Đề thi giữa kì 2 Ngữ Văn 12
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
NẠN HỮU XUY ĐỊCH
(Nhật kí trong tù, Hồ Chí Minh)
Ngục trung hốt thính tư hương khúc,
Thanh chuyển thê lương điệu chuyển sầu.
Thiên lí quan hà vô hạn cảm,
Khuê nhân cánh thượng nhất tằng lâu.
Dịch nghĩa
Trong tù bỗng nghe khúc nhạc nhớ quê hương,
Âm thanh trở nên thê lương, tình điệu trở nên sầu muộn.
Nước non xa cách nghìn trùng, cảm thương vô hạn,
Người chốn phòng khuê lại bước lên một tầng lầu.
Dịch thơ – Nam Trân: Người bạn tù thổi sáo
Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu,
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu;
Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau.
(Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000)
(baodaklak.vn)
Câu 1. Xác định đề tài và thể thơ và cảm xúc, âm hưởng chủ đạo của bài thơ. (0.5 điểm)
Câu 2. Đối chiếu bản dịch thơ của câu thứ nhất với nguyên văn (thông qua các bản dịch nghĩa), từ đó xác định từ ngữ ở bản dịch thơ chưa sát nghĩa và phân tích hoàn cảnh và cảm xúc của nhân vật trữ tình. (0.5 điểm)
Câu 3. Bản dịch thơ ở câu thứ 2: Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu đã thể hiện trọn vẹn nội dung và cảm xúc ở bản gốc chưa? Hãy phân tích bản gốc (ngắt
nhịp, thanh điệu) để thấy rõ sự tinh tế trong cảm nhận tiếng sáo của thi sĩ Hồ
Chí Minh. (1.0 điểm)
Câu 4. Không gian “xa cách nghìn trùng” và “người chốn phòng khuê bước lên một tầng lầu” có phải cảnh thực không? Vì sao có cảnh tượng ấy? Chúng đã gợi ra điều gì ở độc giả? (1.0 điểm)
Câu 5. Nhận xét bản dịch thơ (2 câu cuối) có sát với bản gốc không? Gắn bài thơ vào hoàn cảnh ra đời để phân tích sức gợi và khát vọng của nhân vật trữ tình trong bài thơ và từ đó cho biết em thích bản dịch thơ hay bản gốc hơn? (1.0 điểm)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn của chiến sĩ, thi sĩ Hồ Chí Minh và chỉ ra sự kết hợp giữa vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại của bài thơ. (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm)
Câu 2. (4đ)
Viết văn bản nghị luận (600 chữ) so sánh, đánh giá để làm nổi bật nét tương đồng, khác biệt về cảm xúc, cách thể hiện cảm xúc ở 2 bài thơ tứ tuyệt Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch (trích từ Thơ Đường, tập 2, NXB Văn học, 1987) và Nạn hữu xuy địch của Hồ Chí Minh (ở phần Đọc hiểu)
Đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Xác định đề tài và thể thơ và cảm xúc, âm hưởng chủ đạo của bài thơ. (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ, chú ý đối tượng được nhắc đến
Chú ý số dòng trong bài, số từ trong câu
Chú ý các tính từ được nhắc đến để suy ra âm hưởng chủ đạo của nhà thơ
Lời giải chi tiết:
- Đề tài: Quê hương
- Thể thơ: Tứ tuyệt
- Cảm xúc chủ đạo: Nỗi nhớ quê da diết; âm hưởng lắng đọng, buồn da diết.
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Đối chiếu bản dịch thơ của câu thứ nhất với nguyên văn (thông qua các bản dịch nghĩa), từ đó xác định từ ngữ ở bản dịch thơ chưa sát nghĩa và phân tích hoàn cảnh và cảm xúc của nhân vật trữ tình. (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bản dịch thơ câu thứ nhất với nguyên văn
Lời giải chi tiết:
Dịch nghĩa: Trong tù bỗng nghe khúc nhạc nhớ quê hương.
Dịch thơ: Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu.
→ Bản dịch thiếu nghĩa của “tư hương” – nhớ quê; bản dịch nghĩa và phiên âm
- Bản phiên âm, dịch nghĩa thể hiện rõ hoàn cảnh của nhân vật trữ tình: đang
1 ở trong ngục (mất tự do và xa quê), nghe tiếng sáo nhớ quê.
→Nghe âm thanh tiếng sáo cảm nhận được nỗi lòng người thổi sáo đang nhớ quê
→ Nỗi lòng nhớ quê tác động mãnh liệt tới tâm hồn người đang bị giam trong ngục
→ Hai người như giao cảm, thấu hiểu nỗi lòng nhau qua tiếng sáo.
Câu 3 (1,0 điểm)
|
Bản dịch thơ ở câu thứ 2: Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu đã thể hiện trọn vẹn nội dung và cảm xúc ở bản gốc chưa? Hãy phân tích bản gốc (ngắt nhịp, thanh điệu) để thấy rõ sự tinh tế trong cảm nhận tiếng sáo của thi sĩ Hồ Chí Minh. (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bản dịch và bản gốc câu thứ 2
Nhận xét về nhịp thơ và phân tích nghĩa từng từ trong câu
Lời giải chi tiết:
- Bản gốc: Thanh chuyển thê lương điệu chuyển sầu (Âm thanh trở nên thế
lương, tình điệu trở nên sầu muộn).
- Bản dịch thơ (Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu) chưa chuyển tải trọn vẹn
tình ý ở bản gốc.
+ Bản phiên âm, dịch nghĩa: Nhịp thơ cổ điển 4/3; với bốn thanh trắc “ngục,
“hốt”, “thính”, “khúc” nghe réo rắt diễn tả tâm trạng nhớ quê hương một cách da diết.
+ Dịch được chữ “điệu” mà không dịch được chữ “thanh”, hai yếu tố quan trọng
của âm nhạc để diễn tả cảm xúc.
+ “Thanh chuyển thê lương”, nghĩa là âm thanh trở nên lạnh lẽo như khúc
nhạc chuyển gam; “Điệu chuyển sầu” nghĩa là điệu nhạc trở nên buồn bã. Bằng sự biến hoá của âm thanh, nỗi nhớ quê hương trăn trở, day dứt không nguôi trong tiếng sáo của người bạn tù. Tiếng sáo gợi nỗi niềm nhớ thương khắc khoải trong lòng người xa quê.
- Sự tinh tế trong cảm nhận tiếng sáo từ câu thơ đầu sáng câu thứ hai.
+ Câu thơ đầu là nỗi nhớ quê trong tiếng sáo.
+ Câu thứ hai thể hiện nỗi nhớ quê sâu lắng, tha thiết tới mức thê lương, sầu
muộn trong thanh điệu của tiếng sáo: Âm thanh trở nên thê lương, tình điệu trở nên sầu muộn.
→ Từ đồng cảm đến thấu hiểu sâu sắc nỗi lòng nhau –những người cùng cảnh
ngộ mất tự do, xa quê, nhớ quê da diết.
Câu 4 (0,5 điểm)
|
Không gian “xa cách nghìn trùng” và “người chốn phòng khuê bước lên một tầng lầu” có phải cảnh thực không? Vì sao có cảnh tượng ấy? Chúng đã gợi ra điều gì ở độc giả? (0,5 điểm) |
Phương pháp giải:
Liên hệ với thực tế để suy ra tính thực của không gian
Đọc các câu thơ trước và giải thích vì sao có cảnh tượng ấy
Lời giải chi tiết:
- Không gian “xa cách nghìn trùng” và “người chốn phòng khuê bước lên một
tầng lầu” không phải cảnh thực.
- Chính tiếng sáo, nỗi lòng nhớ quê của người bạn tù đã gợi ra cảnh tượng
của những người đang nhớ nhau trong ngàn trùng xa cách; chính sự thấu hiểu nỗi buồn vì nhớ quê nhà của người bạn mà thi sĩ tưởng tượng ra cảnh của người vợ nhớ chồng. Họ đang hướng về nhau, người vợ nơi quê nhà nghe được tiếng sáo, nỗi lòng nhớ thương của người chồng xa quê. Tiếng sáo là tiếng lòng, là cầu nối những người đang sống trong thương nhớ với nhau, hiểu nhau, nhớ nhau nhưng phải cách xa nhau.
Câu 5 (1 điểm)
|
Nhận xét bản dịch thơ (2 câu cuối) có sát với bản gốc không? Gắn bài thơ vào hoàn cảnh ra đời để phân tích sức gợi và khát vọng của nhân vật trữ tình trong bài thơ và từ đó cho biết em thích bản dịch thơ hay bản gốc hơn? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc bản dịch thơ và bản gốc 2 câu cuối
Gắn bài thơ vào hoàn cảnh ra đời (khi tác giả đang bị giam trong tù ngục) để phân tích sức gợi và khát vọng của nhân vật trữ tình trong bài thơ
Lời giải chi tiết:
– Bản dịch thơ (2 câu cuối) vô cùng đặc sắc: hàm súc, giàu sức gợi liên tưởng:
+ “Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi”: Bảy chữ gợi ra không gian xa cách và
nỗi buồn, niềm cảm thương vô bờ đối với cảnh ngộ của bạn tù (hai vợ chồng nhớ thương nhau trong cách trở); Cụm từ “khôn xiết nỗi” giàu sức gợi hiển thị toàn bộ lên bề nổi của ngôn từ như “cảm thương vô hạn”.
+ “Lên lầu ai đó ngóng trông nhau”: Vừa chuyển tải được ý ở bản gốc vừa gợi
ra được tình, cảnh – hai người trong xa cách đang hướng về nhau, nhớ nhau, mong ngóng nhau trở về.
- Gắn bài thơ vào hoàn cảnh ra đời – khi tác giả đang bị giam trong tù ngục (Nhà tù của Tưởng Giới Thạch –Trung Quốc, 1942) để thấy sự đa nghĩa và sức gợi của bài thơ:
+ Cảnh ngộ “Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi” không chỉ của vợ chồng người bạn tù mà còn là cảnh ngộ của tác gia Hồ Chí Minh: xa nhà, xa nước muôn dặm,
nhớ nước nhớ nhà khôn xiết, biết bao giờ mới được trở về, được tham gia vào sự nghiệp cứu nước đang dang dở...→ Khát vọng tự do cháy bỏng, mãnh liệt.
+ Cảnh “Lên lầu ai đó ngóng trông nhau” có thể hiểu Hồ Chí Minh và những
đồng chí, cộng sự của mình đang mong ngóng tin nhau, đang chờ nhau trở về để
cùng thực hiện sự nghiệp cứu nước ở giai đoạn quan trọng nhất.
→ Thể hiện kín đáo, sâu sắc tấm lòng yêu quê hương, đất nước của người chiến
sĩ cách mạng trong hoàn cảnh tù đày, gian khổ.
– Học sinh thể hiện sự lựa chọn theo sở thích cá nhân và lí giải đôi nét về sự
lựa chọn đó.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1.
|
Nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn của chiến sĩ, thi sĩ Hồ Chí Minh và chỉ ra sự kết hợp giữa vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại của bài thơ. (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn đã được học
Nhận xét về thể thơ, hình ảnh để thấy được nét cổ điển và sự chuyển biến, vận động của hình tượng thơ để thấy được tinh thần hiện đại
Nêu quan điểm, ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn.
+ Nhạy cảm, thấu hiểu nỗi lòng, đồng cảm với cảnh ngộ của người bạn tù
+ Không than thở, không nói về cảnh ngộ của bản thân.
+ Thể hiện khát vọng tự do, tinh thần yêu nước.
- Kết hợp giữa vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại.
+ Cổ điển: thể thơ; hình ảnh, ngôn từ hàm xúc, giàu sức gợi,...
+ Tinh thần hiện đại: biến chuyển tinh tế (không tĩnh tại) trong cảm xúc, sự vận động của hình tượng thơ: nhớ quê – thê lương, sầu muộn – nhớ, hướng về nhau
Câu 2.
|
Viết văn bản nghị luận (600 chữ) so sánh, đánh giá để làm nổi bật nét tương đồng, khác biệt về cảm xúc, cách thể hiện cảm xúc ở 2 bài thơ tứ tuyệt Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch (trích từ Thơ Đường, tập 2, NXB Văn học, 1987) và Nạn hữu xuy địch của Hồ Chí Minh (ở phần Đọc hiểu) |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức và nội dung bài văn
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết văn bản nghị luận (600 chữ) so sánh, đánh giá để làm nổi bật nét tương đồng, khác biệt về cảm xúc, cách thể hiện cảm xúc ở 2 bài thơ tứ tuyệt Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch (trích từ Thơ Đường, tập 2, NXB Văn học, 1987) và Nạn hữu xuy địch của Hồ Chí Minh (ở phần Đọc hiểu) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm cần so sánh, đánh giá. - Nêu luận đề: điểm tương đồng và thành công riêng của mỗi tác giả. |
|
Thân bài |
3,0 |
* Nét tương đồng: - Về nội dung: Thể hiện nỗi nhớ quê hương da diết (ánh trăng nỗi nhớ có ngoại cảnh tác động: nghe tiếng sáo làm dậy lên nỗi nhớ - Về hình thức: bằng bài thơ tứ tuyệt hàm xúc, giàu sức gợi, chất hội hoạ. * Nét khác biệt - Về nội dung – hoàn cảnh bộc lộ nỗi nhớ. + “Tĩnh dạ tứ” của Lý Bạch: xa quê, nhìn trăng sáng mà nhớ cố hương, trăng như trở thành biểu tượng cho quê hương + Nạn hữu xuy địch – Hồ Chí Minh: bị giam cầm, mất tự do, nghe tiếng sáo người bạn tù mà cảm nhận được nỗi nhớ quê (nỗi nhớ có cung bậc thê lương, sầu muộn.) - Cách thể hiện nỗi nhớ quê + “Tĩnh dạ tứ” của Lý Bạch diễn tả trực tiếp nỗi nhớ của lòng mình với quê hương + “Nạn hữu xuy địch” của Hồ Chí Minh: thể hiện gián tiếp qua nỗi nhớ quê của người bạn tù |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khái quát giá trị, sự đóng góp của hai tác giả ở đề tài tư hương. – Sự tác động của hai tác phẩm vào cảm xúc nhận thức của cá nhân. |
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
BƠ VƠ
(Chương 2, Bỉ vỏ, Nguyên Hồng)
Tóm tắt tiểu thuyết “Bỉ vỏ”
Bính là cô gái nghèo làng Sòi. Vì nhẹ dạ, yêu một gã Tham đạc điền và bị hắn bỏ rơi giữa lúc bụng mang dạ chửa, cô bị cha mẹ hắt hủi, đay nghiến và đứa bé sinh ra phải đem bán đi vì sợ làng bắt vạ. Đau đớn, Bính trốn nhà đi Hải Phòng mong tìm được người tình nhưng lại rơi vào nhà chứa của mụ Tài sẽ cấu. Sống ê chề, cực nhục ở nơi bẩn thỉu hội hám, Bính ốm nặng.
Bính toan tự tử nhưng được Năm Sài Gòn, trùm lưu manh ở Hải Phòng, chuộc ra khỏi nhà chứa, chăm sóc hết lòng. Nhưng rồi Năm bị bắt. Thế là, bất đắc dĩ, Bính trở thành một “bỉ vỏ” – người đàn bà ăn cắp. Do một sự hiểu lầm và ghen tuông, Năm Sài Gòn đuổi Bính đi. Bính về Nam Định, gồng thuê gánh mướn kiếm ăn. Được tin bố mẹ ở quê gặp tai hoạ có thể bị tù, Bính không còn cách nào khác, đã phải nhận lời lấy một viên mật thám để có tiền gửi về cứu bố mẹ.
Năm Sài Gòn bị bắt bởi chính tay người chồng Bính. Không chút do dự, cô đã lẻn xuống trại giam, mở khoá cứu Năm rồi cùng y đi trốn. Kết cục bi thảm đã đến: một lần, Năm cướp được một đứa bé đeo vòng vàng trên tàu thuỷ. Bính hốt hoảng nhận ra đó chính là đứa con mà bao lâu Bính nhớ thương. Nhưng nó đã chết! Giữa lúc đó, đội xếp, mật thám ập vào, Năm và Bính đều bị bắt.
Đoạn trích sau là chương 2 của tác phẩm
(1) Hải Phòng. Lần này là lần đầu tiên Bính bước chân đến một tỉnh ồn ào đông đúc, khác hẳn chốn quê mùa vắng vẻ. Bính trốn đi, sau đêm ấy đến nay đã
được bốn hôm. Bốn hôm dài quá chừng! [..]
Món tiền sáu hào chắt bóp ngót nửa năm trời đã dùng để trả tiền ăn tiền tàu từ Nam ra Phòng mất bốn hào. Còn hai hào thì vừa vặn ăn uống trong hai hôm nay. Bính hoang mang, cúi gằm mặt trong dải đường nhựa lấp lánh bóng trăng nhấc từng bước một.
Bính đi như thế không cần biết rồi sẽ đi tới đâu, miễn cho qua một đêm. Lúc này Bính bỗng hồi hộp, bối rối lạ thường. Những bụm cọ đen thẫm, ù ù lộng gió ở vườn hoa sông Lấp gợi trong trí Bính bao nhiêu hình dung quái gở. Bính tưởng con đường Bính đi tối tăm hoang vắng như cảnh một bãi tha ma. Những cành xoan xao động và những cành tre là ngọn bên những ngôi mộ chơ vơ mới đắp. Những tàu lá cọ to sùm suề giống những mớ tóc người điên hay thắt cổ.
Bính bật kêu khe khẽ:
- Biết làm sao đêm nay?!
Bính lại thấy đêm lạnh và dài lắm, một thân gái quê mùa đi bỡ ngỡ lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này, gặp những sự không may lạ thường. Nếu Bính không khéo gìn giữ, biết đâu đêm nay chẳng sẽ là cái đêm bắt đầu một cuộc đời khốn nạn nhơ nhuốc khác mà dù cực nhục chừng nào, Bính cũng phải cắn răng chịu, chứ không thể quay về quê nhà được. Bính thở dài. Mấy hôm nay tai tiếng chắc đã đồn đi khắp làng trên làng ngoài. Thế nào họ chẳng bảo lại vì mê giai, theo giai mà bỏ nhà đi. Cái tiếng theo giai đó là một sự nhơ nhuốc không sự nhơ nhuốc nào bằng. Vì người ta hiểu rằng: giai là một đứa xỏ xiên chỉ phá hoại trinh tiết người đàn bà, còn kẻ theo nó phải là một con đĩ thoã vô cùng.
Bính đã đi qua Sáu kho. Hôm nay các tàu chạy hết. Trên sông chỉ còn thấp thoáng mấy ánh lửa leo lét, chập chờn của dăm chiếc thuyền con đỗ đằng xa.
(2) Thốt nhiên Bính dừng bước, trong một phút Bính tưởng như là bến Sòi quê Bính. Bính ngẩng đầu bỡ ngỡ nhìn, lắng tai nghe: tiếng đọc kinh đâu đây nhẹ nhàng vang trước gió lạnh, réo rắt và thấm thía... Sự hồi tưởng ấy làm Bính cảm thấy rõ rệt bố mẹ mình là giả dối. Bính ghê sợ cho sự “nguyện ngắm” hàng ngày
chỉ dùng che mắt thế gian. Phải, chỉ che mắt thế gian thôi! Nay đi xưng tội, mai đi chịu lễ, sáng sớm nào cũng có mặt ở nhà thờ, đêm nào cũng thức tới mười một, mười hai giờ để đọc kinh, hỏi để làm gì?
Thì cũng như trăm nghìn gia đình chỉ ngoan đạo bề ngoài, gia đình Bánh bao năm được người làng khen là êm ấm đáng làm mẫu mực nhưng thực chẳng có
lấy một chút gì yên vui, thuận hoà, đạo đức bên trong. Cha mẹ Bính cắn rứt nhau luôn, vì thiếu thốn, chửi mắng hành hạ Bính luôn vì Bính không như ai giảo hoạt, tinh ranh trong sự cạnh tranh khách đi đò và buôn bán mua rẻ bán đắt tôm cá của các thuyền chài lưới quen thuộc. Hơn nữa, Bính không biết mưu tính các cách gian lận với những khách gửi hàng để lo cho mình có cái bộ cánh mà nhà không sao sắm sửa được vì ruộng đất cày cấy không có, ngoài mảnh vườn chỉ được cái rau ăn còn đều trông vào con đò thì phải sinh sống rất khôn ngoan xoay giờ đủ mặt. Những điều này đã làm Bính suy nghĩ và đau lòng.
Bính buồn bã lắc đầu rồi giơ tay làm “dấu” đoạn thầm thì cầu kinh. “Lạy Cha chúng tôi ở trên giời, xin Cha cho chúng tôi hàng ngày dùng đủ và tha nợ cho chúng tôi như chúng tôi đã tha kẻ có nợ chúng tôi... Thì Chúa sẽ ban ơn cho tôi giữ đạo nên ở đời này cho ngày sau được lên nước thiên đàng vui vẻ đời đời....
(3) Gió sông càng ù ù, sương càng mù mịt. Bính đọc hết năm chục kinh, làm “dấu”, đoạn khép chặt tà áo vào người rồi rảo bước. Chợt có tiếng người gọi:
- Cô kia đi đâu?
Bính không dám quay lại trả lời cứ lùi lũi đi nép vào rặng cây bên đường. Một
chiếc xe tay đâm xô lại, chắn lấy lối đi, tiếp đến những tiếng cười ran:
- “Săn” kì được “mẻng” ấy cho tao.
Bính tránh hẳn sang bên kia, gằm mặt xuống xốc lại cái đẫy vải đeo sau lưng. Một người đàn ông vận quần áo lót kẻ sòng sọc rất chải chuốt và tóc bóng lộn, ngồi trên xe nom trõ mặt vào mặt Bính, Bính quay mặt ra chỗ khác. Người ấy kéo vạt áo Bính, ngọt ngào hỏi:
– Cô định tìm ai ở đây?
Bính hoảng hốt chực chạy. Nhưng chung quanh Bính năm chiếc xe đã vây kín, Bính kêu lên:
- Ô kìa!
Tên ngồi xe nhại lại, cười sặc sụa. Dáng điệu ngây thơ của Bính bảo rõ với bọn này rằng Bính là một gái quê mới ra tỉnh lần đầu và là một gái quê xinh đẹp hẳn hoi. Thật vậy, dưới ánh đèn điện, mắt Bính lấp lánh chớp luôn, đôi má mũm mĩm ửng hồng chúng trông ngon lành quá.
Một gã kéo xe nhưng tóc mai cũng xén nhọn và để dài như thằng ngồi xe, mặc hai gã khác ngồi trên xe ngăn lại không cho, rồi gã vận quần áo lót kẻ sòng sọc áo trắng là cổ bẻ và ngoài khoác áo tây vàng toan giằng lấy khăn vuông Bính, song hai gã khác ngồi trên xe ngăn lại không cho, rồi gã vận quần áo lót kẻ sòng sọc mượn cớ nhảy xuống bíu lấy vai Bính. Bính kêu thất thanh. Thừa cơ hai cái xe chạy đi đón khách dưới thuyền lên, Bính liền lẩn nhanh ra chỗ khác. Đám xe rãn cả, tản mỗi nơi một chiếc. Còn Bính, Bính đi ngược lên phố vì Bính nhận thấy nếu cứ lang thang, bơ vơ ở những chỗ đường vắng thì thế nào cũng còn bị chòng ghẹo.
Được một quãng có nhà cửa thì lại đến quãng vườn hoang. Những bụi cây là mù trước những ngọn đèn điện bóng mờ hiện ra trước mắt Bính làm trống ngực Bính lại đập thình thịnh. Chợt Bính lạnh toát cả người, quay đầu nhìn về đằng sau; một bóng người đương rảo gót như đuổi Bính. Bính đi nhanh hơn. Người theo sau cũng bước gấp, phút chốc hắn đi sát cạnh Bính và khẽ nói:
– Cô! Cô chậm bước chứ để tôi ngỏ câu chuyện này.
Nhời nói êm đềm khiến Bính bớt sợ, Bính đưa mắt nhìn thì đó là người ngồi trên xe ban nãy nhưng đã thay quần áo khác, Bính im lặng nhìn bộ y phục lạ lùng của hắn: cái áo dạ tím bó chẹt lấy lưng, hai ống quần lướt thướt như bằng lụa thì buông chùng quá gót, cái mũ dạ mới lạ làm sao, lóng lánh một chiếc tên mạ kém như dấu hiệu của lính. Bính chợt nhớ đến cái hạng công tử cũng kiểu ăn mặc như thế này những ngày hội đầu năm vùng Bính bọn chúng thường kéo về chớt nhả gái làng. Bính vội quay đi.
Hắn chẳng còn do dự, nắm ngay cánh tay Bính, cặp mắt sáng lên khác thường
– Cô đi đâu bây giờ? Đi một mình mà không buồn à?
Bính thót người lại hết sức giăng tay ra, nhưng hắn đã bá lấy cổ Bính, hôn vào má Bính đánh chụt một cái. Đường vắng vẻ quá, gió thổi lào xào trong những bụm cọ lù mù, vành trăng lại bị mây đen che đi.
Hắn bế xốc Bính lên, mặc Bính giãy giụa the thé van lơn, chạy vào trong vườn. Bính phải kêu thét lên nhưng gió thổi mạnh đánh bạt cả tiếng Bính đi.
Trong chớp mắt hắn dằn Bính xuống vệ cỏ...
Bỗng một đoàn xe đạp xăm xăm từ đằng xa tới, đèn xe kéo dài những vệt sáng rung động trên đường nhựa, có một ngọn soi chõ vào vườn như tìm tới.
Bính vội gào to:
- Các ông ơi! Cứu tôi với! Cứu tôi với!
Chẳng để Bính kêu thêm, hắn hốt hoảng buông Bính ra rồi chạy thẳng. Bính choáng váng mừng rỡ, nhặt mau cái đẫy vải lăn trên bãi cỏ chạy ra đường. Gió thổi mạnh. Mấy người ngồi xe đạp chẳng nghe thấy gì, song họ đều ngẩng đầu tò mò trông khi Bính trong vườn xô ra. Bính cố giữ tự nhiên, lẳng lặng rảo bước một lát tới đầu phố. Trống ngực Bính vẫn đập rộn. Cảnh vật vẫn u ám! Bính len lét đến trước một cái hiên rộng, ngồi thở. Đồng hồ ở trong nhà vắng lên mười một tiếng.
(4) Đường sá càng vắng tanh, vắng ngắt. Bính rùng mình. Đêm nay đối với Bính mới dài và cực nhục làm sao! Còn ê chề, cay đắng hơn cả một năm lam lũ! Bính nép người bên góc tường, gục mặt vào bàn tay, tê tái những cảm xúc đau xót sôi nổi trong lòng. Bính càng mỏi mệt, ròng rã một ngày, Bính đi không mấy lúc nghỉ chân. Đã thế lại vừa phải chống cự với thằng đểu kia nên hai đầu gối Bính mỏi dừ, bụng cồn cào ngâm ngẩm đau. Gió đêm như ru, Bính chợp mặt thiu thiu ngủ.
Bỗng không biết từ đâu đưa tới tiếng trẻ con khóc oe oe giống tiếng mèo gào vang động cả trời khuya.
Bính mở choàng mắt, chợt nhớ đến đứa con thơ chưa đầy tháng, tại cha mẹ Bính cay nghiệt, tại cái tục lệ quái ác mà Bính phải xa nó, xa nó không biết bao giờ lại được ôm nó trong lòng. Bính vừa cất tiếng khóc rưng rức thì tiếng khóc kia nín bặt, Bính vụt nghĩ đến đứa bé kia khóc thế nào chả có người vỗ về ru cho bú, còn con Bính thân phận con nuôi con mày, giá đêm khát sữa, thì dù có được chiều chuộng mấy chăng nữa cũng khó mà được bú đêm. Ấy là không kể đến người nuôi dỗ mãi không nín thì thế nào chả phát nó năm bẩy chiếc phát cho bõ cái bực tức bị thức giấc.
(Nguyên Hồng, Bỉ vỏ, NXB Văn học 1985)
(*) Tên văn bản do nhóm biên soạn đặt.
*Nguyên Hồng (1918 – 1982), tên khai sinh Nguyễn Nguyên Hồng, là một nhà văn, nhà thơ. Ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (1910). Vì có một tuổi thơ vô cùng bất hạnh, cay đắng nên ngay từ những tác phẩm đầu tay, Nguyên Hồng đã hướng ngòi bút về những người nghèo khó gần gũi mà ông yêu thương với một sự cảm thông sâu sắc, với tâm hồn của một người từng trải.
Câu 1. Đọc tóm tắt tiểu thuyết và văn bản Bơ vơ để xác định những đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại (0,5đ)
Câu 2. Tóm tắt nội dung văn bản Bơ vơ theo các đoạn đã đánh số và cho biết: Đoạn trích này có vị trí như thế nào đối với việc phản ánh số phận, cuộc đời của Tám Bính? (0,5đ)
Câu 3. Vì sao Bính phải bỏ nhà ra đi (Hãy gắn đoạn trích với phần tóm tắt để lí giải)? Lý do này có ý nghĩa như thế nào? (1đ)
Câu 4. Đọc đoạn số 1,3 và trả lời câu hỏi a,b (1đ)
a. Tình cảnh hiện tại của Tám Bính cơ cực như thế nào?
b. Cô ấy có nhận thức được cảnh ngộ của mình không? Điều này có ý nghĩa gì?
Câu 5. Điều gì khiến Tám Bính nhớ về quê hương và gia đình? Cô nhớ về điều gì nhiều nhất? Đoạn văn bản viết về nỗi nhớ quê của Bính được thuật kể từ điểm nhìn nào? Điểm nhìn đó có vai trò gì đối với văn bản đọc? (1đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Cảm nhận của em về nhân vật Tám Bính trong văn bản đọc hiểu Bơ vơ. Từ đó, nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật và xác định cảm hứng, phong cách sáng tác của văn bản đọc hiểu (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2đ)
Câu 2. (4đ)
Em có đồng tình với việc bỏ nhà ra đi của Tám Bính không? Hiện tượng này có sảy ra với thanh niên hiện nay không? Em hãy biết bài luận (600 chữ) thể hiện chính kiến của mình về hiện tượng này
Đáp án
Câu 1. (0,5đ)
|
Đọc tóm tắt tiểu thuyết và văn bản Bơ vơ để xác định những đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Nội dung phản ánh hiện thực trong phạm vi không gian thời gian rộng lớn: cuộc đời của Tám Bính khi là cô gái trẻ đến khi vào tù; Không gian làng quê và Hải Phòng
- Nhân vật: Nhiều nhân vật thuộc gia đình làng quê, Tám Bính và xã hội – nơi diễn ra cuộc đời lang bạt của Tám Bính. Phản ánh trọn vẹn số phận của Tám Bính: mở đầu là sự lỡ dở (sinh đứa con không cha, kết thúc bi đát là vào tù)
- Cốt truyện với vô số sự kiện về cuộc đời Tám Bính: Tám Bính bỏ nhà đi, vào nhà chứa, Năm Sài Gòn đuổi Bính đi, cô lấy một viên mật thám để có tiền gửi về cứu bố mẹ, Tám Bính cứu Năm Sài Gòn cùng y đi trốn. Kết thúc: chứng kiến con chết, bản thân bị bắt.
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Tóm tắt nội dung văn bản Bơ vơ theo các đoạn đã đánh số và cho biết: Đoạn trích này có vị trí như thế nào đối với việc phản ánh số phận, cuộc đời của Tám Bính? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Tóm tắt:
+ Đoạn 1: Bính bỏ nhà đi đã 4 ngày và vẫn bơ vơ, lo lắng ở Hải Phòng
+ Đoạn 2: Bính nhớ về làng Sòi, về nhà với bao nỗi cay đắng
+ Đoạn 3: Bính bị trêu ghẹo, ăn hiếp nơi phố thị
+ Đoạn 4: Bính bơ vơ, buồn bã và trào lên nỗi thương nhớ con
- Đoạn trích ở phần đầu tiểu thuyết có vai trò mở đầu số phận của nhân vật tiểu thuyết: Tám Bính bỏ nhà ra đi và bắt đầu chuỗi ngày cơ cực tại Hải Phòng, cho số phận khốn cùng của cô
Câu 3 (1 điểm)
|
Vì sao Bính phải bỏ nhà ra đi (Hãy gắn đoạn trích với phần tóm tắt để lí giải)? Lý do này có ý nghĩa như thế nào? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Lí do Bính phải bỏ nhà ra đi:
+ Bố mẹ Bính là người độc ác: chửi rủa Bính; bán con của Bính để lấy tiền tiêu
+ Bính không thể chịu đựng được dư luận, sự đả kích ngay chính quê nhà mình
- Lí do này có giá trị nhân đạo sâu sắc:
+ Tố cáo sự tàn độc của tư tưởng cổ hủ, những con người bất nhân (bố mẹ Bính) đã đẩy Bính vào con đường cùng (khiến Bính hư hỏng sau này)
+ Bênh vực, cảm thông với nỗi khổ của Bính, người con gái nông thôn cả tin này không thể chống đỡ được những cạm bẫy của xã hội
Câu 4 (1 điểm)
|
Đọc đoạn số 1,3 và trả lời câu hỏi a,b a. Tình cảnh hiện tại của Tám Bính cơ cực như thế nào? b. Cô ấy có nhận thức được cảnh ngộ của mình không? Điều này có ý nghĩa gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 1 và 3
Lời giải chi tiết:
a. Tình cảnh hiện tại của Tám Bính:
- Bỏ nhà quê ra phố, hết tiền: Món tiền sáu hào chắt bóp ngót nửa năm trời đã dùng để trả tiền ăn, tiền tàu từ Nam Định ra Phòng mất bốn hào. Còn hai hào thì vừa vặn ăn uống trong hai hôm nay; lang thang trong đêm bị trêu ghẹo, sàm sỡ,…
- Bế tắc, hoang mang tột độ: Bính đi như thế không cần biết rồi sẽ đi tới đâu: “Biết làm sao đêm nay?! Bính lại thấy đêm lạnh và dài lắm”
b. Cô nhận thức được cảnh ngộ của mình:
- Một thân gái quê mùa bỡ ngỡ lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này, gặp những sự không may là thường
- Việc mình bỏ đi sẽ đồn khắp làng: theo trai, đĩ thõa,…
- Ý nghĩa: Bính- cô gái trẻ bất lực, bế tắc trước hoàn cảnh, ý thức được cảnh ngộ nhưng không thể thoát được cảnh ngộ ấy; việc Tám Bính sẽ liên tiếp gặp tai ương trong cuộc đời là tất yếu → tố cáo, lên án xã hội đẩy con người vào cảnh ngộ khốn cùng
Câu 5 (1 điểm)
|
Điều gì khiến Tám Bính nhớ về quê hương và gia đình? Cô nhớ về điều gì nhiều nhất? Đoạn văn bản viết về nỗi nhớ quê của Bính được thuật kể từ điểm nhìn nào? Điểm nhìn đó có vai trò gì đối với văn bản đọc? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về điểm nhìn
Lời giải chi tiết:
- Điều khiến Tám Bính nhớ quê: tiếng đọc kinh đâu đây nhẹ nhàng vang trước gió lạnh, réo rắt và thấm thía,…
- Nhớ về gia đình, cha mẹ:
+ Gia đình chẳng có lấy một chút gì yên vui, thuận hòa, đạo đức. Cha mẹ Bính luôn cắn rứt nhau vì thiếu thốn;
+ Chửi mắng hành hạ Bính vì Bính không biết mưu tính gian lận
+ Bố mẹ mình là giả dối, che mắt thế gian
- Đoạn được thuật kể từ điểm nhìn bên trong của nhân vật
- Vai trò của đoạn: khắc họa tâm lí nhân vật, nỗi đau khổ của cô gái trẻ, lí giải việc Tám Bính phải bỏ nhà ra đi, phản ánh một chặng đường đời của nhân vật chính
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2 điểm)
|
Cảm nhận của em về nhân vật Tám Bính trong văn bản đọc hiểu Bơ vơ. Từ đó, nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật và xác định cảm hứng, phong cách sáng tác của văn bản đọc hiểu (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các chi tiết xây dựng nhân vật để phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật và phong cách sáng tác
Lời giải chi tiết:
Triển khai viết: văn bản có 3 đoạn nhỏ hoặc đoạn lớn (đảm bảo đủ các nội dung
mà câu hỏi đã yêu cầu).
- Xác định một số đặc điểm nổi bật của nhân vật:
+ Cô gái hiền lành chân chất của thôn quê (không như ai giảo hoạt, tinh ranh).
+ Cô gái chịu nhiều đau khổ (cha mẹ mắng chửi, phải bỏ nhà ra đi,...); giàu tình yêu thương (yêu nhớ đứa con khôn nguôi).
+ Cô gái có những đánh giá về con người cuộc sống (Bố mẹ mình là giả dối, che mắt thế gian; đọc kinh, hỏi để làm gì?; một thân gái quê mùa đi bỡ ngỡ lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này,...).
+ Lâm vào tình cảnh bế tắc. (Học sinh tự lấy dẫn chứng)
(Học sinh có thể phân tích ngắn gọn 2–3 đặc điểm nổi bật của nhân vật và có
dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp.)
– Nghệ thuật xây dựng nhân vật: chú trọng diễn biến tâm lí qua độc thoại nội
tâm, hồi ức,... một số hành động)
- Cảm hứng và phong cách sáng tác của tác phẩm.
+ Cảm hứng thương cảm, phê phán.
+ Phong cách hiện thực. (Học sinh tự lấy dẫn chứng).
Câu 2. (4đ)
|
Em có đồng tình với việc bỏ nhà ra đi của Tám Bính không? Hiện tượng này có sảy ra với thanh niên hiện nay không? Em hãy biết bài luận (600 chữ) thể hiện chính kiến của mình về hiện tượng này |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Em có đồng tình với việc bỏ nhà ra đi của Tám Bính không? Hiện tượng này có sảy ra với thanh niên hiện nay không? Em hãy biết bài luận (600 chữ) thể hiện chính kiến của mình về hiện tượng này |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề nghị luận (xác định vấn đề của tuổi trẻ) - Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ |
|
Thân bài |
3,0 |
* Thái độ đối với việc bỏ nhà ra đi của Tám Bính - Tóm tắt ngắn gọn hành động, lí do Tám Bính bỏ nhà ra đi (suy nghĩ về bố mẹ và gia đình) - Phân tích ngắn gọn hậu quả trong hiện tại, tương lai (căn cứ vào số phận của Tám Bính qua tiểu thuyết Bỉ vỏ) - Thể hiện thái độ đồng tình/ không đồng tình * Hiện tượng bỏ nhà đi của thanh niên ngày nay - Một bộ phận hành xử thiếu suy nghĩ: bỏ nhà đi - Hậu quả đối với bản thân, gia đình, xã hội → Dùng lí lẽ, dẫn chứng mở rộng vấn đề (Các góc nhìn về vấn đề; tính hai mặt của vấn đề) *Ý kiến của cá nhân về hiện tượng |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề - Hành động của cá nhân (trong tình huống giả định) |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng các thao tác phân tích so sánh, tổng hợp, chứng minh - Dẫn chứng phong phú, đa dạng phù hợp tới lí lẽ, luận điểm |
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
CƠN ĐAU DÀI
(Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn Kháng)
Tóm tắt tác phẩm “Mùa lá rụng trong vườn”
Mùa lá rụng trong vườn kể về gia đình ông Bằng, một nhân viên bưu điện đã nghỉ hưu tại Hà Nội. Ông Bằng có năm người con trai. Anh cả Tường đã hi sinh ngoài mặt trận, vợ anh là Hoài đã tái giá nhưng vẫn thường xuyên viết thư thăm hỏi gia đình. Đông là anh hai, trung tá đã xuất ngũ, sống cuộc sống đơn giản; Lí, cô con dâu đảm đang, nhanh nhẹn. Con trai thứ ba của ông là Luận, một nhà báo có nhiều trăn trở, suy tư về cuộc sống. Vợ anh là Phượng, một người tốt bụng, luôn sẵn lòng giúp đỡ mọi người. Người con thứ tư – Cừ, lại hư hỏng, không nghe lời cha mẹ, đã từng bị đuổi khỏi quân đội. Cuối cùng, em út Cần đang đi học ở Liên Xô, sắp về nước.
Bi kịch ập tới khi Cừ bỏ việc ở xí nghiệp, trốn ra nước ngoài, bỏ lại vợ và hai con nhỏ.
Sau khi trốn sang Canada, Cừ mới nhận ra lỗi lầm của mình thì đã muộn. Anh liền gửi bức thư cuối cùng về nhà trước khi uống thuốc tự tử. Nhận được thư, bệnh cao huyết áp của ông Bằng tái phát, khiến ông phải nhập viện, rồi qua đời. Đồng thời, vợ và hai con trai của Cừ vô cớ bị sa thải khỏi nông trường, phải đến ở nhờ nhà ông Bằng, rồi nhà chị Hoài. Trước tình cảnh khó khăn, Luận, Phượng và Hoài đã tỏ rõ mình là những người có tinh thần trách nhiệm cao đẹp, thương người như thể thương thân.
Lí chán chường khi sống cạnh Đông, nên khi ông trưởng phòng ở cơ quan dụ dỗ, Lí đã đi công tác Sài Gòn gần tháng trời với ông ta, hưởng lạc, bỏ bê gia đình. Chỉ tới lúc đã đi khỏi nhà, chị mới nhận ra lỗi sai của mình, viết thư tỏ ý muốn quay trở về. Câu chuyện kết thúc vào một đêm giáp Tết, khi mọi người nhận được thư của Lí.
Đoạn trích sau là chương 18 của tác phẩm "Mùa lá rụng trong vườn"
(1)... đêm đêm Luận nằm ngủ có lúc giật mình tỉnh giấc. Quả khô, cành khô rụng lá trên mái nhà như chạm vào nỗi xôn xao thương nhớ. Đông co ro trong
giá lạnh. Đã thôi chửi đời và thôi nguyền rủa Lí. Nhưng nỗi đau thì mỗi ngày một ngấm thêm. Đông hiểu, anh vừa mất đi một cái gì hệ trọng và thân thiết quá. Lần giở từng trang đời đã xa, anh nghiệm ra: Lí có nhiều thói xấu, nhưng sống bên chị, về cơ bản, anh vẫn thoải mái, yên vui. Chị là sắc màu, là nhịp điệu đời sống lúc nào cũng lấp lánh, tưng bừng bên anh. Với anh, chị là một người mẹ, một người chị tận tình.
Gian buồng, căn nhà, khu vườn còn nhắc nhở bao kỉ niệm thiết tha, còn vang ngân tiếng chị, còn lưu giữ vẹn nguyên bóng hình chị. Khi bị mất rồi, anh mới hiểu biết giá trị của cái không còn. Đau đớn ngấm đến tận nơi sâu thẳm nhất, anh lại nổi cơn khùng, nhưng lần này ngấm ngầm và chỉ trút nỗi căm hờn vào kẻ đã quyến rũ vợ anh – gã Trưởng phòng Vật tư khốn nạn.
Trong bữa cơm với gia đình Luận, Đông có nói tới gã trưởng phòng nọ với lời đe doạ: nó gây gió, nó phải chịu bão. Luận giật mình thấy mắt Đông lúc ấy mất hết thần sắc y như khi Đông túm cổ áo Luận và lúc nói sẽ bắn chết thằng Cừ.
Phượng lo lắng bảo chồng: “Anh Luận, nên trông nom, theo sát anh Đông, ngộ nhỡ có chuyện gì..” Luận lên ở cùng buồng với Đông, anh muốn khuây khoả và kiềm chế ông anh: con người quen sống giản lược, bị dồn vào bức bách dễ manh động bột phát lắm.
Một buổi chiều, hai người ngồi uống nước và nghe nhạc Vácne. Bỗng Đông hỏi:
– Nhạc Vácne hùng tráng đấy chứ, có gì mà ông cụ không thích nhỉ?
– Chỉ vì nghe em nói Hitle nó thích nhạc ông này thôi. – Luận đáp. – Anh thấy không, ông cụ là người có học còn vậy. Con người có những định kiến cố định, phá vỡ, đổi thay không dễ đâu.
Đông im, như nghĩ ngợi. Lát sau, Luận tiếp:
- Con người vượt ra khỏi cái quy định là rất khó. Em không muốn nói ngoại cảnh, thời đại, mà nói cái đã bị quy định ở trong mỗi con người.... Chị Lí cũng vậy. Chị là nạn nhân của chính mình. Và anh, anh nên rút kinh nghiệm.
Nói cái ý cuối cùng, Luận đã đắn đo mãi. Luận nghĩ: “Đông đã bình tâm, nên nói để Đông xem xét lại mình và tìm cách cứu vãn tình hình. Nhưng, Đông vụt
đứng dậy:
- Chẳng lẽ tôi là thằng khốn nạn à?
- Anh không hiểu ý em.
- Tôi, mấy chục tuổi Đảng, tuổi quân, có mặt ở chiến trường suốt hai cuộc kháng chiến, tôi là thằng đểu giả, lừa lọc, phản bội, lưu manh, côn đồ à? Vì chịu ảnh hưởng của tôi mà cô ấy hư hỏng à?
Đông nói dồn dập gay gắt và vẫn không vượt được ra khỏi sự sơ lược trong suy nghĩ. Luận ngắt lời anh, giọng hơi bực:
- Không ai trẻ con, ngu dốt đến mức quy kết như thế! Anh tốt, nhưng anh chưa đủ những đức tính cần thiết. Cuộc sống phức tạp. Nhưng phải sống thực sự với nó, phải có trách nhiệm với nó, vì nó. Nói cụ thể là phải có trách nhiệm với cả từng con người. Càng ngày mỗi cá thể càng nổi lên, có vị trí quan trọng vô cùng
trong cuộc sống.
Đang trong cơn phẫn khích, Đông không kìm được, cắt ngay lời Luận:
- Chỉ có vấn đề, nếu nói từ gốc, là tôi chọn nhầm thôi. Cậu lí luận đặc sệt sách vở. Chiến tranh, tất cả tâm lực phải dành cho việc đánh giặc. Người ở nhà phải tự lo lấy. Cô ấy hư đốn lẽ nào tôi phải chịu trách nhiệm?
Đông lại phải tuột những ý nghĩ tốt đẹp về Lí, lại rơi vào trạng thái thần kinh căng thẳng. Lại văng ra lời chửi rủa Lí, gã trưởng phòng và các thói tệ tư sản. Lát sau, những mặc cảm nhục nhã trỗi dậy, cay nhức tâm trí anh, anh rơi hẳn vào cuồng nộ.
Đến cao điểm, Đông tiến đến trước mặt Luận, hai mắt đỏ nọc và giọng lạc đi:
Cậu mà con bênh con đĩ ấy hả? Trời ơi sao tôi không chết luôn lúc tiến đến
cửa ngõ Sài Gòn cho rồi!
Luận ứa nước mắt vì câu kêu trời đau đớn ấy của Đông. Đông đứng lặng, to
lớn, run rẩy, đầu bạc phếch, nước mắt xối trên hai gò má xám.
(2) Chính lúc ấy, Phượng ra mở cổng vì có tiếng chuông gọi. Người gọi cổng
chào Phượng, tự giới thiệu là Cán bộ Tổ chức xí nghiệp Lí cần gặp chồng Lí vì
một việc rất cần kíp.
Đông vội lau mặt, Luận sửa soạn ấm chén xong, quay vào cái tủ sách, tiếp tục xếp dọn tư liệu, sách vở của cha. Đúng như Luận dự đoán, anh cán bộ Tổ chức sau khi hỏi qua về quan hệ vợ chồng Đông – Lí, nhìn thẳng vào mặt Đông, giọng thật nghiêm trang:
- Xin báo để anh biết, hiện giờ chị Lí sống chung như vợ chồng chính thức với một người đàn ông. Anh này nguyên là Trưởng phòng Vật tư đơn vị chúng tôi, vừa rồi đã bị chúng tôi khởi tố vì tội tham ô. Nay, tình hình như vậy, chúng tôi
quyết định kỉ luật sa thải chị ấy. Về việc này gia đình ta có ý kiến gì không? Đang quay mặt vào cái tủ sách, vờ như đang xếp dọn, để dõi theo câu chuyện,
Luận quay phắt ngay lại, vai đập đánh thình vào cánh tủ, cố kìm giữ để khỏi bật
tiếng kêu kinh sợ. Anh càng kinh sợ hơn khi nhìn thấy Đông như bất động trong
lòng ghế, bàn tay dày xoè rộng úp vào mặt, trong khi hai ngón cái và ngón trỏ bấm chặt vào hai bên thái dương. Đông đang tê dại trước một sự phũ phàng. Trong Luận lại vang lên lời kêu gào thống thiết: Anh Đông phải có ý kiến ngay đi! Không thể xử lí như vậy được!
Mặt Đông nùng nục bỗng nghiêm lại một cách ngờ nghệch, biến thái của cơn đau thất thần, lạc trí và mỗi Đông hé mở, thoát ra một giọng nói gần như tuyệt vọng:
– Cái đó thì... tuỳ các đồng chí thôi!
Luận run hết cả người lên, vừa lo sợ vừa giận dữ, Luận chỉ muốn nhảy lại quát tướng vào mặt Đông và anh cán bộ nọ. Sao các anh lại quyết định một việc hệ trong như thế trong khi thần kinh các anh không bình thường. Và anh Đông, qua
sự việc này, tôi có thể nói anh là một kẻ vô trách nhiệm hoàn toàn!
Luận lao xuống gác, đuổi theo người cán bộ nọ, tâm não bừng bừng trong
cơn gào thét dữ dội và âm thầm:
- Đồng chí ơi, chính tôi đã nghe thấy các đồng chí ở xí nghiệp khen ngợi chị
Lí hết mực. Tội trạng chị ấy chưa đáng đến mức kỉ luật ấy. Xử lí chị ấy như vậy là dứt khoát đẩy chị ấy xuống bùn, là cắt đường trở về của chị ấy. Đồng chí không nên căn cứ vào ý kiến của anh Đông. Anh ấy lúc này còn đâu là sáng suốt! Các đồng chí nên gặp chị Lí một lần nữa đi.
Nhưng người cán bộ nọ đã đi.
(3) Quay vào khu vườn, phong phanh một chiếc áo len mỏng mà người Luận nóng bừng. Lòng giận sôi lên, anh ngước lên nhìn buồng Đông. Đông vừa bật đèn. Đông vừa vặn máy hát. Không! Không thể hời hợt và vô trách nhiệm như thế! Con người thông minh và đần độn, mạnh mẽ và yếu ớt thảm hại. Dưới tác động của một ngẫu nhiên bất hạnh rất nhỏ thôi, đời một con người cũng có thể xoáy lật ngược chiều tức khắc. Con người, cần phải được thể tất, cần phải đỡ nâng, dắt dìu. Ngay ngày mai Luận phải đến cái xí nghiệp ấy để phản bác cái quyết định tắc trách của họ với Lí. Đời Lí lại thêm một hiểm hoạ, phải nhanh tay cứu chị ấy.
Lúc ấy, Phượng vừa tưới rau và vun cây quất xong. Chị ghếch cái cán cuốc vào thân cây táo, hồi hộp lo lắng vì thấy Luận mắt đăm chiêu vừa từ cổng đi vào, ngồi xuống cái ghế đá và úp mặt vào hai lòng bàn tay.
- Anh Luận. Anh vào ăn cơm đi.
– Phượng à... anh buồn quá, em ạ.
Luận ngẩng lên. Ngước theo hai cánh tay Phượng vừa nâng từ từ lên cao, vòng ra sau gáy, vơ mái tóc cặp lại, anh nhận ra hai cánh tay Phượng mảnh dẻ quá, gầy guộc quá, tiều tuỵ quá. Nao dậy trong anh nỗi lo thắt ruột gan: Phượng đã có mang được ba tháng.
– Anh Luận ạ, số tiền ông để lại ba nghìn. Tang lễ cho cụ mất một nghìn rưởi. Còn một nghìn rưởi. Em định gửi cho mẹ con thằng Quân anh, Quân em. Không thấy Luận đáp, chị hiểu chồng chị đang phân tâm và chính chị đang sốt ruột muốn biết người ở xí nghiệp Lí mang tin gì đến.
Luận quay lại, lẫn trong tiếng thở dài: Chị Lí bị sa thải rồi, em ạ. Phượng bỗng thấy rét run. Có cảm giác nỗi sợ hãi truyền kiếp vừa phát sinh từ bóng tối hư huyền trong khu vườn đang ám ảnh chị, làm chị nổi gai và gây gây như là lên cơn sốt. [...].
(Ma Văn Kháng, Mùa lá rụng trong vườn, NXB Trẻ, 2011)
(*) Tên văn bản do nhóm biên soạn đặt.
* Ma Văn Kháng (sinh năm 1936, tên khai sinh là Đinh Trọng Đoàn) là một nhà văn nổi bật của nền văn học đương đại Việt Nam nửa năm sau thế kỉ XX, đặc biệt từ khi bắt đầu thời kì Đổi mới.
Câu 1. Tóm tắt (từ 3-5 dòng) văn bản Cơn đau dài và cho biết vị trí, vai trò của văn bản đối với tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn (0,5đ)
Câu 2. “Đặc điểm nổi bật nào của thể loại tiểu thuyết thể hiện trong văn bản Cơn đau dài”? Hãy phân tích đôi nét làm rõ đặc điểm đó? (0,5đ)
Câu 3. Vì sao Đông rơi vào trạng thái đau đớn? Phân tích tính cách tiêu biểu của nhân vật Đông; từ đó, nêu những đánh giá của tác giả, của em về nhân vật này (0,5đ)
Câu 4. Em hãy đánh giá thành công đặc sắc của văn bản Cơn đau dài (nội dung, hình thức). Hãy trả lời bằng văn bản (tùy chọn hình thức đoạn nhỏ/ văn bản nhỏ) (0,5đ)
Câu 5. Nhà văn muốn nói điều gì với độc giả qua 2 lời nói, suy nghĩ sau đây của nhân vật Luận? Từ đó hãy nêu bức thông điệp em nhận được từ văn bản đọc hiểu trên (1đ)
|
a. Lời nói của Luận với Đông Cuộc sống phức tạp. Nhưng phải sống thực sự với nó, phải có trách nhiệm với nó, vì nó. Nói cụ thể là phải có trách nhiệm với cả từng con người. Càng ngày mỗi cá thể càng nổi lên, có vị trí quan trọng vô cùng trong cuộc sống, nó đòi hỏi ta phải chăm sóc |
b. Suy nghĩ của Luận sau việc của Lí Con người thông minh và đần độn, mạnh mẽ và yếu ớt thảm hại. Dưới tác động của một ngẫu nhiên bất hạnh rất nhỏ thôi, đời một con người cũng có thể xoáy lật ngược chiều tức khắc. Con người, cần phải được thể tất, cần phải đỡ nâng, dắt dìu. |
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Em có đồng ý với quan điểm, cách ứng xử của Luận sau đây không? (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2đ)
Ngay ngày mai Luận phải đến cái xí nghiệp ấy để phản bác cái quyết định tắc trách của họ với Lí. Đời Lí lại thêm một hiểm họa, phải nhanh tay cứu chị ấy
Từ đó, hãy nhận xét về Luận và vai trò của nhân vật này trong đoạn trích “Cơn đau dài”
Câu 2. (4đ)
Từ văn bản đọc hiểu “Cơn đau dài” (Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng), em hãy viết văn bản (600 chữ) bàn luận, thể hiện quan điểm của mình về mối quan hệ giữa cá nhân và trách nhiệm của mỗi cá nhân khi gia đình có người gặp biến cố (xoáy lật ngược chiều)
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Tóm tắt (từ 3-5 dòng) văn bản Cơn đau dài và cho biết vị trí, vai trò của văn bản đối với tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đối chiếu văn bản với chỉnh thể tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn
Lời giải chi tiết:
- Đông nghĩ về Lí, trò chuyện, tranh luận với Luận về Lí và cho rằng Lí hư hỏng không có lỗi của mình. Cơ quan Lí đến thông báo: Lí ăn ở với tên tưởng phòng vật tư nên bị sa thải. Đông đau đớn tột cùng và chấp nhận sự thật, Luận buồn bã, thương Lí và muốn cứu Lí trong tuyệt vọng
- Văn bản Cơn đau dài nằm ở gần cuối tác phẩm phản ánh một bi kịch gia đình ông Bằng và vợ chồng Đông Lí, thể hiện tính cách, nỗi đau của nhân vật Đông Lí
Câu 2 (0,5 điểm)
|
“Đặc điểm nổi bật nào của thể loại tiểu thuyết thể hiện trong văn bản Cơn đau dài”? Hãy phân tích đôi nét làm rõ đặc điểm đó |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại đặc điểm thể loại tiểu thuyết
Lời giải chi tiết:
- Nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư; quan tâm đến cái thường ngày, cái đang diễn biến với cách tiếp cận gần gũi; không lí tưởng hóa hiện thực;
+ Cái đang diễn biến với cách tiếp cận gần gũi: việc cơ quan Lí đến thông báo sa thải Lí, ứng xử của Đông và ý nghĩ của Luận)
- Nhân vật là “con người nếm trải”, có quá trình phát triển nhiều khi quanh co, phức tạp: diễn biến tâm lí của Đông (đang nghĩ tốt đẹp về Lí; hùng hổ gọi Lí là con đĩ; đau đớn tột cùng, chỉ biết ôm mặt)
- Phản ánh mâu thuẫn, tâm lí và xung đột giữa các quan điểm: cách nhìn đời bao dung, sâu sắc của Luận và cách nhìn đơn giản lược của Đông. Ông Bằng không thích nhạc Vácne chỉ vì nghe Luận nói Hít – le cũng thích nhạc ông này
Câu 3 (0,5 điểm)
|
Vì sao Đông rơi vào trạng thái đau đớn? Phân tích tính cách tiêu biểu của nhân vật Đông; từ đó, nêu những đánh giá của tác giả, của em về nhân vật này (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và lí giải nguyên nhân
Chú ý các chi tiết thể hiện tính cách của nhân vật Đông
Nêu quan điểm của bản thân về nhân vật
Lời giải chi tiết:
- Vì Lí rất thân thiết với Đông, anh nhìn thấy những ưu điểm của Lí nên khi bị mất rồi, anh mới hiểu giá trị của Lí. Đau đớn ngấm đến tận nơi sâu thẳm nhất, anh lại nổi cơ khùng; vì Luận nói về Lí và trách nhiệm của Đông về sự thay đổi của Lí
- Nhân vật Đông:
+ Người lính trở về từ chiến trận, nhìn con người hết sức đơn giản: Chiến tranh, tất cả tâm lực phải giành cho việc đánh giặc. Người ở nhà phải tự lo lấy
→ Đông cho rằng Lí hư là tại cô ấy, không phải do chồng, Đông quan niệm chưa đúng về mối quan hệ, sự ràng buộc vợ chồng, trong gia đình
+ Đông là người thô lỗ, cục cằn: chửi rủa Lí, gã trưởng phòng và các thói tệ tư sản
+ Đông đang nếm trải nỗi đau và rơi vào bế tắc đau đớn: Trời ơi sao tôi không chết luôn lúc tiến đến cửa ngõ
- Đánh giá của tác giả về Đông: Đông nói dồn dập, gay gắt và vẫn không vượt được ra khỏi sự sơ lược trong suy nghĩ; Anh tốt nhưng anh chưa đủ những đức tính cần thiết. Cuộc sống phức tạp. Nhưng phải sống thực sự với nó, phải có trách nhiệm với nó, vì nó → Tác giả phê phán ứng xử và suy nghĩ của Đông qua lời người kể chuyện và qua Luận. Chính Đông đã để tuột mất hạnh phúc gia đình và bây giờ chính Đông phải chịu nỗi đau đó
- Đánh giá của cá nhân: Học sinh tự trả lời theo quan điểm cá nhân
Câu 4 (0,5 điểm)
|
Em hãy đánh giá thành công đặc sắc của văn bản Cơn đau dài (nội dung, hình thức). Hãy trả lời bằng văn bản (tùy chọn hình thức đoạn nhỏ/ văn bản nhỏ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý nhận xét, đánh giá về nội dung và hình thức
Lời giải chi tiết:
– Nội dung:
+ Phản ánh số phận con người trong những mối quan hệ cuộc sống phức tạp với tất cả những mâu thuẫn, tâm lí và xung đột gay gắt trong lối sống, quan điểm sống qua nhân vật Đông, Luận;
+ Truyền tải nhiều thông điệp về cách nhìn nhận đánh giá con người, ứng xử khi người thân lầm lỡ; sống có trách nhiệm (qua nhân vật Luận).
– Nghệ thuật:
+ Miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật – nỗi đau, sự bế tắc, bất lực, lối sống thờ ơ của Đông qua sự luân chuyển của các điểm nhìn trần thuật (bên trong, bên ngoài, người kể chuyện, nhân vật) với những khúc quanh phức tạp; qua đối thoại, độc thoại, biểu hiện bên ngoài (Đau đớn ngấm đến tận nơi sâu thẳm nhất, anh lại nổi cơn khùng, nhưng lần này ngấm ngầm và chỉ trút nỗi căm hờn vào kẻ đã quyến rũ vợ anh. Đông tiến đến trước mặt Luận, hai mắt đỏ nọc và giọng lạc đi. Đông đứng lặng, to lớn, run rẩy, đầu bạc phếch, nước mắt xối trên hai gò má xám; Đông như bất động trong lòng ghế, bàn tay dày xoà rộng úp vào mặt, trong khi hai ngón cái và ngón trỏ bấm chặt vào hai bên thái dương. Đông đang tê dại trước một sự phũ phàng; Đông vừa bật đèn. Đông vừa vặn máy hát.).
+ Khắc hoạ nhân vật: Nhân vật Lí chỉ hiện lên gián tiếp mà rất rõ nét (ưu điểm,
nhược điểm, cảnh ngộ hiện tại) qua suy nghĩ của Đông và đối thoại của Đông Luận và một sự việc (người của cơ quan đến thông báo sa thải).
Câu 5 (1 điểm)
|
Nhà văn muốn nói điều gì với độc giả qua 2 lời nói, suy nghĩ sau đây của nhân vật Luận? Từ đó hãy nêu bức thông điệp em nhận được từ văn bản đọc hiểu trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ 2 lời nói, suy nghĩ
Đặt 2 lời nói, suy nghĩ đó vào từng bối cảnh cụ thể để phân tích thông điệp của tác giả
Nêu quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Nhà văn muốn nói:
a. Xã hội phức tạp, có khả năng làm tha hóa con người, con người cá nhân đòi hỏi được đề cao, vì vậy, mỗi người cần có trách nhiệm với cuộc sống, với người thân của mình
b. Con người thông minh, đần độn đều chịu nhiều tác động của xã hội khiến cuộc sống phải đối mặt với biến động, thất bại nên cần được tha thứ, đỡ nâng, dắt dìu
- Bức thông điệp: Học sinh tự đúc rút (cần sát với nội dung của văn bản: cách nhìn nhận đánh giá con người, ứng xử khi người thân lầm lỡ; sống có trách nhiệm…)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1.
|
Em có đồng ý với quan điểm, cách ứng xử của Luận sau đây không? (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn đã được học
Nêu quan điểm, ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
Đoạn thể hiện đủ, cân đối các nội dung đã yêu cầu ở trong đề (ở các gợi ý sau):
- Học sinh tự thể hiện quan điểm cá nhân về 2 nội dung: đồng ý với quan điểm, cách ứng xử của Luận; nhận xét về Luận (cần mạch lạc, thuyết phục)
- Vai trò của nhân vật Luận trong đoạn trích:
+ Thể hiện quan điểm tư tưởng (sống, nhân đạo) của nhà văn Ma Văn Kháng
+ Tạo nên nét tương phản với nhân vật Đông
+ Thể hiện vấn đề của con người, gia đình thời hiện đại
Câu 2.
|
Từ văn bản đọc hiểu “Cơn đau dài” (Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng), em hãy viết văn bản (600 chữ) bàn luận, thể hiện quan điểm của mình về mối quan hệ giữa cá nhân và trách nhiệm của mỗi cá nhân khi gia đình có người gặp biến cố (xoáy lật ngược chiều) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Từ văn bản đọc hiểu “Cơn đau dài” (Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng), em hãy viết văn bản (600 chữ) bàn luận, thể hiện quan điểm của mình về mối quan hệ giữa cá nhân và trách nhiệm của mỗi cá nhân khi gia đình có người gặp biến cố (xoáy lật ngược chiều) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề nghị luận (từ Cơn đau dài, Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng) - Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ |
|
Thân bài |
3,0 |
* Về vấn đề từ văn bản đọc - Tóm tắt vấn đề: Mối quan hệ giữa các cá nhân và trách nhiệm của mỗi cá nhân khi gia đình có người gặp biến cố (trong văn bản đọc) - Nhận xét ngắn gọn về ứng xử của hai cá nhân (Đông, Luận trong văn bản Cơn đau dài) * Bàn luận về vấn đề - Mối quan hệ của cá nhân với gia đình truyền thống của dân tộc - Về tính độc lập từ quan niệm hiện đại ngày nay (ảnh hưởng từ một số quan niệm phương Tây) (qua biểu hiện, ví dụ cụ thể, phân tích tính hai mặt của vấn đề,…) *Quan niệm, chính kiến của bản thân - Nêu quan niệm, lối sống (phân tích ưu điểm, hạn chế) - Ứng xử, hành động của cá nhân để hạn chế nhược điểm của quan điểm sống (đã lựa chọn) |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề - Hành động của cá nhân (trong tình huống giả định) |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng các thao tác phân tích so sánh, tổng hợp, chứng minh - Dẫn chứng phong phú, đa dạng phù hợp tới lí lẽ, luận điểm |
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 4
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.
Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Còn non, còn nước, còn người, Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay! Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.
(Trích Di chúc, Hồ Chí Minh, Di chúc của Chủ tich Hồ Chí Minh, NXB Trẻ, tr.4,5).
Câu 1 (1.0 điểm): Theo đoạn trích, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định điều gì về đoàn viên thanh niên?
Câu 2 (1.0 điểm): Tác giả sử dụng những từ ngữ nào để miêu tả phẩm chất của đoàn viên thanh niên và nhân dân lao động trong đoạn trích?
Câu 3 (1.0 điểm): Biện pháp tu từ liệt kê có tác dụng gì trong đoạn văn sau: Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.?
Câu 4 (1.0 điểm): Tại sao đoạn văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau?
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Dựa vào đoạn văn phần Đọc hiểu và tình hình thực tế, anh/chị hãy đề xuất một kế hoạch cụ thể để nâng cao đời sống của nhân dân lao động, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa. Kế hoạch này cần bao gồm các biện pháp phát triển kinh tế và văn hóa cụ thể nào?
Câu 2 (4.0 điểm) Anh/chị hãy viết bài nghị luận trình bày tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên trong bối cảnh hiện nay.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Theo đoạn trích, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định điều gì về đoàn viên thanh niên? |
Phương pháp:
Chú ý phần mở đầu của đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Theo đoạn trích, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ.
Câu 2.
|
Tác giả sử dụng những từ ngữ nào để miêu tả phẩm chất của đoàn viên thanh niên và nhân dân lao động trong đoạn trích? |
Phương pháp:
Chú ý các từ ngữ được sử dụng để miêu tả phẩm chất của đoàn viên thanh niên và nhân dân lao động.
Lời giải chi tiết:
- Các từ ngữ để miêu tả phẩm chất của đoàn viên thanh niên: hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ, vừa “hồng” vừa “chuyên”.
- Các từ ngữ để miêu tả phẩm chất của nhân dân lao động: anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù, trung thành với Đảng.
Câu 3.
|
Biện pháp tu từ liệt kê có tác dụng gì trong đoạn văn sau: Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.? |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về biện pháp liệt kê
Lời giải chi tiết:
Tác dụng: Nhấn mạnh tinh thần quyết tâm chiến đấu và chiến thắng của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, nó khẳng định niềm tin chắc chắn vào tương lai tươi sáng, trong đó nước ta sẽ thống nhất, nhân dân được sum họp, đất nước có vinh dự lớn trên trường quốc tế.
Câu 4.
|
Tại sao đoạn văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau? |
Phương pháp:
Đọc kĩ nội dung đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là vô cùng quan trọng vì thanh niên chính là tương lai của đất nước, là lực lượng kế thừa và phát huy những thành tựu cách mạng. Nếu thế hệ trẻ được giáo dục tốt về đạo đức cách mạng, họ sẽ có đủ phẩm chất và năng lực để tiếp tục xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước phát triển bền vững.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Dựa vào đoạn văn phần Đọc hiểu và tình hình thực tế, anh/chị hãy viết một đoạn văn đề xuất một kế hoạch cụ thể để nâng cao đời sống của nhân dân lao động, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa. Kế hoạch này cần bao gồm các biện pháp phát triển kinh tế và văn hóa cụ thể nào? |
Phương pháp:
Xác định được mục tiêu, vấn đề cần nghị luận và lập luận phù hợp
Lời giải chi tiết:
Để nâng cao đời sống của nhân dân lao động, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, cần có những giải pháp thiết thực nhằm phát triển cả kinh tế lẫn văn hóa. Đây không chỉ là nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, đảm bảo cuộc sống ổn định và bền vững cho người dân. Về kinh tế, cần đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường giao thông, điện, nước sạch để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt. Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi để người dân phát triển mô hình kinh tế phù hợp như trồng trọt, chăn nuôi theo hướng công nghệ cao. Đồng thời, cần tổ chức các lớp đào tạo nghề, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất và tạo cơ hội việc làm cho lao động địa phương. Về văn hóa - xã hội, cần đầu tư xây dựng trường học, nâng cao chất lượng giáo dục để con em vùng sâu, vùng xa có cơ hội học tập tốt hơn. Hệ thống y tế cần được củng cố, với các trạm xá, bệnh viện có đủ thiết bị và nhân lực y tế để chăm sóc sức khỏe cho người dân. Ngoài ra, việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thông qua các hoạt động văn hóa - nghệ thuật, lễ hội truyền thống cũng rất quan trọng, giúp người dân gắn kết cộng đồng và giữ gìn bản sắc quê hương. Những biện pháp trên sẽ giúp cải thiện đáng kể chất lượng sống của người dân vùng sâu, vùng xa, góp phần xây dựng một xã hội phát triển toàn diện và bền vững.
Câu 2.
|
Anh/chị hãy viết bài nghị luận trình bày tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên trong bối cảnh hiện nay. |
Phương pháp:
I. Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề bằng cách đề cập đến vai trò to lớn của thanh niên trong sự phát triển của đất nước.
- Nêu vấn đề nghị luận: Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên không chỉ là nhiệm vụ quan trọng mà còn là yêu cầu cấp bách trong bối cảnh xã hội hiện nay.
II. Thân bài:
1. Giáo dục đạo đức cách mạng là gì?
- Đạo đức cách mạng là những phẩm chất tốt đẹp như yêu nước, trung thực, cần cù, trách nhiệm, đoàn kết, có ý chí phấn đấu vì lợi ích chung.
- Giáo dục đạo đức cách mạng giúp thanh niên có bản lĩnh vững vàng, không bị sa ngã trước cám dỗ của xã hội.
2. Tầm quan trọng của giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên:
- Xây dựng thế hệ kế thừa xứng đáng: Thanh niên là lực lượng nòng cốt của đất nước, nếu không có đạo đức cách mạng, họ dễ rơi vào lối sống thực dụng, xa rời lý tưởng tốt đẹp.
- Góp phần bảo vệ và phát triển đất nước: Một thế hệ trẻ có ý thức trách nhiệm sẽ góp phần bảo vệ Tổ quốc, xây dựng xã hội giàu mạnh, văn minh.
- Định hướng lối sống tích cực: Giúp thanh niên tránh xa các tệ nạn xã hội, có lý tưởng cao đẹp và đóng góp nhiều hơn cho cộng đồng.
3. Giải pháp nâng cao giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên:
- Gia đình và nhà trường: Giáo dục từ nhỏ về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm, ý thức cộng đồng.
- Tổ chức các phong trào, hoạt động đoàn thể: Tham gia các hoạt động xã hội giúp thanh niên hiểu giá trị của lao động và cống hiến.
- Xây dựng tấm gương đạo đức: Tuyên dương những thanh niên sống có lý tưởng, cống hiến cho đất nước.
III. Kết bài:
Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên không chỉ giúp xây dựng một thế hệ trẻ có phẩm chất tốt đẹp, mà còn góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của đất nước. Mỗi cá nhân, gia đình, nhà trường và xã hội cần chung tay để bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ trẻ, giúp họ trở thành những người có đủ tài và đức để tiếp nối truyền thống vẻ vang của dân tộc
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo
Thanh niên là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên trở thành nhiệm vụ cấp thiết nhằm xây dựng một thế hệ trẻ vừa có tri thức, kỹ năng, vừa có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, góp phần đưa đất nước vững bước trên con đường phát triển.
Trước hết, đạo đức cách mạng giúp thanh niên có bản lĩnh vững vàng, kiên định với lý tưởng cách mạng, trung thành với con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Trong một thế giới đầy biến động, trước những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và văn hóa ngoại lai, thanh niên rất dễ bị ảnh hưởng bởi lối sống thực dụng, thiếu ý chí phấn đấu. Vì vậy, giáo dục đạo đức cách mạng giúp họ giữ vững lập trường, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội.
Bên cạnh đó, việc rèn luyện đạo đức cách mạng còn giúp thanh niên hình thành ý thức cống hiến, tinh thần yêu nước và trách nhiệm với cộng đồng. Một thế hệ trẻ có đạo đức sẽ biết đặt lợi ích của dân tộc, đất nước lên trên lợi ích cá nhân, sẵn sàng dấn thân vì những giá trị cao đẹp. Lịch sử đã chứng minh, trong những giai đoạn khó khăn nhất của đất nước, thanh niên luôn đi đầu trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước, thể hiện tinh thần "đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên".
Hơn nữa, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế, đạo đức cách mạng còn giúp thanh niên có ý thức học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ để đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Nếu chỉ có tri thức mà thiếu đạo đức, con người dễ sa vào con đường sai trái, làm tổn hại đến lợi ích quốc gia. Vì vậy, đạo đức và tri thức phải luôn đi đôi với nhau, tạo nên những công dân vừa "hồng" vừa "chuyên" như Bác Hồ từng căn dặn.
Để giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên hiệu quả, cần có sự chung tay của gia đình, nhà trường và xã hội. Nhà trường phải đẩy mạnh giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống dân tộc và tinh thần trách nhiệm công dân. Gia đình cần là nền tảng vững chắc, định hướng thanh niên phát triển nhân cách đúng đắn. Bên cạnh đó, các tổ chức Đoàn, Hội cũng cần tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa như tình nguyện, bảo vệ môi trường, hỗ trợ đồng bào khó khăn để thanh niên có cơ hội rèn luyện và cống hiến.
Tóm lại, giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên không chỉ là nhiệm vụ của riêng ai mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Một thế hệ trẻ có đạo đức, bản lĩnh và trí tuệ sẽ là nền tảng vững chắc để đất nước phát triển bền vững, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như lời Bác Hồ từng mong muốn. Vì vậy, mỗi thanh niên cần ý thức rõ vai trò của mình, không ngừng học tập, rèn luyện để trở thành những công dân có ích cho xã hội.
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 5
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
TẢO GIẢI
(Giải đi sớm, trích Nhật kí trong tù, Hồ Chí Minh)
Phiên âm
Nhất thứ kê đề dạ vị lan,
Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san.
Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.
Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng,
U ám tàn dư tảo nhất không.
Noãn khí bao la toàn vũ trụ,
Hành nhân thi hứng hốt gia nồng.
Dịch nghĩa
Gà gáy một lần, đêm chưa tàn,
Chòm sao nâng vầng trăng lên đỉnh núi mùa thu;
Người đi xa đã cất bước trên đường xa,
Gió thu táp mặt từng cơn từng cơn lạnh lẽo.
Phương đông màu trắng chuyển thành hồng,
Bóng đêm còn rơi rớt sớm đã hết sạch;
Hơi ấm bao la khắp vũ trụ,
Người đi thi hứng bỗng thêm nồng.
Dịch thơ – Bản dịch của Nam Trân
Gà gáy một lần đêm chửa tan,
Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn;
Người đi cất bước trên đường thẳm,
Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn.
Phương đông màu trắng chuyển sang hồng,
Bóng tối đêm tàn, quét sạch không;
Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,
Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng.
Ghi chú: Bài thơ này được sử dụng trong chương trình SGK Văn học 12 giai đoạn 1990-2006.
Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể thơ, phong cách ngôn ngữ, phương thức biểu đạt của văn bản.
Câu 2 (0.5 điểm): Khung cảnh chuyển lao được Bác miêu tả vào thời điểm nào? Thời điểm đó nói lên điều gì về hoàn cảnh của Hồ Chí Minh?
Câu 3 (1.0 điểm): Em hiểu hai chữ nghênh diện như thế nào? Nhận xét về hình ảnh người tù được miêu tả trong hai câu thơ sau:
Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.
Câu 4 (1.0 điểm): Thời gian có sự chuyển dịch như thế nào từ khổ 1 sang khổ 2? Câu thơ U ám tàn dư tảo nhất không biểu đạt điều gì?
Câu 5 (1.0 điểm) Theo em, chất thép trong bài thơ thể hiện như thế nào?
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn người tù chiến sĩ trong bài thơ trên.
Câu 2 (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) về vấn đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Xác định thể thơ, phong cách ngôn ngữ, phương thức biểu đạt của văn bản. |
Phương pháp:
Xác định thể thơ dựa vào số câu, số chữ và cách gieo vần.
Xác định phong cách ngôn ngữ dựa vào nội dung bài thơ.
Xác định phương thức biểu đạt dựa vào mục đích chính của văn bản.
Lời giải chi tiết:
- Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
- Phong cách ngôn ngữ: Nghệ thuật.
- Phương thức biểu đạt: Biểu cảm kết hợp với miêu tả.
Câu 2.
|
Khung cảnh chuyển lao được Bác miêu tả vào thời điểm nào? Thời điểm đó nói lên điều gì về hoàn cảnh của Hồ Chí Minh? |
Phương pháp:
- Dựa vào câu thơ đầu tiên để xác định thời điểm.
- Phân tích ý nghĩa của thời điểm đó đối với hoàn cảnh của Bác.
Lời giải chi tiết:
- Thời điểm: Thời điểm tờ mờ sáng, khi trời còn tối nhưng đã có dấu hiệu bình minh.
- Ý nghĩa:
+ Thể hiện hoàn cảnh khắc nghiệt: Người tù phải lên đường rất sớm, khi trời còn lạnh và tối tăm.
+ Gợi lên hình ảnh kiên cường của Hồ Chí Minh: Dù gian khổ nhưng vẫn giữ tinh thần lạc quan, không bi quan hay than vãn.
Câu 3.
|
Em hiểu hai chữ nghênh diện như thế nào? Nhận xét về hình ảnh người tù được miêu tả trong hai câu thơ sau: Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng, Nghênh diện thu phong trận trận hàn. |
Phương pháp:
- Giải thích từ “nghênh diện” trong Hán Việt.
- Phân tích tư thế và thái độ của người tù qua hai câu thơ.
Lời giải chi tiết:
- Nghĩa của từ "nghênh diện": Có nghĩa là đối diện, đón nhận trực tiếp.
- Hình ảnh người tù trong hai câu thơ:
+ “Người đi xa đã cất bước trên đường xa” → Hình ảnh người tù không chùn bước, vẫn kiên cường tiến về phía trước.
+ “Đón gió thu lạnh từng trận táp vào mặt” → Thể hiện sự gian khổ, giá rét nhưng không cúi đầu trốn tránh, mà hiên ngang đối diện.
=> Hình ảnh người tù thể hiện bản lĩnh kiên cường, tinh thần bất khuất của Hồ Chí Minh.
Câu 4.
|
Thời gian có sự chuyển dịch như thế nào từ khổ 1 sang khổ 2? Câu thơ U ám tàn dư tảo nhất không biểu đạt điều gì? |
Phương pháp:
- So sánh thời gian giữa hai khổ thơ để tìm ra sự chuyển dịch.
- Phân tích ý nghĩa của câu thơ “U ám tàn dư tảo nhất không”.
Lời giải chi tiết:
- Sự chuyển dịch thời gian:
+ Khổ 1: Trời còn tối, gió lạnh, không gian u ám.
+ Khổ 2: Mặt trời mọc, ánh sáng xua tan bóng tối.
- Ý nghĩa câu thơ “U ám tàn dư tảo nhất không”:
+ Nghĩa đen: Bóng tối còn sót lại đã bị quét sạch.
+ Nghĩa biểu tượng: Sự tăm tối, gian khổ rồi cũng sẽ qua, ánh sáng của niềm tin, cách mạng sẽ chiến thắng.
=> Gợi lên niềm tin, tinh thần lạc quan của người chiến sĩ cách mạng.
Câu 5.
|
Theo em, chất thép trong bài thơ thể hiện như thế nào? |
Phương pháp:
- Phân tích hình ảnh người tù trong bài thơ để tìm ra chất thép.
- Đưa ra nhận xét về tinh thần kiên cường, bất khuất.
Lời giải chi tiết:
Chất thép thể hiện ở:
- Tư thế hiên ngang: "Nghênh diện thu phong" – Đón gió lạnh mà không hề run sợ.
- Tinh thần lạc quan: Dù trong hoàn cảnh gian khổ nhưng vẫn cảm nhận được vẻ đẹp thiên nhiên và hứng khởi sáng tác.
- Niềm tin cách mạng: Bóng tối rồi cũng sẽ bị quét sạch, ánh sáng sẽ đến.
=> Chất thép của bài thơ chính là tinh thần kiên cường, bất khuất của người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn người tù chiến sĩ trong bài thơ trên. |
Phương pháp:
1. Mở đoạn:
Bài thơ Tảo giải không chỉ miêu tả cảnh chuyển lao gian khổ mà còn bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh – một người chiến sĩ cách mạng kiên cường, lạc quan và yêu đời.
2. Thân đoạn:
- Tinh thần kiên cường: Bác bị giam cầm nhưng vẫn hiên ngang đón nhận thử thách ("Nghênh diện thu phong trận trận hàn").
- Lòng lạc quan: Dù trong cảnh lạnh lẽo, tăm tối, Bác vẫn nhận ra vẻ đẹp thiên nhiên và sáng tác thơ.
- Niềm tin cách mạng: Hình ảnh bình minh ló rạng tượng trưng cho tương lai tươi sáng, thể hiện niềm tin mãnh liệt vào cách mạng.
3. Kết đoạn:
Qua bài thơ, ta thấy được Hồ Chí Minh không chỉ là một chiến sĩ cách mạng mà còn là một thi nhân với tinh thần thép, luôn lạc quan và yêu đời.
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo
Bài thơ Tảo giải của Hồ Chí Minh không chỉ miêu tả cảnh chuyển lao gian khổ mà còn thể hiện vẻ đẹp tâm hồn kiên cường, lạc quan của người chiến sĩ cách mạng. Trước hết, đó là tinh thần hiên ngang, bất khuất. Dù phải di chuyển trong đêm tối, giá rét, người tù vẫn ung dung bước đi, đối diện với những cơn gió lạnh mà không hề nao núng. Hình ảnh “Nghênh diện thu phong trận trận hàn” (Đón gió thu lạnh từng cơn táp vào mặt) thể hiện rõ tư thế kiên cường, không khuất phục trước nghịch cảnh. Không chỉ vậy, bài thơ còn thể hiện tâm hồn lạc quan và yêu thiên nhiên của Bác. Dù bị giam cầm, Người vẫn cảm nhận được vẻ đẹp của đất trời: từ bóng tối u ám đến ánh bình minh rực rỡ. Sự chuyển biến của thời gian cũng phản ánh niềm tin cách mạng mãnh liệt—bóng tối sẽ qua đi, ánh sáng của tự do và cách mạng sẽ đến. Như vậy, Tảo giải đã khắc họa hình ảnh người chiến sĩ vừa kiên trung, bất khuất, vừa lạc quan, yêu đời, thể hiện tinh thần “thép” và tấm lòng rộng mở của Hồ Chí Minh.
Câu 2.
|
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) về vấn đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. |
Phương pháp:
1. Mở bài:
Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ vĩ đại mà còn là một tấm gương sáng về đạo đức. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng đối với mỗi người dân Việt Nam.
2. Thân bài:
- Giải thích tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: Đó là tinh thần yêu nước, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư.
- Ý nghĩa của việc học tập theo Bác:
+ Giúp con người sống có lý tưởng, trách nhiệm.
+ Góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn.
- Cách để học tập theo Bác:
+ Rèn luyện đạo đức, lối sống lành mạnh.
+ Cống hiến cho đất nước, luôn học tập và lao động hăng say.
+ Sống giản dị, biết yêu thương và giúp đỡ người khác.
- Phản đề: HS nêu được
3. Kết bài:
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là việc làm cần thiết của mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo
Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, một nhà cách mạng kiệt xuất, người đã hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Không chỉ là một nhà lãnh đạo tài ba, Bác còn là tấm gương sáng về đạo đức, nhân cách mà mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần noi theo. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn là con đường để mỗi người tự hoàn thiện bản thân, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh.
Trước hết, học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là học tập về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và ý chí kiên cường. Ngay từ khi còn trẻ, Bác đã nuôi chí lớn, ra đi tìm đường cứu nước với mong muốn đem lại độc lập, tự do cho dân tộc. Tinh thần yêu nước của Bác không chỉ thể hiện qua những lời nói mà còn qua những hành động cụ thể, từ việc đấu tranh không mệt mỏi trên mặt trận chính trị, quân sự đến việc quan tâm đời sống của nhân dân. Noi gương Bác, mỗi chúng ta cần ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình đối với đất nước, không ngừng nỗ lực học tập, rèn luyện để đóng góp cho sự phát triển chung.
Bên cạnh đó, tấm gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư của Bác là bài học quý báu cho mỗi người. Cả cuộc đời Bác luôn giản dị, tiết kiệm, không màng danh lợi. Bác từng nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Điều đó cho thấy việc rèn luyện đạo đức không chỉ thể hiện bằng lời nói, mà quan trọng là hành động thực tiễn. Mỗi người, đặc biệt là cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên, cần nêu cao tinh thần trung thực, liêm khiết, tránh xa thói hư tật xấu như tham nhũng, lãng phí, vụ lợi cá nhân. Trong học tập, lao động, mỗi người cần biết quý trọng thời gian, tài sản chung, làm việc có trách nhiệm, hiệu quả.
Ngoài ra, học tập theo Bác còn là học tinh thần tự học, sáng tạo và luôn hướng về nhân dân. Dù là một người có trí tuệ uyên bác, Bác vẫn luôn khiêm tốn học hỏi, tự trau dồi kiến thức mỗi ngày. Bác thông thạo nhiều ngôn ngữ, am hiểu sâu sắc về chính trị, văn hóa, lịch sử nhờ quá trình tự học bền bỉ. Học tập theo Bác, chúng ta cần rèn luyện ý chí ham học, không ngừng sáng tạo, đổi mới tư duy để thích nghi với thời đại. Đồng thời, tinh thần gần dân, vì dân của Bác cũng là bài học quan trọng cho những ai đang công tác trong bộ máy nhà nước hay làm công việc phục vụ cộng đồng. Mỗi hành động, quyết định đều phải xuất phát từ lợi ích chung, đặt lợi ích của dân tộc, nhân dân lên trên hết.
Vậy làm thế nào để học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh một cách thiết thực? Trước tiên, mỗi người cần tự giác rèn luyện đạo đức, từ những việc nhỏ nhất như biết nói lời cảm ơn, xin lỗi, trung thực trong học tập và công việc, sống chan hòa với mọi người. Học sinh, sinh viên phải không ngừng phấn đấu, học hỏi, có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Cán bộ, công chức cần làm việc tận tâm, minh bạch, đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Cả xã hội cần chung tay xây dựng môi trường sống lành mạnh, đạo đức, góp phần phát triển đất nước bền vững.
Tóm lại, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là nhiệm vụ của riêng ai mà là trách nhiệm chung của toàn dân. Bằng những hành động thiết thực, dù nhỏ bé nhưng xuất phát từ trái tim chân thành, mỗi người có thể góp phần lan tỏa những giá trị tốt đẹp, làm cho xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ. Tư tưởng và đạo đức của Bác sẽ mãi mãi là ngọn đuốc soi sáng con đường phát triển của dân tộc Việt Nam.
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 Cánh diều - Đề số 6
Đề thi
ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 2 - NGỮ VĂN 12 CÁNH DIỀU
Phần I. Đọc hiểu
Đọc văn bản sau:
TRUNG THU
Phiên âm
Trung thu thu nguyệt viên như kính,
Chiếu diệu nhân gian bạch tự ngân.
Gia lý đoàn viên ngật thu tiết,
Bất vong ngục lý ngật sầu nhân.
Ngục trung nhân dã thưởng trung thu,
Thu nguyệt thu phong đới điểm sầu.
Bất đắc tự do thưởng thu nguyệt,
Tâm tuỳ thu nguyệt cộng du du!
Dịch nghĩa
Trăng trung thu tròn như gương,
Chiếu rọi cõi đời, ánh trăng trắng như bạc;
Nhà ai sum họp ăn tết trung thu,
Chẳng quên người trong ngục nuốt sầu.
Người trong ngục cũng thưởng thức trung thu,
Trăng thu, gió thu đều vương sầu;
Không được tự do ngắm trăng thu,
Lòng theo cùng trăng thu vời vợi.
Dịch thơ
Trung thu vành vạnh mảnh gương thu,
Sáng khắp nhân gian bạc một màu;
Sum họp nhà ai ăn tết đó,
Chẳng quên trong ngục kẻ ăn sầu.
Trung thu ta cũng tết trong tù,
Trăng gió đêm thu gợn vẻ sầu;
Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt,
Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu.
(Trích Nhật kí trong tù, Hồ Chí Minh, NXB Văn học, 2021, tr.31)
- Nhật ký trong tù - Ngục trung nhật ký - là tập thơ chữ Hán gồm 134 bài theo thể Đường luật do Hồ Chí Minh sáng tác trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam ở Quảng Tây, Trung Quốc, từ ngày 29 tháng 8 năm 1942 đến ngày 10 tháng 9 năm 1943. Ngoài ra, phần cuối văn bản là bút ký đọc sách và bút ký đọc báo ghi chép tóm tắt những thông tin quan trọng về chính trị, quân sự, văn hóa quốc tế và Việt Nam đương thời.
- “Trung thu” được xem là hai bài thơ, đánh số thứ tự 22,23 trên tổng số 134 bài
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5:
Câu 1. Xác định nhân vật trữ tình trong bài thơ.
Câu 2. Chỉ ra cách gieo vần trong bài thơ.
Câu 3. Nêu tác dụng của nghệ thuật đối trong hai câu sau:
Sum họp nhà ai ăn tết đó,
Chẳng quên trong ngục kẻ ăn sầu.
Câu 4. Khái quát tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ trên.
Câu 5. Chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt của bài thơ trên với bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh trong Nhật kí trong tù:
Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
Phần II. LÀM VĂN
Câu 1
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) làm rõ vẻ đẹp tâm hồn của Bác được thể hiện trong bài thơ
Câu 2
Trước những áp lực của cuộc sống hiện đại, nhiều bạn trẻ lựa chọn sống trong vùng an toàn nhưng cũng có nhiều bạn bước ra khỏi vùng an toàn để khám phá thế giới rộng lớn ngoài kia.
Là một người trẻ, anh/chị lựa chọn cách sống nào? Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) lí giải cho sự lựa chọn đó.
— HẾT —
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình.
- Căn cứ vào đại từ xưng hô, hoàn cảnh sáng tác và nội dung biểu đạt
Cách giải:
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là: Tác giả (người tù cách mạng Hồ Chí Minh)
Câu 2:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về thể thơ Đường luật (thất ngôn bát cú).
- Xác định vị trí các tiếng hiệp vần (cuối câu 1, 2, 4, 6, 8).
Cách giải:
Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, gieo vần bằng ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8 (ngân – nhân – sầu – du du…)
Câu 3:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về nghệ thuật đối trong thơ Đường luật.
- Phân tích sự đối lập về hình ảnh và ý nghĩa.
Cách giải:
- Nghệ thuật đối: Sum họp nhà ai ăn tết đó >< Chẳng quên trong ngục kẻ ăn sầu.
- Tác dụng:
+ Tạo sự đăng đối, tăng tính gợi hình, gợi cảm
+ Làm nổi bật hoàn cảnh đáng buồn của Bác: Trong tết trung thu, mọi người được sum họp đoàn viên, nhưng Người phải chịu cảnh giam hãm tù đày nơi ngục thất. Thể hiện tâm trạng buồn, cô đơn nhưng vẫn luôn hướng về cuộc sống con người, chia sẻ với niềm vui bình dị của con người. Quá đó cho thấy tình yêu thiên nhiên, tấm lòng nhân ái bao la của Bác.
+ Tạo sự đăng đối, tăng tính gợi hình, gợi cảm
Câu 4:
Phương pháp:
- Đọc toàn bài, xác định các từ ngữ biểu cảm.
- Khái quát diễn biến cảm xúc của nhân vật trữ tình.
Cách giải:
Tâm trạng của nhân vật trữ tình vừa buồn, cô đơn, nhớ tự do, vừa lạc quan, ung dung và giàu tình yêu thiên nhiên. Dù trong hoàn cảnh tù ngục, người tù vẫn hướng lòng mình theo vầng trăng, thể hiện tinh thần vượt lên hoàn cảnh, phong thái tự do trong tâm hồn.
Câu 5:
Phương pháp:
- So sánh hai văn bản cùng tác giả trong tập Nhật ký trong tù.
- Chỉ ra điểm giống và khác trên phương diện nội dung và nghệ thuật.
Cách giải:
- Điểm tương đồng: Cùng viết về việc thưởng trăng trong cảnh ngộ tù đày; tâm hồn tự do hòa cùng thiên nhiên; tù đày không ngăn cách giam hãm được người tù cách mạng. Tài liệu thuộc về
- Khác biệt:
+ Bài thơ Trung thu: Cảm xúc bao trùm: buồn.
+ Bài Ngắm trăng: Cảm xúc vui hơn, tác giả tự do tự tại, giao hòa say đắm với thiên nhiên.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Vẻ đẹp tâm hồn của Bác thể hiện trong bài thơ
- Tình yêu quê hương đất nước: dù ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt, tù đầy, nhưng người luôn mở rộng lòng mình để đón nhận vẻ đẹp của thiên nhiên.
- Tâm hồn tình tế nhạy cảm, yêu thiên nhiên: Trăng đến với Bác trong những hoàn cảnh rất đặc biệt. Mặc dù rất yêu trăng nhưng thật ra chưa có lúc nào Người thực sự thư thái để ngắm trăng thưởng nguyệt theo đúng nghĩa của nó.Tuy nhiên tình yêu dành cho trăng thì Bác luôn có sẵn, vì vậy mà dù gặp trăng trong hoàn cảnh nào đi chăng nữa tâm hồn Bác cũng đón nhận và thưởng ngoạn thật say sưa
- Khát vọng tự do, ý chí nghị lực phi thường: Có thể thấy cảnh ngộ tù đày của Bác thật buồn nhưng thiên nhiên trong thơ Bác bao giờ cũng tràn đầy sức sống và niềm vui bởi vì đấy là thiên nhiên có các sự vật gắn bó hài hòa với nhau và luôn vận động theo quy luật tất yếu của cuộc sống.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Bài thơ Trung thu trong tập Nhật ký trong tù đã làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn cao cả của Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh tù đày khắc nghiệt. Trước hết, đó là tình yêu quê hương đất nước sâu nặng. Dù bị giam cầm nơi lao ngục, Người vẫn mở rộng lòng mình để đón nhận vẻ đẹp của thiên nhiên, vẫn cảm nhận trọn vẹn ánh trăng “vành vạnh mảnh gương thu” tỏa sáng khắp nhân gian. Ẩn sau những vần thơ là một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm và giàu chất thi sĩ. Trăng đến với Bác trong hoàn cảnh đặc biệt, đó là khi tự do bị tước đoạt, khi niềm vui đoàn viên chỉ còn là nỗi nhớ. Tuy chưa bao giờ thực sự thư thái để thưởng nguyệt theo đúng nghĩa, nhưng tình yêu dành cho trăng luôn thường trực trong lòng Người; vì thế, dù ở chốn ngục tù, Bác vẫn say sưa đón nhận ánh trăng như một người bạn tri âm. Đặc biệt, bài thơ còn thể hiện khát vọng tự do và ý chí nghị lực phi thường. Cảnh ngộ tù đày có thể chất chứa nỗi buồn, nhưng thiên nhiên trong thơ Bác vẫn tràn đầy sức sống, vận động hài hòa theo quy luật tất yếu của cuộc đời. Qua đó, ta thấy rõ một tâm hồn lớn: thể xác bị giam hãm nhưng tinh thần luôn tự do, lạc quan và bền bỉ.
Câu 2:
Phương pháp:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận: Lựa chọn cách sống: sống trong vùng an toàn hay bước ra khỏi vùng an toàn để khám phá thế giới rộng lớn ngoài kia?
* Triển khai vấn đề nghị luận:
- Giải thích: Vùng an toàn được định nghĩa là một trạng thái tâm lý thỏa mãn về mặt cảm xúc khiến cho bản thân người đó cảm thấy thoải mái, quen thuộc với môi trường hiện tại mà không muốn đi ra khỏi môi trường đó.
- Lựa chọn cách sống và lí giải:
Học sinh có thể chọn một trong 2 hướng sau hoặc kết hợp cả 2, song cần đảm bảo tính thuyết phục, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
+ Chọn sống trong vùng an toàn vì:
++ Mỗi người có một năng lực, sở trường nhất định. Khi ở trong môi trường thuận lợi với mình, họ sẽ phát huy được hết năng lực để khẳng định bản thân
++ Mang lại cảm giác bảo đảm và yên tâm, giúp cá nhân ổn định cuộc sống.
+ Chọn cách sống bước ra khỏi vùng an toàn vì:
++ Việc dũng cảm dấn bước, rời khỏi vùng an toàn của mình sẽ mang lại cho người trẻ nhiều cơ hội mới trong công việc và cuộc sống.
++ Khám phá được những năng lực mới của bản thân
++ Mang đến nhiều mối quan hệ mới, mở mang hiểu biết về thế giới
…
* Kết thúc vấn đề: Khẳng định lựa chọn của bản thân.
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong hành trình trưởng thành, mỗi người đều phải đối diện với một câu hỏi quan trọng: nên lựa chọn sống trong vùng an toàn quen thuộc hay mạnh dạn bước ra khỏi vùng an toàn để khám phá thế giới rộng lớn ngoài kia? Đây không chỉ là một quyết định cá nhân mà còn thể hiện bản lĩnh, khát vọng và tầm nhìn của mỗi người đối với tương lai của chính mình.
Vùng an toàn được hiểu là trạng thái tâm lý thỏa mãn về mặt cảm xúc, khi con người cảm thấy thoải mái, quen thuộc với môi trường hiện tại và không muốn rời khỏi môi trường ấy. Ở đó, ta ít phải đối diện với rủi ro, ít chịu áp lực thay đổi và nhờ vậy cảm thấy yên tâm hơn. Chính vì thế, nhiều người lựa chọn sống trong vùng an toàn của mình.
Thực tế cho thấy, ở trong vùng an toàn không phải lúc nào cũng tiêu cực. Mỗi người có năng lực và sở trường riêng. Khi làm việc trong môi trường phù hợp, họ có thể phát huy tối đa thế mạnh. Nhiều giáo viên gắn bó hàng chục năm với nghề dạy học tại một ngôi trường quen thuộc; chính sự ổn định ấy giúp họ tích lũy kinh nghiệm, trở thành những nhà giáo mẫu mực, đóng góp bền bỉ cho sự nghiệp trồng người. Hay có những người chọn làm việc lâu dài trong một cơ quan, từng bước thăng tiến nhờ sự kiên trì và chuyên môn vững vàng. Sự ổn định mang lại cảm giác bảo đảm, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, giúp con người xây dựng nền tảng tài chính và chăm lo cho gia đình. Rõ ràng, sống trong vùng an toàn có thể là lựa chọn hợp lý khi ta cần sự chắc chắn và bền vững.
Tuy nhiên, nếu chỉ mãi bằng lòng với những gì quen thuộc, con người dễ rơi vào trạng thái trì trệ. Thế giới luôn vận động, và cơ hội thường chỉ đến với những ai dám thử thách bản thân. Bước ra khỏi vùng an toàn đồng nghĩa với việc chấp nhận rủi ro, nhưng cũng mở ra những chân trời mới. Nhiều tấm gương thành công đã chứng minh điều đó. Bill Gates từng rời bỏ giảng đường đại học để theo đuổi niềm đam mê công nghệ và sáng lập Microsoft. Nếu ông chỉ chọn con đường học tập an toàn, thế giới có lẽ đã không chứng kiến một cuộc cách mạng phần mềm mạnh mẽ như vậy. Thành công ấy không đến từ sự an phận mà từ tinh thần dám sáng tạo, dám khác biệt.
Ngay trong đời sống thường nhật, nhiều bạn trẻ lựa chọn rời quê hương để học tập, làm việc ở thành phố lớn hoặc nước ngoài. Ban đầu, họ phải đối diện với bỡ ngỡ, áp lực và khó khăn. Nhưng chính quá trình thích nghi ấy giúp họ trưởng thành, mở rộng hiểu biết, xây dựng nhiều mối quan hệ mới và khám phá những khả năng tiềm ẩn của bản thân. Những trải nghiệm ấy trở thành hành trang quý giá cho tương lai. Tất nhiên, bước ra khỏi vùng an toàn không đồng nghĩa với hành động liều lĩnh. Sự dấn thân cần đi kèm với chuẩn bị kỹ lưỡng về kiến thức, kỹ năng và kế hoạch rõ ràng. Khi có nền tảng vững chắc, việc rời khỏi môi trường quen thuộc sẽ trở thành một bước tiến chủ động thay vì một sự mạo hiểm thiếu suy nghĩ.
Theo tôi, vùng an toàn giống như một bến đỗ để ta nghỉ ngơi và tích lũy năng lượng, nhưng không nên là nơi ta neo đậu suốt đời. Đặc biệt trong tuổi trẻ giàu nhiệt huyết và ít ràng buộc nhất, việc dám bước ra khỏi vùng an toàn sẽ giúp con người khám phá giới hạn của chính mình. Bởi chỉ khi dám thử thách, ta mới biết mình có thể đi xa đến đâu.
Cuộc sống luôn vận động và thay đổi từng ngày. Giữa an toàn và dấn thân, điều quan trọng là sự tỉnh táo để lựa chọn đúng thời điểm. Nhưng nếu phải đưa ra một lựa chọn cho riêng mình, tôi tin rằng dám bước ra khỏi vùng an toàn, với sự chuẩn bị và trách nhiệm, chính là cách để mỗi người chạm tới phiên bản tốt hơn của bản thân và sống một cuộc đời trọn vẹn hơn.
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 Cánh diều - Đề số 7
Đề thi
ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 2 - NGỮ VĂN 12 CÁNH DIỀU
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên". Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.
Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Còn non, còn nước, còn người, Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay! Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.
(Trích Di chúc, Hồ Chí Minh, Di chúc của Chủ tich Hồ Chí Minh, NXB Trẻ, tr.4,5).
Trả lời các câu hỏi từ 1 đến 5:
Câu 1. Theo đoạn trích, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định điều gì về đoàn viên thanh niên?
Câu 2. Tác giả sử dụng những từ ngữ nào để miêu tả phẩm chất của đoàn viên thanh niên và nhân dân lao động trong đoạn trích?
Câu 3. Biện pháp tu từ liệt kê có tác dụng gì trong đoạn văn sau: Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.?
Câu 4. Tại sao đoạn văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau?
Câu 5. Dựa vào đoạn văn và tình hình thực tế, anh/chị hãy đề xuất một kế hoạch cụ thể để nâng cao đời sống của nhân dân lao động, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa. Kế hoạch này cần bao gồm các biện pháp phát triển kinh tế và văn hóa cụ thể nào?
II. LÀM VĂN
Câu 1:
Viết một đoạn văn ( khoảng 200 chữ) bàn về cảm hứng chủ đạo của bài thơ sau:
Kìa bãi cát, nọ rừng thông
Nước nước, non non, khéo một vùng
Đang đợi nàng thơ cùng bạn vẽ
Đến chơi cảnh núi với tình sông
Tay đàn, cặp sách, ông đầu bạc
Hồ rượu, xâu nem, ả má hồng
Được phép ngao du cùng tuế nguyệt
Vì rằng kháng chiến đã thành công
(Cảm hứng, Hồ Chí Minh, Nguồn https://www.thivien.net)
Chú thích:
- Bài thơ này được chủ tịch Hồ Chí Minh làm ở Khuối Tát, Định Hoá, Thái Nguyên, năm 1954, sau ngày hoà bình đã được lập lại ở miền Bắc và trong thư gửi cho chị Huyền (tức chị Hà, vợ đồng chí Võ Nguyên Giáp). Bác viết cho chị Huyền xem.
Câu 2:
Hãy viết đoạn văn (khoảng 600 chữ) trình bày tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên trong bối cảnh hiện nay.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Xác định thông tin trực tiếp trong văn bản.
- Tìm câu văn nêu nhận định, đánh giá của tác giả về đoàn viên thanh niên
Cách giải:
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng đoàn viên thanh niên nói chung là tốt, hăng hái xung phong, không ngại khó khăn và có chí tiến thủ.
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kĩ đoạn văn.
- Tìm các tính từ, cụm từ miêu tả phẩm chất
Cách giải:
Tác giả sử dụng các từ ngữ như: "tốt", "hăng hái xung phong", "không ngại khó khăn", "có chí tiến thủ" để miêu tả đoàn viên thanh niên; "anh hùng", "dũng cảm", "hăng hái", "cần cù" để miêu tả nhân dân lao động.
Câu 3:
Phương pháp:
- Nhận diện phép tu từ.
- Phân tích tác dụng về nghệ thuật, nội dung và cảm xúc.
Cách giải:
- Biện pháp tu từ liệt kê: "Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay", "Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta", "Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất", "Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà".
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh niềm tin sắt đá vào thắng lợi của dân tộc.
+ Tạo âm hưởng hùng hồn, mạnh mẽ, giàu tính cổ vũ.
+ Thể hiện tinh thần lạc quan cách mạng và ý chí quyết tâm không gì lay chuyển nổi của toàn dân tộc.
Câu 4:
Phương pháp:
- Dựa vào nội dung thể hiện trong văn bản.
- Liên hệ ý nghĩa thực tiễn.
Cách giải:
Đoạn văn nhấn mạnh việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau vì đây là việc rất quan trọng và cần thiết để đảm bảo sự tiếp nối và phát triển của cách mạng, cũng như để những thế hệ sau có thể tiếp tục xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý: Một kế hoạch cụ thể để nâng cao đời sống của nhân dân lao động ở vùng sâu, vùng xa có thể bao gồm các biện pháp:
- Phát triển kinh tế như: Khuyến khích và hỗ trợ sản xuất nông nghiệp bền vững, phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống, và đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông.
- Về phát triển văn hóa, có thể tổ chức các chương trình giáo dục và đào tạo nghề, xây dựng các trung tâm văn hóa và thể thao và phát triển du lịch cộng đồng.
Cách giải:
Để nâng cao đời sống nhân dân vùng sâu, vùng xa, cần triển khai kế hoạch phát triển đồng bộ kinh tế và văn hóa. Về kinh tế, nên hỗ trợ sản xuất nông nghiệp bền vững, phát triển nghề thủ công truyền thống và đầu tư hạ tầng giao thông để thúc đẩy giao thương. Về văn hóa – xã hội, cần đẩy mạnh giáo dục, đào tạo nghề, xây dựng các trung tâm văn hóa – thể thao và phát triển du lịch cộng đồng. Những giải pháp này sẽ góp phần cải thiện cả đời sống vật chất lẫn tinh thần cho người dân.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
- Giới thiệu chung về cảm hứng chủ đạo của bài thơ: Cảm hứng chủ đạo là niềm vui, sự tự do và thanh thản sau chiến thắng kháng chiến.
- Phân tích các yếu tố thể hiện cảm hứng chủ đạo:
+ Hình ảnh thiên nhiên Các hình ảnh như "bãi cát," "rừng thông," "nước nước, non non" gợi lên cảnh vật thiên nhiên hùng vĩ và thanh bình của đất nước, phản ánh tâm trạng hào hứng, thanh thản của tác giả và nhân dân khi hòa bình đã trở lại.
+ Hình ảnh con người: “Tay đàn, cặp sách, ông đầu bạc" và "hồ rượu, xâu nem, ả má hồng” : niềm vui đời thường thể hiện sự hòa quyện giữa cuộc sống tinh thần và vật chất, cuộc sống trở nên phong phú và trọn vẹn hơn sau chiến thắng.
+ Cảm xúc tự do và niềm vui: “Được phép ngao du cùng tuế nguyệt” Câu thơ này biểu thị sự tự do, thanh thản và niềm vui khi con người có thể tận hưởng thời gian và không gian sau những năm tháng chiến đấu.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Bài thơ Cảm hứng của Hồ Chí Minh được sáng tác sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, mang cảm hứng chủ đạo là niềm vui, sự tự do và thanh thản sau thắng lợi của cuộc kháng chiến. Ngay từ những câu thơ mở đầu, bức tranh thiên nhiên hiện lên khoáng đạt và tươi sáng: “bãi cát”, “rừng thông”, “nước nước, non non” gợi một không gian hùng vĩ mà thanh bình. Thiên nhiên ấy không chỉ đẹp về cảnh sắc mà còn phản chiếu tâm trạng hào hứng, phấn chấn của con người khi đất nước bước vào thời kì mới. Bên cạnh cảnh vật, hình ảnh con người cũng góp phần làm nổi bật cảm hứng ấy. “Tay đàn, cặp sách, ông đầu bạc” và “hồ rượu, xâu nem, ả má hồng” là những chi tiết giàu chất đời thường, thể hiện sự hòa quyện giữa đời sống tinh thần và vật chất; cuộc sống trở nên phong phú, đủ đầy hơn khi chiến tranh đã lùi xa. Đặc biệt, câu thơ “Được phép ngao du cùng tuế nguyệt” đã kết tinh cảm xúc tự do, thanh thản; con người được sống trọn vẹn với thời gian, với thiên nhiên, với niềm vui hòa bình. Qua đó, bài thơ thể hiện tâm hồn lạc quan và phong thái ung dung của vị lãnh tụ cũng là người thi sĩ trong thời khắc lịch sử trọng đại của dân tộc.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề: Tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên trong bối cảnh hiện nay.
2. Thân bài
* Giải thích:
- Đạo đức cách mạng là hệ thống các giá trị và phẩm chất đạo đức mà các cá nhân trong phong trào cách mạng cần tuân thủ, bao gồm sự trung thực, trách nhiệm và cam kết với lý tưởng cách mạng để xây dựng và phát triển xã hội theo hướng cách mạng.
*Tầm quan trọng của thanh niên: Thanh niên là lực lượng quan trọng, tương lai của đất nước.Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên trong bối cảnh hiện nay là rất cần thiết.
* Phân tích, chứng minh, bàn luận về tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên trong bối cảnh hiện nay.
- Đạo đức cách mạng giúp thanh niên có lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm.
- Đạo đức cách mạng giúp thanh niên có ý thức cộng đồng và đoàn kết:
- Đạo đức cách mạng giúp thanh niên tránh xa các tệ nạn xã hội.
- Nếu thanh niên không được giáo dục đạo đức cách mạng trong bối cảnh phức tạp hiện nay có thể sẽ có một số hậu quả như: kìm hãm sự phát triển xã hội, có những hành vi không đúng đắn…
3. Kết bài
- Khẳng định lại tầm quan trọng: Giáo dục đạo đức cách mạng là nền tảng cho sự phát triển toàn diện của thanh niên.
- Kêu gọi hành động: Các cơ quan, tổ chức cần chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên để xây dựng một thế hệ trẻ có trách nhiệm và ý thức cộng đồng cao.
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào, thanh niên cũng luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với vận mệnh dân tộc. Bước vào thời kì hội nhập sâu rộng và chuyển đổi mạnh mẽ của đời sống kinh tế – xã hội hiện nay, việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đây không chỉ là yêu cầu mang tính truyền thống mà còn là đòi hỏi của thực tiễn phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Đạo đức cách mạng có thể hiểu là hệ thống những giá trị và phẩm chất đạo đức mà mỗi cá nhân, đặc biệt là người trẻ, cần rèn luyện và tuân thủ, như trung thực, trách nhiệm, kỉ luật, tinh thần cống hiến và sự kiên định với lí tưởng xây dựng xã hội tốt đẹp. Trong tác phẩm Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn phải đào tạo thế hệ trẻ thành những con người “vừa hồng vừa chuyên”. Điều đó cho thấy đạo đức luôn được đặt ngang hàng, thậm chí là nền tảng cho tài năng và trình độ chuyên môn.
Thanh niên là lực lượng xung kích, là tương lai của đất nước. Họ là những người sẽ trực tiếp kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên trong bối cảnh hiện nay là điều hết sức cần thiết. Trước hết, đạo đức cách mạng giúp thanh niên nuôi dưỡng lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm. Trong thời đại toàn cầu hóa, khi nhiều giá trị mới du nhập, nếu không có nền tảng vững chắc, người trẻ dễ bị dao động, chạy theo lối sống thực dụng. Ngược lại, khi được giáo dục đúng đắn, họ sẽ biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân, sẵn sàng cống hiến cho cộng đồng và đất nước.
Bên cạnh đó, đạo đức cách mạng còn giúp thanh niên có ý thức cộng đồng và tinh thần đoàn kết. Một xã hội phát triển bền vững không thể thiếu sự gắn bó, tương trợ giữa các cá nhân. Khi thanh niên sống nhân ái, trung thực và có trách nhiệm, họ sẽ góp phần tạo nên môi trường xã hội lành mạnh, lan tỏa những giá trị tích cực. Những phong trào tình nguyện, hoạt động vì cộng đồng của giới trẻ thời gian qua chính là minh chứng cho vai trò to lớn của đạo đức trong việc định hướng hành động.
Hơn nữa, giáo dục đạo đức cách mạng còn giúp thanh niên tránh xa các tệ nạn xã hội và những biểu hiện lệch chuẩn. Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ, mạng xã hội tác động sâu rộng đến đời sống tinh thần, người trẻ rất dễ bị lôi kéo vào những trào lưu tiêu cực nếu thiếu bản lĩnh. Đạo đức cách mạng sẽ trở thành “lá chắn” giúp họ phân biệt đúng – sai, có khả năng tự điều chỉnh hành vi, sống có kỉ luật và tuân thủ pháp luật.
Ngược lại, nếu thanh niên không được giáo dục đạo đức đúng đắn, hậu quả sẽ rất đáng lo ngại. Một bộ phận người trẻ có thể rơi vào lối sống ích kỉ, thờ ơ với cộng đồng, thậm chí có những hành vi vi phạm pháp luật. Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến tương lai của chính họ mà còn kìm hãm sự phát triển chung của xã hội. Đất nước sẽ khó có thể tiến xa nếu thiếu một thế hệ trẻ vừa có tri thức, vừa có phẩm chất đạo đức trong sáng.
Tóm lại, giáo dục đạo đức cách mạng là nền tảng cho sự phát triển toàn diện của thanh niên trong bối cảnh hiện nay. Đó không chỉ là nhiệm vụ của riêng nhà trường mà còn là trách nhiệm chung của gia đình, các tổ chức và toàn xã hội. Các cơ quan, đoàn thể cần chú trọng hơn nữa công tác giáo dục lí tưởng, bồi dưỡng nhân cách cho người trẻ, tạo môi trường để họ rèn luyện và cống hiến. Khi thanh niên có đạo đức, có lí tưởng và trách nhiệm, đất nước sẽ có một thế hệ kế tục vững vàng, đủ năng lực đưa dân tộc phát triển phồn vinh và bền vững trong tương lai.
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 Cánh diều - Đề số 8
Đề thi
ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 2 - NGỮ VĂN 12 CÁNH DIỀU
Phần I. Đọc hiểu
Đọc văn bản sau:
...Đó chính là lúc Thiên tử [1] nằm mơ…Tất cả cứ từ từ quay tròn, và tan dần, tan dần. Rồi một bóng ma trùm khăn, trăng trắng hiện lên. Nhà vua kinh hoàng run lên lập cập, vì không phải vua chúa nào cũng đều can đảm như Hămlét [2], và thông minh như thế thì lại càng không. Ngài muốn kéo chiếu che mặt mà không được.
Đường bệ và giận dữ, bóng ma nói với vị chủ hoàng cung[3] thế này:
- Mi có nhận ra ta không, đứa con khốn khổ kia ơi! Ta là một trong những người khai sáng nước Nam tươi đẹp này đây. Ta là Trưng Trắc, năm 39 [4] đã cùng em gái ta là Trưng Nhị và đồng bào đánh đuổi bọn xâm lăng, trả thù chồng, giải thoát quê hương. Đừng có run lên như thế, con ơi! Mà phải lắng nghe lấy lời mẹ bảo! Chẳng hay mi có biết rằng, theo tập tục nghìn năm của nước Nam ta xưa cũ thì Hoàng đế là chịu mệnh trời để trị dân, vì thế mà được coi là con của trời, cha mẹ của dân?
…Có thấy không, con! Chẳng thể bao giờ trong niên giám nước mi lại có một vua Nam nào chịu làm tôi tớ đến như mi, lại có một cuộc ngự giá tuần du nào thảm hại đến mức này. Trước đây, mi đã từng phạm tội báng bổ là bệ lên bàn thờ linh thiêng của ông vải hình ảnh ghê tởm của thằng da trắng ngái ngủ và bụng phệ nọ, nó sặc lên mùi tỏi, ớn mùi thây ma…
"Giờ thì mi lại sắp làm tệ hại hơn nữa. Mi sắp ca ngợi công đức của những đứa bóc lột và hiếp đáp dân mi. Mi sắp phô trương sự thịnh vượng của đất nước mi, cái thịnh vượng được sắp đặt đâu ra đấy trong trí tưởng tượng quá giàu của bọn bóc lột. Mi sắp tâng bốc công ơn vô ngần và tưởng tượng của nền văn minh đã thâm nhập sơn hà xã tắc của mi bằng mũi nhọn của lưỡi lê và bằng họng súng ca-nông.
"Gà sắp gáy sáng. Sao Bắc đẩu tiến ngang trời. Nhạc tiên đang giục giã ta. Thôi, chào!".
Mồ hôi nhớp nháp đẫm trán vị chúa thượng đang ngủ. Ngài muốn kêu lên. Nhưng không kêu được. Lưỡi ngài líu lại vì sợ.
(Trích Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011)
Chú thích: Ngày 24/6/1922, tờ L'Humanité (Nhân Đạo) đăng bài “Lời than vãn của Bà Trưng Trắc” của Nguyễn Ái Quốc là một truyện ngắn hư cấu giấc mơ của vua Khải Định (lúc này đang “xa giá” đến Pháp) và mượn lời của vị nữ anh hùng dân tộc chống ngoại xâm, tác giả lên án nặng nề chế độ phong kiến Nam triều và chính vua Khải Định đã để mất nước, ươn hèn cam tâm làm tay sai cho ngoại bang.
[1] Thiên tử: con trời
[2] Hamlet: nhân vật chính trong vở kịch cùng tên của văn hào Anh Shakespeare. Trong đoạn đầu của vở kịch Hamlet, hoàng tử nước Đan Mạch tiếp xúc với bóng ma vua cha hiện về đòi được con báo thù.
[3] Vị chủ hoàng cung: Vua Khải Định
[4] Hai Bà Trưng khởi nghĩa năm 40
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5
Câu 1: Xác định ngôi kể của người kể chuyện.
Câu 2: Chỉ ra những từ ngữ bà Trưng Trắc tự kể về mình với Khải Định trong đoạn trích trên.
Câu 3: Nêu hiệu quả biện pháp tu từ trong đoạn văn sau “Mi sắp ca ngợi công đức của những đứa bóc lột và hiếp đáp dân mi. Mi sắp phô trương sự thịnh vượng của đất nước mi, cái thịnh vượng được sắp đặt đâu ra đấy trong trí tưởng tượng quá giàu của bọn bóc lột. Mi sắp tâng bốc công ơn vô ngần và tưởng tượng của nền văn minh đã thâm nhập sơn hà xã tắc của mi bằng mũi nhọn của lưỡi lê và bằng họng súng ca-nông”.
Câu 4: Nhận xét vai trò của yếu tố kì ảo trong văn bản.
Câu 5: Từ nội dung văn bản, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ của bản thân về vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Ái Quốc.
Phần II. LÀM VĂN
Câu 1:
Hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) làm rõ đặc sắc những nghệ thuật của văn bản truyện trong phần Đọc hiểu
Câu 2:
Anh (chị) hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa của việc định hướng nghề nghiệp cho tương lai của thế hệ trẻ hiện nay.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về ngôi kể trong văn tự sự (ngôi thứ nhất, ngôi thứ ba).
- Căn cứ vào đại từ xưng hô người kể chuyện trong văn bản.
Cách giải:
Ngôi kể: ngôi thứ ba
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kĩ lời thoại của nhân vật bà Trưng Trắc.
- Tìm những chi tiết thể hiện cách nhân vật tự giới thiệu về mình.
Cách giải:
Bà Trưng Trắc tự kể về mình với Khải Định: là một trong những người khai sáng nước Nam tươi đẹp, cùng em gái Trưng Nhị và đồng bào đánh đuổi bọn xâm lăng, trả thù chồng, giải thoát quê hương.
Câu 3:
Phương pháp:
- Nhận diện các biện pháp tu từ cú pháp (liệt kê, lặp cấu trúc).
- Phân tích hiệu quả nghệ thuật ,nội dung và biểu cảm.
Cách giải:
- Biện pháp tu từ:
+ Liệt kê: “ca ngợi…”, “phô trương…”, “tâng bốc…”
+ Lặp cấu trúc ngữ pháp: “Mi sắp…”
- Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu dồn dập, giọng điệu lên án gay gắt, tăng tính hùng biện.
+ Nhấn mạnh sự đớn hèn, bản chất tay sai của vua Khải Định; thể hiện thái độ phẫn nộ, mỉa mai, châm biếm sâu sắc của tác giả.
Câu 4:
Phương pháp:
- Nhận diện yếu tố kì ảo trong truyện.
- Phân tích vai trò của yếu tố đó trong việc thể hiện tư tưởng.
Cách giải:
Nhận xét về vai trò của yếu tố kì ảo:
- Yếu tố kì ảo: Giấc mơ vua Khải Định (Trong giấc mơ, Khải Định đối thoại với bóng ma bà Trưng Trắc)
- Nhận xét:
+ Vạch trần, phê phán vua Khải Định: Bóng ma của bà Trưng Trắc tượng trưng cho tiếng nói của truyền thống hào hùng, quật cường của dân tộc hiện lên, phán xét một cách nghiêm khắc tên vua bán nước Khải Định.
+ Lối viết truyện sáng tạo, lôi cuốn, hấp dẫn, tạo sự khách quan.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý: Vẻ đẹp của tấm lòng yêu nước, thương dân; căm thù sâu sắc những kẻ cướp nước, bán nước; trân trọng, yêu quý giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; tôn kính, tự hào về những người anh hùng của dân tộc, về truyền thống hào hùng, bất khuất của cha ông…
Cách giải:
Qua văn bản, có thể cảm nhận rõ vẻ đẹp tâm hồn cao cả của Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh). Trước hết là tấm lòng yêu nước, thương dân tha thiết, thể hiện qua nỗi đau xót và phẫn nộ trước cảnh nước mất, dân bị áp bức. Đồng thời, tác giả bộc lộ sự căm thù sâu sắc đối với những kẻ cướp nước và những kẻ bán nước hèn nhát. Bên cạnh đó là sự trân trọng, nâng niu các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, đặc biệt là niềm tôn kính và tự hào đối với những anh hùng như Trưng Trắc. Tất cả đã làm nổi bật một tâm hồn lớn, vừa giàu lòng yêu nước, vừa sắc sảo, bản lĩnh trong đấu tranh vì độc lập dân tộc.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận.
2. Phân tích đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn:
- Tình huống truyện độc đáo kịch tính: sử dụng yếu tố kì ảo, gắn liền với giấc mơ bà Trưng đối thoại với vua Khải Định => lột trần bản chất và tội ác của hắn.
- Đối thoại của hai nhân vật bộc lộ tính cách thật của hai nhân vật đối lập.
- Ngôi kể thứ 3, điểm nhìn toàn tri.
- Lối viết truyện sáng tạo, hấp dẫn.
- Sử dụng những chi tiết đắt giá
- Ngôn ngữ chính xác, ngắn gọn....
3. Giá trị nội dung:
Qua lời kết tội đanh thép, tác giả bộc lộ:
+ Thái độ căm phẫn trước bản chất đớn hèn và tội ác của vua Khải Định.
+ Vạch trần tội xâm lăng của thực dân Pháp.
+ Thể hiện nỗi đau trước tình cảnh nước nhà.
+ Tình yêu nước sâu sắc.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Truyện ngắn “Lời than vãn của bà Trưng Trắc” của Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) là một tác phẩm giàu tính chiến đấu và đặc sắc về nghệ thuật. Trước hết, tác giả đã xây dựng một tình huống truyện độc đáo, mang màu sắc kì ảo: trong giấc mơ, vua Khải Định đối diện với “bóng ma” Trưng Trắc. Chính yếu tố kì ảo ấy đã tạo nên không khí kịch tính, đồng thời trở thành phương tiện hữu hiệu để lột trần bản chất hèn nhát, phản dân hại nước của nhà vua. Nghệ thuật đối thoại được khai thác sắc bén, làm nổi bật sự đối lập gay gắt giữa một bên là vị nữ anh hùng dân tộc tiêu biểu cho truyền thống quật cường và một bên là kẻ bán nước run sợ, bạc nhược. Ngôi kể thứ ba với điểm nhìn toàn tri giúp câu chuyện giữ được sự khách quan, đồng thời tăng sức tố cáo. Lối viết truyện sáng tạo, hấp dẫn, kết hợp giữa giọng điệu châm biếm và phẫn nộ; những chi tiết đắt giá như hình ảnh “mồ hôi nhớp nháp”, “lưỡi líu lại vì sợ” đã khắc họa rõ nét chân dung nhục nhã của Khải Định. Ngôn ngữ cô đọng, chính xác, giàu sức biểu cảm đã tạo nên lời kết tội đanh thép. Qua đó, tác giả bộc lộ thái độ căm phẫn trước tội ác của vua Khải Định, vạch trần bản chất xâm lăng của thực dân Pháp, thể hiện nỗi đau trước tình cảnh đất nước và hơn hết là tình yêu nước sâu sắc, thiết tha.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận
2. Thân bài
* Giải thích
Nghề nghiệp là việc mà một người sẽ phải cố gắng để làm tốt công việc của mình sao cho phù hợp với khả năng, trình độ, lòng đam mê đối với nghề, là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.
* Bàn luận:
- Tầm quan trọng của việc chọn nghề nghiệp: Nghề nghiệp là vấn đề gắn bó lâu dài với cuộc sống mỗi người:
+ Nếu lựa chọn đúng nghề, ta sẽ có niềm say mê, hứng thú với công việc, có cơ hội phát huy năng lực …
+ Nếu lựa chọn sai nghề ta sẽ mất cơ hội, công việc trở thành gánh nặng …
- Trong cuộc sống, luôn có rất nhiều điều xảy ra, nên định hướng nghề nghiệp nó giúp ta có hoạch định rõ ràng cho cuộc sống
- Từ những định hướng đã được xác định, chúng ta bắt đầu quá trình thực hiện công việc giúp chúng ta tránh những rủi ro không đáng có
- Khi có định hướng rõ ràng giúp chúng ta không mông lung, chúng ta sẽ có quyết tâm để thực hiện.
……..
- Phản đề
+ Hiện nay tình trạng sinh viên đại học ra trường thất nghiệp nhiều là do mọi người đua nhau học một ngành mà xã hội đã đủ khiến nhiều bạn không xin được việc hay đi làm trái ngành
+ Nhưng một bộ phận thanh niên nhỏ trong xã hội lại buông thả mình theo những cuộc chơi để rồi xa lánh vào những tệ nạn xã hội. Dẫn đến chọn cho mình những công việc vi phạm pháp luật.
* Bài học nhận thức và hành động:
- Mỗi người cần nhận thức được khả năng thật sự của bản thân để lựa chọn nghề nghiệp cho phù hợp.
- Khi lựa chọn nghề nghiệp chúng ta cần có sự kết hợp hài hoà giữa năng lực và sở thích. Trong đó năng lực đóng vai trò quyết định.
- Cố gắng học tập và rèn luyện hoàn thiện bản thân
- Tập trung vào những khả năng, năng lực ưu tú của bản thân.
3. Kết bài:
- Khái quát lại vai trò của việc chọn nghề trong tương lai
- Cảm nghĩ của em về vấn đề chọn nghề nghiệp tương lai.
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Trong dòng chảy không ngừng của xã hội hiện đại, khi thế giới nghề nghiệp ngày càng đa dạng và cạnh tranh gay gắt, việc định hướng nghề nghiệp cho tương lai trở thành vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với thế hệ trẻ. Một lựa chọn đúng đắn không chỉ quyết định con đường mưu sinh mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến hạnh phúc và giá trị sống của mỗi con người.
Nghề nghiệp là lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được tri thức và kĩ năng để tạo ra sản phẩm vật chất hoặc tinh thần đáp ứng nhu cầu xã hội. Nghề nghiệp đòi hỏi sự phù hợp giữa năng lực, trình độ và đam mê của mỗi cá nhân. Vì thế, định hướng nghề nghiệp chính là quá trình xác định con đường phù hợp với bản thân dựa trên sự hiểu biết về mình và về xã hội.
Trước hết, nghề nghiệp là vấn đề gắn bó lâu dài với cuộc sống mỗi người. Khi lựa chọn đúng nghề, ta có niềm say mê, hứng thú, có cơ hội phát huy năng lực và khẳng định bản thân. Thực tế cho thấy nhiều người thành công bởi họ sớm xác định được hướng đi phù hợp. Chẳng hạn, nhiều bạn trẻ Việt Nam lựa chọn theo đuổi lĩnh vực công nghệ thông tin trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, nhờ đó có cơ hội làm việc trong các tập đoàn lớn hoặc khởi nghiệp sáng tạo. Ngược lại, nếu chọn sai nghề, công việc dễ trở thành gánh nặng, gây chán nản, thậm chí lãng phí thời gian và tiền bạc. Không ít sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học phải làm trái ngành vì trước đó lựa chọn theo phong trào, không dựa trên năng lực thực sự của mình.
Định hướng nghề nghiệp còn giúp người trẻ có hoạch định rõ ràng cho tương lai. Khi đã xác định mục tiêu, ta sẽ biết mình cần học gì, rèn luyện kĩ năng nào, tích lũy kinh nghiệm ra sao. Điều đó giúp hạn chế những rủi ro không đáng có và tránh tình trạng “đứng núi này trông núi nọ”. Trong thực tế, nhiều trường học hiện nay đã tổ chức hoạt động tư vấn hướng nghiệp, mời doanh nghiệp đến giao lưu, tạo điều kiện cho học sinh trải nghiệm thực tế nghề nghiệp. Đây là bước đi cần thiết giúp học sinh không mông lung trước ngưỡng cửa cuộc đời.
Tuy nhiên, bên cạnh những bạn trẻ có định hướng rõ ràng, vẫn còn một bộ phận chạy theo xu hướng đám đông. Có thời điểm, ngành tài chính - ngân hàng hay quản trị kinh doanh được lựa chọn ồ ạt, dẫn đến tình trạng cung vượt cầu, nhiều sinh viên ra trường thất nghiệp. Lại có những thanh niên thiếu ý thức học tập, buông thả bản thân vào trò chơi điện tử, lối sống hưởng thụ, thậm chí sa vào tệ nạn xã hội, lựa chọn những công việc vi phạm pháp luật. Đó là những thực trạng đáng suy ngẫm.
Vì vậy, mỗi người cần nhận thức đúng khả năng của bản thân để lựa chọn nghề nghiệp phù hợp. Sự kết hợp hài hòa giữa năng lực và sở thích là yếu tố quan trọng, trong đó năng lực đóng vai trò quyết định. Đam mê tạo động lực, nhưng nếu thiếu năng lực và sự nỗ lực, đam mê khó trở thành hiện thực. Người trẻ cần không ngừng học tập, rèn luyện kĩ năng mềm, trau dồi ngoại ngữ, công nghệ, đồng thời tích cực tham gia các hoạt động trải nghiệm để hiểu rõ bản thân hơn. Gia đình và nhà trường cũng cần đồng hành, định hướng nhưng không áp đặt, tôn trọng cá tính và ước mơ của con em mình.
Tóm lại, định hướng nghề nghiệp là bước khởi đầu quan trọng trên hành trình trưởng thành của mỗi người trẻ. Một lựa chọn đúng đắn hôm nay có thể mở ra tương lai vững vàng ngày mai. Là học sinh, tôi nhận thấy mình cần nghiêm túc suy nghĩ về con đường phía trước, chủ động tìm hiểu và rèn luyện bản thân, để khi bước vào đời có thể tự tin theo đuổi nghề nghiệp phù hợp và đóng góp tích cực cho xã hội.
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 Cánh diều - Đề số 9
Đề thi
ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 2 - NGỮ VĂN 12 CÁNH DIỀU
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích:
(1) chúng tôi qua cái khắc nghiệt mùa khô
qua mùa mưa mùa mưa dai dẳng
võng mắc cột tràm đêm ướt sũng
xuồng vượt sông dưới pháo sáng nhạt nhòa
đôi lúc ngẩn người một ráng đỏ chiều xa
quên đời mình thêm tuổi
chân dép lốp đạp mòn trăm ngọn núi
mà không hề rợp bóng xuống tương lai
(2) những trận đánh ập về đầy trí nhớ
pháo chụp nổ ngang trời từng bựng khói
nhịp tim đập dồn lần xuất kích đầu tiên bình tông cạn khô trên nóc hầm nồng khét
những vỏ đồ hộp lăn lóc
cái im lặng ù tai giữa hai đợt bom
một tiếng gà bất chợt
bên bờ kênh hoang tàn
(3) thế hệ chúng tôi không sống bằng kỷ niệm
không dựa dẫm những hào quang có sẵn
lòng vô tư như gió chướng trong lành
như sắc trời ngày nắng tự nhiên xanh
(Trích Một người lính nói về thế hệ mình – Thanh Thảo – Tuyển tập thơ Thanh Thảo – NXB Hội nhà văn, 2007, tr 63-64)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định chủ thể trữ tình trong đoạn thơ trên.
Câu 2. Chỉ ra dấu hiệu nhận diện thể thơ.
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong khổ thơ thứ (2).
Câu 4. Đoạn thơ thứ (3), anh/ chị có cảm nhận gì về vẻ đẹp tâm hồn của “thế hệ chúng tôi”.
Câu 5. Anh/chị hãy rút ra một thông điệp ý nghĩa nhất đối với bản thân từ đoạn trích trên?
II. PHẦN VIẾT
Câu 1.
Viết đoạn văn nghị luận ( khoảng 200 chữ) phân tích đoạn thơ sau trong đoạn ở trích phần Đọc hiểu:
chúng tôi qua cái khắc nghiệt mùa khô
Qua mùa mưa mùa mưa dai dẳng
Võng mắc cột tràm đêm ướt sũng
Xuồng vượt sông dưới pháo sáng nhạt nhòa
Đôi lúc ngẩn người một ráng đỏ chiều xa
Quên đời mình thêm tuổi
Chân dép lốp đạp mòn trăm ngọn núi
Mà không hề rợp bóng xuống tương lai
Câu 2.
Trong đời sống hiện đại ngày nay bên cạnh những bạn trẻ luôn có ý thức làm tròn trách nhiệm của bản thân thì cũng có không ít bộ phận lại có lối sống vô trách nhiệm.
Với góc nhìn của người trẻ, anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về sự cần thiết của lối sống có trách nhiệm đối với tuổi trẻ hiện nay.
--------------HẾT--------------
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về chủ thể trữ tình trong thơ.
- Dựa vào đại từ xưng hô trong văn bản để xác định người đang bộc lộ cảm xúc.
Cách giải:
Chủ thể trữ tình trong đoạn thơ là: " chúng tôi"- những người lính
Câu 2:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về các thể thơ hiện đại.
- Dựa vào các dấu hiệu: số chữ trong dòng thơ, cách gieo vần, ngắt nhịp
Cách giải:
- Thể thơ của đoạn trích trên: tự do
- Dấu hiệu nhận diện:
+ Số chữ giữa các dòng thơ trong đoạn thơ không đều nhau.
+ Gieo vần và ngắt nhịp linh hoạt, không theo quy luật
Câu 3:
Phương pháp:
- Xác định biện pháp tu từ liệt kê.
- Phân tích tác dụng về nội dung và nghệ thuật.
Cách giải:
- Biện pháp tu từ liệt kê được sử trong đoạn (2): : “pháo chụp nổ ngang trời, nhịp tim dập dồn, bình tông cạn khô, những vỏ đồ hộp lăn lóc, cái im lặng ù tai, một tiếng gà bất chợt”.
- Tác dụng:
+ Diễn tả đầy đủ, cụ thể chi tiết những khó khăn gian khổ mà những người lính phải đối mặt. Qua đó làm nổi bật sự khốc liệt, hiểm nguy của chiến tranh, những đổ nát hoang tàn, cảm xúc thảng thốt sau trận chiến.
+ Tạo âm hưởng, nhịp điệu, giúp đoạn thơ thêm sinh động, hấp dẫn.
Câu 4:
Phương pháp:
- Đọc hiểu nội dung đoạn thơ.
- Phân tích những từ ngữ, hình ảnh thể hiện phẩm chất con người.
Cách giải:
Thế hệ chúng tôi” được nhắc đến trong đoạn (3) là những người:
- Không chìm đắm vào quá khứ mà quên đi thực tại, họ sống và chiến đấu hết mình với thực tại.
- Họ tiếp nối sự nghiệp nhưng không hề dựa dẫm vào vinh quang mà các thế hệ cha ông đã tạo dựng; sống hồn nhiên, lạc quan tin tưởng vào tương lai tươi sáng…
Câu 5:
Phương pháp:
- Rút ra thông điệp từ nội dung và tư tưởng của đoạn thơ.
- Liên hệ ý nghĩa đối với bản thân.
Cách giải:
Từ đoạn thơ, tôi rút ra thông điệp rằng mỗi thế hệ cần sống có lý tưởng, biết cống hiến và không ngừng nỗ lực để xây dựng tương lai bằng chính sức lực của mình. Những người lính trong bài thơ đã trải qua nhiều gian khổ, hy sinh nhưng vẫn giữ tinh thần lạc quan và không dựa dẫm vào hào quang của quá khứ. Điều đó nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải biết trân trọng những thành quả mà các thế hệ đi trước đã tạo dựng, đồng thời sống có trách nhiệm với bản thân và xã hội. Mỗi người cần nỗ lực học tập, rèn luyện và đóng góp cho cộng đồng để tạo nên giá trị cho cuộc sống của mình và cho đất nước.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Tái hiện lại cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, khắc nghiệt của những người lính ở chiến trường; Làm nổi bật những phẩm chất cao đẹp của những người lính: giàu ý chí nghị lực, dũng cảm, lạc quan, quên đi tuổi xuân của mình vì đất nước….; Qua đó bộc lộ nỗi nhớ, niềm tự hào về một thời gian khổ nhưng hào hùng.
- Thể thơ tự do, nhịp điệu linh hoạt; Ngôn ngữ hình ảnh giản dị, giàu tính gợi hình gợi cảm; Sử dụng các biện pháp tu từ liệt kê, phép điệp….
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Đoạn thơ đã tái hiện chân thực và sâu sắc cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, khắc nghiệt của những người lính nơi chiến trường. Những hình ảnh như “khắc nghiệt mùa khô”, “mùa mưa dai dẳng”, “võng mắc cột tràm đêm ướt sũng”, “xuồng vượt sông dưới pháo sáng nhạt nhòa” đã gợi lên hoàn cảnh chiến đấu vô cùng thiếu thốn và hiểm nguy, nơi người lính phải đối mặt với cả thiên nhiên khắc nghiệt lẫn bom đạn chiến tranh. Trên hành trình ấy, họ đã đi qua biết bao chặng đường gian lao với “chân dép lốp đạp mòn trăm ngọn núi”, một hình ảnh giàu sức gợi về sự bền bỉ, kiên cường của những con người mang trong mình lí tưởng lớn lao. Dẫu cuộc sống chiến trường khốc liệt, người lính vẫn có những khoảnh khắc lắng lại trước vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên như “một ráng đỏ chiều xa”, cho thấy tâm hồn nhạy cảm và giàu cảm xúc. Đặc biệt, câu thơ “quên đời mình thêm tuổi” đã khắc họa sự hy sinh thầm lặng của họ khi sẵn sàng gác lại tuổi xuân, hạnh phúc riêng để cống hiến cho Tổ quốc. Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do với nhịp điệu linh hoạt, kết hợp cùng ngôn ngữ giản dị, giàu sức gợi và các biện pháp tu từ như liệt kê, điệp ngữ đã làm nổi bật hình ảnh thế hệ người lính giàu ý chí, dũng cảm và lạc quan. Qua đó, tác giả bộc lộ nỗi nhớ và niềm tự hào về một thời gian khổ nhưng vô cùng hào hùng của dân tộc.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
2. Thân bài:
2.1 Giải thích:
+ Sống có trách nhiệm là luôn làm tròn bổn phận, nghĩa vụ với bản thân, gia đình và xã hội.
+ Người sống có trách nhiệm là người dám làm, dám chịu trách nhiệm trước những việc làm của bản thân, biết giữ lời hứa, luôn cố gắng hoàn thành những công việc đã đề ra.
2.2. Bày tỏ ý kiến của bản thân: Là một lối sống đẹp, có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với mỗi người đặc biệt là thế hệ trẻ.
+ Giúp chúng ta hình thành những thói quen tốt và lối sống có kỉ luật.
+ Khi có trách nhiệm chúng ta sẽ biết tránh xa những tật xấu, những cám dỗ, cạm bẫy từ cuộc đời và luôn có ý thức hoàn thiện bản thân.
+ Giúp chúng ta có thể khẳng định được giá trị của bản thân, nhận được sự tin tưởng, yêu quý của mọi người.
+ Là tiền đề quan trọng để vươn tới thành công trong cuộc sống.
+ Góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
2.3.Mở rộng vấn đề:
+ Trong cuộc sống bên cạnh những người luôn có ý thức hoàn thành trách nhiệm của bản thân thì cũng có không ít kẻ sống buông thả bản thân, gặp khó khăn thì dễ dàng bỏ cuộc giữa chừng, hoặc có một bộ phận chỉ biết đến lợi ích riêng của bản thân mà quên đi trách nhiệm với gia đình và xã hội.
+ Tuy nhiên sống có trách nhiệm không có nghĩa là phải làm những điều lớn lao vĩ đại mà nó có thể bắt nguồn từ những việc nhỏ bé, bình thường trong cuộc sống hàng ngày
3. Kết bài:
Khẳng định lại vấn đề và rút ra bài học nhận thức, hành động.
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Trong cuộc sống hiện đại, mỗi người đều có những vai trò và nghĩa vụ nhất định đối với bản thân, gia đình và xã hội. Đặc biệt đối với thế hệ trẻ, những người sẽ góp phần xây dựng tương lai của đất nước, việc hình thành lối sống có trách nhiệm là điều vô cùng cần thiết. Lối sống ấy không chỉ giúp mỗi cá nhân hoàn thiện bản thân mà còn góp phần tạo nên một xã hội tốt đẹp và văn minh hơn.
Sống có trách nhiệm là luôn ý thức được bổn phận và nghĩa vụ của mình đối với bản thân, gia đình và xã hội. Người sống có trách nhiệm là người dám làm và dám chịu trách nhiệm trước những việc làm của mình. Họ biết giữ lời hứa, luôn cố gắng hoàn thành những công việc đã đề ra và không trốn tránh khi gặp khó khăn. Trách nhiệm còn thể hiện ở thái độ nghiêm túc trong học tập, trong công việc và trong cách ứng xử với mọi người xung quanh.
Đối với tuổi trẻ, sống có trách nhiệm là một lối sống đẹp và mang ý nghĩa vô cùng to lớn. Trước hết, lối sống này giúp mỗi người hình thành những thói quen tốt và xây dựng một nếp sống có kỉ luật. Khi có ý thức trách nhiệm, chúng ta sẽ biết đặt ra mục tiêu cho bản thân và kiên trì thực hiện mục tiêu đó. Bên cạnh đó, trách nhiệm còn giúp con người tránh xa những tật xấu, những cám dỗ và cạm bẫy trong cuộc sống. Người sống có trách nhiệm luôn ý thức rèn luyện để hoàn thiện bản thân và trở nên tốt đẹp hơn. Không những vậy, khi làm tốt trách nhiệm của mình, mỗi người sẽ dần khẳng định được giá trị bản thân và nhận được sự tin tưởng, yêu quý của mọi người. Đây cũng là nền tảng quan trọng để mỗi cá nhân vươn tới thành công trong cuộc sống. Đồng thời, khi nhiều người trẻ sống có trách nhiệm, xã hội sẽ ngày càng phát triển bền vững và tốt đẹp hơn. Thực tế cho thấy nhiều bạn trẻ tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện như Mùa hè xanh hay Tiếp sức mùa thi để giúp đỡ cộng đồng. Những việc làm tuy giản dị nhưng thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm của tuổi trẻ, đồng thời giúp mỗi người khẳng định giá trị bản thân và đóng góp cho xã hội.
Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện nay vẫn còn một số người trẻ có lối sống thiếu trách nhiệm. Họ buông thả bản thân, dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn hoặc chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân mà quên đi trách nhiệm với gia đình và xã hội. Những biểu hiện đó cần được phê phán và thay đổi. Tuy vậy, cần hiểu rằng sống có trách nhiệm không nhất thiết phải bắt đầu từ những việc lớn lao. Trách nhiệm có thể được thể hiện từ những hành động nhỏ bé trong cuộc sống hằng ngày như học tập chăm chỉ, giữ lời hứa, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và biết quan tâm giúp đỡ người khác.
Sống có trách nhiệm là một phẩm chất quan trọng mà mỗi người trẻ cần rèn luyện. Mỗi chúng ta cần ý thức được vai trò của mình, không ngừng học tập, tu dưỡng và hoàn thiện bản thân. Khi sống có trách nhiệm, chúng ta không chỉ xây dựng được tương lai tốt đẹp cho chính mình mà còn góp phần làm cho xã hội ngày càng tiến bộ và phát triển.
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 Cánh diều - Đề số 10
Đề thi
ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 2 - NGỮ VĂN 12 CÁNH DIỀU
I. ĐỌC HIỂU
Đọc bài thơ sau:
NHỮNG BÔNG HOA TRÊN TUYẾN LỬA
Đỗ Trung Quân
(1)Ở giữa rừng đâu có gương soi
Làm sao em thấy được vết bầm trên má
Chuyển tải thương về mấy lần trượt ngã
Vì mùa mưa nào đã chịu dứt ở đây
(2) Anh bộ đội thương binh vừa tỉnh lại sáng nay
Đã hỏi thăm em người cáng thương đêm trước
"Cô ấy ngã mấy lần tôi đếm được
Mà sao không khóc mới lạ lùng!".
(3) Tôi hiểu rồi em ở tấm lòng
Nước mắt chỉ dành cho người ngã xuống
Nên dù té đau, gai rừng tê chân buốt
Đâu để vết thương anh rỉ máu hai lần.
(4) Em là người thanh niên xung phong
Không có súng, chỉ có đôi vai cáng thương, tải đạn
Giữa tầm đạn thù, tấm lòng dũng cảm
Em vượt đường dài tiếp thêm lửa chiến công.
(5) Tôi thấy rồi em ơi, giữa cuộc hành quân
Niềm kiêu hãnh trong mắt em kì lạ
Trên chiếc áo bạc màu trăm miếng vá
Cô gái Việt Nam đẹp đến lạ thường.
(6) Ôi! Những bông hoa nở giữa chiến trường,
Nở rực rỡ cả hương lẫn sắc.
Nhìn vết bầm trên má em mà tôi muốn khóc
Sao em cười đôn hậu quá em ơi!
(Những bông hoa trên tuyến lửa, Đỗ Trung Quân, nguồn https://scov.gov.vn/vanhocnghethuat)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Nhân vật em trong bài thơ là ai?
Câu 2. Chỉ ra hai hình ảnh mà tác giả đã thấy ở cô gái thanh niên xung phong giữa cuộc hành quân trong khổ thơ thứ (5).
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật ẩn dụ trong câu thơ sau:
Ôi! Những bông hoa nở giữa chiến trường,
Nở rực rỡ cả hương lẫn sắc.
Câu 4. Anh/Chị hãy nhận xét thái độ, tình cảm của tác giả đối với cô gái thanh niên xung phong được thể hiện trong hai câu thơ cuối:
Nhìn vết bầm trên má em mà tôi muốn khóc
Sao em cười đôn hậu quá em ơi!
Câu 5. Bài thơ Những bông hoa trên tuyến lửa gợi anh/chị suy nghĩ gì đến hiện thực chiến đấu của những người nữ thanh niên xung phong trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1.
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp của cô gái thanh niên xung phong trong đoạn thơ sau:
Em là người thanh niên xung phong
Không có súng, chỉ có đôi vai cáng thương, tải đạn
Giữa tầm đạn thù, tấm lòng dũng cảm
Em vượt đường dài tiếp thêm lửa chiến công.
(Trích Những bông hoa trên tuyến lửa, Đỗ Trung Quân)
*Chú thích: Đỗ Trung Quân sinh năm 1955 tại Sài Gòn. Các tác phẩm của Đỗ Trung Quân thể hiện ngòi bút tinh tế, giàu xúc cảm, suy tư và nội dung được thiết kế tỉ mẩn, chặt chẽ, sâu sắc. Trong các sáng tác, nhà thơ còn chắp vá những thủ pháp nghệ thuật tài tình để tạo nên sự sinh động, cuốn hút cho từng vần thơ.
Câu 2.
Theo đuổi ước mơ là con đường dẫn chúng ta đến thành công.
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/chị về việc theo đuổi ước mơ của tuổi trẻ.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Đọc toàn văn bài thơ.
- Xác định đối tượng được gọi bằng đại từ “em”.
Cách giải:
Nhân vật “em” trong bài thơ là cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ tải thương, vận chuyển đạn dược trên tuyến lửa trong thời kì kháng chiến chống Mĩ.
Câu 2:
Phương pháp:
- Xác định khổ thơ (5).
- Tìm những hình ảnh trực tiếp miêu tả cô gái.
Cách giải:
- Hai hình ảnh tác giả nhìn thấy ở cô gái thanh niên xung phong giữa cuộc hành quân là:
+ Niềm kiêu hãnh trong mắt em.
+ Chiếc áo bạc màu trăm miếng vá.
Câu 3:
Phương pháp:
- Nhận diện biện pháp tu từ.
- Phân tích ít nhất 2 tác dụng (nội dung, nghệ thuật, biểu cảm)
Cách giải:
- Phép ẩn dụ trong câu thơ:
“Ôi! Những bông hoa nở giữa chiến trường,
Nở rực rỡ cả hương lẫn sắc.”
- Tác dụng:
+ Gợi vẻ đẹp phơi phới của tuổi trẻ, vẻ đẹp tâm hồn, lòng dũng cảm, vẻ đẹp của tình yêu Tổ quốc của những cô thanh niên xung phong.
+ Sự ngợi ca, yêu mến, khâm phục của tác giả với những cô gái trẻ trung, xinh đẹp mà dũng cảm, phi thường.
+ Câu thơ giàu sức gợi hình, biểu cảm, sinh động.
Câu 4:
Phương pháp:
- Phân tích cảm xúc được thể hiện qua lời thơ.
- Chú ý các từ ngữ biểu hiện cảm xúc: “muốn khóc”, “cười đôn hậu”.
Cách giải:
- Thương yêu, xót xa, cảm phục trước những gian khổ, hy sinh của những cô gái thanh niên xung phong.
- Ngợi ca, trân trọng, tự hào về vẻ đẹp nhân hậu, về phẩm chất kiên cường bất khuất của những cô gái thanh niên xung phong.
Câu 5:
Phương pháp:
- Liên hệ nội dung bài thơ với bối cảnh lịch sử kháng chiến chống Mĩ.
- Nêu suy nghĩ về hiện thực chiến đấu của lực lượng thanh niên xung phong.
Cách giải:
Bài thơ Những bông hoa trên tuyến lửa gợi cho người đọc hình dung rõ về hiện thực chiến đấu vô cùng gian khổ của những nữ thanh niên xung phong trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Họ phải làm việc trong điều kiện chiến trường khốc liệt, đối mặt với bom đạn, nguy hiểm và nhiều thiếu thốn. Dù vậy, những cô gái trẻ vẫn luôn dũng cảm, kiên cường, sẵn sàng gánh vác nhiệm vụ như tải đạn, cáng thương, mở đường cho bộ đội. Qua đó, bài thơ không chỉ phản ánh sự khắc nghiệt của chiến tranh mà còn ca ngợi vẻ đẹp của tinh thần yêu nước, sự hy sinh thầm lặng và lòng dũng cảm của thế hệ thanh niên Việt Nam.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
1. Hai câu đầu: vẻ đẹp giản dị, khiêm nhường, nghị lực vượt gian khó
+ Bút pháp tự sự; nghệ thuật đối: “không có súng” với “chỉ có đôi vai cáng thương, tải đạn”; hình ảnh hoán dụ “đôi vai cáng thương, tải đạn”; nhịp thơ ngắn dài ngắt quãng.
+ Vẻ đẹp mộc mạc, giản dị đời thường nhưng rất đỗi kiêu hùng, ngời sáng nghị lực kiên cường của người chiến sĩ cách mạng.
2. Hai câu sau: vẻ đẹp của lòng dũng cảm, tinh thần yêu nước
+ Nghệ thuật đối: hiện thực chiến tranh (Giữa tầm đạn thù) với tinh thần quả cảm (tấm lòng dũng cảm); ẩn dụ lửa: ngọn lửa nhiệt huyết, lòng yêu nước cháy bỏng.
+ Tấm lòng yêu nước, xông pha nơi bom đạn, sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc, góp sức vào chiến thắng của dân tộc.
3. Nhận xét: vẻ đẹp cô thanh niên xung phong đại diện cho thế hệ trẻ yêu nước, dù chịu nhiều gian khổ, mất mát, hy sinh nhưng họ đã tự nguyện chấp nhận, gánh vác trách nhiệm lịch sử lớn lao của thế hệ mình vì độc lập tự do của dân tộc.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Đoạn thơ đã khắc họa vẻ đẹp đáng trân trọng của cô gái thanh niên xung phong trên tuyến lửa trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ. Trước hết, hai câu thơ đầu gợi lên vẻ đẹp giản dị, khiêm nhường nhưng đầy nghị lực vượt qua gian khó của người con gái trẻ. Với bút pháp tự sự chân thực, tác giả sử dụng nghệ thuật đối giữa “không có súng” và “chỉ có đôi vai cáng thương, tải đạn” để làm nổi bật vai trò đặc biệt của cô gái nơi chiến trường. Dù không trực tiếp cầm súng chiến đấu, cô vẫn góp phần quan trọng vào cuộc kháng chiến bằng công việc thầm lặng mà vất vả. Hình ảnh hoán dụ “đôi vai cáng thương, tải đạn” gợi lên sự bền bỉ, dẻo dai, sẵn sàng gánh vác nhiệm vụ nặng nề. Nhịp thơ ngắn dài đan xen càng làm nổi bật sự gian lao của công việc nhưng cũng cho thấy ý chí kiên cường của người chiến sĩ cách mạng. Hai câu thơ sau tiếp tục làm sáng lên vẻ đẹp của lòng dũng cảm và tinh thần yêu nước. Nghệ thuật đối giữa hiện thực khốc liệt “giữa tầm đạn thù” và “tấm lòng dũng cảm” đã nhấn mạnh sự quả cảm của cô gái khi sẵn sàng đối mặt với hiểm nguy. Hình ảnh ẩn dụ “tiếp thêm lửa chiến công” gợi lên ngọn lửa nhiệt huyết và tình yêu Tổ quốc cháy bỏng. Qua đoạn thơ, Đỗ Trung Quân đã ca ngợi vẻ đẹp cao quý của cô gái thanh niên xung phong – đại diện cho thế hệ trẻ Việt Nam giàu lòng yêu nước, sẵn sàng hi sinh, gánh vác trách nhiệm lịch sử vì độc lập và tự do của dân tộc.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận:
Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm cá nhân về vấn đề.
2. Thân bài
2.1. Giải thích vấn đề nghị luận
+ Ước mơ: là những dự định, khát khao mà mỗi chúng ta mong muốn đạt được trong thời gian ngắn hoặc dài; là động lực để mỗi chúng ta vạch ra phương hướng đường đi để dẫn tới ước mơ.
+ Theo đuổi ước mơ: là nỗ lực, phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thử thách, bỏ sức lực, trí tuệ để có thể biến ước mơ thành hiện thực.
2.2. Thể hiện quan điểm của người viết theo một số ý sau:
+ Ước mơ có vai trò quan trọng với mỗi người, giúp chúng ta sống cuộc đời có ý nghĩa, cống hiến cho xã hội;
+ Việc theo đuổi ước mơ sẽ giúp ta đạt được mục tiêu đã đặt ra, giúp ta có cơ hội để thể hiện và khẳng định bản thân mình;
+ Nhờ theo đuổi ước mơ mà con người biết sống có kế hoạch, biết vạch sẵn ra những bước đi để biến ước mơ thành hiện thực, giảm bớt sự buồn tẻ, đơn điệu trong cuộc sống;…
2.3. Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện…
3. Kết bài
Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong cuộc sống, mỗi con người đều mang trong mình những khát vọng và mong muốn tốt đẹp về tương lai. Những khát vọng ấy chính là ước mơ, là mục tiêu để con người nỗ lực vươn lên và hoàn thiện bản thân. Đối với tuổi trẻ, ước mơ lại càng có ý nghĩa đặc biệt bởi nó giúp định hướng con đường phía trước và tạo động lực để mỗi người không ngừng cố gắng. Vì vậy, theo đuổi ước mơ chính là con đường quan trọng dẫn con người đến thành công và giúp cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn.
Ước mơ có thể hiểu là những dự định, khát khao mà mỗi người mong muốn đạt được trong tương lai, có thể trong thời gian ngắn hoặc lâu dài. Đó có thể là ước mơ trở thành bác sĩ để cứu chữa bệnh nhân, trở thành nhà khoa học để khám phá tri thức mới, hay đơn giản là xây dựng một cuộc sống tốt đẹp cho bản thân và gia đình. Theo đuổi ước mơ là quá trình con người nỗ lực học tập, rèn luyện và vượt qua khó khăn để biến những khát vọng ấy thành hiện thực. Hành trình ấy đòi hỏi sự kiên trì, ý chí và tinh thần không ngại thử thách.
Ước mơ có vai trò rất quan trọng đối với mỗi con người. Trước hết, ước mơ giúp chúng ta sống có mục tiêu và định hướng rõ ràng. Khi có ước mơ, con người sẽ biết mình cần phải làm gì và phải cố gắng ra sao để đạt được điều mình mong muốn. Nhờ đó, cuộc sống trở nên ý nghĩa và tích cực hơn. Bên cạnh đó, việc theo đuổi ước mơ còn giúp mỗi người có cơ hội khẳng định giá trị của bản thân. Trên con đường thực hiện ước mơ, con người phải không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức và rèn luyện bản thân. Chính quá trình ấy giúp con người trưởng thành hơn và phát huy được khả năng của mình. Thực tế cuộc sống đã chứng minh rằng nhiều người thành công nhờ kiên trì theo đuổi ước mơ. Nhà khoa học Thomas Edison từng trải qua hàng nghìn lần thất bại trước khi phát minh ra bóng đèn điện. Chính niềm tin vào ước mơ và sự bền bỉ đã giúp ông tạo nên một phát minh làm thay đổi cuộc sống của nhân loại. Ở Việt Nam, cầu thủ Nguyễn Quang Hải cũng là một minh chứng tiêu biểu cho việc theo đuổi ước mơ. Từ một cậu bé có hoàn cảnh khó khăn nhưng với niềm đam mê bóng đá và sự nỗ lực không ngừng, anh đã trở thành một trong những cầu thủ nổi bật của bóng đá Việt Nam, góp phần mang lại niềm tự hào cho người hâm mộ nước nhà. Những tấm gương ấy cho thấy rằng khi con người kiên trì theo đuổi ước mơ bằng sự nỗ lực và quyết tâm, họ có thể đạt được những thành tựu đáng trân trọng.
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng không phải ai theo đuổi ước mơ cũng dễ dàng đạt được thành công. Trên con đường ấy, con người có thể gặp nhiều khó khăn, thử thách hoặc thất bại. Nếu thiếu ý chí và sự kiên trì, chúng ta rất dễ từ bỏ mục tiêu của mình. Bên cạnh đó, có những người chỉ mơ ước nhưng lại không chịu hành động hoặc không có kế hoạch rõ ràng để thực hiện ước mơ. Khi đó, ước mơ chỉ dừng lại ở suy nghĩ mà không thể trở thành hiện thực. Vì vậy, mỗi người cần lựa chọn cho mình những ước mơ phù hợp với khả năng và hoàn cảnh, đồng thời phải nỗ lực học tập, rèn luyện và kiên trì theo đuổi mục tiêu đã đặt ra.
Đối với học sinh, đặc biệt là học sinh lớp mười hai đang đứng trước ngưỡng cửa của tương lai, việc xác định ước mơ và kiên trì theo đuổi nó càng trở nên quan trọng. Đây là giai đoạn mỗi người cần suy nghĩ nghiêm túc về con đường mình sẽ đi, lựa chọn ngành nghề phù hợp với năng lực và sở thích của bản thân. Khi đã có mục tiêu rõ ràng, chúng ta sẽ có thêm động lực để học tập và rèn luyện, từ đó từng bước tiến gần hơn đến ước mơ của mình.
Tóm lại, theo đuổi ước mơ là hành trình đầy thử thách nhưng cũng vô cùng ý nghĩa đối với mỗi con người. Ước mơ giúp chúng ta sống có mục tiêu, có động lực và không ngừng hoàn thiện bản thân. Vì vậy, mỗi người trẻ cần dám mơ ước, dám hành động và kiên trì theo đuổi mục tiêu của mình. Chỉ khi nỗ lực không ngừng, chúng ta mới có thể biến ước mơ thành hiện thực và góp phần tạo nên những giá trị tốt đẹp cho bản thân và xã hội.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP12
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
