Đề thi giữa kì 2 Ngữ Văn 12
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
NẠN HỮU XUY ĐỊCH
(Nhật kí trong tù, Hồ Chí Minh)
Ngục trung hốt thính tư hương khúc,
Thanh chuyển thê lương điệu chuyển sầu.
Thiên lí quan hà vô hạn cảm,
Khuê nhân cánh thượng nhất tằng lâu.
Dịch nghĩa
Trong tù bỗng nghe khúc nhạc nhớ quê hương,
Âm thanh trở nên thê lương, tình điệu trở nên sầu muộn.
Nước non xa cách nghìn trùng, cảm thương vô hạn,
Người chốn phòng khuê lại bước lên một tầng lầu.
Dịch thơ – Nam Trân: Người bạn tù thổi sáo
Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu,
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu;
Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau.
(Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000)
(baodaklak.vn)
Câu 1. Xác định đề tài và thể thơ và cảm xúc, âm hưởng chủ đạo của bài thơ. (0.5 điểm)
Câu 2. Đối chiếu bản dịch thơ của câu thứ nhất với nguyên văn (thông qua các bản dịch nghĩa), từ đó xác định từ ngữ ở bản dịch thơ chưa sát nghĩa và phân tích hoàn cảnh và cảm xúc của nhân vật trữ tình. (0.5 điểm)
Câu 3. Bản dịch thơ ở câu thứ 2: Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu đã thể hiện trọn vẹn nội dung và cảm xúc ở bản gốc chưa? Hãy phân tích bản gốc (ngắt
nhịp, thanh điệu) để thấy rõ sự tinh tế trong cảm nhận tiếng sáo của thi sĩ Hồ
Chí Minh. (1.0 điểm)
Câu 4. Không gian “xa cách nghìn trùng” và “người chốn phòng khuê bước lên một tầng lầu” có phải cảnh thực không? Vì sao có cảnh tượng ấy? Chúng đã gợi ra điều gì ở độc giả? (1.0 điểm)
Câu 5. Nhận xét bản dịch thơ (2 câu cuối) có sát với bản gốc không? Gắn bài thơ vào hoàn cảnh ra đời để phân tích sức gợi và khát vọng của nhân vật trữ tình trong bài thơ và từ đó cho biết em thích bản dịch thơ hay bản gốc hơn? (1.0 điểm)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn của chiến sĩ, thi sĩ Hồ Chí Minh và chỉ ra sự kết hợp giữa vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại của bài thơ. (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm)
Câu 2. (4đ)
Viết văn bản nghị luận (600 chữ) so sánh, đánh giá để làm nổi bật nét tương đồng, khác biệt về cảm xúc, cách thể hiện cảm xúc ở 2 bài thơ tứ tuyệt Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch (trích từ Thơ Đường, tập 2, NXB Văn học, 1987) và Nạn hữu xuy địch của Hồ Chí Minh (ở phần Đọc hiểu)
Đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Xác định đề tài và thể thơ và cảm xúc, âm hưởng chủ đạo của bài thơ. (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ, chú ý đối tượng được nhắc đến
Chú ý số dòng trong bài, số từ trong câu
Chú ý các tính từ được nhắc đến để suy ra âm hưởng chủ đạo của nhà thơ
Lời giải chi tiết:
- Đề tài: Quê hương
- Thể thơ: Tứ tuyệt
- Cảm xúc chủ đạo: Nỗi nhớ quê da diết; âm hưởng lắng đọng, buồn da diết.
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Đối chiếu bản dịch thơ của câu thứ nhất với nguyên văn (thông qua các bản dịch nghĩa), từ đó xác định từ ngữ ở bản dịch thơ chưa sát nghĩa và phân tích hoàn cảnh và cảm xúc của nhân vật trữ tình. (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bản dịch thơ câu thứ nhất với nguyên văn
Lời giải chi tiết:
Dịch nghĩa: Trong tù bỗng nghe khúc nhạc nhớ quê hương.
Dịch thơ: Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu.
→ Bản dịch thiếu nghĩa của “tư hương” – nhớ quê; bản dịch nghĩa và phiên âm
- Bản phiên âm, dịch nghĩa thể hiện rõ hoàn cảnh của nhân vật trữ tình: đang
1 ở trong ngục (mất tự do và xa quê), nghe tiếng sáo nhớ quê.
→Nghe âm thanh tiếng sáo cảm nhận được nỗi lòng người thổi sáo đang nhớ quê
→ Nỗi lòng nhớ quê tác động mãnh liệt tới tâm hồn người đang bị giam trong ngục
→ Hai người như giao cảm, thấu hiểu nỗi lòng nhau qua tiếng sáo.
Câu 3 (1,0 điểm)
|
Bản dịch thơ ở câu thứ 2: Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu đã thể hiện trọn vẹn nội dung và cảm xúc ở bản gốc chưa? Hãy phân tích bản gốc (ngắt nhịp, thanh điệu) để thấy rõ sự tinh tế trong cảm nhận tiếng sáo của thi sĩ Hồ Chí Minh. (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bản dịch và bản gốc câu thứ 2
Nhận xét về nhịp thơ và phân tích nghĩa từng từ trong câu
Lời giải chi tiết:
- Bản gốc: Thanh chuyển thê lương điệu chuyển sầu (Âm thanh trở nên thế
lương, tình điệu trở nên sầu muộn).
- Bản dịch thơ (Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu) chưa chuyển tải trọn vẹn
tình ý ở bản gốc.
+ Bản phiên âm, dịch nghĩa: Nhịp thơ cổ điển 4/3; với bốn thanh trắc “ngục,
“hốt”, “thính”, “khúc” nghe réo rắt diễn tả tâm trạng nhớ quê hương một cách da diết.
+ Dịch được chữ “điệu” mà không dịch được chữ “thanh”, hai yếu tố quan trọng
của âm nhạc để diễn tả cảm xúc.
+ “Thanh chuyển thê lương”, nghĩa là âm thanh trở nên lạnh lẽo như khúc
nhạc chuyển gam; “Điệu chuyển sầu” nghĩa là điệu nhạc trở nên buồn bã. Bằng sự biến hoá của âm thanh, nỗi nhớ quê hương trăn trở, day dứt không nguôi trong tiếng sáo của người bạn tù. Tiếng sáo gợi nỗi niềm nhớ thương khắc khoải trong lòng người xa quê.
- Sự tinh tế trong cảm nhận tiếng sáo từ câu thơ đầu sáng câu thứ hai.
+ Câu thơ đầu là nỗi nhớ quê trong tiếng sáo.
+ Câu thứ hai thể hiện nỗi nhớ quê sâu lắng, tha thiết tới mức thê lương, sầu
muộn trong thanh điệu của tiếng sáo: Âm thanh trở nên thê lương, tình điệu trở nên sầu muộn.
→ Từ đồng cảm đến thấu hiểu sâu sắc nỗi lòng nhau –những người cùng cảnh
ngộ mất tự do, xa quê, nhớ quê da diết.
Câu 4 (0,5 điểm)
|
Không gian “xa cách nghìn trùng” và “người chốn phòng khuê bước lên một tầng lầu” có phải cảnh thực không? Vì sao có cảnh tượng ấy? Chúng đã gợi ra điều gì ở độc giả? (0,5 điểm) |
Phương pháp giải:
Liên hệ với thực tế để suy ra tính thực của không gian
Đọc các câu thơ trước và giải thích vì sao có cảnh tượng ấy
Lời giải chi tiết:
- Không gian “xa cách nghìn trùng” và “người chốn phòng khuê bước lên một
tầng lầu” không phải cảnh thực.
- Chính tiếng sáo, nỗi lòng nhớ quê của người bạn tù đã gợi ra cảnh tượng
của những người đang nhớ nhau trong ngàn trùng xa cách; chính sự thấu hiểu nỗi buồn vì nhớ quê nhà của người bạn mà thi sĩ tưởng tượng ra cảnh của người vợ nhớ chồng. Họ đang hướng về nhau, người vợ nơi quê nhà nghe được tiếng sáo, nỗi lòng nhớ thương của người chồng xa quê. Tiếng sáo là tiếng lòng, là cầu nối những người đang sống trong thương nhớ với nhau, hiểu nhau, nhớ nhau nhưng phải cách xa nhau.
Câu 5 (1 điểm)
|
Nhận xét bản dịch thơ (2 câu cuối) có sát với bản gốc không? Gắn bài thơ vào hoàn cảnh ra đời để phân tích sức gợi và khát vọng của nhân vật trữ tình trong bài thơ và từ đó cho biết em thích bản dịch thơ hay bản gốc hơn? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc bản dịch thơ và bản gốc 2 câu cuối
Gắn bài thơ vào hoàn cảnh ra đời (khi tác giả đang bị giam trong tù ngục) để phân tích sức gợi và khát vọng của nhân vật trữ tình trong bài thơ
Lời giải chi tiết:
– Bản dịch thơ (2 câu cuối) vô cùng đặc sắc: hàm súc, giàu sức gợi liên tưởng:
+ “Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi”: Bảy chữ gợi ra không gian xa cách và
nỗi buồn, niềm cảm thương vô bờ đối với cảnh ngộ của bạn tù (hai vợ chồng nhớ thương nhau trong cách trở); Cụm từ “khôn xiết nỗi” giàu sức gợi hiển thị toàn bộ lên bề nổi của ngôn từ như “cảm thương vô hạn”.
+ “Lên lầu ai đó ngóng trông nhau”: Vừa chuyển tải được ý ở bản gốc vừa gợi
ra được tình, cảnh – hai người trong xa cách đang hướng về nhau, nhớ nhau, mong ngóng nhau trở về.
- Gắn bài thơ vào hoàn cảnh ra đời – khi tác giả đang bị giam trong tù ngục (Nhà tù của Tưởng Giới Thạch –Trung Quốc, 1942) để thấy sự đa nghĩa và sức gợi của bài thơ:
+ Cảnh ngộ “Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi” không chỉ của vợ chồng người bạn tù mà còn là cảnh ngộ của tác gia Hồ Chí Minh: xa nhà, xa nước muôn dặm,
nhớ nước nhớ nhà khôn xiết, biết bao giờ mới được trở về, được tham gia vào sự nghiệp cứu nước đang dang dở...→ Khát vọng tự do cháy bỏng, mãnh liệt.
+ Cảnh “Lên lầu ai đó ngóng trông nhau” có thể hiểu Hồ Chí Minh và những
đồng chí, cộng sự của mình đang mong ngóng tin nhau, đang chờ nhau trở về để
cùng thực hiện sự nghiệp cứu nước ở giai đoạn quan trọng nhất.
→ Thể hiện kín đáo, sâu sắc tấm lòng yêu quê hương, đất nước của người chiến
sĩ cách mạng trong hoàn cảnh tù đày, gian khổ.
– Học sinh thể hiện sự lựa chọn theo sở thích cá nhân và lí giải đôi nét về sự
lựa chọn đó.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1.
|
Nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn của chiến sĩ, thi sĩ Hồ Chí Minh và chỉ ra sự kết hợp giữa vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại của bài thơ. (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn đã được học
Nhận xét về thể thơ, hình ảnh để thấy được nét cổ điển và sự chuyển biến, vận động của hình tượng thơ để thấy được tinh thần hiện đại
Nêu quan điểm, ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn.
+ Nhạy cảm, thấu hiểu nỗi lòng, đồng cảm với cảnh ngộ của người bạn tù
+ Không than thở, không nói về cảnh ngộ của bản thân.
+ Thể hiện khát vọng tự do, tinh thần yêu nước.
- Kết hợp giữa vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại.
+ Cổ điển: thể thơ; hình ảnh, ngôn từ hàm xúc, giàu sức gợi,...
+ Tinh thần hiện đại: biến chuyển tinh tế (không tĩnh tại) trong cảm xúc, sự vận động của hình tượng thơ: nhớ quê – thê lương, sầu muộn – nhớ, hướng về nhau
Câu 2.
|
Viết văn bản nghị luận (600 chữ) so sánh, đánh giá để làm nổi bật nét tương đồng, khác biệt về cảm xúc, cách thể hiện cảm xúc ở 2 bài thơ tứ tuyệt Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch (trích từ Thơ Đường, tập 2, NXB Văn học, 1987) và Nạn hữu xuy địch của Hồ Chí Minh (ở phần Đọc hiểu) |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức và nội dung bài văn
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết văn bản nghị luận (600 chữ) so sánh, đánh giá để làm nổi bật nét tương đồng, khác biệt về cảm xúc, cách thể hiện cảm xúc ở 2 bài thơ tứ tuyệt Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch (trích từ Thơ Đường, tập 2, NXB Văn học, 1987) và Nạn hữu xuy địch của Hồ Chí Minh (ở phần Đọc hiểu) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm cần so sánh, đánh giá. - Nêu luận đề: điểm tương đồng và thành công riêng của mỗi tác giả. |
|
Thân bài |
3,0 |
* Nét tương đồng: - Về nội dung: Thể hiện nỗi nhớ quê hương da diết (ánh trăng nỗi nhớ có ngoại cảnh tác động: nghe tiếng sáo làm dậy lên nỗi nhớ - Về hình thức: bằng bài thơ tứ tuyệt hàm xúc, giàu sức gợi, chất hội hoạ. * Nét khác biệt - Về nội dung – hoàn cảnh bộc lộ nỗi nhớ. + “Tĩnh dạ tứ” của Lý Bạch: xa quê, nhìn trăng sáng mà nhớ cố hương, trăng như trở thành biểu tượng cho quê hương + Nạn hữu xuy địch – Hồ Chí Minh: bị giam cầm, mất tự do, nghe tiếng sáo người bạn tù mà cảm nhận được nỗi nhớ quê (nỗi nhớ có cung bậc thê lương, sầu muộn.) - Cách thể hiện nỗi nhớ quê + “Tĩnh dạ tứ” của Lý Bạch diễn tả trực tiếp nỗi nhớ của lòng mình với quê hương + “Nạn hữu xuy địch” của Hồ Chí Minh: thể hiện gián tiếp qua nỗi nhớ quê của người bạn tù |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khái quát giá trị, sự đóng góp của hai tác giả ở đề tài tư hương. – Sự tác động của hai tác phẩm vào cảm xúc nhận thức của cá nhân. |
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
BƠ VƠ
(Chương 2, Bỉ vỏ, Nguyên Hồng)
Tóm tắt tiểu thuyết “Bỉ vỏ”
Bính là cô gái nghèo làng Sòi. Vì nhẹ dạ, yêu một gã Tham đạc điền và bị hắn bỏ rơi giữa lúc bụng mang dạ chửa, cô bị cha mẹ hắt hủi, đay nghiến và đứa bé sinh ra phải đem bán đi vì sợ làng bắt vạ. Đau đớn, Bính trốn nhà đi Hải Phòng mong tìm được người tình nhưng lại rơi vào nhà chứa của mụ Tài sẽ cấu. Sống ê chề, cực nhục ở nơi bẩn thỉu hội hám, Bính ốm nặng.
Bính toan tự tử nhưng được Năm Sài Gòn, trùm lưu manh ở Hải Phòng, chuộc ra khỏi nhà chứa, chăm sóc hết lòng. Nhưng rồi Năm bị bắt. Thế là, bất đắc dĩ, Bính trở thành một “bỉ vỏ” – người đàn bà ăn cắp. Do một sự hiểu lầm và ghen tuông, Năm Sài Gòn đuổi Bính đi. Bính về Nam Định, gồng thuê gánh mướn kiếm ăn. Được tin bố mẹ ở quê gặp tai hoạ có thể bị tù, Bính không còn cách nào khác, đã phải nhận lời lấy một viên mật thám để có tiền gửi về cứu bố mẹ.
Năm Sài Gòn bị bắt bởi chính tay người chồng Bính. Không chút do dự, cô đã lẻn xuống trại giam, mở khoá cứu Năm rồi cùng y đi trốn. Kết cục bi thảm đã đến: một lần, Năm cướp được một đứa bé đeo vòng vàng trên tàu thuỷ. Bính hốt hoảng nhận ra đó chính là đứa con mà bao lâu Bính nhớ thương. Nhưng nó đã chết! Giữa lúc đó, đội xếp, mật thám ập vào, Năm và Bính đều bị bắt.
Đoạn trích sau là chương 2 của tác phẩm
(1) Hải Phòng. Lần này là lần đầu tiên Bính bước chân đến một tỉnh ồn ào đông đúc, khác hẳn chốn quê mùa vắng vẻ. Bính trốn đi, sau đêm ấy đến nay đã
được bốn hôm. Bốn hôm dài quá chừng! [..]
Món tiền sáu hào chắt bóp ngót nửa năm trời đã dùng để trả tiền ăn tiền tàu từ Nam ra Phòng mất bốn hào. Còn hai hào thì vừa vặn ăn uống trong hai hôm nay. Bính hoang mang, cúi gằm mặt trong dải đường nhựa lấp lánh bóng trăng nhấc từng bước một.
Bính đi như thế không cần biết rồi sẽ đi tới đâu, miễn cho qua một đêm. Lúc này Bính bỗng hồi hộp, bối rối lạ thường. Những bụm cọ đen thẫm, ù ù lộng gió ở vườn hoa sông Lấp gợi trong trí Bính bao nhiêu hình dung quái gở. Bính tưởng con đường Bính đi tối tăm hoang vắng như cảnh một bãi tha ma. Những cành xoan xao động và những cành tre là ngọn bên những ngôi mộ chơ vơ mới đắp. Những tàu lá cọ to sùm suề giống những mớ tóc người điên hay thắt cổ.
Bính bật kêu khe khẽ:
- Biết làm sao đêm nay?!
Bính lại thấy đêm lạnh và dài lắm, một thân gái quê mùa đi bỡ ngỡ lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này, gặp những sự không may lạ thường. Nếu Bính không khéo gìn giữ, biết đâu đêm nay chẳng sẽ là cái đêm bắt đầu một cuộc đời khốn nạn nhơ nhuốc khác mà dù cực nhục chừng nào, Bính cũng phải cắn răng chịu, chứ không thể quay về quê nhà được. Bính thở dài. Mấy hôm nay tai tiếng chắc đã đồn đi khắp làng trên làng ngoài. Thế nào họ chẳng bảo lại vì mê giai, theo giai mà bỏ nhà đi. Cái tiếng theo giai đó là một sự nhơ nhuốc không sự nhơ nhuốc nào bằng. Vì người ta hiểu rằng: giai là một đứa xỏ xiên chỉ phá hoại trinh tiết người đàn bà, còn kẻ theo nó phải là một con đĩ thoã vô cùng.
Bính đã đi qua Sáu kho. Hôm nay các tàu chạy hết. Trên sông chỉ còn thấp thoáng mấy ánh lửa leo lét, chập chờn của dăm chiếc thuyền con đỗ đằng xa.
(2) Thốt nhiên Bính dừng bước, trong một phút Bính tưởng như là bến Sòi quê Bính. Bính ngẩng đầu bỡ ngỡ nhìn, lắng tai nghe: tiếng đọc kinh đâu đây nhẹ nhàng vang trước gió lạnh, réo rắt và thấm thía... Sự hồi tưởng ấy làm Bính cảm thấy rõ rệt bố mẹ mình là giả dối. Bính ghê sợ cho sự “nguyện ngắm” hàng ngày
chỉ dùng che mắt thế gian. Phải, chỉ che mắt thế gian thôi! Nay đi xưng tội, mai đi chịu lễ, sáng sớm nào cũng có mặt ở nhà thờ, đêm nào cũng thức tới mười một, mười hai giờ để đọc kinh, hỏi để làm gì?
Thì cũng như trăm nghìn gia đình chỉ ngoan đạo bề ngoài, gia đình Bánh bao năm được người làng khen là êm ấm đáng làm mẫu mực nhưng thực chẳng có
lấy một chút gì yên vui, thuận hoà, đạo đức bên trong. Cha mẹ Bính cắn rứt nhau luôn, vì thiếu thốn, chửi mắng hành hạ Bính luôn vì Bính không như ai giảo hoạt, tinh ranh trong sự cạnh tranh khách đi đò và buôn bán mua rẻ bán đắt tôm cá của các thuyền chài lưới quen thuộc. Hơn nữa, Bính không biết mưu tính các cách gian lận với những khách gửi hàng để lo cho mình có cái bộ cánh mà nhà không sao sắm sửa được vì ruộng đất cày cấy không có, ngoài mảnh vườn chỉ được cái rau ăn còn đều trông vào con đò thì phải sinh sống rất khôn ngoan xoay giờ đủ mặt. Những điều này đã làm Bính suy nghĩ và đau lòng.
Bính buồn bã lắc đầu rồi giơ tay làm “dấu” đoạn thầm thì cầu kinh. “Lạy Cha chúng tôi ở trên giời, xin Cha cho chúng tôi hàng ngày dùng đủ và tha nợ cho chúng tôi như chúng tôi đã tha kẻ có nợ chúng tôi... Thì Chúa sẽ ban ơn cho tôi giữ đạo nên ở đời này cho ngày sau được lên nước thiên đàng vui vẻ đời đời....
(3) Gió sông càng ù ù, sương càng mù mịt. Bính đọc hết năm chục kinh, làm “dấu”, đoạn khép chặt tà áo vào người rồi rảo bước. Chợt có tiếng người gọi:
- Cô kia đi đâu?
Bính không dám quay lại trả lời cứ lùi lũi đi nép vào rặng cây bên đường. Một
chiếc xe tay đâm xô lại, chắn lấy lối đi, tiếp đến những tiếng cười ran:
- “Săn” kì được “mẻng” ấy cho tao.
Bính tránh hẳn sang bên kia, gằm mặt xuống xốc lại cái đẫy vải đeo sau lưng. Một người đàn ông vận quần áo lót kẻ sòng sọc rất chải chuốt và tóc bóng lộn, ngồi trên xe nom trõ mặt vào mặt Bính, Bính quay mặt ra chỗ khác. Người ấy kéo vạt áo Bính, ngọt ngào hỏi:
– Cô định tìm ai ở đây?
Bính hoảng hốt chực chạy. Nhưng chung quanh Bính năm chiếc xe đã vây kín, Bính kêu lên:
- Ô kìa!
Tên ngồi xe nhại lại, cười sặc sụa. Dáng điệu ngây thơ của Bính bảo rõ với bọn này rằng Bính là một gái quê mới ra tỉnh lần đầu và là một gái quê xinh đẹp hẳn hoi. Thật vậy, dưới ánh đèn điện, mắt Bính lấp lánh chớp luôn, đôi má mũm mĩm ửng hồng chúng trông ngon lành quá.
Một gã kéo xe nhưng tóc mai cũng xén nhọn và để dài như thằng ngồi xe, mặc hai gã khác ngồi trên xe ngăn lại không cho, rồi gã vận quần áo lót kẻ sòng sọc áo trắng là cổ bẻ và ngoài khoác áo tây vàng toan giằng lấy khăn vuông Bính, song hai gã khác ngồi trên xe ngăn lại không cho, rồi gã vận quần áo lót kẻ sòng sọc mượn cớ nhảy xuống bíu lấy vai Bính. Bính kêu thất thanh. Thừa cơ hai cái xe chạy đi đón khách dưới thuyền lên, Bính liền lẩn nhanh ra chỗ khác. Đám xe rãn cả, tản mỗi nơi một chiếc. Còn Bính, Bính đi ngược lên phố vì Bính nhận thấy nếu cứ lang thang, bơ vơ ở những chỗ đường vắng thì thế nào cũng còn bị chòng ghẹo.
Được một quãng có nhà cửa thì lại đến quãng vườn hoang. Những bụi cây là mù trước những ngọn đèn điện bóng mờ hiện ra trước mắt Bính làm trống ngực Bính lại đập thình thịnh. Chợt Bính lạnh toát cả người, quay đầu nhìn về đằng sau; một bóng người đương rảo gót như đuổi Bính. Bính đi nhanh hơn. Người theo sau cũng bước gấp, phút chốc hắn đi sát cạnh Bính và khẽ nói:
– Cô! Cô chậm bước chứ để tôi ngỏ câu chuyện này.
Nhời nói êm đềm khiến Bính bớt sợ, Bính đưa mắt nhìn thì đó là người ngồi trên xe ban nãy nhưng đã thay quần áo khác, Bính im lặng nhìn bộ y phục lạ lùng của hắn: cái áo dạ tím bó chẹt lấy lưng, hai ống quần lướt thướt như bằng lụa thì buông chùng quá gót, cái mũ dạ mới lạ làm sao, lóng lánh một chiếc tên mạ kém như dấu hiệu của lính. Bính chợt nhớ đến cái hạng công tử cũng kiểu ăn mặc như thế này những ngày hội đầu năm vùng Bính bọn chúng thường kéo về chớt nhả gái làng. Bính vội quay đi.
Hắn chẳng còn do dự, nắm ngay cánh tay Bính, cặp mắt sáng lên khác thường
– Cô đi đâu bây giờ? Đi một mình mà không buồn à?
Bính thót người lại hết sức giăng tay ra, nhưng hắn đã bá lấy cổ Bính, hôn vào má Bính đánh chụt một cái. Đường vắng vẻ quá, gió thổi lào xào trong những bụm cọ lù mù, vành trăng lại bị mây đen che đi.
Hắn bế xốc Bính lên, mặc Bính giãy giụa the thé van lơn, chạy vào trong vườn. Bính phải kêu thét lên nhưng gió thổi mạnh đánh bạt cả tiếng Bính đi.
Trong chớp mắt hắn dằn Bính xuống vệ cỏ...
Bỗng một đoàn xe đạp xăm xăm từ đằng xa tới, đèn xe kéo dài những vệt sáng rung động trên đường nhựa, có một ngọn soi chõ vào vườn như tìm tới.
Bính vội gào to:
- Các ông ơi! Cứu tôi với! Cứu tôi với!
Chẳng để Bính kêu thêm, hắn hốt hoảng buông Bính ra rồi chạy thẳng. Bính choáng váng mừng rỡ, nhặt mau cái đẫy vải lăn trên bãi cỏ chạy ra đường. Gió thổi mạnh. Mấy người ngồi xe đạp chẳng nghe thấy gì, song họ đều ngẩng đầu tò mò trông khi Bính trong vườn xô ra. Bính cố giữ tự nhiên, lẳng lặng rảo bước một lát tới đầu phố. Trống ngực Bính vẫn đập rộn. Cảnh vật vẫn u ám! Bính len lét đến trước một cái hiên rộng, ngồi thở. Đồng hồ ở trong nhà vắng lên mười một tiếng.
(4) Đường sá càng vắng tanh, vắng ngắt. Bính rùng mình. Đêm nay đối với Bính mới dài và cực nhục làm sao! Còn ê chề, cay đắng hơn cả một năm lam lũ! Bính nép người bên góc tường, gục mặt vào bàn tay, tê tái những cảm xúc đau xót sôi nổi trong lòng. Bính càng mỏi mệt, ròng rã một ngày, Bính đi không mấy lúc nghỉ chân. Đã thế lại vừa phải chống cự với thằng đểu kia nên hai đầu gối Bính mỏi dừ, bụng cồn cào ngâm ngẩm đau. Gió đêm như ru, Bính chợp mặt thiu thiu ngủ.
Bỗng không biết từ đâu đưa tới tiếng trẻ con khóc oe oe giống tiếng mèo gào vang động cả trời khuya.
Bính mở choàng mắt, chợt nhớ đến đứa con thơ chưa đầy tháng, tại cha mẹ Bính cay nghiệt, tại cái tục lệ quái ác mà Bính phải xa nó, xa nó không biết bao giờ lại được ôm nó trong lòng. Bính vừa cất tiếng khóc rưng rức thì tiếng khóc kia nín bặt, Bính vụt nghĩ đến đứa bé kia khóc thế nào chả có người vỗ về ru cho bú, còn con Bính thân phận con nuôi con mày, giá đêm khát sữa, thì dù có được chiều chuộng mấy chăng nữa cũng khó mà được bú đêm. Ấy là không kể đến người nuôi dỗ mãi không nín thì thế nào chả phát nó năm bẩy chiếc phát cho bõ cái bực tức bị thức giấc.
(Nguyên Hồng, Bỉ vỏ, NXB Văn học 1985)
(*) Tên văn bản do nhóm biên soạn đặt.
*Nguyên Hồng (1918 – 1982), tên khai sinh Nguyễn Nguyên Hồng, là một nhà văn, nhà thơ. Ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (1910). Vì có một tuổi thơ vô cùng bất hạnh, cay đắng nên ngay từ những tác phẩm đầu tay, Nguyên Hồng đã hướng ngòi bút về những người nghèo khó gần gũi mà ông yêu thương với một sự cảm thông sâu sắc, với tâm hồn của một người từng trải.
Câu 1. Đọc tóm tắt tiểu thuyết và văn bản Bơ vơ để xác định những đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại (0,5đ)
Câu 2. Tóm tắt nội dung văn bản Bơ vơ theo các đoạn đã đánh số và cho biết: Đoạn trích này có vị trí như thế nào đối với việc phản ánh số phận, cuộc đời của Tám Bính? (0,5đ)
Câu 3. Vì sao Bính phải bỏ nhà ra đi (Hãy gắn đoạn trích với phần tóm tắt để lí giải)? Lý do này có ý nghĩa như thế nào? (1đ)
Câu 4. Đọc đoạn số 1,3 và trả lời câu hỏi a,b (1đ)
a. Tình cảnh hiện tại của Tám Bính cơ cực như thế nào?
b. Cô ấy có nhận thức được cảnh ngộ của mình không? Điều này có ý nghĩa gì?
Câu 5. Điều gì khiến Tám Bính nhớ về quê hương và gia đình? Cô nhớ về điều gì nhiều nhất? Đoạn văn bản viết về nỗi nhớ quê của Bính được thuật kể từ điểm nhìn nào? Điểm nhìn đó có vai trò gì đối với văn bản đọc? (1đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Cảm nhận của em về nhân vật Tám Bính trong văn bản đọc hiểu Bơ vơ. Từ đó, nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật và xác định cảm hứng, phong cách sáng tác của văn bản đọc hiểu (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2đ)
Câu 2. (4đ)
Em có đồng tình với việc bỏ nhà ra đi của Tám Bính không? Hiện tượng này có sảy ra với thanh niên hiện nay không? Em hãy biết bài luận (600 chữ) thể hiện chính kiến của mình về hiện tượng này
Đáp án
Câu 1. (0,5đ)
|
Đọc tóm tắt tiểu thuyết và văn bản Bơ vơ để xác định những đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Nội dung phản ánh hiện thực trong phạm vi không gian thời gian rộng lớn: cuộc đời của Tám Bính khi là cô gái trẻ đến khi vào tù; Không gian làng quê và Hải Phòng
- Nhân vật: Nhiều nhân vật thuộc gia đình làng quê, Tám Bính và xã hội – nơi diễn ra cuộc đời lang bạt của Tám Bính. Phản ánh trọn vẹn số phận của Tám Bính: mở đầu là sự lỡ dở (sinh đứa con không cha, kết thúc bi đát là vào tù)
- Cốt truyện với vô số sự kiện về cuộc đời Tám Bính: Tám Bính bỏ nhà đi, vào nhà chứa, Năm Sài Gòn đuổi Bính đi, cô lấy một viên mật thám để có tiền gửi về cứu bố mẹ, Tám Bính cứu Năm Sài Gòn cùng y đi trốn. Kết thúc: chứng kiến con chết, bản thân bị bắt.
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Tóm tắt nội dung văn bản Bơ vơ theo các đoạn đã đánh số và cho biết: Đoạn trích này có vị trí như thế nào đối với việc phản ánh số phận, cuộc đời của Tám Bính? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Tóm tắt:
+ Đoạn 1: Bính bỏ nhà đi đã 4 ngày và vẫn bơ vơ, lo lắng ở Hải Phòng
+ Đoạn 2: Bính nhớ về làng Sòi, về nhà với bao nỗi cay đắng
+ Đoạn 3: Bính bị trêu ghẹo, ăn hiếp nơi phố thị
+ Đoạn 4: Bính bơ vơ, buồn bã và trào lên nỗi thương nhớ con
- Đoạn trích ở phần đầu tiểu thuyết có vai trò mở đầu số phận của nhân vật tiểu thuyết: Tám Bính bỏ nhà ra đi và bắt đầu chuỗi ngày cơ cực tại Hải Phòng, cho số phận khốn cùng của cô
Câu 3 (1 điểm)
|
Vì sao Bính phải bỏ nhà ra đi (Hãy gắn đoạn trích với phần tóm tắt để lí giải)? Lý do này có ý nghĩa như thế nào? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Lí do Bính phải bỏ nhà ra đi:
+ Bố mẹ Bính là người độc ác: chửi rủa Bính; bán con của Bính để lấy tiền tiêu
+ Bính không thể chịu đựng được dư luận, sự đả kích ngay chính quê nhà mình
- Lí do này có giá trị nhân đạo sâu sắc:
+ Tố cáo sự tàn độc của tư tưởng cổ hủ, những con người bất nhân (bố mẹ Bính) đã đẩy Bính vào con đường cùng (khiến Bính hư hỏng sau này)
+ Bênh vực, cảm thông với nỗi khổ của Bính, người con gái nông thôn cả tin này không thể chống đỡ được những cạm bẫy của xã hội
Câu 4 (1 điểm)
|
Đọc đoạn số 1,3 và trả lời câu hỏi a,b a. Tình cảnh hiện tại của Tám Bính cơ cực như thế nào? b. Cô ấy có nhận thức được cảnh ngộ của mình không? Điều này có ý nghĩa gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 1 và 3
Lời giải chi tiết:
a. Tình cảnh hiện tại của Tám Bính:
- Bỏ nhà quê ra phố, hết tiền: Món tiền sáu hào chắt bóp ngót nửa năm trời đã dùng để trả tiền ăn, tiền tàu từ Nam Định ra Phòng mất bốn hào. Còn hai hào thì vừa vặn ăn uống trong hai hôm nay; lang thang trong đêm bị trêu ghẹo, sàm sỡ,…
- Bế tắc, hoang mang tột độ: Bính đi như thế không cần biết rồi sẽ đi tới đâu: “Biết làm sao đêm nay?! Bính lại thấy đêm lạnh và dài lắm”
b. Cô nhận thức được cảnh ngộ của mình:
- Một thân gái quê mùa bỡ ngỡ lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này, gặp những sự không may là thường
- Việc mình bỏ đi sẽ đồn khắp làng: theo trai, đĩ thõa,…
- Ý nghĩa: Bính- cô gái trẻ bất lực, bế tắc trước hoàn cảnh, ý thức được cảnh ngộ nhưng không thể thoát được cảnh ngộ ấy; việc Tám Bính sẽ liên tiếp gặp tai ương trong cuộc đời là tất yếu → tố cáo, lên án xã hội đẩy con người vào cảnh ngộ khốn cùng
Câu 5 (1 điểm)
|
Điều gì khiến Tám Bính nhớ về quê hương và gia đình? Cô nhớ về điều gì nhiều nhất? Đoạn văn bản viết về nỗi nhớ quê của Bính được thuật kể từ điểm nhìn nào? Điểm nhìn đó có vai trò gì đối với văn bản đọc? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về điểm nhìn
Lời giải chi tiết:
- Điều khiến Tám Bính nhớ quê: tiếng đọc kinh đâu đây nhẹ nhàng vang trước gió lạnh, réo rắt và thấm thía,…
- Nhớ về gia đình, cha mẹ:
+ Gia đình chẳng có lấy một chút gì yên vui, thuận hòa, đạo đức. Cha mẹ Bính luôn cắn rứt nhau vì thiếu thốn;
+ Chửi mắng hành hạ Bính vì Bính không biết mưu tính gian lận
+ Bố mẹ mình là giả dối, che mắt thế gian
- Đoạn được thuật kể từ điểm nhìn bên trong của nhân vật
- Vai trò của đoạn: khắc họa tâm lí nhân vật, nỗi đau khổ của cô gái trẻ, lí giải việc Tám Bính phải bỏ nhà ra đi, phản ánh một chặng đường đời của nhân vật chính
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2 điểm)
|
Cảm nhận của em về nhân vật Tám Bính trong văn bản đọc hiểu Bơ vơ. Từ đó, nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật và xác định cảm hứng, phong cách sáng tác của văn bản đọc hiểu (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các chi tiết xây dựng nhân vật để phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật và phong cách sáng tác
Lời giải chi tiết:
Triển khai viết: văn bản có 3 đoạn nhỏ hoặc đoạn lớn (đảm bảo đủ các nội dung
mà câu hỏi đã yêu cầu).
- Xác định một số đặc điểm nổi bật của nhân vật:
+ Cô gái hiền lành chân chất của thôn quê (không như ai giảo hoạt, tinh ranh).
+ Cô gái chịu nhiều đau khổ (cha mẹ mắng chửi, phải bỏ nhà ra đi,...); giàu tình yêu thương (yêu nhớ đứa con khôn nguôi).
+ Cô gái có những đánh giá về con người cuộc sống (Bố mẹ mình là giả dối, che mắt thế gian; đọc kinh, hỏi để làm gì?; một thân gái quê mùa đi bỡ ngỡ lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này,...).
+ Lâm vào tình cảnh bế tắc. (Học sinh tự lấy dẫn chứng)
(Học sinh có thể phân tích ngắn gọn 2–3 đặc điểm nổi bật của nhân vật và có
dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp.)
– Nghệ thuật xây dựng nhân vật: chú trọng diễn biến tâm lí qua độc thoại nội
tâm, hồi ức,... một số hành động)
- Cảm hứng và phong cách sáng tác của tác phẩm.
+ Cảm hứng thương cảm, phê phán.
+ Phong cách hiện thực. (Học sinh tự lấy dẫn chứng).
Câu 2. (4đ)
|
Em có đồng tình với việc bỏ nhà ra đi của Tám Bính không? Hiện tượng này có sảy ra với thanh niên hiện nay không? Em hãy biết bài luận (600 chữ) thể hiện chính kiến của mình về hiện tượng này |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Em có đồng tình với việc bỏ nhà ra đi của Tám Bính không? Hiện tượng này có sảy ra với thanh niên hiện nay không? Em hãy biết bài luận (600 chữ) thể hiện chính kiến của mình về hiện tượng này |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề nghị luận (xác định vấn đề của tuổi trẻ) - Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ |
|
Thân bài |
3,0 |
* Thái độ đối với việc bỏ nhà ra đi của Tám Bính - Tóm tắt ngắn gọn hành động, lí do Tám Bính bỏ nhà ra đi (suy nghĩ về bố mẹ và gia đình) - Phân tích ngắn gọn hậu quả trong hiện tại, tương lai (căn cứ vào số phận của Tám Bính qua tiểu thuyết Bỉ vỏ) - Thể hiện thái độ đồng tình/ không đồng tình * Hiện tượng bỏ nhà đi của thanh niên ngày nay - Một bộ phận hành xử thiếu suy nghĩ: bỏ nhà đi - Hậu quả đối với bản thân, gia đình, xã hội → Dùng lí lẽ, dẫn chứng mở rộng vấn đề (Các góc nhìn về vấn đề; tính hai mặt của vấn đề) *Ý kiến của cá nhân về hiện tượng |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề - Hành động của cá nhân (trong tình huống giả định) |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng các thao tác phân tích so sánh, tổng hợp, chứng minh - Dẫn chứng phong phú, đa dạng phù hợp tới lí lẽ, luận điểm |
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
CƠN ĐAU DÀI
(Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn Kháng)
Tóm tắt tác phẩm “Mùa lá rụng trong vườn”
Mùa lá rụng trong vườn kể về gia đình ông Bằng, một nhân viên bưu điện đã nghỉ hưu tại Hà Nội. Ông Bằng có năm người con trai. Anh cả Tường đã hi sinh ngoài mặt trận, vợ anh là Hoài đã tái giá nhưng vẫn thường xuyên viết thư thăm hỏi gia đình. Đông là anh hai, trung tá đã xuất ngũ, sống cuộc sống đơn giản; Lí, cô con dâu đảm đang, nhanh nhẹn. Con trai thứ ba của ông là Luận, một nhà báo có nhiều trăn trở, suy tư về cuộc sống. Vợ anh là Phượng, một người tốt bụng, luôn sẵn lòng giúp đỡ mọi người. Người con thứ tư – Cừ, lại hư hỏng, không nghe lời cha mẹ, đã từng bị đuổi khỏi quân đội. Cuối cùng, em út Cần đang đi học ở Liên Xô, sắp về nước.
Bi kịch ập tới khi Cừ bỏ việc ở xí nghiệp, trốn ra nước ngoài, bỏ lại vợ và hai con nhỏ.
Sau khi trốn sang Canada, Cừ mới nhận ra lỗi lầm của mình thì đã muộn. Anh liền gửi bức thư cuối cùng về nhà trước khi uống thuốc tự tử. Nhận được thư, bệnh cao huyết áp của ông Bằng tái phát, khiến ông phải nhập viện, rồi qua đời. Đồng thời, vợ và hai con trai của Cừ vô cớ bị sa thải khỏi nông trường, phải đến ở nhờ nhà ông Bằng, rồi nhà chị Hoài. Trước tình cảnh khó khăn, Luận, Phượng và Hoài đã tỏ rõ mình là những người có tinh thần trách nhiệm cao đẹp, thương người như thể thương thân.
Lí chán chường khi sống cạnh Đông, nên khi ông trưởng phòng ở cơ quan dụ dỗ, Lí đã đi công tác Sài Gòn gần tháng trời với ông ta, hưởng lạc, bỏ bê gia đình. Chỉ tới lúc đã đi khỏi nhà, chị mới nhận ra lỗi sai của mình, viết thư tỏ ý muốn quay trở về. Câu chuyện kết thúc vào một đêm giáp Tết, khi mọi người nhận được thư của Lí.
Đoạn trích sau là chương 18 của tác phẩm "Mùa lá rụng trong vườn"
(1)... đêm đêm Luận nằm ngủ có lúc giật mình tỉnh giấc. Quả khô, cành khô rụng lá trên mái nhà như chạm vào nỗi xôn xao thương nhớ. Đông co ro trong
giá lạnh. Đã thôi chửi đời và thôi nguyền rủa Lí. Nhưng nỗi đau thì mỗi ngày một ngấm thêm. Đông hiểu, anh vừa mất đi một cái gì hệ trọng và thân thiết quá. Lần giở từng trang đời đã xa, anh nghiệm ra: Lí có nhiều thói xấu, nhưng sống bên chị, về cơ bản, anh vẫn thoải mái, yên vui. Chị là sắc màu, là nhịp điệu đời sống lúc nào cũng lấp lánh, tưng bừng bên anh. Với anh, chị là một người mẹ, một người chị tận tình.
Gian buồng, căn nhà, khu vườn còn nhắc nhở bao kỉ niệm thiết tha, còn vang ngân tiếng chị, còn lưu giữ vẹn nguyên bóng hình chị. Khi bị mất rồi, anh mới hiểu biết giá trị của cái không còn. Đau đớn ngấm đến tận nơi sâu thẳm nhất, anh lại nổi cơn khùng, nhưng lần này ngấm ngầm và chỉ trút nỗi căm hờn vào kẻ đã quyến rũ vợ anh – gã Trưởng phòng Vật tư khốn nạn.
Trong bữa cơm với gia đình Luận, Đông có nói tới gã trưởng phòng nọ với lời đe doạ: nó gây gió, nó phải chịu bão. Luận giật mình thấy mắt Đông lúc ấy mất hết thần sắc y như khi Đông túm cổ áo Luận và lúc nói sẽ bắn chết thằng Cừ.
Phượng lo lắng bảo chồng: “Anh Luận, nên trông nom, theo sát anh Đông, ngộ nhỡ có chuyện gì..” Luận lên ở cùng buồng với Đông, anh muốn khuây khoả và kiềm chế ông anh: con người quen sống giản lược, bị dồn vào bức bách dễ manh động bột phát lắm.
Một buổi chiều, hai người ngồi uống nước và nghe nhạc Vácne. Bỗng Đông hỏi:
– Nhạc Vácne hùng tráng đấy chứ, có gì mà ông cụ không thích nhỉ?
– Chỉ vì nghe em nói Hitle nó thích nhạc ông này thôi. – Luận đáp. – Anh thấy không, ông cụ là người có học còn vậy. Con người có những định kiến cố định, phá vỡ, đổi thay không dễ đâu.
Đông im, như nghĩ ngợi. Lát sau, Luận tiếp:
- Con người vượt ra khỏi cái quy định là rất khó. Em không muốn nói ngoại cảnh, thời đại, mà nói cái đã bị quy định ở trong mỗi con người.... Chị Lí cũng vậy. Chị là nạn nhân của chính mình. Và anh, anh nên rút kinh nghiệm.
Nói cái ý cuối cùng, Luận đã đắn đo mãi. Luận nghĩ: “Đông đã bình tâm, nên nói để Đông xem xét lại mình và tìm cách cứu vãn tình hình. Nhưng, Đông vụt
đứng dậy:
- Chẳng lẽ tôi là thằng khốn nạn à?
- Anh không hiểu ý em.
- Tôi, mấy chục tuổi Đảng, tuổi quân, có mặt ở chiến trường suốt hai cuộc kháng chiến, tôi là thằng đểu giả, lừa lọc, phản bội, lưu manh, côn đồ à? Vì chịu ảnh hưởng của tôi mà cô ấy hư hỏng à?
Đông nói dồn dập gay gắt và vẫn không vượt được ra khỏi sự sơ lược trong suy nghĩ. Luận ngắt lời anh, giọng hơi bực:
- Không ai trẻ con, ngu dốt đến mức quy kết như thế! Anh tốt, nhưng anh chưa đủ những đức tính cần thiết. Cuộc sống phức tạp. Nhưng phải sống thực sự với nó, phải có trách nhiệm với nó, vì nó. Nói cụ thể là phải có trách nhiệm với cả từng con người. Càng ngày mỗi cá thể càng nổi lên, có vị trí quan trọng vô cùng
trong cuộc sống.
Đang trong cơn phẫn khích, Đông không kìm được, cắt ngay lời Luận:
- Chỉ có vấn đề, nếu nói từ gốc, là tôi chọn nhầm thôi. Cậu lí luận đặc sệt sách vở. Chiến tranh, tất cả tâm lực phải dành cho việc đánh giặc. Người ở nhà phải tự lo lấy. Cô ấy hư đốn lẽ nào tôi phải chịu trách nhiệm?
Đông lại phải tuột những ý nghĩ tốt đẹp về Lí, lại rơi vào trạng thái thần kinh căng thẳng. Lại văng ra lời chửi rủa Lí, gã trưởng phòng và các thói tệ tư sản. Lát sau, những mặc cảm nhục nhã trỗi dậy, cay nhức tâm trí anh, anh rơi hẳn vào cuồng nộ.
Đến cao điểm, Đông tiến đến trước mặt Luận, hai mắt đỏ nọc và giọng lạc đi:
Cậu mà con bênh con đĩ ấy hả? Trời ơi sao tôi không chết luôn lúc tiến đến
cửa ngõ Sài Gòn cho rồi!
Luận ứa nước mắt vì câu kêu trời đau đớn ấy của Đông. Đông đứng lặng, to
lớn, run rẩy, đầu bạc phếch, nước mắt xối trên hai gò má xám.
(2) Chính lúc ấy, Phượng ra mở cổng vì có tiếng chuông gọi. Người gọi cổng
chào Phượng, tự giới thiệu là Cán bộ Tổ chức xí nghiệp Lí cần gặp chồng Lí vì
một việc rất cần kíp.
Đông vội lau mặt, Luận sửa soạn ấm chén xong, quay vào cái tủ sách, tiếp tục xếp dọn tư liệu, sách vở của cha. Đúng như Luận dự đoán, anh cán bộ Tổ chức sau khi hỏi qua về quan hệ vợ chồng Đông – Lí, nhìn thẳng vào mặt Đông, giọng thật nghiêm trang:
- Xin báo để anh biết, hiện giờ chị Lí sống chung như vợ chồng chính thức với một người đàn ông. Anh này nguyên là Trưởng phòng Vật tư đơn vị chúng tôi, vừa rồi đã bị chúng tôi khởi tố vì tội tham ô. Nay, tình hình như vậy, chúng tôi
quyết định kỉ luật sa thải chị ấy. Về việc này gia đình ta có ý kiến gì không? Đang quay mặt vào cái tủ sách, vờ như đang xếp dọn, để dõi theo câu chuyện,
Luận quay phắt ngay lại, vai đập đánh thình vào cánh tủ, cố kìm giữ để khỏi bật
tiếng kêu kinh sợ. Anh càng kinh sợ hơn khi nhìn thấy Đông như bất động trong
lòng ghế, bàn tay dày xoè rộng úp vào mặt, trong khi hai ngón cái và ngón trỏ bấm chặt vào hai bên thái dương. Đông đang tê dại trước một sự phũ phàng. Trong Luận lại vang lên lời kêu gào thống thiết: Anh Đông phải có ý kiến ngay đi! Không thể xử lí như vậy được!
Mặt Đông nùng nục bỗng nghiêm lại một cách ngờ nghệch, biến thái của cơn đau thất thần, lạc trí và mỗi Đông hé mở, thoát ra một giọng nói gần như tuyệt vọng:
– Cái đó thì... tuỳ các đồng chí thôi!
Luận run hết cả người lên, vừa lo sợ vừa giận dữ, Luận chỉ muốn nhảy lại quát tướng vào mặt Đông và anh cán bộ nọ. Sao các anh lại quyết định một việc hệ trong như thế trong khi thần kinh các anh không bình thường. Và anh Đông, qua
sự việc này, tôi có thể nói anh là một kẻ vô trách nhiệm hoàn toàn!
Luận lao xuống gác, đuổi theo người cán bộ nọ, tâm não bừng bừng trong
cơn gào thét dữ dội và âm thầm:
- Đồng chí ơi, chính tôi đã nghe thấy các đồng chí ở xí nghiệp khen ngợi chị
Lí hết mực. Tội trạng chị ấy chưa đáng đến mức kỉ luật ấy. Xử lí chị ấy như vậy là dứt khoát đẩy chị ấy xuống bùn, là cắt đường trở về của chị ấy. Đồng chí không nên căn cứ vào ý kiến của anh Đông. Anh ấy lúc này còn đâu là sáng suốt! Các đồng chí nên gặp chị Lí một lần nữa đi.
Nhưng người cán bộ nọ đã đi.
(3) Quay vào khu vườn, phong phanh một chiếc áo len mỏng mà người Luận nóng bừng. Lòng giận sôi lên, anh ngước lên nhìn buồng Đông. Đông vừa bật đèn. Đông vừa vặn máy hát. Không! Không thể hời hợt và vô trách nhiệm như thế! Con người thông minh và đần độn, mạnh mẽ và yếu ớt thảm hại. Dưới tác động của một ngẫu nhiên bất hạnh rất nhỏ thôi, đời một con người cũng có thể xoáy lật ngược chiều tức khắc. Con người, cần phải được thể tất, cần phải đỡ nâng, dắt dìu. Ngay ngày mai Luận phải đến cái xí nghiệp ấy để phản bác cái quyết định tắc trách của họ với Lí. Đời Lí lại thêm một hiểm hoạ, phải nhanh tay cứu chị ấy.
Lúc ấy, Phượng vừa tưới rau và vun cây quất xong. Chị ghếch cái cán cuốc vào thân cây táo, hồi hộp lo lắng vì thấy Luận mắt đăm chiêu vừa từ cổng đi vào, ngồi xuống cái ghế đá và úp mặt vào hai lòng bàn tay.
- Anh Luận. Anh vào ăn cơm đi.
– Phượng à... anh buồn quá, em ạ.
Luận ngẩng lên. Ngước theo hai cánh tay Phượng vừa nâng từ từ lên cao, vòng ra sau gáy, vơ mái tóc cặp lại, anh nhận ra hai cánh tay Phượng mảnh dẻ quá, gầy guộc quá, tiều tuỵ quá. Nao dậy trong anh nỗi lo thắt ruột gan: Phượng đã có mang được ba tháng.
– Anh Luận ạ, số tiền ông để lại ba nghìn. Tang lễ cho cụ mất một nghìn rưởi. Còn một nghìn rưởi. Em định gửi cho mẹ con thằng Quân anh, Quân em. Không thấy Luận đáp, chị hiểu chồng chị đang phân tâm và chính chị đang sốt ruột muốn biết người ở xí nghiệp Lí mang tin gì đến.
Luận quay lại, lẫn trong tiếng thở dài: Chị Lí bị sa thải rồi, em ạ. Phượng bỗng thấy rét run. Có cảm giác nỗi sợ hãi truyền kiếp vừa phát sinh từ bóng tối hư huyền trong khu vườn đang ám ảnh chị, làm chị nổi gai và gây gây như là lên cơn sốt. [...].
(Ma Văn Kháng, Mùa lá rụng trong vườn, NXB Trẻ, 2011)
(*) Tên văn bản do nhóm biên soạn đặt.
* Ma Văn Kháng (sinh năm 1936, tên khai sinh là Đinh Trọng Đoàn) là một nhà văn nổi bật của nền văn học đương đại Việt Nam nửa năm sau thế kỉ XX, đặc biệt từ khi bắt đầu thời kì Đổi mới.
Câu 1. Tóm tắt (từ 3-5 dòng) văn bản Cơn đau dài và cho biết vị trí, vai trò của văn bản đối với tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn (0,5đ)
Câu 2. “Đặc điểm nổi bật nào của thể loại tiểu thuyết thể hiện trong văn bản Cơn đau dài”? Hãy phân tích đôi nét làm rõ đặc điểm đó? (0,5đ)
Câu 3. Vì sao Đông rơi vào trạng thái đau đớn? Phân tích tính cách tiêu biểu của nhân vật Đông; từ đó, nêu những đánh giá của tác giả, của em về nhân vật này (0,5đ)
Câu 4. Em hãy đánh giá thành công đặc sắc của văn bản Cơn đau dài (nội dung, hình thức). Hãy trả lời bằng văn bản (tùy chọn hình thức đoạn nhỏ/ văn bản nhỏ) (0,5đ)
Câu 5. Nhà văn muốn nói điều gì với độc giả qua 2 lời nói, suy nghĩ sau đây của nhân vật Luận? Từ đó hãy nêu bức thông điệp em nhận được từ văn bản đọc hiểu trên (1đ)
|
a. Lời nói của Luận với Đông Cuộc sống phức tạp. Nhưng phải sống thực sự với nó, phải có trách nhiệm với nó, vì nó. Nói cụ thể là phải có trách nhiệm với cả từng con người. Càng ngày mỗi cá thể càng nổi lên, có vị trí quan trọng vô cùng trong cuộc sống, nó đòi hỏi ta phải chăm sóc |
b. Suy nghĩ của Luận sau việc của Lí Con người thông minh và đần độn, mạnh mẽ và yếu ớt thảm hại. Dưới tác động của một ngẫu nhiên bất hạnh rất nhỏ thôi, đời một con người cũng có thể xoáy lật ngược chiều tức khắc. Con người, cần phải được thể tất, cần phải đỡ nâng, dắt dìu. |
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Em có đồng ý với quan điểm, cách ứng xử của Luận sau đây không? (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2đ)
Ngay ngày mai Luận phải đến cái xí nghiệp ấy để phản bác cái quyết định tắc trách của họ với Lí. Đời Lí lại thêm một hiểm họa, phải nhanh tay cứu chị ấy
Từ đó, hãy nhận xét về Luận và vai trò của nhân vật này trong đoạn trích “Cơn đau dài”
Câu 2. (4đ)
Từ văn bản đọc hiểu “Cơn đau dài” (Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng), em hãy viết văn bản (600 chữ) bàn luận, thể hiện quan điểm của mình về mối quan hệ giữa cá nhân và trách nhiệm của mỗi cá nhân khi gia đình có người gặp biến cố (xoáy lật ngược chiều)
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Tóm tắt (từ 3-5 dòng) văn bản Cơn đau dài và cho biết vị trí, vai trò của văn bản đối với tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đối chiếu văn bản với chỉnh thể tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn
Lời giải chi tiết:
- Đông nghĩ về Lí, trò chuyện, tranh luận với Luận về Lí và cho rằng Lí hư hỏng không có lỗi của mình. Cơ quan Lí đến thông báo: Lí ăn ở với tên tưởng phòng vật tư nên bị sa thải. Đông đau đớn tột cùng và chấp nhận sự thật, Luận buồn bã, thương Lí và muốn cứu Lí trong tuyệt vọng
- Văn bản Cơn đau dài nằm ở gần cuối tác phẩm phản ánh một bi kịch gia đình ông Bằng và vợ chồng Đông Lí, thể hiện tính cách, nỗi đau của nhân vật Đông Lí
Câu 2 (0,5 điểm)
|
“Đặc điểm nổi bật nào của thể loại tiểu thuyết thể hiện trong văn bản Cơn đau dài”? Hãy phân tích đôi nét làm rõ đặc điểm đó |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại đặc điểm thể loại tiểu thuyết
Lời giải chi tiết:
- Nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư; quan tâm đến cái thường ngày, cái đang diễn biến với cách tiếp cận gần gũi; không lí tưởng hóa hiện thực;
+ Cái đang diễn biến với cách tiếp cận gần gũi: việc cơ quan Lí đến thông báo sa thải Lí, ứng xử của Đông và ý nghĩ của Luận)
- Nhân vật là “con người nếm trải”, có quá trình phát triển nhiều khi quanh co, phức tạp: diễn biến tâm lí của Đông (đang nghĩ tốt đẹp về Lí; hùng hổ gọi Lí là con đĩ; đau đớn tột cùng, chỉ biết ôm mặt)
- Phản ánh mâu thuẫn, tâm lí và xung đột giữa các quan điểm: cách nhìn đời bao dung, sâu sắc của Luận và cách nhìn đơn giản lược của Đông. Ông Bằng không thích nhạc Vácne chỉ vì nghe Luận nói Hít – le cũng thích nhạc ông này
Câu 3 (0,5 điểm)
|
Vì sao Đông rơi vào trạng thái đau đớn? Phân tích tính cách tiêu biểu của nhân vật Đông; từ đó, nêu những đánh giá của tác giả, của em về nhân vật này (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và lí giải nguyên nhân
Chú ý các chi tiết thể hiện tính cách của nhân vật Đông
Nêu quan điểm của bản thân về nhân vật
Lời giải chi tiết:
- Vì Lí rất thân thiết với Đông, anh nhìn thấy những ưu điểm của Lí nên khi bị mất rồi, anh mới hiểu giá trị của Lí. Đau đớn ngấm đến tận nơi sâu thẳm nhất, anh lại nổi cơ khùng; vì Luận nói về Lí và trách nhiệm của Đông về sự thay đổi của Lí
- Nhân vật Đông:
+ Người lính trở về từ chiến trận, nhìn con người hết sức đơn giản: Chiến tranh, tất cả tâm lực phải giành cho việc đánh giặc. Người ở nhà phải tự lo lấy
→ Đông cho rằng Lí hư là tại cô ấy, không phải do chồng, Đông quan niệm chưa đúng về mối quan hệ, sự ràng buộc vợ chồng, trong gia đình
+ Đông là người thô lỗ, cục cằn: chửi rủa Lí, gã trưởng phòng và các thói tệ tư sản
+ Đông đang nếm trải nỗi đau và rơi vào bế tắc đau đớn: Trời ơi sao tôi không chết luôn lúc tiến đến cửa ngõ
- Đánh giá của tác giả về Đông: Đông nói dồn dập, gay gắt và vẫn không vượt được ra khỏi sự sơ lược trong suy nghĩ; Anh tốt nhưng anh chưa đủ những đức tính cần thiết. Cuộc sống phức tạp. Nhưng phải sống thực sự với nó, phải có trách nhiệm với nó, vì nó → Tác giả phê phán ứng xử và suy nghĩ của Đông qua lời người kể chuyện và qua Luận. Chính Đông đã để tuột mất hạnh phúc gia đình và bây giờ chính Đông phải chịu nỗi đau đó
- Đánh giá của cá nhân: Học sinh tự trả lời theo quan điểm cá nhân
Câu 4 (0,5 điểm)
|
Em hãy đánh giá thành công đặc sắc của văn bản Cơn đau dài (nội dung, hình thức). Hãy trả lời bằng văn bản (tùy chọn hình thức đoạn nhỏ/ văn bản nhỏ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý nhận xét, đánh giá về nội dung và hình thức
Lời giải chi tiết:
– Nội dung:
+ Phản ánh số phận con người trong những mối quan hệ cuộc sống phức tạp với tất cả những mâu thuẫn, tâm lí và xung đột gay gắt trong lối sống, quan điểm sống qua nhân vật Đông, Luận;
+ Truyền tải nhiều thông điệp về cách nhìn nhận đánh giá con người, ứng xử khi người thân lầm lỡ; sống có trách nhiệm (qua nhân vật Luận).
– Nghệ thuật:
+ Miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật – nỗi đau, sự bế tắc, bất lực, lối sống thờ ơ của Đông qua sự luân chuyển của các điểm nhìn trần thuật (bên trong, bên ngoài, người kể chuyện, nhân vật) với những khúc quanh phức tạp; qua đối thoại, độc thoại, biểu hiện bên ngoài (Đau đớn ngấm đến tận nơi sâu thẳm nhất, anh lại nổi cơn khùng, nhưng lần này ngấm ngầm và chỉ trút nỗi căm hờn vào kẻ đã quyến rũ vợ anh. Đông tiến đến trước mặt Luận, hai mắt đỏ nọc và giọng lạc đi. Đông đứng lặng, to lớn, run rẩy, đầu bạc phếch, nước mắt xối trên hai gò má xám; Đông như bất động trong lòng ghế, bàn tay dày xoà rộng úp vào mặt, trong khi hai ngón cái và ngón trỏ bấm chặt vào hai bên thái dương. Đông đang tê dại trước một sự phũ phàng; Đông vừa bật đèn. Đông vừa vặn máy hát.).
+ Khắc hoạ nhân vật: Nhân vật Lí chỉ hiện lên gián tiếp mà rất rõ nét (ưu điểm,
nhược điểm, cảnh ngộ hiện tại) qua suy nghĩ của Đông và đối thoại của Đông Luận và một sự việc (người của cơ quan đến thông báo sa thải).
Câu 5 (1 điểm)
|
Nhà văn muốn nói điều gì với độc giả qua 2 lời nói, suy nghĩ sau đây của nhân vật Luận? Từ đó hãy nêu bức thông điệp em nhận được từ văn bản đọc hiểu trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ 2 lời nói, suy nghĩ
Đặt 2 lời nói, suy nghĩ đó vào từng bối cảnh cụ thể để phân tích thông điệp của tác giả
Nêu quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Nhà văn muốn nói:
a. Xã hội phức tạp, có khả năng làm tha hóa con người, con người cá nhân đòi hỏi được đề cao, vì vậy, mỗi người cần có trách nhiệm với cuộc sống, với người thân của mình
b. Con người thông minh, đần độn đều chịu nhiều tác động của xã hội khiến cuộc sống phải đối mặt với biến động, thất bại nên cần được tha thứ, đỡ nâng, dắt dìu
- Bức thông điệp: Học sinh tự đúc rút (cần sát với nội dung của văn bản: cách nhìn nhận đánh giá con người, ứng xử khi người thân lầm lỡ; sống có trách nhiệm…)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1.
|
Em có đồng ý với quan điểm, cách ứng xử của Luận sau đây không? (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn đã được học
Nêu quan điểm, ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
Đoạn thể hiện đủ, cân đối các nội dung đã yêu cầu ở trong đề (ở các gợi ý sau):
- Học sinh tự thể hiện quan điểm cá nhân về 2 nội dung: đồng ý với quan điểm, cách ứng xử của Luận; nhận xét về Luận (cần mạch lạc, thuyết phục)
- Vai trò của nhân vật Luận trong đoạn trích:
+ Thể hiện quan điểm tư tưởng (sống, nhân đạo) của nhà văn Ma Văn Kháng
+ Tạo nên nét tương phản với nhân vật Đông
+ Thể hiện vấn đề của con người, gia đình thời hiện đại
Câu 2.
|
Từ văn bản đọc hiểu “Cơn đau dài” (Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng), em hãy viết văn bản (600 chữ) bàn luận, thể hiện quan điểm của mình về mối quan hệ giữa cá nhân và trách nhiệm của mỗi cá nhân khi gia đình có người gặp biến cố (xoáy lật ngược chiều) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Từ văn bản đọc hiểu “Cơn đau dài” (Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng), em hãy viết văn bản (600 chữ) bàn luận, thể hiện quan điểm của mình về mối quan hệ giữa cá nhân và trách nhiệm của mỗi cá nhân khi gia đình có người gặp biến cố (xoáy lật ngược chiều) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề nghị luận (từ Cơn đau dài, Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng) - Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ |
|
Thân bài |
3,0 |
* Về vấn đề từ văn bản đọc - Tóm tắt vấn đề: Mối quan hệ giữa các cá nhân và trách nhiệm của mỗi cá nhân khi gia đình có người gặp biến cố (trong văn bản đọc) - Nhận xét ngắn gọn về ứng xử của hai cá nhân (Đông, Luận trong văn bản Cơn đau dài) * Bàn luận về vấn đề - Mối quan hệ của cá nhân với gia đình truyền thống của dân tộc - Về tính độc lập từ quan niệm hiện đại ngày nay (ảnh hưởng từ một số quan niệm phương Tây) (qua biểu hiện, ví dụ cụ thể, phân tích tính hai mặt của vấn đề,…) *Quan niệm, chính kiến của bản thân - Nêu quan niệm, lối sống (phân tích ưu điểm, hạn chế) - Ứng xử, hành động của cá nhân để hạn chế nhược điểm của quan điểm sống (đã lựa chọn) |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề - Hành động của cá nhân (trong tình huống giả định) |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng các thao tác phân tích so sánh, tổng hợp, chứng minh - Dẫn chứng phong phú, đa dạng phù hợp tới lí lẽ, luận điểm |
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 4
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.
Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Còn non, còn nước, còn người, Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay! Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.
(Trích Di chúc, Hồ Chí Minh, Di chúc của Chủ tich Hồ Chí Minh, NXB Trẻ, tr.4,5).
Câu 1 (1.0 điểm): Theo đoạn trích, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định điều gì về đoàn viên thanh niên?
Câu 2 (1.0 điểm): Tác giả sử dụng những từ ngữ nào để miêu tả phẩm chất của đoàn viên thanh niên và nhân dân lao động trong đoạn trích?
Câu 3 (1.0 điểm): Biện pháp tu từ liệt kê có tác dụng gì trong đoạn văn sau: Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.?
Câu 4 (1.0 điểm): Tại sao đoạn văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau?
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Dựa vào đoạn văn phần Đọc hiểu và tình hình thực tế, anh/chị hãy đề xuất một kế hoạch cụ thể để nâng cao đời sống của nhân dân lao động, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa. Kế hoạch này cần bao gồm các biện pháp phát triển kinh tế và văn hóa cụ thể nào?
Câu 2 (4.0 điểm) Anh/chị hãy viết bài nghị luận trình bày tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên trong bối cảnh hiện nay.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Theo đoạn trích, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định điều gì về đoàn viên thanh niên? |
Phương pháp:
Chú ý phần mở đầu của đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Theo đoạn trích, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ.
Câu 2.
|
Tác giả sử dụng những từ ngữ nào để miêu tả phẩm chất của đoàn viên thanh niên và nhân dân lao động trong đoạn trích? |
Phương pháp:
Chú ý các từ ngữ được sử dụng để miêu tả phẩm chất của đoàn viên thanh niên và nhân dân lao động.
Lời giải chi tiết:
- Các từ ngữ để miêu tả phẩm chất của đoàn viên thanh niên: hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ, vừa “hồng” vừa “chuyên”.
- Các từ ngữ để miêu tả phẩm chất của nhân dân lao động: anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù, trung thành với Đảng.
Câu 3.
|
Biện pháp tu từ liệt kê có tác dụng gì trong đoạn văn sau: Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.? |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về biện pháp liệt kê
Lời giải chi tiết:
Tác dụng: Nhấn mạnh tinh thần quyết tâm chiến đấu và chiến thắng của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, nó khẳng định niềm tin chắc chắn vào tương lai tươi sáng, trong đó nước ta sẽ thống nhất, nhân dân được sum họp, đất nước có vinh dự lớn trên trường quốc tế.
Câu 4.
|
Tại sao đoạn văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau? |
Phương pháp:
Đọc kĩ nội dung đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là vô cùng quan trọng vì thanh niên chính là tương lai của đất nước, là lực lượng kế thừa và phát huy những thành tựu cách mạng. Nếu thế hệ trẻ được giáo dục tốt về đạo đức cách mạng, họ sẽ có đủ phẩm chất và năng lực để tiếp tục xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước phát triển bền vững.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Dựa vào đoạn văn phần Đọc hiểu và tình hình thực tế, anh/chị hãy viết một đoạn văn đề xuất một kế hoạch cụ thể để nâng cao đời sống của nhân dân lao động, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa. Kế hoạch này cần bao gồm các biện pháp phát triển kinh tế và văn hóa cụ thể nào? |
Phương pháp:
Xác định được mục tiêu, vấn đề cần nghị luận và lập luận phù hợp
Lời giải chi tiết:
Để nâng cao đời sống của nhân dân lao động, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, cần có những giải pháp thiết thực nhằm phát triển cả kinh tế lẫn văn hóa. Đây không chỉ là nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, đảm bảo cuộc sống ổn định và bền vững cho người dân. Về kinh tế, cần đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường giao thông, điện, nước sạch để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt. Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi để người dân phát triển mô hình kinh tế phù hợp như trồng trọt, chăn nuôi theo hướng công nghệ cao. Đồng thời, cần tổ chức các lớp đào tạo nghề, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất và tạo cơ hội việc làm cho lao động địa phương. Về văn hóa - xã hội, cần đầu tư xây dựng trường học, nâng cao chất lượng giáo dục để con em vùng sâu, vùng xa có cơ hội học tập tốt hơn. Hệ thống y tế cần được củng cố, với các trạm xá, bệnh viện có đủ thiết bị và nhân lực y tế để chăm sóc sức khỏe cho người dân. Ngoài ra, việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thông qua các hoạt động văn hóa - nghệ thuật, lễ hội truyền thống cũng rất quan trọng, giúp người dân gắn kết cộng đồng và giữ gìn bản sắc quê hương. Những biện pháp trên sẽ giúp cải thiện đáng kể chất lượng sống của người dân vùng sâu, vùng xa, góp phần xây dựng một xã hội phát triển toàn diện và bền vững.
Câu 2.
|
Anh/chị hãy viết bài nghị luận trình bày tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên trong bối cảnh hiện nay. |
Phương pháp:
I. Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề bằng cách đề cập đến vai trò to lớn của thanh niên trong sự phát triển của đất nước.
- Nêu vấn đề nghị luận: Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên không chỉ là nhiệm vụ quan trọng mà còn là yêu cầu cấp bách trong bối cảnh xã hội hiện nay.
II. Thân bài:
1. Giáo dục đạo đức cách mạng là gì?
- Đạo đức cách mạng là những phẩm chất tốt đẹp như yêu nước, trung thực, cần cù, trách nhiệm, đoàn kết, có ý chí phấn đấu vì lợi ích chung.
- Giáo dục đạo đức cách mạng giúp thanh niên có bản lĩnh vững vàng, không bị sa ngã trước cám dỗ của xã hội.
2. Tầm quan trọng của giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên:
- Xây dựng thế hệ kế thừa xứng đáng: Thanh niên là lực lượng nòng cốt của đất nước, nếu không có đạo đức cách mạng, họ dễ rơi vào lối sống thực dụng, xa rời lý tưởng tốt đẹp.
- Góp phần bảo vệ và phát triển đất nước: Một thế hệ trẻ có ý thức trách nhiệm sẽ góp phần bảo vệ Tổ quốc, xây dựng xã hội giàu mạnh, văn minh.
- Định hướng lối sống tích cực: Giúp thanh niên tránh xa các tệ nạn xã hội, có lý tưởng cao đẹp và đóng góp nhiều hơn cho cộng đồng.
3. Giải pháp nâng cao giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên:
- Gia đình và nhà trường: Giáo dục từ nhỏ về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm, ý thức cộng đồng.
- Tổ chức các phong trào, hoạt động đoàn thể: Tham gia các hoạt động xã hội giúp thanh niên hiểu giá trị của lao động và cống hiến.
- Xây dựng tấm gương đạo đức: Tuyên dương những thanh niên sống có lý tưởng, cống hiến cho đất nước.
III. Kết bài:
Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên không chỉ giúp xây dựng một thế hệ trẻ có phẩm chất tốt đẹp, mà còn góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của đất nước. Mỗi cá nhân, gia đình, nhà trường và xã hội cần chung tay để bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ trẻ, giúp họ trở thành những người có đủ tài và đức để tiếp nối truyền thống vẻ vang của dân tộc
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo
Thanh niên là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên trở thành nhiệm vụ cấp thiết nhằm xây dựng một thế hệ trẻ vừa có tri thức, kỹ năng, vừa có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, góp phần đưa đất nước vững bước trên con đường phát triển.
Trước hết, đạo đức cách mạng giúp thanh niên có bản lĩnh vững vàng, kiên định với lý tưởng cách mạng, trung thành với con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Trong một thế giới đầy biến động, trước những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và văn hóa ngoại lai, thanh niên rất dễ bị ảnh hưởng bởi lối sống thực dụng, thiếu ý chí phấn đấu. Vì vậy, giáo dục đạo đức cách mạng giúp họ giữ vững lập trường, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội.
Bên cạnh đó, việc rèn luyện đạo đức cách mạng còn giúp thanh niên hình thành ý thức cống hiến, tinh thần yêu nước và trách nhiệm với cộng đồng. Một thế hệ trẻ có đạo đức sẽ biết đặt lợi ích của dân tộc, đất nước lên trên lợi ích cá nhân, sẵn sàng dấn thân vì những giá trị cao đẹp. Lịch sử đã chứng minh, trong những giai đoạn khó khăn nhất của đất nước, thanh niên luôn đi đầu trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước, thể hiện tinh thần "đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên".
Hơn nữa, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế, đạo đức cách mạng còn giúp thanh niên có ý thức học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ để đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Nếu chỉ có tri thức mà thiếu đạo đức, con người dễ sa vào con đường sai trái, làm tổn hại đến lợi ích quốc gia. Vì vậy, đạo đức và tri thức phải luôn đi đôi với nhau, tạo nên những công dân vừa "hồng" vừa "chuyên" như Bác Hồ từng căn dặn.
Để giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên hiệu quả, cần có sự chung tay của gia đình, nhà trường và xã hội. Nhà trường phải đẩy mạnh giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống dân tộc và tinh thần trách nhiệm công dân. Gia đình cần là nền tảng vững chắc, định hướng thanh niên phát triển nhân cách đúng đắn. Bên cạnh đó, các tổ chức Đoàn, Hội cũng cần tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa như tình nguyện, bảo vệ môi trường, hỗ trợ đồng bào khó khăn để thanh niên có cơ hội rèn luyện và cống hiến.
Tóm lại, giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên không chỉ là nhiệm vụ của riêng ai mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Một thế hệ trẻ có đạo đức, bản lĩnh và trí tuệ sẽ là nền tảng vững chắc để đất nước phát triển bền vững, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như lời Bác Hồ từng mong muốn. Vì vậy, mỗi thanh niên cần ý thức rõ vai trò của mình, không ngừng học tập, rèn luyện để trở thành những công dân có ích cho xã hội.
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 5
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
TẢO GIẢI
(Giải đi sớm, trích Nhật kí trong tù, Hồ Chí Minh)
Phiên âm
Nhất thứ kê đề dạ vị lan,
Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san.
Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.
Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng,
U ám tàn dư tảo nhất không.
Noãn khí bao la toàn vũ trụ,
Hành nhân thi hứng hốt gia nồng.
Dịch nghĩa
Gà gáy một lần, đêm chưa tàn,
Chòm sao nâng vầng trăng lên đỉnh núi mùa thu;
Người đi xa đã cất bước trên đường xa,
Gió thu táp mặt từng cơn từng cơn lạnh lẽo.
Phương đông màu trắng chuyển thành hồng,
Bóng đêm còn rơi rớt sớm đã hết sạch;
Hơi ấm bao la khắp vũ trụ,
Người đi thi hứng bỗng thêm nồng.
Dịch thơ – Bản dịch của Nam Trân
Gà gáy một lần đêm chửa tan,
Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn;
Người đi cất bước trên đường thẳm,
Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn.
Phương đông màu trắng chuyển sang hồng,
Bóng tối đêm tàn, quét sạch không;
Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,
Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng.
Ghi chú: Bài thơ này được sử dụng trong chương trình SGK Văn học 12 giai đoạn 1990-2006.
Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể thơ, phong cách ngôn ngữ, phương thức biểu đạt của văn bản.
Câu 2 (0.5 điểm): Khung cảnh chuyển lao được Bác miêu tả vào thời điểm nào? Thời điểm đó nói lên điều gì về hoàn cảnh của Hồ Chí Minh?
Câu 3 (1.0 điểm): Em hiểu hai chữ nghênh diện như thế nào? Nhận xét về hình ảnh người tù được miêu tả trong hai câu thơ sau:
Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.
Câu 4 (1.0 điểm): Thời gian có sự chuyển dịch như thế nào từ khổ 1 sang khổ 2? Câu thơ U ám tàn dư tảo nhất không biểu đạt điều gì?
Câu 5 (1.0 điểm) Theo em, chất thép trong bài thơ thể hiện như thế nào?
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn người tù chiến sĩ trong bài thơ trên.
Câu 2 (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) về vấn đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Xác định thể thơ, phong cách ngôn ngữ, phương thức biểu đạt của văn bản. |
Phương pháp:
Xác định thể thơ dựa vào số câu, số chữ và cách gieo vần.
Xác định phong cách ngôn ngữ dựa vào nội dung bài thơ.
Xác định phương thức biểu đạt dựa vào mục đích chính của văn bản.
Lời giải chi tiết:
- Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
- Phong cách ngôn ngữ: Nghệ thuật.
- Phương thức biểu đạt: Biểu cảm kết hợp với miêu tả.
Câu 2.
|
Khung cảnh chuyển lao được Bác miêu tả vào thời điểm nào? Thời điểm đó nói lên điều gì về hoàn cảnh của Hồ Chí Minh? |
Phương pháp:
- Dựa vào câu thơ đầu tiên để xác định thời điểm.
- Phân tích ý nghĩa của thời điểm đó đối với hoàn cảnh của Bác.
Lời giải chi tiết:
- Thời điểm: Thời điểm tờ mờ sáng, khi trời còn tối nhưng đã có dấu hiệu bình minh.
- Ý nghĩa:
+ Thể hiện hoàn cảnh khắc nghiệt: Người tù phải lên đường rất sớm, khi trời còn lạnh và tối tăm.
+ Gợi lên hình ảnh kiên cường của Hồ Chí Minh: Dù gian khổ nhưng vẫn giữ tinh thần lạc quan, không bi quan hay than vãn.
Câu 3.
|
Em hiểu hai chữ nghênh diện như thế nào? Nhận xét về hình ảnh người tù được miêu tả trong hai câu thơ sau: Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng, Nghênh diện thu phong trận trận hàn. |
Phương pháp:
- Giải thích từ “nghênh diện” trong Hán Việt.
- Phân tích tư thế và thái độ của người tù qua hai câu thơ.
Lời giải chi tiết:
- Nghĩa của từ "nghênh diện": Có nghĩa là đối diện, đón nhận trực tiếp.
- Hình ảnh người tù trong hai câu thơ:
+ “Người đi xa đã cất bước trên đường xa” → Hình ảnh người tù không chùn bước, vẫn kiên cường tiến về phía trước.
+ “Đón gió thu lạnh từng trận táp vào mặt” → Thể hiện sự gian khổ, giá rét nhưng không cúi đầu trốn tránh, mà hiên ngang đối diện.
=> Hình ảnh người tù thể hiện bản lĩnh kiên cường, tinh thần bất khuất của Hồ Chí Minh.
Câu 4.
|
Thời gian có sự chuyển dịch như thế nào từ khổ 1 sang khổ 2? Câu thơ U ám tàn dư tảo nhất không biểu đạt điều gì? |
Phương pháp:
- So sánh thời gian giữa hai khổ thơ để tìm ra sự chuyển dịch.
- Phân tích ý nghĩa của câu thơ “U ám tàn dư tảo nhất không”.
Lời giải chi tiết:
- Sự chuyển dịch thời gian:
+ Khổ 1: Trời còn tối, gió lạnh, không gian u ám.
+ Khổ 2: Mặt trời mọc, ánh sáng xua tan bóng tối.
- Ý nghĩa câu thơ “U ám tàn dư tảo nhất không”:
+ Nghĩa đen: Bóng tối còn sót lại đã bị quét sạch.
+ Nghĩa biểu tượng: Sự tăm tối, gian khổ rồi cũng sẽ qua, ánh sáng của niềm tin, cách mạng sẽ chiến thắng.
=> Gợi lên niềm tin, tinh thần lạc quan của người chiến sĩ cách mạng.
Câu 5.
|
Theo em, chất thép trong bài thơ thể hiện như thế nào? |
Phương pháp:
- Phân tích hình ảnh người tù trong bài thơ để tìm ra chất thép.
- Đưa ra nhận xét về tinh thần kiên cường, bất khuất.
Lời giải chi tiết:
Chất thép thể hiện ở:
- Tư thế hiên ngang: "Nghênh diện thu phong" – Đón gió lạnh mà không hề run sợ.
- Tinh thần lạc quan: Dù trong hoàn cảnh gian khổ nhưng vẫn cảm nhận được vẻ đẹp thiên nhiên và hứng khởi sáng tác.
- Niềm tin cách mạng: Bóng tối rồi cũng sẽ bị quét sạch, ánh sáng sẽ đến.
=> Chất thép của bài thơ chính là tinh thần kiên cường, bất khuất của người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn người tù chiến sĩ trong bài thơ trên. |
Phương pháp:
1. Mở đoạn:
Bài thơ Tảo giải không chỉ miêu tả cảnh chuyển lao gian khổ mà còn bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh – một người chiến sĩ cách mạng kiên cường, lạc quan và yêu đời.
2. Thân đoạn:
- Tinh thần kiên cường: Bác bị giam cầm nhưng vẫn hiên ngang đón nhận thử thách ("Nghênh diện thu phong trận trận hàn").
- Lòng lạc quan: Dù trong cảnh lạnh lẽo, tăm tối, Bác vẫn nhận ra vẻ đẹp thiên nhiên và sáng tác thơ.
- Niềm tin cách mạng: Hình ảnh bình minh ló rạng tượng trưng cho tương lai tươi sáng, thể hiện niềm tin mãnh liệt vào cách mạng.
3. Kết đoạn:
Qua bài thơ, ta thấy được Hồ Chí Minh không chỉ là một chiến sĩ cách mạng mà còn là một thi nhân với tinh thần thép, luôn lạc quan và yêu đời.
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo
Bài thơ Tảo giải của Hồ Chí Minh không chỉ miêu tả cảnh chuyển lao gian khổ mà còn thể hiện vẻ đẹp tâm hồn kiên cường, lạc quan của người chiến sĩ cách mạng. Trước hết, đó là tinh thần hiên ngang, bất khuất. Dù phải di chuyển trong đêm tối, giá rét, người tù vẫn ung dung bước đi, đối diện với những cơn gió lạnh mà không hề nao núng. Hình ảnh “Nghênh diện thu phong trận trận hàn” (Đón gió thu lạnh từng cơn táp vào mặt) thể hiện rõ tư thế kiên cường, không khuất phục trước nghịch cảnh. Không chỉ vậy, bài thơ còn thể hiện tâm hồn lạc quan và yêu thiên nhiên của Bác. Dù bị giam cầm, Người vẫn cảm nhận được vẻ đẹp của đất trời: từ bóng tối u ám đến ánh bình minh rực rỡ. Sự chuyển biến của thời gian cũng phản ánh niềm tin cách mạng mãnh liệt—bóng tối sẽ qua đi, ánh sáng của tự do và cách mạng sẽ đến. Như vậy, Tảo giải đã khắc họa hình ảnh người chiến sĩ vừa kiên trung, bất khuất, vừa lạc quan, yêu đời, thể hiện tinh thần “thép” và tấm lòng rộng mở của Hồ Chí Minh.
Câu 2.
|
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) về vấn đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. |
Phương pháp:
1. Mở bài:
Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ vĩ đại mà còn là một tấm gương sáng về đạo đức. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng đối với mỗi người dân Việt Nam.
2. Thân bài:
- Giải thích tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: Đó là tinh thần yêu nước, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư.
- Ý nghĩa của việc học tập theo Bác:
+ Giúp con người sống có lý tưởng, trách nhiệm.
+ Góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn.
- Cách để học tập theo Bác:
+ Rèn luyện đạo đức, lối sống lành mạnh.
+ Cống hiến cho đất nước, luôn học tập và lao động hăng say.
+ Sống giản dị, biết yêu thương và giúp đỡ người khác.
- Phản đề: HS nêu được
3. Kết bài:
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là việc làm cần thiết của mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo
Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, một nhà cách mạng kiệt xuất, người đã hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Không chỉ là một nhà lãnh đạo tài ba, Bác còn là tấm gương sáng về đạo đức, nhân cách mà mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần noi theo. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn là con đường để mỗi người tự hoàn thiện bản thân, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh.
Trước hết, học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là học tập về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và ý chí kiên cường. Ngay từ khi còn trẻ, Bác đã nuôi chí lớn, ra đi tìm đường cứu nước với mong muốn đem lại độc lập, tự do cho dân tộc. Tinh thần yêu nước của Bác không chỉ thể hiện qua những lời nói mà còn qua những hành động cụ thể, từ việc đấu tranh không mệt mỏi trên mặt trận chính trị, quân sự đến việc quan tâm đời sống của nhân dân. Noi gương Bác, mỗi chúng ta cần ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình đối với đất nước, không ngừng nỗ lực học tập, rèn luyện để đóng góp cho sự phát triển chung.
Bên cạnh đó, tấm gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư của Bác là bài học quý báu cho mỗi người. Cả cuộc đời Bác luôn giản dị, tiết kiệm, không màng danh lợi. Bác từng nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Điều đó cho thấy việc rèn luyện đạo đức không chỉ thể hiện bằng lời nói, mà quan trọng là hành động thực tiễn. Mỗi người, đặc biệt là cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên, cần nêu cao tinh thần trung thực, liêm khiết, tránh xa thói hư tật xấu như tham nhũng, lãng phí, vụ lợi cá nhân. Trong học tập, lao động, mỗi người cần biết quý trọng thời gian, tài sản chung, làm việc có trách nhiệm, hiệu quả.
Ngoài ra, học tập theo Bác còn là học tinh thần tự học, sáng tạo và luôn hướng về nhân dân. Dù là một người có trí tuệ uyên bác, Bác vẫn luôn khiêm tốn học hỏi, tự trau dồi kiến thức mỗi ngày. Bác thông thạo nhiều ngôn ngữ, am hiểu sâu sắc về chính trị, văn hóa, lịch sử nhờ quá trình tự học bền bỉ. Học tập theo Bác, chúng ta cần rèn luyện ý chí ham học, không ngừng sáng tạo, đổi mới tư duy để thích nghi với thời đại. Đồng thời, tinh thần gần dân, vì dân của Bác cũng là bài học quan trọng cho những ai đang công tác trong bộ máy nhà nước hay làm công việc phục vụ cộng đồng. Mỗi hành động, quyết định đều phải xuất phát từ lợi ích chung, đặt lợi ích của dân tộc, nhân dân lên trên hết.
Vậy làm thế nào để học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh một cách thiết thực? Trước tiên, mỗi người cần tự giác rèn luyện đạo đức, từ những việc nhỏ nhất như biết nói lời cảm ơn, xin lỗi, trung thực trong học tập và công việc, sống chan hòa với mọi người. Học sinh, sinh viên phải không ngừng phấn đấu, học hỏi, có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Cán bộ, công chức cần làm việc tận tâm, minh bạch, đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Cả xã hội cần chung tay xây dựng môi trường sống lành mạnh, đạo đức, góp phần phát triển đất nước bền vững.
Tóm lại, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là nhiệm vụ của riêng ai mà là trách nhiệm chung của toàn dân. Bằng những hành động thiết thực, dù nhỏ bé nhưng xuất phát từ trái tim chân thành, mỗi người có thể góp phần lan tỏa những giá trị tốt đẹp, làm cho xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ. Tư tưởng và đạo đức của Bác sẽ mãi mãi là ngọn đuốc soi sáng con đường phát triển của dân tộc Việt Nam.
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 6
Đề thi
ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 2 NGỮ VĂN 12 (CHÂN TRỜI SÁNG TẠO)
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản:
[…]Bố tôi vụt thẳng cánh bằng một cây gậy không biết lấy ở đâu ra. Tôi tránh được hai đòn đầu tiên nhưng đòn thứ ba thì không tránh được. Tôi òa khóc vì rất nhiều lý do khác nhau, trong đó có cả sự ân hận vì những lỗi lầm mà tôi mắc phải. Mẹ tôi xô vào can ngăn bố tôi và đứng chắn đòn cho tôi. Bố tôi không làm gì tôi được và trút sự giận dữ lên đầu ba ông Tam đa Phúc Lộc Thọ bằng gốm đứng ở góc nhà…Có thể nói rằng đây là một bộ Tam đa độc nhất vô nhị vì nó mộc mạc và thật kinh khủng. Bố tôi rất quý nó. Ấy thế mà vì giận dữ, bố tôi xô đổ cả ba pho tượng.
Tôi biết rằng thế là tôi hết đường! Còn Phúc Lộc Thọ nỗi gì! Tôi không thể biện hộ gì cho những sai lầm của tôi. Bố tôi đuổi tôi ra khỏi nhà! Tôi mặc vội bộ quần áo rồi bỏ chạy đi. Mẹ tôi đuổi theo, luôn miệng lắp bắp:
- Mẹ van con…Mẹ van con…Khuê ơi là Khuê…tại sao con lại bỏ đi như vậy?
Tại sao ư?Tại sao thì tôi cũng chẳng hiểu tại sao như vậy? Như người ta nói, sai lầm dẫn tới sai lầm. Giống như trò chơi xếp hình đôminô. Chỉ là một cú hẩy nhẹ của số phận là bắt đầu cho những phiêu lưu…[…]
Bị đuổi ra khỏi nhà, đây là dịp tôi có dịp ngao du Hà Nội ban đêm. Qua 12 giờ, Hà Nội có một vẻ yên tĩnh và dịu dàng không thể tả được. Tôi không ngờ ban đêm Hà Nội lại đẹp như vậy. Những đường phố trải nhựa vắng lặng trông như những mặt sông mà hai bên bờ là những dãy nhà cao thấp đang thiêm thiếp ngủ. Phảng phất mùi hoa mộc lan ngát hương. Bóng tối làm mất đi những đường nét kiến trúc khả ố của các ngôi nhà ban ngày nên rất dễ chịu. Bâng khuâng và cô đơn không thể tưởng được. Thỉnh thoảng lại có những âm thanh nặng nhọc của một chiếc xe ô tô chở hàng vút qua phá vỡ bầu không khí tĩnh lặng gây ra một cảm giác bồn chồn. Tiếng còi tàu đêm gấp gáp và hồi hộp. Ánh sáng của những bóng điện vàng khè hắt xuống mặt hè phố loang lổ. Tôi thấy nao cả người. Tự nhiên tôi thấy kính nể và sợ hãi Hà Nội, không phải vô cớ mà người ta gọi đây là đất thánh, gọi đây là mảnh đất linh thiêng.
Xung quanh Hồ Gươm yên tĩnh. Tháp Rùa trầm mặc đứng lẻ loi. Bóng tối của những lùm cây tỏa xuống mặt hồ đen thẫm. Quả thật, nếu không bị đuổi khỏi nhà thì tối hôm nay với tôi đúng là một tối thần tiên!...[…]
(Trích tiểu thuyết Tuổi hai mươi yêu dấu, Nguyễn Huy Thiệp, 2003)
Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm:
- Tác giả Nguyễn Huy Thiệp (1950 -2021): Là người tiên phong cho văn học Việt Nam sau 1975. Văn của ông hướng về “con người bên trong con người” - khám phá con người ở mọi phương diện, mọi khía cạnh tốt xấu lẫn lộn. Từ khi xuất hiện trên văn đàn, những trang viết của ông đã tạo được độ thảo luận lớn. Trong đó, có những tác phẩm xuất sắc vẫn còn để lại những khoảng trống chờ đợi độc giả kiếm tìm.
- Tác phẩm Tuổi hai mươi yêu dấu: Tiểu thuyết được hoàn thành tháng 01/2003 và xuất bản tại Pháp. Mãi đến năm 2018 mới chính thức phát hành ở Việt Nam. Nội dung kể về cậu thanh niên 20 tuổi tên Khuê, một thanh niên thành phố, đang học đại học, có bố là một nhà văn nổi tiếng. Cậu luôn thấy cuộc đời quanh mình phức tạp, nhưng đấy mới chỉ là quan sát bề mặt. Một ngày kia, cậu bị bố đuổi ra khỏi nhà và chính thức dấn thân vào cuộc đời…
Thực hiện các yếu cầu sau:
Câu 1. Dấu hiệu để xác định điểm nhìn trần thuật trong văn bản.
Câu 2. Trong văn bản, Hà Nội buổi đêm hiện lên qua các hình ảnh, chi tiết nào?
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn sau: Những đường phố trải nhựa vắng lặng trông như những mặt sông mà hai bên bờ là những dãy nhà cao thấp đang thiêm thiếp ngủ.
Câu 4. Cho biết tình cảm của nhân vật Khuê dành cho Hà Nội và giải thích vì sao?
Câu 5. Từ tình cảm của nhân vật Khuê với Hà Nội trong văn bản, anh chị hãy nêu suy nghĩ về trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương (Trình bày tối đa khoảng 5-7 dòng).
II. VIẾT
Câu 1:
Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) cảm nhận về giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản phần đọc hiểu.
Câu 2:
Từ nội dung phần đọc hiểu, anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của việc đứng dậy sau những sai lầm, vấp ngã trong cuộc sống.
----------- Hết-----------
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về ngôi kể, điểm nhìn trần thuật.
- Căn cứ vào đại từ xưng hô, cách thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật.
Cách giải:
- Văn bản sử dụng điểm nhìn ngôi thứ nhất
- Dấu hiệu xác định điểm nhìn trần thuật: người kể xưng “tôi”
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kĩ đoạn văn miêu tả.
- Liệt kê các chi tiết, hình ảnh tiêu biểu.
Cách giải:
Trong văn bản, Hà Nội buổi đêm hiện lên qua các hình ảnh, chi tiết:
+ yên tĩnh và dịu dàng;
+ qua hình ảnh con đường, dãy phố;
+ qua âm thanh tiếng ô tô chở hàng, tiếng còi tàu đêm;
+ ánh sáng đèn điện phản chiếu mặt hồ, Hồ Gươm yên tĩnh, Tháp Rùa trầm mặc; mặt hồ đen thẫm,…
Câu 3:
Phương pháp:
- Xác định hình ảnh so sánh.
- Phân tích giá trị biểu đạt (nghệ thuật, nội dung, cảm xúc).
Cách giải:
- Biện pháp tu từ so sánh: “Những đường phố trải nhựa vắng lặng” như “những mặt sông”
- Tác dụng:
+ Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt, tạo sự sinh động, hấp dẫn;
+ Khắc họa chân thực, tinh tế những nét đặc trưng của con đường, dãy phố Hà Nội buổi đêm;
+ Qua đó thấy được tình cảm, sự gắn bó sâu sắc của nhân vật Khuê với Hà Nội.
Câu 4:
Phương pháp:
- Phân tích từ ngữ thể hiện cảm xúc.
- Liên hệ hoàn cảnh nhân vật.
Cách giải:
- Tình cảm Khuê dành cho Hà Nội: yêu mến, tự hào, trân quý những giá trị của văn hóa truyền thống.
- Giải thích:
+ Hà Nội là nơi Khuê sinh ra, lớn lên và gắn bó.
+ Hà Nội có những vẻ đẹp mang đặc trưng của thủ đô ngàn năm văn hiến.
+ Hà Nội lưu lại nhiều giá trị của văn hóa truyền thống.
Câu 5:
Phương pháp:
Rút ra thông điệp từ tình cảm của Khuê.
Gợi ý:
+ Gắn bó, yêu mến, ca ngợi vẻ đẹp quê hương.
+ Tự hào, trân trọng giá trị mang bản sắc văn hóa truyền thống đồng thời ghi nhận sự sáng tạo, hòa nhập đời sống thế giới hiện đại.
+ Biết gìn giữ, bảo vệ, phát triển và lan tỏa nét đẹp quê hương ra khắp năm châu.
Cách giải:
Từ tình cảm của Khuê với Hà Nội, có thể thấy mỗi người trẻ cần ý thức sâu sắc về giá trị thiêng liêng của quê hương. Quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra mà còn là không gian nuôi dưỡng tâm hồn và nhân cách. Vì vậy, tuổi trẻ cần sống có trách nhiệm: học tập, rèn luyện, cống hiến để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Đồng thời, phải biết giữ gìn những giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp. Yêu quê hương không chỉ là cảm xúc mà còn phải được thể hiện bằng hành động thiết thực.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
* Về nội dung:
- Hoàn cảnh của nhân vật Khuê: Do mắc sai lầm bị bố đuổi ra khỏi nhà.
- Cảm xúc của Khuê về Hà Nội vào đêm
- Nhận xét về Khuê: cá tính, có những rung cảm tinh tế, có sự gắn bó, một tình yêu máu thịt với quê hương mình - Hà Nội.
* Nghệ thuật:
- Tạo dựng tình huống truyện đặc sắc;
- Người kể chuyện ngôi thứ nhất để thúc đẩy cảm xúc chân thực, tự nhiên của nhân vật.
- Nghệ thuật miêu tả, xây dựng nhiều hình ảnh, chi tiết tinh tế.
- Ngôn ngữ trong sáng, vốn từ vựng phong phú, mang dấu ấn cá nhân tác giả...
=> Giá trị đoạn trích góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật tài năng, độc đáo của Nguyễn Huy Thiệp.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Đoạn trích trong tiểu thuyết “Tuổi hai mươi yêu dấu” của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã khắc họa sâu sắc tâm trạng của nhân vật Khuê trong một hoàn cảnh đặc biệt: do mắc sai lầm, Khuê bị bố đuổi ra khỏi nhà. Biến cố ấy vừa đau đớn, tủi hờn, vừa mở ra cho nhân vật một trải nghiệm khác lạ khi lần đầu “ngao du” Hà Nội về đêm. Trong không gian yên tĩnh, dịu dàng mà linh thiêng ấy, Khuê cảm nhận được vẻ đẹp sâu lắng của thành phố bằng tất cả những rung động tinh tế của tâm hồn. Từ cảm giác bâng khuâng, cô đơn đến sự kính nể, sợ hãi trước “mảnh đất linh thiêng”, có thể thấy Khuê là một chàng trai cá tính, nhạy cảm và có tình yêu máu thịt với quê hương mình. Về nghệ thuật, đoạn trích hấp dẫn ở tình huống truyện giàu kịch tính; ngôi kể thứ nhất giúp dòng cảm xúc trở nên chân thực, tự nhiên; bút pháp miêu tả tinh tế với nhiều hình ảnh giàu sức gợi; ngôn ngữ trong sáng, giàu chất trữ tình và mang đậm dấu ấn cá nhân tác giả. Qua đó, đoạn trích góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật tài năng và độc đáo của Nguyễn Huy Thiệp.
Câu 2:
Phương pháp:
Dàn ý:
1. Mở bài
Giới thiệu được vấn đề nghị luận: Sai lầm vấp ngã là điều bất cứ ai cũng gặp phải trong cuộc sống…
2. Thân bài
2.1 Giải thích “Sai lầm, vấp ngã là gì?”: Sai lầm, vấp ngã là làm những việc không đúng đắn, gặp phải hoàn cảnh có trở ngại khiến ta không đạt được mục đích nào đó.
2.2 Chỉ ra được ý nghĩa của việc đứng dậy sau những sai lầm, vấp ngã trong cuộc sống
- Nhìn nhận đúng đắn năng lực, giá trị, bản lĩnh của bản thân;
- Thể hiện ý chí, nghị lực, sự kiên trì, nhẫn nại vượt qua khó khăn, thử thách, thất bại;
- Đúc rút kinh nghiệm, bài học quý giá để trưởng thành;
- Củng cố niềm tin vào cuộc sống, tương lai;
- Có khả năng truyền cảm hứng tới những người xung quanh.
2.3 Mở rộng vấn đề:
- Phê phán những kẻ yếu đuối, dễ dàng bị đánh gục bởi một lần vấp ngã, một sai lầm;
- Khi sai lầm hay vấp ngã, cũng cần lắng nghe cảm xúc và lí trí của chính mình để nhìn nhận thấu đáo và tiến về phía trước.
2.4 Rút ra bài học nhận thức và hành động đối với bản thân
3. Kết bài: Khẳng định quan điểm cá nhân đã trình bày…
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, sai lầm và vấp ngã là điều khó có thể tránh khỏi. Không ai sống mà chưa từng mắc lỗi hay trải qua thất bại. Điều quan trọng không nằm ở việc ta đã từng sai bao nhiêu lần, mà ở cách ta đối diện và đứng dậy sau những sai lầm ấy. Chính thái độ trước thất bại mới quyết định giá trị và bản lĩnh của mỗi người.
Sai lầm, vấp ngã là những khi ta hành động chưa đúng đắn, đưa ra lựa chọn thiếu sáng suốt hoặc gặp phải hoàn cảnh trở ngại khiến mục tiêu không đạt được như mong muốn. Đó có thể là một lần thi trượt, một quyết định nóng vội làm tổn thương người khác, hay một dự án thất bại do thiếu kinh nghiệm. Sai lầm là một phần tự nhiên của cuộc sống, đặc biệt ở tuổi trẻ.
Việc đứng dậy sau những sai lầm có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trước hết, nó giúp con người nhìn nhận đúng đắn năng lực và giá trị của bản thân. Khi thất bại, ta có cơ hội soi chiếu lại chính mình: mình yếu ở đâu, thiếu điều gì, cần bổ sung ra sao. Chính quá trình tự nhìn lại ấy giúp con người hiểu mình hơn và trưởng thành hơn. Thứ hai, đứng dậy sau vấp ngã thể hiện ý chí, nghị lực và sự kiên trì. Cuộc sống không phải lúc nào cũng bằng phẳng; chỉ những ai bền bỉ mới có thể đi đến cùng con đường mình chọn. Nhà khoa học Thomas Edison từng trải qua hàng nghìn lần thử nghiệm thất bại trước khi phát minh ra bóng đèn điện. Ông không xem đó là thất bại mà là những cách chưa thành công. Chính tinh thần không bỏ cuộc đã làm nên một phát minh thay đổi thế giới.
Bên cạnh đó, mỗi lần vấp ngã là một bài học quý giá. Những trải nghiệm đau đớn thường để lại dấu ấn sâu sắc, giúp ta cẩn trọng và chín chắn hơn trong tương lai. Nhiều doanh nhân thành đạt đã từng phá sản trước khi gây dựng được sự nghiệp vững chắc. Tại Việt Nam, tập đoàn Vingroup của doanh nhân Phạm Nhật Vượng cũng từng trải qua không ít khó khăn, thử thách khi chuyển hướng đầu tư và mở rộng lĩnh vực kinh doanh. Tuy nhiên, chính sự dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm trước thất bại đã giúp họ vươn lên mạnh mẽ. Hơn thế, khi một người biết đứng dậy sau sai lầm, họ không chỉ củng cố niềm tin vào bản thân mà còn truyền cảm hứng cho những người xung quanh về tinh thần vượt khó.
Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có những người yếu đuối, chỉ một lần vấp ngã đã vội vàng buông xuôi, đổ lỗi cho hoàn cảnh hoặc cho người khác. Thái độ ấy khiến con người mãi dậm chân tại chỗ và đánh mất cơ hội phát triển. Dẫu vậy, đứng dậy không có nghĩa là phớt lờ cảm xúc của mình. Khi sai lầm, ta cần lắng nghe cả cảm xúc và lí trí: chấp nhận nỗi buồn, sự thất vọng nhưng không để chúng nhấn chìm mình; bình tĩnh phân tích nguyên nhân để tìm hướng khắc phục. Chỉ khi đối diện một cách thấu đáo, ta mới có thể bước tiếp vững vàng.
Là một người trẻ, tôi nhận thức rằng sai lầm không phải điều đáng xấu hổ, điều đáng xấu hổ là không dám sửa sai. Vì vậy, tôi cần rèn luyện bản lĩnh, sống có trách nhiệm với hành động của mình, dám nhận lỗi và chủ động thay đổi. Mỗi khó khăn gặp phải sẽ được xem như một bài học để hoàn thiện bản thân hơn từng ngày.
Tóm lại, sai lầm và vấp ngã là một phần tất yếu của cuộc sống. Điều làm nên sự khác biệt giữa người thành công và kẻ thất bại chính là khả năng đứng dậy sau những lần gục ngã. Khi biết vượt qua sai lầm bằng ý chí và niềm tin, con người sẽ trưởng thành, mạnh mẽ hơn và tiến gần hơn tới những giá trị tốt đẹp của cuộc đời.
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 7
Đề thi
ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 2 NGỮ VĂN 12 (CHÂN TRỜI SÁNG TẠO)
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
THÁNG NĂM CỦA BÀ
Tháng năm có đàn chim ngói về ăn hạt trên cánh đồng bà ngoại
Trời thì xanh như không thể biếc hơn
Cháu đội nón đôi chân trần trên đất
Gặt về phơi cả ba tháng nhọc nhằn.
Ba tháng nhọc nhằn nuôi mày lớn lúa ơi
Hoa cỏ may đan chéo bàn chân bà tứa máu
Mồ hôi xuống như mưa là tháng sáu
Lưng bà còng bông lúa trĩu như nhau.
Bà ngoại trồng lúa, bà ngoại nhai trầu
Suốt một đời không đi ra ngoài mái đình bến nước
Nỗi vất vả ấy lấy gì mà đo được
Như hạt thóc nảy mầm trổ bông.
Tháng năm này cánh đồng bà có nhiều chim ngói không
Lưng bà mỗi ngày lại gần hơn mặt đất
Cháu mong lắm được trở về đi gặt
Phơi giúp bà hạt giống để mùa sau.
(Bình Nguyên Trang, Chỉ em và chiếc bình pha lê biết, NXB Hội nhà văn, 2003, tr. 87, 88)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2. Liệt kê những hình ảnh miêu tả sự vất vả của bà.
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong hai câu thơ:
Nỗi vất vả ấy lấy gì mà đo được
Như hạt thóc nảy mầm trổ bông
Câu 4. Nêu cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
Câu 5. Từ bài thơ Tháng năm của bà, anh/chị hãy lí giải vì sao hình ảnh người bà luôn gắn liền với kí ức tuổi thơ của con người. (Trình bày 5 – 7 dòng)
II. PHẦN VIẾT
Câu 1
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của việc sử dụng những chất liệu của văn học dân gian trong đoạn thơ sau:
Nhưng lạ lùng thay, nhân dân thông minh
Không hề lừa ta dù ca dao, cổ tích
Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật
Biết bao nhiêu hạnh phúc có trên đời
Dẫu phải khi cay đắng dập vùi
Rằng cô Tấm cũng về làm hoàng hậu
Cây khế chua có đại bàng đến đậu
Chim ăn rồi trả ngon ngọt cho ta
Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa
Hoa của đất, người trồng cây dựng cửa
Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa
Thì tin yêu ngay thẳng đón ta vào
Ta nghẹn ngào, Đất Nước Việt Nam ơi!...
(Nguyễn Khoa Điềm, trích Đất Nước, in trong Thơ Việt Nam 1945 – 1985, NXB Giáo dục, 1985, tr.185)
Chú thích: Đất Nước – thuộc chương V trong trường ca Mặt đường khát vọng dài 110 câu thơ. Phần đầu (42 câu) là cảm nhận của nhà thơ trẻ về đất nước trong cội nguồn sâu xa văn hoá – lịch sử, và trong sự gắn bó thân thiết với đời sống hằng ngày của mỗi con người Việt Nam. Phần thứ hai (68 câu) là cảm hứng chủ đạo về đất nước là sự ngợi ca, khẳng định tư tưởng đất nước của nhân dân. Từ đó, nhà thơ nhận diện phát hiện đất nước trên bình diện về địa lý, lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ, truyền thống tinh thần dân tộc – nền văn hiến Việt Nam. Vẻ đẹp độc đáo của chương V- Đất Nước là tác giả vận dụng sáng tạo nhiều yếu tố văn hoá dân gian, tục ngữ, ca dao, dân ca, truyện cổ, phong tục…, cùng với cách diễn đạt bình dị, hiện đại gây ấn tượng vừa gần gũi vừa mới mẻ cho người đọc.
Câu 2
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan niệm: Yêu thương cho đi là yêu thương còn mãi.
------------- HẾT --------------
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về đặc điểm thể thơ hiện đại.
- Quan sát số chữ trong dòng thơ, cách gieo vần, nhịp điệu.
Cách giải:
- Văn bản được viết theo thể thơ tự do.
- Dấu hiệu nhận biết:
+ Các dòng thơ không đều số chữ mỗi dòng.
+ Gieo vần, ngắt nhịp linh hoạt
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kĩ văn bản.
- Tìm các chi tiết, hình ảnh gợi tả trực tiếp sự nhọc nhằn, lam lũ.
Cách giải:
Những hình ảnh miêu tả sự vất vả của bà: bàn chân bà tứa máu, mồ hôi xuống như mưa, lưng bà còng
Câu 3:
Phương pháp:
- Xác định biện pháp tu từ và chỉ ra biểu hiện
- Phân tích hiệu quả biểu đạt.
Cách giải:
- Biện pháp tu từ so sánh: Nỗi vất vả ấy như hạt thóc nảy mầm trổ bông
- Tác dụng:
+ Tăng tính sinh động, gợi hình, gợi cảm.
+ Làm rõ nỗi vất vả, khổ cực của bà trong cuộc sống
+ Từ đó tác giả bộc lộ niềm thương cảm cũng như thái độ trân trọng, biết ơn dành cho người bà đáng kính của mình.
Câu 4:
Phương pháp:
- Xác định nội dung xuyên suốt.
- Chú ý mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình.
Cách giải:
Cảm hứng chủ đạo: nỗi xót xa và lòng biết ơn của người cháu đối với những vất vả, nhọc nhằn cùng sự hy sinh thầm của bà.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý: - Bài thơ là nỗi nhớ về một thời tuổi thơ vất vả, nhọc nhằn bên bà ngoại và ước mong được trở về để đỡ đần bà của người cháu.
- Hình ảnh người bà luôn gắn liền với kí ức tuổi thơ của con người bởi:
+ Bà là người luôn dành tình yêu thương chúng ta khi còn thơ bé.
+ Bà là người tảo tần, lam lũ, giàu đức hi sinh. Bà đã đánh thức niềm yêu thương, lòng biết ơn trong tâm hồn chúng ta ngay từ thời thơ ấu. Những tình cảm đó hẳn sâu trong kí ức mỗi chúng ta và bất biến theo thời gian.
+ Bà còn là hiện thân cho quê hương, cho nguồn cội. Vì thế, bà luôn gắn liền với kí ức tuổi thơ của chúng ta.
Cách giải:
Bài thơ là nỗi nhớ da diết về một thời tuổi thơ vất vả, nhọc nhằn bên bà ngoại và ước mong được trở về để đỡ đần bà của người cháu. Hình ảnh người bà luôn gắn liền với kí ức tuổi thơ bởi bà là người dành cho ta tình yêu thương dịu dàng, ấm áp ngay từ những năm tháng đầu đời. Bà tảo tần, lam lũ, giàu đức hi sinh, âm thầm chăm lo cho con cháu mà không hề toan tính. Chính sự hi sinh ấy đã nuôi dưỡng trong ta lòng biết ơn và tình yêu thương sâu sắc. Hơn thế, bà còn là hiện thân của quê hương, của nguồn cội thân thương. Vì vậy, mỗi khi nhớ về tuổi thơ, ta lại nhớ đến bóng dáng bà - một kí ức thiêng liêng và bền bỉ theo năm tháng.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Nêu đoạn trích, xuất xứ của đoạn trích; khái quát về ý nghĩa của việc sử dụng những chất liệu của văn học dân gian trong đoạn thơ đã nêu.
- Chỉ ra những chất liệu của văn học dân gian và cách sử dụng chúng trong đoạn thơ đã nêu (gọi tên các thể loại của văn học dân gian như ca dao, cổ tích; nêu quan điểm của nhân dân thể hiện trong các câu chuyện cổ tích; nêu tên một số nhân vật trong các câu chuyện cổ tích; sử dụng một số từ ngữ ở các câu tục ngữ;...).
- Nêu ý nghĩa của việc sử dụng các chất liệu dân gian trong đoạn thơ đã nêu (thể hiện sự hiểu biết sâu rộng của tác giả về văn học dân gian; gợi cho người đọc nhớ lại những thể loại và tác phẩm văn học dân gian đặc sắc, gần gũi, phổ biến với mọi người; coi đó là ví dụ để khẳng định quan điểm của tác giả về nhân dân – đề cao và ca ngợi nhân dân với những phẩm chất và thái độ sống cao đẹp: thông minh, khát khao hạnh phúc và công bằng, sống có niềm tin và hi vọng,...).
- Đánh giá khái quát hoặc nêu ấn tượng sâu đậm của bản thân về những chất liệu của văn học dân gian được sử dụng trong đoạn thơ đã nêu.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo
Đoạn trích “Tháng Năm của bà” đã thể hiện đặc sắc tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” thông qua việc vận dụng sáng tạo chất liệu văn học dân gian. Trong đoạn thơ, tác giả nhắc đến các thể loại quen thuộc như ca dao, cổ tích; gợi lại những câu chuyện gắn bó với tuổi thơ bao thế hệ như cô Tấm hiền lành cuối cùng được làm hoàng hậu, hay truyện Cây khế với hình ảnh chim ăn khế trả vàng. Những chi tiết ấy không chỉ tái hiện thế giới cổ tích mà còn gửi gắm quan niệm của nhân dân về công bằng, về ước mơ “ở hiền gặp lành”, về khát vọng hạnh phúc và niềm tin vào điều thiện. Bên cạnh đó, cách diễn đạt mộc mạc, giàu màu sắc dân gian khiến đoạn thơ vừa gần gũi vừa sâu sắc. Việc sử dụng chất liệu dân gian cho thấy sự am hiểu sâu rộng của tác giả về truyền thống văn hoá dân tộc, đồng thời khẳng định vai trò to lớn của nhân dân trong việc sáng tạo và gìn giữ đất nước. Đọc đoạn thơ, ta không chỉ bắt gặp những hình ảnh thân thương của tuổi thơ mà còn cảm nhận được niềm tự hào và xúc động trước vẻ đẹp tâm hồn Việt Nam được kết tinh qua bao thế hệ.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài
- Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm cá nhân về vấn đề
2. Thân bài:
* Giải thích:
Khi ta trao cho người khác tình yêu thương, thì tình yêu thương đó sẽ mãi tồn tại trong lòng ta, trong lòng người được trao gửi, và người được trao gửi cũng sẽ đáp lại ta bằng tình yêu thương.
* Bàn luận về tính đúng đắn của quan niệm:
Quan niệm trên là đúng đắn, bởi vì:
- Khi ta trao cho người khác tình yêu thương, ta sẽ thấy tâm hồn mình trở nên trong sáng và tươi đẹp. Sự trao đi đó để lại một dư âm êm dịu, đẹp đẽ và bền lâu trong lòng ta, đúng như có người nói: Bàn tay trao tặng hoa hồng cũng phảng phất hương thơm.
- Khi ta trao đi yêu thương, người được trao gửi sẽ cảm nhận được tấm lòng yêu thương của ta, từ đó họ cũng sẽ trao lại ta tình yêu mến của họ. Đó là điều kiện để duy trì mối quan hệ bền lâu và tốt đẹp, giúp cho tình yêu thương được vững bền.
- Khi ta trao yêu thương cho người khác, người khác cũng sẽ nhận ra họ cần phải biết yêu thương những người khác nữa. Tình yêu thương do đó được lan tỏa.
* Phê phán những quan điểm sai lệch:
- Phê phán những người sống vị kỉ, không biết yêu thương người khác.
- Phê phán những người không hiểu đúng nghĩa của hai chữ yêu thương: họ quy lụy, nuông chiều người khác, khiến cho người khác không biết tỉnh ngộ để thay đổi.
3. Kết bài.
- Nhận thức được tính đúng đắn của quan niệm: Yêu thương cho đi là yêu thương còn mãi.
- Học cách sống biết yêu thương người khác.
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong hành trình sống của con người, yêu thương luôn là giá trị cốt lõi làm nên ý nghĩa cuộc đời. Có người từng nói: “Yêu thương cho đi là yêu thương còn mãi.” Đó không chỉ là một lời nhắn nhủ giản dị mà còn là một triết lí sống sâu sắc. Tôi hoàn toàn đồng tình với quan niệm ấy, bởi tình yêu thương khi được trao đi bằng sự chân thành sẽ không mất đi mà còn được nhân lên, lan tỏa và bền vững theo thời gian.
Yêu thương cho đi nghĩa là ta sẵn sàng trao gửi sự quan tâm, sẻ chia, giúp đỡ người khác mà không toan tính thiệt hơn. Khi ấy, tình cảm ấy không chỉ tồn tại trong lòng người nhận mà còn ở lại trong chính tâm hồn người trao. Thực tế cho thấy, mỗi khi ta giúp đỡ ai đó vượt qua khó khăn, ta cảm nhận được niềm vui, sự thanh thản và hạnh phúc. Cảm xúc ấy giống như “bàn tay trao tặng hoa hồng cũng phảng phất hương thơm” tức là người cho cũng được nhận lại sự ấm áp tinh thần. Trong những năm gần đây, khi đất nước đối diện với thiên tai, lũ lụt ở miền Trung hay đại dịch Covid-19, biết bao cá nhân, tổ chức đã tự nguyện quyên góp tiền bạc, nhu yếu phẩm, tham gia hoạt động thiện nguyện. Những “ATM gạo”, những chuyến xe chở thực phẩm miễn phí, những bác sĩ tình nguyện nơi tuyến đầu… đã minh chứng rõ ràng rằng yêu thương khi được trao đi sẽ thắp sáng niềm tin và hi vọng trong cộng đồng. Người được giúp đỡ không chỉ vượt qua khó khăn trước mắt mà còn ghi nhớ tấm lòng ấy, để rồi khi có điều kiện, họ tiếp tục trao đi yêu thương cho người khác.
Không chỉ dừng lại ở cá nhân, yêu thương còn là nền tảng tạo nên các mối quan hệ bền vững. Trong gia đình, sự quan tâm giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em với nhau chính là sợi dây gắn kết lâu dài. Ngoài xã hội, một lời động viên đúng lúc, một hành động giúp đỡ chân thành có thể xây dựng nên tình bạn đẹp, tình đồng nghiệp gắn bó. Khi con người sống biết yêu thương, xã hội sẽ trở nên nhân ái và văn minh hơn. Yêu thương vì thế không hề mất đi, mà được lưu giữ trong kí ức, trong lòng biết ơn và trong những giá trị tốt đẹp được tiếp nối.
Tuy nhiên, cũng cần phê phán những người sống ích kỉ, chỉ biết nhận mà không biết cho đi. Lối sống thờ ơ, vô cảm trước nỗi đau của người khác sẽ khiến tâm hồn con người trở nên khô cằn. Bên cạnh đó, cũng có những người hiểu sai về yêu thương, biến nó thành sự nuông chiều mù quáng, dung túng cho cái sai. Yêu thương chân chính phải đi kèm với sự tỉnh táo và trách nhiệm, giúp người khác tiến bộ chứ không làm họ ỷ lại.
Nhận thức được ý nghĩa sâu sắc của quan niệm “Yêu thương cho đi là yêu thương còn mãi”, mỗi chúng ta đặc biệt là người trẻ cần học cách sống sẻ chia từ những việc nhỏ nhất: giúp đỡ bạn bè, kính trọng ông bà cha mẹ, tham gia hoạt động vì cộng đồng. Khi biết trao đi yêu thương, ta không chỉ làm cho cuộc đời này ấm áp hơn mà còn làm giàu có chính tâm hồn mình. Bởi lẽ, yêu thương là thứ duy nhất càng cho đi lại càng đầy thêm, và chỉ khi biết cho đi, ta mới thực sự giữ được nó mãi mãi.
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 8
Đề thi
ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 2 NGỮ VĂN 12 (CHÂN TRỜI SÁNG TẠO)
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản:
Một ngày đường từ miền đất trung du
Tôi chỉ gặp bụi bay và nắng gắt
Sang thu rồi gió vẫn nồng da mặt
Tiếng ve nào còn sót trong lùm cây
Nghe chói lòng nỗi nhớ cuối tình yêu
Chợt thấy lạc giữa bốn bề vắng ngắt
Lên cao... lên cao nắng như dần nhạt
Bỗng vui mừng bắt gặp một nhành hoa
Khắp Hoàng Liên trên một ngàn thước núi
Hoa nếp mỏng manh trước tầm gió thổi
Hoa diếp vàng cô độc giữa thâm u
Và bên đường hoa nghệ dại ngẩn ngơ
Hoa sim tím một nỗi buồn hoang dã
Hoa lay ơn góc vườn xưa còn nhớ
Mà thấy người cành lá khẽ lung lay…
Hoa mọc dưới chân người, hoa mọc đến chân mây
(Có nhiều thứ hoa còn chưa biết rõ…)
Anh đừng hỏi tên hoa làm chi nữa
Những hoa này chỉ hoa dại mà thôi!
Không phải hoa được ở cùng người
Được chăm sóc những mảnh vườn sạch cỏ
Được khoe đến muôn màu sắc lạ
Và được đời chiêm ngưỡng mùi hương
Không phải hoa được cắm trên bàn
Trong ngày hội của những niềm vui mới
Những hoa này lại nở cho triền núi
Lại nở cho vẻ đẹp của rừng chung
Nên ít ai để ý sắc từng bông
Chỉ thấy núi muôn màu rực rỡ
Đôi khi giẫm lên hoa mà chẳng nhớ…
Những hoa này chỉ hoa dại mà thôi
(Hoa dại núi Hoàng Liên, Tập thơ Tự hát,
Xuân Quỳnh, NXB Văn học 1984, tr.54)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để nhận diện sự xuất hiện của nhân vật trữ tình trong bài thơ.
Câu 2. Xác định hình ảnh trung tâm để triển khai mạch cảm xúc của bài thơ.
Câu 3. Lí giải vì sao các câu thơ sau không mắc lỗi câu mơ hồ:
Hoa lay ơn góc vườn xưa còn nhớ
Mà thấy người cành lá khẽ lung lay…
Câu 4. Nêu rõ mạch vận động cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài thơ.
Câu 5. Từ nội dung bài thơ, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về giá trị của những cống hiến thầm lặng trong cuộc đời.
II. VIẾT
Câu 1
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh các loài hoa trong bài thơ trong phần Đọc hiểu.
Câu 2
Những điều lớn lao được tạo nên từ nhiều điều nhỏ nhặt. (Van Gogh)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về việc hình thành lối sống biết trân trọng những điều bình dị trong cuộc sống cho giới trẻ ngày nay.
------------- HẾT --------------
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về nhân vật trữ tình trong thơ: thường xuất hiện qua đại từ xưng hô, động từ cảm xúc, suy nghĩ,...
Cách giải:
Dấu hiệu để nhận diện sự xuất hiện nhân vật trữ tình trong bài thơ là có sự xuất hiện trực tiếp của nhân vật “tôi” qua câu thơ: Tôi chỉ gặp bụi bay và nắng gắt.
Câu 2:
Phương pháp:
Xác định hình ảnh được lặp lại nhiều lần, có vai trò chi phối nội dung và cảm xúc toàn bài.
Cách giải:
Hình ảnh trung tâm để triển khai mạch cảm xúc là: loài hoa dại.
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về lỗi câu mơ hồ
Cách giải:
Hai câu thơ Hoa lay ơn góc vườn xưa còn nhớ/ Mà thấy người cành lá khẽ lung lay… không mắc lỗi câu mơ hồ, vì:
- Câu thơ Hoa lay ơn góc vườn xưa còn nhớ có hiện tượng câu đa nghĩa với hai cách hiểu: góc vườn xưa, hoa lay ơn còn nhớ và góc vườn xưa còn nhớ hoa lay ơn.
- Câu thơ không mắc lỗi câu mơ hồ vì:
+ Đây là cách sử dụng và sắp xếp từ ngữ sáng tạo của nhà thơ thể hiện những phát hiện mới, bất ngờ của nhân vật trữ tình về vẻ đẹp riêng của hoa lay ơn, của góc vườn khiến thiên nhiên, sự vật trở nên gần gũi, mang linh hồn và tâm trạng con người. Từ đó, giúp con người biết nâng niu, trân trọng vẻ đẹp của những thiên nhiên, vạn vật dù chỉ là loài hoa dại nhỏ bé.
+ Sự mơ hồ trong câu thơ nhằm khơi mở trí liên tưởng, tưởng tượng đa dạng, phong phú trong người đọc; góp phần biểu đạt sâu sắc hình tượng về loài hoa dại và làm cho câu thơ sinh động, gợi hình, gợi cảm.
+ Sự mơ hồ trong câu thơ nhằm mục đích đạt hiệu quả tu từ, và thể hiện tài năng của nhà thơ
Câu 4:
Phương pháp:
Xác định diễn biến cảm xúc từ đầu đến cuối bài
Cách giải:
Mạch vận động cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài thơ:
- Tâm trạng bâng khuâng, nhung nhớ, cùng cảm giác rợn ngợp, cô đơn khi đứng trước không gian bao la của núi rừng.
- Niềm vui mừng và ngỡ ngàng khi gặp và cảm nhận được những vẻ đẹp bất ngờ của từng loài hoa dại.
- Nâng niu, trân trọng vẻ đẹp, những hi sinh thầm lặng của hoa dại
- Xót xa trước sự vô tình, lãng quên của người đời với loài hoa bé nhỏ bên đường.
Câu 5:
Phương pháp:
Rút ra thông điệp từ hình tượng “hoa dại”; trình bày quan điểm cá nhân
Cách giải:
- Nội dung bài thơ: Miêu tả vẻ đẹp của những loài hoa bé nhỏ trên núi Hoàng Liên, dù không được chăm sóc, bị lãng quên, vùi dập nhưng vẫn tỏa hương, sắc làm đẹp cho rừng núi. Từ đó thể hiện tình cảm của nhân vật trữ tình dành cho những loài hoa bé nhỏ.
- Những loài hoa dại đã gợi suy nghĩ sâu sắc về giá trị của những cống hiến thầm lặng trong cuộc đời. Có thể như sau:
+ Mang lại giá trị cho chính mỗi cá nhân con người: niềm vui và hạnh phúc; cuộc sống có ý nghĩa; được mọi người ngưỡng mộ, yêu mến, trân trọng.
+ Lan tỏa những giá trị tốt đẹp tới cộng đồng, thúc đẩy sự phát triển của xã hội; thể hiện nét đẹp truyền thống của dân tộc.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
* Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận.
* Phân tích hệ thống hình ảnh trong bài thơ
- Giới thiệu khái quát hình ảnh các loài hoa: Đó là những loài hoa dại nhưng đều có vẻ đẹp riêng và góp phần làm nên vẻ đẹp chung cho núi rừng. Hình ảnh loài hoa dại là hình ảnh trung tâm xuyên suốt bài thơ.
- Phân tích hình ảnh các loài hoa:
+ Các loài hoa: Hoa nếp, hoa diếp, hoa sim, hoa lay ơn. Mỗi loài hoa dù chỉ là hoa dại nhưng đều có những vẻ đẹp riêng: hoa nếp mỏng manh; hoa diếp vàng cô độc; hoa nghệ dại ngẩn ngơ; hoa sim tím với nỗi buồn hoang dã; hoa lay ơn góc vườn. Các loài hoa dại đó dẫu không được chăm sóc, không được cắm trên bàn nhưng vẫn tràn đầy sức sống, rực rỡ khoe hương sắc làm đẹp cho rừng núi.
+ Hình ảnh các loài hoa dại trong bài thơ tượng trưng cho những cống hiến thầm lặng của những con người đang ngày đêm góp phần dựng xây quê hương đất nước, cộng đồng xã hội. Hình ảnh các loài hoa dại đã góp phần thể hiện tư tưởng, chủ đề và cảm hứng chủ đạo của bài thơ: khắc họa vẻ đẹp nhỏ bé, giản dị, khiêm nhường của thiên nhiên và cuộc đời; qua đó gửi gắm tình yêu, niềm cảm thông, xót xa, niềm trân trọng, ngợi ca dành cho những loài hoa, những con người nhỏ bé, khiêm nhường cùng những thông điệp nhân sinh sâu sắc.
* Đánh giá: Hình ảnh những loài hoa dại là một yếu tố nghệ thuật đặc sắc của bài thơ; là điểm tựa để bộc lộ cảm xúc của nhân vật trữ tình khiến cho tình cảm của nhân vật trữ tình trở nên tự nhiên, chân thực và trọn vẹn hơn; góp phần làm nên chiều sâu giá trị cho bài thơ và thể hiện tài năng, phong cách nghệ thuật của nhà thơ Xuân Quỳnh.
Cách giải:
Trong bài thơ Hoa dại núi Hoàng Liên in trong tập Tự hát, Xuân Quỳnh đã xây dựng hình ảnh các loài hoa dại như một điểm tựa nghệ thuật để gửi gắm những suy tư giàu tính nhân văn. Xuyên suốt bài thơ, hoa dại là hình ảnh trung tâm, vừa hiện lên cụ thể qua từng loài, vừa mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Đó là hoa nếp mỏng manh trước tầm gió thổi, hoa diếp vàng cô độc giữa thâm u, hoa nghệ dại ngẩn ngơ, hoa sim tím với nỗi buồn hoang dã, hoa lay ơn nơi góc vườn xưa còn nhớ. Mỗi loài hoa, dẫu chỉ là hoa dại, đều mang một vẻ đẹp riêng, góp phần tạo nên bức tranh rực rỡ của núi rừng Hoàng Liên. Chúng không được chăm sóc trong những khu vườn sạch cỏ, không được cắm trên bàn ngày hội, nhưng vẫn âm thầm nở, dâng hiến hương sắc cho đời. Qua hình tượng ấy, nhà thơ gợi liên tưởng đến những con người bình dị đang lặng lẽ cống hiến cho quê hương, đất nước. Hình ảnh hoa dại vì thế không chỉ khắc họa vẻ đẹp nhỏ bé, khiêm nhường của thiên nhiên mà còn thể hiện niềm trân trọng, cảm thông và ngợi ca những giá trị thầm lặng, làm nên chiều sâu tư tưởng và phong cách nghệ thuật giàu nữ tính, tinh tế của Xuân Quỳnh.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài
Giới thiệu được vấn đề nghị luận: Hình thành lối sống biết trân trọng những điều bình dị trong cuộc sống cho giới trẻ ngày nay.
2. Thân bài
- Giải thích: Trân trọng những điều bình dị trong cuộc sống là thái độ coi trọng, nâng niu, trân quý những điều nhỏ bé, giản dị xung quanh cuộc sống mỗi con người.
- Bàn luận:
+ Vì sao cần phải hình thành lối sống trân trọng những điều bình dị cho giới trẻ? Cuộc sống hiện đại khiến con người dễ lãng quên đi những điều nhỏ bé, bình dị hằng thường. Giới trẻ là những người giàu năng lượng, nhiệt huyết, giàu ước mơ, khao khát nên cũng thường hướng đến những điều lớn lao mà quên đi mất những điều nhỏ bé. Vì thế cần hình thành lối sống trân trọng những điều bình dị trong cuộc sống.
¬+ Lối sống trân trọng những điều bình dị đem lại cho người trẻ những giá trị gì? Những điều bình dị là những điều rất giản đơn, bình dị mà con người có thể gặp ở bất cứ đâu trong cuộc sống hàng ngày. Những điều nhỏ bé là cơ sở, là nền tảng tạo nên những điều lớn lao, đem lại ý nghĩa cho từng cá nhân con người và với cộng động xã hội.
+ Để hình thành lối sống trân trọng những điều nhỏ bé giới trẻ cần có những giải pháp cụ thể, thiết thực nào? Giới trẻ cần nhận thức đúng đắn về quy luật của cuộc sống: Cây lớn một ôm khởi nguồn từ cái mầm nhỏ, đài cao chín tầng bắt đầu từ một sọt đất; đi xa ngàn dặm bắt đầu từ bước chân; giá trị đích thực của cuộc sống: Ta mơ với trời cao và bể rộng/ Mà quên rằng hoa từ đất mà ra; biết xác định và đặt ra mục tiêu cho bản thân; có thái độ sống điềm tĩnh, tích cực, luôn nỗ lực cố gắng, luôn mở rộng tâm hồn mình với thiên nhiên với mọi người, sống bao dung, nhân ái, trân trọng hiện tại; biết lập kế hoạch và kiên trì thực hiện kế hoạch đã đặt ra.
- Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc với cái nhìn khác: Trân trọng những điều bình dị không có nghĩa là bằng lòng với những gì vụn vặt, tầm thường hay không biết mơ ước tới những điều lớn lao, kì vĩ, có ảnh hưởng tích cực cho cuộc sống của tất cả mọi người.
- Rút ra bài học nhận thức, hành động cho bản thân. Giá trị của cuộc sống đều do tự tay ta quyết định. Giá trị cuộc sống là do chính chúng ta tạo dựng và đặt ra. Vậy hãy biết trân trọng những điều nhỏ bé để có thể đi tới những ước mơ lớn lao hơn.
3. Kết bài: Khẳng định vấn đề nghị luận.
Cách giải:
Van Gogh từng nói rằng những điều lớn lao được tạo nên từ nhiều điều nhỏ nhặt. Câu nói ấy gợi mở một triết lí sâu sắc về cách con người kiến tạo giá trị sống. Trong bối cảnh xã hội hiện đại đầy biến động hôm nay, việc hình thành lối sống biết trân trọng những điều bình dị trong cuộc sống trở thành một yêu cầu cần thiết đối với giới trẻ.
Trân trọng những điều bình dị là thái độ coi trọng, nâng niu và biết ơn những điều nhỏ bé, giản dị hiện hữu quanh ta mỗi ngày. Đó có thể là bữa cơm gia đình ấm áp, lời hỏi han chân thành, một buổi chiều bình yên hay cơ hội được học tập, làm việc và cống hiến. Những điều tưởng chừng nhỏ bé ấy lại là nền tảng nuôi dưỡng tâm hồn và tạo nên chiều sâu cho đời sống con người.
Trong nhịp sống hiện đại gấp gáp, con người dễ bị cuốn vào guồng quay của thành tích, vật chất và sự khẳng định bản thân. Giới trẻ với nguồn năng lượng dồi dào, khát vọng vươn xa và mong muốn chinh phục những đỉnh cao mới thường hướng ánh nhìn về phía những mục tiêu lớn lao mà vô tình lãng quên giá trị của những điều bình dị hằng ngày. Khi chỉ chăm chăm tìm kiếm điều to tát, con người dễ rơi vào trạng thái hụt hẫng nếu chưa đạt được thành công như mong đợi. Vì thế, hình thành lối sống biết trân trọng những điều giản dị chính là cách giúp người trẻ giữ được sự cân bằng và bền bỉ trên hành trình trưởng thành.
Những điều nhỏ bé chính là cơ sở tạo nên những thành tựu lớn lao. Cây lớn một ôm khởi nguồn từ mầm nhỏ, hành trình ngàn dặm bắt đầu từ một bước chân. Mỗi thói quen tốt được duy trì mỗi ngày, mỗi hành động tử tế dù rất giản đơn đều góp phần định hình nhân cách và bản lĩnh. Khi biết trân trọng hiện tại, con người sẽ sống sâu sắc hơn, biết yêu thương gia đình, quý trọng thầy cô, bạn bè và những người xung quanh. Lối sống ấy không chỉ đem lại hạnh phúc cho cá nhân mà còn lan tỏa giá trị tích cực tới cộng đồng.
Để hình thành lối sống ấy, trước hết người trẻ cần nhận thức đúng quy luật của cuộc sống: mọi thành công bền vững đều được xây dựng từ những điều căn bản. Cần biết đặt ra mục tiêu phù hợp cho bản thân, song song với đó là thái độ sống điềm tĩnh, tích cực, không nóng vội. Biết mở rộng tâm hồn mình với thiên nhiên và con người, sống bao dung, nhân ái, trân trọng từng cơ hội đang có. Việc lập kế hoạch rõ ràng và kiên trì thực hiện từng bước nhỏ mỗi ngày cũng là cách biến ước mơ lớn thành hiện thực. Khi mỗi ngày đều có một sự tiến bộ dù rất nhỏ, con người sẽ dần tiến gần hơn tới đích đến của mình.
Tuy nhiên, trân trọng những điều bình dị không đồng nghĩa với việc bằng lòng với sự tầm thường hay từ bỏ khát vọng vươn cao. Trái lại, chính sự trân trọng những nền tảng nhỏ bé sẽ tạo nên sức mạnh nội lực để con người chinh phục những mục tiêu lớn lao hơn. Ước mơ lớn cần được nuôi dưỡng từ những hành động cụ thể, thiết thực và bền bỉ.
Mỗi người trẻ cần tự ý thức rằng giá trị cuộc sống do chính mình tạo dựng. Không ai có thể thay ta quyết định ý nghĩa đời mình. Vì vậy, hãy học cách yêu quý những điều giản dị, biết ơn những gì đang có và nỗ lực từng ngày. Khi biết nâng niu từng bước nhỏ, ta sẽ đủ vững vàng để đi xa hơn trên hành trình thực hiện những ước mơ lớn lao.
Có thể khẳng định rằng, hình thành lối sống biết trân trọng những điều bình dị là nền tảng quan trọng giúp giới trẻ phát triển toàn diện và bền vững. Từ những điều nhỏ bé hôm nay, những giá trị lớn lao của ngày mai sẽ được hình thành.
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 9
Đề thi
ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 2 NGỮ VĂN 12 (CHÂN TRỜI SÁNG TẠO)
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản:
Anh ra khơi
Mây treo ngang trời những cánh buồm trắng
Phút chia tay, anh dạo trên bến cảng
Biển một bên và em một bên
Biển ồn ào, em lại dịu êm
Em vừa nói câu chi rồi mỉm cười lặng lẽ
Anh như con tàu lắng sóng từ hai phía
Biển một bên và em một bên
Ngày mai, ngày mai khi thành phố lên đèn
Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc
Thăm thẳm nước trời, nhưng anh không cô độc
Biển một bên và em một bên
Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên
Bão thổi chưa ngừng trong những vành tang trắng
Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng
Biển một bên và em một bên
Vòm trời kia có thể sẽ không em
Không biển nữa. Chỉ mình anh với cỏ
Cho dù thế thì anh vẫn nhớ
Biển một bên và em một bên...
(Thơ tình người lính biển, Trần Đăng Khoa,
trích Bên cửa sổ máy bay, NXB Tác phẩm mới, 1985)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của bài thơ.
Câu 2. Xác định hình ảnh được sử dụng để so sánh với anh trong bài thơ.
Câu 3. Trình bày hiệu quả của việc sử dụng hình thức lời tâm sự của anh với em trong bài thơ.
Câu 4. Nêu sự vận động cảm xúc của nhân vật trữ tình anh trong bài thơ.
Câu 5. Nếu là cô gái trong bài thơ, anh/chị muốn nói điều gì với người yêu là lính biển trong cuộc chia tay lưu luyến này? (trình bày khoảng 5-7 dòng).
II. VIẾT
Câu 1
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) cảm nhận về nhân vật trữ tình anh trong bài thơ ở phần Đọc hiểu.
Câu 2
Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo là việc làm thường xuyên, liên tục và là trách nhiệm của toàn dân, trong đó lực lượng đoàn viên, thanh niên có vai trò quan trọng.
Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) nêu suy nghĩ về vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo của nước ta hiện nay.
---------HẾT---------
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về đặc trưng các thể thơ hiện đại: số tiếng mỗi dòng, cách gieo vần, nhịp điệu, bố cục khổ thơ.
Cách giải:
- Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.
- Dấu hiệu nhận biết:
+ Số tiếng trong mỗi dòng thơ không đều
+ Không bị ràng buộc chặt chẽ bởi niêm luật,
+ Gieo vần và nhịp thơ linh hoạt, phù hợp với mạch cảm xúc.
Câu 2:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp so sánh
Cách giải:
Hình ảnh được sử dụng để so sánh với anh: con tàu.
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về giọng điệu trữ tình, tác dụng của ngôi xưng hô trong thơ.
Cách giải:
Hiệu quả của việc sử dụng hình thức lời tâm sự của anh với em:
- Tạo giọng điệu tâm tình thiết tha, sâu lắng.
- Thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng của nhân vật trữ tình anh với em và biển đảo quê hương.
Câu 4:
Phương pháp:
Đọc theo trình tự khổ thơ, xác định diễn biến tâm trạng qua các hoàn cảnh
Cách giải:
Sự vận động cảm xúc của nhân vật trữ tình anh:
- Cảm xúc bồi hồi của anh từ khi chia tay ở bến cảng và khi làm nhiệm vụ ở đảo xa.
- Khẳng định, khắc sâu tinh thần và ý chí quyết tâm của người lính đảo sẽ vượt qua khó khăn, thử thách, dù phải đối mặt với nỗi nhớ em, sự trống trải, cô đơn và cả sự hi sinh.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Thể hiện sự nhớ thương, niềm tự hào khi có người yêu là lính biển.
- Khẳng định sẽ thường xuyên viết thư, nhắn tin, gọi điện thăm hỏi, động viên người yêu yên tâm công tác.
Cách giải:
Nếu là em, trong giây phút chia tay ấy, em sẽ nói rằng: Anh hãy yên tâm nơi đầu sóng ngọn gió. Em hiểu phía trước là biển rộng và trách nhiệm thiêng liêng với Tổ quốc. Em sẽ chờ anh trở về, như bến cảng vẫn chờ con tàu sau mỗi chuyến ra khơi. Dù xa cách, tình yêu của em dành cho anh vẫn dịu êm và bền bỉ như biển lặng. Hãy giữ gìn sức khỏe và tin rằng ở đất liền luôn có em dõi theo anh. Em sẽ thường xuyên viết thư, nhắn tin, gọi điện thăm hỏi để anh vơi bớt nỗi nhớ nhà và yên tâm công tác. Em tin rằng sau mỗi chuyến ra khơi, anh sẽ trở về trong vòng tay yêu thương và bình yên. Ở đất liền, em luôn dõi theo và chờ anh.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Tâm trạng, cảm xúc của người lính: lưu luyến khi chia tay người con gái yêu thương; phơi phới, quyết tâm trong buổi lên đường;
- Biển và em, tình yêu đôi lứa và tình yêu đất nước đều gần gũi, thân thiết, đều quan trọng trong anh không thể tách rời;
- Người lính đảo sẽ vượt qua khó khăn, thử thách dù phải đối mặt với sự trống trải, cô đơn và cả sự hi sinh.
Cách giải:
Nhân vật trữ tình “anh” trong bài thơ Thơ tình người lính biển của Trần Đăng Khoa hiện lên với vẻ đẹp giàu cảm xúc mà cũng đầy bản lĩnh. Trong phút chia tay, anh không giấu được sự lưu luyến, bịn rịn khi rời xa người con gái mình yêu, để lại sau lưng bến cảng và ánh nhìn dịu êm. Thế nhưng, vượt lên trên nỗi nhớ riêng tư ấy là tâm thế phơi phới, quyết tâm của người lính trong buổi lên đường làm nhiệm vụ. Hình ảnh “biển một bên và em một bên” cho thấy trong trái tim anh, tình yêu đôi lứa và tình yêu đất nước luôn song hành, gần gũi và không thể tách rời. Biển không chỉ là không gian nhiệm vụ mà còn là biểu tượng của Tổ quốc thiêng liêng; còn “em” là điểm tựa dịu dàng của đời anh. Chính sự hòa quyện ấy tạo nên sức mạnh tinh thần để người lính đảo vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, kể cả những phút giây trống trải, cô đơn và cả nguy cơ hi sinh. Nhân vật “anh” vì thế trở thành hình tượng đẹp về thế hệ trẻ Việt Nam: sống sâu sắc, yêu hết mình và sẵn sàng cống hiến cho đất nước.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
2. Thân bài
2.1. Giải thích: Biển đảo của nước ta bao gồm hai bộ phận là vùng biển và hệ thống các đảo, quần đảo. Khẳng định được chủ quyền của nước ta đối với biển đảo chính là cơ sở để khẳng định chủ quyền với vùng biển, thềm lục địa xung quanh đảo.
2.2. Bàn luận:
+ Bảo vệ chủ quyền biển đảo là trách nhiệm của toàn dân, trong đó, thanh niên là lực lượng vô cùng quan trọng.
+ Thế hệ trẻ hiện nay phải nhận thức về vai trò và giá trị sâu sắc, ý nghĩa thiêng liêng của biển đảo Việt Nam, phải trang bị kiến thức về lịch sử, địa lý liên quan đến chủ quyền biển đảo đặc biệt là 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
+ Mỗi người phải hiểu luật pháp về biển đảo.
+ Hưởng ứng, tích cực tham gia các hoạt động, diễn đàn hợp pháp về chủ quyền biển đảo.
+ Lên án, phê phán mạnh mẽ, quyết liệt những kẻ chống phá đất nước, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ biển đảo nước ta.
2.3. Mở rộng vấn đề, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác.
3. Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Biển, đảo Việt Nam từ lâu đã là phần lãnh thổ thiêng liêng, gắn bó mật thiết với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập và nhiều biến động phức tạp trên thế giới hiện nay, vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo càng trở nên cấp thiết. Với tư cách là người trẻ, chúng ta không thể đứng ngoài trách nhiệm ấy, bởi bảo vệ biển đảo chính là bảo vệ tương lai và danh dự của chính mình.
Biển đảo nước ta bao gồm hai bộ phận quan trọng là vùng biển và hệ thống các đảo, quần đảo. Vùng biển Việt Nam rộng lớn, giàu tài nguyên, có vị trí chiến lược đặc biệt về kinh tế và quốc phòng. Hệ thống đảo và quần đảo phân bố dọc theo chiều dài đất nước, trong đó có hai quần đảo quan trọng là Hoàng Sa và Trường Sa. Việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền đối với các đảo, quần đảo này không chỉ có ý nghĩa về mặt lãnh thổ mà còn là cơ sở pháp lí để xác lập chủ quyền đối với vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa xung quanh. Vì vậy, bảo vệ biển đảo chính là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Bảo vệ chủ quyền biển đảo là trách nhiệm của toàn dân, trong đó thanh niên giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Thanh niên là lực lượng đông đảo, năng động, giàu nhiệt huyết và có khả năng tiếp cận tri thức mới. Trước hết, thế hệ trẻ cần nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò và ý nghĩa thiêng liêng của biển đảo đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Biển không chỉ mang lại nguồn lợi kinh tế to lớn mà còn là không gian sinh tồn, là “lá chắn” bảo vệ Tổ quốc từ xa. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần chủ động trang bị kiến thức về lịch sử, địa lí liên quan đến chủ quyền biển đảo; hiểu rõ những bằng chứng xác thực về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Kiến thức đúng đắn sẽ là nền tảng để hình thành thái độ đúng và hành động đúng.
Bên cạnh đó, thanh niên cần tìm hiểu và tôn trọng luật pháp quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam về biển đảo. Trong thời đại công nghệ số, thông tin lan truyền nhanh chóng, nếu thiếu hiểu biết và tỉnh táo, người trẻ có thể vô tình tiếp tay cho những thông tin sai lệch, xuyên tạc về chủ quyền. Do đó, mỗi cá nhân phải có ý thức chọn lọc, kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ. Đồng thời, thanh niên nên hưởng ứng và tích cực tham gia các hoạt động, diễn đàn hợp pháp hướng về biển đảo như các chương trình tuyên truyền, cuộc thi tìm hiểu, hoạt động tình nguyện vì biển đảo quê hương. Những việc làm ấy tuy nhỏ nhưng góp phần lan tỏa tinh thần yêu nước và trách nhiệm công dân.
Mặt khác, người trẻ cũng cần lên án, phê phán mạnh mẽ những hành vi chống phá đất nước, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ biển đảo Việt Nam. Sự phản biện phải dựa trên tinh thần thượng tôn pháp luật, lí lẽ xác đáng và thái độ ôn hòa, tránh cực đoan hay bị kích động. Yêu nước không đồng nghĩa với những hành động bồng bột, thiếu kiểm soát; ngược lại, đó phải là sự tỉnh táo, bản lĩnh và có trách nhiệm.
Tuy nhiên, vẫn có ý kiến cho rằng bảo vệ chủ quyền biển đảo là nhiệm vụ của Nhà nước và quân đội, người trẻ bình thường khó có thể đóng góp điều gì thiết thực. Quan điểm ấy chưa đầy đủ. Thực tế cho thấy sức mạnh bảo vệ Tổ quốc bắt nguồn từ ý thức và sự đồng lòng của toàn dân. Một thế hệ trẻ thờ ơ, thiếu hiểu biết sẽ làm suy giảm nội lực quốc gia. Ngược lại, khi thanh niên có tri thức, có lí tưởng và tinh thần trách nhiệm, đất nước sẽ có nền tảng vững chắc để bảo vệ chủ quyền bằng nhiều phương diện khác nhau: kinh tế, khoa học, ngoại giao và quốc phòng.
Tóm lại, bảo vệ chủ quyền biển đảo là nhiệm vụ lâu dài, thiêng liêng và không của riêng ai. Với vai trò là chủ nhân tương lai của đất nước, thế hệ trẻ hôm nay cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình, không ngừng học tập, rèn luyện và hành động thiết thực vì biển đảo quê hương. Khi mỗi người trẻ đều ý thức được điều đó, chủ quyền biển đảo Việt Nam sẽ luôn được gìn giữ vững bền qua mọi thử thách của thời đại.
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 10
Đề thi
ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 2 NGỮ VĂN 12 (CHÂN TRỜI SÁNG TẠO)
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản:
(1) Đó là mùa của những tiếng chim reo
Trời xanh biếc, nắng tràn lên khắp ngả
Đất thành cây, mật trào lên vị quả
Bước chân người bỗng mở những đường đi
(2) Đó là mùa không thể giấu che
Cả vạn vật đều phơi trần dưới nắng
Biển xanh thẳm, cánh buồm lồng lộng trắng
Từ những miền cay đắng hóa thành thơ.
(3) Đó là mùa của những ước mơ
Những dục vọng muôn đời không kể xiết
Gió bão hòa, mưa thành sông thành bể
Một thoáng nhìn có thể hóa tình yêu
(4) Đó là mùa của những buổi chiều
Cánh diều giấy nghiêng vòm trời cao vút
Tiếng dế thức suốt đêm dài oi bức
Tiếng cuốc dồn thúc giục nắng đang trưa
(5) Mùa hạ của tôi, mùa hạ đã đi chưa
Ôi tuổi trẻ bao khát khao còn, hết
Mà mặt đất màu xanh là vẫn biển
Quả ngọt ngào thắm thiết vẫn màu hoa.
(Mùa hạ - Xuân Quỳnh, Tuyển tập Thơ Xuân Quỳnh, NXB Văn học, 2016, tr. 34)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2. Trong khổ thơ (5), mùa hạ gắn với giai đoạn nào của cuộc đời con người?
Câu 3. Nêu hiệu quả của biện pháp tu từ điệp cấu trúc được sử dụng trong những dòng thơ in đậm.
Câu 4. Câu thơ Bước chân người bỗng mở những đường đi gợi lên trong em suy nghĩ gì về sức mạnh của con người trong cuộc sống?
Câu 5. Thông điệp nào trong bài thơ có ý nghĩa nhất đối với anh/chị? Vì sao?
II. VIẾT
Câu 1
Anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ Mùa hạ của Xuân Quỳnh.
Câu 2
Đầu tư vào tri thức sẽ đem lại lợi nhuận cao nhất. (Benjamin Franklin)
Từ cái nhìn của người trẻ, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về ý kiến trên.
----------HẾT---------
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về đặc trưng các thể thơ.
- Dựa vào số tiếng trong mỗi dòng, cách gieo vần, ngắt nhịp.
Cách giải:
- Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.
- Dấu hiệu:
+ Số tiếng trong mỗi dòng thơ không hoàn toàn cố định.
+ Gieo vần và cách ngắt nhịp linh hoạt.
Câu 2:
Phương pháp:
- Dựa vào hình ảnh biểu tượng.
- Liên hệ giữa mùa trong tự nhiên và các chặng đời con người.
Cách giải:
Trong khổ thơ (5), mùa hạ gắn với giai đoạn: Tuổi trẻ nhiều đam mê, khát vọng, hoài bão của cuộc đời con người
Câu 3:
Phương pháp:
- Xác định biện pháp tu từ: điệp cấu trúc.
- Phân tích tác dụng về nhấn mạnh nội dung, nhịp điệu và cảm xúc
Cách giải:
Biện pháp điệp cấu trúc “Đó là mùa…” có tác dụng:
- Nhấn mạnh những bước chuyển mình trong thời gian tuổi trẻ của mỗi con người, là thời gian của sự sinh sôi, rạo rực, say mê, xao động
- Đồng thời tạo nhịp điệu dồn dập, nhịp nhàng; làm tăng sức gợi hình, gợi cảm và giúp cho câu văn thêm sinh động, hấp dẫn; tạo sự liên kết cho các khổ thơ
Câu 4:
Phương pháp:
- Giải nghĩa hình ảnh ẩn dụ.
- Rút ra ý nghĩa triết lí.
Cách giải:
- Sức mạnh của con người có thể làm nên những điều mới mẻ, lớn lao, mở ra những con đường mới cho tương lai của chính mình.
- Sức mạnh không chỉ là thể chất mà còn là sức mạnh về tinh thần, ý chí, đó cũng là nền tảng để con người đi đến những thành công.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Thông điệp có ý nghĩa nhất: Hãy sống trọn vẹn với tuổi trẻ và khát vọng của mình.
- Vì:
+ Tuổi trẻ là mùa rực rỡ nhất của đời người.
+ Nếu không dám ước mơ, không dám hành động, ta sẽ tiếc nuối khi thời gian qua đi.
+ Bài thơ nhắc mỗi người biết trân trọng hiện tại, sống hết mình để tạo nên “những đường đi” cho chính mình.
Cách giải:
Thông điệp có ý nghĩa nhất đối với tôi trong bài thơ Mùa hạ của Xuân Quỳnh là hãy sống trọn vẹn với tuổi trẻ và những khát vọng của mình. Tuổi trẻ giống như mùa hạ rực rỡ, sôi nổi và tràn đầy năng lượng, nhưng cũng trôi qua rất nhanh. Nếu ta không dám ước mơ, không dám hành động và bứt phá, ta sẽ dễ rơi vào cảm giác tiếc nuối khi thời gian qua đi. Bài thơ nhắc mỗi người biết trân trọng hiện tại, sống hết mình với đam mê, chủ động tạo dựng con đường riêng thay vì chờ đợi cơ hội. Chỉ khi dám bước đi, con người mới có thể “mở những đường đi” cho chính tương lai của mình.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
* Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm:
- Xuân Quỳnh...
- Mùa hạ” là một bài thơ được Xuân Quỳnh sáng tác khi tuổi trẻ đã đi qua. Lúc đó chị đã là một phụ nữ từng trải và đứng tuổi, nhưng cái rực cháy, cái khát khao của một thời vẫn rạo rực qua từng câu thơ.
* Nội dung bài thơ
- Thông qua bức tranh mùa hạ rực rỡ và tràn đầy sức sống; tác giả ca ngợi vẻ đẹp của tuổi trẻ, là tuổi của những ước mơ, khát khao, hoài bão.
* Đặc sắc nghệ thuật:
- Không gian nghệ thuật mở ra với những đặc trưng của mùa hạ: tiếng chim reo, trời xanh biếc, nắng tràn, biển xanh thẳm, cánh buồm lộng gió…. Đó là một không gian thoáng đãng, rộng lớn, nhộn nhịp, căng tràn sức sống.
- Thời gian nghệ thuật: đó vừa là thời gian của đất trời trong mùa hạ, vừa là thời gian tuổi trẻ của mỗi con người, là thời gian của sự sinh sôi, rạo rực, say mê, xao động
- Sử dụng hàng loạt những hình ảnh đặc trưng của mùa hạ, cũng như của tuổi trẻ; các biện pháp tu từ: điệp từ ngữ, lặp cấu trúc, ẩn dụ, liệt kê…
Cách giải:
Xuân Quỳnh là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca Việt Nam hiện đại, nổi bật với giọng thơ giàu cảm xúc và luôn tha thiết với hạnh phúc đời thường. Bài thơ Mùa hạ được sáng tác khi tuổi trẻ của chị đã đi qua, khi nhà thơ đã trở thành một người phụ nữ từng trải, nhưng những rung động và khát khao của một thời vẫn còn nguyên vẹn trong tâm hồn. Thông qua bức tranh mùa hạ rực rỡ, tác giả ca ngợi vẻ đẹp của tuổi trẻ với những ước mơ và đam mê mãnh liệt. Không gian nghệ thuật hiện lên khoáng đạt và tràn đầy sức sống qua những hình ảnh “tiếng chim reo”, “trời xanh biếc, nắng tràn lên khắp ngả”, “biển xanh thẳm, cánh buồm lồng lộng trắng”. Điệp cấu trúc “Đó là mùa” được lặp lại nhiều lần tạo nhịp điệu ngân vang và nhấn mạnh đặc trưng của mùa hạ, đồng thời làm nổi bật cảm xúc say mê của chủ thể trữ tình. Thời gian nghệ thuật vừa là thời gian của thiên nhiên vừa là thời gian của tuổi trẻ, thể hiện rõ trong câu thơ “Mùa hạ của tôi, mùa hạ đã đi chưa” gắn với nỗi bâng khuâng về “tuổi trẻ bao khát khao còn, hết”. Hình ảnh ẩn dụ “Bước chân người bỗng mở những đường đi” khẳng định sức mạnh và khả năng kiến tạo tương lai của con người. Với hệ thống hình ảnh giàu sức gợi và các biện pháp tu từ đặc sắc, bài thơ đã khắc họa thành công mùa hạ như biểu tượng của tuổi trẻ sôi nổi và đầy khát vọng.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài giới thiệu được vấn đề
2. Thân bài triển khai được vấn đề
* Giải thích
- Tri thức: là những thông tin đã được con người tiếp thu, trở thành hiểu biết của mình.
- Đầu tư: bỏ thời gian, công sức, tiền bạc vào một lĩnh vực nào đó.
- Lợi nhuận: lợi ích thu được sau khi đã trừ đi các khoản đầu tư.
=> Ý cả câu: Bỏ thời gian, công sức, tiền bạc để có được sự hiểu biết, đó là cuộc đầu tư đúng đắn, đem lại nhiều lợi ích nhất.
* Bàn luận:
- Khẳng định tính đúng đắn của ý kiến: Ý kiến của Benjamin Franklin là hoàn toàn đúng đắn, bởi khi ta đầu tư vào tri thức, những lợi ích mà nó mang lại quả thực lớn lao, lớn hơn bất cứ cuộc đầu tư nào vào bất cứ lĩnh vực nào. Cụ thể:
+ Đầu tư vào tri thức sẽ cho ta có được sự hiểu biết về bất cứ lĩnh vực nào mà ta muốn, từ đó ta có thể làm bất cứ công việc gì mà xã hội đòi hỏi.
+ Đầu tư vào tri thức không chỉ giúp con người có hiểu biết, mà còn nâng cao nhận thức, hoàn thiện nhân cách, tạo nên lối ứng xử có văn hóa, làm cho xã hội trở nên nhân văn, tốt đẹp hơn.
+ Đầu tư vào tri thức không chỉ đem lại lợi ích cho thế hệ hiện tại, mà nó còn góp phần tạo nền tảng vững chắc cho các thế hệ tương lại, tạo ra một sự kế thừa có tính liên tục, giúp cho sự phát triển của xã hội trở nên bền vững.
+ Đầu tư vào tri thức góp phần thúc đẩy những phát minh, sáng kiến, giúp giải phóng sức lao động, tạo nên sự tiện nghi, làm cho cuộc sống của con người ngày càng trở nên thuận lợi và sung túc hơn.
- Phê phán những tư tưởng sai lệch:
+ Xem nhẹ vai trò của tri thức đối với cuộc sống của con người, từ đó sa đà vào những lợi ích trước mắt mà không chịu đầu tư vào tri thức.
+ Hiểu biết phiến diện về khái niệm tri thức: coi tri thức chỉ là những kiến thức khô khan trong sách vở mà quên rằng, tri thức là tất cả những hiểu biết mà ta có được từ mọi nguồn trong cuộc sống.
* Mở rộng:
- Để đem lại lợi nhuận cao nhất, chúng ta cần biết đầu tư vào tri thức một cách đúng đắn, sáng suốt.
- Đầu tư vào tri thức có thể không đem lại lợi ích ngay lập tức, do vậy, chúng ta cần có lòng kiên trì, có tầm nhìn chiến lược lâu dài.
* Bài học
- Nhận thức được tầm quan trọng của tri thức.
- Thực hành việc đầu tư vào tri thức một cách kiên trì, có phương pháp (nhất là trong lĩnh vực học tập)
3. Kết bài: khái quát được vấn đề.
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong hành trình phát triển của mỗi cá nhân và của cả nhân loại, tri thức luôn giữ vai trò nền tảng. Benjamin Franklin từng khẳng định: “Đầu tư vào tri thức sẽ đem lại lợi nhuận cao nhất.” Câu nói ngắn gọn nhưng hàm chứa một chân lí sâu sắc về giá trị của việc học tập và tích lũy hiểu biết. Đặc biệt với người trẻ hôm nay, khi thế giới biến đổi không ngừng, nhận thức đúng đắn về vai trò của tri thức chính là chìa khóa mở ra cánh cửa tương lai.
Trước hết, cần hiểu rõ nội hàm của nhận định này. Tri thức là những thông tin, kiến thức mà con người tiếp thu được và biến thành sự hiểu biết của chính mình. Đầu tư là việc bỏ thời gian, công sức, tiền bạc vào một lĩnh vực nào đó với mong muốn thu lại giá trị trong tương lai. Lợi nhuận là phần lợi ích thu được sau khi đã trừ đi những chi phí đã bỏ ra. Như vậy, câu nói của Franklin có thể hiểu rằng: khi ta dành thời gian, công sức và điều kiện vật chất để học tập, tích lũy hiểu biết, đó là một sự đầu tư đúng đắn, bởi những lợi ích mà tri thức mang lại là to lớn và bền vững hơn bất cứ hình thức đầu tư nào khác. Thực tế cho thấy, ý kiến trên hoàn toàn đúng đắn. Trước hết, đầu tư vào tri thức giúp con người có được sự hiểu biết về những lĩnh vực mình quan tâm. Nhờ tri thức, ta có thể làm chủ công việc, đáp ứng yêu cầu của xã hội và tạo dựng sự nghiệp cho bản thân. Trong một thế giới mà khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng, người có tri thức sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn nghề nghiệp và khả năng thích nghi cao hơn. Tri thức chính là “vốn liếng” quan trọng nhất để người trẻ khẳng định giá trị của mình.
Không chỉ dừng lại ở việc cung cấp kiến thức chuyên môn, đầu tư vào tri thức còn góp phần nâng cao nhận thức và hoàn thiện nhân cách. Khi hiểu biết sâu rộng, con người sẽ có cái nhìn toàn diện, biết phân biệt đúng sai, hình thành lối ứng xử văn hóa và có trách nhiệm với cộng đồng. Một xã hội mà các cá nhân đều coi trọng tri thức sẽ trở nên nhân văn, tiến bộ và giàu tính chia sẻ hơn. Như vậy, lợi nhuận của tri thức không chỉ là tiền bạc mà còn là sự trưởng thành về tư duy và đạo đức. Hơn thế nữa, đầu tư vào tri thức không chỉ đem lại lợi ích cho thế hệ hiện tại mà còn tạo nền tảng vững chắc cho các thế hệ tương lai. Tri thức được truyền lại, kế thừa và phát triển qua nhiều thế hệ, tạo nên dòng chảy liên tục của văn minh nhân loại. Chính nhờ tri thức tích lũy qua thời gian mà con người có thể tạo ra những phát minh, sáng kiến, giải phóng sức lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống. Những tiến bộ về y học, công nghệ, giáo dục… đều bắt nguồn từ quá trình đầu tư bền bỉ vào tri thức.
Tuy nhiên, trong thực tế vẫn tồn tại những quan niệm sai lệch. Có người xem nhẹ vai trò của tri thức, chỉ chạy theo lợi ích trước mắt mà không chịu học hỏi, trau dồi bản thân. Lại có người hiểu tri thức một cách phiến diện, cho rằng tri thức chỉ là những kiến thức khô khan trong sách vở, mà quên rằng tri thức còn được tích lũy từ trải nghiệm thực tế, từ lao động, từ giao tiếp và quan sát cuộc sống. Những cách nhìn hạn hẹp ấy dễ khiến con người tự đánh mất cơ hội phát triển lâu dài.
Dẫu vậy, để đầu tư vào tri thức thực sự đem lại “lợi nhuận cao nhất”, chúng ta cần có cách đầu tư đúng đắn và sáng suốt. Học tập phải gắn với mục tiêu rõ ràng, với nhu cầu thực tiễn của xã hội. Đồng thời, cần hiểu rằng lợi ích của tri thức không phải lúc nào cũng đến ngay lập tức. Có những giá trị chỉ được nhận ra sau một thời gian dài kiên trì tích lũy. Vì thế, người trẻ cần có tầm nhìn chiến lược, bền bỉ và không ngừng nỗ lực.
Nhận thức được tầm quan trọng của tri thức, mỗi chúng ta cần chủ động thực hành việc “đầu tư” vào học tập và rèn luyện mỗi ngày. Đó có thể là việc đọc thêm một cuốn sách, học một kỹ năng mới, trau dồi ngoại ngữ hay rèn luyện tư duy phản biện. Khi kiên trì tích lũy từng chút một, ta đang xây dựng cho mình một nền móng vững chắc cho tương lai.
Tóm lại, lời khẳng định của Benjamin Franklin là một chân lí có giá trị vượt thời gian. Đầu tư vào tri thức chính là sự đầu tư khôn ngoan và bền vững nhất. Trong bối cảnh hiện đại, khi tri thức trở thành động lực phát triển chủ yếu, người trẻ càng cần ý thức rõ rằng chỉ có học tập và không ngừng mở rộng hiểu biết mới giúp ta đạt được thành công và sống một cuộc đời có ý nghĩa.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP12
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
