Đề thi giữa kì 2 Ngữ Văn 10
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
Ngôn chí – bài 10
(Nguyễn Trãi)
Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy.
Có thân chớ phải lợi danh vây.
Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén,
Ngày vắng xem hoa bợ (1) cây.
Cây rợp chồi cành chim kết tổ,
Ao quang mấu ấu (2) cá nên bầy.
Ít nhiều tiêu sái (3) lòng ngoài thế,
Năng một ông này đẹp thú này
(Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, 1976)
Chú thích:
(1) Bợ cây: chăm nom, săn sóc cây
(2) Mấu ấu: mầm cây củ ấu.
(4) Tiêu sái: thảnh thơi, thoát tục.
(5) Năng: có thể, hay.
Câu 1: Bài thơ Ngôn chí 10 thuộc sáng tác nào sau đây của Nguyễn Trãi?
A. Văn chính luận
B. Thơ chữ Hán
C. Thơ Nôm
D. Thơ tự thuật
Câu 2: Văn bản Ngôn chí 10 thuộc thể thơ nào? Vì sao?
A. Thể thơ tự do, vì các dòng không theo quy luật
B. Thể thơ thất ngôn, vì mỗi dòng có 7 chữ
C. Thể thơ tứ tuyệt, vì có 4 khổ, mỗi khổ 4 dòng
D. Thể thơ thất ngôn bát cú xen lục ngôn vì có 7 dòng, mỗi dòng có 8 hoặc 6 chữ
Câu 3: Đối tượng trữ tình của bài thơ là?
A. Cảnh chùa
B. Đêm trăng
C. Ao cá
D. Cuộc sống điền viên nơi thôn quê
Câu 4: Dòng nào gợi lên bức “chân dung” của nhân vật trữ tình trong bài thơ?
A. Gắn bó với cuộc sống nơi thôn dã, yêu và hòa hợp với thiên nhiên
B. Quyết tránh xa vòng danh lợi để vui thú điền viên
C. Lòng thanh tịnh như nhà tu hành
D. Tận hưởng thú vui tao nhã
Câu 5: Hình ảnh thơ trong Ngôn chí 10 có đặc điểm nổi bật nào sau đây?
A. Hình ảnh thơ tươi sáng
B. Hình ảnh xưa cũ
C. Hình ảnh gần gũi, quen thuộc
D. Hình ảnh tưởng tượng
Câu 6: Nội dung hai câu đề là?
A. Sức sống nơi làng quê
B. Thú vui tao nhã
C. Cảnh vật, lòng người
D. Ít vướng bận, vui sống
Câu 7: Nghệ thuật đối thể hiện ở hai dòng thơ nào?
A. Hai câu đề, hai câu luận
B. Hai câu luận, hai câu kết
C. Hai câu kết, hai câu thực
D. Hai câu thực, hai câu luận
Câu 8: Dòng nào sau đây nói lên cách đối trong hai câu luận của bài thơ?
A. Ngôn đối: là đối bằng lời suông
B. Sự đối: đối bằng điển cố
C. Chính đối: mỗi câu trình bày một sự việc nhưng nói lên cùng một ý
D. Phản đối: nêu hai sự việc trái ngược nhau
Câu 9: Phân tích nghệ thuật đối đặc sắc và vẻ đẹp tâm hồn của thi nhân được thể hiện qua hai câu thực của bài thơ (1đ)
Câu 10: Cảm nhận của em về bức chân dung tinh thần của Nguyễn Trãi qua bài thơ Ngôn chí 10 (viết từ 6-8 dòng) (1đ)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Quan sát bức họa, đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)

2. Từ khi có văn minh, con người đã nghĩ đến danh và lợi. Bởi luôn muốn thu vén địa vị và lợi lộc cho riêng mình, biết bao tham quan đã gây nên nghiệp chướng, oan tình, kì án, gieo rắc đau thương trên khắp thế gian. Danh và lợi là hai lưỡi kiếm rất ác độc và mãnh liệt, thường theo đuổi ta trên suốt đường đời không sao dứt bỏ được.
a. Đặt tên cho bức họa và và đoạn văn bản trên
b. Làm rõ nét tương đồng ở bức họa và đoạn văn bản trên. Chỉ ra sự khác biệt của chúng do phương tiện truyền tải thông tin mang lại (trả lời từ 5-7 dòng)
Câu 2: Viết bài luận thuyết phục người thân (bố mẹ, anh chị, bạn bè) điều chỉnh quan niệm sống: tiền là thước đo năng lực, tiền phản ánh giá trị sống của con người (3đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU

|
Câu 1: Bài thơ Ngôn chí 10 thuộc sáng tác nào sau đây của Nguyễn Trãi? A. Văn chính luận B. Thơ chữ Hán C. Thơ Nôm D. Thơ tự thuật |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Bài thơ Ngôn chí 10 thuộc những sáng tác trong thể loại thơ Nôm của Nguyễn Trãi.
→ Đáp án C
|
Câu 2: Văn bản Ngôn chí 10 thuộc thể thơ nào? Vì sao? A. Thể thơ tự do, vì các dòng không theo quy luật B. Thể thơ thất ngôn, vì mỗi dòng có 7 chữ C. Thể thơ tứ tuyệt, vì có 4 khổ, mỗi khổ 4 dòng D. Thể thơ thất ngôn bát cú xen lục ngôn vì có 7 dòng, mỗi dòng có 8 hoặc 6 chữ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý số chữ và số câu của bài thơ
Nhớ lại những đặc điểm của các thể thơ thường gặp
Lời giải chi tiết:
Văn bản thuộc thể thơ thất ngôn bát cú xen lục ngôn vì có 7 dòng, mỗi dòng có 8 hoặc 6 chữ
→ Đáp án D
|
Câu 3: Đối tượng trữ tình của bài thơ là? A. Cảnh chùa B. Đêm trăng C. Ao cá D. Cuộc sống điền viên nơi thôn quê |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý vào những hình ảnh được lặp lại nhiều lần trong bài thơ
Lời giải chi tiết:
Đối tượng trữ tình của bài thơ là cuộc sống điền viên nơi thôn quê thông qua những hình ảnh: hoa bợ, chim, cá,…
→ Đáp án D
|
Câu 4: Dòng nào gợi lên bức “chân dung” của nhân vật trữ tình trong bài thơ? A. Gắn bó với cuộc sống nơi thôn dã, yêu và hòa hợp với thiên nhiên B. Quyết tránh xa vòng danh lợi để vui thú điền viên C. Lòng thanh tịnh như nhà tu hành D. Tận hưởng thú vui tao nhã |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ và phân tích bài thơ
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Nhân vật trữ tình hiện lên trong cuộc sống yên bình, gắn bó với cuộc sống nơi thôn dã, yêu và hòa hợp với thiên nhiên
→ Đáp án A
|
Câu 5: Hình ảnh thơ trong Ngôn chí 10 có đặc điểm nổi bật nào sau đây? A. Hình ảnh thơ tươi sáng B. Hình ảnh xưa cũ C. Hình ảnh gần gũi, quen thuộc D. Hình ảnh tưởng tượng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý những hình ảnh trong bài thơ và rút ra đặc điểm nổi bật
Lời giải chi tiết:
Hình ảnh thơ trong Ngôn chí 10 mang nét gần gũi, quen thuộc, nét bình dị của làng quê Việt Nam
→ Đáp án C
|
Câu 6: Nội dung hai câu đề là? A. Sức sống nơi làng quê B. Thú vui tao nhã C. Cảnh vật, lòng người D. Ít vướng bận, vui sống |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai câu đề và rút ra nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Nội dung hai câu đề: Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy.
Có thân chớ phải lợi danh vây.
Hai câu đề mượn cảnh thiên nhiên để nói về lòng người: cảnh thanh bình như chốn chùa thiêng, lòng người cũng an nhiên, không vướng chút danh lợi quan trường
→ Đáp án C
|
Câu 7: Nghệ thuật đối thể hiện ở hai dòng thơ nào? A. Hai câu đề, hai câu luận B. Hai câu luận, hai câu kết C. Hai câu kết, hai câu thực D. Hai câu thực, hai câu luận |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Nhớ lại kiến thức về nghệ thuật đối
Lời giải chi tiết:
→ Đáp án D
|
Câu 8: Dòng nào sau đây nói lên cách đối trong hai câu luận của bài thơ? A. Ngôn đối: là đối bằng lời suông B. Sự đối: đối bằng điển cố C. Chính đối: mỗi câu trình bày một sự việc nhưng nói lên cùng một ý D. Phản đối: nêu hai sự việc trái ngược nhau |
Phương pháp giải:
Chú ý hai câu luận của bài thơ
Lời giải chi tiết:
Hai câu luận của bài thơ sử dụng cách đối Chính đối: mỗi câu trình bày một sự việc nhưng nói lên cùng một ý
→ Đáp án C
Câu 9: : Phân tích nghệ thuật đối đặc sắc và vẻ đẹp tâm hồn của thi nhân được thể hiện qua hai câu thực của bài thơ
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai câu thực và phân tích nghệ thuật đối
Lời giải chi tiết:
- Hai câu thực: Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén,
Ngày vắng xem hoa bẻ cây
- Nghệ thuật đối- chính đối: Mỗi câu trình bày một sự việc ở thời điểm khác nhau nhưng cùng nói lên một ý – lối sống thanh cao của cao nhân mặc khách diễn ra nơi thôn quê với trăng gió, cây và hoa
+Đêm trăng thanh uống rượu, nghiêng chén uống cả ánh trăng. Trăng soi bóng trong chén, lắng vào hồn thi nhân… uống rượu thưởng trăng
+Ngày ngắm hoa, chăm cây, tỉa cành…
Câu 10: Cảm nhận của em về bức chân dung tinh thần của Nguyễn Trãi qua bài thơ Ngôn chí 10 (viết từ 6-8 dòng)
Phương pháp giải:
Dựa vào phân tích của bản thân, kiến thức và kĩ năng đã học để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
- HS tự cảm nhận bằng cảm xúc của riêng mình nhưng cần thể hiện các nét chính về bức chân dung tinh thần của Nguyễn Trãi qua bài thơ
- Tham khảo những ý chính sau:
+ Lòng người trong sạch như lòng thầy chùa chân tu, không vướng bận danh lợi
+Mở rộng tâm hồn giao hòa cùng cảnh vật thôn quê: uống rượu ngắm trăng, hoa; chăm cây cảnh; ngắm chim làm tổ trên cây, cá bơi từng đàn dưới nước
+Không quan tâm sự đời, thấy lòng thanh thản với thú vui đẹp…
PHẦN II. VIẾT
Câu 1: Quan sát bức họa, đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi a,b
a. Đặt tên cho bức họa và văn bản trên
Phương pháp giải:
Quan sát kĩ bức họa và đọc kĩ văn bản để rút ra nội dung chính, từ đó đưa ra câu trả lời
Lời giải chi tiết:
- HS tự đặt tên theo ý cá nhân, cần làm nổi bật bản chất của bức họa, đoạn văn bản
- Tham khảo gợi ý sau:
+Bức họa: Hành trình danh vọng, tiền tài/ Sức mạnh của đồng tiền
+Đoạn văn bản : Hậu họa của danh vọng
b. Làm rõ nét tương đồng ở bức họa và đoạn văn bản trên. Chỉ ra sự khác biệt của chúng do phương tiện chuyển tải thông tin mang lại (trả lời từ 5-7 dòng)
Phương pháp giải:
- Quan sát kĩ bức họa và đọc kĩ đoạn văn bản
Lời giải chi tiết:
- Nét tương đồng: cùng nói về vấn đề danh lợi, tiền tài của đời người
- Khác biệt:
+ Bức họa: dùng hình ảnh, hình khối minh họa cụ thể sinh động hành trình, thái độ con người trước danh lợi; thế đứng của con người khi có danh lợi
+ Đoạn văn bản: dùng ngôn ngữ diễn tả nỗi đau của con người do lòng tham danh lợi mang đến… Con người khó thoát khỏi vòng danh lợi.
Câu 2: Viết bài văn
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
|
… thuyết phục người thân (bố mẹ, anh chị, bạn bè) điều chỉnh quan niệm sống: tiền là thước đo năng lực, tiền phản ánh giá trị sống của con người. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0.25 |
- Giới thiệu vấn đề: tiền là thước đo năng lực, tiền phản ánh giá trị sống của con người - Thái độ người viết về quan niệm trên |
|
Thân bài |
2.0 |
Gồm các ý chính (từ 2 luận điểm trở lên) - Nhận thức, phân tích về vai trò của đồng tiền +Hiểu đúng: là phương tiện của cuộc sống, mỗi người cần làm ra tiền tự nuôi sống bản thân, giúp đỡ gia đình… +Tác hại của việc hiểu chưa đúng: coi tiền là mục đích sống → dễ dẫn đến sai lầm, hy sinh sức khỏe, hạnh phúc,… - Nêu ngắn gọn quan điểm của bản thân và đề xuất sự điều chỉnh quan niệm và hành động sống… |
|
Kết bài |
0.5 |
- Khẳng định vai trò của quan niệm sống đúng, phù hợp với thời đại - Nhận thức, lựa chọn lối sống, hành động của bản thân… |
|
Yêu cầu khác |
0.25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận). - Diễn đạt rõ ý, lập luận logic; suy luận, bình luận phù hợp với văn hóa dân tộc,.. - Dẫn chứng đa dạng |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 2
Đề thi
Học sinh đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
Ngôn chí – bài 10
(Nguyễn Trãi)
Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy.
Có thân chớ phải lợi danh vây.
Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén,
Ngày vắng xem hoa bợ (1) cây.
Cây rợp chồi cành chim kết tổ,
Ao quang mấu ấu (2) cá nên bầy.
Ít nhiều tiêu sái (3) lòng ngoài thế,
Năng một ông này đẹp thú này
(Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, 1976)
Chú thích:
(1) Bợ cây: chăm nom, săn sóc cây
(2) Mấu ấu: mầm cây củ ấu.
(4) Tiêu sái: thảnh thơi, thoát tục.
(5) Năng: có thể, hay.
Câu 1: Bài thơ Ngôn chí 10 thuộc sáng tác nào sau đây của Nguyễn Trãi?
A. Văn chính luận
B. Thơ chữ Hán
C. Thơ Nôm
D. Thơ tự thuật
Câu 2: Văn bản Ngôn chí 10 thuộc thể thơ nào? Vì sao?
A. Thể thơ tự do, vì các dòng không theo quy luật
B. Thể thơ thất ngôn, vì mỗi dòng có 7 chữ
C. Thể thơ tứ tuyệt, vì có 4 khổ, mỗi khổ 4 dòng
D. Thể thơ thất ngôn bát cú xen lục ngôn vì có 7 dòng, mỗi dòng có 8 hoặc 6 chữ
Câu 3: Dòng nào nói lên đặc điểm thiên nhiên trong Ngôn chí 10- Nguyễn Trãi?
A. Cảnh trí thiên nhiên tươi đẹp với màu sắc, âm thanh tươi tắn, rộn ràng
B. Hiện lên rất đa dạng, sinh động, có sức sống riêng
C. Những nét phác họa hết sức tài tình về vẻ đẹp hùng vĩ
D. Thiên nhiên thấm đẫm nỗi buồn của thi nhân
Câu 4: Bài thơ Ngôn chí 10 đã thể hiện:
A. Tình yêu thiên nhiên say đắm, nồng nàn của bậc hiền nhân
B. Sự gắn bó với làng quê của một nông dân hồn hậu, chất phác
C. Cách thưởng thức thiên nhiên của một nghệ sĩ
D. Thiên nhiên đầy ắp chất nhạc, chất họa
Câu 5: Nội dung hai câu luận nói về điều gì?
A. Cảnh vật, lòng người
B. Thú vui tao nhã
C. Sức sống nơi làng quê
D. Ít vướng bận,vui sống
Câu 6: Câu thơ: Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy được hiểu là?
A. Quang cảnh vắng như cảnh chùa Bà Đanh
B. Quang cảnh thanh tĩnh như cảnh chùa, lòng người trong sạch như lòng thầy chùa chân tu
C. Lòng người lạnh băng, dửng dưng như thầy chùa chân tu
D. Lòng người như cảnh tĩnh lặng, hoang vắng
Câu 7: Dòng nào nói lên nội dung câu thơ: Có thân chớ phải lợi danh vậy?
A. Thân chớ bị vây bọc, lệ thuộc vào danh lợi
B. Có thân phải có danh lợi
C. Sống trong vòng vây danh lợi mới thú vị
D. Danh lợi là giá trị của bản thân
Câu 8: Câu thơ: Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén được hiểu là?
A. Uống rượu nghiêng chén uống cả trăng
B. Nghiêng chén uống rượu như hớp cả bóng trăng trong chén
C. Uống rượu và ngắm trăng trong chén
D. Thưởng trăng và uống rượu – thú vui tao nhã
Câu 9: Phân tích nghệ thuật đối đặc sắc và vẻ đẹp tâm hồn của thi nhân được thể hiện qua hai câu thực của bài thơ (1đ)
Câu 10: Cảm nhận của em về bức chân dung tinh thần của Nguyễn Trãi qua bài thơ Ngôn chí 10 (viết từ 6-8 dòng) (1đ)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Quan sát bức họa, đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)

2. Từ khi có văn minh, con người đã nghĩ đến danh và lợi. Bởi luôn muốn thu vén địa vị và lợi lộc cho riêng mình, biết bao tham quan đã gây nên nghiệp chướng, oan tình, kì án, gieo rắc đau thương trên khắp thế gian. Danh và lợi là hai lưỡi kiếm rất ác độc và mãnh liệt, thường theo đuổi ta trên suốt đường đời không sao dứt bỏ được.
a. Đặt tên cho bức họa và văn bản trên
b. Làm rõ nét tương đồng ở bức họa và đoạn văn bản trên. Chỉ ra sự khác biệt của chúng do phương tiện chuyển tải thông tin mang lại (trả lời từ 5-7 dòng)
Câu 2: Viết bài luận thuyết phục người thân (bố mẹ, anh chị, bạn bè) điều chỉnh quan niệm sống: tiền là thước đo năng lực, tiền phản ánh giá trị sống của con người (3đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU

|
Câu 1: Bài thơ Ngôn chí 10 thuộc sáng tác nào sau đây của Nguyễn Trãi? A. Văn chính luận B. Thơ chữ Hán C. Thơ Nôm D. Thơ tự thuật |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Bài thơ Ngôn chí 10 thuộc những sáng tác trong thể loại thơ Nôm của Nguyễn Trãi.
→ Đáp án C
|
Câu 2: Văn bản Ngôn chí 10 thuộc thể thơ nào? Vì sao? A. Thể thơ tự do, vì các dòng không theo quy luật B. Thể thơ thất ngôn, vì mỗi dòng có 7 chữ C. Thể thơ tứ tuyệt, vì có 4 khổ, mỗi khổ 4 dòng D. Thể thơ thất ngôn bát cú xen lục ngôn vì có 7 dòng, mỗi dòng có 8 hoặc 6 chữ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý số chữ và số câu của bài thơ
Nhớ lại những đặc điểm của các thể thơ thường gặp
Lời giải chi tiết:
Văn bản thuộc thể thơ thất ngôn bát cú xen lục ngôn vì có 7 dòng, mỗi dòng có 8 hoặc 6 chữ
→ Đáp án D
|
Câu 3: Dòng nào nói lên đặc điểm thiên nhiên trong Ngôn chí 10- Nguyễn Trãi? A. Cảnh trí thiên nhiên tươi đẹp với màu sắc, âm thanh tươi tắn, rộn ràng B. Hiện lên rất đa dạng, sinh động, có sức sống riêng C. Những nét phác họa hết sức tài tình về vẻ đẹp hùng vĩ D. Thiên nhiên thấm đẫm nỗi buồn của thi nhân |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý vào những hình ảnh thiên nhiên trong bài
Lời giải chi tiết:
Thiên nhiên trong bài thơ hiện lên rất đa dạng: từ cảnh thanh tịnh nơi chùa chiền, đến đêm trăng tròn, cây cối đâm chồi nảy lộc, ao cá,… tất cả tạo nên sức sống sinh động, tạo điểm nhấn cho toàn bài thơ.
→ Đáp án B
|
Câu 4: Bài thơ Ngôn chí 10 đã thể hiện: A. Tình yêu thiên nhiên say đắm, nồng nàn của bậc hiền nhân B. Sự gắn bó với làng quê của một nông dân hồn hậu, chất phác C. Cách thưởng thức thiên nhiên của một nghệ sĩ D. Thiên nhiên đầy ắp chất nhạc, chất họa |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ và phân tích bài thơ
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Nhân vật trữ tình hiện lên trong cuộc sống yên bình, gắn bó với cuộc sống nơi thôn dã, yêu và hòa hợp với thiên nhiên
→ Đáp án A
|
Câu 5: Nội dung hai câu luận nói về điều gì? A. Cảnh vật, lòng người B. Thú vui tao nhã C. Sức sống nơi làng quê D. Ít vướng bận,vui sống |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai câu luận
Lời giải chi tiết:
Hai câu luận:
Cây rợp chồi cành chim kết tổ,
Ao quang mấu ấu cá nên bầy.
Hình ảnh cây đâm chồi, chim kết tổ, ao quang mấu ấu thể hiện cho sức sống mới của thiên nhiên, sự sinh sôi nảy nở và phát triển của tạo hóa. Đó cũng chính là sức sống mãnh liệt nơi làng quê
→ Đáp án C
|
Câu 6: Câu thơ: Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy được hiểu là? A. Quang cảnh vắng như cảnh chùa Bà Đanh B. Quang cảnh thanh tĩnh như cảnh chùa, lòng người trong sạch như lòng thầy chùa chân tu C. Lòng người lạnh băng, dửng dưng như thầy chùa chân tu D. Lòng người như cảnh tĩnh lặng, hoang vắng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu thơ
Chú ý những hình ảnh nổi bật
Lời giải chi tiết:
Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy: Quang cảnh thanh tĩnh như cảnh chùa, lòng người trong sạch như lòng thầy chùa chân tu
→ Đáp án B
|
Câu 7: Dòng nào nói lên nội dung câu thơ: Có thân chớ phải lợi danh vây? A. Thân chớ bị vây bọc, lệ thuộc vào danh lợi B. Có thân phải có danh lợi C. Sống trong vòng vây danh lợi mới thú vị D. Danh lợi là giá trị của bản thân |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu thơ
Lời giải chi tiết:
Nội dung câu thơ: Thân chớ bị vây bọc, lệ thuộc vào danh lợi
→ Đáp án A
|
Câu 8: Câu thơ: Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén được hiểu là? A. Uống rượu nghiêng chén uống cả trăng B. Nghiêng chén uống rượu như hớp cả bóng trăng trong chén C. Uống rượu và ngắm trăng trong chén D. Thưởng trăng và uống rượu – thú vui tao nhã |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu thơ
Chú ý những hình ảnh xuất hiện trong câu thơ
Lời giải chi tiết:
Nội dung câu thơ: Nghiêng chén uống rượu như hớp cả bóng trăng trong chén
→ Đáp án B
Câu 9: : Phân tích nghệ thuật đối đặc sắc và vẻ đẹp tâm hồn của thi nhân được thể hiện qua hai câu thực của bài thơ
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai câu thực và phân tích nghệ thuật đối
Lời giải chi tiết:
- Hai câu thực: Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén,
Ngày vắng xem hoa bẻ cây
- Nghệ thuật đối- chính đối: Mỗi câu trình bày một sự việc ở thời điểm khác nhau nhưng cùng nói lên một ý – lối sống thanh cao của cao nhân mặc khách diễn ra nơi thôn quê với trăng gió, cây và hoa
+Đêm trăng thanh uống rượu, nghiêng chén uống cả ánh trăng. Trăng soi bóng trong chén, lắng vào hồn thi nhân… uống rượu thưởng trăng
+Ngày ngắm hoa, chăm cây, tỉa cành…
Câu 10: Cảm nhận của em về bức chân dung tinh thần của Nguyễn Trãi qua bài thơ Ngôn chí 10 (viết từ 6-8 dòng)
Phương pháp giải:
Dựa vào phân tích của bản thân, kiến thức và kĩ năng đã học để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
- HS tự cảm nhận bằng cảm xúc của riêng mình nhưng cần thể hiện các nét chính về bức chân dung tinh thần của Nguyễn Trãi qua bài thơ
- Tham khảo những ý chính sau:
+ Lòng người trong sạch như lòng thầy chùa chân tu, không vướng bận danh lợi
+Mở rộng tâm hồn giao hòa cùng cảnh vật thôn quê: uống rượu ngắm trăng, hoa; chăm cây cảnh; ngắm chim làm tổ trên cây, cá bơi từng đàn dưới nước
+Không quan tâm sự đời, thấy lòng thanh thản với thú vui đẹp…
PHẦN II. VIẾT
Câu 1: Quan sát bức họa, đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi a,b
a. Đặt tên cho bức họa và văn bản trên
Phương pháp giải:
Quan sát kĩ bức họa và đọc kĩ văn bản để rút ra nội dung chính, từ đó đưa ra câu trả lời
Lời giải chi tiết:
- HS tự đặt tên theo ý cá nhân, cần làm nổi bật bản chất của bức họa, đoạn văn bản
- Tham khảo gợi ý sau:
+Bức họa: Hành trình danh vọng, tiền tài/ Sức mạnh của đồng tiền
+Đoạn văn bản : Hậu họa của danh vọng
b. Làm rõ nét tương đồng ở bức họa và đoạn văn bản trên. Chỉ ra sự khác biệt của chúng do phương tiện chuyển tải thông tin mang lại (trả lời từ 5-7 dòng)
Phương pháp giải:
- Quan sát kĩ bức họa và đọc kĩ đoạn văn bản
Lời giải chi tiết:
- Nét tương đồng: cùng nói về vấn đề danh lợi, tiền tài của đời người
- Khác biệt:
+ Bức họa: dùng hình ảnh, hình khối minh họa cụ thể sinh động hành trình, thái độ con người trước danh lợi; thế đứng của con người khi có danh lợi
+ Đoạn văn bản: dùng ngôn ngữ diễn tả nỗi đau của con người do lòng tham danh lợi mang đến… Con người khó thoát khỏi vòng danh lợi.
Câu 2: Viết bài văn
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
|
… thuyết phục người thân (bố mẹ, anh chị, bạn bè) điều chỉnh quan niệm sống: tiền là thước đo năng lực, tiền phản ánh giá trị sống của con người. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0.25 |
- Giới thiệu vấn đề: tiền là thước đo năng lực, tiền phản ánh giá trị sống của con người - Thái độ người viết về quan niệm trên |
|
Thân bài |
2.0 |
Gồm các ý chính (từ 2 luận điểm trở lên) - Nhận thức, phân tích về vai trò của đồng tiền +Hiểu đúng: là phương tiện của cuộc sống, mỗi người cần làm ra tiền tự nuôi sống bản thân, giúp đỡ gia đình… +Tác hại của việc hiểu chưa đúng: coi tiền là mục đích sống → dễ dẫn đến sai lầm, hy sinh sức khỏe, hạnh phúc,… - Nêu ngắn gọn quan điểm của bản thân và đề xuất sự điều chỉnh quan niệm và hành động sống… |
|
Kết bài |
0.5 |
- Khẳng định vai trò của quan niệm sống đúng, phù hợp với thời đại - Nhận thức, lựa chọn lối sống, hành động của bản thân… |
|
Yêu cầu khác |
0.25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận). - Diễn đạt rõ ý, lập luận logic; suy luận, bình luận phù hợp với văn hóa dân tộc,.. - Dẫn chứng đa dạng |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
BÀ LÃO LÒA
(Vũ Trọng Phụng)
76 tuổi đầu, mỗi bữa thất thểu ăn một lưng cơm, bà lão lòa ở nhờ một đứa cháu họ, thật đã lắm phen cực nhục. Cháu bà, bác đánh giậm, với vợ, một chị mò cua bắt ốc, khốn thay, dưới nách hai đứa con mọn, cũng lắm phen nhăn nhó vì chẳng đủ ăn. Hai mươi năm về trước, bà lão lòa này còn là người có của trong làng. Con trai bà nó chơi, nó phá, nó bán ruộng, cầm nhà rồi nó bỏ bà nó đi, chẳng biết đi đâu, lòng mẹ đối với con tuy có giận mà vẫn có thương, bà khóc lóc một mình đến nỗi lòa cả mắt. Trong thời bà còn giàu có, ngoài những việc cúng tiền tô tượng đúc chuông, bà còn năng giúp đỡ kẻ nghèo khó; trong họ ngoài làng, nhiều người đã được nhờ bà mà đến khi bà gặp bước khốn cùng thì chẳng ai thương cả. Cũng vì xưa kia đã nhiều phen ngửa tay nhận lấy đồng tiền cứu giúp của bà, bác đánh giậm đành cắn răng, vuốt bụng, nhắm mắt nuôi cô trong lúc hoạn nạn. Nhưng vốn bị ma nghèo ám ảnh, mới nuôi cô được độ ba năm, bác đánh giậm đã thấy nản lòng. Cái cảnh túng bấn nó thường đẩy người ta vào chốn bùn nhơ, nó thường buộc người vào vòng tội lỗi, đối với bác đánh giậm, ác hơn, nó làm bác quên bỏ cả lương tâm. Quên hẳn cái ơn ngày trước, bác ta chỉ còn biết xót ruột khi bà lão lòa lò rò ngồi vào mâm, cướp cơm của vợ, của con nhà bác.
Buổi chiều hôm ấy... Trước túp lều tranh xiêu vẹo như chỉ còn chờ một trận gió to là đổ ụp xuống, cái sân đầy những bã mía, lá khô, một mâm cơm bát đàn đũa mộc trong để đĩa cá rô kho chuối với đĩa cá đen sịt đen sì, cầm trên tay mấy bát cơm ngô vàng ói, bà lão lòa, bác gái và hai đứa bé chỉ còn chờ bác trai rửa mặt rửa chân tay, ngồi vào là cùng cầm đũa. Đàn ruồi vù vù bay lung tung như đánh trận, hết bâu đầy vào mấy nốt mụn chốc trên đầu thắng cụ còn lại bay xuống đặt mình vào đĩa cá.
Bác trai, người mảnh khảnh, đen như củ súng, trấn răn, má hợp, mặt kèm nhèm, mặc cái áo vải và đã đến năm mười miếng mụn, đóng khổ, vừa ngồi xổm xuống đất cầm lấy bát cơm, vợ đã vội hỏi:
- Bố nó hôm nay kiếm được bao nhiêu tất cả...? Ấy tôi chỉ được có bốn sóc cua hai xu với một mẹt tôm riu năm xu là bảy dãy thôi. Gạo ăn bữa mại hết rồi […]
Bà lão lòa, ăn hết một lưng, tay lấy bẩy chìa bát ra toàn xin ít nữa, chưa kịp nói, bác gái đã quát:
- Hết rồi... Còn đâu nữa mà chìa mãi bát ra... Đến tôi đây quần quật suốt ngày, đã ốm cả xác mà cũng chỉ được có ba lưng thôi đấy… Bà không phải làm gì, ngồi nhà ăn ít cũng được.
Bà lão giật mình, đó người ra một lúc rồi đứng lên đi vào trong nhà, ngồi xuống bậu cửa, lấy cái tăm gài trên mái tóc xuống xỉa răng. trong trí nhớ của bà lại thấy hiện ra:
[....] Giữa chợ gần chỗ hàng gà, hàng cá, mùi hôi tanh xông lên nhức đầu, một đám đông xúm quanh một người đàn bà ăn mặc rách rưới, tay ôm đứa bé chừng bốn năm tháng.
- Thưa bà, cháu chỉ lấy có năm đồng thôi đấy ạ.
- Thôi, chả của đâu mà trả đến năm đồng. Trông gầy thế kia, biết rồi có sống được không? Ba đồng đấy, bằng lòng đi!...
- Rõ tội nghiệp chưa! Tôi mà có năm đồng thì tôi trả ngay..!
Bỗng có một bà ăn mặc lụa là, phúc hậu, len lỏi vào cất tiếng dõng dạc hỏi:
- Này nhà bác kia! Làm gì mà đến nỗi phải bán con đi thế?
- Thưa bà, nhà con phải bệnh, liệt giường liệt chiếu đã hơn nửa tháng nay, không có tiền thuốc thang gì thì chết mất. Con phải bán cháu đi để cứu lấy nhà con...
- Này..! Cứ ẵm cháu về, đừng có bán nó đi mà phải tội đấy! Năm đồng đây tôi xin giúp. Hãy cầm về mà liệu thuốc men cho bác trai. Người kia ngạc nhiên ngơ ngác nhìn lên, mãi chưa dám tin là thật, bàng hoàng như đang lúc chiêm bao… phục ngay xuống đất mà rưng rức khóc. Đám người tản mát, có kẻ thì thào: người đâu mà phúc đức tệ.
Ấy đó, đổi lại bao nhiêu điều thiện xưa kia ông trời cay nghiệt nay đều trả bà bằng hai con mắt lòa với một cảnh ăn gửi nằm nhở cực kỳ khổ sở. Cho rằng kiếp xưa tiền oan nghiệp chướng chỉ đây, nghĩ thương mình, thương đứa con bất hiếu, thương vợ chồng con cái bác đánh giậm, bà lão lòa thổn thức, trên hai gò má răn reo lại thấy mấy giọt nước mắt chảy ròng ròng. Bà lão gục đầu xuống gối tỉ tê khóc không ra tiếng, chỉ thấy sụt sùi hậm hực, khiến thằng cu con lò rò bò đến với bà, không hiểu ra sao bỗng cũng khóc thét lên. Bác gái chạy vào bực mình xỉa xói [...]
- Trời làm đói kém thế này, vợ chồng chúng tôi không thể nuôi bà được nữa
đâu, bà phải liệu mà giúp đỡ chúng tôi mới được. Rồi từ mai trở đi, để thằng cháu nó giắt bà ra đầu đê, bà ngả nón dưới bóng cây gạo mà ngồi, thấy tiếng người chợ búa qua lại thì bà chìa rá ra xin, nếu có được mỗi ngày một vài xu cũng là đỡ được cái mồm bà rồi đấy...
Đã được nửa tháng nay, sáng nào cũng thấy thắng cu lớn dắt bà ra ngồi đầu đê rồi chiều đến lại dắt về... Chẳng may, nếu hôm nào về tay không thì vợ bác đánh giậm - cháu bà - lại nghiến răng xỉa xói thậm tệ:
- Hôm nay chẳng ai thí cho bà đồng nào..! Bà có biết thế là bà lại ăn phần cơm của thăng cu lớn đấy không? Từ mai, bà liệu mà kêu to lên mới được... Hay tại bà ngồi dưới bóng cây mát mà ngủ thiếp đi...? Bà liệu đấy…!
Bát cơm ngô điểm quả cà thiu, bà lão lòa trước khi và vào mồm đã chan đầy như canh bằng nước mắt.
Một ngày kia, trời tháng ba nắng gay gắt, bà lão lòa dưới gốc cây gạo, ngồi từ sáng đến quá trưa, bụng đã đói mềm mà chẳng thấy người khách đi đường nào vứt cho lấy một đồng trinh...bốn bề im lặng như tờ. Hai cánh tay khẳng khiu ôm lấy bụng mà nhăn nhó, cố quật lại với cái đói nó cào xé ruột gan, bà lão lòa thở hổn ha hổn hển.
Chợt có tiếng người giẫm lạo xạo trên đống lá khô, đi về phía mình bà lão vội chìa ngay nón:
- Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại...! Cứu cho thân tôi lấy một miếng cơm...
- Tôi đây...! Phải ai đâu mà lạy với lục...? Bà được đồng nào chưa thì đưa đây cho tôi...
- Đã được đồng nào đâu...? Chẳng thấy ai đi qua đây cả... Mẹ nó có dắt tôi về thì dắt, tôi đói lắm rồi...!
- Bà đói à? Bà đói thì dễ tôi no à? Bà hãy ngồi đấy xem sao, buổi chợ chiều nay, rồi họ về qua đây nhiều... chốc nữa, tôi sẽ bảo thằng cu nó ra nó dắt....
Rồi bác ta thoăn thoắt bước đi...Bỗng trên trời mây kéo đen nghịt tối sầm hẳn lại, rồi nổi một cơn giông. Bác đánh giậm chạy vội ra sân vơ quần áo đem vào nhà, giục thằng cu lớn mau mau chạy ra để dắt bà về kẻo mưa to gió lớn. Nghe câu ấy, bác gái ngồi ôm con một góc giường cau mày ngẫm nghĩ: Thật vậy! Ba bốn năm nay, bác ta đã nhịn như nhịn cơm sống ấy rồi, quá lắm thì không chịu được. Mặc kệ bà ấy! Để bà ấy chết quách đi cho rãnh mắt.
[....] Không, không! Không thể thế được... Bà lão ấy chỉ là một bà cô... mà lạ là cô họ chồng, có lẽ nào báo hại mãi nhau.
Kìa! Thằng cu! Tao bảo thế nào…? Không bỏ bếp đấy mà ra dắt bà về à?
Bỗng bác gái đặt phịch con xuống giường, quặn mình nhăn nhó:
- Ôi trời đất ôi...! Ôi trời đất ôi…!
- Chết chửa… làm sao thế? Sao thế hở mẹ nó?
- Sao mà bụng tôi cứ thấy đau xoắn lại thế này! Ối trời đất ôi, đau thế này thì đến chết mất thôi
- Chết chửa! Kìa thằng cu.. ẵm em dỗ đi.. dỗ đi cho nó nín rồi dậy đấm cho u mày một chốc… để tao đi nướng hòn gạch mà chườm bụng vậy… Rõ khổ chửa?
[…]Tiếng sấm động ù ù, mỗi khi chớp nhoảng chớp nhoáng nó lại nom rõ thấy giữa những vũng bong bóng phập phồng, những dây nước ròng ròng từ mái tranh rỏ xuống. Chợt nghĩ đến bà nó ở ngoài đầu đê không biết ra sao, quay lại nhìn thì bố nó vẫn lúi húi dọn cơm, nét mặt thản nhiên như không, thằng cu phụng phịu nét mặt, hỏi gắt:
- Kìa thày! Thế bà ở ngoài đầu đê,
Nó chưa nói hết cầu, bố nó đã như bị một luồng điện giật nảy người ra, mắt tròn xoe, mãi mới nói được.
- Chết chửa! Biết làm thế nào bây giờ. U mày đau bụng, kêu rồi rít lên, làm tao cũng quên bẵng đi mất…
- Thế thì chắc bà chết rét mất rồi... Còn gì nữa…
Nghĩ đến cái chết của bà lão lòa ở ngoài đầu đề - tình cháu đối với cô – bác đánh giậm rùng mình, rợn tóc gáy nhưng bác tự dối lương tâm, bác đáp lại con:
- Ôi già... chả việc gì phải sợ.. dễ bà lại không biết lần mò đến một cải quán nào đẩy mà ẩn hay sao...?
Rồi bác gọi vợ con dậy ăn cơm. Bữa ấy bác gái tuy kêu đau bụng mà cũng cố ăn được đến bốn năm lưng, mặc dầu hai đứa bé không thấy bà nó đâu, thường nhắc đi nhắc lại. Trời vẫn mưa, lúc to lúc nhỏ, rả rích suốt đêm.
Sáng hôm sau, ánh sáng mặt trời xé những đám mây bay tan tác, chiều xuống trông lại càng tươi càng đẹp. [...]
Bác đánh giậm hôm ấy dậy rất sớm, đóng khổ, cài rổ, vác vợt ra đi... Mon men ở dưới chân để, lội lõm bom qua mấy vũng bùn lầy xa xa, phía dưới cây gạo - chỗ bà lão lòa vẫn ngồi, bác thấy giữa ruộng, trong một đám mạ xanh tươi tốt, một đàn quạ, con bay con liệng, kêu sào sạc rồi đậu xúm xít vào một chỗ. Bụng tưởng hẳn là một tổ rắn chi đây, bác ta vác ngay một vợt tre lên mặt rồi phăm phăm chạy lại. Đàn quạ vùng bay lên rồi tản mác đi... Chao ôi! Bước vừa đến nơi thì bỗng bác ta rú lên một tiếng, trợn mắt rít răng mà ngã phục xuống.[…]
(https://by.com.vn/YYE12)
Câu 1: Những dấu hiệu KHÔNG cho biết văn bản trên là truyện ngắn?
A. Nhân vật ít
B. Dung lượng ngắn (gần 4 trang)
C. Sự việc diễn ra chủ yếu ở một gia đình
D. Phản ánh xã hội rộng lớn
Câu 2: Dòng nào nói lên thông tin từ nhan đề của tác phẩm?
A. Đề tài
B. Nhân vật chính
C. Chủ đề
D. Bức thông điệp
Câu 3: Nhân vật chính của truyện ngắn trên là?
A. Bà lão lòa
B. Hai mẹ con bà lão lòa
C. Bà lão lòa, hai vợ chồng người cháu họ
D. Hai bố con người cháu họ
Câu 4: Nội dung của đoạn mở đầu văn bản là?
A. Cực nhục và kí ức
B. Bà lão chết trong mưa gió
C. Gia cảnh bà lão lòa
D. Bà lão lòa phải đi ăn xin
Câu 5: Nội dung nào sau đây nén nhiều sự việc (hàm súc) có khả năng phản ánh số phận của nhân vật như tiểu thuyết?
A. Bà lão lòa phải đi ăn xin
B. Gia cảnh bà lão lòa
C. Bà lão chết trong mưa gió
D. Cực nhục và kí ức
Câu 6: Đoạn có chứa nội dung Cực nhục và kí ức sử dụng thủ pháp nghệ thuật chính nào? Để làm gì?
A. Đối thoại để làm nổi bật bản chất của người cháu dâu
B. Tái hiện hồi ức để làm nổi bật tấm lòng nhân hậu của bà lão
C. Đối lập tương phản để khắc họa nỗi cực nhục hiện tại của bà lão
D. Đối thoại để làm nổi bật tình cảnh cơ cực của vợ chồng người cháu họ
Câu 7: Các sự việc trong tác phẩm được sắp xếp theo trình tự nào?
A. Thời gian
B. Không gian
C. Hiện thực, hồi ức đan xen
D. Tất cả các ý trên
Câu 8: Dòng nào nói lên cảm hứng bao trùm toàn tác phẩm?
A. Phê phán người cháu dâu tệ bạc
B. Xót thương cho bao kiếp người cơ cực
C. Ngợi ca tấm lòng cậu bé (con trai người cháu)
D. Lên án người con trai của bà lão lòa
Câu 9: Phân tích lời nói, hành động người cháu họ của bà lão lòa khi vợ kêu đau bụng, khi bà lão lòa ở ngoài đê trong mưa cho đến sáng hôm sau để thấy được bản chất con người này (1đ)
Câu 10: Em hãy viết tiếp câu chuyện về 3 nhân vật trong gia đình người cháu họ sau khi người chồng rú lên một tiếng, trợn mắt rít răng mà ngã phục xuống ngoài cánh đồng (khoảng 5-10 câu)(1đ)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Quan sát 2 bức ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)

a. Chỉ ra nét tương đồng và khác biệt ở 2 bức ảnh trên và đề xuất một chủ đề liên quan tới hai bức ảnh
b. Bức ảnh nào gây nên cảm xúc mãnh liệt ở em? Yếu tố nào gợi lên cảm xúc đó?
Câu 2: Chọn 1 trong 2 đề sau:
Đề 1: Viết bài luận thể hiện suy nghĩ, thái độ và quan điểm của cá nhân về vấn đề được phản ánh trong bức ảnh số 2
Đề 2: Viết bài luận phân tích truyện ngắn Bà lão lòa
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU

|
Câu 1: Những dấu hiệu KHÔNG cho biết văn bản trên là truyện ngắn? A. Nhân vật ít B. Dung lượng ngắn (gần 4 trang) C. Sự việc diễn ra chủ yếu ở một gia đình D. Phản ánh xã hội rộng lớn |
Phương pháp giải:
Nhớ lại dấu hiệu nhận biết thể loại truyện ngắn
Lời giải chi tiết:
Dấu hiệu nhận biết thể loại truyện ngắn:
- Truyện ngắn chỉ chứa một biến cố cơ bản. Sự kiện ít, xung đột ít, cốt truyện thì đơn giản.
- Truyện ngắn có thời gian và không gian của câu chuyện phụ thuộc vào người kể, môi trường, hoàn cảnh câu chuyện.
- Truyện ngắn miêu tả nhân vật ở những khía cạnh nổi bật nhất.
- Truyện ngắn thường ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp.
- Truyện ngắn được tạo dựng từ những chi tiết hết sức hấp dẫn, sinh động.
- Truyện ngắn thường có kết cấu bất ngờ đột biến, hoặc tương phản, hoặc liên tưởng.
→ Đáp án D (phản ánh xã hội rộng lớn là đặc điểm của thể loại tiểu thuyết)
|
Câu 2: Dòng nào nói lên thông tin từ nhan đề của tác phẩm? A. Đề tài B. Nhân vật chính C. Chủ đề D. Bức thông điệp |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhan đề tác phẩm
Rút ra thông tin từ nhan đề
Lời giải chi tiết:
Nhan đề: Bà lão lòa cho người đọc biết nhân vật chính của tác phẩm
→ Đáp án B
|
Câu 3: Nhân vật chính của truyện ngắn trên là? A. Bà lão lòa B. Hai mẹ con bà lão lòa C. Bà lão lòa, hai vợ chồng người cháu họ D. Hai bố con người cháu họ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ tác phẩm
Đưa ra câu trả lời về nhân vật chính của truyện
Lời giải chi tiết:
Câu chuyện xoay quanh nhân vật chính là Bà lão lòa (cũng chính là nhan đề tác phẩm)
→ Đáp án A
|
Câu 4: Nội dung của đoạn mở đầu văn bản là? A. Cực nhục và kí ức B. Bà lão chết trong mưa gió C. Gia cảnh bà lão lòa D. Bà lão lòa phải đi ăn xin |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn đầu tác phẩm
Rút ra nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Nội dung chính của đoạn mở đầu tác phẩm: Gia cảnh bà lão lòa thông qua những chi tiết:
- Ở nhờ một đứa cháu họ, lắm phen cực nhục
- Hai mươi năm về trước, bà lão lòa này còn là người có của trong làng. Con trai bà bó chơi, nó phá, nó bán ruộng,…
….
→ Đáp án C
|
Câu 5: Nội dung nào sau đây nén nhiều sự việc (hàm súc) có khả năng phản ánh số phận của nhân vật như tiểu thuyết? A. Bà lão lòa phải đi ăn xin B. Gia cảnh bà lão lòa C. Bà lão chết trong mưa gió D. Cực nhục và kí ức |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Nội dung nén nhiều sự việc (hàm súc) có khả năng phản ánh số phận của nhân vật như tiểu thuyết là Gia cảnh bà lão lòa
- Trước đây, gia cảnh bà lão thuộc dạng khá nhưng vì người con ăn chơi nên bà mới ra cơ sự như vậy
- Trong thời gian còn giàu có, bà năng làm việc thiện, giúp đỡ những kẻ nghèo khó
- Sau này, khi túng quẫn phải ở cùng gia đình người cháu, tất cả sự đau khổ của bà lão mới thực sự bắt đầu
→ Đáp án B
|
Câu 6: Đoạn có chứa nội dung Cực nhục và kí ức sử dụng thủ pháp nghệ thuật chính nào? Để làm gì? A. Đối thoại để làm nổi bật bản chất của người cháu dâu B. Tái hiện hồi ức để làm nổi bật tấm lòng nhân hậu của bà lão C. Đối lập tương phản để khắc họa nỗi cực nhục hiện tại của bà lão D. Đối thoại để làm nổi bật tình cảnh cơ cực của vợ chồng người cháu họ |
Phương pháp giải:
Xác định đoạn có nội dung Cực nhục và kí ức
Phát hiện thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn đó
Rút ra kết luận về tác dụng của thủ pháp nghệ thuật đó
Lời giải chi tiết:
Đoạn có chứa nội dung Cực nhục và kí ức sử dụng thủ pháp nghệ thuật chính: Đối lập tương phản
Tác dụng: để khắc họa nỗi cực nhục hiện tại của bà lão
→ Đáp án C
|
Câu 7: Các sự việc trong tác phẩm được sắp xếp theo trình tự nào? A. Thời gian B. Không gian C. Hiện thực, hồi ức đan xen D. Tất cả các ý trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý cách sắp xếp các sự việc trong tác phẩm
Lời giải chi tiết:
Trình tự sắp xếp các sự việc trong tác phẩm: Hiện thực, hồi ức đan xen
→ Đáp án C
|
Câu 8: Dòng nào nói lên cảm hứng bao trùm toàn tác phẩm? A. Phê phán người cháu dâu tệ bạc B. Xót thương cho bao kiếp người cơ cực C. Ngợi ca tấm lòng cậu bé (con trai người cháu) D. Lên án người con trai của bà lão lòa |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ tác phẩm
Rút ra kết luận về cảm hứng bao trùm
Lời giải chi tiết:
Cảm hứng bao trùm toàn tác phẩm: Xót thương cho bao kiếp người cơ cực mà cụ thể ở đây là số phận của bà lão lòa
→ Đáp án B
Câu 9: Phân tích lời nói, hành động người cháu họ của bà lão lòa khi vợ kêu đau bụng, khi bà lão lòa ở ngoài đê trong mưa cho đến sáng hôm sau để thấy được bản chất con người này
Phương pháp giải:
- Liệt kê lời nói, hành động của người cháu họ
- Phân tích để rút ra kết luận về bản chất con người này
Lời giải chi tiết:
- Lời nói, hành động của người cháu:
+Kìa! Thằng cu! Tao bảo thế nào…? Không bỏ bếp đấy mà ra dắt bà về à? Ông lại đét cho bây giờ.
+ Để tao đi nướng hòn gạch mà chườm bụng vậy. Rõ khổ chửa?
+ Chết chửa! Biết làm thế nào bây giờ? U mày đau bụng, kêu rối rít lên, làm tao cũng quên bẵng đi mất…
+Nghĩ đến cái chết của bà lão lòa ở ngoài đầu đê- tình cháu đối với cô- bác đánh giậm rùng mình, rợn tóc gáy.
+ Dễ bà lại không biết lần mò đến một cái quán nào đấy mà ẩn hay sao…?
+ Chao ôi! Bước vừa đến nơi thì bỗng bác ta rú lên một tiếng, trợn mắt rít răng mà ngã phục xuống…
- Phân tích: Tác giả khắc họa nhân vật qua lời thoại, hành động, suy nghĩ…
→ Làm rõ con người chân thật, mộc mạc, thương người: lo lắng cho vợ, cho bà cô họ; nhiều lần nhân vật này phải tự trấn an mình, tự lảng đi… rất lo lắng cho bà cô già mù lòa đang ở ngoài đê, dưới mưa
→ Tình thương bị nghèo đói che khuất… cái đói, nghèo chưa thể bào mòn nhân tâm của người nông dân
Câu 10: Em hãy viết tiếp câu chuyện về 3 nhân vật trong gia đình người cháu họ sau khi người chồng rú lên một tiếng, trợn mắt rít răng mà ngã phục xuống ngoài cánh đồng (khoảng 5-10 câu)
Phương pháp giải:
Dựa vào trí tưởng tượng và sắp xếp sự kiện câu chuyện của bản thân
Lời giải chi tiết:
Học sinh tự làm (gợi ý: phát triển sự việc phù hợp với tính cách nhân vật hoặc có sự chuyển biến tính cách… Cần hướng về tính nhân văn)
PHẦN II. VIẾT
Câu 1:
a. Chỉ ra nét tương đồng và khác biệt ở 2 bức ảnh trên và đề xuất một chủ đề liên quan tới hai bức ảnh
Phương pháp giải:
Quan sát kĩ 2 bức ảnh
Rút ra nét tương đồng và khác biệt ở 2 bức ảnh
Đề xuất một chủ đề liên quan tới hai bức ảnh
Lời giải chi tiết:
- Nét tương đồng và khác biệt
+Ảnh 1: Cảnh đối lập giữa 2 đứa trẻ: giàu và đói nghèo
+ Ảnh 2: Bé trai chết bên bờ biển
+Tương đồng: cùng đề cập đến nỗi khốn khổ bất hạnh của những đứa trẻ
- Đề xuất chủ đề: Học sinh tự làm ( ngôn từ ngắn gọn, hướng vào bản chất của vấn đề)
b. Bức ảnh nào gây nên cảm xúc mãnh liệt ở em? Yếu tố nào gợi lên cảm xúc đó?
Phương pháp giải:
- Chọn một bức ảnh mà bản thân cảm thấy có cảm xúc mãnh liệt
- Đưa ra yếu tố gợi lên cảm xúc đó
Lời giải chi tiết:
- Học sinh tự lựa chọn
- Nêu yếu tố gợi cảm xúc cần logic với bức ảnh đã lựa chọn và phù hợp với văn hóa dân tộc, tính nhân, nhân loại.
Câu 2: Viết bài văn
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
Đề 1:
- Về nguồn gốc bức ảnh số 2: Cậu bé 3 tuổi người Syria bị chết đuối vào ngày 2/9/2015 ở Địa Trung Hải. Hình ảnh em nằm chết đã lên trang đầu của báo chí toàn cầu. Em cùng gia đình là những người tị nạn Syria đã vượt biên đến Châu Âu giữa cuộc khủng hoảng tị nạn Châu Âu.
|
- Xác định luận đề: Di dân đến Châu Âu |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0.25 |
- Giới thiệu nguồn gốc bức ảnh - Đánh giá khái quát của người viết |
|
Thân bài |
2.00 |
Gồm các ý chính (từ 2 luận điểm trở lên) - Làm rõ cách hiểu, hiện trạng của di dân (có dẫn chứng) - Phân tích nguyên nhân, tác hại, hệ lụy của việc di dân +Vì sao người dân lại chọn cách nhập cư trái phép/di dân? +Gây ra những cái chết trên hành trình di dân +Giải quyết vấn đề về người tị nạn + Gây ra các vấn đề về an ninh cho nước sở tại - Quan điểm người viết trong đề xuất giải pháp nhân đạo +Về phía những người di dân +Hành động nhân đạo của nước sở tại có người di dân tới (lập luận + dẫn chứng xác thực; dùng yếu tố biểu cảm) |
|
Kết bài |
0.25 |
- Vai trò của tổ chức, hành động nhân đạo với người di dân - Nhận thức, hành động của bản thân |
|
Yêu cầu khác |
0.25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Diễn đạt rõ ý; lập luận logic; suy luận, bình luận phù hợp với văn hóa dân tộc… |
Đề 2:
Truyện ngắn Bà lão lòa tái hiện cho ta ngay từ đầu thời khắc tăm tối, ê chề trong phận sống nhờ của nhân vật cùng tên - là người cô họ của bác đánh giậm. Lần hồi sau đó, tác giả đưa ta trở về với quá khứ khi bà lão còn giàu có, bà đã “giúp đỡ kẻ nghèo khó; trong họ ngoài làng, nhiều người đã được nhờ bà” thế nhưng “đến khi gặp bà bước khốn cùng thì chẳng ai thương cả”. Tác giả cũng cho ta biết rằng ngày trước bác đánh giậm “đã nhiều phen ngửa tay nhận lấy đồng tiền cứu giúp của bà” nên bây giờ “đành cắn răng, vuốt bụng, nhắm mắt” nuôi bà trong lúc hoạn nạn với nỗi niềm biết bao “xót ruột khi bà lão lòa lò rò ngồi vào mâm, cướp cơm của vợ, của con nhà bác”. Quay ngược thời gian như vậy, nhà văn đã cho ta một cái nhìn toàn diện hơn về cuộc đời bà lão lòa; đồng thời ông cũng nhấn mạnh thái độ lên án, phê phán đối với cuộc đời này. Một quá khứ tử tế, ăn ở phúc đức nhưng đổi lại chỉ là một hiện thực cay đắng : con trai ăn chơi, phá của đến nỗi “bán ruộng, cầm nhà” khiến bà thành tật nguyền, nghèo khổ và đứa cháu họ vô ơn bạc nghĩa đối xử với ân nhân của mình không ra gì. Hiện tại bà cụ chẳng gặp lành dù ngày trước đã ăn ở rất hiền lành, hiện tại người ta vong ân dù quá khứ vốn chịu nhiều ơn cứu giúp của bà – những đối nghịch thời gian đi kèm với nghịch lí cuộc đời khiến câu chuyện cứ ám ảnh chúng ta mãi.
Trong diễn tiến cuộc đời cơ cực của bà lão tội nghiệp chịu cảnh tật nguyền sống nhờ nhục nhã bỗng xuất hiện ba câu chuyện nhỏ về những hành động nhân đức của một người phụ nữ : thấy người ăn mày lụ khụ đến xin ăn bị mấy con chó “nhảy xổ ra cắn xa xả”, bà đã “quát thằng nhỏ ra mắng chó, dắt ông ăn mày vào thết một lưng cơm”; trước gia cảnh bác nhiêu B. vợ chết, nhà bị hỏa hoạn, đàn con nheo nhóc, đói kém, bà đã “cởi hầu bao, lấy ra một cuộn giấy bạc” đem cho; và cuối cùng trước cảnh đau xót của một người phụ nữ phải bán con để mong cứu chồng bệnh liệt giường liệt chiếu đã hơn nửa tháng, bà cũng đã cho năm đồng về lo thuốc men cho chồng mà không phải bán con. Đến cuối cùng Vũ Trọng Phụng mới cho ta biết hóa ra đó chính là bà lão lòa tội nghiệp bây giờ. Ba câu chuyện nhỏ về sự phúc đức để góp phần làm rõ một nghịch lí : bà đã từng rất tử tế với người không ruột thịt thân thích, bà đã từng động lòng trắc ẩn trước bao số phận vật vờ tận đáy cuộc đời; song giờ đây, người thân thích ruột rà không mảy may động lòng xót xa cho thân già tật nguyền cô độc của bà, nhẫn tâm tàn tệ với bà hơn cả với người dưng nước lã, đay nghiến chà đạp lên thân phận sống nhờ đầy nghịch cảnh bà đang phải chịu. Trần thuật với kết cấu “truyện lồng trong truyện”, Vũ Trọng Phụng đã dựng lên sự đối lập gay gắt giữa quá khứ và thực tại, giữa thiện tâm và ác tâm, giữa vị tha và ích kỉ để phê phán sự bội bạc, bất nhân của người đời và tố cáo cái nghèo làm nhân cách con người dần thảm hại như nó.
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 4
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
BÀ LÃO LÒA
(Vũ Trọng Phụng)
76 tuổi đầu, mỗi bữa thất thểu ăn một lưng cơm, bà lão lòa ở nhờ một đứa cháu họ, thật đã lắm phen cực nhục. Cháu bà, bác đánh giậm, với vợ, một chị mò cua bắt ốc, khốn thay, dưới nách hai đứa con mọn, cũng lắm phen nhăn nhó vì chẳng đủ ăn. Hai mươi năm về trước, bà lão lòa này còn là người có của trong làng. Con trai bà nó chơi, nó phá, nó bán ruộng, cầm nhà rồi nó bỏ bà nó đi, chẳng biết đi đâu, lòng mẹ đối với con tuy có giận mà vẫn có thương, bà khóc lóc một mình đến nỗi lòa cả mắt. Trong thời bà còn giàu có, ngoài những việc cúng tiền tô tượng đúc chuông, bà còn năng giúp đỡ kẻ nghèo khó; trong họ ngoài làng, nhiều người đã được nhờ bà mà đến khi bà gặp bước khốn cùng thì chẳng ai thương cả. Cũng vì xưa kia đã nhiều phen ngửa tay nhận lấy đồng tiền cứu giúp của bà, bác đánh giậm đành cắn răng, vuốt bụng, nhắm mắt nuôi cô trong lúc hoạn nạn. Nhưng vốn bị ma nghèo ám ảnh, mới nuôi cô được độ ba năm, bác đánh giậm đã thấy nản lòng. Cái cảnh túng bấn nó thường đẩy người ta vào chốn bùn nhơ, nó thường buộc người vào vòng tội lỗi, đối với bác đánh giậm, ác hơn, nó làm bác quên bỏ cả lương tâm. Quên hẳn cái ơn ngày trước, bác ta chỉ còn biết xót ruột khi bà lão lòa lò rò ngồi vào mâm, cướp cơm của vợ, của con nhà bác.
Buổi chiều hôm ấy... Trước túp lều tranh xiêu vẹo như chỉ còn chờ một trận gió to là đổ ụp xuống, cái sân đầy những bã mía, lá khô, một mâm cơm bát đàn đũa mộc trong để đĩa cá rô kho chuối với đĩa cá đen sịt đen sì, cầm trên tay mấy bát cơm ngô vàng ói, bà lão lòa, bác gái và hai đứa bé chỉ còn chờ bác trai rửa mặt rửa chân tay, ngồi vào là cùng cầm đũa. Đàn ruồi vù vù bay lung tung như đánh trận, hết bâu đầy vào mấy nốt mụn chốc trên đầu thắng cụ còn lại bay xuống đặt mình vào đĩa cá.
Bác trai, người mảnh khảnh, đen như củ súng, trấn răn, má hợp, mặt kèm nhèm, mặc cái áo vải và đã đến năm mười miếng mụn, đóng khổ, vừa ngồi xổm xuống đất cầm lấy bát cơm, vợ đã vội hỏi:
- Bố nó hôm nay kiếm được bao nhiêu tất cả...? Ấy tôi chỉ được có bốn sóc cua hai xu với một mẹt tôm riu năm xu là bảy dãy thôi. Gạo ăn bữa mại hết rồi […]
Bà lão lòa, ăn hết một lưng, tay lấy bẩy chìa bát ra toàn xin ít nữa, chưa kịp nói, bác gái đã quát:
- Hết rồi... Còn đâu nữa mà chìa mãi bát ra... Đến tôi đây quần quật suốt ngày, đã ốm cả xác mà cũng chỉ được có ba lưng thôi đấy… Bà không phải làm gì, ngồi nhà ăn ít cũng được.
Bà lão giật mình, đó người ra một lúc rồi đứng lên đi vào trong nhà, ngồi xuống bậu cửa, lấy cái tăm gài trên mái tóc xuống xỉa răng. trong trí nhớ của bà lại thấy hiện ra:
[....] Giữa chợ gần chỗ hàng gà, hàng cá, mùi hôi tanh xông lên nhức đầu, một đám đông xúm quanh một người đàn bà ăn mặc rách rưới, tay ôm đứa bé chừng bốn năm tháng.
- Thưa bà, cháu chỉ lấy có năm đồng thôi đấy ạ.
- Thôi, chả của đâu mà trả đến năm đồng. Trông gầy thế kia, biết rồi có sống được không? Ba đồng đấy, bằng lòng đi!...
- Rõ tội nghiệp chưa! Tôi mà có năm đồng thì tôi trả ngay..!
Bỗng có một bà ăn mặc lụa là, phúc hậu, len lỏi vào cất tiếng dõng dạc hỏi:
- Này nhà bác kia! Làm gì mà đến nỗi phải bán con đi thế?
- Thưa bà, nhà con phải bệnh, liệt giường liệt chiếu đã hơn nửa tháng nay, không có tiền thuốc thang gì thì chết mất. Con phải bán cháu đi để cứu lấy nhà con...
- Này..! Cứ ẵm cháu về, đừng có bán nó đi mà phải tội đấy! Năm đồng đây tôi xin giúp. Hãy cầm về mà liệu thuốc men cho bác trai. Người kia ngạc nhiên ngơ ngác nhìn lên, mãi chưa dám tin là thật, bàng hoàng như đang lúc chiêm bao… phục ngay xuống đất mà rưng rức khóc. Đám người tản mát, có kẻ thì thào: người đâu mà phúc đức tệ.
Ấy đó, đổi lại bao nhiêu điều thiện xưa kia ông trời cay nghiệt nay đều trả bà bằng hai con mắt lòa với một cảnh ăn gửi nằm nhở cực kỳ khổ sở. Cho rằng kiếp xưa tiền oan nghiệp chướng chỉ đây, nghĩ thương mình, thương đứa con bất hiếu, thương vợ chồng con cái bác đánh giậm, bà lão lòa thổn thức, trên hai gò má răn reo lại thấy mấy giọt nước mắt chảy ròng ròng. Bà lão gục đầu xuống gối tỉ tê khóc không ra tiếng, chỉ thấy sụt sùi hậm hực, khiến thằng cu con lò rò bò đến với bà, không hiểu ra sao bỗng cũng khóc thét lên. Bác gái chạy vào bực mình xỉa xói [...]
- Trời làm đói kém thế này, vợ chồng chúng tôi không thể nuôi bà được nữa
đâu, bà phải liệu mà giúp đỡ chúng tôi mới được. Rồi từ mai trở đi, để thằng cháu nó giắt bà ra đầu đê, bà ngả nón dưới bóng cây gạo mà ngồi, thấy tiếng người chợ búa qua lại thì bà chìa rá ra xin, nếu có được mỗi ngày một vài xu cũng là đỡ được cái mồm bà rồi đấy...
Đã được nửa tháng nay, sáng nào cũng thấy thắng cu lớn dắt bà ra ngồi đầu đê rồi chiều đến lại dắt về... Chẳng may, nếu hôm nào về tay không thì vợ bác đánh giậm - cháu bà - lại nghiến răng xỉa xói thậm tệ:
- Hôm nay chẳng ai thí cho bà đồng nào..! Bà có biết thế là bà lại ăn phần cơm của thăng cu lớn đấy không? Từ mai, bà liệu mà kêu to lên mới được... Hay tại bà ngồi dưới bóng cây mát mà ngủ thiếp đi...? Bà liệu đấy…!
Bát cơm ngô điểm quả cà thiu, bà lão lòa trước khi và vào mồm đã chan đầy như canh bằng nước mắt.
Một ngày kia, trời tháng ba nắng gay gắt, bà lão lòa dưới gốc cây gạo, ngồi từ sáng đến quá trưa, bụng đã đói mềm mà chẳng thấy người khách đi đường nào vứt cho lấy một đồng trinh...bốn bề im lặng như tờ. Hai cánh tay khẳng khiu ôm lấy bụng mà nhăn nhó, cố quật lại với cái đói nó cào xé ruột gan, bà lão lòa thở hổn ha hổn hển.
Chợt có tiếng người giẫm lạo xạo trên đống lá khô, đi về phía mình bà lão vội chìa ngay nón:
- Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại...! Cứu cho thân tôi lấy một miếng cơm...
- Tôi đây...! Phải ai đâu mà lạy với lục...? Bà được đồng nào chưa thì đưa đây cho tôi...
- Đã được đồng nào đâu...? Chẳng thấy ai đi qua đây cả... Mẹ nó có dắt tôi về thì dắt, tôi đói lắm rồi...!
- Bà đói à? Bà đói thì dễ tôi no à? Bà hãy ngồi đấy xem sao, buổi chợ chiều nay, rồi họ về qua đây nhiều... chốc nữa, tôi sẽ bảo thằng cu nó ra nó dắt....
Rồi bác ta thoăn thoắt bước đi...Bỗng trên trời mây kéo đen nghịt tối sầm hẳn lại, rồi nổi một cơn giông. Bác đánh giậm chạy vội ra sân vơ quần áo đem vào nhà, giục thằng cu lớn mau mau chạy ra để dắt bà về kẻo mưa to gió lớn. Nghe câu ấy, bác gái ngồi ôm con một góc giường cau mày ngẫm nghĩ: Thật vậy! Ba bốn năm nay, bác ta đã nhịn như nhịn cơm sống ấy rồi, quá lắm thì không chịu được. Mặc kệ bà ấy! Để bà ấy chết quách đi cho rãnh mắt.
[....] Không, không! Không thể thế được... Bà lão ấy chỉ là một bà cô... mà lạ là cô họ chồng, có lẽ nào báo hại mãi nhau.
Kìa! Thằng cu! Tao bảo thế nào…? Không bỏ bếp đấy mà ra dắt bà về à?
Bỗng bác gái đặt phịch con xuống giường, quặn mình nhăn nhó:
- Ôi trời đất ôi...! Ôi trời đất ôi…!
- Chết chửa… làm sao thế? Sao thế hở mẹ nó?
- Sao mà bụng tôi cứ thấy đau xoắn lại thế này! Ối trời đất ôi, đau thế này thì đến chết mất thôi
- Chết chửa! Kìa thằng cu.. ẵm em dỗ đi.. dỗ đi cho nó nín rồi dậy đấm cho u mày một chốc… để tao đi nướng hòn gạch mà chườm bụng vậy… Rõ khổ chửa?
[…]Tiếng sấm động ù ù, mỗi khi chớp nhoảng chớp nhoáng nó lại nom rõ thấy giữa những vũng bong bóng phập phồng, những dây nước ròng ròng từ mái tranh rỏ xuống. Chợt nghĩ đến bà nó ở ngoài đầu đê không biết ra sao, quay lại nhìn thì bố nó vẫn lúi húi dọn cơm, nét mặt thản nhiên như không, thằng cu phụng phịu nét mặt, hỏi gắt:
- Kìa thày! Thế bà ở ngoài đầu đê,
Nó chưa nói hết cầu, bố nó đã như bị một luồng điện giật nảy người ra, mắt tròn xoe, mãi mới nói được.
- Chết chửa! Biết làm thế nào bây giờ. U mày đau bụng, kêu rồi rít lên, làm tao cũng quên bẵng đi mất…
- Thế thì chắc bà chết rét mất rồi... Còn gì nữa…
Nghĩ đến cái chết của bà lão lòa ở ngoài đầu đề - tình cháu đối với cô – bác đánh giậm rùng mình, rợn tóc gáy nhưng bác tự dối lương tâm, bác đáp lại con:
- Ôi già... chả việc gì phải sợ.. dễ bà lại không biết lần mò đến một cải quán nào đẩy mà ẩn hay sao...?
Rồi bác gọi vợ con dậy ăn cơm. Bữa ấy bác gái tuy kêu đau bụng mà cũng cố ăn được đến bốn năm lưng, mặc dầu hai đứa bé không thấy bà nó đâu, thường nhắc đi nhắc lại. Trời vẫn mưa, lúc to lúc nhỏ, rả rích suốt đêm.
Sáng hôm sau, ánh sáng mặt trời xé những đám mây bay tan tác, chiều xuống trông lại càng tươi càng đẹp. [...]
Bác đánh giậm hôm ấy dậy rất sớm, đóng khổ, cài rổ, vác vợt ra đi... Mon men ở dưới chân để, lội lõm bom qua mấy vũng bùn lầy xa xa, phía dưới cây gạo - chỗ bà lão lòa vẫn ngồi, bác thấy giữa ruộng, trong một đám mạ xanh tươi tốt, một đàn quạ, con bay con liệng, kêu sào sạc rồi đậu xúm xít vào một chỗ. Bụng tưởng hẳn là một tổ rắn chi đây, bác ta vác ngay một vợt tre lên mặt rồi phăm phăm chạy lại. Đàn quạ vùng bay lên rồi tản mác đi... Chao ôi! Bước vừa đến nơi thì bỗng bác ta rú lên một tiếng, trợn mắt rít răng mà ngã phục xuống.[…]
(https://by.com.vn/YYE12)
Câu 1: Dòng nào sau đây nói lên mục đích của đoạn mở đầu văn bản?
A. Cuộc đời khốn khó đầy biến động của bà lão lòa
B. Lý do vợ chồng đứa cháu họ nuôi bà
C. Bà lão lòa cũng từng là người giàu có
D. Cả A và B
Câu 2: Bà lão lòa phản ứng thế nào trước lời lẽ cay nghiệt của người cháu dâu?
A. Im lặng và làm theo
B. Tủi cực, khóc, nhớ ngày xưa và làm theo
C. Tủi cực, khóc
D. Làm theo, không dám phản ứng gì
Câu 3: Đoạn: Không, không! Không thể thế được…! Bà lão ấy chỉ là một bà cô… mà lại là cô họ một người chồng, có lẽ nào lại báo hại mãi nhau…? Tác giả sử dụng nghệ thuật nào? Diễn tả nỗi niềm gì của người cháu dâu?
A. Độc thoại nội tâm, thể hiện ý định quyết bỏ mặc bà lão
B. Đối thoại, thể hiện niềm xót thương bà cô họ
C. Độc thoại nội tâm, diễn tả sự giằng xé: có nên bỏ mặc bà lão không?
D. Độc thoại nội tâm, khẳng dịnh không thể bỏ mặc bà lão được
Câu 4: “Kìa thày! Thế bà ở ngoài đầu đê?” thể hiện điều gì ở cậu bé này?
A. Nhắc thầy nó nhớ chuyện ban nãy (bố bảo đi dắt bà về)
B. Lo lắng cho người bà lòa dưới trời mưa
C. Nói lấp lửng để mẹ nó khỏi nghe thấy
D. Tất cả các ý trên
Câu 5: Câu: Cái cảnh túng bấn nó thường đẩy người ta vào chốn bùn nhơ, nó thường buộc người vào vòng tội lỗi, đối với bác đánh giậm, ác hơn, nó làm bác quên bỏ cả lương tâm nhằm mục đích gì?
A. Lý giải sự cay nghiệt của vợ chồng người cháu đối với bà lão lòa
B. Triết lý về cuộc đời đen bạc
C. Bênh vực vợ chồng người cháu họ
D. Đưa ra lời cảnh báo: nghèo khổ, túng quẫn sẽ bào mòn nhân cách con người
Câu 6: Dòng nào nói ĐÚNG về ngôi kể của tác phẩm?
A. Người kể chuyện hạn tri trực tiếp tham dự, chứng kiến những sự việc sảy ra
B. Người kể chuyện toàn tri, quan sát bằng toàn năng, biết hết mọi sự việc
C. Phối hợp 2 điểm nhìn trần thuật vừa biết hết mọi sự việc, vừa diễn tả được cảm xúc nhân vật
D. Dùng 2 ngôi kể luân phiên để kể chuyện bà lão lòa và gia đình người cháu
Câu 7: Dòng nào chứng tỏ người kể chuyện toàn tri trong văn bản là người quan sát toàn năng, biết hết mọi việc?
A. Nó chưa nói hết câu, bố nó đã như bị một luồng điện giật nẩy người ra, mắt tròn xoe, mãi mới nói được
B. Nghĩ đến cái chết của bà lão lòa ở đầu đê – tình cháu đối với cô – bác đánh giậm rùng mình, rợn tóc gáy
C. Bữa ấy bác gái tuy kêu đau bụng mà cũng cố ăn được đến bốn năm lưng
D. Cả A và B
Câu 8: Dòng nào nói lên cảm hứng bao trùm toàn tác phẩm?
A. Phê phán người cháu dâu tệ bạc
B. Xót thương cho bao kiếp người cơ cực
C. Ngợi ca tấm lòng cậu bé (con trai người cháu)
D. Lên án người con trai của bà lão lòa
Câu 9: Nêu suy nghĩ của em về bà lão lòa trong truyện ngắn trên và cho biết mục đích của nhà văn khi để bà nhớ lại những hành động giúp đỡ người nghèo của bà (trả lời bằng đoạn văn ngắn từ 5- 7 dòng) (1đ)
Câu 10: Em hãy viết tiếp câu chuyện về 3 nhân vật trong gia đình người cháu họ sau khi người chồng rú lên một tiếng, trợn mắt rít răng mà ngã phục xuống ngoài cánh đồng (trả lời bằng đoạn văn ngắn từ 5- 7 dòng)(1đ)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Quan sát 2 bức ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)


a. Chỉ ra nét tương đồng và khác biệt ở 2 bức ảnh trên và đề xuất một chủ đề liên quan tới hai bức ảnh
b. Bức ảnh nào gây nên cảm xúc mãnh liệt ở em? Yếu tố nào gợi lên cảm xúc đó?
Câu 2: Chọn 1 trong 2 đề sau:
Đề 1: Viết bài luận thể hiện suy nghĩ, thái độ và quan điểm của cá nhân về vấn đề được phản ánh trong bức ảnh số 2
Đề 2: Viết bài luận phân tích truyện ngắn Bà lão lòa
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU

|
Câu 1: Dòng nào sau đây nói lên mục đích của đoạn mở đầu văn bản? A. Cuộc đời khốn khó đầy biến động của bà lão lòa B. Lý do vợ chồng đứa cháu họ nuôi bà C. Bà lão lòa cũng từng là người giàu có D. Cả A và B |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn mở đầu văn bản
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Mục đích của đoạn mở đầu văn bản:
+Kể về cuộc đời khốn khó đầy biến động của bà lão lòa
+Nêu lý do vợ chồng đứa cháu họ nuôi bà
→ Đáp án D
|
Câu 2: Bà lão lòa phản ứng thế nào trước lời lẽ cay nghiệt của người cháu dâu? A. Im lặng và làm theo B. Tủi cực, khóc, nhớ ngày xưa và làm theo C. Tủi cực, khóc D. Làm theo, không dám phản ứng gì |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ tác phẩm và chú ý đoạn đối thoại giữa người cháu dâu và bà lão lòa
Chú ý chi tiết thể hiện phản ứng của bà lão lòa
Lời giải chi tiết:
Trước lời lẽ cay nghiệt của người cháu dâu, bà lão lòa cảm thấy tủi cực, điều duy nhất bà có thể làm là khóc và làm theo. Kí ức ngày xưa có lẽ là chỗ dựa tinh thần duy nhất giúp bà quên đi hiện thực tàn khốc dù chỉ trong tưởng tượng
→ Đáp án B
|
Câu 3: Đoạn: Không, không! Không thể thế được…! Bà lão ấy chỉ là một bà cô… mà lại là cô họ một người chồng, có lẽ nào lại báo hại mãi nhau…? Tác giả sử dụng nghệ thuật nào? Diễn tả nỗi niềm gì của người cháu dâu? A. Độc thoại nội tâm, thể hiện ý định quyết bỏ mặc bà lão B. Đối thoại, thể hiện niềm xót thương bà cô họ C. Độc thoại nội tâm, diễn tả sự giằng xé: có nên bỏ mặc bà lão không? D. Độc thoại nội tâm, khẳng dịnh không thể bỏ mặc bà lão được |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn và chú ý những dấu hiệu về biện pháp nghệ thuật
Phân tích nỗi niềm của người cháu dâu
Lời giải chi tiết:
Trong đoạn văn, tác giả dùng biện pháp nghệ thuật độc thoại nội tâm, thể hiện ý định quyết bỏ mặc bà lão của người cháu dâu độc ác, cay nghiệt
→ Đáp án A
|
Câu 4: “Kìa thày! Thế bà ở ngoài đầu đê?” thể hiện điều gì ở cậu bé này? A. Nhắc thầy nó nhớ chuyện ban nãy (bố bảo đi dắt bà về) B. Lo lắng cho người bà lòa dưới trời mưa C. Nói lấp lửng để mẹ nó khỏi nghe thấy D. Tất cả các ý trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ tác phẩm
Chú ý những lời nói, hành động của đứa con
Lời giải chi tiết:
Câu nói thể hiện cậu bé là người có tấm lòng yêu thương, lo lắng thật lòng cho người bà lòa của mình dưới mưa. Có lẽ trong gia đình ấy, chỉ còn có cậu là chưa bị cái nghèo, cái đói tha hóa dẫn đến mất hết tình thương người.
→ Đáp án A
|
Câu 5: Câu: Cái cảnh túng bấn nó thường đẩy người ta vào chốn bùn nhơ, nó thường buộc người vào vòng tội lỗi, đối với bác đánh giậm, ác hơn, nó làm bác quên bỏ cả lương tâm nhằm mục đích gì? A. Lý giải sự cay nghiệt của vợ chồng người cháu đối với bà lão lòa B. Triết lý về cuộc đời đen bạc C. Bênh vực vợ chồng người cháu họ D. Đưa ra lời cảnh báo: nghèo khổ, túng quẫn sẽ bào mòn nhân cách con người |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu văn
Phân tích mục đích của câu nói
Lời giải chi tiết:
Câu: Cái cảnh túng bấn nó thường đẩy người ta vào chốn bùn nhơ, nó thường buộc người vào vòng tội lỗi, đối với bác đánh giậm, ác hơn, nó làm bác quên bỏ cả lương tâm được nói ra nhằm mục đích: Đưa ra lời cảnh báo: nghèo khổ, túng quẫn sẽ bào mòn nhân cách con người
→ Đáp án D
|
Câu 6: Dòng nào nói ĐÚNG về ngôi kể của tác phẩm? A. Người kể chuyện hạn tri trực tiếp tham dự, chứng kiến những sự việc sảy ra B. Người kể chuyện toàn tri, quan sát bằng toàn năng, biết hết mọi sự việc C. Phối hợp 2 điểm nhìn trần thuật vừa biết hết mọi sự việc, vừa diễn tả được cảm xúc nhân vật D. Dùng 2 ngôi kể luân phiên để kể chuyện bà lão lòa và gia đình người cháu |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ tác phẩm
Chú ý những dấu hiệu nhận biết ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Tác phẩm sử dụng ngôi kể thứ 3 (người kể chuyện toàn tri): quan sát bằng toàn năng, biết hết sự việc
→ Đáp án B
|
Câu 7: Dòng nào chứng tỏ người kể chuyện toàn tri trong văn bản là người quan sát toàn năng, biết hết mọi việc? A. Nó chưa nói hết câu, bố nó đã như bị một luồng điện giật nẩy người ra, mắt tròn xoe, mãi mới nói được B. Nghĩ đến cái chết của bà lão lòa ở đầu đê – tình cháu đối với cô – bác đánh giậm rùng mình, rợn tóc gáy C. Bữa ấy bác gái tuy kêu đau bụng mà cũng cố ăn được đến bốn năm lưng D. Cả A và B |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về người kể chuyện toàn tri (ngôi kể thứ 3)
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Dòng chứng tỏ người kể chuyện toàn tri trong văn bản là người quan sát toàn năng, biết hết mọi việc là:
- Nó chưa nói hết câu, bố nó đã như bị một luồng điện giật nẩy người ra, mắt tròn xoe, mãi mới nói được
- Nghĩ đến cái chết của bà lão lòa ở đầu đê – tình cháu đối với cô – bác đánh giậm rùng mình, rợn tóc gáy
→ Đáp án D
|
Câu 8: Dòng nào nói lên cảm hứng bao trùm toàn tác phẩm? A. Phê phán người cháu dâu tệ bạc B. Xót thương cho bao kiếp người cơ cực C. Ngợi ca tấm lòng cậu bé (con trai người cháu) D. Lên án người con trai của bà lão lòa |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ tác phẩm
Rút ra kết luận về cảm hứng bao trùm
Lời giải chi tiết:
Cảm hứng bao trùm toàn tác phẩm: Xót thương cho bao kiếp người cơ cực mà cụ thể ở đây là số phận của bà lão lòa
→ Đáp án B
Câu 9: Suy nghĩ của em về bà lão lòa trong truyện ngắn trên và cho biết mục đích của nhà văn khi để bà nhớ lại những hành động giúp đỡ người nghèo của bà (trả lời bằng đoạn văn ngắn từ 5- 7 dòng)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ tác phẩm, chú ý những chi tiết xoay quanh nhân vật bà lão lòa
Phân tích mục đích của nhà văn
Lời giải chi tiết:
- Học sinh tự trả lời theo nhận thức và cảm xúc của cá nhân
- Gợi ý tham khảo:
+ Về bà lão: Bà lão lòa là người bất hạnh, vì đứa con trai hư hỏng mà đời bà khốn khổ; bà tự trọng, thấm nỗi nhục ăn nhờ ở đậu, nhẫn nhịn và chịu sự cay nghiệt của gia đình người cháu, cuối cùng phải nhận cái chết trong đói rét,…
→ kiếp người thật thảm thương, nhiều biến động, con người không thể lường hết được
+ Mục đích của nhà văn khi để bà nhớ lại hành động giúp đỡ người nghèo: thể hiện nỗi thống khổ của con người trước biến động của cuộc đời, ngầm lên án sự thờ ơ vô cảm của người đời trước tình cảnh cơ cực của bà lão già nua, mù lòa,…
Câu 10: Em hãy viết tiếp câu chuyện về 3 nhân vật trong gia đình người cháu họ sau khi người chồng rú lên một tiếng, trợn mắt rít răng mà ngã phục xuống ngoài cánh đồng (khoảng 5-10 câu)
Phương pháp giải:
Dựa vào trí tưởng tượng và sắp xếp sự kiện câu chuyện của bản thân
Lời giải chi tiết:
Học sinh tự làm (gợi ý: phát triển sự việc phù hợp với tính cách nhân vật hoặc có sự chuyển biến tính cách… Cần hướng về tính nhân văn)
PHẦN II. VIẾT
Câu 1:
a. Chỉ ra nét tương đồng và khác biệt ở 2 bức ảnh trên và đề xuất một chủ đề liên quan tới hai bức ảnh
Phương pháp giải:
Quan sát kĩ 2 bức ảnh
Rút ra nét tương đồng và khác biệt ở 2 bức ảnh
Đề xuất một chủ đề liên quan tới hai bức ảnh
Lời giải chi tiết:
- Nét tương đồng và khác biệt
+Ảnh 1: Cảnh đối lập giữa 2 đứa trẻ: giàu và đói nghèo
+ Ảnh 2: Bé trai chết bên bờ biển
+Tương đồng: cùng đề cập đến nỗi khốn khổ bất hạnh của những đứa trẻ
- Đề xuất chủ đề: Học sinh tự làm ( ngôn từ ngắn gọn, hướng vào bản chất của vấn đề)
b. Bức ảnh nào gây nên cảm xúc mãnh liệt ở em? Yếu tố nào gợi lên cảm xúc đó?
Phương pháp giải:
- Chọn một bức ảnh mà bản thân cảm thấy có cảm xúc mãnh liệt
- Đưa ra yếu tố gợi lên cảm xúc đó
Lời giải chi tiết:
- Học sinh tự lựa chọn
- Nêu yếu tố gợi cảm xúc cần logic với bức ảnh đã lựa chọn và phù hợp với văn hóa dân tộc, tính nhân, nhân loại.
Câu 2: Viết bài văn
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
Đề 1:
- Về nguồn gốc bức ảnh số 2: Cậu bé 3 tuổi người Syria bị chết đuối vào ngày 2/9/2015 ở Địa Trung Hải. Hình ảnh em nằm chết đã lên trang đầu của báo chí toàn cầu. Em cùng gia đình là những người tị nạn Syria đã vượt biên đến Châu Âu giữa cuộc khủng hoảng tị nạn Châu Âu.
|
- Xác định luận đề: Di dân đến Châu Âu |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0.25 |
- Giới thiệu nguồn gốc bức ảnh - Đánh giá khái quát của người viết |
|
Thân bài |
2.00 |
Gồm các ý chính (từ 2 luận điểm trở lên) - Làm rõ cách hiểu, hiện trạng của di dân (có dẫn chứng) - Phân tích nguyên nhân, tác hại, hệ lụy của việc di dân +Vì sao người dân lại chọn cách nhập cư trái phép/di dân? +Gây ra những cái chết trên hành trình di dân +Giải quyết vấn đề về người tị nạn + Gây ra các vấn đề về an ninh cho nước sở tại - Quan điểm người viết trong đề xuất giải pháp nhân đạo +Về phía những người di dân +Hành động nhân đạo của nước sở tại có người di dân tới (lập luận + dẫn chứng xác thực; dùng yếu tố biểu cảm) |
|
Kết bài |
0.25 |
- Vai trò của tổ chức, hành động nhân đạo với người di dân - Nhận thức, hành động của bản thân |
|
Yêu cầu khác |
0.25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Diễn đạt rõ ý; lập luận logic; suy luận, bình luận phù hợp với văn hóa dân tộc… |
Đề 2:
Truyện ngắn Bà lão lòa tái hiện cho ta ngay từ đầu thời khắc tăm tối, ê chề trong phận sống nhờ của nhân vật cùng tên - là người cô họ của bác đánh giậm. Lần hồi sau đó, tác giả đưa ta trở về với quá khứ khi bà lão còn giàu có, bà đã “giúp đỡ kẻ nghèo khó; trong họ ngoài làng, nhiều người đã được nhờ bà” thế nhưng “đến khi gặp bà bước khốn cùng thì chẳng ai thương cả”. Tác giả cũng cho ta biết rằng ngày trước bác đánh giậm “đã nhiều phen ngửa tay nhận lấy đồng tiền cứu giúp của bà” nên bây giờ “đành cắn răng, vuốt bụng, nhắm mắt” nuôi bà trong lúc hoạn nạn với nỗi niềm biết bao “xót ruột khi bà lão lòa lò rò ngồi vào mâm, cướp cơm của vợ, của con nhà bác”. Quay ngược thời gian như vậy, nhà văn đã cho ta một cái nhìn toàn diện hơn về cuộc đời bà lão lòa; đồng thời ông cũng nhấn mạnh thái độ lên án, phê phán đối với cuộc đời này. Một quá khứ tử tế, ăn ở phúc đức nhưng đổi lại chỉ là một hiện thực cay đắng : con trai ăn chơi, phá của đến nỗi “bán ruộng, cầm nhà” khiến bà thành tật nguyền, nghèo khổ và đứa cháu họ vô ơn bạc nghĩa đối xử với ân nhân của mình không ra gì. Hiện tại bà cụ chẳng gặp lành dù ngày trước đã ăn ở rất hiền lành, hiện tại người ta vong ân dù quá khứ vốn chịu nhiều ơn cứu giúp của bà – những đối nghịch thời gian đi kèm với nghịch lí cuộc đời khiến câu chuyện cứ ám ảnh chúng ta mãi.
Trong diễn tiến cuộc đời cơ cực của bà lão tội nghiệp chịu cảnh tật nguyền sống nhờ nhục nhã bỗng xuất hiện ba câu chuyện nhỏ về những hành động nhân đức của một người phụ nữ : thấy người ăn mày lụ khụ đến xin ăn bị mấy con chó “nhảy xổ ra cắn xa xả”, bà đã “quát thằng nhỏ ra mắng chó, dắt ông ăn mày vào thết một lưng cơm”; trước gia cảnh bác nhiêu B. vợ chết, nhà bị hỏa hoạn, đàn con nheo nhóc, đói kém, bà đã “cởi hầu bao, lấy ra một cuộn giấy bạc” đem cho; và cuối cùng trước cảnh đau xót của một người phụ nữ phải bán con để mong cứu chồng bệnh liệt giường liệt chiếu đã hơn nửa tháng, bà cũng đã cho năm đồng về lo thuốc men cho chồng mà không phải bán con. Đến cuối cùng Vũ Trọng Phụng mới cho ta biết hóa ra đó chính là bà lão lòa tội nghiệp bây giờ. Ba câu chuyện nhỏ về sự phúc đức để góp phần làm rõ một nghịch lí : bà đã từng rất tử tế với người không ruột thịt thân thích, bà đã từng động lòng trắc ẩn trước bao số phận vật vờ tận đáy cuộc đời; song giờ đây, người thân thích ruột rà không mảy may động lòng xót xa cho thân già tật nguyền cô độc của bà, nhẫn tâm tàn tệ với bà hơn cả với người dưng nước lã, đay nghiến chà đạp lên thân phận sống nhờ đầy nghịch cảnh bà đang phải chịu. Trần thuật với kết cấu “truyện lồng trong truyện”, Vũ Trọng Phụng đã dựng lên sự đối lập gay gắt giữa quá khứ và thực tại, giữa thiện tâm và ác tâm, giữa vị tha và ích kỉ để phê phán sự bội bạc, bất nhân của người đời và tố cáo cái nghèo làm nhân cách con người dần thảm hại như nó.
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 5
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
THƯ CHO VƯƠNG THÔNG (1)
Nguyễn Trãi
(Tư không Lê Lễ và thượng tướng Lê Xí(2) đánh nhau với quân Minh ở My Động bị thua. Vua vì sự thất bại ấy mà viết thư cho Vương Thông. My Động là Hoàng Mai động ngày nay).
Tôi nghe: Múc một gáo nước, biển cả không vì thế mà vơi; thêm một gáo nước, biển cả không vì thế mà đầy. Cho nên người dùng binh giỏi không lấy sự thắng nhỏ mà mừng, không lấy sự thua to mà sợ. Nay các ông lấy tàn tốt vài nghìn, giữ một thành trơ trọi, lương sắp hết và viện chưa thấy đến, chúng lìa lòng mà quân ngày ít đi, cái thế mạnh yếu được thua, có thể ngồi mà tính được. Huống hồ nước An – nam binh tướng thì nhiều, tâm lực đều nhau, chiến khí càng tinh, sĩ khí càng mạnh, kẻ sĩ trí mưu, các tướng sĩ vũ dũng, chẳng khác cây rừng rậm rạp, răng lược khít nhau vậy. Các ông có thắng một trận nhỏ cũng không thấy là mạnh; mà ta có thua một trận nhỏ cũng không thấy là yếu.
Vừa rồi mấy người kì tướng của ta, tuổi trẻ tính ngông, không theo ước thúc, khinh chiến lỡ cơ, các ông lấy thế làm đắc chí. Nay đem những tướng hiệu ở các nơi Tân Bình, Thuận Hóa, Diễn, Nghệ cùng ở các sở Tiền Vệ, Tam Giang, Xương Giang, Trần Di (3) và Thái đô đốc cùng các quan Tam ty (4) chỉ huy, thiên bách hộ, ước hơn vài trăm người, quân nhân một vạn vài nghìn người, trai gái lớn nhỏ hơn ba vạn người bị các ông làm lầm lỡ, mà so với vài người tỳ tướng của ta, thì ai hơn ai kém, ai được ai thua? Thế mà ông không hề lấy thế làm lo, lại còn giương vây nói mẽ, có khác gì nhà đương cháy mà chim én còn nhơn nhơn vui vẻ cùng nhau, há chẳng đáng cười lắm sao! Vả nay ở miền Lưỡng Quảng nghe tin quân ta thừa thắng ruổi dài, bọn đạo tặc đã nhân dịp mà trỗi dậy. Tích Lịch đại vương(5) đã giữ đất xưng đế, mà binh tượng của ta ngày đêm tiến đánh, Bằng tường(6) Long Châu(7) ta đều lấy được. Nay ông vẫn còn ngày ngày mong đợi viện binh mà nói phao là viện binh sắp đến, thì có khác gì trong mộng nói chuyện mộng không? Lại càng đáng cười lắm!
Ngày trước Thái đô đốc và các chỉ huy thiên vạn hộ(8) cùng các quan phủ huyện châu có bảo tôi đem sự lý trong tờ chiếu của Thái tôn hoàng đế cho lập họ Trần để vào Kinh(9) mà tâu bày và tố cáo việc quan Tổng binh không biết trấn thủ Nam phương(10) lại theo kế của người khác, tự gửi văn thư đi thu binh mã các vệ giả làm giảng hòa rồi thì bội ước để đến nỗi bọn ấy nhao nhao kêu la thất sở. Song tôi nghĩ cứ tờ tâu ngày trước bắt được thì thấy tổng binh đại nhân thực có lòng thành, chỉ vì bọn họ Phương họ Mã làm mê hoặc mới nên nỗi thế. Bởi vậy lời bàn ấy chưa quyết. Nếu ngài nay lại biết theo lời ước cũ, thì nên cho quân về ngay, cùng hòa giải với Thái đô đốc, vừa để thoát khổ can qua cho cho hai nước, vừa để giải mối oán bị bán rẻ của Thái công. Như thế thì trọn quân mà khỏi họa, há chẳng hay sao! Nhược bằng cứ chấp mê mà giữ đến chết không biết biến thông thì cũng như câu Đường Thái Tôn bảo “tận trung vô ích” (hết trung không ích gì) vậy. Vả kẻ đại trượng phu làm việc nên phải lỗi lạc đường hoàng.
Ngài muốn đánh thủy, thì nên bày hết chiến thuyền ở trên sông để quyết tử chiến, muốn đánh bộ thì nên xuất hết binh mã ra đồng rộng để quyết sống mái tromg một hai ngày, không nên chúi ở xó thành, chợt ra chợt vào, cướp lấy củi cỏ, cho thế là đắc sách. Như thế là việc làm của đàn bà con gái, không phả là việc làm của bậc đại trượng phu!
Chú thích:
(1): Trong khoảng tháng 2 tháng 3 năm Đinh Mùi (1427), Vương Thông lợi dụng một vài sơ hở của quân ta, tổ chức ba cuộc phản kích. Quân địch cũng bị đánh lui và bị truy kích đến My động (Hoàng Mai, Thanh Trì, Hà Nội). Nhưng ở đây, hai tướng Đinh Lễ, Nguyễn Xí bị giặc bắt. Vương Thông thổi phồng những thắng lợi nhỏ đó và tiếp tục phao tin viện binh sắp sang để củng cố tinh thần quân lính.
(2): Bị bắt ở My Động, Đinh Lễ bị giặc giết chết, còn Nguyễn Xí thì dùng mưu trốn thoát được
(3): Vệ Trần – di đóng ở ải Trấn- di phủ Lạng Sơn, tức ải Chi Lăng thuộc huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn
(4): Tam ty là cơ quan đứng đầu chính quyền đô hộ của nhà Minh ở nước ta
(5): Tích – lịch đại vương có lẽ là một thủ lĩnh nông dân khởi nghĩa ở vùng Lưỡng Quảng
(6): Bằng Tường thuộc tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), gần biên giới nước ta
(7): Long Châu thuộc tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), gần biên giới nước ta
(8): Trong sách in là binh, nhwg có lẽ in nhầm chữ hộ
(9): Tức là Yên – kinh (Bắc – Kinh), thủ đô của nhà Minh
(10): Trong sách in là Bắc phương thì không hợp. Chúng tôi chữa lại làm Nam phương.
Câu 1: Văn bản Thư cho Vương Thông thuộc sáng tác nào của Nguyễn Trãi?
A. Thơ chữ Hán
B. Văn chính luận
C. Thơ Nôm
D. Tập thơ Môn hoa mộc
Câu 2: Dòng nào nói đúng đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp của văn bản?
A. Tướng giặc, khi chúng phản kích và huênh hoang vì chút thắng lợi nhỏ
B. Tướng giặc, khi chúng hung hăng sang xâm chiếm nước ta
C. Tướng giặc, khi chúng chuẩn bị mở các cuộc tấn công lớn
D. Tướng giặc, khi chúng dẫn viện binh tới
Câu 3: Câu nào sau đây chứa luận điểm của đoạn văn bản 1?
A. Múc một gáo nước, biển cả không vì thế mà vơi
B. Thêm một gáo nước, biển cả không vì thế mà đầy
C. Các ông có thắng một trận nhỏ cũng không thấy là mạnh; mà ta có thua một trận nhỏ cũng không thấy là yếu
D. Ta có thua một trận nhỏ cũng không thấy là yếu
Câu 4: Dòng nào nói lên các thủ pháp nghệ thuật trong luận điểm 1?
A. Đối lập, so sánh, ẩn dụ
B. Ẩn dụ, so sánh
C. Hoán dụ, so sánh
D. Nhân hóa, so sánh
Câu 5: Dòng nào nói lên mục đích của luận điểm 1?
A. Đừng nói về mộng tưởng
B. Đừng vội huênh hoang
C. Nên cho lui quân
D. Muốn đánh hãy quyết tử
Câu 6: Câu: “Múc một gáo nước, biển cả không vì thế mà vơi; thêm một gáo nước, biển cả không vì thế mà đầy” dùng cách nói nào? Nhằm mục đích gì?
A. Dùng hình ảnh gáo nước khẳng định thắng lợi của quân giặc quá bé nhỏ
B. Dùng hình ảnh gáo nước, biển cả khẳng định thắng thua vừa rồi là không đáng kể
C. Dùng nghệ thuật đối lập khẳng định ta chỉ tạm thua
D. Dùng hình ảnh biển cả để khẳng định quân ta rất mạnh
Câu 7: Ý nào nói lên mục đích của luận điểm 3?
A. Đừng nói về mộng tưởng
B. Đừng vội huênh hoang
C. Muốn đánh hãy quyết tử
D. Nên cho lui quân
Câu 8: Ở luận điểm 2, tác giả dùng thao tác lập luận chính nào? Có tác dụng gì?
A. Thao tác đối sánh: ta – ông làm nổi bật thế từng bên
B. Thao tác phân tích làm rõ sự ngốc nghếch của tướng giặc
C. Thao tác bình luận để thể hiện sự coi thường binh lực của giặc
D. Thao tác chứng minh để khẳng định quân ta mạnh hơn
Câu 9: Phân tích nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi ở đoạn văn bản sau và chỉ ra vai trò của đoạn đối với mục đích toàn văn bản (1đ)
Ngài muốn đánh thủy, thì nên bày hết chiến thuyền ở trên sông để quyết tử chiến, muốn đánh bộ thì nên xuất hết binh mã ra đồng rộng để quyết sống mái trong một hai ngày, không nên chúi ở xó thành, chợt ra chợt vào, cướp lấy củi cỏ, cho thế là đắc sách. Như thế là việc làm của đàn bà con gái, không phải là việc làm của bậc đại trượng phu!
Câu 10: Văn bản Thư cho Vương Thông của Nguyễn Trãi đã giúp em nhận thấy những tài năng nào của Nguyễn Trãi? Em học tập được điều gì cho việc viết văn nghị luận thuyết phục một ai đó thay đổi quyết định của họ? (1đ)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Quan sát 2 bức ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)


a. Làm rõ nét tương đồng ở 2 bức ảnh và đặt tên cho từng bức ảnh đó
b. Làm rõ mối liên quan giữa 2 bức ảnh với văn bản đọc Thư cho Vương Thông của Nguyễn Trãi
Câu 2: Viết bài luận thuyết phục người đứng đầu một quốc gia mạnh từ bỏ ý đồ xâm lược và làm bá chủ thế giới (dài từ 1,5 – 2 trang và có dùng yếu tố phi ngôn ngữ để hỗ trợ lập luận) (3đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU

|
Câu 1: Văn bản Thư cho Vương Thông thuộc sáng tác nào của Nguyễn Trãi? A. Thơ chữ Hán B. Văn chính luận C. Thơ Nôm D. Tập thơ Môn hoa mộc |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý đến đặc điểm hình thức của văn bản
Lời giải chi tiết
Văn bản thuộc thể loại văn chính luận của Nguyễn Trãi
→ Đáp án B
|
Câu 2: Dòng nào nói đúng đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp của văn bản? A. Tướng giặc, khi chúng phản kích và huênh hoang vì chút thắng lợi nhỏ B. Tướng giặc, khi chúng hung hăng sang xâm chiếm nước ta C. Tướng giặc, khi chúng chuẩn bị mở các cuộc tấn công lớn D. Tướng giặc, khi chúng dẫn viện binh tới |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý chú thích 1
Chú ý đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp của văn bản
Lời giải chi tiết:
Đúng như tiêu đề, đối tượng của văn bản chính là Tướng giặc Vương thông
Văn bản được viết khi giặc phản kích nước ta và đang huênh hoang vì chút thắng lợi nhỏ
→ Đáp án A
|
Câu 3: Câu nào sau đây chứa luận điểm của đoạn văn bản 1? A. Múc một gáo nước, biển cả không vì thế mà vơi B. Thêm một gáo nước, biển cả không vì thế mà đầy C. Các ông có thắng một trận nhỏ cũng không thấy là mạnh; mà ta có thua một trận nhỏ cũng không thấy là yếu D. Ta có thua một trận nhỏ cũng không thấy là yếu |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 1 của văn bản và rút ra luận điểm
Lời giải chi tiết:
Luận điểm của đoạn văn bản 1: Các ông có thắng một trận nhỏ cũng không thấy là mạnh; mà ta có thua một trận nhỏ cũng không thấy là yếu
→ Đáp án C
|
Câu 4: Dòng nào nói lên các thủ pháp nghệ thuật trong luận điểm 1? A. Đối lập, so sánh, ẩn dụ B. Ẩn dụ, so sánh C. Hoán dụ, so sánh D. Nhân hóa, so sánh |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn chứa luận điểm 1
Rút ra các thủ pháp nghệ thuật được sử dụng
Lời giải chi tiết:
Các thủ pháp nghệ thuật được sử dụng:
- Đối lập: vơi ><đầy, thắng><thua,...
- So sánh: chẳng khác cây rừng rậm rạp
- Ẩn dụ: Múc một gáo nước, biển cả không vì thế mà vơi; thêm một gáo nước, biển cả không vì thế mà đầy
→ Đáp án A
|
Câu 5: Dòng nào nói lên mục đích của luận điểm 1? A. Đừng nói về mộng tưởng B. Đừng vội huênh hoang C. Nên cho lui quân D. Muốn đánh hãy quyết tử |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn chứa luận điểm 1
Rút ra mục đích
Lời giải chi tiết:
Mục đích của luận điểm 1 (đoạn 1): nhắc nhở giặc đừng vội huênh hoang vì một chiến thắng nhỏ
→ Đáp án B
|
Câu 6: Câu: “Múc một gáo nước, biển cả không vì thế mà vơi; thêm một gáo nước, biển cả không vì thế mà đầy” dùng cách nói nào? Nhằm mục đích gì? A. Dùng hình ảnh gáo nước khẳng định thắng lợi của quân giặc quá bé nhỏ B. Dùng hình ảnh gáo nước, biển cả khẳng định thắng thua vừa rồi là không đáng kể C. Dùng nghệ thuật đối lập khẳng định ta chỉ tạm thua D. Dùng hình ảnh biển cả để khẳng định quân ta rất mạnh |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu văn
Rút ra cách nói và mục đích của câu văn
Lời giải chi tiết:
Câu: “Múc một gáo nước, biển cả không vì thế mà vơi; thêm một gáo nước, biển cả không vì thế mà đầy” dùng hình ảnh gáo nước, biển cả khẳng định thắng thua vừa rồi là không đáng kể
→ Đáp án B
|
Câu 7: Ý nào nói lên mục đích của luận điểm 3? A. Đừng nói về mộng tưởng B. Đừng vội huênh hoang C. Muốn đánh hãy quyết tử D. Nên cho lui quân |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn chứa luận điểm 3
Rút ra mục đích
Lời giải chi tiết:
Mục đích của luận điểm 3: khuyên tướng giặc nên cho lui quân
→ Đáp án D
|
Câu 8: Ở luận điểm 2, tác giả dùng thao tác lập luận chính nào? Có tác dụng gì? A. Thao tác đối sánh: ta – ông làm nổi bật thế từng bên B. Thao tác phân tích làm rõ sự ngốc nghếch của tướng giặc C. Thao tác bình luận để thể hiện sự coi thường binh lực của giặc D. Thao tác chứng minh để khẳng định quân ta mạnh hơn |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn chứa luận điểm 2
Rút ra thao tác lập luận chính và tác dụng
Lời giải chi tiết:
Ở luận điểm 2, tác giả dùng thao tác lập luận chính là thao tác đối sánh ta – ông làm nổi bật thế từng bên
→ Đáp án A
Câu 9:Phân tích nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi ở đoạn văn bản sau và chỉ ra vai trò của đoạn đối với mục đích toàn văn bản (1đ)
Ngài muốn đánh thủy, thì nên bày hết chiến thuyền ở trên sông để quyết tử chiến, muốn đánh bộ thì nên xuất hết binh mã ra đồng rộng để quyết sống mái trong một hai ngày, không nên chúi ở xó thành, chợt ra chợt vào, cướp lấy củi cỏ, cho thế là đắc sách. Như thế là việc làm của đàn bà con gái, không phải là việc làm của bậc đại trượng phu!
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn bản
Phân tích nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi
Lời giải chi tiết:
- Nghệ thuật lập luận:
+ Chọn cách tôn trọng đối phương: tùy lựa chọn
+ Lồng ghép định hướng thể hiện lòng tự tôn của đối phương bằng lối nói tự trọng của những người cầm quân: quyết tử chiến; quyết sống mái
+ Dùng thủ pháp đối lập (quyết chiến lớn lao hành động đánh lén); hình ảnh chúi ở xó thành, chợt ra chợt vào, cướp lấy củi cỏ, đàn bà “khích tướng” để đối phương phải tỏ thái độ, hành động
- Vai trò của đoạn đối với mục đích toàn văn bản: đoạn này nằm cuối văn bản thể hiện sự nhất quán với toàn văn bản về thái độ đối với tướng giặc: coi thường, mỉa mai…; về mục đích khẳng định: không thể thắng được quân ta, sự thất bại không thể tránh khỏi của kẻ thù;…
Câu 10: Văn bản Thư cho Vương Thông của Nguyễn Trãi đã giúp em nhận thấy những tài năng nào của Nguyễn Trãi? Em học tập được điều gì cho việc viết văn nghị luận thuyết phục một ai đó thay đổi quyết định của họ? (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và kiến thức đã học trên lớp, từ đó rút ra tài năng của Nguyễn Trãi
Nêu suy nghĩ và đúc rút của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Tài năng của Nguyễn Trãi:
+ Về quân sự, chính trị: am hiểu đối phương, thời cuộc, thế trận (lực lượng hiện tại của đôi bên)
+ Về văn chương: tài thuyết phục biện luận (sử dụng nhiều thao tác lập luận, lí lẽ sắc bén, lập luận logic; bằng chứng
PHẦN II. VIẾT
Câu 1:
a. Làm rõ nét tương đồng ở 2 bức ảnh và đặt tên cho từng bức ảnh đó
Phương pháp giải:
Quan sát kĩ 2 bức ảnh
Rút ra nét tương đồng ở 2 bức ảnh
Đặt tên cho 2 bức ảnh đó
Lời giải chi tiết:
- Nét tương đồng: Đều là hình ảnh con người – những đối tượng yếu đuối cần bảo vệ, nâng niu và đang đau khổ tột cùng trong cảnh hoang tàn đổ nát của chiến tranh
- Đặt tên: Hs đặt tên theo ý cá nhân nhưng bám sát hình ảnh trung tâm, bối cảnh bức ảnh; tên ngắn gọn và làm nổi bật nội dung chính của từng bức ảnh
b. Làm rõ mối liên quan giữa 2 bức ảnh với văn bản đọc Thư cho Vương Thông của Nguyễn Trãi
Phương pháp giải:
Quan sát kĩ 2 bức tranh và đọc kĩ văn bản để chỉ ra mối liên quan
Lời giải chi tiết:
Hai bức ảnh và văn bản đọc đều nói về chiến tranh; nỗi đau và mất mát của hai bên (kẻ xâm lược và đất nước bị xâm lược)
Câu 2: Viết bài văn
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
|
… thuyết phục người đứng đầu một quốc gia mạnh từ bỏ ý đồ xâm lược và làm bá chủ thế giới |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0.25 |
- Giới thiệu đối tượng bày tỏ ý kiến; đối tượng giao tiếp (người thuyết phục – người được thuyết phục) |
|
Thân bài |
2.00 |
Gồm các ý chính (từ 2 luận điểm trở lên) - Làm rõ cách hiểu, biểu hiện của ý đồ xâm lược và làm bá chủ thế giới - Tác động tiêu cực của hành động xâm lược và làm bá chủ thế giới đối với quốc gia yếu và người dân vô tội (lí lẽ + dẫn chứng + yếu tố biểu cảm) - Phân tích làm rõ: khát vọng xâm lược và làm bá chủ thế giới là không chính đáng, vô nhân đạo (lí lẽ + dẫn chứng) - Thể hiện khát vọng của cá nhân về một thế giới hòa bình, nhân loại là sự cộng sinh để giải quyết các vấn đề về dịch bệnh, môi trường… - Đề xuất cách biểu hiện vị thế của quốc gia trong việc giải quyết các vấn đề về y tế, lương thực, môi trường… |
|
Kết bài |
0.5 |
- Khẳng định sự cần thiết của bình đẳng, cộng sinh giữa các quốc gia… - Nhận thức, hành động của bản thân để thế giới bình yên… |
|
Yêu cầu khác |
0.25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Diễn đạt rõ ý; lập luận logic; suy luận, bình luận phù hợp với văn hóa dân tộc, nhân loại… - Dẫn chứng đa dạng, phong phú - Người viết cần có hiểu biết rộng về thế giới, các xung đột gay gắt ở một số quốc gia trong hiện tại - Yếu tố phi ngôn ngữ |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 6
Đề thi
I. Đọc hiểu (6đ)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi phía dưới:
LÒNG HÀO HIỆP
(Trích Tâm hồn cao thượng - EDMOND DE AMICIS)
Giờ vào lớp, ông Perbôni chưa có đấy, ba bốn cậu đang thi nhau chế giễu anh Crôtxi khốn nạn - tức là cậu bé tóc vàng, tay liệt, con bà bán hoa quả. Họ lấy thước đánh cậu, lấy vỏ hạt dẻ ném cậu, họ gọi cậu là con quỷ què và mếu máo giả cách làm người liệt tay. Ngồi trơ một mình ở đầu ghế, cậu thẹn thùng và đưa mắt nhìn người nọ, người kia như để van lơn họ khỏi hành hạ mình. Được thể bọn học trò càng làm già. Cậu phẫn uất quá, máu đưa lên cổ và phát run người. Thình lình, Phranti, một đứa học trò mặt xấu như khỉ, đứng lên ghế, khuỳnh hai cánh tay như người khoác hai cái giỏ, bắt chước bộ tịch mẹ cậu Crôtxi những khi đứng đợi con ở cửa trường. (Đã mấy hôm nay, bà không đến đón con vì bị ốm).
Coi tấn tuồng câm ấy học trò cười ầm cả lên. Crôtxi điên tiết, về ngay lọ mực trước mặt ném Phranti, Phranti né mình, lọ mực trúng giữa ngực ông Perbon ở ngoài bước vào.
Mọi người hết vía, chạy trốn về chỗ và ngồi im thin thít.
Thầy giáo lên bục cau mày hỏi:
- Ai ném lọ mực?
Chẳng ai hé răng.
Thầy gắt:
- Ai? Ai ném?
Lúc ấy bị kích thích vì lòng thương bạn, anh Garônê đứng dậy nói quả quyết
- Thưa thầy, con.
Thấy mọi người sửng sốt về câu trả lời ấy, thầy hiểu ngay và ôn tồn nói:
- Không. Không phải con.
Xong thầy lại nói:
Ai trót dại đứng lên thú nhận, ta sẽ tha.
Crôtxi đứng lên nói:
- Thưa thầy, các anh ấy chọc con, đánh và chửi con... Con mất trí... Con trót ném...
- Thầy nói tiếp:
- Cho ngồi xuống. Bây giờ đến lượt những kẻ sinh sự đứng lên.
Bốn anh trong bọn khiêu khích đứng dậy, cúi đầu.
- Thầy mắng:
- Các anh đã vô cớ lăng mạ một người bạn không trêu chọc các anh. Các anh đã chế giễu một người tàn tật. Các anh đã xúc phạm một đứa trẻ yếu đuối không tự vệ được. Các anh đã làm một điều hèn hạ đáng xấu hổ, một điều có thể làm nhơ nhuốc đến phẩm giá của con người, các anh là những đồ đê tiện!
Nói xong thầy xuống giữa lớp, lại chỗ anh Garônê ngồi. Thấy thầy đến, anh cúi đầu. Ông Perbôni để tay xuống dưới cằm nâng mặt anh lên, nhìn thẳng vào hai mắt anh và nói:
Con có một trái tim cao thượng đáng khen!
Anh Garônê nhân dịp ấy cúi vào tai thầy nói nhỏ mấy câu. Lập tức thầy quay lại chỗ 4 kẻ tội nhân và đột nhiên bảo:
- Thôi! Tha cho các anh.
Câu 1: Những dấu hiệu cho biết văn bản trên là truyện ngắn?
A. Nhân vật ít.
B. Dung lượng ngắn (gần 2 trang).
C. Ít sự việc (diễn ra trong thời gian rất ngắn).
D. Tất cả các ý trên.
Câu 2: Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm?
A. Bạn bè.
B. Thầy trò.
C. Học đường.
D. Ứng xử.
Câu 3: Nhân vật chính của truyện ngắn là:
A. Garônê; Crôtxi.
B. Phranti.
C. Ông Perbôni.
D. Garônê.
Câu 4: Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể?
A. Chế giễu Crôtxi; Crôtxi ném lọ mực vào Phranti nhưng lại trúng thầy giáo Crôtxi nhận lỗi, thầy mắng các bạn chế giễu nặng lời; Garônê nói nhỏ với thầy, thầy tha cho hội chế giễu.
B. Chế giễu Crôtxi; Crôtxi ném lọ mực vào Phranti nhưng lại trúng thầy giáo thầy truy tìm và Garônê nhận lỗi, thầy không tin; Crôtxi nhận lỗi, thầy mắng các bạn chế giễu nặng lời; Garônê nói nhỏ với thầy, thầy tha cho hội chế giễu.
C. Chế giễu Crôtxi; Crôtxi ném lọ mực vào Phranti nhưng lại trúng thầy giáo, Garônê nói nhỏ với thầy, thầy tha cho hội chế giễu; Crôtxi nhận lỗi, thầy mắng các bạn chế giễu nặng lời.
D. Crôtxi ném lọ mực vào Phranti; Crôtxi nhận lỗi, thầy mắng các bạn chế giễu nặng lời.
Câu 5: Vì sao Crôtxi ném lọ mực vào Phranti ?
A. Phranti chế giễu Crôtxi và mẹ của cậu ấy bằng cả lời lẽ và hành động.
B. Vì Crôtxi không được ai bênh vực.
C. Vì lòng tự trọng bị tổn thương nặng nề, không kìm nén nổi sự tức giận.
D. Vì bọn học trò càng làm già. Cậu phẫn uất quá, máu đưa lên cổ....
Câu 6: Phranti và những người chế giễu Crôtxi đã phạm phải lỗi gì?
A. Không tôn trọng sự khác biệt.
B. Kỳ thị người khác.
C. Lấy việc giễu cợt người khác làm trò vui.
D. Tất cả các ý trên.
Câu 7: Vì sao Garônê nhận lỗi? Việc ấy có tác dụng gì?
A. Vì thầy truy hỏi gắt gao, vì bị kích thích vì lòng thương bạn. Hành động đi đã làm mọi người sửng sốt.
B. Vì thầy truy hỏi gắt gao, vì bị kích thích vì lòng thương bạn. Hành động đó đã khiến Crôtxi nhận lỗi; những kẻ chế giễu Crôtxi hối hận.
C. Vì bị kích thích vì lòng thương bạn. Hành động đó đã khiến những kẻ chế giễu Crôtxi hối hận.
D. Vì bị kích thích vì lòng thương bạn. Hành động đó đã mọi người công nhận Garônê là người hào hiệp
Câu 8: Vì sao thầy giáo mắng hội chế giễu bạn nặng nề lại bất ngờ tha bổng cho họ?
A. Vì họ im lặng nghe mắng mà không cãi
B. Vì Crôxti đã nhận lỗi rồi
C. Vì Garônê đã nhận lỗi, nói nhỏ với thầy, vì thái độ của các bạn mắc lỗi
D. Tất cả các ý kiến
Câu 9: Nếu được gặp Crôxi, em sẽ nói gì với bạn ấy? (trả lời bằng đoạn văn 6 dòng, hoặc hình ảnh minh họa kèm đối thoại) (0,5đ)
Câu 10: Nếu có mặt trong lớp học của Cr ô xi, khi bạn ấy bị chế giễu, em sẽ là gì? (0,5đ)
Câu 11: Em có đồng tình với việc thầy giáo mắng các bạn mắc lỗi nặng nề, rồi lại tha bổng không? (1đ)
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (6 điểm)
Suy nghĩ, thái độ của em về hiện tượng bắt nạt học đường (trả lời bằng một bài văn hoàn chỉnh từ 1-1,5 trang vở/ giấy thi)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (4 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
Câu 7 (0.25đ) |
Câu 8 (0.25đ) |
|
D |
C |
A |
B |
C |
D |
C |
C |
|
Câu 1: Những dấu hiệu cho biết văn bản trên là truyện ngắn? A. Nhân vật ít. B. Dung lượng ngắn (gần 2 trang). C. Ít sự việc (diễn ra trong thời gian rất ngắn). D. Tất cả các ý trên. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về truyện ngắn
Lời giải chi tiết:
Dấu hiệu cho biết văn bản trên là truyện ngắn:
- Nhân vật ít.
- Dung lượng ngắn (gần 2 trang).
- Ít sự việc (diễn ra trong thời gian rất ngắn).
→ Đáp án: D
|
Câu 2: Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm? A. Bạn bè. B. Thầy trò. C. Học đường. D. Ứng xử. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, chú ý tên văn bản và rút ra kết luận về đề tài
Lời giải chi tiết:
Đề tài của văn bản: học đường
→ Đáp án: C
|
Câu 3: Nhân vật chính của truyện ngắn là: A. Garônê; Crôtxi. B. Phranti. C. Ông Perbôni. D. Garônê. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Nhân vật chính của truyện ngắn: Garônê; Crôtxi
→ Đáp án: A
|
Câu 4: Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể? A. Chế giễu Crôtxi; Crôtxi ném lọ mực vào Phranti nhưng lại trúng thầy giáo Crôtxi nhận lỗi, thầy mắng các bạn chế giễu nặng lời; Garônê nói nhỏ với thầy, thầy tha cho hội chế giễu. B. Chế giễu Crôtxi; Crôtxi ném lọ mực vào Phranti nhưng lại trúng thầy giáo thầy truy tìm và Garônê nhận lỗi, thầy không tin; Crôtxi nhận lỗi, thầy mắng các bạn chế giễu nặng lời; Garônê nói nhỏ với thầy, thầy tha cho hội chế giễu. C. Chế giễu Crôtxi; Crôtxi ném lọ mực vào Phranti nhưng lại trúng thầy giáo, Garônê nói nhỏ với thầy, thầy tha cho hội chế giễu; Crôtxi nhận lỗi, thầy mắng các bạn chế giễu nặng lời. D. Crôtxi ném lọ mực vào Phranti; Crôtxi nhận lỗi, thầy mắng các bạn chế giễu nặng lời. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Trình tự kể chuyện: Chế giễu Crôtxi; Crôtxi ném lọ mực vào Phranti nhưng lại trúng thầy giáo thầy truy tìm và Garônê nhận lỗi, thầy không tin; Crôtxi nhận lỗi, thầy mắng các bạn chế giễu nặng lời; Garônê nói nhỏ với thầy, thầy tha cho hội chế giễu.
→ Đáp án: B
|
Câu 5: Vì sao Crôtxi ném lọ mực vào Phranti ? A. Phranti chế giễu Crôtxi và mẹ của cậu ấy bằng cả lời lẽ và hành động. B. Vì Crôtxi không được ai bênh vực. C. Vì lòng tự trọng bị tổn thương nặng nề, không kìm nén nổi sự tức giận. D. Vì bọn học trò càng làm già. Cậu phẫn uất quá, máu đưa lên cổ.... |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Crôtxi ném lọ mực vào Phranti vì Phranti đã có những lời chế giễu Crôtxi khiến cậu tổn thương lòng tự trọng và không kìm nén nổi sự tức giận
→ Đáp án: C
|
Câu 6: Phranti và những người chế giễu Crôtxi đã phạm phải lỗi gì? A. Không tôn trọng sự khác biệt. B. Kỳ thị người khác. C. Lấy việc giễu cợt người khác làm trò vui. D. Tất cả các ý trên. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và chú ý lời nói của thầy giáo
Lời giải chi tiết:
Phranti và những người chế giễu Crôtxi đã phạm phải lỗi:
- Không tôn trọng sự khác biệt
- Kỳ thị người khác
- Lấy việc giễu cợt người khác làm trò vui
→ Đáp án: D
|
Câu 7: Vì sao Garônê nhận lỗi? Việc ấy có tác dụng gì? A. Vì thầy truy hỏi gắt gao, vì bị kích thích vì lòng thương bạn. Hành động đi đã làm mọi người sửng sốt. B. Vì thầy truy hỏi gắt gao, vì bị kích thích vì lòng thương bạn. Hành động đó đã khiến Crôtxi nhận lỗi; những kẻ chế giễu Crôtxi hối hận. C. Vì bị kích thích vì lòng thương bạn. Hành động đó đã khiến những kẻ chế giễu Crôtxi hối hận. D. Vì bị kích thích vì lòng thương bạn. Hành động đó đã mọi người công nhận Garônê là người hào hiệp |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Garônê nhận lỗi vì thương bạn. Hành động đó đã khiến những kẻ chế giễu Crôtxi hối hận.
→ Đáp án: C
|
Câu 8: Vì sao thầy giáo mắng hội chế giễu bạn nặng nề lại bất ngờ tha bổng cho họ? A. Vì họ im lặng nghe mắng mà không cãi B. Vì Crôtxti đã nhận lỗi rồi C. Vì Garônê đã nhận lỗi, nói nhỏ với thầy, vì thái độ của các bạn mắc lỗi D. Tất cả các ý kiến |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, chú ý lời nói của thầy giáo
Lời giải chi tiết:
Thầy giáo mắng hội chế giễu bạn nặng nề lại bất ngờ tha bổng cho họ vì: Garônê đã nhận lỗi, nói nhỏ với thầy, vì thái độ của các bạn mắc lỗi
→ Đáp án: C
Câu 9: Nếu được gặp Crôtxi, em sẽ nói gì với bạn ấy? (trả lời bằng đoạn văn 6 dòng, hoặc hình ảnh minh họa kèm đối thoại) (0,5đ)
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản và nêu ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết
- Thể hiện rõ tình cảm với Crôtxti nhưng phải tế nhị, chân thành
- Nên theo hướng:
+ Bênh vực những người như bạn/ đứng về phía bạn; khẳng định mỗi người có giá trị riêng, không phụ thuộc vào ngoại hình
+ Không đồng tình với những kẻ chế giễu người khác làm trò vui
+ Thầy giáo và bạn Garônê luôn là những người tin cậy
Câu 10: Nếu có mặt trong lớp học của Crôtxi, khi bạn ấy bị chế giễu, em sẽ là gì? (0,5đ)
Phương pháp
Dựa vào ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết
- HS suy nghĩ và chia sẻ thực lòng về điều mình sẽ và có thể làm (không sáo rỗng)
- Việc làm đó cần làm dịu không khí và bênh vực được người bị bắt nạt, tuyệt đối không gây ra ẩu đả trong lớp:
+ Gọi nhanh người có uy để giải tán trò chế giễu người
+ Có thể chuyển hướng chú ý của đám đông
+ Có đủ uy thì yêu cầu các bạn dừng lại…
Câu 11: Em có đồng tình với việc thầy giáo mắng các bạn mắc lỗi nặng nề, rồi lại tha bổng không? (1đ)
Phương pháp giải
Đưa ra quan điểm cá nhân
Lời giải chi tiết
Câu hỏi gợi ý:
- Phân tích lời của thầy có làm tổn thương thêm người bị chế giễu không?
- Có quá nặng nề với những bạn có lỗi không?
- Tác động như thế nào tới các thành viên trong lớp không tham gia chế giễu bạn
- Dựa vào các căn cứ trên để lựa chọn sự đồng tình hay phản đối
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (6 điểm)
|
Suy nghĩ, thái độ của em về hiện tượng bắt nạt học đường (trả lời bằng một bài văn hoàn chỉnh từ 1-1,5 trang vở/ giấy thi) |
Phương pháp:
Dựa vào những kiến thức và kĩ năng đã học
Lời giải chi tiết:
|
|
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Nêu hiện tượng/ vấn đề bàn luận - Thái độ đối với hiện tượng |
|
Thân bài |
2,5 |
- Mô tả khái quát hiện tượng bắt nạt học đường - Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng (người bị bắt nạt): thể hiện rõ quan điểm cá nhân - Cách phòng chống hiện tượng bắt nạt học đường |
|
Kết bài |
0,5 |
- Thái độ của bản thân trước hiện tượng - Nhận thức và hành động của bản thân khi chứng kiến hiện tượng bắt nạt học đường |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Thể hiện rõ quan điểm cá nhân (đồng tình/ phản bác) - Dẫn chứng đa dạng phù hợp với lí lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
BẦU TRỜI CỦA NGƯỜI CHA
Nguyễn Quang Thiều
Bữa cơm tối của người cha tàn tật thường kéo dài đến hai tiếng đồng hồ, My vừa cho cha ăn vừa dỗ dành ông như dỗ một đứa trẻ ốm yêu. [...] Thời gian đầu, cứ mỗi khi bón cơm cho cha My lại khóc. Người cha cũng khóc không thành tiếng.
Hai năm trở lại đây cô không khóc nữa. Thay vào đó, cô nhí nhảnh kể cho cha cô nghe những chuyện đại loại như cây hoa trà ông trồng giờ đang trổ nụ, những chậu xương rồng nhiều loại của ông mọc thêm rất nhiều nhánh, hay buổi sáng nào đó trong vườn nhà xuất hiện một con chim lạ, giọng con chim rất trong và mảnh như tơ nhện. Cô cứ kể những chuyện như thế cho tới khi người cha ăn xong thìa cơm cuối cùng. Đặt cái bát sang một bên, và lúc nào ngay sau đó cô cũng nói với người cha: “Ba đã hoàn thành nhiệm vụ. Con quyết định tặng huân chương cho ba”. Người cha cố ngước mắt nhìn con và cười. Và chỉ có cô mới biết là ông đang cười. [...]
Bóng tối của đêm thường bắt đầu ùa kín những góc nhà, rồi sau đó lan vào gầm giường và gầm bàn ghế. Cô đặt những ngón tay gầy và hơi lành lạnh của người cha trong bàn tay nhỏ nhắn của cô. My thấy những ngón tay của người cha ấm dần lên. My khẽ ngước mắt nhìn cha. Cô biết cha cỗ đang bước từng bước mê dại trong ý nghĩ lạ lùng về phía vòm trời kia. Rồi ông khóc. Và chỉ có My mới biết được cha mình đang khóc... My đỡ cha lên giường và bắt đầu bài xoa bóp chân tay cho cha theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Khoảng chín giờ tối cô buông màn cho cha. “Con chúc ba ngủ ngon”, cô nói và hôn lên trán người cha lúc nào cũng như lấp dấp mồ hôi. Khi cô quay ra cửa thì giật mình nhận ra có người đang đứng tựa vào một bên cánh cửa.
“Mẹ đây”, bóng người nói (...)
“Mẹ sẽ bỏ tiền ra thuê người chăm sóc cho ông ấy, con đừng lo”.
“Chẳng ai có thể chăm sóc ba con bằng con cả - My nói và thở dài - không ai có thể hiểu được ba, ngay cả…”
Cô định nói: “Ngay cả chính mẹ”, nhưng cô lại thôi... Mãi lâu sau cô mới nói: “Mẹ về đi, hôm nay con mệt lắm”. “Cảm ơn mẹ”, My nói và lại bật cười khe khẽ. Cô đóng cửa và vội vã đi vào trong nhà.
Hơn một tháng trở lại đây, mẹ cô thường đến thăm cô vào buổi tối và... lúc nào cô cũng nói với mẹ cô câu cuối: “Con mệt lắm, mẹ về đi”, rồi bước ra mở cổng.
My lần từng bước trong bóng tối đến trước giá vẽ và ngồi xuống. Nhưng mỗi lần vẽ xong cô lại càng thấy thất vọng hơn. Và cũng đã bao nhiêu lần cô gục khóc trên giá vẽ. Cô khóc không phải vì sự thất bại trong nghệ thuật. Nói đúng hơn, chưa bao giờ cô đeo đuổi một thành công nào đó trong nghệ thuật. Cô chỉ vẽ như cô cần phải vẽ. Cô khóc về sự bất lực trong tình yêu của cô đối với người cha bệnh tật.
Cha cô vốn là một phi công lái máy bay quân sự trong chiến tranh. Sau giải
phóng ông chuyển sang lái máy bay dân sự. Sau mỗi chuyến bay trở về, ông say đắm kể cho mẹ con cô nghe về những vùng trời ông đã đi qua. Nhiều đêm, những câu chuyện của người cha đã đưa cô đến những vùng trời ấy trong giấc mơ.
Cô gặp những đứa bé trong suốt vừa bay vừa hát bên những bông hoa lạ.
“Hoa này là hoa gì, bạn nhỉ?”, cô hỏi.
“Hoa Anh My”, những đứa bé đồng thanh nói như hát.
“Ôi! Cùng tên với mình đấy - Cô thích thú kêu lên.
“Thế những con chim vàng óng kia là chim gì?”.
“Chim Tao Linh đấy”.
My định hỏi tiếp một câu thì chợt nghe một tiếng nổ. Những đứa bé vụt biến mất. My tỉnh giấc. Ngọn đèn ngủ vẫn tỏa ánh xanh nhạt trong nhà. Qua màn, My nhìn thấy ba mẹ cô đang ngồi quay ra cửa. Trên nền nhà có những mảnh cốc vỡ.
“Tôi không chịu nổi cuộc sống như thế này nữa rồi”, mẹ cô tức tưởi nói.
“Anh chưa làm một điều gì xúc phạm đến em cả. Anh không hiểu vì sao lâu nay em luôn luôn cảm thấy khó chịu khi anh về” (...)
- Còn anh chỉ thấy mang về cho vợ con anh những thứ ngớ ngẩn, hão huyền, hết sức vô dụng”.
“Em im đi. Em khác xưa quá nhiều rồi đấy”.
“Tôi không khác gì xưa có chẳng qua anh không nhận ra sự thật của cuộc đời này mà thôi" Mẹ có nói và đứng phắt dậy đi sang phòng bên. Ba có lúc đầu và đốt thuốc hút.
Một buổi sáng ít ngày sau đó, người cha phờ phạc nói với cô: “Ba và mẹ đã quyết định chia tay nhau. Chắc con cũng tự biết trước điều này”. My nấc lên khi nghe người cha nói vậy, cô bỗng thấy hoảng sợ và cô đơn khủng khiếp.
Khi My vừa kết thúc năm học cuối cùng thì cha cô bị tai nạn giao thông và bị liệt nửa người. Biết bệnh tình của người cha khó có thể hồi phục. My quyết định ngừng xin việc làm. Cô mở lớp dạy vẽ và tiếng Anh cho bọn trẻ, con cùng phố để kiếm tiền sinh sống và tiện có thời gian chăm sóc cha. Khi bóng tối đã trùm kín căn phòng thì người cha thì thầm: “Vùng trời... vùng trời, cha muốn trở lại... vùng trời”. Những lúc ấy, giọng người cha lạ lùng và xa xăm. Cô cảm thấy rùng mình và thương cha vô hạn.
Một đêm trong căn phòng của cô đầy mùi thuốc vẽ, trong đầu cô lóe lên ý nghĩ mang lại cho người cha vùng trời của ông về trên toàn. Sau ý nghĩ ấy, cô lao vào giá vẽ. Cô vẽ trong sự hoảng sợ mộng mị và mơ hồ về người cha. Và suốt hơn một năm qua cô đã vẽ, đã thất vọng và đã khóc.
Đêm đêm, cô đứng lặng hàng tiếng đồng hồ bên cửa sổ nhìn mãi vào vùng trời có những ngôi sao bé bỏng, ướt át và đầy bí ẩn kia. Cô như thoáng nghe thấy tiếng nói thì thầm của những ngôi sao và những vầng mây bạc trong những đêm sáng trăng. Cô lao vào giá vẽ và vẽ cho đến khi tưởng chừng như kiệt sức. Để rồi sáng sau tỉnh giấc, cô lại khóc cho những mảng mầu lạnh lẽo và bất động.
Mấy ngày trước, vào một buổi sáng có nắng, cô mang chiếc valy dựng những đồ lặt vặt của người cha ra phơi.
Trong valy cô thấy cuốn nhật ký của người cha. Cô cầm cuốn nhật ký bước vào hiện nhà ngồi xuống và đọc.
“Đêm qua mình tỉnh giấc mà Lan (tên mẹ cô) không hay biết gì. Hình như chưa bao giờ Lan mất ngủ. Lan vẫn đẹp và đầy sức sống như ngày mới cưới. Và... Lan chưa bao giờ hiểu mình. Sao những đếm tỉnh giấc mình hay nghe thấy những tiếng gì đó mơ hồ gọi mình. Mình thấy cô đơn”.
“Mình đã sống một tuổi thơ đầy cô đơn và ốm yếu. Không quên nổi những chiều mưa mờ mịt bên bờ sông Hàn. Ba đi thuyền chưa về. Má cũng đi chợ xa bán cá. “Cái mình cần là hơi ấm của con người. Nhưng đời sống càng đầy đủ thì con người càng xa nhau. Cái mà những người đang sống quanh mình tìm kiếm là đồng tiền. Đồng tiền hết sức cần thiết. Nhưng vì nó mà con người lao vào như rồ dại, cắn xé lẫn nhau, nghi ngờ nhau và căm thù nhau”.
“Sao từ ngày cưới nhau đến giờ, Lan chưa một lần thức dậy trong đêm và thì thầm những điều gì đấy với mình. Lan giày vò mình vì những chuyện gia đình như sắm sửa, xây cất. Lan bực tức với những người giàu hơn và tỏ vẻ khinh bỉ những người đói kém. Mình đã từng đói khát và tủi nhục. Nhưng mình không thể sống được khi chỉ nghĩ đến cái dạ dày căng tròn và lầy nhầy”.
“Những lần bay qua những vùng trời vô tận, sao mình cứ ước được bước ra khỏi khoang lái. Tất cả những gì trong khoảng mênh mông của vũ trụ mà mình cảm nhận được lại làm cho mình yên tâm tin mình khi đi trên mặt đất. Những cơn mê làm mình hạnh phúc và muốn khóc. Mình thèm khát được ngồi im lặng trong hoàng hôn và vùi bàn tay trong mái tóc đẹp lạ lùng của Lan”
Đêm nay hình như trời trong hơn. Có lẽ cũng đã khuya. My áp mặt vào những song gỗ cửa sổ. Bỗng cô nghe thấy tiếng cha gọi. Cô vội vã đẩy cửa bước sang phòng người cha.(...)
Khi người cha trở lại giấc ngủ, cô đứng dậy tắt đèn và trở lại phòng mình. Cô bước trang nghiêm và quyết liệt đến bên giá vẽ. Cô nhìn xuống và nhìn ra cửa sổ. Những ngôi sao như đang bay về. Cô ngửi thấy hương Anh My, tiếng hót của bầy Tao Linh, tiếng ríu rít của bầy trẻ trong suốt như pha lê... Đến gần trưa hôm sau My mới tỉnh dậy. Cô mở mắt ngơ ngác. Nắng tràn ngập ô cửa sổ phòng cô. Cô nhìn vào bức tranh và kinh ngạc. Cô nhận thấy có bóng cha cô trong suốt đang bay trong đó. Cổ nhớ đến cha. Cô vội chạy sang phòng cha. Người cha nằm yên lặng. Gương mặt ông như đang trôi trong vô tận... Hình như cô nghe thấy người cha hổn hển hỏi: “Có bao giờ con nghe thấy mẹ khóc không?”. Đôi môi cô mấp máy như trả lời: “Mẹ sẽ khóc, ba ạ”.
Câu hỏi
Câu 1. Dòng nào nói đúng đặc điểm thể loại của văn bản trên?
A. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc diễn ra trong phạm vi hẹp, đầy mâu thuẫn.
B. Truyện ngắn: Nhân vật ít, dung lượng ngắn, sự việc diễn ra trong phạm vi hẹp.
C. Truyện vừa: Nhân vật đa dạng, sự việc diễn ra luôn vận động.
D. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc đơn giản, giàu ý nghĩa.
Câu 2. Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm?
A. Ứng xử.
B. Ước mơ.
C. Thế sự đời thường.
D. Gia đình.
Câu 3. Nhân vật chính, nội dung của truyện ngắn là:
A. Người cha và My; Ước mơ và nỗi đau của người cha bất hạnh bên cô con gái hiểu thảo.
B. Người cha; Người cha giàu yêu thương, mơ ước nhưng bất hạnh.
C. Người cha và mẹ; Người cha giàu yêu thương, mơ ước và cuộc hôn nhân đau khổ.
D. My. Người con gái yêu thương cha và mơ ước của mình.
Câu 4. Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể?
A. My chăm sóc cha - Cha mẹ cãi nhau, li dị - Cha lái máy bay kế về vùng trời, đưa My đến giấc mơ - Cha bị tai nạn, My làm việc ở nhà để chăm cha - My về, ngủ quên tỉnh dậy, cha đã mất.
B. My chăm sóc cha - Nói chuyện với mẹ - My vẽ và khóc - Cha mẹ cãi nhau, li dị - Cha lái máy bay kể về vùng trời, đưa My đến giấc mơ - Cha bị tai nạn, My làm việc ở nhà để chăm cha - My đọc nhật kí của cha - My vẽ, ngủ quên tỉnh dậy cha đã mất.
C. Cha mẹ cãi nhau, li dị - Cha bị tai nạn, My làm việc ở nhà để chăm cha – My đọc nhật kí của cha - My vẽ, ngủ quên tỉnh dậy, cha đã mất.
D. Cha lái máy bay kể về vùng trời, đưa My đến giấc mơ - Cha bị tai nạn, My làm việc ở nhà để chăm cha - My đọc nhật kí của cha - My vẽ, ngủ quên tỉnh dậy, cha đã mất.
Câu 5. Truyện kể theo trình tự nào?
A. Trình tự thời gian.
B. Trình tự không gian.
C. Trình tự cảm xúc của nhân vật My.
D. Trình tự tuân theo ý đồ nghệ thuật của tác giả.
Câu 6. Dòng nào nói đúng việc sử dụng ngôi kể của tác phẩm:
A. Ngôi thứ ba.
B. Ngôi thứ nhất.
C. Ngôi thứ 3 và ngôi thứ nhất.
D. Hai người kể chuyện từ ngôi thứ nhất.
Câu 7. Vì sao, hai năm trở lại đây My không khóc nữa mà lại nhí nhảnh kể cho cha cô nghe những chuyện đại loại như cây hoa trà ông trồng?
A. Vì cô biết khóc lóc chẳng ích gì chỉ làm con người thêm yếu đuối mà thôi.
B. Vì cô muốn 2 cha con vui vẻ, muốn có cuộc sống lạc quan và đầy mơ ước.
C. Vì cô muốn cha sống lạc quan đầy lãng mạn.
D. Cả a & b.
Câu 8. Vì sao My điên cuồng vẽ, rồi lại khóc, trạng thái đó biểu hiện điều gì?
A. Vì My muốn mang lại cho người cha vùng trời của ông về trên toan.
B.Vì cô vẽ trong sự hoảng sợ mộng mị và mơ hồ về người cha; Vì những mảng mầu lạnh lẽo và bất động;
C. Vì My muốn mang lại cho người cha vùng trời của ông; Biểu hiện sự bất lực trước thực tại nghiệt ngã, tình yêu cha sâu sắc mãnh liệt...
D. Vì những mảng màu lạnh lẽo và bất động; Đau khổ, bất lực.
Câu 9. Cảm nhận của em về nhân vật người cha. Từ đó, hãy cho biết những yếu tố nào có khả năng nuôi dưỡng ước mơ, khát vọng đẹp trong tâm hồn con người?
Câu 10. Em yêu thích điểm nào ở nhân vật My? Việc làm, suy nghĩ, ước mơ nào của My đã tác động tới cảm xúc, suy nghĩ của em?
PHẦN II. TẠO LẬP VĂN BẢN (4đ)
Phân tích nhân vật My và từ đó thể hiện quan điểm/ thái độ của cá nhân đối với người sống giàu ước mơ và người sống thực tế
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 |
Câu 2 |
Câu 3 |
Câu 4 |
Câu 5 |
Câu 6 |
Câu 7 |
Câu 8 |
|
B |
D |
A |
B |
D |
C |
D |
C |
|
Câu 1. Dòng nào nói đúng đặc điểm thể loại của văn bản trên? A. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc diễn ra trong phạm vi hẹp, đầy mâu thuẫn. B. Truyện ngắn: Nhân vật ít, dung lượng ngắn, sự việc diễn ra trong phạm vi hẹp. C. Truyện vừa: Nhân vật đa dạng, sự việc diễn ra luôn vận động. D. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc đơn giản, giàu ý nghĩa. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại dấu hiệu nhận biết các thể loại
Lời giải chi tiết:
Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn: Nhân vật ít, dung lượng ngắn, sự việc diễn ra trong phạm vi hẹp.
→ Đáp án B
|
Câu 2. Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm? A. Ứng xử. B. Ước mơ. C. Thế sự đời thường. D. Gia đình. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý hệ thống nhân vật, các chi tiết tiêu biểu
Lời giải chi tiết:
Đề tài của tác phẩm: đề tài gia đình (tình cảm cha con)
→ Đáp án D
|
Câu 3. Nhân vật chính, nội dung của truyện ngắn là: A. Người cha và My; Ước mơ và nỗi đau của người cha bất hạnh bên cô con gái hiểu thảo. B. Người cha; Người cha giàu yêu thương, mơ ước nhưng bất hạnh. C. Người cha và mẹ; Người cha giàu yêu thương, mơ ước và cuộc hôn nhân đau khổ. D. My. Người con gái yêu thương cha và mơ ước của mình. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Nhân vật chính của truyện ngắn: Người cha và My
Nội dung của truyện ngắn: Ước mơ và nỗi đau của người cha bất hạnh bên cô con gái hiểu thảo.
→ Đáp án A
|
Câu 4. Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể? A. My chăm sóc cha - Cha mẹ cãi nhau, li dị - Cha lái máy bay kế về vùng trời, đưa My đến giấc mơ - Cha bị tai nạn, My làm việc ở nhà để chăm cha - My về, ngủ quên tỉnh dậy, cha đã mất. B. My chăm sóc cha - Nói chuyện với mẹ - My vẽ và khóc - Cha mẹ cãi nhau, li dị - Cha lái máy bay kể về vùng trời, đưa My đến giấc mơ - Cha bị tai nạn, My làm việc ở nhà để chăm cha - My đọc nhật kí của cha - My vẽ, ngủ quên tỉnh dậy cha đã mất. C. Cha mẹ cãi nhau, li dị - Cha bị tai nạn, My làm việc ở nhà để chăm cha – My đọc nhật kí của cha - My vẽ, ngủ quên tỉnh dậy, cha đã mất. D. Cha lái máy bay kể về vùng trời, đưa My đến giấc mơ - Cha bị tai nạn, My làm việc ở nhà để chăm cha - My đọc nhật kí của cha - My vẽ, ngủ quên tỉnh dậy, cha đã mất. |
Phương pháp giải
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Trình tự kể của văn bản: My chăm sóc cha - Nói chuyện với mẹ - My vẽ và khóc - Cha mẹ cãi nhau, li dị - Cha lái máy bay kể về vùng trời, đưa My đến giấc mơ - Cha bị tai nạn, My làm việc ở nhà để chăm cha - My đọc nhật kí của cha - My vẽ, ngủ quên tỉnh dậy cha đã mất.
→ Đáp án B
|
Câu 5. Truyện kể theo trình tự nào? A. Trình tự thời gian. B. Trình tự không gian. C. Trình tự cảm xúc của nhân vật My. D. Trình tự tuân theo ý đồ nghệ thuật của tác giả. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Truyện kể theo trình tự: tuân theo ý đồ nghệ thuật của tác giả
→ Đáp án D
|
Câu 6. Dòng nào nói đúng việc sử dụng ngôi kể của tác phẩm: A. Ngôi thứ ba. B. Ngôi thứ nhất. C. Ngôi thứ 3 và ngôi thứ nhất. D. Hai người kể chuyện từ ngôi thứ nhất. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản để xác định ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Văn bản được kể theo 2 ngôi: Ngôi thứ 3 và ngôi thứ nhất
+ Ngôi thứ 3: tác giả (trong phần đầu)
+ Ngôi thứ 1: khi đọc cuốn nhật kí
→ Đáp án C
|
Câu 7. Vì sao, hai năm trở lại đây My không khóc nữa mà lại nhí nhảnh kể cho cha cô nghe những chuyện đại loại như cây hoa trà ông trồng? A. Vì cô biết khóc lóc chẳng ích gì chỉ làm con người thêm yếu đuối mà thôi. B. Vì cô muốn 2 cha con vui vẻ, muốn có cuộc sống lạc quan và đầy mơ ước. C. Vì cô muốn cha sống lạc quan đầy lãng mạn. D. Cả a & b. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Hai năm trở lại đây My không khóc nữa mà lại nhí nhảnh kể cho cha cô nghe những chuyện đại loại như cây hoa trà ông trồng vì:
+ Vì cô biết khóc lóc chẳng ích gì chỉ làm con người thêm yếu đuối mà thôi
+Vì cô muốn 2 cha con vui vẻ, muốn có cuộc sống lạc quan và đầy mơ ước
→ Đáp án D
|
Câu 8. Vì sao My điên cuồng vẽ, rồi lại khóc, trạng thái đó biểu hiện điều gì? A. Vì My muốn mang lại cho người cha vùng trời của ông về trên toan. B.Vì cô vẽ trong sự hoảng sợ mộng mị và mơ hồ về người cha; Vì những mảng mầu lạnh lẽo và bất động; C. Vì My muốn mang lại cho người cha vùng trời của ông; Biểu hiện sự bất lực trước thực tại nghiệt ngã, tình yêu cha sâu sắc mãnh liệt... D. Vì những mảng màu lạnh lẽo và bất động; Đau khổ, bất lực. |
Phương pháp giải
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
My điên cuồng vẽ, rồi lại khóc, trạng thái đó biểu hiện: My muốn mang lại cho người cha vùng trời của ông; Biểu hiện sự bất lực trước thực tại nghiệt ngã, tình yêu cha sâu sắc mãnh liệt...
→ Đáp án C
Câu 9. Cảm nhận của em về nhân vật người cha. Từ đó, hãy cho biết những yếu tố nào có khả năng nuôi dưỡng ước mơ, khát vọng đẹp trong tâm hồn con người?
Phương pháp giải:
Nêu ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Xác định được những đặc điểm cơ bản của người cha và có dẫn chứng phù hợp
+ Giàu mơ ước, luôn khát khao được yêu thương
+ Yêu thương, nuôi dưỡng ước mơ của con đúng mực
+ Là người chịu nhiều bất hạnh
- Xác định những yếu tố nào có khả năng nuôi dưỡng ước mơ, khát vọng đẹp: tôn trọng ý kiến riêng của HS nhưng phải phù hợp với văn hóa của dân tộc và định hướng thẩm mỹ từ tác phẩm “Bầu trời của người cha”
Câu 10. Em yêu thích điểm nào ở nhân vật My? Việc làm, suy nghĩ, ước mơ nào của My đã tác động tới cảm xúc, suy nghĩ của em?
Phương pháp giải:
Nêu ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Là câu hỏi mở: HS chủ động thể hiện chính kiến cá nhân nhưng lí lẽ và dẫn chứng phải phù hợp, thuyết phục
- Cách hiểu và lý giải cần có căn cứ từ tác phẩm, tránh suy diễn, gượng ép bất hợp lý
PHẦN II. TẠO LẬP VĂN BẢN (4đ)
Phân tích nhân vật My và từ đó thể hiện quan điểm/ thái độ của cá nhân đối với người sống giàu ước mơ và người sống thực tế
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Phân tích nhân vật My |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật - Giới thiệu đặc điểm và vị trí nhân vật trong tác phẩm |
|
Thân bài |
2,5 |
- Phân tích 2-3 đặc điểm nổi bật của nhân vật (chọn dẫn chứng tiêu biểu phù hợp với ý kiến) + Giàu yêu thương, hiếu thảo + Giàu khát khao, ước mơ và kiên trì thực hiện ước mơ + Nhanh nhạy, hoạt bát, biết lo toan… - Nhận xét nghệ thuật khắc họa nhân vật (lời nói, suy nghĩ, việc làm ước mơ, khát khao..) - Thể hiện quan điểm về lối sống: thể hiện rõ sự lựa chọn: 1 trong 2 hoặc phối hợp (hài hòa trong từng hoàn cảnh) |
|
Kết bài |
0,5 |
- Đánh giá nhân vật - Sự tác động của nhân vật tới cảm xúc, suy nghĩ |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại - Dẫn chứng tiêu biểu phù hợp với lý lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 8
Đề thi
I. Đọc hiểu (4đ)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi phía dưới:
TỪ THIỆN
(Tạ Tư Vũ)
Bà Hai ngồi thu lu trên cái đẩu, cái gọng kính trễ xuống sống mũi như chực rơi ra, bà Hai đang tính toán số hàng người ta quyên góp ngày hôm nay. Chợt bà Hai ngẩng đầu hỏi với ông Hai: “Con Tư hàng khô lúc nãy gửi gì vậy ông?”.
Ông Hai xoa xoa bàn tay, nhìn sàn nhà ngổn ngang, buông thõng: “Hai thùng mì trứng, 5 ký đường với bao quần áo”. Bà Hai cặm cụi ghi vào sổ. Trời vẫn mưa ầm ầm như trút nước.
Bà Hai bán xôi bên hông chợ Bà Chiểu. Xe hàng xôi của bà nổi tiếng hơn chục năm nay. Mỗi gói 15 ngàn, nếp thơm, mấy miếng xá xíu, thịt chiên cùng với nhúm hành phi thơm phức bọc lại trong miếng lá chuối con con. Chỉ thế thôi mà những gói xôi lại đủ sức nuôi sống ông bà. Cứ mỗi chiều tối, mỗi khi bà Hai đẩy cái xe bán xôi của bà ra ngã tư chợ, người ta biết ngay là đã sáu giờ chiều. Khi bà mở cái nắp xửng xôi, mùi xôi chín lá dứa thơm khắp cả con đường. Bà Hai bán không ngơi tay. Cái nằm xôi lá chuối con con như vậy mà lo trọn bữa cơm chiều rẻ tiền cho cả chợ. Thỉnh thoảng bà Hai còn bán thiếu cho mấy đứa sinh viên đói muộn. Ngày rằm bà Hai còn nấu xôi chay cho không mọi người.
Mùa mưa Sài Gòn năm nay thật khắc nghiệt. Cả buổi chiều đến tối, gió mưa quăng quật, giằng xé khắp chợ. Chợ xác xơ, hàng quán bán ế chỏng gọng. Bọn mì gõ, hủ tiểu hay tụi bán quần áo, giày dép ngay ngã tư chợ dẹp luôn. Chỉ còn Bà Hai với xe xôi lạnh ngắt. Thế là bà Hai cũng nghỉ, chịu thua những cơn mưa.
Ông Hai bàn với bà Hai vận động mọi người ở chợ ủng hộ huyện miền núi ở tỉnh X làm từ thiện. Ông bà chỉ nhận hàng hóa, không nhận tiền. Bà Hai nghỉ bán bữa giờ, xem tivi thấy cảnh những con người cheo leo trên mái nhà vì lũ. Bà cũng thấy cảnh con bò bị chìm ngập giữa dòng nước, hếch cái mõm lên trời hít chút không khí tàn.
Bà chặc lưỡi nghĩ thầm, có đi trăm chùa, cho không ngàn gói xôi cũng chẳng bằng giúp người ta lúc ngặt nghèo. Nhìn mấy đứa con nít ngây thơ, quân áo tả tơi bấu víu nhau chạy lũ thấy thương hết sức, cứ nghĩ tụi nó là con mình thì lại càng thương. Thế là vợ chồng ông Hai đội mưa ngày ngày vào chợ đi vận động quyên góp. Uy tín bà Hai bán xôi thật oách, chỉ mới năm ngày phát động mà gần như cả chợ nhiệt liệt tham gia. Từ quầy hàng khô, hàng rau, hàng thịt, bọn bán quần áo trên lầu, cả mấy đứa cho vay kiếm lời ngoài chợ cũng ủng hộ. Như hôm qua, thằng Tâm Hôi chuyên chở nước đá chạy nguyên chiếc xe ba gác máy đỗ xịch trước nhà bà Hai. Miệng ngậm điếu thuốc, quần xắn đầu gối, khệ nệ khiêng vào nhà bà Hai mười thùng nước tinh khiết ủng hộ đồng bào.
Tâm Hôi cũng không quên trả luôn bà Hai tiền ba gói xôi còn thiếu. Bà Hai ngồi cười rung ghế: “Boa luôn đó con trai!”.
Mới sáng sớm mà mưa mù trời. Tư Mắm, Tâm Hôi qua nhà bà Hai để giúp mọi người vận chuyển hàng cứu trợ. Mọi người đang lăng xăng với lỉnh kỉnh hàng hóa thì một chiếc taxi bất chợt xuất hiện trước nhà. Tài xế bóp kèn tin tin gọi người ra nhận hàng ủng hộ. Tâm Hôi và ông Hai khệ nệ khiêng vào nhà thùng hàng to đùng. Tư Mắm khui thùng hàng ra để kiểm thì chợt há hốc mồm:
“Trời đất, cái gì vậy trời...?”. Mọi người quay qua nhìn Tư Mắm với bộ đầm dạ hội trên tay. Tâm Hội cười khà khà: “Cái này mới ác liệt nè.”, rồi huơ huơ hai đôi giày cao gót đỏ chót. Hàng loạt cái váy ngắn cũn cỡn, áo hai dây sexy cùng với quần áo đi khiêu vũ nằm lăn lóc trên sàn nhà. Bà Hai thở dài.
Tư Mắm chửi đổng: “Mẹ nó, ai rảnh thiệt. Người ta đói ăn đói mặc thì không cho cái gì nó thực tế. Cho chi mấy cái thứ tào lao gì đâu. Lũ lụt trốn lên nóc nhà bận đầm dạ hội à. Từ thiện kiểu gì vậy trời..”. Tâm Hôi quấn cái đầm dạ hội màu nhung gấm đi giữa nhà õng ẹo: “Mời anh Hai làm với em vài bài nào..”. Mọi người cười rần rần.
Bà Hai ngồi thừ nơi bậu cửa nhìn màn mưa xiên xéo trước nhà. Bụi mưa lấm tấm làm thành màn sương mỏng trên nền gấm đỏ bộ đầm dạ hội mà Tư Mắm vứt lăn lóc ngay góc cửa. Nhìn thùng hàng với những cái áo hai dây sexy mỏng tang, phất phơ theo từng cơn gió lạnh buốt, bà Hai kín đáo thở dài.
Yêu thương mà, nếu người ta quá vội để hời hợt nhìn nhau, thì mình cũng nên gắng sức để thương yêu đó trọn vẹn. Bỏ qua một tấm lòng mới là kỳ cục. Bà Hai nhẩm tính thùng hàng này bán đi cũng mua được hơn chục ký gạo. Mưa bắt đầu tạnh dần. Ông Hai mỉm cười ngồi nhìn bà Hai từ góc tối trong nhà. Bóng bà Hai nhỏ thó, liêu xiêu bên bậu cửa với mái đầu bạc mờ những giọt mưa. Bà đang nhẩm tính gì đó bên những đôi giày cao gót chỏng chơ, sặc sỡ.
(https://tuoitre.vn/truyen-ngan-1200-tu-thien-1210210.htm)
Câu 1: Dòng nào nói đúng đặc điểm thể loại của văn bản trên?
A. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc diễn ra trong phạm vi hẹp, đầy mâu thuẫn.
B. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc diễn ra trong thời gian, không gian hẹp.
C. Truyện vừa: Nhân vật đa dạng, sự việc diễn ra luôn vận động.
D. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc đơn giản, giàu ý nghĩa.
Câu 2: Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm?
A. Người lao động.
B. Làm từ thiện.
C. Kinh tế.
D. Tiểu thương
Câu 3: Nhân vật chính, nội dung của truyện ngắn là:
A. Ông Hai. Vận động từ thiện.
B. Tư mắm. Phân loại hàng từ thiện.
C. Bà Hai. Công việc thiện nguyện hàng ngày.
D. Không có nhân vật chính. Cả chợ làm từ thiện.
Câu 4: Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể?
A. Công việc làm ăn thường xuyên của vợ chồng bà Hai; những ngày mưa làm ăn thật vất vả; ông bà Hai và cả chợ làm từ thiện; suy nghĩ của bà Hai cách làm từ thiện hiệu quả.
B. Vợ chồng bà Hai tổng hợp hàng từ thiện; công việc làm ăn thường xuyên của vợ chồng bà Hai; những ngày mưa làm ăn thật vất vả; ông bà Hai và cả chợ làm từ thiện; suy nghĩ của bà Hai cách làm từ thiện hiệu quả.
C. Ông bà Hai, cả chợ làm từ thiện; suy nghĩ của bà Hai cách làm từ thiện.
D. Công việc làm ăn thường xuyên của vợ chồng bà Hai; suy nghĩ của bà Hai cách làm từ thiện hiệu quả.
Câu 5: Dòng nào nói đúng việc sử dụng ngôi kể của tác phẩm?
A. Ngôi thứ ba.
B. Ngôi thứ nhất.
C. Ngôi thứ 3 và ngôi thứ nhất.
D. Hai người kể chuyện từ ngôi thứ nhất.
Câu 6: Nhân vật bà Hai được khắc họa qua:
A. Hành động, suy nghĩ.
B. Lời nói, hành động.
C. Hành động, lời nói, suy nghĩ, lời người kể chuyện.
D. Ngoại hình, hành động.
Câu 7: Vì sao, tác giả khẳng định: “Uy tín bà Hai bán xôi thật oách, chỉ mới năm ngày phát động mà gần như cả chợ nhiệt liệt tham gia"?
A. Vì bà Hai luôn làm từ thiện, mọi người tin bà.
B. Vì bà Hai luôn bán xôi chịu cho người khó khăn.
C. Cái nắm xôi lá chuối con con của bà Hai lo trọn bữa cơm chiều rẻ tiền cho cả chợ.
D. Vì bà Hai làm từ thiện chỉ nhận hàng hóa, không nhận tiền.
Câu 8: “Nhìn mấy đứa con nít ngây thơ, quần áo tả tơi bấu víu nhau chạy lũ thấy thương hết sức, cứ nghĩ tụi nó là con mình thì lại càng thương” là suy nghĩ của ai?
A. Ông Hai.
B. Tư Mắm.
C. Bà Hai.
D. Tâm Hội.
Câu 9: Phân tích nghệ thuật kể chuyện và dụng ý của tác giả trong đoạn văn sau:
“Ông Hai mỉm cười ngồi nhìn bà Hai từ góc tối trong nhà. Bóng bà Hai nhỏ thó, liêu xiêu bên bậu cửa với mái đầu bạc mờ những giọt mưa. Bà đang nhẩm tính gì đó bên những đôi giày cao gót chỏng chơ, sặc sỡ”
Câu 10: Cảm nhận của em về hình tượng nhân vật bà Hai trong tác phẩm trên (bằng đoạn văn dài từ 5-7 câu)
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (6 điểm)
Suy nghĩ của em về công việc làm từ thiện đối với học sinh THCS hiện nay
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (4 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
Câu 7 (0.25đ) |
Câu 8 (0.25đ) |
|
B |
A |
C |
B |
A |
C |
A |
C |
|
Câu 1: Dòng nào nói đúng đặc điểm thể loại của văn bản trên? A. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc diễn ra trong phạm vi hẹp, đầy mâu thuẫn. B. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc diễn ra trong thời gian, không gian hẹp. C. Truyện vừa: Nhân vật đa dạng, sự việc diễn ra luôn vận động. D. Truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc đơn giản, giàu ý nghĩa. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, nhớ lại dấu hiệu nhận biết thể loại
Nêu đặc điểm thể loại
Lời giải chi tiết:
Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn: Nhân vật ít, sự việc diễn ra trong thời gian, không gian hẹp.
→ Đáp án: B
|
Câu 2: Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm? A. Người lao động. B. Làm từ thiện. C. Kinh tế. D. Tiểu thương |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Tác phẩm nói về đề tài người lao động: người bán xôi, người bán quần áo, người bán thức ăn,…
→ Đáp án: A
|
Câu 3: Nhân vật chính, nội dung của truyện ngắn là: A. Ông Hai. Vận động từ thiện. B. Tư mắm. Phân loại hàng từ thiện. C. Bà Hai. Công việc thiện nguyện hàng ngày. D. Không có nhân vật chính. Cả chợ làm từ thiện. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và rút ra kết luận về nhân vật và nội dung chính
Dựa vào tiêu đề của văn bản
Lời giải chi tiết:
Nhân vật chính của văn bản là Bà Hai. Nội dung chính là: Công việc thiện nguyện hàng ngày
→ Đáp án: C
|
Câu 4: Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể? A. Công việc làm ăn thường xuyên của vợ chồng bà Hai; những ngày mưa làm ăn thật vất vả; ông bà Hai và cả chợ làm từ thiện; suy nghĩ của bà Hai cách làm từ thiện hiệu quả. B. Vợ chồng bà Hai tổng hợp hàng từ thiện; công việc làm ăn thường xuyên của vợ chồng bà Hai; những ngày mưa làm ăn thật vất vả; ông bà Hai và cả chợ làm từ thiện; suy nghĩ của bà Hai cách làm từ thiện hiệu quả. C. Ông bà Hai, cả chợ làm từ thiện; suy nghĩ của bà Hai cách làm từ thiện. D. Công việc làm ăn thường xuyên của vợ chồng bà Hai; suy nghĩ của bà Hai cách làm từ thiện hiệu quả. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và sắp xếp trình tự được kể
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Trình tự kể: Vợ chồng bà Hai tổng hợp hàng từ thiện; công việc làm ăn thường xuyên của vợ chồng bà Hai; những ngày mưa làm ăn thật vất vả; ông bà Hai và cả chợ làm từ thiện; suy nghĩ của bà Hai cách làm từ thiện hiệu quả.
→ Đáp án: B
|
Câu 5: Dòng nào nói đúng việc sử dụng ngôi kể của tác phẩm? A. Ngôi thứ ba. B. Ngôi thứ nhất. C. Ngôi thứ 3 và ngôi thứ nhất. D. Hai người kể chuyện từ ngôi thứ nhất. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Tác phẩm được kể theo ngôi thứ 3 (người kể chuyện giấu mình)
→ Đáp án: A
|
Câu 6: Nhân vật bà Hai được khắc họa qua: A. Hành động, suy nghĩ. B. Lời nói, hành động. C. Hành động, lời nói, suy nghĩ, lời người kể chuyện. D. Ngoại hình, hành động. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các chi tiết miêu tả nhân vật bà Hai
Lời giải chi tiết:
Nhân vật bà Hai được khắc họa qua Hành động, lời nói, suy nghĩ, lời người kể chuyện
→ Đáp án: C
|
Câu 7: Vì sao, tác giả khẳng định: “Uy tín bà Hai bán xôi thật oách, chỉ mới năm ngày phát động mà gần như cả chợ nhiệt liệt tham gia"? A. Vì bà Hai luôn làm từ thiện, mọi người tin bà. B. Vì bà Hai luôn bán xôi chịu cho người khó khăn. C. Cái nắm xôi lá chuối con con của bà Hai lo trọn bữa cơm chiều rẻ tiền cho cả chợ. D. Vì bà Hai làm từ thiện chỉ nhận hàng hóa, không nhận tiền. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Tác giả khẳng định như vậy vì: Bà Hai luôn làm từ thiện, mọi người tin bà
→ Đáp án: A
|
Câu 8: “Nhìn mấy đứa con nít ngây thơ, quần áo tả tơi bấu víu nhau chạy lũ thấy thương hết sức, cứ nghĩ tụi nó là con mình thì lại càng thương” là suy nghĩ của ai? A. Ông Hai. B. Tư Mắm. C. Bà Hai. D. Tâm Hội. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Câu nói trên là suy nghĩ của Bà Hai
→ Đáp án: C
Câu 9: Phân tích nghệ thuật kể chuyện và dụng ý của tác giả trong đoạn văn sau:
“Ông Hai mỉm cười ngồi nhìn bà Hai từ góc tối trong nhà. Bóng bà Hai nhỏ thó, liêu xiêu bên bậu cửa với mái đầu bạc mờ những giọt mưa. Bà đang nhẩm tính gì đó bên những đôi giày cao gót chỏng chơ, sặc sỡ”
Phương pháp
Đọc kĩ đoạn văn
Vận dụng kiến thức về nghệ thuật kể chuyện
Lời giải chi tiết
- Nghệ thuật: Kể kết hợp tả, chú ý tả thực hình ảnh bà Hai bằng hàng loạt tính từ nhỏ thó, liêu xiêu, mái đầu bạc; hình ảnh ông Hai mỉm cười
→ Hai ông bà đều cùng chí hướng giúp người nghèo hơn mình, họ làm việc đó tự nguyện, với niềm vui góp sức nhỏ giúp người trong cơn hoạn nạn
- Nghệ thuật tương phản: 2 người già trong khung cảnh ảm đạm tương phản với những giày cao gót chỏng chơ, sặc sỡ → khiến độc giả phải suy nghĩ về những tấm lòng nhân hậu về cách làm từ thiện giúp người đang đói khổ trong mưa lũ
Câu 10: Cảm nhận của em về hình tượng nhân vật bà Hai trong tác phẩm trên (bằng đoạn văn dài từ 5-7 câu)
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Phân tích nhân vật bà Hai và nêu cảm nhận của em
Lời giải chi tiết
- Cảm nhận được tính cách, phẩm chất đáng quý ở nhân vật bà Hai: nghèo khó, vất vả nhưng xởi lởi, nhân hậu; suy nghĩ sâu sắc; làm từ thiện cụ thể hữu ích, chân tình
- Chủ động thể hiện nhận xét chủ quan của cá nhân nhưng phải phù hợp với tác phẩm và văn hóa của dân tộc
- Đoạn văn có mở- thân và kết; có liên kết câu và đảm bảo mạch lạc
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (6 điểm)
|
Suy nghĩ của em về công việc làm từ thiện đối với học sinh THCS hiện nay |
Phương pháp:
Dựa vào những kiến thức và kĩ năng đã học
Lời giải chi tiết:
|
|
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Nêu vấn đề bàn luận - Thái độ đối với hiện tượng |
|
Thân bài |
2,5 |
- Làm rõ cách hiểu về hoạt động từ thiện; biểu hiện của việc làm từ thiện đích thực - Lý do, nguồn gốc của hoạt động - Phân tích giá trị, ý nghĩa của hoạt động từ thiện - Cách làm từ thiện hiệu quả nhất |
|
Kết bài |
0,5 |
- Quan điểm của cá nhân về hoạt động từ thiện - Nhận thức và hành động của bản thân, việc làm của HS THCS trong công việc từ thiện |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (tách các luận điểm/ ý kiến) - Thể hiện rõ quan điểm cá nhân (đồng tình/phản bác) - Dẫn chứng đa dạng phù hợp với lý lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 9
Đề thi
I. Đọc hiểu (6đ)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi phía dưới:
NGƯỜI BÁN THAN VÀ ÔNG QUÝ PHÁI (*)
(EDMOND DE AMICIS)
Thứ hai, ngày mồng 7 tháng 11
Carlô Nôbix lúc nào cũng kiêu hãnh vì sinh ra ở nơi quyền quý và giàu có. Cha anh vẻ người phong nhã, đứng đắn, trán rộng, râu đen, thường đưa anh đến trường.
Sáng qua, Carlô cãi nhau với Betty là con một người bán than. Cùng lý, anh chẳng tìm được lời gì, phát cáu nói:
Bố mày là đồ bần tiện!
Betty đỏ mặt, không nói được nữa, nước mắt chạy quanh.
Trưa về, Betty kể lại cho cha hay. Buổi chiều, ông bố lập tức ra trường phàn nàn với thầy giáo. Ông ta đang phân trần thì theo lệ thường, ông Nôbix cũng vừa đến cổng và cởi áo khoác cho con. Nghe thấy có người nói đến tên mình, ông tiến vào xem có việc gì.
Ông Perbôni nói:
- Kìa ông Nôbix đã đến! Vừa khéo! Ông này đang đến phàn nàn vì Carlô đã mắng con ông ấy bằng câu “Bố mày là đồ bần tiện!”
Ông Carlô cau mày và hơi đổi sắc mặt, quay lại hỏi con:
- Có thực con đã nói thế?
Carlô đứng ngây như gỗ, cúi đầu im lặng.
Ông Carlô xin phép dắt con đến chỗ Betty và bảo:
- Con xin lỗi anh Betty đi!
- Thưa ngài xin thôi!
Người hàng than nói thế và toan chạy vào ngăn lại, nhưng ông quý phái không nghe, cứ bắt con xin lỗi:
Con nhắc lại câu này: Anh Betty ơi! Tôi xin lỗi anh về lời bất nhã và vô ý thức mà tôi đã trót nói phạm đến cha anh, người mà cha tôi rất lấy làm hân hạnh được bắt tay.
Không dám ngẩng mặt, Carlô cứ nguyên văn nhắc lại những câu cha vừa dạy bằng giọng thấp. Rồi ông Nôbix đưa tay cho người bán than bắt một cách rất nồng nàn.
Bắt tay xong “Bá tước” quay lại nói với thầy giáo.
- Thưa ngài, xin ngài làm ơn cho hai đứa trẻ này ngồi liền nhau.
Ông Perbôni đặt luôn Betty ngồi cạnh Carlô. Khi chúng đã yên chỗ, ông Carlô chào và trở ra.
Ông hàng than đứng lại một lúc, bâng khuâng, do dự. Ông ngắm hai trẻ ngồi sánh vai nhau, rồi chẳng nói chẳng rằng, ông chạy lại toan ôm lấy Carlô, song đến nơi ông bỗng dừng lại, đành lấy bàn tay chuối hột sẻ vuốt tóc anh Carlô rồi ra thẳng.
Thầy giáo bảo chúng tôi:
- Các con hãy nhớ lấy tấn kịch mà các con vừa xem. Đó là một bài học hay nhất trong năm.
* Chú thích:
(*) Có sách ghi: tác phẩm trích từ TÂM HỒN CAO THƯỢNG, Tác giả O’ Henrry
Câu hỏi
Câu 1. Dấu hiệu nào KHÔNG cho biết văn bản trên là truyện ngắn?
A. Nhân vật ít.
B. Dung lượng ngắn (gần 2 trang).
C. Ít sự việc (diễn ra trong thời gian rất ngắn).
D. Phản ánh số phận nhân vật qua nhiều thăng trầm.
Câu 2. Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm?
A. Bạn bè.
B. Thầy trò.
C. Học đường.
D. Ứng xử.
Câu 3. Nhân vật chính của truyện ngắn là:
A. Carlô.
B. Thầy giáo.
C. Betty.
D. Hai người cha.
Câu 4. Người bán than và ông quý phái kể về sự việc gì?
A. Kể việc Carlô cãi nhau với Betty, Carlô xúc phạm bố Betty.
B. Kể việc Carlô cãi nhau với Betty. Carlô nói không hay về bố của Betty và ứng xử của hai ông bố trước sự việc đó.
C. Kể việc Carlô đánh Betty và cuộc cãi cọ của hai ông bố trước sự việc đó.
D. Kể việc Carlô đánh nhau với Betty và những ứng xử, dàn xếp của thầy giáo trước sự việc đó.
Câu 5. Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể của tác phẩm?
A. Carlô cãi nhau với Betty - Carlô nói về bố của Betty - bố của Betty đến gặp thầy giáo - bố Carlô xuất hiện chào và xin lỗi.
B. Carlô cãi nhau với Betty - Carlô nói về bố của Betty - bố của Betty đến gặp thầy giáo - bố Carlô xuất hiện chào và xin lỗi - Lời nhắc nhở của thấy giáo.
C. Carlô cãi nhau với Betty - bố của Betty đến gặp thầy giáo - bố Carlô xuất hiện chào và xin lỗi - xin cho 2 đứa trẻ ngồi cạnh nhau – Lời nhắc nhở của thấy giáo.
D. Carlô nói về bố của Betty - Carlô cãi nhau với Betty - bố của Betty den gặp thầy giáo - bổ Carlô xuất hiện chào và xin lỗi - xin cho 2 đứa trẻ ngồi cạnh nhau.
Câu 6. Dòng nào KHÔNG nói lên lí do Carlô nói bố của Betty là đồ bận tiện
A. Cùng lý, Carlô chẳng tìm được lời gì.
B. Phát cáu nói bừa không suy nghĩ.
C. Sẵn kiêu hãnh vì sinh ra ở nơi quyền quý và giàu có.
D. Vì sự thật bố của Betty rất bần tiện.
Câu 7.“ Đồ bần tiện” trong Người bán than và ông quý phái được hiểu như thế nào?
A. Có những tính toán về tiền nong một cách nhỏ nhen.
B. Bần tiện: không rộng rãi, có những tính toán về tiền nong một cách nhỏ nhen, đáng khinh (tiếng mắng chửi).
C. Là người nghèo, làm công việc chân tay.
D. Là người ăn xin đáng thương.
Câu 8. Vì sao khi nghe Carlô nói bố mình là “đồ bần tiện”, Betty đỏ mặt, khỏi nói được nữa và bố của Betty phải đến gặp thầy giáo?
A. Vì Betty và bố của Betty đều cảm thấy mình bị coi thường và xúc phạm
B. Vì Carlô là học sinh làm nói những lời không hay.
C. Vì bố của Betty không phải là người bần tiện.
D. Vì lo lắng Carlô sẽ là một học sinh hư hỏng.
Câu 9. Nếu là Betty trong câu chuyện trên (khi bị bạn nói cha mình là đồ bần tiện) em sẽ ứng xử với Carlô như thế nào? Nói rõ ít nhất 2 lí do cho việc ứng xử đó (1đ)
Câu 10. Em rút ra được bài học gì từ ứng xử của hai bố con nhà Carlô trong câu chuyện? Em đã bao giờ coi thường và xúc phạm người khác chưa? Nếu đã từng, em sẽ điều chỉnh hành vi của mình như thế nào? (trả lời bằng đoạn văn dài 6-8 câu) (1đ)
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)
TÍNH KHOE KHOANG – THỨ HAI, NGÀY MỒNG 5
(EDMOND DE AMICIS)
Hôm qua, tôi đi chơi với anh Vôtini và cha anh. Khi qua phố Đôra, chúng tôi thấy anh Xtađia đang quay lại đá vung mấy người bạn đã vô ý dẫm phải chân anh trong khi anh mải nhìn một bản địa đồ treo trong hiệu sách (vì anh học cả ở trường). Chúng tôi gọi, anh chỉ hơi chào trả, thực là thiếu lịch sự!
Chúng tôi mặc anh và thẳng đường đi. Tôi để ý nhìn anh Vôtini thì bao giờ anh cũng ăn mặc xa hoa quá thể, đối với một đứa trẻ con như anh. Giày da dê, áo nẹp thêu, mũ phớt trắng, đồng hồ vàng. Anh ra bộ giương giương tự đắc lắm, nhưng lần này thì bị nhụt!
Cha anh thủng thỉnh đi sau, còn anh và tôi thì chạy trước. Chúng tôi đến một cái ghế đá, đã thấy có một cậu bé cúi đầu ngồi nghỉ, vẻ mệt nhọc. Một người đàn ông nữa, có lẽ là cha cậu, đi tản bộ dưới bóng cây, xem báo. Hai chúng tôi cùng ngồi ghế. Anh Vôtini len ngồi giữa tôi và cậu bé và tìm cách làm cho cậu chú ý đến mình.
Anh giơ một chân lên hỏi tôi:
- Anh đã xem đôi giày bốt tin kiểu “sĩ quan” của tôi rồi chứ?
Anh nói thế cốt để cậu bé kia nhìn đôi giày mới của anh nhưng cậu bé không hề liếc mắt.
Thấy vô hiệu, anh bỏ chân xuống rồi vừa trỏ vào những cái “lon” kim tuyến ở tay áo, vừa liếc sang cậu bé mà bảo tôi rằng:
- Này anh ! Lối viền này coi rợn quá ! Tôi định thay bằng bộ cúc bạc!
Nhưng cũng phí lời, vì cậu bé ngồi yên như thường.
Anh Vôtini liền đặt mũ lên ngón tay trỏ quay tít. Cậu bé nhất định không nhìn.
Tức mình, anh rút luôn đồng hồ, mở nắp cho tôi xem các bánh xe. Nhưng cậu hàng xóm vẫn không nhúc nhích.
Tôi hỏi:
-Đồng hồ anh mạ vàng?
Anh đáp :
- Không. Bằng vàng cả.
- Nhưng bao giờ người ta cũng pha ít bạc vào.
-Không. Tôi cam đoan với anh rằng đồng hồ tôi toàn vàng.
Rồi cố ý bắt cậu bé kia phải trả lời, anh giơ đồng hồ ngang mặt cậu và nói
- Này anh coi, có phải bằng vàng cả không?
Cậu kia trả lời cụt ngủn.
Tôi không biết.
Như bị trêu chọc, Vôtini kêu:
- A! A! Làm bộ nhỉ!
Anh vừa kêu thì cha anh lại. Ông nhìn cậu bé rồi vội bảo anh:
- Im!
Xong ông ghé vào tai anh nói nhỏ:
- Đứa bé khốn nạn này mù, con ạ!
Vôtini nhìn kỹ cậu bé thì thấy hai con ngươi trơ như cùi nhãn.
Anh kinh ngạc, cứng người, mắt nhìn xuống đất, lẩm bẩm:
- Chết chửa ! Mình không biết...
Cậu bé mù, hiểu cả, nở một nụ cười tử tế thoảng qua nét buồn nói:
- Không hề gì...
Xét ra, Vôtini là một kẻ hợm mình thực, nhưng lòng anh không độc vì từ lúc ấy, anh kém vui và có vẻ nghĩ ngợi.
(https://bom.so/eD7IIW)
a. Vì sao tác giả lại đặt tên văn bản lại kèm theo dòng chữ “thứ 2 ngày mồng 5”.
b. Chỉ ra điểm liên quan giữa văn bản Tính khoe khoang – Thứ 2 ngày mồng 5 với văn bản Người bán than và ông quý phái.
Câu 2. Hai văn bản Tính khoe khoang – Thứ 2 ngày mồng 5 và Người bán than và ông quý phái cùng phê phán thói xấu nào của con người? Em hãy viết bài văn trình bày ý kiến của mình về thói xấu đó. (bài viết dài từ 1-1,5 trang vở/giấy thi) (3 điểm)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
Câu 7 (0.25đ) |
Câu 8 (0.25đ) |
|
D |
C |
D |
B |
C |
D |
B |
A |
|
Câu 1. Dấu hiệu nào KHÔNG cho biết văn bản trên là truyện ngắn? A. Nhân vật ít. B. Dung lượng ngắn (gần 2 trang). C. Ít sự việc (diễn ra trong thời gian rất ngắn). D. Phản ánh số phận nhân vật qua nhiều thăng trầm. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại dấu hiệu nhận biết văn bản truyện ngắn
Lời giải chi tiết:
Dấu hiệu KHÔNG cho biết văn bản trên là truyện ngắn: Phản ánh số phận nhân vật qua nhiều thăng trầm (đây là đáp án về nội dung)
→ Đáp án: D
|
Câu 2. Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm? A. Bạn bè. B. Thầy trò. C. Học đường. D. Ứng xử. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý tiêu đề tác phẩm
Lời giải chi tiết:
Đề tài của tác phẩm: Học đường
→ Đáp án: C
|
Câu 3. Nhân vật chính của truyện ngắn là: A. Carlô. B. Thầy giáo. C. Betty. D. Hai người cha. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Nhân vật chính của truyện ngắn là: Hai người cha
→ Đáp án: D
|
Câu 4. Người bán than và ông quý phái kể về sự việc gì? A. Kể việc Carlô cãi nhau với Betty, Carlô xúc phạm bố Betty. B. Kể việc Carlô cãi nhau với Betty. Carlô nói không hay về bố của Betty và ứng xử của hai ông bố trước sự việc đó. C. Kể việc Carlô đánh Betty và cuộc cãi cọ của hai ông bố trước sự việc đó. D. Kể việc Carlô đánh nhau với Betty và những ứng xử, dàn xếp của thầy giáo trước sự việc đó. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Người bán than và ông quý phái kể về sự việc: Kể việc Carlô cãi nhau với Betty. Carlô nói không hay về bố của Betty và ứng xử của hai ông bố trước sự việc đó
→ Đáp án: B
|
Câu 5. Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể của tác phẩm? A. Carlô cãi nhau với Betty - Carlô nói về bố của Betty - bố của Betty đến gặp thầy giáo - bố Carlô xuất hiện chào và xin lỗi. B. Carlô cãi nhau với Betty - Carlô nói về bố của Betty - bố của Betty đến gặp thầy giáo - bố Carlô xuất hiện chào và xin lỗi - Lời nhắc nhở của thấy giáo. C. Carlô cãi nhau với Betty - bố của Betty đến gặp thầy giáo - bố Carlô xuất hiện chào và xin lỗi - xin cho 2 đứa trẻ ngồi cạnh nhau – Lời nhắc nhở của thấy giáo. D. Carlô nói về bố của Betty - Carlô cãi nhau với Betty - bố của Betty den gặp thầy giáo - bổ Carlô xuất hiện chào và xin lỗi - xin cho 2 đứa trẻ ngồi cạnh nhau. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Ghi chép và sắp xếp trình tự kể của tác phẩm
Lời giải chi tiết:
Các sự việc đúng trình tự kể của tác phẩm: Carlô cãi nhau với Betty - bố của Betty đến gặp thầy giáo - bố Carlô xuất hiện chào và xin lỗi - xin cho 2 đứa trẻ ngồi cạnh nhau – Lời nhắc nhở của thấy giáo
→ Đáp án: C
|
Câu 6. Dòng nào KHÔNG nói lên lí do Carlô nói bố của Betty là đồ bận tiện A. Cùng lý, Carlô chẳng tìm được lời gì. B. Phát cáu nói bừa không suy nghĩ. C. Sẵn kiêu hãnh vì sinh ra ở nơi quyền quý và giàu có. D. Vì sự thật bố của Betty rất bần tiện. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Tìm lý do Carlô nói bố của Betty là đồ bận tiện
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Dòng KHÔNG nói lên lí do Carlô nói bố của Betty là đồ bận tiện: Vì sự thật bố của Betty rất bần tiện
→ Đáp án: D
|
Câu 7.“ Đồ bần tiện” trong Người bán than và ông quý phái được hiểu như thế nào? A. Có những tính toán về tiền nong một cách nhỏ nhen. B. Bần tiện: không rộng rãi, có những tính toán về tiền nong một cách nhỏ nhen, đáng khinh (tiếng mắng chửi). C. Là người nghèo, làm công việc chân tay. D. Là người ăn xin đáng thương. |
Phương pháp:
Tìm hiểu nghĩa của từ “người bần tiện”
Áp dụng vào văn bản cụ thể
Lời giải chi tiết:
“Đồ bần tiện” trong Người bán than và ông quý phái được hiểu: Bần tiện: không rộng rãi, có những tính toán về tiền nong một cách nhỏ nhen, đáng khinh (tiếng mắng chửi)
→ Đáp án: B
|
Câu 8. Vì sao khi nghe Carlô nói bố mình là “đồ bần tiện”, Betty đỏ mặt, khỏi nói được nữa và bố của Betty phải đến gặp thầy giáo? A. Vì Betty và bố của Betty đều cảm thấy mình bị coi thường và xúc phạm B. Vì Carlô là học sinh làm nói những lời không hay. C. Vì bố của Betty không phải là người bần tiện. D. Vì lo lắng Carlô sẽ là một học sinh hư hỏng. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Khi nghe Carlô nói bố mình là “đồ bần tiện”, Betty đỏ mặt, khỏi nói được nữa và bố của Betty phải đến gặp thầy giáo vì: Betty và bố của Betty đều cảm thấy mình bị coi thường và xúc phạm
→ Đáp án: A
Câu 9. Nếu là Betty trong câu chuyện trên (khi bị bạn nói cha mình là đồ bần tiện) em sẽ ứng xử với Carlô như thế nào? Nói rõ ít nhất 2 lí do cho việc ứng xử đó (1đ)
Phương pháp
HS trả lời theo ý kiến của cá nhân
Lời giải chi tiết
Tham khảo gợi ý (tránh xung đột, ẩu đả)
+ Ứng xử một cách điềm tĩnh
+ Phản ứng mạnh, thẳng thắn
Câu 10. Em rút ra được bài học gì từ ứng xử của hai bố con nhà Carlô trong câu chuyện? Em đã bao giờ coi thường và xúc phạm người khác chưa? Nếu đã từng, em sẽ điều chỉnh hành vi của mình như thế nào? (trả lời bằng đoạn văn dài 6-8 câu) (1đ)
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
HS trả lời theo ý kiến của cá nhân
Lời giải chi tiết
- Bài học ứng xử:
+ Rút kinh nghiệm không phát ngôn thiếu cân nhắc (xúc phạm, hạ thấp người khác) của bạn Carlô
+ Học tập ứng xử, thái độ sống đúng mực của bố Carlô: tôn trọng người lao động, mọi người đều bình đẳng
- Em đã bao giờ coi thường và xúc phạm người khác: Học sinh tự kiểm điểm lại các ứng xử của mình trong quá khứ…
- Điều chỉnh hành vi: Học sinh tự trả lời cho phù hợp với những ứng xử của mình
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1
a. Vì sao tác giả lại đặt tên văn bản lại kèm theo dòng chữ “thứ 2 ngày mồng 5”.
b. Chỉ ra điểm liên quan giữa văn bản Tính khoe khoang – Thứ 2 ngày mồng 5 với văn bản Người bán than và ông quý phái.
Phương pháp giải
a. Dựa vào nội dung văn bản để lý giải
b. Đọc kĩ 2 văn bản
Lời giải chi tiết
a. Để gắn với mốc thời gian nhằm ghi nhớ lỗi lầm
b. Tự cao, tự đại (bạn Carlô; khoe khoang hợm hĩnh của Vôtini)
Câu 2. Hai văn bản Tính khoe khoang – Thứ 2 ngày mồng 5 và Người bán than và ông quý phái cùng phê phán thói xấu nào của con người? Em hãy viết bài văn trình bày ý kiến của mình về thói xấu đó. (bài viết dài từ 1-1,5 trang vở/giấy thi) (3 điểm)
Phương pháp:
Dựa vào những kiến thức và kĩ năng đã học
Lời giải chi tiết:
|
Hai văn bản Tính khoe khoang – Thứ 2 ngày mồng 5 và Người bán than và ông quý phái cùng phê phán thói xấu nào của con người? Em hãy viết bài văn trình bày ý kiến của mình về thói xấu đó. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Trả lời vế đầu: Tự cao, tự đại; khoe khoang, hợm hĩnh - Xác định đúng và nêu vấn đề bàn luận… - Thái độ bản thân đối với vấn đề bàn luận… |
|
Thân bài |
1,5
|
- Làm rõ cách hiểu: Tự cao, tự đại; khoe khoang, hợm hĩnh - Biểu hiện: Tự cao, tự đại ; khoe khoang, hợm hĩnh - Tác hại của thói tự cao, tự đại; khoe khoang, hợm hĩnh + Coi thường, hạ thấp người khác + Bị đánh giá là vênh váo → mọi người xa lánh, tự tách mình khỏi tập thể - Người viết thể hiện quan điểm của mình về thói quen xấu *Lưu ý: ở mỗi đoạn (1 luận điểm) có đủ 3 yếu tố - Câu nêu ý kiến - Lí lẽ - Dẫn chứng |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định tác hại của tự cao, tự đại; khoe khoang hợm hĩnh - Nhận thức, hành động của bản thân |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Dẫn chứng đa dạng phù hợp với lý lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 10
Đề thi
I. Đọc hiểu (6đ)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi phía dưới:
QUẢ TRỨNG VÀNG
(Tạ Duy Anh)
“Có những chuyện thường ngày lại y như cổ tích. Một lúc nào đó khi chợt nhớ lại, chính bản thân ta cũng phải ngạc nhiên về sự kỳ diệu của nó..”.
Tú Minh loay hoay ghi lại dòng nhật ký vào cuốn sổ lưu niệm cho riêng bản thân cậu. Cậu đã ở tuổi mười hai, có nghĩa là thời thơ ấu đang vùn vụt lao qua những “ga” cuối cùng. Điều này không phải không có lúc làm cậu day dứt. Nhưng chả thể làm gì được. Cậu chép miệng nuối tiếc và nhắm mắt lại, lẩm bẩm nói với chính mình:
“Thật ra tất cả bắt đầu từ những lời cầu mong tốt đẹp”.
…. Hôm nay Tú Minh từ trường về nhà. Lúc sắp vào cổng, cậu nhìn thấy vật gì trăng trắng trong đám lá tre khô. Cậu lại gần thì nhận ra vật trăng trắng đó là quả trứng gà.
- Ồ, một quả trứng gà. Cậu thầm kêu lên. Tại sao nó bị rơi vãi ở đây nhỉ
Tú Minh lượm quả trứng lên ngắm nghía. Chắc chị mái nâu nào đó trở dạ quá nhanh khi qua đây. “Thật may là mình phát hiện ra, nếu không đêm nay nó sẽ vào bụng một con rắn nào đó cũng nên”.
Minh mân mê quả trứng và cảm thấy cơn đói cứ rõ dần. Món trứng ốp-lết cũng được lắm. Chỉ cần một chút mỡ, một chút muối tiêu. Hoặc đơn giản hơn là thả béng vào nồi nước sôi và chỉ dăm bảy phút sau là có thể ngồi khoanh chân nhấm nháp vị béo ngậy của trứng luộc.
Nhưng Minh chợt nghĩ: “Mình ăn chỉ một miếng là hết, sẽ chẳng còn cơ hội nào cho mình được ngắm quả trứng đẹp đến nhường kia. Chi bằng đem đặt vào chiếc hũ sành để xuống cạnh bếp, biết đâu chả khối điều kỳ lạ xảy ra”
Minh lấy giấy bọc chặt rồi cẩn thận đặt vào chiếc hũ, không quên chèn trấu chung quanh. Cậu bê chiếc hũ đặt cạnh bếp lò, nơi mỗi tối và mỗi sáng cậu đều giúp mẹ nhóm lửa. Quả trứng trở thành người bạn im lặng của Tú Minh. Sáng nào cậu cũng thì thẩm nói một điều ước gì đó. Những điều ước của cậu đều tốt đẹp. Chẳng hạn có sáng cậu ước: “Giá như mày có thể biến thành một quả trứng vàng để tao đem chia cho các bạn nghèo trong lớp”. Điều ước này bám riết theo cậu hơn cả và có lúc nó làm cho cậu chán nản, thất vọng vì biết chắc đó là điều không bao giờ có thật.
Một buổi sáng, giống như mọi hôm. Tú Minh xuống bếp cời lò và ao ước. Chợt cậu nghe thấy tiếng cựa rất nhỏ, rất yếu ớt, như thể tiếng vươn mình của chồi cỏ sau cơn mưa. Thoạt đầu cậu nghĩ đến con chuột gian manh nào đó xơi tái quả trứng, đánh một giấc no nê đang trở mình. Nhưng tiếng cựa chỉ thoảng qua và hoàn toàn khác với tiếng sột soạt của giấy. Cậu hồi hộp mở nắp hũ ra rồi cẩn thận gỡ từng lớp giấy. Quả trứng không hề xây sát trừ một lỗ thủng nhỏ và chính cái lỗ thủng đó khiến tim cậu nhảy lên. Điều kỳ diệu đã xảy ra: quả trứng biến thành chú gà con. Quãng trưa thì chú gà vàng rực đã hiện hình ngay trước mắt cậu, có thể vuốt ve được. Tú Minh cảm động muốn khóc khi chú gà nép mình trong bàn tay che chở của cậu. Ngày ngày cậu kiểm môi về cho gà và chả mấy chốc nó đã có thể lẽo đẽo theo cậu đi bắt châu chấu.
Qua thu sang đông rồi hết xuân sang hè, chú gà nhép đã lớn vổng lên thành nàng mái nâu óng ả. Vòng cườm ở cổ nó mới sáng làm sao. Hằng ngày nó tha thẩn kiếm mồi quanh khu vườn và thỉnh thoảng ngơ ngẩn gióng lên những tiếng gọi rất lạ.
Và điều kỳ diệu nữa đã xảy ra: con gà mái của Tú Minh đẻ quả trứng đầu tiên. Tú Minh hả hệ ngắm nghía và không ngớt nghĩ đến những điều tốt đẹp. Sau khi đẻ nốt quả trứng thứ mười hai, con mái nâu đòi ấp. Tú Minh lót cho nó một chiếc ổ đẹp tuyệt trần, có lưới bảo vệ rất cẩn thận. Từ đây trở đi mọi việc xem ra suôn sẻ hơn. Đến kỳ đến hạn, cả mười hai chú gà con đều sinh nở an toàn. Lần này Tú Minh chỉ có một việc là dựng cho mẹ con mái nâu một nếp nhà xinh xắn và chắc chắn.
Nhiều lúc đứng xem đàn gà chạy nhảy, Tú Minh lại hơi giật mình nhớ đến đoạn cậu nhìn thấy quả trứng lẫn trong đám tre. Chỉ cần cậu thả vào nồi nước, đun lên là mọi phép lạ chấm dứt luôn. Sẽ chẳng bao giờ cậu có cái cảm giác sướng run người khi nhìn thấy lũ gà, hiện thân của những điều ước. Sẽ chẳng có cả cái kết thúc mà dù cậu cam đoan không hề bịa mảy may, lũ bạn cậu vẫn ngơ ngác nhìn nhau: “Chẳng lẽ thằng Minh đã thành nhà văn”. Bởi vì một câu chuyện như thế chỉ có thể được sáng tạo bởi chính cuộc sống.
Nào, để xem mình có bịa tí nào không nhỉ? Bắt đầu từ quả trứng và những điều ước... Rồi sau đó cuộc sống đã kể tiếp câu chuyện bằng sự kỳ diệu do chính nó tạo nên, chẳng ai bịa được hay đến vậy.
Cậu hoàn toàn an tâm với những dòng nhật ký.
(https://bom.so/MFuZwH)
Câu hỏi
Câu 1. Dòng nào KHÔNG nói lên đặc điểm chính của văn bản Quả trứng vàng?
A. Nhân vật ít.
B. Dung lượng ngắn (gần 2 trang).
C. Sự việc diễn ra trong phạm vi không gian hẹp.
D. Sự việc diễn ra qua hồi tưởng.
Câu 2. Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm?
A. Làng quê.
B. Tuổi thơ.
C. Tình yêu con vật.
D. Giàu tình thương yêu.
Câu 3. Nhân vật chính của văn bản Quả trứng vàng?
A. Quả trứng
B. Tú Minh.
C. Con gà mái.
D. Chú gà nhép.
Câu 4. Văn bản Quả trứng vàng kể về sự việc gì?
A. Tú Minh nhặt được quả trứng gà và tưởng tượng ra một đàn gà.
B. Tú Minh ước nhặt được quả trứng gà và sẽ phát triển thành một đàn gà.
C. Tú Minh nhặt được quả trứng gà và ấp ủ để nở thành con gà, đàn gà.
D. Tú Minh mơ mình nhặt được quả trứng gà và ấp ủ để nở thành con gà.
Câu 5. Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể của tác phẩm?
A. Nhặt trứng - ấp cạnh bếp - gà nở - gà mái nâu và đàn con.
B. Giấc mơ - nhặt trứng - ủ trứng cạnh bếp - gà nở - gà mái nâu và đàn con.
C. Ước mơ về đàn gà - nhặt trứng - ủ cạnh bếp - gà nở - gà mái nâu.
D. Ủ cạnh bếp - gà nở - gà mái nâu và đàn con.
Câu 6. Dòng nào KHÔNG thể hiện sự đấu tranh trong nhân vật Tú Minh
A. Mình ăn chỉ một miếng là hết, sẽ chẳng còn cơ hội nào cho mình được ngắm quả trứng đẹp đến nhường kia.
B. Món trứng ốp-lết, hoặc nhấm nháp vị béo ngậy của trứng luộc.
C. Cậu bê chiếc hũ đặt cạnh bếp, nơi mỗi tối, mỗi sáng cậu giúp mẹ nhóm lùa
D. Chi bằng đem đặt vào chiếc hũ sành để xuống cạnh bếp, biết đâu chả khối điều kỳ lạ xảy ra.
Câu 7. Tú Minh đã đấu tranh với đối thủ nào?
A. Bản năng con người của chính mình.
B. Thói háu đói của mình.
C. Lời dụ dỗ của các bạn trong lớp.
D. Với ước mơ của chính mình.
Câu 8. Cậu đã ở tuổi mười hai, có nghĩa là thời thơ ấu đang vùn vụt lao qua những “ga” cuối cùng được hiểu như thế nào?
A. Tú Minh đang mơ ước quay lại thời thơ ấu.
B. Thời thơ ấu đang trôi qua rất nhanh.
C. Tú Minh đang nuối tiếc tuổi thơ ấu của mình.
D. Cần nâng niu kỉ niệm thời thơ ấu.
Câu 9. Phân tích, đánh giá nghệ thuật kể chuyện (kể việc, cách dùng từ, diễn tả cảm xúc) của tác giả trong đoạn văn bản sau (1đ)
Một buổi sáng, giống như mọi hôm. Tú Minh xuống bếp cời lò và ao nghe thấy tiếng cựa rất nhỏ, rất yếu ớt, như thể tiếng của chồi cỏ sau cơn mưa. Thoạt đầu cậu nghĩ đến con chuột gian manh nào đó xơi tái quả trứng, đánh một giấc no nê đang trở mình. Nhưng tiếng cựa chỉ thoảng qua và hoàn toàn khác với tiếng sột soạt của giấy. Cậu hồi hộp mở nắp hũ ra rồi cẩn thận gỡ từng lớp giấy. Quả trứng không hề xây sát trừ một lỗ thủng nhỏ và chính cái lỗ thủng đó khiến tim cậu nhảy lên. Điều kỳ diệu đã xảy ra: quả trứng biến thành chú gà con.
Câu 10. Nhân vật Tú Minh có đặc điểm nổi bật nào? Cảm nhận của em về nhân vật này (trả lời từ 6-8 dòng) (1đ)
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Quan sát 6 bức ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)






a. Gọi tên trò chơi/ việc làm ở từng bức ảnh. Em thích trò chơi/ việc làm nào nhất? Trò chơi/ việc làm nào gợi nhớ kỉ niệm tuổi thơ của em?
b. Tham gia lao động hợp với lứa tuổi, trò chơi ở ngoài trời có tác dụng như thế nào đối với sức khỏe, trí tuệ và tình cảm của con người (trả lời từ 4-6 dòng)
Câu 2. Kể lại một việc làm/ một trò chơi mà em đã tham gia (những năm học tiểu học) khiến em thấy yêu lao động và thiên nhiên hơn (có độ dài từ 1-1,5 trang) (3đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
Câu 7 (0.25đ) |
Câu 8 (0.25đ) |
|
D |
B |
B |
C |
A |
C |
A |
B |
|
Câu 1. Dòng nào KHÔNG nói lên đặc điểm chính của văn bản Quả trứng vàng? A. Nhân vật ít. B. Dung lượng ngắn (gần 2 trang). C. Sự việc diễn ra trong phạm vi không gian hẹp. D. Sự việc diễn ra qua hồi tưởng. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về đặc điểm của văn bản truyện ngắn
Lời giải chi tiết:
Dòng không nói lên đặc điểm chính của văn bản Quả trứng vàng: Sự việc diễn ra qua hồi tưởng
→ Đáp án: D
|
Câu 2. Dòng nào nói đúng về đề tài của tác phẩm? A. Làng quê. B. Tuổi thơ. C. Tình yêu con vật. D. Giàu tình thương yêu. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và chú ý tiêu đề
Lời giải chi tiết:
Đề tài của tác phẩm: Tuổi thơ
→ Đáp án: B
|
Câu 3. Nhân vật chính của văn bản Quả trứng vàng? A. Quả trứng B. Tú Minh. C. Con gà mái. D. Chú gà nhép. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Nhân vật chính của văn bản Quả trứng vàng: Tú Minh
→ Đáp án: B
|
Câu 4. Văn bản Quả trứng vàng kể về sự việc gì? A. Tú Minh nhặt được quả trứng gà và tưởng tượng ra một đàn gà. B. Tú Minh ước nhặt được quả trứng gà và sẽ phát triển thành một đàn gà. C. Tú Minh nhặt được quả trứng gà và ấp ủ để nở thành con gà, đàn gà. D. Tú Minh mơ mình nhặt được quả trứng gà và ấp ủ để nở thành con gà. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Văn bản Quả trứng vàng kể về sự việc: Tú Minh nhặt được quả trứng gà và ấp ủ để nở thành con gà, đàn gà
→ Đáp án: C
|
Câu 5. Dòng nào sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể của tác phẩm? A. Nhặt trứng - ấp cạnh bếp - gà nở - gà mái nâu và đàn con. B. Giấc mơ - nhặt trứng - ủ trứng cạnh bếp - gà nở - gà mái nâu và đàn con. C. Ước mơ về đàn gà - nhặt trứng - ủ cạnh bếp - gà nở - gà mái nâu. D. Ủ cạnh bếp - gà nở - gà mái nâu và đàn con. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Ghi chép lại các sự việc theo trình tự kể của tác phẩm
Lời giải chi tiết:
Dòng sắp xếp các sự việc đúng trình tự kể của tác phẩm: Nhặt trứng - ấp cạnh bếp - gà nở - gà mái nâu và đàn con
→ Đáp án: A
|
Câu 6. Dòng nào KHÔNG thể hiện sự đấu tranh trong nhân vật Tú Minh A. Mình ăn chỉ một miếng là hết, sẽ chẳng còn cơ hội nào cho mình được ngắm quả trứng đẹp đến nhường kia. B. Món trứng ốp-lết, hoặc nhấm nháp vị béo ngậy của trứng luộc. C. Cậu bê chiếc hũ đặt cạnh bếp, nơi mỗi tối, mỗi sáng cậu giúp mẹ nhóm lùa D. Chi bằng đem đặt vào chiếc hũ sành để xuống cạnh bếp, biết đâu chả khối điều kỳ lạ xảy ra. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Dòng KHÔNG thể hiện sự đấu tranh trong nhân vật Tú Minh: Cậu bê chiếc hũ đặt cạnh bếp, nơi mỗi tối, mỗi sáng cậu giúp mẹ nhóm lùa
→ Đáp án: C
|
Câu 7. Tú Minh đã đấu tranh với đối thủ nào? A. Bản năng con người của chính mình. B. Thói háu đói của mình. C. Lời dụ dỗ của các bạn trong lớp. D. Với ước mơ của chính mình. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Tú Minh đã đấu tranh với bản năng con người của chính mình
→ Đáp án: A
|
Câu 8. Cậu đã ở tuổi mười hai, có nghĩa là thời thơ ấu đang vùn vụt lao qua những “ga” cuối cùng được hiểu như thế nào? A. Tú Minh đang mơ ước quay lại thời thơ ấu. B. Thời thơ ấu đang trôi qua rất nhanh. C. Tú Minh đang nuối tiếc tuổi thơ ấu của mình. D. Cần nâng niu kỉ niệm thời thơ ấu. |
Phương pháp:
Đọc kĩ câu văn
Liên kết với chỉnh thể toàn văn bản
Lời giải chi tiết:
Cậu đã ở tuổi mười hai, có nghĩa là thời thơ ấu đang vùn vụt lao qua những “ga” cuối cùng được hiểu: Thời thơ ấu đang trôi qua rất nhanh
→ Đáp án: B
Câu 9. Phân tích, đánh giá nghệ thuật kể chuyện (kể việc, cách dùng từ, diễn tả cảm xúc) của tác giả trong đoạn văn bản sau (1đ)
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Chú ý cách dùng từ, từ đó suy ra cảm xúc được diễn tả
Lời giải chi tiết
- Sự việc kể theo trình tự thời gian, đặc biệt chú ý hành động, cảm xúc của nhân vật
- Sự việc thực xen với ý nghĩ của nhân vật chính
- Dùng từ: từ ngữ giàu hình ảnh, âm thanh, cảm xúc (tiếng cựa rất nhỏ, rất yếu ớt, như thể tiếng vươn mình của chồi cỏ sau cơn mưa… tiếng cựa chỉ thoáng qua và hoàn toàn khác với tiếng sột soạt của giấy…); nghệ thuật so sánh
- Mục đích: diễn tả phút giây diệu kì – cảm xúc hồi hộp, những cử chỉ nhẹ nhàng, nâng niu của Tú Minh khi phát hiện quả trứng nở và chú gà con ra đời
Câu 10. Nhân vật Tú Minh có đặc điểm nổi bật nào? Cảm nhận của em về nhân vật này (trả lời từ 6-8 dòng) (1đ)
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Học sinh nêu cảm nhận cá nhân về nhân vật
Lời giải chi tiết
- Tham khảo gợi ý sau:
+ Tú Minh: giàu cảm xúc, giàu trí tưởng tượng; giàu tình thương yêu (mong ước của Tú Minh: giá quả trứng bằng vàng để giúp các bạn); luôn chú ý lắng nghe quan sát để cảm nhận vẻ đẹp, sự chuyển động của cuộc sống; nâng niu, quý trọng sự sống; yêu lao động…; viết nhật kí rất hay
+ Cảm nhận về nhân vật: HS tự cảm nhận (chú ý bám sát đặc điểm của nhân vật, chú ý liên kết, logic của đoạn văn)
PHẦN II – TẬP LÀM VĂN (6 điểm)
Câu 1.
a. Gọi tên trò chơi/ việc làm ở từng bức ảnh. Em thích trò chơi/ việc làm nào nhất? Trò chơi/ việc làm nào gợi nhớ kỉ niệm tuổi thơ của em?
b. Tham gia lao động hợp với lứa tuổi, trò chơi ở ngoài trời có tác dụng như thế nào đối với sức khỏe, trí tuệ và tình cảm của con người (trả lời từ 4-6 dòng)
Phương pháp giải
a. Quan sát kĩ 6 bức ảnh
b. Dựa vào hiểu biết và kiến thức của bản thân
Lời giải chi tiết
a. HS tự làm (bằng việc huy động vốn sống, trải nghiệm của bản thân )
b. Gợi ý: -Giải tỏa căng thẳng sau giờ học
- Rèn luyện sức khỏe (thể lực) qua vận động; rèn luyện tư duy (trí tuệ) qua các quy tắc, luật lệ của từng trò chơi; yêu lao động (qua việc làm)
- Nuôi dưỡng tình cảm: gắn kết với bạn bè; quan sát, lắng nghe cuộc sống, thiên nhiên để giao hòa, yêu thiên nhiên thêm yêu sự sống
Câu 2. Kể lại một việc làm/ một trò chơi mà em đã tham gia (những năm học tiểu học) khiến em thấy yêu lao động và thiên nhiên hơn (có độ dài từ 1-1,5 trang) (3đ)
Phương pháp:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã được học
Lời giải chi tiết:
|
Kể lại một việc làm/ một trò chơi mà em đã tham gia (những năm học tiểu học) khiến em thấy yêu lao động và thiên nhiên hơn |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
Học sinh tự làm, thể hiện rõ màu sắc riêng (nêu rõ tên trò chơi/ hoạt động, địa điểm, thời gian tham gia) |
|
Thân bài |
1,5
|
- Kể đúng câu chuyện theo ngôi kể thứ nhất (việc mình đã làm/ trò chơi mình đã tham gia). - Bối cảnh không gian, thời gian (số lượng người tham gia, không khí nơi diễn ra trò chơi/hoạt động). - Sắp xếp các sự việc chính theo đúng trình tự hợp lí có mở đầu, có diễn biến và kết thúc. - Biết dẫn dắt, chuyển ý chuyển đoạn tạo sự liên kết giữa các sự việc, đảm bảo mạch chính cho bài văn. - Chú ý diễn tả suy nghĩ, cảm xúc của bản thân khi hoạt động, tham gia trò chơi...) - Kể rõ: thời điểm bản thân cảm thấy yêu lao động và thiên nhiên hơn. |
|
Kết bài |
0,5 |
Học sinh tự làm (chú ý sáng tạo riêng, tránh khuôn mẫu) |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (tự sự) - Dùng ngôi kể thứ nhất phải nhất quán, hợp lí |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 11
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
CÔN SƠN CA
Nguyễn Trãi – Bản dịch: Phan Võ, Lê Thước, Đào Phương Bình
Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm.
Trong ghềnh thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có bóng trúc râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.
Về đi sao chẳng sớm toan,
Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?
Muôn chung chín vạc làm gì,
Cơm rau nước lã nên tuỳ phận thôi.
Đổng, Nguyên để tiếng trên đời,
Hồ tiêu ăm ắp, vàng mười chứa chan.
Lại kia trên núi Thú San,
Di, Tề nhịn đói chẳng màng thóc Chu.
Hai đàng khó sánh hiền ngu,
Đều làm cho thoả được như ý mình.
Trăm năm trong cuộc nhân sinh,
Người như cây cỏ thân hình nát tan.
Hết ưu lạc đến bi hoan,
Tốt tươi khô héo, tuần hoàn đổi thay.
Núi gò đài các đó đây,
Chết rồi ai biết đâu ngày nhục vinh.
Sào, Do bằng có tái sinh,
Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn.
Câu 1. Bản dịch thơ được viết theo thể thơ nào?
A. Thơ tự do
B. Thơ Đường Luật.
C. Thơ lục bát
D. Thơ sáu chữ.
Câu 2. Dòng nào thể hiện đúng những đối tượng được kể trong Bài ca Côn Sơn?
A. Suối, đá, ghềnh, thông, rừng, trúc, cổ thụ.
B. Suối, đá, rêu, ghềnh, thông, rừng, trúc.
C. Suối, đá, rêu, ghềnh, thông, tùng, cúc.
D. Suối, thác, rêu, ghềnh, thông, rừng, trúc.
Câu 3. Vẻ đẹp cảnh trí trong tác phẩm trên là một vẻ đẹp như thế nào?
A. Tươi tắn và đầy sức sống.
B. Kì ảo và lộng lẫy.
C. Yên ả và thanh bình
D. Hùng vĩ và náo nhiệt.
Câu 4. Câu nào dưới đây nêu nhận định đúng về bài thơ Côn Sơn ca?
A. Bài thơ đã kể ra những cảnh đẹp của Côn Sơn và lí do "ta" về ở.
B. Bài thơ miêu tả cảnh Côn Sơn thật đẹp, nhưng người ở Côn Sơn thì buồn.
C. Bài thơ là sự giao hòa giữa con người thanh cao với thiên nhiên tươi đẹp.
D. Bài thơ thể hiện cảnh Côn Sơn hoang vu, tiêu điều, nhưng người ở Côn Sơn thì đang vui.
Câu 5. Câu thơ: “Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?” có ý nghĩa gì?
A. Câu thơ là lời tự nhắc nhở của nhà thơ đối với chính mình.
B. Câu thơ là lời trách móc thời thế của Nguyễn Trãi với xã hội đương thời.
C. Câu thơ thể hiện cái nhìn lạc quan, tích cực của nhà thơ đối với cuộc đời.
D. Câu thơ thể hiện cái nhìn bi quan, chán trường của nhà thơ với cuộc đời.
Câu 6.Câu thơ sau sử dụng biện pháp tu từ gì?
Trăm năm trong cuộc nhân sinh,
Người như cây cỏ thân hình nát tan.
A. Nhân hóa
B. So sánh
C. Ẩn dụ
D. Hoán dụ
Câu 7. Em có cảm nghĩ gì về hình ảnh nhân vật ta ngâm thơ nhàn trong bóng râm mát của trúc bóng râm? Từ đó, em thử hình dung thi sĩ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn là con người như thế nào?
Câu 8 . Hãy chỉ ra hiện tượng dùng điệp từ trong đoạn thơ sau và phân tích tác dụng của điệp từ đối với việc tạo nên giọng điệu của đoạn thơ.
Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm.
Trong ghềnh thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có bóng trúc râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.
Câu 9. So sánh cách ví von tiếng suối của Nguyễn Trãi trong hai câu “Côn Sơn suối chảy rì rầm/Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai” với tiếng suối của Hồ Chí Minh “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”.
II. VIẾT:
Câu 1. Viết bài luận ngắn (400-500 từ) bàn về chủ đề: Những khoảng lặng suy tư trong đời.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
|
C |
B |
C |
C |
A |
B |
|
Câu 1. Bản dịch thơ được viết theo thể thơ nào? A. Thơ tự do B. Thơ Đường Luật. C. Thơ lục bát D. Thơ sáu chữ. |
Phương pháp:
Đọc kĩ bản dịch thơ
Chú ý các dấu hiệu hình thức như số từ trong câu, số câu trong bài
Lời giải chi tiết:
Bản dịch thơ được viết theo thể thơ lục bát
→ Đáp án: C
|
Câu 2. Dòng nào thể hiện đúng những đối tượng được kể trong Bài ca Côn Sơn? A. Suối, đá, ghềnh, thông, rừng, trúc, cổ thụ. B. Suối, đá, rêu, ghềnh, thông, rừng, trúc. C. Suối, đá, rêu, ghềnh, thông, tùng, cúc. D. Suối, thác, rêu, ghềnh, thông, rừng, trúc. |
Phương pháp:
Đọc kĩ bài thơ
Lời giải chi tiết:
Dòng nêu đúng những đối tượng được kể trong tác phẩm: Suối, đá, rêu, ghềnh, thông, rừng, trúc
→ Đáp án: B
|
Câu 3. Vẻ đẹp cảnh trí trong tác phẩm trên là một vẻ đẹp như thế nào? A. Tươi tắn và đầy sức sống. B. Kì ảo và lộng lẫy. C. Yên ả và thanh bình D. Hùng vĩ và náo nhiệt. |
Phương pháp:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý những chi tiết, hình ảnh thể hiện vẻ đẹp cảnh trí
Lời giải chi tiết:
Vẻ đẹp cảnh trí của tác phẩm trên là một vẻ đẹp yên ả, thanh bình.
→ Đáp án: C
|
Câu 4. Câu nào dưới đây nêu nhận định đúng về bài thơ Côn Sơn ca? A. Bài thơ đã kể ra những cảnh đẹp của Côn Sơn và lí do "ta" về ở. B. Bài thơ miêu tả cảnh Côn Sơn thật đẹp, nhưng người ở Côn Sơn thì buồn. C. Bài thơ là sự giao hòa giữa con người thanh cao với thiên nhiên tươi đẹp. D. Bài thơ thể hiện cảnh Côn Sơn hoang vu, tiêu điều, nhưng người ở Côn Sơn thì đang vui. |
Phương pháp:
Đọc kĩ bài thơ và các nhận định
Lời giải chi tiết:
Nhận định đúng: Bài thơ là sự giao hòa giữa con người thanh cao với thiên nhiên tươi đẹp.
→ Đáp án: C
|
Câu 5. Câu thơ: “Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?” có ý nghĩa gì? A. Câu thơ là lời tự nhắc nhở của nhà thơ đối với chính mình. B. Câu thơ là lời trách móc thời thế của Nguyễn Trãi với xã hội đương thời. C. Câu thơ thể hiện cái nhìn lạc quan, tích cực của nhà thơ đối với cuộc đời. D. Câu thơ thể hiện cái nhìn bi quan, chán trường của nhà thơ với cuộc đời. |
Phương pháp:
Phân tích câu thơ
Chú ý các từ ngữ: “Nửa đời”, “vướng bụi trần”
Chú ý hình thức câu hỏi tu từ
Lời giải chi tiết:
Nhà thơ như thể hiện sự đúng đắn của mình khi cáo quan về ở ẩn. Nửa đời làm quan Nguyễn Trãi bị những nịnh thần chèn ép. Chính vì thế mà ông chán ghét cảnh quan trường sự tận trung của ông như thế được coi là đã đủ. Câu hỏi “Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?” như lời tự nhắc nhở của nhà thơ đối với chính bản thân mình.
→ Đáp án: A
|
Câu 6.Câu thơ sau sử dụng biện pháp tu từ gì? Trăm năm trong cuộc nhân sinh, Người như cây cỏ thân hình nát tan. A. Nhân hóa B. So sánh C. Ẩn dụ D. Hoán dụ |
Phương pháp giải
Nhớ lại kiến thức về biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết
Câu thơ: “Trăm năm trong cuộc nhân sinh,/Người như cây cỏ thân hình nát tan"sử dụng biện pháp tu từ so sánh.
→ Đáp án: B
|
Câu 7. Em có cảm nghĩ gì về hình ảnh nhân vật ta ngâm thơ nhàn trong bóng râm mát của trúc bóng râm? Từ đó, em thử hình dung thi sĩ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn là con người như thế nào? |
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản, phân tích, suy luận.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
- Cảm nghĩ của em về hình ảnh nhân vật ta ngâm thơ nhàn trong màu xanh mát của trúc bóng râm: Gợi cho ta
nghĩ đến hình ảnh một ông tiên đang rất nhàn, không chút vấn vương thế sự. Đó là một thi sĩ đa tình đang thả trọn vẹn tâm hồn với thiên nhiên. “Nhàn” chính là tâm trạng của tác giả lúc này.
- Thử hình dung Nguyễn Trãi ở Côn Sơn là con người yêu thiên nhiên dù ở ẩn nhưng ông vẫn luôn lo cho đất nước, cho nhân dân. Ông luôn là người có nhân cách thanh cao, phẩm chất thi sĩ và nghệ sĩ ở ông.
|
Câu 8 . Hãy chỉ ra hiện tượng dùng điệp từ trong đoạn thơ sau và phân tích tác dụng của điệp từ đối với việc tạo nên giọng điệu của đoạn thơ. Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai. Côn Sơn có đá rêu phơi, Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm. Trong ghềnh thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm. Trong rừng có bóng trúc râm, Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn. |
Phương pháp
Căn cứ vào nội dung văn bản kết hợp với kiến thức về biện pháp tu từ đã học.
Lời giải chi tiết
- Hiện tượng dùng điệp từ trong đoạn thơ và phân tích tác dụng của điệp từ đối với việc tạo nên giọng điệu nhà thơ:
- Điệp từ “ta”, “Côn Sơn”, “trong”... trong đoạn trích cho thấy Nguyễn Trãi đang sống những ngày tháng an nhàn, ẩn dật ở Côn Sơn bởi Nguyễn Trãi chỉ có “ta nghe, ta ngồi, ta tìm, ta lên, ta nằm và ta ngâm thơ”.
→ Tất cả các điệp ngữ góp phần tích cực làm cho đoạn thơ có giọng điệu nhẹ nhàng, thảnh thơi, êm ái.
|
Câu 9. So sánh cách ví von tiếng suối của Nguyễn Trãi trong hai câu “Côn Sơn suối chảy rì rầm/Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai” với tiếng suối của Hồ Chí Minh “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”. |
Phương pháp
Căn cứ vào nội dung văn bản, phân tích, suy luận.
Lời giải chi tiết
- Giống nhau:
+ Cả hai đều là sản phẩm của tâm hồn thi sĩ, tâm hồn có khả năng hòa nhập với thiên nhiên. Cả Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đều nghe tiếng suối như là một bản nhạc trong trẻo.
+ Đều gợi ra sự tươi vui, ấm áp.
+ Gợi về tình yêu thiên nhiên, con người, niềm tin và sức sống.
- Khác nhau:
+ Nguyễn Trãi: so sánh với tiếng đàn cầm.
+ Hồ Chí Minh: so sánh với tiếng hát của một cô gái: ngân nga.
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
II. VIẾT:
Câu 1. Viết bài luận ngắn (400-500 từ) bàn về chủ đề: Những khoảng lặng suy tư trong đời.
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
* Đảm bảo kết cấu (mở bài, thân bài, kết bài).
1. Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề.
- Nêu vấn đề nghị luận: Những khoảng lặng suy tư trong đời.
2. Thân bài:
* Giải thích: Khoảng lặng là gì? Khoảng lặng là một thời điểm mà con người bình tâm lại không chịu sự chi phối của những sao động thực tại. Đó là khi tâm hồn, trí tuệ, cảm xúc được trào dâng mãnh liệt.
* Bàn luận:
- Vai trò của khoảng lặng suy tư trong cuộc đời:
+ Khoảng lặng suy tư khiến chúng ta sống sâu sắc, sống kĩ lưỡng hơn. Từ đó chúng ta có được những chiêm nghiệm trong cuộc sống. Chính vì thế, cuộc đời của chúng ta không trở nên phí hoài.
+ Cuộc sống sẽ trở thành của ta.
+ Sống như vậy là cách con người dành nhiều thời gian cho bản thân, giúp được những người mà chúng ta yêu thương.
- Làm thế nào để con người có những khoảng lặng:
+ Không nhất thiết phải tách bản thân ra khỏi mọi người. Tự bản thân có thể cho mình những khoảng lặng suy tư.
3. Kết bài:
Khẳng định lại vấn đề .
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 12
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát. Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối. Các nhà đã đóng im ỉm, trừ một vài cửa hàng còn thức, nhưng cửa chỉ để hé ra một khe ánh sáng. Trẻ con tụ họp nhau ở thềm hè, tiếng cười nói vui vẻ, khiến An thèm muốn nhập bọn với chúng để nô đùa, nhưng sợ trái lời mẹ dặn phải coi hàng, nên hai chị em đành ngồi yên trên chỏng, đưa mắt theo dơi những bóng người về muộn, từ từ đi trong đêm.
Vòm trời hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh, lẫn với vệt sáng của những con đom đóm bay là trên mặt đất hay leo vào cành cây. An và Liên lặng ngước mắt lên nhìn các vì sao để tìm sông Ngân Hà và con vịt theo sau ông Thần Nông. Vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật và xa lạ và làm mỏi trí nghĩ, nên chỉ một lát hai chị em lại chúi nhìn về mặt đất, về quầng sáng thân mật chung quanh ngọn đèn lay động trên chõng hàng của chị Tí. Về phía huyện, một chấm lửa khác nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối, mất đi, rồi lại hiện ra... An chỏ tay bảo chị:
- Kìa, hàng phở của bác Siêu đã đến kia rồi.
Tiếng đòn gánh kĩu kịt nghe rõ rệt, khói theo gió tạt lại chỗ hai chị em: bác Siêu đã tới gần, đặt gánh phở xuống đường. Bác cúi xuống, nhóm lại lửa, thổi vào cái nứa con. Bóng bác mênh mang ngả xuống đất một vùng và kéo dài đến tận hàng rào hai bên ngơ. An và Liên ngửi thấy mùi phở thơm, nhưng ở cái huyện nhỏ này, quà bác Siêu bán là một thứ quà xa xỉ, nhiều tiền, hai chị em không bao giờ mua được. Liên nhớ lại khi ở Hà Nội chỉ được hưởng những thức quà ngon, lạ - bấy giờ mẹ Liên nhiều tiền - được đi chơi bờ hồ uống những cốc nước lạnh xanh đỏ. Ngoài ra, kỷ niệm nhớ lại không rõ rệt gì, chỉ là một vùng sáng rực và lấp lánh.
Hà Nội nhiều đèn quá! Từ khi nhà Liên dọn về đây, từ khi có cái cửa hàng này, đêm nào Liên và em cũng phải ngồi trên chiếc chõng tre dưới gốc bàng với cái tối của quang cảnh phố chung quanh. Đêm tối đối với Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa. Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại sẫm đen hơn nữa. Giờ chỉ còn ngọn đèn con của chị Tí, và cái bếp lửa của bác Siêu chiếu sáng một vùng đất cát; trong cửa hàng, ngọn đèn của Liên, ngọn đèn vặn nhỏ, thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa. Tất cả phố xá trong huyện bây giờ thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí. Thêm được một gia đình bác xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt trắng để trước mặt, nhưng bác chưa hát vì chưa có khách nghe.
Chị Tí phe phẩy cành chuối khô đuổi ruồi bò trên mấy thức hàng, chậm rãi nói:
- Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ?
Chị muốn nói mấy chú lính trong huyện, mấy người nhà của cụ thừa, cụ lục là những khách hàng quen của chị. Bác Siêu đáp vẩn vơ.
- Hôm nay trong ông giáo cũng có tổ tôm. Dễ họ không phải đi gọi đâu.
Vợ chồng bác xẩm góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bần bật trong yên lặng. Thằng con bò ra đất, ngoài manh chiếu, nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong cát bên đường. Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ.
**
An và Liên đã buồn ngủ ríu cả mắt. Tuy vậy hai chị em vẫn cố gượng để thức khuya chút nữa, trước khi vào hàng đóng cửa đi ngủ. Mẹ vẫn dặn phải thức đến khi tàu xuống - đường sắt đi ngang qua ngay trước mặt phố - để bán hàng, may ra còn có một vài người mua. Nhưng cũng như mọi đêm, Liên không trông mong còn ai đến mua nữa. Với lại đêm họ chỉ mua bao diêm, hai gói thuốc là cùng. Liên và em cố thức là vì cớ khác, vì muốn được nhìn chuyến tàu. Chín giờ có chuyến tàu ở Hà Nội đi qua huyện. Đó là sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya.
An đã nằm xuống gối đầu lên đùi chị, mí mắt sắp sửa rơi xuống, còn dặn với:
- Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé.
- Ừ, em cứ ngủ đi.
Liên khẽ quạt cho An, vuốt lại mái tóc tơ. Đầu em bé nặng dần trên người Liên; chị ngồi yên không động đậy.
Qua khe lá của cành bàng ngàn sao vẫn lấp lánh; một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt một. Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu.
Trích Hai đứa trẻ - Thạch Lam
Câu 1. Văn bản trên sử dụng phương thức biểu đạt chính nào?
A. Tự sự
B. Miêu tả
C. Biểu cảm
D. Nghị luận
Câu 2. Khung cảnh đêm về nơi phố huyện được tái hiện như thế nào?
A. Khung cảnh tĩnh lặng với những làn gió nhẹ gợi nỗi buồn man mác.
B. Khung cảnh buồn tẻ với bóng tối bao trùm các con ngõ nhỏ.
C. Khung cảnh sôi động vì có sự góp mặt thêm của rất nhiều người.
D. Khung cảnh vui tươi vì có tiếng trò chuyện của mọi người và có đoàn tàu đi qua.
Câu 3. Trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, món quà gì đối với chị Liên cho là xa xỉ?
A. Những cốc nước lạnh xanh đỏ.
B. Bánh xà phòng thơm.
C. Món phở của bác Siêu.
D. Những que kem mát lạnh.
Câu 4. Vì sao chị em Liên và An trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam đêm nào cũng cố thức để được nhìn chuyến tàu qua? Để thể hiện tâm trạng ấy, Thạch Lam muốn nói gì với người đọc? Dòng nào sau đây là nhận định chưa chuẩn xác?
A. Chị em Liên và An cố thức để được nhìn chuyến tàu đi qua là vì để chờ bán thêm một ít hàng.
B. Chị em Liên và An cố thức để được nhìn chuyến tàu đi qua là chính là vì khao khát thoát khỏi cảnh tù đọng, buồn chán, bế tắc mà chúng đang sống. Chuyến tàu đêm là một hình ảnh cụ thể của một thế giới khác: “một cái gì tươi sáng” mà Liên và An chờ đợi.
C. Tác giả bộc lộ sự đồng cảm sâu sắc với những kiếp người nhỏ bé, vô danh trong xã hội, đồng thời ông muốn thức tỉnh con người, hướng họ tới một cuộc sống tươi đẹp hơn, ý nghĩa hơn.
D. Tác giả muốn thể hiện sự thương hại trước những kiếp người tăm tối, quẩn quanh nơi phố huyện.
Câu 5. Hình ảnh cuối cùng khép lại một “ngày tàn” và cũng là hoạt động cuối cùng trong thiên truyện là?
A. Bà cụ Thi vừa đi vừa cười khanh khách về phía cuối làng.
B. Bác Siêu đưa hàng phở đến.
C. Chuyến tàu khuya đến và đi qua.
D. Chị Tí gánh hàng nước đi qua.
Câu 6. Ánh sáng được tỏa ra từ ngọn đèn của chị Tí thể hiện điều gì?
A. Một thứ ánh sáng gần gũi, yêu thương.
B. Một thứ ánh sáng gợi nhiều thi vị.
C. Nó gợi lên vẻ đẹp thơ mộng của làng quê Việt Nam
D. Nó gợi ra những kiếp người nghèo khổ, những cảnh đời lay lắt sống vật vờ, tàn lụi đáng thương trong màn đêm của xã hội cũ.
Câu 7. Em có nhận xét gì về những chi tiết ánh sáng xuất hiện trong tác phẩm?
Câu 8. Em có ấn tượng với chi tiết nghệ thuật nào trong bài? Vì sao?
Câu 9. Hãy nêu những nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật Thạch Lam mà em nhận thấy qua truyện Hai đứa trẻ.
II. VIẾT:
Câu 1. Phân tích nét đặc sắc trong cảnh chờ tàu ở cuối truyện ngắn Hai đứa trẻ.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
|
A |
B |
C |
B |
C |
D |
|
Câu 1. Văn bản trên sử dụng phương thức biểu đạt chính nào? A. Tự sự B. Miêu tả C. Biểu cảm D. Nghị luận |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về phương thức biểu đạt
Lời giải chi tiết
Văn bản sử dụng phương thức biểu đạt chính: tự sự.
→ Đáp án: A
|
Câu 2. Khung cảnh đêm về nơi phố huyện được tái hiện như thế nào? A. Khung cảnh tĩnh lặng với những làn gió nhẹ gợi nỗi buồn man mác. B. Khung cảnh buồn tẻ với bóng tối bao trùm các con ngõ nhỏ. C. Khung cảnh sôi động vì có sự góp mặt thêm của rất nhiều người. D. Khung cảnh vui tươi vì có tiếng trò chuyện của mọi người và có đoàn tàu đi qua. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Khung cảnh về đêm của phố huyện hiện lên với tất cả sự tăm tối, buồn tẻ với hình ảnh bóng tối bao trùm các con ngõ.
→ Đáp án: B
|
Câu 3. Trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, món quà gì đối với chị Liên cho là xa xỉ? A. Những cốc nước lạnh xanh đỏ. B. Bánh xà phòng thơm. C. Món phở của bác Siêu. D. Những que kem mát lạnh. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Trong truyện ngắn trên, gánh phở của bác Siêu đối với hai chị em Liên chính là món quà xa xỉ.
→ Đáp án: C
|
Câu 4. Vì sao chị em Liên và An trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam đêm nào cũng cố thức để được nhìn chuyến tàu qua? Để thể hiện tâm trạng ấy, Thạch Lam muốn nói gì với người đọc? Dòng nào sau đây là nhận định chưa chuẩn xác? A. Chị em Liên và An cố thức để được nhìn chuyến tàu đi qua là vì để chờ bán thêm một ít hàng. B. Chị em Liên và An cố thức để được nhìn chuyến tàu đi qua là chính là vì khao khát thoát khỏi cảnh tù đọng, buồn chán, bế tắc mà chúng đang sống. Chuyến tàu đêm là một hình ảnh cụ thể của một thế giới khác: “một cái gì tươi sáng” mà Liên và An chờ đợi. C. Tác giả bộc lộ sự đồng cảm sâu sắc với những kiếp người nhỏ bé, vô danh trong xã hội, đồng thời ông muốn thức tỉnh con người, hướng họ tới một cuộc sống tươi đẹp hơn, ý nghĩa hơn. D. Tác giả muốn thể hiện sự thương hại trước những kiếp người tăm tối, quẩn quanh nơi phố huyện. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản, phân tích, suy luận.
Lời giải chi tiết:
Chị em Liên và An cố thức để được nhìn chuyến tàu đi qua là chính là vì khao khát thoát khỏi cảnh tù đọng, buồn chán, bế tắc mà chúng đang sống. Chuyến tàu đêm là một hình ảnh cụ thể của một thế giới khác: “một cái gì tươi sáng” mà Liên và An chờ đợi.
→ Đáp án: B
|
Câu 5. Hình ảnh cuối cùng khép lại một “ngày tàn” và cũng là hoạt động cuối cùng trong thiên truyện là? A. Bà cụ Thi vừa đi vừa cười khanh khách về phía cuối làng. B. Bác Siêu đưa hàng phở đến. C. Chuyến tàu khuya đến và đi qua. D. Chị Tí gánh hàng nước đi qua. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản, phân tích, suy luận.
Lời giải chi tiết:
Hình ảnh cuối cùng khép lại một “ngày tàn” và cũng là hoạt động cuối cùng của thiên truyện là chuyến tàu khuya đến và đi qua.
→ Đáp án: C
|
Câu 6. Ánh sáng được tỏa ra từ ngọn đèn của chị Tí thể hiện điều gì? A. Một thứ ánh sáng gần gũi, yêu thương. B. Một thứ ánh sáng gợi nhiều thi vị. C. Nó gợi lên vẻ đẹp thơ mộng của làng quê Việt Nam D. Nó gợi ra những kiếp người nghèo khổ, những cảnh đời lay lắt sống vật vờ, tàn lụi đáng thương trong màn đêm của xã hội cũ. |
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản, phân tích, suy luận.
Lời giải chi tiết
Ánh sáng trong ngọn đèn của chị Tí gợi ra những kiếp người nghèo khổ, những cảnh đời lay lắt sống vật vờ, tàn lụi đáng thương trong màn đêm của xã hội cũ.
→ Đáp án: D
|
Câu 7. Em có nhận xét gì về những chi tiết ánh sáng xuất hiện trong tác phẩm? |
Phương pháp giải
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những lần xuất hiện chi tiết ánh sáng
Lời giải chi tiết
Những chi tiết ánh sáng xuất hiện trong tác phẩm là:
- Ánh sáng hắt ra từ ô cửa sổ của những nhà trên phố
- Ánh sáng tỏa ra từ ngọn đèn của chị Tí
- Ánh sáng của con đom đóm.
→ Thủ pháp lấy sáng tả tối, ánh sáng gợi ra những kiếp người nhỏ bé, lay lắt trong phố huyện.
- Ánh sáng của đoàn tàu: Thể hiện ước mơ, hi vọng của những người dân nơi phố huyện. Ánh sáng của đoàn tàu là điều gì đó mà tất cả những con người nơi phố huyện chờ đợi, nó khác hẳn với cái sự tẻ nhạt, tăm tối nơi phố huyện.
|
Câu 8. Em có ấn tượng với chi tiết nghệ thuật nào trong bài? Vì sao? |
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản, lựa chọn chi tiết bản thân cho là ấn tượng
Đưa ra lý giải hợp lý
Lời giải chi tiết
Học sinh có thể chọn một chi tiết mà bản thân ấn tượng nhất, có lý giải.
Gợi ý:
Truyện có nhiều nhân vật và chi tiết gợi ấn tượng sâu sắc. Có thể chọn:
- Một trong các nhân vật: chị Tí, Liên, An, bác Siêu, bà cụ Thi,...
- Một trong các chi tiết: đoàn tàu, bóng tối và ánh sáng, âm thanh, hình ảnh Hà Nội xa xăm trong tưởng tượng của Liên,...
Điều quan trọng là đưa ra được những lý giải hợp lý. Lý giải cần gắn với chủ đề tư tướng của truyện.
|
Câu 9. Hãy nêu những nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật Thạch Lam mà em nhận thấy qua truyện Hai đứa trẻ. |
Phương pháp
Dựa vào phân tích ở trên
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
Hai đứa trẻ là một trong những truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Thạch Lam, điều đó thể hiện ở:
- Những trang viết vừa đậm đà yếu tố hiện thực vừa phảng phất chất lãng mạn, chất thơ.
- Đặc biệt, truyện tiêu biểu cho thể loại truyện ngắn trữ tình của Thạch Lam (cái tình người chân chất nhẹ nhàng thấm sâu khắp thiên truyện; tập trung chú ý tới thế giới nội tâm của nhân vật, lối kể chuyện thú thỉ như tâm sự với người đọc).
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Phân tích nét đặc sắc trong cảnh chờ tàu ở cuối truyện ngắn Hai đứa trẻ.
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
* Đảm bảo kết cấu (mở bài, thân bài, kết bài).
a. Nêu vấn đề: Cảnh đợi tàu của những người dân nơi phố huyện.
b. Phân tích:
- Cách Liên và An chờ đợi con tàu: Cách họ chờ tàu không phải để bán hàng mà để chờ đợi một điều gì đó
mới mẻ. Gợi cảm giác tội nghiệp về một niềm vui nhỏ bé.
- Cách Liên và An ngắm đoàn tàu: Hai đứa trẻ không bỏ sót chi tiết nào.
- Cách Liên và An nhìn con tàu khi nó đã đi qua → Cố lưu lại mọi thứ
→ Đoàn tàu là niềm vui, là hạnh phúc mà trẻ con ao ước được sống trong với nó. Đoàn tàu là một bữa tiệc
ánh sáng mà hai đứa trẻ đang tận hưởng.
- Cách Liên và An chìm vào trong giấc ngủ sau khi chờ tàu: Liên không mơ mộng đến thế giới khác. Để thay
đổi con người phải cảm nhận được những gì nhỏ bé nhất.
- Háo hức với ánh sáng nghĩa là còn háo hức với cái đẹp.
c. Kết thúc: Kết luận lại vấn đề
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 13
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Con mẹ Nuôi, tay cầm lá đơn, đứng ở sân công đường. Nó hớt hơ hớt hải qua cổng chòi, rồi sợ sệt bỡ ngỡ, không biết quan ngồi buồng nào. Bỗng một người mặc áo cánh nái nhuộm vỏ già chạy xồng xộc đến trước mặt nó, và hỏi:
- Đi đâu?
Con mẹ biết ngay rằng đó là cậu lính lệ. Và như hiểu rõ phép vào quan, nó giúi đưa cậu lệ hai hào đã cầm sẵn ở trong tay, rồi nói nhỏ:
- Nhờ cậu bẩm quan cho tôi vào hầu.
Cậu lệ tuy đã cầm tiền, nhưng làm như ta không để ý đến việc nhỏ nhen ấy, bèn vừa thò tay, vừa nói to:
- Đưa xem đơn, việc gì?
Rồi trong khi nhà Nuôi kể lể, thì cậu lệ đánh vần để đọc lá đơn. Đoạn cậu lắc đầu, nhăn mặt bảo:
- Vào kia, nhờ bác nho Quý bác ấy làm hộ cho. Đơn này không được.
Con mẹ tái mặt, hỏi:
- Không được thế nào, thưa cậu?
Cậu lệ giơ hai tay ra giảng:
- Nghĩa là nếu nhà chị muốn việc chóng xong, nghe chưa?
- Thưa cậu, cậu cứ vào trình quan hộ. Chả nói giấu gì cậu, nhà tôi bị mất trộm hết sạch cả đồ đạc lẫn tiền nong.
Sáng nay, vay mãi mới được đống hai bạc, để đi trình quan, cậu làm ơn thương hộ cho. Cậu lệ nhìn nét mặt nằn nì của nhà Nuôi, song vẫn thản nhiên:
- Tôi bảo nhà chị không nghe thì tôi mặc kệ. Tôi thấy nhà chị ăn mặc thế này, lại bị lúc vận hạn đen đủi, tôi lại chẳng động lòng hay sao? Nhưng ở đây, cái lệ nó thế. Tôi tử tế, nên bảo trước. Nếu nhà chị không theo, thì quan quở, chớ có trách tôi đấy.
Muốn chứng thực lời nói của mình, mẹ Nuôi cởi nút dải yếm ra, rồi xỉa năm đồng hào đôi còn lại lên gan bàn tay, và nói:
- Đây này, chẳng tin, cậu đếm mà xem, chỉ còn vừa vặn tiền trình thôi.
Cậu lệ lắc đầu. Con mẹ vừa buộc lại tiền, vừa nhăn nhó, van lơn:
- Lạy cậu, thương cháu, cho cháu được nhờ. Cậu cứ vào bẩm quan hộ. Hễ quan bắt làm lại đơn, thì cháu xin ra nhờ bác nho Quý ngay.
Bỗng một tiếng chuông gọi. Cậu lệ dạ giật một tiếng, rồi ù té chạy. Con mẹ Nuôi nhìn theo, biết rằng buồng quan ngồi ở chỗ ấy. Nó đánh liều tiến đến, vừa tiến, vừa lo. Nó bước chân lên thềm, trống ngực bắt đầu nổi mạnh. Nó đã trông thấy quan. Nó lại sợ nữa. Vì lo sợ quá, nên quên đứt rằng chính nó đi trình việc mất trộm.
Nó lại tưởng như nó là đứa trộm vậy. Nó rón rén, đứng nép vào cạnh cửa, thập thò, ghé vào trong, và lắng tai nghe. Nó thấy quan đang dặn cậu lệ xuống bảo nhà bếp ninh cho thật dừ cái chân giò. Và đến khi cậu lệ dạ tiếng cuối cùng và đi vào sân sau, mé cửa trong, thì nó hiểu ngay rằng đã mất toi hai hào cho thằng xỏ lá nó chẳng bẩm cho mình một tiếng nào. Bỗng hai con gà tây béo sù quàng quạc kêu ở sân trước. Nó thốt giật nảy mình. Quan đang ngồi, choàng một cái, ngài đứng dậy, chạy vội ra hiên, đứng ngay cạnh nhà Nuôi, và gọi váng:
- Có đứa nào đấy, lừa hai con gà vào cho tao!
Tức thì, người ta chạy tán loạn để xua gà, và nhà Nuôi thì chắp hai tay, quỳ ngay xuống gạch, và nâng ngang đầu cái lá đơn. Khi đôi gà đã chạy về, quan bèn nhìn con mẹ và bảo:
- Vào đây.
Nó mừng quá, lóp ngóp đứng dậy, vội vã theo vào trong buồng giấy. Nó đứng ở cạnh bàn, run lên bần bật. Nó liếc nhìn quan. Ngài oai vệ quá. Nó lại sợ hơn nữa. Nhưng dù run hay sợ, nó cũng không quên được việc vi thiềng quan. Nhưng tiền trình diện quan, nó lại buộc vào trong dải yếm. Nó cởi ra mới lấy được. Nó mới lúi húi rút cái nút buộc ra. Nó sợ quan chờ lâu, nên phải vội vàng. Mà vì vội vàng, lại lo quan gắt, nên nó lóng cóng. Cái nút vừa xổ ra, thì loẻng xoẻng, cả món tiền rơi tiệt cả xuống gạch. Năm đồng hào đôi nảy lên mấy cái, và từng ấy tiếng kêu làm nó giật mình. Tự nhiên, nó choáng cả người và hoa cả mắt. Nó cúi nhìn chỗ nhiều hào rơi nhất, ngay bên cạnh nó. Đồng thì chui nằm ẹp gần chân nó, đồng thì xoay tít mấy vòng, đồng thì bắn ra góc buồng. Mấy đồng nữa thì thi nhau lăn ra tận chỗ xa. Nó không thấy quan nói gì, nên cũng hơi tĩnh tâm. Nó bèn cúi xuống để nhặt tiền. Một đồng, hai đồng. Đồng thứ ba nghiêng ở mé tường. Nó tìm đồng thứ tư. Mãi nó mới thấy ở tận gần chân bàn giấy của quan. Nó tìm đồng thứ năm. Quái, nó tìm mãi, mà không thấy đâu cả. Nó phải có năm hào đôi. Năm hào đôi mới thành đồng bạc được. Vừa ban nãy, nó giở ra cho cậu lệ xem, và lại buộc cẩn thận vào dải yếm. Không lẽ đồng hào ấy có ma, đã biến đi đâu mất chóng thế được.
Vậy chỉ quanh quẩn ở trong buồng này mà thôi. Nhưng nó đã tìm kỹ lắm rồi. Mà trình đơn tám hào, tất nó bị quan chửi. Không biết làm thế nào được, nó tần ngần chắp hai tay, vái:
- Lạy quan lớn ạ.
Rồi nó lùi lùi bước ra cửa. Rồi nó đi về...
Ông huyện Hinh cứ ngồi yên sau bàn giấy để nhìn theo con mẹ khốn nạn. Rồi khi thấy nó đã đi khuất, ông mới đưa mắt xuống chân, dịch chiếc giầy ra một tý. Và vẫn tự nhiên như không, ông cúi xuống thò tay, nhặt đồng hào đôi sáng loáng, thổi những hạt cát nhỏ ở đế giầy bám vào, rồi bỏ tọt vào túi.
Trích Đồng hào có ma – Nguyễn Công Hoan
Câu 1. Văn bản trên sử dụng phương thức biểu đạt chính nào?
A. Tự sự
B. Miêu tả
C. Biểu cảm
D. Nghị luận
Câu 2. Người đàn bà đến gặp quan lớn để làm gì?
A. Người đàn bà đến gặp quan lớn để xin quan giúp đỡ trong cảnh nghèo túng.
B. Người đàn bà đến gặp quan để xin thưa kiện về chuyện nhà bị mất trộm
C. Người đàn bà đến gặp quan để kiện người hàng xóm lấy cắp hai đồng bạc.
D. Người đàn bà có việc oan ức đến cửa quan kêu oan.
Câu 3. Vì sao người đàn bà không gặp được quan lớn ngay khi đến?
A. Vì quan lớn đi vắng.
B. Vì theo quy tắc chốn quan trường
C. Vì thói hạnh họe, sách nhiễu của đám lính.
D. Vì lá đơn của chị không đạt yêu cầu.
Câu 4. Khi gặp được quan lớn vì sao người đàn bà lại đi về mà không thưa chuyện?
A. Chị quá sợ hãi trước vẻ uy nghi, cao lớn của quan huyện khiến hành động trở nên lúng túng.
B. Chị biết quan cũng sẽ không đứng về phía người dân nghèo nên không dám thưa chuyện.
C. Chị không còn đủ tiền để thưa chuyện với quan lớn.
D. Lá đơn của chị viết sai nên không thể thưa chuyện với quan lớn.
Câu 5. Hành động cuối truyện của quan huyện thể hiện hắn là người như thế nào?
A. Tinh quái, thông minh, mưu trí.
B. Điềm tĩnh, cẩn trọng.
C. Tham lam, hạch sách dân nghèo.
D. Bên ngoài đạo mạo, bên trong tham lam, hèn mọn.
Câu 6. Người đàn bà trong tác phẩm là đại diện cho hình ảnh nào dưới đây?
A. Những người phụ nữ yêu đuối trong xã hội xưa bị chèn ép, tước đoạt mọi quyền lợi.
B. Những kiếp người nông dân thấp cổ bé họng bị thế lực cầm quyền sách nhiễu, chèn ép.
C. Những kiếp người nô lệ, bán sức lao động cho giai cấp thống trị.
D. Những người phụ nữ lâm vào cảnh bần cùng hóa do xã hội bất công.
Câu 7. Thông qua đoạn trích trên, em nhận thấy phong cách nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Công Hoan được thể hiện như thế nào?
Câu 8. Theo em, hình ảnh của tên lính đại diện cho hình ảnh nào trong xã hội xưa?
Câu 9. Theo em, giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo được tác giả đề cập tới trong truyện là gì?
II. VIẾT:
Câu 1. Phân tích giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của truyện ngắn trên.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
|
A |
B |
C |
C |
D |
B |
|
Câu 1. Văn bản trên sử dụng phương thức biểu đạt chính nào? A. Tự sự B. Miêu tả C. Biểu cảm D. Nghị luận |
Phương pháp:
Căn cứ vào kiến thức đã học về các phương thức biểu đạt.
Lời giải chi tiết
Văn bản trên sử dụng phương thức biểu đạt tự sự.
→ Đáp án: A
|
Câu 2. Người đàn bà đến gặp quan lớn để làm gì? A. Người đàn bà đến gặp quan lớn để xin quan giúp đỡ trong cảnh nghèo túng. B. Người đàn bà đến gặp quan để xin thưa kiện về chuyện nhà bị mất trộm C. Người đàn bà đến gặp quan để kiện người hàng xóm lấy cắp hai đồng bạc. D. Người đàn bà có việc oan ức đến cửa quan kêu oan. |
Phương pháp:
Đọc, tìm ý.
Lời giải chi tiết:
Người đàn bà đến gặp quan để xin thưa kiện về chuyện nhà bị mất trộm.
→ Đáp án: B
|
Câu 3. Vì sao người đàn bà không gặp được quan lớn ngay khi đến? A. Vì quan lớn đi vắng. B. Vì theo quy tắc chốn quan trường C. Vì thói hạnh họe, sách nhiễu của đám lính. D. Vì lá đơn của chị không đạt yêu cầu. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Người đàn bà không gặp được quan lớn ngay khi đến vì bị tên lính canh cổng hạnh họe, sách nhiễu đủ điều.
→ Đáp án: C
|
Câu 4. Khi gặp được quan lớn vì sao người đàn bà lại đi về mà không thưa chuyện? A. Chị quá sợ hãi trước vẻ uy nghi, cao lớn của quan huyện khiến hành động trở nên lúng túng. B. Chị biết quan cũng sẽ không đứng về phía người dân nghèo nên không dám thưa chuyện. C. Chị không còn đủ tiền để thưa chuyện với quan lớn. D. Lá đơn của chị viết sai nên không thể thưa chuyện với quan lớn. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản, phân tích, suy luận.
Lời giải chi tiết:
Khi gặp được quan lớn, vì run sợ nên người đàn bà là làm rơi tiền, đến khi nhặt lại thì chị đếm thiếu mất một hào. Theo lẽ, vào cửa quan phải nộp tiền, nay thiếu mất một hào không đủ tiền thưa kiện nên đành cáo quan ra về.
→ Đáp án: C
|
Câu 5. Hành động cuối truyện của quan huyện thể hiện hắn là người như thế nào? A. Tinh quái, thông minh, mưu trí. B. Điềm tĩnh, cẩn trọng. C. Tham lam, hạch sách dân nghèo. D. Bên ngoài đạo mạo, bên trong tham lam, hèn mọn. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản, phân tích, suy luận.
Lời giải chi tiết:
Dưới con mắt của những người dân cụ thể là người đàn bà đến thưa kiện, quan lớn hiện lên vô cùng đạo mạo, uy nghiêm nhưng đến cuối chuyện quan lớn đã ngang nhiên lấy tiền của người dân bằng biện pháp vô cùng hèn mọn.
→ Đáp án: D
|
Câu 6. Người đàn bà trong tác phẩm là đại diện cho hình ảnh nào dưới đây? A. Những người phụ nữ yêu đuối trong xã hội xưa bị chèn ép, tước đoạt mọi quyền lợi. B. Những kiếp người nông dân thấp cổ bé họng bị thế lực cầm quyền sách nhiễu, chèn ép. C. Những kiếp người nô lệ, bán sức lao động cho giai cấp thống trị. D. Những người phụ nữ lâm vào cảnh bần cùng hóa do xã hội bất công. |
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản, phân tích, suy luận.
Lời giải chi tiết
Người đàn bà trong tác phẩm là đại diện cho những kiếp người nông dân thấp cổ bé họng bị thế lực cầm quyền sách nhiễu, chèn ép.
→ Đáp án: B
|
Câu 7. Thông qua đoạn trích trên, em nhận thấy phong cách nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Công Hoan được thể hiện như thế nào? |
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản, phân tích, suy luận.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
- Thông qua đoạn trích, ta thấy rõ phong cách trào phúng trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan.
- Tác giả sử dụng ngôn từ hết sức bình dị và gần gũi với người nông dân ví như: “con mẹ”, “nói xỏ”,...
- Giọng văn mỉa mai, châm biếm pha chút hài hước.
|
Câu 8. Theo em, hình ảnh của tên lính đại diện cho hình ảnh nào trong xã hội xưa? |
Phương pháp
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
Hình ảnh của tên lính canh cổng đại diện cho những kẻ tai sai của quan lại, ỷ thế ức hiếp người dân.
|
Câu 9. Theo em, giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo được tác giả đề cập tới trong truyện là gì? |
Phương pháp
Căn cứ vào nội dung văn bản, phân tích, suy luận.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
- Giá trị hiện thực:
+ Sự khốn cùng của người dân
+ Thói sách nhiễu, sự bóc lột vô nhân tính của quan lại.
- Giá trị nhân đạo:
+ Lên án sự tham lam, bóc lột của quan lại và giai cấp thống trị lên ngươi dân.
+ Thể hiện niềm cảm thông sâu sắc đến thân phận của những người nông dân nghèo.
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Phân tích giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của truyện ngắn trên.
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
* Đảm bảo kết cấu (mở bài, thân bài, kết bài).
a. Nêu vấn đề: Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật trong truyện ngắn Đồng hào có ma.
b. Phân tích:
* Giá trị nội dung:
- Khái quát nội dung: Câu chuyện kể về "con mẹ Nuôi" đi trình mất trộm, phải đi vay một đồng hai hào để vào trình quan. Nhưng sau khi đút lót cậu lính hai hào, vào công đường thì bà ta là rơi mớ tiền xuống đất. Tìm mãi những cũng chỉ được bốn đồng, bà ta đành lùi lũi đi về. Sau khi bà ta đi khuất, quan huyện Hinh mới xê chân, nhặt đồng hào dưới đất, thổi cát rồi bỏ tọt vào túi. Cho thấy bộ mặt thối nát của bọn quan lại phong kiến tham ô, bóc lột người dân tới tận cùng.
- Đặc sắc về cách tạo dựng tình huống truyện: Qua tình huống của "con mẹ Nuôi" trong câu chuyện mà thấy rõ được bộ mặt tham quan của tên huyện Hinh. Hắn đã dùng cả những cách thức hèn mọn nhất để ăn cắp tiền của nhân dân.
- Giá trị hiện thực:
+ Sự khốn cùng của người dân
+ Thói sách nhiễu, sự bóc lột vô nhân tính của quan lại.
- Giá trị nhân đạo:
+ Lên án sự tham lam, bóc lột của quan lại và giai cấp thống trị lên ngươi dân.
* Giá trị nghệ thuật:
- Nghệ thuật xây dựng ngôn từ:
+ Sử dụng các ngôn từ hết sức dân dã, bình dị như "nói xỏ", "lẹt đẹt", "con mẹ", ...
+ Lời văn mang tính mỉa mai, châm biếm.
c. Kết thúc: Kết luận lại vấn đề
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 14
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Thính vũ – Nguyễn Trãi
Phiên âm: Tịch mịch u trai lý,
Chung tiêu thính vũ thanh.
Tiêu hao kinh khách chẩm!
Điểm trích sổ tàn canh.
Cách trúc xao song mật,
Hoà chung nhập mộng thanh.
Ngâm dư hồn bất mị,
Đoạn tục đáo thiên minh.
Dịch thơ: Vắng vẻ trong phòng tối tăm,
Suốt đêm nghe tiếng trời mưa.
Tiếng não nùng làm kinh động gối khách,
Giọt thánh thót suốt mấy canh tàn.
Cách bụi trúc tiếng khua nhặt vào cửa sổ,
Lẫn tiếng chuông vẳng vào giấc mơ nhẹ nhàng.
Ngâm rồi vẫn không ngủ được,
Nghe đứt nối cho đến trời bình minh.
Câu 1. Bài thơ trên thuộc thể thơ nào?
A. Thất ngôn tứ tuyệt.
B. Ngũ ngôn bát cú.
C. Thất ngôn bát cú.
D. Ngũ ngôn tứ tuyệt.
Câu 2. Bài thơ Thính vũ sử dụng nhịp thơ nào?
A. 4/3
B.1/4
C. 2/3
D. 3/2
Câu 3. Hai câu thơ sau gợi tả khung cảnh nào?
Tịch mịch u trai lí
Chung tiêu thính vũ thanh
A. Khung cảnh thiên nhiên tráng lệ, kì vĩ.
B. Khung cảnh thôn quê đơn sơ, giản dị.
C. Khung cảnh đêm mưa vắng vẻ, cô quạnh.
D. Khung cảnh ngày mưa tiêu điều, xơ xác.
Câu 4. Điều gì đã khiến chủ thể trữ tình bất mị? (không ngủ được).
A. Tiếng mưa dữ dội.
B. Niềm vui đón bình minh
C. Tiếng chuông văng vẳng.
D. Những nỗi niềm trăn trở.
Câu 5. Hình ảnh tiếng mưa nhập mộng thanh (vẳng vào giấc mơ) giúp em hiểu gì về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên trong bài thơ?
A. Sự dữ dội của thiên nhiên luôn ám ảnh con người.
B. Thiên nhiên luôn đồng điệu với tâm tư, nỗi lòng của con người.
C. Con người luôn khao khát hòa nhập trọn vẹn với thiên nhiên.
D. Thiên nhiên và con người luôn trong mối xung đột.
Câu 6. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ Thính vũ là gì?
A. Cảm hứng thế sự.
B. Cảm hứng nhân đạo
C. Cảm hứng anh hùng ca.
D. Cảm hứng thiên nhiên
Câu 7. Nhận xét về bút pháp tương phản đối lập được sử dụng trong bốn câu thơ đầu.
Câu 8.Những cảm nhận về cơn mưa qua hai câu thơ Cách trúc xao song mật/ Hòa chung nhập mộng thanh giúp em hiểu gì về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình?
Câu 9. Vì sao trong hai câu thơ cuối, nhân vật trữ tình lại Ngâm dư hồn bất mị/ Đoạn tục đáo thiên minh?
II. VIẾT:
Câu 1. Viết bài luận ngắn (khoảng 400-500 chữ) để trả lời câu hỏi: Bạn lựa chọn con đường nào để khẳng định bản lĩnh của bản thân giữa cuộc đời?
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
|
B |
C |
C |
C |
B |
A |
|
Câu 1. Bài thơ trên thuộc thể thơ nào? A. Thất ngôn tứ tuyệt. B. Ngũ ngôn bát cú. C. Thất ngôn bát cú. D. Ngũ ngôn tứ tuyệt. |
Phương pháp:
Dựa vào số từ trong câu, số câu trong bài
Lời giải chi tiết
Bài thơ trên được làm theo thể ngũ ngôn bát cú.
→ Đáp án: B
|
Câu 2. Bài thơ Thính vũ sử dụng nhịp thơ nào? A. 4/3 B.1/4 C. 2/3 D. 3/2 |
Phương pháp:
Đọc kĩ bài thơ
Lời giải chi tiết:
Bài thơ Thính Vũ sử dụng nhịp thơ 2/3
→ Đáp án: B
|
Câu 3. Hai câu thơ sau gợi tả khung cảnh nào? Tịch mịch u trai lí Chung tiêu thính vũ thanh A. Khung cảnh thiên nhiên tráng lệ, kì vĩ. B. Khung cảnh thôn quê đơn sơ, giản dị. C. Khung cảnh đêm mưa vắng vẻ, cô quạnh. D. Khung cảnh ngày mưa tiêu điều, xơ xác. |
Phương pháp:
Đọc kĩ hai câu thơ
Chú ý các chi tiết tiêu biểu
Lời giải chi tiết:
Hai câu thơ “Tịch mịch u trai lí/Chung tiêu thính vũ thanh” gợi tả khung cảnh đêm mưa vắng vẻ, cô quạnh.
→ Đáp án: C
|
Câu 4. Điều gì đã khiến chủ thể trữ tình bất mị? (không ngủ được). A. Tiếng mưa dữ dội. B. Niềm vui đón bình minh C. Tiếng chuông văng vẳng. D. Những nỗi niềm trăn trở. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Tiếng chuông văng vẳng đã khiến chủ thể trữ tình không ngủ được.
→ Đáp án: C
|
Câu 5. Hình ảnh tiếng mưa nhập mộng thanh (vẳng vào giấc mơ) giúp em hiểu gì về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên trong bài thơ? A. Sự dữ dội của thiên nhiên luôn ám ảnh con người. B. Thiên nhiên luôn đồng điệu với tâm tư, nỗi lòng của con người. C. Con người luôn khao khát hòa nhập trọn vẹn với thiên nhiên. D. Thiên nhiên và con người luôn trong mối xung đột. |
Phương pháp:
Phân tích hình ảnh tiếng mưa
Nêu quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
Theo đọa trích, thiên nhiên luôn đồng điệu với tâm tư và nỗi lòng của con người.
→ Đáp án: B
|
Câu 6. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ Thính vũ là gì? A. Cảm hứng thế sự. B. Cảm hứng nhân đạo C. Cảm hứng anh hùng ca. D. Cảm hứng thiên nhiên |
Phương pháp giải
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Cảm hứng chủ đạo của bài thơ Thính Vũ: Cảm hứng thế sự
→ Đáp án: A
|
Câu 7. Nhận xét về bút pháp tương phản đối lập được sử dụng trong bốn câu thơ đầu. |
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Bút pháp tương phản, đối lập được sử dụng trong bốn câu thơ đầu:
- Tương phản giữa tiếng mưa với sự vắng vẻ trong căn phòng tối. Tiếng mưa góp phàn khiến tâm trạng người nghe trở nên cô quạnh.
→ Tiếng mưa không chỉ thể hiện khung cảnh của thiên nhiên mà còn thể hiện được tâm trạng của cá nhân.
|
Câu 8.Những cảm nhận về cơn mưa qua hai câu thơ Cách trúc xao song mật/ Hòa chung nhập mộng thanh giúp em hiểu gì về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình? |
Phương pháp
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Học sinh đưa ra quan điểm của mình, có lý giải hợp lý.
Gợi ý:
- Tâm hồn tĩnh lặng, nhạy cảm luôn sẵn sàng đón nhận mọi sự thay đổi tinh tế.
- Tâm hồn rộng mở.
→ Nhân vật trữ tình với một tâm hồn nhạy cảm, nghệ sĩ tinh tế, tài hoa. Hơn hết, đây là con người mang nặng những ưu tư về cuộc đời.
|
Câu 9. Vì sao trong hai câu thơ cuối, nhân vật trữ tình lại Ngâm dư hồn bất mị/ Đoạn tục đáo thiên minh? |
Phương pháp
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
- Cảnh đêm mưa đẹp quá nên nhân vật trữ tình khó mà bình tâm để ngủ được.
- Con người ưu thời mẫn thế, nhạy bén tinh tế quá nên không thể yên giấc được.
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Viết bài luận ngắn (khoảng 400-500 chữ) để trả lời câu hỏi: Bạn lựa chọn con đường nào để khẳng định bản lĩnh của bản thân giữa cuộc đời?
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
* Đảm bảo kết cấu (mở bài, thân bài, kết bài).
a. Mở bài:
- Nêu vấn đề: Lựa chọn con đường nào dể khẳng định bản lĩnh của bản thân giữa cuộc đời.
b. Thân bài:
* Giải thích:
- Khẳng định bản lĩnh là gì? Khẳng định bản lĩnh là khi con người thể hiện rõ ý chí, quyết tâm của mình cho dù điều đó chưa được xã hội công nhận.
- Con đường: là cách thức. → Có rất nhiều cách thức (sống lánh xa cuộc đời hoặc hòa nhập vào cuộc đời).
* Trình bày lựa chọn của mình: Học sinh tự đưa ra lựa chọn cho bản thân mình (có giải thích hợp lý).
Ví dụ: Chọn lánh xa:
- Thể hiện bản lĩnh con người khi có thể lánh xa những thú vui của cuộc đời. Tránh xa những thứ danh lợi có sự hấp dẫn, hào nhoáng ban đầu.
- Để tránh xa được tự bạn phải có một cuộc sống phong phú, có niềm vui riêng mình.
Ví dụ: Hòa nhập
- Hòa nhập cuốc đời vừa giúp ích cho bản thân, vừa giúp ích cho cuộc đời.
- Hòa nhập cuộc đời thể hiện bản lĩnh cứng cỏi của con người biết đứng dậy sau vấp ngã ......
* Có thể lựa chọn kết hợp cả hai vừa có thể hòa nhập với cuộc đời vừa có thể có những giây phút giành riêng cho mình mà không chịu tác động của cuộc đời tuy từng hoàn cảnh.
c. Kết bài: Đánh giá lại vấn đề.
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 15
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Nhà mẹ Lê
Đoàn Thôn là một cái phố chợ tồi tàn gần ngay một huyện lị nhỏ ở trung châu. Hai dãy nhà lụp xụp, mái tranh xuống thấp gần đến thềm, che nửa những cái chái nứa đã mục nát. Gần đấy là những quán chợ xiêu vẹo đứng bao bọc một căn nhà gạch có gác bưng bít như một cái tổ chim, nhà của một người giàu trong làng làm ra để bán hàng. Người ở phố chợ là bảy tám gia đình nghèo khổ không biết ở đâu, mà người dân trong huyện thường gọi một cách khinh bỉ: những kẻ ngụ cư. Họ ở đâu đến đây kiếm ăn trong mấy năm trời làm đói kém, làm những nghề lặt vặt, người thì kéo xe, người thì đánh dậm, hay làm thuê, ở mướn cho những nhà giàu có trong làng. Người ta gọi mọi gia đình bằng tên người mẹ, nhà mẹ Hiền, nhà mẹ Đối, nhà mẹ Lê. Những gia đình này giống nhau ở chỗ cùng nghèo nàn như nhau cả.
Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay nhăn nheo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa lớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.
Mẹ con bác ta ở một căn nhà lá. Chừng ấy người chen chúc trong một khoảng rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan gãy nát. Mùa rét thì trải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với người nghèo như bác một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi từng ấy đứa con.
Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà.
[...]
Những đêm sáng trăng mùa hạ, cả phố bắc chõng ngồi ngoài đường, vì trong nhà nào cũng nóng như một cái lò, và hàng vạn con muỗi vo ve. Dưới bóng trăng, những đá rải đường trông đen lay láy và lấp loáng ánh sáng.
Đất hãy còn giữ cái nóng buổi trưa và bốc lên một cái mùi riêng, lẫn mùi rác bẩn và mùi cát. Mọi người họp nhau nói chuyện. Trẻ con nghịch chạy quanh các bà mẹ, hình như quên cảnh khổ sở, hèn mọn, ai ai cũng vui vẻ chuyện trò, tiếng cười to và dài như người lớn, xen lẫn với tiếng khúc khích của các cô gái chúm chụm sát nhau trong bóng tối, người ta thấy tiếng bác Hiền nói vang, tiếng bác Đối thuật lại buổi xe kiếm may mắn.
Trong một căn nhà đưa ra một tiếng võng và tiếng hát lanh lảnh của bác Đối gái, đã đem hết tiền buổi xe kiếm được của chồng vào hiệu khách mua một cân táo tầu rồi nằm võng vừa nhai vừa hát trống quân: “Ngày xưa, có anh Trương Chi...
Mấy năm sau, sự kiếm ăn ngày một thêm khó khăn. Buổi chợ họp không đông đúc như trước. Những tiếng nói chuyện trong sương lúc mờ sáng của các người hàng sáo gánh gạo kĩu kịt trên đò để đem xuống huyện bán, người ta không nghe thấy nữa. Cái đói kém đến chen lần trong các phố chợ. Bác Hiền ngày nào cũng gánh hàng đi rồi lại gánh hàng về. Còn thường thấy bác Đối kéo cái xe không, đi lảng vảng trong huyện và vợ bác cũng không hay nằm võng hát trống quân nữa. Bác Lê trong lúc ấy, đi khắp các nhà trong làng, xin làm mướn, nhưng các nhà có ruộng không ai mướn. Bác có làm không công, người ta cũng chỉ cho có nửa bát gạo, đùm bọc về không đủ cho ba đứa con ăn. Những ngày nhịn đói liên tiếp nhau luôn. Bác Lê thấy đàn con ngày một gầy còm, buổi chiều bác mệt nhọc chán nản trở về, hỏi thằng cả xem có đánh được ít cá nào không, thì nó buồn rầu khẽ lắc đầu, trả lời rằng các hồ ao người ta đã cấm không cho nó thả lờ nữa.
Mùa rét năm ấy đến, giá lạnh và mưa gió lầy lội. Đàn con bác Lê ôm chặt lấy nhau rét run trong căn nhà ẩm ướt và tối tăm vì đèn đuốc không có nữa. Mấy gia đình ở phố chợ đều đói rét và khổ sở. Nhưng mỗi nhà đều lặng lẽ, âm thầm và chịu khổ một mình, không than thở với láng giềng hàng xóm lời gì, ai nấy đều biết cũng nghèo khốn như nhau.
Một buổi chiều, mà đàn con đã nhịn đói suốt buổi, bác Lê vá lại manh áo rét, gọi đứa cả đến rồi bảo:
- Ở nhà trông các em, tao vào ông Bá xem có xin được ít gạo nào không?
- Ban sáng u đã vào nhà người ta có cho đâu, cậu Phúc lại còn bảo hễ u vào nữa thì cậu ấy thả chó ra cắn.
Bác Lê đáp:
- Nhưng biết làm thế nào! Không có thì lấy gạo đâu ra mà ăn? Thôi tao cứ liều vào lần nữa xem sao.
Nói xong, bác Lê mở cửa liếp ra đi. Trong lòng bác vẫn có chút hy vọng trong buổi sáng lúc vào xin gạo. Ông Bá đã đuổi mắng không cho. Bác nhớ lại cải cảnh sang trọng, ấm cúng trong nhà ông Bá. Những chậu sứ, câu đối thếp vàng sáng chói. Không lẽ ông Bá giầu có thế mà không thí cho mẹ con bác được bát gạo hay sao?
Ở nhà, đàn con bác ngồi nhìn nhau đợi trong ổ rơm. Bác đi đâu không thấy về. Thằng Hy lắng tai nghe tiếng chó cắn trong làng rồi bảo chị nó:
- Hình như u về đấy chị ạ.
Thằng cả đi lại bên cửa bếp nhìn ra ngoài. Bỗng có tiếng chân người rầm rập, đến tiếng gọi, rồi lũ trẻ thấy bác Đối và một người nữa khiêng bác Lê vào trong nhà. Trên bắp chân người mẹ, máu đỏ chảy ròng ròng.
Thằng cả hiểu ngay mẹ nó bị chó ông Bá cắn. Bác đặt người bị thương xuống chiếu rồi ra đi sau khi dặn:
- Bây giờ, bác lấy lá lốt mà dịt cho nó cầm máu. Chó tây cắn thì độc lắm đấy.
Khi bác đi khỏi, lũ trẻ xúm quanh lấy mẹ. Thằng Hy vừa mếu máo vừa hỏi:
- U làm sao thế, u?
Bác Lê nén cái đau, giảng cho con biết
- Thật cậu Phúc ác quá! Đã không cho thì thôi lại còn thả chó ra đuổi, tao đã chạy trọng, ấm cúng trong nhà ông Bá. Những chậu sứ, câu đối thếp vàng sáng chói. Không lẽ ông Bá giàu có thế mà không thí cho mẹ con bác được bát gạo hay sao?
Ở nhà, đàn con bác ngồi nhìn nhau đợi trong ổ rơm. Bác đi đâu không thấy về. Thằng Hy lắng tai nghe tiếng chó cắn trong làng rồi bảo chị nó:
- Hình như u về đấy chị ạ.
Thằng cả đi lại bên cửa bếp nhìn ra ngoài. Bỗng có tiếng chân người rầm rập, đến tiếng gọi, rồi lũ trẻ thấy bác Đối và một người nữa khiêng bác Lê vào trong nhà. Trên bắp chân người mẹ, máu đỏ chảy ròng ròng.
Thằng cả hiểu ngay mẹ nó bị chó ông Bá cắn. Bác đặt người bị thương xuống chiếu rồi ra đi sau khi dặn:
- Bây giờ, bác lấy lá lốt mà dịt cho nó cầm máu. Chó tây cắn thì độc lắm đấy.
Khi bác đi khỏi, lũ trẻ xúm quanh lấy mẹ. Thằng Hy vừa mếu máo vừa hỏi:
- U làm sao thế, u?
Bác Lê nén cái đau, giảng cho con biết:
- Thật cậu Phúc ác quá! Đã không cho thì thôi lại còn thả chó ra đuổi, tao đã chạy mà không kịp, nên nó cắn phải. May gặp bác Đối, chứ không biết bao giờ mới lê được về đến nhà.
Bác ngừng lại nhìn đàn con ốm yếu, rồi thở dài:
- Thế là mẹ con lấy gì ăn cho đỡ đói bây giờ.
Thằng Hy òa lên khóc, con Tý cũng khóc theo. Bác Lê giơ tay ôm chúng nó vào lòng nghĩ thân phận mình, bác cũng ứa nước mắt.
Đêm ấy, bác Lê lên cơn sốt. Những cái rùng mình lạnh lẽo nối nhau lướt trên da bác, manh chiếu rách không đủ đắp ấm thân. Trong lúc mê sảng, bác Lê tưởng nhớ lại cả cuộc đời mình, từ lúc còn bé đến bây giờ, chỉ toàn những ngày khổ sở nhọc nhằn. Cái nghèo không biết tự bao giờ đã vào nhà bác. Lúc sinh ra bác đã thấy nó rồi, và từ đó nó cứ theo liền bác mãi. Nhưng có người mướn làm thì không đến nỗi. Bác nhớ lại những buổi đi làm khó nhọc, nhưng bác vui vẻ được lĩnh gạo về cho con, những bữa cơm nóng mùa rét, những lúc thằng Hy và con Tý vui đùa giằng co chiếc bánh bác mua cho chúng.
Rồi đến những ngày đi mót lúa mỏi lưng trên cánh đồng, nhặt những bông lúa thơm, những lúc vò lúa dưới chân... Bác Lê nhớ lại cái cảm giác vui mừng khi thấy cạnh bông lúa sắc sát vào thịt da. Đấy còn là những ngày no đủ. Rồi đến những buổi chợ sáng, những ngày nhịn đói như hôm naỵ Bác mơ màng thấy vàng son chói lọi trong nhà ông Bá, thấy nét mặt gian ác của cậu Phúc, con chó tây nhe nanh chồm đến.
- Trời ơi! Sao tôi khổ thế này?
Tiếng kêu thất thanh của bác làm lũ trẻ giật mình, chúng nó ngồi dậy đưa mắt sợ hãi nhìn người mẹ. Hai hôm sau, bác Lê lại lên cơn mê sảng rồi chết. Người trong phố chợ gom góp nhau mua cho bác một cỗ ván mọt, rồi đưa giúp bác ra cánh đồng, chôn vùi dưới bãi tha ma nhỏ ở đầu làng.
Khi trở về, qua căn nhà lạnh lẽo âm u, họ thấy mấy đứa con nhỏ con bác Lê ngồi ở vỉa hè. Con Tý đang dỗ cho thằng Hy nín khóc, nói dối rằng mẹ nó đi chợ một lát rồi sẽ về. Nhưng họ biết rằng bác Lê không trở về nữa và họ thấy một cái cảm giác lo sợ đè nén lấy tâm can họ, những người ở lại, những người còn sống mà cái nghèo khổ cứ theo đuổi mãi không biết bao giờ hết.
Theo Thạch Lam
Câu 1. Truyện "Nhà mẹ Lê" sử dụng ngôi kể nào?
A. Ngôi kể thứ nhất, người kể chuyện là mẹ Lê.
B. Ngôi kể thứ ba, người kể chuyện ẩn danh
C. Ngôi kể thứ nhất, người kể chuyện là đứa con cả
D. Ngôi kể thứ ba, điểm nhìn trần thuật đặt ở mẹ Lê.
Câu 2. Sự kiện nào sau đây đã tạo nên bước ngoặt cho truyện Nhà mẹ Lê?
A. Bác Lê sinh đứa con thứ mười một, trong khi đứa lớn nhất mới bảy tuổi.
B. Mùa hè đến, con bác Lê đứa nào cũng bị lở đầu.
C. Thương đàn con đói rét, bác Lê sang nhà cụ Bá xin ít gạo và bị chó cắn.
D. Bác Lê đi khắp làng xin làm mướn nhưng không được ai thuê.
Câu 3. Nội dung chính của truyện ngắn Nhà mẹ Lê là gì?
A. Sự bất hạnh của người phụ nữ.
B. Tình cảnh bần cùng hóa của người nông dân
C. Nỗi thiếu thốn, cực khổ của tầng lớp bình dân
D. Sự tàn ác, vô lương tâm của tầm lớp thống trị.
Câu 4. Thạch Lam đã miêu tả hoàn cảnh sống của mẹ Lê qua những phương diện nào?
A. Ngôi nhà, ngoại hình, công việc của mẹ Lê.
B. Ngoại hình, công việc, sự tha hóa của mẹ Lê.
C. Ngôi nhà, hành động bán con, ngoại hình của mẹ Lê.
D. Công việc, cuộc hôn nhân, ngoại hình.
Câu 5. Vì sao khi đứa con ngăn cản, mẹ Lê vẫn "liều mình" sang nhà cụ Bá xin gạo?
A. Vì mẹ Lê là người phụ nữ liều lĩnh, gan dạ.
B. Vì mẹ Lê thương con đến mức bất chấp mọi nguy hiểm.
C. Vì cuộc sống nghèo khổ đã khiến mẹ Lê đánh mất lòng tự trọng.
D. Vì mẹ Lê là người phụ nữ ít học, thiếu hiểu biết và cố chấp.
Câu 6. Dòng nào sau đây không nêu chính xác ý nghĩa của cơn mê sảng trước khi qua đời của mẹ Lê?
A. Diễn tả niềm hạnh phúc, thanh thản của mẹ Lê khi được thoát li khỏi hiện thực đau khổ.
B. Giây phút hiếm hoi mẹ được nhìn ngắm lại cuộc đời mình để tự nhận thức về thân kiếp khổ đau của mình.
C. Thể hiện năng lực phân tích tâm lí nhân vật với những biến chuyển tinh tế của Thạch Lam.
D. Bày tỏ nỗi thương cảm của Thạch Lam đối với những con người bất hạnh.
Câu 7. Phân tích chất thơ của cuộc sống nghèo nàn, khốn khổ toát lên qua đoạn trích sau:
Những đêm sáng trăng mùa hạ, cả phố bắc chõng ngồi ngoài đường, vì trong nhà nào cũng nóng như một cái lò, và hàng vạn con muỗi vo ve. Dưới bóng trăng, những đá rải đường trông đen lay láy và lấp loáng ánh sáng. Đất hãy còn giữ cái nóng buổi trưa và bốc lên một cái mùi riêng, lẫn mùi rác bẩn và mùi cát. Mọi người họp nhau nói chuyện.
Trẻ con nghịch chạy quanh các bà mẹ, hình như quên cảnh khổ sở, hèn mọn, ai ai cũng vui vẻ chuyện trò, tiếng cười to và dài như người lớn, xen lẫn với tiếng khúc khích của các cô gái chúm chụm sát nhau trong bóng tối, người ta thấy tiếng bác Hiền nói vang, tiếng bác Đối thuật lại buổi xe kiếm may mắn. Trong một căn nhà đưa ra một tiếng võng và tiếng hát lanh lảnh của bác Đối gái, đã đem hết tiền buổi xe kiếm được của chồng vào hiệu khách mua một cân táo tầu rồi nằm võng vừa nhai vừa hát trống quân: “Ngày xưa, có anh Trương Chi...
Câu 8. Em hiểu thế nào về thân phận "những kẻ ngụ cư" của mẹ Lê và những nhà khác trong xóm? Từ đó, hãy nhận xét thái độ của những người dân khác đối với "những kẻ ngụ cư" ấy.
Câu 9. Thông qua cái chết của mẹ Lê, Thạch Lam muốn phản ánh hiện thực đời sống nào?
II. VIẾT
Câu 1. Viết bài luận phân tích vẻ đẹp của nhân vật mẹ Lê trong truyện ngắn Nhà mẹ Lê của Thạch Lam
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
|
B |
C |
B |
A |
B |
C |
|
Câu 1. Truyện "Nhà mẹ Lê" sử dụng ngôi kể nào? A. Ngôi kể thứ nhất, người kể chuyện là mẹ Lê. B. Ngôi kể thứ ba, người kể chuyện ẩn danh C. Ngôi kể thứ nhất, người kể chuyện là đứa con cả D. Ngôi kể thứ ba, điểm nhìn trần thuật đặt ở mẹ Lê. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Ngôi kể thứ ba, người kể chuyện ẩn danh
→ Đáp án: B
|
Câu 2. Sự kiện nào sau đây đã tạo nên bước ngoặt cho truyện Nhà mẹ Lê? A. Bác Lê sinh đứa con thứ mười một, trong khi đứa lớn nhất mới bảy tuổi. B. Mùa hè đến, con bác Lê đứa nào cũng bị lở đầu. C. Thương đàn con đói rét, bác Lê sang nhà cụ Bá xin ít gạo và bị chó cắn. D. Bác Lê đi khắp làng xin làm mướn nhưng không được ai thuê. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Sự kiện tạo nên bước ngoặt cho truyện Nhà mẹ Lê: Thương đàn con đói rét, bác Lê sang nhà cụ Bá xin ít gạo và bị chó cắn.
→ Đáp án: C
|
Câu 3. Nội dung chính của truyện ngắn Nhà mẹ Lê là gì? A. Sự bất hạnh của người phụ nữ. B. Tình cảnh bần cùng hóa của người nông dân C. Nỗi thiếu thốn, cực khổ của tầng lớp bình dân D. Sự tàn ác, vô lương tâm của tầm lớp thống trị. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Nội dung chính của truyện ngắn Nhà mẹ Lê: Tình cảnh bần cùng hóa của người nông dân
→ Đáp án: B
|
Câu 4. Thạch Lam đã miêu tả hoàn cảnh sống của mẹ Lê qua những phương diện nào? A. Ngôi nhà, ngoại hình, công việc của mẹ Lê. B. Ngoại hình, công việc, sự tha hóa của mẹ Lê. C. Ngôi nhà, hành động bán con, ngoại hình của mẹ Lê. D. Công việc, cuộc hôn nhân, ngoại hình. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Thạch lam đã miêu tả hoàn cảnh sống của mẹ Lê qua những phương diện: Ngôi nhà, ngoại hình, công việc của mẹ Lê.
→ Đáp án: A
|
Câu 5. Vì sao khi đứa con ngăn cản, mẹ Lê vẫn "liều mình" sang nhà cụ Bá xin gạo? A. Vì mẹ Lê là người phụ nữ liều lĩnh, gan dạ. B. Vì mẹ Lê thương con đến mức bất chấp mọi nguy hiểm. C. Vì cuộc sống nghèo khổ đã khiến mẹ Lê đánh mất lòng tự trọng. D. Vì mẹ Lê là người phụ nữ ít học, thiếu hiểu biết và cố chấp. |
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết:
Khi đứa con ngăn cản, mẹ Lê vẫn liều mình sang nhà cụ Bá xin gạo: Vì mẹ Lê thương con đến mức bất chấp mọi nguy hiểm.
→ Đáp án: B
|
Câu 6. Dòng nào sau đây không nêu chính xác ý nghĩa của cơn mê sảng trước khi qua đời của mẹ Lê? A. Diễn tả niềm hạnh phúc, thanh thản của mẹ Lê khi được thoát li khỏi hiện thực đau khổ. B. Giây phút hiếm hoi mẹ được nhìn ngắm lại cuộc đời mình để tự nhận thức về thân kiếp khổ đau của mình. C. Thể hiện năng lực phân tích tâm lí nhân vật với những biến chuyển tinh tế của Thạch Lam. D. Bày tỏ nỗi thương cảm của Thạch Lam đối với những con người bất hạnh. |
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Dòng không nêu chính xác ý nghĩa của cơn mê sảng trước khi qua đời của mẹ Lê: Thể hiện năng lực phân tích tâm lí nhân vật với những biến chuyển tinh tế của Thạch Lam.
→ Đáp án: C
|
Câu 7. Phân tích chất thơ của cuộc sống nghèo nàn, khốn khổ toát lên qua đoạn trích sau: Những đêm sáng trăng mùa hạ, cả phố bắc chõng ngồi ngoài đường, vì trong nhà nào cũng nóng như một cái lò, và hàng vạn con muỗi vo ve. Dưới bóng trăng, những đá rải đường trông đen lay láy và lấp loáng ánh sáng. Đất hãy còn giữ cái nóng buổi trưa và bốc lên một cái mùi riêng, lẫn mùi rác bẩn và mùi cát. Mọi người họp nhau nói chuyện. Trẻ con nghịch chạy quanh các bà mẹ, hình như quên cảnh khổ sở, hèn mọn, ai ai cũng vui vẻ chuyện trò, tiếng cười to và dài như người lớn, xen lẫn với tiếng khúc khích của các cô gái chúm chụm sát nhau trong bóng tối, người ta thấy tiếng bác Hiền nói vang, tiếng bác Đối thuật lại buổi xe kiếm may mắn. Trong một căn nhà đưa ra một tiếng võng và tiếng hát lanh lảnh của bác Đối gái, đã đem hết tiền buổi xe kiếm được của chồng vào hiệu khách mua một cân táo tầu rồi nằm võng vừa nhai vừa hát trống quân: “Ngày xưa, có anh Trương Chi... |
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
- Chất thơ thể hiện ở việc Thạch lam cảm nhận được cái đẹp của cuộc sống nghèo nàn:
+ Đêm trăng mùa hạ, đá dải đường đen lay láy, đất còn giữ được cái nóng của buổi trưa hè.
→ Hình ảnh xóm chợ yên bình.
+ Trong đêm trăng ấy, mọi người trò chuyện hạnh phúc, thoải mái.
→ Cảm giác bình yên, thanh thản. Mặc dù nghèo những cuộc sống rất bình yên, đời sống tinh thần rất phong phú.
|
Câu 8. Em hiểu thế nào về thân phận "những kẻ ngụ cư" của mẹ Lê và những nhà khác trong xóm? Từ đó, hãy nhận xét thái độ của những người dân khác đối với "những kẻ ngụ cư" ấy. |
Phương pháp
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Thân phận của những kẻ ngụ cư: Là thân phận dưới đáy, thấp kém. Đời sống bấp bênh, không ruộng đất, không tài sản. Cuộc sống phụ thuộc vào việc đi làm thuê, làm mướn. Họ không chỉ nghèo mà còn bị coi như thứ cỏ rác của hương thôn bị đối xử rất tàn nhẫn.
|
Câu 9. Thông qua cái chết của mẹ Lê, Thạch Lam muốn phản ánh hiện thực đời sống nào? |
Phương pháp
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
Thông qua cái chết của mẹ Lê, Thạch Lam đã phản ánh hiện thực đời sống cơ hàn, nghèo khổ và thực sự bế tắc của người dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám 1945.
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Viết bài luận phân tích vẻ đẹp của nhân vật mẹ Lê trong truyện ngắn Nhà mẹ Lê của Thạch Lam
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
* Đảm bảo kết cấu (mở bài, thân bài, kết bài).
a. Mở bài:
- Giới thiệu về tác giả Thạch Lam, tác phẩm Nhà mẹ Lê.
- Nêu vấn đề: Phân tích vẻ đẹp của nhân vật mẹ Lê trng truyện ngắn Nhà mẹ Lê của Thạch Lam.
b. Thân bài:
- Giới thiệu mẹ Lê:
+ Đây là một người mẹ đông con, một mình nuôi con, chồng mất không có sự đỡ đần, không có chỗ dựa.
+ Là người dân xóm ngụ cư.
- Vẻ đẹp của mẹ Lê:
+ Mẹ Lê là một người có tâm hồn biết yêu thương (Mẹ Lê với Hy, mẹ Lê với người chồng quá cố của mình,...)
+ Sẵn sàng hi sinh vì con (trong lúc túng thiếu, bị đẩy đến mức bần hàn, mẹ Lê đã cố gắng đi xin ăn cho con
để rồi bị chó cắn dẫn đến cái chết).
+ Là người lạc quan, không than vãn.
- Nhận xét:
+ Thạch Lam thấu hiểu con người lao động và trân trọng những vẻ đẹp của họ. Ông giúp chúng ta nhận ra
cuộc sống vốn thật khốn khổ nhưng vẫn ẩn chứa vẻ đẹp.
+ Đây không phải là câu chuyện xuất sắc nhất của Thạch Lam nhưng đã khiến người đọc hình dung ra hoàn
cảnh khốn cùng của người dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám 1945.
c. Kết bài: Đánh giá lại vấn đề.
trithuchub.com
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP10
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
