Đề thi giữa kì 2 Ngữ Văn 12
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
NẠN HỮU XUY ĐỊCH
(Nhật kí trong tù, Hồ Chí Minh)
Ngục trung hốt thính tư hương khúc,
Thanh chuyển thê lương điệu chuyển sầu.
Thiên lí quan hà vô hạn cảm,
Khuê nhân cánh thượng nhất tằng lâu.
Dịch nghĩa
Trong tù bỗng nghe khúc nhạc nhớ quê hương,
Âm thanh trở nên thê lương, tình điệu trở nên sầu muộn.
Nước non xa cách nghìn trùng, cảm thương vô hạn,
Người chốn phòng khuê lại bước lên một tầng lầu.
Dịch thơ – Nam Trân: Người bạn tù thổi sáo
Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu,
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu;
Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau.
(Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000)
(baodaklak.vn)
Câu 1. Xác định đề tài và thể thơ và cảm xúc, âm hưởng chủ đạo của bài thơ. (0.5 điểm)
Câu 2. Đối chiếu bản dịch thơ của câu thứ nhất với nguyên văn (thông qua các bản dịch nghĩa), từ đó xác định từ ngữ ở bản dịch thơ chưa sát nghĩa và phân tích hoàn cảnh và cảm xúc của nhân vật trữ tình. (0.5 điểm)
Câu 3. Bản dịch thơ ở câu thứ 2: Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu đã thể hiện trọn vẹn nội dung và cảm xúc ở bản gốc chưa? Hãy phân tích bản gốc (ngắt
nhịp, thanh điệu) để thấy rõ sự tinh tế trong cảm nhận tiếng sáo của thi sĩ Hồ
Chí Minh. (1.0 điểm)
Câu 4. Không gian “xa cách nghìn trùng” và “người chốn phòng khuê bước lên một tầng lầu” có phải cảnh thực không? Vì sao có cảnh tượng ấy? Chúng đã gợi ra điều gì ở độc giả? (1.0 điểm)
Câu 5. Nhận xét bản dịch thơ (2 câu cuối) có sát với bản gốc không? Gắn bài thơ vào hoàn cảnh ra đời để phân tích sức gợi và khát vọng của nhân vật trữ tình trong bài thơ và từ đó cho biết em thích bản dịch thơ hay bản gốc hơn? (1.0 điểm)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn của chiến sĩ, thi sĩ Hồ Chí Minh và chỉ ra sự kết hợp giữa vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại của bài thơ. (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm)
Câu 2. (4đ)
Viết văn bản nghị luận (600 chữ) so sánh, đánh giá để làm nổi bật nét tương đồng, khác biệt về cảm xúc, cách thể hiện cảm xúc ở 2 bài thơ tứ tuyệt Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch (trích từ Thơ Đường, tập 2, NXB Văn học, 1987) và Nạn hữu xuy địch của Hồ Chí Minh (ở phần Đọc hiểu)
Đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Xác định đề tài và thể thơ và cảm xúc, âm hưởng chủ đạo của bài thơ. (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ, chú ý đối tượng được nhắc đến
Chú ý số dòng trong bài, số từ trong câu
Chú ý các tính từ được nhắc đến để suy ra âm hưởng chủ đạo của nhà thơ
Lời giải chi tiết:
- Đề tài: Quê hương
- Thể thơ: Tứ tuyệt
- Cảm xúc chủ đạo: Nỗi nhớ quê da diết; âm hưởng lắng đọng, buồn da diết.
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Đối chiếu bản dịch thơ của câu thứ nhất với nguyên văn (thông qua các bản dịch nghĩa), từ đó xác định từ ngữ ở bản dịch thơ chưa sát nghĩa và phân tích hoàn cảnh và cảm xúc của nhân vật trữ tình. (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bản dịch thơ câu thứ nhất với nguyên văn
Lời giải chi tiết:
Dịch nghĩa: Trong tù bỗng nghe khúc nhạc nhớ quê hương.
Dịch thơ: Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu.
→ Bản dịch thiếu nghĩa của “tư hương” – nhớ quê; bản dịch nghĩa và phiên âm
- Bản phiên âm, dịch nghĩa thể hiện rõ hoàn cảnh của nhân vật trữ tình: đang
1 ở trong ngục (mất tự do và xa quê), nghe tiếng sáo nhớ quê.
→Nghe âm thanh tiếng sáo cảm nhận được nỗi lòng người thổi sáo đang nhớ quê
→ Nỗi lòng nhớ quê tác động mãnh liệt tới tâm hồn người đang bị giam trong ngục
→ Hai người như giao cảm, thấu hiểu nỗi lòng nhau qua tiếng sáo.
Câu 3 (1,0 điểm)
|
Bản dịch thơ ở câu thứ 2: Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu đã thể hiện trọn vẹn nội dung và cảm xúc ở bản gốc chưa? Hãy phân tích bản gốc (ngắt nhịp, thanh điệu) để thấy rõ sự tinh tế trong cảm nhận tiếng sáo của thi sĩ Hồ Chí Minh. (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bản dịch và bản gốc câu thứ 2
Nhận xét về nhịp thơ và phân tích nghĩa từng từ trong câu
Lời giải chi tiết:
- Bản gốc: Thanh chuyển thê lương điệu chuyển sầu (Âm thanh trở nên thế
lương, tình điệu trở nên sầu muộn).
- Bản dịch thơ (Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu) chưa chuyển tải trọn vẹn
tình ý ở bản gốc.
+ Bản phiên âm, dịch nghĩa: Nhịp thơ cổ điển 4/3; với bốn thanh trắc “ngục,
“hốt”, “thính”, “khúc” nghe réo rắt diễn tả tâm trạng nhớ quê hương một cách da diết.
+ Dịch được chữ “điệu” mà không dịch được chữ “thanh”, hai yếu tố quan trọng
của âm nhạc để diễn tả cảm xúc.
+ “Thanh chuyển thê lương”, nghĩa là âm thanh trở nên lạnh lẽo như khúc
nhạc chuyển gam; “Điệu chuyển sầu” nghĩa là điệu nhạc trở nên buồn bã. Bằng sự biến hoá của âm thanh, nỗi nhớ quê hương trăn trở, day dứt không nguôi trong tiếng sáo của người bạn tù. Tiếng sáo gợi nỗi niềm nhớ thương khắc khoải trong lòng người xa quê.
- Sự tinh tế trong cảm nhận tiếng sáo từ câu thơ đầu sáng câu thứ hai.
+ Câu thơ đầu là nỗi nhớ quê trong tiếng sáo.
+ Câu thứ hai thể hiện nỗi nhớ quê sâu lắng, tha thiết tới mức thê lương, sầu
muộn trong thanh điệu của tiếng sáo: Âm thanh trở nên thê lương, tình điệu trở nên sầu muộn.
→ Từ đồng cảm đến thấu hiểu sâu sắc nỗi lòng nhau –những người cùng cảnh
ngộ mất tự do, xa quê, nhớ quê da diết.
Câu 4 (0,5 điểm)
|
Không gian “xa cách nghìn trùng” và “người chốn phòng khuê bước lên một tầng lầu” có phải cảnh thực không? Vì sao có cảnh tượng ấy? Chúng đã gợi ra điều gì ở độc giả? (0,5 điểm) |
Phương pháp giải:
Liên hệ với thực tế để suy ra tính thực của không gian
Đọc các câu thơ trước và giải thích vì sao có cảnh tượng ấy
Lời giải chi tiết:
- Không gian “xa cách nghìn trùng” và “người chốn phòng khuê bước lên một
tầng lầu” không phải cảnh thực.
- Chính tiếng sáo, nỗi lòng nhớ quê của người bạn tù đã gợi ra cảnh tượng
của những người đang nhớ nhau trong ngàn trùng xa cách; chính sự thấu hiểu nỗi buồn vì nhớ quê nhà của người bạn mà thi sĩ tưởng tượng ra cảnh của người vợ nhớ chồng. Họ đang hướng về nhau, người vợ nơi quê nhà nghe được tiếng sáo, nỗi lòng nhớ thương của người chồng xa quê. Tiếng sáo là tiếng lòng, là cầu nối những người đang sống trong thương nhớ với nhau, hiểu nhau, nhớ nhau nhưng phải cách xa nhau.
Câu 5 (1 điểm)
|
Nhận xét bản dịch thơ (2 câu cuối) có sát với bản gốc không? Gắn bài thơ vào hoàn cảnh ra đời để phân tích sức gợi và khát vọng của nhân vật trữ tình trong bài thơ và từ đó cho biết em thích bản dịch thơ hay bản gốc hơn? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc bản dịch thơ và bản gốc 2 câu cuối
Gắn bài thơ vào hoàn cảnh ra đời (khi tác giả đang bị giam trong tù ngục) để phân tích sức gợi và khát vọng của nhân vật trữ tình trong bài thơ
Lời giải chi tiết:
– Bản dịch thơ (2 câu cuối) vô cùng đặc sắc: hàm súc, giàu sức gợi liên tưởng:
+ “Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi”: Bảy chữ gợi ra không gian xa cách và
nỗi buồn, niềm cảm thương vô bờ đối với cảnh ngộ của bạn tù (hai vợ chồng nhớ thương nhau trong cách trở); Cụm từ “khôn xiết nỗi” giàu sức gợi hiển thị toàn bộ lên bề nổi của ngôn từ như “cảm thương vô hạn”.
+ “Lên lầu ai đó ngóng trông nhau”: Vừa chuyển tải được ý ở bản gốc vừa gợi
ra được tình, cảnh – hai người trong xa cách đang hướng về nhau, nhớ nhau, mong ngóng nhau trở về.
- Gắn bài thơ vào hoàn cảnh ra đời – khi tác giả đang bị giam trong tù ngục (Nhà tù của Tưởng Giới Thạch –Trung Quốc, 1942) để thấy sự đa nghĩa và sức gợi của bài thơ:
+ Cảnh ngộ “Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi” không chỉ của vợ chồng người bạn tù mà còn là cảnh ngộ của tác gia Hồ Chí Minh: xa nhà, xa nước muôn dặm,
nhớ nước nhớ nhà khôn xiết, biết bao giờ mới được trở về, được tham gia vào sự nghiệp cứu nước đang dang dở...→ Khát vọng tự do cháy bỏng, mãnh liệt.
+ Cảnh “Lên lầu ai đó ngóng trông nhau” có thể hiểu Hồ Chí Minh và những
đồng chí, cộng sự của mình đang mong ngóng tin nhau, đang chờ nhau trở về để
cùng thực hiện sự nghiệp cứu nước ở giai đoạn quan trọng nhất.
→ Thể hiện kín đáo, sâu sắc tấm lòng yêu quê hương, đất nước của người chiến
sĩ cách mạng trong hoàn cảnh tù đày, gian khổ.
– Học sinh thể hiện sự lựa chọn theo sở thích cá nhân và lí giải đôi nét về sự
lựa chọn đó.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1.
|
Nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn của chiến sĩ, thi sĩ Hồ Chí Minh và chỉ ra sự kết hợp giữa vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại của bài thơ. (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn đã được học
Nhận xét về thể thơ, hình ảnh để thấy được nét cổ điển và sự chuyển biến, vận động của hình tượng thơ để thấy được tinh thần hiện đại
Nêu quan điểm, ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn.
+ Nhạy cảm, thấu hiểu nỗi lòng, đồng cảm với cảnh ngộ của người bạn tù
+ Không than thở, không nói về cảnh ngộ của bản thân.
+ Thể hiện khát vọng tự do, tinh thần yêu nước.
- Kết hợp giữa vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại.
+ Cổ điển: thể thơ; hình ảnh, ngôn từ hàm xúc, giàu sức gợi,...
+ Tinh thần hiện đại: biến chuyển tinh tế (không tĩnh tại) trong cảm xúc, sự vận động của hình tượng thơ: nhớ quê – thê lương, sầu muộn – nhớ, hướng về nhau
Câu 2.
|
Viết văn bản nghị luận (600 chữ) so sánh, đánh giá để làm nổi bật nét tương đồng, khác biệt về cảm xúc, cách thể hiện cảm xúc ở 2 bài thơ tứ tuyệt Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch (trích từ Thơ Đường, tập 2, NXB Văn học, 1987) và Nạn hữu xuy địch của Hồ Chí Minh (ở phần Đọc hiểu) |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức và nội dung bài văn
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết văn bản nghị luận (600 chữ) so sánh, đánh giá để làm nổi bật nét tương đồng, khác biệt về cảm xúc, cách thể hiện cảm xúc ở 2 bài thơ tứ tuyệt Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch (trích từ Thơ Đường, tập 2, NXB Văn học, 1987) và Nạn hữu xuy địch của Hồ Chí Minh (ở phần Đọc hiểu) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm cần so sánh, đánh giá. - Nêu luận đề: điểm tương đồng và thành công riêng của mỗi tác giả. |
|
Thân bài |
3,0 |
* Nét tương đồng: - Về nội dung: Thể hiện nỗi nhớ quê hương da diết (ánh trăng nỗi nhớ có ngoại cảnh tác động: nghe tiếng sáo làm dậy lên nỗi nhớ - Về hình thức: bằng bài thơ tứ tuyệt hàm xúc, giàu sức gợi, chất hội hoạ. * Nét khác biệt - Về nội dung – hoàn cảnh bộc lộ nỗi nhớ. + “Tĩnh dạ tứ” của Lý Bạch: xa quê, nhìn trăng sáng mà nhớ cố hương, trăng như trở thành biểu tượng cho quê hương + Nạn hữu xuy địch – Hồ Chí Minh: bị giam cầm, mất tự do, nghe tiếng sáo người bạn tù mà cảm nhận được nỗi nhớ quê (nỗi nhớ có cung bậc thê lương, sầu muộn.) - Cách thể hiện nỗi nhớ quê + “Tĩnh dạ tứ” của Lý Bạch diễn tả trực tiếp nỗi nhớ của lòng mình với quê hương + “Nạn hữu xuy địch” của Hồ Chí Minh: thể hiện gián tiếp qua nỗi nhớ quê của người bạn tù |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khái quát giá trị, sự đóng góp của hai tác giả ở đề tài tư hương. – Sự tác động của hai tác phẩm vào cảm xúc nhận thức của cá nhân. |
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
BƠ VƠ
(Chương 2, Bỉ vỏ, Nguyên Hồng)
Tóm tắt tiểu thuyết “Bỉ vỏ”
Bính là cô gái nghèo làng Sòi. Vì nhẹ dạ, yêu một gã Tham đạc điền và bị hắn bỏ rơi giữa lúc bụng mang dạ chửa, cô bị cha mẹ hắt hủi, đay nghiến và đứa bé sinh ra phải đem bán đi vì sợ làng bắt vạ. Đau đớn, Bính trốn nhà đi Hải Phòng mong tìm được người tình nhưng lại rơi vào nhà chứa của mụ Tài sẽ cấu. Sống ê chề, cực nhục ở nơi bẩn thỉu hội hám, Bính ốm nặng.
Bính toan tự tử nhưng được Năm Sài Gòn, trùm lưu manh ở Hải Phòng, chuộc ra khỏi nhà chứa, chăm sóc hết lòng. Nhưng rồi Năm bị bắt. Thế là, bất đắc dĩ, Bính trở thành một “bỉ vỏ” – người đàn bà ăn cắp. Do một sự hiểu lầm và ghen tuông, Năm Sài Gòn đuổi Bính đi. Bính về Nam Định, gồng thuê gánh mướn kiếm ăn. Được tin bố mẹ ở quê gặp tai hoạ có thể bị tù, Bính không còn cách nào khác, đã phải nhận lời lấy một viên mật thám để có tiền gửi về cứu bố mẹ.
Năm Sài Gòn bị bắt bởi chính tay người chồng Bính. Không chút do dự, cô đã lẻn xuống trại giam, mở khoá cứu Năm rồi cùng y đi trốn. Kết cục bi thảm đã đến: một lần, Năm cướp được một đứa bé đeo vòng vàng trên tàu thuỷ. Bính hốt hoảng nhận ra đó chính là đứa con mà bao lâu Bính nhớ thương. Nhưng nó đã chết! Giữa lúc đó, đội xếp, mật thám ập vào, Năm và Bính đều bị bắt.
Đoạn trích sau là chương 2 của tác phẩm
(1) Hải Phòng. Lần này là lần đầu tiên Bính bước chân đến một tỉnh ồn ào đông đúc, khác hẳn chốn quê mùa vắng vẻ. Bính trốn đi, sau đêm ấy đến nay đã
được bốn hôm. Bốn hôm dài quá chừng! [..]
Món tiền sáu hào chắt bóp ngót nửa năm trời đã dùng để trả tiền ăn tiền tàu từ Nam ra Phòng mất bốn hào. Còn hai hào thì vừa vặn ăn uống trong hai hôm nay. Bính hoang mang, cúi gằm mặt trong dải đường nhựa lấp lánh bóng trăng nhấc từng bước một.
Bính đi như thế không cần biết rồi sẽ đi tới đâu, miễn cho qua một đêm. Lúc này Bính bỗng hồi hộp, bối rối lạ thường. Những bụm cọ đen thẫm, ù ù lộng gió ở vườn hoa sông Lấp gợi trong trí Bính bao nhiêu hình dung quái gở. Bính tưởng con đường Bính đi tối tăm hoang vắng như cảnh một bãi tha ma. Những cành xoan xao động và những cành tre là ngọn bên những ngôi mộ chơ vơ mới đắp. Những tàu lá cọ to sùm suề giống những mớ tóc người điên hay thắt cổ.
Bính bật kêu khe khẽ:
- Biết làm sao đêm nay?!
Bính lại thấy đêm lạnh và dài lắm, một thân gái quê mùa đi bỡ ngỡ lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này, gặp những sự không may lạ thường. Nếu Bính không khéo gìn giữ, biết đâu đêm nay chẳng sẽ là cái đêm bắt đầu một cuộc đời khốn nạn nhơ nhuốc khác mà dù cực nhục chừng nào, Bính cũng phải cắn răng chịu, chứ không thể quay về quê nhà được. Bính thở dài. Mấy hôm nay tai tiếng chắc đã đồn đi khắp làng trên làng ngoài. Thế nào họ chẳng bảo lại vì mê giai, theo giai mà bỏ nhà đi. Cái tiếng theo giai đó là một sự nhơ nhuốc không sự nhơ nhuốc nào bằng. Vì người ta hiểu rằng: giai là một đứa xỏ xiên chỉ phá hoại trinh tiết người đàn bà, còn kẻ theo nó phải là một con đĩ thoã vô cùng.
Bính đã đi qua Sáu kho. Hôm nay các tàu chạy hết. Trên sông chỉ còn thấp thoáng mấy ánh lửa leo lét, chập chờn của dăm chiếc thuyền con đỗ đằng xa.
(2) Thốt nhiên Bính dừng bước, trong một phút Bính tưởng như là bến Sòi quê Bính. Bính ngẩng đầu bỡ ngỡ nhìn, lắng tai nghe: tiếng đọc kinh đâu đây nhẹ nhàng vang trước gió lạnh, réo rắt và thấm thía... Sự hồi tưởng ấy làm Bính cảm thấy rõ rệt bố mẹ mình là giả dối. Bính ghê sợ cho sự “nguyện ngắm” hàng ngày
chỉ dùng che mắt thế gian. Phải, chỉ che mắt thế gian thôi! Nay đi xưng tội, mai đi chịu lễ, sáng sớm nào cũng có mặt ở nhà thờ, đêm nào cũng thức tới mười một, mười hai giờ để đọc kinh, hỏi để làm gì?
Thì cũng như trăm nghìn gia đình chỉ ngoan đạo bề ngoài, gia đình Bánh bao năm được người làng khen là êm ấm đáng làm mẫu mực nhưng thực chẳng có
lấy một chút gì yên vui, thuận hoà, đạo đức bên trong. Cha mẹ Bính cắn rứt nhau luôn, vì thiếu thốn, chửi mắng hành hạ Bính luôn vì Bính không như ai giảo hoạt, tinh ranh trong sự cạnh tranh khách đi đò và buôn bán mua rẻ bán đắt tôm cá của các thuyền chài lưới quen thuộc. Hơn nữa, Bính không biết mưu tính các cách gian lận với những khách gửi hàng để lo cho mình có cái bộ cánh mà nhà không sao sắm sửa được vì ruộng đất cày cấy không có, ngoài mảnh vườn chỉ được cái rau ăn còn đều trông vào con đò thì phải sinh sống rất khôn ngoan xoay giờ đủ mặt. Những điều này đã làm Bính suy nghĩ và đau lòng.
Bính buồn bã lắc đầu rồi giơ tay làm “dấu” đoạn thầm thì cầu kinh. “Lạy Cha chúng tôi ở trên giời, xin Cha cho chúng tôi hàng ngày dùng đủ và tha nợ cho chúng tôi như chúng tôi đã tha kẻ có nợ chúng tôi... Thì Chúa sẽ ban ơn cho tôi giữ đạo nên ở đời này cho ngày sau được lên nước thiên đàng vui vẻ đời đời....
(3) Gió sông càng ù ù, sương càng mù mịt. Bính đọc hết năm chục kinh, làm “dấu”, đoạn khép chặt tà áo vào người rồi rảo bước. Chợt có tiếng người gọi:
- Cô kia đi đâu?
Bính không dám quay lại trả lời cứ lùi lũi đi nép vào rặng cây bên đường. Một
chiếc xe tay đâm xô lại, chắn lấy lối đi, tiếp đến những tiếng cười ran:
- “Săn” kì được “mẻng” ấy cho tao.
Bính tránh hẳn sang bên kia, gằm mặt xuống xốc lại cái đẫy vải đeo sau lưng. Một người đàn ông vận quần áo lót kẻ sòng sọc rất chải chuốt và tóc bóng lộn, ngồi trên xe nom trõ mặt vào mặt Bính, Bính quay mặt ra chỗ khác. Người ấy kéo vạt áo Bính, ngọt ngào hỏi:
– Cô định tìm ai ở đây?
Bính hoảng hốt chực chạy. Nhưng chung quanh Bính năm chiếc xe đã vây kín, Bính kêu lên:
- Ô kìa!
Tên ngồi xe nhại lại, cười sặc sụa. Dáng điệu ngây thơ của Bính bảo rõ với bọn này rằng Bính là một gái quê mới ra tỉnh lần đầu và là một gái quê xinh đẹp hẳn hoi. Thật vậy, dưới ánh đèn điện, mắt Bính lấp lánh chớp luôn, đôi má mũm mĩm ửng hồng chúng trông ngon lành quá.
Một gã kéo xe nhưng tóc mai cũng xén nhọn và để dài như thằng ngồi xe, mặc hai gã khác ngồi trên xe ngăn lại không cho, rồi gã vận quần áo lót kẻ sòng sọc áo trắng là cổ bẻ và ngoài khoác áo tây vàng toan giằng lấy khăn vuông Bính, song hai gã khác ngồi trên xe ngăn lại không cho, rồi gã vận quần áo lót kẻ sòng sọc mượn cớ nhảy xuống bíu lấy vai Bính. Bính kêu thất thanh. Thừa cơ hai cái xe chạy đi đón khách dưới thuyền lên, Bính liền lẩn nhanh ra chỗ khác. Đám xe rãn cả, tản mỗi nơi một chiếc. Còn Bính, Bính đi ngược lên phố vì Bính nhận thấy nếu cứ lang thang, bơ vơ ở những chỗ đường vắng thì thế nào cũng còn bị chòng ghẹo.
Được một quãng có nhà cửa thì lại đến quãng vườn hoang. Những bụi cây là mù trước những ngọn đèn điện bóng mờ hiện ra trước mắt Bính làm trống ngực Bính lại đập thình thịnh. Chợt Bính lạnh toát cả người, quay đầu nhìn về đằng sau; một bóng người đương rảo gót như đuổi Bính. Bính đi nhanh hơn. Người theo sau cũng bước gấp, phút chốc hắn đi sát cạnh Bính và khẽ nói:
– Cô! Cô chậm bước chứ để tôi ngỏ câu chuyện này.
Nhời nói êm đềm khiến Bính bớt sợ, Bính đưa mắt nhìn thì đó là người ngồi trên xe ban nãy nhưng đã thay quần áo khác, Bính im lặng nhìn bộ y phục lạ lùng của hắn: cái áo dạ tím bó chẹt lấy lưng, hai ống quần lướt thướt như bằng lụa thì buông chùng quá gót, cái mũ dạ mới lạ làm sao, lóng lánh một chiếc tên mạ kém như dấu hiệu của lính. Bính chợt nhớ đến cái hạng công tử cũng kiểu ăn mặc như thế này những ngày hội đầu năm vùng Bính bọn chúng thường kéo về chớt nhả gái làng. Bính vội quay đi.
Hắn chẳng còn do dự, nắm ngay cánh tay Bính, cặp mắt sáng lên khác thường
– Cô đi đâu bây giờ? Đi một mình mà không buồn à?
Bính thót người lại hết sức giăng tay ra, nhưng hắn đã bá lấy cổ Bính, hôn vào má Bính đánh chụt một cái. Đường vắng vẻ quá, gió thổi lào xào trong những bụm cọ lù mù, vành trăng lại bị mây đen che đi.
Hắn bế xốc Bính lên, mặc Bính giãy giụa the thé van lơn, chạy vào trong vườn. Bính phải kêu thét lên nhưng gió thổi mạnh đánh bạt cả tiếng Bính đi.
Trong chớp mắt hắn dằn Bính xuống vệ cỏ...
Bỗng một đoàn xe đạp xăm xăm từ đằng xa tới, đèn xe kéo dài những vệt sáng rung động trên đường nhựa, có một ngọn soi chõ vào vườn như tìm tới.
Bính vội gào to:
- Các ông ơi! Cứu tôi với! Cứu tôi với!
Chẳng để Bính kêu thêm, hắn hốt hoảng buông Bính ra rồi chạy thẳng. Bính choáng váng mừng rỡ, nhặt mau cái đẫy vải lăn trên bãi cỏ chạy ra đường. Gió thổi mạnh. Mấy người ngồi xe đạp chẳng nghe thấy gì, song họ đều ngẩng đầu tò mò trông khi Bính trong vườn xô ra. Bính cố giữ tự nhiên, lẳng lặng rảo bước một lát tới đầu phố. Trống ngực Bính vẫn đập rộn. Cảnh vật vẫn u ám! Bính len lét đến trước một cái hiên rộng, ngồi thở. Đồng hồ ở trong nhà vắng lên mười một tiếng.
(4) Đường sá càng vắng tanh, vắng ngắt. Bính rùng mình. Đêm nay đối với Bính mới dài và cực nhục làm sao! Còn ê chề, cay đắng hơn cả một năm lam lũ! Bính nép người bên góc tường, gục mặt vào bàn tay, tê tái những cảm xúc đau xót sôi nổi trong lòng. Bính càng mỏi mệt, ròng rã một ngày, Bính đi không mấy lúc nghỉ chân. Đã thế lại vừa phải chống cự với thằng đểu kia nên hai đầu gối Bính mỏi dừ, bụng cồn cào ngâm ngẩm đau. Gió đêm như ru, Bính chợp mặt thiu thiu ngủ.
Bỗng không biết từ đâu đưa tới tiếng trẻ con khóc oe oe giống tiếng mèo gào vang động cả trời khuya.
Bính mở choàng mắt, chợt nhớ đến đứa con thơ chưa đầy tháng, tại cha mẹ Bính cay nghiệt, tại cái tục lệ quái ác mà Bính phải xa nó, xa nó không biết bao giờ lại được ôm nó trong lòng. Bính vừa cất tiếng khóc rưng rức thì tiếng khóc kia nín bặt, Bính vụt nghĩ đến đứa bé kia khóc thế nào chả có người vỗ về ru cho bú, còn con Bính thân phận con nuôi con mày, giá đêm khát sữa, thì dù có được chiều chuộng mấy chăng nữa cũng khó mà được bú đêm. Ấy là không kể đến người nuôi dỗ mãi không nín thì thế nào chả phát nó năm bẩy chiếc phát cho bõ cái bực tức bị thức giấc.
(Nguyên Hồng, Bỉ vỏ, NXB Văn học 1985)
(*) Tên văn bản do nhóm biên soạn đặt.
*Nguyên Hồng (1918 – 1982), tên khai sinh Nguyễn Nguyên Hồng, là một nhà văn, nhà thơ. Ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (1910). Vì có một tuổi thơ vô cùng bất hạnh, cay đắng nên ngay từ những tác phẩm đầu tay, Nguyên Hồng đã hướng ngòi bút về những người nghèo khó gần gũi mà ông yêu thương với một sự cảm thông sâu sắc, với tâm hồn của một người từng trải.
Câu 1. Đọc tóm tắt tiểu thuyết và văn bản Bơ vơ để xác định những đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại (0,5đ)
Câu 2. Tóm tắt nội dung văn bản Bơ vơ theo các đoạn đã đánh số và cho biết: Đoạn trích này có vị trí như thế nào đối với việc phản ánh số phận, cuộc đời của Tám Bính? (0,5đ)
Câu 3. Vì sao Bính phải bỏ nhà ra đi (Hãy gắn đoạn trích với phần tóm tắt để lí giải)? Lý do này có ý nghĩa như thế nào? (1đ)
Câu 4. Đọc đoạn số 1,3 và trả lời câu hỏi a,b (1đ)
a. Tình cảnh hiện tại của Tám Bính cơ cực như thế nào?
b. Cô ấy có nhận thức được cảnh ngộ của mình không? Điều này có ý nghĩa gì?
Câu 5. Điều gì khiến Tám Bính nhớ về quê hương và gia đình? Cô nhớ về điều gì nhiều nhất? Đoạn văn bản viết về nỗi nhớ quê của Bính được thuật kể từ điểm nhìn nào? Điểm nhìn đó có vai trò gì đối với văn bản đọc? (1đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Cảm nhận của em về nhân vật Tám Bính trong văn bản đọc hiểu Bơ vơ. Từ đó, nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật và xác định cảm hứng, phong cách sáng tác của văn bản đọc hiểu (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2đ)
Câu 2. (4đ)
Em có đồng tình với việc bỏ nhà ra đi của Tám Bính không? Hiện tượng này có sảy ra với thanh niên hiện nay không? Em hãy biết bài luận (600 chữ) thể hiện chính kiến của mình về hiện tượng này
Đáp án
Câu 1. (0,5đ)
|
Đọc tóm tắt tiểu thuyết và văn bản Bơ vơ để xác định những đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Nội dung phản ánh hiện thực trong phạm vi không gian thời gian rộng lớn: cuộc đời của Tám Bính khi là cô gái trẻ đến khi vào tù; Không gian làng quê và Hải Phòng
- Nhân vật: Nhiều nhân vật thuộc gia đình làng quê, Tám Bính và xã hội – nơi diễn ra cuộc đời lang bạt của Tám Bính. Phản ánh trọn vẹn số phận của Tám Bính: mở đầu là sự lỡ dở (sinh đứa con không cha, kết thúc bi đát là vào tù)
- Cốt truyện với vô số sự kiện về cuộc đời Tám Bính: Tám Bính bỏ nhà đi, vào nhà chứa, Năm Sài Gòn đuổi Bính đi, cô lấy một viên mật thám để có tiền gửi về cứu bố mẹ, Tám Bính cứu Năm Sài Gòn cùng y đi trốn. Kết thúc: chứng kiến con chết, bản thân bị bắt.
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Tóm tắt nội dung văn bản Bơ vơ theo các đoạn đã đánh số và cho biết: Đoạn trích này có vị trí như thế nào đối với việc phản ánh số phận, cuộc đời của Tám Bính? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Tóm tắt:
+ Đoạn 1: Bính bỏ nhà đi đã 4 ngày và vẫn bơ vơ, lo lắng ở Hải Phòng
+ Đoạn 2: Bính nhớ về làng Sòi, về nhà với bao nỗi cay đắng
+ Đoạn 3: Bính bị trêu ghẹo, ăn hiếp nơi phố thị
+ Đoạn 4: Bính bơ vơ, buồn bã và trào lên nỗi thương nhớ con
- Đoạn trích ở phần đầu tiểu thuyết có vai trò mở đầu số phận của nhân vật tiểu thuyết: Tám Bính bỏ nhà ra đi và bắt đầu chuỗi ngày cơ cực tại Hải Phòng, cho số phận khốn cùng của cô
Câu 3 (1 điểm)
|
Vì sao Bính phải bỏ nhà ra đi (Hãy gắn đoạn trích với phần tóm tắt để lí giải)? Lý do này có ý nghĩa như thế nào? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Lí do Bính phải bỏ nhà ra đi:
+ Bố mẹ Bính là người độc ác: chửi rủa Bính; bán con của Bính để lấy tiền tiêu
+ Bính không thể chịu đựng được dư luận, sự đả kích ngay chính quê nhà mình
- Lí do này có giá trị nhân đạo sâu sắc:
+ Tố cáo sự tàn độc của tư tưởng cổ hủ, những con người bất nhân (bố mẹ Bính) đã đẩy Bính vào con đường cùng (khiến Bính hư hỏng sau này)
+ Bênh vực, cảm thông với nỗi khổ của Bính, người con gái nông thôn cả tin này không thể chống đỡ được những cạm bẫy của xã hội
Câu 4 (1 điểm)
|
Đọc đoạn số 1,3 và trả lời câu hỏi a,b a. Tình cảnh hiện tại của Tám Bính cơ cực như thế nào? b. Cô ấy có nhận thức được cảnh ngộ của mình không? Điều này có ý nghĩa gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 1 và 3
Lời giải chi tiết:
a. Tình cảnh hiện tại của Tám Bính:
- Bỏ nhà quê ra phố, hết tiền: Món tiền sáu hào chắt bóp ngót nửa năm trời đã dùng để trả tiền ăn, tiền tàu từ Nam Định ra Phòng mất bốn hào. Còn hai hào thì vừa vặn ăn uống trong hai hôm nay; lang thang trong đêm bị trêu ghẹo, sàm sỡ,…
- Bế tắc, hoang mang tột độ: Bính đi như thế không cần biết rồi sẽ đi tới đâu: “Biết làm sao đêm nay?! Bính lại thấy đêm lạnh và dài lắm”
b. Cô nhận thức được cảnh ngộ của mình:
- Một thân gái quê mùa bỡ ngỡ lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này, gặp những sự không may là thường
- Việc mình bỏ đi sẽ đồn khắp làng: theo trai, đĩ thõa,…
- Ý nghĩa: Bính- cô gái trẻ bất lực, bế tắc trước hoàn cảnh, ý thức được cảnh ngộ nhưng không thể thoát được cảnh ngộ ấy; việc Tám Bính sẽ liên tiếp gặp tai ương trong cuộc đời là tất yếu → tố cáo, lên án xã hội đẩy con người vào cảnh ngộ khốn cùng
Câu 5 (1 điểm)
|
Điều gì khiến Tám Bính nhớ về quê hương và gia đình? Cô nhớ về điều gì nhiều nhất? Đoạn văn bản viết về nỗi nhớ quê của Bính được thuật kể từ điểm nhìn nào? Điểm nhìn đó có vai trò gì đối với văn bản đọc? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về điểm nhìn
Lời giải chi tiết:
- Điều khiến Tám Bính nhớ quê: tiếng đọc kinh đâu đây nhẹ nhàng vang trước gió lạnh, réo rắt và thấm thía,…
- Nhớ về gia đình, cha mẹ:
+ Gia đình chẳng có lấy một chút gì yên vui, thuận hòa, đạo đức. Cha mẹ Bính luôn cắn rứt nhau vì thiếu thốn;
+ Chửi mắng hành hạ Bính vì Bính không biết mưu tính gian lận
+ Bố mẹ mình là giả dối, che mắt thế gian
- Đoạn được thuật kể từ điểm nhìn bên trong của nhân vật
- Vai trò của đoạn: khắc họa tâm lí nhân vật, nỗi đau khổ của cô gái trẻ, lí giải việc Tám Bính phải bỏ nhà ra đi, phản ánh một chặng đường đời của nhân vật chính
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2 điểm)
|
Cảm nhận của em về nhân vật Tám Bính trong văn bản đọc hiểu Bơ vơ. Từ đó, nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật và xác định cảm hứng, phong cách sáng tác của văn bản đọc hiểu (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các chi tiết xây dựng nhân vật để phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật và phong cách sáng tác
Lời giải chi tiết:
Triển khai viết: văn bản có 3 đoạn nhỏ hoặc đoạn lớn (đảm bảo đủ các nội dung
mà câu hỏi đã yêu cầu).
- Xác định một số đặc điểm nổi bật của nhân vật:
+ Cô gái hiền lành chân chất của thôn quê (không như ai giảo hoạt, tinh ranh).
+ Cô gái chịu nhiều đau khổ (cha mẹ mắng chửi, phải bỏ nhà ra đi,...); giàu tình yêu thương (yêu nhớ đứa con khôn nguôi).
+ Cô gái có những đánh giá về con người cuộc sống (Bố mẹ mình là giả dối, che mắt thế gian; đọc kinh, hỏi để làm gì?; một thân gái quê mùa đi bỡ ngỡ lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này,...).
+ Lâm vào tình cảnh bế tắc. (Học sinh tự lấy dẫn chứng)
(Học sinh có thể phân tích ngắn gọn 2–3 đặc điểm nổi bật của nhân vật và có
dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp.)
– Nghệ thuật xây dựng nhân vật: chú trọng diễn biến tâm lí qua độc thoại nội
tâm, hồi ức,... một số hành động)
- Cảm hứng và phong cách sáng tác của tác phẩm.
+ Cảm hứng thương cảm, phê phán.
+ Phong cách hiện thực. (Học sinh tự lấy dẫn chứng).
Câu 2. (4đ)
|
Em có đồng tình với việc bỏ nhà ra đi của Tám Bính không? Hiện tượng này có sảy ra với thanh niên hiện nay không? Em hãy biết bài luận (600 chữ) thể hiện chính kiến của mình về hiện tượng này |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Em có đồng tình với việc bỏ nhà ra đi của Tám Bính không? Hiện tượng này có sảy ra với thanh niên hiện nay không? Em hãy biết bài luận (600 chữ) thể hiện chính kiến của mình về hiện tượng này |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề nghị luận (xác định vấn đề của tuổi trẻ) - Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ |
|
Thân bài |
3,0 |
* Thái độ đối với việc bỏ nhà ra đi của Tám Bính - Tóm tắt ngắn gọn hành động, lí do Tám Bính bỏ nhà ra đi (suy nghĩ về bố mẹ và gia đình) - Phân tích ngắn gọn hậu quả trong hiện tại, tương lai (căn cứ vào số phận của Tám Bính qua tiểu thuyết Bỉ vỏ) - Thể hiện thái độ đồng tình/ không đồng tình * Hiện tượng bỏ nhà đi của thanh niên ngày nay - Một bộ phận hành xử thiếu suy nghĩ: bỏ nhà đi - Hậu quả đối với bản thân, gia đình, xã hội → Dùng lí lẽ, dẫn chứng mở rộng vấn đề (Các góc nhìn về vấn đề; tính hai mặt của vấn đề) *Ý kiến của cá nhân về hiện tượng |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề - Hành động của cá nhân (trong tình huống giả định) |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng các thao tác phân tích so sánh, tổng hợp, chứng minh - Dẫn chứng phong phú, đa dạng phù hợp tới lí lẽ, luận điểm |
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
CƠN ĐAU DÀI
(Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn Kháng)
Tóm tắt tác phẩm “Mùa lá rụng trong vườn”
Mùa lá rụng trong vườn kể về gia đình ông Bằng, một nhân viên bưu điện đã nghỉ hưu tại Hà Nội. Ông Bằng có năm người con trai. Anh cả Tường đã hi sinh ngoài mặt trận, vợ anh là Hoài đã tái giá nhưng vẫn thường xuyên viết thư thăm hỏi gia đình. Đông là anh hai, trung tá đã xuất ngũ, sống cuộc sống đơn giản; Lí, cô con dâu đảm đang, nhanh nhẹn. Con trai thứ ba của ông là Luận, một nhà báo có nhiều trăn trở, suy tư về cuộc sống. Vợ anh là Phượng, một người tốt bụng, luôn sẵn lòng giúp đỡ mọi người. Người con thứ tư – Cừ, lại hư hỏng, không nghe lời cha mẹ, đã từng bị đuổi khỏi quân đội. Cuối cùng, em út Cần đang đi học ở Liên Xô, sắp về nước.
Bi kịch ập tới khi Cừ bỏ việc ở xí nghiệp, trốn ra nước ngoài, bỏ lại vợ và hai con nhỏ.
Sau khi trốn sang Canada, Cừ mới nhận ra lỗi lầm của mình thì đã muộn. Anh liền gửi bức thư cuối cùng về nhà trước khi uống thuốc tự tử. Nhận được thư, bệnh cao huyết áp của ông Bằng tái phát, khiến ông phải nhập viện, rồi qua đời. Đồng thời, vợ và hai con trai của Cừ vô cớ bị sa thải khỏi nông trường, phải đến ở nhờ nhà ông Bằng, rồi nhà chị Hoài. Trước tình cảnh khó khăn, Luận, Phượng và Hoài đã tỏ rõ mình là những người có tinh thần trách nhiệm cao đẹp, thương người như thể thương thân.
Lí chán chường khi sống cạnh Đông, nên khi ông trưởng phòng ở cơ quan dụ dỗ, Lí đã đi công tác Sài Gòn gần tháng trời với ông ta, hưởng lạc, bỏ bê gia đình. Chỉ tới lúc đã đi khỏi nhà, chị mới nhận ra lỗi sai của mình, viết thư tỏ ý muốn quay trở về. Câu chuyện kết thúc vào một đêm giáp Tết, khi mọi người nhận được thư của Lí.
Đoạn trích sau là chương 18 của tác phẩm "Mùa lá rụng trong vườn"
(1)... đêm đêm Luận nằm ngủ có lúc giật mình tỉnh giấc. Quả khô, cành khô rụng lá trên mái nhà như chạm vào nỗi xôn xao thương nhớ. Đông co ro trong
giá lạnh. Đã thôi chửi đời và thôi nguyền rủa Lí. Nhưng nỗi đau thì mỗi ngày một ngấm thêm. Đông hiểu, anh vừa mất đi một cái gì hệ trọng và thân thiết quá. Lần giở từng trang đời đã xa, anh nghiệm ra: Lí có nhiều thói xấu, nhưng sống bên chị, về cơ bản, anh vẫn thoải mái, yên vui. Chị là sắc màu, là nhịp điệu đời sống lúc nào cũng lấp lánh, tưng bừng bên anh. Với anh, chị là một người mẹ, một người chị tận tình.
Gian buồng, căn nhà, khu vườn còn nhắc nhở bao kỉ niệm thiết tha, còn vang ngân tiếng chị, còn lưu giữ vẹn nguyên bóng hình chị. Khi bị mất rồi, anh mới hiểu biết giá trị của cái không còn. Đau đớn ngấm đến tận nơi sâu thẳm nhất, anh lại nổi cơn khùng, nhưng lần này ngấm ngầm và chỉ trút nỗi căm hờn vào kẻ đã quyến rũ vợ anh – gã Trưởng phòng Vật tư khốn nạn.
Trong bữa cơm với gia đình Luận, Đông có nói tới gã trưởng phòng nọ với lời đe doạ: nó gây gió, nó phải chịu bão. Luận giật mình thấy mắt Đông lúc ấy mất hết thần sắc y như khi Đông túm cổ áo Luận và lúc nói sẽ bắn chết thằng Cừ.
Phượng lo lắng bảo chồng: “Anh Luận, nên trông nom, theo sát anh Đông, ngộ nhỡ có chuyện gì..” Luận lên ở cùng buồng với Đông, anh muốn khuây khoả và kiềm chế ông anh: con người quen sống giản lược, bị dồn vào bức bách dễ manh động bột phát lắm.
Một buổi chiều, hai người ngồi uống nước và nghe nhạc Vácne. Bỗng Đông hỏi:
– Nhạc Vácne hùng tráng đấy chứ, có gì mà ông cụ không thích nhỉ?
– Chỉ vì nghe em nói Hitle nó thích nhạc ông này thôi. – Luận đáp. – Anh thấy không, ông cụ là người có học còn vậy. Con người có những định kiến cố định, phá vỡ, đổi thay không dễ đâu.
Đông im, như nghĩ ngợi. Lát sau, Luận tiếp:
- Con người vượt ra khỏi cái quy định là rất khó. Em không muốn nói ngoại cảnh, thời đại, mà nói cái đã bị quy định ở trong mỗi con người.... Chị Lí cũng vậy. Chị là nạn nhân của chính mình. Và anh, anh nên rút kinh nghiệm.
Nói cái ý cuối cùng, Luận đã đắn đo mãi. Luận nghĩ: “Đông đã bình tâm, nên nói để Đông xem xét lại mình và tìm cách cứu vãn tình hình. Nhưng, Đông vụt
đứng dậy:
- Chẳng lẽ tôi là thằng khốn nạn à?
- Anh không hiểu ý em.
- Tôi, mấy chục tuổi Đảng, tuổi quân, có mặt ở chiến trường suốt hai cuộc kháng chiến, tôi là thằng đểu giả, lừa lọc, phản bội, lưu manh, côn đồ à? Vì chịu ảnh hưởng của tôi mà cô ấy hư hỏng à?
Đông nói dồn dập gay gắt và vẫn không vượt được ra khỏi sự sơ lược trong suy nghĩ. Luận ngắt lời anh, giọng hơi bực:
- Không ai trẻ con, ngu dốt đến mức quy kết như thế! Anh tốt, nhưng anh chưa đủ những đức tính cần thiết. Cuộc sống phức tạp. Nhưng phải sống thực sự với nó, phải có trách nhiệm với nó, vì nó. Nói cụ thể là phải có trách nhiệm với cả từng con người. Càng ngày mỗi cá thể càng nổi lên, có vị trí quan trọng vô cùng
trong cuộc sống.
Đang trong cơn phẫn khích, Đông không kìm được, cắt ngay lời Luận:
- Chỉ có vấn đề, nếu nói từ gốc, là tôi chọn nhầm thôi. Cậu lí luận đặc sệt sách vở. Chiến tranh, tất cả tâm lực phải dành cho việc đánh giặc. Người ở nhà phải tự lo lấy. Cô ấy hư đốn lẽ nào tôi phải chịu trách nhiệm?
Đông lại phải tuột những ý nghĩ tốt đẹp về Lí, lại rơi vào trạng thái thần kinh căng thẳng. Lại văng ra lời chửi rủa Lí, gã trưởng phòng và các thói tệ tư sản. Lát sau, những mặc cảm nhục nhã trỗi dậy, cay nhức tâm trí anh, anh rơi hẳn vào cuồng nộ.
Đến cao điểm, Đông tiến đến trước mặt Luận, hai mắt đỏ nọc và giọng lạc đi:
Cậu mà con bênh con đĩ ấy hả? Trời ơi sao tôi không chết luôn lúc tiến đến
cửa ngõ Sài Gòn cho rồi!
Luận ứa nước mắt vì câu kêu trời đau đớn ấy của Đông. Đông đứng lặng, to
lớn, run rẩy, đầu bạc phếch, nước mắt xối trên hai gò má xám.
(2) Chính lúc ấy, Phượng ra mở cổng vì có tiếng chuông gọi. Người gọi cổng
chào Phượng, tự giới thiệu là Cán bộ Tổ chức xí nghiệp Lí cần gặp chồng Lí vì
một việc rất cần kíp.
Đông vội lau mặt, Luận sửa soạn ấm chén xong, quay vào cái tủ sách, tiếp tục xếp dọn tư liệu, sách vở của cha. Đúng như Luận dự đoán, anh cán bộ Tổ chức sau khi hỏi qua về quan hệ vợ chồng Đông – Lí, nhìn thẳng vào mặt Đông, giọng thật nghiêm trang:
- Xin báo để anh biết, hiện giờ chị Lí sống chung như vợ chồng chính thức với một người đàn ông. Anh này nguyên là Trưởng phòng Vật tư đơn vị chúng tôi, vừa rồi đã bị chúng tôi khởi tố vì tội tham ô. Nay, tình hình như vậy, chúng tôi
quyết định kỉ luật sa thải chị ấy. Về việc này gia đình ta có ý kiến gì không? Đang quay mặt vào cái tủ sách, vờ như đang xếp dọn, để dõi theo câu chuyện,
Luận quay phắt ngay lại, vai đập đánh thình vào cánh tủ, cố kìm giữ để khỏi bật
tiếng kêu kinh sợ. Anh càng kinh sợ hơn khi nhìn thấy Đông như bất động trong
lòng ghế, bàn tay dày xoè rộng úp vào mặt, trong khi hai ngón cái và ngón trỏ bấm chặt vào hai bên thái dương. Đông đang tê dại trước một sự phũ phàng. Trong Luận lại vang lên lời kêu gào thống thiết: Anh Đông phải có ý kiến ngay đi! Không thể xử lí như vậy được!
Mặt Đông nùng nục bỗng nghiêm lại một cách ngờ nghệch, biến thái của cơn đau thất thần, lạc trí và mỗi Đông hé mở, thoát ra một giọng nói gần như tuyệt vọng:
– Cái đó thì... tuỳ các đồng chí thôi!
Luận run hết cả người lên, vừa lo sợ vừa giận dữ, Luận chỉ muốn nhảy lại quát tướng vào mặt Đông và anh cán bộ nọ. Sao các anh lại quyết định một việc hệ trong như thế trong khi thần kinh các anh không bình thường. Và anh Đông, qua
sự việc này, tôi có thể nói anh là một kẻ vô trách nhiệm hoàn toàn!
Luận lao xuống gác, đuổi theo người cán bộ nọ, tâm não bừng bừng trong
cơn gào thét dữ dội và âm thầm:
- Đồng chí ơi, chính tôi đã nghe thấy các đồng chí ở xí nghiệp khen ngợi chị
Lí hết mực. Tội trạng chị ấy chưa đáng đến mức kỉ luật ấy. Xử lí chị ấy như vậy là dứt khoát đẩy chị ấy xuống bùn, là cắt đường trở về của chị ấy. Đồng chí không nên căn cứ vào ý kiến của anh Đông. Anh ấy lúc này còn đâu là sáng suốt! Các đồng chí nên gặp chị Lí một lần nữa đi.
Nhưng người cán bộ nọ đã đi.
(3) Quay vào khu vườn, phong phanh một chiếc áo len mỏng mà người Luận nóng bừng. Lòng giận sôi lên, anh ngước lên nhìn buồng Đông. Đông vừa bật đèn. Đông vừa vặn máy hát. Không! Không thể hời hợt và vô trách nhiệm như thế! Con người thông minh và đần độn, mạnh mẽ và yếu ớt thảm hại. Dưới tác động của một ngẫu nhiên bất hạnh rất nhỏ thôi, đời một con người cũng có thể xoáy lật ngược chiều tức khắc. Con người, cần phải được thể tất, cần phải đỡ nâng, dắt dìu. Ngay ngày mai Luận phải đến cái xí nghiệp ấy để phản bác cái quyết định tắc trách của họ với Lí. Đời Lí lại thêm một hiểm hoạ, phải nhanh tay cứu chị ấy.
Lúc ấy, Phượng vừa tưới rau và vun cây quất xong. Chị ghếch cái cán cuốc vào thân cây táo, hồi hộp lo lắng vì thấy Luận mắt đăm chiêu vừa từ cổng đi vào, ngồi xuống cái ghế đá và úp mặt vào hai lòng bàn tay.
- Anh Luận. Anh vào ăn cơm đi.
– Phượng à... anh buồn quá, em ạ.
Luận ngẩng lên. Ngước theo hai cánh tay Phượng vừa nâng từ từ lên cao, vòng ra sau gáy, vơ mái tóc cặp lại, anh nhận ra hai cánh tay Phượng mảnh dẻ quá, gầy guộc quá, tiều tuỵ quá. Nao dậy trong anh nỗi lo thắt ruột gan: Phượng đã có mang được ba tháng.
– Anh Luận ạ, số tiền ông để lại ba nghìn. Tang lễ cho cụ mất một nghìn rưởi. Còn một nghìn rưởi. Em định gửi cho mẹ con thằng Quân anh, Quân em. Không thấy Luận đáp, chị hiểu chồng chị đang phân tâm và chính chị đang sốt ruột muốn biết người ở xí nghiệp Lí mang tin gì đến.
Luận quay lại, lẫn trong tiếng thở dài: Chị Lí bị sa thải rồi, em ạ. Phượng bỗng thấy rét run. Có cảm giác nỗi sợ hãi truyền kiếp vừa phát sinh từ bóng tối hư huyền trong khu vườn đang ám ảnh chị, làm chị nổi gai và gây gây như là lên cơn sốt. [...].
(Ma Văn Kháng, Mùa lá rụng trong vườn, NXB Trẻ, 2011)
(*) Tên văn bản do nhóm biên soạn đặt.
* Ma Văn Kháng (sinh năm 1936, tên khai sinh là Đinh Trọng Đoàn) là một nhà văn nổi bật của nền văn học đương đại Việt Nam nửa năm sau thế kỉ XX, đặc biệt từ khi bắt đầu thời kì Đổi mới.
Câu 1. Tóm tắt (từ 3-5 dòng) văn bản Cơn đau dài và cho biết vị trí, vai trò của văn bản đối với tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn (0,5đ)
Câu 2. “Đặc điểm nổi bật nào của thể loại tiểu thuyết thể hiện trong văn bản Cơn đau dài”? Hãy phân tích đôi nét làm rõ đặc điểm đó? (0,5đ)
Câu 3. Vì sao Đông rơi vào trạng thái đau đớn? Phân tích tính cách tiêu biểu của nhân vật Đông; từ đó, nêu những đánh giá của tác giả, của em về nhân vật này (0,5đ)
Câu 4. Em hãy đánh giá thành công đặc sắc của văn bản Cơn đau dài (nội dung, hình thức). Hãy trả lời bằng văn bản (tùy chọn hình thức đoạn nhỏ/ văn bản nhỏ) (0,5đ)
Câu 5. Nhà văn muốn nói điều gì với độc giả qua 2 lời nói, suy nghĩ sau đây của nhân vật Luận? Từ đó hãy nêu bức thông điệp em nhận được từ văn bản đọc hiểu trên (1đ)
|
a. Lời nói của Luận với Đông Cuộc sống phức tạp. Nhưng phải sống thực sự với nó, phải có trách nhiệm với nó, vì nó. Nói cụ thể là phải có trách nhiệm với cả từng con người. Càng ngày mỗi cá thể càng nổi lên, có vị trí quan trọng vô cùng trong cuộc sống, nó đòi hỏi ta phải chăm sóc |
b. Suy nghĩ của Luận sau việc của Lí Con người thông minh và đần độn, mạnh mẽ và yếu ớt thảm hại. Dưới tác động của một ngẫu nhiên bất hạnh rất nhỏ thôi, đời một con người cũng có thể xoáy lật ngược chiều tức khắc. Con người, cần phải được thể tất, cần phải đỡ nâng, dắt dìu. |
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Em có đồng ý với quan điểm, cách ứng xử của Luận sau đây không? (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2đ)
Ngay ngày mai Luận phải đến cái xí nghiệp ấy để phản bác cái quyết định tắc trách của họ với Lí. Đời Lí lại thêm một hiểm họa, phải nhanh tay cứu chị ấy
Từ đó, hãy nhận xét về Luận và vai trò của nhân vật này trong đoạn trích “Cơn đau dài”
Câu 2. (4đ)
Từ văn bản đọc hiểu “Cơn đau dài” (Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng), em hãy viết văn bản (600 chữ) bàn luận, thể hiện quan điểm của mình về mối quan hệ giữa cá nhân và trách nhiệm của mỗi cá nhân khi gia đình có người gặp biến cố (xoáy lật ngược chiều)
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Tóm tắt (từ 3-5 dòng) văn bản Cơn đau dài và cho biết vị trí, vai trò của văn bản đối với tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đối chiếu văn bản với chỉnh thể tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn
Lời giải chi tiết:
- Đông nghĩ về Lí, trò chuyện, tranh luận với Luận về Lí và cho rằng Lí hư hỏng không có lỗi của mình. Cơ quan Lí đến thông báo: Lí ăn ở với tên tưởng phòng vật tư nên bị sa thải. Đông đau đớn tột cùng và chấp nhận sự thật, Luận buồn bã, thương Lí và muốn cứu Lí trong tuyệt vọng
- Văn bản Cơn đau dài nằm ở gần cuối tác phẩm phản ánh một bi kịch gia đình ông Bằng và vợ chồng Đông Lí, thể hiện tính cách, nỗi đau của nhân vật Đông Lí
Câu 2 (0,5 điểm)
|
“Đặc điểm nổi bật nào của thể loại tiểu thuyết thể hiện trong văn bản Cơn đau dài”? Hãy phân tích đôi nét làm rõ đặc điểm đó |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại đặc điểm thể loại tiểu thuyết
Lời giải chi tiết:
- Nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư; quan tâm đến cái thường ngày, cái đang diễn biến với cách tiếp cận gần gũi; không lí tưởng hóa hiện thực;
+ Cái đang diễn biến với cách tiếp cận gần gũi: việc cơ quan Lí đến thông báo sa thải Lí, ứng xử của Đông và ý nghĩ của Luận)
- Nhân vật là “con người nếm trải”, có quá trình phát triển nhiều khi quanh co, phức tạp: diễn biến tâm lí của Đông (đang nghĩ tốt đẹp về Lí; hùng hổ gọi Lí là con đĩ; đau đớn tột cùng, chỉ biết ôm mặt)
- Phản ánh mâu thuẫn, tâm lí và xung đột giữa các quan điểm: cách nhìn đời bao dung, sâu sắc của Luận và cách nhìn đơn giản lược của Đông. Ông Bằng không thích nhạc Vácne chỉ vì nghe Luận nói Hít – le cũng thích nhạc ông này
Câu 3 (0,5 điểm)
|
Vì sao Đông rơi vào trạng thái đau đớn? Phân tích tính cách tiêu biểu của nhân vật Đông; từ đó, nêu những đánh giá của tác giả, của em về nhân vật này (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và lí giải nguyên nhân
Chú ý các chi tiết thể hiện tính cách của nhân vật Đông
Nêu quan điểm của bản thân về nhân vật
Lời giải chi tiết:
- Vì Lí rất thân thiết với Đông, anh nhìn thấy những ưu điểm của Lí nên khi bị mất rồi, anh mới hiểu giá trị của Lí. Đau đớn ngấm đến tận nơi sâu thẳm nhất, anh lại nổi cơ khùng; vì Luận nói về Lí và trách nhiệm của Đông về sự thay đổi của Lí
- Nhân vật Đông:
+ Người lính trở về từ chiến trận, nhìn con người hết sức đơn giản: Chiến tranh, tất cả tâm lực phải giành cho việc đánh giặc. Người ở nhà phải tự lo lấy
→ Đông cho rằng Lí hư là tại cô ấy, không phải do chồng, Đông quan niệm chưa đúng về mối quan hệ, sự ràng buộc vợ chồng, trong gia đình
+ Đông là người thô lỗ, cục cằn: chửi rủa Lí, gã trưởng phòng và các thói tệ tư sản
+ Đông đang nếm trải nỗi đau và rơi vào bế tắc đau đớn: Trời ơi sao tôi không chết luôn lúc tiến đến cửa ngõ
- Đánh giá của tác giả về Đông: Đông nói dồn dập, gay gắt và vẫn không vượt được ra khỏi sự sơ lược trong suy nghĩ; Anh tốt nhưng anh chưa đủ những đức tính cần thiết. Cuộc sống phức tạp. Nhưng phải sống thực sự với nó, phải có trách nhiệm với nó, vì nó → Tác giả phê phán ứng xử và suy nghĩ của Đông qua lời người kể chuyện và qua Luận. Chính Đông đã để tuột mất hạnh phúc gia đình và bây giờ chính Đông phải chịu nỗi đau đó
- Đánh giá của cá nhân: Học sinh tự trả lời theo quan điểm cá nhân
Câu 4 (0,5 điểm)
|
Em hãy đánh giá thành công đặc sắc của văn bản Cơn đau dài (nội dung, hình thức). Hãy trả lời bằng văn bản (tùy chọn hình thức đoạn nhỏ/ văn bản nhỏ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý nhận xét, đánh giá về nội dung và hình thức
Lời giải chi tiết:
– Nội dung:
+ Phản ánh số phận con người trong những mối quan hệ cuộc sống phức tạp với tất cả những mâu thuẫn, tâm lí và xung đột gay gắt trong lối sống, quan điểm sống qua nhân vật Đông, Luận;
+ Truyền tải nhiều thông điệp về cách nhìn nhận đánh giá con người, ứng xử khi người thân lầm lỡ; sống có trách nhiệm (qua nhân vật Luận).
– Nghệ thuật:
+ Miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật – nỗi đau, sự bế tắc, bất lực, lối sống thờ ơ của Đông qua sự luân chuyển của các điểm nhìn trần thuật (bên trong, bên ngoài, người kể chuyện, nhân vật) với những khúc quanh phức tạp; qua đối thoại, độc thoại, biểu hiện bên ngoài (Đau đớn ngấm đến tận nơi sâu thẳm nhất, anh lại nổi cơn khùng, nhưng lần này ngấm ngầm và chỉ trút nỗi căm hờn vào kẻ đã quyến rũ vợ anh. Đông tiến đến trước mặt Luận, hai mắt đỏ nọc và giọng lạc đi. Đông đứng lặng, to lớn, run rẩy, đầu bạc phếch, nước mắt xối trên hai gò má xám; Đông như bất động trong lòng ghế, bàn tay dày xoà rộng úp vào mặt, trong khi hai ngón cái và ngón trỏ bấm chặt vào hai bên thái dương. Đông đang tê dại trước một sự phũ phàng; Đông vừa bật đèn. Đông vừa vặn máy hát.).
+ Khắc hoạ nhân vật: Nhân vật Lí chỉ hiện lên gián tiếp mà rất rõ nét (ưu điểm,
nhược điểm, cảnh ngộ hiện tại) qua suy nghĩ của Đông và đối thoại của Đông Luận và một sự việc (người của cơ quan đến thông báo sa thải).
Câu 5 (1 điểm)
|
Nhà văn muốn nói điều gì với độc giả qua 2 lời nói, suy nghĩ sau đây của nhân vật Luận? Từ đó hãy nêu bức thông điệp em nhận được từ văn bản đọc hiểu trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ 2 lời nói, suy nghĩ
Đặt 2 lời nói, suy nghĩ đó vào từng bối cảnh cụ thể để phân tích thông điệp của tác giả
Nêu quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Nhà văn muốn nói:
a. Xã hội phức tạp, có khả năng làm tha hóa con người, con người cá nhân đòi hỏi được đề cao, vì vậy, mỗi người cần có trách nhiệm với cuộc sống, với người thân của mình
b. Con người thông minh, đần độn đều chịu nhiều tác động của xã hội khiến cuộc sống phải đối mặt với biến động, thất bại nên cần được tha thứ, đỡ nâng, dắt dìu
- Bức thông điệp: Học sinh tự đúc rút (cần sát với nội dung của văn bản: cách nhìn nhận đánh giá con người, ứng xử khi người thân lầm lỡ; sống có trách nhiệm…)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1.
|
Em có đồng ý với quan điểm, cách ứng xử của Luận sau đây không? (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn đã được học
Nêu quan điểm, ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
Đoạn thể hiện đủ, cân đối các nội dung đã yêu cầu ở trong đề (ở các gợi ý sau):
- Học sinh tự thể hiện quan điểm cá nhân về 2 nội dung: đồng ý với quan điểm, cách ứng xử của Luận; nhận xét về Luận (cần mạch lạc, thuyết phục)
- Vai trò của nhân vật Luận trong đoạn trích:
+ Thể hiện quan điểm tư tưởng (sống, nhân đạo) của nhà văn Ma Văn Kháng
+ Tạo nên nét tương phản với nhân vật Đông
+ Thể hiện vấn đề của con người, gia đình thời hiện đại
Câu 2.
|
Từ văn bản đọc hiểu “Cơn đau dài” (Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng), em hãy viết văn bản (600 chữ) bàn luận, thể hiện quan điểm của mình về mối quan hệ giữa cá nhân và trách nhiệm của mỗi cá nhân khi gia đình có người gặp biến cố (xoáy lật ngược chiều) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Từ văn bản đọc hiểu “Cơn đau dài” (Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng), em hãy viết văn bản (600 chữ) bàn luận, thể hiện quan điểm của mình về mối quan hệ giữa cá nhân và trách nhiệm của mỗi cá nhân khi gia đình có người gặp biến cố (xoáy lật ngược chiều) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề nghị luận (từ Cơn đau dài, Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng) - Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ |
|
Thân bài |
3,0 |
* Về vấn đề từ văn bản đọc - Tóm tắt vấn đề: Mối quan hệ giữa các cá nhân và trách nhiệm của mỗi cá nhân khi gia đình có người gặp biến cố (trong văn bản đọc) - Nhận xét ngắn gọn về ứng xử của hai cá nhân (Đông, Luận trong văn bản Cơn đau dài) * Bàn luận về vấn đề - Mối quan hệ của cá nhân với gia đình truyền thống của dân tộc - Về tính độc lập từ quan niệm hiện đại ngày nay (ảnh hưởng từ một số quan niệm phương Tây) (qua biểu hiện, ví dụ cụ thể, phân tích tính hai mặt của vấn đề,…) *Quan niệm, chính kiến của bản thân - Nêu quan niệm, lối sống (phân tích ưu điểm, hạn chế) - Ứng xử, hành động của cá nhân để hạn chế nhược điểm của quan điểm sống (đã lựa chọn) |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề - Hành động của cá nhân (trong tình huống giả định) |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng các thao tác phân tích so sánh, tổng hợp, chứng minh - Dẫn chứng phong phú, đa dạng phù hợp tới lí lẽ, luận điểm |
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 4
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.
Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Còn non, còn nước, còn người, Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay! Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.
(Trích Di chúc, Hồ Chí Minh, Di chúc của Chủ tich Hồ Chí Minh, NXB Trẻ, tr.4,5).
Câu 1 (1.0 điểm): Theo đoạn trích, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định điều gì về đoàn viên thanh niên?
Câu 2 (1.0 điểm): Tác giả sử dụng những từ ngữ nào để miêu tả phẩm chất của đoàn viên thanh niên và nhân dân lao động trong đoạn trích?
Câu 3 (1.0 điểm): Biện pháp tu từ liệt kê có tác dụng gì trong đoạn văn sau: Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.?
Câu 4 (1.0 điểm): Tại sao đoạn văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau?
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Dựa vào đoạn văn phần Đọc hiểu và tình hình thực tế, anh/chị hãy đề xuất một kế hoạch cụ thể để nâng cao đời sống của nhân dân lao động, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa. Kế hoạch này cần bao gồm các biện pháp phát triển kinh tế và văn hóa cụ thể nào?
Câu 2 (4.0 điểm) Anh/chị hãy viết bài nghị luận trình bày tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên trong bối cảnh hiện nay.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Theo đoạn trích, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định điều gì về đoàn viên thanh niên? |
Phương pháp:
Chú ý phần mở đầu của đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Theo đoạn trích, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ.
Câu 2.
|
Tác giả sử dụng những từ ngữ nào để miêu tả phẩm chất của đoàn viên thanh niên và nhân dân lao động trong đoạn trích? |
Phương pháp:
Chú ý các từ ngữ được sử dụng để miêu tả phẩm chất của đoàn viên thanh niên và nhân dân lao động.
Lời giải chi tiết:
- Các từ ngữ để miêu tả phẩm chất của đoàn viên thanh niên: hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ, vừa “hồng” vừa “chuyên”.
- Các từ ngữ để miêu tả phẩm chất của nhân dân lao động: anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù, trung thành với Đảng.
Câu 3.
|
Biện pháp tu từ liệt kê có tác dụng gì trong đoạn văn sau: Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.? |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về biện pháp liệt kê
Lời giải chi tiết:
Tác dụng: Nhấn mạnh tinh thần quyết tâm chiến đấu và chiến thắng của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, nó khẳng định niềm tin chắc chắn vào tương lai tươi sáng, trong đó nước ta sẽ thống nhất, nhân dân được sum họp, đất nước có vinh dự lớn trên trường quốc tế.
Câu 4.
|
Tại sao đoạn văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau? |
Phương pháp:
Đọc kĩ nội dung đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là vô cùng quan trọng vì thanh niên chính là tương lai của đất nước, là lực lượng kế thừa và phát huy những thành tựu cách mạng. Nếu thế hệ trẻ được giáo dục tốt về đạo đức cách mạng, họ sẽ có đủ phẩm chất và năng lực để tiếp tục xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước phát triển bền vững.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Dựa vào đoạn văn phần Đọc hiểu và tình hình thực tế, anh/chị hãy viết một đoạn văn đề xuất một kế hoạch cụ thể để nâng cao đời sống của nhân dân lao động, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa. Kế hoạch này cần bao gồm các biện pháp phát triển kinh tế và văn hóa cụ thể nào? |
Phương pháp:
Xác định được mục tiêu, vấn đề cần nghị luận và lập luận phù hợp
Lời giải chi tiết:
Để nâng cao đời sống của nhân dân lao động, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, cần có những giải pháp thiết thực nhằm phát triển cả kinh tế lẫn văn hóa. Đây không chỉ là nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, đảm bảo cuộc sống ổn định và bền vững cho người dân. Về kinh tế, cần đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường giao thông, điện, nước sạch để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt. Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi để người dân phát triển mô hình kinh tế phù hợp như trồng trọt, chăn nuôi theo hướng công nghệ cao. Đồng thời, cần tổ chức các lớp đào tạo nghề, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất và tạo cơ hội việc làm cho lao động địa phương. Về văn hóa - xã hội, cần đầu tư xây dựng trường học, nâng cao chất lượng giáo dục để con em vùng sâu, vùng xa có cơ hội học tập tốt hơn. Hệ thống y tế cần được củng cố, với các trạm xá, bệnh viện có đủ thiết bị và nhân lực y tế để chăm sóc sức khỏe cho người dân. Ngoài ra, việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thông qua các hoạt động văn hóa - nghệ thuật, lễ hội truyền thống cũng rất quan trọng, giúp người dân gắn kết cộng đồng và giữ gìn bản sắc quê hương. Những biện pháp trên sẽ giúp cải thiện đáng kể chất lượng sống của người dân vùng sâu, vùng xa, góp phần xây dựng một xã hội phát triển toàn diện và bền vững.
Câu 2.
|
Anh/chị hãy viết bài nghị luận trình bày tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên trong bối cảnh hiện nay. |
Phương pháp:
I. Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề bằng cách đề cập đến vai trò to lớn của thanh niên trong sự phát triển của đất nước.
- Nêu vấn đề nghị luận: Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên không chỉ là nhiệm vụ quan trọng mà còn là yêu cầu cấp bách trong bối cảnh xã hội hiện nay.
II. Thân bài:
1. Giáo dục đạo đức cách mạng là gì?
- Đạo đức cách mạng là những phẩm chất tốt đẹp như yêu nước, trung thực, cần cù, trách nhiệm, đoàn kết, có ý chí phấn đấu vì lợi ích chung.
- Giáo dục đạo đức cách mạng giúp thanh niên có bản lĩnh vững vàng, không bị sa ngã trước cám dỗ của xã hội.
2. Tầm quan trọng của giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên:
- Xây dựng thế hệ kế thừa xứng đáng: Thanh niên là lực lượng nòng cốt của đất nước, nếu không có đạo đức cách mạng, họ dễ rơi vào lối sống thực dụng, xa rời lý tưởng tốt đẹp.
- Góp phần bảo vệ và phát triển đất nước: Một thế hệ trẻ có ý thức trách nhiệm sẽ góp phần bảo vệ Tổ quốc, xây dựng xã hội giàu mạnh, văn minh.
- Định hướng lối sống tích cực: Giúp thanh niên tránh xa các tệ nạn xã hội, có lý tưởng cao đẹp và đóng góp nhiều hơn cho cộng đồng.
3. Giải pháp nâng cao giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên:
- Gia đình và nhà trường: Giáo dục từ nhỏ về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm, ý thức cộng đồng.
- Tổ chức các phong trào, hoạt động đoàn thể: Tham gia các hoạt động xã hội giúp thanh niên hiểu giá trị của lao động và cống hiến.
- Xây dựng tấm gương đạo đức: Tuyên dương những thanh niên sống có lý tưởng, cống hiến cho đất nước.
III. Kết bài:
Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên không chỉ giúp xây dựng một thế hệ trẻ có phẩm chất tốt đẹp, mà còn góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của đất nước. Mỗi cá nhân, gia đình, nhà trường và xã hội cần chung tay để bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ trẻ, giúp họ trở thành những người có đủ tài và đức để tiếp nối truyền thống vẻ vang của dân tộc
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo
Thanh niên là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên trở thành nhiệm vụ cấp thiết nhằm xây dựng một thế hệ trẻ vừa có tri thức, kỹ năng, vừa có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, góp phần đưa đất nước vững bước trên con đường phát triển.
Trước hết, đạo đức cách mạng giúp thanh niên có bản lĩnh vững vàng, kiên định với lý tưởng cách mạng, trung thành với con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Trong một thế giới đầy biến động, trước những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và văn hóa ngoại lai, thanh niên rất dễ bị ảnh hưởng bởi lối sống thực dụng, thiếu ý chí phấn đấu. Vì vậy, giáo dục đạo đức cách mạng giúp họ giữ vững lập trường, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội.
Bên cạnh đó, việc rèn luyện đạo đức cách mạng còn giúp thanh niên hình thành ý thức cống hiến, tinh thần yêu nước và trách nhiệm với cộng đồng. Một thế hệ trẻ có đạo đức sẽ biết đặt lợi ích của dân tộc, đất nước lên trên lợi ích cá nhân, sẵn sàng dấn thân vì những giá trị cao đẹp. Lịch sử đã chứng minh, trong những giai đoạn khó khăn nhất của đất nước, thanh niên luôn đi đầu trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước, thể hiện tinh thần "đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên".
Hơn nữa, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế, đạo đức cách mạng còn giúp thanh niên có ý thức học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ để đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Nếu chỉ có tri thức mà thiếu đạo đức, con người dễ sa vào con đường sai trái, làm tổn hại đến lợi ích quốc gia. Vì vậy, đạo đức và tri thức phải luôn đi đôi với nhau, tạo nên những công dân vừa "hồng" vừa "chuyên" như Bác Hồ từng căn dặn.
Để giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên hiệu quả, cần có sự chung tay của gia đình, nhà trường và xã hội. Nhà trường phải đẩy mạnh giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống dân tộc và tinh thần trách nhiệm công dân. Gia đình cần là nền tảng vững chắc, định hướng thanh niên phát triển nhân cách đúng đắn. Bên cạnh đó, các tổ chức Đoàn, Hội cũng cần tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa như tình nguyện, bảo vệ môi trường, hỗ trợ đồng bào khó khăn để thanh niên có cơ hội rèn luyện và cống hiến.
Tóm lại, giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên không chỉ là nhiệm vụ của riêng ai mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Một thế hệ trẻ có đạo đức, bản lĩnh và trí tuệ sẽ là nền tảng vững chắc để đất nước phát triển bền vững, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như lời Bác Hồ từng mong muốn. Vì vậy, mỗi thanh niên cần ý thức rõ vai trò của mình, không ngừng học tập, rèn luyện để trở thành những công dân có ích cho xã hội.
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 5
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
TẢO GIẢI
(Giải đi sớm, trích Nhật kí trong tù, Hồ Chí Minh)
Phiên âm
Nhất thứ kê đề dạ vị lan,
Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san.
Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.
Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng,
U ám tàn dư tảo nhất không.
Noãn khí bao la toàn vũ trụ,
Hành nhân thi hứng hốt gia nồng.
Dịch nghĩa
Gà gáy một lần, đêm chưa tàn,
Chòm sao nâng vầng trăng lên đỉnh núi mùa thu;
Người đi xa đã cất bước trên đường xa,
Gió thu táp mặt từng cơn từng cơn lạnh lẽo.
Phương đông màu trắng chuyển thành hồng,
Bóng đêm còn rơi rớt sớm đã hết sạch;
Hơi ấm bao la khắp vũ trụ,
Người đi thi hứng bỗng thêm nồng.
Dịch thơ – Bản dịch của Nam Trân
Gà gáy một lần đêm chửa tan,
Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn;
Người đi cất bước trên đường thẳm,
Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn.
Phương đông màu trắng chuyển sang hồng,
Bóng tối đêm tàn, quét sạch không;
Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,
Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng.
Ghi chú: Bài thơ này được sử dụng trong chương trình SGK Văn học 12 giai đoạn 1990-2006.
Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể thơ, phong cách ngôn ngữ, phương thức biểu đạt của văn bản.
Câu 2 (0.5 điểm): Khung cảnh chuyển lao được Bác miêu tả vào thời điểm nào? Thời điểm đó nói lên điều gì về hoàn cảnh của Hồ Chí Minh?
Câu 3 (1.0 điểm): Em hiểu hai chữ nghênh diện như thế nào? Nhận xét về hình ảnh người tù được miêu tả trong hai câu thơ sau:
Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.
Câu 4 (1.0 điểm): Thời gian có sự chuyển dịch như thế nào từ khổ 1 sang khổ 2? Câu thơ U ám tàn dư tảo nhất không biểu đạt điều gì?
Câu 5 (1.0 điểm) Theo em, chất thép trong bài thơ thể hiện như thế nào?
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn người tù chiến sĩ trong bài thơ trên.
Câu 2 (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) về vấn đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Xác định thể thơ, phong cách ngôn ngữ, phương thức biểu đạt của văn bản. |
Phương pháp:
Xác định thể thơ dựa vào số câu, số chữ và cách gieo vần.
Xác định phong cách ngôn ngữ dựa vào nội dung bài thơ.
Xác định phương thức biểu đạt dựa vào mục đích chính của văn bản.
Lời giải chi tiết:
- Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
- Phong cách ngôn ngữ: Nghệ thuật.
- Phương thức biểu đạt: Biểu cảm kết hợp với miêu tả.
Câu 2.
|
Khung cảnh chuyển lao được Bác miêu tả vào thời điểm nào? Thời điểm đó nói lên điều gì về hoàn cảnh của Hồ Chí Minh? |
Phương pháp:
- Dựa vào câu thơ đầu tiên để xác định thời điểm.
- Phân tích ý nghĩa của thời điểm đó đối với hoàn cảnh của Bác.
Lời giải chi tiết:
- Thời điểm: Thời điểm tờ mờ sáng, khi trời còn tối nhưng đã có dấu hiệu bình minh.
- Ý nghĩa:
+ Thể hiện hoàn cảnh khắc nghiệt: Người tù phải lên đường rất sớm, khi trời còn lạnh và tối tăm.
+ Gợi lên hình ảnh kiên cường của Hồ Chí Minh: Dù gian khổ nhưng vẫn giữ tinh thần lạc quan, không bi quan hay than vãn.
Câu 3.
|
Em hiểu hai chữ nghênh diện như thế nào? Nhận xét về hình ảnh người tù được miêu tả trong hai câu thơ sau: Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng, Nghênh diện thu phong trận trận hàn. |
Phương pháp:
- Giải thích từ “nghênh diện” trong Hán Việt.
- Phân tích tư thế và thái độ của người tù qua hai câu thơ.
Lời giải chi tiết:
- Nghĩa của từ "nghênh diện": Có nghĩa là đối diện, đón nhận trực tiếp.
- Hình ảnh người tù trong hai câu thơ:
+ “Người đi xa đã cất bước trên đường xa” → Hình ảnh người tù không chùn bước, vẫn kiên cường tiến về phía trước.
+ “Đón gió thu lạnh từng trận táp vào mặt” → Thể hiện sự gian khổ, giá rét nhưng không cúi đầu trốn tránh, mà hiên ngang đối diện.
=> Hình ảnh người tù thể hiện bản lĩnh kiên cường, tinh thần bất khuất của Hồ Chí Minh.
Câu 4.
|
Thời gian có sự chuyển dịch như thế nào từ khổ 1 sang khổ 2? Câu thơ U ám tàn dư tảo nhất không biểu đạt điều gì? |
Phương pháp:
- So sánh thời gian giữa hai khổ thơ để tìm ra sự chuyển dịch.
- Phân tích ý nghĩa của câu thơ “U ám tàn dư tảo nhất không”.
Lời giải chi tiết:
- Sự chuyển dịch thời gian:
+ Khổ 1: Trời còn tối, gió lạnh, không gian u ám.
+ Khổ 2: Mặt trời mọc, ánh sáng xua tan bóng tối.
- Ý nghĩa câu thơ “U ám tàn dư tảo nhất không”:
+ Nghĩa đen: Bóng tối còn sót lại đã bị quét sạch.
+ Nghĩa biểu tượng: Sự tăm tối, gian khổ rồi cũng sẽ qua, ánh sáng của niềm tin, cách mạng sẽ chiến thắng.
=> Gợi lên niềm tin, tinh thần lạc quan của người chiến sĩ cách mạng.
Câu 5.
|
Theo em, chất thép trong bài thơ thể hiện như thế nào? |
Phương pháp:
- Phân tích hình ảnh người tù trong bài thơ để tìm ra chất thép.
- Đưa ra nhận xét về tinh thần kiên cường, bất khuất.
Lời giải chi tiết:
Chất thép thể hiện ở:
- Tư thế hiên ngang: "Nghênh diện thu phong" – Đón gió lạnh mà không hề run sợ.
- Tinh thần lạc quan: Dù trong hoàn cảnh gian khổ nhưng vẫn cảm nhận được vẻ đẹp thiên nhiên và hứng khởi sáng tác.
- Niềm tin cách mạng: Bóng tối rồi cũng sẽ bị quét sạch, ánh sáng sẽ đến.
=> Chất thép của bài thơ chính là tinh thần kiên cường, bất khuất của người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn người tù chiến sĩ trong bài thơ trên. |
Phương pháp:
1. Mở đoạn:
Bài thơ Tảo giải không chỉ miêu tả cảnh chuyển lao gian khổ mà còn bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh – một người chiến sĩ cách mạng kiên cường, lạc quan và yêu đời.
2. Thân đoạn:
- Tinh thần kiên cường: Bác bị giam cầm nhưng vẫn hiên ngang đón nhận thử thách ("Nghênh diện thu phong trận trận hàn").
- Lòng lạc quan: Dù trong cảnh lạnh lẽo, tăm tối, Bác vẫn nhận ra vẻ đẹp thiên nhiên và sáng tác thơ.
- Niềm tin cách mạng: Hình ảnh bình minh ló rạng tượng trưng cho tương lai tươi sáng, thể hiện niềm tin mãnh liệt vào cách mạng.
3. Kết đoạn:
Qua bài thơ, ta thấy được Hồ Chí Minh không chỉ là một chiến sĩ cách mạng mà còn là một thi nhân với tinh thần thép, luôn lạc quan và yêu đời.
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo
Bài thơ Tảo giải của Hồ Chí Minh không chỉ miêu tả cảnh chuyển lao gian khổ mà còn thể hiện vẻ đẹp tâm hồn kiên cường, lạc quan của người chiến sĩ cách mạng. Trước hết, đó là tinh thần hiên ngang, bất khuất. Dù phải di chuyển trong đêm tối, giá rét, người tù vẫn ung dung bước đi, đối diện với những cơn gió lạnh mà không hề nao núng. Hình ảnh “Nghênh diện thu phong trận trận hàn” (Đón gió thu lạnh từng cơn táp vào mặt) thể hiện rõ tư thế kiên cường, không khuất phục trước nghịch cảnh. Không chỉ vậy, bài thơ còn thể hiện tâm hồn lạc quan và yêu thiên nhiên của Bác. Dù bị giam cầm, Người vẫn cảm nhận được vẻ đẹp của đất trời: từ bóng tối u ám đến ánh bình minh rực rỡ. Sự chuyển biến của thời gian cũng phản ánh niềm tin cách mạng mãnh liệt—bóng tối sẽ qua đi, ánh sáng của tự do và cách mạng sẽ đến. Như vậy, Tảo giải đã khắc họa hình ảnh người chiến sĩ vừa kiên trung, bất khuất, vừa lạc quan, yêu đời, thể hiện tinh thần “thép” và tấm lòng rộng mở của Hồ Chí Minh.
Câu 2.
|
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) về vấn đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. |
Phương pháp:
1. Mở bài:
Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ vĩ đại mà còn là một tấm gương sáng về đạo đức. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng đối với mỗi người dân Việt Nam.
2. Thân bài:
- Giải thích tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: Đó là tinh thần yêu nước, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư.
- Ý nghĩa của việc học tập theo Bác:
+ Giúp con người sống có lý tưởng, trách nhiệm.
+ Góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn.
- Cách để học tập theo Bác:
+ Rèn luyện đạo đức, lối sống lành mạnh.
+ Cống hiến cho đất nước, luôn học tập và lao động hăng say.
+ Sống giản dị, biết yêu thương và giúp đỡ người khác.
- Phản đề: HS nêu được
3. Kết bài:
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là việc làm cần thiết của mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo
Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, một nhà cách mạng kiệt xuất, người đã hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Không chỉ là một nhà lãnh đạo tài ba, Bác còn là tấm gương sáng về đạo đức, nhân cách mà mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần noi theo. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn là con đường để mỗi người tự hoàn thiện bản thân, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh.
Trước hết, học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là học tập về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và ý chí kiên cường. Ngay từ khi còn trẻ, Bác đã nuôi chí lớn, ra đi tìm đường cứu nước với mong muốn đem lại độc lập, tự do cho dân tộc. Tinh thần yêu nước của Bác không chỉ thể hiện qua những lời nói mà còn qua những hành động cụ thể, từ việc đấu tranh không mệt mỏi trên mặt trận chính trị, quân sự đến việc quan tâm đời sống của nhân dân. Noi gương Bác, mỗi chúng ta cần ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình đối với đất nước, không ngừng nỗ lực học tập, rèn luyện để đóng góp cho sự phát triển chung.
Bên cạnh đó, tấm gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư của Bác là bài học quý báu cho mỗi người. Cả cuộc đời Bác luôn giản dị, tiết kiệm, không màng danh lợi. Bác từng nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Điều đó cho thấy việc rèn luyện đạo đức không chỉ thể hiện bằng lời nói, mà quan trọng là hành động thực tiễn. Mỗi người, đặc biệt là cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên, cần nêu cao tinh thần trung thực, liêm khiết, tránh xa thói hư tật xấu như tham nhũng, lãng phí, vụ lợi cá nhân. Trong học tập, lao động, mỗi người cần biết quý trọng thời gian, tài sản chung, làm việc có trách nhiệm, hiệu quả.
Ngoài ra, học tập theo Bác còn là học tinh thần tự học, sáng tạo và luôn hướng về nhân dân. Dù là một người có trí tuệ uyên bác, Bác vẫn luôn khiêm tốn học hỏi, tự trau dồi kiến thức mỗi ngày. Bác thông thạo nhiều ngôn ngữ, am hiểu sâu sắc về chính trị, văn hóa, lịch sử nhờ quá trình tự học bền bỉ. Học tập theo Bác, chúng ta cần rèn luyện ý chí ham học, không ngừng sáng tạo, đổi mới tư duy để thích nghi với thời đại. Đồng thời, tinh thần gần dân, vì dân của Bác cũng là bài học quan trọng cho những ai đang công tác trong bộ máy nhà nước hay làm công việc phục vụ cộng đồng. Mỗi hành động, quyết định đều phải xuất phát từ lợi ích chung, đặt lợi ích của dân tộc, nhân dân lên trên hết.
Vậy làm thế nào để học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh một cách thiết thực? Trước tiên, mỗi người cần tự giác rèn luyện đạo đức, từ những việc nhỏ nhất như biết nói lời cảm ơn, xin lỗi, trung thực trong học tập và công việc, sống chan hòa với mọi người. Học sinh, sinh viên phải không ngừng phấn đấu, học hỏi, có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Cán bộ, công chức cần làm việc tận tâm, minh bạch, đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Cả xã hội cần chung tay xây dựng môi trường sống lành mạnh, đạo đức, góp phần phát triển đất nước bền vững.
Tóm lại, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là nhiệm vụ của riêng ai mà là trách nhiệm chung của toàn dân. Bằng những hành động thiết thực, dù nhỏ bé nhưng xuất phát từ trái tim chân thành, mỗi người có thể góp phần lan tỏa những giá trị tốt đẹp, làm cho xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ. Tư tưởng và đạo đức của Bác sẽ mãi mãi là ngọn đuốc soi sáng con đường phát triển của dân tộc Việt Nam.
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 6
Đề thi
ĐỀ THI GIỮA KÌ 2 NGỮ VĂN 12 - KNTTVCS
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Ngày 26 tháng 8, chi đội Giải phóng quân đầu tiên tiến vào Thủ đô, giữa tiếng reo mừng dậy đất của đồng bào. Các nam, nữ chiến sĩ lần đầu mặc quần áo đồng phục, chân bước chưa đều, nước da phần lớn tái sạm, nhưng tràn đầy khí thế chiến thắng của một đoàn quân dày dạn trong chiến đấu, mang đến cho đồng bào niềm tin, đã có một chỗ dựa vững chắc bên cạnh đội ngũ vũ trang của hàng ngàn chiến sĩ tự vệ của Thủ đô. Bác từ Tân Trào về Hà Nội. Chúng tôi ra đón Bác tại làng Phú Thượng. Bác còn yếu sau trận sốt nặng vừa qua, vẫn giản dị với bộ quần áo vải vàng cũ và đôi giày vải. Đến 30 tháng 8, trên cả nước, chính quyền đã về tay nhân dân, trừ một đôi nơi bọn phản động Quốc dân đảng gây khó khăn như ở Vĩnh Yên.
Ngày mồng 2 tháng 9, Bác ra mắt trước mấy chục vạn đồng bào Thủ đô tại quảng trường Ba Đình với bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Cờ cách mạng nền đỏ sao vàng trở thành cờ của Tổ quốc. Hà Nội trở thành Thủ đô của nước Việt Nam độc lập. Đội quân Giải phóng Việt Nam, sau ngày cách mạng thành công, đã xuất hiện trên khắp các miền của đất nước.
Bên cạnh những chiến sĩ Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, Du kích Ba Tơ và hàng vạn chiến sĩ tự vệ, du kích của phong trào cách mạng tại khắp các chiến khu, đã có thêm hàng trăm ngàn thanh niên tình nguyện đứng dưới cờ làm người chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc. Ngày vui chưa đến hẳn, cuộc chiến đấu gian khổ còn phải dài lâu. Phía Bắc, quân Tầu Tưởng tiến vào Việt Nam. Nguyễn Hải Thần bám theo đoàn quân phù thũng đang rêu rao 13 điều thảo phạt, định dâng đất nước ta cho bọn Quốc dân đảng Trung Hoa.
Miền Nam, thực dân Pháp bám gót sau quân Anh, đã trở lại Sài Gòn. Tiếng súng xâm lược lại nổ. Cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân miền Nam đã bắt đầu. Các chiến sĩ Giải phóng quân ở miền Nam, những người con yêu của khởi nghĩa Nam Kỳ, của Cách mạng tháng Tám đã đứng ở hàng đầu cùng nhân dân, với những chiếc gậy tầm vông vát nhọn, kiên quyết thực hiện lời thề của người chiến sĩ Giải phóng quân: Chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để tiêu diệt bọn xâm lược... Không một chút nghỉ ngơi, những chiến sĩ Giải phóng quân ở miền Bắc, lại cùng hàng ngàn thanh niên ưu tú lên đường tiếp tục cuộc Nam tiến.
Cuộc Nam tiến lần này đã khác hẳn, không còn là vài trung đội hoặc mấy chục người đi lén lút trong rừng sâu, giữa đêm khuya, mà đây là những đoàn tàu dài dằng dặc, chật ních những chiến sĩ, đi giữa tiếng hoan hô và hàng vạn cánh tay vẫy chào của đồng bào. "Nam Bộ là thịt của thịt Việt Nam, là máu của máu Việt Nam", lời nói của Bác Hồ luôn luôn vang dội bên tai mọi người. Kẻ thù đụng vào Nam Bộ là đụng đến lẽ sống còn của toàn dân Việt Nam, xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của mỗi người dân Việt Nam.
Quân thù đã trở lại. Cuộc chiến đấu của nhân dân ta ở miền Nam đã bắt đầu. Đồng bào miền Bắc và đồng bào cả nước quyết không thể ngồi yên trên khắp miền Bắc, những người nông dân tạm gác tay cày, những thanh niên học sinh tạm xếp sách vở, nô nức tòng quân, xin tiếp tục lên đường Nam tiến. Trong cuộc chiến đấu lâu dài, bền bỉ của Đảng ta và nhân dân ta mấy chục năm qua, cuộc chiến đấu của Giải phóng quân Việt Nam, sau này là Quân đội nhân dân Việt Nam, khi đó mới chỉ là bắt đầu.
(Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, in trong Hồi kí cách mạng, NXB Giáo dục, 1970, tr198-199)
Trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1. Đoạn văn đầu tiên của văn bản nhắc đến sự kiện lịch sử nào? Ai là người kể lại?
Câu 2. Dẫn ra câu văn cho thấy rõ nhất tình cảm của tác giả với miền Nam tổ quốc. Câu văn ấy mang màu sắc trang trọng hay thân mật? Vì sao?
Câu 3. Tính xác thực của thể hồi kí được thể hiện qua những yếu tố nào của văn bản?
Câu 4. Anh/chị hiểu thế nào về nhan đề của đoạn trích hồi kí: Từ nhân dân mà ra?
Câu 5. Từ đoạn trích trên, anh/chị có nhận xét gì về con người của đồng chí Tổng tư lệnh?
II. PHẦN VIẾT
Câu 1.
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá thủ pháp trần thuật trong đoạn trích hồi kí phần Đọc hiểu.
Câu 2.
Trong Hội nghị cán bộ toàn quốc tổng kết công tác tổ chức Đại hội Đảng bộ các cấp, nhiệm kỳ 2020 -2025 tại Hà Nội, tháng 11 năm 2020, Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nói: “Cái quý nhất của con người là cuộc sống và danh dự sống”
Kết nối với thực tiễn đời sống, viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề: Phải sống có danh dự.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Xác định thời gian, sự kiện lịch sử được nhắc đến trong đoạn văn.
- Nhận diện ngôi kể trong hồi kí từ đó xác định người kể chuyện.
- Vận dụng kiến thức về đặc trưng thể loại hồi kí: người kể thường là nhân chứng trực tiếp của sự kiện.
Cách giải:
- Sự kiện: Chiến thắng của cuộc Cách mạng tháng Tám – 1945
- Người kể lại: Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kĩ đoạn văn, tìm câu thể hiện tình cảm sâu sắc của tác giả đối với miền Nam.
- Phân tích ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu để xác định sắc thái biểu cảm
Cách giải:
- Dẫn ra câu văn cho thấy tình cảm của tác giả với miền Nam tổ quốc:
Kẻ thù đụng vào Nam Bộ là đụng đến lẽ sống còn của toàn dân Việt Nam, xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của mỗi người dân Việt Nam.
- Thể hiện sắc thái trang trọng.
- Vì: Được gọt giũa cẩn thận, đảm bảo chuẩn mực về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách; ngôn ngữ toàn dân.
Câu 3:
Phương pháp:
- Vận dụng đặc điểm thể loại hồi kí: tính xác thực, dựa trên những sự kiện có thật.
- Tìm trong văn bản các yếu tố thể hiện tính xác thực: thời gian, địa điểm, nhân vật lịch sử, sự kiện cụ thể.
Cách giải:
Tính xác thực của hồi kí được thể hiện trong văn bản:
+ Số liệu cụ thể (chiến sĩ Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, Du kích Ba Tơ, khởi nghĩa Nam Kì...)
+ Địa danh cụ thể (Tân Trào, Hà Nội, Vĩnh Yên,...).
+ Thời gian cụ thể (26 tháng 8, 30 tháng 8, 2 tháng 9...)
Câu 4:
Phương pháp:
- Phân tích ý nghĩa nhan đề của đoạn trích.
- Liên hệ với nội dung văn bản và tư tưởng của cách mạng Việt Nam.
Cách giải:
Tiêu đề: Từ nhân dân mà ra
- Khẳng định sức mạnh của nhân dân đã tạo nên cách mạng tháng Tám thành công vang dội.
- Niềm tin vào thắng lợi mới khi cuộc chiến đấu lâu dài, bền bỉ ở miền Nam mới đang bắt đầu.
- Nhấn mạnh đường lối, tư tưởng của Đảng: Đất Nước của dân, do dân, vì dân; dân làm chủ.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Vẻ đẹp con người đồng chí Tổng tư lệnh:
+ Yêu mến Nhân dân, gần gũi với đồng bào.
+ Yêu tổ quốc, khát khao hòa bình cho nhân dân miền Nam.
+ Có tinh thần quyết chiến, quyết thắng, niềm tin vào cuộc kháng chiến của dân tộc
- Nhận xét: Đây là những phẩm chất cao đẹp làm nên nhân cách, tâm hồn và ý chí của vị Tổng tư lệnh, góp phần làm nên những chiến thắng hào hùng cho cuộc kháng chiến.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Qua đoạn trích, có thể thấy vẻ đẹp con người của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - vị Tổng tư lệnh của quân đội ta. Ông là người luôn yêu mến nhân dân, gắn bó và gần gũi với đồng bào, coi nhân dân là nguồn sức mạnh của cách mạng. Đồng thời, ông thể hiện tình yêu Tổ quốc sâu sắc, khát khao hòa bình cho nhân dân miền Nam khi đất nước phải đối mặt với sự xâm lược của kẻ thù. Ở ông còn toát lên tinh thần quyết chiến, quyết thắng và niềm tin mạnh mẽ vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Những phẩm chất ấy đã làm nên nhân cách, tâm hồn và ý chí cao đẹp của vị Tổng tư lệnh, góp phần tạo nên những chiến thắng hào hùng của dân tộc trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
- Thủ pháp trần thuật:
+ Được thể hiện qua việc tác giả lần lượt kể các sự kiện diễn ra: Tác giả kể lại sự kiện trọng đại của lịch sử dân tộc: Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập.
+ Thời gian, sự kiện chính xác, cụ thể (ngày 26/8; ngày 2/9…)
+ Những nhân vật trong hồi kí trực tiếp tham gia kháng chiến:
Phía ta: Bác Hồ, Võ Nguyên Giáp, đồng bào miền Bắc, đồng bào cả nước, chiến sĩ Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, Du kích Ba Tơ và hàng vạn chiến sĩ tự vệ, du kích … Phía địch: giặc Tầu, giặc Pháp, quân đội Anh…
- Thủ pháp trần thuật được kết hợp với tính phi hư cấu, các sự kiện được lồng ghép với nhận định, đánh giá; có sự bộc lộ cảm xúc qua nhận xét của tác giả.
=> Sự kết hợp này giúp câu chuyện trở nên chân thực, gợi mở suy ngẫm của đọc giả, khơi gợi tình yêu, ý thức và trách nhiệm với đất nước.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Trong đoạn trích hồi kí, tác giả đã sử dụng thủ pháp trần thuật nhằm tái hiện chân thực những sự kiện trọng đại của lịch sử dân tộc. Trước hết, câu chuyện được kể theo trình tự thời gian rõ ràng khi tác giả lần lượt thuật lại các sự kiện tiêu biểu như ngày 26/8 khi chi đội Giải phóng quân tiến vào Thủ đô hay ngày 2/9 khi Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình. Việc xác định thời gian và sự kiện cụ thể đã giúp câu chuyện trở nên rõ ràng, chính xác và giàu tính lịch sử. Bên cạnh đó, hệ thống nhân vật được nhắc tới cũng rất cụ thể và chân thực. Ở phía ta có Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, đồng bào miền Bắc, đồng bào cả nước, các chiến sĩ Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, du kích Ba Tơ và hàng vạn chiến sĩ tự vệ, du kích; phía địch có quân Tưởng, thực dân Pháp và quân đội Anh. Không chỉ dừng lại ở việc kể lại sự kiện, thủ pháp trần thuật còn được kết hợp với tính phi hư cấu của thể loại hồi kí khi các sự kiện được lồng ghép với những nhận định, đánh giá và cảm xúc của người kể. Qua đó, tác giả bộc lộ niềm tự hào dân tộc, tình yêu đất nước và niềm tin vào sức mạnh của nhân dân. Sự kết hợp hài hòa giữa kể chuyện và bộc lộ cảm xúc đã làm cho câu chuyện trở nên sinh động, chân thực, đồng thời gợi mở nhiều suy ngẫm cho người đọc về trách nhiệm đối với Tổ quốc.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài:
Giới thiệu vấn đề nghị luận
2. Thân bài:
a. Giải thích:
- “cuộc sống”: không chỉ đơn thuần là sự tồn tại mà còn bao gồm các hoạt động, trải nghiệm và tương tác với môi trường xung quanh
- “danh dự”: là biểu hiện của lòng tự trọng, đạo đức, và nhân phẩm. Sống có danh dự nghĩa là sống đúng với lương tâm và đạo lý.
=> Cuộc sống và danh dự sống là cái quý giá nhất của một con người. Mỗi chúng ta phải sống sao cho có ý nghĩa, không lãng phí thời gian để sau này không phải ân hận, hối tiếc; sống có ích, nỗ lực làm những điều tích cực, không chỉ sống cho bản thân mà còn sống cho cộng đồng, đất nước.
b. Phân tích – Chứng minh:
- Tại sao cuộc sống của con người là điều quý giá nhất? (Tầm quan trọng của cuộc sống)
+ Được sinh ra, được tồn tại trên thế giới này là món quà quý giá nhất đối với mỗi chúng ta.
+ Cuộc sống là hữu hạn, mỗi ngày trôi qua là cơ hội để làm việc tốt và cống hiến.
+ Sự lãng phí thời gian là lãng phí cơ hội đóng góp cho xã hội.
- Tại sao danh dự sống là điều quý giá nhất đối với con người?
+ Danh dự là biểu hiện của phẩm giá và lòng tự trọng. Khi một người sống có danh dự, họ tự hào về chính mình, cảm thấy tự tin và không hổ thẹn trước bất kỳ ai. Điều này giúp họ duy trì lòng tự trọng và giá trị cá nhân, tạo nên một cuộc sống ý nghĩa và đáng sống.
+ Khả năng vượt qua thử thách và khó khăn: Danh dự giúp con người có nghị lực và sức mạnh để vượt qua thử thách và khó khăn trong cuộc sống. Khi đối diện với những tình huống khó khăn, người có danh dự sẽ không bao giờ từ bỏ, không làm điều sai trái, và luôn giữ vững phẩm giá của mình.
+ Danh dự tạo nên uy tín và sự tôn trọng từ người khác: Một người có danh dự luôn được người xung quanh đánh giá cao, tin tưởng và kính trọng. Điều này không chỉ giúp họ tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp mà còn mang lại nhiều cơ hội trong cuộc sống và công việc. Khi một người sống có danh dự, họ luôn tuân thủ các nguyên tắc đạo đức, luôn cố gắng làm điều đúng đắn. Điều này giúp họ sống một cuộc đời không hối tiếc và tự hào về những gì đã làm.
+ Trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội. Một người có danh dự sẽ luôn hành động đúng đắn, công bằng, không vì lợi ích cá nhân mà làm tổn hại đến người khác hay xã hội. Điều này góp phần xây dựng một xã hội công bằng, văn minh và đáng sống.
(HS lấy dẫn chứng chứng minh)
c. Đánh giá – mở rộng:
- Ý kiến mang tính đúng đắn, sâu sắc, được rút ra từ sự trải nghiệm. Ý kiến không chỉ là lời nhắc nhở mà còn mang ý nghĩa giáo dục cho bản thân mỗi chúng ta trong nhận thức, phải sống sao cho có ích, có ý nghĩa, đem tài năng và sức lực của mình đóng góp, dựng xây phát triển đất nước.
- Cuộc sống hiện đại mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng lắm thách thức, chúng ta cần chủ động vượt lên phía trước, năng động và sáng tạo để chinh phục những khó khăn, nắm bắt cơ hội. Đó là con đường gần nhất để đi đến thành công.
3. Bài học nhận thức và hành động:
- Nhận thức:
+ Nhắc nhở mỗi người về tầm quan trọng của cuộc sống và danh dự sống đối với mỗi người
+ Sống có ích, suy nghĩ kĩ trước khi hành động;
- Hành động: Sống thực tế, sẵn sàng nhận sai và sửa sai khi có cơ hội; Luôn chuẩn bị kĩ trước mọi tình huống có thể xảy ra trong cuộc sống; Dám nghĩ dám làm…
3. Kết bài:
Khẳng định lại vấn đề nghị luận
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Trong cuộc sống, mỗi con người đều mong muốn sống hạnh phúc và có ý nghĩa. Tuy nhiên, để cuộc sống thực sự có giá trị, con người không chỉ cần tồn tại mà còn phải biết giữ gìn nhân phẩm và lòng tự trọng của mình. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Cái quý nhất của con người là cuộc sống và danh dự sống”. Câu nói ấy đã nhắc nhở chúng ta về hai giá trị thiêng liêng nhất của đời người: được sống và được sống một cách có danh dự.
Trước hết, cần hiểu rằng cuộc sống không chỉ đơn thuần là sự tồn tại về mặt sinh học mà còn bao gồm mọi hoạt động, trải nghiệm và mối quan hệ của con người với thế giới xung quanh. Cuộc sống là hành trình để mỗi người học hỏi, trưởng thành và cống hiến. Bên cạnh đó, danh dự là biểu hiện của lòng tự trọng, đạo đức và nhân phẩm của con người. Sống có danh dự nghĩa là sống đúng với lương tâm, với chuẩn mực đạo lý và không làm điều gì khiến bản thân phải hổ thẹn. Vì vậy, cuộc sống và danh dự sống chính là những giá trị quý giá nhất mà mỗi người cần trân trọng và gìn giữ. Con người cần sống sao cho có ý nghĩa, không lãng phí thời gian để sau này phải ân hận; biết nỗ lực làm những điều tốt đẹp, không chỉ sống cho bản thân mà còn sống vì cộng đồng và đất nước.
Cuộc sống của con người là điều vô cùng quý giá bởi được sinh ra và tồn tại trên thế giới này đã là một món quà lớn lao. Mỗi ngày trôi qua đều mang đến những cơ hội mới để chúng ta học tập, lao động và làm điều có ích. Nếu biết trân trọng thời gian, con người có thể tạo ra những giá trị tốt đẹp cho bản thân và xã hội. Ngược lại, nếu sống buông thả, lãng phí thời gian, con người sẽ bỏ lỡ những cơ hội quý giá để trưởng thành và cống hiến. Bên cạnh cuộc sống, danh dự cũng là giá trị vô cùng quan trọng đối với mỗi con người. Danh dự là biểu hiện của phẩm giá và lòng tự trọng. Khi một người sống có danh dự, họ luôn cảm thấy tự tin, không hổ thẹn với bản thân và với người khác. Danh dự cũng giúp con người có nghị lực để vượt qua khó khăn và thử thách. Trong những hoàn cảnh gian nan, người có danh dự sẽ không vì lợi ích cá nhân mà làm điều sai trái, luôn giữ vững nhân cách của mình. Trong lịch sử dân tộc, nhiều tấm gương đã sẵn sàng hi sinh để bảo vệ danh dự và độc lập của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Câu nói ấy thể hiện rõ tinh thần coi trọng danh dự dân tộc và khát vọng bảo vệ giá trị thiêng liêng của đất nước. Trong đời sống thường ngày, những hành động trung thực, dám nhận lỗi và sửa sai cũng là biểu hiện của lối sống có danh dự.
Hơn nữa, danh dự còn tạo nên uy tín và sự tôn trọng của xã hội. Một người sống trung thực, có trách nhiệm và luôn làm điều đúng đắn sẽ được mọi người tin tưởng và quý trọng. Ngược lại, những người vì lợi ích cá nhân mà đánh mất danh dự, sẵn sàng gian dối hay làm tổn hại đến người khác, sớm muộn cũng sẽ mất đi niềm tin của cộng đồng. Vì vậy, giữ gìn danh dự không chỉ là trách nhiệm với bản thân mà còn là trách nhiệm với xã hội. Khi mỗi cá nhân đều sống có danh dự, xã hội sẽ trở nên công bằng, văn minh và tốt đẹp hơn.
Trong cuộc sống hiện đại, con người đứng trước rất nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Những cám dỗ về vật chất hay lợi ích cá nhân đôi khi khiến con người dễ dàng đánh mất giá trị đạo đức của mình. Vì vậy, lời nhắc nhở về việc sống có danh dự càng trở nên quan trọng. Mỗi người cần chủ động học tập, rèn luyện bản thân, sống trung thực và có trách nhiệm với cộng đồng. Đó chính là con đường giúp chúng ta khẳng định giá trị của mình và đóng góp cho xã hội.
Từ đó, mỗi người cần nhận thức rõ tầm quan trọng của cuộc sống và danh dự. Chúng ta cần sống có ích, suy nghĩ kĩ trước khi hành động và luôn giữ vững lòng tự trọng. Đồng thời, cần dám nhận sai và sửa sai khi mắc lỗi, luôn nỗ lực hoàn thiện bản thân để trở thành người có ích cho xã hội.
Có thể nói, cuộc sống là món quà quý giá nhất mà con người có được, nhưng danh dự chính là giá trị làm nên ý nghĩa của cuộc sống ấy. Khi con người biết sống có danh dự, họ không chỉ giữ gìn phẩm giá của bản thân mà còn góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp và văn minh hơn.
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 7
Đề thi
ĐỀ THI GIỮA KÌ 2 NGỮ VĂN 12 KNTTVCS
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
(Giới thiệu: Những năm 1930, dưới chính sách cai trị bóc lột của thực dân Pháp, những người dân nghèo không biết làm gì để kiếm ăn nên phải đổ xô lên Hà thành tìm việc. Nạn buôn người và nhiều mặt trái của nghề đi ở được Vũ Trọng Phụng vạch rõ trong thiên phóng sự “Cơm thầy cơm cô”) Đấng sinh ra muôn loài cũng không bảo nổi những ông lang băm đừng nói khoác, những kẻ mắc bệnh hoa liễu đừng kêu rên, những anh bồi săm đừng khinh người như rác, ông sư chớ mơ màng thịt chó, và đầy tớ nhịn nói xấu chủ nhà. Thằng bé ho lao tả cảnh:
Lần đầu tôi đi ở đã gặp bước không may. Lúc mặc cả công, con mẹ chủ đã bằng lòng trả cho tôi mỗi tháng năm hào. Tôi phải gánh đầy ba bể nước, bổ hết hai mươi tạ củi. Nước gánh đầy bể rồi, củi chất chật bếp rồi là bà chủ kiếm chuyện chửi mắng suốt ngày cho mình không ở được nữa mà phải xin thôi. Lúc xin thôi nó kêu rằng “tự nhiên không có chuyện gì” mà giở quẻ xin thôi thế là quân đi nếm cơm vạn kiếp cũng không khá được! Cố nhiên nó không trả tiền công. Các bác ạ, các hạng chủ nhà đều như thế đấy. Lúc cần thì nó tìm người, lúc hết việc nó kiếm chuyện đuổi ra. Mà nó quỵt tiền công hết thảy! Tôi hỏi nó xem trong cái đời đi ở của nó, nó có những ngày sung sướng nào không.
Tôi hỏi nó xem trong cái đời đi ở của nó, nó có những ngày sung sướng nào không.
Chỉ có một lần. Năm ngoái tôi ở với một nhà vợ chồng trẻ tuổi. Chồng làm ông tham, không hôm nào là chịu về nhà ngủ trước 3 giờ đêm. Mỗi lần đi chơi khuya về, cậu ấy dặn tôi mở cửa xong là thế nào cũng phải đánh vỡ một cái chén hoặc một cái đĩa. Cậu ấy sai tôi phải làm để tôi có cớ đánh vỡ. Hễ thấy tôi làm đánh xoảng một cái là cậu ấy quát tháo ầm nhà lên. Ra oai thế để chặn họng vợ. Bà vợ cuối tháng mà trừ lương thì ông chồng dúi cho mà bù vào. Về sau bà vợ cũng đâm ra cờ bạc, cũng đi suốt ngày, gần đến lúc chồng đi làm về, dúi tiền cho tôi đi mua cơm, mua canh và các món xào ở hiệu cao lâu. Gặp những hôm có giỗ cũng thế, sai đi mua các món ăn hiệu, mua cả xôi, mua cả chè. Thành thử mình chỉ ngủ suốt ngày, chả phải làm gì cả. Thật làm với hạng chủ thế mới sướng. Anh chàng trọc đầu vội cướp lời:
Thế kể cũng đã sướng nhưng chưa bằng tôi. Khi ra tỉnh lần đầu, tôi đã được vào làm nhà một lão thầu khoán. Lúc đầu mặc cả thì là kéo xe, nhưng mà về sau xe cũng chả phải kéo mấy nữa. Chỉ có việc dắt chó đi rong chơi ngoài đường. Lão mua ba con chó Nhật Bản, mỗi con đáng giá trăm bạc cả, cho ăn toàn là những thịt bò với súp. Tôi chỉ suốt ngày tắm rửa cho chó mà thôi. [...]
Tôi hỏi:
- Thế sao không ở cái nhà ấy cho đến mãn kiếp?
- Kìa, tôi đã nói là lão chủ sai tôi mang thuốc phiện lậu rồi không may bị bắt...
(Vũ Trọng Phụng, trích “Cơm thầy cơm cô”, chương 8)
Trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1. Văn bản trên viết về chủ đề gì?
Câu 2. Trong lần đầu đi ở, nhân vật thằng bé ho lao phải làm những công việc gì mỗi ngày?
Câu 3. Chi tiết công việc liên quan đến “ba con chó Nhật Bản” có tác dụng gì trong việc thể hiện số phận của những người đi ở?
Câu 4. Trình bày hiệu quả của việc lựa chọn ngôi kể và điểm nhìn trần thuật trong văn bản trên.
Câu 5. Tính chiến đấu của văn bản trên được thể hiện như thế nào?
II. PHẦN VIẾT
Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích hình tượng những người đi ở trong văn bản phần Đọc hiểu.
Câu 2. Viết bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về những mâu thuẫn trong cuộc sống.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Đọc kĩ văn bản
- Xác định vấn đề trọng tâm của văn bản.
Cách giải:
Văn bản viết về chủ đề thân phận bất hạnh, cơ cực và những trớ trêu trong cuộc sống của những người đi ở trong xã hội thành thị những năm 1930
Câu 2:
Phương pháp:
- Tìm chi tiết trong đoạn kể của “thằng bé ho lao”.
- Liệt kê những công việc mà nhân vật phải làm trong lần đầu đi ở.
Cách giải:
- Trong lần đầu đi ở, thằng bé ho lao phải làm những công việc nặng nhọc mỗi ngày như:
+ Gánh đầy ba bể nước.
+ Bổ hai mươi tạ củi.
Câu 3:
Phương pháp:
- Phân tích chi tiết nghệ thuật.
- Xem xét sự tương phản giữa việc chăm sóc chó và thân phận người ở.
- Rút ra ý nghĩa tố cáo xã hội.
Cách giải:
- Chi tiết công việc liên quan đến ba con chó Nhật Bản có tác dụng:
+ Tạo sự tương phản giữa cuộc sống được chăm sóc đầy đủ của chó và thân phận nghèo khổ của con người.
+ Qua đó tố cáo sự bất công, phi lí của xã hội cũ, khi con người lao động bị coi rẻ, thậm chí không bằng những con vật nuôi của nhà giàu.
+ Làm nổi bật số phận thấp kém, bị xem thường của những người đi ở.
Câu 4:
Phương pháp:
- Xác định ngôi kể
- Xác định điểm nhìn trần thuật
- Phân tích tác dụng đối với việc thể hiện nội dung và cảm xúc.
Cách giải:
- Văn bản sử dụng ngôi kể thứ nhất và điểm nhìn trần thuật từ người kể chuyện xưng “tôi”
- Hiệu quả:
+ Tạo cảm giác chân thực, gần gũi, như một cuộc trò chuyện đời thường.
+ Giúp câu chuyện được kể một cách tự nhiên, sinh động qua lời kể trực tiếp của nhân vật.
+ Làm nổi bật những trải nghiệm đau khổ và bất công của người đi ở, từ đó tăng sức tố cáo xã hội mạnh mẽ.
Câu 5:
Phương pháp:
- Nhận diện tính chiến đấu của văn học hiện thực.
- Tìm các chi tiết tố cáo xã hội, phê phán bất công.
Cách giải:
Tính chiến đấu của văn bản được thể hiện ở việc tác giả mạnh mẽ phơi bày và tố cáo những bất công trong xã hội cũ, đặc biệt là sự bóc lột, đối xử tàn nhẫn của tầng lớp chủ nhà đối với những người đi ở. Qua những câu chuyện và lời kể chân thực của các nhân vật, văn bản đã làm nổi bật thân phận khốn khổ, bị khinh rẻ của người lao động nghèo, đồng thời phê phán gay gắt những thói xấu, sự giả dối và suy đồi đạo đức của một bộ phận trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Qua đó, tác phẩm không chỉ thể hiện thái độ phê phán sâu sắc của tác giả mà còn góp phần thức tỉnh nhận thức xã hội và bày tỏ sự cảm thông đối với những con người nghèo khổ.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
* Mở đoạn: Giới thiệu khái quát về hình tượng người đi ở.
* Thân đoạn: Lần lượt phân tích các đặc điểm:
+ Họ là ai?: trẻ em, người lao động nghèo từ nông thôn lên thành thị kiếm sống
+ Họ phải làm những công việc gì?: gánh nước, bổ củi, kéo xe, dắt chó… => rất nặng nhọc
+ Họ bị đối xử ra sao?: bị bóc lột sức lao động, bị quỵt tiền công, bị coi thường, thậm chí bị đẩy vào con đường phạm pháp
+ Số phận của họ?: bất hạnh, lênh đênh, vô định, không được làm chủ cuộc đời mình
* Kết đoạn: Đánh giá giá trị hiện thực và nhân đạo của hình tượng
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Hình tượng những người đi ở trong đoạn trích “Cơm thầy cơm cô” của Vũ Trọng Phụng hiện lên với một số phận vô cùng cay đắng và tủi nhục. Họ là những con người nghèo khổ từ các vùng quê lên Hà thành kiếm sống bằng nghề làm thuê, làm mướn. Công việc của họ hết sức nặng nhọc, từ gánh nước, bổ củi đến kéo xe, thậm chí làm những việc kỳ quặc như đập vỡ bát đĩa giùm chủ hay dắt chó đi dạo. Đổi lại, họ không được trả công xứng đáng, thường xuyên bị chủ nhà kiếm chuyện, chửi mắng và quỵt tiền. Họ bị đối xử như những công cụ lao động, thậm chí thân phận của họ còn thấp hơn cả những con chó Nhật Bản được nuôi bằng thịt bò, súp. Sống trong cảnh "cơm thầy cơm cô", họ không có một ngày mai tươi sáng, luôn nơm nớp lo sợ bị đuổi việc và có thể bị đẩy vào con đường phạm pháp như anh chàng đi ở cho lão thầu khoán bị sai đi buôn lậu. Qua hình tượng này, Vũ Trọng Phụng không chỉ tái hiện chân thực cuộc sống cơ cực của tầng lớp dưới đáy xã hội mà còn lên án gay gắt sự bất công, thối nát của xã hội đương thời.
Câu 2:
Phương pháp:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận (mâu thuẫn trong cuộc sống) và nêu hướng tiếp cận.
* Thân bài:
- Giải thích: "Mâu thuẫn trong cuộc sống" là gì? (Là sự xung đột, đối lập giữa các mặt, các yếu tố, các lựa chọn, các quan điểm... tồn tại khách quan trong đời sống con người).
- Bàn luận: Phân tích tính hai mặt của mâu thuẫn:
+ Mặt tiêu cực: Mâu thuẫn có thể gây ra căng thẳng, xung đột, đau khổ, bế tắc nếu không được giải quyết (xung đột gia đình, chiến tranh giữa các quốc gia, sự giằng xé nội tâm...).
+ Mặt tích cực (quan trọng): Mâu thuẫn là động lực của sự phát triển. Nó buộc con người phải suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo để vượt qua. Giải quyết được một mâu thuẫn, con người trưởng thành hơn, xã hội tiến bộ hơn (mâu thuẫn giai cấp dẫn đến cách mạng xã hội, mâu thuẫn trong tư duy dẫn đến phát minh khoa học, mâu thuẫn trong cuộc sống giúp ta hiểu mình và hiểu người hơn).
- Thái độ và cách ứng xử: Cần có thái độ như thế nào trước mâu thuẫn?
+ Đối mặt, không né tránh.
+ Bình tĩnh phân tích nguyên nhân, bản chất.
+ Tìm kiếm giải pháp hài hòa, tích cực dựa trên các giá trị đạo đức, lẽ phải. Biết lắng nghe, thấu hiểu để giải quyết mâu thuẫn với người khác.
+ Đối với mâu thuẫn nội tâm: cần có bản lĩnh, lý trí sáng suốt và một trái tim nhạy cảm để lựa chọn con đường đúng đắn.
* Kết bài: Khẳng định lại vai trò của mâu thuẫn trong cuộc sống. Rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân.
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Cuộc sống vốn dĩ không bao giờ là một dòng chảy phẳng lặng, bởi nó luôn tiềm ẩn những mâu thuẫn. Đó có thể là những xung đột trong nội tâm con người, giữa người với người, hoặc giữa con người với hoàn cảnh. Vậy, chúng ta nên nhìn nhận và đối diện với những mâu thuẫn ấy như thế nào cho đúng đắn? Đó là một câu hỏi lớn của mỗi người trên hành trình trưởng thành.
Trước hết, cần hiểu "mâu thuẫn trong cuộc sống" là gì. Đó là sự xung đột, đối lập giữa các mặt, các yếu tố, các lựa chọn, các quan điểm tồn tại khách quan trong đời sống con người. Mâu thuẫn có thể là sự giằng xé giữa lý trí và tình cảm khi ta phải đưa ra một quyết định quan trọng, giữa khát vọng cá nhân và trách nhiệm với gia đình, hay giữa lợi ích của mình và lợi ích của cộng đồng. Trong xã hội, mâu thuẫn thể hiện qua những bất đồng quan điểm, xung đột lợi ích giữa các cá nhân, tập thể, thậm chí giữa các quốc gia.
Mâu thuẫn có tính hai mặt, vừa là thách thức vừa là động lực. Về mặt tiêu cực, mâu thuẫn nếu không được giải quyết có thể gây ra những căng thẳng, đau khổ và bế tắc. Trong gia đình, những mâu thuẫn kéo dài giữa cha mẹ và con cái về lối sống, quan điểm có thể dẫn đến rạn nứt tình cảm, tạo khoảng cách thế hệ. Trong xã hội, mâu thuẫn giữa các dân tộc, tôn giáo đã gây ra những cuộc chiến tranh tàn khốc trong lịch sử nhân loại. Ngay trong nội tâm mỗi người, sự giằng xé giữa khát vọng vươn lên và sự an phận thủ thường có thể khiến ta chìm trong trạng thái mệt mỏi, bất an.
Tuy nhiên, mâu thuẫn còn là động lực của sự phát triển. Chính nhờ những mâu thuẫn mà con người buộc phải suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo để vượt qua. Trong lịch sử, mâu thuẫn giai cấp giữa thống trị và bị trị đã dẫn đến các cuộc cách mạng xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển lên một hình thái cao hơn. Trong khoa học, mâu thuẫn giữa những lý thuyết cũ và những phát hiện mới đã thôi thúc các nhà bác học không ngừng nghiên cứu, tìm tòi. Thomas Edison đã phải đối mặt với mâu thuẫn giữa khát vọng mang lại ánh sáng cho nhân loại và vô số lần thất bại, nhưng chính những mâu thuẫn ấy đã tôi luyện nên ý chí sắt đá, giúp ông kiên trì đến thành công. Trong đời sống thường nhật, những mâu thuẫn giúp ta hiểu mình hơn, hiểu người hơn. Khi xảy ra bất đồng với bạn bè, nếu biết lắng nghe và thấu hiểu, ta sẽ rút ra được những bài học quý giá về cách ứng xử, xây dựng mối quan hệ bền chặt hơn. Mâu thuẫn giữa thầy cô và học trò nếu được giải quyết trên tinh thần tôn trọng và yêu thương sẽ giúp học trò trưởng thành hơn trong nhận thức.
Vậy, thái độ và cách ứng xử của chúng ta trước mâu thuẫn cần như thế nào? Trước hết, phải đối mặt, không né tránh. Né tránh chỉ khiến mâu thuẫn tích tụ và ngày càng trầm trọng hơn. Thứ hai, cần bình tĩnh phân tích nguyên nhân, bản chất của mâu thuẫn, tránh để cảm xúc chi phối. Khi xảy ra mâu thuẫn với người khác, hãy đặt mình vào vị trí của họ để thấu hiểu, sẵn sàng lắng nghe và đối thoại. Giải pháp tốt nhất là tìm kiếm tiếng nói chung dựa trên các giá trị đạo đức, lẽ phải và tình người. Đối với mâu thuẫn nội tâm, cần có bản lĩnh, lý trí sáng suốt và một trái tim nhạy cảm để lựa chọn con đường đúng đắn. Chẳng hạn, trước mâu thuẫn giữa việc theo đuổi đam mê và mong muốn của gia đình, người trẻ cần lắng nghe cha mẹ nhưng cũng mạnh dạn trình bày khát vọng của mình để tìm ra hướng đi dung hòa nhất.
Cuộc sống là tổng hòa của những mâu thuẫn. Sẽ không có ánh sáng nếu không có bóng tối, không có hạnh phúc nếu chưa từng nếm trải đau khổ. Điều quan trọng không phải là tránh cho bằng được mọi mâu thuẫn, mà là học cách đối diện và vượt qua chúng bằng bản lĩnh, trí tuệ và trái tim nhân hậu. Mỗi mâu thuẫn được giải quyết là một bước trưởng thành trên hành trình hoàn thiện nhân cách, để mỗi chúng ta có thể sống một cuộc đời ý nghĩa và hạnh phúc hơn.
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 8
Đề thi
ĐỀ THI GIỮA KÌ 2 NGỮ VĂN 12 KNTTVCS
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau
Trời hửng (Tình thiên)
- Hồ Chí Minh-
Sự vật vẫn xoay đà định sẵn,
Hết mưa là nắng hửng lên thôi;
Đất trời một thoáng thu màn ướt,
Sông núi muôn trùng trải gấm phơi;
Trời ẩm, hoa cười chào gió nhẹ,
Cây cao, chim hót rộn cành tươi;
Người cùng vạn vật đều phơi phới,
Hết khổ là vui vốn lẽ đời.
(Nam Trân dịch)
Câu 1: Nêu căn cứ để xác định thể thơ trong bài thơ trên.
Câu 2: Chỉ ra nghệ thuật ẩn dụ trong câu thơ “Hết mưa là nắng hửng lên thôi”.
Câu 3: Nêu tác dụng của yếu tố cổ điển và hiện đại trong bài thơ
Câu 4: Qua bài thơ, anh chị cảm nhận được điều gì trong vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh?
Câu 5: Từ nội dung của 2 câu thơ cuối, anh/ chị rút ra được những bài học gì cho bản thân? (Trình bày khoảng 5-7 dòng)
II. PHẦN VIẾT
Câu 1.
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) làm rõ tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài thơ Trời hửng (Hồ Chí Minh) được trích dẫn ở phần Đọc hiểu.
Câu 2.
Nhà bác học người Pháp Marie Curie cho rằng: Tổ quốc quan trọng hơn sinh mệnh, là cha mẹ của chúng ta, là đất đai của chúng ta.
Từ câu nói trên, anh/ chị hãy viết một bài văn (khoảng 600 chữ) bàn về trách nhiệm của tuổi trẻ đối với nền độc lập của Tổ quốc.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về đặc điểm thể thơ Đường luật.
- Quan sát số câu, số chữ trong mỗi câu, cách gieo vần, bố cục của bài thơ.
Cách giải:
- Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
- Căn cứ xác định:
+ Bài thơ gồm 8 câu (bát cú)
+ Mỗi câu 7 chữ (thất ngôn).
+ Có niêm luật và gieo vần theo quy luật thơ Đường, gieo vần bằng ở cuối các câu 2, 4, 6, 8
Câu 2:
Phương pháp:
- Xác định hình ảnh ẩn dụ trong câu thơ.
- Liên hệ ý nghĩa tượng trưng của hình ảnh đó trong đời sống con người.
Cách giải:
- Trong câu thơ “Hết mưa là nắng hửng lên thôi”:
+ Hình ảnh “mưa” là ẩn dụ cho khó khăn, thử thách, đau khổ trong cuộc sống.
+ Hình ảnh “nắng hửng” là ẩn dụ cho niềm vui, sự tươi sáng, hi vọng sau gian khổ.
=> Câu thơ gửi gắm một triết lí: sau khó khăn, thử thách thì niềm vui và ánh sáng sẽ đến.
Câu 3:
Phương pháp:
- Nhận diện yếu tố cổ điển (thể thơ, bút pháp, hình ảnh thiên nhiên).
- Nhận diện yếu tố hiện đại (cảm hứng sống, tư tưởng, cách nhìn cuộc đời).
- Nêu tác dụng kết hợp của hai yếu tố.
Cách giải:
- Yếu tố cổ điển:
+ Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
+ Hình ảnh thiên nhiên quen thuộc: trời, đất, sông, núi, hoa, chim.
+ Bút pháp tả cảnh ngụ tình.
- Yếu tố hiện đại:
+ Tinh thần lạc quan, tin tưởng vào tương lai.
+ Quan niệm sống tích cực: sau gian khổ sẽ là niềm vui.
→ Tác dụng: Sự kết hợp giữa cổ điển và hiện đại làm cho bài thơ vừa giàu chất truyền thống, vừa thể hiện tinh thần sống tích cực, lạc quan của con người thời đại mới, qua đó làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của tác giả.
Câu 4:
Phương pháp:
- Phân tích bức tranh thiên nhiên và triết lí sống trong bài thơ.
- Từ đó khái quát phẩm chất tâm hồn của tác giả.
Cách giải:
Qua bài thơ, có thể cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh:
- Tình yêu thiên nhiên tha thiết, cảm nhận tinh tế trước sự biến chuyển của đất trời sau cơn mưa.
- Tinh thần lạc quan, yêu đời, luôn hướng tới ánh sáng và niềm vui.
- Niềm tin vào quy luật cuộc sống: sau gian khổ sẽ đến hạnh phúc.
=> Bài thơ thể hiện một tâm hồn ung dung, lạc quan và giàu nghị lực, dù trong hoàn cảnh khó khăn vẫn luôn tin tưởng vào tương lai.
Câu 5:
Phương pháp:
- Xác định ý nghĩa hai câu thơ cuối: triết lí về quy luật cuộc đời.
- Rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Hai câu thơ cuối gợi cho tôi nhiều suy ngẫm về quy luật của cuộc sống. Trong hành trình trưởng thành, con người khó tránh khỏi những khó khăn và thử thách. Tuy nhiên, nếu biết kiên trì và giữ vững niềm tin, ta sẽ vượt qua những “cơn mưa” của cuộc đời để đón nhận “ánh nắng” của niềm vui và thành công. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện bản lĩnh, không nản lòng trước thất bại. Chính thái độ sống lạc quan và nghị lực bền bỉ sẽ giúp ta vững bước trên con đường phía trước.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
* Mở đoạn:
Giới thiệu khái quát tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài thơ Trời hửng.
* Thân đoạn:
- Cảm xúc ung dung, bình thản trước quy luật vận động của tự nhiên: “Sự vật vẫn xoay đà định sẵn” → nhận thức sâu sắc về quy luật của cuộc đời.
- Niềm vui, sự rung động trước bức tranh thiên nhiên sau cơn mưa:
+ Hình ảnh thiên nhiên tươi sáng: sông núi, hoa, chim, gió nhẹ.
+ Thiên nhiên tràn đầy sức sống → tâm hồn con người cũng phơi phới, yêu đời.
- Niềm tin và triết lí sống lạc quan: Từ cảnh thiên nhiên rút ra quy luật cuộc đời: sau gian khổ sẽ đến niềm vui.
* Kết đoạn:
Khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Trong bài thơ Trời hửng, nhân vật trữ tình bộc lộ một tâm trạng phơi phới, lạc quan và tràn đầy niềm tin vào quy luật tốt đẹp của cuộc sống. Trước hết, đó là cảm giác ung dung, bình thản khi nhận ra sự vận động tất yếu của vạn vật: “Sự vật vẫn xoay đà định sẵn”. Cách nhìn ấy cho thấy một tâm hồn từng trải, hiểu rõ quy luật của tự nhiên cũng như của đời sống con người. Từ sau cơn mưa, bức tranh thiên nhiên hiện lên tươi sáng và tràn đầy sức sống: sông núi như “trải gấm phơi”, hoa nở tươi cười trong gió nhẹ, chim hót rộn ràng trên cành cao. Những hình ảnh giàu sức gợi ấy thể hiện sự rung động tinh tế của nhân vật trữ tình trước vẻ đẹp của đất trời. Thiên nhiên như được hồi sinh sau mưa, mang đến cảm giác khoan khoái và niềm vui lan tỏa trong lòng người. Không chỉ dừng lại ở cảm xúc trước cảnh vật, nhân vật trữ tình còn rút ra một triết lí sâu sắc về cuộc đời: “Hết khổ là vui vốn lẽ đời”. Qua đó, ta thấy được niềm tin mạnh mẽ vào quy luật tất yếu của cuộc sống: sau những khó khăn, gian khổ sẽ là niềm vui và ánh sáng. Bài thơ vì thế không chỉ khắc họa vẻ đẹp của thiên nhiên sau mưa mà còn thể hiện một tâm hồn giàu nghị lực, luôn lạc quan và hướng về tương lai.
Câu 2:
Phương pháp:
* Mở bài:
- Dẫn dắt từ câu nói của Marie Curie.
- Nêu vấn đề nghị luận: trách nhiệm của tuổi trẻ đối với nền độc lập của Tổ quốc.
* Thân bài:
a. Giải thích
- Tổ quốc là quê hương, đất nước, cội nguồn của mỗi con người.
- Ý nghĩa cả câu
b. Ý nghĩa của nền độc lập
- Độc lập là điều kiện để đất nước phát triển.
- Nhân dân được sống tự do, hạnh phúc.
- Là thành quả của sự hi sinh của nhiều thế hệ cha anh.
c. Phê phán
- Những người trẻ thờ ơ với vận mệnh đất nước.
- Lối sống ích kỉ, thiếu trách nhiệm với xã hội.
d. Trách nhiệm của tuổi trẻ
- Nhận thức đúng đắn về giá trị của độc lập, chủ quyền dân tộc.
- Ra sức học tập, rèn luyện, chuẩn bị tri thức để xây dựng đất nước.
- Giữ gìn và phát huy truyền thống yêu nước.
- Sẵn sàng cống hiến, bảo vệ Tổ quốc khi cần thiết.
- Sống có trách nhiệm với cộng đồng và xã hội.
* Kết bài:
Khẳng định lại ý nghĩa thiêng liêng của nền độc lập dân tộc và vai trò của tuổi trẻ trong việc giữ gìn và phát triển Tổ quốc.
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Nhà bác học người Pháp Marie Curie từng khẳng định rằng: Tổ quốc quan trọng hơn sinh mệnh, là cha mẹ của chúng ta, là đất đai của chúng ta. Câu nói giản dị nhưng chứa đựng ý nghĩa sâu sắc, nhắc nhở mỗi con người về giá trị thiêng liêng của Tổ quốc. Đối với tuổi trẻ, thế hệ đang mang trong mình sức sống và khát vọng cống hiến, ý thức trách nhiệm đối với nền độc lập của đất nước lại càng có ý nghĩa quan trọng.
Tổ quốc là quê hương, là nơi gắn bó với lịch sử, văn hóa và truyền thống của dân tộc. Nền độc lập của Tổ quốc chính là điều kiện để đất nước phát triển, để nhân dân được sống trong hòa bình, tự do và hạnh phúc. Độc lập ấy không phải tự nhiên mà có, mà được đánh đổi bằng biết bao hi sinh của các thế hệ cha anh. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã ghi lại nhiều trang sử hào hùng trong công cuộc bảo vệ đất nước. Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 do Ngô Quyền lãnh đạo đã mở ra thời kì độc lập lâu dài cho dân tộc. Trong thế kỉ XX, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã làm nên những chiến thắng vang dội, tiêu biểu là chiến thắng Điện Biên Phủ, chấm dứt ách thống trị của thực dân, khẳng định mạnh mẽ ý chí độc lập của dân tộc. Những sự kiện lịch sử ấy nhắc nhở thế hệ hôm nay phải trân trọng và gìn giữ nền độc lập mà cha ông đã dày công xây dựng.
Trong bối cảnh hiện nay, trách nhiệm của tuổi trẻ đối với nền độc lập của Tổ quốc không chỉ thể hiện trong chiến đấu bảo vệ đất nước mà còn được thể hiện qua nhiều hành động thiết thực. Trước hết, mỗi người trẻ cần nuôi dưỡng lòng yêu nước và nhận thức đúng đắn về giá trị của độc lập dân tộc. Bên cạnh đó, tuổi trẻ cần ra sức học tập, rèn luyện tri thức và kĩ năng để đóng góp vào sự phát triển của đất nước. Trong thời đại khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, tri thức chính là sức mạnh giúp quốc gia vươn lên và khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Ngoài ra, thanh niên cần tích cực tham gia các hoạt động vì cộng đồng, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Thực tế cho thấy có rất nhiều người trẻ đang nỗ lực cống hiến cho đất nước bằng những việc làm thiết thực. Nhiều học sinh, sinh viên Việt Nam đạt thành tích cao trong các kì thi quốc tế, góp phần khẳng định trí tuệ Việt Nam. Nhiều thanh niên tình nguyện tham gia các chương trình hỗ trợ cộng đồng, giúp đỡ người dân ở vùng sâu vùng xa. Không ít bạn trẻ đang miệt mài nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp sáng tạo hoặc tham gia lực lượng quân đội, công an để bảo vệ và xây dựng đất nước. Những việc làm ấy tuy thầm lặng nhưng đã thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm của tuổi trẻ đối với Tổ quốc.
Tuy nhiên, trong xã hội vẫn còn một bộ phận người trẻ sống thờ ơ, thiếu trách nhiệm với đất nước, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân mà quên đi nghĩa vụ với cộng đồng. Lối sống ích kỉ, thiếu lí tưởng ấy cần được phê phán và thay đổi. Mỗi người trẻ cần hiểu rằng tương lai của đất nước gắn liền với tương lai của chính mình, vì vậy không thể đứng ngoài những vấn đề chung của dân tộc.
Là thế hệ trẻ hôm nay, mỗi chúng ta cần ý thức rõ trách nhiệm của bản thân bằng cách học tập nghiêm túc, rèn luyện đạo đức, sống có trách nhiệm với xã hội và sẵn sàng cống hiến khi Tổ quốc cần. Khi mỗi người trẻ đều có tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nước, nền độc lập của đất nước sẽ ngày càng vững bền và phát triển. Lời nhắn nhủ của Marie Curie vì thế vẫn luôn mang ý nghĩa sâu sắc, nhắc nhở chúng ta phải biết trân trọng và cống hiến cho Tổ quốc thân yêu.
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 9
Đề thi
ĐỀ THI GIỮA KÌ 2 NGỮ VĂN 12 KNTTVCS
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu:
HOÀNG HÔN
Hồ Chí Minh
Phiên âm:
Phong như lợi kiếm ma sơn thạch,
Hàn tự tiêm phong thích thụ chi;
Viễn tự chung thanh thôi khách bộ,
Mục đồng xuy địch dẫn ngưu quy.
Dịch nghĩa:
Gió như gươm sắc mài đá núi,
Rét như giáo nhọn chích cành cây;
Tiếng chuông chùa xa giục bước chân khách,
Trẻ chăn trâu thổi sáo dẫn trâu về.
Dịch thơ:
Gió sắc tựa gươm mài đá núi
Rét như dùi nhọn chích cành cây
Chùa xa chuông giục người nhanh bước
Trẻ dắt trâu về tiếng sáo bay
(Bản dịch của Nam Trân)
(Hồ Chí Minh- Nhật kí trong tù, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia
- Sự Thật Hà Nội-2015, tr.103)
* Chú thích: Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác
+ “Hoàng hôn” là bài thơ thứ 31, trích trong tập thơ Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh. Tập thơ được Bác sáng tác khi bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam trong suốt 13 tháng.
+ Bài thơ sáng tác vào cuối mùa thu năm 1942, khi tác giả bị bắt giam ở nhà tù Quảng Châu của quân đội Quốc dân Trung Hoa, trên đường chuyển lao từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo.
Trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào (bản nguyên tác)?
Câu 2. Chỉ ra những âm thanh được tác giả nhắc tới trong hai câu thơ cuối của bài thơ ?
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ đầu của bài thơ ?
Gió sắc tựa gươm mài đá núi
Rét như dùi nhọn chích cành cây
Câu 4. Bức tranh về cuộc sống con người được miêu tả ở hai câu sau bài thơ Hoàng hôn gợi cho anh/ chị hiểu gì về đời sống tâm hồn của người tù- nhà thơ?
Câu 5. Thông điệp nào của bài thơ có ý nghĩa nhất với anh/ chị? Vì sao? ( trả lời trong khoảng 7 đến 10 dòng).
II. VIẾT
Bàn về sự không hoàn hảo của con người và cuộc sống, cổ nhân có câu: Kim vô túc xích, nhân vô thập toàn (vàng chẳng thể thuần khiết, con người không ai hoàn hảo).
Leonard Norman Cohen, huyền thoại âm nhạc và là tiểu thuyết gia nổi tiếng của Canada cũng chia sẻ: Vạn vật đều có vết nứt, đó chính là nơi ánh sáng chiếu vào.
Từ góc nhìn của người trẻ, anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận ( khoảng 600 chữ) bàn về thái độ cần có của người trẻ trước những điều không hoàn hảo của con người và cuộc sống.
...............................................................Hết........................................................................
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về thể thơ Đường luật
- Căn cứ vào các đặc điểm: số chữ, số dòng, niêm, luật,...
Cách giải:
Thể thơ: thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kĩ hai câu thơ cuối.
- Xác định các từ ngữ chỉ âm thanh xuất hiện trong câu thơ.
Cách giải:
Những âm thanh được nhắc tới là: Tiếng chuông chùa, tiếng sáo
Câu 3:
Phương pháp:
- Xác định biện pháp tu từ được sử dụng.
- Phân tích tác dụng về nội dung và nghệ thuật
Cách giải:
- Biện pháp tu từ: so sánh “Phong như lợi kiếm ma sơn thạch”, “Hàn tự tiêm phong thích thụ chi”
- Tác dụng:
+ Giúp cho sự diễn đạt trở nên sinh động, hấp dẫn, gợi hình gợi cảm
+ Nhấn mạnh sự khắc nghiệt, lạnh buốt của thiên nhiên nơi núi rừng khi chiều xuống.
+ Qua đó gợi ra hoàn cảnh gian khổ trên con đường chuyển lao của người tù, đồng thời làm nổi bật ý chí kiên cường của người chiến sĩ cách mạng, dù hoàn cảnh khắc nghiệt vẫn bền bỉ tiến bước.
Câu 4:
Phương pháp:
- Phân tích hình ảnh và âm thanh trong hai câu cuối.
- Từ đó rút ra tâm hồn và phẩm chất của nhân vật trữ tình.
Cách giải:
Từ bức tranh cuộc sống con người, hiểu về đời sống tâm hồn của người tù- nhà thơ:
- Bức tranh cuộc sống con người: thanh bình, dung dị, ấm áp, nên thơ...
- Đời sống tâm hồn người tù- nhà thơ:
+ Người tù với bản lĩnh thép vượt lên trên hoàn cảnh khắc nghiệt.
+ Tâm hồn tinh tế, nhạy cảm lắng nghe và cảm nhận những âm thanh và hình ảnh đẹp đẽ của cuộc sống( tiếng chuông chùa và mục đồng dắt trâu về nhà).
+ Tâm hồn lạc quan, yêu đời và khát vọng trở về quê hương.
=> Sự hoà hợp giữa tâm hồn thi sĩ và cốt cách chiến sĩ trong con người Bác
Câu 5:
Phương pháp:
- Xác định thông điệp chính của bài thơ.
- Trình bày suy nghĩ cá nhân, lí giải ngắn gọn
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Thông điệp có ý nghĩa nhất đối với tôi là: Dù trong hoàn cảnh khó khăn, con người vẫn cần giữ cho mình tinh thần lạc quan và khả năng cảm nhận vẻ đẹp của cuộc sống. Bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh lao tù gian khổ nhưng tác giả vẫn lắng nghe được tiếng chuông chùa và tiếng sáo mục đồng trong buổi hoàng hôn. Điều đó cho thấy một tâm hồn bình tĩnh, giàu nghị lực và luôn hướng về ánh sáng của sự sống. Trong cuộc sống hôm nay, mỗi người trẻ cũng sẽ gặp nhiều thử thách, áp lực. Nếu biết giữ thái độ lạc quan, nhìn thấy những điều tốt đẹp xung quanh, chúng ta sẽ có thêm sức mạnh để vượt qua khó khăn và tiếp tục tiến bước.
II. VIẾT
Phương pháp:
* Giới thiệu vấn đề xã hội cần bàn luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Triển khai vấn đề nghị luận. Xem xét vấn đề dưới nhiều góc nhìn khác nhau, bàn về các khía cạnh của vấn đề, kết hợp lí lẽ và dẫn chứng thuyết phục.
- Giải thích vấn đề nghị luận:
+ Ý kiến của cổ nhân: mọi thứ trên đời đều không hoàn hảo.
+ Ý kiến của Leonard Cohen: những khiếm khuyết hạn chế của vạn vật sẽ là cơ hội để vạn vật hoàn thiện mình.
=> Không hoàn hảo là những khiếm khuyết, sai sót, lỡ dở của con người hoặc sự vật, sự việc. Hãy biết chấp nhận, tận hưởng vẻ đẹp không hoàn hảo của cuộc sống, con người nói chung, của bản thân mình nói riêng trong mọi khoảnh khắc của đời sống.
- Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo hướng sau:
+ Nhân vô thập toàn, mọi vật trên đời đều không hoàn hảo, không toàn mĩ, toàn thiện. Mọi thứ luôn vận động, biến đổi không ngừng…Khát vọng chạm đến vẻ đẹp vĩnh cửu, vĩnh viễn hoá nhứng khoảnh khắc tươi đẹp thăng hoa của con người là không thể.
+ Biết chấp nhận, tận hưởng vẻ đẹp không hoàn hảo giúp con người sẽ dễ dàng tìm thấy cảm giác hài lòng với mọi thứ xung quanh, hoà hợp với mọi người, làm bạn với chính mình, an nhiên trong cuộc sống…Từ đó con người có được hạnh phúc và bình yên.
+ Có cái nhìn thấu hiểu, bao dung, đồng cảm với khuyết điểm, sai lầm của người khác. Từ đó mối quan hệ giữa người với người bền chặt, chân thành. Nhờ đó xã hội cũng trở nên văn minh, nhân ái hơn.
+ Không nhìn đời, nhìn người bằng ánh mắt hằn học, miệt thị, chê bai.
+ Việc nhìn nhận những điều không hoàn hảo của chính bản thân là vô cùng cần thiết: ta biết trân quý bản thân, dám kiêu hãnh tỏa sáng với những điều vốn có, có thêm động lực để trau dồi, hoàn thiện bản thân, lan tỏa những điều tốt đẹp đến với mọi người..
- Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều: chấp nhận, trân trọng vẻ đẹp không hoàn hảo không có nghĩa là an phận thủ thường, thiếu tinh thần cầu thị, cầu tiến, thiếu ý thức hoàn thiện bản thân…
* Khẳng định lại quan điểm cá nhân và rút ra bài học: chấp nhận con người mình, không mặc cảm, tự ti về những khiếm khuyết của mình; bao dung với người khác; nỗ lực hoàn thiện mình…
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Trong cuộc sống, con người luôn mong muốn đạt tới sự hoàn hảo. Ai cũng hi vọng bản thân trở nên tốt đẹp hơn và mọi việc diễn ra trọn vẹn như ý. Tuy nhiên, thực tế cho thấy không có điều gì hoàn toàn hoàn mỹ. Bởi vậy, cổ nhân từng nói: “Kim vô túc xích, nhân vô thập toàn”, còn Leonard Norman Cohen lại cho rằng: “Vạn vật đều có vết nứt, đó chính là nơi ánh sáng chiếu vào”. Hai quan niệm ấy gợi cho chúng ta suy nghĩ về thái độ cần có của con người, đặc biệt là người trẻ, trước những điều không hoàn hảo của bản thân và của cuộc sống.
Câu nói của cổ nhân khẳng định một thực tế rằng trên đời này không có điều gì hoàn toàn trọn vẹn. Vàng là kim loại quý giá nhưng cũng không thể đạt đến độ tinh khiết tuyệt đối. Con người dù tài giỏi hay tốt đẹp đến đâu cũng vẫn tồn tại những thiếu sót nhất định. Trong khi đó, Leonard Cohen lại nhìn nhận sự không hoàn hảo dưới một góc nhìn tích cực hơn. Ông cho rằng chính những “vết nứt”, những khiếm khuyết của sự vật lại mở ra cơ hội để ánh sáng đi vào. Ánh sáng ở đây có thể hiểu là hi vọng, là sự thay đổi và phát triển. Như vậy, không hoàn hảo chính là những hạn chế, sai sót hay lỡ dở trong cuộc sống. Điều quan trọng là con người cần học cách chấp nhận và tìm thấy ý nghĩa trong những điều chưa trọn vẹn ấy.
Thực tế cho thấy sự không hoàn hảo là điều tất yếu của cuộc sống. Mọi sự vật đều luôn vận động và biến đổi nên khó có thể tồn tại ở trạng thái hoàn mỹ tuyệt đối. Con người cũng vậy, ai cũng có những điểm mạnh và điểm yếu riêng. Khi hiểu được điều đó, chúng ta sẽ không còn quá khắt khe với bản thân hay với người khác. Biết chấp nhận sự không hoàn hảo giúp con người cảm thấy nhẹ nhõm hơn trong cuộc sống, dễ dàng tìm thấy sự hài lòng với những điều giản dị xung quanh và sống an nhiên hơn.
Không chỉ vậy, việc chấp nhận những điều chưa hoàn hảo còn giúp con người trở nên bao dung và thấu hiểu hơn với người khác. Khi nhận ra rằng ai cũng có những sai lầm và thiếu sót, ta sẽ bớt phán xét, thay vào đó là sự cảm thông và sẻ chia. Nhờ vậy, các mối quan hệ giữa người với người trở nên chân thành và bền chặt hơn. Trong thực tế, nhiều người thành công đã từng trải qua không ít thất bại. Doanh nhân Jack Ma từng nhiều lần thi trượt đại học và bị từ chối trong nhiều công việc khác nhau. Tuy vậy, ông không nản chí mà xem những thất bại ấy là cơ hội để học hỏi và hoàn thiện bản thân. Chính nhờ thái độ tích cực trước những “vết nứt” trong cuộc đời mà ông đã vươn lên trở thành một doanh nhân nổi tiếng.
Bên cạnh đó, việc nhìn nhận những hạn chế của bản thân cũng là điều cần thiết đối với mỗi người trẻ. Khi hiểu rõ điểm mạnh và điểm yếu của mình, ta sẽ biết trân trọng những giá trị mình đang có, đồng thời có thêm động lực để rèn luyện và hoàn thiện bản thân. Một người biết chấp nhận bản thân sẽ không mặc cảm hay tự ti trước khuyết điểm của mình mà có thể tự tin phát triển theo cách riêng, đóng góp những điều tốt đẹp cho xã hội.
Tuy nhiên, cần hiểu rằng chấp nhận sự không hoàn hảo không có nghĩa là buông xuôi hay bằng lòng với những hạn chế của bản thân. Nếu lấy đó làm lí do để biện minh cho sự lười biếng hoặc thiếu cố gắng thì con người sẽ không thể tiến bộ. Điều quan trọng là mỗi người vừa biết chấp nhận những thiếu sót của mình, vừa không ngừng nỗ lực học hỏi và rèn luyện để trở nên tốt hơn.
Tóm lại, sự không hoàn hảo là một phần tự nhiên của cuộc sống. Điều quan trọng là cách con người nhìn nhận và đối diện với nó. Mỗi người trẻ cần học cách chấp nhận bản thân, không mặc cảm trước những khiếm khuyết của mình, đồng thời biết bao dung với người khác và không ngừng cố gắng hoàn thiện bản thân.
Đề thi giữa kì 2 Văn 12 - Đề số 10
Đề thi
ĐỀ THI GIỮA KÌ 2 NGỮ VĂN 12 KNTTVCS
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
CẢNH RỪNG VIỆT BẮC
- Hồ Chí Minh-
Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay,
Vượn hót chim kêu suốt cả ngày.
Khách đến thì mời ngô nếp nướng,
Săn về thường chén thịt rừng quay.
Non xanh, nước biếc tha hồ dạo,
Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say.
Kháng chiến thành công ta trở lại,
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này.
1947
(In trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.376)
Chú thích:
Cảnh rừng Việt Bắc: được Bác Hồ viết vào mùa xuân năm 1947, sau một năm quân ta tạm rút khỏi thủ đô Hà Nội để lên núi rừng bạt ngàn Việt Bắc, lập căn cứ làm cuộc trường kỳ kháng chiến thần thánh chín năm chống thực dân Pháp. Đây là lần thứ hai, Bác Hồ và Trung ương Đảng sống, làm việc tại căn cứ địa Việt Bắc để lãnh đạo cách mạng.
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2. Những chi tiết, hình ảnh nào trong 6 câu thơ đầu miêu tả cảnh thiên nhiên ở rừng Việt Bắc?
Câu 3. Phân tích hiệu quả của việc sử dụng phép liệt kê trong câu thơ sau:
Kháng chiến thành công ta trở lại,
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này.
Câu 4. Anh/chị cảm nhận như thế nào về cuộc sống sinh hoạt của con người ở núi rừng Việt Bắc?
Câu 5. Qua văn bản, anh/chị hãy nêu một bài học có ý nghĩa nhất đối với bản thân và lí giải.
II. PHẦN VIẾT
“Leo lên đỉnh cao là để các em có thể nhìn ra thế giới chứ không phải để thế giới nhận ra các em” (Trích Bài phát biểu tại buổi lễ tốt nghiệp trường Trung học Wellesley của David McCullough).
Anh/chị hãy viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề thế hệ trẻ ngày nay cần nhận thức đúng đắn về việc “chinh phục những đỉnh cao” trong cuộc sống.
----------------HẾT---------------
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về thể thơ Đường luật
- Căn cứ vào các đặc điểm: số chữ, số dòng, niêm, luật,...
Cách giải:
Bài thơ viết theo: thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kĩ 6 câu thơ đầu.
- Xác định những từ ngữ, hình ảnh gợi tả thiên nhiên
Cách giải:
Những chi tiết, hình ảnh miêu tả cảnh thiên nhiên ở rừng Việt Bắc: vượn hót chim kêu; non xanh nước biếc.
Câu 3:
Phương pháp:
- Xác định biện pháp tu từ được sử dụng.
- Phân tích ít nhất 2 tác dụng
Cách giải:
- Phép liệt kê: trăng xưa, hạc cũ với xuân này.
- Hiệu quả của việc sử dụng phép liệt kê là:
+ Tạo nhịp điệu vui tươi, phấn chấn cho câu thơ
+ Gợi lên những hình ảnh quen thuộc, thân thiết của núi rừng Việt Bắc, thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng của Bác Hồ với thiên nhiên và con người nơi đây.
+ Thể hiện niềm tin lạc quan vào thắng lợi của cuộc kháng chiến, ngày trở lại Việt Bắc trong hòa bình.
Câu 4:
Phương pháp:
- Dựa vào các chi tiết miêu tả sinh hoạt và đời sống con người trong bài thơ.
- Nhận xét về đặc điểm đời sống và tình cảm con người.
Cách giải:
- Cuộc sống sinh hoạt của con người ở núi rừng Việt Bắc giản dị nhưng ấm áp và giàu tình nghĩa. Những hình ảnh như ngô nếp nướng, thịt rừng quay cho thấy đời sống tuy mộc mạc, gắn bó với thiên nhiên nhưng rất chân thành, hiếu khách.
- Con người nơi đây còn có tinh thần lạc quan, yêu đời, tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên với non xanh, nước biếc, rượu ngọt, chè tươi.
=> Điều đó gợi lên một cuộc sống kháng chiến tuy còn nhiều gian khó nhưng vẫn thanh thản, vui tươi và đầy nghĩa tình.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý một số bài học sau:
- Cần biết sống hòa hợp với thiên nhiên
- Sống lạc quan, tin tưởng vào tương lai.
….
Cách giải:
Qua văn bản, em rút ra bài học rằng mỗi người cần sống hòa hợp với thiên nhiên và luôn giữ tinh thần lạc quan, tin tưởng vào tương lai. Thiên nhiên trong bài thơ hiện lên tươi đẹp, gần gũi, cho thấy khi con người biết gắn bó với thiên nhiên, cuộc sống sẽ trở nên thanh bình và ý nghĩa hơn. Bên cạnh đó, dù trong hoàn cảnh kháng chiến còn nhiều gian khổ, tác giả vẫn thể hiện niềm tin vào ngày thắng lợi. Điều đó nhắc nhở chúng ta cần giữ thái độ sống tích cực, lạc quan để vượt qua khó khăn và hướng tới những điều tốt đẹp trong cuộc sống.
II. PHẦN VIẾT
Phương pháp:
1. Giới thiệu được vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm cá nhân về vấn đề nghị luận.
2. Triển khai vấn đề cần nghị luận:
*) Giải thích:
- Leo lên đỉnh cao: chinh phục thử thách; khẳng định vị trí trong xã hội; gặt hái thành công
- Nhìn ra thế giới: nhận ra thế giới rộng lớn; mở rộng tầm mắt; hiểu được giới hạn của bản thân.
- Thế giới nhận ra các em: khoe mẽ, tự đắc, cảm giác đứng cao hơn người khác.
=> Với mỗi người phấn đấu lên được đỉnh cao là để mở rộng tầm mắt, để có hiểu biết sâu rộng hơn chứ không phải để mọi người biết đến mình, để đắm chìm trong những lời ca tụng.
*) Bàn luận:
- Nêu rõ quan điểm của bản thân: đồng tình/không đồng tình.
- Lí giải cho quan điểm:
+ Mong ước thành công: chính đáng và là ước muốn chung của mọi người.
+ Thử thách trong cuộc sống: vô vàn – những điều con người chưa biết: vô hạn -> không có giới hạn cho sự thành công cũng như không có giới hạn cho những đỉnh cao mà con người muốn chinh phục.
+ Chinh phục đỉnh cao để tự khẳng định giá trị của bản thân mình
+ Chinh phục đỉnh cao để hiểu được giới hạn của bản thân, để có động lực khám phá những điều mới lạ -> con người sẽ luôn nỗ lực vươn lên, sẽ dám bước ra khỏi vùng an toàn của bản thân, luôn cầu thị.
+ Chinh phục đỉnh cao để cống hiến nhiều hơn cho xã hội, để lan tỏa nhiều hơn những điều tốt đẹp.
*) Mở rộng vấn đề:
- Nếu chinh phục đỉnh cao chỉ để thỏa mãn khát vọng được đứng lên trên người khác hay để được tung hô -> con người sớm tự mãn, tự trở nên tầm thường, dễ dàng ngủ quên trong chiến thắng.
- Chinh phục đỉnh cao không đồng nghĩa với tính hiếu thắng.
*) Bài học:
- Không ngừng học tập và đặt ra những mục tiêu rõ ràng, phù hợp cho bản thân.
- Luôn khiêm tốn và cầu thị.
3. Khẳng định lại vấn đề nghị luận
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong bài phát biểu tại lễ tốt nghiệp của trường Trung học Wellesley, David McCullough từng chia sẻ: “Leo lên đỉnh cao là để các em có thể nhìn ra thế giới chứ không phải để thế giới nhận ra các em.” Câu nói đã gợi ra một cách nhìn sâu sắc về ý nghĩa của việc chinh phục những đỉnh cao trong cuộc sống. Đối với thế hệ trẻ ngày nay, nhận thức đúng đắn về điều này là vô cùng cần thiết để mỗi người biết nỗ lực vươn lên một cách đúng đắn và bền vững.
“Leo lên đỉnh cao” có thể hiểu là quá trình con người nỗ lực vượt qua thử thách để đạt được thành công, khẳng định vị trí của mình trong xã hội. Khi đứng trên “đỉnh cao”, con người có cơ hội “nhìn ra thế giới”, tức là mở rộng tầm mắt, nhận ra thế giới rộng lớn với vô vàn điều mới mẻ, đồng thời hiểu rõ hơn giới hạn của bản thân. Ngược lại, nếu leo lên đỉnh cao chỉ để “thế giới nhận ra các em”, đó là khi con người coi thành công như một cách để khoe mẽ, tự đắc và cảm thấy mình đứng cao hơn người khác. Như vậy, câu nói đã nhấn mạnh rằng việc chinh phục đỉnh cao trước hết phải nhằm mở rộng nhận thức, hoàn thiện bản thân, chứ không phải để tìm kiếm sự tung hô hay những lời ca tụng.
Tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm trên. Mong muốn đạt được thành công là ước mơ chính đáng và phổ biến của mỗi con người. Tuy nhiên, cuộc sống luôn đặt ra vô vàn thử thách và thế giới còn chứa đựng vô số điều con người chưa khám phá hết. Vì vậy, không có giới hạn cho sự thành công cũng như không có giới hạn cho những “đỉnh cao” mà con người có thể chinh phục. Khi nỗ lực vươn lên, con người không chỉ khẳng định giá trị của bản thân mà còn có cơ hội hiểu rõ năng lực và giới hạn của mình. Chính sự nhận thức ấy sẽ trở thành động lực để mỗi người tiếp tục học hỏi, khám phá những điều mới mẻ và không ngừng hoàn thiện bản thân. Hơn thế nữa, khi đạt được những thành tựu nhất định, con người còn có điều kiện đóng góp nhiều hơn cho xã hội, lan tỏa những giá trị tốt đẹp và truyền cảm hứng cho những người xung quanh.
Tuy nhiên, nếu việc chinh phục đỉnh cao chỉ nhằm thỏa mãn khát vọng được đứng trên người khác hay để được tung hô, con người rất dễ rơi vào trạng thái tự mãn. Khi đó, họ có thể ngủ quên trong chiến thắng và dần trở nên tầm thường. Vì vậy, chinh phục đỉnh cao không đồng nghĩa với sự hiếu thắng hay khao khát vượt trội hơn người khác, mà cần gắn liền với tinh thần học hỏi, cầu thị và khát vọng cống hiến.
Từ đó, mỗi người trẻ cần rút ra cho mình những bài học thiết thực. Trước hết, chúng ta cần không ngừng học tập, rèn luyện và đặt ra những mục tiêu rõ ràng, phù hợp với khả năng của bản thân. Đồng thời, dù đạt được thành công nào, mỗi người cũng cần giữ thái độ khiêm tốn, luôn sẵn sàng học hỏi và tiếp tục nỗ lực vươn lên. Chỉ khi có nhận thức đúng đắn như vậy, hành trình chinh phục những đỉnh cao của con người mới thực sự có ý nghĩa.
Có thể nói, đỉnh cao của cuộc sống không phải là nơi để con người tự hào về mình trước thế giới, mà là nơi giúp ta nhìn thấy thế giới rộng lớn hơn và nhận ra mình cần tiếp tục cố gắng. Khi hiểu được điều đó, mỗi người trẻ sẽ biết cách vươn lên đúng đắn, không ngừng hoàn thiện bản thân và đóng góp nhiều hơn cho xã hội.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP12
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
