài:
- Dẫn dắt vào vấn đề.
- Nêu vấn đề nghị luận: Lòng trắc ẩn trong cuộc sống của con người
b. Thân bài:
* Giải thích: Lòng trắc ẩn là phẩm chất tốt đẹp của con người. Nó được biểu hiện thông qua sự rung cảm của con người trước những hoàn cảnh, những câu chuyện không vui trong cuộc sống của những người xung quanh.
* Bàn luận: Lòng trắc ẩn cần thiết trong cuộc sống của con người.
- Lòng trắc ấn tạo ra giá trị của con người. Khiến con người sống biết yêu thương hơn. Cuộc sống có tình yêu thương giống như một khu vườn đầy nắng.
- Lòng trắc ấn kéo người gần người hơn. Có rất nhiều mối quan hệ tốt đẹp xuất phát từ lòng trắc ẩn.
- Lòng trắc ẩn có thể thay đổi, cảm hóa những con người lỡ lầm đường lạc lối.
- Lòng trắc ẩn tạo ra rất nhiều điều khì diệu trong cuộc sống.
* Bình luận mở rộng vấn để:
- Lòng trắc ẩn phải được đặt đúng chỗ, đúng lúc. Lòng trắc ẩn đặt sai chỗ đôi khi còn là điều kiện để cái ác tiếp tục diễn ra.
- Cần bồi đắp lòng trắc ẩn của bản thân. Tránh xa lối sống vô xảm, lạnh lùng.
c. Kết bài: Đánh giá lại vấn đề.
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 12
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Tùng - Nguyễn Trãi
I
Thu đến cây nào chẳng lạ lùng,
Một mình lạt thuở ba đông (1).
Lâm tuyền ai rặng (2) già làm khách,
Tài đống lương (3) cao ắt cả dùng (4).
II.
Đống lương tài có mấy bằng mày,
Nhà cả (5) đòi phen chống khoẻ thay.
Cội rễ bền day (6) chẳng động,
Tuyết sương thấy đã đặng (7) nhiều ngày
III.
Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày,
Có thuốc trường sinh (8) càng khoẻ thay.
Hổ phách phục linh (9) nhìn mới biết,
Dành còn để trợ (10) dân này.
(1): ba tháng mùa đông
(2): ai bảo
(3): tài làm rường cột
(4): dùng được vào việc lớn
(5): chữ Hán là đại hạ; có câu Nhất mộc chi
đại hạ (Một cây chống đỡ tòa nhà lớn). Cả câu
ý nói mấy phen từng làm việc lớn.
(6): lay qua, lay lại để làm nghiêng ngả
(7): chịu đựng
(8): thuốc giúp sống lâu
(9): hổ phách, phục linh: những loại thuốc quý giúp sống lâu
(10): trợ: giúp
Câu 1. Bài thơ Tùng sử dụng lối gieo vần nào?
A. Vần lưng
B. Vần chân
C. Vần liền
D. Vần cách
Câu 2. Hai câu thơ: Thu đến cây nào chẳng lạ lùng/ Một mình lạt thuở ba đông đã miêu tả đặc điểm nào của cây tùng?
A. Hình thể độc đáo.
B. Cách chăm sóc kì công.
C. Màu sắc lạ lùng.
D. Sức sống kiên cường.
Câu 3. Dòng nào dưới đây nêu chính xác ý nghĩa biểu tượng của cây tùng?
A. Người công tử
B. Người phụ nữ
C. Người dân nghèo
D. Người tha hương
Câu 4. Hai câu thơ: Thu đến cây nào chẳng lạ lùng/ Một mình lạt thuở ba đông đã miêu tả đặc điểm nào của cây tùng?
A. Hình thể độc đáo.
B. Cách chăm sóc kì công.
C. Màu sắc lạ lùng.
D. Sức sống kiên cường.
Câu 5. Câu thơ Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày giúp em hiểu gì về tình cảnh của chủ thể trữ tình?
A. Thanh thản hòa mình vào thiên nhiên.
B. Chua xót khi bị triều đình "ruồng bỏ".
C. Đau đớn trước cảnh nước mất, nhà tan.
D. Bất bình trước triều định phong kiến.
Câu 6. Dòng nào dưới đây nêu chính xác vẻ đẹp riêng của cây tùng trong thơ Nguyễn Trãi?
A. Cốt cách thanh cao, ngạo nghễ.
B. Khát vọng gắn bó với cuộc đời.
C. Dáng hình mạnh mẽ, rắn rỏi.
D. Ý chí kiên cường, quả quyết.
Câu 7. Hai câu thơ sau diễn tả tâm sự gì của nhân vật trữ tình?
Lâm tuyền ai rặng già làm khách
Tài đống lương cao ắt cả dùng?
Câu 8. Bốn câu thơ sau đã khắc họa những phẩm chất nào của cây tùng?
Đống lương tài có mấy bằng mày,
Nhà cả đòi phen chống khoẻ thay.
Cội rễ bền dời chẳng động,
Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày.
Câu 9. Hình ảnh thuốc trường sinh, hổ phách, phục linh thể hiện ước nguyện gì của nhân vật trữ tình?
II. VIẾT
Câu 1. Viết một bài luận ngắn (khoảng 400-500 từ) để trả lời câu hỏi: hi sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
|
B |
D |
A |
D |
B |
B |
|
Câu 1. Bài thơ Tùng sử dụng lối gieo vần nào? A. Vần lưng B. Vần chân C. Vần liền D. Vần cách |
Phương pháp:
Căn cứ vào kiến thức đã học về cách gieo vần trong thơ
Lời giải chi tiết:
Bài thơ sư dụng lối gieo vần: Vần chân.
→ Đáp án: B
|
Câu 2. Hai câu thơ: Thu đến cây nào chẳng lạ lùng/ Một mình lạt thuở ba đông đã miêu tả đặc điểm nào của cây tùng? A. Hình thể độc đáo. B. Cách chăm sóc kì công. C. Màu sắc lạ lùng. D. Sức sống kiên cường. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Hai câu thơ: Thu đến cây nào chẳng lạ lùng/ Một mình lạt thuở ba đông đã miêu tả sức sống kiên cường của cây tùng.
→ Đáp án: D
|
Câu 3. Dòng nào dưới đây nêu chính xác ý nghĩa biểu tượng của cây tùng? A. Người công tử B. Người phụ nữ C. Người dân nghèo D. Người tha hương |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Ý nghĩa biểu tượng của cây tùng: người quân tử.
→ Đáp án: A
|
Câu 4. Hai câu thơ: Thu đến cây nào chẳng lạ lùng/ Một mình lạt thuở ba đông đã miêu tả đặc điểm nào của cây tùng? A. Hình thể độc đáo. B. Cách chăm sóc kì công. C. Màu sắc lạ lùng. D. Sức sống kiên cường. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Hai câu thơ: Thu đến cây nào chẳng lạ lùng/ Một mình lạt thuở ba đông đã miêu tả sức sống kiên cường của cây tùng.
→ Đáp án: D
|
Câu 5. Câu thơ Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày giúp em hiểu gì về tình cảnh của chủ thể trữ tình? A. Thanh thản hòa mình vào thiên nhiên. B. Chua xót khi bị triều đình "ruồng bỏ". C. Đau đớn trước cảnh nước mất, nhà tan. D. Bất bình trước triều định phong kiến. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Tình cảnh của chủ thể trữ tình: Chua xót khi bị triều đình ruồng bỏ.
→ Đáp án: B
|
Câu 6. Dòng nào dưới đây nêu chính xác vẻ đẹp riêng của cây tùng trong thơ Nguyễn Trãi? A. Cốt cách thanh cao, ngạo nghễ. B. Khát vọng gắn bó với cuộc đời. C. Dáng hình mạnh mẽ, rắn rỏi. D. Ý chí kiên cường, quả quyết. |
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Vẻ đẹp riêng của cây tùng trong thơ Nguyễn Trãi: Khát vọng gắn bó với cuộc đời.
→ Đáp án: B
|
Câu 7. Hai câu thơ sau diễn tả tâm sự gì của nhân vật trữ tình? Lâm tuyền ai rặng già làm khách Tài đống lương cao ắt cả dùng? |
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
Lâm tuyền ai rặng già làm khách
Tài đống lương cao ắt cả dùng?
- Niềm tin của Nguyễn Trãi một ngày sẽ được ra giúp dân giúp nước.
|
Câu 8. Bốn câu thơ sau đã khắc họa những phẩm chất nào của cây tùng? Đống lương tài có mấy bằng mày, Nhà cả đòi phen chống khoẻ thay. Cội rễ bền dời chẳng động, Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày. |
Phương pháp
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Đống lương tài có mấy bằng mày,
Nhà cả đòi phen chống khoẻ thay.
Cội rễ bền dời chẳng động,
Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày.
- Ý thức được tài năng của mình. Ý thức được tầm quan trọng của mình đối với thời cuộc.
→ Phẩm chất kiên định, mạnh mẽ tư tin của cây tùng.
|
Câu 9. Hình ảnh thuốc trường sinh, hổ phách, phục linh thể hiện ước nguyện gì của nhân vật trữ tình? |
Phương pháp
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
Hình ảnh thuốc trường sinh, hổ phách, phục linh thể hiện ước nguyện: Khỏe mạnh, vững vàng, kiên định để có thể giúp dân, giúp nước.
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Viết một bài luận ngắn (khoảng 400-500 từ) để trả lời câu hỏi: hi sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
* Đảm bảo kết cấu (mở bài, thân bài, kết bài). Học sinh đưa ra quan điểm của bản thân mình (có lý lẽ thuyết phục).
a. Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề:
- Nêu vấn đề: Hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích cộng đồng, nên hay không?
b. Thân bài:
* Giải thích:
- Lợi ích cá nhân là những giá trị tốt đẹp mang lại cho cá nhân.
- Lợi ích cộng đồng là những giá trị tốt đẹp mang lại cho cộng đồng.
→ Về cơ bản lợi ích cá nhân hài hòa với lợi ích cộng đồng. Tuy nhiên trong một số trường hợp, lợi ích cá nhân xung đột với lợi ích cộng đồng.
* Bàn luận:
(ví dụ quan điểm là “nên”)
- Lợi ích cá nhân nằm trong lợi ích cộng đồng. Hi sinh cho lợi ích cộng đồng chính là bảo vệ lợi ích cá nhân.
- Đây là một sự biết ơn với cộng đồng, thể hiện sự cư xử trước sau. Những giá trị ngày hôm nay là kết quả cống hiến những thế hệ đi trước. Việc hi sinh cho cộng đồng như một cách trả nghĩa – một trong những cách cư xử đương nhiên.
(ví dụ quan điểm là “ không nên”)
- Con người trước hết phải biết yêu bản thân thì mới có thể lo cho cộng đồng. Nếu từng cá nhân không biết tự chăm lo cho bản thân thì lợi ích cộng đồng không còn nghĩa lí.
- Nếu chỉ bắt con người hi sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích cộng đồng thì đó chính là sự giả dối.
→ Có những lúc buộc phải hi sinh cá nhân cho cộng đồng nhưng về cơ bản lợi ích cá nhân cần được hài hòa trong lợi ích cộng đồng.
* Đánh giá:
- Cuộc sống luôn đặt ta trước những lựa chọn khó khăn. Đôi khi việc hi sinh vì lợi ích cộng đồng khiến con người nhận ra lợi ích cá nhân.
→ Chúng ta có thể hiểu về giá trị của cuộc đời, biết sống sao cho không hoài phí cuộc đời.
c. Kết bài: Đánh giá lại vấn đề.
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 13
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Trong đề lao, ngày đêm của tử tù đợi phút cuối cùng, đúng như lời thơ xưa, vẫn đằng đẵng như nghìn năm ở ngoài. Viên quản ngục không lấy làm oán thù thái độ khinh bạc của ông Huấn. Y cũng thừa tiểu những người chọc trời quấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù. Quản ngục mong mỏi một ngày gần đây ông Huấn sẽ dịu bớt tính nết, thì y sẽ nhờ ông viết, ông viết cho... cho mấy chữ trên chục vuông lụa trắng đã mua sẵn và can lại kia. Thế là y mãn nguyện. Biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền, từ những ngày nào, cái sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết. Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm. Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ. Có được chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu trên đời. Viên quản ngục khổ tâm nhất là có một ông Huấn Cao trong tay mình, dưới quyền mình mà không biết làm thế nào mà xin được chữ. Không can đảm giáp lại mặt một người cách xa y nhiều quá, y chỉ lo mai mốt đây, ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin được mấy chữ, thì ân hận suốt đời mất.
Một buổi chiều lạnh, viên quản ngục tái nhợt người đi sau khi tiếp đọc công văn Quan Hình bộ Thượng thư trong kinh bắt giải ông Huấn Cao và các bạn đồng chí ông vào kinh. Pháp trường lập ở trong ấy kia. Ngày mai, tinh mơ, sẽ có người đến giải tù đi.
Viên quản ngục vốn đã tin được thầy thơ lại, cho lính gọi lên, kể rõ tâm sự mình. Thầy thơ lại cảm động nghe xong chuyện, nói: “Dạ bẩm, ngài cứ yên tâm, đã có tôi rồi chạy ngay xuống phía trại giam ông Huấn, đấm cửa buồng giam, hớt hơ hớt hải kể cho tử tù nghe rõ nỗi lòng viên quản ngục, và ngập ngừng báo luôn cho ông Huấn biết việc về kinh chịu án tử hình. Ông Huấn Cao lặng nghĩ một lát rồi mỉm cười: “Về bảo với chủ ngươi, tối nay, lúc nào lính canh về trại nghỉ, thì đem lụa, mực, bút và một bó đuốc xuống đây ta cho chữ. Chữ thì quý thực. Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ. Đời ta cũng mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân của ta thôi. Ta cảm cái tấm ông biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy Quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”.
Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vắng có tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián. Trong một không khí khói toả như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Khói bốc toả cay mắt, làm họ dụi mắt lia lịa. Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực. Thay bút con, đề xong lạc khoản, ông Huấn Cao thở dài, buồn bã đỡ viên quản ngục đứng thẳng người dậy và đĩnh đạc bảo:
– Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người. Thoi mực, thầy mua ở đâu mà tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không?... Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ.
Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.
Lửa đóm cháy rừng rực, lửa rụng xuống nền đất ẩm phòng giam, tàn lửa tắt nghe xèo xèo.
Ba người nhìn bức châm, rồi lại nhìn nhau.
Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.
Trích Chữ người tử tù – Nguyên Tuân
Câu 1. Văn bản được viết theo phương thức biểu đạt nào?
A. Tự sự
B. Biểu cảm
C. Miêu tả
D. Nghị luận
Câu 2. Nhận định nào sau đây nói đúng về người kể chuyện trong văn bản?
A. Người kể chuyện toàn tri, là một nhân vật trong câu chuyện.
B. Người kể chuyện hạn tri, là một nhân vật trong truyện.
C. Người kể chuyện toàn tri, có thể nắm bắt được diễn biến tâm lí các nhân vật.
D. Người kể chuyện hạn tri, có thể đưa cảm xúc của mình vào tác phẩm.
Câu 3. Theo văn bản, sở nguyện của quản ngục là gì?
A. Có thể khiến Huấn Cao cải tà quy chính.
B. Có thể trở thành người tri âm tri kỉ với Huấn Cao.
C. Có được đôi câu đối do Huấn Cao viết để treo trong nhà.
D. Có thể khiến tên cầm đầu phe phản loạn – Huấn Cao phải khuất phục.
Câu 4. Vì sao Huấn Cao không đồng ý cho viên quản ngục chữ?
A. Vì ông đã trở thành tử tù, không muốn quản ngục vì mình mà phải chịu liên lụy.
B. Vì ông biết bản thân sáng sớm hôm sau phải ra pháp trường chịu tội.
C. Vì bản thân ông không còn đủ sức để ngồi cho chữ nữa.
D. Vì ông bình sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình cho chữ.
Câu 5. Điều gì đã khiến Huấn Cao chấp nhận cho chữ viên quản ngục?
A. Nhận ra được lòng biết giá người của quản ngục
B. Muốn để lại một kiệt tác trước khi chết
C. Nhận ra sự đáng sợ của nhà lao.
D. Huấn Cao là một nghệ sĩ chân chính.
Câu 6. Huấn Cao đã cho quản ngục những gì trong đêm hôm trước ngày xử tử?
A. Huấn Cao đã cho quản ngục những nét chữ trong nhất, vuông nhất.
B. Huấn Cao không chỉ cho chữ theo sở nguyện của quản ngục mà còn cho quản ngục lời khuyên hướng thiện.
C. Huấn Cao không chỉ cho quản ngục chữ mà còn cho phép quản ngục được trở thành tri kỉ với mình.
D. Huấn Cao không chỉ cho chữ quản ngục mà còn kể cho quản ngục về hành chình chính nghĩa của bản thân.
Câu 7. Em có nhận xét gì về thiên lương cao đẹp của nhân vật Huấn Cao trong đoạn trích?
Câu 8. Theo em nhân vật quản ngục có xứng đáng trở thành một tri kỉ của nhân vật Huấn Cao hay không?
Câu 9. Qua nhân vật Huấn Cao, em có nhận xét gì về quan niệm của Nguyễn Tuân đối với cái đẹp?
II. VIẾT
Câu 1. Vì sao Nguyễn Tuân lại gọi cảnh cho chữ trong tác phẩm là cảnh “xưa nay chưa từng có”? Phân tích cảnh cho chữ trong đoạn trích trên để trả lời câu hỏi.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
|
A |
C |
C |
D |
A |
B |
|
Câu 1. Văn bản được viết theo phương thức biểu đạt nào? A. Tự sự B. Biểu cảm C. Miêu tả D. Nghị luận |
Phương pháp:
Căn cứ vào kiến thức đã học về phương thức biểu đạt đã học.
Lời giải chi tiết:
Văn bản trên được viết theo phương thức tự sự.
→ Đáp án: A
|
Câu 2. Nhận định nào sau đây nói đúng về người kể chuyện trong văn bản? A. Người kể chuyện toàn tri, là một nhân vật trong câu chuyện. B. Người kể chuyện hạn tri, là một nhân vật trong truyện. C. Người kể chuyện toàn tri, có thể nắm bắt được diễn biến tâm lí các nhân vật. D. Người kể chuyện hạn tri, có thể đưa cảm xúc của mình vào tác phẩm. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Người kể chuyện trong tác phẩm này là người kể chuyện toàn tri. Chính vì thế, người kể chuyện có thể nắm bắt được diễn biến tâm lí của các nhân vật.
→ Đáp án: C
|
Câu 3. Theo văn bản, sở nguyện của quản ngục là gì? A. Có thể khiến Huấn Cao cải tà quy chính. B. Có thể trở thành người tri âm tri kỉ với Huấn Cao. C. Có được đôi câu đối do Huấn Cao viết để treo trong nhà. D. Có thể khiến tên cầm đầu phe phản loạn – Huấn Cao phải khuất phục. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Theo văn bản sở nguyện cả đời của quản ngục chính là có được đôi câu đối do chính Huấn Cao viết mà treo trong nhà.
→ Đáp án: C
|
Câu 4. Vì sao Huấn Cao không đồng ý cho viên quản ngục chữ? A. Vì ông đã trở thành tử tù, không muốn quản ngục vì mình mà phải chịu liên lụy. B. Vì ông biết bản thân sáng sớm hôm sau phải ra pháp trường chịu tội. C. Vì bản thân ông không còn đủ sức để ngồi cho chữ nữa. D. Vì ông bình sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình cho chữ. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Huấn Cao không đồng ý cho chữ viên quản ngục bởi lẽ bản thân ông trước giờ chưa từng vì vàng ngọc hay quyền thế mà tự ép mình cho chữ. Huấn cao chỉ cho chữ những người mà bản thân ông coi là tri kỉ.
→ Đáp án: D
|
Câu 5. Điều gì đã khiến Huấn Cao chấp nhận cho chữ viên quản ngục? A. Nhận ra được lòng biết giá người của quản ngục B. Muốn để lại một kiệt tác trước khi chết C. Nhận ra sự đáng sợ của nhà lao. D. Huấn Cao là một nghệ sĩ chân chính. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Ban đầu, Huấn Cao không đồng ý cho chữ quản ngục là bởi ông nghĩ rằng quản ngục chính là đại diện cho thế lực cầm quyền thối nát. Đến khi thầy thơ lại nói về sở nguyện của quản ngục, Huấn Cao mới hiểu ra bản thân suýt thì phụ một tấm lòng trong thiên hạ. Chính vì lẽ đó, ông đã đồng ý cho chữ quản ngục.
→ Đáp án: A
|
Câu 6. Huấn Cao đã cho quản ngục những gì trong đêm hôm trước ngày xử tử? A. Huấn Cao đã cho quản ngục những nét chữ trong nhất, vuông nhất. B. Huấn Cao không chỉ cho chữ theo sở nguyện của quản ngục mà còn cho quản ngục lời khuyên hướng thiện. C. Huấn Cao không chỉ cho quản ngục chữ mà còn cho phép quản ngục được trở thành tri kỉ với mình. D. Huấn Cao không chỉ cho chữ quản ngục mà còn kể cho quản ngục về hành chình chính nghĩa của bản thân. |
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Trong đêm trước ngày xử tử, Huấn Cao đã cho quản ngục chữ theo đúng sở nguyện của ông. Ngoài ra Huấn Cao còn cho quản ngục những lời khuyên hướng quản ngục quay về với cái đẹp, cái thiện.
→ Đáp án: B
|
Câu 7. Em có nhận xét gì về thiên lương cao đẹp của nhân vật Huấn Cao trong đoạn trích? |
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Huấn Cao là một người có thiên lương cao đẹp:
- Ông là người nghệ sĩ chân chính. Không chịu khuất phục trước cường quyền, tiền bạc.
- Ông đứng lên tạo phản để đòi lại sự công bằng cho những kiếp người cùng khổ.
- Khi nhận ra lòng biết giá người của quản ngục, Huấn Cao không chỉ đồng ý cho chữ quản ngục mà còn cho ông những lời khuyên hướng thiện.
|
Câu 8. Theo em nhân vật quản ngục có xứng đáng trở thành một tri kỉ của nhân vật Huấn Cao hay không? |
Phương pháp
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Quản ngục xứng đáng trở thành người bạn tri âm tri kỉ của Huấn Cao bởi lẽ:
- Ông là người biết trân trọng và thưởng thức cái đẹp. Nếu như Huấn Cao là người sáng tạo ra cái đẹp thì quản ngục là người biết thưởng thức và trân trọng cái đẹp đó.
- Tuy sống trong cảnh đề lao đầy rẫy những thói xấu nhưng quản ngục vẫn giữ được cho mình thiên lương cao đẹp.
|
Câu 9. Qua nhân vật Huấn Cao, em có nhận xét gì về quan niệm của Nguyễn Tuân đối với cái đẹp? |
Phương pháp
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
Quan niệm cái đẹp của Nguyễn Tuân:
- Cái đẹp phải là cái đạt đến độ toàn mĩ.
- Cái đẹp không chỉ có ở những nơi thanh cao. Cái đẹp là cái ngay cả trong những hoàn cảnh tối tăm nhất, xấu xa nhất vẫn ngời sáng cái đẹp.
- Cái đẹp còn có thể cảm hóa cái xấu, cái ác. Cái đẹp có thể hướng cái xấu, cái ác đến cái thiện.
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Vì sao Nguyễn Tuân lại gọi cảnh cho chữ trong tác phẩm là cảnh “xưa nay chưa từng có”? Phân tích cảnh cho chữ trong đoạn trích trên để trả lời câu hỏi.
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
* Đảm bảo kết cấu (mở bài, thân bài, kết bài). Học sinh đưa ra quan điểm của bản thân mình (có lý lẽ
thuyết phục).
a. Mở bài:
- Giới thiệu khái quát tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm Chữ người tử tù.
- Nêu vấn đề: Cảnh cho chữ - cảnh tượng xưa nay chưa từng có.
b. Thân bài:
* Cảnh cho chữ - cảnh tượng xưa nay chưa từng có: Đây là sự gặp gỡ của hai hành trình: Hành trình đi từ tối tăm đến cái đẹp (Viên quản ngục) và hành trình từ cao ngạo của người nghệ sĩ đến chỗ hiểu ra một tấm lòng trong thiên hạ.
- Sự đảo lộn của không gian, thời gian, con người và trật tự xã hội:
+ Thời gian: Trước ngày ra pháp trường.
+ Không gian cho chữ: Nhà tù nơi đầy rẫy những phân chuột, ẩm ướt, tường bám đầy mạng nhện → Không gian tối tắm >< sáng tạo nghệ thuật
+ Người cho chữ: Tay đang mang gông cùm, là tử tù, mai ra pháp trường với khí chất đường hoàng.
+ Người nhận chữ: Là viên quản ngục – đại diện cho giai cấp thống trị với tư thế khép nép.
→ Cái đẹp làm đảo lộn hết tất cả. Cái đẹp có sức mạnh lan tỏa, làm cho con người thay đổi, làm cho xã hội có thể đi từ cái ác đến cái thiện.
- Huấn Cao đã coi Quản ngục là tri kì → Cái đẹp cần có tri kỉ, cái đẹp kéo mọi người gần nhau hơn.
- Lời di nguyện: Sự lan tỏa, đổ bóng và sức mạnh của cái đẹp. Muốn chơi chữ thì việc đầu tiên là bỏ nơi này.
→ Cái đẹp không xa rời sự sống, cái đẹp luôn gần gũi với cuộc sống nhân sinh, nhân tình.
c. Kết bài: Đánh giá lại vấn đề.
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 14
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Thính vũ – Nguyễn Trãi
Phiên âm: Tịch mịch u trai lý,
Chung tiêu thính vũ thanh.
Tiêu hao kinh khách chẩm!
Điểm trích sổ tàn canh.
Cách trúc xao song mật,
Hoà chung nhập mộng thanh.
Ngâm dư hồn bất mị,
Đoạn tục đáo thiên minh.
Dịch thơ: Vắng vẻ trong phòng tối tăm,
Suốt đêm nghe tiếng trời mưa.
Tiếng não nùng làm kinh động gối khách,
Giọt thánh thót suốt mấy canh tàn.
Cách bụi trúc tiếng khua nhặt vào cửa sổ,
Lẫn tiếng chuông vẳng vào giấc mơ nhẹ nhàng.
Ngâm rồi vẫn không ngủ được,
Nghe đứt nối cho đến trời bình minh.
Câu 1. Bài thơ trên thuộc thể thơ nào?
A. Thất ngôn tứ tuyệt.
B. Ngũ ngôn bát cú.
C. Thất ngôn bát cú.
D. Ngũ ngôn tứ tuyệt.
Câu 2. Bài thơ Thính vũ sử dụng nhịp thơ nào?
A. 4/3
B.1/4
C. 2/3
D. 3/2
Câu 3. Hai câu thơ sau gợi tả khung cảnh nào?
Tịch mịch u trai lí
Chung tiêu thính vũ thanh
A. Khung cảnh thiên nhiên tráng lệ, kì vĩ.
B. Khung cảnh thôn quê đơn sơ, giản dị.
C. Khung cảnh đêm mưa vắng vẻ, cô quạnh.
D. Khung cảnh ngày mưa tiêu điều, xơ xác.
Câu 4. Điều gì đã khiến chủ thể trữ tình bất mị? (không ngủ được).
A. Tiếng mưa dữ dội.
B. Niềm vui đón bình minh
C. Tiếng chuông văng vẳng.
D. Những nỗi niềm trăn trở.
Câu 5. Hình ảnh tiếng mưa nhập mộng thanh (vẳng vào giấc mơ) giúp em hiểu gì về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên trong bài thơ?
A. Sự dữ dội của thiên nhiên luôn ám ảnh con người.
B. Thiên nhiên luôn đồng điệu với tâm tư, nỗi lòng của con người.
C. Con người luôn khao khát hòa nhập trọn vẹn với thiên nhiên.
D. Thiên nhiên và con người luôn trong mối xung đột.
Câu 6. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ Thính vũ là gì?
A. Cảm hứng thế sự.
B. Cảm hứng nhân đạo
C. Cảm hứng anh hùng ca.
D. Cảm hứng thiên nhiên
Câu 7. Nhận xét về bút pháp tương phản đối lập được sử dụng trong bốn câu thơ đầu.
Câu 8.Những cảm nhận về cơn mưa qua hai câu thơ Cách trúc xao song mật/ Hòa chung nhập mộng thanh giúp em hiểu gì về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình?
Câu 9. Vì sao trong hai câu thơ cuối, nhân vật trữ tình lại Ngâm dư hồn bất mị/ Đoạn tục đáo thiên minh?
II. VIẾT:
Câu 1. Viết bài luận ngắn (khoảng 400-500 chữ) để trả lời câu hỏi: Bạn lựa chọn con đường nào để khẳng định bản lĩnh của bản thân giữa cuộc đời?
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
|
B |
C |
C |
C |
B |
A |
|
Câu 1. Bài thơ trên thuộc thể thơ nào? A. Thất ngôn tứ tuyệt. B. Ngũ ngôn bát cú. C. Thất ngôn bát cú. D. Ngũ ngôn tứ tuyệt. |
Phương pháp:
Dựa vào số từ trong câu, số câu trong bài
Lời giải chi tiết
Bài thơ trên được làm theo thể ngũ ngôn bát cú.
→ Đáp án: B
|
Câu 2. Bài thơ Thính vũ sử dụng nhịp thơ nào? A. 4/3 B.1/4 C. 2/3 D. 3/2 |
Phương pháp:
Đọc kĩ bài thơ
Lời giải chi tiết:
Bài thơ Thính Vũ sử dụng nhịp thơ 2/3
→ Đáp án: B
|
Câu 3. Hai câu thơ sau gợi tả khung cảnh nào? Tịch mịch u trai lí Chung tiêu thính vũ thanh A. Khung cảnh thiên nhiên tráng lệ, kì vĩ. B. Khung cảnh thôn quê đơn sơ, giản dị. C. Khung cảnh đêm mưa vắng vẻ, cô quạnh. D. Khung cảnh ngày mưa tiêu điều, xơ xác. |
Phương pháp:
Đọc kĩ hai câu thơ
Chú ý các chi tiết tiêu biểu
Lời giải chi tiết:
Hai câu thơ “Tịch mịch u trai lí/Chung tiêu thính vũ thanh” gợi tả khung cảnh đêm mưa vắng vẻ, cô quạnh.
→ Đáp án: C
|
Câu 4. Điều gì đã khiến chủ thể trữ tình bất mị? (không ngủ được). A. Tiếng mưa dữ dội. B. Niềm vui đón bình minh C. Tiếng chuông văng vẳng. D. Những nỗi niềm trăn trở. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Tiếng chuông văng vẳng đã khiến chủ thể trữ tình không ngủ được.
→ Đáp án: C
|
Câu 5. Hình ảnh tiếng mưa nhập mộng thanh (vẳng vào giấc mơ) giúp em hiểu gì về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên trong bài thơ? A. Sự dữ dội của thiên nhiên luôn ám ảnh con người. B. Thiên nhiên luôn đồng điệu với tâm tư, nỗi lòng của con người. C. Con người luôn khao khát hòa nhập trọn vẹn với thiên nhiên. D. Thiên nhiên và con người luôn trong mối xung đột. |
Phương pháp:
Phân tích hình ảnh tiếng mưa
Nêu quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
Theo đọa trích, thiên nhiên luôn đồng điệu với tâm tư và nỗi lòng của con người.
→ Đáp án: B
|
Câu 6. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ Thính vũ là gì? A. Cảm hứng thế sự. B. Cảm hứng nhân đạo C. Cảm hứng anh hùng ca. D. Cảm hứng thiên nhiên |
Phương pháp giải
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Cảm hứng chủ đạo của bài thơ Thính Vũ: Cảm hứng thế sự
→ Đáp án: A
|
Câu 7. Nhận xét về bút pháp tương phản đối lập được sử dụng trong bốn câu thơ đầu. |
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Bút pháp tương phản, đối lập được sử dụng trong bốn câu thơ đầu:
- Tương phản giữa tiếng mưa với sự vắng vẻ trong căn phòng tối. Tiếng mưa góp phàn khiến tâm trạng người nghe trở nên cô quạnh.
→ Tiếng mưa không chỉ thể hiện khung cảnh của thiên nhiên mà còn thể hiện được tâm trạng của cá nhân.
|
Câu 8.Những cảm nhận về cơn mưa qua hai câu thơ Cách trúc xao song mật/ Hòa chung nhập mộng thanh giúp em hiểu gì về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình? |
Phương pháp
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Học sinh đưa ra quan điểm của mình, có lý giải hợp lý.
Gợi ý:
- Tâm hồn tĩnh lặng, nhạy cảm luôn sẵn sàng đón nhận mọi sự thay đổi tinh tế.
- Tâm hồn rộng mở.
→ Nhân vật trữ tình với một tâm hồn nhạy cảm, nghệ sĩ tinh tế, tài hoa. Hơn hết, đây là con người mang nặng những ưu tư về cuộc đời.
|
Câu 9. Vì sao trong hai câu thơ cuối, nhân vật trữ tình lại Ngâm dư hồn bất mị/ Đoạn tục đáo thiên minh? |
Phương pháp
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
- Cảnh đêm mưa đẹp quá nên nhân vật trữ tình khó mà bình tâm để ngủ được.
- Con người ưu thời mẫn thế, nhạy bén tinh tế quá nên không thể yên giấc được.
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Viết bài luận ngắn (khoảng 400-500 chữ) để trả lời câu hỏi: Bạn lựa chọn con đường nào để khẳng định bản lĩnh của bản thân giữa cuộc đời?
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
* Đảm bảo kết cấu (mở bài, thân bài, kết bài).
a. Mở bài:
- Nêu vấn đề: Lựa chọn con đường nào dể khẳng định bản lĩnh của bản thân giữa cuộc đời.
b. Thân bài:
* Giải thích:
- Khẳng định bản lĩnh là gì? Khẳng định bản lĩnh là khi con người thể hiện rõ ý chí, quyết tâm của mình cho dù điều đó chưa được xã hội công nhận.
- Con đường: là cách thức. → Có rất nhiều cách thức (sống lánh xa cuộc đời hoặc hòa nhập vào cuộc đời).
* Trình bày lựa chọn của mình: Học sinh tự đưa ra lựa chọn cho bản thân mình (có giải thích hợp lý).
Ví dụ: Chọn lánh xa:
- Thể hiện bản lĩnh con người khi có thể lánh xa những thú vui của cuộc đời. Tránh xa những thứ danh lợi có sự hấp dẫn, hào nhoáng ban đầu.
- Để tránh xa được tự bạn phải có một cuộc sống phong phú, có niềm vui riêng mình.
Ví dụ: Hòa nhập
- Hòa nhập cuốc đời vừa giúp ích cho bản thân, vừa giúp ích cho cuộc đời.
- Hòa nhập cuộc đời thể hiện bản lĩnh cứng cỏi của con người biết đứng dậy sau vấp ngã ......
* Có thể lựa chọn kết hợp cả hai vừa có thể hòa nhập với cuộc đời vừa có thể có những giây phút giành riêng cho mình mà không chịu tác động của cuộc đời tuy từng hoàn cảnh.
c. Kết bài: Đánh giá lại vấn đề.
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 15
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Đời thừa
Từ ngẩng đầu lên nhìn Hộ ba lần. Ba lần, Từ muốn nói nhưng lại không dám nói. Hắn đang đọc chăm chú quá. Ðôi lông mày rậm của hắn châu đầu lại với nhau và hơi xếch lên một chút. Ðôi mắt sáng quắc có vẻ lồi ra. Cái trán rộng hơi nhăn. Ðôi lưỡng quyền[1] đứng sừng sững trên bờ hai cái hố sâu của má thì bóng nhẫy.
Cả cái mũi cao và thẳng tắp cũng bóng lên như vậy. Cái mặt hốc hác ấy, nghiêng nghiêng bên trên quyển sách, trông khắc khổ đến thành dữ tợn. Từ thấy sợ...
(Lược một đoạn: Từ hồi tưởng lại việc Hộ đã cứu vớt, cưu mang mẹ con Từ khi Từ bị tình phụ, những ngày tháng yêu thương, hạnh phúc,... Còn Hộ nghĩ: "đáng lẽ Hộ phải sung sướng lắm").
Nhưng Hộ chỉ sung sướng được ít lâu thôi. Sau cái hành vi đẹp của hắn, và cái hành vi ấy được trả công bằng một tình yêu rất êm đềm, hắn chỉ còn nghĩ đến gia đình, chỉ cốt làm sao nuôi được gia đình. Hộ vốn nghèo.
Hắn là một nhà văn, trước kia, với cách viết thận trọng của hắn, hắn chỉ kiếm được vừa đủ để một mình hắn sống một cách eo hẹp, có thể nói là cực khổ. Nhưng bấy giờ hắn chỉ có một mình. Ðói rét không có nghĩa lý gì đối với gã trẻ tuổi say mê lý tưởng. Lòng hắn đẹp. Ðầu hắn mang một hoài bão lớn[3]. [...] Thế rồi, khi đã ghép đời Từ vào cuộc đời của hắn, hắn có cả một gia đình phải chăm lo. Hắn hiểu thế nào là giá trị của đồng tiền; hắn hiểu những nỗi đau khổ của một kẻ đàn ông khi thấy vợ con mình đói rách. Những bận rộn tẹp nhẹp, vô nghĩa lý, nhưng không thể không nghĩ tới, ngốn một phần lớn thì giờ của hắn. Hắn phải cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng. Hắn phải viết những bài báo để người ta đọc rồi quên ngay sau lúc đọc. Rồi mỗi lần đọc lại một cuốn sách hay một đoạn văn ký tên mình, hắn lại đỏ mặt lên, cau mày, nghiến răng vò nát sách và mắng mình như một thằng khốn nạn... Khốn nạn! Khốn nạn! Khốn nạn thay cho hắn! Bởi vì chính hắn là một thằng khốn nạn! Hắn chính là một kẻ bất lương! Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện. Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi. Hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương. Thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích, một người thừa. [...] Còn gì đau đớn hơn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm được cái gì, chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt? Hắn để mặc vợ con khổ sở ư? Hắn bỏ liều, hắn ruồng rẫy chúng, hắn hy sinh như người ta vẫn nói ư? Ðã một vài lần hắn thấy ý nghĩ trên đây thoáng qua đầu. Và hắn nghĩ đến câu nói hùng hồn của một nhà triết học kia: "Phải biết ác, biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ". Nhưng hắn lại nghĩ thêm rằng: Từ rất đáng yêu, rất đáng thương, hắn có thể hy sinh tình yêu, thứ tình yêu vị kỷ đi; nhưng hắn không thể bỏ lòng thương; có lẽ hắn nhu nhược, hèn nhát, tầm thường, nhưng hắn vẫn còn được là người: hắn là người chứ không phải là một thứ quái vật bị sai khiến bởi lòng tự ái. Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thỏa mãn lòng ích kỷ. [...] Hắn tự bảo: "Ta đành phí đi một vài năm để kiếm tiền. Khi Từ đã có một số vốn con để làm ăn! Sự sinh hoạt lúc này chẳng dễ dàng đâu!". Từ khi đứa con này chưa kịp lớn lên, đứa con khác đã vội ra, mà đứa con nào cũng nhiều đẹn, nhiều sài, quấy rức, khóc mếu suốt ngày đêm và quanh năm uống thuốc. Từ săn sóc chúng đã đủ ốm người rồi, chẳng còn có thể làm thêm một việc khác nữa. Hộ điên người lên vì phải xoay tiền. Hắn còn điên lên vì con khóc, nhà không lúc nào được yên tĩnh để cho hắn viết hay đọc sách. Hắn thấy mình khổ quá, bực bội quá.
Hắn trở nên cau có và gắt gỏng. Hắn gắt gỏng với con, với vợ, với bất cứ ai, với chính mình. Và nhiều khi, không còn chịu nổi cái không khí bực tức ở trong nhà, hắn đang ngồi bỗng đứng phắt lên, mắt chan chứa nước, mặt hầm hầm, vùng vằng đi ra phố, vừa đi vừa nuốt nghẹn. Hắn tìm một người bạn thân nào để nói chuyện văn chương, ngỏ ý kiến về một vài quyển sách mới ra, một vài tên ký mới trên các báo, phác họa một cái chương trình mà hắn biết ngay khi nói là chẳng bao giờ hắn có thể thực hành, rồi lặng lẽ nghĩ đến cái tác phẩm dự định từ mấy năm nay để mà chán ngán. Hắn thừ mặt ra như một kẻ phải đi đày, một buổi chiều âm thầm kia, ngồi trong một làn khói nặng u buồn mà nhớ quê hương. Hắn cũng nhớ nhung một cái gì rất xa xôi... những mộng đẹp ngày xưa... một con người rất đáng yêu đã chẳng là mình nữa. Hắn lắc đầu tự bảo: "Thôi thế là hết! Ta đã hỏng! Ta đã hỏng đứt rồi". Và hắn nghĩ đến cái tên hắn đang mờ dần đằng sau những tên khác mới trồi ra, rực rỡ hơn... Rồi hắn ra về, thờ thẫn. Những sự bực tức đã chìm đi. Lòng hắn không còn sôi nổi nữa, nhưng rũ buồn...
*
[...]
Cao hứng Hộ bỗng ngoảnh mặt lên. Hắn vừa gặp được một đoạn hay lắm nên ngừng đọc, ngẫm nghĩ và để cho cái khoái cảm ngân ra trong lòng. Ðôi mắt hắn, tuy mới rời trang sách đã nhìn ngay lại phía Từ. Hắn mỉm cười, Từ cũng mỉm cười. Hắn bảo:
- Này, Từ ạ... Nghĩ cho kỹ, đời tôi không đáng khổ mà hóa khổ, chính tôi làm cái thân tôi khổ, tôi mê văn quá nên mới khổ. Ấy thế, mà tuy khổ thì khổ thật, nhưng thử có người giàu bạc vạn nào thuận đổi lấy cái địa vị của tôi, chưa chắc tôi đã đổi. Tôi cho rằng: những khi được đọc một đoạn văn như đoạn này, mà lại hiểu được tất cả cái hay, thì dẫu ăn một món ăn ngon đến đâu cũng không thích bằng. Sướng lắm! Sao thiên hạ lại có người tài đến thế? Mình tính: người ta tả cái cảnh một người nhớ quê hương chỉ mất có ba câu, đúng ba câu!...
Mình có hiểu không? ... Ba câu giản dị một cách không ngờ mà hay được đến như thế này... Hắn đọc lại đoạn văn. Hắn định nghĩa để Từ nghe. Hắn giảng giải cho Từ. Tuy Từ chẳng hiểu được bao nhiêu, nhưng cũng tin lời hắn lắm. Từ giữ mãi nụ cười hiền dịu trong khi nghe hắn nói. Khi hắn ngừng nói đã được một lúc khá lâu.
Từ mới làm như chợt nhớ ra:
- Có lẽ hôm nay đã là mồng hai, mồng ba tây rồi, mình nhỉ?
- À phải! Hôm nay mồng ba... Giá mình không hỏi tôi thì tôi quên... Tôi phải đi xuống phố.
Từ nhắc khéo:
- Hèn nào mà em thấy người thu tiền nhà sáng nay đã đến...
Hộ sầm mặt lại:
- Tiền nhà... tiền giặt... tiền thuốc... tiền nước mắm... Còn chịu tất! Tháng vừa rồi tiêu tốn quá, mới mồng mười đã hết tiền. May mà còn có đất mua chịu được.
Hắn nghĩ đến món tiền hắn đã tiêu phí mấy hôm đầu tháng. Mỗi lần hắn bực tức hay chán nản, hắn lại đi uống rượu, thành thử hết tiền sớm. Từ không hé môi phàn nàn nửa tiếng, nhưng cả tháng Từ ăn và bắt các con ăn kham khổ, thường thường đói nữa! Quà sáng thì bỏ hẳn, có khi bữa tối cũng chịu nhịn cơm, ăn cháo. Hộ trông thấy thế, thương vợ, thương con. Hắn vừa mặc quần áo, vừa nhắc thầm trong trí:
- Nhất định hôm nay không đi đâu cả... Lấy tiền xong là về ngay...
Nhưng Từ bảo:
- Mình đi phố thì đi ăn nhé. Còn có ít gạo chỉ đủ cho lũ trẻ. Em chả đong thêm nữa, để mai trả tiền rồi lấy thêm luôn một thể... Em không để cơm mình đâu đấy... Nhà chẳng còn gì ăn...
Hộ hơi cau mày. Bởi vì hắn sợ bước vào tiệm ăn lắm. Hắn có thể gặp ở đây một vài người bạn... và khi ấy thì... ôi thôi! Mặc kệ gia đình và những cái gì còn lại!... Hắn sẽ uống rất khỏe, nói toàn những chuyện vá trời lấp biển, rồi đi la cà đến hết đêm mới về. Hắn nghĩ ngợi một chút rồi hắn bảo:
- Ðược! Tôi sẽ mua cái gì về để cả nhà cùng ăn.
- Ðừng phiền nữa! Em cứ cho chúng nó ăn cơm trước rồi đi ngủ.
- Ðừng ăn trước... Ðợi tôi đem thức ăn về, ăn một thể. Tôi về sớm. Cả tháng chúng nó đói khát, khổ sở, hôm nay có tiền cũng nên cho chúng nó một bữa ăn ra hồn.
- Vẽ chuyện!
Hắn mỉm cười, đáp lại. Hắn lại gần Từ, cúi xuống nắm lấy tay đứa bé và gọi nó. Mặt hắn và mặt Từ ghé sát.
Hắn cố ý khẽ chạm môi mình vào má Từ một cái. Từ vờ giũ mấy cái bụi ở tay áo hắn. Vợ chồng nhìn nhau âu yếm. Hắn vuốt má Từ một cái rồi ra đi.
Ở tòa báo ra, Hội đi thẳng tới một hiệu thịt quay. Hắn định mua mấy hào thịt, vài cái bánh tây, gói đem về.
Lòng hắn sáng bừng. Hắn tưởng tượng ra cái cảnh lũ con háu ăn và đói khát, rón thịt bằng tay và ăn những miếng bánh thật to, miệng phụng phịu và môi bóng nhờn những mỡ. Cái cảnh thô tục và cảm động! Hắn sẽ cười thỏa thích. Còn Từ sẽ ngồi bên hắn mà nhìn chúng, đôi mắt sung sướng và thương hại loang loáng ướt...
Ðến trước cửa hiệu thịt quay, Hộ dừng lại. Hắn cẩn thận nhìn trước, nhìn sau, trước khi vào. Một người quen có thể đi qua, và nếu họ bắt gặp hắn đang cố nhét một một gói thịt vào túi áo!... Không! Không có gì đáng ngại, ngoài đường phố... Nhưng trong hiệu, một thiếu nữ đẹp đang mặc cả... Hắn đành đợi vậy. Trong khi đợi, hai tay chắp sau lưng, hắn làm ra vẻ đợi một người bạn vừa vào một nhà nào gần đấy. Bỗng một bàn tay đập vào vai khiến hắn giật mình quay lại.
(Lược một đoạn: Hộ gặp Trung và Mão, biết tin cuốn "Đường về" của một người bạn sắp được dịch sang tiếng Anh, không cưỡng lại được nỗi bức xúc trong lòng, anh lại đi uống rượu).
Hộ đã quên hẳn vợ con. Hắn chỉ còn háo hức muốn biết thêm về việc quyển "Ðường về" của Quyền được dịch ra tiếng Anh. Hắn bám lấy Mão và Trung. Ba người vào một tiệm giải khát ở Bờ Hồ. Và chỉ độ nửa giờ sau, Mão và Trung đã thấy Hộ đỏ tai, giộng một cái vỏ chai bia xuống mặt bàn:
- Cuốn "Ðường về" chỉ có giá trị địa phương thôi, các anh có hiểu không? Người ta dịch nó vì muốn biết phong tục của mọi nơi. Nó chỉ tả được cái bề ngoài của xã hội. Tôi cho là xoàng lắm! Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái[5] , sự công bình... Nó làm cho người gần người hơn. Như thế mới thật là một tác phẩm hay, các anh có hiểu không? Tôi chưa thất vọng đâu! Rồi các anh xem... Cả một đời tôi, tôi sẽ chỉ viết một quyển thôi, nhưng quyển ấy sẽ ăn giải Nobel[6] và dịch ra đủ mọi thứ tiếng trên hoàn cầu!
Trung gật gù cười, vẫn cái cười lặng lẽ của y. Mão thì cười hô hố. Hộ không cười, mặt căng lên vì hứng khởi. Hắn nói say sưa lắm. Và đến lúc đèn phố bật, Trung và Mão muốn về, Hộ bảo luôn:
- Thong thả đã! Ði đâu mà vội? Chúng mình đi uống rượu... Tôi có tiền...
Sáng hôm sau. Hắn thức dậy trên cái giường nhà hắn. Hắn thấy mình mẩy đau như dần, đầu nặng, miệng khô và đắng. Cổ thì ráo và rát cháy. Hắn đưa tay với ấm nước ở trên bàn để uống. Ấm nước đầy và nước hãy còn ấm. Ðó là sự ý tứ của Từ. Hộ hiểu thế, và lòng buồn nao nao.
Bởi hắn lờ mờ nhớ ra rằng: hình như đêm qua hắn say rượu, đi la cà chán rồi về, lại gây sự với Từ; hình như hắn lại đánh cả Từ, đuổi Từ đi, rồi mới đóng cửa lại và đi ngủ... Hắn đột nhiên hoảng sợ, nhổm dậy, mắt nhớn nhác tìm Từ. Nhưng không! Từ vẫn còn nhà... Chắc hẳn trong lúc quá say, hắn gài cửa nhưng chưa gài được, thành thử khi thấy hắn ngủ mệt rồi, Từ lại bế con vào. Bây giờ Từ đang thiếp đi trên võng, đứa con nhỏ nằm bên. Từ vốn dậy sớm quen. Sáng nay, chắc Từ mệt quá, vừa mới lịm đi, nên mới ngủ trưa như thế. Ðầu Từ ngoẹo về một bên. Một tay Từ trật ra ngoài mép võng, sã xuống, cái bàn tay hơi xòe ra lỏng lẻo. Dáng nằm thật là khó nhọc và khổ não. Hắn bùi ngùi. Chao ôi! Trông Từ nằm thật đáng thương! Hèn chi mà Từ khổ cả một đời người! Cái tướng vất vả lộ ra cả đến trong giấc ngủ. Hộ nhớ ra rằng: một đôi lúc, nếu nhìn kỹ thì Từ khó mặt lắm. Ðột nhiên Hộ nảy ra ý muốn lại gần Từ, nhìn kỹ xem mặt Từ lúc bây giờ ra sao? Hắn rón rén, đi chân không lại. Hắn ngồi xổm ngay xuống đất, bên cạnh võng và cố thở cho thật khẽ. Hắn ngắm nghía mặt.
Từ lâu lắm. Da mặt Từ xanh nhợt; môi nhợt nhạt; mi mắt hơi tim tím và chung quanh mắt có quầng, đôi má đã hơi hóp lại khiến mặt hơi có cạnh. Hộ khẽ thở dài và lắc đầu ái ngại. Hắn dịu dàng nắm lấy tay sã xuống của Từ. Cái bàn tay lủng củng rặt những xương! Trên mu bàn tay, những đường gân xanh bóng ra, làn da mỏng và xanh trong, xanh lọc. Cái cổ tay mỏng manh. Tất cả lộ một cái gì mềm yếu, một cái gì ẻo lả, cần được hắn che chở và bênh vực... Một vẻ bạc mệnh, một cái gì đau khổ và chật vật, cần được hắn vỗ về an ủi...
Thế mà hắn đã làm gì để cho đời Từ đỡ khổ hơn? Hắn đã làm gì để cho Từ khỏi khổ? Nước mắt hắn bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh. Và hắn khóc... Ôi chao! Hắn khóc! Hắn khóc nức nở, khóc như thể không ra tiếng khóc. Hắn ôm chặt lấy cái bàn tay bé nhỏ của Từ vào ngực mình mà khóc. Từ thức dậy, Từ hiểu ngay, không cần hỏi một câu nào cũng hiểu. Và Từ cảm động. Mắt Từ giàn giụa nước. Từ khẽ rút tay ra, vòng lên cổ chồng, nhẹ nhàng núi hắn vào, để hắn gục đầu lên cạnh ngực Từ. Hắn lại càng khóc to hơn và cố nói qua tiếng khóc:
- Anh... anh... chỉ là... một thằng... khốn nạn!...
- Không!... Anh chỉ là một người khổ sở!... Chính vì em mà anh khổ...
Từ bảo thế. Tay Từ níu mạnh hơn một chút. Ngực Từ thổn thức. Từ chực ngả đầu sát vào vai Hộ. Nhưng đứa con, bị giằng, khóc thét lên. Từ vội buông chồng ra để vỗ con. Tiếng vẫn còn ướt lệ, Từ dỗ nó:
- A! Mợ đây! Mợ đây mà! Ôi chao! Con tôi nó giật mình... Mợ thương...
Hộ đã tránh chỗ để Từ đưa võng... Từ vừa đưa vừa hát:
Ai làm cho gió lên giời,
Cho mưa xuống đất, cho người biệt li;
Ai làm cho Nam, Bắc phân kỳ,
Cho hai hàng lệ đầm đìa tấm thân.
Theo Nam Cao
Câu 1. Đề tài của truyện ngắn Đời thừa (Nam Cao) là:
A. Người phụ nữ.
B. Người nông dân
C. Người trí thức
D. Người chiến sĩ
Câu 2. Câu văn: Cái mặt hốc hác ấy, nghiêng nghiêng bên trên quyển sách, trông khắc khổ đến thành dữ tợn đã khắc họa đặc điểm nào của nhân vật Hộ?
A. Nghiêm khắc, khó tính.
B. Say mê văn chương.
C. Lạnh lùng, tàn nhẫn
D. U buồn, cô độc.
Câu 3. Vì sao Hộ lại quyết định cứu vớt Từ?
A. Vì Hộ yêu thương Từ và các con một cách chân thành.
B. Vì Hộ muốn thể hiện bản lĩnh của một kẻ khổng lồ
C. Vì Hộ thương hại một người phụ nữ bất hạnh như Từ
D. Vì Hộ bất đắc dĩ phải chịu trách nhiệm với Từ.
Câu 4. Để cưu mang Từ và các con, Hộ đã phải chấp nhận làm điều gì?
A. Từ bỏ công việc sáng tác để giúp đỡ Từ chăm sóc các con.
B. Viết những những thứ văn vô vị, nhạt nhẽo để kiếm tiền
C. Gắt gỏng với chính mình vì đã không thể chăm lo cho vợ con.
D. Cắt đứt mối quan hệ với những người bạn văn chương của mình.
Câu 5. Câu nói "Thôi thế là hết! Ta đã hỏng! Ta đã hỏng đứt rồi" thể hiện đặc điểm nào của nhân vật Hộ?
A. Hộ tuyệt vọng tự ý thức được sự tha hóa của tư cách tri thức ở mình
B. Hộ đau đớn trước tình cảnh nghèo khổ, cùng quẫn của gia đình.
C. Hộ ăn năn vì những hành động tàn nhẫn đối với mẹ con Từ.
D. Hộ phẫn nộ khi mẹ con Từ đã khiến cuộc đời hắn trở nên thảm hại.
Câu 6. Thông qua nhân vật Hộ, Nam Cao muốn phản ánh bi kịch nào của người trí thức đương thời?
A. Bi kịch nghèo khổ, thiếu thốn về vật chất.
B. Bi kịch tha hóa về nhân cách.
C. Bi kịch thiếu thốn tình yêu thương.
D. Bi kịch cô đơn, lạc lõng của kẻ thất thế.
Câu 7. Hãy lí giải ý nghĩa của nhan đề Đời thừa.
Câu 8. Vì sao vừa vui sướng khi mường tượng ra Cái cảnh thô tục và cảm động về những đứa con, Hộ đã quên hẳn vợ con để say sưa bàn luận với hai người bạn về cuốn Đường về?
Câu 9. Nêu cảm nhận của em về những giọt nước mắt của Hộ ở phần kết của câu chuyện.
II. VIẾT
Câu 1. Viết bài luận phân tích, đánh giá bi kịch của người trí thức được thể hiện qua truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
|
C |
B |
A |
B |
A |
B |
|
Câu 1. Đề tài của truyện ngắn Đời thừa (Nam Cao) là: A. Người phụ nữ. B. Người nông dân C. Người trí thức D. Người chiến sĩ |
Phương pháp:
Căn cứ vào Nội dung của văn bản.
Lời giải chi tiết
Đề tài của truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao là người trí thức.
→ Đáp án: C
|
Câu 2. Câu văn: Cái mặt hốc hác ấy, nghiêng nghiêng bên trên quyển sách, trông khắc khổ đến thành dữ tợn đã khắc họa đặc điểm nào của nhân vật Hộ? A. Nghiêm khắc, khó tính. B. Say mê văn chương. C. Lạnh lùng, tàn nhẫn D. U buồn, cô độc. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Câu văn: Cái mặt hốc hác ấy, nghiêng nghiêng bên trên quyển sách, trông khắc khổ đến thành dữ tợn đã khắc họa đặc điểm say mê văn chương của nhân vật Hộ.
→ Đáp án: B
|
Câu 3. Vì sao Hộ lại quyết định cứu vớt Từ? A. Vì Hộ yêu thương Từ và các con một cách chân thành. B. Vì Hộ muốn thể hiện bản lĩnh của một kẻ khổng lồ C. Vì Hộ thương hại một người phụ nữ bất hạnh như Từ D. Vì Hộ bất đắc dĩ phải chịu trách nhiệm với Từ. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Hộ quyết định cứu vớt Từ vì: Hộ yêu thương Từ và các con một cách chân thành.
→ Đáp án: A
|
Câu 4. Để cưu mang Từ và các con, Hộ đã phải chấp nhận làm điều gì? A. Từ bỏ công việc sáng tác để giúp đỡ Từ chăm sóc các con. B. Viết những những thứ văn vô vị, nhạt nhẽo để kiếm tiền C. Gắt gỏng với chính mình vì đã không thể chăm lo cho vợ con. D. Cắt đứt mối quan hệ với những người bạn văn chương của mình. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Để cưu mang Từ và các con, Hộ đã phải chấp nhận: Viết những những thứ văn vô vị, nhạt nhẽo để kiếm tiền.
→ Đáp án: B
|
Câu 5. Câu nói "Thôi thế là hết! Ta đã hỏng! Ta đã hỏng đứt rồi" thể hiện đặc điểm nào của nhân vật Hộ? A. Hộ tuyệt vọng tự ý thức được sự tha hóa của tư cách tri thức ở mình B. Hộ đau đớn trước tình cảnh nghèo khổ, cùng quẫn của gia đình. C. Hộ ăn năn vì những hành động tàn nhẫn đối với mẹ con Từ. D. Hộ phẫn nộ khi mẹ con Từ đã khiến cuộc đời hắn trở nên thảm hại. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Câu nói "Thôi thế là hết! Ta đã hỏng! Ta đã hỏng đứt rồi" thể hiện: Hộ tuyệt vọng tự ý thức được sự tha hóa của tư cách tri thức ở mình.
→ Đáp án: A
|
Câu 6. Thông qua nhân vật Hộ, Nam Cao muốn phản ánh bi kịch nào của người trí thức đương thời? A. Bi kịch nghèo khổ, thiếu thốn về vật chất. B. Bi kịch tha hóa về nhân cách. C. Bi kịch thiếu thốn tình yêu thương. D. Bi kịch cô đơn, lạc lõng của kẻ thất thế. |
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Thông qua nhân vật Hộ, Nam Cao đã phản ánh bi kịch của người trí thức đương thời: Bi kịch tha hóa về nhân cách.
→ Đáp án: B
|
Câu 7. Hãy lí giải ý nghĩa của nhan đề Đời thừa. |
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
Ý nghĩa của nhan đề Đời thừa:
- Đời thừa được hiểu là cuộc đời bỏ đi, cuộc đời không có nghĩa lí gì.
+ Hộ vốn là người tử tể, giàu khát vọng yêu thương, giàu nhân cách. Hộ vốn là người cho Từ niềm tin nhưng rồi lại đánh mắng vợ con.
+ Hộ vốn là người tử tế trong văn chương nhưng cuối cùng lại viết ra những thứ văn rẻ tiền.
→ Hộ không có ý nghĩa trong cuộc đời dù bản thân nhân cách rất tử tế.
|
Câu 8. Vì sao vừa vui sướng khi mường tượng ra Cái cảnh thô tục và cảm động về những đứa con, Hộ đã quên hẳn vợ con để say sưa bàn luận với hai người bạn về cuốn Đường về? |
Phương pháp
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Vừa vui sướng khi mường tượng ra Cái cảnh thô tục và cảm động về những đứa con, Hộ đã quên hẳn vợ con để say sưa bàn luận với hai người bạn về cuốn Đường về vì:
- Con người đâu phải chỉ sống ở một phương diện. Con người luôn là tổng hòa của những mối bận tâm.
- Hộ ngoài việc là một người đàn ông của gia đình thì cũng là một chàng trai có khát vọng, có hoài bão.
→ Bi kịch của con người khi sống trong tổng hòa của rất nhiều mối quan hệ. Khi những mối quan hệ đó va chạm vào nhau con ngươi trở nên dở dang, bế tắc.
|
Câu 9. Nêu cảm nhận của em về những giọt nước mắt của Hộ ở phần kết của câu chuyện. |
Phương pháp
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
Cảm nhận về giọt nước mắt của nhân vật Hộ: Đây là giọt nước mắt của sự dũng cảm: Anh dũng cảm thừa nhận sự yếu đuối, sự bất lực của mình. Con người có thẻ không hoàn hảo, có thể không lí tưởng nhưng là con người biết nghĩ suy.
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Viết bài luận phân tích, đánh giá bi kịch của người trí thức được thể hiện qua truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
* Đảm bảo kết cấu (mở bài, thân bài, kết bài).
a. Mở bài:
- Nêu vấn đề bàn luận: Phân tích, đánh giá bi kịch của người trí thức được thể hiện qua truyện ngắn Đời thừa
của Nam Cao.
b. Thân bài:
* Giải thích:
Bi kịch: Là sự xung đột sự va đập giữa hiện thực và ước mơ. Cũng có thể hiểu bi kịch là sự va đập của những
giá trị tốt đẹp với nhau (nghề nghiệp và tình thương).
- Bi kịch của Hộ là đại diện cho bi kịch của người trí thức trong xã hội xưa.
* Phân tích:
- Bi kịch văn chương:
+ Lý tưởng ban đầu của Hộ là viết một thứ văn như thế nào? (Chỉ viết một tác phẩm nhưng tác phẩm có thể
đạt giải, tác phẩm ca ngợi tình yêu thương, lòng bác ái).
+ Trong thực tế Hộ chỉ viết một thứ văn khuấy loãng, mình đọc còn thấy xấu hổ.
- Bi kịch con người:
+ Bản thân Hộ là một người giàu lòng yêu thương, Hộ cứu vớt mẹ con Từ. Đây chính là cuốn tiểu thuyết hay
nhất mà Hộ viết. Hộ yêu con, Hộ tưởng tượng đến cảnh đứa con được ăn no và cảm thấy hạnh phúc.
+ Trong thực tế, Hộ lại là một “Chí Phèo trí thức” đánh vợ, mắng con.
→ Bi kịch lớn nhất đó là bi kịch văn chương va đập với bi kịch con người. Nguyên nhân dẫn đến sự va đập
đó chính là việc Hộ cố gắng níu giữ cả hai giá trị. Ngoài ra, nguyên nhân đến từ thực tế khách quan, xã hội đã
đẩy con người đến sự giằng xé giữa lý tưởng, tình thương và sự đói nghèo.
* Nhận xét: Chủ nghĩa nhân đạo mới mẻ: Từ cái nghèo, đói Hộ đã đánh mất chính mình.
c. Kết bài: Đánh giá lại vấn đề.
trithuchub.com
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP10
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
