Đề thi học kì 1 Ngữ Văn 11
Đề cương ôn tập học kì 1 Văn 11 - Kết nối tri thức
A. NỘI DUNG ÔN TẬP
1. Phần đọc hiểu
a. Truyện ngắn
- Là thể loại tự sự cỡ nhỏ, đặc trưng nổi bật là sự ngắn gọn
- Thường chỉ xoay quanh một, hai tình huống diễn ra trong khoảng thời gian, không gian hạn chế
- Đòi hỏi sự chắt lọc, dồn nén của các chi tiết và việc vận dụng bút pháp chấm phá trong trần thuật
b. Thơ trữ tình
- Thơ trữ tình thường có những đặc điểm chung như ngôn từ tươi sáng và tinh tế, tập trung vào cảm xúc cá nhân, diễn đạt tâm trạng, sử dụng hình ảnh mạnh mẽ, và thể hiện tương tác giữa tác giả và người đọc.
- Thơ trữ tình thường được sáng tác trong những khoảnh khắc đặc biệt trong cuộc sống, như khi tác giả trải qua cảm xúc mạnh mẽ. Phong cách biểu đạt thường sử dụng ngôn từ sâu sắc, tường thuật chân thực và có thể chứa nhiều hình tượng và phép tu từ để tạo nên một không gian tương tác tinh tế giữa tác giả và người đọc.
c. Văn bản nghị luận
- Một văn bản nghị luận bao gồm nhiều thành tố: luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng… Các thành tố đó được tổ chức thành một chỉnh thể, có quan hệ chặt chẽ với nhau, nhằm đạt hiệu quả thuyết phục cao nhất
- Là thành tố có tính chất bao trùm, luận đề có chức năng định hướng việc triển khai các luận điểm. Các luận điểm trong văn bản nghị luận, với sự thống nhất của lí lẽ và bằng chứng, có nhiệm vụ làm rõ từng khía cạnh và thể hiện tính nhất quán của luận đề. Mối quan hệ có tính bản chất giữa các thành tố như vậy tạo nên cấu trúc đặc thù của văn bản nghị luận
d. Truyện thơ dân gian và thơ trữ tình
- Truyện thơ thuộc loại hình tự sự, có cốt truyện, câu chuyện, nhân vật, lời kể,… nhưng lại được thể hiện dưới hình thức thơ. Với dung lượng tương đối lớn, truyện thơ có thể bao quát được nhiều sự kiện, con người, chi tiết cụ thể, sinh động của đời sống thường nhật. Truyện thơ hiện diện trong nhiều nền văn học, có lịch sử lâu đời, phát triển thành một số dòng riêng theo sự chi phối của các điều kiện văn hóa, xã hội cụ thể
- Truyện thơ dân gian do tầng lớp bình dân hoặc các trí thức sống gần gũi với tầng lớp bình dân sáng tác; lưu hành chủ yếu bằng truyền miệng nhưng cũng có khi thông qua các văn bản viết. Truyện thơ dân gian khai thác đề tài từ nhiều nguồn khác nhau như truyện cổ, sự tích tôn giáo hay những câu chuyện đời thường
- Yếu tố tự sự trong thơ trữ tình: Câu chuyện trong thơ có tác dụng làm nền cho tiếng nói trữ tình và luôn chịu sự chi phối của mạch cảm xúc mà tác giả triển khai
e. Bi kịch
- Là một thể loại thuộc về kịch
- Bi kịch tập trung diễn tả những xung đột hệ trọng, đạt tới mức căng thẳng tột độ giữa những mong muốn, hành động cao đẹp, hào hùng của con người với những tình thế bi đát không thể đảo ngược của thực tại hay với những trở ngại tồn tại ngay trong bản tính con người
2. Phần tiếng Việt
a. Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
b. Các hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường
c. Lỗi về thành phần câu và cách sửa
3. Phần làm văn
a. Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện
b. Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ
c. Viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội
d.Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên, xã hội
B. BÀI TẬP
1. Phần đọc hiểu
*Đề bài
Văn bản Vợ Nhặt
Câu 1: Ý nghĩa nhan đề Vợ nhặt là gì?
A. Mở ra cảnh ngộ éo le
B. Thể hiện việc giá trị con người bị coi thường và rẻ rúng thời kì đó
C. Thể hiện khát khao được hạnh phúc
D. Cả ba đáp án trên
Câu 2: Giá trị nội dung của tác phẩm Vợ nhặt là?
A. Miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945.
B. Thể hiện được bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của người nông dân
C. Thể hiện sức mạnh của tình yêu chân thành
D. A và B đúng
Câu 3: Tâm trạng của Tràng được bộc lộ qua những biểu hiện nào?
A. người hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt
B. mặt phớn phởn khác thường, tủm tỉm cười một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh
C. mặt phớn phởn khác thường, tủm tỉm cười một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh, nghiêm mặt
D. mặt phớn phởn khác thường, tủm tỉm cười một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh, nghiêm mặt, lắc đầu ra hiệu không bằng lòng với đám trẻ con.
Văn bản Chí Phèo
Câu 4: Tác phẩm Chí Phèo được đặt điểm nhìn như thế nào?
A. Điểm nhìn của người kể
B. Điểm nhìn của nhân vật
C. Điểm nhìn luân phiên
D. Đáp án khác
Câu 5: Ý nào sau đây ĐÚNG khi nói về sự thay đổi bên trong con người Chí Phèo?
A. Nghe được những âm thanh quen thuộc mà trước kia hắn chưa từng nghe thấy.
B. Bâng khuâng như tỉnh dậy sau giấc say dài
C. Nhận ra mặt trời rực rỡ, nghe thấy tiếng chim ríu rít.
D. Tất cả các đáp án trê
Câu 6: Lòng trắc ẩn của thị Nở dành cho Chí Phèo được thể hiện qua ý nghĩ và hành động nào?
A. Ý nghĩ muốn quan tâm và hành động nấu cháo
B. Ý nghĩ muốn cưới Chí và hành động nấu cháo
C. Ý nghĩ muốn quan tâm và hành động đi xin đồ ăn cho Chí
D. Ý nghĩ muốn quan tâm và hành động nấu canh giải rượu cho Chí
Văn bản Nhớ đồng
Câu 7: Tiếng hò trong hai câu đầu tiên bài thơ Nhớ đồng có mối quan hệ như thế nào với nỗi nhớ?
A. Gợi ra nỗi đau của tác giả
B. Gợi ra niềm thương nhớ của tác giả
C. Gợi ra ước mơ của tác giả
D. Gợi ra tình yêu thầm kín của tác giả
Câu 8: Hình ảnh “bàn tay… vãi giống tung trời” trong bài thơ Nhớ đồng làm người đọc liên tưởng đến điều gì?
A. Bàn tay của những người nông dân
B. Thiên nhiên tươi đẹp
C. Vụ mùa bội thu
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 9: Từ “đồng” trong nhan đề có thể được hiểu như thế nào?
A. Biểu hiện cho nỗi nhớ quê hương.
B. Là những người cùng chung lý tưởng, luôn đấu tranh để giải phóng dân tộc.
C. Biểu hiện cho nỗi nhớ về những ngày tháng còn được sống và tận hưởng vẻ đẹp bình dị của quê hương.
D. Tất cả các đáp án trên
Văn bản Một thời đại trong thi ca
Câu 10: Thể loại của văn bản Một thời đại trong thi ca là?
A. Tiểu luận
B. Phê bình
C. Xã luận
D. Ngôn luận
Câu 11: Các nhà thơ lãng mạn cũng như “người thanh niên” bấy giờ trong tác phẩm Một thời đại trong thi ca đã giải tỏa bị kịch đời mình bằng cách nào?
A. Gửi cả vào tiếng Việt
B. Từ bỏ thơ ca, sáng tác thể loại văn học khác
C. Đấu tranh để thoát khỏi bị kịch
D. Không làm gì cả
Văn bản Lời tiễn dặn
Câu 12: Bối cảnh câu chuyện trong văn bản Lời tiễn dặn là gì?
A. Người con trai ra trận trong sự quyến luyến của mọi người
B. Người con gái về nhà chồng
C. Cô gái và chàng trai yêu nhau nhưng không đến được với nhau.
D. Đáp án khác
Câu 13: Đoạn trích cho biết điều gì về không gian tồn tại và đời sống văn hoá tinh thần của đồng bào dân tộc Thái
A. Tâm hồn đa sầu đa cảm
B. Khát khao hạnh phúc lứa đôi
C. Thủy chung, một lòng một dạ
D. Tất cả các đáp án trên
Văn bản Thuyền và biển
Câu 14: Bài thơ Thuyền và biển thuộc đề tài nào?
A. Thiên nhiên
B. Tình yêu
C. Gia đình
D. Chiến tranh
Câu 15: Dấu hiệu hình thức nào chứng tỏ có một câu chuyện được kể trong bài thơ Thuyền và biển?
A. Thể thơ năm chữ
B. “Từ ngày nào”
C. Cụm từ “kể anh nghe”
D. Tất cả các phương án trên
Văn bản Sống hay không sống- đó là vấn đề
Câu 16: Hăm – lét mang trong mình tâm hồn và nội tâm như thế nào?
A. Trái tim và tâm hồn chai sạn
B. Trái tim yêu thương, tâm hồn nhạy cảm
C. Trái tim tổn thương, tâm hồn nguội lạnh
D. Đáp án khác
Câu 17: Ý nào đúng khi phân tích ý thức của Hăm-lét về những “khổ nhục trên cõi thế” mà con người phải gánh chịu.
A. Đó là những roi vọt, khinh bỉ của thời đại, sự áp bức của kẻ bạo ngược, hống hách của kẻ kiêu căng
B. Là lời cam chịu, than vãn rên rỉ, đổ mồ hôi dưới gánh nặng của cuộc đời mệt mỏi
C. Những nỗi dày vò của tình yêu tuyệt vọng, sự trì chậm của công lí
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 18: Tính chất bi kịch của xung đột được thể hiện qua lời độc thoại của Hăm-lét được thể hiện ở đâu?
A. Sự giằng xé của bản thân giữa một bên là sống vì tình yêu, một bên là sống vì trách nhiệm
B. Sự giằng xé của bản thân giữa một bên là sống vì bản thân mình, một bên là sống vì trách nhiệm
C. Sự giằng xé của bản thân giữa một bên là sống vì bản thân mình, một bên là sống vì tình yêu
D. Đáp án khác
Văn bản Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài
Câu 19: Những mâu thuẫn cơ bản trong tác phẩm Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài là?
A. Mâu thuẫn giữa cuộc sống xa hoa, trụy lạc của Lê Tương Dực với cuộc sống khốn khổ của người nông dân
B. Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật thuần túy của Vũ Như Tô và lợi ích thiết thực của nhân dân
C. Mâu thuẫn giữa hình thức và nội dung, bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo
D. Đáp án A và B
Câu 20: Ý nào sau đây SAI?
A. Mâu thuẫn giữa nhân dân với bọn hôn quân bạo chúa cùng phe cánh của chúng đã được giải quyết triệt để theo quan niệm của nhân dân
B. Cửu Trùng Đài bị đốt
C. Vũ Như Tô đến lúc chết đã nhận ra sai lầm của mình
D. Mâu thuẫn giữa quan điểm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của Vũ Như Tô với lợi ích của nhân dân chưa được giải quyết triệt để
2. Phần tiếng Việt
Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
Câu 1: Phương tiện sử dụng của ngôn ngữ nói là:
A. Âm thanh
B. Cử chỉ, điệu bộ
C. Nét mặt
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 2: Hạn chế của ngôn ngữ nói là:
A. Người nói và người nghe khó hiểu ý nhau
B. Khó phổ biến rộng và lưu giữ lâu dài
C. Khó khăn trong việc truyền tải
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 3: Phương tiện trong ngôn ngữ viết được kết hợp với:
A. Hình ảnh
B. Kí hiệu
C. Sơ đồ
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 4: Đặc điểm của ngôn ngữ viết là gì?
A. Được thể hiện qua chữ viết trong văn bản, hình thành một cách có chọn lọc kĩ càng, có suy nghĩ và căn chỉnh một cách cẩn thận
B. Được thể hiện qua hình vẽ, màu sắc, bố cục
C. Được thể hiện qua lời nói, truyền miệng từ người này sang người kia
D. Đáp án khác
Câu 5: Từ ngữ trong ngôn ngữ viết có đặc điểm gì?
A. Từ ngữ được thoải mái viết theo ý thích của người biên soạn
B. Từ ngữ được lựa chọn, thay thế nên có điều kiện đạt được tính chính xác, tránh các từ ngữ địa phương, tiếng lóng, tiếng tục
C. Từ ngữ được quy định theo từng địa phương, không thống nhất
D. Từ ngữ phải thay đổi theo ý độc giả
Câu 6: Ngôn ngữ viết thường là ngôn ngữ:
A. Dùng để trao đổi giữa hai người với nhau
B. Không trau chuốt, hoàn chỉnh
C. Được trau chuốt, hoàn chỉnh
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 7: Trong những trường hợp sau, trường hợp nào mang đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ viết?
A. Bài báo ghi lại cuộc đàm thoại
B. Biên bản ghi lại những lời phát biểu trong cuộc họp
C. Lời thuyết trình theo một văn bản chuẩn bị trước
D. Đoạn đối thoại của các nhân vật trong tác phẩm văn học
Câu 8: So với ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết:
A. Được lựa chọn rất kĩ càng, chính xác
B. Các truyền đạt tới người tiếp nhận được cụ thể
C. Người đọc có thể xem đi xem lại nhiều lần
D. Tất cả các đáp án trên
Các hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường
Câu 9: Có những hiện tượng phá vỡ nguyên tắc trong ngôn ngữ nào?
A. Tạo ra những kết hợp từ trái logic nhằm “lạ hóa” đối tượng được nói tới
B. Sử dụng hình thức đảo ngữ để nhấn mạnh một đặc điểm nào đó của đối tượng miêu tả, thể hiện.
C. Cung cấp nét nghĩa mới cho từ ngữ nhằm đưa đến phát hiện bất nhờ về đối tượng được đề cập.
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 10: Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
(Tràng giang)
Câu thơ trên sử dụng hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường nào?
A. Bổ xung chức năng mới cho dấu câu (khi trình bày văn bản trên giấy)
B. Sử dụng hình thức đảo ngữ để nhấn mạnh một đặc điểm nào đó của đối tượng miêu tả, thể hiện.
C. Tạo ra những kết hợp từ trái logic nhằm “lạ hóa” đối tượng được nói tới
D. Bổ xung chức năng mới cho dấu câu (khi trình bày văn bản trên giấy)
Câu 11: Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
(Vội vàng, Xuân Diệu)
Câu thơ trên sử dụng hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường nào?
A. Bổ xung chức năng mới cho dấu câu (khi trình bày văn bản trên giấy)
B. Sử dụng hình thức đảo ngữ để nhấn mạnh một đặc điểm nào đó của đối tượng miêu tả, thể hiện.
C. Tạo ra những kết hợp từ trái logic nhằm “lạ hóa” đối tượng được nói tới
D. Bổ xung chức năng mới cho dấu câu (khi trình bày văn bản trên giấy)
Lỗi về thành phần câu và cách sửa
Câu 12: Có thể đặt những câu hỏi nào khi gặp một câu khó hiểu?
A. Vì câu đó sử dụng những từ ngữ khó hiểu?
B. Vì câu thiếu thành phần chính?
C. Vì câu thiếu lô - gíc?
D. Tất cả các đáp án trê
Câu 13: Có thể sửa lỗi về thành phần câu bằng cách nào?
A. Bổ xung từ ngữ để làm thành phần bị thiếu
B. Cắt bớt từ ngữ để từ ngữ còn lại đảm nhận được vai trò của thành phần bị thiếu
C. Thay đổi trật tự từ ngữ để một từ ngữ nhất định đảm nhận được vai trò của thành phần bị thiếu
D. Tất cả các đáp án trên
3. Phần làm văn
a. Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện
Đề 1: Phân tích văn bản Vợ nhặt
Đề 2: Phân tích số phận người nông dân qua văn bản Vợ nhặt
Đề 3: Phân tích văn bản Chí Phèo
Đề 4: Phân tích số phận người nông dân qua tác phẩm Chí Phèo
Đề 5: Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Chí Phèo
b. Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ
Đề 1: Phân tích bài thơ Nhớ đồng
Đề 2: Phân tích bài thơ Tràng giang
Đề 3: Phân tích bài thơ Thuyền và biển
Đề 4: Phân tích bài thơ Lời tiễn dặn
Đề 5: Phân tích bài thơ Dương phụ hành
c.Viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội
Đề 1: Viết bài văn nghị luận về vấn đề ô nhiễm môi trường
d.Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên, xã hội
Đề 1: Viết báo cáo nghiên cứu về thực trạng tâm lý tự ti ở thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay
C. LỜI GIẢI CHI TIẾT
1. Phần đọc hiểu
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
|
D |
D |
D |
D |
D |
A |
B |
A |
D |
A |
A |
C |
D |
B |
C |
C |
D |
B |
D |
C |
2. Phần tiếng Việt
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
|
D |
B |
D |
A |
B |
C |
C |
D |
D |
B |
C |
D |
D |
3. Phần làm văn
a. Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện
Đề 1: Phân tích văn bản Vợ nhặt
I. Mở bài
Giới thiệu nhà văn Kim Lân và Vợ nhặt: Kim Lân là nhà văn vô cùng thành công khi viết về đề tài người nông dân nghèo. Một trong những tác phẩm nổi bật của ông chính là truyện ngắn Vợ nhặt.
II. Thân bài
1. Nhân vật anh Tràng
a. Lai lịch, ngoại hình
- Tràng là một gã trai nghèo khổ, dân cư ngụ, làm nghề đẩy xe bò thuê, nuôi mẹ già. Tràng bị coi khinh, chẳng mấy ai thèm nói chuyện, trừ lũ trẻ hay chọc ghẹo khi anh ta đi làm về.
- Ngoại hình xấu xí, thô kệch: “hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lý thú vừa dữ tợn… Đầu cạo trọc nhẵn, cái lưng to rộng như lưng gấu, ngay cả cái cười cũng lạ, cứ phải ngửa mặt lên cười hềnh hệch”.
b. Tính cách
- Tràng là người hầu như không biết tính toán, không ý thức hết hoàn cảnh của mình. Anh ta thích chơi với trẻ con và chẳng khác chúng là mấy.
- Tràng là người đàn ông nhân hậu, phóng khoáng: Ban đầu không chủ tâm tìm vợ. Thấy người đàn bà đói, anh cho ăn. Khi thấy thị quyết theo mình thì Tràng vui vẻ chấp nhận. Hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa no nê… Anh còn mua hai hào dầu thắp sáng trong đêm đầu có vợ.
- Sau khi lấy vợ, Tràng trở thành một người sống có trách nhiệm: Anh ngoan ngoãn với mẹ, tránh gợi niềm tủi hờn ở người khác. Từ một anh phu xe cục mịch, chỉ biết việc trước mắt, sống vô tư, Tràng đã là người quan tâm đến những chuyện ngoài xã hội và khao khát sự đổi đời. Khi tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên vội vã, dồn dập, Tràng đã thần mặt ra nghĩ đến cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê để cướp kho thóc của Nhật và đằng trước là lá cờ đỏ to lắm.
→ Tiểu kết:
- Cuộc đời của Tràng tiêu biểu cho số phận của người dân nghèo trước cách mạng tháng Tám.
- Kim Lân đã khắc hoạ nhân vật Tràng là anh phu xe cục mịch nhưng có một đời sống tâm lý sống động với đầy đủ diện mạo, ngôn ngữ, hành động bằng ngòi bút sắc sảo.
- Qua nhân vật Tràng, nhà văn phản ánh mặt đen tối trong hiện thực xã hội trước năm 1945 cùng số phận của người dân nghèo với vẻ đẹp tâm hồn của họ.
2. Nhân vật người vợ nhặt
a. Hoàn cảnh, ngoại hình
- Một người đàn bà không tên, không tuổi, không quê quán, gốc gác, không gia đình.
- Không có một nhan sắc xinh đẹp, và cái đói khổ nó lại càng làm cho cái nhan sắc xấu xí ấy thêm phần thảm hại: “áo quần tả tơi như tổ đỉa”, người ngợm “gầy sọp”, “trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”, “cái ngực gầy lép nhô lên” và “hai con mắt trũng hoáy”.
b. Tính cách
- Trong lần gặp gỡ: Cong cớn, chỏng lọn, chua ngoa… Khi nghe thấy anh Tràng đãi ăn “hai con mắt trũng hoáy của thị sáng lên”, điệu dáng đon đả, đổi hẳn thái độ. Cúi đầu ăn một chặp 4 bát bánh đúc không thèm chuyện trò gì, ăn xong thì lấy đôi đũa quệt ngang miệng, thở “hà”.
→ Mọi hành động của Thị đều chỉ vì muốn được sống, khao khát được hạnh phúc.
- Trên đường trở về nhà với Tràng:
+Thị bỗng trở nên “e thẹn, rón rén”, đầu cúi xuống, cái nón tà nghiêng nghiêng che nửa đi khuôn mặt đang ngại ngùng, đúng với dáng vẻ của một cô dâu khi bước về nhà chồng.
+Gặp phải cảnh trêu chọc của đám trẻ con, ánh nhìn ái ngại của những người làng, thị thấy khó chịu, tủi cho phận mình là một người vợ theo không.
- Khi về đến nhà Tràng:
+Khi ra mắt mẹ chồng, thị đã rất phải phép mà chào bà cụ Tứ, dáng điệu khép nép, ngại ngùng. Thị đã lột xác trở thành một nàng dâu hiền lành, e ấp, khác hẳn với dáng bộ của người đàn bà đanh đá, chua ngoa ở chợ tỉnh.
+Sau đêm tân hôn, thị trở thành một người phụ nữ của gia đình, đảm đang tháo vát, gánh lấy cái trách nhiệm thu xếp nhà cửa, đem đống quần áo rách ra sân hong, gánh nước, quét sân, gom rác đem vứt, rồi dọn cơm...
+Khi đối diện với nồi cháo cám “đôi mắt thị tối lại” nhưng vẫn “điềm nhiên và vào miệng”. Cách cư xử tinh tế, bộc lộ sự thấu hiểu và cảm thông.
+Kể việc ở Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế mà đi phá kho thóc của Nhật. Bộc lộ những suy nghĩ và hướng nhìn mới của thị, người đàn bà bà này không cam chịu cuộc đời đói kém và tìm kiếm một tương lai tươi sáng hơn.
3. Nhân vật bà cụ Tứ
- Sự ngạc nhiên của cụ khi Tràng dắt vợ về:
+Về đến nhà, thấy một người phụ nữ ngồi trong nhà mà còn thưa u. Bà cụ ngạc nhiên vì con mình xấu xí, nghèo mà vẫn có vợ trong thời khó khăn.
+Bà cụ vẫn không tin vào những gì con trai mình nói “Kìa nhà tôi nó chào u”… “Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ”...
+Bà vẫn không hiểu chuyện gì đang xảy ra.
- Tâm trạng vừa mừng vừa tủi của bà cụ:
+Khi biết rằng con bà “nhặt” được vợ: bà vui vì con đã an bề gia thất, buồn phận làm mẹ mà không cưới nổi vợ cho con và bà nghĩ đến chồng, đến con gái lại càng trở nên buồn hơn.
+Cái tủi, cái buồn của người mẹ bị dồn vào cảnh nghèo túng quẫn: Bà không biết lấy gì để cúng tổ tiên, để trình làng con đã có vợ. Bà khóc vì thương con không biết làm sao vượt qua nổi khó khăn này.
- Nỗi lo của bà cụ Tứ: Bà lo cho con trai, con dâu, cái gia đình nhỏ của mình không biết phải qua những ngày khó khăn này như thế nào. Người mẹ ấy khuyên con, khuyên dâu cùng nhau thương nhau, cố gắng vươn lên.
- Niềm tin vào tương lai, vào cuộc sống của cụ Tứ:
+Bà suy nghĩ vui trong những điều tốt đẹp tương lai “Rồi ra may mà ông giời cho khá…”
+Vui trong công việc sửa sang vườn tược, nhà cửa.
+Vui trong bữa cơm đạm bạc đầu tiên có con dâu.
+Bà vẫn luôn tạo một không khí ấm cúng cho bữa ăn để con dâu đỡ tủi.
→ Người mẹ nghèo từng trải đời, hết mực yêu thương con, luôn lạc quan trong hoàn cảnh khó khăn. Bà cụ Tứ là đại diện cho người mẹ Việt Nam cần mẫn, mộc mạc, giản dị, giàu tình yêu thương và đức hi sinh
III. Kết bài
“Vợ nhặt” là một trong những tác phẩm vô cùng thành công của Kim Lân. Với những giá trị, ý nghĩa, thông điệp sâu sắc của mình, tác phẩm đã gây nhiều dấu ấn quan trọng trong lòng bạn đọc.
Đề 2: Phân tích văn bản Chí Phèo
I. Mở bài
- Vài nét tiêu biểu về tác giả Nam Cao: Ông được xem là đại diện xuất sắc nhất của văn học hiện thực ở chặng đường phát triển cuối cùng của khuynh hướng này
- Giới thiệu tác phẩm Chí Phèo: Truyện ngắn kết tinh thành công của Nam Cao trên đề tài nông thôn, nông dân và là một kiệt tác trong nền văn xuôi trước cách mạng
II. Thân bài
1. Làng Vũ Đại - không gian nghệ thuật của truyện ngắn
- Đây chính là không gian nghệ thuật của truyện bởi toàn bộ những chuyện của Chí Phèo đều diễn ra tại đây
- Mâu thuẫn giai cấp gây gắt, âm thầm mà quyết liệt, không khí tối tăm , ngột ngạt.
- Đời sống của người nông dân vô cùng khổ cực bị đẩy vào đường cùng không lối thoát, bị tha hóa.
→ Không gian nghệ thuật làm cơ sở đi sâu khai thác hình tượng nhân vật, đồng thời thấy được giá trị hiện thực, nhân đạo của tác phẩm
2. Nhân vật Bá Kiến
- Tiếng cười Tào Tháo, mềm nắn rắn buông, dùng đầu bò trị đầu bò… ⇒ Xảo quyệt, gian hùng, thủ đoạn
- Nhân cách ti tiện bỉ ổi, dâm đãng, ghen tuông và độc ác
→ Điển hình cho loại địa chủ cường hào ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng
3. Hình tượng nhân vật Chí Phèo
a. Sự xuất hiện của nhân vật
- Hắn vừa đi vừa chửi...: sự xuất hiện tự nhiên
- Qua tiếng chửi, chân dung nhân vật hiện lên: Kẻ lưu manh cứ rượu vào là chửi nhưng đằng sau đó thấy Chí Phèo mong muốn được coi là người bình thường
b. Lai lịch, cuộc đời Chí Phèo trước khi ở tù
- Hoàn cảnh xuất thân: không cha, không mẹ, không nhà, không cửa
- Tuy vậy, Chí vẫn giữ những phẩm chất tốt đẹp:
+ Là một con người lương thiện làm ăn chân chính với ước mơ giản dị và có lòng tự trọng
c. Sự biến đổi của Chí Phèo sau khi ra tù
- Sự kiện Chí Phèo bị bắt vào tù:
Vì Bá Kiến ghen với vợ hắn.
Chế độ nhà tù thực dân đã biến Chí trở thành lưu manh, có tính cách méo mó và quái dị.
- Hậu quả của những ngày ở tù:
Hình dạng: biến đổi thành con quỷ dữ → Chí Phèo đã đánh mất nhân hình.
Nhân tính: triền miên trong cơn say, đập đầu, chửi bới, phá phách và làm công cụ cho Bá Kiến → Chí Phèo đã đánh mất nhân tính.
- Quá trình tha hóa của Chí Phèo: Đến nhà Bá Kiến trả thù ⇒ Chí mắc mưu, trở thành tay sai cho Bá Kiến
→ Chí đã bị cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính
d. Cuộc gặp gỡ giữa Chí Phèo và Thị Nở
- Tình yêu thương của Thị Nở đã đánh thức bản chất lương thiện của Chí Phèo.
Về nhận thức: Nhận biết được mọi âm thanh trong cuộc sống.
Nhận ra bi kịch trong cuộc đời của mình và sợ cô đơn, cô độc
Về ý thức: Chí Phèo thèm lương thiện và muốn làm hòa với mọi người.
- Hình ảnh bát cháo hành là hình ảnh độc đáo, chân thật và giàu ý nghĩa: lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng Chí được ăn trong tình yêu thương và hạnh phúc.
→ Chí Phèo đã hoàn toàn thức tỉnh
e. Bi kịch bị cự tuyệt
- Nguyên nhân: do bà cô Thị Nở không cho Thị lấy Chí Phèo → định kiến của xã hội .
- Diễn biến tâm trạng của Chí Phèo:
Lúc đầu: Chí ngạc nhiên trước thái độ của Thị Nở
Sau Chí hiểu ra mọi việc: xách dao đên nhà Bá Kiến đâm chết Bá Kiến và tự sát.
→ Cái chết của Chí Phèo là cái chết của con người trong bi kịch đau đớn trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống làm người.
4. Đặc sắc nghệ thuật
- Xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình.
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo.
- Ngôn ngữ giản dị, diễn đạt độc đáo.
- Kết cấu truyện mới mẻ, tưởng như tự do nhưng lại rất chặt chẽ, lôgic.
- Cốt truyện và các tình tiết hấp dẫn, biến hóa giàu kịch tính.
III. Kết bài
-Khẳng định lại những nét tiêu biểu nhất về mặt nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Chí Phèo
-Với tác phẩm này, nam Cao đã tố cáo mạnh mẽ xã hội thực dân nửa phong kiến và đồng thời trân trọng, phát hiện và khẳng định bản chất tốt đẹp của con người ngay cả khi tưởng chừng học đã biến thành quỷ dữ
Đề 3: Phân tích số phận người nông dân qua tác phẩm Chí Phèo
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo
- Dẫn dắt vấn đề cần nghị luận
2. Thân bài
- Qua nhân vật Chí Phèo, nhà văn Nam Cao đã phản ánh một cách chân thực khách quan trong từng chi tiết về nỗi thống khổ của người nông dân bị áp bức, bị lưu manh hóa trước Cách mạng.
- Nam Cao không nói về sưu thuế như Ngô Tất Tố, mà tác giả nói về số phận người lao động bị chà đạp ở hai bình diện:
+Bị tha hóa, lưu manh.
+ Muốn trở lại làm người lương thiện nhưng bị cự tuyệt.
- Nam Cao có cái nhìn mới mẻ, sâu sắc trong việc thể hiện nỗi đau khổ của người nông dân bị áp bức bóc lột trong xã hội cũ. Từ nỗi đau khổ của họ, nhà văn đã biểu hiện thái độ căm thù giai cấp địa chủ, cường hào đã đẩy người nông dân vào chỗ lưu manh hóa..
- Từ hình tượng Chí Phèo sau khi ở tù ra, Nam Cao đã phản ánh được quy luật ở nông thôn nước ta thời thuộc Pháp: người lương thiện bị xô đẩy vào con đường cùng. Họ đã phản kháng lại để tồn tại.
- Nam Cao bày tỏ sự cảm thương cho số phận đau khổ của người nông dân (qua nhân vật Chí Phèo) và tác giả đã viết những trang văn đầy xúc động. Người đọc cảm thương cho người cố nông phai sống trong trạng thái cùng khổ triền miên, bị cướp mất hình người và linh hồn người.
- Nam Cao đã chỉ ra được bản chất lương thiện của người lao động ẩn giấu trong con người lưu manh của họ. Tác giả khẳng định tình người, tình yêu đã sưởi ấm và làm sống dậy trong tâm hồn kẻ bất hạnh như Chí Phèo. Thị Nở và bao kiếp người cùng khốn trong xã hội cũ.
3. Kết bài
- Thể hiện thái độ trân trọng, xót thương của Nam Cao đối với nỗi thống khổ của người nông dân
- Lên án, tố cáo xã hội đương thời
Đề 4: Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Chí Phèo
1. Mở bài
Trong tác phẩm của nhà văn Nam Cao, Chí Phèo, không chỉ phản ánh nỗi đau và khổ đau của con người trong điều kiện nghèo đói, bất công, mà còn đưa ra một cái nhìn đậm chất nhân đạo về sự cảm thông và trân trọng những giá trị "người" tồn tại bên trong những cái tôi đầy khổ đau, những nạn nhân đáng thương của xã hội.
2. Thân bài
- Nhân đạo có giá trị đơn giản nhất là sự cảm thông và đồng cảm với nỗi đau của con người.
- Tư tưởng nhân đạo trong truyện Chí Phèo được thể hiện thông qua việc nhà văn Nam Cao khám phá cuộc sống của những người lao động lương thiện, bị đày đọa về cả thể xác lẫn tinh thần.
- Chí Phèo, một người canh điền hiền lành, trung thành, bị cuộc sống bất công đẩy vào con đường trở thành kẻ lưu manh.
- Dù hiểu biết về bi kịch đời mình và không thể trở lại con đường lương thiện, Chí chọn cái chết thà hơn là làm ác quỷ.
- Bên trong những con người bị tha hóa như Chí Phèo vẫn còn tồn tại những phần người
- Thị Nở, một người phụ nữ xấu ma chê quỷ hờn, lại mang trong mình tấm lòng thiện lương và tình thương ấm áp.
- Sự quan tâm và yêu thương chân thành của Thị Nở đã thức tỉnh và mang lại sự nhân đạo cho Chí Phèo
- Nhà văn Nam Cao lên tiếng kêu gọi thảm thiết và phẫn uất trước cái tối tăm và bất công của xã hội khi đè nén và tha hóa giá trị con người.
- Tác giả đặt ra câu hỏi quan trọng: Làm thế nào để cứu con người khỏi cái xã hội vô nhân tính đó?
- Tư tưởng nhân đạo của Nam Cao còn được thể hiện qua thái độ đồng cảm và trân trọng giá trị con người.
- Đó là phần lương thiện bên trong Chí Phèo và tình thương đáng quý của Thị Nở.
3. Kết bài
Truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam Cao là một tác phẩm mang sâu sắc giá trị nhân đạo, tập trung vào việc đồng cảm và trân trọng giá trị tâm hồn của những con người bất hạnh, những nạn nhân của xã hội.
b. Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ
Đề 1: Phân tích bài thơ Nhớ đồng
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Tố Hữu
Tố Hữu (1920 - 2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành, xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo ở làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Thơ Tố Hữu quy tụ và kết tinh truyền thống nhân văn cùng sức mạnh tinh thần của dòng giống Lạc Hồng bất khuất.
Ông là ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam.
- Dẫn dắt vào vấn đề cần phân tích
Bài thơ Nhớ đồng sáng tác trong hoàn cảnh tác giả bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ (Huế) tháng 7 năm 1939 vì “tội” tuyên truyền thanh niên, học sinh chống Pháp.
2. Thân bài
a. Nỗi nhớ của người tù cộng sản với cuộc sống bên ngoài nhà tù
- Cảm hứng của bài thơ được gợi lên từ tiếng hò.
Tiếng hò được lặp lại nhiều lần. Tiếng hò lẻ loi đơn độc giữa trời trưa → nhân vật trữ tình cảm nhận được sự hiu quạnh
Không gian đồng vắng
Thời gian trưa vắng
Hiu quạnh của đời buồn tủi nhọc nhằn
- Lòng người đang bị giam cầm trong tù ngục cách biệt với cuộc sống bên ngoài
- Tiếng hò đã đồng cảm, hòa điệu của nhiều nỗi hiu quạnh → Người chiến sĩ cách mạng thấy nhớ nhung da diết đồng quê, cuộc sống bên ngoài nhà tù.
Tiếng than khắc khoải, da diết → diễn tả cõi lòng hoang vắng vì bị cách biệt với thế giới bên ngoài → nỗi hiu quạnh của người tha thiết yêu đời.
Sự lặp lại → nhấn mạnh liền ý liên kết nhiều nội dung khác nhau, tô đậm cảm xúc, khắc sâu ý tưởng → triền miên vì nỗi nhớ da diết.
- Đồng quê thể hiện lên đậm đà nỗi nhớ của tác giả:
Cồn thơm, ruồng tre mát, ô mạ xanh mơn mởn, nương khoai ngọt sắn bùi, chiều sương phủ bãi đồng, xóm làng và con đường thân thuộc, xóm nhà tranh thấp, con đường quen. → Tất cả đều đơn sơ gần gũi quen thuộc, thân thương → bị ngăn cách
- Con người gần gũi thân thuộc thân thương:
Những lưng cong xuống luống cày
Những bàn tay vãi giống
Một giọng hò đưa bố mẹ già xa đơn chiếc → linh hồn đã khuất.
- Nỗi nhớ chân thật đậm tình thương mến
- Nhớ đến bản thân mình:
Nhớ tới những ngày tháng tự do hoạt động cách mạng.
“Rồi một …ngát trời”
→ Say mê lý tưởng, khao khát tự do sôi nổi → càng cảm thấy cô đơn với thực tại cuộc sống bị giam cầm.
b. Diễn biến tâm trạng của Tố Hữu
- Nỗi nhớ biểu hiện tâm trạng nhà thơ:
Từ tiếng hò gợi nỗi nhớ đồng quê tha thiết: Hình ảnh đồng quê hiện lên đậm đà với: cồn thơm, ruộng tre mát, mạ xanh mơn mởn, khoai ngọt sắn bùi, chiều sương phủ bãi đồng, xóm làng, con đường thân thuộc → những hình ảnh gần gũi, quen thuộc, thân thương nay đã trở nên xa cách.
Nỗi nhớ bao con người thân thuộc: từ cảnh sắc bóng dáng con người → người mẹ già nua → nhớ chính mình
Nỗi nhớ trải dài từ hiện tại trở về quá khứ → hiện tại
→ nhớ, tràn ngập xót thương → không chỉ buồn đằng sau là nỗi phẫn uất, bất bình với thực tại → niềm da diết nhớ thương, yêu cuộc sống, khao khát tự do.
3. Kết bài
Đây là bài thơ hay, giàu cảm xúc và tâm trạng của một người chiến sĩ khao khát tự do và hành động. Nỗi nhớ đồng quê, con người, chính mình biểu hiện tình yêu da diết với cuộc sống bên ngoài nhà tù và bao trùm hơn hết là tình yêu Tổ quốc, khát vọng tự do.
Lựa chọn hình ảnh gần gũi, quen thuộc, giọng thơ da diết, khắc khoải trong nỗi nhớ
Đề 2: Phân tích bài thơ Tràng giang
1. Mở bài
Giới thiệu về tác giả Huy Cận và đặc điểm thơ Huy Cận trước cách mạng tháng Tám: Huy Cận là một trong số những nhà thơ có nhiều đóng góp cho phong trào thơ Mới. Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, thơ ông mang nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn của một người dân ý thức sâu sắc về cảnh ngộ của non sông đất nước và số phận con người.
Giới thiệu về bài thơ Tràng giang: Tràng giang (rút trong tập Lửa thiêng) là một trong số những sáng tác tiêu biểu nhất, đặc sắc nhất của Huy Cận
2. Thân bài
a. Nhan đề và câu thơ đề từ
– Nhan đề: sử dụng từ ngữ Hán Việt cùng âm tiết mở ang gợi không gian cổ kính và tăng thêm liên tưởng về sự rộng lớn của dòng sông.
– Câu thơ đề từ:
Trời rộng”, “sông dài” gợi nên cái rộng lớn, mênh mông của thiên nhiên, của vũ trụ bao la
“bâng khuâng”, “nhớ” – một cảm xúc của nỗi buồn, của sự cô đơn, lạc lõng.
→ Ngay từ nhan đề và câu thơ đề từ, tác giả đã gợi nên cảm xúc bao trùm, xuyên suốt toàn bộ bài thơ.
b. Khổ 1:
– Thiên nhiên rộng lớn, mênh mông:
Hình ảnh”sóng gợn”
Hình ảnh con thuyền “con thuyền xuôi mái nước song song” càng tô đậm thêm sự hoang vắng, cô quạnh của cảnh vật.
– Tâm trạng của chủ thể trữ tình được bộc lộ một cách trực tiếp: buồn điệp điệp”, “sầu trăm ngả” tác giả đã diễn tả nỗi buồn dài cùng cực, như không bao giờ nguôi, không bao giờ dứt trong tâm khảm của nhân vật trữ tình
c. Khổ 2
Bức tranh đã từng bước hoàn thiện hơn bằng những hình ảnh hết sức mới mẻ: cồn nhỏ, gió đìu hiu, làng xa, chợ chiều, bến cô liêu gợi tả cảnh vật nhỏ bé, cô độc, thoáng lên cái vắng lặng, lạnh lẽo cô đơn đến rợn ngợp của cảnh vật nơi đây.
Âm thanh “tiếng chợ chiều” gợi nên sự mơ hồ, tàn tạ, hoang vắng.
“Sông dài trời rộng bến cô liêu” nhấn mạnh cái cô liêu của cảnh vật và sự lạc lõng, trống vắng, cô đơn của con người
d. Khổ 3
Khung cảnh thiên nhiên bao la rộng lớn: hàng nối hàng, mênh mông
Hình ảnh “bèo”gợi sự nổi trôi, vô định
Cấu trúc phủ định “không cầu” – “không đò” đã phủ định hoàn toàn những con đường để kết nối với cuộc đời
e. Khổ 4
Hình ảnh thơ cổ điển “mây”, “chim” tác giả đã vẽ nên một bức tranh về quê hương, đất nước,.
Nỗi nhớ, tình yêu quê hương, đất nước của tác giả qua hai câu thơ cuối bài.
3. Kết bài
Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ
Đề 3: Phân tích bài thơ Thuyền và biển
a. Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần phân tích: bài thơ Thuyền và biển.
b. Thân bài
Giới thiệu tổng quan về tác giả Xuân Quỳnh, những tác phẩm tiêu biểu đã viết và vai trò của bà trong văn học Việt Nam.
Trình bày hoàn cảnh và ngữ cảnh sáng tác của bài thơ, nhấn mạnh tầm quan trọng của tình yêu trong cuộc sống và tác phẩm văn học.
Phân tích chi tiết bài thơ:
- Bắt đầu với 6 câu đầu "em sẽ kể...còn xa": Tác giả sử dụng hình ảnh tuyệt đẹp của thuyền và biển để tượng trưng cho tình yêu chân thành, sâu sắc và không thể tách rời. Bằng cách này, bài thơ tạo ra một hình ảnh mạnh mẽ về sự khăng khít và bền chặt của tình yêu.
- Tiếp theo là 4 câu "những đêm...sóng vỗ": Thuyền và biển, như tình anh và em, đã đối mặt với những cảm xúc của tình yêu, nhưng vẫn còn một chút ngại ngùng và e ngại khi đối diện với nhau. Điều này thể hiện rõ ràng qua những cung bậc cảm xúc trong tình yêu.
- Rồi đến 8 câu tiếp theo "cũng có khi...về đâu": Tình yêu của em êm đềm, nhẹ nhàng và sâu lắng, trong khi biển lại mạnh mẽ, có thể trở nên hung hãn. Mặc dù như vậy, qua những điệu bộ, những hành động và ánh mắt, hai người đã hiểu rõ tâm tư của nhau và tạo nên một mối quan hệ đáng tự hào và tin tưởng khi ở bên nhau.
- Các câu còn lại: Thể hiện khát khao sống một cuộc sống trọn vẹn với tình yêu, không thể rời xa nhau dù chỉ trong một khoảnh khắc. Nhà thơ mong muốn được bên nhau mãi mãi và tận hưởng tình yêu trong toàn bộ cuộc đời.
c. Kết bài
- Đánh giá khái quát lại vấn đề và liên hệ cảm nhận của bản thân.
Đề 4: Phân tích bài thơ Lời tiễn dặn
I. Mở bài
- Truyện thơ "Tiễn Dặn Người Yêu" là một tác phẩm quý giá trong kho tàng truyền thống văn hóa dân gian Việt Nam, đặc biệt là của dân tộc Thái. Sự say mê và yêu quý truyện thơ này là minh chứng cho giá trị văn hóa và nghệ thuật của nó.
- Truyện thơ với yếu tố tự sự và trữ tình, đặc trưng của nó là sự sinh động trong việc thể hiện tình nghĩa thiết tha, sự trung thành và khao khát tự do của hai nhân vật chính là chàng trai và cô gái, được thể hiện rõ qua đoạn trích "Lời Tiễn Dặn" (Phần (1) và Phần (2)).
II. Thân bài
Đoạn trích bao gồm hai phần lời tiễn dặn, mỗi phần đều mang đến những cảm xúc và tâm trạng đặc biệt của nhân vật. Phần (1) thể hiện lời dặn dò của chàng trai khi anh theo đuổi cô gái để tiễn cô về nhà chồng. Phần (2) là lời khuyên và dặn dò của chàng trai khi chứng kiến cảnh cô bị hành hạ bởi nhà chồng.
A. Nỗi khổ đau của cô gái.
- Hình ảnh cô gái phải trở về nhà chồng mà chưa kịp nói lời tạm biệt với người yêu tạo ra một tình huống đau lòng và đầy xúc động. Cảm giác bồn chồn, đau khổ, và lo lắng được thể hiện qua việc cô gái vừa đi vừa ngoảnh lại, nhấp nhô, nơi trái tim bị kéo dài giữa hai đám đông. Hình tượng ớt, cà, và lá ngón tạo nên một bức tranh trực quan về cuộc sống và tâm trạng của cô gái, với mỗi bước đi là một nỗi đau sâu sắc.
- Việc sử dụng ngôn ngữ miêu tả chi tiết về hành trình của cô gái đến rừng ớt, rừng cà, và rừng lá ngón không chỉ thể hiện nét đẹp tự nhiên của vùng miền mà còn làm tăng thêm tình cảm sâu sắc và đau lòng của nhân vật. Những hình ảnh này như một bức tranh về sự chia ly đầy xúc động và khó khăn.
- Từ ngữ và biểu đạt sử dụng trong đoạn trích thực sự làm nổi bật nỗi đau khổ và sự day dứt trong tâm hồn của cô gái. Thông qua mỗi từ ngữ và chi tiết mô tả, độc giả có thể cảm nhận được mức độ khó khăn và sự tự giác mạnh mẽ của nhân vật chính trước sự thay đổi cuộc sống đột ngột.
-Tóm lại, đoạn trích mô tả một hình ảnh đau lòng, khó khăn của cô gái khi phải đối mặt với cuộc sống mới, mà nói không với tình yêu và sự tự do. Thông qua việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh sắc nét, tác giả đã tạo ra một bức tranh chân thực và xúc động về tâm trạng và nỗi đau của nhân vật chính.
B. Tâm tình và lời Tiễn dặn của chàng trai
1. Tâm trạng, tình cảm của chàng trai khi tiễn đưa người yêu về nhà chồng
Tình cảm tha thiết, quyến luyến, tình yêu sâu sắc của chàng trai:
Chàng trai thể hiện tình yêu và quan tâm đặc biệt qua hành động chăm sóc ân cần và thiết tha. Sự quyết tâm và niềm tin vào tình yêu sâu sắc được thể hiện qua việc chàng trai muốn tiễn người yêu đến tận nhà chồng, mặc dù cảm thấy tiếc nuối về thời gian ngắn ngủi của tình yêu. Chàng trai nhận thức được hoàn cảnh không thể gắn bó với người yêu, và điều này tạo ra sự mâu thuẫn trong tâm trạng của anh. Tâm trạng rối bời, đầy mâu thuẫn của chàng trai khi phải từ biệt người yêu và tiễn cô về nhà chồng.
2. Lời tiễn dặn của chàng trai trong phần (1)
Lời dặn dò của chàng trai ở phần (1) không chỉ là lời hẹn ước mà còn thể hiện sự chấp nhận thực tại không thể gần gũi và gắn bó. Thời gian chờ đợi được biểu đạt thông qua các mùa vụ và giai đoạn trong cuộc đời con người, tạo ra hình ảnh một cuộc sống dân dụ đầy màu sắc và tự nhiên. Chàng trai đã hẹn ước chờ đợi cô gái trong mọi tình huống và thời gian, phản ánh tình nghĩa thủy chung và tình yêu vĩnh cửu. Tuy nhiên, ý nghĩa của việc đợi còn chứa đựng sự chấp nhận thực tại, với hy vọng chờ đợi ở tương lai.
3. Lời tiễn dặn của chàng trai trong phần (2)
Lời tiễn dặn ở phần (2) là sự kết hợp của lòng thương xót và mong muốn thoát khỏi tập tục để sống bên nhau. Chàng trai thể hiện lòng thương xót và sự quan tâm tận tâm khi chứng kiến cảnh người yêu bị hành hạ, và anh cố gắng chăm sóc cô bằng mọi cách. Tâm trạng xót xa và đau đớn của chàng trai vượt lên trước nỗi đau của cô gái, tạo nên sự yêu thương và thấu hiểu. Lời nói và hành động này cũng là sự phản kháng với tập tục hôn nhân và khát vọng tự do và hạnh phúc của hai người.
III. Kết bài
- Những lời tiễn dặn là những cung bậc cảm xúc của chàng trai và cô gái, là bức tranh của tình yêu thương đắm chìm và hy vọng đối mặt với thử thách cuộc sống.
- Lời tiễn dặn cũng là sự phản ánh rõ nét của sự đau khổ và hy sinh trong cuộc sống, khi phải đối diện với tập tục và sự quyết định của gia đình.
- Cuối cùng, những lời tiễn dặn là biểu tượng cho sự tự do và tình yêu thương, là hồi sinh cho những giá trị con người trong bối cảnh xã hội và truyền thống khắc nghiệt.
c. Viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội
Đề 1: Viết bài văn nghị luận về vấn đề ô nhiễm môi trường
I. Mở bài
Gần đây, báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng đang rầm rộ đưa tin về hiện tượng cá chết hàng loạt ở các vùng biển duyên hải miền Trung. Điều này dẫn tới nhiều lo ngại trong dân chúng về cuộc sống ngày càng kém chất lượng hơn.
Cá chết hàng loạt không chỉ tạo nên cảnh cực khổ nhọc nhằn với miếng cơm manh áo của dân chài miền Trung quanh năm bám biển mà còn nữa là câu chuyện làm sao để giữ cảnh quan thiên nhiên dưới tay "tử thần" khi mà biển biến thành "biển đen", "biển chết" vì ô nhiễm ngày càng thêm nặng nề
II. Thân bài
a. Giải thích vấn đề
- Ô nhiễm môi trường là một trong những vấn đề toàn cầu nóng bỏng của nhân loại, cụ thể là hiện trạng môi trường xuất hiện những chất độc, chất hại dẫn đến thay đổi nhanh chóng và gây tác hại xấu đến cuộc sống con người. Biển là một bộ phận của môi trường, ô nhiễm biển là việc tồn tại nhiều chất hại trong môi sinh biển khiến các sinh vật biển không thể sinh sống và tạo ra những vấn đề xấu với con người.
b. Thực trạng
- Hiện nay, việc cá chết hàng loạt ở khắp các tỉnh từ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị mỗi ngày lại thêm những diễn biến phức tạp. Nguyên nhân vẫn chưa được công khai chính thức trong dư luận vì vậy sự hoang mang của xã hội ngày càng tăng dần lên.
- Dẫn chứng
Cá chết bất thường được phát hiện từ đầu tháng 4 ở Hà Tĩnh, lan vào khu vực Hòn La (Quảng Bình, giáp Hà Tĩnh) rồi mở rộng xuống vùng biển Nhật Lệ, Hải Ninh và Lệ Thuỷ. Đến ngày 18 và 19/4, Quảng Trị và Huế cũng xuất hiện tình trạng này.
Riêng tại Quảng Trị, tổng khối lượng cá chết mà người dân vớt được từ 2 đến 4 tấn.
Hàng ngày có hàng tấn rác thải được đổ ra biển, các chất độc hại ngày càng tích lũy và ảnh hưởng xấu tới môi sinh và các sinh vật biển.
10 tấn rác thải "tấn công" vịnh Nha Trang mỗi ngày.
Chỉ trong mấy ngày qua bờ biển tỉnh Hà Tĩnh chứng kiến hai sự cố mà tác nhân chủ yếu đến từ ô nhiễm môi trường ven bờ biển. Từ ngày 2 - 3, hơn 50ha nghêu thương phẩm vùng bờ biển bãi ngang hai huyện Kỳ Anh và Cẩm Xuyên chết dạt đến gần 90% chưa có biện pháp khắc phục hậu quả thì ngay sau đó sò lông, ốc hương tự nhiên chết theo sóng biển tấp vào đầy nghẹt bờ cát ven bờ huyện Kỳ Anh, dọn không xuể.
c. Nguyên nhân
Do ý thức kém của con người.
Do hiện tượng cực đoan của xã hội.
Sự quản lí của nhà nước: hoạt động của các doanh nghiệp trong việc xử lí.
d. Hậu quả
Ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người.
Mất đi các nguồn lợi từ biển: các hải sản, du lịch biển.
Một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới năm 2008 dự báo, mỗi năm, Việt Nam đang mất đi ít nhất 69 triệu USD thu nhập từ ngành du lịch do hệ thống xử lý vệ sinh kém. Ô nhiễm môi trường cũng làm giảm đi sức thu hút khách của ngành du lịch.
Mất cân bằng đa dạng sinh học của môi trường sống.
e. Giải pháp
Nâng cao ý thức con người.
Tăng cường sự quản lí của nhà nước.
Tiến hành áp dụng công nghệ khoa học để giải quyết hiện trạng ô nhiễm nước thải ... hiện nay.
III. Kết bài
Để khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, du lịch biển cần sự tham chống ô nhiễm biển cần sự tham gia của các cấp, các ngành và mọi thành phần của xã hội.
d.Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên, xã hội
Thực trạng tâm lý tự ti ở thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay
Tóm tắt:
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, quan sát, phỏng vấn để: xác định và đánh giá thực trạng tâm lý tự ti ở bộ phận các bạn trẻ Việt Nam ngày nay, từ đó đưa ra những giải pháp để cải thiện và vượt qua tâm lí tự ti cho các bạn.Khảo sát được thực hiện tại một trường thuộc địa bàn thành phố Hà Nội.
1. Mở đầu:
Ở Việt Nam nó riêng và Châu Á nói chung , dù chăm chỉ, tài giỏi và đầy tiềm năng, người trẻ hiện nay luôn cảm thấy bản thân không xứng đáng với những thành tựu đạt được.Phải chăng đó là thành quả của phương pháp giáo dục "thương cho roi,cho vọt" , hay trong mắt một số bậc phụ huynh Châu Á, con cái luôn là người “nói không suy nghĩ, làm không chắc chắn”; thậm chí nhiều cha mẹ cứ đặt ra tiêu chuẩn quá cao thiếu thực tế cho con cái mình. Hơn thế nữa,khi 1 đứa trẻ làm kiểm tra không tốt, cha mẹ cứ thế mà mắng mà phạt, quy vào tội “vi phạm kỷ luật”, giáo viên bắt phải đứng giữa lớp cho mọi người phê bình, không hề có sự tôn trọng nào đối với trẻ.....Thế hệ trẻ ngày nay trở thành đối tượng dễ mắc phải các hội chứng tâm lý nghiêm trọng như trầm cảm, rối loạn lo âu. Với những áp lực ấy, họ dần thấy sợ phải thử,phải làm và sợ vấp ngã,dần dần bị chìm nghỉm trong tâm lý tự ti,mặc cảm; để mặc nó nhấn chìm bản thân họ…Nhận thức được tầm nghiêm trọng của vấn đề này, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm mục đích tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi: Thực trạng tâm lý tự ti của các bạn trẻ hiện nay như thế nào? Yếu tố dẫn tới tâm lý tự ti và sự ảnh hưởng của tâm lí ấy đối với người mắc phải là gì? Cần có những biện pháp khắc phục để thay đổi tâm lý tự ti trong đời sống nào?
Các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng là: (1) quan sát một số bạn học sinh tại trường về các biểu hiện tâm lí, hành động hàng ngày, (3) phỏng vấn các bạn học sinh về tự ý thức bản thân có đang là đối tượng mắc tâm lý tự ti, (3) nghiên cứu tài liệu về tâm lý con người như Tâm Lý Học Hành Vi (Khương Huy), Giải Mã Hành Vi – Bắt Gọn Tâm Lý,...Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 03/2022 - 04/2022 tại trường THPT Trần Phú - Hoàn Kiếm, THPT Nguyễn Thị Minh Khai - Phúc Diễn,....
2. Nội dung nghiên cứu
2.1 Khái niệm tâm lý tự ti:
Tự ti hiểu đơn giản là một nét tính cách và chúng luôn hiện hữu bên trong mỗi chúng ta,là một biểu hiện trạng thái hết sức bình thường ; nhưng nếu không sẵn sàng bước ra khỏi cái vỏ bọc đó, chúng ta sẽ dễ dàng rơi vào vòng xoáy ám ảnh tâm lý và bị “nó” đánh gục. Dù là người lớn hay trẻ nhỏ, khi đối mặt với một số người hoặc một số thời điểm nhất định, họ đều có chung cảm giác tự ti.Nguyên nhân của tâm lí ấy xuất hiện từ việc tất cả chúng ta đều mong muốn mình trở thành một phiên bản tốt nhất,hoàn hảo nhất. Tự ti là con dao hai lưỡi,đôi khi trạng thái tự ti là động lực thúc đẩy con người vượt lên khó khăn, hoàn thiện bản thân hơn; nhưng ngược lại nếu tự ti quá mức sẽ khiến chúng ta tự hạ thấp mình,coi nhẹ bản thân,nghi ngờ khả năng của mình,luôn cho rằng mọi người cười nhạo,chê bai mình rồi từ đó ngại giao tiếp,sống thu mình trong tập thể,….
2.2 Kết quả nghiên cứu và đề xuất
2.2.1. Thực trạng tâm lý tự ti của các bạn trẻ:
Thống kê được thực hiện ở 130 bạn trẻ trong độ tuổi từ 16 – 17 tuổi cho thấy, có đến 9.4% bạn có biểu hiện sống khép kín,tự ti và mặc cảm.
Tâm lí tự ti có thể do áp lực từ việc học tập: áp lực về kết quả học tập không được như bản thân kỳ vọng, tự ti với bạn bè trong lớp. Đồng thời, học sinh còn thiếu các kỹ năng học tập nền tảng (kỹ năng đọc sách,thuyết trình, làm việc nhóm...) để thích nghi với sự thay đổi về mặt tâm sinh lý của mình.
Tự ti tuy chỉ là một nét tính cách và chúng luôn hiện hữu bên trong mỗi chúng ta, đó là một biểu hiện trạng thái hết sức bình thường ; nhưng nếu không sẵn sàng bước ra khỏi cái vỏ bọc đó, chúng ta sẽ dễ dàng rơi vào vòng xoáy ám ảnh tâm lý và bị “nó” đánh gục, có thể thấy thiếu tự tin được xem như là “hòn đá” cản đường khiến bạn lỡ mất nhiều cơ hội thành công, không thể bước tiếp đến những mục tiêu, ước mơ của mình.
2.2.2. Đề xuất một số giải pháp để cải thiện và vượt qua tâm lí tự ti.
Đứng trước hệ quả mà tự ti gây ra,mỗi bạn trẻ nên có những giải pháp khắc phục tâm lý tự ti phù hợp với bản thân mình. Thêm vào đó, vai trò của gia đình, bạn bè và nhà trường cũng hết sức quan trọng đối với sự cải thiện này.
Mỗi bạn học sinh nên bắt đầu học cách giao tiếp, thêm vào đó, không ngừng trau dồi kiến thức cho bản thân, đặt cho bản thân nhiều mục tiêu để phấn đấu hoàn thiện bản thân. Hơn nữa, các bạn nên học cách chấp nhận bản thân mình, không nên so sánh với người khác, luôn giữ vững lập trường.
Bạn bè đồng trang lứa nên tạo ra những cơ hội cùng nhau tham gia trong các hoạt động tập thể và cùng sẻ chia niềm vui,nỗi buồn,những khó khăn trong cuộc sống. Nhà trường và xã hội nên tạo thêm nhiều những hoạt động xã hội lành mạnh giúp các bạn dễ dàng thể hiện bản thân mình, trau dồi thêm kỹ năng cho bản thân họ, đồng thời đó cũng là cơ hội để các bạn ấy được gặp gỡ và tương tác với những người khác cùng sở thích.
Cha mẹ nên xây dựng bầu không khí gia đình vui vẻ, hòa thuận, chia sẻ lẫn nhau, lựa chọn phương pháp giáo dục phù hợp, tôn trọng con cái, phát triển tính tự trọng am hiểu của con.
Đề thi học kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 1
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 11; Năm học 2022 - 2023
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
Cụ Kép là người thích uống rượu ngâm thơ và chơi hoa lan. Cụ đã tới cái tuổi được hoàn toàn nhàn rỗi để dưỡng lấy tính tình. Vì bây giờ trong nhà cụ cũng đã thừa bát ăn. Xưa kia, cụ cũng muốn có một vườn cảnh để sớm chiều ra đấy tự tình. Nhưng nghĩ rằng mình chỉ là một anh nhà nho sống vào giữa buổi Tây Tàu nhố nhăng làm lạc mất cả quan niệm cũ, làm tiêu hao mất bao nhiêu giá trị tinh thần; nhưng nghĩ mình chỉ là một kẻ chọn nhầm thế kỷ với hai bàn tay không có lợi khí mới, thì riêng lo cho thân thế, lo cho sự mất còn của mình cũng chưa xong, nói chi đến chuyện chơi hoa. Cụ Kép thường nói với lớp bạn cũ rằng có một vườn hoa là một việc dễ dàng, nhưng đủ thời giờ mà săn sóc đến hoa mới là việc khó. Cụ muốn nói rằng người chơi hoa nhiều khi phải lấy cái chí thành chí tình ra mà đối đãi với giống hoa cỏ không bao giờ biết lên tiếng. Như thế mới phải đạo, cái đạo của người tài tử. Chứ còn cứ gây được lên một khoảnh vườn, khuân hoa cỏ các nơi về mà trồng, phó mặc chúng ở giữa trời, đày chúng ra mưa nắng với thờ ơ, chúng trổ bông không biết đến, chúng tàn lá cũng không hay thì chơi hoa làm gì cho thêm tội
Đến hồi gần đây, biết đã đủ tư cách chơi cây cảnh, cụ Kép mới gây lấy một vườn lan nho nhỏ. Giống lan gì cũng có một chậu. Tiểu kiều, đại kiều, Nhất điểm, Loạn điểm, Yên tử v. v… Chỉ trừ có giống lan Bạch ngọc là không thấy trồng ở vườn. Không phải vì lan Bạch ngọc đắt giá mỗi giò mười đồng bạc, mà cụ Kép không trồng giống hoa này. Trong một buổi uống trà đêm, cụ Kép nói với một người bạn đến hỏi cụ về cách thức trồng cây vườn hoa:
- Tôi tự biết không chăm được lan Bạch ngọc. Công phu lắm, ông ạ. Gió mạnh là gẫy, nắng già một chút là héo, mưa nặng hột là nẫu cánh. Bạch ngọc thì đẹp lắm. Nhưng những giống nhẹ nhàng ấy thì yểu lắm. Chăm như chăm con mọn ấy. Chiều chuộng quá như con cầu tự. Lầm lỡ một chút là chúng đi ngay. Những vật quý ấy không ở lâu bền với người ta. Lan Bạch ngọc hay ưa hơi đàn bà. Trồng nó ở vườn các tiểu thư thì phải hơn.
Thiếu hẳn loài Bạch ngọc, cụ Kép đã cho trồng nhiều giống Mặc lan, Đông lan, Trần mộng. Giống này khỏe, đen hoa và dò đẫy, hoa có khi đậu được đến nửa tháng và trong mươi ngày, nếu chủ vườn có quên bón tưới, cũng không lụi.
Chiều hôm nay, hoa Mặc lan chớm nở.
Chiều mai, mùng một Tết, hoa Mặc lan mãn khai đầy vườn.
Đêm giao thừa, bên cạnh nồi bánh chưng sôi sình sịch, bõ[1] già đang chăm chú canh nồi kẹo mạch nha. Cụ Kép dặn bõ già phải cẩn thận xem lửa kẻo lơ đễnh một chút là khê mất nồi kẹo. Hai ông ấm, con trai cụ Kép, người lớn tuổi đứng đắn như thế, mà lại ngồi gần đấy, phất giấy vào những nan lồng. Thực là hai đứa trẻ con đang ngồi nghịch với lồng bàn giấy. Họ trịnh trọng ngồi dán hồ, vuốt giấy. Ông cụ Kép đứng kèm bên, mỗi lúc lại nhắc:
- Này Cả, thầy tưởng miệng lồng bàn, con nên đan to hơn miệng chậu. Con chạy ra, lấy cái que đo lại chậu xem. Nếu rộng thì hỏng hết. Đo lại chậu Mặc lan thôi.
Hai ông ấm, ngồi phất được đến mười cái lồng bàn giấy. Họ rất vui sướng vì họ tin đã làm toại được sở thích của cha già. Cụ Kép co ro chạy từ nồi mạch nha, qua đám lồng bàn giấy, đến cái rổ đá cuội đã ráo nước thì cụ ngồi xổm xuống, ngồi lựa lấy những viên đá thật trắng, thật tròn, để ra một mẹt riêng. Ông ấm cả, ông ấm hai lễ mễ bưng những chậu Mặc lan vào trong nhà. Cả ba ông con đều nhặt những hòn cuội xấu nhất, méo mó, xù xì trải xuống mặt đất những chậu lan gần nở. Mỗi lần có một người đụng mạnh vào dò lan đen, cụ Kép lại xuýt xoa như có người châm kim vào da thịt mình.
Nồi kẹo đã nấu xong nhưng phải đợi đến gần cuối canh hai kẹo mới nguội.
Bây giờ thêm được bõ già đỡ một tay nữa, cả ba ông con đều lấy những hòn cuội để riêng ban nãy ra mẹt, đem dúng đá cuội vào nồi kẹo, quấn kẹo bọc kín lấy đá, được viên nào liền đem đặt luôn vào lồng chậu hoa. Những viên đá bọc kẹo được đặt nhẹ nhàng lên trên lượt đá lót lên nền đất chậu hoa. Úp xong lồng bàn giấy lên mười chậu Mặc lan thì vừa cúng giao thừa. Ba ông con, khăn lượt áo thâm lạy trước bàn thờ đặt ngoài trời. Năm nay, trời giao thừa lành. Cả một buổi sớm, cụ Kép phải bận ở đình làng. Trước khi ra đình cụ đã dặn bõ già ở nhà phải sửa soạn cho đủ để đến quá trưa, cụ và vài cụ nữa đi việc đình làng về sẽ cùng uống rượu thưởng hoa. Bõ già đã bày ra giữa sân bốn cái đôn sứ Bát Tràng mầu xanh quan lục. Trước mặt mỗi đôn, bõ già đặt một án thư nhỏ, trên đó ngất nghểu hai chậu lan còn lù lù chiếc lồng bàn úp, và một hũ rượu da lươn lớn có nút lá chuối khô. Bõ già xếp đặt trông thạo lắm. Trong mấy năm nay, đầu mùa xuân nào bõ già cũng phải ít ra là một lần, bày biện bàn tiệc rượu Thạch lan hương như thế. Bõ già hôm nay lẩm bẩm phàn nàn với ông ấm hai:
- Năm nay cụ nhà uống rượu sớm quá và lại uống ban ngày. Mọi năm, cứ đúng rằm tháng giêng mới uống. Vả lại uống vào chiều tối. Đốt đèn lồng, treo ở ngoài vườn, trông vào bữa rượu hoa, đẹp lắm cậu ạ.
Ông ấm hai vui chuyện, hỏi bõ già:
- Này bõ già, tôi tưởng uống rượu nhấm với đá cuội tẩm kẹo mạch nha thì có thú vị gì. Chỉ thêm xót ruột.
- Chết, cậu đừng nói thế, cụ nghe thấy cụ mắng chết. Cậu không nên nói tới chữ xót ruột. Chính cụ nhà có giảng cho tôi nghe rằng những cụ sành uống rượu, trước khi vào bàn rượu không ăn uống gì cả. Các cụ thường uống vào lúc thanh tâm. Và trong lúc vui chén, tịnh không dùng những đồ nhắm mặn như thịt cá đâu. Mấy vò rượu này, là rượu tăm đấy. Cụ nhà ta quý nó hơn vàng. Khi rót rỏ ra ngoài một vài giọt, lúc khách về, cụ mắng đến phát thẹn lên. Cậu đậy nút lại không có rượu bay!
Phía ngoài cổng, có tiếng chó sủa vang.
Bõ già nhìn ra thấy bốn cụ tiến vào đã quá nửa lòng ngõ duối. Cụ nào cũng cầm một cây quạt thước, chống một chiếc gậy tre càng cua hay trúc đùi gà. Uống xong tuần nước, cụ Kép mời ba cụ ra sân uống rượu. Bõ già vòng tay vái các cụ và đợi các cụ yên vị rồi thì khom khom mở từng chiếc lồng bàn giấy một.
Một mùi hương lan bị bỏ tù trong bầu không khí lồng bàn giấy phất từ đêm qua, đến bây giờ vội tản bay khắp vườn cây […] Cơn gió nhẹ pha loãng hương thơm đặc vào không gian.
(Trích Hương Cuội, Nguyễn Tuân, Vang bóng một thời,
NXB Văn học 2012)
Lựa chọn đáp án:
Câu 1. Câu chuyện trong đoạn trích trên được kể bằng lời của ai?
A. Lời của nhân vật cụ Kép.
B. Lời của người bõ già.
C. Lời của người con cả.
D. Lời của người kể chuyện ngôi thứ ba số ít.
Câu 2. Câu chuyện trong đoạn trích trên lấy bối cảnh thời gian nào?
A. Những năm đầu thế kỷ XX.
B. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
C. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954.
D. Sau khi thống nhất đất nước 1975.
Câu 3. Nhân vật cụ Kép trong đoạn trích trên thuộc lớp người nào?
A. Trí thức Tây học.
B. Nhà nho cuối mùa.
C. Công chức thời thuộc Pháp.
D. Nông dân.
Câu 4. Tại sao vườn nhà cụ Kép lại thiếu loại lan Bạch Ngọc?
A. Vì đó là giống lan đắt.
B. Vì đó là giống lan hiếm.
C. Vì đó là giống lan khó chăm.
D. Vì đó là giống lan không đẹp.
Câu 5. Theo cụ Kép, việc ứng xử với hoa như thế nào mới xứng với đạo của người tài tử?
A. Mua thật nhiều hoa lan về để trồng và chăm sóc trong vườn.
B. Trồng hoa ở giữa vườn và để cho hoa mọc tự do.
C. Có thời giờ chăm sóc và đối đãi với hoa bằng đạo chí thành.
D. Trồng hoa ở bất cứ đâu trong khuôn viên nhà để hoa mọc tự nhiên.
Câu 6. Cụm từ nào sau đây nêu đúng nếp sống của cụ Kép?
A. Điều độ, đạm bạc.
B. Thanh cao, nho nhã.
C. Chăm chỉ, chịu khó.
D. Khắc khổ, nhẫn nhịn.
Câu 7. Dòng nào sau đây nêu đúng chủ đề chính của đoạn trích?
A. Đoạn trích ca ngợi thú chơi lan tao nhã như một vẻ đẹp xưa cũ còn vang bóng.
B. Đoạn tríc ca ngợi những con người dám từ bỏ công danh để sống tự do tự tại.
C. Đoạn trích thể hiện nỗi lo lắng của tác giả về sự mai một của những giống lan quý.
D. Đoạn trích thể hiện những dự cam lo âu về sự suy thoái của đạo đức xã hội.
Trả lời câu hỏi / thực hiện yêu cầu:
Câu 8. Qua nhân vật cụ Kép, tác giả thể hiện thái độ như thế nào đối với xã hội “Tây Tàu nhố nhăng” đương thời?
Câu 9. Theo bạn, có nên khuyến khích lối sống như cụ Kép trong xã hội ngày nay không? Vì sao?
Câu 10. Chi tiết nào trong đoạn trích để lại ấn tượng sâu sắc nhất với bạn? Vì sao?
II. VIẾT (4.0 điểm)
Viết một bài luận (khoảng 500) chữ với nhan đề: Đừng đánh mất bản sắc.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
[1] Bõ: người ở giúp việc.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
D |
A |
B |
C |
C |
B |
A |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu chuyện trong đoạn trích trên được kể bằng lời của ai? A. Lời của nhân vật cụ Kép. B. Lời của người bõ già. C. Lời của người con cả. D. Lời của người kể chuyện ngôi thứ ba số ít. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định ngôi kể.
Lời giải chi tiết:
Câu chuyện trong đoạn trích trên được kể bằng lời của ai: Lời của người kể chuyện ngôi thứ ba
→ Đáp án D
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu chuyện trong đoạn trích trên lấy bối cảnh thời gian nào? A. Những năm đầu thế kỷ XX. B. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. C. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954. D. Sau khi thống nhất đất nước 1975. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Câu chuyện trong đoạn trích trên lấy bối cảnh thời gian: Những năm đầu thế kỷ XX.
→ Đáp án A
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Nhân vật cụ Kép trong đoạn trích trên thuộc lớp người nào? A. Trí thức Tây học. B. Nhà nho cuối mùa. C. Công chức thời thuộc Pháp. D. Nông dân. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Nhân vật cụ Kép trong đoạn trích trên thuộc lớp người: Nhà nho cuối mùa.
→ Đáp án B
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Tại sao vườn nhà cụ Kép lại thiếu loại lan Bạch Ngọc? A. Vì đó là giống lan đắt. B. Vì đó là giống lan hiếm. C. Vì đó là giống lan khó chăm. D. Vì đó là giống lan không đẹp. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Giải thích lí do vườn nhà cụ Kép lại thiếu lan Bạch Ngọc.
Lời giải chi tiết:
Vườn nhà cụ Kép thiếu loại lan Bạch Ngọc vì: Vì đó là giống lan khó chăm.
→ Đáp án C
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Theo cụ Kép, việc ứng xử với hoa như thế nào mới xứng với đạo của người tài tử? A. Mua thật nhiều hoa lan về để trồng và chăm sóc trong vườn. B. Trồng hoa ở giữa vườn và để cho hoa mọc tự do. C. Có thời giờ chăm sóc và đối đãi với hoa bằng đạo chí thành. D. Trồng hoa ở bất cứ đâu trong khuôn viên nhà để hoa mọc tự nhiên. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Lời giải chi tiết:
Theo cụ Kép, việc ứng xử với hoa để xứng với đạo của người tài tử: Có thời giờ chăm sóc và đối đãi với hoa bằng đạo chí thành.
→ Đáp án C
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Cụm từ nào sau đây nêu đúng nếp sống của cụ Kép? A. Điều độ, đạm bạc. B. Thanh cao, nho nhã. C. Chăm chỉ, chịu khó. D. Khắc khổ, nhẫn nhịn. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Chú ý từ ngữ miêu tả nếp sống của cụ Kép.
Lời giải chi tiết:
Nếp sống của cụ Kép: Thanh cao, nho nhã.
→ Đáp án B
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Dòng nào sau đây nêu đúng chủ đề chính của đoạn trích? A. Đoạn trích ca ngợi thú chơi lan tao nhã như một vẻ đẹp xưa cũ còn vang bóng. B. Đoạn tríc ca ngợi những con người dám từ bỏ công danh để sống tự do tự tại. C. Đoạn trích thể hiện nỗi lo lắng của tác giả về sự mai một của những giống lan quý. D. Đoạn trích thể hiện những dự cam lo âu về sự suy thoái của đạo đức xã hội. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định chủ đề.
Lời giải chi tiết:
Chủ đề chính của đoạn trích: Đoạn trích ca ngợi thú chơi lan tao nhã như một vẻ đẹp xưa cũ còn vang bóng.
→ Đáp án A
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Qua nhân vật cụ Kép, tác giả thể hiện thái độ như thế nào đối với xã hội “Tây Tàu nhố nhăng” đương thời? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- Nhân vật cụ Kép trong Hương cuội là kiểu nhà nho thất thế, phẫn uất với thời buổi đương thời, tìm giữ vẻ đẹp xưa trong thú chơi hoa, một thú vui thanh cao – có nét tương đồng với thú vui của các nhân vật khác trong tập truyện.
- Qua nhân vật cụ Kép, tác giả thể hiện thái độ bất hòa với xã hội “Tây Tàu nhố nhăng” đương thời; đồng thời ngợi ca những giá trị truyền thống của dân tộc.
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Theo bạn, có nên khuyến khích lối sống như cụ Kép trong xã hội ngày nay không? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS nêu được quan điểm nên / không nên khuyến khích lối sống như cụ Kép.
- Lí giải lí do nêu quan điểm.
- Gợi ý: Xa lánh những gì ồn ào của xã hội, gắn bó với thiên nhiên; biết thưởng thức những sinh thú thanh cao, đòi hỏi sự cầu kì, tinh tế).
Câu 10: (1.0 điểm)
|
Chi tiết nào trong đoạn trích để lại ấn tượng sâu sắc nhất với bạn? Vì sao? |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS bày tỏ chi tiết để lại ấn tượng sâu sắc nhất với mình.
-Thí sinh lí giải hợp lí, thuyết phục.
Gợi ý:
- Chi tiết cụ Kép trồng đủ loại hoa lan, chi tiết cụ Kép chuẩn bị đón tết…
- Vì những chi tiết đó đã ca ngợi vẻ đẹp truyền thống văn hóa của dân tộc: Uống rượu, ngâm thơ, thưởng hoa, đặc biệt là thú làm kẹo hương cuội vào dịp Tết cổ truyền. Ca ngợi những nho sĩ thanh cao, có tâm hồn và thú vui tao nhã luôn có ý thức trong việc gìn giữ truyền lại cho con cháu vẻ đẹp truyền thống của dân tộc.
II. VIẾT (5 điểm)
|
Viết một bài luận (khoảng 500) chữ với nhan đề: Đừng đánh mất bản sắc. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết một bài luận (khoảng 500) chữ với nhan đề: Đừng đánh mất bản sắc. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. * Gợi ý: - Bản sắc là những nét riêng biệt, độc đáo của một cộng đồng; phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác. Bản sắc của một cộng đồng thể hiện qua từng cá nhân của cộng đồng ấy. - Bản sắc tạo nên truyền thống, văn hóa cho một cộng đồng; tạo nên sức mạnh nối kết những người khác nhau trong cùng một cộng đồng. - Nếu thiếu bản sắc, một cộng đồng có thể không tồn tại được trước những ảnh hưởng văn hóa từ những cộng đồng khác. Vì vậy, giữ gìn bản sắc là giữ gìn mối liên hệ của mỗi cá nhân trong cộng đồng; là duy trì và phát huy sức mạnh của cộng đồng. - Tuy nhiên, giữ gìn bản sắc không có nghĩa là bảo thủ, giữ gìn cả những hủ tục. Giữ gìn bản sắc là phát huy những giá trị truyền thống, tiếp nhận những giá trị thuộc về nhân loại để những gì thuộc về bản sắc có thêm sức sống. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 2
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 11; Năm học 2022 - 2023
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm)
Đọc bài thơ sau:
ÁO TRẮNG
Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong,
Hôm xưa em đến, mắt như lòng
Nở bừng ánh sáng. Em đi đến,
Gót ngọc dồn hương, bước toả hồng.
Em đẹp bàn tay ngón ngón thon;
Em duyên đôi má nắng hoe tròn.
Em lùa gió biếc vào trong tóc
Thổi lại phòng anh cả núi non.
Em nói, anh nghe tiếng lẫn lời;
Hồn em anh thở ở trong hơi.
Nắng thơ dệt sáng trên tà áo,
Lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài.
Đôi lứa thần tiên suốt một ngày.
Em ban hạnh phúc chứa đầy tay.
Dịu dàng áo trắng trong như suối
Toả phất đôi hồn cánh mộng bay.
(Huy Cận)
Chú thích:
1. Huy Cận (1919 – 2005) tên khai sinh là Cù Huy Cận, quê ở Hà Tĩnh. Huy Cận yêu thích thơ ca Việt Nam, thơ Đường và chịu nhiều ảnh hưởng của văn học Pháp. Thơ Huy Cận hàm súc, giàu chất suy tưởng, triết lí. Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại và đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996).
2. Áo trắng là bài thơ tiêu biểu của Huy Cận, in trong tập Lửa thiêng, NXB Đời nay, Hà Nội, 1940.
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ?
A. Tự sự
B. Biểu cảm
C. Nghị luận
D. Thuyết minh
Câu 2. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
A. Bảy chữ
B. Lục bát
C. Song thất lục bát
D. Tự do
Câu 3. Chủ thể trữ tình trong bài thơ là ai?
A. Nhân vật “anh”
B. Nhân vật “em”
C. Tác giả
D. Chủ thể ẩn
Câu 4. Xác định hình ảnh trung tâm của bài thơ?
A. Hình ảnh áo trắng
B. Hình ảnh cô gái
C. Hình ảnh bàn tay
D. Hình ảnh mái tóc
Câu 5. Nêu hiệu quả của phép điệp trong khổ thơ thứ 2 của bài thơ?
A. Tăng sức gợi hình, khắc họa vẻ đẹp nên thơ của khung cảnh thiên nhiên.
B. Tạo giọng điệu khắc khoải, bộc lộ tâm trạng giận hờn, trách móc của “anh”
C. Tạo nhip điệu, nhấn mạnh vẻ đẹp trong trẻo, trẻ trung của người con gái.
D. Tạo sự sinh động, khẳng định tình yêu mãnh liệt, nồng nàn của người con gái.
Câu 6. Phát biểu nào sau đây nói về vẻ đẹp của cô gái trong bài thơ?
A. Vẻ đẹp rực rỡ, tươi vui
B. Vẻ đẹp đoan trang, thùy mị
C. Vẻ đẹp tinh khôi, thánh thiện
D. Vẻ đẹp đằm thắm, dịu dàng
Câu 7. Dòng nào nói đúng về tâm trạng của chủ thể trữ tình trong bài thơ?
A. Tâm trạng ngỡ ngàng khi gặp người yêu.
B. Tâm trạng nhớ nhung khi xa người yêu.
C. Tâm trạng bối rối khi gặp người yêu.
D. Tâm trạng hạnh phúc khi người yêu đến.
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. Chỉ ra ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh “áo trắng” trong bài thơ?
Câu 9. Nhận xét về tình cảm của nhân vật trữ tình với người con gái được thể hiện trong bài thơ?
Câu 10. Từ bài thơ, anh/ chị có suy nghĩ gì về ý nghĩa của tình yêu chân chính trong cuộc đời mỗi người (trả lời trong khoảng 5-7 dòng)?
II. VIẾT (5,0 điểm)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về cấu tứ, hình ảnh trong bài thơ “Áo trắng” (Huy Cận).
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
B |
A |
A |
B |
C |
C |
D |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ? A. Tự sự B. Biểu cảm C. Nghị luận D. Thuyết minh |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định phương thức biểu đạt chính.
Lời giải chi tiết:
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.
→ Đáp án B
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào? A. Bảy chữ B. Lục bát C. Song thất lục bát D. Tự do |
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về thể thơ để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Bài thơ trên được viết theo thể thơ: Bảy chữ
→ Đáp án A
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Chủ thể trữ tình trong bài thơ là ai? A. Nhân vật “anh” B. Nhân vật “em” C. Tác giả D. Chủ thể ẩn |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Xác định chủ thể trữ tình trong bài thơ.
Lời giải chi tiết:
Chủ thể trữ tình trong bài thơ là: Nhân vật “anh”.
→ Đáp án A
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Xác định hình ảnh trung tâm của bài thơ. A. Hình ảnh áo trắng. B. Hình ảnh cô gái. C. Hình ảnh bàn tay. D. Hình ảnh mái tóc. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định hình ảnh trung tâm của bài thơ.
Lời giải chi tiết:
Hình ảnh trung tâm của bài thơ: Hình ảnh cô gái.
→ Đáp án B
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Nêu hiệu quả của phép điệp trong khổ thơ thứ 2 của bài thơ? A. Tăng sức gợi hình, khắc họa vẻ đẹp nên thơ của khung cảnh thiên nhiên. B. Tạo giọng điệu khắc khoải, bộc lộ tâm trạng giận hờn, trách móc của “anh” C. Tạo nhip điệu, nhấn mạnh vẻ đẹp trong trẻo, trẻ trung của người con gái. D. Tạo sự sinh động, khẳng định tình yêu mãnh liệt, nồng nàn của người con gái. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Hiệu quả của phép điệp trong khổ thơ thứ 2 của bài thơ: Tạo nhip điệu, nhấn mạnh vẻ đẹp trong trẻo, trẻ trung của người con gái.
→ Đáp án C
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Phát biểu nào sau đây nói về vẻ đẹp của cô gái trong bài thơ? A. Vẻ đẹp rực rỡ, tươi vui. B. Vẻ đẹp đoan trang, thùy mị. C. Vẻ đẹp tinh khôi, thánh thiện. D. Vẻ đẹp đằm thắm, dịu dàng. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Phát biểu nói về vẻ đẹp của cô gái trong bài thơ: Vẻ đẹp tinh khôi, thánh thiện.
→ Đáp án C
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Dòng nào nói đúng về tâm trạng của chủ thể trữ tình trong bài thơ? A. Tâm trạng ngỡ ngàng khi gặp người yêu. B. Tâm trạng nhớ nhung khi xa người yêu. C. Tâm trạng bối rối khi gặp người yêu. D. Tâm trạng hạnh phúc khi người yêu đến. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định tâm trạng của nhân vật trữ tình.
Lời giải chi tiết:
Tâm trạng của chủ thể trữ tình trong bài thơ: Tâm trạng hạnh phúc khi người yêu đến.
→ Đáp án D
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Chỉ ra ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh “áo trắng” trong bài thơ? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
HS nêu được ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh “áo trắng” được thể hiện trong bài thơ:
- Là biểu tượng cho vẻ đẹp tinh khôi, trong trắng của cô gái.
- Là biểu tượng cho sự thơ mộng, trong sáng, hồn nhiên của tình yêu tuổi học trò.
Câu 9: (0.5 điểm)
|
Nhận xét về tình cảm của nhân vật trữ tình với người con gái được thể hiện trong bài thơ? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
HS nêu nhận xét về tình cảm của nhân vật trữ tình với người con gái được thể hiện trong bài thơ:
- Niềm say mê, sự ngỡ ngàng, ngất ngây, hạnh phúc trong tình yêu.
- Đó là tình cảm đầy đẹp đẽ, chân thành, trong sáng, hồn nhiên của những rung động đầu đời.
Câu 10: (0.5 diểm)
|
Từ bài thơ, anh/ chị có suy nghĩ gì về ý nghĩa của tình yêu chân chính trong cuộc đời mỗi người (trả lời trong khoảng 5-7 dòng)?
|
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của tình yêu chân chính trong cuộc đời của mỗi người.
-Thí sinh lí giải hợp lí, thuyết phục.
- Yêu cầu về hình thức: viết thành đoạn văn hoàn chỉnh (không xuống dòng, đảm bảo đủ số câu).
Gợi ý:
- Tình yêu chân chính có ý nghĩa cao đẹp và thiêng liêng bởi đó là nền tảng của một gia đình hạnh phúc, là cơ sở để duy trì và phát triển của nhân loại.
- Giúp mỗi người hoàn thiện bản thân, đem lại hạnh phúc, tiếp thêm sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn thử thách
II. VIẾT (5 điểm)
|
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về cấu tứ, hình ảnh trong bài thơ “Áo trắng” (Huy Cận). |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về cấu tứ, hình ảnh trong bài thơ “Áo trắng” (Huy Cận). |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm. - Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. * Xác định và phân tích, đánh giá chủ đề - Xác định chủ đề: Bài thơ là tâm trạng ngỡ ngàng trước vẻ đẹp tinh khôi, trong sáng của người yêu; là niềm hạnh phúc, vui sướng ngất ngây của cậu học trò khi được sống trong tình yêu thơ mộng. - Phân tích, đánh giá chủ đề: + Tình yêu tuổi học trò là một chủ đề khá quen thuộc trong thơ ca hiện đại. Tình yêu tuổi học trò bài thơ trên vừa mang những vẻ đẹp chung, vừa có những nét độc đáo, gây ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. + Tình yêu trong bài thơ là niềm hạnh phúc, là khoảnh khắc kì diệu, biến cuộc đời thành một cõi thần tiên. Từ tình yêu của anh và em trong bài thơ, nhắc nhở chúng ta cần trân trọng tình yêu đẹp, biết tận hưởng niềm hạnh phúc trong tình yêu, biết yêu thương và trân quý phút giây hạnh phúc trong cuộc đời. * Phân tích, đánh giá nghệ thuật: - Cấu tứ của bài thơ: + Tứ thơ được khắc họa qua khoảnh khắc gặp gỡ của đôi trai gái: cô gái đến thăm chàng trai mình yêu. Cuộc gặp gỡ ấy được cảm nhận qua cái nhìn (từ xa đến gần), qua tâm trạng của chàng trai (từ ngạc nhiên ngỡ ngàng đến đắm say hạnh phúc). Bắt đầu từ cái hình ảnh “nở bừng ánh sáng em đi đến” với “gót ngọc dồn hương”, “bước tỏa hồng”, rồi gần hơn với bàn tay “ngón ngón thon”, “đôi má nắng hoe tròn”, với mái tóc, rồi hơ i thở, tiếng nói, rồi tất cả dần hòa quyện tạo thành một sự say đắm trong hạnh phúc hội ngộ. Bài thơ kết thúc với sự hòa hợp và thăng hoa của hai tâm hồn tinh khôi. + Với cấu tứ độc đáo, bài thơ giống như một câu chuyện kể về sự diễn tiến của cuộc gặp gỡ, vừa thể hiện những bước đi của tình yêu từ chớm nở đến viên thành. Cấu tứ ấy cũng cho ta thấy được những cung bậc cảm xúc mỗi lúc một mãnh liệt của chàng trai đang yêu. - Nghệ thuật xây dựng hình ảnh: + Hình tượng trung tâm của bài thơ là cô gái, qua cái nhìn say đắm của chàng trai. Tất cả các hình ảnh trong bài thơ đều tập trung thể hiện vẻ đẹp lung linh tỏa sáng, tinh khôi thơ mộng của hình tượng trung tâm đó. + Mở đầu bài thơ là sự xuất hiện của hình ảnh “áo trắng”, gợi lên vẻ đẹp trong trắng của tuổi học trò với “mộng trắng trong”. Màu trắng ấy khiến cô gái khi xuất hiện, như tỏa ra ánh sáng rực rỡ: “Nở bừng ánh sáng”. + Những bước đi của cô gái cũng được miêu tả thật đẹp với “gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng”. Dưới cái nhìn si tình, lãng mạn của chàng trai, cô gái mang một vẻ đẹp trong ngần, tỏa ra hương thơm kì diệu. + Khi đến gần hơn, vẻ đẹp của cô gái được miêu tả ở “bàn tay ngón ngón thon”, ở “đôi má nắng hoe tròn”, mái tóc xanh tràn đầy sức sống, như mang cả hơi thở của trời đất, núi non, cả tiếng nói ngọt ngào của người yêu, hứng trọn cả “tiếng lẫn lời”. + Bài thơ khép lại cũng với hình ảnh “áo trắng” nhưng kết tinh, thăng hoa: không còn là tà áo trắng trong hiện thực, mà dường như đã trở thành đôi cánh của thiên thần, khiến cả đôi hồn cùng bay lên trong một tình yêu thần tiên say đắm. +Toàn bộ hệ thống hình ảnh trong bài thơ đều thống nhất tập trung làm nổi bật vẻ đẹp tinh khôi của cô gái; đồng thời cũng làm nổi bật vẻ đẹp trong trẻo, thơ mộng của tình yêu tuổi học trò.
|
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 3
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 11; Năm học 2022 - 2023
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc truyện ngắn sau:
Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho:
- Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi.
Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó.
Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá trời nên tính trước, nếu mùng một con bé Em đi về ngoại thì mùng hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.
Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi xách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm:
- Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa?
- Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.
- Vậy mầy được mấy bộ?
- Có một bộ hà.
Con bé Em trợn mắt:
- Ít quá vậy?
- Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.
- Vậy à?
Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.
Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:
- Còn mầy?
- Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng một tới mùng bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn.
- Mầy sướng rồi.
Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới. Má nó nói hoài: “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng:
- Bộ đồ mầy may chắc đẹp lắm, bữa mùng hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen?
Rồi tới mùng một, mùng hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen:
- Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng.
Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé em. Thiệt đó.
(Áo Tết, Nguyễn Ngọc Tư, in trong Bánh trái mùa xưa, NXB Văn học)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Truyện ngắn trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ mấy?
A. Ngôi thứ ba
B. Ngôi thứ hai
C. Ngôi thứ nhất
D. Ngôi thứ nhất và thứ ba
Câu 2. Đoạn trích trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật nào?
A. Điểm nhìn của nhân vật bé Em
B. Điểm nhìn của nhân vật Bích
C. Điểm nhìn của nhân vật người kể chuyện
D. Cả B và C
Câu 3. Phát biểu nào sau đây nói đúng về đặc điểm của lời kể trong truyện?
A. Chỉ có lời nhân vật
B. Chỉ có lời người kể chuyện
C. Bao gồm cả lời người kể chuyện và lời nhân vật
D. Bao gồm cả lời người kể chuyện, lời nhân vật và lời tác giả
Câu 4. Sự kiện đáng chú ý nhất trong truyện ngắn trên là:
A. Bích và bé Em được may đồ Tết
B. Bích và bé Em mặc đồ mới đi chúc Tết cô giáo
C. Bé Em có bốn bộ đồ Tết, trong khi Bích chỉ có một bộ
D. Bé Em cố ý mặc đồ hơi giống bộ đồ của Bích khi đi chúc Tết cô giáo
Câu 5. Phát biểu nào sau đây nói lên nội dung tóm tắt của truyện?
A. Kể về chuyện may đồ Tết của Bích và bé Em và cách hành xử tế nhị của bé Em trong ngày hai đứa mặc đồ mới đi chúc Tết cô giáo
B. Kể về việc bé Em được may bốn bộ đồ Tết trong khi đó Bích chỉ được mẹ may cho một bộ
C. Kể về việc bé Em đã cố tình mặc đồ hơi giống Bích trong ngày hai đứa mặc áo mới đi thăm cô giáo
D. Kể về cuộc trò chuyện thân mật giữa Bích và bé Em về chuyện may đồ Tết
Câu 6. Việc bé Em quyết định không mặc bộ đầm hồng mà mặc bộ đồ hơi giống bạn của mình khi cùng bạn đi thăm cô giáo cho thấy bé Em là một cô bé như thế nào?
A. Là một cô bé có tâm hồn tinh tế
B. Là một cô bé thích thể hiện
C. Là một cô bé khiêm tốn
D. Là một cô bé giảu lòng nhân ái
Câu 7. Phát biểu nào sau đây nói lên chủ đề của truyện ngắn trên?
A. Ca ngợi tấm lòng tinh tế, cách hành xử tế nhị của nhân vật bé Em
B. Ca ngợi tình bạn chân thành, cao đẹp của bé Em và Bích
C. Phê phán sự phân biệt giàu nghèo trong xã hội
D. Cả A và B
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. Hãy nêu một truyện ngắn nói về sự đồng cảm, tình yêu thương của những đứa trẻ con nhà giàu đối với những đứa trẻ con nhà nghèo khó. (Đó là truyện ngắn nào, của ai?)
Câu 9. Bạn rút ra được bài học gì về tình bạn sau khi đọc truyện ngắn trên?
Câu 10. Từ truyện ngắn trên, bạn suy nghĩ gì về ý nghĩa của sự đồng cảm đối với người khác trong hoàn cảnh khó khăn? (Viết khoảng 5 – 7 dòng)
II. LÀM VĂN (4,0 điểm)
Bạn hãy viết một bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật trong việc xây dựng hình tượng nhân vật bé Em ở truyện ngắn trên.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
B |
A |
A |
B |
C |
C |
D |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Truyện ngắn trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ mấy? A. Ngôi thứ ba B. Ngôi thứ hai C. Ngôi thứ nhất D. Ngôi thứ nhất và thứ ba |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Truyện ngắn trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ ba.
→ Đáp án A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Đoạn trích trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật nào? A. Điểm nhìn của nhân vật bé Em B. Điểm nhìn của nhân vật Bích C. Điểm nhìn của nhân vật người kể chuyện D. Cả B và C |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định điểm nhìn.
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật bé Em
→ Đáp án A
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Phát biểu nào sau đây nói đúng về đặc điểm của lời kể trong truyện? A. Chỉ có lời nhân vật B. Chỉ có lời người kể chuyện C. Bao gồm cả lời người kể chuyện và lời nhân vật D. Bao gồm cả lời người kể chuyện, lời nhân vật và lời tác giả |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Chú ý ngôi kể.
Lời giải chi tiết:
Phát biểu nói đúng về đặc điểm của lời kể trong truyện: Bao gồm cả lời người kể chuyện và lời nhân vật.
→ Đáp án C
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Sự kiện đáng chú ý nhất trong truyện ngắn trên là: A. Bích và bé Em được may đồ Tết B. Bích và bé Em mặc đồ mới đi chúc Tết cô giáo C. Bé Em có bốn bộ đồ Tết, trong khi Bích chỉ có một bộ D. Bé Em cố ý mặc đồ hơi giống bộ đồ của Bích khi đi chúc Tết cô giáo |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định sự kiện nổi bật.
Lời giải chi tiết:
Sự kiện đáng chú ý nhất trong truyện ngắn trên là: Bé Em cố ý mặc đồ hơi giống bộ đồ của Bích khi đi chúc Tết cô giáo
→ Đáp án D
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Phát biểu nào sau đây nói lên nội dung tóm tắt của truyện? A. Kể về chuyện may đồ Tết của Bích và bé Em và cách hành xử tế nhị của bé Em trong ngày hai đứa mặc đồ mới đi chúc Tết cô giáo B. Kể về việc bé Em được may bốn bộ đồ Tết trong khi đó Bích chỉ được mẹ may cho một bộ C. Kể về việc bé Em đã cố tình mặc đồ hơi giống Bích trong ngày hai đứa mặc áo mới đi thăm cô giáo D. Kể về cuộc trò chuyện thân mật giữa Bích và bé Em về chuyện may đồ Tết |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Nội dung tóm tắt của truyện: Kể về chuyện may đồ Tết của Bích và bé Em và cách hành xử tế nhị của bé Em trong ngày hai đứa mặc đồ mới đi chúc Tết cô giáo.
→ Đáp án A
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Việc bé Em quyết định không mặc bộ đầm hồng mà mặc bộ đồ hơi giống bạn của mình khi cùng bạn đi thăm cô giáo cho thấy bé Em là một cô bé như thế nào? A. Là một cô bé có tâm hồn tinh tế B. Là một cô bé thích thể hiện C. Là một cô bé khiêm tốn D. Là một cô bé giảu lòng nhân ái |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Việc bé Em quyết định không mặc bộ đầm hồng mà mặc bộ đồ hơi giống bạn của mình khi cùng bạn đi thăm cô giáo cho thấy bé Em là một cô bé có tâm hồn tinh tế.
→ Đáp án A
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Phát biểu nào sau đây nói lên chủ đề của truyện ngắn trên? A. Ca ngợi tấm lòng tinh tế, cách hành xử tế nhị của nhân vật bé Em B. Ca ngợi tình yêu chân thành, cao đẹp của bé Em và Bích C. Phê phán sự phân biệt giàu nghèo trong xã hội D. Ca ngợi tấm lòng tinh tế, cách hành xử tế nhị của nhân vật Bích. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định chủ đề của truyện.
Lời giải chi tiết:
Phát biểu nói lên chủ đề của truyện ngắn trên: Ca ngợi tấm lòng tinh tế, cách hành xử tế nhị của nhân vật bé Em.
→ Đáp án A
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Hãy nêu một truyện ngắn nói về sự đồng cảm, tình yêu thương của những đứa trẻ con nhà giàu đối với những đứa trẻ con nhà nghèo khó. (Đó là truyện ngắn nào, của ai?) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
HS nêu được tên tác phẩm thể hiện sự đồng cảm, tình yêu thương của những đứa trẻ con nhà giàu với những đứa trẻ con nhà nghèo khó.
- Gợi ý: Truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa” của tác giả Thạch Lam.
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Bạn rút ra được bài học gì về tình bạn sau khi đọc truyện ngắn trên? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Học sinh được tự do rút ra bài học cho bản thân, miễn là tích cực và liên quan đến nội dung câu chuyện.
Gợi ý:
- Cần tinh tế trong đối xử với bạn bè.
- Nên đề cao tình cảm chân thành, không nên quan trọng ở vật chất…
Câu 10: (1.0 diểm)
|
Từ truyện ngắn trên, bạn suy nghĩ gì về ý nghĩa của sự đồng cảm đối với người khác trong hoàn cảnh khó khăn? (Viết khoảng 5 – 7 dòng) |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của sự đồng cảm.
-Thí sinh lí giải hợp lí, thuyết phục.
- Yêu cầu về hình thức: viết thành đoạn văn hoàn chỉnh (không xuống dòng, đảm bảo đủ số câu).
Gợi ý:
- Sự đồng cảm giúp chúng ta có thái độ đối xử chân thành.
- Sự động cảm giúp người khác không cảm thấy tự ti, mặc cảm.
- Sự đồng cảm giúp duy trì những mối quan hệ tốt đẹp…
II. VIẾT (4 điểm)
|
Phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật trong việc xây dựng hình tượng nhân vật bé Em ở truyện ngắn trên. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật trong việc xây dựng hình tượng nhân vật bé Em. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm. - Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. 1. Tóm tắt truyện: Truyện xoay quanh câu chuyện áo tết của hai đứa bé là bé Em và Bích. Bé Em được mẹ may cho bốn bộ áo tết, trong khi đó Bích, bạn của bé Em, vì nhà nghèo nên chỉ được mẹ may cho một bộ. Để bạn không cảm thấy tủi thân, trong ngày đi chúc tết cô giáo, bé Em đã mặc bộ đồ hơi giống Bích. Hiểu được tấm lòng của bé Em, Bích thêm yêu quý bạn của mình. 2. Xác định và phân tích, đánh giá chủ đề: a. Xác định chủ đề: Thông qua câu chuyện về áo tết và cách hành xử của nhân vật bé Em, truyện ca ngợi tình bạn chân thành giữa bé Em và Bích, ca ngợi tấm lòng nhạy cảm, tinh tế của bé Em đối với người bạn của mình. b. Phân tích, đánh giá chủ đề: - Truyện là bài ca về tình bạn hồn nhiên, trong sáng nhưng rất chân thành và tinh tế. Bé Em và Bích tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã luôn biết nghĩ cho bạn của mình. Bé Em vì nghĩ đến hoàn cảnh của bạn nên đã không nỡ khoe chuyện mình được may áo đẹp. Bích vì quan tâm đến bạn nên vẫn hỏi han bạn để bạn có cơ hội khoe áo mới của mình. Đặc biệt nhất là cách hành xử của bé Em trong ngày đi chúc tết cô giáo. Bé Em đã ăn mặc hơi giống bạn để bạn không thấy tự ti. Còn Bích thì biết được tấm lòng của bạn, nên Bích nghĩ rằng, chỉ cần sự chân thành đó, và dù bé Em có mặc đẹp hơn Bích đi chăng nữa, thì Bích vẫn thương quý bạn mình. - Tuy viết về tình bạn hồn nhiên của hai đứa trẻ, nhưng truyện cũng là bài học cho tình bạn ở mọi lứa tuổi, cho mọi mối quan hệ giữa con người với con người: Trong ứng xử với người khác, hãy luôn lấy sự chân thành làm nền tảng, phải luôn thấu hiểu lẫn nhau, để không làm cho nhau bị tổn thương. Khi ta hành xử được như vậy thì người khác cũng sẽ nhân đó mà quý trọng, yêu thương ta nhiều hơn nữa. 3. Hình tượng nhân vật bé Em: - Bé Em mang trong mình tích cách hồn nhiên của trẻ thơ: thích khoe đồ mới, và em thực hiện ý muốn đó một cách cũng rất trẻ con, bằng cách gạn hỏi bạn trước, để từ đó tìm cơ hội khoe áo mới của mình. - Nhưng dù còn nhỏ tuổi, bé Em đã là một cô bé nhạy cảm và tinh tế. Khi nghe Bích nói về hoàn cảnh của mình, bé Em đã khựng lại, hết hứng, nửa muốn khoe nửa muốn không. Bé muốn khoe vì cái nỗi sung sướng của trẻ con khi được may áo mới vẫn còn chộn rộn trong lòng, nhưng bé cũng không muốn khoe vì như thế sẽ khiến bạn cảm thấy tủi thân. - Rồi sau khi được bạn gạn hỏi, sau khi phải nói ra việc mình có những bốn bộ đồ mới, khi chứng kiến đôi mắt “xịu xuống, buồn hẳn” của bạn, và nghĩ đến hoàn cảnh của bạn, bé Em đã có một cách hành xử vô cùng đẹp, vô cùng nhân văn. Đó là ngày đi chúc tết cô giáo, để bạn không bị mặc cảm, bé em đã mặc đồ hơi giống bạn. Một cách hành xử rất trẻ con, nhưng lại khiến ta xúc động: xúc động vì cách hành xử đó xuất phát từ lòng yêu thương, từ sự sâu sắc và tinh tế của tâm hồn của một đứa trẻ. Cách hành xử ấy đáng cho người lớn phải học tập.
|
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề - Nêu ý nghĩa của truyện kể đối với bản thân và người đọc: Câu chuyện đã giúp ta hiểu được rằng: trong tình bạn, trong cách đối xử giữa con người với con người, chúng ta cần đem lòng chân thành mà đối đãi, lấy sự tinh tế mà ứng xử, từ đó mới có thể xây dựng lên được những mối quan hệ bền vững và tốt đẹp. |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 4
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 11; Năm học 2022 - 2023
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
XUÂN Ý
(Hồ Dzếnh)
Trời đẹp như trời mới tráng gương,
Chim ca, tiếng sáng rộn ven tường
Có ai bên cửa ngồi hong tóc
Cho chảy tan thành một suối hương.
Sắc biếc giao nhau cành lan cành
Nước trong, hồ ngợp thủy tinh xanh
Chim bay cành trĩu trong xuân ý
Em đợi chờ ai khuất bức mành?
Giữa một giờ thiêng tình rất đẹp
Rất buồn và rất rất thanh thanh
Mày ai bén nguyệt, người ai nhỏ
Em ạ, yêu nhau chết cũng đành!
(Trích Tổng tập văn học Việt Nam, Tập27, NXB Khoa học Xã hội, 1995, tr.397)
|
Hồ Dzếnh (1916–1991), tên thật: Hà Triệu Anh hay Hà Anh (ghi theo giọng Quảng Đông là Hồ Dzếnh) là một nhà thơ của Việt Nam. Ông được biết đến với một giọng thơ nhẹ nhàng, siêu thoát, phảng phất hương vị thơ cổ Trung Hoa. |
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Xác định thể thơ trong bài Xuân ý.
A. Tự do
B. Bảy chữ
C. Song thất lục bát
D. Lục bát
Câu 2. Khổ thứ hai trong bài Xuân ý gieo vần ở âm tiết cuối của những dòng thơ nào?
A. Dòng số 1,3,4
B. Dòng số 2,3,4
C. Dòng số 1,2,4
D. Dòng số 1,2,3
Câu 3. Câu thơ Trời đẹp như trời mới tráng gương sử dụng biện pháp tu từ nào?
A. Nói quá
B. So sánh
C. Điệp từ
D. Ẩn dụ
Câu 4. “Em” trong bài thơ là:
A. Người con gái đẹp
B. Nhân vật trữ tình
C. Đối tượng trữ tình
D. Người yêu của tác giả.
Câu 5. Giọng điệu chính của bài thơ:
A. Trầm lắng, suy tư
B. Lạnh lùng, khách quan
C. Buồn thương, tiếc nuối
D. Đằm thắm, tha thiết
Câu 6. Tác dụng của câu hỏi tu từ Em đợi chờ ai khuất bức mành?
A. Thể hiện sự băn khoăn, hồ nghi của nhân vật trữ tình
B. Lời tỏ tình ý nhị của nhân vật trữ tình
C. Thể hiện tâm trạng buồn bã, mong ngóng của nhân vật “em”
D. Thể hiện cảm xúc bâng khuâng, lưu luyến của nhân vật trữ tình.
Câu 7. Nhận định nào sau đây không đúng khi nói về câu thơ: Sắc biếc giao nhau cành lan cành?
A. Câu thơ đã thể hiện sức sống của thiên nhiên mùa xuân
B. Câu thơ miêu tả màu xanh giao hòa trên cành lá
C. Câu thơ miêu tả cành lá đan cài vào nhau
D. Câu thơ miêu tả hình ảnh thiên nhiên lụi tàn
Trả lời các câu hỏi:
Câu 8. Nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên trong bài thơ.
Câu 9. Em có đồng tình với suy nghĩ của nhân vật trữ tình trong câu thơ “Em ạ, yêu nhau chết cũng đành!” không? Vì sao?
Câu 10. So sánh tâm trạng của nhân vật trữ tình trong hai đoạn thơ:
|
-Đoạn 1 Trời đẹp như trời mới tráng gương, Chim ca, tiếng sáng rộn ven tường Có ai bên cửa ngồi hong tóc Cho chảy tan thành một suối hương. (Xuân ý-Hồ Dzếnh)
|
- Đoạn 2 Tôi có chờ đâu, có đợi đâu Ðem chi xuân lại gợi thêm sầu? - Với tôi, tất cả như vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau! (Xuân-Chế Lan Viên)
|
II. VIẾT (4,0 điểm)
“Cuộc sống không phải để sợ, mà là để hiểu. Đây chính là lúc chúng ta cần phải tìm hiểu nhiều hơn về cuộc sống để làm vơi bớt mọi nỗi sợ hãi.” (Marie Curie)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận để trình bày suy nghĩ của bản thân về ý kiến trên.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU (6 điểm)
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
B |
C |
B |
C |
D |
D |
D |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Xác định thể thơ trong bài Xuân ý. A. Tự do B. Bảy chữ C. Song thất lục bát D. Lục bát |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định thể thơ
Lời giải chi tiết:
Thể thơ: Bảy chữ
→ Đáp án B
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Khổ thứ hai trong bài Xuân ý gieo vần ở âm tiết cuối của những dòng thơ nào? A. Dòng số 1,3,4 B. Dòng số 2,3,4 C. Dòng số 1,2,4 D. Dòng số 1,2,3 |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ khổ thơ 2
Xác định cách gieo vần.
Lời giải chi tiết:
Khổ thứ hai trong bài Xuân ý gieo vần ở âm tiết cuối của những dòng thơ: 1,2,4
→ Đáp án C
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu thơ Trời đẹp như trời mới tráng gương sử dụng biện pháp tu từ nào? A. Nói quá B. So sánh C. Điệp từ D. Ẩn dụ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu thơ
Xác định biện pháp tu từ.
Lời giải chi tiết:
Câu thơ Trời đẹp như trời mới tráng gương sử dụng biện pháp tu từ so sánh
→ Đáp án B
Câu 4 (0.5 điểm)
|
“Em” trong bài thơ là: A. Người con gái đẹp B. Nhân vật trữ tình C. Đối tượng trữ tình D. Người yêu của tác giả |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định nhân vật “em”.
Lời giải chi tiết:
“Em” trong bài thơ là: Đối tượng trữ tình
→ Đáp án C
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Giọng điệu chính của bài thơ: A. Trầm lắng, suy tư B. Lạnh lùng, khách quan C. Buồn thương, tiếc nuối D. Đằm thắm, tha thiết |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định giọng điệu chính của bài thơ.
Lời giải chi tiết:
Giọng điệu chính của bài thơ: Đằm thắm, tha thiết.
→ Đáp án D
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Tác dụng của câu hỏi tu từ Em đợi chờ ai khuất bức mành? A. Thể hiện sự băn khoăn, hồ nghi của nhân vật trữ tình B. Lời tỏ tình ý nhị của nhân vật trữ tình C. Thể hiện tâm trạng buồn bã, mong ngóng của nhân vật “em” D. Thể hiện cảm xúc bâng khuâng, lưu luyến của nhân vật trữ tình. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Tác dụng của câu hỏi tu từ Em đợi chờ ai khuất bức mành là: Thể hiện cảm xúc bâng khuâng, lưu luyến của nhân vật trữ tình.
→ Đáp án D
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Nhận định nào sau đây không đúng khi nói về câu thơ: Sắc biếc giao nhau cành lan cành? A. Câu thơ đã thể hiện sức sống của thiên nhiên mùa xuân B. Câu thơ miêu tả màu xanh giao hòa trên cành lá C. Câu thơ miêu tả cành lá đan cài vào nhau D. Câu thơ miêu tả hình ảnh thiên nhiên lụi tàn |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định nội dung câu thơ
Lời giải chi tiết:
Nhận định không đúng khi nói về câu thơ: Sắc biếc giao nhau cành lan cành: Câu thơ miêu tả hình ảnh thiên nhiên lụi tàn.
→ Đáp án D
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên trong bài thơ. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
HS nêu được vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên trong bài thơ.
Gợi ý:
- Bức tranh thiên nhiên trong trẻo, tươi sáng (trời như tráng gương, chim ca, tiếng rộn, nước trong, hồ ngợp thủy tinh xanh…)
- Bức tranh tràn đầy sức sống (sắc biếc, cành lan cành, chim bay cành trĩu…)
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Em có đồng tình với suy nghĩ của nhân vật trữ tình trong câu thơ “Em ạ, yêu nhau chết cũng đành!” không? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS có thể trả lời đồng tình/ không đồng tình hoặc vừa đồng tình vừa không đồng tình nhưng phải có lí giải thuyết phục, hợp lí.
Gợi ý:
- Đồng tình: Câu thơ thể hiện một tình yêu tha thiết, mãnh liệt, sẵn sàng đánh đổi tất cả để dành lấy tình yêu của đời mình, dù có thể hy sinh cả bản thân.
- Không đồng tình: Vì câu thơ thể hiện tình yêu mù quáng, ích kỉ. “Yêu nhau chết cũng đành” coi trọng cảm xúc cá nhân không đặt mình vào cảm xúc của người khác, đặc biệt là người thân.Có rất nhiều cách để thể hiện tình yêu mãnh liệt, không nhất thiết là phải chọn cái chết, làm những điều dại dột.
Câu 10: (1.0 diểm)
|
So sánh tâm trạng của nhân vật trữ tình trong hai đoạn thơ:
|
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS so sánh tâm trạng của nhân vật trữ tình qua hai đoạn thơ.
Gợi ý:
- Giống nhau: Cả hai đoạn thơ đều viết về đề tài mùa xuân.Qua đó, bộc lộ cảm xúc tinh tế của nhân vật trữ tình.
- Khác nhau:
Đoạn 1: Tâm trạng say mê, tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống tha thiết.
Đoạn 2: Tâm trạng buồn bã, hoài nghi khi xuân về.
II. VIẾT (4 điểm)
|
“Cuộc sống không phải để sợ, mà là để hiểu. Đây chính là lúc chúng ta cần phải tìm hiểu nhiều hơn về cuộc sống để làm vơi bớt mọi nỗi sợ hãi.” (Marie Curie) Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận để trình bày suy nghĩ của bản thân về ý kiến trên. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn nghị luận để trình bày suy nghĩ của bản thân về ý kiến: “Cuộc sống không phải để sợ, mà là để hiểu. Đây chính là lúc chúng ta cần phải tìm hiểu nhiều hơn về cuộc sống để làm vơi bớt mọi nỗi sợ hãi.” (Marie Curie) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. a. Giải thích vấn đề nghị luận: - “Cuộc sống không phải để sợ mà là để hiểu”: cuộc sống của chúng ta luôn chứa đựng những điều bí mật, những bất ngờ, bất ổn khiến con người nhiều khi không thể lí giải được, không đối phó và cũng không chống đỡ được. Những lí do đó dẫn đến thái độ sợ hãi của rất nhiều người. - Nhưng “cuộc sống .. là để hiểu”: Chúng ta cần phải có những hiểu biết, những cách lí giải về sự bí ẩn, phức tạp của cuộc sống. → ý nghĩa cả câu nói: Cuộc sống vốn vô cùng phong phú và phức tạp; nó có thể khiến cho con người sợ hãi và lo lắng. Vì vậy mà mỗi con người chúng ta cần phải “tìm hiểu nhiều hơn về cuộc sống” để có khả năng“chung sống”, chủ động trước những tình huống, biến cố xảy ra và làm chủ cuộc sống của mình. b. Giải quyết vấn đề nghị luận Ý kiến của nhà bác học Marie Cuire đúng đắn, sâu sắc, bởi vì: - Thực tế cuộc sống luôn luôn có những bí ẩn, bất ngờ, biến động phức tạp, nhất là trong giai đoạn hiện nay (thiên tai, biến động kinh tế, tranh chấp, xung đột vũ trang, những nguy cơ mất an toàn về an ninh...) khiến mọi người luôn sống trong tâm lí lo sợ. - Để đối diện với thực tế đó, cách tốt nhất theo Marie Cuire là phải hiểu và hiểu nhiều hơn với cuộc sống. Đó là giải pháp đúng đắn vì chỉ khi hiểu, ta mới có tâm lí bình tĩnh, chủ động để có thể lí giải, xử lí, giải quyết hay thuận theo nó, có cách chống lại nó ... một cách có hiệu quả được. - Mục đích của cuộc sống không chỉ dừng lại ở việc làm vơi bớt nỗi sợ hãi mà còn làm chủ và cải thiện cho cuộc sống tốt đẹp hơn. - Mục tiêu giáo dục của tổ chức Unesco cũng là “học để biết, học để làm, học để chung sống và học để khẳng định mình”. Vì vậy, để hiểu nhiều hơn về cuộc sống, cần phải không ngừng học hỏi, tìm hiểu cuộc sống ở mọi phương diện, bằng một thái độ sống bình tĩnh, tích cực. (Trong quá trình bình luận, học sinh phải lấy dẫn chứng để chứng minh) c. Bàn luận: - Nếu không nỗ lực tìm hiểu, khám phá quy luật của cuộc sống thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ làm chủ được cuộc đời của mình, luôn lo sợ và ở trong thế bị động trước những biến đổi khôn lường của nó. Như vậy nhìn ở mặt tích cực thì những bí ẩn, những bất trắc của cuộc sống luôn khiến con người sợ hãi nhưng chính nó lại là phép thử để con người vươn lên và vượt qua chính mình, thấu hiểu lẽ đời và quy luật của cuộc sống. - Tuy nhiên để vượt qua nỗi sợ hãi để làm chủ hoàn cảnh, làm chủ cuộc sống của mình không phải là điều dễ dàng bởi năng lực của con người không phải là vô hạn mà có những giới hạn nhất định hoặc còn tiềm ẩn; con người cần dấn thân, trải nghiệm qua những nghịch cảnh, những tình huống khác nhau thì mới khám phá, bộc lộ, bản thân, hiểu mình và hiểu rõ những gì mình đang muốn vươn tới; càng muốn đạt được những cái quý giá con người càng phải nỗ lực gấp bội. => Như vậy, để làm chủ cuộc sống, để không sợ mà thấu hiểu nó thì con người phải chấp nhận những bất trắc, những biến động khôn lường của nó. Qua đó, con người mới có thể hiểu rõ mình, hiểu rõ sức chịu đựng cũng như được rèn luyện, hoàn thiện thêm bản thân. d. Bài học nhận thức: - Câu nói khuyến khích, nhắc nhở con người cần có thái độ dấn thân nhập cuộc, rèn luyện cho mình bản lĩnh dám đối mặt với khó khăn thử thách, đặc biệt là khi còn trẻ. - Câu nói khuyên ta phải biết chủ động, luôn luôn khám phá, tìm hiểu cuộc sống để tự xây dựng cho mình một cuộc sống tốt đẹp. - Nỗi sợ hãi cũng có thể được vơi đi nhờ việc xây dựng những mối quan hệ, giúp đỡ mọi người để cùng có cuộc sống tốt đẹp. - Bản thân cần có những định hướng rõ ràng và sự chuẩn bị tốt về mặt kiến thức và tâm lí cho mọi tình huống trong cuộc sống. Trong cuộc sống con người cần hình dung, hiểu rõ mục tiêu cũng như cái mình muốn trước khi định làm việc, có như vậy mới mang tâm thế chủ động, sẵn sàng hoặc ít nhiều có sự chuẩn bị tốt hơn. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 5
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 11; Năm học 2022 - 2023
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
Lược dẫn: Trương Ba là một người làm vườn hiền lành, nho nhã, có tài đánh cờ, vì sự bất cẩn của Nam Tào mà phải chết. Đế Thích, một vị tiên cờ vốn thích chơi cờ với Trương Ba, đã cứu cho Trương Ba sống lại bằng cách nhập hồn Trương Ba vào xác anh hàng thịt mới qua đời. Đoạn trích dưới đây là màn đối thoại giữa Trương Ba với vợ, khi Trương Ba đã sống lại trong thân xác của anh hàng thịt.
Hồn Trương Ba: Như vậy thì suýt nữa là tôi chết hẳn bà nhỉ?
Vợ Trương Ba: May mà có ông Đế Thích…
Hồn Trương Ba: Kinh thật! Chết hẳn không được sống nữa! (Ngẫm nghĩ). Ai bảo không sợ chết là nói khoác, chứ tôi, tôi sợ lắm. Cứ nghĩ đáng nhẽ mình… là lại sợ. May quá, mình lại được sống, lại được đi lại, làm lụng, trông thấy mặt trời, được ăn những trái cây trong vườn, ngửi mùi hoa ngâu, hoa lý trước thềm, uống nước chè tươi bà nấu... Lại được bên bà, nhìn thấy bà… Sống, thật là lý thú!
Vợ Trương Ba (Rụt rè): Nhưng…nhưng… ông đã…
Hồn Trương Ba: Đã khác hẳn trước, phải không? (Rầu rĩ). Bà đã quen hình vóc này của tôi chưa?
Vợ Trương Ba: Đã gần một tháng, cũng… cũng quen dần ông ạ!
Hồn Trương Ba: Vậy là sao… Tôi vẫn chưa quen được! Cái thân xác có phải bộ quần áo đâu mà dễ quen, dễ đổi. Có khi người ngoài nhìn vào còn dễ quen chứ chính bản thân mình thì… Đã gần một tháng, tôi là tôi mà cứ như không phải là tôi… Trước kia tôi đâu có biết anh hàng thịt này là ai... (Ngắm nghía lại tay chân mình). Cái thân xác cũ của tôi, tôi mang đã năm mươi năm, chứ cái thân xác cồng kềnh này... (Lắc đầu).
Vợ Trương Ba: Quen dần… nhưng mà… Lắm lúc không hiểu sao tôi vẫn nhớ tới hình vóc ông hôm qua, lại thương cho cái người nằm dưới đất ấy…
Hồn Trương Ba: Người nào? Dưới đất chỉ là cái xác… Thế mà bà bảo: Chỉ có cái hồn mới là đáng kể! Thân xác là kẻ khác nhưng hồn vẫn là mình cơ mà!
Vợ Trương Ba: Tôi hỏi thật, từ hôm mang thân anh hàng thịt, mình thấy trong người thế nào, có như xưa không?
Hồn Trương Ba: Tôi khỏi hẳn cái chứng đau lưng với bệnh hen suyễn. Người thấy khoẻ mạnh lắm. Anh hàng thịt này là người lực lưỡng to béo nhất chợ mà.
Vợ Trương Ba: Giờ một bữa ông ăn tám, chín bát cơm. Trước ông ăn yếu lắm. Mà giờ ông lại hay đòi uống rượu.
Hồn Trương Ba (Ngại ngùng): Chẳng hiểu tại sao. Chắc vì anh hàng thịt nghiện rượu. Xưa tôi ghét nhất cái thứ đó! Bây giờ tôi vẫn ghét, nhưng cái thân xác tôi mang đã quen với thói cũ của nó…
Vợ Trương Ba (Ngậm ngùi): Bây giờ ông trẻ hơn xưa đến hơn hai mươi tuổi, anh hàng thịt mới ngoài ba mươi mà… Ông sức vóc như thế, mắt ông còn tinh, tóc ông đen nhánh còn tôi đã già rồi, tôi đã là bà lão rồi…
Hồn Trương Ba: Kìa bà nó… Thì tôi có muốn thế đâu!
Vợ Trương Ba: Chiều qua ông lại sang nhà hàng thịt à?
Hồn Trương Ba: Bà vợ ông ta cứ sang đây! Bà ấy đã hiểu ra rằng tôi không phải là ông hàng thịt nhưng bà ấy vẫn khóc lóc, nài nỉ kêu rằng giờ bà ấy bơ vơ không nơi nương tựa, quán hàng thịt thà chẳng ai giúp cho! Bà ấy kể lể thảm quá, nghĩ cũng tội! Thôi chẳng gì mình cũng mượn thân xác chồng người ta, cũng phải sang đỡ đần bà ấy ít việc nặng. Tôi lóng nghóng có biết mổ lợn đâu, nhưng cũng phải đỡ đần bà ấy một tay.
Vợ Trương Ba: Tính ông hay thương người, mà bà ấy cứ được đằng chân lân đằng đầu, mới đầu chỉ nói sang đây nhìn ông cho đỡ nhớ chồng, rồi lại lằng nhằng nhờ việc nọ kia! Mà nghe đâu người ta nói mụ ta cũng không phải người đứng đắn đâu!
Hồn Trương Ba: Ô kìa! Thì tôi có…
Vợ Trương Ba: Chồng mới chết, đã cứ sang rủ rê ông về nhà, chẳng phải không đứng đắn là gì? Phải mụ ta được cái có nhan sắc, người cứ phây phây ra, hai con mắt lúng la lúng liếng…
Hồn Trương Ba: Người ta thế nào liên quan gì đến tôi, bà rõ lẩn thẩn!
Vợ Trương Ba: Vâng, tôi lẩn thẩn, tôi già rồi mà…
Hồn Trương Ba: Mình thật là… (Buồn bực). Xưa nay có bao giờ mình nói năng như vậy với tôi đâu!
(Trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Lưu Quang Vũ, in trong Lưu Quang Vũ – Tuyển tập kịch, Nxb Sân khấu, Hà Nội 1994)
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản trên.
A. Bi kịch
B. Hài kịch
C. Chính kịch
D. Xung đột kịch
Câu 2. Những nhân vật nào xuất hiện trong đoạn trích ?
A. Hồn Trương Ba, Vợ Trương Ba
B. Hồn Trương Ba, Vợ Trương Ba, Anh hàng thịt
C. Hồn Trương Ba, Vợ Trương Ba, Đế Thích
D. Hồn Trương Ba, Vợ Trương Ba, Đế Thích, Nam Tào.
Câu 3. Đâu là lời chỉ dẫn sân khấu được sử dụng trong đoạn trích?
A. Ngẫm nghĩ, rụt rè, rầu rĩ, lẩn thẩn, lắc đầu, ngại ngùng, ngậm ngùi, buồn rầu.
B. Ngắm nghía lại tay chân mình, lắc đầu, ngại ngùng, , rụt rè, rầu rĩ.
C. Rụt rè, rầu rĩ, ngắm nghía lại tay chân mình, lắc đầu, ngại ngùng, ngậm ngùi, buồn rầu, ô kìa, vâng, tôi lẩn thẩn, tôi già rồi mà…
D. Ngẫm nghĩ, rụt rè, rầu rĩ, ngắm nghía lại tay chân mình, lắc đầu, ngại ngùng, ngậm ngùi, buồn rầu.
Câu 4. Câu thoại nào không thể hiện rõ đặc điểm của ngôn ngữ nói?
A. Như vậy thì suýt nữa là tôi chết hẳn bà nhỉ?
B. Thân xác là kẻ khác nhưng hồn vẫn là mình cơ mà!
C. Đã gần một tháng, cũng… cũng quen dần ông ạ!
D. Ông sức vóc như thế, mắt ông còn tinh, tóc ông đen nhánh còn tôi đã già rồi, tôi đã là bà lão rồi.
Câu 5. Trương Ba đã có những sự thay đổi gì khi sống trong thân xác của anh hàng thịt?
A. Thay đổi về hình vóc, sức khoẻ, nhân cách.
B. Thay đổi về tính cách, thói quen.
C. Thay đổi về tính cách, hình vóc, tâm tính, thói quen.
D. Thay đổi về hình vóc, sức khoẻ, tâm tính, thói quen.
Câu 6. Đâu không phải là lí do khiến vợ Trương Ba không hoàn toàn vui khi Trương Ba sống lại trong thân xác anh hàng thịt?
A. Trương Ba đã có những đổi khác so với trước kia
B. Trương Ba trong thân xác anh hàng thịt trẻ hơn, còn vợ Trương Ba thì đã già
C. Lo mình không thể tránh được cám dỗ trước thân xác anh hàng thịt.
D. Lo sợ vợ anh hàng thịt quyến rũ Trương Ba.
Câu 7. Hai hình tượng hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt trong đoạn trích được dùng để biểu tượng cho điều gì?
A. Hồn Trương Ba biểu tượng cho những gì thuộc về đời sống tinh thần của con người. Xác anh hàng thịt biểu tượng cho những gì thuộc về nhu cầu bản năng của con người.
B. Hồn Trương Ba là hình ảnh biểu tượng cho cái đẹp, cái thiện. Xác anh hàng thịt là hình ảnh biểu tượng cho những gì dơ bẩn, xấu xa.
C. Hồn Trương Ba là hình ảnh biểu tượng cho ý chí, sự kiên trì. Xác anh hàng thịt là hình ảnh biểu tượng cho sự thô tục, bỉ ổi.
D. Hồn Trương Ba là hình ảnh biểu tượng cho tâm hồn trong sạch, thanh cao, kiên định. Xác anh hàng thịt là hình ảnh biểu tượng cho sự thay đổi để thích nghi với môi trường sống.
Câu 8. Anh/chị có nhận xét gì về hoàn cảnh sống của Trương Ba trong đoạn trích?
Câu 9. Anh/chị có đồng tình với việc tác giả để hồn Trương Ba sống lại nhờ trong xác anh hàng thịt không? Vì sao?
Câu 10. Từ nội dung đoạn trích, anh/chị có suy nghĩ gì về sức mạnh của tiếng nói bản năng? (Viết khoảng 5 – 7 dòng)
II. VIẾT (5,0 điểm)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề: Con người cần được sống là chính mình.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU (6 điểm)
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
A |
A |
D |
D |
D |
|
|
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Văn bản trên thuộc thể loại kịch nào? A. Bi kịch B. Hài kịch B. Chính kịch D. Xung đột kịch |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định thể loại.
Lời giải chi tiết:
Văn bản trên nói về sự đau khổ, dằn vặt của Hồn Trương Ba khi phải sống nhờ xác anh hàng thịt → Thể loại: Bi kịch
→ Đáp án A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Những nhân vật nào xuất hiện trong đoạn trích ? A. Hồn Trương Ba, Vợ Trương Ba B. Hồn Trương Ba, Vợ Trương Ba, Anh hàng thịt C. Hồn Trương Ba, Vợ Trương Ba, Đế Thích D. Hồn Trương Ba, Vợ Trương Ba, Đế Thích, Nam Tào. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định các nhân vật có trong đoạn trích.
Lời giải chi tiết:
Những nhân vật xuất hiện trong đoạn trích: Hồn Trương Ba, Vợ Trương Ba
→ Đáp án A
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Đâu là lời chỉ dẫn sân khấu được sử dụng trong đoạn trích? A. Ngẫm nghĩ, rụt rè, rầu rĩ, lẩn thẩn, lắc đầu, ngại ngùng, ngậm ngùi, buồn rầu. B. Ngắm nghía lại tay chân mình, lắc đầu, ngại ngùng, , rụt rè, rầu rĩ. C. Rụt rè, rầu rĩ, ngắm nghía lại tay chân mình, lắc đầu, ngại ngùng, ngậm ngùi, buồn rầu, ô kìa, vâng, tôi lẩn thẩn, tôi già rồi mà… D. Ngẫm nghĩ, rụt rè, rầu rĩ, ngắm nghía lại tay chân mình, lắc đầu, ngại ngùng, ngậm ngùi, buồn rầu. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định lời chỉ dẫn sân khấu được sử dụng trong đoạn trích.
Lời giải chi tiết:
Lời chỉ dẫn sân khấu được sử dụng trong đoạn trích: Ngẫm nghĩ, rụt rè, rầu rĩ, ngắm nghía lại tay chân mình, lắc đầu, ngại ngùng, ngậm ngùi, buồn rầu.
→ Đáp án D
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu thoại nào không thể hiện rõ đặc điểm của ngôn ngữ nói? A. Như vậy thì suýt nữa là tôi chết hẳn bà nhỉ? B. Thân xác là kẻ khác nhưng hồn vẫn là mình cơ mà! C. Đã gần một tháng, cũng… cũng quen dần ông ạ! D. Ông sức vóc như thế, mắt ông còn tinh, tóc ông đen nhánh còn tôi đã già rồi, tôi đã là bà lão rồi. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Vận dụng kiến thức về đặc điểm của ngôn ngữ nói.
Lời giải chi tiết:
Câu thoại không thể hiện rõ đặc điểm của ngôn ngữ nói: Ông sức vóc như thế, mắt ông còn tinh, tóc ông đen nhánh còn tôi đã già rồi, tôi đã là bà lão rồi.
→ Đáp án D
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Trương Ba đã có những sự thay đổi gì khi sống trong thân xác của anh hàng thịt? A. Thay đổi về hình vóc, sức khoẻ, nhân cách. B. Thay đổi về tính cách, thói quen. C. Thay đổi về tính cách, hình vóc, tâm tính, thói quen. D.Thay đổi về hình vóc, sức khoẻ, tâm tính, thói quen. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định những thay đổi của Trương Ba.
Lời giải chi tiết:
Trương Ba đã có những sự thay đổi khi sống trong thân xác của anh hàng thịt: Thay đổi về hình vóc, sức khỏe (khỏe mạnh hơn), tâm tính thói quen (ăn khỏe hơn và thèm uống rượu).
→ Đáp án D
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Đâu không phải là lí do khiến vợ Trương Ba không hoàn toàn vui khi Trương Ba sống lại trong thân xác anh hàng thịt? A. Trương Ba đã có những đổi khác so với trước kia B. Trương Ba trong thân xác anh hàng thịt trẻ hơn, còn vợ Trương Ba thì đã già C. Lo mình không thể tránh được cám dỗ trước thân xác anh hàng thịt. D. Lo sợ vợ anh hàng thịt quyến rũ Trương Ba. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Lý do không phải khiến vợ Trương Ba không hoàn toàn vui khi Trương Ba sống lại trong thân xác anh hàng thịt là: Lo mình không thể tránh được cám dỗ trước thân xác anh hàng thịt.
→ Đáp án C
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Hai hình tượng hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt trong đoạn trích được dùng để biểu tượng cho điều gì? A. Hồn Trương Ba biểu tượng cho những gì thuộc về đời sống tinh thần của con người. Xác anh hàng thịt biểu tượng cho những gì thuộc về nhu cầu bản năng của con người. B. Hồn Trương Ba là hình ảnh biểu tượng cho cái đẹp, cái thiện. Xác anh hàng thịt là hình ảnh biểu tượng cho những gì dơ bẩn, xấu xa. C. Hồn Trương Ba là hình ảnh biểu tượng cho ý chí, sự kiên trì. Xác anh hàng thịt là hình ảnh biểu tượng cho sự thô tục, bỉ ổi. D. Hồn Trương Ba là hình ảnh biểu tượng cho tâm hồn trong sạch, thanh cao, kiên định. Xác anh hàng thịt là hình ảnh biểu tượng cho sự thay đổi để thích nghi với môi trường sống. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Hai hình tượng hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt trong đoạn trích được dùng để biểu tượng cho: Hồn Trương Ba biểu tượng cho những gì thuộc về đời sống tinh thần của con người. Xác anh hàng thịt biểu tượng cho những gì thuộc về nhu cầu bản năng của con người.
→ Đáp án A
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Anh/chị có nhận xét gì về hoàn cảnh sống của Trương Ba trong đoạn trích? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
HS nhận xét được hoàn cảnh sống của Trương Ba trong đoạn trích.
- Gợi ý:
- Hoàn cảnh sống của hồn Trương Ba trong đoạn trích: sống nhờ xác anh hàng thịt và có nhiều thay đổ.
- Đây là hoàn cảnh sống: đầy éo le, trớ trêu nó báo hiệu cho bi kịch của Trương Ba khi phải sống nhờ trong xác hàng thịt.
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Anh/chị có đồng tình với việc tác giả để hồn Trương Ba sống lại nhờ trong xác anh hàng thịt không? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS có thể trả lời đồng tình/ không đồng tình hoặc vừa đồng tình vừa không đồng tình nhưng phải có lí giải thuyết phục, hợp lí.
Gợi ý:
- Không đồng tình vì: Khi sống trong xác hàng thịt Trương Ba sẽ bị thay đổi từ hình thức, thói quen cho đến tính cách. Vì thế Trương Ba sẽ không còn được là chính mình. Trong cuộc sống con người cần được sống là chính mình, mọi sự sống nhờ, sống gửi sẽ khiến cuộc sống gặp nhiều rắc rối, vô nghĩa thậm chí có thể dẫn đến tình trạng bi kịch.
Câu 10: (1.0 diểm)
|
Từ nội dung đoạn trích, anh/chị có suy nghĩ gì về sức mạnh của tiếng nói bản năng? (Viết khoảng 5 – 7 dòng) |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS bày tỏ suy nghĩ về về sức mạnh của tiếng nói bản năng.
- Thí sinh lí giải hợp lí, thuyết phục.
- Yêu cầu về hình thức: viết thành đoạn văn hoàn chỉnh (không xuống dòng, đảm bảo đủ số câu).
Gợi ý:
- Tiếng nói bản năng là những nhu cầu tự nhiên của con người. Nó rất mạnh mẽ, rất khó điều khiển.
- Một số nhu cầu bản năng là cần thiết để duy trì sự tồn tại, tuy nhiên, một số nhu cầu khác, nếu mất kiểm soát sẽ khiến cho con người bị tha hóa, rơi xuống hàng con vật.
II. VIẾT (4 điểm)
|
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề: Con người cần được sống là chính mình. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề: Con người cần được sống là chính mình. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. a. Giải thích vấn đề nghị luận: - Sống là chính mình là lối sống mà ở đó con người đạt được sự hài hòa giữa lời nói, hành động bên ngoài với suy nghĩ và tính cách bên trong của bản thân. b. Bàn luận lợi ích của việc được sống là chính mình: - Giúp con người thể hiện được sự thống nhất giữa suy nghĩ, tính cách bên trong và hành động bên ngoài, không phải đeo mặt nạ, không phải diễn, từ đó mà có đời sống thoải mái, hạnh phúc. - Sống là chính mình giúp con người toàn tâm toàn ý để làm việc mình thích, theo đuổi cái mà mình đam mê, hành động vì những điều mà lương tri mình kêu gọi. - Sống là chính mình sẽ tạo nên bản sắc riêng cho mỗi con người, tạo được ấn tượng trong lòng người khác, từ đó mà được ngưởi khác tôn trọng. - Khi sống là chính mình, tức là ta sống trung thực với bản thân, những cái hay cái dở sẽ được bộc lộ rõ ràng, từ đó mà ta có thể nhận ra hoặc được người khác đánh giá để mà phát huy cái hay, khắc phục cái dở. c.Tác hại của việc không được sống là chính mình: - Con người sẽ rơi vào sự dằn vặt, dằng xé do cái bên trong và cái bên ngoài không tìm được sự thống nhất, bên trong một đằng bên ngoài lại phải sống một nẻo - Khi không được sống là chính mình, tức là con người không dám thể hiện bản chất thật của mình, từ đó tạo nên lối sống giả dối, nhu nhược - Khi không được sống là chính mình trong một thời gian dài, con người có khả năng đánh mất con ngưởi thực của mình, trở nên ba phải, a dua, đánh mất bản sắc - Người không được sống là chính mình, khi bị phát hiện, sẽ khiến người khác coi thường, xa lánh. d. Bài học nhận thức: - Nhận thực được rằng chỉ khi sống đúng là chính mình, con người mới có được sự thanh thản và hạnh phúc. - Xác định những giá trị cốt lõi của cuộc sống mà mình cần theo đuổi, từ đó hình thành nên một nhân cách độc đáo, một bản sắc riêng biệt và sống một cách trung thực với nhân cách và bản sắc đó. - Dũng cảm sống đúng với bản chất của mình trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống, mọi mối quan hệ. - Mở rộng: Sống là chính mình không có nghĩa là bộc lộ mọi thói hư tật xấu, hiện thực hóa mọi suy nghĩ tiêu cực ra bên ngoài. Con người phải luôn biết hoàn thiện nhân cách, vươn tới những điều cao đẹp, và sống là chính mình chính là khi ta sống đúng với bản tính cao đẹp đó. Lưu ý: Học sinh có dẫn chứng làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 6
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
- Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc,
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn,
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc,
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng...
Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả
Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn!
Trái cây rơi vào áo người ngắm quả,
Đường nhân loại đi qua bóng lá xanh rờn,
Mặt trời đến mỗi ngày như khách lạ
Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn...
…
Không ai có thể ngủ yên trong đời chật
Buổi thuỷ triều vẫy gọi những vầng trăng,
Mỗi gié lúa (1) đều muốn thêm nhiều hạt,
Gỗ trăm cây đều muốn hoá nên trầm (2)
Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt,
Mỗi con sông đều muốn hoá Bạch Đằng...
(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?, Chế Lan Viên, NXB Văn học, 2002, tr.354, 355)
Chú thích:
- Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn, nhà nghiên cứu lý luận, nhà phê bình văn học nghệ thuật. Bài thơ “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?” được sáng tác khi cả nước đang trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước.
(1) gié lúa: bông lúa.
(2) trầm: gỗ lâu năm, có mùi hương thoang thoảng dễ chịu.
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên. (0,5đ)
Câu 2. Nêu những từ ngữ cảm thán thể hiện cảm xúc của tác giả khi viết về Tổ quốc trong hai dòng thơ đầu. (0,5đ)
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê đối với việc thể hiện nội dung chính trong đoạn thơ sau: (1đ)
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc,
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn,
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc,
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng...
Câu 4. Nhận xét suy nghĩ, tình cảm của tác giả được thể hiện qua những hệ thống hình ảnh kết hợp động từ muốn, nằm mơ trong đoạn thơ sau: (1đ)
Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt
Gỗ trăm cây đều muốn hoá nên trầm
Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt
Mỗi con sông đều muốn hoá Bạch Đằng...
Câu 5. Theo anh/chị, tuổi trẻ cần làm gì để thể hiện lòng biết ơn đối với thế hệ cha anh (trình bày khoảng 5-7 dòng)? (1đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) cảm nhận về tình cảm của tác giả đối với đất nước được thể hiện trong khổ thơ đầu bài thơ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? Của tác giả Chế Lan Viên.
Câu 2. (4,0 điểm) Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) về vai trò của lí tưởng sống đối với tuổi trẻ.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên. |
Phương pháp giải:
Chú ý số dòng trong bài, số từ trong câu
Lời giải chi tiết:
Thể thơ tự do
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Nêu những từ ngữ cảm thán thể hiện cảm xúc của tác giả khi viết về Tổ quốc trong hai dòng thơ đầu. |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về từ ngữ cảm thán
Lời giải chi tiết:
Những từ ngữ cảm thán thể hiện cảm xúc của tác giả khi viết về Tổ quốc trong hai dòng thơ đầu: Hỡi, thế này chăng.
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê đối với việc thể hiện nội dung chính trong đoạn thơ sau: Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc, Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn, Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc, Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng... |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về phép tu từ liệt kê
Chỉ ra các từ ngữ biểu hiện của phép tu từ liệt kê trong đoạn thơ và nêu tác dụng
Lời giải chi tiết:
- Các từ ngữ biểu hiện của phép tu từ liệt kê trong đoạn thơ: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Huệ, Hưng Đạo; (hoặc: làm thơ, đánh giặc, viết Kiều).
- Tác dụng: Thể hiện niềm tự hào về những danh nhân, anh hùng của đất nước; niềm vui sướng, yêu mến thiết tha đối với lịch sử, truyền thống, Tổ quốc; tạo giọng điệu hào hùng cho đoạn thơ.
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Nhận xét suy nghĩ, tình cảm của tác giả được thể hiện qua những hệ thống hình ảnh kết hợp động từ muốn, nằm mơ trong đoạn thơ sau: Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt Gỗ trăm cây đều muốn hoá nên trầm Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt Mỗi con sông đều muốn hoá Bạch Đằng... |
Phương pháp giải
Phân tích tác dụng của điệp từ “muốn”, “mỗi”
Cho biết cụm từ “nằm mơ” gợi nhớ đến nhân vật lịch sử nào
Từ đó suy ra suy nghĩ, tình cảm của tác giả dành cho đất nước
Lời giải chi tiết:
Suy nghĩ, tình cảm của tác giả được thể hiện qua những hệ thống hình ảnh kết hợp động từ muốn, nằm mơ trong đoạn thơ: khát khao được cống hiến cho cuộc đời, cho đất nước; bộc lộ tình yêu đối với Tổ quốc.
Câu 5: (1đ)
|
Câu 5. Theo anh/chị, tuổi trẻ cần làm gì để thể hiện lòng biết ơn đối với thế hệ cha anh (trình bày khoảng 5-7 dòng)? |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức và nội dung đoạn văn
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
HS trình bày suy nghĩ của bản thân về những việc tuổi trẻ cần làm để thể hiện lòng biết ơn đối với thế hệ cha anh. Có thể theo hướng: tham gia các hoạt động tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, tri ân các thương bệnh binh, người có công với đất nước; học tập và lao động chăm chỉ góp phần dựng xây đất nước giàu đẹp; rèn luyện sức khoẻ, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc;...
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. (2,0 điểm) Anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) cảm nhận về tình cảm của tác giả đối với đất nước được thể hiện trong khổ thơ đầu bài thơ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? Của tác giả Chế Lan Viên. |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức, nội dung của đoạn văn
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn phân tích một bài thơ
Lời giải chi tiết:
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
Bảo đảm đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 150 chữ) của đoạn văn. Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Phân tích, đánh giá về nội dung và nghệ thuật văn bản phần Đọc hiểu.
c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu
Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng trên cơ sở đảm bảo các nội dung sau:
* Nội dung:
+ Tự hào về lịch sử dân tộc, yêu quê hương đất nước.
+ Thể hiện niềm tự hào về những danh nhân, anh hùng của đất nước (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Huệ, Hưng Đạo); niềm vui sướng, yêu mến thiết tha đối với lịch sử, truyền thống, Tổ quốc (Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm/Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?).
+ Bài thơ là khúc ca đẹp về lí tưởng sống, lí tưởng cách mạng, về khao khát được cống hiến cho cuộc đời, cho đất nước.
* Nghệ thuật:
+ Thể thơ tự do.
+ Giọng thơ hào hùng, âm hưởng ngợi ca.
+ Sử dụng nhiều biện pháp tu từ.
d. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp.
đ. Sáng tạo
- Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề cần nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.
Hướng dẫn chấm:
- HS huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về vấn đề cần nghị luận; có cách nhìn riêng, mới mẻ về vấn đề nghị luận; có sáng tạo trong viết câu, dựng đoạn, làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh.
Câu 2.
|
Câu 2. (4,0 điểm) Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) về vai trò của lí tưởng sống đối với tuổi trẻ. |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức, nội dung của bài văn
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết bài văn về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ
Lời giải chi tiết:
a. Bảo đảm bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận
Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 400 chữ) của bài văn.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Vai trò của lí tưởng sống đối với tuổi trẻ.
c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận
- Giải thích: Lý tưởng sống hay lẽ sống là cái đích cuộc sống mà mỗi người khát khao muốn đạt được.
- Bàn luận:
+ Người sống có lí tưởng không bị dao động về lập trường, tư tưởng, không bỏ cuộc, lầm đường dù có khó khăn gian khổ, kiên định con đường mình đã chọn.
+ Lí tưởng giúp con người không ngừng hoàn thiện mình mỗi ngày, hoàn thiện nhân cách, nhận ra giá trị của chính mình, sống tích cực, lạc quan; có mục đích để phấn đấu vươn lên, nỗ lực hành động, vượt qua những giới hạn của bản thân và kiến tạo những giá trị tốt đẹp, lan tỏa lối sống cống hiến trong cộng đồng.
- Mở rộng vấn đề, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
Lưu ý: HS có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
d. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản
Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp.
đ. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Hướng dẫn chấm:
- HS huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về vấn đề cần nghị luận; có cách nhìn riêng, mới mẻ về vấn đề nghị luận; có sáng tạo trong viết câu, dựng đoạn, làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh.
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
Chuyện kể rằng: em, cô gái mở đường
Để cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương
Cho đoàn xe kịp giờ ra trận
Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa
Đánh lạc hướng thù. Hứng lấy luồng bom…
Đơn vị tôi hành quân qua con đường mòn
Gặp hố bom nhắc chuyện người con gái
Một nấm mồ, nắng ngời bao sắc đá,
Tình yêu thương bồi đắp cao lên…
Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em
Mưa đọng lại một khoảng trời nho nhỏ
Đất nước mình nhân hậu
Có nước trời xoa dịu vết thương đau.
Em nằm dưới đất sâu
Như khoảng trời đã nằm yên trong đất
Đêm đêm, tâm hồn em tỏa sáng
Những vì sao ngời chói, lung linh.
[…]
(Trích Khoảng trời, hố bom, Lâm Thị Mỹ Dạ, in trong Giải Nhất văn chương, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 1998)
Câu hỏi:
Câu 1: Bài thơ được sáng tác theo thể thơ nào? Những dấu hiệu nào giúp em nhận diện thể thơ của đoạn trích? (1đ)
Câu 2: Hình tượng “tôi” và “em” trong đoạn thơ là những ai? (0,5đ)
Câu 3: Hình ảnh “cô gái mở đường” được khắc hoạ như thế nào trong khổ thơ đầu tiên? (1đ)
Câu 4: Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ sau:
Em nằm dưới đất sâu
Như khoảng trời đã nằm yên trong đất
Đêm đêm, tâm hồn em toả sáng
Những vì sao ngời chói, lung linh. (0,5đ)
Câu 5: Hình ảnh “hố bom” và “khoảng trời” gợi cho em suy nghĩ gì về sự hi sinh của “cô gái mở đường” và tình yêu thương của đất nước, quê hương dành cho cô? (1đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2đ)
Hình tượng người nữ thanh niên xung phong trong đoạn trích gợi cho anh/ chị suy nghĩ gì về ý thức trách nhiệm của giới trẻ ngày nay đối với đất nước. Trình bày bằng đoạn văn khoảng 200 chữ.
Câu 2. (4,0 điểm)
Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận bàn về ý thức và trách nhiệm của học sinh ngày nay trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Bài thơ được sáng tác theo thể thơ nào? Những dấu hiệu nào giúp em nhận diện thể thơ của đoạn trích? (1đ) |
Phương pháp giải:
Chú ý số dòng thơ trong bài, số từ trong câu
Chú ý quy luật về vần, nhịp
Lời giải chi tiết:
- Bài thơ được sáng tác theo thể thơ tự do
- Dấu hiệu nhận biết: Số tiếng trong dòng thơ, số dòng trong khổ thơ, vần, nhịp điệu không theo quy luật
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2: Hình tượng “tôi” và “em” trong đoạn thơ là những ai? (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Chú ý các nhân vật được nhắc đến trong bài thơ
Lời giải chi tiết:
− “Tôi” là nhân vật trữ tình – trong bài thơ này là người lính, người chiến sĩ hành quân trên con đường mà “cô gái mở đường” đã chiến đấu và hi sinh.
– “Em” chính là hình tượng “cô gái mở đường” – những nữ thanh niên xung phong
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Hình ảnh “cô gái mở đường” được khắc hoạ như thế nào trong khổ thơ đầu tiên? (1đ) |
Phương pháp giải:
Liệt kê những hành động, chi tiết miêu tả hình tượng “cô gái mở đường”
Lời giải chi tiết:
– Bài thơ bắt đầu bằng lời kể, tái hiện câu chuyện về cô gái mở đường với giọng điệu trang trọng gợi không khí thiêng liêng: Chuyện kể rằng: em, cô gái mở đường.
– Họ là những cô gái dũng cảm, quyết liệt. Khi cần cứu con đường cho đoàn xe kịp giờ ra trận, cô đã có một lựa chọn thật phi thường: nhận về mình luồng bom - nhận về cái chết để dành sự sống cho con đường hành quân của những người lính, những đoàn xe đang ra trận để giải phóng quê hương, đất nước.
- Ý nghĩa của hình tượng: “Em” trong bài thơ được nhắc đến như là một cô gái – một con người cụ thể, nhưng “em” cũng là hình tượng đại diện cho rất nhiều cô gái, nhiều nữ thanh niên xung phong đã “mở đường” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó chính là những cô gái đã hi sinh tuổi thanh xuân, hi sinh cuộc sống của mình vì độc lập, tự do của đất nước.
Câu 4 (0,5 điểm)
|
Câu 4: Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ sau: Em nằm dưới đất sâu Như khoảng trời đã nằm yên trong đất Đêm đêm, tâm hồn em toả sáng Những vì sao ngời chói, lung linh. (0,5đ) |
Phương pháp giải
Chú ý các dấu hiệu nhận biết biện pháp tu từ: từ “như”, hình ảnh “vì sao ngời chói”
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ so sánh: Em nằm dưới đất sâu/ Như khoảng trời đã nằm yên trong đất. Điều đó góp phần khắc hoạ rõ hơn ý nghĩa thiêng liêng trong sự hi sinh của cô gái mở đường.
- Biện pháp tu từ ẩn dụ: Đêm đêm, tâm hồn em toả sáng/ Những vì sao ngời chói, lung linh. Hình ảnh “những vì sao ngời chói, lung linh” là hình ảnh ẩn dụ gợi lên vẻ đẹp tâm hồn của “em” – cô gái mở đường.
Câu 5: (1đ)
|
Câu 5: Hình ảnh “hố bom” và “khoảng trời” gợi cho em suy nghĩ gì về sự hi sinh của “cô gái mở đường” và tình yêu thương của đất nước, quê hương dành cho cô? (1đ) |
Phương pháp giải
Phân tích hình ảnh “hố bom” và “khoảng trời” gắn với hiện thực thời bấy giờ
Lời giải chi tiết
- “Hố bom” trước hết là hình ảnh thực gắn với sự khốc liệt của chiến trường: Bom đạn của kẻ thù dội xuống để lại những dấu ấn chết chóc trên mảnh đất quê hương.
- “Khoảng trời” cũng là hình ảnh thực: Khoảng trời trên những hố bom nơi chiến trường đã soi bóng xuống hố bom – nơi nước mưa đọng lại: Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em/ Mưa đọng lại một khoảng trời nho nhỏ.
- Hình ảnh “khoảng trời” và “hố bom” được kết hợp trong mạch cảm xúc của bài thơ đã tạo nên những liên tưởng độc đáo, bất ngờ, sâu sắc mang ý nghĩa ẩn dụ.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. (2đ) Hình tượng người nữ thanh niên xung phong trong đoạn trích gợi cho anh/ chị suy nghĩ gì về ý thức trách nhiệm của giới trẻ ngày nay đối với đất nước. Trình bày bằng đoạn văn khoảng 200 chữ. |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức và nội dung đoạn văn
Vận dụng kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về tuổi trẻ với đất nước
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn
- Giới thiệu vấn đề: Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trước đất nước dân tộc.
- Dẫn dắt vào nghị luận: Tầm quan trọng của việc giữ gìn độc lập và xây dựng nước nhà, cùng với ý thức học tập và cống hiến cho lợi ích của quốc gia.
2. Thân đoạn
a. Giải thích
- Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay: Giữ gìn độc lập và xây dựng nước nhà mạnh mẽ.
+ Ý thức học tập và rèn luyện bản thân.
+ Cống hiến và giúp ích cho quê hương.
b. Phân tích
- Nỗ lực học tập và phát triển bản thân.
- Tích cực tham gia hoạt động công ích và tình nguyện.
- Tinh thần tập thể và tư tưởng lợi ích chung.
* Ý nghĩa của trách nhiệm:
- Đóng góp vào sự đoàn kết quốc gia.
- Vượt qua cá nhân để tạo điều kiện tốt hơn cho cộng đồng.
- Xây dựng cuộc sống cá nhân và quốc gia tốt đẹp hơn.
c. Liên hệ bản thân
Ví dụ cá nhân: Học sinh cần học tập tốt, tuân thủ lời dạy của gia đình và giáo viên, thể hiện lòng yêu thương và giúp đỡ người khác.
d. Phản đề
Xã hội cần chỉ trích những người không có nhận thức đúng đắn về trách nhiệm đối với đất nước và chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân.
3. Kết đoạn
- Tóm tắt vấn đề nghị luận: Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trước đất nước dân tộc.
- Rút ra bài học cho bản thân: Ý thức trách nhiệm, tình yêu thương quê hương và sự phát triển cá nhân là cơ sở để xây dựng một tương lai tốt đẹp cho đất nước.
Câu 2.
|
Câu 2. (4,0 điểm) Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận bàn về ý thức và trách nhiệm của học sinh ngày nay trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức, nội dung của bài văn
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết bài nghị luận về một vấn đề trong đời sống
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài
- Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận: giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
2. Thân bài
a. Giải thích
- Tình yêu, giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt chính là sự tôn trọng ngôn ngữ mẹ đẻ, sử dụng tiếng việt một cách hợp lí, đúng đắn, không chêm xen quá nhiều ngôn ngữ khác khi giao tiếp, có ý thức giữ gìn và phát huy tiếng việt cũng như quảng bá đến bạn bè trên thế giới.
b. Phân tích
- Mỗi một quốc gia có một nền văn hóa, một ngôn ngữ khác nhau, là công dân của quốc gia, mỗi người có ý thức giữ gìn, phát huy cũng như truyền bá văn hóa, ngôn ngữ của mình.
- Chúng ta cần phải bảo vệ tiếng việt, giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt, không để người khác làm mai một, bão hòa ngôn ngữ riêng của mình với bất kì thứ ngôn ngữ nào khác.
- Tuy nhiên, giữ gìn tiếng mẹ đẻ không có nghĩa là bài trừ những ngôn ngữ khác mà cần sử dụng tiếng nước ngoài sao cho phù hợp, không được lạm dụng quá mức.
c. Chứng minh
- Học sinh lấy dẫn chứng những tác phẩm tiếng việt nổi tiếng hoặc những con người, những hành động cao đẹp bảo vệ, quảng bá tiếng việt ra thế giới,… để làm ví dụ minh họa cho bài làm văn của mình. (Ví dụ tác phẩm: Tiếng Việt,…)
d. Phản đề
- Trong cuộc sống vẫn còn có nhiều trường hợp lạm dụng tiếng nước ngoài vào trong giao tiếp, cũng có những trường hợp sử dụng tiếng việt với mục đích xấu làm mất đi sự trong sáng của tiếng việt,… những hành động này cần ngăn ngừa.
3. Kết bài
- Khái quát lại vấn đề cần nghị luận: giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; đồng thời rút ra bài học và liên hệ bản thân.
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 8
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
Có rất nhiều người trên thế giới này không chịu vượt ra khỏi vùng an toàn của mình chỉ vì họ sợ bị thất bại. Họ không muốn thử sức mình với các kỳ thi quốc gia vì họ không tin rằng họ sẽ chiến thắng. Họ sợ phải nhận những bức thư từ chối, nên họ không nộp đơn xin việc ở nước ngoài. Họ ngại tham gia khóa học để cải thiện một kỹ năng còn yếu vì lo sợ phải đối mặt với những sự chế giễu. Nhưng nhiều thách thức, rủi ro hoặc tình huống khó chịu chính là những cơ hội đã được ngụy trang.
“Có chắc không?” là câu hỏi khiến chúng ta cảm thấy bất ổn khi có ý muốn thoát ra khỏi vùng an toàn. “Chắc hẳn mà” là câu trả lời mà chúng ta luôn muốn nghe. Chúng ta muốn chắc chắn sẽ nhận được học bổng khi đăng ký, chúng ta muốn chắc chắn sẽ không bị hổ vồ khi đi thám hiểm Safari, chúng ta muốn chắc chắn rằng người mà chúng ta chọn là vợ hay chồng sẽ ở với chúng ta mãi mãi. Nhưng có gì trên thế giới này mà không có độ rủi ro nhất định? Sự rủi ro có thể đến với từng người trong chúng ta bất kỳ lúc nào. Rủi ro có thể đến với bạn ngay trong khi bạn chấp nhận làm bất cứ việc gì. Để chắc chắn rằng rủi ro không đến với mình, việc duy nhất bạn có thể làm là không làm gì cả, nằm trên giường và… mơ về những thứ mà bạn không dám làm trong thế giới thật. Nhưng bạn có dám chắc là trong cơn mơ, bạn sẽ không bị giật mình và ngã xuống đất? Nếu rủi ro có thể ập đến với bạn cả khi bạn đang mơ, vậy tại sao bạn lại không dám ra ngoài và dám biến những ước mơ của bạn trở thành hiện thực?
(Trích Hộ chiếu xanh đi quanh thế giới; Hồ Thu Hương, Nguyễn Phan Linh, Phạm Anh Đức, NXB Thế giới; 2016; trang 147 – 148)
Câu hỏi:
Câu 1 (1.0 điểm): Văn bản trên thuộc thể loại nào? Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên?
Câu 2 (0.5 điểm): Theo tác giả, vì sao có rất nhiều người trên thế giới này không chịu vượt ra khỏi vùng an toàn của mình?
Câu 3 (0.5 điểm): Anh/chị có đồng tình với quan niệm: nhiều thách thức, rủi ro hoặc tình huống khó chịu chính là những cơ hội đã được ngụy trang? Vì sao?
Câu 4 (1.0 điểm): Qua đoạn trích, anh/chị hiểu thế nào là vùng an toàn? Với những người đang ở trong vùng an toàn, theo anh/chị cách nào có thể giúp họ bước ra khỏi vùng an toàn đó? Nêu ít nhất 02 cách
PHẦN VIẾT (7,0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm): Viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) thuyết phục các bạn trẻ rằng: có những lúc cần phải thoát ra khỏi vùng an toàn do mình tự tạo ra.
Câu 2 (5.0 điểm): Viết bài văn nghị luận trình bày quan điểm suy nghĩ của em về biến đổi khí hậu.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1 (1.0 điểm): Văn bản trên thuộc thể loại nào? Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, rút ra những đặc điểm của thể loại trong văn bản
Dựa vào kết luận về thể loại để trả lời về phương thức biểu đạt
Lời giải chi tiết:
Văn bản thuộc thể loại văn bản nghị luận
Phương thức biểu đạt chính: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2 (0.5 điểm): Theo tác giả, vì sao có rất nhiều người trên thế giới này không chịu vượt ra khỏi vùng an toàn của mình? |
Phương pháp giải:
Đọc văn bản và tìm kiếm thông tin
Lời giải chi tiết:
Theo tác giả, có rất nhiều người trên thế giới này không chịu vượt ra khỏi vùng an toàn của mình vì: họ sợ thất bại
Câu 3 (0,5 điểm)
|
Câu 3 (0.5 điểm): Anh/chị có đồng tình với quan niệm: nhiều thách thức, rủi ro hoặc tình huống khó chịu chính là những cơ hội đã được ngụy trang? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đọc văn bản và tìm kiếm thông tin
Dựa vào trải nghiệm và kiến thức của bản thân để đưa ra quan điểm và lý giải hợp lý
Lời giải chi tiết:
- HS nêu quan điểm của bản thân. Có thể đồng tình hoặc không đồng tình, nêu lý giải hợp lý
- Gợi ý: Đồng tình với quan điểm.
- Vì:
+ Cuộc sống vốn không hề bằng phẳng mà luôn chứa đựng những khó khăn thách thức, cuộc đời mỗi người là hành trình vượt qua những thử thách đó.
+ Những rủi ro, thách thức chính là những khó khăn mà chúng ta phải trải qua để tích lũy tri thức, kinh nghiệm sẵn sàng khi cơ hội đến.
+ Không đương đầu với khó khăn thử thách, luôn cố thủ trong vùng an toàn chúng ta mãi không thể thấy cơ hội và nắm bắt được cơ hội để vươn đến thành công.
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4 (1.0 điểm): Qua đoạn trích, anh/chị hiểu thế nào là vùng an toàn? Với những người đang ở trong vùng an toàn, theo anh/chị cách nào có thể giúp họ bước ra khỏi vùng an toàn đó? Nêu ít nhất 02 cách |
Phương pháp giải
Tìm kiếm thông tin liên quan đến vùng an toàn trong văn bản
Dựa vào tri thức tiếp nhận được và kiến thức của bản thân, đưa ra 2 cách
Lời giải chi tiết:
- “Vùng an toàn” là: môi trường thân thuộc với mỗi con người, nơi chúng ta luôn cảm thấy tự do, thoải mái, tự tin nhất để thể hiện bản thân.
- Những cách thức giúp mọi người bước ra khỏi “vùng an toàn”:
+ Can đảm đối mặt với sự sợ hãi để tìm cách vượt qua và chiến thắng những nỗi lo lắng, sợ hãi đó.
+ Tự đặt cho mình những thử thách để cố gắng vượt qua.
+ Bắt tay vào làm những dự án nhỏ, để trải nghiệm và tích lũy tri thức cho bản thân.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1 (2.0 điểm): Viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) thuyết phục các bạn trẻ rằng: có những lúc cần phải thoát ra khỏi vùng an toàn do mình tự tạo ra. |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức và nội dung đoạn văn
Vận dụng kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
Lời giải chi tiết:
* Giải thích vấn đề.
- Vùng an toàn: môi trường thân thuộc với mỗi con người, nơi chúng ta luôn cảm thấy tự do, thoải mái, tự tin nhất để thể hiện bản thân.
* Bàn luận vấn đề:
- Tại sao phải bước ra khỏi vùng an toàn?
+ Thế giới liên tục biến đổi, khiến cho những điều ta đã biết trở nên lỗi thời, bởi vậy nếu không bước ra khỏi vùng an toàn để trải nghiệm, nâng cao hiểu biết của bản thân ta sẽ tụt lại phía sau.
+ Vùng an toàn khiến bạn nhàm chán, cũ kĩ bước chân ra khỏi nó là cách thức làm mới bản thân, phát hiện những khả năng ẩn kín và đem đến thành công.
- Cần làm gì để bước ra khỏi vùng an toàn?
+ Bước ra khỏi vùng an toàn bạn cần sự dũng cảm, để đối mặt với những khó khăn, thách thức ở phía trước, đối mặt với môi trường mới, đồng nghiệp mới. Bởi vậy dũng cảm trải nghiệm là điều kiện quan trọng nhất để bạn vượt ra khỏi vùng an toàn của mình.
+ Vượt qua nỗi sợ hãi thất bại, tự tin với chính mình, không bỏ cuộc trước những khó khăn, thử thách.
- Bạn sẽ được gì khi bước khỏi vùng an toàn:
+ Ra khỏi vùng an toàn sẽ đem lại cho bạn kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng, sáng tạo.
+ Mở rộng mối quan hệ xã hội, tăng cường kĩ năng giao tiếp.
+ Ra khỏi vùng an toàn đem đến cho bạn những trải nghiệm mới mẻ, khám phá, phát hiện ra những năng lực mới của bản thân.
+ Cơ hội để bạn đạt đến thành công.
- Chứng minh: học sinh lấy dẫn chứng phù hợp, có phân tích ngắn gọn.
* Tổng kết vấn đề: thay đổi môi trường sống, bước ra khỏi vùng an toàn sẽ mang đến những trải nghiệm tuyệt vời, tạo cơ hội thành công cho mỗi con người.
Câu 2.
|
Câu 2 (5.0 điểm): Viết bài văn nghị luận trình bày quan điểm suy nghĩ của em về biến đổi khí hậu. |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức, nội dung của bài văn
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết bài nghị luận về một vấn đề trong đời sống
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài
Dẫn dắt, nêu sơ lược những hiểu biết của em về biến đổi khí hậu. Khái quát ý kiến, nhận định của em về vấn đề này ( nghiêm trọng, cần có biện pháp giải quyết hữu hiệu, ảnh hưởng rộng khắp,...)
2. Thân bài
- Trình bày cụ thể hơn nhận định, hiểu biết của em về hiện trạng biến đổi khí hậu trên thế giới hiện nay:
- Nêu khái niệm biến đổi khí hậu (theo cách em hiểu)
- Những biểu hiện cụ thể:
+ Thời tiết thay đổi thất thường: nhiệt độ tăng cao, mưa trái mùa, tuyết rơi sớm,...
+ Sự biến đổi của khí quyển: tầng ozon ngày càng mỏng, một số nơi mất lớp bảo vệ khiến các tia phóng xạ có hại lọt vào bầu khí quyển,...
+ Động thực vật biến đổi để thích nghi (động di chuyển sang môi trường sống mới; thực vật biến đổi bề ngoài như: hệ rễ, cấu tạo, chức năng bộ phận,...)
* Ảnh hưởng đến con người
- Nguyên nhân: (phần lớn do tác động của con người)
+ Khai thác khoáng sản quá mức( các loại quặng mỏ quý hiếm, các loại thường dùng trong công nghiệp,...) sinh ra lượng bụi và nước thải lớn, các nguyên tố phóng xạ.
+ Chặt phá rừng phòng hộ, săn giết động vật trái phép ( nêu một số ví dụ cụ thể nếu biết)
+ Lãng phí nguồn nước ( nước ngọt trong sinh hoạt, sản xuất,...dẫn chứng)
+ Không kiểm soát chặt chẽ rác thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp ( cho ví dụ cụ thể: các bãi rác tự phát, các nhà máy xả chất thải chưa qua xử lý,...) dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng(môi trường sinh hoạt, nguồn nước, đất,...)
+ Ý thức cá nhân và cộng đồng chưa cao (xem nhẹ hậu quả biến đổi khí hậu, xem việc gìn giữ môi trường sống là việc của riêng một cá nhân hay đoàn thể nào đó, vì lợi ích nhất thời nên cố ý bỏ qua,...)
+ Các nguyên nhân khác ( rủi ro trong công nghiệp hạt nhân, công nghiệp vũ trụ, quốc phòng,...)
- Hậu quả:
+ Mất cân bằng sinh thái
+ Thảm thực vật xói mòn, động vật diệt tuyệt nhiều loài : môi trường sống thay đổi đột ngột khiến nhiều loài không thích ứng được dẫn đến suy thoái, tuyệt diệt ( dẫn chứng cụ thể một vài loài mà em biết. ví dụ: chim cánh cụt ở Nam Cực, các loài bướm ở Tây Ban Nha, các loài san hô, cây Lobelia, chuột Bramble Cay…)
+ Ô nhiễm nguồn nước dẫn đến thiếu nước sinh hoạt, sản xuất.
+ Thiên tai thường xảy ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống con người(lũ quét, sạt lở, các cơn bão lớn,...)
+ Môi trường sống con người ngày càng thu hẹp và khắc nghiệt( hiện tượng băng tan ở 2 cực, sa mạc hóa do biến đổi khí hậu,...)
+ Bệnh tật phát sinh và lây lan nhanh chóng, sức khỏe con người ngày càng kém (môi trường ô nhiễm mang theo nhiều mầm bệnh)
+ Các hậu quả khác
- Biện pháp:
+ Cơ quan chức năng kiểm soát chặt chẽ, nghiêm cấm phá rừng, cấm săn giết động vật bừa bãi.
+ Khai thác hợp lý các nguồn khoáng sản
+ Mỗi cá nhân xây dựng ý thức bảo vệ môi trường (tham gia trồng cây, trồng rừng phòng hộ, bỏ rác đúng nơi quy định, xử lý chất thải hợp lý,...)
+ Các biện pháp khác
3. Kết bài
Khẳng định lại vấn đề đã khái quát ở phần mở bài ( cái nhìn, mức độ nghiêm trọng của biến đổi khí hậu đối với môi trường sống của cá nhân, công đồng, xã hội,...). Đưa ra ý kiến, phương hướng, lời khuyên.
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 9
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
TÚ UYÊN – GIÁNG KIỀU
(Trích)
Lần trăng ngơ ngẩn ra về,
Đèn thông khêu cạn, giấc hoè (1) chưa nên.
Nỗi nàng canh cánh nào quên,
Vẫn còn quanh quẩn người tiên khéo là!
Bướm kia vương lấy sầu hoa,
Đoạn tương tư ấy nghĩ mà buồn tênh!
Có khi gảy khúc đàn tranh,
Nước non ngao ngán ra tình hoài nhân.
Cầu hoàng tay lựa nên vần,
Tương Như lòng ấy, Văn Quân lòng nào!
Có khi chuốc chén rượu đào,
Tiệc mời chưa cạn, ngọc giao đã đầy.
Hơi men không nhấp mà say,
Như xông mùi nhớ, lại gây giọng tình.
Có khi ngồi suốt năm canh,
Mõ quyên điểm nguyệt, chuông kình nện sương.
Lặng nghe những tiếng đoạn trường,
Lửa tình dễ đốt, sông Tương khôn hàn.
Có đêm ngắm bóng trăng tàn,
Tiếng chiêm hót sớm, trận nhàn bay khuya.
Ngổn ngang cảnh nọ tình kia,
Nỗi riêng, riêng biết, dã dề (10) với ai!
Vui xuân chung cảnh một trời,
Sầu xuân riêng nặng một người tương tư
(Bích Câu kì ngộ, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2015)
Chú thích:
(1) Giấc hoè: ở đây chỉ giấc mơ (dựa theo điển tích Thuần Vu Phần uống rượu say, nằm ngủ dưới gốc cây hoè, rồi mơ thấy mình ở nước Hoà An, được công danh phú quý rất mực vinh hiển, khi tỉnh dậy thì hoá ra đó là giấc mộng, thấy dưới cành hoè phía nam chỉ có một tổ kiến).
(2) Hoài nhân: nhớ người.
(3) Cầu hoàng: khúc đàn cầu hôn (tìm vợ) của Tư Mã Tương Như (bậc văn tài thời Hán, gảy đàn rất hay).
(4) Văn Quân: Trác Văn Quân là một cô gái đẹp góa chồng, nghe khúc Cầu hoàng của Tương Như, phải lòng đi theo.
(5) Ngọc giao: mời nhau rượu đựng trong chén ngọc để kết giao.
(6) Mõ quyên: mõ khắc hình chim đỗ quyên.
(7) Chuông kình: cái chuông có dài làm thành hình con cá kình (cá voi).
(8) Sông Tương: chỉ nước mắt (Dựa theo điển tích vua Thuấn mất ở Thương Ngô, hai người vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh cùng thương khóc thảm thiết ở trên sông Tương Giang, vì vậy, người ta dùng sông Tương hay mạch Tương, sóng Tương để ví với nước mắt).
(9) Trận nhàn: hàng chim nhạn. Xưa, chim hồng, chim nhạn thường được dùng để nói về tin tức.
(10) Dã dề: chuyện trò niềm nở, thân tình
Tóm tắt tác phẩm: Chuyện kể về một thư sinh ở vào đời Lê Thánh Tông tên gọi Trần Tú Uyên. Cha mẹ mất sớm, chàng dựng nhà ở giữa hồ Bích Câu để chuyên tâm đèn sách. Trong một dịp tình cờ, khi đi hội ở chùa Ngọc Hồ, Tú Uyên gặp được một cô gái đẹp như tiên giáng trần, bèn đi theo thì nàng chợt biến mất không rõ tung tích, nên chàng mắc bệnh tương tư. Sau đó, Tú Uyên mua được một bức tranh vẽ hình mĩ nữ hệt như người chàng đã gặp, mang về treo trong nhà. Một thời gian sau, lúc nào từ trường về nhà, Tú Uyên cũng thấy cơm nước sẵn sàng. Chàng rình xem, thấy mĩ nhân trong tranh bước ra, vội chạy vào chào hỏi. Người con gái xưng là tiên nữ Giáng Kiều, nguyện cùng chàng kết nhân duyên. Hai người sống với nhau hạnh phúc được ba năm, song Tú Uyên dần trở nên nghiện rượu. Giáng Kiều khuyên chồng không được, bèn bỏ về tiên giới. Tú Uyên hối hận, sinh ra sầu não, đau ốm, định quyên sinh. Đúng lúc ấy, Giảng Kiều hiện ra, tha lỗi cho chồng, hai vợ chồng nối lại duyên xưa. Từ đó, Tú Uyên nghe lời vợ chuyên tâm tu đạo. Cuối cùng, có đôi chim hạc từ trên mây bay xuống đưa hai vợ chồng về cõi tiên.
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản
Câu 2. Liệt kê những hành động, cử chỉ mà nhân vật Tú Uyên làm để giãi bày nỗi nhớ người đẹp.
Câu 3. Theo em, nhân vật Tú Uyên hiện lên qua đoạn trích là người như thế nào?
Câu 4. Phân tích giá trị biểu đạt của một biện pháp tu từ nổi bật được sử dụng trong đoạn thơ được in đậm trong văn bản trên.
Câu 5. Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) so sánh hai đoạn thơ nói về tâm trạng tương tư của Tú Uyên trong Bích Câu kì ngộ và của Kim Trọng trong Truyện Kiều:
- Lần trăng ngơ ngẩn ra về,
Đèn thông khêu cạn, giấc hòe chưa nên.
Nỗi nàng canh cánh nào quên,
Vẫn còn quanh quẩn người tiên khéo là?
(Bích Câu kì ngộ)
- Chàng Kim từ lại thư song
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây.
Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.
(Truyện Kiều)
II. VIẾT
Dựa vào nội dung của văn bản trên và những hiểu biết về truyện thơ Nôm, em hãy viết bài văn phân tích, đánh giá về đoạn trích truyện thơ Nôm trên.
HẾT
Đáp án
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ vào các đặc điểm hình thức để xác định thể thơ được sử dụng
Cách giải:
Văn bản sử dụng thể thơ lục bát
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để tìm các chi tiết phù hợp
Cách giải:
Những hành động, cử chỉ của Tú Uyên để giãi bày nỗi nhớ: Gẩy đàn tranh, uống chén rượu đào, ngồi suốt năm canh, ngắm bóng trăng tàn.
Câu 3:
Phương pháp:
Căn cứ vào những chi tiết được sử dụng để khắc hoạ nhân vật
Cách giải:
Qua đoạn trích, Tú Uyên hiện lên là một chàng thư sinh si tình, đa cảm và thủy chung. Nỗi nhớ người đẹp chi phối toàn bộ sinh hoạt, suy nghĩ và hành động của chàng, từ việc ăn ngủ không yên đến những hành động như gảy đàn, uống rượu, thức đêm... Tất cả đều xuất phát từ một tấm lòng tha thiết, khắc khoải hướng về "người tiên" đã lạc mất.
Câu 4:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các biện pháp tu từ để nhận diện và phân tích tác dụng
Cách giải:
- Biện pháp lặp cấu trúc “Có khi” được lặp lại 4 lần
- Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu: Cấu trúc lặp lại tạo nên một nhịp kể đều đều, da diết
+ Nhấn mạnh sự triền miên, day dứt, cho thấy nỗi tương tư đã chiếm trọn mọi khoảnh khắc thời gian, trở thành một nỗi ám ảnh không dứt.
+ Làm nổi bật tính cách nhân vật: Qua chuỗi hành động ấy, hình ảnh một chàng trai si tình, đa sầu đa cảm và vô cùng thủy chung càng trở nên rõ nét và đáng thương.
Câu 5:
Phương pháp:
|
|
Tú Uyên |
Kim Trọng |
|
Giống |
- Đều là nỗi tương tư, nhớ mong - Đều thể hiện nỗi nhớ “canh cánh” trong lòng |
|
|
Khác |
- Ngẩn ngơ nhớ về người đẹp - Không thể gặp lại khiến Tú Uyên ngày càng nhớ mong |
- Nhớ đến sầu muộn - Cảm thấy một ngày dài như “ba thu”, mong chờ để được gặp người yêu. |
Cách giải:
Cả Tú Uyên trong "Bích Câu kì ngộ" và Kim Trọng trong "Truyện Kiều" đều trải qua nỗi tương tư với những điểm tương đồng và khác biệt thú vị. Về điểm chung, cả hai chàng thư sinh đều mang một nỗi nhớ "canh cánh" trong lòng - cụm từ được cả hai tác giả sử dụng để diễn tả nỗi niềm thường trực, khắc khoải khôn nguôi. Tuy nhiên, sắc thái tâm trạng của mỗi người lại có những nét riêng. Tú Uyên nhớ đến mức "ngơ ngẩn", nỗi nhớ hướng về một "người tiên" mới gặp một lần rồi biến mất không dấu vết, khiến chàng rơi vào trạng thái sầu muộn, bế tắc. Trong khi đó, nỗi nhớ của Kim Trọng lại gắn với sự mong chờ được gặp lại Thúy Kiều. Nguyễn Du đã khéo léo sử dụng hình ảnh ước lệ "một ngày dài ghê" như "ba thu" để cụ thể hóa cảm giác thời gian kéo dài đằng đẵn trong sự chờ đợi. Như vậy, nếu nỗi tương tư của Tú Uyên là nỗi đau không lối thoát vì đối tượng đã biến mất, thì nỗi tương tư của Kim Trọng lại là niềm khắc khoải hướng về một cuộc hội ngộ trong tương lai. Sự khác biệt này cho thấy cách khai thác tâm lí nhân vật tinh tế của mỗi tác giả.
II. VIẾT
Phương pháp:
1. Giới thiệu chung về tác phẩm và đoạn trích
- Nội dung chính: Diễn tả tâm tư của Tú Uyên sau khi gặp người đẹp ở hội chùa Ngọc Hồ
- Nhan đề Nỗi niềm tương tư: Nói về hành động, cử chỉ của Tú Uyên nhằm thể hiện nỗi tương tư, nhớ nhung Giáng Kiều một cách mòn mỏi, da diết.
2. Phân tích đoạn trích
Về nội dung: Tâm trạng tương tư của Tú Uyên
- Khi trở về nhà, chàng đem lòng thương nhớ, tương tư bất kể ngày lẫn đêm:
Lần trăng ngơ ngẩn ra về,
Đèn thông khêu cạn, giấc hòe chưa nên.
Nỗi nàng canh cánh nào quên,
Vẫn còn quanh quẩn người tiên khéo là!
Bướm kia vương lấy sầu hoa,
Đoạn tương tư ấy nghĩ mà buồn tênh!
Ta có thể thấy được nét si tình ở chàng Tú Uyên, chỉ vì một giây trông thấy, mà dường như chàng đã cả một đời nhớ thương. Chàng si mê nàng đến nỗi “ngơ ngẩn”, đến nỗi đèn thông cháy đã cạn mà chàng vẫn thao thức chưa ngủ được “giấc hòe chưa nên”. Chàng nghĩ về người con gái xinh đẹp đó phải chăng là tiên nữ, biết bao giờ mới được gặp lại.
- Nỗi nhớ người trong mộng không chỉ được thể hiện ở suy tư của chàng thư sinh mà còn được bộc lộ, thể hiện bằng cử chỉ:
Có khi gảy khúc đàn tranh,
Nước non ngao ngán ra tình hoài nhân.
Cầu hoàng tay lựa nên vần,
Tương Như lòng ấy, Văn Quân lòng nào!
Có khi chuốc chén rượu đào,
Tiệc mời chưa cạn, ngọc giao đã đầy.
Hơi men không nhấp mà say,
Như xông mùi nhớ, lại gây giọng tình.
Có khi ngồi suốt năm canh,
Mõ quyên điểm nguyệt, chuông kình nện sương.
Lặng nghe những tiếng đoạn trường,
Lửa tình dễ đốt, sông Tương khôn hàn.
Có đêm ngắm bóng trăng tàn,
Tiếng chim hót sớm, trận nhàn bay khuya.
+ Từ “có” lặp đi lặp lại 4 lần thể hiện những hành động của Tú Uyên khi không thể không nghĩ về người thiếu nữ đó. Chàng nhớ nàng chỉ nghĩ thôi chưa đủ, phải “gảy nên khúc đàn tranh” mong nàng nghe được tấm chân tình này, giống như cô gái Văn Quân khi nghe được tiếng đàn “Cầu hoàng” của Tương Như nên phải lòng đi theo. Phải mượn men say của “chén rượu đào” để thổ lộ tâm tư thầm kín hay chính là “mượn rượu để tỏ tình”. Tú Uyên mong được uống với nàng chén “ngọc giao” để kết duyên đôi lứa.
+ Lúc này chàng say nhưng lại không phải say rượu, cơn say này được ví như “mùi nhớ” hay chính là say ân tình với nàng tiên nữ. Chàng còn phải “ngồi suốt năm canh” để nghe những “tiếng đoạn trường”, vì không biết bao giờ mới có thể gặp được người thương nên chàng nhớ mong, đau đớn như đứt từng khúc ruột.
+ Đặc biệt, tác giả dựa vào truyền thuyết hai người vợ Nga Hoàn và Nữ Anh cùng khóc thảm thiết trên sông Tương Giang khi Vua Thuần mất để dùng từ “sông Tương” ví với nước mắt, nước mắt ở đây là nước mắt của Tú Uyên khi để lạc mất người mình hằng mong nhớ, lạc mất đi cả cuộc đời. Chàng còn ngồi “ngắm bóng trăng tàn”, hy vọng về một chút tin tức của nàng.
- Nỗi nhớ đó dù đã được bộc lộ nhưng vẫn “ngổn ngang” không ngơi:
Ngổn ngang cảnh nọ tình kia,
Nỗi riêng, riêng biết, dã đề với ai!
Vui xuân chung cảnh một trời,
Sầu xuân riêng nặng một người tương tư
Về nghệ thuật: Nghệ thuật đặc sắc của truyện thơ Nôm
- Biện pháp nghệ thuật nổi bật trong đoạn trích: điệp cấu trúc “Có khi…”.
- Sử dụng các điển tích, điển cố mang đậm tính chất truyện nôm bác học
- Việc sử dụng liên tiếp cấu trúc đó giúp đoạn trích bộc lộ rõ nét được tâm trạng tương tư, thầm thương, trộm nhớ của Tú Uyên, nỗi nhớ ấy không nguôi, ngày đêm mơ tưởng đến bóng dáng người thiếu nữ ấy.
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
"Bích Câu kì ngộ" xứng đáng là viên ngọc quý trong kho tàng truyện thơ Nôm Việt Nam, không chỉ bởi cốt truyện lãng mạn về mối tình tiên - tục mà còn ở nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật tinh tế. Đoạn trích khắc họa tâm trạng Tú Uyên sau cuộc gặp gỡ định mệnh ở hội chùa Ngọc Hồ thực sự là một bản hòa ca đa thanh của nỗi niềm tương tư, nơi mỗi hành động, mỗi cử chỉ đều trở thành ngôn ngữ của một trái tim đang yêu trong vô vọng.
Mở đầu đoạn trích, người đọc bắt gặp một Tú Uyên trong trạng thái tâm hồn hoàn toàn đảo lộn:
"Lần trăng ngơ ngẩn ra về,
Đèn thông khêu cạn, giấc hòe chưa nên."
Hai chữ "ngơ ngẩn" không đơn thuần là trạng thái mà đã trở thành phẩm chất tồn tại của nhân vật. Chàng "ngơ ngẩn" bởi hình bóng người đẹp đã chiếm trọn tâm trí, khiến lý trí không còn làm chủ được hành động. Hình ảnh "đèn thông khêu cạn" gợi lên một đêm dài thao thức, nhưng sâu xa hơn, nó còn là ẩn dụ cho sự kiệt quệ của tâm hồn. Ngọn đèn tri thức không thể thắp sáng nổi màn đêm cô đơn, và giấc mộng công danh ("giấc hòe") trở nên vô nghĩa trước nỗi khát khao tình yêu. Sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, giữa thức và ngủ, đã tạo nên một không gian tâm lý đầy mâu thuẫn.
Điều đặc biệt ở đây là nỗi nhớ không đơn thuần là cảm xúc nhất thời mà đã trở thành căn bệnh trường kỳ:
"Nỗi nàng canh cánh nào quên,
Vẫn còn quanh quẩn người tiên khéo là!"
Từ "canh cánh" diễn tả sự thường trực, ám ảnh không dứt, như vật gì đè nặng lên tâm can. Còn "quanh quẩn" lại gợi cảm giác bị vây khốn trong chính nỗi nhớ của mình. Nhân vật bị mắc kẹt giữa thực và mộng, giữa cõi trần và tiên giới, mà hình bóng "người tiên" vừa là nguyên nhân vừa là đích đến của mọi khổ đau.
Nhưng đỉnh cao của nghệ thuật miêu tả nội tâm chính là hệ thống hành động được sắp xếp theo lối điệp cấu trúc:
"Có khi gảy khúc đàn tranh,
Nước non ngao ngán ra tình hoài nhân."
Âm nhạc ở đây không còn là thú tiêu khiển mà trở thành ngôn ngữ của trái tim. Khúc "nước non ngao ngán" không đơn thuần là khúc nhạc buồn mà là tiếng lòng của kẻ sĩ đang đánh mất phương hướng. Điển tích Tương Như - Văn Quân được vận dụng tài tình, không phải để khoe chữ mà để thể hiện khát vọng giao cảm. Chàng không chỉ chơi đàn mà đang gửi gắm lời cầu hôn vô vọng vào không trung.
Đến với rượu, Tú Uyên cũng tìm thấy một thứ ngôn ngữ khác:
"Hơi men không nhấp mà say,
Như xông mùi nhớ, lại gây giọng tình."
Đây chính là điểm sáng của nghệ thuật diễn tả tâm lý. Chàng say không phải bởi rượu mà bởi chính "mùi nhớ" - một khái niệm vô hình được cụ thể hóa thành mùi vị. Sự chuyển đổi cảm giác này cho thấy nỗi nhớ đã thấm sâu vào từng tế bào, trở thành chất độc ngọt ngào làm tê liệt lý trí.
Đêm dài thao thức lại càng cho thấy chiều sâu của nỗi cô đơn:
"Có khi ngồi suốt năm canh,
Mõ quyên điểm nguyệt, chuông kình nện sương."
Âm thanh của mõ quyên, chuông kình không đơn thuần là tiếng chuông báo thời gian mà trở thành nhịp đập của nỗi đau. Mỗi tiếng chuông vang lên như một nhát dao cứa vào tâm can. Hình ảnh "lửa tình dễ đốt, sông Tương khôn hàn" là sự đối lập giữa ngọn lửa tình yêu mãnh liệt và dòng sông nước mắt vô tận. Điển tích sông Tương được sử dụng không phải để nói về cái chết mà để nói về sự bất tử của nỗi đau.
Nghệ thuật sử dụng điển tích trong đoạn trích xứng đáng là bậc thầy. Mỗi điển tích không đơn thuần là sự vay mượn mà đã được "tiêu hóa" để trở thành máu thịt của tác phẩm. Từ giấc hòe của Thuần Vu Phần đến mối tình Tương Như - Văn Quân, rồi nước mắt sông Tương, tất cả đều được vận dụng một cách tự nhiên, góp phần tạo nên chiều sâu văn hóa cho tác phẩm.
Kết thúc đoạn trích, sự đối lập giữa thiên nhiên và lòng người càng làm nổi bật bi kịch nội tâm:
"Vui xuân chung cảnh một trời,
Sầu xuân riêng nặng một người tương tư."
Mùa xuân - biểu tượng của sự sống, niềm vui và hạnh phúc - lại trở thành phông nền cho nỗi sầu riêng biệt. Sự tương phản giữa "chung" và "riêng", giữa "một trời" và "một người" đã khắc họa thành công tâm trạng cô đơn tuyệt đối của con người trong nỗi đau tình yêu.
Qua đoạn trích này, chúng ta không chỉ thấy được tài năng nghệ thuật của tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ, xây dựng hình ảnh và vận dụng điển tích, mà còn thấy được sự thấu hiểu sâu sắc về thế giới nội tâm con người. Tú Uyên hiện lên không đơn thuần là một chàng trai si tình, mà là hiện thân của khát vọng yêu và được yêu, của nỗi đau hiện sinh khi đứng trước cái đẹp mong manh và vĩnh cửu. Đây chính là giá trị nhân văn sâu sắc khiến tác phẩm sống mãi với thời gian.
Đề thi học kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 10
Đề thi
Phần I. Đọc hiểu
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
Tống Trân đến cửa nhà giàu
(Trích Tống Trân – Cúc Hoa – Truyện thơ Nôm khuyết danh)
Tóm tắt truyện thơ Tống Trân – Cúc Hoa
Tống Trân là con cầu tự của một sự phủ ở huyện Phủ Hoa, đời vua Trần Thái Tông. Mới ra đời thì gặp cảnh nhà sa sút phải dắt mẹ đi ăn mày. Hôm ấy, Tống Trân dắt mẹ đến nhà của một trưởng giả, Cúc Hoa – con gái trưởng giả thương tình mang gạo ra cho thì bị cha bắt gặp, bèn bắt nàng lấy Tống Trân làm chồng và đuổi ra khỏi nhà. Cúc Hoa theo chồng, bán cả vàng mẹ cho để rước thầy về dậy chồng học. Học được nửa năm, vua mở hội thi. Tống Trân tham dự kì thi, chàng đậu Trạng Nguyên được vua gả công chúa cho. Tống Trân lấy cảnh nhà nghèo mà từ chối, được vua cho vinh quy bái tổ. Chưa vui sum họp được bao ngày thì Tống Trân phải từ biệt Cúc Hoa về triều nhận chiếu sứ đi nước Tần dài tới mười năm. Tới nước Tần, nhờ trí thông minh và tài khôn khéo, Tống Trân giúp vua Tần xử nhiều vụ án rắc rối, được vua phong làm Lưỡng quốc Trạng Nguyên và được gả công chúa cho chàng. Một lần nữa Tống Trân viện với vua Tần cảnh nhà để từ chối.
Ở quê nhà, Cúc Hoa một lòng làm lụng vất vả nuôi mẹ, chờ chồng. Thấy Tống Trân bảy năm chưa về, trưởng giả sai người gọi Cúc Hoa về. Khuyến dụ con gái không được, trưởng giả bèn nhốt và hành hạ nàng, trưởng giả còn bắt mẹ của Tống Trân xuống ở trong chuồng trâu. Quá đau khổ và quyết thủ tiết chờ chồng, đêm hôm ấy, Cúc Hoa trốn khỏi nhà. Đến núi Sơn Vi, nàng định quyên sinh. Thần Sơn Tinh hiểu rõ tình cảnh, hóa thành mãnh hổ, mang thư của nàng qua nước Tần trao tận tay Tống Trân. Nhận được thư, Tống Trân mang vào triều tâu lên vua. Vua Tần cảm động khen ngợi: Nước Nam sao lắm người hay và đồng ý cho Tống Trân về nước trước kì hạn năm tháng. Tống Trân trả lời thư cho Cúc Hoa và nhờ mãnh hổ mang về.
Ở nhà, cha nàng đi tìm gặp và đưa Cúc Hoa về gả cho đình trưởng, tổ chức đám cưới linh đình. Cùng lúc ấy Tống Trân trên đường về. Chàng biết rõ nguồn cơn, xuống chuồng trâu gặp và nói chuyện cùng mẹ… Tới ngày đinh trưởng rước dâu, Tống Trân cùng quân sĩ xuất hiện. Chàng xét xử phân minh, mẹ con và vợ chồng đoàn tụ.
Ở nước Tấn, công chúa Bạch Hoa xin vua cha cho qua Nam Việt sum họp cùng Tống Trân. Giữa biển khơi, đoàn ghe tàu bị giông bão đánh chìm, công chúa trôi dạt vào núi Cô Hồng, được bầy hươu rừng cứu sống, nuôi dưỡng. Tống Trân đi săn hươu gặp và đưa công chúa về nhà, phân chia ngôi thứ, gia đình hạnh phúc.
Đoạn sau đây nằm ở phần đầu tác phẩm.
Bồ côi từ thuở lên ba đến này
Cơ hàn đã tám năm nay,
Tôi phải dắt mẹ ăn mày độ thân.
Tự tình chưa hết phân vân,
Vừa khi trưởng giả dạo chân về nhà.
Thấy người thất nghiệp phương xa,
Cùng nhau trò chuyện lân la giãi lòng.
Cơn đâu nổi giận đùng đùng,
Đòi ba con gái vào trong dạy lời:
“Sinh con mong sánh đòi nơi,
Trao tơ phải lứa chọn người kết hôn
Thiếu gì chức trọng quyền môn
Hay đâu chẳng đẹp lòng con sánh bầy.
Con nay mộ đứa ăn mày,
Thôi tao cũng gả cho mày tiếc chi”.
Nói rồi đòi đứa tùy nhi
Bay ra gọi nó tức thì vào đây.
Đứa hầu vâng lệnh dám chầy:
“Hỡi chàng nam tử! Vào ngay ông đòi”.
Lão bà kinh hãi bồi hồi,
Ôm con mà khóc rụng rời chân tay!
“Con ơi! Sao có sự này?
Đói no con ngửa bàn tay xin người.
Hay con gian giảo của ai
Sinh lòng trộm cắp nên người đòi con”.
Tống Trân nghe nói kinh hồn
Ôm mẹ mà khóc ồn ồn thương thay:
“Con còn bé dại thơ ngây,
Đói thì con chịu dám thay tấm lòng?
Mẹ ngồi đây hãy thong dong,
Con vào xem thử vân mòng làm sao?
(Truyện Nôm khuyết danh – Bùi Thức Phước. NXB Hội Nhà văn, 2012)
Câu 1. Xác định cảm xúc chủ đạo của văn bản
Câu 2. Đoạn sau là lời nói của ai, về điều gì?
Bồ côi từ thuở lên ba đến này
Cơ hàn đã tám năm nay,
Tôi phải dắt mẹ ăn mày độ thân.
Câu 3. Vì sao mẹ Tống Trân kinh hãi bồi hồi, ôm con mà khóc rụng rời chân tay?
Câu 4. Nhân vật Tống Trân trong văn bản đọc là người như thế nào? Hãy phân tích đôi nét tiêu biểu và nhận xét nghệ thuật khắc họa nhân vật của truyện thơ.
Câu 5. Văn bản đọc trên đã thể hiện giá trị văn hóa, triết lí nhân sinh nào? Điều đó tác động gì tới suy nghĩ, tình cảm, cách nhìn con người của anh/chị?
Phần II. Viết
Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của mình về câu nói: Thành công chỉ đến khi chúng ta cố gắng hết sức và không ngừng hoàn thiện bản thân mình.
Đáp án
Phần I. Đọc hiểu
Câu 1:
Phương pháp:
Đọc kĩ trích đoạn để xác định cảm xúc chính xuyên suốt toàn bộ văn bản
Cách giải:
Cảm xúc chủ đạo của văn bản: Thương cảm, xót xa trước số phận bất hạnh, éo le của những con người nghèo khổ, đồng thời căm giận, phẫn nộ trước thái độ và hành động tàn nhẫn, bất nhân của những kẻ giàu có, hợm hĩnh
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn thơ để xác định lời của nhân vật
Cách giải:
- Đây là lời của nhân vật Tống Trân nói với Cúc Hoa.
- Chàng đang giãi bày, nói về hoàn cảnh nghèo khó, cơ cực của bản thân và mẹ: mồ côi cha từ nhỏ, cuộc sống đói khổ đã kéo dài nhiều năm, và hiện tại phải dắt mẹ đi ăn xin để sống qua ngày.
Câu 3:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để tìm chi tiết lí giải
Cách giải:
Mẹ Tống Trân kinh hãi bồi hồi, ôm con mà khóc rụng rời chân tay vì bà lo sợ, hoảng hốt khi thấy Trưởng giả là một người giàu có, quyền thế lại bất ngờ cho gọi Tống Trân vào.
Câu 4:
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản để đưa ra những phân tích đánh giá về nhân vật
Cách giải:
- Nhân vật Tống Trân:
+ Gặp cảnh nhà đói khổ, sớm vất vả kiếm ăn
+ Là người thương mẹ
+ Là người tự trọng, bản lĩnh, biết giữ gìn phẩm giá và sống ngay thẳng trong mọi hoàn cảnh.
- Khắc họa nhân vật chủ yếu ở hành động, đối thoại qua ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Văn bản thể hiện giá trị văn hóa, triết lí nhân sinh: sống nhân hậu, yêu thương cảm thông với người bất hạnh; dù nghèo đói vẫn phải giữ gìn bản tính ngay thẳng, nhân cách đẹp…
- Giá trị văn hóa, triết lí nhân sinh tác động…: HS tự làm theo nhận thức, tình cảm của cá nhân mình.
Cách giải:
Văn bản đã thể hiện những giá trị văn hóa, triết lí nhân sinh sâu sắc. Đó là lòng nhân ái, sự sẻ chia; là tình nghĩa thủy chung, son sắt; là đạo lý "ở hiền gặp lành" và sự đề cao nhân cách, phẩm giá con người dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Những giá trị ấy khiến em nhận ra rằng, trong cuộc sống, vật chất và địa vị không phải là thước đo giá trị con người. Điều đáng quý nhất chính là tấm lòng lương thiện, sự ngay thẳng và tình yêu thương. Em càng thêm trân trọng những mối quan hệ chân thành xung quanh mình và ý thức hơn về việc giữ gìn phẩm chất tốt đẹp, dù có phải đối mặt với khó khăn, thử thách.
Phần II. Viết
Phương pháp:
1. Mở bài
- Giới thiệu về vấn đề cần nghị luận: thành công
- Dẫn dắt câu nói: “Thành công chỉ đến khi chúng ta cố gắng hết sức và không ngừng hoàn thiện bản
thân mình”
2. Thân bài
- Giải thích: Thành công là thành tựu mà bạn mong muốn đạt được.
- Bàn luận:· Thành công sẽ đến khi chúng ta cố gắng hết sức: Luôn nỗ lực vượt qua khó khăn, kiên trì, bền bỉ· Thành công đến khi không bạn ngừng hoàn thiện bản thân, luôn học tập, trau dồi kiến thức.· Cố gắng và hoàn thiện bản thân rồi
thành công sẽ đến
Dẫn chứng: Jack Ma, Bác Hồ…·
- Phản đề: Làm việc gì cũng cần có giới hạn của nó, cũng không nên quá cố chấp; phê phán những người hay bỏ cuộc sớm.
- Liên hệ: Bản thân cần phải học tập chăm chỉ rèn luyện nhiều hơn
3. Kết bài
Kết luận và mở rộng vấn đề: Cố gắng hết sức mình và không ngừng nỗ lực rồi ánh sáng của thành công sẽ đến với bạn, từ đó bạn có thể khẳng định được mình, mang lại hạnh phúc cho chính mình rồi đến gia đình và xã hội.
Cách giải:
Bài viết tham khảo
Trong hành trình của cuộc sống, ai cũng khao khát đạt được thành công. Nhưng thành công không phải là thứ dễ dàng có được, nó đòi hỏi mỗi người phải không ngừng nỗ lực và phấn đấu. Có người đã nói rằng: "Thành công chỉ đến khi chúng ta cố gắng hết sức và không ngừng hoàn thiện bản thân mình". Câu nói ấy như một chân lý, một phương châm sống đúng đắn, khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa ý chí, nỗ lực của con người với những thành quả họ đạt được.
Vậy, chúng ta nên hiểu câu nói này như thế nào? "Thành công" là đích đến, là kết quả tốt đẹp mà ta mong đợi sau một quá trình phấn đấu. "Cố gắng hết sức" là việc dồn toàn bộ tâm trí, sức lực, vượt qua mọi khó khăn, thử thách để theo đuổi mục tiêu. Còn "không ngừng hoàn thiện bản thân" là quá trình học hỏi, rèn luyện không ngừng nghỉ để bản thân ngày càng tiến bộ, vươn tới sự ưu tú. Như vậy, câu nói khẳng định: thành công không phải là điều ngẫu nhiên, may mắn, mà là kết quả của một quá trình lao động nghiêm túc, bền bỉ và một tinh thần tự giác nâng cao giá trị bản thân.
Trước hết, thành công chỉ đến khi chúng ta cố gắng hết sức. Cuộc sống vốn không bằng phẳng, luôn ẩn chứa những chông gai, thử thách. Nếu chỉ bước đi với một nửa sức lực và sự e dè, chúng ta khó lòng vượt qua được tất cả. Chính sự nỗ lực đến tận cùng, sự kiên trì bám trụ với mục tiêu sẽ khơi dậy mọi tiềm năng, khả năng sáng tạo và sức chịu đựng mà đôi khi chính bản thân ta cũng không ngờ tới. Hãy nhìn vào nhân vật Tống Trân trong truyện thơ Nôm mà chúng ta đã học. Xuất thân từ một kẻ "dắt mẹ đi ăn mày", cuộc sống đói khổ cùng cực, nhưng chàng không đầu hàng số phận. Nhờ sự tảo tần của vợ và ý chí của bản thân, chàng "cố gắng hết sức" trong học tập, rèn luyện trí tuệ. Và kết quả, chàng không chỉ đỗ Trạng Nguyên của nước Nam mà còn trở thành Lưỡng quốc Trạng Nguyên, làm rạng danh non sông. Đó chính là minh chứng sống động cho việc thành công được đổi bằng mồ hôi, công sức và một ý chí phi thường.
Thứ hai, thành công cũng chỉ thực sự bền vững khi chúng ta không ngừng hoàn thiện bản thân. Xã hội luôn vận động và phát triển không ngừng. Nếu ta tự bằng lòng với những gì mình đang có, ta sẽ nhanh chóng bị tụt hậu. Việc không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức, kỹ năng và nhân cách sẽ giúp ta thích nghi với mọi hoàn cảnh, nắm bắt mọi cơ hội và giải quyết vấn đề một cách sáng suốt nhất. Bác Hồ kính yêu của chúng ta là một tấm gương sáng ngời về việc không ngừng hoàn thiện bản thân. Trong suốt 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, dù trong hoàn cảnh nào, Bác cũng không ngừng học hỏi, từ lao động chân tay đến nghiên cứu lý luận, từ văn hóa đến ngôn ngữ của các nước. Chính sự "không ngừng hoàn thiện" ấy đã giúp Bác tìm ra con đường giải phóng dân tộc, dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Hai yếu tố "cố gắng hết sức" và "không ngừng hoàn thiện bản thân" có mối quan hệ hữu cơ, bổ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Cố gắng mà không hoàn thiện thì dễ trở nên bảo thủ, lỗi thời. Ngược lại, muốn hoàn thiện thì bản thân phải có sự nỗ lực, cố gắng không ngừng. Chúng là hai mặt của một vấn đề, cùng hướng tới một mục đích chung là chinh phục thành công.
Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn còn không ít người có lối sống lười biếng, ngại khó, ngại khổ, luôn trông chờ vào may mắn hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. Lại có những người tự mãn với những thành tích nhỏ bé, không chịu học hỏi để tiến xa hơn. Những thái độ sống tiêu cực ấy chính là rào cản lớn nhất ngăn họ bước đến cánh cửa thành công.
Là một học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, em thấy câu nói trên là một bài học vô cùng quý giá. Nó nhắc nhở em rằng, để đạt được ước mơ vào một ngôi trường Đại học mình mơ ước, để trở thành một công dân có ích cho xã hội, bản thân em phải không ngừng "cố gắng hết sức" trong học tập, rèn luyện. Đồng thời, em cũng phải "không ngừng hoàn thiện bản thân" bằng cách tích cực tham gia các hoạt động, học hỏi từ thầy cô, bạn bè và từ chính những sai lầm của mình.
Tóm lại, câu nói "Thành công chỉ đến khi chúng ta cố gắng hết sức và không ngừng hoàn thiện bản thân mình" là một thông điệp ý nghĩa và đúng đắn. Thành công không dành cho những kẻ lười biếng hay những người dễ dàng bằng lòng với hiện tại. Nó là phần thưởng xứng đáng cho những ai dám ước mơ, dám hành động và không ngừng vươn lên.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP11
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
