Đề thi giữa kì 2 Ngữ Văn 11
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
|
SỞ KIẾN HÀNH (Nguyễn Du) Hữu phụ huề tam nhi Tương tương toạ đạo bàng Tiểu giả tại hoài trung Đại giả trì trúc khuông Khuông trung hà sở thịnh Lê hoắc tạp tì khang Nhật án bất đắc thực Y quần hà khuông nhương Kiến nhân bất ngưỡng thị Lệ lưu khâm lang lang Quần nhi thả hỉ tiếu Bất tri mẫu tâm thương Mẫu tâm thương như hà Tuế cơ lưu dị hương Dị hương sảo phong thục Mễ giá bất thậm ngang Bất tích khí hương thổ Cẩu đồ cứu sinh phương Nhất nhân kiệt dung lực Bất sung tứ khẩu lương Duyên nhai nhật khất thực Thử kế an khả trường Nhãn hạ uỷ câu hác Huyết nhục tự sài lang Mẫu tử bất túc tuất Phủ nhi tăng đoạn trường Kỳ thống tại tâm đầu Thiên nhật giai vị hoàng Âm phong phiếu nhiên chí Hành nhân diệc thê hoàng. Tạc tiêu Tây Hà dịch Cung cụ hà trương hoàng Lộc cân tạp ngư xí Mãn trác trần trư dương Trưởng quan bất hạ trợ Tiểu môn chỉ lược thường Bát khí vô cố tích Lân cẩu yếm cao lương Bất tri quan đạo thượng Hữu thử cùng nhi nương Thuỳ nhân tả thử đồ Trì dĩ phụng quân vương |
NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY (Nguyễn Du) Có người đàn bà dắt ba đứa con Cùng nhau ngồi bên đường Đứa nhỏ trong bụng mẹ Đứa lớn cầm giỏ tre Trong giỏ đựng gì lắm thế? Rau lê, hoắc lẫn cám Qua trưa rồi chưa được ăn Áo quần sao mà rách rưới quá Thấy người không ngẩng nhìn Nước mắt chảy ròng ròng trên áo Lũ con vẫn vui cười Không biết lòng mẹ đau Lòng mẹ đau ra sao? Năm đói lưu lạc đến làng khác Làng khác mùa màng tốt hơn Giá gạo không cao quá Không hối tiếc đã bỏ làng đi Miễn sao tìm được phương tiện sống Một người làm hết sức Không đủ nuôi bốn miệng ăn Dọc đường mỗi ngày đi ăn mày Cách ấy làm sao kéo dài mãi được Thấy trước mắt cái lúc bỏ xác bên ngòi rãnh Máu thịt nuôi lang sói Mẹ chết không thương tiếc Vỗ về con càng thêm đứt ruột Trong lòng đau xót lạ thường Mặt trời vì thế phải vàng úa Gió lạnh bỗng ào tới Người đi đường cũng đau đớn làm sao Hành nhân diệc thể hoàng. Đêm qua ở trạm Tây Hà Tiệc tùng cung phụng khoa trương quá mức Gân hươu cùng vây cá Đầy bàn thịt heo, thịt dê Quan lớn không thèm đụng đũa Đám theo hầu chỉ nếm qua Vứt bỏ không luyến tiếc Chó hàng xóm cũng ngán món ăn ngon Không biết trên đường cái Có mẹ con đói khổ nhà này Ai người vẽ bức tranh đó Đem dâng lên nhà vua |
Trả lời câu hỏi:
Câu 1. Dòng nào cung cấp thông tin cơ bản về bài thơ Những điều trông thấy?
A. Bài thơ rút trong Thanh Hiên thi tập, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.
B. Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.
C. Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, thơ tự do.
D. Bài thơ rút trong Nam trung tạp ngâm, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.
Câu 2. Dòng nào sau đây không thuộc nội dung bài thơ?
A. Cảnh mẹ con người ăn mày: nhếch nhác, tiều tụy, đói khát.
B. Tiệc tùng dư thừa món ngon vật lạ của quan lại.
C. Ngẫm về những phi lí ở đời.
D. Ra tay cứu giúp, nâng đỡ kẻ đói nghèo.
Câu 3. Đối tượng trữ tình chính của bài thơ:
A. Những đứa bé con người ăn mày.
B. Người mẹ với nỗi đau đứt ruột.
C. Người mẹ và đàn con hành khất.
D. Bữa tiệc dư thừa của quan lại.
Câu 4. Cảm xúc/ cảm hứng bao trùm bài thơ:
A. Đồng cảm, xót thương.
B. Căm phẫn sự bất công phi lí.
C. Lên án sự thờ ơ của người đời.
D. Giễu những cảnh đời trái ngược.
Câu 5. Chi tiết nào không gợi cảnh ngộ khốn khổ của mẹ con người ăn mày?
A. Áo quần sao mà rách rưới.
B. Qua trưa rồi chưa được ăn.
C. Nước mắt chảy ròng ròng trên áo.
D. Làng khác mùa màng tốt hơn.
Câu 6. Những từ ngữ nào diễn tả lòng thương cảm của nhà thơ?
A. Giá gạo không cao quá/ Không hối tiếc đã bỏ làng đi.
B. Không biết lòng mẹ đau/Lòng mẹ đau ra sao?
C. Một người làm hết sức/Không đủ nuôi bốn miệng ăn.
D. Thấy trước mắt cái lúc bỏ xác bên ngòi rãnh.
Câu 7. Dòng thơ nào diễn tả nỗi hy sinh (vì con) của người mẹ
A. Mẹ chết không thương tiếc
B. Vỗ về con càng thêm đứt ruột
C. Trong lòng đau xót lạ thường
D. Mặt trời vì thế phải vàng úa
Câu 8. Bốn câu thơ sau diễn tả điều gì?
Trong lòng đau xót lạ thường
Mặt trời vì thế phải vàng úa
Gió lạnh bỗng ào tới
Người đi đường cũng đau đớn làm
A. Nỗi lòng thương con của người mẹ nghèo.
B. Nỗi lòng thương cảm người bất hạnh của thi hào Nguyễn Du.
C. Lòng người và đất trời cùng đau xót trước cảnh đời bất hạnh
D. Thiên nhiên khắc nghiệt khiến lòng người đau đớn hơn
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 9. Xác định những câu/ đoạn thơ chứa nghệ thuật đối lập và phân tích hiệu quả của chúng trong việc phản ánh hiện thực và thể hiện cảm xúc (1đ)
Câu 10. Em thích khổ thơ/ dòng thơ/ hình ảnh nào nhất? Chúng mang tới cho em cảm xúc, nhận thức mở mẻ hay làm sâu sắc hơn cảm xúc, nhận thức đã có (1đ)
II. VIẾT (4,0 điểm)
Viết bài luận: Thuyết minh (giới thiệu) tác phẩm Sở kiến hành (Những điều trông thấy) – Nguyễn Du với các bạn cùng khối 11 trong ngoại khóa văn học của trường
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
B |
D |
C |
A |
D |
B |
A |
C |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1. Dòng nào cung cấp thông tin cơ bản về bài thơ Những điều trông thấy? A. Bài thơ rút trong Thanh Hiên thi tập, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên. B. Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên. C. Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, thơ tự do. D. Bài thơ rút trong Nam trung tạp ngâm, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Lời giải chi tiết:
Dòng cung cấp thông tin cơ bản về bài thơ Những điều trông thấy: Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên
→ Đáp án B
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu 2. Dòng nào sau đây không thuộc nội dung bài thơ? A. Cảnh mẹ con người ăn mày: nhếch nhác, tiều tụy, đói khát. B. Tiệc tùng dư thừa món ngon vật lạ của quan lại. C. Ngẫm về những phi lí ở đời. D. Ra tay cứu giúp, nâng đỡ kẻ đói nghèo. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Dòng không thuộc nội dung bài thơ: Ra tay cứu giúp, nâng đỡ kẻ đói nghèo
→ Đáp án: D
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu 3. Đối tượng trữ tình chính của bài thơ: A. Những đứa bé con người ăn mày. B. Người mẹ với nỗi đau đứt ruột. C. Người mẹ và đàn con hành khất. D. Bữa tiệc dư thừa của quan lại. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Lời giải chi tiết:
Đối tượng trữ tình chính của bài thơ: Người mẹ và đàn con hành khất
→ Đáp án C
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu 4. Cảm xúc/ cảm hứng bao trùm bài thơ: A. Đồng cảm, xót thương. B. Căm phẫn sự bất công phi lí. C. Lên án sự thờ ơ của người đời. D. Giễu những cảnh đời trái ngược. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ, chú ý những chi tiết thể hiện cảm xúc/ cảm hứng của tác giả
Lời giải chi tiết:
Cảm xúc/ cảm hứng bao trùm bài thơ: Đồng cảm, xót thương
→ Đáp án A
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Câu 5. Chi tiết nào không gợi cảnh ngộ khốn khổ của mẹ con người ăn mày? A. Áo quần sao mà rách rưới. B. Qua trưa rồi chưa được ăn. C. Nước mắt chảy ròng ròng trên áo. D. Làng khác mùa màng tốt hơn. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ và đáp án
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Chi tiết không gợi cảnh ngộ khốn khổ của mẹ con người ăn mày: Làng khác mùa màng tốt hơn
→ Đáp án D
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Câu 6. Những từ ngữ nào diễn tả lòng thương cảm của nhà thơ? A. Giá gạo không cao quá/ Không hối tiếc đã bỏ làng đi. B. Không biết lòng mẹ đau/Lòng mẹ đau ra sao? C. Một người làm hết sức/Không đủ nuôi bốn miệng ăn. D. Thấy trước mắt cái lúc bỏ xác bên ngòi rãnh. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ và đáp án
Lời giải chi tiết:
Những từ ngữ diễn tả lòng thương cảm của nhà thơ: Không biết lòng mẹ đau/Lòng mẹ đau ra sao?
→ Đáp án B
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Câu 7. Dòng thơ nào diễn tả nỗi hy sinh (vì con) của người mẹ A. Mẹ chết không thương tiếc B. Vỗ về con càng thêm đứt ruột C. Trong lòng đau xót lạ thường D. Mặt trời vì thế phải vàng úa |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ và đáp án
Lời giải chi tiết:
Dòng thơ diễn tả nỗi hy sinh (vì con) của người mẹ: Mẹ chết không thương tiếc
→ Đáp án A
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Câu 8. Bốn câu thơ sau diễn tả điều gì? Trong lòng đau xót lạ thường Mặt trời vì thế phải vàng úa Gió lạnh bỗng ào tới Người đi đường cũng đau đớn làm A. Nỗi lòng thương con của người mẹ nghèo. B. Nỗi lòng thương cảm người bất hạnh của thi hào Nguyễn Du. C. Lòng người và đất trời cùng đau xót trước cảnh đời bất hạnh D. Thiên nhiên khắc nghiệt khiến lòng người đau đớn hơn |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bốn câu thơ
Chú ý các từ ngữ: đau xót, vàng úa, đau đớn
Lời giải chi tiết:
Bốn câu thơ diễn tả: Lòng người và đất trời cùng đau xót trước cảnh đời bất hạnh
→Đáp án C
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Câu 9. Xác định những câu/ đoạn thơ chứa nghệ thuật đối lập và phân tích hiệu quả của chúng trong việc phản ánh hiện thực và thể hiện cảm xúc (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về nghệ thuật đối lập
Lời giải chi tiết:
*Những câu / đoạn thơ chứa nghệ thuật đối lập
- Nước mắt chảy ròng ròng trên áo>< Lũ con vẫn vui cười
- Qua trưa rồi chưa được ăn/ Áo quần sao mà rách rưới quá >< Gân hươu cùng vây cá/ Đầy bàn thịt heo, thịt dê/ Quan lớn không thèm đụng đũa/ Đám theo hầu chỉ nếm qua
- Một người làm hết sức/ Không đủ nuôi bốn miệng ăn>< Vứt bỏ không luyến tiếc/ Chó hàng xóm cũng ngán món ăn ngon
* Hiệu quả: Phản ánh hiện thực và thể hiện cảm xúc
- Phản ánh hiện thực đối lập, ngang trái, bất công
- Thể hiện cảm xúc: niềm thương cảm, nỗi phẫn uất trước bất công…
Câu 10: (1.0 điểm)
|
Câu 10. Em thích khổ thơ/ dòng thơ/ hình ảnh nào nhất? Chúng mang tới cho em cảm xúc, nhận thức mở mẻ hay làm sâu sắc hơn cảm xúc, nhận thức đã có (1đ) |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS tự trả lời theo quan điểm cá nhân
- Tham khảo gợi ý: chọn khổ thơ/ dòng thơ/ hình ảnh thơ độc đáo về hình thức, giàu cảm xúc (thể hiện cảnh ngộ thương tâm của mẹ con người ăn mày; nỗi lòng thương con của người mẹ; Cảnh dư thừa phù phiếm của bọn quan lại… nỗi thương cảm của nhà thơ/ Giá trị nhân đạo…) mà em hiểu sâu sắc
- Từ đó xác định nội dung, cảm xúc, nhận thức (mới mẻ/ được cảm nhận sâu sắc hơn)
II. VIẾT (4 điểm)
|
Viết bài luận: Thuyết minh (giới thiệu) tác phẩm Sở kiến hành (Những điều trông thấy) – Nguyễn Du với các bạn cùng khối 11 trong ngoại khóa văn học của trường |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Thuyết minh (giới thiệu) tác phẩm Sở kiến hành |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu tác giả tác phẩm - Giới thiệu giá trị nổi bật của tác phẩm (nhân đạo) |
|
Thân bài |
2,5 |
- Giới thiệu ngắn về con người và sự nghiệp của tác giả - Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác và thể loại của tác phẩm - Thuyết minh về đề tài, nội dung, cảm hứng chủ đạo (dùng yếu tố nghị luận, biểu cảm) - Nghệ thuật nổi bật của tác phẩm (Yếu tố tự sự; Nghệ thuật trữ tình; nghệ thuật đối lập…) - Giá trị tư tưởng: tấm lòng nhân đạo ca cả… |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định giá trị giáo dục của tác phẩm - Tác động của tác phẩm tới nhận thức, cảm xúc bản thân |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (thuyết minh) - Phối hợp linh hoạt các yếu tố trong thuyết minh |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
MÃ GIÁM SINH MUA KIỀU
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Tóm tắt Truyện Kiều
*Gặp gỡ và đính ước:
Thúy Kiều là thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, con gái đầu lòng gia đình trung lưu, sống trong cảnh êm đềm của hai em Thúy Vân, Vương Quan. Trong buổi du xuân Thúy Kiều gặp Kim Trọng và đem lòng yêu chàng, hai người đã tự ý thề nguyền, đính ước với nhau
* Gia biến và lưu lạc:
Khi Kim Trọng về quê chịu tang chú thì gia đình Kiều gặp nạn, Kiều phải bán mình chuộc cha. Kiều bị bọn buôn người Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt, đẩy vào lầu xanh. Sau đó nàng được Thúc Sinh cứu khỏi lầu xanh, nhưng sau đó nàng bị Hoạn Thư ghen, đày đọa. Kiều tới nương tựa nơi cửa Phật. Sư giác Duyên vô tình gửi nàng cho Bạc Bà, Kiều lần hai rơi vào lầu xanh được Từ Hải cứu, giúp nàng báo ân, báo oán. Thúy Kiều mắc mưu Hồ Tôn Hiến, Từ Hải chết, nàng bị ép gả cho viên thổ quan, Kiều đau đớn nên trẫm mình xuống sông Tiền Đường tự tử. Nàng được sư Giác Duyên cứu giúp.
* Đoàn tụ:
Sau nửa năm chịu tang chú, Kim Trọng trở về, dù kết duyên với em gái Thúy Kiều là Thúy Vân nhưng trong lòng chàng vẫn khôn nguôi nhớ Kiều. Nhờ sư Giác Duyên, Kim Kiều đoàn tụ cùng vui duyên “bạn bầy”.
Sau đây là đoạn trích từ Truyện Kiều.
Gần miền có một mụ nào
Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh.
Hỏi tên rằng: Mã Giám sinh(2).
Hỏi quê, rằng: Huyện Lâm Thanh cũng gần.
Quá niên trạc ngoại tứ tuần(3),
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.
Trước thầy sau tớ lao xao
Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang.
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,
Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra.
Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,
Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng!
Ngại ngùng dợn gió (4) e sương,
Ngừng(5) hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày.
Mối càng vén tóc bắt tay,
Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai(6)
Đắn đo cân sắc cân tài,
Ép cung cầm nguyệt(7), thử bài quạt thơ.
Mặn nồng một vẻ một ưa,
Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu.
Rằng: Mua ngọc đến Lam Kiểu(8),
Sinh nghi” xin dạy bao nhiêu cho tường?
Mối rằng: đáng giá nghìn vàng,
Dớp nhà nhờ lượng người thương dám nài.
Cò kè bớt một thêm hai,
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều, NXB Khoa học xã hội, 1974)
1. Viễn Khách: khách ở xa đến. Vấn danh: hỏi tên (nhà gái phải cho biết rõ tên tuổi người con gái)
2. Mã Giám Sinh : giám sinh họ Mã. Giám sinh là tên gọi học trò ở Quốc tử giám, trưởng lớn ở kinh đô thời xưa. Giám sinh cũng có khi chỉ chức giám sức người ta mua của triều đình.
3. Tứ tuần : bốn mươi tuổi. Ý câu thơ : người đã đứng tuổi, ngoài bốn mươi.
4. Dợn gió : có cảm giác sợ gió, ngại gió.
5. Ngừng (tiếng cổ) : nhìn, ngắm.
6. Hai hình ảnh dùng để tả người phụ nữ đẹp lúc buồn rầu.
7. Ép cung cầm nguyệt: ép gảy đàn ; thử bài quạt thơ: thử tài làm thơ của Kiều.
8. Mua ngọc đến Lam Kiều : Lam Kiều là tên một cái cầu ở huyện Lam Điền, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, Huyện Lam Điển là nơi sản xuất ngọc quý. Câu này ý nói : đến đây cốt để mua được người đẹp.
9. Sính nghi : đồ dẫn cưới.
10. Dớp nhà: nhà gặp vận đen, nhà đang mắc gian truân.
Trả lời câu hỏi:
Câu 1. Dòng nào nói lên đặc điểm hình thức của văn bản Mã Giám Sinh mua Kiều?
A. Truyện thơ (thơ lục bát)
B. Thơ tự do, gieo vần lưng.
C. Thơ lục bát vần bằng.
D. Truyện thơ bác học.
Câu 2. Đọc tóm tắt và cho biết Mã Giám Sinh mua Kiều thuộc phần nào của tác phẩm?
A. Gặp gỡ và đính ước
B. Gia biến và lưu lạc
C. Đoàn tụ
D. Giới thiệu tác phẩm
Câu 3. Đoạn trích trên kể về việc:
A. Mã Giám Sinh đến làm lễ vấn danh tại nhà Kiều.
B. Mã Giám Sinh đến thử tài, ngã giá để mua Kiều.
C. Kiều buồn bã trong lễ vấn danh.
D. Mã Giám Sinh – kẻ buôn bán lọc lõi.
Câu 4. Dòng nào sau đây không nói lên con người Mã Giám Sinh?
A. Giàu có thanh lịch; oai phong.
B. Cử chỉ thiếu lịch sự, thô lỗ.
C. Bề ngoài chải chuốt.
D. Có mẽ bề ngoài.
Câu 5. Những từ ngữ nào nói lên sự giả dối, mập mờ của Mã Giám Sinh khi đến nhà Kiều?
A. Vấn danh, sính nghi; cần sắc cần tài
B. Ngã giá, ngoài bốn trăm; ép cung, thử bài quạt thơ.
C. Vấn danh, sính nghi, ngã giá, ngoài bốn trăm.
D. Mối rằng: đáng giá nghìn vàng.
Câu 6. Dòng nào không nói lên nói lên tâm trạng của Kiều trong đoạn trích trên?
A. Đau khổ
B. Tủi hổ
C. Bẽ bàng
D. E lệ, thẹn thùng
Câu 7. Dòng nào nói lên thân phận của Kiều trong đoạn trích trên?
A. Người con gái tài sắc được trân trọng.
B. Người con gái tài sắc bị mua bán.
C. Là người đẹp nên còn kiêu ki
D. Được cha mẹ chiều chuộng nên Kiều chưa muốn đi lấy chồng.
Câu 8. Những từ ngữ nào trong 2 dòng thơ: Đắn đo cân sắc cân tài/Ép cung nguyệt, thử bài quạt thơ lột tả bản chất giả dối của lễ vấn danh?
A. Đắn đo, ép cung, thử, cần.
B. Cầm nguyệt, quạt thơ
C. Cân sắc cân tài.
D. Đắn đo, ép cung.
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 9. Phân tích nghệ thuật khắc họa nhân vật Mã Giám Sinh của Nguyễn Du, từ đó thể hiện thái độ của em đối với nhân vật này (1đ)
Câu 10. Phân tích nỗi niềm đau xót, yêu thương của Nguyễn Du dành cho Kiều trong đoạn trích trên (1đ)
II. VIẾT (4,0 điểm)
Câu 1. Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)
NẠN BUÔN BÁN NGƯỜI: TỪ BẪY “VIỆC NHẸ LƯƠNG CAO” ĐẾN NẠP MÌNH CHO TỘI PHẠM
Khoảng 1 triệu người bị mua bán trên thế giới mỗi năm
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nhất là các nước Tiểu vùng sông Mekong (trong đó có Việt Nam), tình hình tội phạm mua bán người ngày phức tạp, tinh vi như lôi kéo đi du lịch, đi làm thuê thu nhập cao, xuất khẩu lao động với chi phí thấp... nhưng để lừa bán, ép buộc, cưỡng bức lao động.
Theo ước tính của Liên Hợp Quốc (LHQ), mỗi năm trên thế giới có khoảng 800.000 đến 1 triệu người bị mua bán. Như vậy có khoảng 3.000 người bị mua bán mỗi ngày. Song số vụ việc được đưa ra “ánh sáng” vẫn ở mức thấp so với thực tế và những đối tượng này vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.

(Nguồn ảnh: Internet)
Khách quan mà nói, rõ ràng đây là thách thức với bất kỳ quốc gia nào. Cơ quan Cảnh sát châu Âu ước tính rằng hơn 90% người di cư, trên hành trình đi tìm “miền đất hứa”, đã ít nhất một lần sử dụng “dịch vụ” của những kẻ buôn người.
Hơn 150 quốc gia ở tất cả các châu lục đang phải đối mặt với loại hình tội người. Theo thống kê của LHQ, có khoảng gần 25 triệu nạn nhân của nạn mua bán người trên khắp thế giới, trong đó có lao động cưỡng bức, nô lệ tình dục, buôn bán nội tạng, bắt cóc...Tuy nhiên, chỉ có khoảng 50.000 nạn nhân mua bán người được phát hiện, trong khi số tội phạm bị xử lý chỉ ở mức 3.500 trong số khoảng 510 đường dây buôn người trên toàn cầu. Trong số nạn nhân này, gần một nửa là phụ nữ, và gần 20% là trẻ em gái.[...]
Nhiều thủ đoạn tiếp cận, lừa đảo tinh vi của các đường dây tội phạm.
Kể từ năm 2011, Việt Nam đã có Luật phòng chống mua bán người, các quy đinh để xử lý loại tội phạm nguy hiểm và phi nhân tính này. Cơ quan chức năng cũng nỗ lực trong việc ngăn chặn và xử lý nghiêm các vụ việc mua bán người. Tuy nhiên, việc đi lại giữa các quốc gia, các châu lục ngày càng mở rộng như hiện nay một mặt tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động giao thương, du lịch ngày càng thuận lợi; mặt khác nó cũng khiến cho hoạt động mua bán người ngày càng trở nên tinh vi và phức tạp, khó đối phó.
Phần lớn nạn nhân bị lừa bán sang Campuchia thời gian gần đây đều thông qua mạng xã hội. Các đối tượng sử dụng thông tin giả để dụ dỗ, tạo lòng tin, lừa gạt nạn nhân. Nhẹ dạ với lời hứa việc nhẹ, lương cao, nhiều người vượt biên trá phép, tự nạp mình cho đường dây tội phạm.
(https://bom.so/OtblZC)
a. Xác định kiểu văn bản, mục đích của văn trên.
b. Phân tích mối liên hệ giữa văn bản đọc với ngữ liệu trên. Nếu một số vấn đề
được đặt ra từ 2 văn bản trên.
Câu 2. (3đ) Viết bài nghị luận: Trình bày suy nghĩ và hành động của em trước nạn
buôn người ngày càng tinh vi, xảo quyệt của thế giới phẳng. Yêu cầu: dùng 2 ngữ liệu trên làm bằng chứng và tự đặt tên cho nhan đề văn bản.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
A |
B |
B |
A |
C |
D |
B |
A |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1. Dòng nào nói lên đặc điểm hình thức của văn bản Mã Giám Sinh mua Kiều? A. Truyện thơ (thơ lục bát) B. Thơ tự do, gieo vần lưng. C. Thơ lục bát vần bằng. D. Truyện thơ bác học. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại dấu hiệu nhận biết các thể loại
Lời giải chi tiết:
Đặc điểm hình thức của văn bản Mã Giám Sinh mua Kiều: Truyện thơ (thơ lục bát)
→ Đáp án A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu 2. Đọc tóm tắt và cho biết Mã Giám Sinh mua Kiều thuộc phần nào của tác phẩm? A. Gặp gỡ và đính ước B. Gia biến và lưu lạc C. Đoàn tụ D. Giới thiệu tác phẩm |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ phần tóm tắt
Lời giải chi tiết:
Mã Giám Sinh mua Kiều thuộc phần gia biến và lưu lạc của tác phẩm
→ Đáp án: B
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu 3. Đoạn trích trên kể về việc: A. Mã Giám Sinh đến làm lễ vấn danh tại nhà Kiều. B. Mã Giám Sinh đến thử tài, ngã giá để mua Kiều. C. Kiều buồn bã trong lễ vấn danh. D. Mã Giám Sinh – kẻ buôn bán lọc lõi. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Rút ra nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích trên kể về việc: Mã Giám Sinh đến thử tài, ngã giá để mua Kiều
→ Đáp án B
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu 4. Dòng nào sau đây không nói lên con người Mã Giám Sinh? A. Giàu có thanh lịch; oai phong. B. Cử chỉ thiếu lịch sự, thô lỗ. C. Bề ngoài chải chuốt. D. Có mẽ bề ngoài. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và đáp án
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Dòng không nói lên con người Mã Giám Sinh: Giàu có thanh lịch; oai phong
→ Đáp án A
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Câu 5. Những từ ngữ nào nói lên sự giả dối, mập mờ của Mã Giám Sinh khi đến nhà Kiều? A. Vấn danh, sính nghi; cần sắc cần tài B. Ngã giá, ngoài bốn trăm; ép cung, thử bài quạt thơ. C. Vấn danh, sính nghi, ngã giá, ngoài bốn trăm. D. Mối rằng: đáng giá nghìn vàng. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và các đáp án
Lời giải chi tiết:
Những từ ngữ nói lên sự giả dối, mập mờ của Mã Giám Sinh khi đến nhà Kiều: Vấn danh, sính nghi, ngã giá, ngoài bốn trăm
→ Đáp án C
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Câu 6. Dòng nào không nói lên nói lên tâm trạng của Kiều trong đoạn trích trên? A. Đau khổ B. Tủi hổ C. Bẽ bàng D. E lệ, thẹn thùng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết thể hiện tâm trạng của Kiều trong văn bản
Lời giải chi tiết:
Dòng không nói lên nói lên tâm trạng của Kiều trong đoạn trích trên: E lệ, thẹn thùng
→ Đáp án D
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Câu 7. Dòng nào nói lên thân phận của Kiều trong đoạn trích trên? A. Người con gái tài sắc được trân trọng. B. Người con gái tài sắc bị mua bán. C. Là người đẹp nên còn kiêu ki D. Được cha mẹ chiều chuộng nên Kiều chưa muốn đi lấy chồng. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết nói lên thân phận của Kiều trong đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Dòng nói lên thân phận của Kiều: Người con gái tài sắc bị mua bán
→ Đáp án B
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Câu 8. Những từ ngữ nào trong 2 dòng thơ: Đắn đo cân sắc cân tài/Ép cung nguyệt, thử bài quạt thơ lột tả bản chất giả dối của lễ vấn danh? A. Đắn đo, ép cung, thử, cần. B. Cầm nguyệt, quạt thơ C. Cân sắc cân tài. D. Đắn đo, ép cung. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ 2 dòng thơ
Chú ý các từ ngữ lột tả bản chất giả dối của lễ vấn danh
Lời giải chi tiết:
Những từ ngữ lột tả bản chất giả dối của lễ vấn danh: Đắn đo, ép cung, thử, cần
→Đáp án A
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Câu 9. Phân tích nghệ thuật khắc họa nhân vật Mã Giám Sinh của Nguyễn Du, từ đó thể hiện thái độ của em đối với nhân vật này (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết miêu tả nhân vật Mã Giám Sinh
Lời giải chi tiết:
Chỉ bằng một vài nét chấm phá nhân vật của ông hiện ra trước mắt người đọc một cách cụ thể cả ngoại hình lẫn nội tâm
+ Cách trả lời nhát gừng, cộc lốc
+ Tác giả cố ý làm nổi bật mâu thuẫn giữa tuổi tác và cách tỉa tót, chải chuốt, cách ăn diện quá mức của y. Những từ “nhẵn nhụi”, “bảnh bao” không chỉ thể hiện được vẻ kệch cỡm của Mã Giám Sinh mà còn kín đáo bộc lộ thái độ châm biếm của Nguyễn Du
+ Cử chỉ, hành động lỗ mãng
→ Mã Giám Sinh trở thành nhân vật điển hình, có sức sống lâu bền…
- Thái độ đối với nhân vật: HS tự trả lời
Câu 10: (1.0 điểm)
|
Câu 10. Phân tích nỗi niềm đau xót, yêu thương của Nguyễn Du dành cho Kiều trong đoạn trích trên (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết, từ ngữ thể hiện nỗi niềm đau xót, yêu thương của Nguyễn Du
Lời giải chi tiết:
- Căm giận, lên án bọn buôn người giả dối
+ Chúng dùng mỹ từ để che giấu hành động bất nhân của mình: lễ vấn danh, sinh nghi, mua ngọc…
+ Nguyễn Du lột mặt nạ chúng: ép cung, ngã giá, ngoài bốn trăm…
- Thi hào thấu hiểu và diễn tả tâm trạng đau đớn của Kiều bằng nỗi xót thương:
+ “Thêm hoa một bước lệ hoa mấy hàng” gợi vẻ đẹp của Kiều, vừa bộc lộ nỗi đau đớn, xót xa. Nước mắt tuôn rơi theo mỗi bước chân của Kiều
+ Kiều đau đớn, ê chề cho cảnh ngộ, trở thành món hàng: Mối càng vén tóc, bắt tay/ Đắn đo cân sắc cân tài/ Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ…
→ Thi hào đau đớn khi người tài sắc bị chà đạp…
II. VIẾT (4 điểm)
Câu 1. (1đ)
a. Xác định kiểu văn bản, mục đích của văn trên.
b. Phân tích mối liên hệ giữa văn bản đọc với ngữ liệu trên. Nếu một số vấn đề
được đặt ra từ 2 văn bản trên.
Phương pháp giải
a. Đọc kĩ văn bản và rút ra nội dung chính và xác định mục đích
b. Đọc kĩ 2 văn bản
Lời giải chi tiết
a. Kiểu văn bản: thông tin; Mục đích: Cảnh báo một loại hình phạm tội phức tạp để người dân cảnh giác; các tổ chức chung tay phá án để hạn chế sự gia tăng…
b. Phân tích mối liên hệ giữa văn bản đọc với ngữ liệu trên: Đề cập đến nạn buôn người, cách kiến tiền bất nhân
Một số vấn đề 2 văn bản đặt ra: Làm giàu bất nhân: buôn bán người; Làm giàu trên thân xác phụ nữ; Tội phạm xuyên quốc gia với chiêu “việc nhẹ lương cao”; Chung tay chống tội phạm buôn người; Nâng cao hiểu biết để không trở thành nạn nhân của bọn buôn người…
Câu 2. (3đ) Viết bài nghị luận: Trình bày suy nghĩ và hành động của em trước nạn
buôn người ngày càng tinh vi, xảo quyệt của thế giới phẳng. Yêu cầu: dùng 2 ngữ liệu trên làm bằng chứng và tự đặt tên cho nhan đề văn bản.
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Trình bày suy nghĩ và hành động của em trước nạn buôn người ngày càng tinh vi, xảo quyệt của thế giới phẳng (đặt tên cho văn bản) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Giới thiệu vấn đề: nạn buôn người + đặt tên văn bản - Thái độ cá nhân đối với luận đề/tính cấp thiết của vấn đề |
|
Thân bài |
2,0 |
- Giới thiệu ngắn luận đề/ biểu hiện cụ thể (phương thức tinh vi của công nghệ thông tin) - Nguyên nhân khiến nạn buôn người ngày càng gia tăng + Ở kẻ phạm tội + Ở phía nạn nhân - Hậu quả của nạn buôn người (lao động cưỡng bức, nô lệ tình dục, buôn bán nội tạng, bắt cóc…) - Lên án, tố cáo hành động bất nhân - Đề xuất một số giải pháp *Lưu ý: dùng 2 ngữ liệu trên làm bằng chứng |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề - Hành động cụ thể của cá nhân |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Thể hiện rõ chính kiến của cá nhân - Phối hợp linh hoạt các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản:
TỜ HOA
(Nguyễn Tuân)
Tại một công trường làm đường Tây Bắc, 1966.
Tôi nhìn ra cái tàu lăn nghiến đá mặt đường mới, nhìn ra những kíp thợ xây dựng mở đường, nhìn ra một tổ ong của anh chị em làm đường vừa mang được ong chúa về. Cửa sổ buồng tôi viết, lúc nào cũng nhộn nhịp cánh tay người và những cánh ong quen dần với tổ mới. Ong bay trên trang sổ tay tôi. Ong tua tròn trên trang giấy chữ nhật trắng, như là tàu bay đảo nhiều vòng, chờ lệnh hạ cánh xuống. Buồng bên có người bị ong đốt. Bởi vì người đó hoảng hốt vừa giết ong một cách không cần thiết, và ngửi thấy mùi máu, bọn ong cùng tổ xông tới đốt. Rồi ong cũng lăn ra chết, linh hồn xuất theo luôn với nọc đốt. Con ong bé cũng như con với to, vốn tính lành nhưng khiêu khích chúng thì chúng đánh lại ngay, dẫu rằng có phải lấy bổn mạng ra mà trả lời. Anh cán bộ địa chất liền cho tôi mượn một số tạp chí khoa học có mấy trang về nuôi ong. Giờ tôi mới biết rằng đó là một thế giới đây sinh thủ. Đời sống con ong để lại cho người đọc nó là một bài học về tính kiên nhẫn, cần lao, về tích lũy, về chế tạo và sáng tạo. Người ta đã đánh dấu con ong, theo dõi nó, và thấy rằng cái giọt mật làm ra đó, là kết quả của 2.700.000 chuyến (bay) di, đi từ tổ nó đến khắp các nơi có hoa trong vùng. Và trong nửa lít mật ong đóng chai, phân chất ra được 5 vạn thứ hoa. Tính ra thành bước chân người thì tổng cộng đường bay của con ong đó là 8.000.000 cây số.
Giữa rừng Tây Bắc đầy hoa, đầy bướm, đầy ong, cái tôi thấy say say trong chính mình là mặc dầu không được một chuyến di bằng một đời ong, mình cũng là một con sinh vật đang nung một thứ mật gì. Sự tích luỹ ở mình cũng ngày càng có giọt ra mà phần nào đem thơm thảo vào sự sống. Đối hoa xuân, lắng ong mật mà thêm ngầm tới dàn bướm tốt mã chấp chới bay, lộng lẫy những sắc phấn của sáo ngữ ồn ào. Bước phù phiếm cũng bay vào hoa, nhưng cặp cánh hào nhoáng chẳng để lại gì. Từ ngày lịch sử tiến hoá loài người, chưa ai nói đến mật bướm.
Người ta hay nhắc đến mang nặng đẻ đau. Có những quá trình không phải là hoài thai, không đẻ gì (theo nghĩa hẹp và theo nghĩa đen sinh học) nhưng rất khổ đau và nặng nhọc đèo bòng. Ngọc trai nguyên chỉ là một hạt cát, một hạt bụi biển xâm lăng vào vỏ trai, lòng trai. Cái bụi bặm khách quan nơi rốn bể lẻn vào cửa trai. Trai xót lòng. Máu trai liền tiết ra một thứ nước rãi bọc lấy cái hạt buốt sắc. Có những cơ thể trai đã chết ngay vì hạt cát từ đầu bên ngoài gieo vào giữa lòng mình (và vì trai chết nên cát bụi kia vẫn chỉ là hạt cát). Nhưng có những cơ thể trai vẫn sống, sống lấy máu, lấy rãi mình ra mà bao phủ lấy cái hạt đau xót. Tới một thời gian nào đó, hạt cát khối tình con, cộng với nước mắt hạch trai đã trở thành lõi sáng của một hạt ngọc tròn trặn ánh ngời.
Buổi ban đầu vào nghề viết cách đây vài chục năm, khi nhìn chuỗi ngọc trên cổ người “con hát” một thời Thăng Long tôi mới chỉ liên hệ nhân cát ngọc với mảy bụi cát kiếp người nơi thập điều Kinh Thánh. Cho tới gần đây tôi mới biết rõ thân thể của ngọc trai. Biết nhìn nó không phải chỉ ở chặng thành tựu chót cùng nơi cổ nơi ngón con người ta, mà là nhìn thấy được nó ở một quá trình lâu dài, đầu kia quá trình là một vết thương lòng và đầu này là quá trình là một niềm vui. Đầu kia quá trình là một cơn giận dữ tự vệ, đầu này quá trình là một giọt tài nguyên. Tổ quốc ta bao la cát bãi.
Tôi đã lấy cách nhìn hạt ngọc mà nhìn vào sự biểu dương một công tác, một công trạng, một công trình. Cũng bằng cái cách đó mà hiểu được bước sinh trưởng của một đoá hoa thơm, trước khi nó được làm cái nụ đầu thai vào vườn người. Nhìn ngọn hoa sáng chói công khai giữa bầu giời mà không khỏi không bận lòng vì lũ rễ cái, rễ con trong bóng tối lòng đất kín: rễ trong kia chỉ liên lạc được với hoa ngoài đây bằng con đường nhựa đắng duy nhất của ruột mình. Nhìn bông hoa nở tập kết nơi đất Bắc (1963) càng thấy bồi hồi vì cái rễ máu mình đang thọc sâu rừng Tây Nguyên, rừng U Minh, thọc sâu và đội lên cả gạch đá phố Sài Gòn.
(Trích Tờ hoa, Tuyển tập Nguyễn Tuân (tập 2), NXB Văn học, 1998, trang 5-7).
Câu hỏi:
Câu 1: Dòng nào không nói lên đặc điểm của văn bản Tờ hoa?
A. Chất trữ tình; chất khảo cứu.
B. Chất trữ tình; chất truyện.
C. Chất trữ tình; hồi ức/ hồi tưởng.
D. Dựa trên tiêu chí về đề tài.
Câu 2: Yếu tố tự sự và vai trò của chúng trong văn bản Tờ hoa là:
A. Cốt truyện, sự việc, nhân vật.
B. Các sự việc mà tác giả đã trải qua.
C. Câu chuyện/ các sự việc đời sống có liên quan đến mạch cảm xúc, liên tưởng và suy ngẫm của tác giả
D. Câu chuyện/ các sự việc đời sống khơi gợi mạch cảm xúc, tình cảm của tác giả.
Câu 3: Những số liệu trong đoạn văn Từ “Người ta ... của 2.700.000 chuyến (bay) đi… đến là 8.000.000 cây số” nhằm thể hiện suy ngẫm gì của người viết?
A. Dòng cảm xúc trước con người /cuộc sống
B. Mạch liên tưởng, suy tư trước sự việc, con người
C. Tình huống nhận thức
D. Bài học về tính kiên nhẫn, cần lao, về tích lũy, về chế tạo và sáng tạo.
Câu 4: Câu văn “Sự tích lũy ở mình cũng ngày càng có giọt ra mà phần nào đem thơm thảo vào sự sống” thể hiện ý nghĩa gì trong nghề viết?
A. Quá trình thâm nhập thực tiễn đời sống sẽ tạo nên những tác phẩm hay cho đời
B. Nhà văn càng chịu khó học hỏi, thâm nhập cuộc sống sẽ đem đến giá trị, ý nghĩa cho tác phẩm
C. Nhà văn cần sống trọn vẹn với đời sống sẽ viết được những tác phẩm hay.
D. Quá trình thâm nhập, tích lũy vốn sống, vốn văn hóa sẽ giúp nhà văn tạo ra những tác phẩm nghệ thuật có giá trị, ý nghĩa.
Câu 5: Mạch gắn kết câu chuyện về con ong, về nghề văn và cách tạo ra ngọc trai thể hiện suy ngầm độc đảo nào của tác giả?
A. Hành trình gian nan để tạo ra cái Đẹp trong cuộc đời.
B. Quá trình đạt thành tựu, kết quả trong cuộc sống.
C. Sự tương đồng/ khác biệt giữa vẻ đẹp tự nhiên và sáng tạo nghệ thuật.
D. Bất kỳ vẻ đẹp nào trong đời sống cũng bắt nguồn từ sự kiên nhẫn và khổ đau.
Câu 6: Dòng nào không nổi lên những triết lí về lao động và sáng tạo nghệ thuật trong tùy bút trên?
A. Để hiểu thấu cuộc sống và sáng tạo, cần sống trọn vẹn/thâm nhập hiện thực.
B. Sáng tạo là quá trình phát hiện tình huống/sự kiện độc đáo của thực tiễn.
C. Cái Đẹp chân chính bắt nguồn từ quá trình lao động, sáng tạo thực sự.
D. Giá trị lao động thực sự sẽ tạo nên bản sắc của mỗi cá nhân.
Câu 7: Qua mạch liên tưởng về con ong và sự hình thành ngọc trai, tác giả đã phát hiện những vẻ đẹp nào của cuộc sống?
A. Vẻ đẹp của thế giới tự nhiên muôn màu.
B. Vẻ đẹp văn hóa, lịch sử, địa lý.
C. Quá trình sáng tạo, lao động trong cuộc sống.
D. Vẻ đẹp của sự kiên nhẫn, sáng tạo, khổ đau âm thầm.
Câu 8: Dòng nào không nêu lên đặc điểm cái Tôi tác giả trong tùy bút Tờ hoa?
A. Mong muốn, khao khát khám phá những vùng đất mới của Tổ Quốc.
B. Ý thức với nghề, mong muốn thức tỉnh tâm linh con người về cái Đẹp.
C. Tự tin, tự hào với vẻ đẹp con người, dân tộc thời kỳ mới.
D. Say mê, khao khát khám phá cái Đẹp.
Trả lời câu hỏi/thực hiện yêu cầu:
Câu 9. Nhan đề Tờ hoa gợi cho em những suy ngẫm gì về vẻ đẹp của trang văn với trang đời? Từ đó, nhận xét cảm hứng chủ đạo trong văn bản (1đ)
Câu 10. Em có đồng ý với nhận định “Tôi đã lấy cách nhìn hạt ngọc mà nhìn vào sự biểu dương một công tác, một công trạng, một công trình” không? Vì sao?(0.5đ)
II. VIẾT (4 điểm)
Hãy lựa chọn một số từ ngữ sau, kết nối chúng để viết bài văn nghị luận với chủ đề: Giá trị tinh thần ý nghĩa nhất đối với tôi (từ 1,5- 2 trang)

-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
A |
D |
C |
D |
A |
D |
C |
B |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1: Dòng nào không nói lên đặc điểm của văn bản Tờ hoa? A. Chất trữ tình; chất khảo cứu. B. Chất trữ tình; chất truyện. C. Chất trữ tình; hồi ức/ hồi tưởng. D. Dựa trên tiêu chí về đề tài. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Dòng không nói lên đặc điểm của văn bản Tờ hoa: Chất trữ tình; chất khảo cứu
→ Đáp án: A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu 2: Yếu tố tự sự và vai trò của chúng trong văn bản Tờ hoa là: A. Cốt truyện, sự việc, nhân vật. B. Các sự việc mà tác giả đã trải qua. C. Câu chuyện/ các sự việc đời sống có liên quan đến mạch cảm xúc, liên tưởng và suy ngẫm của tác giả D. Câu chuyện/ các sự việc đời sống khơi gợi mạch cảm xúc, tình cảm của tác giả. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các yếu tố tự sự có trong văn bản
Lời giải chi tiết:
Yếu tố tự sự: Câu chuyện/ các sự việc đời sống
Vai trò: khơi gợi mạch cảm xúc, tình cảm của tác giả.
→ Đáp án: D
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu 3: Những số liệu trong đoạn văn Từ “Người ta ... của 2.700.000 chuyến (bay) đi… đến là 8.000.000 cây số” nhằm thể hiện suy ngẫm gì của người viết? A. Dòng cảm xúc trước con người /cuộc sống B. Mạch liên tưởng, suy tư trước sự việc, con người C. Tình huống nhận thức D. Bài học về tính kiên nhẫn, cần lao, về tích lũy, về chế tạo và sáng tạo. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Những số liệu trên thể hiện tình huống nhận thức của tác giả
→ Đáp án: C
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu 4: Câu văn “Sự tích lũy ở mình cũng ngày càng có giọt ra mà phần nào đem thơm thảo vào sự sống” thể hiện ý nghĩa gì trong nghề viết? A. Quá trình thâm nhập thực tiễn đời sống sẽ tạo nên những tác phẩm hay cho đời B. Nhà văn càng chịu khó học hỏi, thâm nhập cuộc sống sẽ đem đến giá trị, ý nghĩa cho tác phẩm C. Nhà văn cần sống trọn vẹn với đời sống sẽ viết được những tác phẩm hay. D. Quá trình thâm nhập, tích lũy vốn sống, vốn văn hóa sẽ giúp nhà văn tạo ra những tác phẩm nghệ thuật có giá trị, ý nghĩa. |
Phương pháp:
Đọc kĩ câu văn
Liên kết câu văn trong chỉnh thể toàn văn bản
Lời giải chi tiết:
Câu văn thể hiện: Quá trình thâm nhập, tích lũy vốn sống, vốn văn hóa sẽ giúp nhà văn tạo ra những tác phẩm nghệ thuật có giá trị, ý nghĩa.
→ Đáp án: D
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Câu 5: Mạch gắn kết câu chuyện về con ong, về nghề văn và cách tạo ra ngọc trai thể hiện suy ngẫm độc đáo nào của tác giả? A. Hành trình gian nan để tạo ra cái Đẹp trong cuộc đời. B. Quá trình đạt thành tựu, kết quả trong cuộc sống. C. Sự tương đồng/ khác biệt giữa vẻ đẹp tự nhiên và sáng tạo nghệ thuật. D. Bất kỳ vẻ đẹp nào trong đời sống cũng bắt nguồn từ sự kiên nhẫn và khổ đau. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý chi tiết con ong, cách tạo ra ngọc trai và mạch gắn kết với nghề viết văn
Lời giải chi tiết:
Mạch gắn kết: tất cả là biểu hiện cho hành trình gian nan để tạo ra cái Đẹp trong cuộc đời
→ Đáp án: A
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Câu 6: Dòng nào không nói lên những triết lí về lao động và sáng tạo nghệ thuật trong tùy bút trên? A. Để hiểu thấu cuộc sống và sáng tạo, cần sống trọn vẹn/thâm nhập hiện thực. B. Sáng tạo là quá trình phát hiện tình huống/sự kiện độc đáo của thực tiễn. C. Cái Đẹp chân chính bắt nguồn từ quá trình lao động, sáng tạo thực sự. D. Giá trị lao động thực sự sẽ tạo nên bản sắc của mỗi cá nhân. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Dòng không nói lên những triết lí về lao động và sáng tạo nghệ thuật trong tùy bút trên:
Giá trị lao động thực sự sẽ tạo nên bản sắc của mỗi cá nhân
→ Đáp án: D
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Câu 7: Qua mạch liên tưởng về con ong và sự hình thành ngọc trai, tác giả đã phát hiện những vẻ đẹp nào của cuộc sống? A. Vẻ đẹp của thế giới tự nhiên muôn màu. B. Vẻ đẹp văn hóa, lịch sử, địa lý. C. Quá trình sáng tạo, lao động trong cuộc sống. D. Vẻ đẹp của sự kiên nhẫn, sáng tạo, khổ đau âm thầm. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Qua mạch liên tưởng về con ong và sự hình thành ngọc trai, tác giả đã phát hiện những vẻ đẹp trong quá trình sáng tạo, lao động trong cuộc sống
→ Đáp án: C
Câu 8 (0.5 điểm)
|
Câu 8: Dòng nào không nêu lên đặc điểm cái Tôi tác giả trong tùy bút Tờ hoa? A. Mong muốn, khao khát khám phá những vùng đất mới của Tổ Quốc. B. Ý thức với nghề, mong muốn thức tỉnh tâm linh con người về cái Đẹp. C. Tự tin, tự hào với vẻ đẹp con người, dân tộc thời kỳ mới. D. Say mê, khao khát khám phá cái Đẹp. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Đặc điểm cái tôi tác giả trong tùy bút Tờ hoa:
Ý thức với nghề, mong muốn thức tỉnh tâm linh con người về cái Đẹp
→ Đáp án B
Câu 9 (1.0 điểm)
|
Câu 9. Nhan đề Tờ hoa gợi cho em những suy ngẫm gì về vẻ đẹp của trang văn với trang đời? Từ đó, nhận xét cảm hứng chủ đạo trong văn bản (1đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ nhan đề và nội dung văn bản
Lời giải chi tiết:
- Nhan đề Tờ hoa:
+ Nghĩa tường minh: nói về những trang văn có ý nghĩa, có giá trị đẹp, giống như hoa trong cuộc sống – vốn biểu tượng cho sự tinh túy của tự nhiên, đất trời
+ Nghĩa biểu tượng: thể hiện tuyên ngôn nghệ thuật của Nguyễn Tuân, gắn vẻ đẹp nghệ thuật với cuộc sống: Để viết được những trang văn đầy sắc hương có ích cho đời “như hoa” thì người nghệ sĩ phải luôn lao tâm, khổ tứ, nhiều khi phải âm thầm, xót xa, khổ đau, phải được sống, được tận mắt chứng kiến cuộc đời cũng như có một gia tài văn hóa sâu rộng, phong phú
- Cảm hứng chủ đạo: Yêu thương, say mê trước vẻ đẹp đất nước, con người mới sau Cách mạng tháng Tám. Trân trọng quá trình lao động sáng tạo, hình thành vẻ đẹp trong tự nhiên và đời sống. Những yêu thương, say mê đó hóa thành tâm hồn với những dòng xúc cảm, rung động giàu liên tưởng
Câu 10 (1.0 điểm)
|
Câu 10. Em có đồng ý với nhận định “Tôi đã lấy cách nhìn hạt ngọc mà nhìn vào sự biểu dương một công tác, một công trạng, một công trình” không? Vì sao?(0.5đ) |
Phương pháp:
Nêu quan niệm của bản thân
Phân tích nhận định
Lời giải chi tiết:
- Câu văn trên được hiểu là: Khi nhìn thấy thành quả/ thành tựu, ta cần nhận thấy, hiểu được quá trình gian nan, khó nhọc, nhiều khi âm thầm, đau đớn, xót xa để đạt được nó
- HS có thể nêu quan điểm cá nhân, dựa vào gợi ý sau:
+ Cần có sự đánh giá quá trình khi nhận xét một kết quả, một thành tích
+ Cần có sự ghi nhận, trân trọng công sức, lao động sáng tạo thực sự của con người
PHẦN II –LÀM VĂN (4 điểm)
Hãy lựa chọn một số từ ngữ sau, kết nối chúng để viết bài văn nghị luận với chủ đề: Giá trị tinh thần ý nghĩa nhất đối với tôi (từ 1,5- 2 trang)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài nghị luận về giá trị tinh thần của tôi |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Lựa chọn từ ngữ kết nối với giá trị bản thân - Nêu rõ vấn đề nghị luận (ước mơ/khát vọng…) |
|
Thân bài |
2,5 |
Gồm các ý chính như sau: 1. Giải thích và nêu biểu hiện của vấn đề 2. Bàn luận – Chứng minh làm rõ ý nghĩa vấn đề - Gồm ít nhất 2 lí lẽ dẫn chứng thể hiện: + Ý nghĩa đối với nhận thức, hành động bản thân + Tác động tới sự kết nối, hòa nhập cộng đồng của cá nhân - Quan điểm của người viết rõ ràng, toàn diện *Lưu ý: Lập luận chặt chẽ, dẫn chứng cụ thể, xác thực; kết hợp yếu tố biểu cảm; mở rộng góc nhìn đa chiều nhưng đảm bảo phù hợp với giá trị văn hóa dân tộc, nhân loại) |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định vai trò của vấn đề nghị luận - Liên hệ nhận thức, hành động bản thân khi tìm được giá trị tinh thần ý nghĩa nhất: + Thay đổi nhận thức khi có điểm tựa tinh thần + Hành động cụ thể: Cần làm gì để giữ gìn và phát huy động lực, sức mạnh từ giá trị tinh thần ý nghĩa nhất đó |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 4
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản:
MIẾNG NGON HÀ NỘI
(Vũ Bằng)
Kỳ lạ đến thế là cùng, Hà Nội ạ!
Hà Nội... ngon... quá xá! Hà Nội ngon không mãi chỉ ngon về những miếng ngon đặc biệt, nhưng ngon từ cách ăn uống ngon đi, ngon từ cách rao hàng quà ngon xuống, ngon từ cách trình bày ngon tới, ngon từ cách thái miếng thịt, chia miếng bánh ngon lui.
[...] Miếng ngon của Hà Nội có phải đâu là mấy thứ đó mà thôi, Hà Nội ngon là ngon từ cái dưa, quả cà, trách mắm; Hà Nội ngon là ngon từ bát canh hoa lý nấu suông, mấy cái trứng cáy chưng lên ăn với gạo Mễ Trì hay đĩa rau muống xào có gia thêm một chút mắm tôm, Hà Nội ngon là ngon từ miếng cá thu kho với nước mía ăn với gạo tám thơm vào đầu đông, mấy bìa đậu sống ở Phú Thụy chấm với mắm tôm chanh ớt vào một ngày oi bức hay một chén sấu dầm nhắm nhót một ngày đìu hiu vào cuối thu.
Thực vậy, ăn một bữa cháo ám mà thiếu thìa là, cải cúc thì còn ra trò gì? Thưởng thức một bữa mắm tôm chua, mà về gia vị không tìm được mấy cánh lá bạc hà hay một chút rau thơm, nhất định không thể nào toàn bích. Cũng vậy, người nội trợ muốn làm ăn khéo tay đến mấy đi nữa, mà canh dưa nấu lạc thiếu rau diếp và mùi tô điểm, hay ăn cuốn mà không có giấm cái, thang mà không có mắm tôm, thì cũng không thể làm cho ta mãn nguyện. Ôi là miếng ngon Hà Nội! Cái ngon thiên hình vạn trạng làm cho người ta cảm thấy say sưa cuộc sống còn; cái ngon làm cho người ta thương mến nước non, thương mến từ cái cây, ngọn cỏ thương đi, thương mến từ con cá, miếng thịt của đồng bào mà thương lại; cái ngon làm cho người ta tự bắt buộc phải quý hóa từ mấy lá thìa là, cải cúc, từ một xóc cua đồng, từ mấy ngọn húng láng của những người nơi thôn ổ đã chăm chút trồng nên [...].
Cái ngon của Hà Nội thật là phiền toái mà kiểu cách. Người vợ thương chồng muốn làm nên một miếng ăn ngon, thực quả đã công phu; những công phu, vất vả đến chừng nào đi nữa mà thấy chồng sung sướng thì cũng đã thấy được đền bù đầy đủ lắm rồi... Huống chi, nhiều lúc, miếng ăn ngon lại còn trói buộc tinh thần người ta lại với nhau, tưởng như không có cách gì khả dĩ chia lìa được...
Một buổi kia, thân thể anh cũng mỏi mệt như linh hồn anh, anh tự nhiên thấy nhớ đến một bát canh rau sắng do tự tay vợ nấu, một đĩa chè kho vợ quấy, một con chim ngói nhồi cốm nấm hương, và thịt thăn do vợ hầm. Những món ăn đó có những liên hệ tinh thần bí mật và tế nhị nối ta với gia đình, làm cho ta không thể nào quên được. Đi xa, có khi nhớ mà se sắt cả lòng, ăn uống mất cả dâng lên nghẹn họng. Ta tương tư tất cả những miếng ngon Hà Nội đã chiếm lòng hoa rơi, một câu hát của người thiếu phụ ru con trên võng... đều nhắc nhở ta nhớ ta. Một ngọn gió thay chiều, một trận mưa xanh lạnh, một con chim hót, một cánh đến một thời trên, một miếng ngon đặc biệt của Hà Nội mến yêu. [...]
Ôi nhớ biết mấy, cảm bao nhiêu! Tả làm sao được những cảm giác nhẹ nhàng và tế nhị của những buổi sáng Chủ nhật lên chợ Đồng Xuân, ta đi vào khu hàng quà, cách dãy hàng cây, hàng cá mươi mười lăm bước? Thật quả là “trên thì trời, dưới thì hàng quà, ông ạ. Phải tới đó một hai lần rồi, người ta mới có thể có một “khái niệm tổng quát” về miếng ngon Hà Nội và thấu hiểu rằng miếng ngon liên kết các giai cấp xã hội với nhau chặt chẽ đến chừng nào. Tà áo màu tươi bay cạnh bộ com lê xám; vai áo tứ thân phai màu sát với cái khăn quàng bằng nỉ màu vàng lợt. Người ta ngồi ở trên những cái ghế dài, thưởng thức các miếng ngon Hà Nội vui vẻ như anh em ruột thịt trong một nhà, người này thấy món nọ ngon thì mách người kia, người kia thấy thức kia kém thì bảo cho người nọ. Hết thảy đều vui vẻ tươi cười. Và trông thấy những cái miệng nhai dẻo quẹo, những con mắt như cười, những nét mặt nở nang, tươi thắm ở trên những hàng quà tinh khiết đó, người ta cảm giác thấy đời ít nhất cũng có một cái gì ý vị […]
Quái lạ là cái miếng ngon! Mỗi thứ nhắc lại cho ta những kỷ niệm vui hay buồn, mỗi thứ nhắc lại cho ta một thời kỳ đã qua đi không trở lại. Miếng ngon Hà Nội nhiều biết bao nhiêu! Yêu miếng ngon Hà Nội nhiều biết chừng nào![...]
Miếng ngon của Hà Nội bao giờ cũng thế, cũng trầm lặng như vậy và cũng tiết ra một hương thơm như vậy. Hương thơm đó ngạt ngào, quyến luyến như một lời tâm sự của người xưa để lại cho người sau, như một lời ân ái của tình nhân để lại cho tình nhân, như một lời tâm sự của một người anh yêu mến gởi cho cô em gái. Bao giờ phai lạt được những niềm yêu thương ấy? Bao giờ “ăn Bắc” lại không có nghĩa là ăn ngon? Ta mơ ước một ngày đất nước thanh bình, toàn dân sát cánh với nhau ăn mừng Đại Nhật bằng một bữa tiệc vĩ đại có đủ hết cả những miếng ngon Hà Nội.
(https://goeco.link/1THKO)
Câu hỏi:
Câu 1. Xác định đề tài chính của tùy bút Miếng ngon Hà Nội.
A. Văn hóa ẩm thực.
B. Món ngon của quê hương
C. Ẩm thực Hà Thành
D. Tình cảm vợ chồng
Câu 2. Dòng nào nêu đặc điểm của văn bản Miếng ngon Hà Nội trên?
A. Chất trữ tình; chất truyện.
B. Dựa trên tiêu chí về đề tài.
C. Chất trữ tình; chất khảo cứu.
D. Chất trữ tình; hồi ức/ hồi tưởng.
Câu 3. Yếu tố tự sự thể hiện trong văn bản Miếng ngon Hà Nội là:
A. Lịch sử xuất hiện các món ăn ngon của Hà Nội.
B. Ký ức về việc thưởng thức các món ngon, về sự chế biến công phu, tinh tế của người nấu.
C. Ký ức về việc thưởng thức các món ngon, về sự chế biến cầu kỳ của người vợ.
D. Câu chuyện/các sự việc đời sống khơi gợi mạch cảm xúc, tình cảm của tác giả.
Câu 4. Những cảm hứng nào được kết hợp khi viết về đề tài ẩm thực của văn bản trên:
A. Cảm hứng lãng mạn, cảm hứng bi kịch.
B. Cảm hứng thế sự, cảm hứng anh hùng.
C. Cảm hứng văn hóa - lịch sử, cảm hứng trữ tình/lãng mạn.
D. Cảm hứng văn hóa - lịch sử, cảm hứng anh hùng.
Câu 5. Mạch liên tưởng các câu chuyện về món ngon Hà Nội trong văn bản trên là:
A. Niềm nhớ thương, hoài vọng về con người, mảnh đất quê hương.
B. Thương nhớ quê hương và gia đình Bắc Việt
C. Thể hiện thế giới tinh thần và đời sống tình cảm tác giả.
D. Thể hiện vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của người viết.
Câu 6. Sự kết hợp yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình trong câu văn sau có ý nghĩa gì?
“Cái ngon thiên hình vạn trạng làm cho người ta cảm thấy say sưa cuộc sống còn; cái ngon làm cho người ta thương mến nước non, thương mến từ cái cây, ngọn cỏ thương đi, thương mến từ con cá, miếng thịt của đồng bào mà thương lại; cái ngon làm cho người ta tự bắt buộc phải quý hóa từ mấy lá thìa là, cải cúc, từ một xóc cua đồng, từ mấy ngọn húng láng của những người nơi thôn ổ đã chăm chút trồng nên”.
A. Thể hiện lối thưởng thức hương hoa đất trời tinh tế của người Hà Thành.
B. Sự khéo léo, tinh tế trong việc chọn nguyên liệu, chế biến các món ngon.
C. Thưởng thức món ngon khơi nguồn mạch thương nhớ về nơi chôn rau cắt
D. Thưởng thức món ăn chính là việc cảm nhận cái tinh túy/vẻ đẹp của hồn người, hồn đất quê hương.
Câu 7. Vì sao tác giả cho rằng “Những món ăn đó có những liên hệ tinh thần bí mật và tế nhị nối ta với gia đình, làm cho ta không thể nào quên được”
A. Vì mỗi món ăn gắn liền với một kỷ niệm/kí ức của gia đình.
B. Vì món ăn gắn liền với cỏ cây, sản vật gia đình, quê hương.
C. Vì gắn với tấm lòng của người chế biến, gợi nhắc vẻ đẹp tinh túy của quê hương.
D. Vì việc thưởng thức các món ăn được nhìn qua lăng kính hoài niệm.
Câu 8. Qua dòng cảm xúc hồi tưởng về các món ăn, tác giả đã phát hiện những vẻ đẹp nào trong văn hóa ẩm thực của người Hà Thành?
A. Gu chế biến món ăn giàu tính thẩm mĩ, văn hóa-lịch sử.
B. Lối thưởng thức hương hoa cuộc sống thanh lịch, tinh tế gắn liền với nỗ nhớ về nơi chôn rau cắt rốn.
C. Sau các món ăn, đó là nét đẹp cần mẫn, sáng tạo của con người.
D. Văn hóa ẩm thực luôn gắn liền với hương sắc quê hương.
Trả lời câu hỏi/thực hiện yêu cầu:
Câu 9. Cảm hứng chủ đạo trong Món ngon Hà Nội là gì? Từ đó, nhận xét chân dung tinh thần cái Tôi tác giả (1đ)
Câu 10. Em có đồng ý món ngon Hà Nội tiết ra “Hương thơm… ngạt ngào, quyến luyến như một lời tâm sự của người xưa để lại cho người sau” không? Vì sao? (1đ)
II. VIẾT (4 điểm)
Câu 1. Quan sát hai bức ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)


a. Tìm điểm tương đồng và khác biệt của hai bức ảnh trên
b. Bức ảnh nào liên quan tới chủ đề của văn bản Miếng ngon Hà Nội. Phân tích làm rõ sự kiện liên quan đó
Câu 2. Hãy lựa chọn một số từ ngữ sau, kết nối chúng để viết bài văn nghị luận với chủ đề: Bản sắc dân tộc – Những vẻ đẹp vượt thời gian (từ 1,5-2 trang) (3đ)

-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
A |
D |
B |
C |
A |
A |
C |
B |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1. Xác định đề tài chính của tùy bút Miếng ngon Hà Nội. A. Văn hóa ẩm thực. B. Món ngon của quê hương C. Ẩm thực Hà Thành D. Tình cảm vợ chồng |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và tiêu đề
Lời giải chi tiết:
Đề tài chính của tùy bút Miếng ngon Hà Nội: Văn hóa ẩm thực
→ Đáp án: A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu 2. Dòng nào nêu đặc điểm của văn bản Miếng ngon Hà Nội trên? A. Chất trữ tình; chất truyện. B. Dựa trên tiêu chí về đề tài. C. Chất trữ tình; chất khảo cứu. D. Chất trữ tình; hồi ức/ hồi tưởng. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết tiêu biểu thể hiện đặc điểm của văn bản
Lời giải chi tiết:
Đặc điểm của văn bản Miếng ngon Hà Nội trên: Chất trữ tình; hồi ức/ hồi tưởng
→ Đáp án: D
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu 3. Yếu tố tự sự thể hiện trong văn bản Miếng ngon Hà Nội là: A. Lịch sử xuất hiện các món ăn ngon của Hà Nội. B. Ký ức về việc thưởng thức các món ngon, về sự chế biến công phu, tinh tế của người nấu. C. Ký ức về việc thưởng thức các món ngon, về sự chế biến cầu kỳ của người vợ. D. Câu chuyện/các sự việc đời sống khơi gợi mạch cảm xúc, tình cảm của tác giả. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các chi tiết thể hiện yếu tố tự sự
Lời giải chi tiết:
Yếu tố tự sự thể hiện trong văn bản Miếng ngon Hà Nội là: Ký ức về việc thưởng thức các món ngon, về sự chế biến công phu, tinh tế của người nấu
→ Đáp án: B
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu 4. Những cảm hứng nào được kết hợp khi viết về đề tài ẩm thực của văn bản trên: A. Cảm hứng lãng mạn, cảm hứng bi kịch. B. Cảm hứng thế sự, cảm hứng anh hùng. C. Cảm hứng văn hóa - lịch sử, cảm hứng trữ tình/lãng mạn. D. Cảm hứng văn hóa - lịch sử, cảm hứng anh hùng. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về một số cảm hứng tiêu biểu
Lời giải chi tiết:
Những cảm hứng được kết hợp khi viết về đề tài ẩm thực của văn bản trên: Cảm hứng văn hóa - lịch sử, cảm hứng trữ tình/lãng mạn
→ Đáp án: C
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Câu 5. Mạch liên tưởng các câu chuyện về món ngon Hà Nội trong văn bản trên là: A. Niềm nhớ thương, hoài vọng về con người, mảnh đất quê hương. B. Thương nhớ quê hương và gia đình Bắc Việt C. Thể hiện thế giới tinh thần và đời sống tình cảm tác giả. D. Thể hiện vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của người viết. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Mạch liên tưởng các câu chuyện về món ngon Hà Nội trong văn bản trên là: Niềm nhớ thương, hoài vọng về con người, mảnh đất quê hương
→ Đáp án: A
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Câu 6. Sự kết hợp yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình trong câu văn sau có ý nghĩa gì? “Cái ngon thiên hình vạn trạng làm cho người ta cảm thấy say sưa cuộc sống còn; cái ngon làm cho người ta thương mến nước non, thương mến từ cái cây, ngọn cỏ thương đi, thương mến từ con cá, miếng thịt của đồng bào mà thương lại; cái ngon làm cho người ta tự bắt buộc phải quý hóa từ mấy lá thìa là, cải cúc, từ một xóc cua đồng, từ mấy ngọn húng láng của những người nơi thôn ổ đã chăm chút trồng nên”. A. Thể hiện lối thưởng thức hương hoa đất trời tinh tế của người Hà Thành. B. Sự khéo léo, tinh tế trong việc chọn nguyên liệu, chế biến các món ngon. C. Thưởng thức món ngon khơi nguồn mạch thương nhớ về nơi chôn rau cắt D. Thưởng thức món ăn chính là việc cảm nhận cái tinh túy/vẻ đẹp của hồn người, hồn đất quê hương. |
Phương pháp:
Đọc kĩ câu văn
Chú ý các chi tiết thể hiện yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình
Lời giải chi tiết:
Yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình có ý nghĩa: Thể hiện lối thưởng thức hương hoa đất trời tinh tế của người Hà Thành
→ Đáp án: A
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Câu 7. Vì sao tác giả cho rằng “Những món ăn đó có những liên hệ tinh thần bí mật và tế nhị nối ta với gia đình, làm cho ta không thể nào quên được” A. Vì mỗi món ăn gắn liền với một kỷ niệm/kí ức của gia đình. B. Vì món ăn gắn liền với cỏ cây, sản vật gia đình, quê hương. C. Vì gắn với tấm lòng của người chế biến, gợi nhắc vẻ đẹp tinh túy của quê hương. D. Vì việc thưởng thức các món ăn được nhìn qua lăng kính hoài niệm. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Phân tích ý nghĩa cụm từ “liên hệ tinh thần”
Lời giải chi tiết:
Tác giả cho rằng “Những món ăn đó có những liên hệ tinh thần bí mật và tế nhị nối ta với gia đình, làm cho ta không thể nào quên được” vì: Vì những món ăn đó gắn với tấm lòng của người chế biến, gợi nhắc vẻ đẹp tinh túy của quê hương
→ Đáp án: C
Câu 8 (0.5 điểm)
|
Câu 8. Qua dòng cảm xúc hồi tưởng về các món ăn, tác giả đã phát hiện những vẻ đẹp nào trong văn hóa ẩm thực của người Hà Thành? A. Gu chế biến món ăn giàu tính thẩm mĩ, văn hóa-lịch sử. B. Lối thưởng thức hương hoa cuộc sống thanh lịch, tinh tế gắn liền với nỗ nhớ về nơi chôn rau cắt rốn. C. Sau các món ăn, đó là nét đẹp cần mẫn, sáng tạo của con người. D. Văn hóa ẩm thực luôn gắn liền với hương sắc quê hương. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Qua dòng cảm xúc hồi tưởng về các món ăn, tác giả đã phát hiện những vẻ đẹp trong văn hóa ẩm thực của người Hà Thành: Lối thưởng thức hương hoa cuộc sống thanh lịch, tinh tế gắn liền với nỗ nhớ về nơi chôn rau cắt rốn
→ Đáp án B
Câu 9 (1.0 điểm)
|
Câu 9. Cảm hứng chủ đạo trong Món ngon Hà Nội là gì? Từ đó, nhận xét chân dung tinh thần cái Tôi tác giả (1đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào những phân tích ở các câu trên
Lời giải chi tiết:
- Cảm hứng chủ đạo: Niềm thương nhớ, nuối tiếc, quyến luyến nếp sống của cha ông qua việc thưởng thức các món ngon Hà Nội
- Chân dung tinh thần cái Tôi tác giả: Say mê, ca ngợi ẩm thực Hà Thành; nhớ thương/ phát hiện được lối thưởng thức hương hoa cuộc sống thanh lịch , tinh tế; nhớ quà, nhớ người, nhớ đất, nhớ quê hương; trân trọng, tự hào giá trị văn hóa dân tộc…
Câu 10 (1.0 điểm)
|
Câu 10. Em có đồng ý món ngon Hà Nội tiết ra “Hương thơm… ngạt ngào, quyến luyến như một lời tâm sự của người xưa để lại cho người sau” không? Vì sao? (1đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào những phân tích ở các câu trên
Đưa ra quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Theo tác giả, món ngon Hà Nội tiết ra hương thơm… như lời tâm sự của người xưa kể lại cho đời sau vì:
+ Thông qua món ăn, hiểu nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc
+ Món ăn tái hiện đời sống hiện thực, không gian tâm tình của con người thời đại
+ Món ăn là cầu nối gắn kết con người các thế hệ , một thành tố thể hiện tầm vóc văn hóa dân tộc
- HS căn cứ vào gợi ý trên đưa ra quan điểm cá nhân
PHẦN II –LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Quan sát hai bức ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)
a. Tìm điểm tương đồng và khác biệt của hai bức ảnh trên
b. Bức ảnh nào liên quan tới chủ đề của văn bản Miếng ngon Hà Nội. Phân tích làm rõ sự kiện liên quan đó
Phương pháp giải
a. Quan sát kĩ 2 bức ảnh và đưa ra nhận xét về điểm tương đồng và khác biệt
b. Đưa ra quan điểm cá nhân , sau đó tìm mối liên quan
Lời giải chi tiết
a. Điểm tương đồng: Đều đề cập đến nét đẹp văn hóa giao lưu cộng đồng/xã hội.
- Điểm khác biệt: Bức 1 nói về sự giao thoa văn hóa trên thế giới; bức 2 nói đến sinh hoạt văn hóa cộng đồng của đồng bào Tây Nguyên (Việt Nam).
b. Bức 2 liên quan đến chủ đề của văn bản đọc: Bản sắc dân tộc/vùng/miền được hình thành qua các hoạt động gắn kết, sinh hoạt với quê hương.
- HS đọc kỹ văn bản, tự tìm mối liên quan: việc thưởng thức, chế biến món ăn của người Hà Thành (qua các thời kỳ lịch sử) đã tạo thành giá trị văn hóa ẩm thực độc đáo – cơ sở hình thành bản sắc dân tộc Việt.
Câu 2. Hãy lựa chọn một số từ ngữ sau, kết nối chúng để viết bài văn nghị luận với chủ đề: Bản sắc dân tộc – Những vẻ đẹp vượt thời gian (từ 1,5-2 trang) (3đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài nghị luận về Bản sắc dân tộc – Những vẻ đẹp vượt thời gian (HS lựa chọn 1 từ ngữ thể hiện giá trị tinh thần ý nghĩa nhất với bản thân) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Lựa chọn từ ngữ kết nối với bản sắc dân tộc (một trong các yếu tố hoặc kết hợp) Ví dụ: Phong tục-văn hiến-Bản sắc dân tộc; Lịch sử- văn hiến- trang phục-bản sắc dân tộc; Tín ngưỡng/tôn giáo- Bản sắc dân tộc... - Khẳng định giá trị vượt thời gian của vấn đề đã lựa chọn. |
|
Thân bài |
1,5 |
Gồm các ý chính như sau: 1. Giải thích và nêu biểu hiện của giá trị văn hóa. 2. Bàn luận - Chứng minh làm rõ ý nghĩa vấn đề - Gồm ít nhất 2 lí lẽ kèm dẫn chứng thể hiện: + Ý nghĩa với Văn hóa truyền thống dân tộc. + Tạo cơ sở cho sự giao thoa, tiếp biến với nền văn hóa thế giới, vẫn giữ được bản sắc dân tộc . - Quan điểm của người viết rõ ràng, toàn diện. (Lập luận chặt chẽ, dẫn chứng cụ thể, xác thực; dùng yếu tố biểu cảm, mở rộng góc nhìn đa chiều, phù hợp với văn hóa dân tộc/nhân loại). |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định vai trò của vấn đề nghị luận. - Liên hệ nhận thức, hành động bản thân góp phần thay đổi nhận thức, kế thừa và phát huy giá trị bản sắc dân tộc. |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 5
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi kế tiếp
NÓ CŨNG ĐÁNH GIẶC PHẢI KHÔNG MẤY ANH
(Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi)
Tóm tắt tác phẩm Người mẹ cầm súng
Truyện viết về cuộc đời và gương chiến đấu của chị Nguyễn Thị Út Tịch, anh hùng lực lượng vũ trang tỉnh Trà Vinh trong kháng chiến chống Mỹ. Từ một cô bé nghèo đi ở đợ, chị đã đượ cách mạng giác ngộ và trưởng thành, trở thành một chiến sĩ du kích dày dạn kinh nghiệm cùng đồng đội liên tiếp lập nhiều chiến công. Lý tưởng cách mạng cũng như quyết tâm diệt ngoại xâm của người mẹ năm con cầm súng này được thể hiện qua câu nói giản dị mà khẳng khái: “Còn cái lạ quần cũng đánh”.
Đoạn trích sau đây nằm ở phần cuối tác phẩm.
Thế là Út đã là mẹ của năm đứa con. Việc nhà kéo níu hơn. Vừa làm việc, chị vừa phải trông chừng từng lúc bóng nắng ngoài giọt. Từ Cầu Kè, những ấp chiến lược giặc lập ra năm ngoái theo vết dầu loang đã bị chặn lại. Bấy giờ là lúc ta tấn công. Cái kế hoạch Xta-lây-Tay-lo của giặc ở Tam Ngãi càng rạn nứt thì công việc của người mẹ càng bận rộn và đầy hấp dẫn. Sanh chưa đầy tháng, Út lại đi công tác. Đi không nổi, con Bé bơi xuồng chở mẹ đi. Để tránh mắt giặc, Út trùm khăn kín mặt. Thường là lúc ra đi hầu như chỉ để ra đáy mua cá về chợ bán, nhưng khi về chị lại có thêm dăm chục đạn ở trong xuống. Cũng không cần phải giấu giếm khi qua bót giặc vì chính những cái bót ấy cho chị đạn. Đó là những buổi gặp gỡ kỳ lạ. Những tên lính mà Út và đội du kích đã từng bắt sống trong các trận trước, bây giờ lại trở ra đi lính. Họ nhìn ra mặt Út, tưởng như bị bắt tới nơi, nhưng qua lời chị và nhất là nhớ cái ơn cứu sống của chị năm trước, họ lại cho chị đạn. Rồi dần dần họ trở thành những cơ sở của chị, hăng hái và trung thành.
Chiều, Út chạy vô, mọi người đã chuẩn bị xong xuôi. Một chút nữa là hụt đi. Mừng quá! Chỉ tại mình dốt. Anh em cũng muốn cho Út ở nhà, vì chị mới sanh, nhưng chị không đi thì rất khó móc cơ sở. Lúc sắp lên đường, anh Mười ở tỉnh nói với Út: Chị về cho thằng nhỏ bú rồi trở ra.
Hồi nãy vì vội, Út chưa cho bú thật. Nhưng về thì trễ. Chị nói:
- Ở nhà có con Bé con tôi nó quấy bột rồi.
- Chị cứ về cho cháu bú. Anh em chờ
Út bơi xuồng về. Chị chọc cho con dậy bú. Con bú no, chị chọc lét cho nó cười, rồi hối hả đi. Trời mưa như trút nước. Nửa đêm hôm đó, anh Tịch và Út bò vào móc cơ sở, mở cửa rào dẫn một cánh đột vô. Vợ chồng Út lại thu được ba cây súng và rổ lựu đạn hôm qua. Bộ đội tràn vô khắp ấp, lùng bắt ác ôn, rượt bọn lính chạy, thu thêm một số súng. Suốt đêm, Út đi lay từng cây cọc sắt, tìm lựu đạn gài để đồng bào yên tâm phá rào.
Sáng hôm sau, những người đàn bà đi chợ Cầu Kè ngang qua ấp chiến lược Chông Nô 2, thấy một người phụ nữ đầu đội nón nhựa chiến lợi phẩm, tay cầm súng, lá cây giắt đầy mình, miệng ăn trầu đỏ tươi, đứng gác trong công sự đầu ấp. Hình ảnh ấy của Út được các bà truyền đi khắp xã cùng với tin cái ấp chiến lược kiên cố, ác ôn nhất Cầu Kè bị phá banh. Út đứng như vậy, dưới trời mưa từ ba giờ khuya tới sáng. Những tên thanh niên chiến đấu, sáng sớm tưởng ta rút, mò về, bất thần bị Út bắt giơ tay. Và cứ trông chừng hắn ta chụp tay vào lưng chỗ nào là y như chỗ đó có lựu đạn. Lúc gần rút về, một tên ác ôn chọi Út một trái lựu đạn. Trong lúc hoảng hốt, nó không rút chốt. Út nhanh mắt chụp lấy. Chị chưa kịp chọi lại nó thì anh em đã nổ cho nó một phát vào giữa ngực. Hôm đó, Út thu được một đống lựu đạn đem chất đầy vọng gác. Về nhà, trong buổi liên hoan mừng chiến thắng, anh Mười ở tỉnh ôm thằng nhỏ của Út giơ ra giữa đám đông, nói:
- Cháu à, má cháu bỏ cháu cả đêm, nhờ bác la má cháu mới về cho cháu bú đó.
Sau tiếng cười rộ lên, mọi người đều im bặt. Tất cả đều hướng về phía mẹ con xông vào ổ địch, trông chị gan lì, khác hẳn. Anh em chuyên tay nhau thăng nhỏ và cùng hôn nó.
[...] - Tôi tính vầy. Hồi cưới nhau tôi đã hứa với chú Chín Luông bận bịu đến
mấy cũng không được để chồng mất công tác, bây giờ tôi cũng phải giữ y vậy. Anh lỡ về đây rồi thì vui cho thỏa mãn với con rồi đi, vậy thôi.
Sáng hôm sau, anh Tịch đi sớm. út cũng chuẩn bị súng đạn đi công tác, tiện thể đi hỏi giá dưa ở ngoài sông. Chị em con Bé đã dậy, đang đùa giỡn nhí nhố ở trong mùng. Anh Tịch đi, nửa bụng thương vợ, nửa bụng thương con, và thương nhiều nhất là cái câu vợ nói: Anh đi cho gấp, đừng để anh em trông, rán làm sao vừa rõ mặt người là phải qua hết ven đồng…
Nhân dân Tam Ngãi cũng có một thói quen. Dù ở Ngãi Nhứt, Ngọc Hồ nhiều
vườn hay Bung Lớn nhiều lúa, dù là bà con người Kinh hay người Khơ-me, dù là
các mẹ chiến sĩ hay các cô gái trong đội văn nghệ, tất cả đều làm một việc giống
nhau: giúp đỡ gia đình Út. Nếu thấy chị em con Bé đi một mình thì người ta hiểu
rằng cha mẹ chúng đang đi đánh giặc. Và nếu lúc đó có pháo hoặc máy bay bắn
thì bất cứ ai cũng có thể ra kéo chúng xuống hầm mình. Còn gặp bữa ăn thì khỏi
nói, ai cũng cảm thấy có bổn phận ôm chúng vào nhà, cho ngồi vào mâm, và tìm
mọi cách cho chúng thấy ở đây cũng như ở nhà chúng vậy, Út đi ra trận đã bớt
phải lo con. Sau khi, tôi đi đánh giặc được Mặt trận thương, cô bác thương nên cứ đánh hoài. Bây giờ trên cho làm xã đội phó tôi cũng đánh hoài. Út vác cạc-bin
xuống ngồi gốc cây bang, mấy mẹ, mấy chị ở Láng Sắc, Trà Cú đeo dính chung
quanh. Không ai biết người mẹ nghèo năm con nhỏ làm cách nào mà vẫn còn
cầm súng được. Út sung sướng đến chảy nước mắt, trả lời lúng túng:
- Nói đến công bao bọc thì con nặng tội với cô bác hết sức, không biết chừng
nào con bù đắp lại cô bác cho đầy đủ.
Bà Sáu Hò ngồi cạnh Út, nói: - Không phải bây ăn của tao rồi bây gánh trả tao là được. Bây đánh giặc cho giỏi là bây bồi bổ lại cho tạo được rồi.
Như mọi người dân Tam Ngãi khác, đêm ấy bà Sáu Hò cũng cảm thấy vinh dự. Niềm vinh dự của những người đã biết sống xứng đáng trên miếng đất còn nghèo khổ mà đầy giặc này.
………………
Nguyễn Thi tên khai sinh là Nguyễn Hoàng Ca (bút danh khác là Nguyễn Ngọc Tấn), quê ở xã Quần Phương Thượng (nay là xã Hải Anh), huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Sáng tác của Nguyễn Thi thuộc nhiều thể loại như thơ, bút ký, truyện ngắn, tiểu thuyết,...
(*) Nhan đề do nhóm biên soạn đặt
Câu hỏi
Câu 1. Dòng nào nói lên đặc điểm thể loại của văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh
A. Truyện dài viết về cuộc đời, số phận nhân vật.
B. Truyện ngắn, viết về một lát cắt trong cuộc đời của nhân vật.
C. Truyện kí viết về gương người thật, việc thật – phụ nữ yêu nước.
D. Trích đoạn tiểu thuyết, phản ánh hiện thực rộng lớn, nhiều nhân vật.
Câu 2. Dòng nào nói lên đề tài của văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh?
A. Nam Bộ
B. Phụ nữ
C. Anh hùng
D. Yêu nước
Câu 3. Dòng nào nói lên cảm hứng chủ đạo của văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh
A. Niềm tin: trẻ em cũng chống giặc.
B. Vui mừng, ngợi ca chiến công ( yêu nước).
C. Cổ vũ tinh thần tương thân tương ái.
D. Niềm vui chiến thắng muôn nơi.
Câu 4. Nhân vật chính trong văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh:
A. Chị Út Tịch
B. Đứa con chị Út
C. Người dân Tam Ngãi
D. Anh Tịch
Câu 5. Dòng nào nói lên đặc điểm điểm nhìn trần thuật của văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh?
A. Dùng một điểm nhìn của người kể chuyện (hạn tri).
B. Phối hợp linh hoạt nhiều điểm nhìn trận thuật (bên trong, bên ngoài)
C. Di chuyển điểm nhìn trần thuật từ người kể chuyện sang nhân vật.
D. Điểm nhìn trần thuật của nhân vật chính.
Câu 6. Văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh? Kể về việc gì?
A. Ta tấn công khiến kế hoạch Xta-lây-Tay-lo ở Tam Ngãi dần bị phá hủy
B. Chị Út Tịch lập nhiều chiến công, được phong xã đội phó.
C. Những đứa con của chị Út cùng tham gia đánh giặc.
D. Bà con tại địa phương giúp đỡ gia đình chị Út để chị yên tâm công tác
Câu 7. Yếu tố phi hư cấu trong văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh là:
A. Sự việc: một tên ác ôn chọi Út một trái lựu đạn nhưng nó không rút chốt
B. Kế hoạch Xta-lây-Tay-lo ở Tam Ngãi, các địa danh, người thật – chị Út Tịch
C. Người dân Tam Ngãi tham gia đáng giặc, ủng hộ cán bộ.
D. Chị Út Tịch mẹ của năm đứa con được phong Xã đội phó.
Câu 8. Dòng nào không nói lên sự hi sinh, cống hiến của người mẹ anh hùng
A. Sanh chưa đầy tháng, Út lại đi công tác. Đi không nổi, con Bé bơi xuống chở mẹ đi.
B. Suốt đêm, Út đi lay cây cọc sắt, tìm lựu đạn gài để đồng bào yên tâm phá rào.
C. Hồi nãy vì vội, Út chưa cho bú thật. Nhưng về thì trễ.
D. Út vác cạc-bin xuống ngồi gốc cây bang, mấy mẹ, mấy chị ở Láng Sắc, Trà Cú đeo dính chung quanh.
Câu 9: Theo em, văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh? Có yếu tố hư cấu không? Hãy lựa chọn một chi tiết và phân tích đôi nét về hiệu quả nghệ thuật của chúng (1đ)
Câu 10: Nhan đề Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh? Hướng đến đối tượng nào? Tạo nên hiệu quả gì? (1đ)
II. VIẾT (4 điểm)
Quan sát bức ảnh và ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:

2. Tấm ảnh
O du kích nhỏ gương cao súng
Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu
Ra thế! To gan hơn béo bụng
Anh hùng đâu cứ phải mày râu!
(Tố Hữu)
Câu 1: Xác định mối liên quan giữa bức ảnh, bài thơ Tấm ảnh (Tố Hữu) với văn bản đọc Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh? (Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi) (0,5đ)
Câu 2: Đặt chủ đề/ vấn đề bao trùm cả nội dung của 3 tài liệu nói trên (ảnh, thơ, truyện kí) và viết bài luận về vấn đề đó. Yêu cầu sử dụng 3 tài liệu trên làm bằng chứng cho lí lẽ, luận điểm, chính kiến của bản thân (3,5đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
C |
D |
B |
A |
C |
A |
B |
D |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1. Dòng nào nói lên đặc điểm thể loại của văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh? A. Truyện dài viết về cuộc đời, số phận nhân vật. B. Truyện ngắn, viết về một lát cắt trong cuộc đời của nhân vật. C. Truyện kí viết về gương người thật, việc thật – phụ nữ yêu nước. D. Trích đoạn tiểu thuyết, phản ánh hiện thực rộng lớn, nhiều nhân vật. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại dấu hiệu nhận biết và đặc điểm của thể loại
Lời giải chi tiết:
Đặc điểm thể loại của văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh?: Truyện kí viết về gương người thật, việc thật – phụ nữ yêu nước
→ Đáp án: C
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu 2. Dòng nào nói lên đề tài của văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh? A. Nam Bộ B. Phụ nữ C. Anh hùng D. Yêu nước |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và tiêu đề
Lời giải chi tiết:
Đề tài của văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh?: Đề tài Yêu nước
→ Đáp án: D
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu 3. Dòng nào nói lên cảm hứng chủ đạo của văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh? A. Niềm tin: trẻ em cũng chống giặc. B. Vui mừng, ngợi ca chiến công (yêu nước). C. Cổ vũ tinh thần tương thân tương ái. D. Niềm vui chiến thắng muôn nơi. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, chú ý nhân vật chính và các chi tiết nổi bật
Lời giải chi tiết:
Cảm hứng chủ đạo của văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh?: Vui mừng, ngợi ca chiến công (yêu nước).
→ Đáp án: B
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu 4. Nhân vật chính trong văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh: A. Chị Út Tịch B. Đứa con chị Út C. Người dân Tam Ngãi D. Anh Tịch |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, chú ý nhân vật được tập trung khắc họa tính cách và đặc điểm
Lời giải chi tiết:
Nhân vật chính trong văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh: Chị Út Tịch
→ Đáp án: A
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Câu 5. Dòng nào nói lên đặc điểm điểm nhìn trần thuật của văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh? A. Dùng một điểm nhìn của người kể chuyện (hạn tri). B. Phối hợp linh hoạt nhiều điểm nhìn trận thuật (bên trong, bên ngoài) C. Di chuyển điểm nhìn trần thuật từ người kể chuyện sang nhân vật. D. Điểm nhìn trần thuật của nhân vật chính. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về điểm nhìn trần thuật
Xác định điểm nhìn trần thuật của văn bản
Lời giải chi tiết:
Đặc điểm điểm nhìn trần thuật của văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh?: Di chuyển điểm nhìn trần thuật từ người kể chuyện sang nhân vật.
→ Đáp án: C
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Câu 6. Văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh? Kể về việc gì? A. Ta tấn công khiến kế hoạch Xta-lây-Tay-lo ở Tam Ngãi dần bị phá hủy B. Chị Út Tịch lập nhiều chiến công, được phong xã đội phó. C. Những đứa con của chị Út cùng tham gia đánh giặc. D. Bà con tại địa phương giúp đỡ gia đình chị Út để chị yên tâm công tác |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh? Kể về việc: Ta tấn công khiến kế hoạch Xta-lây-Tay-lo ở Tam Ngãi dần bị phá hủy
→ Đáp án: A
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Câu 7. Yếu tố phi hư cấu trong văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh là: A. Sự việc: một tên ác ôn chọi Út một trái lựu đạn nhưng nó không rút chốt B. Kế hoạch Xta-lây-Tay-lo ở Tam Ngãi, các địa danh, người thật – chị Út Tịch C. Người dân Tam Ngãi tham gia đáng giặc, ủng hộ cán bộ. D. Chị Út Tịch mẹ của năm đứa con được phong Xã đội phó. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về yếu tố phi hư cấu (những yếu tố có thật trong lịch sử)
Xác định yếu tố phi hư cấu trong văn bản
Lời giải chi tiết:
Yếu tố phi hư cấu trong văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh là: Kế hoạch Xta-lây-Tay-lo ở Tam Ngãi, các địa danh, người thật – chị Út Tịch
→ Đáp án: B
Câu 8 (0.5 điểm)
|
Câu 8. Dòng nào không nói lên sự hi sinh, cống hiến của người mẹ anh hùng A. Sanh chưa đầy tháng, Út lại đi công tác. Đi không nổi, con Bé bơi xuống chở mẹ đi. B. Suốt đêm, Út đi lay cây cọc sắt, tìm lựu đạn gài để đồng bào yên tâm phá rào. C. Hồi nãy vì vội, Út chưa cho bú thật. Nhưng về thì trễ. D. Út vác cạc-bin xuống ngồi gốc cây bang, mấy mẹ, mấy chị ở Láng Sắc, Trà Cú đeo dính chung quanh. |
Phương pháp:
Đọc kĩ các đáp án
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Dòng không nói lên sự hi sinh, cống hiến của người mẹ anh hùng: Út vác cạc-bin xuống ngồi gốc cây bang, mấy mẹ, mấy chị ở Láng Sắc, Trà Cú đeo dính chung quanh.
→ Đáp án D
Câu 9 (1.0 điểm)
|
Câu 9: Theo em, văn bản Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh? Có yếu tố hư cấu không? Hãy lựa chọn một chi tiết và phân tích đôi nét về hiệu quả nghệ thuật của chúng (1đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, nhớ lại đặc điểm thể loại
Lựa chọn chi tiết, chú ý những hình ảnh nổi bật và phân tích hiệu quả nghệ thuật
Lời giải chi tiết:
- Có sử dụng hư cấu: Chi tiết, cảm xúc/ tâm lý nhân vật (không hư cấu sự việc)
- Các chi tiết: Còn gặp bữa ăn thì khỏi nói, ai cũng cảm thấy có bổn phận ôm chúng vào nhà, cho ngồi vào mâm, và tìm mọi cách cho chúng thấy ở đây cũng như ở nhà chúng vậy; Niềm vinh dự của những người đã biết sống xứng đáng trên miếng đất còn nghèo khổ mà đầy giặc này; mấy mẹ, mấy chị ở Láng Sắc, Trà Cú đeo dính chung quanh
- Hiệu quả nghệ thuật :
+ Thể hiện được tinh thần yêu nước trong nhân dân, sự đồng lòng đánh giặc; người anh hùng đánh giặc trưởng thành từ nhân dân, sống trong vòng tay của nhân dân
+ Thể hiện được lẽ sống của người dân, hào khí của thời đại (những người đã biết sống xứng đáng trên miếng đất còn nghèo khổ mà đầy giặc này)
Câu 10 (1.0 điểm)
|
Câu 10: Nhan đề Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh? Hướng đến đối tượng nào? Tạo nên hiệu quả gì? (1đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ nhan đề và nêu tác dụng
Lời giải chi tiết:
- Nhan đề hướng đến những đứa con của chị Út, đặc biệt là cậu bé mới sinh
- Sức hấp dẫn cho văn bản, khiến người đọc theo dõi để xem “nó” là ai mà cũng tham gia đánh giặc
PHẦN II –LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1: Xác định mối liên quan giữa bức ảnh, bài thơ Tấm ảnh (Tố Hữu) với văn bản đọc Nó cũng đánh giặc phải không mấy anh? (Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi) (0,5đ)
Câu 2: Đặt chủ đề/ vấn đề bao trùm cả nội dung của 3 tài liệu nói trên (ảnh, thơ, truyện kí) và viết bài luận về vấn đề đó. Yêu cầu sử dụng 3 tài liệu trên làm bằng chứng cho lí lẽ, luận điểm, chính kiến của bản thân (3,5đ)
Phương pháp giải
1. Quan sát kĩ bức ảnh, bài thơ và đọc kĩ văn bản đọc
Xác định mối liên quan
2. Đọc kĩ văn bản
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết
Câu 1. Cùng phản ánh hiện thực: phụ nữ Việt Nam anh hùng trong chiến tranh vệ quốc
Câu 2. HS tự lựa chọn, đặt tên chủ đề theo phát hiện, suy luận, nhận thức của cá nhân
- Tham khảo gợi ý sau:
+Phụ nữ Việt Nam anh hùng
+ Phụ nữ trong chiến tranh vệ quốc
+ Anh hùng đâu cứ phải mày râu!
|
Xác định chủ đề mà em cho là cần thiết nhất đối với thanh niên để triển khai thành bài luận |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu 2 ngữ liệu: các thể loại khác nhau cùng chủ đề… - Nêu vấn đề nghị luận/luận đề |
|
Thân bài |
1,5 |
- Luận điểm 1: Luận đề thể hiện qua văn bản đọc (Câu chứa luận điểm + lí lẽ, dẫn chứng) - Luận điểm 2: Luận đề thể hiện qua bức ảnh (Câu chứa luận điểm+ lí lẽ, dẫn chứng) - Luận điểm 3: Luận đề thể hiện qua bài thơ (Câu chứa luận điểm + lí lẽ, dẫn chứng) *Lưu ý: Có thể triển khai các luận điểm theo cách khác (chiều dọc của vấn đề) cần phải đảm bảo logic và thể hiện rõ vấn đề nghị luận và quan điểm của cá nhân về vấn đề cần bàn luận |
|
Kết bài |
0,5 |
- Suy nghĩ của cá nhân về vai trò của người phụ nữ trong các thời đại (bình đẳng giới) - Nhận thức và hành động của cá nhân |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại nghị luận (luận đề, luận điểm…; Dẫn chứng tiêu biểu, đa dạng phù hợp với lí lẽ, luận điểm, thể hiện chính kiến của cá nhân) |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 6
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
NHỮNG NỖI LÒNG TÊ TÁI *
(Trích Truyện Kiều)
Lầu xanh mới rủ trướng đào,
Càng treo giá ngọc, càng cao phẩm người.
Biết bao bướm lả ong lơi,
Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm.
Dập dìu lá gió cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh. (1)
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân?
Mặc người mưa Sở, mây Tần, (2)
Riêng mình nào biết có xuân là gì?
Đòi phen gió tựa hoa kề,
Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu.
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!
Đòi phen nét vẽ câu thơ,
Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa.
Thờ ơ gió trúc mưa mai,
Ngẩn ngơ trăm nỗi, dùi mài một thân.
Ôm lòng đòi đoạn xa gần,
Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau!
Dặm nghìn nước thẳm non xa,
Nghĩ đâu thân phận con ra thế này.
Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?
Mối tình đòi đoạn vò tơ,
Giấc hương quan luống lần mơ canh dài.
Song sa vò võ phương trời,
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng.
Đã cho lấy chữ hồng nhan,
Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân.
Đã đày vào kiếp phong trần,
Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi!
Song sa vò võ phương trời,
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng
Chú thích:
* Tên đoạn trích: Do GS.TS Trần Đình Sử đặt
- Đoạn trích: Đây là đoạn thơ miêu tả tâm trạng đau đớn, ê chề của Thúy Kiều sau khi buộc phải tiếp khách ở lầu xanh.
Khi biết rơi vào lầu xanh, Kiều đã tự tử, nhưng không chết. Định liều chạy trốn theo Sở Khanh nhưng lại bị lừa, bị đánh đập tàn nhẫn, cuối cùng phải tiếp khách.
(1) Tống Ngọc, Trường Khanh: Tống Ngọc, người nước Sở đời Xuân Thu; Tràng Khanh tức Tư Mã Tương Như, người đời nhà Hán. Tống Ngọc và Trường Khanh, cả hai đều có tài văn học và cũng đều đẹp trai, lãng mạn, đa tình. Tác giả mượn hai nhân vật này, chủ yếu nói lên sự tiếp khách của Kiều đối với đối tượng nào. Vì sớm tối, Kiều phải tiếp khách nhưng toàn là khách phong lưu tài tử (như Tống Ngọc, Tràng Khanh), chớ không phải khách tầm thường. Và cũng do đó, nhờ Kiều mà thanh lâu của mụ Tú Bà càng nổi tiếng, càng đắt khách
(2) Mây Sở mưa Tần: tác giả Truyện Kiều mượn cái tính chất của bọn đầu cơ chính trị để nói đến cái tính chất của khách làng chơi từ xa đâu đâu đến, ý nói về khách làng chơi ở khắp nơi đến để thỏa mãn thú vui và thanh toán sòng phẳng cho Tú Bà.
Trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1. Không gian mở đầu đoạn trích là không gian như thế nào? Không gian ấy có gì đối lập với tâm trạng của Thúy Kiều?
Câu 2. Từ nội dung chính của đoạn trích trong phần chú thích và câu trả lời ở câu hỏi 1, em hãy cho biết đoạn trích trên có thể chia bố cục như thế nào?
Câu 3. Em hiểu thế nào về câu thơ:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!
Câu thơ này đã thể hiện rõ một bút pháp miêu tả tâm lí đặc sắc của Nguyễn Du, đó là bút pháp nào? Hãy trình bày cách hiểu của em về bút pháp nghệ thuật đó
Câu 4. Lựa chọn một đoạn miêu tả tâm trạng của Kiều trong đoạn trích và phân tích
Câu 5. Viết đoạn văn nghị luận khoảng 12 câu, phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo được Nguyễn Du thể hiện trong đoạn trích trên
II. VIẾT
Viết bài văn khoảng 2/3 trang giấy phân tích, đánh giá đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Những nỗi lòng tê tái trên.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
|
Câu 1. Không gian mở đầu đoạn trích là không gian như thế nào? Không gian ấy có gì đối lập với tâm trạng của Thúy Kiều? |
Phương pháp:
Đọc tác phẩm, tổng hợp nội dung.
Lời giải chi tiết:
- Không gian được miêu tả:
Biết bao bướm lả ong lơi,
Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm.
Dập dìu lá gió cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh.
→ Một không khí thật là náo nhiệt, ồn ào, bận rộn, đúng như một cảnh làm ăn rất thịnh vượng nơi thị thành.
- Tâm trạng của Kiều: Tâm trạng triền miên trong chuỗi ngày tiếp khách. Ngày tháng chỉ là một sự chồng chất và kéo dài. Nỗi lòng Kiều hiện lên những lúc vắng vẻ, khi xong việc tự đối diện với chính mình. Đó là nỗi đau thầm kín đằng sau các hoạt động tiếp khách.
|
Câu 2. Từ nội dung chính của đoạn trích trong phần chú thích và câu trả lời ở câu hỏi 1, em hãy cho biết đoạn trích trên có thể chia bố cục như thế nào? |
Phương pháp:
Đọc, phân tích, tổng hợp.
Lời giải chi tiết:
Có thể chia bố cục theo tâm trạng của Kiều:
- Đoạn 1 (Từ đầu đến “Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh”): Giới thiệu không gian chung và hoàn cảnh của Kiều.
- Đoạn 2 (Tiếp theo đến “Riêng mình nào biết có xuân là gì?”): Nỗi thương thân, xót thân, tiếc thân.
- Đoạn 3 (Tiếp theo đến “Ngẩn ngơ trăm nỗi, dùi mài một thân.”): Nỗi buồn và bẽ bàng, cô đơn một mình
- Đoạn 4 (Tiếp theo đến “Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng”): Nỗi nhớ cha mẹ, người yêu và mối tình của Vân và Trọng.
- Đoạn cuối (Còn lại): Tình cảm đay nghiến số phận, oán trách số phận, lên án sự bất công của tạo hóa
|
Câu 3. Em hiểu thế nào về câu thơ: Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ! Câu thơ này đã thể hiện rõ một bút pháp miêu tả tâm lí đặc sắc của Nguyễn Du, đó là bút pháp nào? Hãy trình bày cách hiểu của em về bút pháp nghệ thuật đó |
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Lời giải chi tiết:
- Cách hiểu về câu thơ: Cảnh vật bị chi phối bởi tâm trạng, nếu tâm trạng vui vẻ, hạnh phúc nhìn đâu cũng thấy cảnh đẹp, ngược lại nếu tâm trạng chán chường, mệt mỏi thì chỉ thấy cảnh vật ủ dột, đau thương. Kiều đang trải qua những tháng ngày tồi tệ, đau đớn vậy nên cảnh đẹp hay không khí có náo nhiệt thế nào đối với nàng cũng chỉ là sầu thảm
- Bút pháp: Tả cảnh ngụ tình, cảnh là công cụ nhưng mục đích là miêu tả tâm trạng, nội tâm bên trong
|
Câu 4. Lựa chọn một đoạn miêu tả tâm trạng của Kiều trong đoạn trích và phân tích |
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Lời giải chi tiết:
(Tham khảo đoạn phân tích của GS. TS Trần Đình Sử)
Kiều không chỉ đau cho mình. Nàng đau đớn thương xót người thân. Nàng là người con có hiếu, có nghĩa, có tình, cho nên:
Ôm lòng đòi đoạn xa gần,
Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau!
Trước hết là nàng nhớ cha mẹ ngày một già, thương cha mẹ không có người chăm nom. Nhưng thương nhất là câu này:
Dặm nghìn nước thẳm non xa,
Nghĩ đâu thân phận con ra thế này.
Cha mẹ bao giờ cũng mong con hạnh phúc, gửi gắm hy vọng vào con, thế mà thân phận con đã thay đổi ô nhục, cha mẹ xa xôi không biết mà đau lòng!
Thứ hai là thương người tình và mong em gái thay mình lấy chàng:
Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?
Cuối cùng là nỗi lòng nhớ về quê hương của người con lưu lạc:
Mối tình đòi đoạn vò tơ,
Giấc hương quan luống lần mơ canh dài.
Song sa vò võ phương trời,
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng.
Nhà thơ đã hai lần nhắc đến từ “đòi đoạn” – nỗi đau tan nát. Có lẽ nói những nỗi lòng tan nát hợp hơn là những nỗi lòng tê tái chăng ? Trong nỗi lòng Kiều, nổi lên tình cảm đau đớn vì tha hương lưu lạc và cảm giác thời gian kéo dài nặng nề vô nghĩa.
|
Câu 5. Viết đoạn văn nghị luận khoảng 12 câu, phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo được Nguyễn Du thể hiện trong đoạn trích trên |
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Lời giải chi tiết:
- Hình thức: Đoạn văn khoảng 12 câu, theo đúng cấu trúc đoạn (diễn dịch hoặc quy nạp hoặc tổng phân hợp)
- Nội dung:
Giá trị hiện thực:
+ Số phận đầy nghiệt ngã của người phụ nữ khi bị bán vào lầu xanh, không thể quyết định được số phận của mình.
+ Xã hội trọng nam khinh nữ, người phụ nữ bị bán rẻ, coi khinh và chỉ là thú vui cho những tay làng chơi chà đạp
Giá trị nhân đạo:
+ Thương cảm, xót xa cho số phận của Thúy Kiều.
+ Trân trọng vẻ đẹp đức hạnh của nàng (vẫn luôn hiếu thảo, chung tình và hướng về gia đình).
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
Viết bài văn khoảng 2/3 trang giấy phân tích, đánh giá đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Những nỗi lòng tê tái trên.
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
a. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Những nỗi lòng tê tái
b. Phân tích:
1. Hoàn cảnh, không khí nơi Kiều bị bán gả vào lầu xanh:
Kiều là một cô gái đẹp, cho nên ngày tiếp khách của nàng trở thành ngày hội của lầu xanh đối với mọi khách làng chơi :
Lầu xanh mới rủ trướng đào,
Càng treo giá ngọc, càng cao phẩm người.
Biết bao bướm lả ong lơi,
Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm.
Dập dìu lá gió cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh.
Một không khí thật là náo nhiệt, ồn ào, bận rộn, đúng như một cảnh làm ăn rất thịnh vượng nơi thị thành.
Nhưng đó chỉ là bề ngoài, nó hoàn toàn tương phản với những nỗi lòng tê tái của nhân vật. Nguyễn Du rất biết khai thác các tương phản để miêu tả nỗi lòng, biết phân tích sự khác biệt bề ngoài và bề trong. Phải hiểu cái bề trong tâm hồn mới hiểu được phẩm giá của Kiều.
Cả đoạn thơ này tác giả không miêu tả cảm xúc của Thúy Kiều trong một thời điểm nào, một buổi nào, một ngày nào, mà miêu tả một tâm trạng triền miên trong chuỗi ngày tiếp khách. Ngày tháng chỉ là một sự chồng chất và kéo dài. Nỗi lòng Kiều hiện lên những lúc vắng vẻ, khi xong việc tự đối diện với chính mình. Đó là nỗi đau thầm kín đằng sau các hoạt động tiếp khách. Ở đây sự miêu tả kết hợp với thuật theo bút pháp tự (kể) tình. Tác giả lần lượt kể và tả những nỗi lòng tê tái.
2. Diễn biến tâm trạng của Kiều
* Thứ nhất là nỗi thương thân, xót thân, tiếc thân
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân?
Mặc người mưa Sở, mây Tần,
Riêng mình nào biết có xuân là gì?
Hai tiếng “giật mình” rất hay, nó nói lên cái thần của con người những lúc ngẫm lại những thay đổi quá lớn.
Ba chữ “mình” trong một câu nói lên sự cùng cực cô đơn: mụ chủ chỉ biết tiền, khách chơi chỉ biết sắc, ai biết
cho một con người tan nát ?! Nổi lên trên hết là sự nuối tiếc một phẩm giá bị giày xéo. Hình ảnh “phong gấm rủ là” nói lên hình ảnh của tấm thân vàng ngọc, được khoác áo gấm, rủ bức là, tức tấm thân bọc trong nhung lụa, quý báu, thế mà nay như hoa giữa đường, ai qua lại cũng xéo lên tàn nhẫn!
* Thứ hai là ghê tởm chính bản thân mình: con người khuê các vốn kín đáo, e thẹn, nay đã thành “dày gió dạn sương”, “bướm chán ong chường”. “Bướm chán ong chường” không phải là nói khách chơi chán chường Kiều, mà nói chính Kiều chán chường bản thân mình, sao lại trở thành con người tiếp khách trơ trẽn, vô liêm sỉ như thế được ? Từ đây Kiều chỉ sống như một món hàng, một thứ đồ chơi, không sống như một con người nữa. Nhiều sách chép câu “Riêng mình nào biết có xuân là gì” thành “Những mình nào biết có xuân là gì”.
Chữ “những” có lẽ đúng hơn, hợp hơn. Đó là “những như mình”, như loại mình... bao hàm cái ý chán mình ở trong ấy.
* Thứ ba là nỗi buồn và bẽ bàng:
Đòi phen gió tựa hoa kề,
Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu.
Cảnh quả là rất nên thơ, mà lòng nàng ủ dột:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!
Đòi phen nét vẽ câu thơ,
Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa.
Cảnh quả là vui thú, tao nhã, phong lưu, nhưng đối với Kiều chỉ là vui gượng: “Ai tri âm đó, mặn mà với ai” ? Đó chẳng qua là các trò chơi để giết thì giờ, không mảy may ý nghĩa.
* Thứ tư là sự cô đơn, đau đớn một mình:
Thờ ơ gió trúc mưa mai,
Ngẩn ngơ trăm nỗi, dùi mài một thân.
Những nỗi lòng thương thân, xót thân, chán mình, buồn khổ cô đơn, vui gượng gạo như thế đã chứng tỏ mạnh mẽ Kiều là một con người có phẩm giá, không phải người tà dâm, lấy việc tiếp khách làm vui.
Nhưng Kiều không chỉ đau cho mình. Nàng đau đớn thương xót người thân. Nàng là người con có hiếu, có nghĩa, có tình, cho nên:
Ôm lòng đòi đoạn xa gần,
Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau!
Trước hết là nàng nhớ cha mẹ ngày một già, thương cha mẹ không có người chăm nom. Nhưng thương nhất là câu này :
Dặm nghìn nước thẳm non xa,
Nghĩ đâu thân phận con ra thế này.
Cha mẹ bao giờ cũng mong con hạnh phúc, gửi gắm hy vọng vào con, thế mà thân phận con đã thay đổi ô nhục, cha mẹ xa xôi không biết mà đau lòng! Thứ hai là thương người tình và mong em gái thay mình lấy chàng:
Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?
Cuối cùng là nỗi lòng nhớ về quê hương của người con lưu lạc:
Mối tình đòi đoạn vò tơ,
Giấc hương quan luống lần mơ canh dài.
Song sa vò võ phương trời,
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng.
Nhà thơ đã hai lần nhắc đến từ “đòi đoạn” – nỗi đau tan nát. Có lẽ nói những nỗi lòng tan nát hợp hơn là những nỗi lòng tê tái chăng ? Trong nỗi lòng Kiều, nổi lên tình cảm đau đớn vì tha hương lưu lạc và cảm giác thời gian kéo dài nặng nề vô nghĩa.
Cuối cùng , kết thúc đoạn thơ này là một tình cảm đay nghiến số phận, oán trách số phận, bề ngoài có vẻ cam chịu, mà bên trong là một sự lên án bất công của tạo hóa :
Đã cho lấy chữ hồng nhan,
Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân.
Đã đày vào kiếp phong trần,
Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi!
Sao lại có cái thứ cân bằng lạ lùng như vậy
Sao lại phải chịu sỉ nhục một lần như vậy? Đó chẳng phải là sự bất công vô lý của tạo hóa, của số phận hay sao?
Đoạn thơ này độc đáo nhất là việc sử dụng ngôn ngữ trong miêu tả. Nhà thơ đã dùng nhiều phép sóng đôi, nhiều tiểu đối để miêu tả thời gian kéo dài và sự việc lặp lại: cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm, sớm đưa, tối tìm, khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, khi sao, giờ sao, đòi phen, đòi phen... Hay nhất là câu :
Song sa vò võ phương trời,
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng
hết hoàng hôn này lại tiếp đến hoàng hôn khác. Chữ “đã” nói lên rằng ngày tháng của Kiều chỉ là hoàng hôn nối tiếp hoàng hôn, cơ hồ không có ban ngày. Một sự thay đổi nhỏ, “hoàng hôn” thành “hôn hoàng”, có vẻ như là khác, nhưng thực ra là giống hệt nhau ! Một chuỗi dài của những ban đêm !
3. Nghệ thuật đặc sắc
- Sử dụng từ ngữ:
+ Để miêu tả những cảnh tầm thường, dung tục, tác giả chỉ gợi qua các cụm từ được cấu tạo đặc biệt:
– bướm lả ong lơi
– lá gió cành chim
– bướm chán, ong chường
– mưa Sở, mây Tần
– gió tựa, hoa kề.
Nếu nói ong bướm lả lơi thì có thể chỉ việc xảy ra một lần. Đảo lại thành ra nhiều lần. Bướm chán, ong chường cũng thế. Lá gió cành chim, gió tựa hoa kề đều chỉ các sự trăng gió, nhưng cách nói mới lạ và đa dạng, lại tao nhã.
+ Để thể hiện cảm thức lưu lạc nhà thơ cực tả sự xa xôi:
– Dặm nghìn, nước thẳm, non xa...
– Xa xôi ai có thấu tình chăng ai.
– Song sa vò võ phương trời...
→ Nguyễn Du không chỉ kể, tả mà còn gợi, tạo cảm giác cho người đọc. Đây là đoạn văn tài hoa, tiêu biểu cho nghệ thuật tả tâm trạng của Truyện Kiều.
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
LẠNG SƠN ĐẠO TRUNG
(Trên đường đi Lạng Sơn)
(Trích Nam Trung tạp ngâm – Nguyễn Du)
PHIÊN ÂM
Vạn mộc sơn tiền khả bốc cư,
Bạch vân tại tụ thuỷ thông cừ.
Sơn tăng đối trúc lưỡng vô dạng,
Mục thụ kỵ ngưu nhất bất như.
Ảnh lý tu my khan lão hỷ,
Mộng trung tùng cúc ức quy dư.
Toạ gia thôn tẩu đa nhàn sự,
Chỉ vị bình sinh bất độc thư.
DỊCH NGHĨA
Hàng vạn cây um tùm trước núi, nơi đây có thể chọn làm chỗ ở,
Mây trắng giăng giăng trên núi, nước tuôn theo khe suối.
Nhà sư trước hàng trúc, cả hai đều thanh thản,
Mục đồng cưỡi lưng trâu, quả thực chẳng ai bằng.
Soi gương ngắm râu tóc thấy già rồi.
Trong mộng gặp tùng cúc, nhớ tới lời “về thôi!” (1)
Ông già nơi thôn xóm quá nhàn nhã,
Chỉ vì cả đời chẳng biết đến sách vở.
DỊCH THƠ
Trước núi um tùm dựng được nhà,
Hang đùn mây trắng nước khe ra.
Sư bên khóm trúc bình yên cả,
Mục cưỡi lưng trâu, sướng nhất mà!
Trước kính mày râu nhìn cảnh lão,
Trong mơ tùng cúc nhớ quê ta.
Ngồi nhà mấy cụ sao thư thả?
Chỉ vì không hề đọc sách qua.
Vũ Tam Tập dịch
Chú thích:
Hoàn cảnh sáng tác: Trích trong Nam trung tạp ngâm – Tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du, sáng tác vào thời kì Nguyễn Du Làm quan ở Bắc Hà (1802-1804)
(1) “Về thôi” dịch hai chữ “quy dư trong nguyên tác: Sách Luận ngữ chép: Khổng Tử ở nước Trần, thấy đạo lớn không thể thực hiện được, cảm khái than rằng: “Quy dư! Quy dư!...” (Về thôi, về đi thôi). Trong lời tựa bài “Quy khứ lai từ”, Đào Tiềm đã dùng mấy chữ “quy dư chi tình” (nỗi lòng muốn về) để bày tỏ chỉ hướng muốn từ bỏ chức quan, về vui với cảnh ruộng vườn.
Mùa đông năm Quý Hợi, tức năm 1804, Nguyễn Du được triều đình cử lên trấn Nam Quan (nay là Hữu Nghị Quan) thuộc địa phận Lạng Sơn để đón tiếp sứ đoàn nhà Thanh sang sắc phong. Bài thơ trên có lẽ được làm trong dịp này.
Trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1. Xác định nội dung chính của bài thơ trên.
Câu 2. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là gì? Dựa vào đâu để có thể xác định cảm hứng chủ đạo ấy
Câu 3. Bốn câu thơ đầu của bài thơ gợi ra cho em những cảm nhận gì về không gian và con người nơi Lạng Sơn mà Nguyễn Du nhắc đến
Vạn mộc sơn tiền khả bốc cư,
Bạch vân tại tụ thuỷ thông cừ.
Sơn tăng đối trúc lưỡng vô dạng,
Mục thụ kỵ ngưu nhất bất như.
Trước núi um tùm dựng được nhà,
Hang đùn mây trắng nước khe ra.
Sư bên khóm trúc bình yên cả,
Mục cưỡi lưng trâu, sướng nhất mà!
Câu 4. Hai câu thơ cuối nói về điều gì? Theo em, hai câu thơ có ẩn chứa tâm sự nào khác của tác giả hay không? Vì sao?
Toạ gia thôn tẩu đa nhàn sự,
Chỉ vị bình sinh bất độc thư.
Ngồi nhà mấy cụ sao thư thả?
Chỉ vì không hề đọc sách qua.
Câu 5. Viết đoạn văn nghị luận khoảng 12 câu, trình bày một chi tiết/hình ảnh thơ/câu thơ/cặp câu thơ mà em thấy ấn tượng nhất trong bài thơ trên.
II. VIẾT
Viết bài văn khoảng 2/3 trang giấy phân tích, đánh giá đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của bài thơ Lạng Sơn đạo trung.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
|
Câu 1. Xác định nội dung chính của bài thơ trên. |
Phương pháp:
Đọc tác phẩm, tổng hợp nội dung.
Lời giải chi tiết
Cảm nhận về cảnh sắc và con người Lạng Sơn khi Nguyễn Du đi qua miền đất này.
|
Câu 2. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là gì? Dựa vào đâu để có thể xác định cảm hứng chủ đạo ấy |
Phương pháp:
Đọc, phân tích, tổng hợp.
Lời giải chi tiết:
- Cảm hứng chủ đạo: Cảm nhận về vẻ đẹp thanh bình nơi Lạng Sơn và những tâm sự của Nguyễn Du về thế sự và cuộc đời
- Căn cứ:
+ 4 câu đầu: Nhắc tới các hình ảnh về làng quê yên bình, cảnh rừng núi nơi Lạng Sơn, hình ảnh của sư thầy đang bình yên tận hưởng cuộc sống
+ 4 câu sau: Nhắc tới hình ảnh của chính Nguyễn Du khi về già, cùng với suy tư về việc liệu có được như ông lão kia, vì “không biết chữ” nên không lo thế sự, mà bình an tận hưởng cuộc sống.
|
Câu 3. Bốn câu thơ đầu của bài thơ gợi ra cho em những cảm nhận gì về không gian và con người nơi Lạng Sơn mà Nguyễn Du nhắc đến Vạn mộc sơn tiền khả bốc cư, Bạch vân tại tụ thuỷ thông cừ. Sơn tăng đối trúc lưỡng vô dạng, Mục thụ kỵ ngưu nhất bất như.
Trước núi um tùm dựng được nhà, Hang đùn mây trắng nước khe ra. Sư bên khóm trúc bình yên cả, Mục cưỡi lưng trâu, sướng nhất mà! |
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Lời giải chi tiết:
Trước núi um tùm dựng được nhà,
Hang đùn mây trắng nước khe ra.
Sư bên khóm trúc bình yên cả,
Mục cưỡi lưng trâu, sướng nhất mà!
- Không gian: Núi rừng, hang núi, có mây trắng, có khe nước,...không gian hòa nhập với thiên nhiên
- Cuộc sống con người: Xây đắp nhà cửa, dẫn trâu đi cày, nhà sư ngồi bên khóm trúc đầy yên bình
→ Cuộc sống yên bình, hòa quyện giữa thiên nhiên và con người xứ Lạng.
|
Câu 4. Hai câu thơ cuối nói về điều gì? Theo em, hai câu thơ có ẩn chứa tâm sự nào khác của tác giả hay không? Vì sao? Toạ gia thôn tẩu đa nhàn sự, Chỉ vị bình sinh bất độc thư.
Ngồi nhà mấy cụ sao thư thả? Chỉ vì không hề đọc sách qua. |
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Lời giải chi tiết:
Ngồi nhà mấy cụ sao thư thả?
Chỉ vì không hề đọc sách qua.
- Hình ảnh trong hai câu cuối: Cụ già ngồi nhà thư thả, Nguyễn Du đoán rằng liệu có phải vì “không biết đọc sách” – không quan tâm và hiểu về thế sự nên mới có tâm thế nhàn nhã, thư thả vậy không?
- Tâm sự của nhà thơ: Ước muốn bình yên, không lo toan thế sự hay cuộc đời, sống bình dị, lánh đục về trong, nhưng lại trong hoàn cảnh là người “hay chữ” nên vẫn còn vướng bận những lo toan thời thế, những điều khiến nhà thơ bận lòng, đau đáu.
|
Câu 5. Viết đoạn văn nghị luận khoảng 12 câu, trình bày một chi tiết/hình ảnh thơ/câu thơ/cặp câu thơ mà em thấy ấn tượng nhất trong bài thơ trên. |
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Lời giải chi tiết:
- Hình thức: Đoạn văn khoảng 12 câu, theo đúng cấu trúc đoạn (diễn dịch hoặc quy nạp hoặc tổng phân hợp)
- Nội dung: Học sinh có thể lựa chọn hình ảnh/câu thơ theo cảm nhận của mình
+ Lựa chọn 4 câu thơ đầu:
→ Hình ảnh thiên nhiên núi rừng Lạng Sơn.
→ Hình ảnh về con người: những đứa trẻ chăn trâu, hay sư đang ngồi dưới khóm trúc.
→ Bình yên trong khung cảnh và tâm trí.
+ Lựa chọn 4 câu thơ sau:
→ Hình ảnh nhà thơ tự ngắm mình khi về già, đồng thời nhớ về quê hương.
→ Mong muốn được thư thái, nhàn hạ như những cụ già, tránh thế sự.
→ Mong ước bình yên và nỗi nhớ quê hương giản dị, sâu nặng.
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
Viết bài văn khoảng 2/3 trang giấy phân tích, đánh giá đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của bài thơ Lạng Sơn đạo trung.
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
a. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của bài thơ Lạng Sơn đạo trung
b. Phân tích:
1. Bốn câu thơ đầu – Cảm nhận về khung cảnh thiên nhiên và cuộc sống nơi Lạng Sơn mà Nguyễn Du đi qua.
Trước núi um tùm dựng được nhà,
Hang đùn mây trắng nước khe ra.
Sư bên khóm trúc bình yên cả,
Mục cưỡi lưng trâu, sướng nhất mà!
- Không gian: Núi rừng, hang núi, có mây trắng, có khe nước,...không gian hòa nhập với thiên nhiên
- Cuộc sống con người: Xây đắp nhà cửa, dẫn trâu đi cày, nhà sư ngồi bên khóm trúc đầy yên bình
→ Cuộc sống yên bình, hòa quyện giữa thiên nhiên và con người xứ Lạng
2. Bốn câu thơ sau: - Tâm sự của nhà thơ
Trước kính mày râu nhìn cảnh lão,
Trong mơ tùng cúc nhớ quê ta.
Ngồi nhà mấy cụ sao thư thả?
Chỉ vì không hề đọc sách qua.
- Nỗi nhớ quê hương khi ngắm nhìn những hình ảnh bình dị, thân thương của làng quê
- Nỗi tâm sự thời thế thầm kín, nỗi lo về nước nhà thời cuộc
+ Hình ảnh trong hai câu cuối: Cụ già ngồi nhà thư thả, Nguyễn Du đoán rằng liệu có phải vì “không biết đọc sách” – không quan tâm và hiểu về thế sự nên mới có tâm thế nhàn nhã, thư thả vậy không?
+ Tâm sự của nhà thơ: Ước muốn bình yên, không lo toan thế sự hay cuộc đời, sống bình dị, lánh đục về trong, nhưng lại trong hoàn cảnh là người “hay chữ” nên vẫn còn vướng bận những lo toan thời thế, những điều khiến nhà thơ bận lòng, đau đáu.
3. Nghệ thuật đặc sắc
- Nghệ thuật đối.
Vạn mộc sơn tiền khả bốc cư,
Bạch vân tại tụ thuỷ thông cừ.
- Hình ảnh quen thuộc của làng quê và núi rừng Lạng Sơn
- Hình ảnh mang tính ước lệ
4. Ý nghĩa.
Nỗi niềm “những điều trông thấy” của nhà thơ, dù rất khát khao khung cảnh bình yên, nhưng sâu trong lòng vẫn là những trăn trở suy tư về cuộc đời và thời thế, là nỗi nhớ quê hương da diết của nhà thơ
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 8
Đề thi
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
TỜ HOA
Tại một công trường làm đường Tây Bắc, 1966
Tôi nhìn ra cái tàu lăn nghiến đá mặt đường mới, nhìn ra những kíp thợ xây dựng mở đường, nhìn ra một tổ ong của anh chị em làm đường vừa mang được ong chúa về. Cửa sổ buồng tôi viết, lúc nào cũng nhộn nhịp cánh tay người và những cánh ong quen dần với tổ mới. Ong bay trên trang sổ tay tôi. Ong tua tròn trên trang giấy chữ nhật trắng, như là tàu bay đảo nhiều vòng chờ lệnh hạ cánh xuống. Buồng bên có người bị ong đốt. Bởi vì người đó hoảng hốt vừa giết ong một cách không cần thiết, và ngửi thấy mùi máu, bọn ong cùng tổ liền xông tới đốt. Rồi ong cũng lăn ra chết, tinh hồn xuất theo luôn với nọc đốt. Con ong bé cũng như con voi to, vốn tính lành nhưng khiêu khích chúng thì chúng đánh lại ngay, dẫu rằng có phải lấy bổn mạng ra mà trả lời. Anh cán bộ địa chất liền cho tôi mượn một số tạp chí khoa học có mấy trang về nuôi ong. Giờ tôi mới biết rằng đó là một thế giới đầy sinh thú. Đời sống con ong để lại cho người đọc nó một bài học về kiên nhẫn, về cần lao, về tích lũy, chế tạo và sáng tạo. Người ta đã đánh dấu con ong, theo dõi nó, và thấy rằng cái giọt mật làm ra đó, là kết quả của 2.700.000 chuyến (bay) đi, đi từ tổ nó đến khắp các nơi có hoa quanh vùng. Và trong một nửa lít mật ong đóng chai, phân chất ra được 5 vạn thứ hoa. Tính ra thành bước chân người thì tổng cộng đường bay của con ong đó là 8.000.000 cây số.
Giữa rừng Tây Bắc đầy hoa, đầy bướm, đầy ong, cái tôi thấy say say trong chính mình là dầu không được một chuyến đi bằng một đời ong, mình cũng là một con sinh vật đang nung một thứ mật gì. Sự tích lũy ở mình cũng ngày ngày có giọt ra mà phần nào đem thơm thảo vào sự sống. Đối hoa xuân lắng ong mật mà thêm ngẫm tới đàn bướm tốt mã chấp chới bay, lộng lẫy những sắc phấn của sáo ngữ ồn ào. Bướm phù phiếm cũng bay vào hoa, nhưng cặp cánh hào nhoáng cũng chẳng để lại gì. Từ ngày có lịch sử tiến hóa của loài người, chưa ai dám nói đến mật bướm.
Người ta hay nhắc đến mang nặng đẻ đau. Có những quá trình không phải hoài thai, không đẻ gì (theo nghĩa hẹp và theo nghĩa đen sinh học) nhưng rất khó đau và nặng nhọc đèo bòng. Ngọc trai nguyên chỉ là một hạt cát, một hạt bụi biến xâm lăng vào vỏ trai, lòng trai. Cái bụi bặm khách quan nơi ron bế lẻn vào cửa
trai. Trai xót lòng. Máu trai liền tiết ra một thứ nước rãi bọc lấy cải hạt buốt sắc. Có những cơ thể trai đã chết ngay vì hạt cát từ đâu bên ngoài gieo vào giữa lòng mình (và vì trai chết nên cát bụi kia vẫn chỉ là hạt cát). Nhưng có những cơ thể trai vẫn sống, sống lấy máu lấy rãi mình ra mà bao phủ lấy hạt đau hạt xót. Tới
một thời gian nào đó, hạt cát khối tình con, cộng với nước mắt hạch trai, đã trở thành lõi sáng của một hạt ngọc tròn trăn ánh ngời (...)
Nguyễn Tuân - Báo Văn Nghệ số 143 - Tết Bính Ngọ
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại
A. Tản văn
B. Tùy bút
C. Kí
D. Truyện kí
Câu 2. Bên cạnh yếu tố trữ tình (biểu cảm), văn bản trên có sử dụng thêm phương thức biểu đạt nào khác?
A. Tự sự và miêu tả
B. Tự sự và nghị luận
C. Miêu tả và thuyết minh
D. Tự sự và thuyết minh
Câu 3.Thông qua câu chuyện về con ong, tác giả muốn nói đến điều gì?
A. Bài học về kiên nhẫn, cần lao và tích lũy, chế tạo và sáng tạo.
B. Bài học về sự may mắn.
C. Bài học về sự nỗ lực không ngừng nghỉ.
D. Bài học về sự chế tạo và sáng tạo.
Câu 4. Biện pháp tu từ được nhà văn sử dụng trong câu sau là gì? Giữa rừng Tây Bắc đầy hoa, đầy bướm, đầy ong, cái tôi thấy say say trong chính mình là dầu không được một chuyến đi bằng một đời ong, mình cũng là một con sinh vật đang nung một thứ mật gì.
A. So sánh
B. Điệp ngữ
C. Ẩn dụ
D. Liệt kê
Câu 5. Qua câu chuyện của con trai, tác giả muốn gửi gắm điều gì?
A. Quá trình sáng tạo và thành công phải đến từ sự đau đớn.
B. Quá trình sáng tạo và thành công cần đến rất nhiều khó khăn.
C. Quá trình sáng tạo và thành công tựa như quá trình hoài thai, cần rất nhiều đau đớn, khó khăn và trải nghiệm.
D. Quá trình sáng tạo và thành công không dễ dành với bất kì ai.
Câu 6. Phép tu từ được tác giả sử dụng trong câu văn sau là gì? Con ong bé cũng như con voi to, vốn tính lành nhưng khiêu khích chúng thì chúng đánh lại ngay, dẫu rằng có phải lấy bổn mạng ra mà trả lời.
A. Nhân hóa và so sánh
B. Nhân hóa và ẩn dụ
C. So sánh và ẩn dụ
D. Nhân hóa và ẩn dụ
Câu 7. Đoạn văn bản đã tập trung thể hiện rõ đặc điểm nổi bật nào trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân?
A. Sự tài hoa, uyên bác và đậm chất suy tư
B. Kho từ ngữ phong phú, giàu có
C. Sự chiêm nghiệm lớn về cuộc đời
D. Sự quan sát tinh tế các sự vật, hiện tượng xung quanh
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. “Tôi nhìn...”, “Giờ tôi mới biết rằng...”, “cái tôi thấy say say...” Qua các cụm từ trên anh/chị hiểu gì về cái “tôi” trong thể loại tùy bút?
Câu 9. Trong đoạn văn bản trên, tác giả đã sử dụng những từ ngữ nào để nói về hạt ngọc trai? Tác dụng nghệ thuật của chuỗi từ ngữ đó?
Câu 10. Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) trình bày quan điểm của em về vấn đề: Không có một thành công nào dễ dàng đạt được.
II. VIẾT
Viết bài văn thuyết minh có kết hợp yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm và nghị luận về một lối sống tích cực của giới trẻ ngày nay.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
Câu 7(0.25đ) |
|
B |
B |
A |
A |
C |
A |
A |
|
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại A. Tản văn B. Tùy bút C. Kí D. Truyện kí |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Văn bản trên thuộc thể loại tùy bút
→ Đáp án: B
|
Câu 2. Bên cạnh yếu tố trữ tình (biểu cảm), văn bản trên có sử dụng thêm phương thức biểu đạt nào khác? A. Tự sự và miêu tả B. Tự sự và nghị luận C. Miêu tả và thuyết minh D. Tự sự và thuyết minh |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về phương thức biểu đạt
Lời giải chi tiết:
Bên cạnh yếu tố trữ tình (biểu cảm), văn bản trên có sử dụng thêm phương thức biểu đạt Tự sự và nghị luận
→ Đáp án: B
|
Câu 3.Thông qua câu chuyện về con ong, tác giả muốn nói đến điều gì? A. Bài học về kiên nhẫn, cần lao và tích lũy, chế tạo và sáng tạo. B. Bài học về sự may mắn. C. Bài học về sự nỗ lực không ngừng nghỉ. D. Bài học về sự chế tạo và sáng tạo. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Thông qua câu chuyện về con ong, tác giả muốn nói đến: Bài học về kiên nhẫn, cần lao và tích lũy, chế tạo và sáng tạo
→ Đáp án: A
|
Câu 4. Biện pháp tu từ được nhà văn sử dụng trong câu sau là gì? Giữa rừng Tây Bắc đầy hoa, đầy bướm, đầy ong, cái tôi thấy say say trong chính mình là dầu không được một chuyến đi bằng một đời ong, mình cũng là một con sinh vật đang nung một thứ mật gì. A. So sánh B. Điệp ngữ C. Ẩn dụ D. Liệt kê |
Phương pháp:
Đọc kĩ 2 câu
Nhớ lại kiến thức về biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết:
Câu trên sử dụng biện pháp so sánh
→ Đáp án: A
|
Câu 5. Qua câu chuyện của con trai, tác giả muốn gửi gắm điều gì? A. Quá trình sáng tạo và thành công phải đến từ sự đau đớn. B. Quá trình sáng tạo và thành công cần đến rất nhiều khó khăn. C. Quá trình sáng tạo và thành công tựa như quá trình hoài thai, cần rất nhiều đau đớn, khó khăn và trải nghiệm. D. Quá trình sáng tạo và thành công không dễ dành với bất kì ai. |
Phương pháp:
Đọc kĩ câu chuyện của con trai
Lời giải chi tiết:
Qua câu chuyện của con trai, tác giả muốn gửi gắm: Quá trình sáng tạo và thành công tựa như quá trình hoài thai, cần rất nhiều đau đớn, khó khăn và trải nghiệm
→ Đáp án: C
|
Câu 6. Phép tu từ được tác giả sử dụng trong câu văn sau là gì? Con ong bé cũng như con voi to, vốn tính lành nhưng khiêu khích chúng thì chúng đánh lại ngay, dẫu rằng có phải lấy bổn mạng ra mà trả lời. A. Nhân hóa và so sánh B. Nhân hóa và ẩn dụ C. So sánh và ẩn dụ D. Nhân hóa và ẩn dụ |
Phương pháp giải
Đọc kĩ câu văn
Nhớ lại kiến thức về biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết
Phép tu từ được tác giả sử dụng trong câu văn trên là: Nhân hóa và so sánh
→ Đáp án: A
|
Câu 7. Đoạn văn bản đã tập trung thể hiện rõ đặc điểm nổi bật nào trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân? A. Sự tài hoa, uyên bác và đậm chất suy tư B. Kho từ ngữ phong phú, giàu có C. Sự chiêm nghiệm lớn về cuộc đời D. Sự quan sát tinh tế các sự vật, hiện tượng xung quanh |
Phương pháp giải
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Đoạn văn bản đã tập trung thể hiện rõ đặc điểm nổi bật: Sự tài hoa, uyên bác và đậm chất suy tư
→Đáp án A
|
Câu 8. “Tôi nhìn...”, “Giờ tôi mới biết rằng...”, “cái tôi thấy say say...” Qua các cụm từ trên anh/chị hiểu gì về cái “tôi” trong thể loại tùy bút? |
Phương pháp
Đọc đoạn văn, phân tích.
Lời giải chi tiết
Học sinh có thể trả lời dựa trên gợi ý sau:
Qua các cụm từ “Tôi nhìn...”, “Giờ tôi mới biết rằng...”, “cái tôi thấy say say...” ta thấy được cái “tôi” trong thể tùy bút của nhà văn Nguyễn Tuân đó là: Cái tôi thể hiện trực tiếp trong tác phẩm và cái tôi đó có được là từ sự quan sát, trải nghiệm và tưởng tượng của tác giả.
|
Câu 9. Trong đoạn văn bản trên, tác giả đã sử dụng những từ ngữ nào để nói về hạt ngọc trai? Tác dụng nghệ thuật của chuỗi từ ngữ đó? |
Phương pháp
Đọc văn bản, suy luận.
Lời giải chi tiết
Trong đoạn văn bản trên, tác giả đã sử dụng một chuỗi những từ ngữ phong phú để nói về hạt ngọc trai: hạt cát; một hạt bụi biển xâm lăng vào vở trai, lòng trai; cái bụi bặm khách quan nơi rốn bể lẻn vào cửa trai; cái hạt buốt sắc; hạt cát từ đâu bên ngoài gieo vào giữa lòng mình; hạt đau hạt xót; hạt cát khối tình con; một hạt ngọc tròn trặn ánh ngời.
Qua đó, người viết vừa tái hiện cụ thể, sinh động mà chân thực quá trình hình thành hạt ngọc trong lòng những con trai nơi đáy đại dương vừa giúp người đọc hình dung quá trình ấy cũng giống như quá trình hoài thai, mang nặng đẻ đau của con người.
|
Câu 10. Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) trình bày quan điểm của em về vấn đề: Không có một thành công nào dễ dàng đạt được. |
Phương pháp
Phân tích, lý giải.
Lời giải chi tiết
Học sinh đưa ra suy nghĩ của mình về vấn đề: Không có một thành công nào dễ dàng đạt được.
- Cách hiểu về thành công của học sinh.
- Thành công được đúc kết qua những trải nghiệm và những lần thất bại, trả giá. Thành công đó sẽ là thành công có giá trị vì bản thân đã rút ra được nhiều bài học quý giá trong cuộc sống.
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
II. VIẾT
Viết bài văn thuyết minh có kết hợp yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm và nghị luận về một lối sống tích cực của giới trẻ ngày nay.
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
- Đảm bảo cấu trúc bài văn thuyết minh có kết hợp các phương thức biểu đạt khác.
- Xác định đúng vấn đề thuyết minh: Lối sống tích cực của giới trẻ.
Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được lối sống tích cực của giới trẻ và các nội dung để làm rõ lối sống đó (định nghĩa, cách thức thể hiện, điểm tích cực, hạn chế,...)
Gợi ý:
- Greenlife - Lối sống xanh.
- Minimalism - lối sống tối giản.
- Lagom - Đủ là hạnh phúc.
- Hygge - Hạnh phúc từ những điều nhỏ bé.
- Ikigai - Lý do thức dậy vào mỗi sáng.
- Friluftsliv - Trở về với mẹ thiên nhiên.
- Wabi sabi - Vẻ đẹp từ sự không hoàn hảo.
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 - Đề số 9
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
Mong ước đầu tiên và lớn nhất của tôi là các con sẽ trở thành người tử tế, sau đó là cháu có một cuộc sống hạnh phúc. Sau này con có trở thành bất cứ ai trên cuộc đời này, làm bất cứ công việc gì thì cũng làm việc một cách tử tế, ứng xử với bản thân, với gia đình, với bạn bè, những người xung quanh, với cộng động và thậm chí là với cả trái đất này một cách tử tế! Việc cháu tiếp tục học ở đâu, làm việc gì là tùy vào sở thích, niềm đam mê và năng lực của cháu.
(Báo giáo dục và thời đại số 24 ngày 28 - 1 - 2017)
Câu 1 (0,5 điểm): Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên?
Câu 2 (0,5 điểm): Theo em, trình tự lập luận trong văn bản trên được trình bày theo phương pháp nào?
Câu 3 (1,0 điểm): Xác định nội dung cơ bản của đoạn trích?
Câu 4 (1,0 điểm): Là một người trẻ tuổi, anh/chị có tán đồng với mong ước về tương lai tuổi trẻ của vị phụ huynh thể hiện trong đoạn trích trên không? Vì sao?
PHẦN VIẾT (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến được nêu trong đoạn trích phần đọc - hiểu: Sau này con có trở thành bất cứ ai trên cuộc đời này, làm bất cứ công việc gì thì cũng làm việc một cách tử tế, ứng xử với bản thân, với gia đình, với bạn bè, những người xung quanh, với cộng động và thậm chí với cả trái đất này một cách tử tế!
Câu 2 (4.0 điểm) Cảm nhận của anh/ chị về bức tranh thiên nhiên trong đoạn thơ sau:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
(Trích “Đây thôn Vĩ Dạ”- Hàn Mặc Tử)
Đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Câu 1.
|
Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên? |
Phương pháp:
Đọc kỹ đoạn trích để xác định cách thức truyền tải nội dung.
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích sử dụng phương thức biểu đạt nghị luận (thể hiện quan điểm về cách sống) và biểu cảm (bày tỏ mong ước, tình cảm của phụ huynh dành cho con cái).
Câu 2.
|
Theo em, trình tự lập luận trong văn bản trên được trình bày theo phương pháp nào? |
Phương pháp:
- Xác định cách tác giả triển khai ý trong đoạn trích.
- Có các phương pháp lập luận phổ biến: diễn dịch (từ ý khái quát đến cụ thể), quy nạp (từ chi tiết đến khái quát), tổng - phân - hợp (mở đầu khái quát, sau đó phân tích, rồi kết luận).
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích sử dụng phương pháp lập luận diễn dịch. Câu đầu tiên đưa ra ý chính (mong muốn con trở thành người tử tế), các câu sau mở rộng và làm rõ quan điểm này.
Câu 3.
|
Xác định nội dung cơ bản của đoạn trích? |
Phương pháp:
- Xác định ý chính của đoạn trích.
- Tóm tắt nội dung mà tác giả muốn truyền tải.
Lời giải chi tiết:
Nội dung cơ bản của đoạn trích là bày tỏ mong muốn của bậc cha mẹ đối với con cái, trong đó giá trị cốt lõi là sự tử tế và hạnh phúc. Tác giả nhấn mạnh rằng dù con cái làm công việc gì, sống ở đâu cũng cần có thái độ sống đúng đắn, biết đối xử tốt với mọi người và cả thiên nhiên.
Câu 4.
|
Là một người trẻ tuổi, anh/chị có tán đồng với mong ước về tương lai tuổi trẻ của vị phụ huynh thể hiện trong đoạn trích trên không? Vì sao? |
Phương pháp:
- Xác định ý kiến của mình (đồng tình hay không).
- Giải thích bằng lý lẽ và dẫn chứng.
Lời giải chi tiết:
Em hoàn toàn tán đồng với mong ước của vị phụ huynh trong đoạn trích. Sống tử tế không chỉ giúp con người được tôn trọng mà còn tạo ra một xã hội tốt đẹp hơn. Tử tế với bản thân giúp ta rèn luyện nhân cách, tử tế với gia đình và cộng đồng tạo nên những mối quan hệ bền vững. Đặc biệt, trong xã hội hiện đại, khi đạo đức có lúc bị xem nhẹ, việc giữ gìn lòng tử tế lại càng quan trọng hơn bao giờ hết.
PHẦN VIẾT (7.0 điểm)
Câu 1.
|
Hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến được nêu trong đoạn trích phần đọc - hiểu: Sau này con có trở thành bất cứ ai trên cuộc đời này, làm bất cứ công việc gì thì cũng làm việc một cách tử tế, ứng xử với bản thân, với gia đình, với bạn bè, những người xung quanh, với cộng động và thậm chí với cả trái đất này một cách tử tế! |
Phương pháp:
- Giải thích ý nghĩa câu nói.
- Bàn luận về tầm quan trọng của sự tử tế trong công việc và cuộc sống.
- Đưa ra dẫn chứng minh họa.
- Kết luận, rút ra bài học.
Lời giải chi tiết:
“Sau này con có trở thành bất cứ ai trên cuộc đời này, làm bất cứ công việc gì thì cũng làm việc một cách tử tế,ứng xử với bản than, với gia đình,với bạn bè, những người xung quanh,với cộng đồng và thậm chí với cả trái đất này một cách tử tế”- một lời nhắn nhủ, gửi gắm chân thành đầy yêu thương và cũng thật sự ý nghĩa. “Việc tử tế” không nhất thiết phải là những việc to tát, sang trọng mà có khi chỉ là những việc nhỏ bé, bình thường nhưng là những việc tốt, có ý nghĩa. Kết hợp cùng cái cách mình làm, bằng một cái tâm và trách nhiệm. Ý nghĩa cuả câu nói này chính là sau này con có thể trở thành bất cứ ai (thành vĩ nhân hay chỉ là thường dân), có thể làm việc gì (việc lớn lao hay việc nhỏ bé) không quan trọng. Quan trọng là phải tử tế, làm việc tử tế, ứng xử tử tế. Xã hội loài người văn minh hình thành là từ khi con người biết tôn trọng và tín nhiệm lẫn nhau. Không có giá trị nào được tạo ra cho đến khi con người biết hành động vì lẽ phải. Kẻ giả dối lãnh hậu quả do cách mình sống, người tử tế hưởng hoa trái của việc mình làm. Trong cuộc sống này rất cần có sự tử tế ở mỗi con người để cùng xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ và giàu lòng nhân ái hơn nữa. Tử tế” có nghĩa là sự cẩn thận, kĩ lưỡng, thận trọng, chu đáo trong công việc, trong lối sống và trong cách đối xử với mọi người. Người tử tế là người có tấm lòng nhân ái, biết tôn trọng bản thân và người khác, có thái độ sống nhân từ, hoà hợp với thế giới xung quanh, đề cao đạo đức, sự lịch thiệp, nhã nhặn, tình yêu thương, lẽ công bằng. Người sống tử tế luôn biết nâng niu, quý trọng từ những cái nhỏ nhặt, bình thường nhất trong cuộc sống để tạo nên lối sống đẹp, được nhiều người yêu mến, quý trọng. Tử tế là phẩm chất cao quý của con người. Người tử tế, do đó, không chỉ là người có phẩm chất cao quý mà còn là người biết sử dụng lòng tốt của bản thân, chia sẻ những nổi khổ niềm đau trong cuộc sống, nhằm góp phần xây dựng cuộc sống an bình hơn. Sự tử tế không tự nó hình thành mà cần được dạy bảo, rèn luyện mới có được. Lòng tử tế hiện hữu trong mỗi con người, trước nhất như một tiềm năng, do vậy, để có nó trong cuộc sống, ta cần khai thác, nuôi dưỡng, chăm sóc và phát triển. Đừng bao giờ để thói đố kị, ích kỉ làm mờ con mắt mà trở nên tham lam, thực dục và cả tàn nhẫn để đối xử với những người xung quanh. Điều đó sẽ hủy hoại đi biết bao nhiêu điều tốt đẹp trong cuộc sống này. Quả thật, câu nói được đưa ra có ý nghĩa vô cùng to lớn, thức tỉnh những con người còn đang u mê, chưa biết làm sao để sống có ý nghĩa, đồng thời cũng nâng bước, chắp cánh thêm cho những tấm long thơm thảo, sống tốt sẽ luôn hạnh phúc vì những điều mình đã làm.
Câu 2.
|
Cảm nhận của anh/ chị về bức tranh thiên nhiên trong đoạn thơ sau: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay? (Trích “Đây thôn Vĩ Dạ”- Hàn Mặc Tử) |
Phương pháp:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vị trí đoạn thơ.
- Phân tích bức tranh thiên nhiên theo từng câu thơ.
- Nhận xét về nghệ thuật và cảm xúc của tác giả.
- Kết luận về ý nghĩa của bức tranh thiên nhiên trong thơ Hàn Mặc Tử.
Lời giải chi tiết:
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử là một trong những tác phẩm tiêu biểu của phong trào Thơ Mới. Đoạn thơ trên mở đầu bằng lời mời gọi đầy tha thiết:
"Sao anh không về chơi thôn Vĩ?"
Câu hỏi vừa như một lời trách móc, vừa như một niềm mong mỏi da diết. Hình ảnh thôn Vĩ hiện lên với những hàng cau đón nắng sớm, một khu vườn tràn đầy sức sống với màu xanh tươi mát:
"Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc"
Màu xanh của khu vườn được so sánh với ngọc, gợi lên vẻ đẹp tinh khôi, trong trẻo của miền quê xứ Huế. Bức tranh ấy không chỉ đẹp về thị giác mà còn có hồn, với những cành trúc che nghiêng, thấp thoáng hình ảnh con người.
Sang khổ thơ thứ hai, thiên nhiên dần trở nên xa vắng, man mác buồn:
"Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay"
Câu thơ gợi lên sự chia cách, cô đơn, dòng sông Vĩ lặng lẽ trôi trong sự tĩnh lặng của cảnh vật. Hình ảnh "thuyền ai" và "sông trăng" tạo nên không gian huyền ảo, lãng mạn nhưng cũng đầy u hoài:
"Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?"
Ánh trăng vừa là vẻ đẹp của thiên nhiên, vừa là biểu tượng của khát vọng, của ước mơ được đoàn tụ, gắn kết. Nhưng câu hỏi cuối bài thơ không có câu trả lời, như một nỗi buồn xa vắng, một niềm khắc khoải không thể gọi thành lời.
Bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu du dương, đoạn thơ đã khắc họa một bức tranh thiên nhiên vừa tươi đẹp, vừa u buồn, phản chiếu tâm trạng của thi nhân. Thôn Vĩ hiện lên như một miền ký ức xa xôi mà tác giả tha thiết mong được trở về, nhưng hiện thực thì lại đầy chia xa. Điều đó càng làm tăng thêm sức hấp dẫn và chiều sâu của bài thơ.
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 - Đề số 10
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm?
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác, biết là về đâu?
(Kiều ở lầu Ngưng Bích, trích “Truyện Kiều” – Nguyễn Du, NXB Văn học, 2014)
Chú thích: Đoạn trích trên nằm ở phần thứ hai (Gia biến và lưu lạc). Sau khi biết mình bị bán vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức tự vẫn. Tú bà vờ hứa hẹn đợi Kiều bình phục sẽ gả chồng cho.
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể thơ của đoạn trích trên.
Câu 2 (0.5 điểm): Nhân vật trữ tình trong đoạn trích trên là ai?
Câu 3 (1.0 điểm): Anh/chị hiểu như thế nào về từ “Xuân” trong hai câu thơ: Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân/ Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung”?
Câu 4 (1.0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp cú được sử dụng trong đoạn trích trên.
Câu 5 (1.0 điểm): Nhận xét của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều qua đoạn trích trên.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Từ tâm trạng cô đơn, bơ vơ của Thúy Kiều trong đoạn trích "Trước lầu Ngưng Bích", hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về giá trị của nghị lực sống trong cuộc đời mỗi con người.
Câu 2 (4.0 điểm) Viết bài văn nêu cảm nhận của anh/ chị về tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích ở phần đọc – hiểu.
Đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Xác định thể thơ của đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Thể thơ: lục bát
Câu 2.
|
Nhân vật trữ tình trong đoạn trích trên là ai? |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích, chú thích và xác định
Lời giải chi tiết:
Nhân vật trữ tình: Thúy Kiều
Câu 3.
|
Anh/chị hiểu như thế nào về từ “Xuân” trong hai câu thơ: Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân/ Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung”? |
Phương pháp:
Dựa vào ngữ cảnh để xác định nghĩa của từ
Lời giải chi tiết:
Nghĩa đen: “Xuân” có nghĩa là mùa xuân – mùa của sự tươi trẻ, tràn đầy sức sống.
Nghĩa bóng: “Xuân” ở đây nghĩa là thanh xuân, tuổi trẻ của một cô gái => “Khóa xuân” có nghĩa là thanh xuân của Kiều bị giam cầm, bị kìm hãm trong chốn lầu xanh, mất đi tự do và tuổi trẻ.
Câu 4.
|
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp cú được sử dụng trong đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Tìm các từ/cụm từ lặp lại nhiều lần, sau đó phân tích tác dụng của chúng.
Lời giải chi tiết:
- Điệp cú “buồn trông” xuất hiện ở bốn câu thơ cuối:
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh.
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh nỗi buồn triền miên, dai dẳng của Kiều khi bị giam cầm, cô đơn.
+ Tạo nhịp điệu ám ảnh, diễn tả tâm trạng tuyệt vọng, bế tắc của nàng.
Câu 5.
|
Nhận xét của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều qua đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Phân tích nội dung đoạn trích để làm rõ tâm trạng và phẩm chất của Kiều.
Lời giải chi tiết:
Vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều qua đoạn trích:
- Nỗi nhớ thương sâu nặng: Kiều hướng về gia đình, lo lắng cho cha mẹ khi mình không còn bên cạnh.
- Tấm lòng chung thủy: Nhớ về Kim Trọng với tình yêu son sắt.
- Nỗi buồn và sự cô đơn: Cảnh thiên nhiên phản chiếu tâm trạng lẻ loi, bơ vơ, mất phương hướng.
- Khát vọng tự do, hạnh phúc nhưng lại bị kìm hãm bởi số phận nghiệt ngã.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Từ tâm trạng cô đơn, bơ vơ của Thúy Kiều trong đoạn trích "Trước lầu Ngưng Bích", hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về giá trị của nghị lực sống trong cuộc đời mỗi con người. |
Phương pháp:
- Giải thích: Nghị lực sống là khả năng kiên trì, vượt qua khó khăn, thử thách để vươn lên trong cuộc sống.
- Bàn luận:
+ Nghị lực giúp con người mạnh mẽ đối mặt với nghịch cảnh.
+ Những người có nghị lực thường đạt được thành công và truyền cảm hứng cho xã hội.
+ Thiếu nghị lực dễ dẫn đến bi quan, bỏ cuộc trước khó khăn.
- Dẫn chứng: Những tấm gương có nghị lực vươn lên (Nick Vujicic, Helen Keller, thầy Nguyễn Ngọc Ký…).
- Bài học rút ra: Mỗi người cần rèn luyện nghị lực sống để làm chủ cuộc đời mình.
Lời giải chi tiết:
Trong cuộc sống, mỗi người đều phải đối diện với khó khăn, thử thách, và nghị lực sống chính là yếu tố quan trọng giúp con người vượt qua nghịch cảnh để vươn tới thành công. Nghị lực sống là ý chí kiên trì, lòng dũng cảm và quyết tâm không bỏ cuộc dù gặp phải trở ngại. Người có nghị lực luôn sẵn sàng đối mặt với thất bại, biết đứng dậy sau vấp ngã và không ngừng nỗ lực để đạt được mục tiêu. Nhờ đó, họ có thể biến ước mơ thành hiện thực, khẳng định giá trị bản thân và truyền cảm hứng cho những người xung quanh. Chẳng hạn, Nick Vujicic – chàng trai không tay không chân, đã vươn lên trở thành diễn giả nổi tiếng thế giới, hay Helen Keller – dù khiếm thính và khiếm thị nhưng vẫn trở thành nhà văn, nhà hoạt động xã hội vĩ đại. Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn có những người thiếu ý chí, dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn, sống dựa dẫm vào người khác, đánh mất cơ hội phát triển bản thân. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện nghị lực sống để vững vàng trước sóng gió, tạo dựng một cuộc đời ý nghĩa và thành công.
Câu 2.
|
Viết bài văn nêu cảm nhận của anh/ chị về tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích ở phần đọc – hiểu. |
Phương pháp:
1. Mở bài: Giới thiệu đoạn trích và hoàn cảnh của Thúy Kiều.
2. Thân bài:
Không gian cô đơn, bế tắc (cảnh lầu Ngưng Bích, bốn bề mênh mông).
Nỗi nhớ thương da diết (với gia đình, với Kim Trọng).
Nỗi buồn đau, tuyệt vọng (điệp từ "buồn trông" thể hiện sự vô vọng).
3. Kết bài: Đánh giá tâm trạng Kiều – vừa đáng thương, vừa thể hiện tâm hồn cao đẹp.
Lời giải chi tiết:
Nguyễn Du – đại thi hào của dân tộc, bằng ngòi bút tinh tế và sâu sắc, đã khắc họa rõ nét tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích. Đây là khoảng thời gian Kiều bị giam lỏng sau khi bị lừa bán vào lầu xanh. Tâm trạng của nàng hiện lên đầy xót xa qua từng câu thơ, thể hiện nỗi cô đơn, nhớ thương và lo lắng cho tương lai đầy mịt mù phía trước.
Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du miêu tả khung cảnh thiên nhiên rộng lớn nhưng lại mang đầy nỗi cô đơn:
"Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung."
Không gian rộng lớn với "non xa", "trăng gần" càng làm nổi bật sự cô lập của Kiều. Nàng như bị giam cầm giữa nơi bát ngát ấy, chỉ có thiên nhiên làm bạn. "Khóa xuân" không chỉ diễn tả tuổi xuân bị kìm hãm mà còn thể hiện tâm trạng đau khổ, tuyệt vọng của Kiều.
Nỗi cô đơn ấy nhanh chóng biến thành niềm thương nhớ khôn nguôi. Kiều nhớ Kim Trọng – người tình chung thủy mà nàng đã phải phụ bạc vì chữ hiếu:
"Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ."
Nhớ về lời thề nguyền dưới trăng, Kiều không khỏi xót xa, dằn vặt. Nàng lo lắng không biết Kim Trọng có còn mong đợi hay đã trách hờn mình. Không chỉ nhớ tình lang, Kiều còn thương cha mẹ già yếu:
"Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?"
Hình ảnh "tựa cửa" gợi lên cảnh cha mẹ ngày đêm mong ngóng tin con. Kiều càng thương cha mẹ bao nhiêu, nàng càng đau đớn bấy nhiêu vì bản thân không thể ở bên phụng dưỡng.
Cuối đoạn trích, tâm trạng Kiều chuyển sang nỗi sợ hãi, hoang mang trước số phận:
"Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?"
Các điệp ngữ "buồn trông" liên tiếp nhấn mạnh tâm trạng lo lắng, tuyệt vọng của Kiều. Hình ảnh "hoa trôi man mác" chính là ẩn dụ cho cuộc đời lênh đênh, vô định của nàng – một kiếp người nhỏ bé giữa dòng đời nghiệt ngã.
Như vậy, qua đoạn trích "Trước lầu Ngưng Bích", Nguyễn Du đã thành công trong việc khắc họa tâm trạng Thúy Kiều bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Kiều hiện lên với đầy đủ những cung bậc cảm xúc: cô đơn, nhớ thương và lo sợ, qua đó bộc lộ số phận bi kịch của nàng. Đoạn thơ không chỉ thể hiện tài năng của Nguyễn Du mà còn gợi lên sự đồng cảm sâu sắc của người đọc đối với nhân vật Thúy Kiều.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP11
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
