Đề thi học kì 1 Ngữ Văn 12
Đề cương ôn tập học kì 1 Văn 12 - Cánh diều
A. NỘI DUNG ÔN TẬP
1. Phần đọc hiểu
a. Truyện truyền kì và truyện ngắn hiện đại
|
Thể loại |
Khái niệm |
Đặc điểm |
|
Truyện truyền kì |
- Là thể loại văn xuôi tự sự có nguồn gốc từ văn học Trung Quốc. - Truyện truyền kì phát triển trên nền tảng thần thoại, truyền thuyết,… của văn học dân gian và những tín ngưỡng văn hóa trong đời sống tinh thần của các dân tộc |
- Trong truyện truyền kì, yếu tố kì ảo được sử dụng như một phương thức nghệ thuật có tính đặc thù nhằm thể hiện các vấn đề của thực tại - Ngôn ngữ truyện truyền kì: thường sử dụng lối nói so sánh - ẩn dụ; ưa hình thức biểu đạt cầu kì, khoa trương, phóng đại; chuộng ngôn từ hoa mĩ; dùng nhiều điển cố, hình ảnh biểu trưng;… |
|
Truyện ngắn hiện đại |
- Truyện ngắn hiện đại là thể loại tự sự cỡ nhỏ, ở đó, sự ngắn gọn được nhìn nhận là một đặc trưng nổi bật, phản ánh nét riêng của tư duy thể loại. |
- Truyện ngắn thường chỉ xoay quanh một, hai tình huống diễn ra trong khoảng thời gian, không gian hạn chế. |
b. Hài kịch
|
Khái niệm |
Đặc điểm |
Các thành phần |
|
Là thể loại kịch, dùng tiếng cười để chế giễu những thói tật, hiện tượng đáng phê phán vốn đi lệch các chuẩn mực tốt đẹp của con người và cộng đồng |
Tiếng cười hài kịch cất lên từ sự vênh lệch, không tương thích giữa mục đích và phương tiện thực hiện, bản chất và biểu hiện, hành động và hoàn cảnh, tham vọng vá nhân và các khả năng thực hiện,… tức là từ những cái ngộ nghĩnh, ngược đời, bất hợp lí |
- Nhân vật trong hài kịch: là những nhân vật tiêu biểu cho một thói tật đáng cười, đáng phê phán, hoặc những nhân vật thường xuyên nhầm lẫn, có cách ứng xử không phù hợp với hoàn cảnh thực tế - Tình huống hài kịch: là những tình huống hài hước diễn ra trong cuộc sống sinh hoạt, thế sự với những toan tính đời thường, làm nổi bật những thói tật đáng cười của con người - Xung đột trong hài kịch: thường được xây dựng trên cơ sở mâu thuẫn giữa ảo tưởng vớ những chuẩn mực và tiến bộ xã hội |
c. Nhật kí, phóng sự, hồi kí
|
Thể loại |
Khái niệm |
Đặc điểm |
|
Nhật kí |
- Ghi chép theo thứ tự ngày tháng về những sự kiện của đời sống mà tác giả là người trực tiếp tham gia hay chứng kiến |
- Thường bộc lộ suy nghĩ, thái độ và đánh giá của người viết về con người, cuộc đời và chính bản thân mình |
|
Phóng sự |
- Ghi chép kịp thời, cụ thể những sự việc, con người nhằm làm sáng tỏ trước công luận về vấn đề đặt ra từ bài viết |
- Vấn đề nêu lên trong bài phóng sự thường liên quan đến hoạt động và số phận của một hoặc nhiều người, có ý nghĩa thời sự đối với xã hội |
|
Hồi kí |
- Ghi lại những sự kiện sảy ra trong quá khứ mà tác giả là người trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến |
- Do sự cách quãng của thời gian diễn ra sự kiện nên hồi kí không chỉ ghi chép tỉ mỉ hằng ngày mà chỉ ghi chép dựa trên ấn tượng và hồi ức của cá nhân người viết - Đảm bảo tính khách quan, chính xác về sự kiện, nhân vật, thời gian, địa điểm,… |
d. Văn tế
|
Khái niệm |
Đặc điểm |
|
- Là thể loại văn học chủ yếu gắn với tục tang lễ, bày tỏ tình cảm của người còn sống đối với người đã mất - Đôi khi văn tế biến thể được dùng trong những trường hợp đùa vui hay châm biếm |
- Bài văn tế thường có hai nội dung cơ bản: tưởng nhớ người đã mất và thể hiện tình cảm của người còn sống trong giờ phút vĩnh biệt người mất - Kết cấu gồm 4 phần: mở đầu (lung khởi), đoạn hai (thích thực), đoạn ba (ai vãn), đoạn kết - Văn tế có thể được viết bằng văn xuôi cổ, có đối, văn vần, văn biền ngẫu - Văn tế có khi được viết theo thể tự do nhưng phần nhiều văn tế phỏng theo thể phú Đường luật - Văn tế thường sử dụng nhiều thán từ, những từ ngữ, hình ảnh giàu giá trị biểu cảm |
e. Văn bản nghị luận (lập luận và các thao tác trong văn bản nghị luận)
|
Khái niệm |
Đặc điểm |
|
Lập luận là sử dụng lí lẽ và bằng chứng để thuyết phục người dọc về một vấn đề. |
Giá trị của văn bản nghị luận được quyết định bởi ý nghĩa của vấn đề đặt ra (luận đề) và nghệ thuật lập luận (cách dùng lí lẽ và bằng chứng) của người viết. |
|
Các thao tác: - Chứng minh là dùng lí lẽ và bằng chứng giúp người đọc thấy rằng ý kiến được nếu là hoàn toàn có cơ sở, đáng tin cậy. - Bình luận là đánh giá về sự đúng – sai, hay – dở, tốt – xấu, tích cực – tiêu cực của một quan điểm, ý kiến, sự việc, hành động... - Bác bỏ là chỉ ra sự sai lầm, phiến diện hoặc thiếu chính xác của một quan điểm, ý kiến - Giải thích là cắt nghĩa về đối tượng (sự vật, hiện tượng, khái niệm,..) một cách chi tiết, tỉ mỉ - Phân tích là chia tách đối tượng thành nhiều bộ phận - So sánh là đặt đối tượng này bên cạnh đối tượng khác |
Trong bài văn nghị luận, các thao tác trên thường được phối hợp với nhau một cách linh hoạt nhằm đạt hiệu quả thuyết phục cao nhất |
2. Phần tiếng Việt
a. Ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật
|
Ngôn ngữ |
Khái niệm |
Đặc điểm |
|
Trang trọng |
- Là kiểu ngôn ngữ thường được sử dụng trong các giao tiếp liên quan đến công việc chung như thuyết trình, giảng dạy, trao đổi ý kiến trong cuộc họp, phát biểu ý kiến trong lớp học,… hoặc viết báo cáo, đơn từ, làm bài, viết bài nghiên cứu,… |
- Thường được gọt giũa cẩn thận - Từ ngữ và kiểu câu phải đảm bảo chuẩn mực về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách - Ưu tiên sử dụng từ ngữ toàn dân với nghĩa chính thống và lịch sự, không sử dụng tiếng lóng, từ thông tục; ít sử dụng câu đặc biệt, câu rút gọn,… |
|
Thân mật |
- Là kiểu ngôn ngữ thường được sử dụng trong các giao tiếp hằng ngày như trò chuyện hoặc viết tin nhắn, viết thư cho bạn bè, người thân, viết nhật kí cá nhân,… |
- Thường sử dụng các từ ngữ có sắc thái gần gũi, dân dã, phù hợp với mối quan hệ giữa các đối tượng giao tiếp - Kiểu câu trong ngôn ngữ thân mật cũng đa dạng, bao gồm cả câu đặc biệt, câu rút gọn |
b. Lỗi logic, lỗi câu mơ hồ và cách sửa
|
Lỗi |
Khái niệm |
Ví dụ |
|
Lỗi logic |
Là câu có sự mâu thuẫn giữa các ý được trình bày, lẫn lộn các bình diện khi nói về đối tượng, đặt các đối tượng không cùng cấp độ trong quan hệ đồng đẳng |
Bên cạnh việc hăng hái cách tân thi ca, ông còn là một chiến sĩ nhiệt thành đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít - Vế đầu câu nói về hoạt động của chủ thể, vế sau lại nói đến vị thế xã hội của chủ thể, mặc dù câu được cấu trúc theo mẫu: bên cạnh… còn… - Chính sự lẫn lộn các bình diện như thế khi nói về đối tượng đã khiến câu mắc lỗi logic |
|
Lỗi câu mơ hồ |
Là câu khiến người đọc có thể hiểu theo những cách khác nhau |
Tôi đồng ý với những đánh giá về truyện ngắn của ông ấy - Khó xác định câu này muốn đề cập những ý kiến của ông ấy đánh giá về truyện ngắn hay có những ý kiến của người khác đánh giá về truyện ngắn do ông ấy sáng tác |
c. Biện pháp tu từ nghịch ngữ
|
Biện pháp |
Khái niệm |
Đặc điểm |
|
Nghịch ngữ |
Là biện pháp tu từ, ở đó, người nói, người viết dùng một cụm từ gây ấn tượng mạnh, làm nổi bật tính chất hai mặt của một tình thế, tâm trạng nào đó, hoặc làm phát lộ sự thật về đối tượng theo quan điểm của mình |
Nghĩa của nghịch ngữ đối lập với nghĩa của các cụm từ khác trong câu hoặc trong các câu khác gần kề Nghịch ngữ thường xuất hiện trong nói mỉa |
d. Tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong học tập và nghiên cứu
|
|
Khái niệm |
Mục đích |
|
Quyền sở hữu trí tuệ |
- Là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm: quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng |
- Nhằm khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân |
|
Tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ |
- Nghĩa là trích dẫn trung thực ý tưởng, lời văn của tác phẩm được sử dụng trong bài viết, bài nói - Là hành vi trung thực, văn minh, phù hợp với quy định của pháp luật và đạo lí |
|
3. Phần làm văn
a. Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện
|
Phần |
Nội dung |
|
Mở bài |
Giới thiệu hai tác phẩm truyện được xác định là đối tượng của sự so sánh, đánh giá; nêu mục đích và cơ sở của việc so sánh, đánh giá này. |
|
Thân bài |
Cần triển khai các ý: + Thông tin chung về từng tác phẩm: hoàn cảnh ra đời, đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, vị trí của tác phẩm trong đời sống văn học... + Những điểm tương đồng giữa hai tác phẩm truyện và nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng ấy (ví dụ: hai tác phẩm cùng đề cập một loại hiện tượng đời sống hay một loại hình nhân vật; hai tác giả có cùng quan điểm thẩm mĩ và cách tiếp cận hiện thực; có hiện tượng tác giả này chịu ảnh hưởng tác giả kia về đề tài, cảm hứng, bút pháp, phong cách sáng tác;...). + Những điểm khác biệt giữa hai tác phẩm truyện và điều kiện làm nên sự khác biệt ấy (ví dụ: mỗi nhà văn có quan điểm thẩm mĩ, cách tiếp cận hiện thực và cá tính sáng tạo riêng; mỗi nhà văn chịu ảnh hưởng của một truyền thống văn hoá, văn học khác nhau; đối tượng dược miêu tả, câu chuyện được kể lại ở mỗi tác phẩm có điểm đặc thù;). + Đánh giá chung về sự tương đồng, khác biệt giữa hai tác phẩm truyện và khẳng định giá trị độc đáo của mỗi tác phẩm. |
|
Kết bài |
Nêu ý nghĩa của việc đánh giá các tác phẩm truyện khi đặt chúng trong tương quan so sánh. |
b. Viết báo cáo kết quả của bài tập dự án
|
Phần |
Nội dung |
|
Chuẩn bị viết |
a. Lựa chọn đề tài - Đề tài của báo cáo nghiên cứu có thể là một vấn đề xã hội như một sự kiện văn hóa – lịch sử, một vấn đề khoa học – nghệ thuật, một hiện tượng tâm lí, cũng có thể là một vấn đề tự nhiên như môi trường, khí hậu, tài nguyên,... b. Thu thập, phân tích và đánh giá thông tin - Mỗi nguồn tài liệu có thể cung cấp những loại thông tin khác nhau, phù hợp với những chủ đề khác nhau - Cần lưu trữ một cách hệ thống, khoa học những thông tin đáng tin cậy đã thu thập được. Có một số cách phổ biến để lưu trữ thông tin như: tóm tắt, trích dẫn |
|
Xây dựng đề cương |
Sau khi đã có được những thông tin bao quát về vấn đề, có thể tìm thấy một cách triển khai vấn đề riêng của mình |
|
Viết |
- Khi viết báo cáo nghiên cứu, cần tuân thủ các quy định về hình thức trình bày của một báo cáo nghiên cứu Lưu ý: Bài viết cần thể hiện rõ các thao tác cơ bản của việc nghiên cứu; có trích dẫn, cước chú, tài liệu tham khảo và các phương tiện hỗ trợ phù hợp |
|
Chỉnh sửa, hoàn thiện |
Tự rà soát lại bài nghiên cứu của mình theo các tiêu chí sau: - Bố cục phù hợp với một báo cáo nghiên cứu, gồm các phần: Đặt vấn đề, Giải quyết vấn đề, Kết luận, Tài liệu tham khảo - Các thông tin tham khảo có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy - Các luận điểm rõ ràng, bằng chứng thuyết phục - Bài viết đảm bảo tuân thủ các quy định về chính tả; không mắc lỗi dùng từ, đặt câu (ngữ pháp) |
c. Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm kí
|
Phần |
Nội dung |
|
Mở bài |
Giới thiệu hai tác phẩm kí được xác định là đối tượng của sự so sánh, đánh giá; nêu mục đích và cơ sở của việc so sánh, đánh giá này. |
|
Thân bài |
Cần triển khai các ý: + Thông tin chung về từng tác phẩm: hoàn cảnh ra đời, đề tài, chủ đề, nhân vật, vị trí của tác phẩm trong đời sống văn học... + Những điểm tương đồng giữa hai tác phẩm kí và nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng ấy (ví dụ: hai tác phẩm cùng đề cập một loại hiện tượng đời sống hay một loại hình nhân vật; hai tác giả có cùng quan điểm thẩm mĩ và cách tiếp cận hiện thực; có hiện tượng tác giả này chịu ảnh hưởng tác giả kia về đề tài, cảm hứng, bút pháp, phong cách sáng tác;...). + Những điểm khác biệt giữa hai tác phẩm kí và điều kiện làm nên sự khác biệt ấy (ví dụ: mỗi nhà văn có quan điểm thẩm mĩ, cách tiếp cận hiện thực và cá tính sáng tạo riêng; mỗi nhà văn chịu ảnh hưởng của một truyền thống văn hoá, văn học khác nhau; đối tượng được miêu tả, câu chuyện được kể lại ở mỗi tác phẩm có điểm đặc thù;). + Đánh giá chung về sự tương đồng, khác biệt giữa hai tác phẩm kí và khẳng định giá trị độc đáo của mỗi tác phẩm. |
|
Kết bài |
Nêu ý nghĩa của việc đánh giá các tác phẩm kí khi đặt chúng trong tương quan so sánh. |
d. Viết bài nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ
|
Phần |
Nội dung |
|
Mở bài |
Giới thiệu vấn đề liên quan đến tuổi trẻ, nêu quan điểm của người viết về vấn đề đó. |
|
Thân bài |
– Giải thích từ ngữ, khái niệm để làm rõ bản chất vấn đề cần bàn luận liên quan đến tuổi trẻ. - Trình bày các khía cạnh của vấn đề (Vì sao vấn đề này thiết yếu đối với tuổi trẻ? Vấn đề gợi cho tuổi trẻ những suy nghĩ và hành động như thế nào? Cần có những điều kiện gì để tuổi trẻ thực hiện yêu cầu mà vấn đề nêu ra?...). Với từng luận điểm, cần dùng lí lẽ và bằng chứng phù hợp để lập luận nhằm tạo nên sức thuyết phục của bài viết. – Bình luận về sự đúng đắn, thiết thực của vấn đề, bác bỏ ý kiến trái ngược để củng cố quan điểm của mình. – Định hướng hành động của bản thân sau khi nhận thức về vấn đề. |
|
Kết bài |
Khái quát lại ý nghĩa của vấn đề, liên hệ với đời sống thực tại, rút ra bài học cho bản thân. |
e. Viết bài văn nghị luận về vai trò của văn học với tuổi trẻ
|
Phần |
Nội dung |
|
Mở bài |
Giới thiệu vấn đề |
|
Thân bài |
– Giải thích từ ngữ, khái niệm để làm rõ bản chất vấn đề cần bàn luận. - Trình bày các khía cạnh của vấn đề (Đó là tác phẩm nào? Nội dung chính của tác phẩm là gì? Hình thức nghệ thuật của tác phẩm có gì đặc sắc? Tác phẩm đã để lại trong tâm hồn em ấn tượng sâu đậm như thế nào? Vì sao tác phẩm ấy lại có tác động mạnh mẽ đến tâm hồn em? Tác phẩm ấy đã làm thay đổi nhận thức, hành động, suy nghĩ, tình cảm,… của em như thế nào?). Với từng luận điểm, cần dùng lí lẽ và bằng chứng phù hợp để lập luận nhằm tạo nên sức thuyết phục của bài viết. – Bình luận về sự đúng đắn, thiết thực của vấn đề, bác bỏ ý kiến trái ngược để củng cố quan điểm của mình. – Định hướng hành động của bản thân sau khi nhận thức về vấn đề. |
|
Kết bài |
Khái quát lại ý nghĩa của vấn đề, liên hệ với đời sống thực tại, rút ra bài học cho bản thân. |
B. BÀI TẬP
1. Phần đọc hiểu
* Văn bản Chuyện chức phán sự đền Tản Viên
Câu 1: Giá trị nội dung của tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên - Nguyễn Dữ là gì?
Câu 2: Tính cách của Ngô Tử Văn được thể hiện qua những hành động như thế nào?
* Văn bản Muối của rừng
Câu 3: Vì sao ông Diểu sợ hãi “kinh hoàng” đến mức phải chạy trốn?
Câu 4: Đặc sắc nghệ thuật của văn bản là gì?
* Văn bản Chiếc thuyền ngoài xa
Câu 5: Truyện Chiếc thuyền ngoài xa tiêu biểu cho phong cách nào của tác giả Nguyễn Minh Châu?
Câu 6: Giá trị nội dung của Chiếc thuyền ngoài xa là?
* Văn bản Quan thanh tra
Câu 7: Thị trưởng phản ứng như thế nào trước khi bức thư được đọc?
Câu 8: Thông điệp của đoạn trích là gì?
* Văn bản Thực thi công lý
Câu 9: Tình huống kịch trong đoạn trích là gì?
Câu 10: Đỉnh điểm của xung đột trong đoạn trích diễn ra khi nào?
* Văn bản Loạn đến nơi rồi
Câu 11: Câu nói “Loạn, loạn đến nơi rồi!” thể hiện suy nghĩ, tâm trạng gì của ông Đoàn Xoa?
Câu 12: Nhân vật Quân có thái độ gì khi gọi ông Xoa là “ông duy vật”?
* Văn bản Nhật kí Đặng Thùy Trâm
Câu 13: Tính phi hư cấu trong đoạn trích Nhật kí Đặng Thùy Trâm được thể hiện ở yếu tố nào?
* Văn bản Khúc tráng ca nhà giàn
Câu 14: Khu vực Ba Kè có gì đặc biệt?
* Văn bản Quyết định khó khăn nhất
Câu 15: Vì sao Đại tướng quyết định triệu tập Đảng ủy Mặt trận họp gấp?
* Văn bản Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Câu 16: “Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ” cho thấy điều gì?
* Văn bản Việt Bắc
Câu 17: Việc sử dụng cặp đại từ xưng hô mình – ta có tác dụng gì?
* Văn bản Lưu biệt khi xuất dương
Câu 18: Hình ảnh kì vĩ của bậc nam tử trong 4 câu thơ đầu được vẽ trên một tấm phông rất kì vĩ, tương xứng, đó là tấm phông nào?
* Văn bản Văn học và tác dụng chiều sâu trong việc xây dựng nhân cách văn hóa con người
Câu 19: Các kiến nghị của tác giả liên quan đến đối tượng nào?
2. Phần tiếng Việt
a. Ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật
Câu 1: Trong một buổi phỏng vấn xin việc, bạn nên sử dụng ngôn ngữ nào?
Câu 2: Khi viết đơn xin nghỉ học, học sinh nên sử dụng ngôn ngữ nào?
Câu 3: Khi viết thư cho bạn thân, người viết nên sử dụng ngôn ngữ nào?
Câu 4: Câu: Tôi xin phép được bày tỏ ý kiến của mình. Sử dụng loại ngôn ngữ nào
Câu 5: Đặt 1 câu sử dụng ngôn ngữ trang trọng
b. Lỗi logic, lỗi câu mơ hồ và cách sửa
Câu 6: Chỉ ra lỗi sai của câu sau: Việc làm kịp thời này lẽ ra phải được tiến hành từ tháng trước.
Câu 7: Sửa lại câu sau để chỉ hiểu được 1 nghĩa: Bầu trời in xuống dòng sông xanh ngắt một màu
Câu 8: Xác định lỗi logic của câu sau: “Là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, Vội vàng của Xuân Diệu như một bản tuyên ngôn về cách sống của cái tôi cá nhân”.
c. Biện pháp tu từ nghịch ngữ
Câu 9: Xác định nghịch ngữ trong câu sau:
Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm dậy để vồ lấy thuyền.
Câu 10: Xác định nghịch ngữ trong câu sau:
Tôi xin chịu một hình phạt êm đềm: Đôi môi tôi như hai kẻ hành hương rụt rè xin sẵn sàng xóa vết bàn tay thô bạo kia bằng một cái hôn trìu mến.
Câu 11: Dấu hiệu nhận biết nghịch ngữ trong câu sau:
Ông hứa thế, giả thử cứ cho rằng một vị Toàn quyền Đông Dương mà lại biết giữ lời hứa đi chăng nữa, thì chúng ta vẫn được phép tự hỏi liệu quan Toàn quyền Va-ren sẽ “chăm sóc” vụ ấy vào lúc nào và ra làm sao?
Câu 12: Xác định nghịch ngữ trong câu sau: Thôi! Tôi đã nhất định... nói có vong hồn ông Đoan với ông Phán nhà tôi chứng giám cho, tôi đã nhất định thủ tiết với hai ông!
Câu 13: Xác định nghịch ngữ trong câu sau: Trong lúc ấy ông nhà báo cấp tiến với xã hội và bảo thủ với gia đình vội vàng lấy bút máy và sổ tay ra ghi chép, coi những lời lẽ quý hóa ấy tựa hồ bật ở miệng một vĩ nhân mà ra…
Câu 14: Phân tích tác dụng của nghịch ngữ trong đoạn thơ sau:
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
Câu 15: Phân tích hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng nghịch ngữ trong câu: Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia; sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.
3. Phần làm văn
a. Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện
Đề 1: Viết bài văn nghị luận so sánh truyện Hoàng tử bé của Ăng-toan đơ Xanh-tơ - Ê-xu-pe-ri và Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ Nguyễn Ngọc Thuần
Đề 2: Viết bài văn nghị luận so sánh Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và Vợ nhặt của Kim Lân
Đề 3: Viết bài văn nghị luận so sánh Thời thơ ấu của Mác-xim Go-rơ-ki và Những ngày thơ ấu Nguyên Hồng
Đề 4: Viết bài văn nghị luận so sánh truyện Lão Hạc và Chí Phèo
Đề 5: Viết bài văn nghị luận so sánh truyện Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù
b. Viết báo cáo kết quả của bài tập dự án
Đề 1: Viết báo cáo nghiên cứu về vấn đề nghiện mạng xã hội hiện nay
Đề 2: Viết báo cáo nghiên cứu về Lịch sử, văn hóa, xã hội và giáo dục người Chăm ở Việt Nam
Đề 3: Viết báo cáo nghiên cứu về kiến trúc Hoàng Thành Thăng Long
c. Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm kí
Đề 1: So sánh tác phẩm Nhật ký Đặng Thùy Trâm và Một lít nước mắt
Đề 2: So sánh hình tượng sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” và sông Hương trong bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông”
d. Viết bài nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ
Đề 1: Có câu nói: “Cứ sai đi vì cuộc đời cho phép” nhưng lại có ý kiến cho rằng “Không nên coi sai lầm là phép thử cho cuộc đời của bạn”. Viết bài văn nêu ý kiến của bạn về 2 ý kiến trên
Đề 2: Viết bài văn nghị luận nêu quan điểm về sự cống hiến của tuổi trẻ với tổ quốc
Đề 3: Viết bài văn nghị luận về vấn đề sống có ích
Đề 4: Viết bài văn nghị luận về việc sống theo sở thích cá nhân và sống để phụng sự xã hội của giới trẻ
e. Viết bài nghị luận về vai trò của văn học với tuổi trẻ
Đề 1: Viết bài nghị luận về thơ văn với việc bồi đắp tâm hồn thế hệ trẻ
C. LỜI GIẢI CHI TIẾT
1. Phần đọc hiểu
Câu 1:
Phương pháp
Đọc kĩ tác phẩm
Lời giải chi tiết
Giá trị nội dung của tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên - Nguyễn Dữ là: Đề cao tinh thần khẳng khái, cương trực, dám đấu tranh chống lại cái ác trừ hại cho dân, thể hiện niềm tin công lý, chính nghĩa nhất định chiến thắng gian tà.
Câu 2:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Tính cách khẳng khái nóng nảy của Ngô Tử Văn được thể hiện qua những hành động:
- Sự tức giận trước việc “hưng yêu tác quái” của tên hung thần và hành động đốt đền trừ hại cho dân
- Thái độ điềm nhiên không khiếp sợ trước những lời đe dọa của tên hung thần. Thái độ cứng cỏi, bất khuất trước Diêm Vương đầy quyền lực
- Sự gan dạ trước bọn quỷ dạ xoa nanh ác và quang cảnh đáng sợ nơi cõi âm
Câu 3:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Ông Diểu sợ hãi “kinh hoàng” đến mức phải chạy trốn vì chứng kiến cảnh khỉ con rơi xuống vực cùng tiếng rú thê thảm, “trong kí ức của ông chưa hề có tiếng rú nào tương tự thế này”.
Câu 4:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết, biện pháp nghệ thuật nổi bật
Lời giải chi tiết
- Viết truyện ngắn tinh tế và hấp dẫn
- Tình tiết truyện lôi cuốn
- Xây dựng hình tượng nhân vật đặc sắc, nghệ thuật ẩn dụ đầy tinh tế
Câu 5:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản và nhớ lại kiến thức về phong cách sáng tác của tác giả
Lời giải chi tiết
Truyện in đậm phong cách tự sự - triết lí của Nguyễn Minh Châu, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai.
Câu 6:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Giá trị nội dung:
- Khát vọng tìm kiếm, phát hiện, tôn vinh những vẻ đẹp tiềm ẩn của con người.
- Đề cao vẻ đẹp của một cốt cách nghệ sĩ mẫn cảm, đầy chiêm nghiệm lẽ đời để rút ra những triết lí nhân sinh sâu sắc, đặt ra những vấn đề có ý nghĩa với mọi thời, mọi người
Câu 7:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Thị trưởng ngạc nhiên, không thể tin thậm chí tức giận, đòi đày chủ Bưu vụ đi Xi-bia trước khi bức thi được đọc
+ “ Sao ông lại dám làm thế?.... […] Sao ông lại dám bóc thư của một vị quan lớn được ủy nhiệm như vậy”
+ “ Sao ông lại dám gọi Ngài là chẳng phải ông cũng chẳng phải thằng”
+ “Ông phải biết Ngài cưới con gái tôi, tôi sẽ trở thành quan to có uy quyền, tôi sẽ đày ông đi Xi- bia, rõ không?”
Câu 8:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết được tác giả gửi gắm và rút ra thông điệp
Lời giải chi tiết
Đoạn trích “Quan thanh tra” của Gogol đã vạch trần bản chất của bộ máy quan chức cồng kềnh, mục nát dưới chế độ Sa hoàng. Đồng thời, đoạn trích đã châm biếm, phê phán những thói hư tật xấu, những góc khuất của xã hội. Từ đó, phản ánh hiện thực xã hội bất công, phân chia nhiều tầng lớp trong xã hội
Câu 9:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Tình huống kịch: Sai-lốc kiện An-tô-ni-ô ra tòa đòi thực hiện hình phạt lấy một cân thịt trên cơ thể An-tô-ni-ô. Poóc-xi-a yêu cầu Sai-lốc khoan hồng nhưng Sai-lốc không chấp nhận; yêu cầu thực thi công lý và theo các điều khoản pháp luật.
Câu 10:
Phương pháp
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết
Đỉnh điểm của xung đột là khi Sai- lốc biết rằng mình phải khoan hồng với vụ kiện tại phiên tòa xét xử; yêu cầu đòi hỏi công lý và thi hành các điều khoản của việc văn kiện.
Câu 11:
Phương pháp
Đọc kĩ câu nói, xác định kiểu câu và nêu tác dụng
Lời giải chi tiết
Câu nói “Loạn, loạn đến nơi rồi!” đã thể hiện tâm trạng tức giận, bàng hoàng không thể tin nổi về việc người dân đi khoán chui. Ông nghĩ rằng việc làm đấy của người dân là làm cho lợi ích của cá nhân họ, không phải là vì lợi ích của hợp tác, trái ngược với nền xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ.
Câu 12:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Khi gọi ông Xoa là “ ông duy vật”, Quân đã thể hiện thái độ mỉa mai, châm biến với lối suy nghĩ duy ý chí, lạc hậu, hạn hẹp của ông Xoa.
Câu 13:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về tính phi hư cấu trong văn bản
Lời giải chi tiết
Tính phi hư cấu được thể hiện ở những sự kiện có thực (về thời gian, địa điểm, …) mà người viết đã trực tiếp tham gia và chứng kiến. Trong đoạn trích Nhật kí Đặng Thùy Trâm
Câu 14:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Khu vực Ba Kè mặc dù không có đảo chìm nhưng có độ sâu vừa đủ để xây dựng các nhà giàn vây bọc lấy nhau, đủ sức tạo thành thế trận giữ chủ quyền đất nước những khoảng san hô quý giá mà tiềm ẩn quanh đó là mỏ dầu, túi khí.
Câu 15:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Đại tướng quyết định triệu tập Đảng ủy Mặt trận họp gấp vì muốn thay đổi phương án chiến đấu từ phương án "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc".
Câu 16:
Phương pháp
Đọc kĩ câu văn
Đối chiếu với chỉnh thể toàn văn bản
Lời giải chi tiết
“Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ”
- Người nông dân trở thành người nghĩa sĩ, yếu tố thời gian phản ánh sự chuyển biến, sự vùng dậy đấu tranh mau lẹ của người dân yêu nước
- Hoàn cảnh đất nước bị Pháp xâm lược và sự phản ứng mạnh mẽ đấu tranh chống trả của nhân dân
Câu 17:
Phương pháp
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý nhịp điệu và tính dân ca
Lời giải chi tiết
Cách xưng hô mình – ta:
- Gợi nghĩa tình thân thiết, gắn bó
- Là cách gọi quen thuộc trong ca dao, dân ca
→ Tạo không khí trữ tình, cảm xúc
Câu 18:
Phương pháp
Đọc kĩ bài thơ
Lời giải chi tiết
Tấm phông Không gian và thời gian kì vĩ
Câu 19:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Các kiến nghị của tác giả liên quan đến đối tượng:
- Trẻ em: thói quen đọc sách ngay trong thời nhỏ tuổi
- Phụ huynh: thấy được nguy hại của việc các em suốt ngày ngồi trước màn hình xem truyền hình,.. và không mó đến sách
- Nhà xuất bản sách: quan tâm đến hình thức của sách
- Nhà nước: sử dụng truyền hình để tuyên truyền cho sách
2. Phần tiếng Việt
Câu 1:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật
Lời giải chi tiết
Ngôn ngữ trang trọng
Câu 2:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật
Lời giải chi tiết
Ngôn ngữ trang trọng
Câu 3:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật
Lời giải chi tiết
Ngôn ngữ thân mật
Câu 4:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật
Lời giải chi tiết
Ngôn ngữ trang trọng
Câu 5:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật
Lời giải chi tiết
Thưa quý khách, xin mời vào trong
Câu 6:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về lỗi logic, lỗi câu mơ hồ và cách sửa
Lời giải chi tiết
Câu có sự mâu thuẫn giữa các ý. Đã nói kịp thời thì không thể nói lẽ ra phải được tiến hành trước đó, hoặc nếu đã nói lẽ ra phải tiến hành từ trước đó thì không thể cho là kịp thời
Câu 7:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về lỗi logic, lỗi câu mơ hồ và cách sửa
Lời giải chi tiết
Bầu trời xanh ngắt một màu in bóng xuống dòng sông
Câu 8:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về lỗi logic, lỗi câu mơ hồ và cách sửa
Lời giải chi tiết
Đặt các đối tượng không cùng cấp độ trong quan hệ đồng đẳng
Câu 9:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nghịch ngữ
Lời giải chi tiết
Nghịch ngữ: Ầm ầm mà quạnh hiu
Câu 10:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nghịch ngữ
Lời giải chi tiết
Nghịch ngữ: Hình phạt êm đềm
Câu 11:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nghịch ngữ
Lời giải chi tiết
Có sự kết hợp dường như phi lý giữa các từ mang nghĩa đối chọi ngay trong 1 cụm từ
Câu 12:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nghịch ngữ
Lời giải chi tiết
Nghịch ngữ: Thủ tiết
Câu 13:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nghịch ngữ
Lời giải chi tiết
Cấp tiến với xã hội và bảo thủ với gia đình
Câu 14:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nghịch ngữ
Lời giải chi tiết
Thể hiện quy luật của tình yêu khi làm nổi bật nỗi nhớ trong trái tim người con gái đang yêu – không chỉ tồn tại trong ý thức mà còn len lỏi vào cõi vô thức, xâm nhập cả vào giấc mơ
Câu 15:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nghịch ngữ
Lời giải chi tiết
Làm nổi bật khí phách và tinh thần quả cảm, ý chí quyết tâm bảo vệ đất nước của các nghĩa sĩ nông dân
3. Phần làm văn
a. Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện
Đề 1: Viết bài văn nghị luận so sánh truyện Hoàng tử bé của Ăng-toan đơ Xanh-tơ - Ê-xu-pe-ri và Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ Nguyễn Ngọc Thuần
I. Mở bài: Giới thiệu hai tác phẩm truyện và vấn đề so sánh
II. Thân bài:
1. Nội dung 2 tác phẩm:
- Tác phẩm “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ”: Kể về một cậu bé được bố dạy cho những bài học quý giá.
- Tác phẩm “Hoàng tử bé”: Kể về hành trình đi tìm ý nghĩa cuộc sống của chàng phi công khi chàng vô tình gặp được Hoàng tử bé
2. Điểm chung 2 tác phẩm:
- Cả hai đều mang sự tinh tế và sắc sảo trong việc truyền đạt thông điệp. Tuy nhiên, "Hoàng tử bé" tập trung vào mặt nội tâm của con người, trong khi " Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ" tập trung vào khía cạnh xã hội và cuộc sống hiện thực.
3. Điểm khác nhau giữa 2 tác phẩm:
Tuy cùng thuộc thể loại truyện ngắn, "Hoàng tử bé" có một phong cách viết tưởng tượng và lãng mạn, trong khi "Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ" lại có sự chân thực và hiện thực hơn. Cả hai tác phẩm đều có sức mạnh làm cho độc giả suy ngẫm và khám phá sâu hơn về bản thân và thế giới xung quanh.
III. Kết bài:
Tóm lại, "Hoàng tử bé" và "Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ" đều là những tác phẩm văn học đáng giá, có sức lôi cuốn và ý nghĩa sâu sắc. Mỗi tác phẩm đều có cách tiếp cận và thông điệp riêng, nhưng cả hai đều góp phần làm sáng tỏ và làm giàu thêm văn chương của nền văn học thế giới và văn học Việt Nam.
Đề 2: Viết bài văn nghị luận so sánh Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và Vợ nhặt của Kim Lân
I. Mở bài: Giới thiệu hai tác phẩm truyện và vấn đề so sánh
II. Thân bài:
1. Số phận của người lao động trong 2 tác phẩm:
a. Truyện "Vợ chồng A Phủ" phản ánh số phận đau khổ, tủi nhục của những người dân lao động dưới ách thống trị của cường quyền và thần quyền ở vùng miền núi Tây Bắc. Chứng minh qua cuộc đời nhân vật Mị và A Phủ
b. Truyện "Vợ nhặt" phản ánh số phận khốn khổ, rẻ mạt của con người giữa thời đói
2. Vẻ đẹp tâm hồn của con người qua 2 tác phẩm:
a. Trong "Vợ chồng A Phủ", Tô Hoài đã tập trung miêu tả sức sống mãnh liệt, khát vọng tự do cháy bỏng và khả năng cách mạng ở những con người nghèo khổ
b. Trong "Vợ nhặt", Kim Lân đã cho thấy:
- Dù hoàn cảnh nghèo đói khốn cùng, con người vẫn yêu thương, đùm bọc nhau
- Khao khát hạnh phúc, niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng
3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
4. So sánh
a. Giống nhau:
- Lấy bối cảnh những năm 1945 – 1954
- Phản ánh số phận bi thảm đồng thời cũng khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của người lao động
- Tố cáo xã hội thực dân phong kiến chà đạp, đẩy con người vào đau khổ.
- Thể hiện tinh thần nhân đạp sâu sắc: trân trọng vẻ đẹp tâm hồn, khát vọng chính đáng của con người, có niềm tin vào sự đổi đời của con người.
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật rất tài tình, tinh tế.
b. Khác nhau:
- “Vợ chồng A Phủ” tập trung phản ánh:
+ Số phận: người lao động bị áo bức, bóc lột
+ Vẻ đẹp: sức sống mãnh liệt, khát vọng tự do.
- “Vợ nhặt” tập trung phản ánh:
+ Số phận: rẻ rúng vì đói nghèo.
+ Vẻ đẹp: khát vọng sống, ước mơ hạnh phúc.
III. Kết bài
- Nhấn mạnh: hai tác phẩm bên cạnh những nét tương đồng vẫn có những nét riêng biệt, thể hiện phong cách nghệ thuật của tác giả.
- Khẳng định giá trị hiện thực và nhân đạo to lớn của hai tác phẩm cũng như tài năng của hai tác giả.
Đề 3: Viết bài văn nghị luận so sánh Thời thơ ấu của Mác-xim Go-rơ-ki và Những ngày thơ ấu Nguyên Hồng
I. Mở bài
- Giới thiệu hai tác phẩm: "Những ngày thơ ấu" của Nguyên Hồng và "Thời thơ ấu" của Mác-xim Go-rơ-li.
- Nêu mục đích và cơ sở so sánh: tìm hiểu những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai tác phẩm về đề tài, nhân vật, cách tiếp cận và giá trị nghệ thuật.
II. Thân bài
1. Thông tin chung về từng tác phẩm
- "Những ngày thơ ấu" (Nguyên Hồng)
+ Hoàn cảnh ra đời: Giai đoạn đầu thế kỷ 20, trong bối cảnh xã hội Việt Nam nhiều biến động.
+ Đề tài: Ký ức tuổi thơ, gia đình, tình bạn và khát vọng tự do.
+ Chủ đề: Tìm kiếm bản sắc và con người trong hoàn cảnh khó khăn.
+ Nhân vật: Nhân vật chính là Hồng, thể hiện những cảm xúc, suy tư sâu sắc.
+ Vị trí trong văn học: Được coi là tác phẩm tiêu biểu của văn học hiện thực phê phán.
- "Thời thơ ấu" (Mác-xim Go-rơ-li)
+ Hoàn cảnh ra đời: Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, phản ánh đời sống xã hội Nga.
+ Đề tài: Ký ức tuổi thơ, tình thương gia đình, và những khát vọng tự do.
+ Chủ đề: Tìm kiếm ánh sáng trong những điều tối tăm của cuộc sống.
+ Nhân vật: Nhân vật chính là cậu bé trong hoàn cảnh khó khăn, thể hiện tâm hồn nhạy cảm.
+ Vị trí trong văn học: Là một tác phẩm nổi bật trong văn học Nga với phong cách chân thực.
2. Những điểm tương đồng giữa hai tác phẩm
- Cả hai tác phẩm đều viết về tuổi thơ, khai thác ký ức và cảm xúc của nhân vật.
- Đều đề cập đến những khó khăn, thử thách trong cuộc sống, phản ánh khát vọng tự do và hạnh phúc.
- Tác giả đều có cái nhìn sâu sắc về tâm hồn trẻ thơ, thể hiện sự đồng cảm với nhân vật.
- Nguyên nhân: Hai tác giả đều chịu ảnh hưởng từ bối cảnh xã hội, văn hóa và có những trải nghiệm tương đồng về tuổi thơ.
3. Những điểm khác biệt giữa hai tác phẩm
- Về bối cảnh văn hóa: "Những ngày thơ ấu" phản ánh xã hội Việt Nam với những biến động chính trị, trong khi "Thời thơ ấu" lại tập trung vào đời sống xã hội Nga.
- Cách tiếp cận nhân vật: Nguyên Hồng thường thể hiện qua những câu chuyện cụ thể, gần gũi; còn Go-rơ-li lại khắc họa qua những tình huống, cảm xúc sâu sắc hơn.
- Giọng văn và phong cách: Nguyên Hồng có giọng văn trữ tình, đậm chất tự sự; Go-rơ-li mang phong cách hiện thực hơn, chân thực và sắc nét hơn.
4. Đánh giá chung
- Cả hai tác phẩm đều có giá trị văn học cao, thể hiện những khát vọng nhân văn sâu sắc.
- Mỗi tác phẩm có phong cách và cảm hứng riêng, thể hiện sự độc đáo trong cách tiếp cận và phản ánh cuộc sống.
III. Kết bài
- Nêu ý nghĩa của việc đánh giá các tác phẩm truyện trong tương quan so sánh: Giúp chúng ta hiểu rõ hơn về giá trị nghệ thuật, nhân sinh quan của mỗi tác giả và sự phong phú của văn học thế giới.
Đề 4: Viết bài văn nghị luận so sánh truyện Lão Hạc và Chí Phèo
I. Mở bài
Giới thiệu về tác giả và 2 tác phẩm.
II. Thân bài
|
Phương diện cần phân tích |
Lão Hạc |
Chí phèo |
Nhận xét, đánh giá |
|
Cốt truyện |
Lão Hạc, nông dân nghèo, đến nối phải bán chó vàng vì túng quẫn. Bệnh tật, lão lừa mọi người ăn bả chó tự tử để giữ tiền cho con. Lão chết trong đau đớn và tủi nhục. |
Chí Phèo, đứa trẻ mồ côi, lớn lên bị xã hội tha hóa thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Bị đẩy vào con đường lưu manh, cờ bạc, Chí Phèo trở thành tay sai cho cường hào ác bá. Tuy khát khao lương thiện, Chí Phèo không thể thoát khỏi kiếp sống tăm tối. Sau khi được Thị Nở yêu thương, Chí Phèo thức tỉnh nhưng bi kịch thay, Chí Phèo không thể trở lại cuộc sống bình thường và đã tự kết liễu cuộc đời mình. |
Chí Phèo và Lão Hạc đều là những tác phẩm tiêu biểu cho văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, xoay quanh cuộc đời bi kịch của người nông dân trong xã hội thực dân phong kiến thối nát. |
|
Hệ thống nhân vật |
Nhân vật chính: Lão Hạc: Người nông dân nghèo khổ, cô đơn, góa vợ, chỉ có chú chó Vàng làm bạn. Nhân vật phụ: - Cậu Vàng: Chú chó của lão Hạc, bị lão bán đi vì túng quẫn. - Ông giáo: Người hàng xóm tốt bụng, thương lão Hạc và giúp đỡ lão lúc hoạn nạn. |
Nhân vật chính: - Chí Phèo: Nông dân lương thiện bị tha hóa thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. - Thị Nở: Người đàn bà xấu xí, ngốc nghếch Nhân vật phụ: - Bá Kiến: Cường hào ác bá, đẩy Chí Phèo vào con đường lưu manh. |
Hệ thống nhân vật trong cả hai truyện đều được xây dựng đa dạng, điển hình, góp phần làm sáng tỏ nội dung và chủ đề tác phẩm. Nhân vật chính đều là những người nông dân lương thiện, chất phác nhưng bị đẩy vào bi kịch bởi xã hội bất công, tàn bạo. Các nhân vật phụ đều đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ tính cách nhân vật chính và hiện thực xã hội. |
|
Ngôi kể, điểm nhìn trần thuật |
Là người kể chuyện, không tham gia trực tiếp vào câu chuyện. |
Nhân vật "tôi": Là người kể chuyện, đồng thời là nhân chứng cho bi kịch của Chí Phèo. |
Điểm nhìn trần thuật được sử dụng linh hoạt và hiệu quả trong cả hai tác phẩm Chí Phèo và Lão Hạc. Mỗi điểm nhìn đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, góp phần tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm và thể hiện giá trị hiện thực, nhân đạo sâu sắc. |
|
Ngôn ngữ, giọng điệu |
Ngôn ngữ: - Giản dị, mộc mạc: Phù hợp với hoàn cảnh và tính cách nhân vật. - Sử dụng nhiều từ ngữ biểu cảm: Thể hiện tâm trạng của nhân vật. - Có nhiều chi tiết miêu tả tâm lý: Giúp người đọc hiểu rõ nội tâm nhân vật. Giọng điệu: - Xót xa, thương cảm: Thể hiện sự đồng cảm với bi kịch của nhân vật lão Hạc. - Trầm lắng, buồn bã: Thể hiện tâm trạng nuối tiếc cho số phận con người. - Có sức gợi cao: Khiến người đọc suy ngẫm về cuộc sống và giá trị của con người. |
Ngôn ngữ: - Giản dị, mộc mạc: Phù hợp với hoàn cảnh và tính cách nhân vật. - Sử dụng nhiều từ ngữ địa phương: Thể hiện sự gần gũi với cuộc sống của người nông dân. - Có nhiều chi tiết miêu tả: Giúp người đọc hình dung rõ ràng về nhân vật và sự kiện. Giọng điệu: - Chế giễu, mỉa mai: Thể hiện thái độ căm phẫn trước xã hội bất công, tàn bạo. - Đau xót, thương cảm: Thể hiện sự đồng cảm với bi kịch của nhân vật Chí Phèo. - Lãng mạn, trữ tình: Thể hiện niềm tin vào bản chất tốt đẹp của con người. |
Ngôn ngữ và giọng điệu được sử dụng tinh tế và hiệu quả trong cả hai tác phẩm Chí Phèo và Lão Hạc. Mỗi tác phẩm đều có những đặc điểm riêng về ngôn ngữ và giọng điệu, góp phần tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm và thể hiện giá trị hiện thực, nhân |
III. Kết bài
Đánh giá lại vấn đề: tác giả xây dựng hình tượng nhân vật của mình khác nhau, nhưng đều có điểm chúng trong tư tưởng nhân đạo.
Đề 5: Viết bài văn nghị luận so sánh ánh sáng và bóng tối trong truyện Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù
1. Mở bài
- Sơ lược về phong cách sáng tác của hai nhà văn, đi vào chủ đề chính.
2. Thân bài
a. Hai đứa trẻ:
Ánh sáng:
- Phố huyện: Ánh hoàng hôn đỏ rực, những nguồn sáng leo lét bé nhỏ xuất phát từ ngọn đèn dầu của chị Tí, từ bếp lửa bập bùng tỏa sáng một vùng mờ mờ của bác Siêu, hay là những hột sáng, tia sáng lọt ra từ những khe cửa của những căn nhà trên phố huyện
=> Đem đến sự yếu ớt, ảm đạm của khu phố huyện, bộc lộ khung cảnh buồn bã ảm đạm nơi phố huyện nghèo, mà còn là biểu trưng cho những kiếp người tàn, đang sống lay lắt từng ngày.
- Đoàn tàu đêm: "toa đèn sáng trưng, chiếu cả xuống đường... đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng", thể hiện sự giàu có, sung túc, đưa ký ức của Liên về một thời tuổi thơ xa xăm mà chị đã từng có, không chỉ vậy nó còn là biểu tượng cho sự hy vọng, khát khao mãnh liệt, tiềm tàng về một cuộc đời tươi sáng hơn của người dân phố huyện, với ước mơ đổi đời.
Bóng tối:
- Bóng tối lan dần trong mắt Liên, đến hình ảnh "dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời", rồi cảnh bóng tối đen đặc đến tột cùng với hình ảnh "đường phố và các ngõ con chứa đầy bóng tối", "tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa".
=> Tất cả đều thể hiện sự u tịch, buồn bã và yên ắng của phố huyện nghèo khi trời đêm sập xuống.
*Tiểu kết:
Sự xuất hiện của những thứ ánh sáng yếu ớt, leo lét thành từng chòm, từng hột, từng vệt,... giữa đêm tối mịt mùng nơi phố huyện là một sự tương phản sâu sắc, biểu trưng cho những kiếp người tàn, lầm lũi, nhỏ bé nơi phố huyện, biểu trưng cho cuộc sống chán nản, nghèo khó, và bế tắc, ngột ngạt của những con người nơi đây.
b. Chữ người tử tù:
*Ánh sáng:
- "ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc", "lửa đóm cháy rừng rực", ngọn đèn nến trên án của viên quản ngục, rồi thì ánh sáng nhấp nháy của những vì tinh tú, của ngôi sao Hôm,...
=> Tượng trưng cho vẻ đẹp nghệ thuật cao quý và tâm hồn trong sáng, thiện lương của con người, chúng tồn tại ngay cả trong những hoàn cảnh tối tăm dơ bẩn nhất, chiếu sáng tâm hồn của những con người có thiên lương là thứ ánh sáng trường tồn bất diệt và vô cùng mãnh liệt.
*Bóng tối:
- cảnh "trại giam tối om", "trời tối mịt" quạnh quẽ bao phủ lên người viên quản ngục trong đêm ông nhận được lệnh giam Huấn Cao, cảnh Huấn Cao cho chữ trong buồng giam chật hẹp ẩm thấp, đầy phân gián, phân chuột bừa bãi.
=> Mang ý nghĩa tả thực cảnh tù đày trong nhà lao của Huấn Cao mà suy rộng ra hơn nữa nó chính là biểu tượng cho sự bức bối, ngột ngạt, tối tăm của xã hội đương thời, cũng như của cái môi trường mà viên quản ngục đang làm việc và sinh sống.
* Tiểu kết:
- Ánh sáng và màu trắng tinh khôi của tấm lụa nổi bật trên cái nền đen tối, chật hẹp của nhà lao và ngược lại, từ đó suy ra mối tương quan rằng trong hoàn cảnh tối tăm, bẩn thỉu và tàn ác thì thiên lương, tâm hồn biệt nhưỡng liên tài của viên quản ngục, cũng như vẻ đẹp tâm hồn cao quý, cùng với nghệ thuật thanh cao được đẩy lên một cách rõ rệt, gây ấn tượng sâu sắc với người đọc.
c. Giống và khác:
*Giống:
- Sử dụng các chi tiết ánh sáng và bóng tối một cách dày đặc trên tác phẩm của mình.
- Ánh sáng tượng trưng cho vẻ đẹp trong tâm hồn con người, sự thanh cao thuần khiết, niềm hy vọng tốt đẹp, còn bóng tối lại tượng trưng cho sự bế tắc, khốn khổ chật hẹp và cái xấu xa tiêu cực trong xã hội.
- Ánh sáng và bóng tối đều được xây dựng ở thế giao tranh kịch liệt và gay gắt, với nghệ thuật tương phản đối lập rõ ràng.
*Khác:
- Hai đứa trẻ cách sử dụng nghệ thuật sáng tối của Thạch Lam thiên về khuynh hướng mềm mại, lãng mạn trữ tình, phảng phất sự u buồn, tịch liêu, trái lại trong Chữ người tử tù thì ánh sáng và bóng tối được khắc họa tạo hình sắc nét, sống động và mạnh mẽ.
- Ánh sáng ở Hai đứa trẻ được tác giả dựng lên một cách yếu ớt, lẻ tẻ, nhạt nhòa dường như bị màn đêm nuốt chửng. Chữ người tử tù ánh sáng và bóng tối được tác giả miêu tả ở thế cạnh tranh ngang bằng, kịch liệt, trong đó có vẻ ánh sáng được miêu tả một cách nổi bật, áp đảo bóng tối.
=> Từ đó suy ra thông điệp Thạch Lam muốn gửi gắm là sự vươn lên, vẻ đẹp sức sống tiềm tàng, niềm khát khao hy vọng tốt đẹp của những kiếp người nhỏ bé trong cuộc sống còn nhiều tối tăm, ảm đạm. Còn Nguyễn Tuân khẳng định chân lý vẻ đẹp thiên lương và tâm hồn thanh cao sẽ luôn thắng và tỏa sáng rực rỡ, gắn kết tâm hồn con người lại với nhau dù cho có ở điều kiện khắc nghiệt, tối tăm và bẩn thỉu đến thế nào.
III. Kết bài:
- Khẳng định đây đều là hai chi tiết nghệ thuật đặc sắc thể hiện rõ phong cách của hai nhà văn
b. Viết báo cáo kết quả của bài tập dự án
Đề 1: Viết báo cáo nghiên cứu về vấn đề nghiện mạng xã hội hiện nay
1. Đặt vấn đề
1.1. Mục đích
- Tìm hiểu về lượng thời gian sử dụng mạng xã hội Facebook của học sinh.
- Tìm hiểu về mục đích sử dụng mạng xã hội Facebook của học sinh.
- Tìm hiểu về những tác động tích cực của mạng xã hội Facebook đối với học sinh.
- Tìm hiểu về những tác động tiêu cực của mạng xã hội Facebook đối với học sinh.
1.2. Nhiệm vụ
- Mô tả thực trạng sử dụng Facebook của học sinh (mục đích sử dụng, thời gian sử dụng, thời điểm sử dụng, tần suất sử dụng, phương tiện truy cập,…)
- Phân tích ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội Facebook đến học tập của học sinh.
- Phân tích ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội Facebook đến đời sống của học sinh (các quan hệ xã hội).
1.3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của mạng xã hội Facebook đối với học sinh.
- Phạm vi nghiên cứu: 560 học sinh.
- Thời gian: Tháng 11 – Tháng 12 năm 2012.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
- Phương pháp đối chiếu so sánh
- Phương pháp tổng hợp, hệ thống
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Vai trò, vị trí của mạng Facebook trong đời sống con người.
2.2. Thực trạng sử dụng mạng xã hội Facebook của học sinh
2.3. Mục đích sử dụng mạng xã hội Facebook của học sinh.
2.3.1. Chia sẻ, cập nhật thông tin và hình ảnh
2.3.2 Giao lưu, kết nối bạn bè
2.3.3 Giải trí
2.4. Những tác động tích cực và tiêu cực của mạng xã hội Facebook đối với học sinh
2.4.1. Những tác động tích cực
2.4.2. Những tác động tiêu cực
2.5. Các biện pháp nâng cao ảnh hưởng tích cực của mạng Facebook đối với học sinh
3. Kết luận
4. Tài liệu tham khảo
Đề 2: Viết báo cáo nghiên cứu về Lịch sử, văn hóa, xã hội và giáo dục người Chăm ở Việt Nam
1. Đặt vấn đề
Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, lịch sử vương quốc Champa đã thu hút nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu, công bố thành sách, tạp chí.
2. Giải quyết vấn đề
+ Trước hết, là những ghi chép về Champa trong lịch sử Trung Quốc được tìm thấy trong bộ sử Hán thư, Lương sử, Cựu Đường thư, Tân Đường thư, Tống sử… Các nhà nghiên cứu đều dựa vào những nguồn sử liệu này để dựng lại lịch sử Lâm Ấp-Hoàn Vương-Chiêm Thành.
+ Những tư liệu lịch sử của Việt Nam liên quan đến Chiêm Thành có thể tìm thấy trong Đại Nam nhất thống chí, Đại Việt sử ký toàn thư và một số sử liệu của các triều đại Việt Nam từ Lý-Trần đến triều Nguyễn.
3. Kết luận
+ Tóm lại, các công trình nghiên cứu về lịch sử và nền văn minh Champa được xuất bản thành sách, báo và tạp chí rất đa dạng và phong phú, được các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu nhiều khía cạnh, lĩnh vực khác nhau.
Đề 3: Viết báo cáo nghiên cứu về kiến trúc Hoàng Thành Thăng Long
1. Đặt vấn đề
Như chúng ta đã biết, kinh thành Thăng Long luôn được gắn với một sự kiện lịch sử nổi tiếng đó là vào năm 1010, vua Lý Thái Tổ đã dời đô từ Hoa Lư đến Đại La và cho xây dựng kinh thành Thăng Long. Thời Hậu Lê, thành Thăng Long vẫn được coi là kinh đô, trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước.
2. Giải quyết vấn đề
+ Về lịch sử hình thành: Năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư đến Đại La và cho xây dựng kinh thành
+ Về vị trí: kinh thành Thăng Long tọa lạc ở phía Bắc Việt Nam và được giảm dần về diện tích qua các triều đại.
+ Về kiến trúc: trải qua thời gian và những biến cố của lịch sử, thành Thăng Long đã có nhiều thay đổi, biến dạng, nhưng đến nay vẫn còn thấy được cả di tích trên mặt đất, dưới lòng đất, di tích lịch sử cách mạng, di tích khảo cổ, di tích kiến trúc nghệ thuật
+ Trải qua thăng trầm lịch sử, chiến tranh, thuộc địa…Kinh thành Thăng Long vẫn nằm đó như một minh chứng của lịch sử.
3. Kết luận
+ Bài báo cáo đã chỉ ra được những đặc trưng của hoàng thành Thăng Long. Tuy nhiên vẫn còn nhiều điều cần được nghiên cứu để có cái nhìn sâu rộng hơn về khu di tích.
c. Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm kí
Đề 1: So sánh tác phẩm Nhật ký Đặng Thùy Trâm và Một lít nước mắt
I. Mở bài
1. Giới thiệu chung về hai tác phẩm, tác giả:
- Nhật ký Đặng Thùy Trâm của Đặng Thùy Trâm là một bác sĩ quân y người Việt Nam. Bà sinh năm 1942 tại Huế.
- Một lít nước mắt của Kito Aya là một cô gái người Nhật Bản. Aya sinh năm 1962 và mắc phải căn bệnh thoái hóa tiểu não khi mới 15 tuổi.
2. Nêu vấn đề nghị luận:
- So sánh hai tác phẩm về các phương diện: tác giả, người kể chuyện, thủ pháp nghệ thuật và giá trị nhân văn.
II. Thân bài
1. Tác giả và người kể chuyện
- Nhật ký Đặng Thùy Trâm:
+ Tác giả: Đặng Thùy Trâm, bác sĩ quân y người Việt Nam.
+ Người kể chuyện: Chính Đặng Thùy Trâm, ghi lại những trải nghiệm và cảm xúc trong chiến tranh.
- Một lít nước mắt:
+ Tác giả: Kito Aya, cô gái người Nhật Bản mắc bệnh thoái hóa tiểu não.
+ Người kể chuyện: Chính Kito Aya, ghi lại cuộc sống và cuộc đấu tranh với bệnh tật.
2. Thủ pháp nghệ thuật
- Nhật ký Đặng Thùy Trâm:
+ Miêu tả chân thực: Ghi chép chi tiết về cuộc sống và chiến tranh, tạo nên bức tranh sống động và chân thực.
+ Tự sự: Sử dụng ngôn ngữ tự sự để kể lại những trải nghiệm cá nhân, những suy nghĩ và cảm xúc sâu sắc.
+ Lồng ghép cảm xúc: Những dòng nhật ký chứa đựng nhiều cảm xúc, từ nỗi đau, sự mất mát đến niềm hy vọng và khát khao hòa bình.
- Một lít nước mắt:
+ Miêu tả chi tiết: Ghi chép chi tiết về cuộc sống hàng ngày và những khó khăn do bệnh tật, tạo nên bức tranh chân thực về cuộc sống của người bệnh.
+ Tự sự: Sử dụng ngôn ngữ tự sự để kể lại những suy nghĩ, cảm xúc và những nỗ lực vượt qua bệnh tật.
+ Lồng ghép cảm xúc: Nhật ký chứa đựng nhiều cảm xúc, từ nỗi đau, sự tuyệt vọng đến niềm hy vọng và khát khao sống.
- Nhận xét chung: Cả hai tác phẩm đều là nhật ký cá nhân, ghi lại những suy nghĩ, cảm xúc và trải nghiệm thực tế của tác giả. Điều này mang lại tính chân thực và sâu sắc cho câu chuyện, giúp người đọc cảm nhận được những khó khăn và nỗ lực của tác giả trong cuộc sống.
3. Giá trị nhân văn và lịch sử
- Nhật ký Đặng Thùy Trâm:
+ Giá trị lịch sử: Phản ánh chân thực cuộc sống và chiến tranh, là tài liệu lịch sử quý giá.
+ Giá trị nhân văn: Truyền tải thông điệp về lòng yêu nước, sự hy sinh và khát khao hòa bình.
- Một lít nước mắt:
+ Giá trị nhân văn: Truyền tải thông điệp về sự kiên cường, lòng dũng cảm và khát khao sống.
+ Giá trị cảm xúc: Gây xúc động mạnh mẽ và truyền cảm hứng cho người đọc về tinh thần vượt khó.
4. Nhận xét và đánh giá
- Nhật ký Đặng Thùy Trâm:
+ Là một tác phẩm quý giá, không chỉ phản ánh chân thực cuộc sống và chiến tranh mà còn thể hiện tinh thần yêu nước, sự hy sinh và lòng dũng cảm của người phụ nữ Việt Nam. Nhật ký của Đặng Thùy Trâm đã trở thành một tài liệu lịch sử quan trọng và là nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ.
+ Tác phẩm giúp người đọc hiểu rõ hơn về những khó khăn và hy sinh của những người lính và bác sĩ quân y trong chiến tranh, đồng thời truyền tải thông điệp về lòng yêu nước và khát khao hòa bình.
- Một lít nước mắt:
+ Là một tác phẩm cảm động và đầy nghị lực, kể về cuộc đấu tranh của một cô gái trẻ với căn bệnh hiểm nghèo. Nhật ký của Aya đã truyền cảm hứng cho nhiều người về tinh thần vượt khó và ý chí sống mạnh mẽ.
+ Tác phẩm giúp người đọc hiểu rõ hơn về những khó khăn mà người bệnh phải đối mặt, đồng thời truyền tải thông điệp về sự kiên cường, lòng dũng cảm và khát khao sống.
- Nhận xét chung: Cả hai tác phẩm đều mang lại những bài học quý giá và truyền cảm hứng mạnh mẽ cho người đọc. Mỗi tác phẩm đều có giá trị riêng và đáng để chúng ta trân trọng và học hỏi.
III. Kết bài
1. Khẳng định lại giá trị của hai tác phẩm:
- Cả hai tác phẩm đều mang lại những bài học quý giá và truyền cảm hứng mạnh mẽ cho người đọc.
+ Nhật ký Đặng Thùy Trâm: Thể hiện tinh thần yêu nước, sự hy sinh và lòng dũng cảm của một bác sĩ quân y trong chiến tranh. Bà luôn khát khao hòa bình và mong muốn đóng góp cho đất nước.
+ Một lít nước mắt: Kể về cuộc đấu tranh của Aya với căn bệnh thoái hóa tiểu não. Aya luôn nỗ lực sống tốt và không ngừng hy vọng, dù phải đối mặt với nhiều khó khăn và đau đớn.
2. Nêu cảm nhận cá nhân:
- Đánh giá cao sự chân thực và cảm xúc sâu sắc trong cả hai tác phẩm: Cả hai tác phẩm đều chứa đựng nhiều cảm xúc sâu sắc, từ nỗi đau, sự mất mát đến niềm hy vọng và khát khao sống. Những dòng nhật ký này đã truyền cảm hứng mạnh mẽ cho người đọc về tinh thần vượt khó và ý chí sống mạnh mẽ.
Đề 2: So sánh hình tượng sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” và sông Hương trong bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông”
I. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân và Người lái đò sông Đà
- Giới thiệu tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường và Ai đã đặt tên cho dòng sông
- Giới thiệu vấn đề nghị luận: vẻ đẹp của sông Hương, sông Đà, và về việc bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của quê hương, đất nước.
II. Thân bài
1. Nét tương đồng của 2 dòng sông:
a. Sông Đà và sông Hương đều được các tác giả miêu tả như một nhân vật trữ tình có tính cách với những vẻ đẹp đặc trưng riêng biệt, thể hiện tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương, đất nước.
b. Sông Đà và sông Hương đều mang nét đẹp của sự hùng vĩ, dữ dội.
- Vẻ đẹp hùng vĩ của sông Đà được thể hiện qua sự hung bạo và dữ dội của nó trên nhiều phương diện khác nhau cảnh trí dữ dội, âm thanh ghê rợn, đá sông Đà như đang bày trùng vi thạch trận.
- Khi chảy giữa lòng Trường Sơn, sông Hương chảy dữ dội tựa 1 bản trường ca của rừng già, tựa cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại….
c. Sông Đà và sông Hương đều có vẻ đẹp thơ mộng và trữ tình:
- Sông Đà: dáng sông mềm mại tựa mái tóc tuôn dài tuôn dài, màu nước thay đổi qua từng mùa, vẻ đẹp hoang sơ, cổ kính…
- Sông Hương: với dòng chảy dịu dàng và đắm say giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Sông Hương còn mang vẻ đẹp của người con gái ngủ mơ màng chờ người tình mong đợi đánh thức. Nó còn được ví như điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế…
d. Cả 2 đều được miêu tả qua ngòi bút tài hoa, uyên bác:
– Tài hoa: 2 dòng sông đều được miêu tả trên phương diện văn hóa, thẩm mĩ:
+ Sông Đà là nơi hội tụ 2 nét tiêu biểu, đặc trưng của thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ, uy nghiêm, dữ dội lại vừa trữ tình, thơ mộng.
+ Sông Hương là dòng sông của âm nhạc, dòng sông của thơ ca, của lịch sử gắn liền với những nét đặc sắc về văn hóa, với vẻ đẹp của người dân xứ Huế.
- Uyên bác: cả 2 tác giả đều vận dụng cái nhìn đa ngành, vận dụng kiến thức trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật để khắc họa hình tượng 2 dòng sông.
2. Nét độc đáo riêng trong từng hình tượng dòng sông:
a. Sông Đà:
- Trong đoạn trích, nhà văn tập trung tô đậm nét hung bạo, dữ dội của sông Đà giống như 1 kẻ thù hiểm độc và hung ác
→ Thể hiện rõ nhất qua hình ảnh nước dữ, gió dữ, đá dữ đặc biệt đá bày trùng vi thạch trận chực lấy đi mạng sống của con người. – Sông Đà được cảm nhận ở chính nét dữ dội, phi thường, khác lạ: tiếng thét của sông Đà như tiếng thét của ngàn con trâu mộng, đá trên sông đà mỗi viên đều mang 1 khuôn mặt hung bạo, hiếu chiến…
- Đặc biệt, tác giả miêu tả sự hung bạo của sông Đà để làm nổi bật sự tài hoa, tài trí của người lái đò. Lúc này đây, sông Đà như 1 chiến địa dữ dội. Và mỗi lần vượt thác của người lái đò là mỗi lần ông phải chiến đấu với thần sông, thần đá…
b. Sông Hương:
- Sông Hương được tô đậm ở nét đẹp trữ tình, thơ mộng, gợi cảm và nữ tính, luôn mang dáng vẻ của 1 người con gái xinh đẹp, mong manh có tình yêu say đắm.
- Sông Hương được miêu tả qua chiều sâu văn hóa xứ Huế, nó như người mẹ phù sa bồi đắp cho vùng đất giàu truyền thống văn hóa này từ bao đời nay.
- Sông Hương được cảm nhận qua lăng kính của tình yêu: thủy trình của sông Hương là thủy trình có ý thức tìm về người tình mong đợi. Khi chảy giữa Huế, sông Hương mềm hẳn đi như 1 tiếng ” vâng” không nói ra của tình yêu. Trước khi đổ ra cửa biển, sông Hương như người con gái dùng dằng chia tay người yêu, thể hiện 1 nỗi niềm vương vấn với 1 chút lẳng lơ kín đáo.
- Thông qua hình tượng sông Hương mang nét đẹp nữ tính, nhà văn thể hiện nét đẹp lãng mạn, trữ tình của đất trời xứ Huế
3. Trách nhiệm bản thân trong việc bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của quê hương, đất nước.
- Học sinh có thể trình bày quan điểm cá nhân dựa trên những gợi ý sau : Thế hệ trẻ cần có trách nhiệm bảo vệ cảnh quan đất nước qua hành động cụ thể như: yêu quý, bảo vệ môi trường, quảng bá thắng cảnh…
III. Kết Bài
- Đánh giá chung về đóng góp của hai nhà văn
- Qua vẻ đẹp tương đồng của 2 dòng sông, ta bắt gặp sự tương đồng độc đáo của 2 tâm hồn có tình yêu thiên nhiên tha thiết và niềm tự hào với vẻ đẹp của non sông đất nước Việt Nam.
- Mỗi nhà văn đều có 1 phong cách nghệ thuật độc đáo trong việc thể hiện hình tượng các dòng sông, giúp người đọc có những cách nhìn phong phú, đa dạng về vẻ đẹp của quê hương, đất nước mình.
d. Viết bài nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ
Đề 1: Có câu nói: “Cứ sai đi vì cuộc đời cho phép” nhưng lại có ý kiến cho rằng “Không nên coi sai lầm là phép thử cho cuộc đời của bạn”. Viết bài văn nêu ý kiến của bạn về 2 ý kiến trên
I. Mở bài: Dẫn dắt vấn đề
II. Thân bài:
1. Giải thích khái niệm “sai lầm:
- Là một quyết định hoặc một con đường ta chọn, ta thực hiện những không đem lại kết quả mong muốn.
- Sai lầm không phải là dấu chấm hết, nó sẽ là động lực thúc đẩy mỗi con người đạt được mục đích.
2. Phân tích 2 câu nói:
- Câu nói thứ nhất khiến con người được truyền cảm hứng để dũng cảm dấn thân, thậm chí là sáng tạo và liều lĩnh. Có thất bại mới trân quý thành công.
- Tuy nhiên chúng ta cũng không nên coi đó là “phép thử” như môn học, cứ sai lại thử, dẫn đến lãng phí thời gian, tuổi trẻ, tiền bạc, tri thức và có thể phung phí cả niềm tin vào chính mình.
- Không nên coi sai lầm là phép thử chỉ để biết kết quả đó là tồi tệ, mà hãy coi nó là một bài học để không còn lặp lại trong tương lai. Và cũng đừng lấy lí do được phép sai để bào chữa cho sự sai lầm vô tội vạ của mỗi cá nhân.
- Hai ý kiến trên nghe có vẻ như trái ngược nhau nhưng không phải vậy, chúng bổ sung thích đáng cho nhau để mang đến cho chúng ta những suy nghĩ và cách ứng xử khác nhau về “sai lầm” trong cuộc sống.
III. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề
Đề 2: Viết bài văn nghị luận nêu quan điểm về sự cống hiến của tuổi trẻ với tổ quốc
I. Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: sự cống hiến của thế hệ trẻ hiện nay. (Một trong những điều mà tuổi trẻ hiện nay cần phải lưu tâm chính là sự cống hiến của mình đối với quê hương đất nước.)
Lưu ý: Học sinh tự lựa chọn cách viết mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của bản thân mình.
II. Thân bài
1. Giải thích
Sự cống hiến của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước: trách nhiệm giữ gìn nền độc lập, tích cực xây dựng nước nhà ngày càng vững mạnh,
2. Phân tích
- Mỗi người khi học tập, lao động, tạo lập cho mình một cuộc sống tốt đẹp cũng chính là cống hiến cho tổ quốc.
- Yêu thương, giúp đỡ đồng bào, đoàn kết không chỉ giúp cho chúng ta được yêu thương, trân trọng trong mắt mọi người mà nó còn thể hiện sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.
3. Liên hệ bản thân
Là một học sinh trước hết chúng ta cần học tập thật tốt, nghe lời ông bà cha mẹ, lễ phép với thầy cô. Có nhận thức đúng đắn về việc giữ gìn và bảo vệ tổ quốc. Luôn biết yêu thương và giúp đỡ những người xung quanh,…
4. Phản đề
Tuy nhiên vẫn còn có nhiều bạn chưa có nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước, chỉ biết đến bản thân mình, coi việc chung là việc của người khác,… những người này đáng bị xã hội thẳng thắn lên án.
III. Kết bài
- Khái quát lại vấn đề nghị luận: sự cống hiến của tuổi trẻ đối với quê hương đất nước.
Mỗi chúng ta khi sinh ra được sống trong nền hòa bình đã là một sự may mắn, chính vì vậy chúng ta cần phải cống hiến nhiều hơn để phát triển nước nhà vững mạnh, có thể chống lại mọi kẻ thù.
Đề 3: Viết bài văn nghị luận về vấn đề sống có ích
I. Mở bài:
Sống có ích là một chủ đề được quan tâm trong cuộc sống hiện đại.
II. Thân bài:
1. Giải thích:
- Sống có ích đòi hỏi mỗi người phải có một mục tiêu, một ước mơ và nỗ lực để đạt được nó. Đồng thời, người sống có ích cũng phải có tinh thần yêu thương và sẵn sàng giúp đỡ những người xung quanh. Công việc cống hiến cho cuộc đời và phát triển nước nhà là một yếu tố không thể thiếu trong một cuộc sống có ý nghĩa.
2. Phân tích:
- Biểu hiện của người sống có ích: Một người sống có ích luôn có mục tiêu cho bản thân và cố gắng để đạt được nó. Họ không chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân, mà còn sẵn sàng giúp đỡ những người xung quanh. Họ có tinh thần cống hiến và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
- Lợi ích, ý nghĩa của việc sống có ích: Việc sống có ích giúp con người tìm được ý nghĩa của cuộc sống và cảm thấy hạnh phúc hơn. Đồng thời, nó còn đóng góp cho sự phát triển của xã hội và đất nước. Người sống có ích được mọi người yêu quý, tôn trọng và noi theo.
3. Chứng minh:
- Ví dụ về những người sống có ích như đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà báo Phạm Xuân Ẩn, danh họa Bùi Xuân Phái, và nhiều nhân vật khác trong lịch sử và hiện tại. Họ đều là những người đã cống hiến cho cuộc đời và đất nước, được mọi người yêu quý, tôn trọng và ghi nhớ mãi mãi.
- Vì vậy, chúng ta cần nhìn nhận và tự đánh giá mình, xem mình có đang sống có ích hay không? Nếu chưa, hãy nỗ lực để thay đổi bản thân mình, phấn đấu vươn lên và giúp đỡ những người xung quanh.
- Đôi khi, chúng ta cảm thấy rằng việc sống có ích là quá khó khăn, quá xa vời, nhưng thực sự, đó là một hành trình dài, không bao giờ dễ dàng. Tuy nhiên, nếu chúng ta không bắt đầu từ đâu, chúng ta sẽ không bao giờ đạt được điều đó.
- Và cuối cùng, hãy nhớ rằng, cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi chúng ta sống cho mục đích lớn hơn chính mình. Hãy sống có ích để cuộc sống của bạn trở nên đầy ý nghĩa và giá trị hơn.
III. Kết bài:
Trong cuộc sống, không ai là hoàn hảo và ai cũng có thể có những sai lầm. Nhưng điều quan trọng là chúng ta cần nhìn ra và sửa chữa những sai lầm đó để trở thành một người sống có ích hơn, một người đóng góp tích cực hơn cho xã hội và cuộc sống của mình.
Vì vậy, hãy cố gắng sống có ích, vươn lên và giúp đỡ những người xung quanh. Chúng ta cùng nhau tạo nên một xã hội tốt đẹp hơn, một thế giới đầy ý nghĩa và giá trị hơn.
Đề 4: Viết bài văn nghị luận về việc sống để phụng sự xã hội của giới trẻ
I. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
II. Thân bài:
1. Giải thích khái niệm:
- Sống có ích là gì?
- Là lối sống lành mạnh, không sa vào các tệ nạn xã hội, sống đẹp biết giúp đỡ người và cũng cần có trách nhiệm cho bản thân.
2. Phân tích
- Tác dụng của lối sống có ích: Tạo nên một cộng đồng vững bền; giúp con người trưởng thành hơn
- Biểu hiện của lối sống có ích (minh chứng cụ thể)
+ Có những bạn trẻ không quản khó khăn, mưa nắng cõng bạn bị khuyết tật đến trường- đó là những tấm gương sáng trong việc sống có ích.
+ Ngay ở trong gia đình, ta biết giúp đỡ cha mẹ làm việc nhà, nghe lời dạy bảo, chăm chỉ học hành là đã trở thành những người sống có ích.
+ Có những danh nhân tuy họ vô cùng thành công và giàu có, nhưng họ sẵn sàng lăn xả vào những hoạt động từ thiện, giúp đỡ các gia đình ở vùng thiên tai lũ lụt, hay chi một số tiền rất lớn để giúp đỡ người hoạn nạn.
3. Phản đề
- Bên cạnh đó vẫn có rất nhiều sống ích kỉ, không có một mục tiêu, lối sống rõ ràng. Cả ngày chỉ biết ăn bám, dựa dẫm vào người khác.
III. Kết bài
- Khẳng định lại vấn đề và nêu thông điệp của bản thân
e. Viết bài nghị luận về vai trò của văn học với tuổi trẻ
Đề 1: Viết bài nghị luận về vai trò của một tác phẩm văn học đối với cá nhân em
I. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
II. Thân bài:
- Đó là tác phẩm nào? Nội dung chính của tác phẩm là gì? Hình thức nghệ thuật của tác phẩm có gì đặc sắc?
+ “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu là bức tranh hiện thực đầy màu sắc, ẩn sau đó chứa đựng câu chuyện về số phận cuộc đời con người.
+ Tác phẩm nổi bật lên với nhiều giá trị nghệ thuật đặc sắc. Đầu tiên phải kể đến nghệ thuật xây dựng tình huống truyện tài tình.
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật sinh động, khéo léo.
+ Bút pháp tả thực
- Tác phẩm đã để lại trong tâm hồn em ấn tượng sâu đậm như thế nào?
- Vì sao tác phẩm ấy lại có tác động mạnh mẽ đến tâm hồn em?
+ Tác phẩm để lại rất nhiều ấn tượng trong em, không chỉ là về những đặc sắc nghệ thuật mà còn về giá trị hiện thực mà nó đem lại.
+ Tác phẩm làm em cảm thấy ấn tượng thêm một lần nữa chính là ở quyết định của người đàn bà làng chài.
- Tác phẩm ấy đã làm thay đổi nhận thức, hành động, suy nghĩ, tình cảm,... của em như thế nào?
+ Tác phẩm đã đưa giúp cho em có cái nhìn vô cùng thực tế về bản thân và cuộc sống.
+ Tác phẩm đã khơi dậy lòng thương cảm, sự thấu hiểu và sẻ chia trước số phận vất vả, khổ cực của kiếp người nghèo khổ, bế tắc bị cầm tù bằng nỗi đau về thể xác và tinh thần.
III. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận
Đề thi học kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
THUỶ THỦ TÀU VIỄN DƯƠNG (*)
(Bệnh sĩ, Lưu Quang Vũ)
Đôi nét về hài kịch Bệnh sĩ
Nội dung vở kịch lấy bối cảnh ở một vùng làng quê nông thôn, kể về ông chủ tịch xã Toàn Nha và những xã viên của xã Hùng Tâm. Họ đều là những người dân hiền lành, chân chất, thật thà,... nhưng vì tính háo danh, tính “sĩ” mà ai cũng cố gắng phấn đấu cho mình có một cái mác thật sang trọng và hiện đại... Và từ căn bệnh đó mà xảy ra bao chuyện dở khóc, dở cười.
Bệnh sĩ của cổ tác giả Lưu Quang Vũ đề cập đến “bệnh tưng bừng dối trá, tưng bừng phô trương, tưng bừng thành tích”.
Nhân vật
|
- Ông Nha - Cô Nhàn: Con gái ông Nha - Long: Em trai Nhàn - Ông Thịnh - Hưng: Cháu ông Thịnh - Văn Sửu - Ông Độp: Tức Mạnh Tuấn - Bà Độp: Vợ ông Độp |
- Tiến: Thợ xà lan, bạn Hưng - 2 phóng viên truyền hình - “Nhà văn” - Anh Tỵ - Ông Ruộng - Cô Xoan - Bà Thủ - Võ sĩ Đại Dương |
Các quan khách, các diễn viên đội văn nghệ và những xã viên của “Liên đoàn tổ
hợp xã Công nông thương tín Hùng Tâm”.
Sau đây là cảnh III của vở kịch
Nhà Ông Thình
Ông Thình và Hưng. Hưng vừa từ ngoài vào, tay xách túi, mặc áo xanh bảo hộ lao động, bên trong là áo sọc thuỷ thủ.
Hưng: Chú.
Ông Thình: Hưng, cháu về đấy à? Trời ơi, xem nào: to khoẻ lên, rắn rỏi hẳn... thuỷ thủ có khác... Chà chà, mọi người đang mong đợi cháu. Nhận được điện, chú đã báo tin. Gặp ai chưa? Gặp cái Nhàn chưa?
Hưng: Chưa, từ bến sông cháu về thẳng nhà.
Ông Thình: Hay lắm! Thế là cháu đã trưởng thành, đã hiển đạt, chú mừng vô cùng. Vinh dự, mát mặt về cháu. Nhưng sao... cháu ăn mặc xuềnh xoàng thế này, đồng chí thuyền trưởng viễn dương?
Hưng: Viễn dương nào ạ?
Ông Thình: Viễn dương hàng hải Vốt-xcô. Cháu là thuyền trưởng.
Hưng: Ai bảo chú thế?
Ông Thình: Cô Nhàn. cô Nhàn kể, mọi người ai cũng trầm trồ thán phục cháu. Họ bảo cháu nay Nhật, mai Pháp, ngày kia Hồng Kông,... Cả xã ta giờ mới có một người làm thuyền trưởng.
Hưng: Thế đấy, cô Nhàn kể... Chết thật.
Ông Thình: Ông Nha, bố cô Nhàn, thì quý cháu, tự hào về cháu vô cùng. Nhưng sao lại chết? Cháu vẫn là thuyền trưởng chứ?
Hưng: Vâng... Nhưng thế này chú ạ... Chuyện này cháu cũng đang bối rối khó xử quá đây... số là... ngày chia tay Nhàn, cháu đã hứa với Nhàn là sẽ trở thành một nhà hàng hải. Cô gái lãng mạn ấy cứ một hai đòi cháu phải thành một nhà hàng hải, một thuyền trưởng... Nhưng cháu... quả giờ cũng đã là thuyền trưởng thật, nhưng không phải thuyền trưởng tàu biển đâu, mà chỉ là phụ trách một con tàu cũ kĩ nhỏ xíu, một con tàu kéo xà lan chuyên chạy đường sông, tàu chỉ có cháu với một anh thợ máy...
Ông Thình: Sao? Thế mày không vào hàng hải à?
Hưng: Có chứ ạ, nhưng cháu không được học tàu biển, người ta phân cháu học vận tải đường sông. Ra trường, họ cử cháu về làm việc ở một công ty vận tải của tỉnh nhà... Lúc mới vào học, viết thư cho Nhàn cháu đã không dám nói sự thật sợ cô ấy thất vọng. Cô ấy chỉ mong cháu trở thành thuyền trưởng đi biển, và cháu đã hứa, đã thề thốt, nên cháu đành nói dối cô ấy... Cháu thật tồi... Cháu sĩ, cháu sợ cô ấy sẽ không yêu cháu nữa...
Ông Thình: Mày thật là.. Mày giết tao, mày giết tao rồi, Hưng ạ.
Hưng: Cháu chỉ là một thằng thợ tàu đường sông, nhưng cháu yêu công việc của cháu. Cháu đã quyết định rồi: lần này về cháu sẽ nói thật hết với cô ấy, rồi muốn ra sao thì ra...
Ông Thình: Mày giết tạo rồi, có phải mình cái Nhàn đâu, mà còn ông Nha, bố nó. Mày còn lạ gì ông ấy, ông ấy chúa thích danh tiếng oai vệ, cạnh ông ấy lại có thằng Sửu. Họ đã tán đủ thứ về mày, nào là tài giỏi, nào là sang trọng, giàu có, biết đâu mày lại xơ xác thất thểu thế kia. Cũng chính vì vậy mà ông ấy ưng chuyện mày với cái Nhàn, đã định lần này mày về sẽ ăn hỏi... Ông Nha lại là chủ tịch, là chủ nhiệm, giờ họ gọi là giám đốc Liên hợp xã, chú là cấp dưới của ông ấy...
Hưng: Cháu sẽ thú thật với bác Nha.
Ông Thình: Không được, mày không biết tính khí ông ta đâu. Sẽ hỏng hết. Đừng hòng ông ấy gả con gái cho mày, mà ông ấy cũng sẽ cạch mặt tao, mất hết ông ấy mất thôi. Giời ạ, tao cứ đinh ninh mày là thuyền trưởng.
Hưng: Thì cháu cũng là thuyền trưởng thật đấy thôi, nhưng mà là thuyền trưởng tàu đường sông. Con tàu đang đỗ ngoài bến Nhang xã ta ấy, chúng cháu chở phân đạm cho xã ta đấy.
Ông Thình: Lại thế nữa. Giời ơi, tưởng mày nên danh nên tướng gì, viễn dương hàng hải, hơn cả phi công, hơn cả lái tàu vũ trụ, nào ngờ... mày lái tàu chở cứt hả cháu?
Hưng: Sao lại cứt? Phân lân, phân đạm.
Ông Thình: Thì cũng thế. Cứt hoá học. Chú thì chẳng sao đâu, chở phân cũng được. Chú là nhà nông chú biết chứ: “Nhất nước, nhì phân”. Không có thứ bón ruộng lấy gì mà ăn? Nhưng họ có nghĩ như thế đâu. Họ thích Vốt-xcô vốt cậu cơ. Không không được. Hưng, đã ai thấy mày ở trên cái tàu chở phân ấy xuống chưa?
Hưng: Cháu không để ý, hình như chưa.
Ông Thình: Thế này Hưng ạ, mày tuyệt nhiên không được lộ ra, không được nói gì cả. Cứ nhận mày là thuyền trưởng viễn dương đi. Mày về ít hôm rồi lại đi cơ mà. Cốt xong việc ăn hỏi đã. Mà cũng để thư thư để ông ấy khỏi xỉ vả tạo. Đối với ông này thì không gì tai hại bằng làm ông ấy tẽn, ông ấy mất danh tiếng. Nên mày đừng nói gì cả, cứ nhận mày là thuyền trưởng viễn dương đi!
Hưng: Cháu lại phải tiếp tục nói dối Nhàn ư? Lại nói dối cả bác Nha?
Ông Thình: Thì đã sao? Chính họ cũng luôn dối dá. Chính ông Nha đang bắt tao đi mượn lợn các nhà về bỏ vào chuồng chung để cho khách tham quan tới quay vô tuyến. Mày cứ nhận là thuyền trưởng viễn dương đi. Chú xin mày, đừng làm chú bẽ. Mà mày cũng rất yêu cái Nhàn kia mà, mày có muốn mất vợ không có muốn mất cái Nhàn không?
Hưng: Không. Nhưng cháu không muốn nói dối nữa.
Ông Thình: Một thời gian nữa thôi, rồi sau này mày muốn nói gì thì nói. Sông hay biển thì cũng thế, lúc đó họ giết được mày à? Nhưng bây giờ thì chớ... Nghe chú, có phải mình ăn cắp ăn trộm hay gián điệp phản động gì đâu mà sợ.
Hưng: Viết thư nói bốc phét còn dễ, đằng này, mình phải đóng kịch... cháu ngượng lắm, cháu chưa đi biển một ngày... đi biển không phải nghề của cháu.
Ông Thình: Thì ngay tao đây này, có biết nghề làm pháo bao giờ đâu. Ông ấy bắt tao phải phụ trách việc làm pháo, Ông ấy đang lên cơn mê pháo, để ra khẩu hiệu. Cả xã làm pháo, nhà nhà làm pháo... Bao nhiêu tiền của ông ấy đổ ra mua thuốc nổ về chất ở trụ sở. Mà pháo thì đã bán được đâu. Quả nổ, quả xịt. Tao đến khổ vì ông ấy. Kiểu này cuối năm tao cũng xin nghỉ thôi. Nhưng bây giờ thì không được. Mai lại là ngày họ đón khách về, rồi viết báo, rồi quay phim...
Không, chú lạy mày đấy ! Mày cứ nhận là Vốt-xcô cho chú ! Mày có muốn cả hai chú cháu mình ê mặt không? Không chứ gì, thế thì phải nghe chú. Có điều... mày phải kiếm đâu ra bộ quần áo cho nó có vẻ thuyền trưởng viễn dương để ra mắt họ, chứ không được ăn mặc tuềnh toàng thế kia.
Hưng: Kiếm đâu ra? Thôi được, cháu nghe chú. Anh bạn cùng tàu với cháu có mấy bộ quần áo hàng hải đẹp lắm. Anh ấy đi học thợ máy tàu biển về, cháu sẽ nhờ anh ấy giúp.
Ông Thình: Đúng rồi, bạn bè phải giúp nhau lúc hoạn nạn. Cháu về tàu ngay đi. Nhớ đừng để ai trông thấy. Chuẩn bị thật kĩ càng rồi mai hẵng về đây. Nhớ cháu nhé. Nhớ là thuyền trưởng hàng hải Vốt-xcô, chết cũng phải là Vốt-xcô, không thì hỏng hết!
Hưng: Chỉ tại cháu thôi, chỉ tại cháu đã không dám nói thật từ đầu với Nhàn... thế là hôm nay cháu lại chưa được gặp cô ấy.
Ông Thình: Mai. Mai họ sẽ đón cháu rất trọng thể đấy. Đi đi, rồi mai về. Nhớ là thuyền trưởng viễn dương nhá. Đi đi, đừng để ai nhìn thấy cháu xuống tàu chở phân. Đi lối này này! Giời ạ, có khổ thân tôi không cơ chứ!
(Hưng nhìn trước nhìn sau rồi chạy vụt đi. Ông Thình vò đầu bứt tại nhìn theo)
(Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh gửi lại, Hội Văn học Nghệ thuật Đà Nẵng, 1989)
(*) Tên văn bản do nhóm tác giả đặt.
* Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) là một nhà soạn kịch, nhà đạo diễn sân khấu. Từ năm 1978 đến 1988, Lưu Quang Vũ làm biên tập viên ở Tạp chí Sân khấu, bắt đầu sáng tác kịch nói với vở kịch đầu tay Sống mãi tuổi 17 viết lại theo kịch bản của Vũ Duy Kì.
Câu hỏi
Câu 1. Hãy xác định 3 đặc điểm tiêu biểu của hài kịch trong văn bản Thuỷ thủ tàu viễn dương. (0.5 điểm)
Câu 2. Xác định một số xung đột, mâu thuẫn chủ yếu trong văn bản hài kịch Thuỷ thủ tàu viễn dương và phân tích đôi nét về tác dụng của chúng. (0.5 điểm)
Câu 3. Đoạn trích hài kịch trên đã sử dụng những thủ pháp gây cười nào?(1.0 điểm)
Câu 4. Theo em, thủ pháp gây cười nào ấn tượng nhất ?Vì sao? (1.0 điểm)
Câu 5. Phân tích đôi nét về nhân vật Hưng và cho biết: Em nhận được bài học nào từ nhân vật này? Em hãy đưa ra lời khuyên với Hưng. (1.0 điểm)
II. VIẾT (6đ)
Câu 1. Nêu ý nghĩa giáo dục từ trích đoạn hài kịch trên. Từ đó đánh giá khả năng tác động của đoạn trích hài kịch Thuỷ thủ tàu viễn dương đối với bản thân và ý nghĩa thực tiễn của vở kịch Bệnh sĩ của Lưu Quang Vũ. (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ ) (2.0 điểm)
Câu 2. Đọc trích dẫn sau và thực hiện yêu cầu kế tiếp. (4đ)
Sĩ diện là biết cách giữ thể diện của mình thông qua lời nói, suy nghĩ, hành động, vẻ bên ngoài cho phù hợp các tiêu chuẩn chung để nhận được sự tôn trọng từ người khác. Ai cũng có sĩ diện và điều này giúp cho con người tự điều chỉnh hành vi, học hỏi. Nhưng khi có thêm chữ hão vào thì sĩ diện trở thành quá lố và tiêu cực.
Sĩ diện hão là cố muốn làm người khác tôn trọng mình bằng những điều mình
không có. Từ tâm lí sĩ diện hão mà người ta tự nâng mình lên quá tầm của mình và thích thú khi nhận được những lời khen tặng có cánh hoặc sướng rơn khi người ta nhìn mình bằng ánh mắt ngưỡng mộ hay ghen tị.
(trithucvn.com)
Từ trích dẫn trên và hiểu biết từ thực tế, em hãy viết bài luận (600 chữ) bàn luận, thể hiện chính kiến của mình về sĩ diện và căn bệnh sĩ diện hão trong giới trẻ ngày nay.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Hãy xác định 3 đặc điểm tiêu biểu của hài kịch trong văn bản Thuỷ thủ tàu viễn dương. (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đọc lại kiến thức về thể loại hài kịch
Lời giải chi tiết:
- Hình thức của văn bản kịch:
+ Kết cấu theo cảnh (lớp, hồi): văn bản đọc hiểu là cảnh III của vở kịch.
+ Tên nhân vật in đậm, sau tên đó có dấu hai chấm và lời thoại của nhân vật.
+ Có phần chỉ dẫn sân khấu: chữ in nghiêng trong ngoặc đơn.
– Nhân vật hài kịch có phẩm chất bên trong không tương xứng với vị trí thân phận của nó và do vậy, nó đáng là nạn nhân của tiếng cười: Hưng, Ông Nha.
– Nội dung: chứa đựng mâu thuẫn gây cười (là thuyền trưởng tàu sông nhỏ phải nhận là thuyền trưởng tàu Vốt-xcô) → chế giễu thói hư, tật xấu (bệnh sĩ, thích danh tiếng) của con người.
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Xác định một số xung đột, mâu thuẫn chủ yếu trong văn bản hài kịch Thuỷ thủ tàu viễn dương và phân tích đôi nét về tác dụng của chúng. (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các xung đột, mâu thuẫn của văn bản và phân tích tác dụng
Lời giải chi tiết:
- Phẩm chất bên trong không tương xứng với vị trí thân phận của mỗi người:
+ Hưng là tàu trưởng đường sông mang danh thuyền trưởng Vốt-xcô (tiếng là tài giỏi, sang trọng, giàu có >< thực tế xơ xác, thất thểu.
+ Mượn lợn các nhà về bỏ vào chuồng chung để cho khách tham quan tới quay vô tuyến.
- Mâu thuẫn bên trong nhân vật.
+ Hưng: muốn nói thật nhưng vẫn đành nói dối.
* Thình: không biết nghề làm pháo nhưng phải phụ trách việc làm pháo; mắng Hưng ("Mày giết tao rồi ; “Mày giết tao, mày giết tạo rồi, Hưng ạ”) vẫn buộc Hưng nói dối (nhận là thuyền trưởng Vốt-xcô)
→ Những xung đột, mâu thuẫn xuất phát từ thói háo danh đã phản ánh một
căn bệnh, xu hướng xấu tồn tại trong xã hội: thích danh tiếng, sự hào nhoáng (chúa thích danh tiếng oai vệ).
→ Những xung đột, mâu thuẫn này tạo nên kịch tính, là “linh hồn của kịch, cuốn hút, khiến người đọc dõi theo tiếng triển của nó: Hưng sẽ diễn vai thuyền trưởng Vit-xcô như thế nào? Khi nào sự việc bại lộc Khi biết Hưng chỉ là tàu trưởng đường sông (chở phân lân, phân đạm), Ông Nha, Nhàn và dân làng sẽ thế nào?
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Đoạn trích hài kịch trên đã sử dụng những thủ pháp gây cười nào?(1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đọc lại kiến thức về thủ pháp gây cười
Lời giải chi tiết:
- Xây dựng tình huống kịch:
+ “Ra trường, họ cử cháu về làm việc ở một công ti vận tải của tỉnh nhà. Lúc mới vào học, viết thư cho Nhàn cháu đã không dám nói sự thật, sợ cô ấy thất vọng. Cô ấy chỉ mong cháu trở thành thuyền trưởng đi biển, và cháu đã hứa, đã thề thốt, nên cháu dành nói dối cô ấy... Cháu thật tồi... Cháu sĩ, cháu sợ cô ấy sẽ không yêu cháu nữa....”
→ Tình huống kịch tự nhiên: từ ước mơ của cô bé học sinh lãng mạn, từ lời hứa của cậu học sinh sợ người yêu thất vọng, không dám nói thật sợ mất người yêu,…
→Tình huống cơ bản này đã đẩy cốt truyện phát triển, đẩy kịch tính lên cao trào, khiến Hưng từ người nói dối → làm dối (diễn vai thuyền trưởng Vốt-xcô trong trang phục đi mượn), làm bật lên tiếng cười hài hước, châm biếm, phê phán...
- Ngôn ngữ đậm chất hài hước: Viết thư nói bốc phét còn dễ, đằng này, mình phải đóng kịch... cháu ngượng lắm; viễn dương hàng hải, hơn cả phi công, hơn cả lái tàu vũ trụ, nào ngờ... mày lái tàu chở cứt hả cháu?; Chết cũng phải là Vốt-xô,...
- Khắc hoạ chân dung nhân vật ông Nha: không xuất hiện trực tiếp trong đoạn trích, chỉ qua lời nói của nhân vật khác mà hiện lên khá rõ nét với háo danh, mê sự hào nhoáng: chúa thích danh tiếng oai vệ; Đối với ông này thì không gì tai hại bằng làm ông ấy tên và mất danh tiếng,...
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Thủ pháp nghệ thuật nào để lại cho em nhiều ấn tượng nhất? Vì sao? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chọn một thủ pháp để lại ấn tượng và đưa ra giải thích hợp lí
Lời giải chi tiết:
- Tạo tình huống kịch tính; Nghệ thuật phóng đại (nói quá, cường điệu): Học
sinh tự đưa dẫn chứng.
- Đánh giá thủ pháp nào đặc sắc nhất: Học sinh tự làm theo quan điểm cá nhân
- Gợi ý về thủ pháp gây cười:
+ Xác định đoạn/ câu chứa thủ pháp gây cười
+ Lí giải bằng hai lí do trở lên (gây cười bởi..., ý nghĩa/tác động tới độc giả).
Câu 5 (1 điểm)
|
Câu 5. Phân tích đôi nét về nhân vật Hưng và cho biết: Em nhận được bài học nào từ nhân vật này? Em hãy đưa ra lời khuyên với Hưng. (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các lời thoại của nhân vật Hưng từ đó trả lời câu hỏi
Lời giải chi tiết:
– Nhân vật Hưng (học sinh phát hiện và gọi tên biểu hiện của nhân vật):
+ Là người lao động chăm chỉ, yêu nghề của mình.
+ Nhiễm thói háo danh (vì hứa... không dám nói sự thật với người yêu).
+ Nhận ra sự thật nói dối không hay... nhưng vẫn bị cuốn theo bệnh sĩ.
+ Không dũng cảm đối mặt với sự thật. .. chưa dám là mình...
– Bài học từ nhân vật, lời khuyên với nhân vật: Học sinh tự làm (thể hiện nhận thức, góc nhìn của cá nhân)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Nêu ý nghĩa giáo dục từ trích đoạn hài kịch trên. Từ đó đánh giá khả năng tác động của đoạn trích hài kịch Thuỷ thủ tàu viễn dương đối với bản thân và ý nghĩa thực tiễn của vở kịch Bệnh sĩ của Lưu Quang Vũ. (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ ) (2.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Dựa vào phần phân tích ở trên
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
- Triển khai đoạn đảm bảo dung lượng; nội dung hướng vào các ý sau đây:
+ Cảnh báo: bệnh sĩ, thích danh tiếng hào nhoáng sẽ đẩy con người vào tình thế “không lối thoát” bi hài và có nguy cơ trở thành người nói dối, người không trung thực.
+ Khả năng tác động của đoạn trích hài kịch: Học sinh tự trả lời theo đánh giá của cá nhân
- (Gợi ý: tiếng cười phê phán chế giễu bệnh háo danh, thích hào nhoáng sẽ khiến mỗi độc giả tự nhìn lại mình để điều chỉnh hành vi và lối sống tránh lâm vào tình cảnh bi hài (như Hưng và Ông Thình: đã nói dối... phải nói dối tiếp và tiếp,...)
- Bệnh sĩ là một trong những tác phẩm hài kịch nổi tiếng của cố tác giả Lưu Quang Vũ nói về bối cảnh xã hội cuối thế kỉ trước nhưng mang nhiều ý nghĩa phù hợp với xã hội ngày nay: vở kịch Bệnh sĩ mang tính xã hội sâu sắc, phê phán tính “sĩ hão” của một số người trong xã hội thời bao cấp, nhưng vẫn có ý nghĩa thời sự trong cuộc sống hôm nay.
Câu 2 (4 điểm)
|
Từ trích dẫn trên và hiểu biết từ thực tế, em hãy viết bài luận (600 chữ) bàn luận, thể hiện chính kiến của mình về sĩ diện và căn bệnh sĩ diện hão trong giới trẻ ngày nay. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Từ trích dẫn trên và hiểu biết từ thực tế, em hãy viết bài luận (600 chữ) bàn luận, thể hiện chính kiến của mình về sĩ diện và căn bệnh sĩ diện hão trong giới trẻ ngày nay. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề nghị luận - Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ |
|
Thân bài |
3,0 |
* Về vấn đề: - Sĩ diện: biểu hiện; tác dụng với cá nhân, xã hội - Căn bệnh sĩ diện hão: + Biểu hiện trong đời sống hiện đại + Nguyên nhân (sự tác động của mạng xã hội) + Hậu quả đối với cá nhân, xã hội (mất thời gian, nguy cơ đối với bản thân: giả dối, mất đi sự trung thực,…) - Cần phân biệt, xác định ranh giới giữa sĩ diện với căn bệnh sĩ diện hão (đề xuất một số giải pháp “chữa bệnh” sĩ hão) * Quan niệm, chính kiến của bản thân (đồng tình/ phản đối) - Nhận thức cá nhân về sĩ diện và căn bệnh sĩ diện hão - Thái độ trước sĩ diện và căn bệnh sĩ diện hão |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về giá trị của vấn đề đối với thanh niên - Hành động của cá nhân (trong tình huống giả định) |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng các thao tác phân tích so sánh, chứng minh, bình luận - Dẫn chứng phù hợp với lí lẽ, luận điểm |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
BỐN ĐỒNG NGỬA SẤP
(Chương V, Cạm bẫy người, Vũ Trọng Phụng)
(1) Ông Nguyễn Đình Mầu là một tay cự phách trong nghề buôn gỗ. Cái két là lù như cái tủ áo của ông, lúc thu tiền bán gỗ, ních chặt những giấy bạc, thường khi vì đem tiền gửi nhà băng mà vơi hẳn [...]
Đêm hôm qua, trong lúc cao hứng, ông đã thua một canh xóc đĩa tới đúng một nghìn. Một nghìn tiền mặt với ba trăm tiền “nước bọt” nữa. Tiền “nước bọt”, ông tạm vay của một ông nghị ông mới được hân hạnh quen biết, để đặt một cái chắn cuối cùng rồi rũ áo đứng lên.
Kết giao với người như thế, ông cầm chắc sẽ có lợi cho sự buôn bán sau này...
Một nghìn với ba trăm, một số tiền ông vẫn cho là “cò con, lẽ nào khiến ông đến phải... nghĩ ngợi? Không! Ông chẳng nghĩ ngợi gì vì số tiền ấy ông nghĩ là nghĩ đến lời quả quyết của một người bạn thân nói với ông, sau khi hỏi thăm đến chuyện thua bạc: Thôi chết! Bọn bịp nó thịt bác rồi.
Người bạn ấy lại cam đoan rằng bịp chính là cái anh chàng tự xưng là “ông nghị. Chỉ một câu này cũng đủ khiến ông dựng đứng tóc gáy lên, như đang lần bước trong khoảng tối tắm mà giẫm ngay phải một con chuột chết vậy [….]
Chưa biết quyết nên ngờ hay tin, ông còn hoài nghi, nghĩ ngợi...
Đến đây, người vú ẵm cậu con út của ông bước vào. Cậu bé, hai má bánh đúc lại lúm đồng tiền, tuổi chưa đầy lên hai, cứ nhoài người ra, tay mũm mĩm giơ đến phía ông, miệng ấp úng gọi: “Âu! Âu! ”. Chẳng như mọi lần khác, thấy con theo mình thì ông xốc ngay vào lòng để hôn con cho đến phát khóc, phát thét, lần này ông quắc mắt quát người vú: Ẵm nó ra ngoài kia!”. Rồi ông lại tự gắt với mình: thì nghĩ ngợi làm cóc gì? Chốc nữa người ta đến đây đòi tiền, mình sẽ lựa lời đưa đẩy dò xét ý tứ xem sao rồi... nếu quả như lời... thì... cho một vố”. Phải, nghìn ba trăm bạc tuy không là bao nhưng là của bị mất, không vì đỏ đen mà lại vì bịp, còn chi đáng tức cho bằng?
Cho một vố, tuy định như thế rồi nhưng nói cho cùng, chính ông, ông cũng chưa hiểu rõ rằng “vô” là cái sự gì ông định thi thố đây !...
Thôi đi, ông Mầu ơi, ông không phải doạ! Đúng như lời hẹn, cái người ông đang nóng lòng chờ đợi để mong lột hẳn chiếc mặt nạ ra cho rõ đen, rõ trắng, đã đứng ngoài phòng giấy ông đây kia.
- Bẩm lạy quan lớn..
- Không dám ạ... Lạy quan lớn, rước quan lớn ngồi.
Ông Mầu vội vàng đứng dậy, bỏ chiếc ghế chao, quay vào phía trong
- Anh Ba đâu? Đặt nước chè !
Ấy đấy trước mặt người khách trông rất bệ vệ, sự hấp tấp giữ nghi lễ của ông tỏ răng chưa chi ông đã sắp bại trận. Phân ngôi chủ khách đâu đấy rồi, ông Mầu nhìn chòng chọc khách một cách có ý tứ, như muốn nói: “Ông rõ mày rồi. Ông sắp giật cái mặt nạ ở mặt mày xuống đây.”. Còn khách thì vẫn thản nhiên như không để ý đến cử chỉ của ông chút nào.
Lúc này, giữa hai người có luồng không khí im lặng rất khó chịu... Vì cả hai bên có lẽ cùng đoán được rằng sẽ có sự không hay xảy ra.
- Quan lớn đến lấy số tiền hôm qua tôi vay?
- Bẩm vâng ạ.
Ông nghị đáp thế rồi đưa mắt nhìn khắp gian phòng. Thế là cả hai lại ngôi im một lúc lâu, người tìm câu nhập để, kẻ tìm câu ứng đối. Cuộc “chiến tranh tĩnh toạ này nếu không được đứa đầy tớ bưng ra khay nước chè thì chưa biết bao giờ mới có hồi trống thu quân. Sau cùng ông Mầu đánh bạo:
- Canh bạc hôm qua, có người đã nói rõ cái lẽ tại sao tôi thua rồi; ngài dạy hộ: bây giờ tôi nên xử trí với ngài ra sao?
Cái vẻ ngạc nhiên ngây thơ của ông nghị nó hiện ra sau câu nói đường đột lạ tai kia, hầu như muốn gọi quỷ thần hai vai soi xét.
– Thưa ngài, ngài nói gì, tôi không hiểu, ngài nói lại cho nghe?
Trước cái thái độ rất bình tĩnh ấy, ông Mầu cũng hơi chột dạ, đã tưởng mình lầm. Nhưng ông cũng liều một phen mà quả quyết:
- Thôi đi, ngài đừng giả ngây, giả dại nữa. Chính tôi đã bị ngài bịp, tôi rõ mọi
khoé của ngài rồi.
- Tôi... bịp ngài à? Lấy gì làm bằng cớ?
– Tiếc rằng lúc ngài hành động tôi lại không có sẵn cái máy quay phim!
Lời dọa của ông Mầu thế mà có công hiệu. Ông nghị chẳng còn đóng nổi cái vai kịch ngạc nhiên nữa, mà vẻ bẽn lẽn hiện ngay trên mặt. Thấy thế công của mình có phần thắng, ông Mầu phóng thêm một mũi thương nữa:
- Chỗ người lớn với nhau, ông cứ nhận đi là phải. Ông làm nghề bạc bịp thì cũng như tôi làm nghề buôn gỗ chứ có khác gì. Ông có gan nhận, tôi xin phục là người quân tử, nếu ông chối thì chối cũng chẳng được nào mà lại tỏ mình là tiểu nhân.
Biết rằng việc mình làm đã bị người tố giác, lại muốn làm “quân tử” nữa, ông nghị trơ trẽn mà rằng: “Vâng, quả có thể.”.
Nghe câu này, ông Mầu sung sướng như một vị quan toà đã khám phá nổi một cái nghi án, cười mà hỏi đùa ông “nghị bịp”:
- Việc đã vỡ rồi, thế thì bây giờ ông đến đòi tiền tôi hay để tôi đòi tiền ông?
- Tôi đã coi ngài là người quân tử mà nhận việc tôi làm một cách quân tử như
thế, tưởng ngài chẳng nỡ nào dùng cách... tiểu nhân đối phó với tôi. Nếu tôi cứ nhất mực chối cãi, không có bằng cớ, thì ngài làm gì? Ngài vừa bảo rằng cái bịp của tôi cũng là một nghề cũng như đi buôn, được ăn, thua chịu chứ
- Thôi. Ngài có gan nhận, thế là quân tử, đã đành. Mà tôi vẫn giữ thái độ quân tử, nghĩa là không đòi lại số tiền đã thua. Thôi, xí xoá....
Người đời ai đã làm việc bậy, sau khi bị lột mặt nạ, thường có thói lại làm già cho được đỡ trợ bằng cách thuyết đến nhưng lí luận cao xa, viển vông hay là bỏ đạo đức ngụy biện. Ông nghị này cũng có thói ấy. Bị người đánh mình trúng phải chỗ yếu, ông nghị cũng tìm cách trả miếng vào giữa chỗ yếu kẻ đã quật đổ mình.
- Tôi vẫn chưa chịu... Được rồi. Ngài trả nữa tôi cũng ơn mà không tôi cũng phải chịu thật nhưng đó là đối với người khác tôi mới thế, chứ đối với ngài quyết không!
- Làm sao?
- Tôi đã có cách! Nhược điểm kia, tôi đã nắm được rồi. Ngày tuy là người có máu chơi bời nhưng là người con chí hiếu. Ngài nên biết: tôi sẽ mách cụ bá nhà...
- Thật đấy!
- Thì ngài được lợi gì?
- Chẳng lợi gì cả. Nhưng để cụ biết rằng ngài là người con hư. Thế thôi.
Ôi cái tâm lí người đời sao mà nó kì lạ!
Ông Mầu đem mồi quân tử ra khiến ông nghị phải nhận mình là bịp thì ông nghị lại lấy mồi chí hiếu bắt ông Mầu đã quých lại quých thêm. Hai con cáo già xoay nhau cùng bằng luân thường, đạo lí cả. Thì ra dù là bịp hay là lương thiện, ta vẫn bị cái luân thường, cái đạo lí nó thuốc ta, hoặc là bịp ta! Ta giống mọi người, mọi người cũng giống ông Mầu, lại đến lượt ông Mầu giống ta, chung quy nhất loạt đều để cho cái luân lí, cái đạo đức nó vẫn bịp mình mà không biết!
Cho nên sau khi nghĩ ngợi hồi lâu, ông Mầu đứng lên ra... mở két ! Sự không ngờ là ông Mẫu lại trao thêm tiền cho người đã bịp mình một cách cảm động nữa, và thêm:
- Ba trăm bạc là quý nhưng gặp một người... tri kỉ còn quý hơn. Tôi chẳng chịu mang tiếng tiểu nhân với ngài.
Ông nghị cầm lấy tiền:
- Dù sao tôi cũng biết phân biệt những ai tiểu nhân, những ai quân tử ở đời. Chúng ta còn nhiều phen gặp gỡ.
Rồi ông đẩy ghế, đứng lên.
Nhưng ông Mầu giữ lấy vạt áo ông nghị, cười mà rằng:
- Khoan đã!... Đệ đã được rõ cái tài của huynh đâu!
Ông nghị cũng bật cười, lại ngồi xuống. Hôm nay, ông Mầu mới được dịp đặc biệt rõ rằng bốn đồng tiền giấy tuy là những vật vô tri vô giác thật, nhưng ai để công luyện tập công có thể sai khiến nó cứ lộn tung trong cái bát cái đĩa, rồi úp sấp hay lật ngửa theo như ý muốn của mình...
(2) Khối óc của người ta còn có nhiều phen nghĩ cách chống lại được cả tạo vật biến đổi được cả cơ giới, lẽ tất nhiên chẳng khi nào người ta chịu để yên cho bốn đồng tiền giấy kia được tự do úp sấp, lật ngửa. Cái công dụng của sự sấp, ngửa kia lại còn to tát đến nỗi tuỳ nó, người ta phải bán nhà, cầm ruộng, hoặc là được tậu ruộng, cầm nhà thì tìm cách sai khiến được đồng tiền cho tuỳ theo ý muốn, khó đến thế nào nghĩ cũng phải ra.
Vào khoảng trước năm 1900, có một người của trùm Ba Sống sáng kiến được lối đánh xóc đĩa đòn kim. Anh này dùng một cái đĩa lồi lòng với một cái bát trông tưởng là sâu nhưng chính ra lại rất nông, vì nó dày gấp đôi thứ bát khác. Cuốn “Sự đổ bác” nếu chép đến đây tất phải dùng đến bốn tiếng “thời đại bát thửa” vì các lò bát hồi ấy thỉnh thoảng lại được tiếp một người đi giày Tàu, vận quần áo lụa, đến thửa một chục bát đong chè lòng rất đầy bằng một giá khá cao. Đòn kim là thứ đòn rất dễ ăn, vì nó bắt canh bạc cứ rền tràn. Đợi lúc mọi người đã nóng mặt, canh bạc đã có vẻ xô xát, lúc ấy bọn tạ mới dàn quân cản trở, một anh sà vào đặt một tiếng chẵn hay lẻ bằng một cuộn giấy bạc tướng, hung hăng mở bát, ném hẳn cái bát ra tận cuối... thế giới đằng kia! Người ta không ai còn thì giờ để ý nữa, vì tôi thua thì tôi còn ngẩn người ra tiếc của. Ông được thì ông cũng chỉ biết chúi mũi xuống chiếu, hò hét giam tiền. Lúc hỗn loạn ấy là lúc họ tráo cái bát thửa vào và đã giấu biến hẳn cái bát cũ kia đi.
Địa vị cái bát thửa chỉ được người ta coi trọng trong một vài năm, sau vì thấy lợi, thiên hạ ùa nhau vào trọng dụng nó quá, làm nó dậy tiếng quá nên nó phải chịu cái số phận chết yểu.
Một anh tạ khác, dưới quyền Hai Tôm lại sáng kiến được ngay lối đánh xóc đĩa đòn ve, thay vào đòn kim. Người ta lấy năm, sáu viên bi ở trong bánh xe ô tô bỏ vào trong cái túi khâu kĩ lưỡng, buộc giấu ở cổ tay. Lúc xóc, người cái nghiêng đĩa cho bốn đồng tiền giấy bị cặp chịt vào miệng bát cho không “cựa cậy” được nữa. Ai cũng tưởng tiền vẫn dậy đó những tiếng kêu tanh tách mà mọi người tưởng tiếng bốn đồng tiền trong bát đĩa, chính lại là tiếng kêu của những hòn bi trong cổ tay người xóc. Cho nên ta phải ngạc nhiên khi thấy rằng ông này đánh xóc đĩa cao quá, bán hàng chục bát không thua bát nào cả, hoặc canh bạc ấy rất quái lạ, đúng 20 tiếng chẵn rền! Có cái thuật này rồi, bọn bịp cứ tự nhiên vợ tiền bỏ túi sau khi phán: lẻ về, bán chẵn, bán lẻ, thừa chẵn, thừa lẻ.
Tinh ma hơn nữa, còn có người có “hoa tay” đến nỗi vừa xóc vừa dòm trộm vào trong bát, đánh mười tiếng cũng trúng cả mười: dù đã nghi mà rình mò, mà tuần thật kĩ, cũng đố ai khám phá được ra.
Ông nghị đã thịt ông Mầu bằng ngón đòn thứ ba này vậy.
Nhưng ông nghị đã bày trò cho một tay sai của ông giở đến đòn trinh thám kia, còn mình trong lúc ấy, lại vào hùa với ông Mầu, cùng đánh với ông. Cho nên đánh bạc đã già đời đến như ông Mầu mà còn bị cho vào xiếc.
(3) ... Tại Hưng Yên có một vị quan huyện muốn hứng lấy cái trọng trách mộ bọn khách Tam Đường. Tiền trong công khố chẳng đủ, quan huyện tìm cách... kinh doanh.
Quan nghĩ ngợi trong ba hôm, đến hôm thứ tư, sai lính trải chiếu la liệt khắp sân huyện đường cho dân tự do mở bát. Canh bạc ấy có thể bảo là không tiền tuyệt hậu ở đất Nam. Hồ lì là một thầy đề, xóc cái chính là quan huyện. Con bạc gồm đủ ta lẫn khách, đánh phần nhiều bằng bạc nén. Thoạt đầu, quan chỉ bán chứ không mở. Canh bạc đã thấy xô xát, quan mới đứng dậy, để cái chức xóc cho một người dân. Quan lảng vảng ở ngoài, có ý dò thế trận. Hốt nhiên quan vào mở một tiếng, thua to!
Mặt quan tái như gà cắt tiết. Rồi quan bảo thằng người nhà trông hộ bát, đi phóng uế một lát rồi vào. Lúc vào quan hò cả làng đặt tiền ra xong, cầm ngay bát chực mở. Cả làng xúm vào kêu quan chưa xóc nhưng quan nhất định là đã xóc rồi. Lần mở trước, kêu là chẵn đã phải giam. Thấy quan lẫn, cả làng lại xô nhau vào đánh chẵn. Mấy chú khách thương hại quan đã quá thua nên lẫn, quả quyết là quan chưa xóc. Nhưng quan vẫn nhất mực là đã xóc, họ bực mình, ra điều “đã muốn chết thì cho chết”, ồ ạt cá nhau đặt tiền vào chiếu chẵn. Quan cầm bát vừa mở vừa kêu: lẻ về! Rồi quan vơ hết cả những đồng nén bạc vì... lẻ thật, thế có lạ không?
Cả làng ai cũng lấy làm kinh ngạc. Không ai đoán được rằng lần mở trước, chính là lẻ nhưng quan đã xướng lên là chẵn rồi úp bát ngay, giam tiền. Quan đã đánh vào chỗ yếu mọi người là cái lòng tham. Đòn này ta nên gọi là đòn hiệp sĩ mới phải.
Hôm sau, quan có đủ số bạc nén để mộ bọn giặc khách vào làm lính, phái đi đánh giặc Cai Vàng! Đòn hiệp sĩ này, nhiều người ngày nay còn chép cũ. Những người ấy tuy không dùng đòn để xoay tiền dùng vào những việc hiệp, nhưng hầu hết là bọn người gọi là thượng lưu.
(Vũ Trọng Phụng, Phóng sự, NXB Văn học, 2016)
(1) Thời ấy bằng giá gần bốn lạng vàng.
(2) Theo tiếng Pháp, permis de coupe nghĩa là giấy phép được đắn gỗ trong rừng.
* Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Việt Nam vào đầu thế kỉ XX. Tuy thời gian cầm bút rất ngắn ngủi, với tác phẩm đầu tay là truyện ngắn Chống nạng lên đường đăng trên Ngọ báo vào năm 1930, ông đã để lại một kho tác phẩm đáng kinh ngạc với nhiều thể loại.
Câu hỏi
Câu 1. Những dấu hiệu nào giúp em nhận biết văn bản Bốn đồng ngửa sấp trên thuộc thể loại phóng sự? (0.5 điểm)
Câu 2. Nhan đề của văn bản có thể gợi lên những suy luận, phán đoán gì về nội dung được đề cập trong bài phóng sự? Văn bản thuật những sự việc chính nào, nhận xét về cách quan sát, ghi chép hiện thực của tác giả. (0.5 điểm)
Câu 3. Câu chuyện ông Nguyễn Đình Mẫu thua xóc đĩa được thuật kể như thế nào (nội dung và bút pháp). Sự việc này đã lột tả được bản chất nào của nạn cờ bạc? Sự việc có ý nghĩa như thế nào? (1.0 điểm)
Câu 4. Văn bản đã cung cấp cho người đọc những thông tin gì, lí giải điều gì? Cảnh vị quan ở Hưng Yên thắng bạc phản ánh thực trạng nào của xã hội đương thời (1.0 điểm)
Câu 5. Em thích đoạn văn bản nào nhất? Hãy chọn một đoạn (dài từ 5 – 7 dòng) và phân tích đôi nét về ý nghĩa của đoạn đó. (1.0 điểm)
II. VIẾT (6đ)
Câu 1. Xác định cảm hứng, thông điệp của văn bản và cho biết: Những nội dung được đề cập trong văn bản còn có ý nghĩa đối với thực tiễn hiện nay không
Nếu có, chúng đã biến tướng như thế nào? (Viết đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm)
Câu 2. Đọc thông tin sau và viết bài luận (600 chữ) thể hiện suy nghĩ cá nhân về hiện tượng được đề cập đến trong trích đoạn bản tin đó.
Thời gian qua, hàng loạt đường dây đánh bạc trá hình qua mạng Internet có quy mô lên tới hàng chục nghìn tỉ đồng đã bị các lực lượng chức năng tích cực triệt phá. Tuy nhiên, loại hình tội phạm này vẫn diễn biến phức tạp, khó lường với hàng loạt “chiêu trò” núp bóng kinh doanh, quảng cáo tưởng chừng vô hại.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Những dấu hiệu nào giúp em nhận biết văn bản Bốn đồng ngửa sấp trên thuộc thể loại phóng sự? (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về thể loại phóng sự
Lời giải chi tiết:
- Đề tài: Viết về tệ nạn của xã hội (cờ bạc bịp).
- Đối tượng phản ánh: Những mánh lới, những kẻ chuyên lừa bịp trong nghề cờ bạc.
- Thông tin có tính xác thực: giàu chi tiết, sự kiện có thật trong đời sống, tồn tại một cách khách quan, có thể hiểm chứng được (Những mánh lới trong nghề cờ bạc bịp: Học sinh tự lấy dẫn chứng; thời gian, địa điểm xác định: Vào khoảng trước năm 1900; Vào thời Tự Đức, tỉnh Hải Dương với Bắc Ninh có giặc Cai Vàng)
- Sử dụng bút pháp thuật, tả, bình (học sinh lấy dẫn chứng.) trong phản ánh hiện thực và nêu được vấn đề có ý nghĩa xã hội rộng lớn: cờ bạc bịp (ở mọi thời đại).
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Nhan đề của văn bản có thể gợi lên những suy luận, phán đoán gì về nội dung được đề cập trong bài phóng sự? Văn bản thuật những sự việc chính nào, nhận xét về cách quan sát, ghi chép hiện thực của tác giả. (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và nhan đề
Tóm tắt những sự việc chính
Lời giải chi tiết:
- Nhan đề Bốn đồng sấp ngửa của văn bản có thể gợi lên những suy luận, phán đoán ở người đọc về cờ bạc (những mánh lới của nghề cờ bạc bịp).
- Ba sự việc chính trong văn bản:
+ Ông Nguyễn Đình Mầu là một tay cự phách trong nghề buôn gỗ thua một canh xóc đĩa tới đúng một nghìn và biết mình bị bịp bởi một ông nghị.
+ Lối đánh xóc đĩa đòn kim (Vào khoảng trước năm 1900).
+ Canh bạc không tiền tuyệt hậu ở đất Nam.
- Nhận xét về cách quan sát, ghi chép hiện thực của tác giả.
+ Những sự kiện, những nhân vật, chi tiết đều được chọn lọc tinh tế và được dẫn dắt kết nối với nhau một cách tự nhiên, xung quanh một chủ đề chính: cờ bạc bịp.
- Những sự kiện, những nhân vật được thuật kể từ ngôi thứ ba với sự phối hợp
cận vấn đề; Các chi tiết, sự việc đan xen, gấp gáp, bất ngờ (việc vị quan ở Hưng Yên)
+ Có đoạn bình luận đứng riêng biệt ở đầu mỗi đoạn để dẫn dắt người đọc tiếp
thắng bạc); luôn luôn di chuyển từ địa điểm này tới địa điểm khác để điều tra, khảo sát, móc nối các sự việc (các mánh lới cờ bạc bịp).
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Câu chuyện ông Nguyễn Đình Mẫu thua xóc đĩa được thuật kể như thế nào (nội dung và bút pháp). Sự việc này đã lột tả được bản chất nào của nạn cờ bạc? Sự việc có ý nghĩa như thế nào? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Phân tích sự việc để suy ra bản chất của nạn cờ bạc
Lời giải chi tiết:
- Câu chuyện ông Nguyễn Đình Mầu thua xóc đĩa được thuật kể rất ấn tượng
Các chi tiết, sự việc đan xen, khi trầm lắng, khi gấp gáp từ việc đảo trật tự thời gian.
+ Mở đầu là thông tin ông Nguyễn Đình Mầu thua xóc đĩa một nghìn tiền mặt với ba trăm tiền “nước bọt” nữa. Tiền “nước bọt, ông tạm vay của một ông nghị ông mới được hân hạnh quen biết.
+ Tiếp đó là thông tin: Ông nghĩ ngợi đến lời quả quyết của một người bạn thân
nói với ông, sau khi hỏi thăm đến chuyện thua bạc: Thôi chết! Bọn bịp nó thịt bác rồi.
+ Tiếp đó là việc ông Mẫu quyết lột hẳn chiếc mặt nạ ra cho rõ đen, rõ trắng.
+ Cuối cùng hai kẻ lừa bịp nhau cùng ngửa bài: hằm hè, doạ nạt nhau.
+ Việc phối hợp, kể – tả (quan sát tỉ mỉ, miêu tả sinh động) – bình luận từ hai
điểm nhìn trần thuật vô cùng xuất sắc khiến cho sự việc như bị dồn nét, lúc bật tung căng thẳng vô cùng hấp dẫn, khiến người đọc không thể bỏ qua một chi tiết nào (kết hợp kể, tả, bình luận; miêu tả tâm lí, đối thoại của hai nhân vật – ông nghị bịp và Nguyễn Đình Mầu).
- Bản chất của nạn cờ bạc, ý nghĩa:
+ Sự việc này đã lột tả được bản chất của nạn cờ bạc: bịp bợm, mánh lới, lừa lọc
lẫn nhau, lừa học cao siêu: đến tay ăn chơi cự phách như Nguyễn Đình Mẫu mà bị lừa như bỡn.
+ Cảnh báo, lột trần bản chất bất lương của nạn cờ bạc
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Văn bản đã cung cấp cho người đọc những thông tin gì, lí giải điều gì? Cảnh vị quan ở Hưng Yên thắng bạc phản ánh thực trạng nào của xã hội đương thời (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Văn bản cung cấp cho người đọc thông tin về sự bịp bợm của nạn cờ bạc:
+ Lối thao túng tâm lí (ông Mẫu đã mất một nghìn).
+ Lối đánh xóc đĩa đòn kim, đòn ve.
+ Lối đánh đòn hiệp sĩ (lần mở trước, chính là lẻ nhưng quan đã xướng lên là chẵn rồi úp bát ngay, đánh vào lòng tham mọi người)
- Lí giải căn nguyên sản sinh ra các mánh lới cờ bạc bịp: Người ta phải bán nhà,
cầm ruộng, hoặc là được tậu ruộng, cầm nhà thì tìm cách sai khiến được đồng tiền cho tuỳ theo ý muốn, khó đến thế nào nghĩ cũng phải ra.
– Cảnh vị quan ở Hưng Yên thắng bạc phản ánh thực trạng của xã hội đương thời: Cờ bạc trở thành một vấn nạn nhức nhối.
Câu 5 (1 điểm)
|
Câu 5. Em thích đoạn văn bản nào nhất? Hãy chọn một đoạn (dài từ 5 – 7 dòng) và phân tích đôi nét về ý nghĩa của đoạn đó. (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Lựa chọn đoạn văn bản yêu thích và phân tích
Lời giải chi tiết:
Học sinh lựa chọn đoạn thể hiện rõ 1 nội dung cụ thể; phân tích và đánh giá
tác dụng, mục đích của đoạn đó.
- Tham khảo gợi ý sau:
+ Chọn đoạn (mở đầu đoạn số 2 của văn bản): Khối óc của người ta còn có nhiều phen nghĩ cách chống lại được cả tạo vật biến đổi được cả cơ giới, lẽ tất nhiên chẳng khi nào người ta chịu để yên cho bốn đồng tiền giấy kia được tự do úp sấp, lật ngửa. Cái công dụng của sự sấp, ngửa kia lại còn to tát đến nỗi tuỳ nó, người ta phải bán nhà, cầm ruộng, hoặc là được tậu ruộng, cầm nhà thì tìm cách sai khiến được đồng tiền cho tuỳ theo ý muốn, khó đến thế nào nghĩ cũng phải ra.
+ Đây là đoạn bình luận của tác giả với ngôn ngữ ấn tượng làm nổi bật mưu mô của con người trong “nghề” cờ bạc (phen này nghĩ cách chống lại được cả tạo vật, biến đổi được cả cơ giời); có nghĩa cảnh báo cho người có ý đồ gia nhập nghề cờ bạc: cờ bạc sẽ khánh kiệt gia tài (người ta phải bán nhà, cầm ruộng, hoặc là được tậu ruộng, cầm nhà thì tìm cách sai khiến được đồng tiền cho tuỳ theo ý muốn, khó đến thế nào nghĩ cũng phải ra).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Xác định cảm hứng, thông điệp của văn bản và cho biết: Những nội dung được đề cập trong văn bản còn có ý nghĩa đối với thực tiễn hiện nay không? Nếu có, chúng đã biến tướng như thế nào? (Viết đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Dựa vào phần phân tích ở trên
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Triển khai đoạn đảm bảo dung lượng; nội dung hướng vào các ý sau đây:
– Cảm hứng: lên án, phê phán.
- Thông điệp: Học sinh tự đúc rút từ nhận thức cá nhân (bám sát văn bản với
hai ý chính: cờ bạc là bịp bợm; cờ bạc làm khánh kiệt sản nghiệp; cờ bạc là ma lực dẫn dụ con người).
- Vấn nạn cờ bạc bịp còn nguyên giá trị và có giá trị ở mọi thời đại; cờ bạc bịp ở
thời đại số biến tướng dưới nhiều hình thức và tác hại khôn lường (hình thức biến tướng: Chỉ cần truy cập ứng dụng CHplay (trên Androi) hoặc App Store (trên iOS) của điện thoại thông minh sẽ có vô số trò cờ bạc dưới hình thức game online chào mời và bất cứ ai cũng có thể trở thành con bạc.
Câu 2 (4 điểm)
|
Câu 2. Đọc thông tin sau và viết bài luận (600 chữ) thể hiện suy nghĩ cá nhân về hiện tượng được đề cập đến trong trích đoạn bản tin đó. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Đọc thông tin sau và viết bài luận (600 chữ) thể hiện suy nghĩ cá nhân về hiện tượng được đề cập đến trong trích đoạn bản tin đó. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề nghị luận - Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ |
|
Thân bài |
3,0 |
* Về vấn đề: - Biểu hiện nạn cờ bạc 4.0 - Nguyên nhân (chủ quan ở con người, sự tác động của mạng xã hội) - Hậu quả đối với cá nhân, xã hội * Quan niệm, chính kiến của bản thân (đồng tình/ phản đối) - Nhận thức cá nhân về hiện tượng - Thái độ trước hiện tượng * Đề xuất một số giải pháp (đối với thanh niên) |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về giá trị của vấn đề đối với thanh niên - Hành động của cá nhân (trong tình huống giả định) |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng các thao tác phân tích so sánh, chứng minh, bình luận - Dẫn chứng phù hợp với lí lẽ, luận điểm |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
MỘT ĐÁM VÀO NGÔI
(Việc làng, Ngô Tất Tố)
Nhà bác Cả Mão mọi ngày thường im phăng phắc, hôm nay bỗng nhiên linh đình như đám giỗ nhỏ. Dưới cầu ao, hai người đàn ông lực lưỡng đang châu đầu trên chiếc rổ thưa, tỉ mỉ nhổ từng sợi lông tơ cho một con gà trong rổ. Trên bờ con chó xóm bị trói bốn chân, nhe răng nằm trên vũng máu lênh láng. Cạnh nó, một nồi nước sôi khói bốc nghi ngút và bốn năm người, cũng hạng đàn ông lực lưỡng, kẻ cầm gáo múc nước, người cầm dao sắp sửa cạo lông. Từ cổng đến thềm, tập nập những người đi lại. Tôi mới nhô vào đến sân, bác Cả lật đật chạy ra đón lên nhà trên với một bộ điệu vui vẻ. Ở gian bên kia, độ bảy tám ông ngôn ngang nằm vây một chiếc khay đèn thuốc phiện. Với những cặp môi thâm xịt và dài vều, và những chiếc quần cháo lòng, áo ba-đờ-xúa rách lòi khố tải, các ông ấy như muốn bảo cho tôi biết đây toàn là hạng kì dịch kiêm tín đồ của đức chúa Phù dung. Dãy phản bên này, hai bàn tổ tôm kế nhau. Bàn trong vang những tiếng ăn, tiếng phỗng, bàn ngoài đương ỏm tỏi cãi nhau về sự đánh thấp đánh cao. Chủ nhân lễ phép mời tôi vào ngôi trong chiếc tràng kỉ kê ở gian giữa, đối mặt với toà bàn thờ hương khói vắng tanh. Mấy ông trong bàn tổ tôm thi nhau nhìn tôi bằng nửa con mắt trong nghiêng giữa khi vài ông ở bàn thuốc phiện lần lượt ngóc cổ như đàn rắn lửa. Rồi thì ai nấy lại cùng theo đuổi công việc của họ, người hút cứ hút, người đánh bài cử đánh bài.
- Ông có lòng đến đây mừng cho nhà cháu, thật là quý hoá! Xin mời ông xơi tạm chén nước.
Bác Cả Mão đương một tay gãi tai, một tay bưng chén chè nụ đặt trước mặt tôi, bên bàn tổ tôm bỗng có tiếng gọi:
- Anh Cả đâu! Cho mượn hai đồng đánh thêm hội nữa. Đen quá, cả hội chẳng ù ván nào!
Bằng một tiếng vâng đầy giọng thành tâm, bác Cả Mão nhanh nhẩu chạy xuống nhà dưới, để tôi ngồi đó với bác Hai Thìn, một người em ruột bác ấy. Thơ thần chưa biết nên nói chuyện gì, tôi có dịp nghĩ đến cái câu của bác Cả Mão mới nói. Với bác, tôi chỉ là người trọ học ở nhà láng giềng. Vì năng gặp bác, thành ra quen biết. Hôm nay là ngày “vào ngôi” cho thằng con bác mới đẻ được ba tháng nay, bác vẫn mến tôi nên cố mời tôi sang chơi. Ở làng khác, vào ngôi chỉ là một lệ rất thường, người ta phí tổn độ vài ba chục, hay vài ba trăm quả cau là xong. Sao trong đám này lại có cỗ bàn linh đình, và sao ở trước mặt khách, ông chủ lại nói đến câu “mừng cho nhà cháu”?
Hay là riêng với làng này, vào ngôi là một việc hỉ? Nếu vậy, có lẽ mình phải mất một món tiền mừng. Óc tôi còn đương vẩn vơ, bác Cả Mão đã ở nhà dưới chạy lên. Cung kính trao hai đồng bạc cho một ông trong bàn tổ tôm, bác ấy tung tăng ra sân, khiến tôi không kịp nói chuyện. Dưới bếp, có tiếng dao thớt kí cốc, mùi xôi ngào ngạt đưa lên nhà trên. Một ông trong đám thuốc phiện dõng dạc cất cái giọng khàn khàn
- Anh Cả đâu! Lên đây tôi bảo!
Một tiếng dạ lớn, bác Cả Mão từ sân vào thềm, rồi khoanh tay đứng tựa vào cột:
- Bẩm cụ dạy gì con ạ?
- Trưa lắm rồi đấy! Liệu mà giục bảo chúng nó sắp đồ lễ mau lên! Rồi anh phải thân hành đến mời cụ Điền lại chơi, kẻo cụ lại ăn cơm nhà
Lại một tiếng “dạ” rất lễ phép, bác Cả rón rén lui ra. Tiện dịp, tôi bảo bác ngồi xuống chỗ tôi ngồi và móc ví lấy một đồng bạc mừng bác. Nhưng bác khăng khăng từ chối, nói rằng việc này không có lệ mừng. Ngoài thềm có tiếng lẻng kẻng. Một người xách chiếc mâm đồng sáng choang đặt lên cái bàn ở trước mặt tôi. Rồi một người khác để luôn thúng xôi vào đó. Bác Cả Mão núc hai bàn tay như thầy phù thuỷ bắt quyết và nói với tôi:
- Bên này chật quá, mời ông sang nhà chú cháu. Ông nhạc tôi cũng ở bên ấy. May quá, tôi đang muốn tránh cái bầu không khí khó chịu.
Nghe lời chủ nhân, tôi liền theo bác Hai Thìn đi luôn. Nhà này cũng thấy lố nhố những người, nhưng toàn là người tôi quen. Qua một tuần trà, bác Hai Thìn nhìn tôi và nói bằng giọng sung sướng:
- Anh tôi lo công việc này cho cháu tất cả cũng hết đến trăm rưỡi bạc. Ấy là chúng tôi khôn khéo, xoay xở thì việc mới xong, người khác ở vào địa vị chúng tôi, dù có mấy trăm, vị tất đã lo nổi!
Câu nói của bác khiến tôi hết sức ngạc nhiên:
- Sao nhà các ông hoang quá như vậy? Tôi thấy người ta “vào ngôi” cho con chỉ tốn độ vài đồng bạc là cùng!
Bác Hai xua tay và nói bằng giọng thì thầm:
- Nào có phải hoang! Ông tính ở đời ai muốn mất tiền! Đó là sự bất đắc dĩ. Nói giấu gì ông, nhà tôi không phải gốc gác ở làng này. Ông thân chúng tôi ở vùng Nam lên đây sinh cơ lập nghiệp, rồi mới đẻ ra anh tôi và tôi. Thế là tới ở làng này, nhà tôi mới ở có hai đời. Theo lệ nhà quê, những người ngụ cư ba đời mới được “thành tổ”. Nghĩa là được ngang hàng với mọi người khác. Làng này lại ngặt hơn nữa, từ xưa đến giờ họ không cho một người ngoài nào nhập bạ. Vì thế, anh tôi và tôi cũng như ông thân chúng tôi, đều không có ngôi ở đình. Chắc ông cũng biết ở làng mà không có ngôi, thật là một sự nhục nhã.
- Người ta không nhận thì càng khỏi mất. Việc gì mà cực!
Tôi mỉm cười và đáp một câu khôi hài như vậy. Bác Hai vẫn nói một cách thật thà:
– Thế được còn nói gì nữa! Anh em chúng tôi, trời cho trong nhà cũng đủ bát ăn, mỗi người cũng có được con trâu cày và dăm mẫu ruộng. Thế mà không thể nộp được lệ làng cho cha và mẹ, tức là tiếng xấu để đời... Mỗi khi nghĩ lại những nông nỗi ấy, anh tôi và tôi tức chết người đi được. Trước đây, chúng tôi đã cố luồn lọt mấy ông đàn anh, để xin nhập bạ, nhưng mà bấy giờ hãy còn cụ Bá, cụ ấy nghiệt lắm, nhất định bảo nhà tôi đến ở làng này chưa được ba đời, không thể nhận lời. Chúng tôi đành phải cắn răng mà chịu. Bởi vậy lần này anh tôi sinh được mụn cháu, lại may gặp lúc cụ Bá đã mất, chúng tôi phải cố vào ngôi cho nó.
- Nhưng mà các ông tiêu những món gì mà hết đến hơn trăm bạc
Bác Hai càng hạ giọng xuống, sau khi liếc mắt ngó qua những người chung quanh:
- Ông bảo những công việc ấy, nói bằng miệng không được ư? Phải mất tiền cả đấy! Cụ chưởng lễ ba chục, ông chánh hội hai chục, cụ lí trưởng mười lăm đồng, ông phó lí và ông phó hội mỗi người mười hai đồng, thư kí, trưởng bạ, mỗi người mươi đồng, hương trưởng, lí cựu, tộc biểu, trương tuần mỗi người năm đồng. Những số tiền ấy hết ngoài trăm đồng rồi. Lại còn ăn uống từ chiều hôm qua đến giờ...
- Nếu đã mất tiền cho họ thì thôi bữa ăn uống được không? Bày vẽ làm gì cho tốn
Bác Hai lắc đầu:
- Không được ông ạ! Ở chốn thôn quê, ăn uống là sự đầu tiên, hễ không có ăn thì việc không thành. Lúc trước, anh tôi cũng nghĩ như ông, đã định chước sự ăn uống vì đã rắc tiền khắp mặt chức dịch. Nhưng ông chánh hội không nghe. Ông ấy nói rằng thế nào cũng phải đấm miệng cho các bô lão, và bọn trai đinh bò bướu một bữa. Nếu không họ sẽ phá ngang, tất nhiên sẽ có cản trở.
Bác Hai ngừng lại một lát chờ cho một người ấy đi qua, rồi tiếp:
- Một bữa ăn này, ít ra anh tôi cũng phải tiêu đến năm, sáu chục đồng. Vì kiêng tiếng làm thịt lợn, sợ rằng làng nước cho là hứng mỡ, nên mới đi chợ mua thịt. Sự thực, mua thịt lại quá giết lợn. Sáng ngày đi lấy vừa lòng lợn vừa thịt lợn tất cả mười một đồng bạc, đáng lẽ cũng đủ chan chát, nhưng cụ chưởng lễ thích ăn thịt cầy, nên ông lí trưởng bắt phải giết thêm con cầy. Chẳng nhẽ mời dẫn mời làng ăn uống trong nhà, ngoài đình lại khổng có gì. Bởi thế chúng tôi phải sửa cỗ xôi, con gà để ra lễ thờ.
Bấy nhiêu món hết ngót hai chục rồi. Còn tiền rượu, tiền thuốc phiện, còn tiền cung đốn họ đánh tổ tôm. Ông đã biết rõ, mọi khi làng tôi có ai dám đánh “góp một”? Lớn lắm chỉ “góp năm hào”. Hôm nay vì tiền nhà chủ bỏ ra, được thì ăn, thua không phải trả, nên họ hò nhau đánh góp hai đồng. Rồi đấy ông xem, đến lúc đứng dậy, ai cũng thu hết, anh tôi đưa ra bao nhiêu mất hút bấy nhiêu, chẳng lấy lại được đồng nào hết... Lúc nãy tôi nói trăm rưỡi, còn là hà tiện, xong việc có lẽ hết hơn, chứ bấy nhiêu tiền không thể nào đủ.
Bác Hai còn muốn nói nữa. Bên nhà bác Cả chợt nghe có tiếng ầm ầm, bác ấy lật đật xin lỗi đứng dậy:
- Mời ông ngồi chơi với các cụ tôi. Tôi phải chạy sang bên kia. Làng đã vào rồi! Tiếng ầm ầm bên nhà bác Cả mỗi lúc một to, trước còn cười nói, sau đến quát tháo, cuối cùng thì đến những tiếng mách tục mách qué. Lâu lâu cuộc xô xát lại dữ dội thêm, bác Hai Thìn hốt hoảng chạy về, vừa thở vừa nói:
- Khổ quá, mấy ông bô lão lại còn bẻ vành bẻ vẻ, nhất định nói rằng: hương ước không có chỗ nào nói cho người ngoài vào ngôi. Cụ Điền hết sức dàn xếp không được. Ông chánh hội và ông lí trưởng bảo anh tôi phải chồng hai chục đồng bạc – tiền ngay cốc cốc – để cúng vào nóc các lão, thì việc mới yên. Thôi thế cũng còn là may.
Cuộc ăn uống kéo dài mãi đến gần tối, nhưng không xảy ra sự gì nữa. Cách ba bữa sau, bác Cả Mão sang nhà tôi trọ, dạm bán cho ông chủ nhà một mẫu hai ruộng, lấy trăm đồng bạc để trang công nợ. Vui vẻ bác khoe với tôi:
- Tất cả, tôi lo hết gần hai trăm. Của nhà có non một trăm, còn thì đều phải đi vay. Nhưng tôi cũng lấy làm hả. Từ nay trở đi, cháu đã có ngôi đình, chúng tôi sẽ được ăn miếng thịt phần việc làng của nó....
(Ngô Tất Tố, Tuyển tập. NXB Văn học 2016)
* Ngô Tất Tố (1893 – 1954) là một nhà văn, nhà báo, nhà nho học, dịch giả và nhà nghiên cứu có ảnh hưởng lớn ở Việt Nam giai đoạn trước 1954. Ngô Tất Tố viết nhiều thể loại báo chí, trong đó tiểu phẩm và phóng sự là hai thể loại đã giúp ông thành danh. Di sản báo chí của Ngô Tất Tố trở thành những tư liệu phong phú, chi tiết, phản ánh toán diện và trung thực xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX, tiêu biểu là tiểu thuyết Tắt đèn, Lều chõng và phóng sự Việc làng.
Câu hỏi
Câu 1. Nhan đề Một đám vào ngôi của văn bản có thể gợi lên những suy luận, phán đoán gì về những khía cạnh nào của bài phóng sự? (1.0 điểm)
Câu 2. Liệt kê các sự việc chính theo trình tự được thuật lại trong văn bản. Từ đó nhận xét về nghệ thuật viết phóng sự của tác giả (sử dụng ngôi kể, điểm nhìn, thủ pháp miêu tả, trần thuật, cách sắp xếp sự kiện chi tiết, ngôn ngữ,..) trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng, thông điệp của văn bản. (1.0 điểm)
Câu 3. Qua văn bản Một đám vào ngôi, tác giả đã nêu vấn đề gì? Thái độ của tác giả trước vấn đề đó như thế nào? (1.0 điểm)
Câu 4. Tính khách quan, xác thực của thông tin thể hiện qua những yếu tố nào? Điều đó cho độc giả hiểu thêm gì về tác giả? (1.0 điểm)
Câu 5. Nêu cảm nhận của em về nhân vật bác Cả Mão. Từ đó cho biết thái độ của tác giả Ngô Tất Tố đối với nhân vật này. (Trả lời tối thiểu bằng 2/3 trang giấy thi /trang vở) (1.5 điểm)
II. VIẾT (6đ)
Câu 1. Theo bạn, những nội dung được đề cập trong văn bản còn có ý nghĩa đối với thực tiễn hiện nay không? Lí giải ý kiến của bạn. (viết đoạn 200 chữ) (2.0 điểm
Câu 2. Địa phương nơi em sinh sống (phường/xã) tổ chức phát động Phong trào xây dựng địa phương/gia đình văn hoá, em được đề nghị phát biểu trong buổi lễ đó. Hãy viết bài phát biểu (600 chữ) để phát biểu trong buổi lễ đó.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Nhan đề Một đám vào ngôi của văn bản có thể gợi lên những suy luận, phán đoán gì về những khía cạnh nào của bài phóng sự? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhan đề
Nhớ lại kiến thức về thể loại phóng sự
Lời giải chi tiết:
- Gợi nội dung phản ánh về một tục lệ/hủ tục ở nông thôn Việt Nam.
- Gợi suy luận về vấn đề (đặt ra trong tác phẩm), thái độ tác giả đối với vấn đề đó
- Vấn đề: hủ tục ở nông thôn nặng nề, gây tốn kém, nhũng nhiễu đời sống dân nghèo.
+ Thái độ của tác giả: lên án, phê phán...
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Liệt kê các sự việc chính theo trình tự được thuật lại trong văn bản. Từ đó nhận xét về nghệ thuật viết phóng sự của tác giả (sử dụng ngôi kể, điểm nhìn, thủ pháp miêu tả, trần thuật, cách sắp xếp sự kiện chi tiết, ngôn ngữ,..) trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng, thông điệp của văn bản. (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Văn bản Một đám vào ngôi với các sự việc chính:
+ Chuẩn bị cỗ.
+ Các đám đánh bạc, hút thuốc phiện.
+ Không chấp nhận việc vào ngôi, chủ nhà phải nộp thêm 20 đồng.
+ Việc chi tiêu và việc vay tiền chi trả.
- Nghệ thuật viết phóng sự của tác giả:
+ Sử dụng ngôi kể thứ nhất và kết hợp điểm nhìn bên trong, bên ngoài.
+ Kết hợp miêu tả, trần thuật, bình luận rất hiệu quả.
+ Sắp xếp sự kiện, chi tiết hợp lý (đảo trình tự thời gian việc: không được vào ngôi khi cụ Bá còn sống; gốc 2 đời nhà bác Cả Mão xuống dưới để lý giải việc nhà bác Cả Mão tưng bừng đón đám vào ngôi).
→ Tất cả các yếu tố trên đã kết nối các sự việc làm nổi bật chủ đề: Một đám
vào ngôi – hủ tục ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng 8/1945; thể hiện tư tưởng tiến bộ, cấp tiến của tác giả: lên án hủ tục khiến đời sống nông dân ngày càng nghèo khó hơn thể hiện thông điệp: xóa bỏ hủ tục nơi thôn quê, giải phóng tư tưởng lạc hậu u mê cho người nông dân (miếng ăn nơi góc chiếu, sân đình).
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Qua văn bản Một đám vào ngôi, tác giả đã nêu vấn đề gì? Thái độ của tác giả trước vấn đề đó như thế nào? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và rút ra nội dung chính
Chú ý các chi tiết thể hiện thái độ của tác giả
Lời giải chi tiết:
– Nêu vấn đề nhức nhối ở nông thôn:
+ Bất bình đẳng, thiếu tôn trọng người dân ngụ cư (phải 3 đời mới được nhập bạ; không có ngôi, thật là một sự nhục nhã)
+ Quan chức ở nông thôn chèn ép, bòn rút tiền bạc của nông dân (phải sửa cổ xôi, con gà để ra lễ thờ; tiền rượu, tiền thuốc phiện, còn tiền cung đón họ đánh tổ tôm; chồng hai chục đồng bạc – tiền ngay cốc cốc – để cúng vào nóc các lão, thì việc mới yên)
- Thái độ tác giả: bất bình, lên án (qua thái độ của nhân vật “tôi” – người kể chuyện)
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Tính khách quan, xác thực của thông tin thể hiện qua những yếu tố nào? Điều đó cho độc giả hiểu thêm gì về tác giả? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về tính phi hư cấu của phóng sự
Liên hệ đến phong cách sáng tác, con người tác giả
Lời giải chi tiết:
– Khách quan chân thực: đến tận cùng sự thật với hàng loạt số liệu, truy tìm nguyên nhân làm xuất hiện vấn đề, dẫn dắt trình bày, lý giải những chi tiết và tổ chức ý kiến của các đối tượng đối thoại. Cái tôi tác giả – nhân chứng chủ động khơi lên những vấn đề phỏng vấn, mô tả biện luận: “Cụ chưởng lễ ba chục, ông chánh hội hai chục, ông lý trưởng mười lăm đồng, ông phó lý và ông phó hội mỗi người mười hai đồng, thư ký, trưởng bạ mỗi người năm đồng. Những số tiền ấy hết ngoài trăm đồng rồi. Lại còn ăn uống từ chiều hôm qua đến giờ...Ở chốn thôn quê ăn uống là sự đầu tiên”. Vậy là khổ chủ phải bán đi một mẫu hai ruộng lấy hai trăm đồng trả nợ...
– Tác giả: hiểu sâu hiện thực, kỳ công tìm hiểu tư liệu; nhạy cảm, sắc sảo dám nói sự thật; bám sát nông thôn, khảo sát mô tả những hủ tục, những lệ làng quái gở, man rợ, nạn “xôi thịt”, những cảnh đau lòng xung quanh miếng ăn ở nông thôn Việt Nam đương thời.
Câu 5 (1 điểm)
|
Câu 5. Nêu cảm nhận của em về nhân vật bác Cả Mão. Từ đó cho biết thái độ của tác giả Ngô Tất Tố đối với nhân vật này. (Trả lời tối thiểu bằng 2/3 trang giấy thi /trang vở) (1.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý các chi tiết miêu tả bác Cả Mão
Lời giải chi tiết:
- Nội dung đoạn văn bản bám sát văn bản làm rõ đặc điểm của nhân vật (cam chịu, u mê – khổ mà vẫn vui, háo danh hão đã trở thành nạn nhân của hủ tục...)
- Hình thức: đảm bảo độ dài, tính logic, mạch lạc cho đoạn văn bản; đủ các yếu tổ lí lẽ, dẫn chứng, nhận định.
- Thái độ của Ngô Tất Tố: thương cảm, phê phán; đả kích, châm biếm.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Theo bạn, những nội dung được đề cập trong văn bản còn có ý nghĩa đối với thực tiễn hiện nay không? Lí giải ý kiến của bạn. (viết đoạn 200 chữ) (2.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Dựa vào phần phân tích ở trên
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Triển khai đoạn đảm bảo dung lượng; nội dung hướng vào các ý sau đây:
- HS tự thể hiện quan điểm cá nhân.
- Có thể tham khảo gợi ý sau:
+ Trải qua biết bao biến đổi, Việc làng vẫn còn ý nghĩa lớn và để lại nhiều bài học có giá trị trong quá trình chọn lọc, cải biến và xây dựng đời sống văn hoá mới trong xã hội nông thôn hiện nay.
+ Việc làng – Đám vào ngôi thuật lại các “phong tục” có ý nghĩa tốt đẹp về “sự gắn bó của dân với làng”, về tục “vào ngôi” khi con trẻ ra đời nhưng không biến chúng thành hủ tục nặng nề để bòn rút làm khổ dân nghèo.
+ Mỗi người dân hãy tiếp thu các phong trào, lối sống có chọn lọc, không nên lệ thuộc, hoặc cố thực hiện khi điều kiện kinh tế của gia đình không cho phép.
Câu 2 (4 điểm)
|
Câu 2. Địa phương nơi em sinh sống (phường/xã) tổ chức phát động Phong trào xây dựng địa phương/gia đình văn hoá, em được đề nghị phát biểu trong buổi lễ đó. Hãy viết bài phát biểu (600 chữ) để phát biểu trong buổi lễ đó. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Địa phương nơi em sinh sống (phường/xã) tổ chức phát động Phong trào xây dựng địa phương/gia đình văn hoá, em được đề nghị phát biểu trong buổi lễ đó. Hãy viết bài phát biểu (600 chữ) để phát biểu trong buổi lễ đó. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Kính thưa đại biểu tham dự (HS vận dụng phù hợp với thực tế) - Giới thiệu bản thân (1-2 dòng) và nêu tên phong trào |
|
Thân bài |
3,0 |
- Nêu lí do, mục đích của phong trào đối với HS, tuổi trẻ, xã hội; ý nghĩa của Phong trào xây dựng địa phương/ gia đình văn hóa - Hành động, việc làm cụ thể của thanh niên, HS, người dân địa phương + Giữ gìn cảnh quan đường phố, xã (xóa quảng cáo rao vặt; dọn vệ sinh; sinh hoạt văn minh tại các gia đình; phát hiện tụ điểm ma túy, chơi không lành mạnh) + Tổ chức vui chơi, giải trí: thể thao, xây dựng thư viện xã/ phường + Thăm hỏi, giúp gia đình hoạn nạn… - Hành động, việc làm cụ thể của cá nhân (phù hợp với sở trường) + Lựa chọn hành động của cá nhân + Cảm xúc, suy nghĩ của cá nhân về mục đích ý nghĩa phong trào… + Tinh thần khi tham gia hoạt động của xã/ phường |
|
Kết bài |
0,25 |
- Thể hiện sự ủng hộ, niềm tin vào phong trào - Cổ vũ, kêu gọi các bạn ủng hộ tham gia phong trào |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Bài viết có cảm xúc, thể hiện sự hiểu biết, nhiệt huyết về hoạt động - Kỹ thuật viết: lời hô gọi tạo sự tương tác, cổ vũ hành động |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 4
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
BÀ BA VÁY (Mẫu thượng ngàn) VÀ LỖ TOÀN NHI (BÁU VẬT CỦA ĐỜI) DƯỚI GÓC NHÌN SO SÁNH
(Đào Phương Huệ)
(1) [...] Trong Mẫu thượng ngàn – Nguyễn Xuân Khánh cũng như Báu vật của Mạc Ngôn, ta bắt gặp rất nhiều nhân vật nữ. Đó là Lỗ Toàn Nhi cùng với bảy người con gái Lai Đệ, Chiêu Đệ, Lãnh Đệ, Tưởng Đệ, Phán Đệ, Niệm Đệ, Cầu Đệ, Ngọc Nữ,.. những người con của vùng Cao Mật Trung Quốc. Đó là bà ba Váy, cổ Ngát (tổ cô), cô mõ Hoa, cô Ngơ, thím Pháo, cô Mùi, bé Nhụ,... trong Mẫu thượng ngàn. Họ là những người phụ nữ của đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Thế giới nhân vật nữ trong hai sáng tác này tạo nên sức hút và giá trị cho tác phẩm, và cũng góp phần tạo nên “thương hiệu” của nhà văn. Sức cuốn hút ở họ chính là sự hoà quyện bền chặt giữa cái hư ảo và cái hiện sinh. Ở mỗi người phụ nữ này, ta thấy rất rõ vẻ đẹp rất riêng và rất chung, rất bản địa mà cũng lại rất nhân loại.
(2) Bà ba Váy trong Mẫu thượng ngàn cũng như Lỗ Toàn Nhi trong Báu vật của đời đều là những người phụ nữ vô cùng xinh đẹp, tràn đầy sức sống nhưng cuộc đời và tình duyên của họ vô cùng éo le, chứa đựng những bí mật đau đớn. Lỗ Toàn Nhi, cô gái ở vùng quê Cao Mật xinh đẹp, dịu dàng có cuộc đời gắn liền với bao thăng trầm biến cố của lịch sử ở vùng đất Cao Mật – Đại La. Ngay những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, Toàn Nhi đã nếm trải sự tàn khốc của chiến tranh. Cả gia đình cô bị quân Đức tàn sát, chỉ có cô bé Toàn Nhi sáu tháng tuổi sống sót. Người cô ruột đã nuôi Toàn Nhi, thấy cô càng lớn càng đẹp nên đã chăm chút “đầu tư” hi vọng sẽ gả vào nơi danh giá. Vì thế mà năm tuổi, Toàn Nhi đã phải bó chân. Mười sáu tuổi, Toàn Nhi xinh tươi rực rỡ, là báu vật loại một của vùng Cao Mật cùng với lời tuyên bố của người chú: Con Toàn Nhi nhà tôi nhất định phải gả cho một trạng nguyên nhưng cuối cùng Toàn Nhi lại phải sống kiếp tôi tớ trong nhà Thượng Quan... với người chồng Thọ Hi bất tài, yếu đuối, cô đã đẻ 9 đứa con với 7 người đàn ông nhưng 7 lần sinh nở đầu toàn là con gái... Cô phải vượt cạn trong trong sự lo lắng, sợ hãi bẩn thỉu và cô đơn. Sinh con trên một giường mà đệm là đất bột trộn máu trong khi cả nhà bố mẹ chồng và chống lại đang chăm bằm, nâng niu một con lừa cũng đang đau đẻ. Những tập tục phi lí và nhà thượng quan vô nhân đạo đã biến Toàn Nhi từ cô gái dịu dàng thành nhẫn nhục, căm ghét và nuôi ý định trả thù với ý nghĩ: “Toàn Nhi này có đẻ thêm một ngàn đứa nữa, cũng không phải là giống nhà Thượng Quan” Lỗ Toàn Nhi đã phải vật lộn với đời, đã bị những biến động của lịch sử quăng quật, dày vò mà vẫn sống, sống mãnh liệt, sống như không thể gì có thể chôn vùi nổi. Đó là sức sống của vùng quê Cao Mật, của đất nước Trung Quốc – quê hương của tác giả...
Kết thúc kiếp làm dâu đau khổ chuyển sang vai trò làm chủ gia đình, tình yêu và cuộc sống của bà đều hướng đến và dâng trọn cho những đứa con thân yêu của mình.
Bà ba Váy (Mẫu thượng ngàn) là người con của đồng bằng bắc bộ Việt Nam đẹp, rất nữ tính căng tràn sức sống, vô cùng quyến rũ. Vẻ đẹp ấy phát lộ rất sớm, được nhà văn miêu tả rất sinh động, đầy cảm hứng. Ngay từ thuở mười ba, cô Váy “mặt tròn như cái đĩa. Nhà nghèo mà da lúc nào cũng trắng muốt. Cô mũm mĩm, tính tình hồn nhiên như trẻ thơ”, dường như bao nhiêu sức sống của vùng đất Cổ Đình như ẩn chứa, như dòng chảy ngầm tích tụ trong thân thể, trong tính cách hồn nhiên của cô. Vẻ đẹp ấy vừa là tín ngưỡng vừa thể hiện tính phồn thực và sự trường tồn của một vùng quê, của dân tộc Việt. Ta như thấy đích thực những lam lũ, bùn đất của cuộc sống thôn quê đang vun vào, điểm tô, nuôi dưỡng vẻ đẹp, sức sống cho nó. Đời bà ba Váy giông bão khi nhận ra sự trở về của Phác – người xưa nay là Trịnh Huyền. Từ đây, bà bị đẩy vào tình thế oái ăm: bao khao khát yêu thương với Phác đều phải dấm dúi, vụng trộm, đau đớn tột cùng khi chứng kiến cảnh con định giết cha buộc bà phải thét lên lên: “Con ơi là con! Cha mày đấy! Mày định giết cha đẻ mày sao?". Nỗi đau con không chịu nhận cha, con lánh mặt mẹ giày vò bà “đau điếng từng khúc ruột... bà khóc một mình, khóc ròng ròng”. Nỗi đau lớn nhất của đời bà ba Váy là phải chứng kiến cảnh ông Trịnh Huyền, người xưa bị giết, bị bêu đầu mà không thể kêu khóc, không được chôn cất, không được để tang... Nỗi đau buộc phải câm nín, buộc phải chôn chặt trong lòng đã hoá thành “tâm bệnh” khiến bà ba Váy đã hoàn toàn khác bà ba Váy ngày xưa. Người đàn bà hồng hào, đầy sức sống, lúc nào cũng tươi tắn nay bỗng nhiên héo hon, sầu thảm,...
Dường như, bao biến động của thời cuộc, của lịch sử đều lặn cả vào đời của Lỗ Toàn Nhi và cái đĩ Váy để biến thành những u bướu”, “di căn” hành hạ họ. Bà ba nhà Lí Cỏn, người đàn bà họ Lỗ kia có thể chống chọi với vất vả, khốn khổ của cuộc đời để sống để nuôi con nhưng họ lại không thể chống lại những nỗi đau tinh thần chôn sâu trong tâm khảm. Đây mới mới thật sự là những dâu bể cuộc đời đã đày đoạ và vắt kiệt sức của họ. Đây mới là cái nhìn sâu sắc, đầy xót thương đầy cảm thông mà nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và nhà văn Mạc Ngôn dành cho những người phụ nữ xinh đẹp tràn đầy sức sống mà khốn khổ của quê hương, đất nước mình.
Đến với Báu vật của đời và Mẫu thượng ngàn, ta đều thấy rất rõ những người phụ nữ ở đây đều đang sống trong dòng chảy lịch sử với những biến động dữ dội, những giết chóc đau thương, những cuộc tàn sát thảm khốc. Bối cảnh ấy đã làm nổi bật hình tượng người phụ nữ mạnh mẽ bất diệt – người mẹ nhân hậu đầy yêu thương. Đầu tiên, ta thấy biểu tượng của người mẹ, biểu tượng của nữ tính thể hiện ở hai nhan đề. Nói đến “Mẫu” là nói đến người mẹ; Nói Báu vật của đời – Phong nhũ phì đồn: vú to mông nẩy là nói đến nữ tính, nói đến vượng khí gợi sự sinh sôi, nảy nở. Những ý nghĩa này là chủ đề của tác phẩm là mạch nguồn chính lan toả trong tác phẩm... Bà ba Váy và hàng loạt nhân vật nữ trong Mẫu thượng ngàn đều là dào dạt sức sống, tràn đầy sinh lực. Họ chính cội nguồn của sự sống, là “Mẫu” của sự sống, bà đẻ một bầy con cho ông Lí một mạch bốn thằng con trai, một đứa con gái” và tất thảy chúng đều xinh đẹp và khoẻ mạnh... Thời gian và thiên chức làm mẹ như đang trao thêm nhựa sống cho bà. Ông Lí Cỏn như cũng ngỡ ngàng trước sức trẻ ấy. “Đã sáu con, không hiểu sao lại nhiều sức sống đến thế. Những lần sinh nở hình như chẳng làm suy kiệt, mà chỉ làm cho bà được vỡ da vỡ thịt, da thịt được triển nở sung mãn”.
Mặc cho chồng muốn đặt tên chúng cho văn hoa là Xuân, Hạ, Thu, Đông. Còn đứa con gái thì đặt tên là Đào (Đào, Mai, Lan, Cúc), bà cứ gọi chúng là thằng Cò, thằng Tũn, thằng Tin và thằng Bồi với cái đi Váy con. Cũng giống như ba ba Váy trong Mẫu thượng ngàn, Lỗ Toàn thị trong Báu vật của đời cũng dào dạt sức sống. Người phụ nữ này thấm nhuần chân lí nghiệt ngã: “Là đàn bà, không lấy chồng không được, lấy chồng mà không sinh con không được, sinh con toàn con gái cũng không được. Và Toàn Nhi đã sinh rất nhiều con, Tám “cuộc” là 9 đứa con (8 gái, 1 trai). Đàn con này khiến cuộc sống của Toàn Nhi thêm khốn đốn. Vậy mà người mẹ khốn khổ này vẫn vô cùng yêu thương chúng. Khi Niệm Đệ vừa lọt lòng, mẹ chồng thấy vẫn là con gái, liền túm lấy hai chân định đem dìm chết trong chum nước. Toàn Nhi nhào xuống đất ôm chặt hai chân mẹ chồng, van xin: “Mẹ ơi mẹ, xin mẹ mở lượng từ bi, thương yêu, bé bỏng chính là chỗ dựa duy nhất để bà tiếp tục sống. Người mẹ vĩ đại ấy sinh con hầu hạ mẹ nửa năm nay mà tha cho cháu bé” Với Toàn Nhi những đứa con thân nỗ lực để sinh tồn, vì chỉ có sinh tồn mới có thể nuôi dưỡng chăm lo cho các con. Vì sự sống của đàn con cháu, đã có lúc, Lỗ thị đã biến bao tử của mình thành một túi chứa đậu. Bà trộm đậu trong hợp tác xã rồi nuốt vào, về đến nhà lại nôn ra, lấy đậu để nuôi con nuôi cháu. Đối với các con, bà sẵn sàng làm ngọn gió, chắp thêm sức mạnh cho các con vươn đôi cánh bay thật xa, thật lâu và khi những đôi cánh ấy mệt mỏi, thì bà mẹ Lỗ thị lại là nguồn an ủi, là chốn quay về bình yên và an toàn nhất.
Người phụ nữ trong Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), trong Báu vật của đời (Mạc Ngôn) là những người mẹ, là “mẫu” làm nảy sinh sự sống và nuôi dưỡng sự sống vì vậy họ luôn xuất hiện gắn với hình ảnh bầu vú. Bầu vú trong nguyên bản vốn là thiên phú của cơ thể nữ, nó mang ý nghĩa phồn thực, biểu trưng cho sự sinh sôi nảy nở giống loài. Từ xa xưa, Mĩ học đã coi trọng vẻ đẹp của bầu vú. Theo thời gian, bầu vú đã dần dần đã được linh thiêng hoá, nó gắn liền với khát vọng sinh dưỡng. [...]
(3) Nguyên nhân của sự gặp gỡ của Báu vật ở đời và Mẫu thượng ngàn là do những nét tương đồng về văn hoá, về hướng phát triển của văn học, ý tưởng, khát vọng và nguồn cảm hứng sáng tác của nhà văn... Nguyễn Văn Khánh nói rằng: “Tôi yêu và kính trọng người mẹ của tôi, một người đàn bà Việt thuần chất. Tôi được cảm nhận không khí của đạo Mẫu từ thuở bé vì thường hay đi theo mẹ đến khắp các đình chùa miếu mạo Việt Nam.. Còn Mạc Ngôn cũng đã phát biểu: “Phụ nữ luôn đóng vai trò quan trọng trong các tác phẩm của tôi. Qua trải nghiệm, tôi biết được rằng, khi gặp khó khăn hoặc khi tâm trí bạn đang rối bời, thì phụ nữ sẽ là nguồn an ủi bạn.
Phụ nữ khôi phục mọi thứ mà đàn ông đã phá huỷ”. Hiện thực sinh động của đời sống, nguồn tình cảm mãnh liệt dành cho người thân là chất liệu quý để các tác giả sáng tạo nên hình tượng người mẹ, sáng tạo nên những kiệt tác văn học.
Việc “nghiên cứu song song” phát hiện những nét tương đồng trong Mẫu thượng ngàn với Báu vật của đời, tác phẩm đoạt giải nhất về tiểu thuyết của Hội Nhà văn Trung Quốc, tháng 12/1995 của Mạc Ngôn, tác giả đoạt giải Nobel Văn học năm 2012, cho thấy văn học hiện đại Việt Nam ở một khía cạnh nào đó, đã xuất hiện kiệt tác thuần tuý “nội sinh” có thể sánh đẹp với tác phẩm ưu tú ở khu vực cũng như thế giới. Với việc đề cập đến những vấn đề mang tính dân tộc, nhân loại từ sức sống mãnh liệt của người phụ nữ, chứng tỏ văn học Việt Nam đang từng bước hoà nhập vào dòng chảy của văn học thế giới.
(Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt tháng 3/2014)
Câu 1. Nhan đề Bà Ba Váy (Mẫu thượng ngàn) và Lỗ Toàn Nhi (Báu vật của đời) dưới góc nhìn so sánh cho em biết điều gì về nội dung văn bản? (0.5 điểm)
Câu 2. Đánh giá mức độ phù hợp giữa nội dung với nhan đề của văn bản. (0.5 điểm)
Câu 3. Nêu nội dung chính của từng phần đã được đánh số trong văn bản và xác
định các thao tác lập luận chính của văn bản. (1.0 điểm)
Câu 4. Xác định vấn đề trọng tâm của văn bản. Cho biết: Tác giả đã triển khai vấn đề trọng tâm của văn bản như thế nào? (1.0 điểm)
Câu 5. Mục đích của người viết văn bản là gì? Vấn đề tác giả nêu trong văn bản có ý nghĩa như thế nào đối với việc nghiên cứu văn học của nước nhà ! (1.0 điểm)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Từ văn bản đọc hiểu trên, em tích luỹ thêm được kinh nghiệm nào để viết bài văn so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện? (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm)
Câu 2. (4đ)
Hãy lựa chọn hai truyện ngắn đã đọc để so sánh, đánh giá làm nổi bật
nét tương đồng về tính cách của nhân vật chính, một nét tương đồng về nghệ
thuật xây dựng nhân vật bằng văn bản nghị luận (600 chữ).
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Nhan đề Bà Ba Váy (Mẫu thượng ngàn) và Lỗ Toàn Nhi (Báu vật của đời) dưới góc nhìn so sánh cho em biết điều gì về nội dung văn bản? (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhan đề và văn bản
Lời giải chi tiết:
- Nhan đề văn bản cho biết nội dung và mục đích của văn bản:
+ Nội dung: So sánh hai hình tượng nhân vật văn học từ hai tác phẩm nổi tiếng Lỗ Toàn Nhi trong Báu vật của đời của Mạc Ngôn (Trung Quốc) và Bà Ba Váy trong Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (Việt Nam)
+ Mục đích: Làm rõ nét tượng đồng ở hai nhân vật, khẳng định tài năng của hai nhà văn Mạc Ngôn (Trung Quốc) và Nguyễn Xuân Khánh (Việt Nam)
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Đánh giá mức độ phù hợp giữa nội dung với nhan đề của văn bản. (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhan đề văn bản và nội dung
Lời giải chi tiết:
- Nhan đề Ba Ba Váy (Mẫu thượng ngàn) và Lỗ Toàn Nhi (Báu vật của đời) dưới góc nhìn so sánh phù hợp, thể hiện rõ nội dung và mục đích của văn bản
- Bởi văn bản sử dụng thao tác so sánh để làm nổi bật nét tương đồng của hai nhân vật và ý nghĩa của sự tương đồng đó
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Nêu nội dung chính của từng phần đã được đánh số trong văn bản và xác định các thao tác lập luận chính của văn bản. (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về các thao tác lập luận
Lời giải chi tiết:
- Nội dung chính:
+ Đoạn 1: Giới thiệu vấn đề
+ Đoạn 2: Những nét tương đồng ở hai nhân vật Ba Váy và Lỗ Toàn Nhi
+ Đoạn 3: Ý nghĩa của việc nghiên cứu song song, so sánh nhân vật trong tác phẩm truyện/văn học của 2 quốc gia
- Thao tác lập luận chính của văn bản:
+ Thao tác so sánh
+ Thao tác phân tích, chứng minh
+ Thao tác tổng hợp
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Xác định vấn đề trọng tâm của văn bản. Cho biết: Tác giả đã triển khai vấn đề trọng tâm của văn bản như thế nào? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, xác định vấn đề trọng tâm
Lời giải chi tiết:
- Vấn đề trọng tâm của văn bản: những nét tương đồng của hai nhân vật ba Ba Váy và Lỗ Toàn Nhi trong hai tác phẩm
- Triển khai văn bản: Nội dung trọng tâm/luận đề của văn bản được triển khai ở đoạn văn bản số hai với các luận cứ
+ Bà Ba Váy trong Mẫu thượng ngàn cũng như trong Lỗ Toàn Nhi trong Báu vật của đời đều là những phụ nữ vô cùng xinh đẹp, tràn đầy sức sống nhưng cuộc đời và tình duyên của họ vô cùng éo le, chứa đựng những bí mật đau đớn
+ Bà Ba Váy trong Mẫu thượng ngàn cũng như Lỗ Toàn Nhi trong Báu vật của đời đều sống trong dòng chảy lịch sử với những biến động dữ dội, những chết chóc đau thương, những cuộc tàn sát thảm khốc
+ Người phụ nữ trong Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), trong Báu vật của đời (Mạc Ngôn) là những người mẹ, là “mẫu” làm nảy sinh sự sống và nuôi dưỡng sự sống
Câu 5 (1 điểm)
|
Câu 5. Mục đích của người viết văn bản là gì? Vấn đề tác giả nêu trong văn bản có ý nghĩa như thế nào đối với việc nghiên cứu văn học của nước nhà ! (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và rút ra mục đích của người viết
Từ đó suy ra ý nghĩa đối với việc nghiên cứu văn học nước nhà
Lời giải chi tiết:
- Mục đích của người viết văn bản:
+ Làm rõ nét tương đồng ở hai nhân vật (bà Ba Váy và Lỗ Toàn Nhi), khẳng định tài năng của hai nhà văn Mạc Ngôn (Trung Quốc) và Nguyễn Xuân Khánh (Việt Nam)
+ Khẳng định thành công, sức sống và khả năng hòa nhập vào dòng chảy của văn học thể giới của văn học Việt Nam → niềm tự hào về văn học nước nhà
- Vấn đề tác giả nêu trong văn bản (nét tương đồng ở hai tác phẩm thuộc hai quốc gia) có ý sâu sắc đối với việc nghiên cứu văn học của nước nhà, văn học khu vực và văn học thế giới trong thời kì hội nhập, thời đại 4.0, để thấy được:
+ Sự giao thoa, ảnh hưởng giữa các nền văn học, các quốc gia trong thời kì hội nhập
+ Tính dân tộc, nhân loại, sự hòa nhập của văn học mỗi quốc gia, văn học thế giới
II. VIẾT (4,0 điểm)
Câu 1. (2 điểm)
|
Câu 1. Từ văn bản đọc hiểu trên, em tích luỹ thêm được kinh nghiệm nào để viết bài văn so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện? (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đưa ra quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
Đoạn văn đảm bảo dung lượng 200 chữ và nội dung hương vào những ý sau:
- Học sinh tự trả lời (từ kiến thức nền và sự tiếp nhận, nhận thức của mỗi cá nhân)
- Tham khảo gợi ý: chú ý cách triển khai vấn đề; khái quát nét chung ở hai nhân vật, hai tác phẩm; cách lựa chọn, sắp sếp dẫn chứng; sử dụng các thao tác nghị luận như phân tích, so sánh, chứng minh,…)
Câu 2. (4đ)
|
Hãy lựa chọn hai truyện ngắn đã đọc để so sánh, đánh giá làm nổi bật nét tương đồng về tính cách của nhân vật chính, một nét tương đồng về nghệ thuật xây dựng nhân vật bằng văn bản nghị luận (600 chữ). |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Hãy lựa chọn hai truyện ngắn đã đọc để so sánh, đánh giá làm nổi bật nét tương đồng về tính cách của nhân vật chính, một nét tương đồng về nghệ thuật xây dựng nhân vật bằng văn bản nghị luận (600 chữ). |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Tên sách; Tên tác giả (hình ảnh: bìa sách và tác giả) - Nhà xuất bản; nơi phát hành (địa chỉ mua sách) |
|
Thân bài |
3,0 |
*Nét tương đồng (gọi tên nét tương đồng) - Tính cách của nhân vật ở tác phẩm 1 - Tính cách của nhân vật ở tác phẩm 2 - Ý nghĩa của nét tính cách biểu hiện ở hai nhân vật *Nét tương đồng nghệ thuật xây dựng nhân vật (Học sinh xác định ở hai tác phẩm đã lựa chọn một trong các yếu tố sau) - Miêu tả diễn biến tâm lý - Khắc họa diện mạo, đối thoại - Thể hiện cảm xúc ở nhân vật |
|
Kết bài |
0,25 |
- Khái quát giá trị, sự đóng góp của hai tác giả ở đề tài tư tưởng - Sự tác động của hai tác phẩm vào cảm xúc nhận thức của cá nhân |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Lựa chọn được hai truyện ngắn có cùng phong cách (hiện thực/ lãng mạn) như Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và Tuyết (K.G. Paustovsky) hoặc Chí Phèo (Nam Cao) và Vợ nhặt (Kim Lân) - Sử dụng thành thạo các thao tác lập luận: so sánh, phân tích, khái quát/tổng hợp |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 5
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
NHÀ THỊ TRƯỞNG HÂN HOAN
(Quan thanh tra – Gô gôn)
Tóm tắt hài kịch Quan thanh tra:
Hồi I: Thị trưởng một thị trấn tỉnh lẻ ở nước Nga đột ngột triệu tập quan chức để tuyên bố về việc nhận được mật báo: có quan thanh tra cấp cao bí mật tới thị trấn. Cả bọn kinh hãi, bởi việc gì trong thị trấn khó có thể coi là tử tế... Cả bọn tưởng một người khách ở thị trấn là quan thanh tra, nên sửa soạn đến cung phụng để che tội mình.
Hồi II: I-van A-lếch-xan-đrô-vích Khơ-lét-xta-cốp (Ivan Alexandrovitr Khlestacov) vốn là một nhân viên thư kí quèn ở văn phòng của một vụ ở Pê-téc bua (Petersburg). Anh ta từng sống chui lủi để trốn tiền trọ, song vẫn luôn giữ diện mạo bảnh bao. Khi hắn đang hết tiền, đói khát thì đám quan chức trong thị trấn, tưởng gã là quan thanh tra, tới cung phụng. Thị trưởng mời hắn chuyển đến ở nhà mình.
Hồi III: Khơ-lét-xta-cốp nhập vai quan thanh tra đến ở nhà thị trưởng. Việc được thết đãi linh đình tạo cảm hứng cho gã khoác lác về vị thế sang trọng và danh tiếng tưởng tượng của mình. Vợ và con gái thị trưởng sán lại làm thân. Lũ quan tham trong thị trấn lại thêm phần sợ hãi.
Hồi IV: Quan chức, những kẻ tò mò và cả những người bị oan khuất trong thị trấn lũ lượt xin vào gặp Khơ-lét-xta-cốp. Gã thoạt đầu còn sượng sùng vay tiền đám quan chức, tiến tới đòi hỏi, quát nạt để ăn hối lộ công khai của cả người bị hiếp đáp. Khơ-lét-xta-cốp còn tận dụng cơ hội để tán tỉnh cả vợ lẫn con gái thị trưởng, rồi cầu hôn với con gái ông ta.
Hồi V: Thị trưởng vênh váo với việc con gái mình sẽ kết hôn với “quan lớn” thanh tra, đang hân hoan thì chủ sự bưu vụ báo tin Khơ-lét-xta-cốp không phải là quan thanh tra. Đúng lúc đó, một viên hiến binh xuất hiện, tuyên bố: Quan thanh tra thực vừa mới đến thành phố, yêu cầu tất cả tới trình diện khiến tất cả kinh hoàng, đờ ra như hoá đá, chuyển vào Lớp Câm – kết thúc hài kịch.
Đoạn trích Nhà thị trưởng hân hoan là lớp 7, hồi 5 của vở hài kịch.
Cảnh sát trưởng:
Tôi hân hạnh chúc mừng ông lớn, và cầu mong ông lớn được sống lâu trăm tuổi.
Thị trưởng: Cảm ơn, cảm ơn! Thưa các vị, xin mời các vị ngồi. (Khách ngồi.)
Am-mốt phi-ô-đô-rô-vích:
Nhưng ông Am -mốt phi-ô-đô-rô-vích, xin ông cho biết, câu chuyện này bắt đầu ra sao, diễn biến như thế nào?
Thị trưởng: Chuyện thật kì lạ, chính anh ấy hỏi xin chứ lị.
An-na An-drây-ép-na:
Anh ấy hỏi một cách kính cẩn, tế nhị. Anh ấy nói rõ ràng minh bạch như thế này: “Thưa bà An-na An-đrây-ép-na, chỉ vì tối một niềm kính trọng phẩm giá của bà. Con người điển trai, có học thức, đứng đắn như thế lại nói: “Thưa bà An-na An-đrây-ép-na, không hiểu bà có tin cho không, đối với tôi cuộc đời không đáng giá một đồng xu nhỏ; chỉ vì tôi quý trọng những đức tính hiếm có của bà quá thể.”
Ma-ria An-tôn-nốp-na: Hứ! Mợ ạ, anh ấy nói với con như thế chứ.
An-na An-drây-ép-na:
Im đi, mày thì biết cái gì, đừng có dúng vào những việc không phải của mình
Anh ấy lại nói tiếp: “Bà An-na An-đrây-ép-na, bà làm cho tôi đâm thẫn thờ sửng sốt.” Anh ấy còn nhiều câu khen ngợi tôi đại loại như thế nữa. Khi tôi muốn nói với anh ấy rằng chúng tôi không hi vọng được cái vinh dự như vậy, thế là anh ấy quỳ ngay xuống, kêu lên một cách rất lịch sự: “An-na An-đrây-ép-na, bà đừng làm tôi đau khổ. Xin đáp lại mối tình của tôi, nếu không sẽ tự kết liễu cuộc đời mình.
Ma-ria An-tôn-nốp-na: Mợ ạ, đó là những câu anh ấy nói về con.
An-na An-drây-ép-na:
Phải, tất nhiên... Anh ấy cũng có nói về mày, tao không bảo là không.
Thị trưởng:
Rồi anh ấy lại còn doạ tự sát. Anh ấy nói: tôi sẽ tự tử, tôi sẽ tự bắn vào đầu.
Nhiều người nói: Thật thế kia à!
Am-mốt Phi-ô-đô-rô-vích: Chuyện kì lạ nhỉ!
Lu-ca Lu-kích: Thực là số trời run rủi.
Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích:
Bố ơi, không phải số trời đâu, số trời là cái quái gì, đó là do có tài nên danh phận đây. (Nói riêng) Thằng cha ngu như lợn này, số nó bao giờ cũng gặp may.
Am-mốt Phi-ô-đô-rô-vích:
Ông An-tôn An-tô-nô-vích, ông có muốn tôi để lại cho ông con chó đực, cái con ông muốn mua ấy...
Thị trưởng: Không, bây giờ tôi không có thì giờ nghĩ đến chó má nữa.
Am-mốt Phi-ô-đô-rô-vích: Nếu ông không muốn lấy con ấy thì chọn con khác.
Vợ Rô-cô-rốp-krin:
Chà, An-na An-đrây-ép-na, chị thật không thể tưởng tượng được em vui sướng biết bao thấy chị được hạnh phúc!
Rô-cô-rop-krin:
Xin ông cho biết, hiện nay vị khách lừng danh ở đâu? Tôi nghe nói ngài có việc phải đi rồi!
Thị trưởng: Phải, anh ấy đi một ngày thôi, có việc quan trọng.
An-na An-đrây-ép-na: Đi đến nhà chú đấy, để xin ông ta tán thành việc hôn nhân.
Thị trưởng:
Để xin ông ta tán thành; nhưng ngày mai. (Hắt hơi, mọi người cùng kêu: “Sống lâu, giàu bền”) Cảm ơn vạn bội! Nhưng ngày mai, anh ấy trở lại. (Hắt hơi. Tất cả mọi người lại kêu lên: “Sống lâu, giàu bền”)
Cảnh sát trưởng: Chúc ngài sống lâu.
Bốp-chin-xki: Sống lâu trăm tuổi, tiền của như núi.
Đốp-chin-xkhi: Sống một trăm thêm năm tuổi lẻ.
Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích: Phỉ thui, chết mẹ mày đi.
Vợ Kô-rốp-kin: Phỉ phui, quỷ bắt mày đi!
Thị trưởng: Cảm ơn, tôi cũng chúc các vị như thế.
An-na An-drây-ép-na:
Bây giờ chúng tôi có ý định sống ở thủ đô. Không khí ở đây, tôi thú thật, quê mùa lắm, rất khó chịu... Nhà tôi ấy mà, sẽ được phong nguyên soái.
Thị trưởng: Thưa các vị, tôi thú thực rất muốn làm nguyên soái, khỉ thế chứ lại.
Lu-ca Lu-kích: Cầu Chúa cho ông được toại nguyện.
Ra-xta-cốp-xki: Sức người không làm gì được, mọi việc đều do ý Chúa cả.
Am-mốt Phi-ô-đô-rô-vích: Thuyền to thì cần biển rộng chứ.
Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích: Thật vinh dự, xứng đáng với công trạng.
Am-mốt phi-ô-đô-rô-vích: (Nói riêng)
Nếu nó làm nguyên soái, thì thật là trò hề. Nó mà mang lon tướng thì như bò được thắng yên ngựa! Hử, không đâu, anh bạn, bài ca ấy nghe hãy còn xa xôi lắm! Ở đời khối thằng tài cán hơn anh mà chẳng được làm nguyên soái nữa là.
Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích: (Nói riêng)
Chà đồ chó chết, nó lại muốn leo lên chức nguyên soái. Chưa biết chừng nó được là cũng nên, nó có cái vẻ tinh ranh, khéo xoay xở lắm. (Nói với thị trưởng) An-tôn An-tô-nô-vích, lúc ấy đừng quên anh em nhé.
Am-mốt Phi-ô-đô-rô-vích:
Và nếu có việc gì xảy ra chẳng hạn như anh em cần giúp đỡ việc gì, đừng quên che chở anh em đấy nhé.
Kô-rốp-kin:
Sang năm, tôi cho cháu ra thủ đô, để nó làm việc cho nhà nước; nhờ ông nâng đỡ cháu, coi cháu như con ông vậy.
Thị trưởng: Về phía tôi, tôi xin sẵn sàng, sẵn sàng cố gắng.
An-na An-drây-ép-na:
Antôsa, lúc nào cậu cũng hay hứa trước. Lúc bấy giờ, còn thì giờ đầu mà nghĩ tới việc đó. Sao lại cứ hứa hẹn hão cho nặng mình ra
An-na An-drây-ép-na:
Tất nhiên là có thể, nhưng không thể che chở cho bất kì thằng tẹp nhẹp nào, Vợ Kô-rốp-kin: Các vị nghe chưa, bà ấy đối xử với chúng ta như thế đấy.
(Gôgôn, Quan thanh tra, Vũ Đức Phúc dịch, NXB Sân khấu, Hà Nội, 2006)
(*) Tên văn bản do nhóm biên soạn đặt.
(1) Nguyễn văn là “một lời chúc tụng”. Nhưng những người mê tín ở Việt Nam hay nói: “Sống lâu”
(2) Khi hắt hơi, người ta có hai kiểu mê tín: một là chức tụng, hai là nói để giải hoạ. Ac-lê-mi là kế quỷ quyệt, lợi dụng việc đó, xỏ thị trưởng.
* Nikolay Vasilievich Gogol (Gô-gôn) (1809 – 1852) là một văn sĩ, thi sĩ, kịch tác gia và phê bình gia người Nga gốc Ukraina – Ba Lan. Ông là một nhà văn hiện thực lớn của nước Nga và của toàn thế giới thế kỉ XIX.
Câu hỏi:
Câu 1. Tóm tắt nội dung và mâu thuẫn/xung đột thể hiện trong trích đoạn hài kịch Nhà thị trưởng hân hoan (Quan thanh tra của Gô-gôn) (0.5 điểm)
Câu 2. Vì sao vợ chồng nhà thị trưởng vênh váo như vậy? Họ là người như thế nào? Điều này khiến em dự đoán drama (kịch) nào sẽ xảy ra tiếp theo? (0.5 điểm)
Câu 3. Đặc điểm của nhân vật hài kịch hiện lên trong đoạn trích như thế nào? Em ấn tượng với thủ pháp nghệ thuật khắc hoạ nhân vật hài kịch nào của tác giả
Gô-gôn? (1.0 điểm)
Câu 4. Đọc đoạn thoại sau và trả lời câu hỏi a, b, c. (1.0 điểm)
An-na An-đrây-ép-na: Anh ấy hỏi một cách kính cẩn, tế nhị. Anh ấy nói rõ ràng minh bạch như thế này: “Thưa bà An-na An-đrây-ép-na, chỉ vì tôi một niềm kính trọng phẩm giá của bà”. Con người điển trai, có học thức, đứng đắn như thế lại nói: “Thưa bà An-na An-đrây-ép-na, không hiểu bà có tin cho không, đối với tôi cuộc đời không đáng giá một đồng xu nhỏ; chỉ vì tôi quý trọng những đức tính hiếm có của bà quá thể..”
Ma-ria An-tôn-nốp-na: Hứ! Mợ ạ, anh ấy nói với con như thế chứ.
An-na An-đrây-ép-na: Im đi, mày thì biết cái gì, đừng có dúng vào những việc không phải của mình! Anh ấy lại nói tiếp: “Bà An-na An-đrây-ép-na, bà làm cho tôi đâm thẫn thờ sửng sốt”. Anh ấy còn nhiều câu khen ngợi tôi đại loại như thế nữa. Khi tôi muốn nói với anh ấy rằng chúng tôi không hi vọng được cái vinh dự như vậy, thế là anh ấy quỳ ngay xuống, kêu lên một cách rất lịch sự: “An-na An-đrây-ép-na! Bà đừng làm tôi đau khổ. Xin đáp lại mối tình của tôi, nếu không sẽ tự kết liễu cuộc đời mình”
Ma-ria An-tôn-nốp-na: Mợ ạ, đó là những câu anh ấy nói về con.
a) Xác định nhân vật “anh ấy”, người gọi “anh ấy” và chỉ ra sự phi lí, hài hước
trong cách xưng hô này.
b) “Mợ ạ, anh ấy nói với con như thế chứ” là lời của ai? Lời nói ấy phản ánh được “vấn đề” nào?
c) Tiếng cười cất lên từ đâu? Tác giả đã gửi gắm điều gì qua đoạn hội thoại ấy?
Câu 5. Văn bản trên sử dụng những thủ pháp gây cười nào? Theo em, thủ pháp nào đặc sắc nhất? Vì sao? (1.0 điểm)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Xác định cảm hứng, những thói hư, tệ nạn cần phê phán trong trích đoạn hài kịch Nhà thị trưởng hân hoan và cho biết hiện tượng, thói xấu nào vẫn tồn tại trong đời sống hôm nay? Theo, em, thói xấu nào gây nhiều tác hại cho xã hội? Vì sao? (Đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm)
Câu 2. Viết văn bản (600 chữ) so sánh để làm nổi bật nét khác biệt và điểm tương đồng nội dung phê phán và thủ pháp trào phúng - nghệ thuật gây cười của 2 văn bản hài kịch Thuỷ thủ tàu viễn dương (Bệnh sĩ của Lưu Quang Vũ) ở đề 1 và Nhà thị trưởng hân hoan (Quan thanh tra của Gô-gôn). Từ đó chia sẻ ngắn về tác động của 2 trích đoạn hài kịch tới nhận thức của em.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Tóm tắt nội dung và mâu thuẫn/xung đột thể hiện trong trích đoạn hài kịch Nhà thị trưởng hân hoan (Quan thanh tra của Gô-gôn) (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
- Tóm tắt nội dung: Thị trưởng vênh váo, say sưa với việc con gái mình sẽ kết hôn với “quan lớn” thanh tra, gia đình sẽ chuyển về thủ đô, sẽ thật thần thế, danh giá, các quan chức địa phương đến chúc mừng, cầu cạnh. Ngoài mặt kẻ nào cũng ra sức nịnh bợ nhưng bên trong coi nhau không ra gì.
- Mâu thuẫn: giữa cái thấp hèn với cái thấp hèn (Thị trưởng vênh váo cậy thần thế, danh giá chưa có của mình >< kẻ nịnh bợ để cầu lợi, nhưng trong lòng vẫn khinh bỉ nhau)
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Vì sao vợ chồng nhà thị trưởng vênh váo như vậy? Họ là người như thế nào? Điều này khiến em dự đoán drama (kịch) nào sẽ xảy ra tiếp theo? (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đưa ra dự đoán của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Vợ chồng nhà thị trưởng vênh váo vì tin chắc rằng mình sẽ có con rể danh giá là quan thanh tra, sẽ đến thủ đô sống, sẽ được phong nguyên soái, sẽ được giao tiếp với giới thượng lưu, sẽ có nhiều người cầu cạnh,...
- Là những kẻ háo danh, hám lợi, cả tin, dễ bị lừa
- Drama (kịch) tiếp theo: nhận ra mình bị lừa cay đắng, thất vọng và căm tức kẻ thanh tra rởm.
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Đặc điểm của nhân vật hài kịch hiện lên trong đoạn trích như thế nào? Em ấn tượng với thủ pháp nghệ thuật khắc hoạ nhân vật hài kịch nào của tác giả Gô-gôn? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về đặc điểm của nhân vật hài kịch
Dựa vào kiến thức về đặc điểm sáng tác của Gô - gôn
Lời giải chi tiết:
- Các nhân vật hài kịch, phẩm chất bên trong không tương xứng với vị trí thân phận của họ và do vậy, họ đáng là nạn nhân của tiếng cười:
+ Thị trưởng: kẻ hám lợi bị công chức quèn lừa nhưng đang mong được phong nguyên soái.
+ Vợ thị trưởng: ngu dốt, mê trai; đang đê mê với lời có cánh giả dối (“Tôi một niềm kính trọng phẩm giá của bà”; “Bà đừng làm tôi đau khổ. Xin đáp lại mối tình của tôi.)
- Thủ pháp nghệ thuật khắc hoạ nhân vật hài kịch của tác giả Gô-gôn
+ Độc thoại để lột tả tính cách, bản chất nhân vật qua những chỉ dẫn sân khấu (nói riêng): (A-mi-mốt Phi-ô-đô-rô-vích: (Nói riêng) Nếu nó làm nguyên soái, thì thật là trò hề. Nó mà mang lon tướng thì như bò được thắng yên ngựa! Hử, không đâu, anh bạn, bài ca ấy nghe hãy còn xa xôi lắm! Ở đời khôi thẳng tài cán hơn anh mà chẳng được làm nguyên soái nữa là; Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích: (Nói riêng) Cha đồ chó chết, nó lại muốn leo lên chức nguyên soái. Chưa biết chừng nó được là cũng nên, nó có cái vẻ tinh ranh, khéo xoay sở lắm) → Những kẻ đểu giả nghĩ một đằng nói một nẻo.
+ Sự mâu thuẫn, vô lí, sáo rỗng trong lời thoại nhân vật.
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Đọc đoạn thoại sau và trả lời câu hỏi a, b, c. (1.0 điểm) a) Xác định nhân vật “anh ấy”, người gọi “anh ấy” và chỉ ra sự phi lí, hài hước trong cách xưng hô này. b) “Mợ ạ, anh ấy nói với con như thế chứ” là lời của ai? Lời nói ấy phản ánh được “vấn đề” nào? c) Tiếng cười cất lên từ đâu? Tác giả đã gửi gắm điều gì qua đoạn hội thoại ấy? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và các yêu cầu
Lời giải chi tiết:
a) Anh ấy là: quan thanh tra (kẻ đang bị nhận nhầm là quan thanh tra), là người sắp cưới con gái của thị trưởng; người gọi “anh ấy” chính là vợ thị trưởng, mẹ vợ tương lai của anh ta.
b) “Mợ ạ, anh ấy nói với con như thế chứ!” là lời con gái của vợ chồng nhà thị trưởng. Chứng tỏ kẻ “anh ấy” đang tán tỉnh cả hai mẹ con (vợ, con gái của thị trưởng).
c) Tiếng cười cất lên từ:
+ Thái độ của vợ thị trưởng: Bà ta nói cứ như nói về người của mình, tỏ tình với mình mà không hề ngượng ngùng, bà ta gạt phắt lời của con gái để kể say mê: bà ta cũng mê gã thanh tra rởm.
+ Từ “nội dung” lời tán tỉnh toàn những lời bóng bẩy, phi logic, vô nghĩa (“Đối với tôi, cuộc đời không đáng giá một đồng xu nhở”; “chỉ vì tôi quý trọng những đức tính hiếm có của bà quá thể”; “bà làm cho tôi đâm thẫn thờ, sửng sốt”,...)
+ Từ thực tế: Cả hai mẹ con ngu dốt, mê muội danh vọng không nhận ra bộ mặt thật của quan thanh tra rởm.
- Tác giả gửi gắm thông điệp: Những kẻ mê muội danh tiếng hão, mong hưởng thụ lợi lộc từ kẻ khác thì sẽ bị chính những thứ đó lừa dối.
|
Câu 5. Văn bản trên sử dụng những thủ pháp gây cười nào? Theo em, thủ pháp nào đặc sắc nhất? Vì sao? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về thủ pháp nghệ thuật của thể loại hài kịch
Lời giải chi tiết:
– Tạo tình huống kịch tính; Điệu bộ gây cười; Nghệ thuật phóng đại (nói quá, cường điệu); Chơi chữ, gây hiểu lầm. (Học sinh tự đưa dẫn chứng.)
- Đánh giá thủ pháp đặc sắc nhất: Học sinh tự làm theo quan điểm cá nhân nhưng cần có đủ các yếu tố sau đây:
+ Xác định đoạn/ câu chứa thủ pháp gây cười.
+ Lí giải bằng hai lí do trở lên (gây cười, tác động tới độc giả).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Xác định cảm hứng, những thói hư, tệ nạn cần phê phán trong trích đoạn hài kịch Nhà thị trưởng hân hoan và cho biết hiện tượng, thói xấu nào vẫn tồn tại trong đời sống hôm nay? Theo, em, thói xấu nào gây nhiều tác hại cho xã hội? Vì sao? (Đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức phân tích ở trên và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Triển khai đoạn đảm bảo dung lượng; nội dung hướng vào các ý sau đây:
- Cảm hứng: châm biếm, phê phán thói háo danh, dựa hơi, cậy quyền, lừa lọc để từ đó con người nhận thức mà tránh xa, bài trừ, lên án cái xấu.
- Hiện tượng, thói xấu vẫn tồn tại trong đời sống hôm nay: háo danh, dựa hơi, cậy quyền, lừa lọc (các thói xấu có biểu hiện đa dạng, khó lường...).
- Thói xấu gây nhiều tác hại cho xã hội: Học sinh tự trả lời (cần có 2 đến 3 lí do thuyết phục để bảo vệ ý kiến của mình).
Câu 2.
|
Câu 2. Viết văn bản (600 chữ) so sánh để làm nổi bật nét khác biệt và điểm tương đồng nội dung phê phán và thủ pháp trào phúng - nghệ thuật gây cười của 2 văn bản hài kịch Thuỷ thủ tàu viễn dương (Bệnh sĩ của Lưu Quang Vũ) ở đề 1 và Nhà thị trưởng hân hoan (Quan thanh tra của Gô-gôn). Từ đó chia sẻ ngắn về tác động của 2 trích đoạn hài kịch tới nhận thức của em. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết văn bản (600 chữ) so sánh để làm nổi bật nét khác biệt và điểm tương đồng nội dung phê phán và thủ pháp trào phúng - nghệ thuật gây cười của 2 văn bản hài kịch Thuỷ thủ tàu viễn dương (Bệnh sĩ của Lưu Quang Vũ) ở đề 1 và Nhà thị trưởng hân hoan (Quan thanh tra của Gô-gôn). Từ đó chia sẻ ngắn về tác động của 2 trích đoạn hài kịch tới nhận thức của em. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu ngắn gọn về hài kịch, hai tác phẩm cần so sánh, đánh giá - Nêu luận đề: nét khác biệt và điểm tương đồng trong nội dung phê phán thủ pháp trào phúng - nghệ thuật gây cười của hai văn bản hài kịch và thành công riêng của mỗi tác giả. |
|
Thân bài |
2,5đ |
* Nét tương đồng trong nội dung phê phán: háo danh (Học sinh tự làm) * Khác biệt trong nghệ thuật trào phúng: - Thuỷ thủ tàu viễn dương (Bệnh sĩ của Lưu Quang Vũ) + Xây dựng tình huống kịch (Học sinh tự làm) + Ngôn ngữ đậm chất hài hước: Viết thư nói bốc phét còn dễ đằng này mình phải đóng kịch, cháu ngượng lắm; viễn dương hàng hải, hơn cả phi công, hơn cả lái tàu vũ trụ, nào ngờ... Mày lái tàu chở cứt hả cháu?; chết cũng phải là Vốt-xcô,... - Khắc hoạ chân dung nhân vật ông Nha: không xuất hiện trực tiếp trong đoạn trích, chỉ qua lời nói của nhân vật khác mà hiện lên khá rõ nét,... – Nhà thị trưởng hân hoan (Quan thanh tra của Gô-gôn) + Các nhân vật hài kịch, phẩm chất bên trong không tương xứng với vị trí thân phận của họ và do vậy, họ đáng là nạn nhân của tiếng cười. + Thủ pháp nghệ thuật khắc hoạ nhân vật hài kịch của tác giả Gô-gôn: Độc thoại để lột tả tính cách, bản chất nhân vật qua những chỉ dẫn sân khấu (nói riêng). |
|
Kết bài |
0,5 |
Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu - Ý nghĩa của sự tương đồng, khác biệt. - Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân sau khi đọc văn bản hài kịch. |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Sử dụng thành thạo thao tác so sánh, tổng hợp, chứng minh. - Dẫn chứng phong phú, đa dạng phù hợp với lí lẽ, luận điểm. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 6
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
Chúng ta ở đây, phút này, đang còn thở
để biết nỗi đau đã hoá thành ta
một phần không lìa bỏ
Nhưng chúng ta ở đây cũng đồng thời chứng tỏ
bản thân ta giàu sức mạnh hồi sinh
và tương lai luôn có chỗ cho mình
cũng như cho những con người can đảm
dám đối diện thay vì chán nản
xắn tay làm chứ không chịu ban ơn
biết mỉm cười thay vì chỉ thở than
kiên nhẫn đi tìm cánh cửa mình cần mở
Không hắt hủi cuộc đời, kể cả những nỗi đau
lựa chọn sống thế nào hơn là sống bao lâu
Chúng ta ở đây, phút này, đang còn thở…
(Chúng ta ở đây, phút này…, Nguyễn Bích Lan, Sống trong chờ đợi, Truyện ngắn và thơ, NXB Phụ nữ Việt Nam, tr 82)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.
Câu 1: Xác định thể thơ.
Câu 2: Xác định nhân vật trữ tình trong bài thơ.
Câu 3: Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ lặp cấu trúc trong bài thơ.
Câu 4: Anh/chị hiểu những dòng thơ sau như thế nào?
“Không hắt hủi cuộc đời, kể cả những nỗi đau
Lựa chọn sống thế nào hơn là sống bao lâu”
Câu 5: Thông điệp sâu sắc mà anh/chị rút ra từ bài thơ là gì? Vì sao?
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích tâm trạng của nhân vật Gầu trong đoạn trích sau:
Bà nội mất sau một thời gian ốm dậy
Đưa bà ra nghĩa trang giáo xứ về, Gầu mệt quá ngả lưng lên chiếc giường tre của nội kê nơi góc tường.
Gầu nhớ lại cái đêm ngủ ở nhà với nội, nhớ lại giấc mơ nội vuốt tóc rồi gãi lưng cho nó, còn ôm nó vào lòng.
Gầu cũng nhớ tới ánh mắt hiền dịu hiếm hoi của nội mỗi khi nội dúi vào tay nó một đồng bạc trả công sau những đêm mỏi lưng ngồi xếp cau. Những đồng bạc được bỏ vào con heo đất leng keng rộn rã, để dành mua quần áo mới mặc Tết cho anh em Gầu suốt bao nhiêu năm trời.
Nó cảm thấy cay cay nơi khóe mắt, rồi có hai dòng nước trào xuống hai bên má. Mắt nó nhoè đi.
Gấu bèn trở mình nằm sấp xuống giường úp mặt vào cánh tay, vừa lau nước mắt vừa ngăn tiếng nấc nghẹn nơi cổ họng.
Nắng ban trưa ngoài sân chợt hứng lên hắt vào nhà. Qua khe hở của các thanh tre, Gầu bỗng thấy có gì đó lấp lánh sáng dưới gầm giường. Nó lụi cụi chui vào rồi nhặt ra một đồng bạc bám đầy bụi.
Nó sực nhớ lại đồng bạc bà cho nó lúc nửa đêm từ lâu lắm rồi. Đồng bạc mà nó sung sướng cầm trên tay ngủ thiếp đi và đánh mất, để chẳng còn dịp nào mua cà rem cho nhỏ Hường nữa.
Gầu phủi sạch bụi, mân mê đồng bạc vừa tìm thấy, rồi lại nắm chặt trong tay, nằm xuống giường, và ngủ một giấc say sưa ngon lành.
(Trích “Ngủ ở nhà nội”, Nguyễn Ngọc Hoài Nam, Viết và đọc chuyên đề mùa hạ 2021, NXB Hội Nhà Văn, tr.63)
Câu 2:
“Tôi của ngày hôm nay là những lựa chọn của tôi ngày hôm qua”.
Từ ý kiến trên, anh/ chị viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về sự lựa chọn của con người trong cuộc sống.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ vào các đặc điểm hình thức để xác định thể thơ
Cách giải:
Thể thơ: Tự do
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để xác định nhân vật trữ tình
Cách giải:
Nhân vật trữ tình: “Chúng ta”
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ điệp cấu trúc để phân tích tác dụng
Cách giải:
- BPTT: Lặp cấu trúc “Chúng ta ở đây, phút này, đang còn thở”
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh thời điểm hiện tại chúng ta đang sống là có ý nghĩa nhất. Thể hiện tình yêu, sự biết ơn, trân trọng từng giây phút của cuộc đời.
+ Làm cho đoạn thơ giàu nhạc điệu, được liên kết chặt chẽ
Câu 4:
Phương pháp:
Đọc kĩ các câu thơ để phân tích ý nghĩa
Cách giải:
- Dòng thơ khuyên con người phải trân trọng cuộc đời, trân trọng những đau thương, mất mát; chọn cho mình một lối sống có ý nghĩa.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý: Thông điệp:
- Chỉ cần chúng ta còn sống thì có thể đối diện và vượt qua mọi khó khăn.
- Biết trân quý giây phút của hiện tại
- Hãy kiên nhẫn đi tìm con đường cho mình và chắc chắn ta sẽ tìm thấy cánh cửa mình cần mở.
Cách giải:
Thông điệp sâu sắc nhất mà bài thơ gửi đến người đọc chính là: cuộc sống này luôn nằm trong tầm kiểm soát của chúng ta. Dẫu rằng nỗi đau và những mất mát là điều không thể tránh khỏi, thậm chí chúng đã trở thành một phần máu thịt, nhưng bài thơ khẳng định mạnh mẽ rằng mỗi người đều sở hữu một sức mạnh nội tâm để hồi sinh và viết nên một tương lai mới. Thông điệp ấy khích lệ chúng ta hãy sống một cách chủ động, can đảm đối diện với nghịch cảnh thay vì chán nản, và kiên trì tìm kiếm những cánh cửa cần mở. Nó nhắc nhở rằng ý nghĩa đích thực của cuộc đời không nằm ở việc ta sống được bao lâu, mà ở cách ta lựa chọn sống như thế nào trong từng khoảnh khắc quý giá mình đang có.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
- Mở đoạn: Giới thiệu tên tác phẩm, tác giả: Truyện ngắn “Ngủ ở nhà nội” (Nguyễn Ngọc Hoài Nam), nhân vật Gầu.
- Thân đoạn: Có thể triển khai như sau:
+ Tâm trạng của nhân vật Gầu sau khi trở về từ đám tang của bà nội.
- Nỗi nhớ da diết của nhân vật Gầu về những kỷ niệm khi bà còn sống: Đó là kỉ niệm đêm ngủ ở nhà nội, nhớ lại những hành động yêu thương, chăm sóc, nhớ ánh mắt hiền từ , nhớ đồng bạc nội trả công sau mỗi lần xếp cau giúp nội.
- Gầu rơi nước mắt.
+ Qua nhân vật Gầu, nhà văn gửi tới người đọc thông điệp về tình cảm gia đình, đặc biệt là tình bác cháu. Hình ảnh bà luôn là hình ảnh đẹp mà chúng ta mang theo.
+ Nghệ thuật: Tâm trạng của nhân vật Gầu được miêu tả qua điểm nhìn bên ngoài (điểm nhìn của người kể chuyện). Tác giả sử dụng nhiều câu văn ngắn, ngôn ngữ giản dị, gần gũi.
- Kết đoạn:
Nhân vật Gầu đã góp phần gửi gắm chủ đề tư tưởng của tác phẩm nói chung và đoạn trích nói riêng. Đó là tình cảm thiêng liêng và đáng trân trọng trong cuộc đời.
Cách giải:
Trong truyện ngắn “Ngủ ở nhà nội” của Nguyễn Ngọc Hoài Nam, nhân vật Gầu hiện lên với những cảm xúc chân thực và xúc động sau sự ra đi của bà nội. Trở về từ đám tang, Gầu cảm thấy mệt mỏi và tìm về chiếc giường tre của bà như tìm một chỗ dựa tinh thần. Tại đó, dòng hồi ức về bà ùa về trong cậu: những đêm được bà vuốt tóc, gãi lưng, ôm vào lòng; ánh mắt hiền dịu mỗi khi bà dúi vào tay cậu đồng bạc nhỏ - phần thưởng cho những đêm xếp cau mỏi lưng. Những ký ức ấy không chỉ là kỷ niệm, mà còn là minh chứng cho tình yêu thương sâu sắc, sự chăm chút âm thầm của bà dành cho các cháu. Nỗi nhớ thương trào dâng khiến Gầu “cay cay nơi khóe mắt”, rồi “hai dòng nước trào xuống hai bên má”. Cậu nằm sấp, úp mặt vào tay, cố gắng kìm nén những tiếng nấc nghẹn ngào. Qua nhân vật Gầu, nhà văn đã gửi gắm một thông điệp sâu sắc về tình cảm gia đình, đặc biệt là tình bà cháu, đó chính là thứ tình cảm thiêng liêng, bền chặt và luôn in đậm trong tâm trí mỗi người. Về nghệ thuật, tác giả sử dụng điểm nhìn của người kể chuyện bên ngoài, kết hợp với những câu văn ngắn, ngôn ngữ giản dị, gần gũi, giúp khắc họa rõ nét diễn biến tâm lý nhân vật. Như vậy, nhân vật Gầu đã góp phần quan trọng trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm: tình cảm gia đình là giá trị thiêng liêng, đáng trân trọng và nuôi dưỡng trong cuộc đời mỗi con người.
Câu 2:
Phương pháp:
*Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Sự lựa chọn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi người trong cuộc sống.
*Thân bài:
- Giải thích: Lựa chọn là chọn giữa nhiều cái cùng loại hoặc khác loại dựa trên thông tin, giá trị, mục tiêu, tình cảm, tình huống…
- Bàn luận:
+ Sự lựa chọn là kim chỉ nam của cuộc đời nên chỉ khi lựa chọn đúng thì cuộc đời mới có hạnh phúc. Lựa chọn đúng sẽ khiến ta đi đúng đường, an vui và thành công.
+ Lựa chọn sai lầm sẽ khiến ta đi sai đường và khó đạt được thành công.
+ Cần biết cách lựa chọn và chịu trách nhiệm với sự lựa chọn của mình.
- Bác bỏ: Phê phán tư tưởng sống thuận theo tự nhiên, không cần phải lựa chọn hoặc sợ sệt lúng túng không biết lựa chọn như thế nào.
- Bài học:
+ Mỗi người cần có sự lựa chọn của riêng mình.
+ Cần suy nghĩ, cân nhắc kỹ trước khi đưa ra sự lựa chọn
+ Dù lựa chọn là đúng đắn hay sai lầm vẫn phải cố gắng, nỗ lực trong cuộc sống.
*Kết bài: Khẳng định vấn đề cần nghị luận
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Cuộc đời mỗi con người giống như một hành trình dài với vô số ngã rẽ. Ở mỗi bước ngoặt ấy, chúng ta luôn phải đối mặt với những quyết định, lớn có, nhỏ có, và chính những quyết định ấy sẽ vẽ nên bản đồ cuộc đời ta. Bởi vậy, có thể khẳng định rằng, sự lựa chọn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, thậm chí mang tính quyết định đến cuộc sống và tương lai của mỗi người.
Vậy, lựa chọn là gì? Đó là hành động cân nhắc, quyết định lấy một thứ trong số nhiều phương án, khả năng khác nhau dựa trên những thông tin, hệ giá trị, mục tiêu, tình cảm và hoàn cảnh cụ thể. Nó không đơn thuần là một cái gật đầu nhất thời, mà là sự phán xét có ý thức, định hướng cho những bước đi tiếp theo.
Trong dòng chảy của cuộc đời, sự lựa chọn đóng vai trò như một kim chỉ nam. Một lựa chọn đúng đắn, sáng suốt sẽ mở ra cho ta con đường bằng phẳng, dẫn lối đến thành công và hạnh phúc. Khi ta chăm chỉ học tập, ta lựa chọn cho mình một tương lai tri thức rộng mở. Khi ta sống chân thành, tử tế, ta lựa chọn xây dựng những mối quan hệ bền chặt và một tâm hồn thanh thản. Ngược lại, một lựa chọn sai lầm có thể dẫn ta vào ngõ cụt của thất bại và niềm đau. Lựa chọn thờ ơ với việc học, chìm đắm trong những thú vui vô bổ, hay buông thả bản thân trước cám dỗ, tất cả sẽ khiến ta phải trả giá bằng những năm tháng lẽ ra có thể tươi sáng hơn. Tuy nhiên, điều then chốt không chỉ nằm ở việc lựa chọn đúng hay sai, mà còn ở thái độ chịu trách nhiệm với chính lựa chọn của mình. Một người trưởng thành là người dám đối mặt với hậu quả từ quyết định của bản thân, dù đó là vinh quang hay thất bại, và biết rút ra bài học để tiếp tục tiến lên.
Trong xã hội, vẫn còn tồn tại những quan niệm sống cần được phê phán. Có người sống thuận theo tự nhiên, phó mặc cho số phận, không dám hoặc không muốn đưa ra bất kỳ lựa chọn nào. Lại có người luôn trong trạng thái sợ hãi, lúng túng, không biết nên chọn lựa ra sao, và cuối cùng để cơ hội vuột mất. Những lối sống thụ động ấy vô tình đánh mất quyền làm chủ cuộc đời mình, biến họ thành những con thuyền không bánh lái, trôi dạt vô định.
Từ những phân tích trên, mỗi chúng ta cần rút ra những bài học thiết thực. Trước hết, hãy ý thức rằng bản thân có quyền và cần phải có những sự lựa chọn của riêng mình. Thứ hai, trước mỗi quyết định, cần dành thời gian suy nghĩ, cân nhắc kỹ lưỡng dựa trên lý trí và sự tỉnh táo, không để cảm xúc nhất thời chi phối. Và cuối cùng, dù lựa chọn của ta có dẫn đến kết quả nào đi chăng nữa, hãy luôn giữ vững tinh thần cố gắng, nỗ lực không ngừng. Bởi ngay cả một lựa chọn sai lầm, nếu ta biết đứng dậy và sửa chữa, nó vẫn có thể trở thành bàn đạp quý giá cho những thành công trong tương lai.
Tóm lại, sự lựa chọn chính là thước đo của bản lĩnh và trí tuệ. Mỗi lựa chọn hôm nay, dù nhỏ bé, đều góp phần kiến tạo nên con người và cuộc sống của chúng ta ngày mai. Hãy trở thành một người chủ động, sáng suốt và dũng cảm trong mọi lựa chọn, bởi bạn chính là kiến trúc sư của cuộc đời mình.
Đề thi học kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản:
Mẹ quê mãi mãi mẹ quê
Con đường nho nhỏ đi về thân quen
Cả đời nào biết bon chen
Hiền như cục đất nhuộm đen màu phèn
Miếng ăn dành để luân phiên
Sợ mùa thất bát lại phiền cháu con
Quanh năm lam lũ héo hon
Quên thời con gái môi son áo hồng
Kể từ cất bước theo chồng
Mùi bùn đã ngấm, nâu sồng đã thân
Thế mà đã mấy chục năm
Tóc giờ bạc trắng lưng còng còng hơn
Gió chiều thổi nhẹ từng cơn
Long lanh ánh mắt mẹ buồn xa xăm
Lắng nghe giọng hát xa gần
Mẹ già chuối chín… vạn lần nhớ thương!
(Theo Nguyễn Minh Quang, Mẹ quê, in trong Hạnh ngộ 5, NXB Văn nghệ TP.HCM, 2008)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2. Trong văn bản trên, ngoại hình và phẩm chất của mẹ quê được khắc họa qua những chi tiết nào?
Câu 3. Phân tích hiệu quả của việc sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong câu thơ: “Hiền như cục đất nhuộm đen màu phèn”.
Câu 4. Trình bày chủ đề của văn bản trên.
Câu 5. Nhận xét về cách quan sát, cảm nhận con người và cuộc sống cũng như vẻ đẹp tài năng – tâm hồn của tác giả Nguyễn Minh Quang được thể hiện trong văn bản trên.
II. VIẾT
Câu 1:
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh mẹ quê qua cảm nhận của nhân vật trữ tình trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2:
Sự kì vọng tạo ra áp lực hay động lực?
Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề trên.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ vào các đặc điểm thức để xác định những dấu hiệu nhận biết thể loại
Cách giải:
Hình thức được tạo dựng và duy trì bằng các cặp câu thơ (gồm một câu thơ sáu chữ và một câu thơ tám chữ) lần lượt nối tiếp nhau là dấu hiệu để xác định thể thơ lục bát của văn bản.
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để tìm các chi tiết phù hợp
Cách giải:
Trong văn bản trên, hình tượng mẹ quê được khắc họa qua những chi tiết sau:
- Ngoại hình: “nhuộm đen màu phèn”, “Tóc giờ bạc trắng lưng còng còng hơn”, “quanh năm lam lũ héo hon”, “long lanh ánh mắt”.
- Phẩm chất: “hiền như cục đất”, “miếng ăn dành để luân phiên”, “mùi bùn đã ngấm, nâu sồng đã thân”.
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ so sánh để phân tích tác dụng
Cách giải:
Hiệu quả của việc sử dụng biện pháp tu từ so sánh (ví Mẹ quê “hiền” như “cục đất”) trong câu thơ “Hiền như cục đất nhuộm đen màu phèn”:
- Khiến cho lời thơ sinh động, tăng sức gợi hình – gợi cảm, làm giàu giá trị biểu đạt - biểu cảm cho sự diễn đạt.
- Giúp người đọc hình dung cụ thể, cảm nhận rõ nét về nỗi vất vả, nhọc nhằn của công việc đồng áng được khắc họa trong văn bản; cũng như khắc họa sinh động tính cách hiền lành, giản dị, cam chịu của người mẹ thân thương ở quê nhà
- Từ đó thể hiện tấm lòng hiếu thảo, tình yêu thương tha thiết, thái độ trân trọng cùng nỗi xót xa, trăn trở của chủ thể trữ tình về sự hi sinh vĩ đại của mẹ, ý thức sâu sắc về trách nhiệm của người con trong việc đền đáp công ơn sinh dưỡng của mẹ.
Câu 4:
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản để xác định tư tưởng, cảm nhận của tác giả về đối tượng
Cách giải:
Ghi lại những cảm nhận chân thực, sinh động về sự hi sinh thầm lặng nhưng vĩ đại của người mẹ trong gia đình thôn quê, bài thơ Mẹ quê (Nguyễn Minh Quang) đã thể hiện rõ nét tình yêu thương, thái độ trân trọng, tấm lòng biết ơn của người con dành cho mẹ; qua đó tác giả trực tiếp bày tỏ thái độ ca ngợi, tri ân đức hi sinh của mẹ, đề cao tình mẫu tử thiêng liêng, cao đẹp.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý: Có thể theo hướng:
- Nguyễn Minh Quang có cách quan sát, cảm nhận con người và cuộc sống chân thực, sinh động, tỉ mỉ.
- Nguyễn Minh Quang cũng là nhà thơ có khả năng sử dụng tiếng Việt nhuần nhuyễn, khéo léo khai thác chất liệu văn học dân gian Việt Nam và có thái độ trân trọng, tôn quý đối với ngôn ngữ và văn học dân tộc…
Cách giải:
Qua văn bản "Mẹ quê", có thể thấy Nguyễn Minh Quang là người có cách quan sát và cảm nhận cuộc sống vô cùng chân thực, sinh động và tỉ mỉ. Ông không chỉ nhìn thấy vẻ ngoài "lam lũ héo hon", mái "tóc bạc trắng" hay "lưng còng" của mẹ, mà còn thấu cảm được cả thế giới nội tâm, những hy sinh thầm lặng và nỗi lo toan chất chứa trong "ánh mắt mẹ buồn xa xăm". Đồng thời, ông còn là một nhà thơ sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt một cách nhuần nhuyễn và sâu sắc. Việc vận dụng thể thơ lục bát truyền thống, cùng những hình ảnh so sánh giàu chất dân gian "Hiền như cục đất", đã cho thấy ông am hiểu và trân trọng chất liệu văn hóa dân tộc, góp phần tạo nên một hình tượng người mẹ quê giản dị mà vĩ đại, in đậm trong lòng người đọc.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Hình ảnh mẹ quê gắn liền với lối sống giản dị, dân dã, thanh bạch
- Hình ảnh mẹ quê mang vẻ đẹp gần gũi, thân thương với những phẩm chất tốt đẹp, đáng quý tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam: cần kiệm, nhân hậu, giàu tình thương yêu và đức hi sinh cao đẹp, tảo tần, đảm đang.
- Hình ảnh mẹ quê phản ánh rõ nét sự bào mòn khắc nghiệt của thời gian cùng cuộc sống vất vả, cực nhọc đè nặng lên vai người phụ nữ trong gia đình, là minh chứng điển hình cho vẻ đẹp mộc mạc, bình dị của người phụ nữ Việt Nam
Cách giải:
Qua cảm nhận của nhân vật trữ tình, hình ảnh mẹ quê hiện lên thật đẹp đẽ và cảm động trong sự giản dị, đời thường. Trước hết, mẹ là hiện thân của lối sống thanh bạch, dân dã, gắn bó máu thịt với quê hương qua “con đường nho nhỏ đi về thân quen”, với cuộc đời “nào biết bon chen” và đã thấm đẫm “mùi bùn”, màu “nâu sồng” của đất. Ở mẹ hội tụ những phẩm chất cao quý tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam: đức hi sinh thầm lặng “Miếng ăn dành để luân phiên”, sự tảo tần, đảm đang “quanh năm lam lũ”, và lòng nhân hậu, “hiền như cục đất”. Thế nhưng, đằng sau vẻ đẹp ấy là một cuộc đời vất vả, là sự héo mòn của thời gian in hằn trên mái “tóc bạc trắng”, dáng “lưng còng” và sự hi sinh đến quên cả tuổi thanh xuân “môi son áo hồng”. Chính sự chân thực đến xót xa ấy đã khiến hình tượng người mẹ trở nên bất tử, khắc sâu vào lòng người đọc lòng biết ơn, kính trọng vô hạn đối với đấng sinh thành.
Câu 2:
Phương pháp:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
* Thân bài:
- Giải thích: Sự kì vọng là thuật ngữ chỉ việc con người đặt nhiều niềm tin, hi vọng, mong mỏi vào một đối tượng hay sự việc nào đó có ý nghĩa quan trọng đối với họ; áp lực là sự cưỡng ép được con người cảm nhận rõ rệt; động lực là cái thúc đẩy, làm cho con người phát triển theo chiều hướng tích cực, tiến bộ; vấn đề này đề cập đến tác dụng của sự kì vọng đối với con người khi được nhìn nhận dưới góc độ đa chiều.
- Bàn luận:
+ Sự kì vọng có thể tạo ra áp lực cho con người trên nhiều phương diện với nhiều mức độ khác nhau; con người cần nhận thức và kiểm soát sự kì vọng của bản thân vào một điều gì đó vì nó có thể gây ra nhiều vấn đề tiêu cực.
+ Sự kì vọng có thể tạo ra động lực cho con người, thúc đẩy con người phấn đấu để vượt qua khó khăn, thử thách để thực hiện nhiều mục tiêu; con người cần đặt kì vọng đúng mức, đúng chỗ để nó phát huy tác dụng tích cực.
- Mở rộng vấn đề, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác.
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
Cách giải:
Trong hành trình trưởng thành của mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, chúng ta không chỉ mang trên vai những ước mơ, hoài bão của riêng mình mà còn cả những kỳ vọng từ gia đình, thầy cô và xã hội. Sự kỳ vọng ấy tựa như một con dao hai lưỡi, có thể trở thành sức mạnh nâng đỡ ta bay cao, bay xa, nhưng cũng có thể biến thành gánh nặng kéo ta chìm xuống vực sâu của áp lực. Vậy, ranh giới giữa động lực và áp lực nằm ở đâu?
Trước hết, cần hiểu rõ bản chất của các khái niệm. Kỳ vọng là những mong đợi, niềm tin vào một kết quả tốt đẹp trong tương lai mà người khác hoặc chính bản thân ta đặt ra. Áp lực là cảm giác căng thẳng, nặng nề khi phải đáp ứng những mong đợi đó. Còn động lực chính là sự thúc đẩy từ bên trong, giúp ta có thêm năng lượng và quyết tâm để hành động. Vấn đề then chốt nằm ở cách chúng ta tiếp nhận và chuyển hóa sự kỳ vọng.
Không thể phủ nhận, khi được đặt đúng chỗ và đúng mức, kỳ vọng sẽ trở thành động lực vô cùng mạnh mẽ. Một lời động viên "Thầy tin em làm được" từ người giáo viên, một ánh mắt tin cậy "Con nhất định sẽ thành công" từ cha mẹ, có sức mạnh vượt xa mọi lời cổ vũ suông. Nó cho chúng ta cảm giác được công nhận, được tin tưởng và có giá trị. Khi ấy, kỳ vọng trở thành ngọn hải đăng dẫn lối, giúp ta vững tay chèo vượt qua những con sóng dữ của khó khăn, thử thách. Nó thôi thúc ta nỗ lực không ngừng, khơi dậy tiềm năng ẩn sâu bên trong để đạt được mục tiêu. Sự kỳ vọng lành mạnh chính là liều thuốc tinh thần quý giá, là bàn đạp vững chắc cho sự phát triển.
Trong lịch sử, chúng ta có minh chứng rõ nét từ câu chuyện của thiên tài Albert Einstein. Thuở nhỏ, Einstein bị coi là một học sinh chậm phát triển, thậm chí có giáo viên còn khẳng định ông "sẽ chẳng đạt được thành công gì". Thế nhưng, người mẹ của Einstein - bà Pauline Koch - chưa bao giờ đánh mất niềm tin vào con trai. Bà luôn khích lệ, ủng hộ đam mê khoa học của cậu bé, tạo điều kiện cho con được thỏa sức khám phá thế giới tri thức. Chính sự kỳ vọng tích cực và tình yêu thương vô điều kiện của người mẹ đã trở thành động lực mạnh mẽ, giúp Einstein vượt qua mọi định kiến để trở thành một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất mọi thời đại, người đã thay đổi hoàn toàn nền vật lý hiện đại.
Tuy nhiên, cũng giống như việc bón quá nhiều phân sẽ làm chết cây, sự kỳ vọng thái quá hoặc sai hướng sẽ dễ dàng biến thành áp lực tàn khốc. Khi cha mẹ ép con phải trở thành bác sĩ trong khi con đam mê hội họa, khi xã hội mặc định thành công của người trẻ phải là một công việc lương cao, chức vọng, thì những kỳ vọng ấy không còn là động lực nữa. Chúng trở thành gông cùm vô hình, đè nặng lên đôi vai non trẻ, khiến họ mất đi niềm vui sống, đánh mất chính mình và đôi khi, dẫn đến những hậu quả thương tâm như trầm cảm, lo âu. Áp lực từ kỳ vọng có sức tàn phá khủng khiếp, nó bào mòn sự sáng tạo, giết chết ước mơ và làm tổn thương các mối quan hệ.
Vậy, làm thế nào để biến kỳ vọng thành động lực? Câu trả lời nằm ở cả hai phía. Với người được kỳ vọng, đặc biệt là giới trẻ, chúng ta cần học cách lắng nghe và thấu hiểu chính mình. Hãy xác định rõ đâu là đam mê, thế mạnh và giới hạn của bản thân. Từ đó, biết chắt lọc những kỳ vọng phù hợp để làm mục tiêu phấn đấu, và can đảm trao đổi, phản hồi với những kỳ vọng không thực tế. Động lực bền vững nhất phải xuất phát từ khát vọng nội tại, chứ không phải từ sự ép buộc bên ngoài. Về phía gia đình và xã hội, hãy trở thành những người bạn đồng hành thấu hiểu thay vì những người chỉ huy cứng nhắc. Hãy đặt kỳ vọng dựa trên năng lực và nguyện vọng thực tế của con em mình, và trên hết, hãy cho chúng biết rằng, dù có thất bại, chúng vẫn luôn được yêu thương và chấp nhận.
Tóm lại, bản thân kỳ vọng không xấu, cũng không tốt. Nó là áp lực hay động lực hoàn toàn phụ thuộc vào cách chúng ta trao đi và đón nhận nó. Một sự kỳ vọng được xây dựng trên nền tảng của tình yêu thương, sự thấu hiểu và tôn trọng sẽ luôn là nguồn sức mạnh diệu kỳ. Là những chủ nhân tương lai của đất nước, thế hệ trẻ cần trang bị cho mình một bản lĩnh vững vàng, một trái tim mạnh mẽ để đón nhận mọi kỳ vọng một cách thông minh, biến chúng thành hành trang quý giá trên con đường kiến tạo cuộc đời mình.
Đề thi học kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 8
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích:
"8.10.[68]
(1) Nắng đầu thu tươi vàng óng ả tràn ngập cả khu rừng. Nắng đầu thu với những cơn gió se môi và se cả lòng người. Lại nhớ...nhớ mênh mông sâu thẳm như lòng đại dương đang ôm tròn thân mình dải đất Việt Nam. Nhớ từ một người bạn hiền lành, kín đáo có ngôi nhà nhỏ cuối phố Đội Cấn, nhớ đến đứa em tinh nghịch có mái tóc mềm kẹp bổng lên cao, nhớ một đứa em trai miền Nam vừa gửi thư tạm biệt trước lúc lên đường đi học, nhớ một đứa em thân thiết có đôi mắt long lanh dưới hàng mi dài và nhớ sao một người thân yêu đã vĩnh viễn nằm yên nghỉ trên bờ biển quê hương.
Đất nước ơi! Bao giờ cho nhớ thương nguôi bớt, bao giờ cho đất nước thanh bình? Mình biết ngày thắng lợi không xa nữa nhưng sao vẫn thấy hạnh phúc xa vời quá. Liệu có được thấy ngày hạnh phúc ấy nữa không? “Người cộng sản rất yêu cuộc sống nhưng khi cần vẫn có thể nhẹ nhàng mà chết được.” Chết mà vẫn yêu sao cuộc sống, cuộc sống mà người ta đã đổi bằng mồ hôi nước mắt và máu xương suốt hai mươi ba năm nay. [....]
14.7 [69]
(2) Hôm nay là ngày sinh của ba, mình nhớ lại ngày đó giữa bom rơi đạn nổ. Mới hôm qua một tràng pháo bất ngờ đã giết chết năm người và làm bị thương hai người. Mình cũng nằm trong làn đạn lửa của những trái pháo cực nặng ấy. Mọi người còn chưa qua cái ngạc nhiên lo sợ. Vậy mà mình vẫn như xưa nay, nhớ thương, lo lắng và suy tư đè nặng trong lòng. Ba má và các em yêu thương, ở ngoài đó ba má và các em làm sao thấy hết được cuộc sống ở đây. Cuộc sống vô cùng anh dũng, vô cùng gian nan, chết chóc hy sinh còn dễ dàng hơn ăn một bữa cơm. Vậy mà người ta vẫn bền gan chiến đấu. Con cũng là một trong muôn nghìn người đó, con sống chiến đấu và nghĩ rằng mình sẽ ngã xuống vì ngày mai của dân tộc. Ngày mai trong tiếng ca khải hoàn sẽ không có con đâu. Con tự hào vì đã dâng trọn đời mình cho Tổ quốc. Dĩ nhiên con cũng cay đắng vì không được sống tiếp cuộc sống hòa bình hạnh phúc mà mọi người trong đó có con đã đổ máu xương để giành lại. Nhưng có gì đâu, hàng triệu người như con đã ngã xuống mà chưa hề được hưởng trọn lấy một ngày hạnh phúc. Cho nên có ân hận gì đâu!"
(Trích Nhật ký Đặng Thùy Trâm, NXB Hội Nhà văn, 2023, tr.76, tr.160)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định hai biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn sau:
“Nhớ từ một người bạn hiền lành, kín đáo có ngôi nhà nhỏ cuối phố Đội Cấn, nhớ đến đứa em tinh nghịch có mái tóc mềm kẹp bổng lên cao, nhớ một đứa em trai miền Nam vừa gửi thư tạm biệt trước lúc lên đường đi học, nhớ một đứa em thân thiết có đôi mắt long lanh dưới hàng mi dài và nhớ sao một người thân yêu đã vĩnh viễn nằm yên nghỉ trên bờ biển quê hương.”
Câu 2. Chỉ ra một yếu tố thể hiện tính phi hư cấu của đoạn trích.
Câu 3. Phân tích tác dụng của thủ pháp nghệ thuật miêu tả được sử dụng trong đoạn văn (1).
Câu 4. Giọng điệu trong đoạn trích đã góp phần như thế nào vào việc bộc lộ tư tưởng và tình cảm của chủ thể trần thuật?
Câu 5. Câu văn “Người cộng sản rất yêu cuộc sống nhưng khi cần vẫn có thể nhẹ nhàng mà chết được.” gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước? (Trình bày tối đa 5-7 dòng)
II. VIẾT
Câu 1
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp tâm hồn của chủ thể trần thuật thể hiện qua đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2
Thế hệ trẻ là động lực của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nơi trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và dữ liệu lớn đóng vai trò cốt lõi.
Từ góc nhìn của người trẻ, anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề: tuổi trẻ với việc làm chủ công nghệ.
----------------HẾT------------------
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các biện pháp tu từ để xác định
Cách giải:
+ Liệt kê: những nỗi nhớ của nhân vật
+ Điệp cấu trúc: “nhớ…”
Câu 2:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về đặc điểm phi hư cấu trong tác phẩm kí để xác định
Cách giải:
Chỉ ra 1 trong 4 yếu tố sau:
- Thời gian cụ thể, chính xác: 8.10.[68]; 14.7 [69]
- Con người có thật: Ba má và các em.
- Địa danh cụ thể: phố Đội Cấn, dải đất Việt Nam.
- Sự kiện lịch sử có thật: Cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc Việt Nam.
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích nghệ thuật miêu tả thiên nhiên
Cách giải:
- Miêu tả khung cảnh thiên nhiên “Nắng đầu thu tươi vàng óng ả tràn ngập cả khu rừng”; hình ảnh về con người, “đứa em tinh nghịch có mái tóc mềm kẹp bổng lên cao”, “đôi mắt long lanh dưới hàng mi dài”
- Tác dụng: Giúp sự việc hiện lên sinh động, hấp dẫn hơn; từ đó bộc lộ được tình yêu thiên nhiên, con người của chủ thể trần thuật
Câu 4:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để xác định giọng điệu trong văn bản
Cách giải:
- Giọng điệu: Ở đoạn (1) giọng điệu trữ tình, da diết, đầy hoài niệm; Ở đoạn (2) giọng điệu trở nên bi tráng, đầy kiên cường và mạnh mẽ.
- Tác dụng: Góp phần thể hiện tâm hồn vừa nhạy cảm, giàu yêu thương vừa kiên cường, bất khuất của chủ thể trữ tình.
Câu 5:
Phương pháp:
Có thể tham khảo một số gợi ý sau:
- Biết ơn những người có công với đất nước
- Sống có lí tưởng, có mục đích
- Trân trọng, giữ gìn nền hòa bình dân tộc
Cách giải:
Câu nói "Người cộng sản rất yêu cuộc sống nhưng khi cần vẫn có thể nhẹ nhàng mà chết được." là lời nhắc nhở sâu sắc về trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay. Trước hết, chúng ta phải biết ơn sâu sắc những thế hệ cha anh đã không tiếc máu xương, hiến dâng cả tuổi thanh xuân để đổi lấy nền độc lập, tự do mà chúng ta đang hưởng thụ. Từ sự biết ơn ấy, thế hệ trẻ cần sống có lý tưởng, có mục đích cao đẹp, không ngừng phấn đấu học tập và rèn luyện. Và trên hết, trách nhiệm thiêng liêng là phải biết trân trọng, bảo vệ và gìn giữ nền hòa bình dân tộc, góp sức mình xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, xứng đáng với những hy sinh to lớn của thế hệ đi trước.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
1. Nêu được vẻ đẹp tâm hồn của chủ thể trữ tình.
Tham khảo gợi ý sau:
- Lí tưởng sống cống hiến vì độc lập, tự do của tổ quốc; sự hi sinh quên mình vì lí tưởng; sự dũng cảm, kiên cường; niềm khát khao độc lập tự do; tâm hồn giàu tình yêu thương gia đình, tình yêu quê hương…
2. Đánh giá được vẻ đẹp tâm hồn của chủ thể trữ tình.
Tham khảo gợi ý sau:
- Những phẩm chất cao đẹp của chủ thể trữ tình tiêu biểu cho vẻ đẹp của con người Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mỹ.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Đoạn trích nhật ký của bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã phác họa một cách chân thực và cảm động vẻ đẹp tâm hồn cao quý của chủ thể trữ tình. Trước hết, đó là một tâm hồn giàu tình yêu thương, gắn bó sâu nặng với quê hương, gia đình và bạn bè. Nỗi nhớ trong chị không chung chung mà da diết, cụ thể, từ người bạn hiền lành, đứa em tinh nghịch đến hình ảnh người thân đã khuất. Thế nhưng, đẹp đẽ và đáng trân trọng hơn cả chính là lí tưởng sống cao cả, sự hy sinh quên mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Giữa hiểm nguy, cái chết luôn cận kề, chị vẫn kiên cường chiến đấu và sẵn sàng "nhẹ nhàng" đón nhận cái chết, xem đó là sự hiến dâng cho "ngày mai của dân tộc". Sự dũng cảm ấy được nuôi dưỡng bởi một niềm khát khao cháy bỏng về một ngày đất nước thanh bình. Có thể khẳng định, những phẩm chất cao đẹp ấy của chị Thùy Trâm không chỉ là biểu tượng cho sức mạnh tinh thần của một cá nhân, mà còn tiêu biểu cho vẻ đẹp của cả một thế hệ thanh niên Việt Nam anh hùng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước - một thế hệ vừa giàu tình yêu thương, vừa sắt son lí tưởng và quả cảm trong hi sinh.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận: tuổi trẻ với việc làm chủ công nghệ
2. Thân bài:
2.1. Biết giải thích thế nào là làm chủ công nghệ?
- Làm chủ công nghệ là biết áp dụng kiến thức khoa học và kỹ thuật để giải quyết các vấn đề hoặc cải tiến phương pháp làm việc. Điều này bao gồm việc biết sử dụng thuần thục các công cụ, máy móc, kỹ thuật, và kỹ năng để đạt được kết quả mong muốn.
2.2. Nêu được những biểu hiện làm chủ công nghệ.
- Công nghệ giúp tuổi trẻ tiếp cận thông tin nhanh chóng, nâng cao hiệu suất công việc, và phát triển các dịch vụ y tế, giáo dục ngày càng hiện đại.
Dẫn ra và phân tích các bằng chứng.
- Công nghệ cũng tạo ra những thay đổi sâu sắc trong xã hội và đời sống cá nhân.
Dẫn ra và phân tích các bằng chứng
2.3. Chỉ ra được ý nghĩa (vai trò, tác dụng) của tuổi trẻ làm chủ công nghệ:
- Làm chủ công nghệ có vai trò rất quan trọng đối với mọi người, nhất là với thế hệ trẻ trong bối cảnh hiện nay: Trong thời đại 4.0, khoa học công nghệ phát triển vượt bậc, ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống.
- Tuổi trẻ phải nhận thức sâu sắc được vai trò quan trọng của khoa học, công nghệ đối với sự phát triển của bản thân và xã hội.
+ Làm chủ công nghệ giúp người trẻ rèn luyện tư duy sáng tạo, nâng cao hiệu suất làm việc và học tập.
+ Những cá nhân thành thạo công nghệ sẽ thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế số, sáng tạo ra các sản phẩm hữu ích, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, giúp tạo lập tương lai tốt đẹp cho mình và góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước.
2.4. Biết mở rộng, nâng cao vấn đề
- Phê phán vấn đề tiêu cực khi công nghệ phát triển, làm chủ công nghệ :
+ Mối quan hệ giữa người với người, đặc biệt là trong gia đình và cộng đồng, ngày càng trở nên xa cách, khi mà mỗi người đều bị cuốn vào các thiết bị điện tử.
+ Một vấn đề nghiêm trọng khác là tác động tiêu cực của công nghệ đối với sức khỏe và vấn đề rác thải từ những sản phẩm công nghệ lỗi thời.
- Đề xuất những giải pháp để cân bằng giữa sự làm chủ công nghệ và xây dựng cuộc sống tốt đẹp.
3. Kết bài: Khẳng định quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân.
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong kỷ nguyên cách mạng công nghiệp 4.0, khi trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và dữ liệu lớn đang dần định hình mọi mặt của đời sống, câu chuyện tuổi trẻ với việc làm chủ công nghệ trở thành một vấn đề có ý nghĩa thời sự sâu sắc. Không chỉ là người tiếp nhận, thế hệ trẻ hôm nay còn là lực lượng đi đầu trong việc khai thác và sáng tạo công nghệ mới, góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của xã hội hiện đại.
Trước hết, cần hiểu làm chủ công nghệ là khả năng vận dụng kiến thức khoa học - kĩ thuật vào đời sống để giải quyết vấn đề hoặc cải tiến phương pháp làm việc. Điều đó bao gồm việc sử dụng thành thạo công cụ, máy móc, phần mềm và kĩ thuật trong học tập, lao động; đồng thời biết điều chỉnh, sáng tạo để đạt hiệu quả cao hơn. Nói cách khác, làm chủ công nghệ không chỉ là "biết dùng", mà còn là "biết khai thác" và "biết đổi mới".
Ở thế hệ trẻ, biểu hiện làm chủ công nghệ vô cùng đa dạng và sinh động. Nhờ sự hỗ trợ của công nghệ, người trẻ có thể tiếp cận thông tin nhanh chóng qua các nền tảng trực tuyến, mở rộng kiến thức chỉ bằng vài cú chạm. Trong giáo dục, việc học online, sử dụng phần mềm mô phỏng hay kho dữ liệu mở giúp việc học trở nên chủ động và hiệu quả. Trong lĩnh vực y tế, nhiều bạn trẻ tham gia vào các dự án ứng dụng AI để phân tích hình ảnh chẩn đoán, góp phần giảm tải cho đội ngũ bác sĩ. Không ít bạn trẻ Việt Nam đã khởi nghiệp thành công nhờ khai thác công nghệ số, tạo ra sản phẩm như ứng dụng gọi xe công nghệ, nền tảng học trực tuyến, hay các giải pháp chuyển đổi số cho doanh nghiệp. Công nghệ còn mang đến những thay đổi sâu sắc về lối sống: từ thanh toán điện tử, mua sắm trực tuyến đến mô hình làm việc từ xa, giúp con người tiết kiệm thời gian và tăng hiệu suất.
Việc làm chủ công nghệ có vai trò đặc biệt quan trọng với thế hệ trẻ trong thời đại mới. Công nghệ không chỉ là công cụ mà còn là "chìa khóa" mở cánh cửa tương lai. Khi thuần thục công nghệ, người trẻ rèn luyện được tư duy sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề và tác phong làm việc khoa học. Những cá nhân am hiểu công nghệ sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế số, sáng tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ hữu ích, nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng. Hơn thế nữa, làm chủ công nghệ còn giúp tuổi trẻ khẳng định bản lĩnh thời đại, sẵn sàng hội nhập quốc tế và góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước trước những thách thức mới.
Tuy nhiên, xã hội hiện đại cũng đặt ra nhiều vấn đề cần suy ngẫm. Công nghệ phát triển kéo theo sự lệ thuộc vào thiết bị điện tử, khiến mối quan hệ giữa người với người trở nên xa cách. Nhiều bạn trẻ dành quá nhiều thời gian cho mạng xã hội mà quên đi sự kết nối thực tế. Bên cạnh đó là những tác động tiêu cực đến sức khỏe như cận thị, rối loạn giấc ngủ, ít vận động. Rác thải điện tử từ các thiết bị lỗi thời cũng trở thành mối đe dọa lớn đối với môi trường. Vì vậy, để việc làm chủ công nghệ trở nên ý nghĩa, người trẻ cần sử dụng công nghệ có chọn lọc, kết hợp giữa trải nghiệm kỹ thuật số và đời sống thực, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, cũng như biết tự trang bị kiến thức để không bị công nghệ dẫn dắt ngược lại.
Tóm lại, tuổi trẻ là lực lượng tiên phong trong hành trình làm chủ công nghệ - một hành trình đầy cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Bản thân tôi nhận thấy rằng mỗi người trẻ cần tự ý thức rèn luyện năng lực số, chủ động học hỏi, đồng thời giữ được sự cân bằng trong cuộc sống. Chỉ khi đó, chúng ta mới thật sự làm chủ công nghệ và biến nó thành động lực để tạo dựng tương lai tốt đẹp cho chính mình và cho xã hội.
Đề thi học kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 9
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản:
(1) Đạo đức và luân lý gia đình của ta là nền tảng tạo nên nền văn hóa truyền thống hàng ngàn năm của dân ta. Trong đó có phần nguồn gốc tinh hoa bất biến như đạo hiếu với cha mẹ, thương yêu đùm bọc anh em, bạn bè, tôn sư trọng đạo, lá lành đùm lá rách,… và những đạo lý thuộc sản phẩm của một nền kinh tế nông nghiệp và một thể chế quân chủ tạo ra sự cứng nhắc trong tôn ti trật tự xã hội phong kiến làm cho vai trò người phụ nữ không được phát huy, tư tưởng trung quân (trung với vua)… đã lạc hậu. Chúng ta cần phải gạt bỏ phần lạc hậu, nhưng phải phát huy phần tinh hoa, phần giá trị đạo đức truyền thống, để tạo được sự ổn định xã hội trong quá trình tiếp thu và sáng tạo ra cái mới thúc đẩy xã hội phát triển đi lên.
(2) Đạo đức xã hội tạo nên niềm tin giữa người với người trong cộng đồng xã hội, mọi người tự nguyện tôn trọng như một sự ràng buộc thiêng liêng. Do đó, nó làm cho chi phí xã hội được giảm đi, và sự vận hành trong kinh tế được thông thoáng và nhanh chóng. Điển hình nhất là trong kinh doanh, chữ “tín” là nguồn vốn mà mọi doanh nhân đều cần phải có, và ngay cả ở cấp nhà nước thì chữ “tín” càng có giá trị lớn hơn, nếu thiếu chữ “tín” thì mọi luật lệ quốc gia đều trở thành trò chơi rượt đuổi, đánh đố nhau mà thôi.
(3) Đạo đức truyền thống không được kế thừa và phát huy thì nền giáo dục chỉ còn lại cái máy vô hồn, nó chỉ cung cấp công cụ khả năng cho con người kiếm sống bằng mọi phương tiện mà không đào tạo nên con người văn minh sống có trách nhiệm với mọi người, kể cả cha mẹ anh em, quốc gia dân tộc. Như vậy, ý nghĩa của cuộc sống sẽ mất đi, sự giả dối, tham lam, tàn ác sẽ sinh ra, mầm nguy hại sẽ xuất hiện ở mọi nơi mà con người đó hiện diện. Dù cho pháp luật có đầy đủ đến đâu thì xã hội đó cũng chỉ là những xã hội đen tối u mê, được trang bị những ánh đèn màu chói lọi, như những mê cung. Đánh đố con người mà thôi. (Luật lệ làm sáng tỏ cái đạo đức con người, và buộc kẻ đạo đức phải tôn trọng. Luật lệ không thay được đạo đức).
(Trích Lời giải cho bài toán phát huy vốn xã hội – Phan Chánh Dưỡng, Dẫn theo tiasang.com.vn, ngày 16/5/2006)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định hai thao tác lập luận được sử dụng trong văn bản.
Câu 2. Chỉ ra nguồn gốc tinh hoa của đạo đức truyền thống được nhắc tới trong văn bản.
Câu 3. Anh/ chị hiểu như thế nào về ý kiến: Luật lệ làm sáng tỏ cái đạo đức con người, và buộc kẻ đạo đức phải tôn trọng. Luật lệ không thay được đạo đức?
Câu 4. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ trong câu: “Dù cho pháp luật có đầy đủ đến đâu thì xã hội đó cũng chỉ là những xã hội đen tối u mê, được trang bị những ánh đèn màu chói lọi, như những mê cung. Đánh đố con người mà thôi”?
Câu 5. Anh/chị có đồng tình với quan điểm của tác giả: Đạo đức truyền thống không được kế thừa và phát huy thì nền giáo dục chỉ còn lại cái máy vô hồn.? Lí giải vì sao?
II. VIẾT
Từ nội dung đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về cách kết hợp giữa giữ gìn giá trị truyền thống và tiếp thu cái mới để thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các thao tác lập luận trong văn bản nghị luận
Cách giải:
Hai thao tác lập luận được sử dụng trong văn bản: chứng minh, bình luận
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để tìm chi tiết phù hợp
Cách giải:
Nguồn gốc tinh hoa của đạo đức truyền thống được nhắc tới trong văn bản: đạo hiếu với cha mẹ, thương yêu đùm bọc anh em, bạn bè, tôn sư trọng đạo, lá lành đùm lá rách,…
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng hiểu biết cá nhân để giải thích ý kiến
Cách giải:
Ý kiến: Luật lệ làm sáng tỏ cái đạo đức con người, và buộc kẻ đạo đức phải tôn trọng. Luật lệ không thay được đạo đức. Được hiểu là:
- Đạo đức là gốc rễ trong tâm hồn của mỗi người. Tất cả mọi luật lệ đặt ra đều phải dựa vào các chuẩn mực đạo đức chung và yêu cầu mọi người phải tuân thủ. Những người đi ngược lại với luật lệ là không tuân thủ các chuẩn mực đạo đức.
- Luật lệ là cái cụ thể hóa những chuẩn mực đạo đức, không phải tất cả những chuẩn mực đạo đức đều được cụ thể hóa thành luật lệ mà nó thuộc về suy nghĩ, lương tri con người nên luật lệ không thể thay thế đạo đức.
Câu 4:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ để biết và phân tích tác dụng
Cách giải:
- Tác dụng biện pháp tu từ ẩn dụ
+ Nhấn mạnh một xã hội giả tạo, chỉ có bề ngoài hào nhoáng nhưng thiếu đi giá trị đạo đức bên trong, đồng thời thể hiện quan điểm rõ ràng về sự cần thiết của đạo đức trong đời sống.
+ Làm tăng sức biểu đạt trong câu văn, giúp người đọc dễ hình dung hơn về những giá trị mà đạo đức mang lại trong xã hội.
Câu 5:
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản và liên hệ bản thân để bày tỏ quan điểm
Cách giải:
Em hoàn toàn đồng tình với quan điểm của tác giả. Bởi lẽ, giáo dục đích thực không chỉ trao truyền tri thức mà quan trọng hơn là bồi đắp tâm hồn và nhân cách con người. Nếu không kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống như lòng hiếu thảo, sự trung thực và tình yêu thương, nền giáo dục sẽ chỉ như một cỗ máy lạnh lùng sản sinh ra những thế hệ giàu kỹ năng nhưng nghèo nàn về đạo đức. Họ có thể giỏi kiếm sống nhưng lại thiếu đi trách nhiệm với gia đình và cộng đồng. Một xã hội được xây dựng từ những con người như vậy sẽ thiếu đi sự gắn kết và nhân văn, dù có phát triển về kinh tế cũng khó có thể bền vững. Vì vậy, đạo đức truyền thống chính là linh hồn, là sức sống để giáo dục hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình.
II. VIẾT
Phương pháp:
1. Mở bài:
Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề nghị luận
2. Thân bài:
a. Giải thích
- Giá trị truyền thống
- Cái mới
→ Cả nhận định
b. Phân tích
- Vai trò của đạo đức truyền thống:
+ Định hướng lối sống đúng đắn, giúp con người sống có trách nhiệm.
+ Tạo dựng niềm tin, gắn kết cộng đồng, góp phần ổn định xã hội.
+ Chữ tín trong kinh doanh và đời sống giúp xã hội vận hành hiệu quả hơn.
- Hệ quả của sự mai một đạo đức truyền thống:
+ Sự suy thoái đạo đức dẫn đến giả dối, tham lam, mất niềm tin.
+ Giáo dục không có nền tảng đạo đức sẽ chỉ tạo ra những con người vô cảm, thiếu trách nhiệm.
c. Bình luận
- Cần chọn lọc, đổi mới phù hợp:
+ Loại bỏ những tư tưởng lạc hậu như trọng nam khinh nữ, trung quân mù quáng.
+ Kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp để hòa nhập nhưng không hòa tan trong thời đại mới.
Cách giải:
Trong dòng chảy không ngừng của lịch sử và xu thế toàn cầu hóa, mỗi quốc gia, dân tộc đều đứng trước một thách thức mang tính sống còn: làm thế nào để vừa bảo tồn được bản sắc, vừa có thể hội nhập và phát triển? Bài học từ quá khứ và yêu cầu của hiện tại đều chỉ ra rằng, chìa khóa cho sự phát triển bền vững chính là sự kết hợp hài hòa giữa việc giữ gìn những giá trị truyền thống tốt đẹp và chủ động tiếp thu những tinh hoa, tri thức mới của thời đại.
Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ về hai khái niệm này. "Giá trị truyền thống" là những tinh hoa, chuẩn mực đạo đức, văn hóa được cha ông ta đúc kết, vun đắp và lưu truyền qua hàng ngàn năm lịch sử. Đó có thể là lòng yêu nước, là đạo lý "uống nước nhớ nguồn", là lòng hiếu thảo với cha mẹ, tôn sư trọng đạo, là tinh thần tương thân tương ái "lá lành đùm lá rách". Ngược lại, "cái mới" là những tri thức, công nghệ, tư tưởng tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển chung của nhân loại. Việc kết hợp giữa hai yếu tố tưởng chừng đối lập này không phải là sự gán ghép máy móc, mà là một quá trình chọn lọc, hòa quyện nhuần nhuyễn, lấy truyền thống làm gốc rễ và dùng cái mới làm đôi cánh để vươn xa.
Giữ gìn giá trị truyền thống có một vai trò vô cùng quan trọng, bởi đó chính là cội nguồn sức mạnh, là "linh hồn" của một dân tộc. Truyền thống định hướng cho con người một lối sống đúng đắn, có trách nhiệm với gia đình và xã hội. Khi một người thấm nhuần đạo lý "kính già, yêu trẻ", họ sẽ biết cách cư xử có văn hóa; khi hiểu sâu sắc chữ "hiếu", họ sẽ sống có trách nhiệm với đấng sinh thành. Hơn thế, truyền thống còn là chất keo gắn kết cộng đồng, tạo dựng niềm tin giữa người với người, từ đó góp phần kiến tạo một xã hội ổn định và nhân văn. Trong đời sống kinh tế, chữ "tín" là một giá trị truyền thống cốt lõi và chính là nền tảng cho mọi giao dịch. Một doanh nghiệp giữ được chữ tín sẽ có uy tín lâu dài, một xã hội trọng chữ tín sẽ giảm thiểu được rất nhiều chi phí kiểm soát và giám sát, giúp nền kinh tế vận hành thông suốt và hiệu quả.
Tuy nhiên, nếu những giá trị truyền thống tốt đẹp ấy bị mai một, xã hội sẽ phải đối mặt với những hệ lụy khôn lường. Sự suy thoái đạo đức sẽ kéo theo lối sống thực dụng, sự giả dối, lòng tham và sự vô cảm lan rộng, làm bào mòn niềm tin trong cộng đồng. Đặc biệt, một nền giáo dục thiếu đi nền tảng đạo đức truyền thống sẽ chỉ như một "cỗ máy vô hồn", có thể sản sinh ra những con người giỏi về chuyên môn nhưng lại trống rỗng về nhân cách, thiếu trách nhiệm với gia đình, quê hương và đồng loại. Những cá nhân ấy, dù có tài giỏi đến đâu, cũng khó có thể góp phần xây dựng một xã hội phát triển bền vững và nhân ái.
Do đó, đứng trước những biến đổi không ngừng của thời đại, chúng ta cần có một thái độ ứng xử văn minh và sáng suốt. Việc giữ gìn truyền thống không có nghĩa là bảo thủ, ôm khư khư mọi thứ của quá khứ. Ngược lại, chúng ta cần mạnh mẽ loại bỏ những hủ tục, những tư tưởng lạc hậu không còn phù hợp như tư tưởng "trọng nam khinh nữ", sự cứng nhắc của tôn ti trật tự đẳng cấp hay chủ nghĩa bảo thủ cản trở sự sáng tạo. Đồng thời, chúng ta phải dũng cảm và chủ động tiếp thu cái mới, từ tri thức khoa học kỹ thuật tiên tiến đến những tư tưởng quản lý hiện đại, những giá trị nhân văn phổ quát. Quan trọng nhất là quá trình tiếp thu ấy phải dựa trên một nền tảng bản sắc vững chắc, để chúng ta "hòa nhập chứ không hòa tan", biến những cái mới thành công cụ đắc lực để làm giàu thêm, lan tỏa rộng hơn những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Chẳng hạn, chúng ta có thể dùng công nghệ thông tin để quảng bá văn hóa dân tộc đến toàn cầu, hay vận dụng tư duy quản trị hiện đại để phát huy tối đa tinh thần đoàn kết cộng đồng.
Tóm lại, bài toán kết hợp giữa giữ gìn giá trị truyền thống và tiếp thu cái mới là một hành trình cân bằng tinh tế và khôn ngoan. Thế hệ trẻ chúng ta hôm nay, những chủ nhân tương lai của đất nước, cần ý thức sâu sắc về trách nhiệm này. Chúng ta phải không ngừng học hỏi, trau dồi để vừa thấm nhuần những giá trị cốt lõi của cha ông, vừa trang bị cho mình những tri thức và kỹ năng của thời đại mới. Chỉ có như vậy, chúng ta mới có thể vừa giữ được cốt cách, "hồn cốt" Việt, vừa tự tin vững bước trên hành trình hội nhập toàn cầu, góp phần kiến tạo một đất nước Việt Nam vừa giàu bản sắc, vừa hiện đại và phát triển bền vững.
Đề thi học kì 1 Văn 12 Cánh diều - Đề số 10
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản:
Lắng nghe không chỉ đơn thuần là việc nghe và hiểu ý kiến hoặc thông tin của người khác, mà còn là thể hiện sự quan tâm và đồng cảm. Khi lắng nghe, chúng ta tạo điều kiện thuận lợi để người khác chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ và kinh nghiệm của họ một cách tự nhiên và thoải mái hơn.
Trong cuộc sống, ai cũng đều gặp phải những khó khăn, trở ngại và cần có người để chia sẻ, giúp đỡ. Bởi vậy, chúng ta cần lắng nghe tâm sự từ những người xung quanh để đồng cảm và thấu hiểu.
Lắng nghe là một kỹ năng quan trọng và là chìa khóa của thành công trong cuộc sống. Đó là việc chúng ta nhẫn nại và chân thành lắng nghe tâm sự và chia sẻ của người khác để đồng cảm và rút ra bài học cho chính mình.
Lắng nghe và đồng cảm với người khác sẽ giúp chúng ta nhận ra và hiểu được nhiều điều hơn và có nhiều bài học quý giá. Nếu biết lắng nghe, chúng ta có thể nhận được những nhận xét và đánh giá của người khác về bản thân, từ đó có cái nhìn khách quan, toàn diện hơn về bản thân để phát huy mặt mạnh và khắc phục mặt yếu.
Mỗi người đều có nhu cầu chia sẻ và lắng nghe, và khi lắng nghe người khác, chúng ta cũng có thể chia sẻ với họ. Học cách lắng nghe mang lại ý nghĩa và vai trò to lớn đối với cuộc sống con người. Những người biết lắng nghe là những người có lòng kiên trì, nhẫn nại và biết gạt bỏ cái tôi để tiếp thu và lĩnh hội.
Bên cạnh đó, lắng nghe còn giúp con người thấu hiểu và bao dung cho nhau, xây dựng một xã hội tích cực và đẹp hơn.
Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn còn nhiều người chưa biết lắng nghe người khác, chỉ cho rằng lí lẽ của mình là đúng, câu chuyện của mình mới là hay, chia sẻ của mình mới đáng được quan tâm. Từ đó, họ tỏ thái độ xem thường thậm chí thiếu tôn trọng ý kiến của người khác. Cũng có người chỉ muốn chia sẻ những khó khăn và đau khổ của mình mà không chịu lắng nghe tiếng lòng của người khác. Vì vậy, nếu mỗi người chúng ta bớt đi một chút cái tôi, biết lắng nghe và thấu hiểu thì cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp hơn.
Học cách lắng nghe là chúng ta đang học cách thấu hiểu cuộc sống
(Nguyễn Đình Ánh, Học cách lắng nghe, Báo Giáo dục và Thời đại, ngày 27/10/2024)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản trên.
Câu 2. Trong đoạn trích, tác giả đã nhận định những người biết lắng nghe là những người như thế nào?
Câu 3. Nhận xét về mức độ phù hợp giữa nội dung nghị luận với nhan đề của văn bản Học cách lắng nghe.
Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp điệp từ trong đoạn trích sau:
Mỗi người đều có nhu cầu chia sẻ và lắng nghe, và khi lắng nghe người khác, chúng ta cũng có thể chia sẻ với họ. Học cách lắng nghe mang lại ý nghĩa và vai trò to lớn đối với cuộc sống con người. Những người biết lắng nghe là những người có lòng kiên trì, nhẫn nại và biết gạt bỏ cái tôi để tiếp thu và lĩnh hội.
Câu 5. Theo anh chị, điều gì sẽ xảy đến khi mỗi chúng ta “chỉ muốn chia sẻ những khó khăn và đau khổ của mình mà không chịu lắng nghe tiếng lòng của người khác” ? (Trình bày từ 5-7 dòng)
II. VIẾT
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về sự cần thiết của việc biết lắng nghe trong cuộc sống.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các thể loại đã học để xác định
Cách giải:
Thể loại: nghị luận
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để chỉ ra chi tiết phù hợp
Cách giải:
Trong đoạn trích, tác giả đã nhận định những người biết lắng nghe là những người có lòng kiên trì, nhẫn nại và biết gạt bỏ cái tôi để tiếp thu và lĩnh hội.
Câu 3:
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản để phân tích mối quan hệ nhan đề và nội dung
Cách giải:
Nhận xét về mức độ phù hợp giữa nội dung nghị luận với nhan đề của văn bản Học cách lắng nghe.
- Nhan đề phù hợp, khái quát được nội dung chính của văn bản. Các luận điểm, lý lẽ trong văn bản và nhan đề có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
- Các thông tin trong văn bản đều hướng về làm rõ các ý nghĩa của việc lắng nghe và cách để lắng nghe đối với bản thân, với người xung quanh và với xã hội.
Câu 4:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ điệp ngữ để phân tích tác dụng
Cách giải:
- Biện pháp điệp từ: lắng nghe.
- Tác dụng:
+ Nghệ thuật: giúp cách diễn đạt ấn tượng, tạo điểm nhấn, dễ hiểu.
+ Nội dung: Nhấn mạnh vai trò, sự cần thiết của việc biết lắng nghe trong cuộc sống.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Chỉ biết chia sẻ, yêu cầu người khác lắng nghe những đau khổ, khó khăn của mình, ta dần trở nên ích kỉ, phiến diện, một chiều, chỉ muốn nhận lại, không muốn cho đi…
- Không chịu lắng nghe tiếng lòng của người khác, ta khó thấu hiểu, cảm thông, tháo gỡ vướng mắc, chia sẻ đồng cảm, dần trở nên bị xa lánh, cô đơn...
- …
Cách giải:
Khi con người chỉ chăm chăm chia sẻ nỗi đau của riêng mình mà khép kín trái tim trước những tâm tư của người khác, họ đang vô tình xây lên những bức tường ngăn cách. Sự ích kỷ này không chỉ khiến tâm hồn trở nên chai sạn mà còn làm nghèo nàn đi đời sống tinh thần của chính mình. Bởi lẽ, trong giao tiếp, nếu chỉ muốn nhận mà không cho đi, ta đang phá vỡ sự cân bằng vốn có của mọi mối quan hệ. Không biết lắng nghe đồng nghĩa với việc đánh mất cơ hội thấu hiểu những góc khuất trong cuộc đời người khác, và từ đó, cũng đánh mất đi cơ hội nhìn thấy chính mình qua lăng kính đa chiều. Kết cục tất yếu là một cuộc sống cô độc, nơi ta mãi mãi là một hòn đảo lẻ loi giữa đại dương bao la của những tâm hồn không thể chạm đến nhau.
II. VIẾT
Phương pháp:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận
* Thể hiện quan điểm của người viết về sự cần thiết của việc biết lắng nghe. Có thể theo một số gợi ý sau:
- Lắng nghe là việc mỗi người nhẫn nại, chân thành nghe người khác tâm sự, chia sẻ về những câu chuyện của họ.
- Sự cần thiết của việc biết lắng nghe;
+ Lắng nghe giúp ta học hỏi kinh nghiệm để ngày càng hoàn thiện bản thân.
+ Lắng nghe còn giúp mỗi người thấu hiểu tâm tư tình cảm, hoàn cảnh của những người xung quanh.
+ Biết lắng nghe giúp mỗi người có hành động và ứng xử đúng đắn, phù hợp. Từ đó, xây dựng và phát triển các mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống.
- Bình luận:
+ Không biết lắng nghe sẽ khó để đạt được thành công và hoàn thiện bản thân.
+ Nên biết chọn lọc để lắng nghe những điều tích cực, có ích.
* Khẳng định lại ý nghĩa và sự cần thiết của việc biết lắng nghe
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong nhịp sống hối hả của xã hội hiện đại, con người dường như đang dành quá nhiều thời gian để nói mà quên mất rằng lắng nghe mới chính là chìa khóa của mọi sự thấu hiểu. Có người từng nói: "Con người mất hai năm để học nói nhưng phải mất cả đời để học lắng nghe". Quả thật, việc biết lắng nghe không chỉ là một kỹ năng sống cần thiết mà còn là phẩm chất quý giá góp phần hình thành nhân cách và dẫn lối đến thành công.
Trước hết, cần hiểu rằng lắng nghe không đơn thuần là nghe bằng tai, mà là một quá trình chủ động, nhẫn nại và chân thành tiếp nhận thông tin, cảm xúc từ người khác. Đó là sự tập trung cao độ, thấu hiểu và đồng cảm với những tâm tư, trải nghiệm mà đối phương chia sẻ. Nếu như "nghe" là hoạt động thuần túy của thính giác, thì "lắng nghe" là sự huy động của cả trí tuệ và trái tim.
Sự cần thiết của việc biết lắng nghe được thể hiện trước hết ở vai trò giúp mỗi người hoàn thiện bản thân. Khi biết lắng nghe, ta có cơ hội tiếp thu tri thức, kinh nghiệm quý báu từ người đi trước và những người xung quanh. Những lời góp ý chân thành, những lời phê bình xác đáng chính là tấm gương phản chiếu chân thực nhất những ưu điểm và hạn chế của bản thân. Một học sinh biết lắng nghe thầy cô giảng bài sẽ tiếp thu kiến thức hiệu quả hơn; một nhà lãnh đạo biết lắng nghe nhân viên sẽ đưa ra những quyết định sáng suốt hơn. Trong thực tiễn, những nhà lãnh đạo thành công như Bill Gates cũng thường xuyên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lắng nghe nhân viên và khách hàng. Chính nhờ biết lắng nghe, ta không ngừng trau dồi và phát triển bản thân mỗi ngày.
Không dừng lại ở đó, lắng nghe còn là cầu nối vững chắc giúp con người thấu hiểu nhau hơn. Trong cuộc sống, mỗi người đều mang trong mình những nỗi niềm, trăn trở riêng cần được sẻ chia. Một người biết lắng nghe sẽ nhận ra những điều ẩn sau mỗi câu chuyện, mỗi số phận. Khi ta lắng nghe cha mẹ, ta hiểu được những vất vả, lo toan của các người; khi ta lắng nghe bạn bè, ta cảm nhận được những khó khăn, thử thách họ đang đối mặt. Sự lắng nghe chân thành có sức mạnh xoa dịu những tổn thương, hàn gắn những rạn nứt và kết nối những trái tim. Một xã hội biết lắng nghe chắc chắn sẽ là một xã hội nhân văn và tràn đầy tình yêu thương.
Hơn thế nữa, biết lắng nghe giúp mỗi người có những ứng xử phù hợp, xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp. Khi thấu hiểu hoàn cảnh, tâm tư của người khác, ta sẽ biết cách cư xử khéo léo, tế nhị và có trách nhiệm hơn. Sự lắng nghe giúp ta tránh được những phán xét vội vàng, những quyết định thiếu suy nghĩ. Trong gia đình, lắng nghe giúp các thành viên gắn kết; trong công việc, lắng nghe tạo nên môi trường hợp tác hiệu quả; trong xã hội, lắng nghe xây dựng cộng đồng văn minh, tiến bộ.
Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn còn nhiều người chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng của việc lắng nghe. Họ chỉ muốn thể hiện cái tôi của mình, luôn cho rằng ý kiến của bản thân là đúng đắn nhất. Hệ quả là họ tự đánh mất đi cơ hội học hỏi, tự cô lập mình và khó có thể đạt được thành công trọn vẹn. Đáng chú ý, lắng nghe không có nghĩa là tiếp nhận mọi thông tin một cách thụ động mà cần có sự chọn lọc, tiếp thu những điều tích cực, tránh xa những luồng thông tin tiêu cực, độc hại.
Tóm lại, biết lắng nghe là một phẩm chất vô cùng cần thiết trong cuộc sống. Nó không chỉ giúp chúng ta hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết mà còn góp phần xây dựng những mối quan hệ chân thành và một xã hội tốt đẹp hơn. Mỗi chúng ta hãy bắt đầu rèn luyện kỹ năng này từ những điều nhỏ nhất: lắng nghe gia đình, lắng nghe bạn bè, và cả lắng nghe chính tiếng nói nội tâm của mình.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP12
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
