Đề thi học kì 1 Ngữ Văn 12
Đề cương ôn tập học kì 1 Văn 12 - Chân trời sáng tạo
A. NỘI DUNG ÔN TẬP
1. Phần đọc hiểu
a. Thơ cổ điển và lãng mạn
|
|
Khái niệm |
Đặc điểm |
|
Phong cách |
Phong cách: Là một tập hợp những nét độc đáo tương đối ổn định có giá trị thẩm mĩ trong sáng tác của một tác giả, một trường phái văn học, một thời đại hay một nền văn học |
Phong cách cổ điển có đặc điểm nổi bật là đề cao tính chất khuôn mẫu, chuẩn mực về tư tưởng và nghệ thuật Phong cách lãng mạn có đặc điểm là đề cao cảm xúc và trí tưởng tượng của con người, có khuynh hướng phá vỡ các quy phạm nhằm giải phóng con người cá nhân, bộc lộ cá tính một cách tự do nhất |
b. Truyện lãng mạn và hiện thực
|
|
Khái niệm |
Đặc điểm |
|
Phong cách hiện thực |
Là phong cách nghệ thuật chú trọng việc khắc họa chính xác, tỉ mỉ những bức tranh chân thực về cuộc sống và môi trường xã hội với cảm hứng phê phán, bóc trần những mặt tiêu cực của thực tại |
Đề tài gắn với cuộc sống hằng ngày, nhân vật thường điển hình cho một hoàn cảnh, một tính cách, một số phận trong xã hội |
c. Truyện truyền kì, văn tế
|
Thể loại |
Khái niệm |
Đặc điểm |
|
Truyện truyền kì |
- Là thể loại văn xuôi tự sự có nguồn gốc từ văn học Trung Quốc. - Truyện truyền kì phát triển trên nền tảng thần thoại, truyền thuyết,… của văn học dân gian và những tín ngưỡng văn hóa trong đời sống tinh thần của các dân tộc |
- Trong truyện truyền kì, yếu tố kì ảo được sử dụng như một phương thức nghệ thuật có tính đặc thù nhằm thể hiện các vấn đề của thực tại - Ngôn ngữ truyện truyền kì: thường sử dụng lối nói so sánh - ẩn dụ; ưa hình thức biểu đạt cầu kì, khoa trương, phóng đại; chuộng ngôn từ hoa mĩ; dùng nhiều điển cố, hình ảnh biểu trưng;… |
|
Văn tế |
- Là thể loại văn học chủ yếu gắn với tục tang lễ, bày tỏ tình cảm của người còn sống đối với người đã mất - Đôi khi văn tế biến thể được dùng trong những trường hợp đùa vui hay châm biếm |
- Bài văn tế thường có hai nội dung cơ bản: tưởng nhớ người đã mất và thể hiện tình cảm của người còn sống trong giờ phút vĩnh biệt người mất - Kết cấu gồm 4 phần: mở đầu (lung khởi), đoạn hai (thích thực), đoạn ba (ai vãn), đoạn kết - Văn tế có thể được viết bằng văn xuôi cổ, có đối, văn vần, văn biền ngẫu - Văn tế có khi được viết theo thể tự do nhưng phần nhiều văn tế phỏng theo thể phú Đường luật - Văn tế thường sử dụng nhiều thán từ, những từ ngữ, hình ảnh giàu giá trị biểu cảm |
d. Phóng sự, nhật kí
|
Thể loại |
Khái niệm |
Đặc điểm |
|
Nhật kí |
- Ghi chép theo thứ tự ngày tháng về những sự kiện của đời sống mà tác giả là người trực tiếp tham gia hay chứng kiến |
- Thường bộc lộ suy nghĩ, thái độ và đánh giá của người viết về con người, cuộc đời và chính bản thân mình |
|
Phóng sự |
- Ghi chép kịp thời, cụ thể những sự việc, con người nhằm làm sáng tỏ trước công luận về vấn đề đặt ra từ bài viết |
- Vấn đề nêu lên trong bài phóng sự thường liên quan đến hoạt động và số phận của một hoặc nhiều người, có ý nghĩa thời sự đối với xã hội |
e. Hài kịch
|
Khái niệm |
Đặc điểm |
Các thành phần |
|
Là thể loại kịch, dùng tiếng cười để chế giễu những thói tật, hiện tượng đáng phê phán vốn đi lệch các chuẩn mực tốt đẹp của con người và cộng đồng |
Tiếng cười hài kịch cất lên từ sự vênh lệch, không tương thích giữa mục đích và phương tiện thực hiện, bản chất và biểu hiện, hành động và hoàn cảnh, tham vọng vá nhân và các khả năng thực hiện,… tức là từ những cái ngộ nghĩnh, ngược đời, bất hợp lí |
- Nhân vật trong hài kịch: là những nhân vật tiêu biểu cho một thói tật đáng cười, đáng phê phán, hoặc những nhân vật thường xuyên nhầm lẫn, có cách ứng xử không phù hợp với hoàn cảnh thực tế - Tình huống hài kịch: là những tình huống hài hước diễn ra trong cuộc sống sinh hoạt, thế sự với những toan tính đời thường, làm nổi bật những thói tật đáng cười của con người - Xung đột trong hài kịch: thường được xây dựng trên cơ sở mâu thuẫn giữa ảo tưởng vớ những chuẩn mực và tiến bộ xã hội |
2. Phần tiếng Việt
a. Ngôn ngữ trang trọng
|
Khái niệm |
Đặc điểm |
|
- Là kiểu ngôn ngữ thường được sử dụng trong các giao tiếp liên quan đến công việc chung như thuyết trình, giảng dạy, trao đổi ý kiến trong cuộc họp, phát biểu ý kiến trong lớp học,… hoặc viết báo cáo, đơn từ, làm bài, viết bài nghiên cứu,… |
- Thường được gọt giũa cẩn thận - Từ ngữ và kiểu câu phải đảm bảo chuẩn mực về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách - Ưu tiên sử dụng từ ngữ toàn dân với nghĩa chính thống và lịch sự, không sử dụng tiếng lóng, từ thông tục; ít sử dụng câu đặc biệt, câu rút gọn,… |
b. Lỗi câu mơ hồ và cách sửa
|
Khái niệm |
Ví dụ |
|
Là câu khiến người đọc có thể hiểu theo những cách khác nhau |
Tôi đồng ý với những đánh giá về truyện ngắn của ông ấy - Khó xác định câu này muốn đề cập những ý kiến của ông ấy đánh giá về truyện ngắn hay có những ý kiến của người khác đánh giá về truyện ngắn do ông ấy sáng tác |
c. Lỗi câu sai logic và cách sửa
|
Khái niệm |
Ví dụ |
|
Là câu có sự mâu thuẫn giữa các ý được trình bày, lẫn lộn các bình diện khi nói về đối tượng, đặt các đối tượng không cùng cấp độ trong quan hệ đồng đẳng |
Bên cạnh việc hăng hái cách tân thi ca, ông còn là một chiến sĩ nhiệt thành đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít - Vế đầu câu nói về hoạt động của chủ thể, vế sau lại nói đến vị thế xã hội của chủ thể, mặc dù câu được cấu trúc theo mẫu: bên cạnh… còn… - Chính sự lẫn lộn các bình diện như thế khi nói về đối tượng đã khiến câu mắc lỗi logic |
d. Ngôn ngữ thân mật
|
Khái niệm |
Đặc điểm |
|
- Là kiểu ngôn ngữ thường được sử dụng trong các giao tiếp hằng ngày như trò chuyện hoặc viết tin nhắn, viết thư cho bạn bè, người thân, viết nhật kí cá nhân,… |
- Thường sử dụng các từ ngữ có sắc thái gần gũi, dân dã, phù hợp với mối quan hệ giữa các đối tượng giao tiếp - Kiểu câu trong ngôn ngữ thân mật cũng đa dạng, bao gồm cả câu đặc biệt, câu rút gọn |
e. Biện pháp tu từ nghịch ngữ
|
Khái niệm |
Đặc điểm |
|
Là biện pháp tu từ, ở đó, người nói, người viết dùng một cụm từ gây ấn tượng mạnh, làm nổi bật tính chất hai mặt của một tình thế, tâm trạng nào đó, hoặc làm phát lộ sự thật về đối tượng theo quan điểm của mình |
Nghĩa của nghịch ngữ đối lập với nghĩa của các cụm từ khác trong câu hoặc trong các câu khác gần kề Nghịch ngữ thường xuất hiện trong nói mỉa |
3. Phần làm văn
a. Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ
|
Phần |
Nội dung |
|
Mở bài |
Giới thiệu ngắn gọn về hai bài thơ và nếu cơ sở lựa chọn để so sánh, đánh giá. |
|
Thân bài |
Có nhiều cách trình bày nội dung so sánh, đánh giá. Người viết cần linh hoạt trong việc lựa chọn cách trình bày phù hợp với hiểu biết và hứng thú của bản thân, điều này sẽ góp phần quan trọng vào thành công của bài viết. Có thể triển khai các nội dung so sánh, đánh giá theo những cách sau: – Cách 1: Lần lượt phân tích từng bài thơ, sau đó chỉ ra điểm tương đồng, sự gặp gỡ và những điểm khác biệt, II giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đó; đồng thời đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ. – Cách 2: Phân tích bài thơ thứ nhất theo các phương diện đã xác định, khi phân tích bài thơ thứ hai sẽ so sánh với bài thơ thứ nhất theo từng phương diện và lí giải nguyên nhân của những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai bài thơ, từ đó, đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ. - Cách 3: So sánh lần lượt các phương diện đã lựa chọn đối với hai bài thơ, chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt; lí giải nguyên nhân sự tương đồng và khác biệt đó; đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ từ các nội dung so sánh. |
|
Kết bài |
Khẳng định ý nghĩa của việc so sánh, đánh giá; nêu cảm nhận và ấn tượng của bản thân về các bài thơ. |
b. Viết bài nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ
|
Phần |
Nội dung |
|
Mở bài |
Giới thiệu vấn đề liên quan đến tuổi trẻ, nêu quan điểm của người viết về vấn đề đó. |
|
Thân bài |
– Giải thích từ ngữ, khái niệm để làm rõ bản chất vấn đề cần bàn luận liên quan đến tuổi trẻ. - Trình bày các khía cạnh của vấn đề (Vì sao vấn đề này thiết yếu đối với tuổi trẻ? Vấn đề gợi cho tuổi trẻ những suy nghĩ và hành động như thế nào? Cần có những điều kiện gì để tuổi trẻ thực hiện yêu cầu mà vấn đề nêu ra?...). Với từng luận điểm, cần dùng lí lẽ và bằng chứng phù hợp để lập luận nhằm tạo nên sức thuyết phục của bài viết. – Bình luận về sự đúng đắn, thiết thực của vấn đề, bác bỏ ý kiến trái ngược để củng cố quan điểm của mình. – Định hướng hành động của bản thân sau khi nhận thức về vấn đề. |
|
Kết bài |
Khái quát lại ý nghĩa của vấn đề, liên hệ với đời sống thực tại, rút ra bài học cho bản thân. |
c. Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện, kí hoặc kịch
|
Phần |
Nội dung |
|
Mở bài |
Giới thiệu hai tác phẩm truyện, kí hoặc kịch được xác định là đối tượng của sự so sánh, đánh giá; nêu mục đích và cơ sở của việc so sánh, đánh giá này. |
|
Thân bài |
Cần triển khai các ý: + Thông tin chung về từng tác phẩm: hoàn cảnh ra đời, đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, vị trí của tác phẩm trong đời sống văn học... + Những điểm tương đồng giữa hai tác phẩm truyện kí hoặc kịch và nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng ấy (ví dụ: hai tác phẩm cùng đề cập một loại hiện tượng đời sống hay một loại hình nhân vật; hai tác giả có cùng quan điểm thẩm mĩ và cách tiếp cận hiện thực; có hiện tượng tác giả này chịu ảnh hưởng tác giả kia về đề tài, cảm hứng, bút pháp, phong cách sáng tác;...). + Những điểm khác biệt giữa hai tác phẩm truyện kí hoặc kịch và điều kiện làm nên sự khác biệt ấy (ví dụ: mỗi nhà văn có quan điểm thẩm mĩ, cách tiếp cận hiện thực và cá tính sáng tạo riêng; mỗi nhà văn chịu ảnh hưởng của một truyền thống văn hoá, văn học khác nhau; đối tượng dược miêu tả, câu chuyện được kể lại ở mỗi tác phẩm có điểm đặc thù;). + Đánh giá chung về sự tương đồng, khác biệt giữa hai tác phẩm truyện kí hoặc kịch và khẳng định giá trị độc đáo của mỗi tác phẩm. |
|
Kết bài |
Nêu ý nghĩa của việc đánh giá các tác phẩm truyện khi đặt chúng trong tương quan so sánh. |
d. Viết thư trao đổi về một vấn đề đáng quan tâm
|
Tri thức về kiểu bài |
Nội dung |
|
Kiểu bài |
Là kiểu văn bản thư tín, trong đó người viết thư trao đổi với người nhận thư về một vấn đề trong cuộc sống, đồng thời sử dụng lí lẽ, bằng chứng để thuyết phục người đọc |
|
Yêu cầu về nội dung |
Nêu được vấn đề cần quan tâm, trình bày được ý kiến về vấn đề |
|
Yêu cầu về hình thức |
Với thư tay, bố cục văn bản gồm: - Mở đầu: Nêu địa điểm, thời gian viết thư, danh tính người nhận, lời chào mở đầu - Nội dung: Trình bày ý kiến trao đổi về vấn đề - Kết thúc: Lời chào tạm biệt, danh tính người viết thư |
e. Viết văn bản dưới hình thức thư trao đổi công việc
|
Tri thức về kiểu bài |
Nội dung |
|
Kiểu bài |
Là kiểu văn bản thư tín của cá nhân hay tổ chức, dùng để trao đổi thông tin mà hai bên cùng quan tâm, cùng bàn bạc, nhằm đạt được kết quả mong đợi |
|
Yêu cầu về nội dung |
Trao đổi công việc về những nội dung cụ thể (vd: lợi ích của công việc, yêu cầu thực hiện, cách thức thực hiện, kết quả dự kiến,…); Thông tin trao đổi: đầy đủ, chính xác, có sức thuyết phục |
|
Yêu cầu về hình thức |
Dung lượng văn bản cô đọng, tập trung vào mục đích trao đổi công việc; ngôn ngữ: nhã nhặn, tạo sự tin cậy, trọng thị lẫn nhau Có bố cục 3 phần: - Mở đầu: Nêu địa điểm và thời gian viết thư, danh tính người nhận thư, lời chào mở đầu - Nội dung chính: Làm rõ mục đích trao đổi công việc, ý nghĩa/ kết quả mong đợi, đề xuất về (các) phương án giải quyết, hợp tác giữa các bên (nếu có),… - Kết thúc: Lời chào tạm biệt, danh tính người viết thư,… |
B. BÀI TẬP
1. Phần đọc hiểu
* Văn bản Hoàng Hạc lâu
Câu 1: Điệp từ hoàng hạc trở đi trở lại trong bốn câu thơ đầu có ý nghĩa gì?
Câu 2: Hình ảnh thiên nhiên trong trẻo, tươi sáng trong hai câu 5 – 6 thể hiện điều gì?
* Văn bản Tràng giang
Câu 3: Giá trị nội dung của bài thơ Tràng giang là gì?
Câu 4: Trong khổ một bài thơ Tràng giang, hình ảnh nào mang dáng vẻ hiện đại của Thơ mới?
* Văn bản Lão Hạc
Câu 5: Tác phẩm Lão Hạc viết về đề tài gì?
Câu 6: Tình huống truyện của văn bản “Lão Hạc” là gì?
* Văn bản Hai đứa trẻ
Câu 7: Trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, tác giả đã nhắc nhiều lần cái vầng sáng toả ra từ ánh đèn nhỏ của gánh nước nhà chị Tí. Nó có ý nghĩa gì?
Câu 8: Khi miêu tả khung cảnh phố huyện lúc về đêm, Thạch Lam sử dụng thủ pháp nghệ thuật đặc sắc nào? Tác dụng của biện pháp ấy?
* Văn bản Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Câu 9: Câu “Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ” sử dụng nghệ thuật gì? Tác dụng?
* Văn bản Vịnh Tản Viên sơn
Câu 10: Tư tưởng tình cảm của người viết qua bài thơ là gì?
* Văn bản Con gà thờ
Câu 11: Qua văn bản, tác giả muốn gửi gắm thông điệp gì?
* Văn bản Trên chặng đường hành quân
Câu 12: Nêu đặc điểm của thể loại nhật kí được thể hiện trong văn bản
* Văn bản Cái giá trị làm người
Câu 13: Văn bản trên thể hiện đặc điểm nào của thể loại phóng sự?
* Văn bản Màn diễu hành – trình diện quan thanh tra
Câu 14: Tình huống kịch của văn bản là gì?
* Văn bản Tiền bạc và tình ái
Câu 15: Với Ác-pa-gông “tình yêu” của ông ta là gì?
2. Phần tiếng Việt
a. Ngôn ngữ trang trọng
Câu 1: Ngôn ngữ trang trọng thường dùng vào dịp nào?
Câu 2: Trong một buổi phỏng vấn xin việc, bạn nên sử dụng ngôn ngữ nào?
Câu 3: Câu: Tôi xin phép được bày tỏ ý kiến trái chiều sử dụng loại ngôn ngữ gì?
Câu 4: Khi viết đơn xin nghỉ học, học sinh nên sử dụng ngôn ngữ nào?
b. Lỗi câu mơ hồ và cách sửa
Câu 5: Phân tích lỗi mơ hồ của câu sau: “Chị ấy đã gặp con”
Câu 6: Xác định lỗi của câu sau: “Các cảnh sát truy tìm tên tội phạm không để lại dấu vết.”
Câu 7: Phân tích lỗi mơ hồ của câu sau: “Cây khế đầu hè đã chết rồi”
c. Lỗi câu sai logic và cách sửa
Câu 8: Xác định lỗi logic của câu sau: “Là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, Vội vàng của Xuân Diệu như một bản tuyên ngôn về cách sống của cái tôi cá nhân”.
Câu 9: Xác định lỗi logic của câu sau: “Loan không thích nghệ thuật, vì cô ấy không biết làm thơ.”
Câu 10: Chỉ ra lỗi sai của câu sau: Việc làm kịp thời này lẽ ra phải được tiến hành từ tháng trước.
d. Ngôn ngữ thân mật
Câu 11: Đặt câu khi bạn muốn chào hỏi 1 người bạn thân lâu ngày mới gặp lại
e. Biện pháp tu từ nghịch ngữ
Câu 12: Xác định nghịch ngữ trong câu sau: Như một bậc vĩ nhân nhũn nhặn, nó giơ quả đấm chào loài người, nhẩy xuống đấy, lên xe hơi.
Câu 13: Phân tích hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng nghịch ngữ trong câu: Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm dậy để vồ lấy thuyền?
Câu 14: Phân tích hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng nghịch ngữ trong câu: Trong lúc ấy ông nhà báo cấp tiến với xã hội và bảo thủ với gia đình vội vàng lấy bút máy và sổ tay ra ghi chép, coi những lời lẽ quý hóa ấy tựa hồ bật ở miệng một vĩ nhân mà ra…
Câu 15: Xác định dấu hiệu nhận biết nghịch ngữ trong câu sau: Những việc trắc trở như thế đã làm cho ông già hơn tám mươi tuổi phải chết một cách bình tĩnh.
3. Phần làm văn
a. Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ
Đề 1: Viết bài nghị luận so sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ: Đây mùa thu tới - Xuân Diệu và Đất nước - Nguyễn Đình Thi
Đề 2: Viết bài nghị luận so sánh thiên nhiên trong 2 bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải và Sang thu của Hữu Thỉnh
Đề 3: Viết bài nghị luận so sánh hình ảnh người lính trong 2 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng và Đồng chí của Chính Hữu
Đề 4: Viết bài nghị luận so sánh những trăn trở suy tư của hai nhà thơ về thân phận, cảm xúc của người phụ nữ trong Tự tình II của Hồ Xuân Hương và Thuyền và biển của Xuân Quỳnh
b. Viết bài nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ
Đề 1: Có câu nói: “Cứ sai đi vì cuộc đời cho phép” nhưng lại có ý kiến cho rằng “Không nên coi sai lầm là phép thử cho cuộc đời của bạn”. Viết bài văn nêu ý kiến của bạn về 2 ý kiến trên
Đề 2: Viết bài văn nghị luận nêu quan điểm về sự cống hiến của tuổi trẻ với tổ quốc
Đề 3: Viết bài văn nghị luận về vấn đề sống có ích
Đề 4: Viết bài văn nghị luận về việc sống theo sở thích cá nhân và sống để phụng sự xã hội của giới trẻ
c. Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện, kí hoặc kịch
Đề 1: So sánh tác phẩm Nhật ký Đặng Thùy Trâm và Một lít nước mắt
Đề 2: So sánh hình tượng sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” và sông Hương trong bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông”
d. Viết thư trao đổi về một vấn đề đáng quan tâm
Đề 1: Viết thư hỏi thăm sức khỏe của người thân
Đề 2: Viết thư cho bạn trao đổi về việc lựa chọn ngành nghề và hướng sự nghiệp sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông.
Đề 3: Viết thư trao đổi về buổi tọa đàm định hướng nghề nghiệp cho học sinh lớp 12
e. Viết văn bản dưới hình thức thư trao đổi công việc
Đề 1: Viết thư gửi phụ huynh việc lựa chọn nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông của học sinh lớp 12
Đề 2: Viết thư điện tử trao đổi về kế hoạch tổ chức hoạt động ngoại khóa lớp 12
C. LỜI GIẢI CHI TIẾT
1. Phần đọc hiểu
Câu 1:
Phương pháp
Phân tích bốn câu thơ đầu, nhớ lại kiến thức về biện pháp điệp từ
Chú ý phân tích điệp từ hoàng hạc
Lời giải chi tiết
Tác dụng: Nhấn mạnh những cảm nhận và suy tư của tác giả về quá khứ và hiện tại.
Câu 2:
Phương pháp
Đọc câu thơ 5-6
Chú ý những hình ảnh thể hiện thiên nhiên
Lời giải chi tiết
Hình ảnh thiên nhiên trong hai câu 5-6 như một lời khẳng định: Cái đẹp của quá khứ vẫn luôn hiện hữu và là mãi mãi.
Câu 3:
Phương pháp
Đọc kĩ bài thơ
Lời giải chi tiết
Giá trị nội dung: Bộc lộ cái “tôi” cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn, trong đó thấm đượm tình người, tình đời, lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha của tác giả.
Câu 4:
Phương pháp
Đọc kĩ khổ 1
Lời giải chi tiết
“Củi một cành khô” là hình ảnh thơ hiện đại, chưa từng xuất hiện trong thơ ca cổ.
Câu 5:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Thể hiện số phận đau thương của người nông dân trong xã hội cũ và phẩm chất cao quý, tiềm tàng của họ. Đồng thời, truyện còn cho thấy tấm lòng yêu thương, trân trọng đối với người nông dân.
Câu 6:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Tình huống truyện của văn bản “Lão Hạc” là Lão Hạc bán con chó vàng. Từ đây đã dẫn đến những dằn vặt và cái chết của Lão.
Câu 7:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản, chú ý hình ảnh cái vầng sáng và phân tích ý nghĩa
Lời giải chi tiết
Hình ảnh leo lét nơi quán hàng chị Tí là biểu tượng cho kiếp sống nhỏ nhoi, lay lắt, mù tối của những người nghèo khổ trong màn đêm của xã hội cũ
Câu 8:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản, chú ý các chi tiết miêu tả khung cảnh phố huyện lúc về đêm
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nghệ thuật
Lời giải chi tiết
Nghệ thuật:
- Đối lập tương phản, lấy ánh sáng tả bóng tối. Tác giả miêu tả rất nhiều ánh sáng, tuy nhiên ánh sáng rất yếu ớt, chỉ là quầng, khe, vệt, chấm và cuối cùng chỉ là hột sáng thưa thớt.
=> Tác dụng: Ánh sáng không đủ chiếu sáng, không đủ sức phá tan màn đêm, ngược lại nó làm cho đêm tối càng trở nên mênh mông hơn, càng gợi sự tàn tạ, hắt hiu.
Câu 9:
Phương pháp
Đọc kĩ câu văn
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nghệ thuật
Lời giải chi tiết
Nghệ thuật đối “Súng giặc đất rền – Lòng dân trời tỏ” phác họa khung cảnh bão táp của thời đại
→ Hình ảnh không gian to lớn “đất”, “trời” kết hợp những động từ gợi sự khuyếch tán âm thanh, ánh sáng “rền”, “tỏ”: Sự đụng độ giữa thế lực xâm lược hung bạo với vũ khí tối tân và ý chí chiến đấu của nhân dân ta
Câu 10:
Phương pháp
Đọc kĩ bài thơ
Lời giải chi tiết
Thể hiện sự say mê về khung cảnh hùng vĩ của núi Tản, đồng thời thể hiện sự kính trọng và tự hào về vị thần núi nơi đây
Câu 11:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các chi tiết, hình ảnh nổi bật và rút ra thông điệp
Lời giải chi tiết
Tác giả lên án những hủ tục lạc hậu đã ăn sâu vào tâm trí những nông dân cần cù, chất phác nơi đây, họ xem đó là điều hiển nhiên phải thực hiện. Nếu như người dân thực hiện tốt những hủ tục đó, người đó sẽ được ca tụng hết lời. Thiên phóng sự đã thể hiện đầy đủ ý nghĩa của câu tục ngữ “Phép vua còn thua lệ làng", tố cáo những hủ tục cổ hủ của chốn làng quê và gửi gắm những giá trị nhân sinh sâu sắc, quý giá.
Câu 12:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về thể loại
Lời giải chi tiết
- Những sự kiện được ghi chép hằng ngày, cẩn thận
- Có đánh số ngày, tháng, năm
- Có địa điểm cụ thể
- Yếu tố phi hư cấu
Câu 13:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về thể loại phóng sự
Lời giải chi tiết
- Phản ánh lại sự kiện những người lao động thất nghiệp đi kiếm việc làm bằng cách tụ tập ra những chợ "bán người", chỉ mong có được một "thầy kí", "cô đầm" nào đây rước về làm việc vặt.
- Có sử dụng biện pháp nghiệp vụ báo chí như phỏng vấn, đối thoại… để đảm bảo tính xác thực của tư liệu.
Câu 14:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Chú ý tình huống khiến nhân vật bộc lộ tính cách
Lời giải chi tiết
Tình huống kịch: Quan chức địa phương tìm đến nịnh bợ, mua chuộc, hối lộ Khle-xta-kốp mong y bỏ qua sai phạm của họ trong công việc. Đây là tình huống đặc trưng của hài kịch vì đã thể hiện sự trào phúng, châm biếm sâu cay, mang tính thời sự.
Câu 15:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Với Ác – pa – gông, tình yêu của ông ta là cái tráp tiền bị đánh cắp
2. Phần tiếng Việt
Câu 1:
Phương pháp
Đọc lại kiến thức về ngôn ngữ trang trọng
Lời giải chi tiết
Khi chuẩn bị tham gia một hội nghị, một cuộc họp hay với những người chưa thân quen
Câu 2:
Phương pháp
Đọc lại kiến thức về ngôn ngữ trang trọng
Lời giải chi tiết
Ngôn ngữ trang trọng
Câu 3:
Phương pháp
Đọc lại kiến thức về ngôn ngữ trang trọng
Lời giải chi tiết
Ngôn ngữ trang trọng
Câu 4:
Phương pháp
Đọc lại kiến thức về ngôn ngữ trang trọng
Lời giải chi tiết
Ngôn ngữ trang trọng
Câu 5:
Phương pháp
Đọc lại kiến thức về lỗi câu mơ hồ
Lời giải chi tiết
Có thể hiểu sai về đối tượng chị ấy đã gặp có thể là con của chị ấy sinh ra, cũng có thể là người nói
Câu 6:
Phương pháp
Đọc lại kiến thức về lỗi câu mơ hồ
Lời giải chi tiết
Lỗi câu mơ hồ
Câu 7:
Phương pháp
Đọc lại kiến thức về lỗi câu mơ hồ
Lời giải chi tiết
Người đọc người nghe cảm thấy vô cùng mơ hồ, không thể xác định được “đầu hè” là thời điểm hay là vị trí
Câu 8:
Phương pháp
Đọc lại kiến thức về lỗi câu sai logic
Lời giải chi tiết
Đặt các đối tượng không cùng cấp độ trong quan hệ đồng đẳng
Câu 9:
Phương pháp
Đọc lại kiến thức về lỗi câu sai logic
Lời giải chi tiết
Đặt các đối tượng không cùng cấp độ trong quan hệ đồng đẳng
Câu 10:
Phương pháp
Đọc lại kiến thức về lỗi câu sai logic
Lời giải chi tiết
Câu có sự mâu thuẫn giữa các ý. Đã nói kịp thời thì không thể nói lẽ ra phải được tiến hành trước đó, hoặc nếu đã nói lẽ ra phải tiến hành từ trước đó thì không thể cho là kịp thời
Câu 11:
Phương pháp
Đọc lại kiến thức về ngôn ngữ thân mật
Lời giải chi tiết
Dạo này cậu có ổn không?
Câu 12:
Phương pháp
Đọc lại kiến thức về nghịch ngữ
Lời giải chi tiết
Nó giơ quả đấm chào loài người
Câu 13:
Phương pháp
Đọc lại kiến thức về nghịch ngữ
Lời giải chi tiết
Tác giả đã tạo ra một hình ảnh đối lập khi miêu tả sự hung bạo của con sông Đà. Sự nguy hiểm của nó không chỉ cao mà còn bí hiểm
Câu 14:
Phương pháp
Đọc lại kiến thức về nghịch ngữ
Lời giải chi tiết
Tạo ra sự đối nghịch trong con người. Tô đậm bản chất sĩ diện hão huyền của nhân vật
Câu 15:
Phương pháp
Đọc lại kiến thức về nghịch ngữ
Lời giải chi tiết
Có sự kết hợp phi lí giữa các từ mang nghĩa đối chọi ngay trong một cụm từ: chết một cách bình tĩnh
3. Phần làm văn
a. Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ
Đề 1: Viết bài nghị luận so sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ: Đây mùa thu tới - Xuân Diệu và Đất nước - Nguyễn Đình Thi
I. Mở bài: Giới thiệu 2 bài thơ và vấn đề so sánh
II. Thân bài:
1. Bài “Đây mùa thu tới”
- Cảnh sắc mùa thu trong bài Đây mùa thu tới thấm một nỗi buồn: Đó là cái buồn muôn thuở, nhưng cũng là cái buồn của thời đại, cái buồn của riêng “thơ mới”.
- Các khổ thơ tiếp theo tác giả tái hiện cảnh hoa, lá rụng, cành cây khô gầy, vầng trăng bơ vơ. Sương mờ không khí trời u uất... tất cả những hình ảnh ấy gợi lên sự chia ly, tàn tạ, phai nhạt làm nổi rõ nỗi buồn cô đơn).
- Cảnh thu buồn hiu hắt bi thương nhưng vẫn có cái gì đó dịu nhẹ, trẻ trung và rất đẹp.
- Như vậy mùa thu bên cạnh cái vẻ đìu hiu buồn, một cái buồn rất đẹp của cảnh vật, vẫn chứa đựng bên trong một sức sống trẻ trung.
- Tóm lại: cảnh thu, lòng người trước mùa thu có buồn bã cô đơn, nhưng không quá tuyệt vọng mà vẫn tươi trẻ. Toát lên từ toàn bộ bài thơ cảnh thu là vẻ đẹp của một nỗi buồn. Đó là nỗi buồn đầy cảm xúc của cái tôi cô đơn biểu hiện một niềm yêu đời, khát khao giao cảm với đời của nhà thơ Xuân Diệu.
2. Bài “Đất nước”
- Bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi là bài thơ về “Đất nước rũ bùn đứng dậy sáng loà” qua cuộc kháng chiến 9 năm (1946-1954) nhưng cảm hứng đất nước lại bắt đầu từ cảm hứng mùa thu.
- Không gian mùa thu như trải dài, mở rộng theo những con đường, dòng sông, đồng lúa, cánh rừng trùng điệp của đất nước.
- Cảm hứng của Nguyễn Đình Thi trong bài Đất nước là cảm hứng tự hào làm chủ của một nghệ sĩ đang tham gia trực tiếp vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc độc lập tự do.
- Cảm hứng chủ đạo của nhà thơ vẫn là niềm vui, niềm tự hào về đất nước giang sơn gấm vóc, về độc lập chủ quyền vì vậy đoạn thơ viết về mùa thu chiến khu Việt Bắc vang lên sang sảng tự hào đầy kiêu hãnh.
3. Sự khác biệt giữa hai tác phẩm:
- Cùng viết về mùa thu mà Xuân Diệu chỉ thấy một mùa thu rất đẹp mà rất buồn. Còn Nguyễn Đình Thi lại tiếp nhận một mùa thu trong trẻo, đầy âm thanh, màu sắc, đầy niềm vui, sức sống của cảnh vật và con người.
- Điều đó, xét cho cùng có nguyên nhân thời đại chi phối hồn thơ. Chính cảm xúc về thời đại đã quy định cảm hứng, qui định tình thu của nhà thơ và từ cảm hứng, tình thơ của nhà thơ lại qui định cảnh sắc mùa thu trong thơ.
III. Kết bài: Tóm tắt lại vấn đề so sánh
Đề 2: Viết bài nghị luận so sánh thiên nhiên trong 2 bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải và Sang thu của Hữu Thỉnh
I. Mở bài
- Tình yêu thiên nhiên là một trong những nội dung nổi bật của văn học Việt Nam.
- Các nhà thơ Việt Nam hiện đại đã góp vào đề tài này bằng những nét riêng độc đáo. Người đọc sẽ cảm nhận tình yêu thiên nhiên tha thiết của hai thi nhân: Thanh Hải qua Mùa xuân nho nhỏ, Hữu Thỉnh qua Sang thu.
2. Thân bài
a. Tình yêu thiên nhiên của thi nhân qua bài thơ Mùa xuân nho nhỏ:
- Tình yêu thiên nhiên – thiên nhiên mùa xuân xứ Huế của nhà thơ thể hiện thật tinh tế.
- Nghệ thuật phối sắc thể hiện cái đẹp hài hòa của thiên nhiên: bông hoa tím biếc, dòng sông xanh.
- Biện pháp đổi trật tự cú pháp trong câu thơ vắt dòng
- Hai câu thơ kế tiếp đã mở rộng không gian nghệ thuật bức tranh xuân. Tín hiệu xuân còn là tiếng hót vang trời của con chim chiền chiện: Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời
- Hai câu thơ 5, 6 trong khổ thơ xuất hiện bóng dáng nhân vật trữ tình trong bài thơ: Từng giọt long lanh rơi; Tôi đưa tay tôi hứng
- Phép tu từ ẩn dụ (chuyển đổi cảm giác) làm cho bức tranh xuân mang vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình với hành động đưa tay hứng âm thanh tiếng hót chim chiền chiện của nhà thơ – nhân vật trữ tình trong bài thơ.
→ Đoạn thơ đẹp như bức tranh – bức tranh có dòng sông, hoa cỏ, có chim hót, có bầu trời, sương mai, có ánh xuân, có con người. Bức tranh có sắc xuân, tình xuân và có cả khúc nhạc xuân đã thể hiện tình yêu thiên nhiên – thiên nhiên mùa xuân của thi nhân!
b. Tình yêu thiên nhiên của thi nhân qua bài thơ Sang thu
- Đọc Sang thu của Hữu Thỉnh, thêm một lần ta được thưởng thức vẻ đẹp của sự cảm nhận tinh tế, những rung động của một tâm hồn nhạy cảm nghệ sĩ lúc thu sang.
- Sự độc đáo bắt đầu bằng hương ổi – hương thu: Bỗng nhận ra hương ổi; Phả vào trong gió se; Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về
- Cảm xúc của thời điểm chuyển giao tiếp tục lan tỏa, mở ra trong cái nhìn xa hơn, rộng hơn: Sông được lúc dềnh dàng; Chim bắt đầu vội vã; Có đám mây mùa hạ; Vắt nửa mình sang thu
→ Hình ảnh thơ tự nhiên, không trau chuốt mà giàu sức gợi cảm, thể thơ năm chữ vắt dòng tạo ra những liên tưởng thú vị đã thể hiện một cách đặc sắc những xúc cảm tinh tế trước bước chuyển giao của mùa; đã diễn tả cụ thể, tinh tế, nhạy cảm tình yêu thiên nhiên tha thiết của Hữu Thỉnh.
- Cách cảm nhận và miêu tả của tác giả: tinh tế, nhạy cảm, sự liên tưởng độc đáo. Nhà thơ làm cho mùa thu trong thơ ca Việt Nam mang một hương sắc mới.
c. So sánh hai tác phẩm
- Điểm chung:
+ Cả hai thi nhân đều yêu thiên nhiên.
+ Tình yêu thiên nhiên của hai nhà thơ đều nhẹ nhàng, tinh tế nên cảnh sắc thiên nhiên trong hai bài thơ không bị hòa lẫn vào cảnh sắc thiên nhiên của các bài thơ khác.
- Điểm riêng:
+ Mùa xuân nho nhỏ: Đổi trật tự cú pháp, ẩn dụ; Bức tranh thiên nhiên mùa xuân xứ Huế; Xúc cảm của thi nhân nghiêng về hình ảnh đầy sắc xuân đẹp đẽ của thiên nhiên, đất trời → thể hiện tình yêu tha thiết với cuộc sống.
+ Sang thu: Hình ảnh đặc trưng, giàu sức biểu cảm; phép nhân hóa; Cảnh vườn thu, ngõ xóm của đồng bằng Bắc bộ; Xúc cảm của thi nhân nghiêng về cảm nhận giây phút nhẹ nhàng tình cảm gắn bó tha thiết với quê hương.
III. Kết bài
- Tình yêu thiên nhiên mùa xuân, mùa thu của hai thi nhân thật thiết tha đã bồi đắp thêm cảm xúc, tình cảm yêu mến thiên nhiên cho mỗi người đọc.
- Hai bài thơ: Mùa xuân nho nhỏ, Sang thu cùng với hai hồn thơ Thanh Hải, Hữu Thỉnh đã làm đẹp những trang thơ hiện đại Việt Nam.
Đề 3: Viết bài nghị luận so sánh hình ảnh người lính trong 2 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng và Đồng chí của Chính Hữu
I. Mở bài
- Giới thiệu sơ lược về văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975.
- Dẫn vào hình tượng người lính trong Tây Tiến và Đồng Chí.
II. Thân bài
1. Điểm chung:
- Sáng tác năm 1948.
- Bối cảnh chiến trường vùng Tây Bắc.
- Tác giả đều là những người lính thực thụ bước ra từ chiến trường máu lửa.
2. Hình tượng người lính trong Tây Tiến của Quang Dũng:
- Xuất thân:
+ Những chàng trai đến từ thủ đô, hầu hết là học sinh sinh viên.
+ Mang vẻ hào hoa, lãng mạn trong tâm hồn.
- Hoàn cảnh chiến đấu:
+ Chiến trường vùng biên giới Việt - Lào khắc nghiệt.
+ Cung đường hành quân rộng lớn, khúc khuỷu.
+ Điều kiện chiến đấu thiếu thốn, phải đối mặt với căn bệnh sốt rét kinh hoàng.
+ Thường xuyên có người hy sinh vì bệnh tật và bom đạn.
- Vẻ hào hùng, dữ dội trong ngoại hình:
+ "Không mọc tóc", "quân xanh màu lá", hậu quả của bệnh sốt rét, nhưng vào thơ Quang Dũng đã mang nét nghĩa chủ động, trở thành vẻ đẹp ngoại hình kỳ dị, trấn áp kẻ thù.
- Vẻ hào hùng, bất khuất trong lý tưởng chiến đấu: "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh": Một lòng hy sinh cho Tổ quốc, không tiếc thân mình.
+ "Rải rác biên cương mồ viễn xứ...Áo bào thay chiếu anh về đất": Cái chết hiên ngang, bất khuất, bi thương nhưng không hề bi lụy.
- Vẻ hào hoa, lãng mạn trong đời sống tâm hồn:
+ Say sưa điệu nhạc, nụ cười ánh mắt của những cô gái trẻ, vui mừng nhảy múa trong những lúc tập kết về doanh trại.
+ "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm", khao khát tình yêu, hạnh phúc.
→ Tâm hồn trẻ trung, lãng mạn, bay bổng, là động lực để người lính trở nên mạnh mẽ kiên cường trong chiến đấu.
c. Hình tượng người lính trong Đồng chí của Chính Hữu:
- Xuất thân:
+ Người nông dân áo vải, đi từ làng quê nghèo khó.
- Điều kiện chiến đấu:
+ Vùng chiến trường Việt Bắc hoang sơ, khắc nghiệt.
+ Phải đối mặt với căn bệnh sốt rét rừng.
+ Thiếu thốn vật chất, cuộc chiến vô cùng gian khổ, khó khăn.
→ Miêu tả một cách chân thực, không mang màu sắc lãng mạn.
- Ngoại hình:
+ Không mang vẻ dữ dội, thay vào đó là hình tượng người lính nghèo nàn, khổ cực "Áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá/Miệng cười buốt giá chân không giày" → Vẻ đẹp đến từ sự chân chất giản dị.
- Vẻ đẹp tâm hồn:
+ Thể hiện chủ yếu thông qua tình đồng chí gắn bó sâu sắc.
+ Sự thông cảm lẫn nhau khi cùng có chung hoàn cảnh, gắn bó sâu sắc, đồng cam cộng khổ vượt qua những lúc ốm đau bệnh tật.
+ Đặc biệt là cùng kề vai nhau bước vào chiến trường máu lửa, thấu hiểu nỗi mất mát, hy sinh trong chiến tranh.
+ Tinh thần kiên cường bất khuất vượt qua mọi khó khăn gian khổ trong chiến đấu.
3. Kết bài: Nêu cảm nhận của bản thân
Đề 4: Viết bài nghị luận so sánh những trăn trở suy tư của hai nhà thơ về thân phận, cảm xúc của người phụ nữ trong Tự tình II của Hồ Xuân Hương và Thuyền và biển của Xuân Quỳnh
I. Mở bài: Giới thiệu hai bài thơ và vấn đề so sánh
II. Thân bài:
1. Bài thơ Tự tình II
- Những vần thơ thể hiện sự vùng vẫy, bứt phá để dành hạnh phúc cho chính mình, nhưng cuối cùng vẫn phải nhận về thất bại cay đắng. Thân phận người phụ nữ trong bài thơ được thể hiện đầy cay đắng xót xa, họ ý thức về thân phận mình, ý thức về tuổi thanh xuân trôi nhanh mà hạnh phúc lứa đôi chưa được tròn vẹn.
- Trước thực tại quá đỗi phũ phàng, dường như người phụ nữ cũng phải chấp nhận: “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại/ Mảnh tình san sẻ tí con con”
- Xuân “lại lại” đồng nghĩa với thanh xuân người con gái ngày một ngắn lại, vậy mà mảnh tình cũng phải san sẻ, chia năm sẻ bảy.
- Câu thơ với cách dùng từ độc đáo, cho thấy sự nhỏ dần, ít dần của tình duyên: mảnh tình – nhỏ bé, san sẻ - càng ít hơn và cuối cùng phần nhận được chỉ còn lại “tí con con”.
2. Bài thơ Thuyền và biển
- Câu chuyện của một tình yêu chung thủy “Từ ngày nào không biết. Thuyền nghe theo lời biển khơi”: Câu thơ như một sự thú nhận ngần ngại, e ấp, rằng từ lâu em đã thích anh, sẵn sàng xây dựng hạnh phúc lứa đôi với anh. Không biết từ khi nào em đã yêu anh, nhưng tình yêu ấy là chân thành và vĩnh cửu.
- Thông thường, biển thường tượng trưng cho người con trai vì sức mạnh của nó, nhưng Xuân Quỳnh đã tạo ra một sự đảo ngược, sử dụng hình ảnh của biển để biểu hiện người con gái, vì biển cũng có sự dịu dàng, chân thật, đặc biệt là với sự rộng lớn như tình yêu của nhà thơ.
- Hình ảnh thuyền và biển vẫn liên quan chặt chẽ với nhau, biểu tượng cho tình yêu không thể chia rẽ
3. So sánh:
- Hai bài thơ Tự tình II và Thuyền và biển đều thể hiện rất tốt cảm xúc, tâm trạng của người phụ nữ trong các hoàn cảnh của cuộc đời
- Tuy nhiên vì khác nhau ở thế hệ, nên giọng điệu thơ và cách thể hiện tâm trạng cũng có phần khác nhau:
+ Ở Tự tình – khi tư tưởng còn bị ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến, người đọc thấy một tâm trạng bi ai, than thân trách phận của người phụ nữ thời xưa, khi họ khao khát được bày tỏ nỗi lòng nhưng không được chấp nhận và phải sống cuộc đời “tầm gửi”
+ Ngược lại, Thuyền và biển đã thể hiện rõ ràng tâm trạng, mong muốn, khát vọng tình yêu của người phụ nữ, để thấy được rằng, trong tình yêu, người phụ nữ cũng mạnh mẽ, sẵn sàng cho đi hơn bất kì ai khác
III. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề
b. Viết bài nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ
Đề 1: Có câu nói: “Cứ sai đi vì cuộc đời cho phép” nhưng lại có ý kiến cho rằng “Không nên coi sai lầm là phép thử cho cuộc đời của bạn”. Viết bài văn nêu ý kiến của bạn về 2 ý kiến trên
I. Mở bài: Dẫn dắt vấn đề
II. Thân bài:
1. Giải thích khái niệm “sai lầm:
- Là một quyết định hoặc một con đường ta chọn, ta thực hiện những không đem lại kết quả mong muốn.
- Sai lầm không phải là dấu chấm hết, nó sẽ là động lực thúc đẩy mỗi con người đạt được mục đích.
2. Phân tích 2 câu nói:
- Câu nói thứ nhất khiến con người được truyền cảm hứng để dũng cảm dấn thân, thậm chí là sáng tạo và liều lĩnh. Có thất bại mới trân quý thành công.
- Tuy nhiên chúng ta cũng không nên coi đó là “phép thử” như môn học, cứ sai lại thử, dẫn đến lãng phí thời gian, tuổi trẻ, tiền bạc, tri thức và có thể phung phí cả niềm tin vào chính mình.
- Không nên coi sai lầm là phép thử chỉ để biết kết quả đó là tồi tệ, mà hãy coi nó là một bài học để không còn lặp lại trong tương lai. Và cũng đừng lấy lí do được phép sai để bào chữa cho sự sai lầm vô tội vạ của mỗi cá nhân.
- Hai ý kiến trên nghe có vẻ như trái ngược nhau nhưng không phải vậy, chúng bổ sung thích đáng cho nhau để mang đến cho chúng ta những suy nghĩ và cách ứng xử khác nhau về “sai lầm” trong cuộc sống.
III. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề
Đề 2: Viết bài văn nghị luận nêu quan điểm về sự cống hiến của tuổi trẻ với tổ quốc
I. Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: sự cống hiến của thế hệ trẻ hiện nay. (Một trong những điều mà tuổi trẻ hiện nay cần phải lưu tâm chính là sự cống hiến của mình đối với quê hương đất nước.)
Lưu ý: Học sinh tự lựa chọn cách viết mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của bản thân mình.
II. Thân bài
1. Giải thích
Sự cống hiến của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước: trách nhiệm giữ gìn nền độc lập, tích cực xây dựng nước nhà ngày càng vững mạnh,
2. Phân tích
Mỗi người khi học tập, lao động, tạo lập cho mình một cuộc sống tốt đẹp cũng chính là cống hiến cho tổ quốc.
Yêu thương, giúp đỡ đồng bào, đoàn kết không chỉ giúp cho chúng ta được yêu thương, trân trọng trong mắt mọi người mà nó còn thể hiện sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.
3. Liên hệ bản thân
Là một học sinh trước hết chúng ta cần học tập thật tốt, nghe lời ông bà cha mẹ, lễ phép với thầy cô. Có nhận thức đúng đắn về việc giữ gìn và bảo vệ tổ quốc. Luôn biết yêu thương và giúp đỡ những người xung quanh,…
4. Phản đề
Tuy nhiên vẫn còn có nhiều bạn chưa có nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước, chỉ biết đến bản thân mình, coi việc chung là việc của người khác,… những người này đáng bị xã hội thẳng thắn lên án.
III. Kết bài
Khái quát lại vấn đề nghị luận: sự cống hiến của tuổi trẻ đối với quê hương đất nước.
Mỗi chúng ta khi sinh ra được sống trong nền hòa bình đã là một sự may mắn, chính vì vậy chúng ta cần phải cống hiến nhiều hơn để phát triển nước nhà vững mạnh, có thể chống lại mọi kẻ thù.
Đề 3: Viết bài văn nghị luận về vấn đề sống có ích
I. Mở bài:
Sống có ích là một chủ đề được quan tâm trong cuộc sống hiện đại.
II. Thân bài:
1. Giải thích:
- Sống có ích đòi hỏi mỗi người phải có một mục tiêu, một ước mơ và nỗ lực để đạt được nó. Đồng thời, người sống có ích cũng phải có tinh thần yêu thương và sẵn sàng giúp đỡ những người xung quanh. Công việc cống hiến cho cuộc đời và phát triển nước nhà là một yếu tố không thể thiếu trong một cuộc sống có ý nghĩa.
2. Phân tích:
- Biểu hiện của người sống có ích: Một người sống có ích luôn có mục tiêu cho bản thân và cố gắng để đạt được nó. Họ không chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân, mà còn sẵn sàng giúp đỡ những người xung quanh. Họ có tinh thần cống hiến và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
- Lợi ích, ý nghĩa của việc sống có ích: Việc sống có ích giúp con người tìm được ý nghĩa của cuộc sống và cảm thấy hạnh phúc hơn. Đồng thời, nó còn đóng góp cho sự phát triển của xã hội và đất nước. Người sống có ích được mọi người yêu quý, tôn trọng và noi theo.
3. Chứng minh:
- Ví dụ về những người sống có ích như đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà báo Phạm Xuân Ẩn, danh họa Bùi Xuân Phái, và nhiều nhân vật khác trong lịch sử và hiện tại. Họ đều là những người đã cống hiến cho cuộc đời và đất nước, được mọi người yêu quý, tôn trọng và ghi nhớ mãi mãi.
- Vì vậy, chúng ta cần nhìn nhận và tự đánh giá mình, xem mình có đang sống có ích hay không? Nếu chưa, hãy nỗ lực để thay đổi bản thân mình, phấn đấu vươn lên và giúp đỡ những người xung quanh.
- Đôi khi, chúng ta cảm thấy rằng việc sống có ích là quá khó khăn, quá xa vời, nhưng thực sự, đó là một hành trình dài, không bao giờ dễ dàng. Tuy nhiên, nếu chúng ta không bắt đầu từ đâu, chúng ta sẽ không bao giờ đạt được điều đó.
- Và cuối cùng, hãy nhớ rằng, cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi chúng ta sống cho mục đích lớn hơn chính mình. Hãy sống có ích để cuộc sống của bạn trở nên đầy ý nghĩa và giá trị hơn.
III. Kết bài:
Trong cuộc sống, không ai là hoàn hảo và ai cũng có thể có những sai lầm. Nhưng điều quan trọng là chúng ta cần nhìn ra và sửa chữa những sai lầm đó để trở thành một người sống có ích hơn, một người đóng góp tích cực hơn cho xã hội và cuộc sống của mình.
Vì vậy, hãy cố gắng sống có ích, vươn lên và giúp đỡ những người xung quanh. Chúng ta cùng nhau tạo nên một xã hội tốt đẹp hơn, một thế giới đầy ý nghĩa và giá trị hơn.
Đề 4: Viết bài văn nghị luận về việc sống để phụng sự xã hội của giới trẻ
I. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
II. Thân bài:
1. Giải thích khái niệm:
- Sống có ích là gì?
- Là lối sống lành mạnh, không sa vào các tệ nạn xã hội, sống đẹp biết giúp đỡ người và cũng cần có trách nhiệm cho bản thân.
2. Phân tích
- Tác dụng của lối sống có ích: Tạo nên một cộng đồng vững bền; giúp con người trưởng thành hơn
- Biểu hiện của lối sống có ích (minh chứng cụ thể)
+ Có những bạn trẻ không quản khó khăn, mưa nắng cõng bạn bị khuyết tật đến trường- đó là những tấm gương sáng trong việc sống có ích.
+ Ngay ở trong gia đình, ta biết giúp đỡ cha mẹ làm việc nhà, nghe lời dạy bảo, chăm chỉ học hành là đã trở thành những người sống có ích.
+ Có những danh nhân tuy họ vô cùng thành công và giàu có, nhưng họ sẵn sàng lăn xả vào những hoạt động từ thiện, giúp đỡ các gia đình ở vùng thiên tai lũ lụt, hay chi một số tiền rất lớn để giúp đỡ người hoạn nạn.
3. Phản đề
- Bên cạnh đó vẫn có rất nhiều sống ích kỉ, không có một mục tiêu, lối sống rõ ràng. Cả ngày chỉ biết ăn bám, dựa dẫm vào người khác.
III. Kết bài
- Khẳng định lại vấn đề và nêu thông điệp của bản thân
c. Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện, kí hoặc kịch
Đề 1: So sánh tác phẩm Nhật ký Đặng Thùy Trâm và Một lít nước mắt
I. Mở bài
1. Giới thiệu chung về hai tác phẩm, tác giả:
- Nhật ký Đặng Thùy Trâm của Đặng Thùy Trâm là một bác sĩ quân y người Việt Nam. Bà sinh năm 1942 tại Huế.
- Một lít nước mắt của Kito Aya là một cô gái người Nhật Bản. Aya sinh năm 1962 và mắc phải căn bệnh thoái hóa tiểu não khi mới 15 tuổi.
2. Nêu vấn đề nghị luận:
- So sánh hai tác phẩm về các phương diện: tác giả, người kể chuyện, thủ pháp nghệ thuật và giá trị nhân văn.
II. Thân bài
1. Tác giả và người kể chuyện
- Nhật ký Đặng Thùy Trâm:
+ Tác giả: Đặng Thùy Trâm, bác sĩ quân y người Việt Nam.
+ Người kể chuyện: Chính Đặng Thùy Trâm, ghi lại những trải nghiệm và cảm xúc trong chiến tranh.
- Một lít nước mắt:
+ Tác giả: Kito Aya, cô gái người Nhật Bản mắc bệnh thoái hóa tiểu não.
+ Người kể chuyện: Chính Kito Aya, ghi lại cuộc sống và cuộc đấu tranh với bệnh tật.
2. Thủ pháp nghệ thuật
- Nhật ký Đặng Thùy Trâm:
+ Miêu tả chân thực: Ghi chép chi tiết về cuộc sống và chiến tranh, tạo nên bức tranh sống động và chân thực.
+ Tự sự: Sử dụng ngôn ngữ tự sự để kể lại những trải nghiệm cá nhân, những suy nghĩ và cảm xúc sâu sắc.
+ Lồng ghép cảm xúc: Những dòng nhật ký chứa đựng nhiều cảm xúc, từ nỗi đau, sự mất mát đến niềm hy vọng và khát khao hòa bình.
- Một lít nước mắt:
+ Miêu tả chi tiết: Ghi chép chi tiết về cuộc sống hàng ngày và những khó khăn do bệnh tật, tạo nên bức tranh chân thực về cuộc sống của người bệnh.
+ Tự sự: Sử dụng ngôn ngữ tự sự để kể lại những suy nghĩ, cảm xúc và những nỗ lực vượt qua bệnh tật.
+ Lồng ghép cảm xúc: Nhật ký chứa đựng nhiều cảm xúc, từ nỗi đau, sự tuyệt vọng đến niềm hy vọng và khát khao sống.
- Nhận xét chung: Cả hai tác phẩm đều là nhật ký cá nhân, ghi lại những suy nghĩ, cảm xúc và trải nghiệm thực tế của tác giả. Điều này mang lại tính chân thực và sâu sắc cho câu chuyện, giúp người đọc cảm nhận được những khó khăn và nỗ lực của tác giả trong cuộc sống.
3. Giá trị nhân văn và lịch sử
- Nhật ký Đặng Thùy Trâm:
+ Giá trị lịch sử: Phản ánh chân thực cuộc sống và chiến tranh, là tài liệu lịch sử quý giá.
+ Giá trị nhân văn: Truyền tải thông điệp về lòng yêu nước, sự hy sinh và khát khao hòa bình.
- Một lít nước mắt:
+ Giá trị nhân văn: Truyền tải thông điệp về sự kiên cường, lòng dũng cảm và khát khao sống.
+ Giá trị cảm xúc: Gây xúc động mạnh mẽ và truyền cảm hứng cho người đọc về tinh thần vượt khó.
4. Nhận xét và đánh giá
- Nhật ký Đặng Thùy Trâm:
+ Là một tác phẩm quý giá, không chỉ phản ánh chân thực cuộc sống và chiến tranh mà còn thể hiện tinh thần yêu nước, sự hy sinh và lòng dũng cảm của người phụ nữ Việt Nam. Nhật ký của Đặng Thùy Trâm đã trở thành một tài liệu lịch sử quan trọng và là nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ.
+ Tác phẩm giúp người đọc hiểu rõ hơn về những khó khăn và hy sinh của những người lính và bác sĩ quân y trong chiến tranh, đồng thời truyền tải thông điệp về lòng yêu nước và khát khao hòa bình.
- Một lít nước mắt:
+ Là một tác phẩm cảm động và đầy nghị lực, kể về cuộc đấu tranh của một cô gái trẻ với căn bệnh hiểm nghèo. Nhật ký của Aya đã truyền cảm hứng cho nhiều người về tinh thần vượt khó và ý chí sống mạnh mẽ.
+ Tác phẩm giúp người đọc hiểu rõ hơn về những khó khăn mà người bệnh phải đối mặt, đồng thời truyền tải thông điệp về sự kiên cường, lòng dũng cảm và khát khao sống.
- Nhận xét chung: Cả hai tác phẩm đều mang lại những bài học quý giá và truyền cảm hứng mạnh mẽ cho người đọc. Mỗi tác phẩm đều có giá trị riêng và đáng để chúng ta trân trọng và học hỏi.
III. Kết bài
1. Khẳng định lại giá trị của hai tác phẩm:
- Cả hai tác phẩm đều mang lại những bài học quý giá và truyền cảm hứng mạnh mẽ cho người đọc.
+ Nhật ký Đặng Thùy Trâm: Thể hiện tinh thần yêu nước, sự hy sinh và lòng dũng cảm của một bác sĩ quân y trong chiến tranh. Bà luôn khát khao hòa bình và mong muốn đóng góp cho đất nước.
+ Một lít nước mắt: Kể về cuộc đấu tranh của Aya với căn bệnh thoái hóa tiểu não. Aya luôn nỗ lực sống tốt và không ngừng hy vọng, dù phải đối mặt với nhiều khó khăn và đau đớn.
2. Nêu cảm nhận cá nhân:
- Đánh giá cao sự chân thực và cảm xúc sâu sắc trong cả hai tác phẩm: Cả hai tác phẩm đều chứa đựng nhiều cảm xúc sâu sắc, từ nỗi đau, sự mất mát đến niềm hy vọng và khát khao sống. Những dòng nhật ký này đã truyền cảm hứng mạnh mẽ cho người đọc về tinh thần vượt khó và ý chí sống mạnh mẽ.
Đề 2: So sánh hình tượng sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” và sông Hương trong bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông”
I. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân và Người lái đò sông Đà
- Giới thiệu tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường và Ai đã đặt tên cho dòng sông
- Giới thiệu vấn đề nghị luận: vẻ đẹp của sông Hương, sông Đà, và về việc bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của quê hương, đất nước.
II. Thân bài
1. Nét tương đồng của 2 dòng sông:
a. Sông Đà và sông Hương đều được các tác giả miêu tả như một nhân vật trữ tình có tính cách với những vẻ đẹp đặc trưng riêng biệt, thể hiện tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương, đất nước.
b. Sông Đà và sông Hương đều mang nét đẹp của sự hùng vĩ, dữ dội.
- Vẻ đẹp hùng vĩ của sông Đà được thể hiện qua sự hung bạo và dữ dội của nó trên nhiều phương diện khác nhau cảnh trí dữ dội, âm thanh ghê rợn, đá sông Đà như đang bày trùng vi thạch trận.
- Khi chảy giữa lòng Trường Sơn, sông Hương chảy dữ dội tựa 1 bản trường ca của rừng già, tựa cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại….
c. Sông Đà và sông Hương đều có vẻ đẹp thơ mộng và trữ tình:
- Sông Đà: dáng sông mềm mại tựa mái tóc tuôn dài tuôn dài, màu nước thay đổi qua từng mùa, vẻ đẹp hoang sơ, cổ kính…
- Sông Hương: với dòng chảy dịu dàng và đắm say giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Sông Hương còn mang vẻ đẹp của người con gái ngủ mơ màng chờ người tình mong đợi đánh thức. Nó còn được ví như điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế…
d. Cả 2 đều được miêu tả qua ngòi bút tài hoa, uyên bác:
– Tài hoa: 2 dòng sông đều được miêu tả trên phương diện văn hóa, thẩm mĩ:
+ Sông Đà là nơi hội tụ 2 nét tiêu biểu, đặc trưng của thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ, uy nghiêm, dữ dội lại vừa trữ tình, thơ mộng.
+ Sông Hương là dòng sông của âm nhạc, dòng sông của thơ ca, của lịch sử gắn liền với những nét đặc sắc về văn hóa, với vẻ đẹp của người dân xứ Huế.
- Uyên bác: cả 2 tác giả đều vận dụng cái nhìn đa ngành, vận dụng kiến thức trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật để khắc họa hình tượng 2 dòng sông.
2. Nét độc đáo riêng trong từng hình tượng dòng sông:
a. Sông Đà:
- Trong đoạn trích, nhà văn tập trung tô đậm nét hung bạo, dữ dội của sông Đà giống như 1 kẻ thù hiểm độc và hung ác
→ Thể hiện rõ nhất qua hình ảnh nước dữ, gió dữ, đá dữ đặc biệt đá bày trùng vi thạch trận chực lấy đi mạng sống của con người. – Sông Đà được cảm nhận ở chính nét dữ dội, phi thường, khác lạ: tiếng thét của sông Đà như tiếng thét của ngàn con trâu mộng, đá trên sông đà mỗi viên đều mang 1 khuôn mặt hung bạo, hiếu chiến…
- Đặc biệt, tác giả miêu tả sự hung bạo của sông Đà để làm nổi bật sự tài hoa, tài trí của người lái đò. Lúc này đây, sông Đà như 1 chiến địa dữ dội. Và mỗi lần vượt thác của người lái đò là mỗi lần ông phải chiến đấu với thần sông, thần đá…
b. Sông Hương:
- Sông Hương được tô đậm ở nét đẹp trữ tình, thơ mộng, gợi cảm và nữ tính, luôn mang dáng vẻ của 1 người con gái xinh đẹp, mong manh có tình yêu say đắm.
- Sông Hương được miêu tả qua chiều sâu văn hóa xứ Huế, nó như người mẹ phù sa bồi đắp cho vùng đất giàu truyền thống văn hóa này từ bao đời nay.
- Sông Hương được cảm nhận qua lăng kính của tình yêu: thủy trình của sông Hương là thủy trình có ý thức tìm về người tình mong đợi. Khi chảy giữa Huế, sông Hương mềm hẳn đi như 1 tiếng ” vâng” không nói ra của tình yêu. Trước khi đổ ra cửa biển, sông Hương như người con gái dùng dằng chia tay người yêu, thể hiện 1 nỗi niềm vương vấn với 1 chút lẳng lơ kín đáo.
- Thông qua hình tượng sông Hương mang nét đẹp nữ tính, nhà văn thể hiện nét đẹp lãng mạn, trữ tình của đất trời xứ Huế
3. Trách nhiệm bản thân trong việc bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của quê hương, đất nước.
- Học sinh có thể trình bày quan điểm cá nhân dựa trên những gợi ý sau : Thế hệ trẻ cần có trách nhiệm bảo vệ cảnh quan đất nước qua hành động cụ thể như: yêu quý, bảo vệ môi trường, quảng bá thắng cảnh…
III. Kết Bài
- Đánh giá chung về đóng góp của hai nhà văn
- Qua vẻ đẹp tương đồng của 2 dòng sông, ta bắt gặp sự tương đồng độc đáo của 2 tâm hồn có tình yêu thiên nhiên tha thiết và niềm tự hào với vẻ đẹp của non sông đất nước Việt Nam.
- Mỗi nhà văn đều có 1 phong cách nghệ thuật độc đáo trong việc thể hiện hình tượng các dòng sông, giúp người đọc có những cách nhìn phong phú, đa dạng về vẻ đẹp của quê hương, đất nước mình.
d. Viết thư trao đổi về một vấn đề đáng quan tâm
Đề 1: Viết thư hỏi thăm sức khỏe của người thân
Hà Nội, ngày .... tháng.... năm
Dì Lan yêu quý của cháu!
Nhận được điện thoại của chú Sơn báo dì bị ốm, cháu và cả nhà rất lo lắng cho dì. Nay cháu viết thư hỏi thăm sức khỏe của dì ạ.
Dì ơi, cháu nghe chú Sơn kể dì bị đau dạ dày rất nặng phải đi bệnh viện. Cháu rất lo lắng. Các bác sĩ điều trị đã giúp dì giảm những cơn đau chưa ạ?
Chắc dì đã đau lắm, cả nhà nghe chuyện ai cũng thương dì, nhất là mẹ cháu, cứ nhắc đến là mẹ cháu lại khóc. Mẹ cháu vẫn thương dì nhất mà!
Chú Sơn bảo dì ở viện một tuần rồi được về nhà. Bây giờ dì đã đỡ nhiều chưa? Chắc dì chưa ăn được nhiều đúng không ạ? Dì ơi, dì nhớ uống thuốc theo lời bác sĩ dặn và bồi bổ sức khỏe dì nhé. Dì phải khỏe mạnh thật nhanh để còn đi làm lại và chăm sóc cả nhà nữa chứ.
À, hôm qua, em Nhật Anh nhà dì gọi điện thoại khoe với cháu là biết rót nước mang thuốc cho dì, cháu khen em ngoan thế là cu cậu thích lắm dì ạ. Cháu nghe mẹ cháu nói, cuối tháng sẽ sáp xếp công việc để về thăm dì đấy ạ. Cháu và cả nhà trên này vẫn khỏe, mọi người ai cũng lo lắng và đều gửi lời hỏi thăm dì sức khỏe của dì, dì nhớ khỏe lại thật nhanh để cả nhà khỏi lo nhé.
Dì ơi, chác dì cũng đến giờ uống thuốc và đi ngủ rồi, cháu xin dừng bút ở đây. Cháu chúc dì mau chóng bình phục và khỏe mạnh. Chúc cả nhà dồi dào sức khỏe ạ. Dì nhớ nghỉ ngơi cho thật tốt dì nhé! Cháu nhớ và thương dì lắm.
Cháu gái của dì
Hà
Nguyễn Thu Hà
Đề 2: Viết thư cho bạn trao đổi về việc lựa chọn ngành nghề và hướng sự nghiệp sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông.
Ngày … tháng … năm
Bạn của tôi!
Tôi rất vui được tham gia cuộc trò chuyện về một vấn đề quan trọng mà học sinh lớp 12 thường quan tâm. Một trong những vấn đề quan trọng nhất đó chính là việc lựa chọn ngành nghề và hướng sự nghiệp sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông.
Việc chọn ngành nghề là một quyết định quan trọng và đôi khi khá áp đặt đối với nhiều học sinh. Đây không chỉ đánh dấu bước quan trọng trong sự nghiệp cá nhân mà còn ảnh hưởng đến tương lai và hạnh phúc của từng người.
Mình hiểu rằng việc lựa chọn ngành nghề không phải lúc nào cũng dễ dàng. Đối với nhiều học sinh, có rất nhiều yếu tố cần xem xét như sở thích, điểm mạnh, điểm yếu, cũng như triển vọng tương lai của ngành nghề đó. Việc tham khảo ý kiến từ người thầy cô, gia đình, và những người đã có kinh nghiệm trong ngành cũng rất quan trọng.
Đầu tiên, hãy bắt đầu với việc tự tìm hiểu về chính mình. Hỏi bản thân mình về sở thích, niềm đam mê và điều mình thực sự muốn làm trong tương lai. Sau đó, hãy nghiên cứu về các ngành nghề khác nhau, điều kiện để theo học, cũng như triển vọng tương lai của từng ngành. Hỏi ý kiến từ người thầy cô, gia đình và những người đã có kinh nghiệm trong ngành cũng là điều rất quan trọng.
Một khía cạnh không thể bỏ qua là trải nghiệm thực tế. Tham gia các hoạt động thực tế như thực tập, hoặc làm tình nguyện, cũng như tham gia các khóa học ngoại khóa có thể giúp bạn có cái nhìn rõ ràng hơn về ngành nghề mà bạn hướng đến.
Để làm được điều đó, cần phải có một kế hoạch cụ thể. Xác định mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, làm sao để đạt được chúng, và hãy chuẩn bị tinh thần cho những thách thức mà bạn sẽ gặp phải trên đường đi.
Cuối cùng, đừng quên rằng ngành nghề không phải là tất cả. Chọn ngành nghề mà bạn yêu thích và sẵn lòng dành thời gian và công sức để phát triển sẽ là chìa khóa quan trọng cho một sự nghiệp thành công và hạnh phúc.
Bạn nghĩ sao về vấn đề này? Bạn đã có kế hoạch cụ thể cho tương lai sau khi tốt nghiệp chưa? Hãy chia sẻ với tôi ý kiến của bạn về vấn đề này nhé. Rất mong được trò chuyện cùng bạn.
Trân trọng,
[Kí tên]
Đề 3: Viết thư trao đổi về buổi tọa đàm định hướng nghề nghiệp cho học sinh lớp 12
Hà Nội, Ngày … tháng … năm
Chào Mai Linh!
Tôi nghe nói cuối tuần có buổi tọa đàm định hướng nghề nghiệp cho học sinh lớp 12, bạn có tham gia chung không? Đây là trong những vấn đề quan trọng được rất nhiều bạn trẻ, đặc biệt là các bạn sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông quan tâm.
Việc chọn ngành nghề là một quyết định quan trọng và đôi khi khá áp đặt đối với nhiều học sinh. Đây không chỉ đánh dấu bước quan trọng trong sự nghiệp cá nhân mà còn ảnh hưởng đến tương lai và hạnh phúc của từng người.
Mình hiểu rằng việc lựa chọn ngành nghề không phải lúc nào cũng dễ dàng. Đối với nhiều học sinh, có rất nhiều yếu tố cần xem xét như sở thích, điểm mạnh, điểm yếu, cũng như triển vọng tương lai của ngành nghề đó. Việc tham khảo ý kiến từ người thầy cô, gia đình, và những người đã có kinh nghiệm trong ngành cũng rất quan trọng.
Đầu tiên, hãy bắt đầu với việc tự tìm hiểu về chính mình. Hỏi bản thân mình về sở thích, niềm đam mê và điều mình thực sự muốn làm trong tương lai. Sau đó, hãy nghiên cứu về các ngành nghề khác nhau, điều kiện để theo học, cũng như triển vọng tương lai của từng ngành. Hỏi ý kiến từ người thầy cô, gia đình và những người đã có kinh nghiệm trong ngành cũng là điều rất quan trọng.
Một khía cạnh không thể bỏ qua là trải nghiệm thực tế. Tham gia các hoạt động thực tế như thực tập, hoặc làm tình nguyện, cũng như tham gia các khóa học ngoại khóa có thể giúp bạn có cái nhìn rõ ràng hơn về ngành nghề mà bạn hướng đến.
Để làm được điều đó, cần phải có một kế hoạch cụ thể. Xác định mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, làm sao để đạt được chúng, và hãy chuẩn bị tinh thần cho những thách thức mà bạn sẽ gặp phải trên đường đi.
Cuối cùng, đừng quên rằng ngành nghề không phải là tất cả. Chọn ngành nghề mà bạn yêu thích và sẵn lòng dành thời gian và công sức để phát triển sẽ là chìa khóa quan trọng cho một sự nghiệp thành công và hạnh phúc.
Bạn nghĩ sao về vấn đề này? Bạn đã có kế hoạch cụ thể cho tương lai sau khi tốt nghiệp chưa? Hãy chia sẻ với tôi ý kiến của bạn về vấn đề này nhé. Rất mong mình sẽ được gặp nhau vào buổi tọa đàm cuối tuần này nhé!
Chào Linh,
Hà
e. Viết văn bản dưới hình thức thư trao đổi công việc
Đề 1: Viết thư gửi phụ huynh việc lựa chọn nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông của học sinh lớp 12
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THƯ NGỎ
Kính gửi: Quý Phụ Huynh học sinh khối 12 của Trường THPT Nguyễn Trãi
Tên tôi là: Hoàng Gia Mai
Chức vụ: Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Trãi
Như Quý Phụ huynh đã biết, việc lựa chọn nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông là một bước ngoặt quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến tương lai của các em. Chúng tôi nhận thấy rằng việc này đôi khi là một thách thức đối với học sinh và phụ huynh, và chúng tôi mong muốn cùng Quý Phụ Huynh chia sẻ một số thông tin và khuyến nghị để giúp các em có thể đưa ra quyết định chín chắn và phù hợp với bản thân.
Chúng tôi rất vinh dự được chia sẻ với quý vị về quá trình lựa chọn nghề nghiệp cho các em học sinh sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông. Đây là một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời của các em, và chúng tôi luôn mong muốn hỗ trợ các em trong việc xác định hướng đi phù hợp nhất.
Chúng tôi luôn khuyến khích các em học sinh tham gia các buổi tư vấn nghề nghiệp, thực tập và khám phá các lĩnh vực khác nhau để họ có thể hiểu rõ hơn về sở thích và khả năng của mình. Chúng tôi tin rằng việc này sẽ giúp các em có quyết định đúng đắn và tự tin hơn trong tương lai.
Chúng tôi đánh giá cao sự quan tâm và hợp tác của Quý phụ huynh trong việc thảo luận và đưa ra lời khuyên hay chia sẻ kinh nghiệm về lựa chọn nghề nghiệp cho học sinh. Chúng tôi mong muốn có thể cùng nhau tạo ra môi trường lý tưởng để hỗ trợ các em trong việc xác định và theo đuổi đam mê nghề nghiệp của mình.
Trong quá trình này, nhà trường sẽ tổ chức các buổi tư vấn nghề nghiệp, hỗ trợ học sinh tìm hiểu về các ngành nghề khác nhau và cung cấp thông tin về các chương trình học tập, đào tạo phù hợp với mục tiêu nghề nghiệp của mỗi em.
Chúng tôi rất mong nhận được sự hỗ trợ và hợp tác tích cực từ Quý phụ huynh trong việc giúp các em phát triển và thực hiện ước mơ nghề nghiệp của mình. Mọi ý kiến đóng góp và đề xuất từ Quý phụ huynh sẽ được nhà trường đánh giá và thực hiện để cung cấp môi trường học tập tốt nhất cho học sinh.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm và hỗ trợ của Quý phụ huynh!
Hiệu trưởng Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Du.
Hoàng Gia Mai
Đề 2: Viết thư điện tử trao đổi về kế hoạch tổ chức hoạt động ngoại khóa lớp 12
Từ: nguyenthithuyen@gmail.com
Đến: banlienlaclop12a@gmail.com
Tiêu đề: Thư trao đổi về việc tổ chức hoạt động ngoại khóa lớp 12
Kính gửi Ban Liên Lạc lớp 12A,
Mình hy vọng mọi người đều khỏe mạnh và có một ngày học tập hiệu quả. Mình viết thư này để trao đổi về kế hoạch tổ chức hoạt động ngoại khóa cho lớp 12A chúng ta, dự kiến diễn ra vào cuối tháng này.
Như các bạn đã biết, việc tổ chức hoạt động ngoại khóa là cơ hội tuyệt vời để chúng ta cùng nhau thư giãn, tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong lớp, cũng như có thêm những kỷ niệm đẹp trước khi rời xa mái trường cấp ba. Vì vậy, mình mong muốn chúng ta có thể lên kế hoạch kỹ lưỡng, đảm bảo chương trình diễn ra suôn sẻ và đầy ý nghĩa.
Mình đề xuất hoạt động dã ngoại tại công viên sinh thái vào ngày 25 tháng này, với các trò chơi vận động tập thể, buổi picnic và giao lưu văn nghệ. Mình cũng muốn nhờ Ban Liên Lạc lên ý tưởng chi tiết hơn về chương trình, phân chia công việc cụ thể cho các bạn phụ trách hậu cần, trò chơi và văn nghệ.
Mình rất mong nhận được sự góp ý và phản hồi từ các bạn để chúng ta có thể thống nhất kế hoạch. Nếu ai có ý kiến hoặc đề xuất khác về địa điểm, thời gian hoặc hoạt động, hãy chia sẻ để chúng ta cùng nhau thảo luận và điều chỉnh.
Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác của các bạn. Mình hy vọng rằng chúng ta sẽ có một buổi ngoại khóa thành công và ý nghĩa.
Trân trọng,
Nguyễn Thị Thu Yến
Lớp trưởng 12A
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
THUỶ THỦ TÀU VIỄN DƯƠNG (*)
(Bệnh sĩ, Lưu Quang Vũ)
Đôi nét về hài kịch Bệnh sĩ
Nội dung vở kịch lấy bối cảnh ở một vùng làng quê nông thôn, kể về ông chủ tịch xã Toàn Nha và những xã viên của xã Hùng Tâm. Họ đều là những người dân hiền lành, chân chất, thật thà,... nhưng vì tính háo danh, tính “sĩ” mà ai cũng cố gắng phấn đấu cho mình có một cái mác thật sang trọng và hiện đại... Và từ căn bệnh đó mà xảy ra bao chuyện dở khóc, dở cười.
Bệnh sĩ của cổ tác giả Lưu Quang Vũ đề cập đến “bệnh tưng bừng dối trá, tưng bừng phô trương, tưng bừng thành tích”.
Nhân vật
|
- Ông Nha - Cô Nhàn: Con gái ông Nha - Long: Em trai Nhàn - Ông Thịnh - Hưng: Cháu ông Thịnh - Văn Sửu - Ông Độp: Tức Mạnh Tuấn - Bà Độp: Vợ ông Độp |
- Tiến: Thợ xà lan, bạn Hưng - 2 phóng viên truyền hình - “Nhà văn” - Anh Tỵ - Ông Ruộng - Cô Xoan - Bà Thủ - Võ sĩ Đại Dương |
Các quan khách, các diễn viên đội văn nghệ và những xã viên của “Liên đoàn tổ
hợp xã Công nông thương tín Hùng Tâm”.
Sau đây là cảnh III của vở kịch
Nhà Ông Thình
Ông Thình và Hưng. Hưng vừa từ ngoài vào, tay xách túi, mặc áo xanh bảo hộ lao động, bên trong là áo sọc thuỷ thủ.
Hưng: Chú.
Ông Thình: Hưng, cháu về đấy à? Trời ơi, xem nào: to khoẻ lên, rắn rỏi hẳn... thuỷ thủ có khác... Chà chà, mọi người đang mong đợi cháu. Nhận được điện, chú đã báo tin. Gặp ai chưa? Gặp cái Nhàn chưa?
Hưng: Chưa, từ bến sông cháu về thẳng nhà.
Ông Thình: Hay lắm! Thế là cháu đã trưởng thành, đã hiển đạt, chú mừng vô cùng. Vinh dự, mát mặt về cháu. Nhưng sao... cháu ăn mặc xuềnh xoàng thế này, đồng chí thuyền trưởng viễn dương?
Hưng: Viễn dương nào ạ?
Ông Thình: Viễn dương hàng hải Vốt-xcô. Cháu là thuyền trưởng.
Hưng: Ai bảo chú thế?
Ông Thình: Cô Nhàn. cô Nhàn kể, mọi người ai cũng trầm trồ thán phục cháu. Họ bảo cháu nay Nhật, mai Pháp, ngày kia Hồng Kông,... Cả xã ta giờ mới có một người làm thuyền trưởng.
Hưng: Thế đấy, cô Nhàn kể... Chết thật.
Ông Thình: Ông Nha, bố cô Nhàn, thì quý cháu, tự hào về cháu vô cùng. Nhưng sao lại chết? Cháu vẫn là thuyền trưởng chứ?
Hưng: Vâng... Nhưng thế này chú ạ... Chuyện này cháu cũng đang bối rối khó xử quá đây... số là... ngày chia tay Nhàn, cháu đã hứa với Nhàn là sẽ trở thành một nhà hàng hải. Cô gái lãng mạn ấy cứ một hai đòi cháu phải thành một nhà hàng hải, một thuyền trưởng... Nhưng cháu... quả giờ cũng đã là thuyền trưởng thật, nhưng không phải thuyền trưởng tàu biển đâu, mà chỉ là phụ trách một con tàu cũ kĩ nhỏ xíu, một con tàu kéo xà lan chuyên chạy đường sông, tàu chỉ có cháu với một anh thợ máy...
Ông Thình: Sao? Thế mày không vào hàng hải à?
Hưng: Có chứ ạ, nhưng cháu không được học tàu biển, người ta phân cháu học vận tải đường sông. Ra trường, họ cử cháu về làm việc ở một công ty vận tải của tỉnh nhà... Lúc mới vào học, viết thư cho Nhàn cháu đã không dám nói sự thật sợ cô ấy thất vọng. Cô ấy chỉ mong cháu trở thành thuyền trưởng đi biển, và cháu đã hứa, đã thề thốt, nên cháu đành nói dối cô ấy... Cháu thật tồi... Cháu sĩ, cháu sợ cô ấy sẽ không yêu cháu nữa...
Ông Thình: Mày thật là.. Mày giết tao, mày giết tao rồi, Hưng ạ.
Hưng: Cháu chỉ là một thằng thợ tàu đường sông, nhưng cháu yêu công việc của cháu. Cháu đã quyết định rồi: lần này về cháu sẽ nói thật hết với cô ấy, rồi muốn ra sao thì ra...
Ông Thình: Mày giết tạo rồi, có phải mình cái Nhàn đâu, mà còn ông Nha, bố nó. Mày còn lạ gì ông ấy, ông ấy chúa thích danh tiếng oai vệ, cạnh ông ấy lại có thằng Sửu. Họ đã tán đủ thứ về mày, nào là tài giỏi, nào là sang trọng, giàu có, biết đâu mày lại xơ xác thất thểu thế kia. Cũng chính vì vậy mà ông ấy ưng chuyện mày với cái Nhàn, đã định lần này mày về sẽ ăn hỏi... Ông Nha lại là chủ tịch, là chủ nhiệm, giờ họ gọi là giám đốc Liên hợp xã, chú là cấp dưới của ông ấy...
Hưng: Cháu sẽ thú thật với bác Nha.
Ông Thình: Không được, mày không biết tính khí ông ta đâu. Sẽ hỏng hết. Đừng hòng ông ấy gả con gái cho mày, mà ông ấy cũng sẽ cạch mặt tao, mất hết ông ấy mất thôi. Giời ạ, tao cứ đinh ninh mày là thuyền trưởng.
Hưng: Thì cháu cũng là thuyền trưởng thật đấy thôi, nhưng mà là thuyền trưởng tàu đường sông. Con tàu đang đỗ ngoài bến Nhang xã ta ấy, chúng cháu chở phân đạm cho xã ta đấy.
Ông Thình: Lại thế nữa. Giời ơi, tưởng mày nên danh nên tướng gì, viễn dương hàng hải, hơn cả phi công, hơn cả lái tàu vũ trụ, nào ngờ... mày lái tàu chở cứt hả cháu?
Hưng: Sao lại cứt? Phân lân, phân đạm.
Ông Thình: Thì cũng thế. Cứt hoá học. Chú thì chẳng sao đâu, chở phân cũng được. Chú là nhà nông chú biết chứ: “Nhất nước, nhì phân”. Không có thứ bón ruộng lấy gì mà ăn? Nhưng họ có nghĩ như thế đâu. Họ thích Vốt-xcô vốt cậu cơ. Không không được. Hưng, đã ai thấy mày ở trên cái tàu chở phân ấy xuống chưa?
Hưng: Cháu không để ý, hình như chưa.
Ông Thình: Thế này Hưng ạ, mày tuyệt nhiên không được lộ ra, không được nói gì cả. Cứ nhận mày là thuyền trưởng viễn dương đi. Mày về ít hôm rồi lại đi cơ mà. Cốt xong việc ăn hỏi đã. Mà cũng để thư thư để ông ấy khỏi xỉ vả tạo. Đối với ông này thì không gì tai hại bằng làm ông ấy tẽn, ông ấy mất danh tiếng. Nên mày đừng nói gì cả, cứ nhận mày là thuyền trưởng viễn dương đi!
Hưng: Cháu lại phải tiếp tục nói dối Nhàn ư? Lại nói dối cả bác Nha?
Ông Thình: Thì đã sao? Chính họ cũng luôn dối dá. Chính ông Nha đang bắt tao đi mượn lợn các nhà về bỏ vào chuồng chung để cho khách tham quan tới quay vô tuyến. Mày cứ nhận là thuyền trưởng viễn dương đi. Chú xin mày, đừng làm chú bẽ. Mà mày cũng rất yêu cái Nhàn kia mà, mày có muốn mất vợ không có muốn mất cái Nhàn không?
Hưng: Không. Nhưng cháu không muốn nói dối nữa.
Ông Thình: Một thời gian nữa thôi, rồi sau này mày muốn nói gì thì nói. Sông hay biển thì cũng thế, lúc đó họ giết được mày à? Nhưng bây giờ thì chớ... Nghe chú, có phải mình ăn cắp ăn trộm hay gián điệp phản động gì đâu mà sợ.
Hưng: Viết thư nói bốc phét còn dễ, đằng này, mình phải đóng kịch... cháu ngượng lắm, cháu chưa đi biển một ngày... đi biển không phải nghề của cháu.
Ông Thình: Thì ngay tao đây này, có biết nghề làm pháo bao giờ đâu. Ông ấy bắt tao phải phụ trách việc làm pháo, Ông ấy đang lên cơn mê pháo, để ra khẩu hiệu. Cả xã làm pháo, nhà nhà làm pháo... Bao nhiêu tiền của ông ấy đổ ra mua thuốc nổ về chất ở trụ sở. Mà pháo thì đã bán được đâu. Quả nổ, quả xịt. Tao đến khổ vì ông ấy. Kiểu này cuối năm tao cũng xin nghỉ thôi. Nhưng bây giờ thì không được. Mai lại là ngày họ đón khách về, rồi viết báo, rồi quay phim...
Không, chú lạy mày đấy ! Mày cứ nhận là Vốt-xcô cho chú ! Mày có muốn cả hai chú cháu mình ê mặt không? Không chứ gì, thế thì phải nghe chú. Có điều... mày phải kiếm đâu ra bộ quần áo cho nó có vẻ thuyền trưởng viễn dương để ra mắt họ, chứ không được ăn mặc tuềnh toàng thế kia.
Hưng: Kiếm đâu ra? Thôi được, cháu nghe chú. Anh bạn cùng tàu với cháu có mấy bộ quần áo hàng hải đẹp lắm. Anh ấy đi học thợ máy tàu biển về, cháu sẽ nhờ anh ấy giúp.
Ông Thình: Đúng rồi, bạn bè phải giúp nhau lúc hoạn nạn. Cháu về tàu ngay đi. Nhớ đừng để ai trông thấy. Chuẩn bị thật kĩ càng rồi mai hẵng về đây. Nhớ cháu nhé. Nhớ là thuyền trưởng hàng hải Vốt-xcô, chết cũng phải là Vốt-xcô, không thì hỏng hết!
Hưng: Chỉ tại cháu thôi, chỉ tại cháu đã không dám nói thật từ đầu với Nhàn... thế là hôm nay cháu lại chưa được gặp cô ấy.
Ông Thình: Mai. Mai họ sẽ đón cháu rất trọng thể đấy. Đi đi, rồi mai về. Nhớ là thuyền trưởng viễn dương nhá. Đi đi, đừng để ai nhìn thấy cháu xuống tàu chở phân. Đi lối này này! Giời ạ, có khổ thân tôi không cơ chứ!
(Hưng nhìn trước nhìn sau rồi chạy vụt đi. Ông Thình vò đầu bứt tại nhìn theo)
(Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh gửi lại, Hội Văn học Nghệ thuật Đà Nẵng, 1989)
(*) Tên văn bản do nhóm tác giả đặt.
* Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) là một nhà soạn kịch, nhà đạo diễn sân khấu. Từ năm 1978 đến 1988, Lưu Quang Vũ làm biên tập viên ở Tạp chí Sân khấu, bắt đầu sáng tác kịch nói với vở kịch đầu tay Sống mãi tuổi 17 viết lại theo kịch bản của Vũ Duy Kì.
Câu hỏi
Câu 1. Hãy xác định 3 đặc điểm tiêu biểu của hài kịch trong văn bản Thuỷ thủ tàu viễn dương. (0.5 điểm)
Câu 2. Xác định một số xung đột, mâu thuẫn chủ yếu trong văn bản hài kịch Thuỷ thủ tàu viễn dương và phân tích đôi nét về tác dụng của chúng. (0.5 điểm)
Câu 3. Đoạn trích hài kịch trên đã sử dụng những thủ pháp gây cười nào?(1.0 điểm)
Câu 4. Theo em, thủ pháp gây cười nào ấn tượng nhất ? Vì sao? (1.0 điểm)
Câu 5. Phân tích đôi nét về nhân vật Hưng và cho biết: Em nhận được bài học nào từ nhân vật này? Em hãy đưa ra lời khuyên với Hưng. (1.0 điểm)
II. VIẾT (6đ)
Câu 1. Nêu ý nghĩa giáo dục từ trích đoạn hài kịch trên. Từ đó đánh giá khả năng tác động của đoạn trích hài kịch Thuỷ thủ tàu viễn dương đối với bản thân và ý nghĩa thực tiễn của vở kịch Bệnh sĩ của Lưu Quang Vũ. (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ ) (2.0 điểm)
Câu 2. Đọc trích dẫn sau và thực hiện yêu cầu kế tiếp. (4đ)
Sĩ diện là biết cách giữ thể diện của mình thông qua lời nói, suy nghĩ, hành động, vẻ bên ngoài cho phù hợp các tiêu chuẩn chung để nhận được sự tôn trọng từ người khác. Ai cũng có sĩ diện và điều này giúp cho con người tự điều chỉnh hành vi, học hỏi. Nhưng khi có thêm chữ hão vào thì sĩ diện trở thành quá lố và tiêu cực.
Sĩ diện hão là cố muốn làm người khác tôn trọng mình bằng những điều mình
không có. Từ tâm lí sĩ diện hão mà người ta tự nâng mình lên quá tầm của mình và thích thú khi nhận được những lời khen tặng có cánh hoặc sướng rơn khi người ta nhìn mình bằng ánh mắt ngưỡng mộ hay ghen tị.
(trithucvn.com)
Từ trích dẫn trên và hiểu biết từ thực tế, em hãy viết bài luận (600 chữ) bàn luận, thể hiện chính kiến của mình về sĩ diện và căn bệnh sĩ diện hão trong giới trẻ ngày nay.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Hãy xác định 3 đặc điểm tiêu biểu của hài kịch trong văn bản Thuỷ thủ tàu viễn dương. (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đọc lại kiến thức về thể loại hài kịch
Lời giải chi tiết:
- Hình thức của văn bản kịch:
+ Kết cấu theo cảnh (lớp, hồi): văn bản đọc hiểu là cảnh III của vở kịch.
+ Tên nhân vật in đậm, sau tên đó có dấu hai chấm và lời thoại của nhân vật.
+ Có phần chỉ dẫn sân khấu: chữ in nghiêng trong ngoặc đơn.
– Nhân vật hài kịch có phẩm chất bên trong không tương xứng với vị trí thân phận của nó và do vậy, nó đáng là nạn nhân của tiếng cười: Hưng, Ông Nha.
– Nội dung: chứa đựng mâu thuẫn gây cười (là thuyền trưởng tàu sông nhỏ phải nhận là thuyền trưởng tàu Vốt-xcô) → chế giễu thói hư, tật xấu (bệnh sĩ, thích danh tiếng) của con người.
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Xác định một số xung đột, mâu thuẫn chủ yếu trong văn bản hài kịch Thuỷ thủ tàu viễn dương và phân tích đôi nét về tác dụng của chúng. (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các xung đột, mâu thuẫn của văn bản và phân tích tác dụng
Lời giải chi tiết:
- Phẩm chất bên trong không tương xứng với vị trí thân phận của mỗi người:
+ Hưng là tàu trưởng đường sông mang danh thuyền trưởng Vốt-xcô (tiếng là tài giỏi, sang trọng, giàu có >< thực tế xơ xác, thất thểu.
+ Mượn lợn các nhà về bỏ vào chuồng chung để cho khách tham quan tới quay vô tuyến.
- Mâu thuẫn bên trong nhân vật.
+ Hưng: muốn nói thật nhưng vẫn đành nói dối.
* Thình: không biết nghề làm pháo nhưng phải phụ trách việc làm pháo; mắng Hưng ("Mày giết tao rồi ; “Mày giết tao, mày giết tạo rồi, Hưng ạ”) vẫn buộc Hưng nói dối (nhận là thuyền trưởng Vốt-xcô)
→ Những xung đột, mâu thuẫn xuất phát từ thói háo danh đã phản ánh một
căn bệnh, xu hướng xấu tồn tại trong xã hội: thích danh tiếng, sự hào nhoáng (chúa thích danh tiếng oai vệ).
→ Những xung đột, mâu thuẫn này tạo nên kịch tính, là “linh hồn của kịch, cuốn hút, khiến người đọc dõi theo tiếng triển của nó: Hưng sẽ diễn vai thuyền trưởng Vit-xcô như thế nào? Khi nào sự việc bại lộc Khi biết Hưng chỉ là tàu trưởng đường sông (chở phân lân, phân đạm), Ông Nha, Nhàn và dân làng sẽ thế nào?
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Đoạn trích hài kịch trên đã sử dụng những thủ pháp gây cười nào?(1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đọc lại kiến thức về thủ pháp gây cười
Lời giải chi tiết:
- Xây dựng tình huống kịch:
+ “Ra trường, họ cử cháu về làm việc ở một công ti vận tải của tỉnh nhà. Lúc mới vào học, viết thư cho Nhàn cháu đã không dám nói sự thật, sợ cô ấy thất vọng. Cô ấy chỉ mong cháu trở thành thuyền trưởng đi biển, và cháu đã hứa, đã thề thốt, nên cháu dành nói dối cô ấy... Cháu thật tồi... Cháu sĩ, cháu sợ cô ấy sẽ không yêu cháu nữa....”
→ Tình huống kịch tự nhiên: từ ước mơ của cô bé học sinh lãng mạn, từ lời hứa của cậu học sinh sợ người yêu thất vọng, không dám nói thật sợ mất người yêu,…
→Tình huống cơ bản này đã đẩy cốt truyện phát triển, đẩy kịch tính lên cao trào, khiến Hưng từ người nói dối → làm dối (diễn vai thuyền trưởng Vốt-xcô trong trang phục đi mượn), làm bật lên tiếng cười hài hước, châm biếm, phê phán...
- Ngôn ngữ đậm chất hài hước: Viết thư nói bốc phét còn dễ, đằng này, mình phải đóng kịch... cháu ngượng lắm; viễn dương hàng hải, hơn cả phi công, hơn cả lái tàu vũ trụ, nào ngờ... mày lái tàu chở cứt hả cháu?; Chết cũng phải là Vốt-xô,...
- Khắc hoạ chân dung nhân vật ông Nha: không xuất hiện trực tiếp trong đoạn trích, chỉ qua lời nói của nhân vật khác mà hiện lên khá rõ nét với háo danh, mê sự hào nhoáng: chúa thích danh tiếng oai vệ; Đối với ông này thì không gì tai hại bằng làm ông ấy tên và mất danh tiếng,...
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Thủ pháp nghệ thuật nào để lại cho em nhiều ấn tượng nhất? Vì sao? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chọn một thủ pháp để lại ấn tượng và đưa ra giải thích hợp lí
Lời giải chi tiết:
- Tạo tình huống kịch tính; Nghệ thuật phóng đại (nói quá, cường điệu): Học
sinh tự đưa dẫn chứng.
- Đánh giá thủ pháp nào đặc sắc nhất: Học sinh tự làm theo quan điểm cá nhân
- Gợi ý về thủ pháp gây cười:
+ Xác định đoạn/ câu chứa thủ pháp gây cười
+ Lí giải bằng hai lí do trở lên (gây cười bởi..., ý nghĩa/tác động tới độc giả).
Câu 5 (1 điểm)
|
Câu 5. Phân tích đôi nét về nhân vật Hưng và cho biết: Em nhận được bài học nào từ nhân vật này? Em hãy đưa ra lời khuyên với Hưng. (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các lời thoại của nhân vật Hưng từ đó trả lời câu hỏi
Lời giải chi tiết:
– Nhân vật Hưng (học sinh phát hiện và gọi tên biểu hiện của nhân vật):
+ Là người lao động chăm chỉ, yêu nghề của mình.
+ Nhiễm thói háo danh (vì hứa... không dám nói sự thật với người yêu).
+ Nhận ra sự thật nói dối không hay... nhưng vẫn bị cuốn theo bệnh sĩ.
+ Không dũng cảm đối mặt với sự thật. .. chưa dám là mình...
– Bài học từ nhân vật, lời khuyên với nhân vật: Học sinh tự làm (thể hiện nhận thức, góc nhìn của cá nhân)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Nêu ý nghĩa giáo dục từ trích đoạn hài kịch trên. Từ đó đánh giá khả năng tác động của đoạn trích hài kịch Thuỷ thủ tàu viễn dương đối với bản thân và ý nghĩa thực tiễn của vở kịch Bệnh sĩ của Lưu Quang Vũ. (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ ) (2.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Dựa vào phần phân tích ở trên
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
- Triển khai đoạn đảm bảo dung lượng; nội dung hướng vào các ý sau đây:
+ Cảnh báo: bệnh sĩ, thích danh tiếng hào nhoáng sẽ đẩy con người vào tình thế “không lối thoát” bi hài và có nguy cơ trở thành người nói dối, người không trung thực.
+ Khả năng tác động của đoạn trích hài kịch: Học sinh tự trả lời theo đánh giá của cá nhân
- (Gợi ý: tiếng cười phê phán chế giễu bệnh háo danh, thích hào nhoáng sẽ khiến mỗi độc giả tự nhìn lại mình để điều chỉnh hành vi và lối sống tránh lâm vào tình cảnh bi hài (như Hưng và Ông Thình: đã nói dối... phải nói dối tiếp và tiếp,...)
- Bệnh sĩ là một trong những tác phẩm hài kịch nổi tiếng của cố tác giả Lưu Quang Vũ nói về bối cảnh xã hội cuối thế kỉ trước nhưng mang nhiều ý nghĩa phù hợp với xã hội ngày nay: vở kịch Bệnh sĩ mang tính xã hội sâu sắc, phê phán tính “sĩ hão” của một số người trong xã hội thời bao cấp, nhưng vẫn có ý nghĩa thời sự trong cuộc sống hôm nay.
Câu 2 (4 điểm)
|
Từ trích dẫn trên và hiểu biết từ thực tế, em hãy viết bài luận (600 chữ) bàn luận, thể hiện chính kiến của mình về sĩ diện và căn bệnh sĩ diện hão trong giới trẻ ngày nay. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Từ trích dẫn trên và hiểu biết từ thực tế, em hãy viết bài luận (600 chữ) bàn luận, thể hiện chính kiến của mình về sĩ diện và căn bệnh sĩ diện hão trong giới trẻ ngày nay. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề nghị luận - Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ |
|
Thân bài |
3,0 |
* Về vấn đề: - Sĩ diện: biểu hiện; tác dụng với cá nhân, xã hội - Căn bệnh sĩ diện hão: + Biểu hiện trong đời sống hiện đại + Nguyên nhân (sự tác động của mạng xã hội) + Hậu quả đối với cá nhân, xã hội (mất thời gian, nguy cơ đối với bản thân: giả dối, mất đi sự trung thực,…) - Cần phân biệt, xác định ranh giới giữa sĩ diện với căn bệnh sĩ diện hão (đề xuất một số giải pháp “chữa bệnh” sĩ hão) * Quan niệm, chính kiến của bản thân (đồng tình/ phản đối) - Nhận thức cá nhân về sĩ diện và căn bệnh sĩ diện hão - Thái độ trước sĩ diện và căn bệnh sĩ diện hão |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về giá trị của vấn đề đối với thanh niên - Hành động của cá nhân (trong tình huống giả định) |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng các thao tác phân tích so sánh, chứng minh, bình luận - Dẫn chứng phù hợp với lí lẽ, luận điểm |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
BỐN ĐỒNG NGỬA SẤP
(Chương V, Cạm bẫy người, Vũ Trọng Phụng)
(1) Ông Nguyễn Đình Mầu là một tay cự phách trong nghề buôn gỗ. Cái két là lù như cái tủ áo của ông, lúc thu tiền bán gỗ, ních chặt những giấy bạc, thường khi vì đem tiền gửi nhà băng mà vơi hẳn [...]
Đêm hôm qua, trong lúc cao hứng, ông đã thua một canh xóc đĩa tới đúng một nghìn. Một nghìn tiền mặt với ba trăm tiền “nước bọt” nữa. Tiền “nước bọt”, ông tạm vay của một ông nghị ông mới được hân hạnh quen biết, để đặt một cái chắn cuối cùng rồi rũ áo đứng lên.
Kết giao với người như thế, ông cầm chắc sẽ có lợi cho sự buôn bán sau này...
Một nghìn với ba trăm, một số tiền ông vẫn cho là “cò con, lẽ nào khiến ông đến phải... nghĩ ngợi? Không! Ông chẳng nghĩ ngợi gì vì số tiền ấy ông nghĩ là nghĩ đến lời quả quyết của một người bạn thân nói với ông, sau khi hỏi thăm đến chuyện thua bạc: Thôi chết! Bọn bịp nó thịt bác rồi.
Người bạn ấy lại cam đoan rằng bịp chính là cái anh chàng tự xưng là “ông nghị. Chỉ một câu này cũng đủ khiến ông dựng đứng tóc gáy lên, như đang lần bước trong khoảng tối tắm mà giẫm ngay phải một con chuột chết vậy [….]
Chưa biết quyết nên ngờ hay tin, ông còn hoài nghi, nghĩ ngợi...
Đến đây, người vú ẵm cậu con út của ông bước vào. Cậu bé, hai má bánh đúc lại lúm đồng tiền, tuổi chưa đầy lên hai, cứ nhoài người ra, tay mũm mĩm giơ đến phía ông, miệng ấp úng gọi: “Âu! Âu! ”. Chẳng như mọi lần khác, thấy con theo mình thì ông xốc ngay vào lòng để hôn con cho đến phát khóc, phát thét, lần này ông quắc mắt quát người vú: Ẵm nó ra ngoài kia!”. Rồi ông lại tự gắt với mình: thì nghĩ ngợi làm cóc gì? Chốc nữa người ta đến đây đòi tiền, mình sẽ lựa lời đưa đẩy dò xét ý tứ xem sao rồi... nếu quả như lời... thì... cho một vố”. Phải, nghìn ba trăm bạc tuy không là bao nhưng là của bị mất, không vì đỏ đen mà lại vì bịp, còn chi đáng tức cho bằng?
Cho một vố, tuy định như thế rồi nhưng nói cho cùng, chính ông, ông cũng chưa hiểu rõ rằng “vô” là cái sự gì ông định thi thố đây !...
Thôi đi, ông Mầu ơi, ông không phải doạ! Đúng như lời hẹn, cái người ông đang nóng lòng chờ đợi để mong lột hẳn chiếc mặt nạ ra cho rõ đen, rõ trắng, đã đứng ngoài phòng giấy ông đây kia.
- Bẩm lạy quan lớn..
- Không dám ạ... Lạy quan lớn, rước quan lớn ngồi.
Ông Mầu vội vàng đứng dậy, bỏ chiếc ghế chao, quay vào phía trong
- Anh Ba đâu? Đặt nước chè !
Ấy đấy trước mặt người khách trông rất bệ vệ, sự hấp tấp giữ nghi lễ của ông tỏ răng chưa chi ông đã sắp bại trận. Phân ngôi chủ khách đâu đấy rồi, ông Mầu nhìn chòng chọc khách một cách có ý tứ, như muốn nói: “Ông rõ mày rồi. Ông sắp giật cái mặt nạ ở mặt mày xuống đây.”. Còn khách thì vẫn thản nhiên như không để ý đến cử chỉ của ông chút nào.
Lúc này, giữa hai người có luồng không khí im lặng rất khó chịu... Vì cả hai bên có lẽ cùng đoán được rằng sẽ có sự không hay xảy ra.
- Quan lớn đến lấy số tiền hôm qua tôi vay?
- Bẩm vâng ạ.
Ông nghị đáp thế rồi đưa mắt nhìn khắp gian phòng. Thế là cả hai lại ngôi im một lúc lâu, người tìm câu nhập để, kẻ tìm câu ứng đối. Cuộc “chiến tranh tĩnh toạ này nếu không được đứa đầy tớ bưng ra khay nước chè thì chưa biết bao giờ mới có hồi trống thu quân. Sau cùng ông Mầu đánh bạo:
- Canh bạc hôm qua, có người đã nói rõ cái lẽ tại sao tôi thua rồi; ngài dạy hộ: bây giờ tôi nên xử trí với ngài ra sao?
Cái vẻ ngạc nhiên ngây thơ của ông nghị nó hiện ra sau câu nói đường đột lạ tai kia, hầu như muốn gọi quỷ thần hai vai soi xét.
– Thưa ngài, ngài nói gì, tôi không hiểu, ngài nói lại cho nghe?
Trước cái thái độ rất bình tĩnh ấy, ông Mầu cũng hơi chột dạ, đã tưởng mình lầm. Nhưng ông cũng liều một phen mà quả quyết:
- Thôi đi, ngài đừng giả ngây, giả dại nữa. Chính tôi đã bị ngài bịp, tôi rõ mọi
khoé của ngài rồi.
- Tôi... bịp ngài à? Lấy gì làm bằng cớ?
– Tiếc rằng lúc ngài hành động tôi lại không có sẵn cái máy quay phim!
Lời dọa của ông Mầu thế mà có công hiệu. Ông nghị chẳng còn đóng nổi cái vai kịch ngạc nhiên nữa, mà vẻ bẽn lẽn hiện ngay trên mặt. Thấy thế công của mình có phần thắng, ông Mầu phóng thêm một mũi thương nữa:
- Chỗ người lớn với nhau, ông cứ nhận đi là phải. Ông làm nghề bạc bịp thì cũng như tôi làm nghề buôn gỗ chứ có khác gì. Ông có gan nhận, tôi xin phục là người quân tử, nếu ông chối thì chối cũng chẳng được nào mà lại tỏ mình là tiểu nhân.
Biết rằng việc mình làm đã bị người tố giác, lại muốn làm “quân tử” nữa, ông nghị trơ trẽn mà rằng: “Vâng, quả có thể.”.
Nghe câu này, ông Mầu sung sướng như một vị quan toà đã khám phá nổi một cái nghi án, cười mà hỏi đùa ông “nghị bịp”:
- Việc đã vỡ rồi, thế thì bây giờ ông đến đòi tiền tôi hay để tôi đòi tiền ông?
- Tôi đã coi ngài là người quân tử mà nhận việc tôi làm một cách quân tử như
thế, tưởng ngài chẳng nỡ nào dùng cách... tiểu nhân đối phó với tôi. Nếu tôi cứ nhất mực chối cãi, không có bằng cớ, thì ngài làm gì? Ngài vừa bảo rằng cái bịp của tôi cũng là một nghề cũng như đi buôn, được ăn, thua chịu chứ
- Thôi. Ngài có gan nhận, thế là quân tử, đã đành. Mà tôi vẫn giữ thái độ quân tử, nghĩa là không đòi lại số tiền đã thua. Thôi, xí xoá....
Người đời ai đã làm việc bậy, sau khi bị lột mặt nạ, thường có thói lại làm già cho được đỡ trợ bằng cách thuyết đến nhưng lí luận cao xa, viển vông hay là bỏ đạo đức ngụy biện. Ông nghị này cũng có thói ấy. Bị người đánh mình trúng phải chỗ yếu, ông nghị cũng tìm cách trả miếng vào giữa chỗ yếu kẻ đã quật đổ mình.
- Tôi vẫn chưa chịu... Được rồi. Ngài trả nữa tôi cũng ơn mà không tôi cũng phải chịu thật nhưng đó là đối với người khác tôi mới thế, chứ đối với ngài quyết không!
- Làm sao?
- Tôi đã có cách! Nhược điểm kia, tôi đã nắm được rồi. Ngày tuy là người có máu chơi bời nhưng là người con chí hiếu. Ngài nên biết: tôi sẽ mách cụ bá nhà...
- Thật đấy!
- Thì ngài được lợi gì?
- Chẳng lợi gì cả. Nhưng để cụ biết rằng ngài là người con hư. Thế thôi.
Ôi cái tâm lí người đời sao mà nó kì lạ!
Ông Mầu đem mồi quân tử ra khiến ông nghị phải nhận mình là bịp thì ông nghị lại lấy mồi chí hiếu bắt ông Mầu đã quých lại quých thêm. Hai con cáo già xoay nhau cùng bằng luân thường, đạo lí cả. Thì ra dù là bịp hay là lương thiện, ta vẫn bị cái luân thường, cái đạo lí nó thuốc ta, hoặc là bịp ta! Ta giống mọi người, mọi người cũng giống ông Mầu, lại đến lượt ông Mầu giống ta, chung quy nhất loạt đều để cho cái luân lí, cái đạo đức nó vẫn bịp mình mà không biết!
Cho nên sau khi nghĩ ngợi hồi lâu, ông Mầu đứng lên ra... mở két ! Sự không ngờ là ông Mẫu lại trao thêm tiền cho người đã bịp mình một cách cảm động nữa, và thêm:
- Ba trăm bạc là quý nhưng gặp một người... tri kỉ còn quý hơn. Tôi chẳng chịu mang tiếng tiểu nhân với ngài.
Ông nghị cầm lấy tiền:
- Dù sao tôi cũng biết phân biệt những ai tiểu nhân, những ai quân tử ở đời. Chúng ta còn nhiều phen gặp gỡ.
Rồi ông đẩy ghế, đứng lên.
Nhưng ông Mầu giữ lấy vạt áo ông nghị, cười mà rằng:
- Khoan đã!... Đệ đã được rõ cái tài của huynh đâu!
Ông nghị cũng bật cười, lại ngồi xuống. Hôm nay, ông Mầu mới được dịp đặc biệt rõ rằng bốn đồng tiền giấy tuy là những vật vô tri vô giác thật, nhưng ai để công luyện tập công có thể sai khiến nó cứ lộn tung trong cái bát cái đĩa, rồi úp sấp hay lật ngửa theo như ý muốn của mình...
(2) Khối óc của người ta còn có nhiều phen nghĩ cách chống lại được cả tạo vật biến đổi được cả cơ giới, lẽ tất nhiên chẳng khi nào người ta chịu để yên cho bốn đồng tiền giấy kia được tự do úp sấp, lật ngửa. Cái công dụng của sự sấp, ngửa kia lại còn to tát đến nỗi tuỳ nó, người ta phải bán nhà, cầm ruộng, hoặc là được tậu ruộng, cầm nhà thì tìm cách sai khiến được đồng tiền cho tuỳ theo ý muốn, khó đến thế nào nghĩ cũng phải ra.
Vào khoảng trước năm 1900, có một người của trùm Ba Sống sáng kiến được lối đánh xóc đĩa đòn kim. Anh này dùng một cái đĩa lồi lòng với một cái bát trông tưởng là sâu nhưng chính ra lại rất nông, vì nó dày gấp đôi thứ bát khác. Cuốn “Sự đổ bác” nếu chép đến đây tất phải dùng đến bốn tiếng “thời đại bát thửa” vì các lò bát hồi ấy thỉnh thoảng lại được tiếp một người đi giày Tàu, vận quần áo lụa, đến thửa một chục bát đong chè lòng rất đầy bằng một giá khá cao. Đòn kim là thứ đòn rất dễ ăn, vì nó bắt canh bạc cứ rền tràn. Đợi lúc mọi người đã nóng mặt, canh bạc đã có vẻ xô xát, lúc ấy bọn tạ mới dàn quân cản trở, một anh sà vào đặt một tiếng chẵn hay lẻ bằng một cuộn giấy bạc tướng, hung hăng mở bát, ném hẳn cái bát ra tận cuối... thế giới đằng kia! Người ta không ai còn thì giờ để ý nữa, vì tôi thua thì tôi còn ngẩn người ra tiếc của. Ông được thì ông cũng chỉ biết chúi mũi xuống chiếu, hò hét giam tiền. Lúc hỗn loạn ấy là lúc họ tráo cái bát thửa vào và đã giấu biến hẳn cái bát cũ kia đi.
Địa vị cái bát thửa chỉ được người ta coi trọng trong một vài năm, sau vì thấy lợi, thiên hạ ùa nhau vào trọng dụng nó quá, làm nó dậy tiếng quá nên nó phải chịu cái số phận chết yểu.
Một anh tạ khác, dưới quyền Hai Tôm lại sáng kiến được ngay lối đánh xóc đĩa đòn ve, thay vào đòn kim. Người ta lấy năm, sáu viên bi ở trong bánh xe ô tô bỏ vào trong cái túi khâu kĩ lưỡng, buộc giấu ở cổ tay. Lúc xóc, người cái nghiêng đĩa cho bốn đồng tiền giấy bị cặp chịt vào miệng bát cho không “cựa cậy” được nữa. Ai cũng tưởng tiền vẫn dậy đó những tiếng kêu tanh tách mà mọi người tưởng tiếng bốn đồng tiền trong bát đĩa, chính lại là tiếng kêu của những hòn bi trong cổ tay người xóc. Cho nên ta phải ngạc nhiên khi thấy rằng ông này đánh xóc đĩa cao quá, bán hàng chục bát không thua bát nào cả, hoặc canh bạc ấy rất quái lạ, đúng 20 tiếng chẵn rền! Có cái thuật này rồi, bọn bịp cứ tự nhiên vợ tiền bỏ túi sau khi phán: lẻ về, bán chẵn, bán lẻ, thừa chẵn, thừa lẻ.
Tinh ma hơn nữa, còn có người có “hoa tay” đến nỗi vừa xóc vừa dòm trộm vào trong bát, đánh mười tiếng cũng trúng cả mười: dù đã nghi mà rình mò, mà tuần thật kĩ, cũng đố ai khám phá được ra.
Ông nghị đã thịt ông Mầu bằng ngón đòn thứ ba này vậy.
Nhưng ông nghị đã bày trò cho một tay sai của ông giở đến đòn trinh thám kia, còn mình trong lúc ấy, lại vào hùa với ông Mầu, cùng đánh với ông. Cho nên đánh bạc đã già đời đến như ông Mầu mà còn bị cho vào xiếc.
(3) ... Tại Hưng Yên có một vị quan huyện muốn hứng lấy cái trọng trách mộ bọn khách Tam Đường. Tiền trong công khố chẳng đủ, quan huyện tìm cách... kinh doanh.
Quan nghĩ ngợi trong ba hôm, đến hôm thứ tư, sai lính trải chiếu la liệt khắp sân huyện đường cho dân tự do mở bát. Canh bạc ấy có thể bảo là không tiền tuyệt hậu ở đất Nam. Hồ lì là một thầy đề, xóc cái chính là quan huyện. Con bạc gồm đủ ta lẫn khách, đánh phần nhiều bằng bạc nén. Thoạt đầu, quan chỉ bán chứ không mở. Canh bạc đã thấy xô xát, quan mới đứng dậy, để cái chức xóc cho một người dân. Quan lảng vảng ở ngoài, có ý dò thế trận. Hốt nhiên quan vào mở một tiếng, thua to!
Mặt quan tái như gà cắt tiết. Rồi quan bảo thằng người nhà trông hộ bát, đi phóng uế một lát rồi vào. Lúc vào quan hò cả làng đặt tiền ra xong, cầm ngay bát chực mở. Cả làng xúm vào kêu quan chưa xóc nhưng quan nhất định là đã xóc rồi. Lần mở trước, kêu là chẵn đã phải giam. Thấy quan lẫn, cả làng lại xô nhau vào đánh chẵn. Mấy chú khách thương hại quan đã quá thua nên lẫn, quả quyết là quan chưa xóc. Nhưng quan vẫn nhất mực là đã xóc, họ bực mình, ra điều “đã muốn chết thì cho chết”, ồ ạt cá nhau đặt tiền vào chiếu chẵn. Quan cầm bát vừa mở vừa kêu: lẻ về! Rồi quan vơ hết cả những đồng nén bạc vì... lẻ thật, thế có lạ không?
Cả làng ai cũng lấy làm kinh ngạc. Không ai đoán được rằng lần mở trước, chính là lẻ nhưng quan đã xướng lên là chẵn rồi úp bát ngay, giam tiền. Quan đã đánh vào chỗ yếu mọi người là cái lòng tham. Đòn này ta nên gọi là đòn hiệp sĩ mới phải.
Hôm sau, quan có đủ số bạc nén để mộ bọn giặc khách vào làm lính, phái đi đánh giặc Cai Vàng! Đòn hiệp sĩ này, nhiều người ngày nay còn chép cũ. Những người ấy tuy không dùng đòn để xoay tiền dùng vào những việc hiệp, nhưng hầu hết là bọn người gọi là thượng lưu.
(Vũ Trọng Phụng, Phóng sự, NXB Văn học, 2016)
(1) Thời ấy bằng giá gần bốn lạng vàng.
(2) Theo tiếng Pháp, permis de coupe nghĩa là giấy phép được đắn gỗ trong rừng.
* Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Việt Nam vào đầu thế kỉ XX. Tuy thời gian cầm bút rất ngắn ngủi, với tác phẩm đầu tay là truyện ngắn Chống nạng lên đường đăng trên Ngọ báo vào năm 1930, ông đã để lại một kho tác phẩm đáng kinh ngạc với nhiều thể loại.
Câu hỏi
Câu 1. Những dấu hiệu nào giúp em nhận biết văn bản Bốn đồng sấp ngửa trên
thuộc thể loại phóng sự? (0.5 điểm)
Câu 2. Nhan đề của văn bản có thể gợi lên những suy luận, phán đoán gì về nội
dung được đề cập trong bài phóng sự? Văn bản thuật những sự việc chính nào,
nhận xét về cách quan sát, ghi chép hiện thực của tác giả. (0.5 điểm)
Câu 3. Câu chuyện ông Nguyễn Đình Mẫu thua xóc đĩa được thuật kể như thế nào (nội dung và bút pháp). Sự việc này đã lột tả được bản chất nào của nạn cờ bạc? Sự việc có ý nghĩa như thế nào? (1.0 điểm)
Câu 4. Văn bản đã cung cấp cho người đọc những thông tin gì, lí giải điều gì? Cảnh vị quan ở Hưng Yên thắng bạc phản ánh thực trạng nào của xã hội đương thời (1.0 điểm)
Câu 5. Em thích đoạn văn bản nào nhất? Hãy chọn một đoạn (dài từ 5 – 7 dòng) và phân tích đôi nét về ý nghĩa của đoạn đó. (1.0 điểm)
II. VIẾT (6đ)
Câu 1. Xác định cảm hứng, thông điệp của văn bản và cho biết: Những nội dung được đề cập trong văn bản còn có ý nghĩa đối với thực tiễn hiện nay không
Nếu có, chúng đã biến tướng như thế nào? (Viết đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm)
Câu 2. Đọc thông tin sau và viết bài luận (600 chữ) thể hiện suy nghĩ cá nhân về hiện tượng được đề cập đến trong trích đoạn bản tin đó.
Thời gian qua, hàng loạt đường dây đánh bạc trá hình qua mạng Internet có quy mô lên tới hàng chục nghìn tỉ đồng đã bị các lực lượng chức năng tích cực triệt phá. Tuy nhiên, loại hình tội phạm này vẫn diễn biến phức tạp, khó lường với hàng loạt “chiêu trò” núp bóng kinh doanh, quảng cáo tưởng chừng vô hại.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Những dấu hiệu nào giúp em nhận biết văn bản Bốn đồng sấp ngửa trên thuộc thể loại phóng sự? (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về thể loại phóng sự
Lời giải chi tiết:
- Đề tài: Viết về tệ nạn của xã hội (cờ bạc bịp).
- Đối tượng phản ánh: Những mánh lới, những kẻ chuyên lừa bịp trong nghề
cờ bạc.
- Thông tin có tính xác thực: giàu chi tiết, sự kiện có thật trong đời sống, tồn tại
một cách khách quan, có thể hiểm chứng được (Những mánh lới trong nghề cờ bạc bịp: Học sinh tự lấy dẫn chứng; thời gian, địa điểm xác định: Vào khoảng trước năm 1900; Vào thời Tự Đức, tỉnh Hải Dương với Bắc Ninh có giặc Cai Vàng)
- Sử dụng bút pháp thuật, tả, bình (học sinh lấy dẫn chứng.) trong phản ánh hiện thực và nêu được vấn đề có ý nghĩa xã hội rộng lớn: cờ bạc bịp (ở mọi thời đại).
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Nhan đề của văn bản có thể gợi lên những suy luận, phán đoán gì về nội dung được đề cập trong bài phóng sự? Văn bản thuật những sự việc chính nào, nhận xét về cách quan sát, ghi chép hiện thực của tác giả. (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và nhan đề
Tóm tắt những sự việc chính
Lời giải chi tiết:
- Nhan đề Bốn đồng sấp ngửa của văn bản có thể gợi lên những suy luận, phán đoán ở người đọc về cờ bạc (những mánh lới của nghề cờ bạc bịp).
- Ba sự việc chính trong văn bản:
+ Ông Nguyễn Đình Mầu là một tay cự phách trong nghề buôn gỗ thua một canh xóc đĩa tới đúng một nghìn và biết mình bị bịp bởi một ông nghị.
+ Lối đánh xóc đĩa đòn kim (Vào khoảng trước năm 1900).
+ Canh bạc không tiền tuyệt hậu ở đất Nam.
- Nhận xét về cách quan sát, ghi chép hiện thực của tác giả.
+ Những sự kiện, những nhân vật, chi tiết đều được chọn lọc tinh tế và được dẫn dắt kết nối với nhau một cách tự nhiên, xung quanh một chủ đề chính: cờ bạc bịp.
- Những sự kiện, những nhân vật được thuật kể từ ngôi thứ ba với sự phối hợp
cận vấn đề; Các chi tiết, sự việc đan xen, gấp gáp, bất ngờ (việc vị quan ở Hưng Yên)
+ Có đoạn bình luận đứng riêng biệt ở đầu mỗi đoạn để dẫn dắt người đọc tiếp
thắng bạc); luôn luôn di chuyển từ địa điểm này tới địa điểm khác để điều tra, khảo sát, móc nối các sự việc (các mánh lới cờ bạc bịp).
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Câu chuyện ông Nguyễn Đình Mẫu thua xóc đĩa được thuật kể như thế nào (nội dung và bút pháp). Sự việc này đã lột tả được bản chất nào của nạn cờ bạc? Sự việc có ý nghĩa như thế nào? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Phân tích sự việc để suy ra bản chất của nạn cờ bạc
Lời giải chi tiết:
- Câu chuyện ông Nguyễn Đình Mầu thua xóc đĩa được thuật kể rất ấn tượng
Các chi tiết, sự việc đan xen, khi trầm lắng, khi gấp gáp từ việc đảo trật tự thời gian.
+ Mở đầu là thông tin ông Nguyễn Đình Mầu thua xóc đĩa một nghìn tiền mặt với ba trăm tiền “nước bọt” nữa. Tiền “nước bọt, ông tạm vay của một ông nghị ông mới được hân hạnh quen biết.
+ Tiếp đó là thông tin: Ông nghĩ ngợi đến lời quả quyết của một người bạn thân
nói với ông, sau khi hỏi thăm đến chuyện thua bạc: Thôi chết! Bọn bịp nó thịt bác rồi.
+ Tiếp đó là việc ông Mẫu quyết lột hẳn chiếc mặt nạ ra cho rõ đen, rõ trắng.
+ Cuối cùng hai kẻ lừa bịp nhau cùng ngửa bài: hằm hè, doạ nạt nhau.
+ Việc phối hợp, kể – tả (quan sát tỉ mỉ, miêu tả sinh động) – bình luận từ hai
điểm nhìn trần thuật vô cùng xuất sắc khiến cho sự việc như bị dồn nét, lúc bật tung căng thẳng vô cùng hấp dẫn, khiến người đọc không thể bỏ qua một chi tiết nào (kết hợp kể, tả, bình luận; miêu tả tâm lí, đối thoại của hai nhân vật – ông nghị bịp và Nguyễn Đình Mầu).
- Bản chất của nạn cờ bạc, ý nghĩa:
+ Sự việc này đã lột tả được bản chất của nạn cờ bạc: bịp bợm, mánh lới, lừa lọc
lẫn nhau, lừa học cao siêu: đến tay ăn chơi cự phách như Nguyễn Đình Mẫu mà bị lừa như bỡn.
+ Cảnh báo, lột trần bản chất bất lương của nạn cờ bạc
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Văn bản đã cung cấp cho người đọc những thông tin gì, lí giải điều gì? Cảnh vị quan ở Hưng Yên thắng bạc phản ánh thực trạng nào của xã hội đương thời (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Văn bản cung cấp cho người đọc thông tin về sự bịp bợm của nạn cờ bạc:
+ Lối thao túng tâm lí (ông Mẫu đã mất một nghìn).
+ Lối đánh xóc đĩa đòn kim, đòn ve.
+ Lối đánh đòn hiệp sĩ (lần mở trước, chính là lẻ nhưng quan đã xướng lên là chẵn rồi úp bát ngay, đánh vào lòng tham mọi người)
- Lí giải căn nguyên sản sinh ra các mánh lới cờ bạc bịp: Người ta phải bán nhà,
cầm ruộng, hoặc là được tậu ruộng, cầm nhà thì tìm cách sai khiến được đồng tiền cho tuỳ theo ý muốn, khó đến thế nào nghĩ cũng phải ra.
– Cảnh vị quan ở Hưng Yên thắng bạc phản ánh thực trạng của xã hội đương thời: Cờ bạc trở thành một vấn nạn nhức nhối.
Câu 5 (1 điểm)
|
Câu 5. Em thích đoạn văn bản nào nhất? Hãy chọn một đoạn (dài từ 5 – 7 dòng) và phân tích đôi nét về ý nghĩa của đoạn đó. (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Lựa chọn đoạn văn bản yêu thích và phân tích
Lời giải chi tiết:
Học sinh lựa chọn đoạn thể hiện rõ 1 nội dung cụ thể; phân tích và đánh giá
tác dụng, mục đích của đoạn đó.
- Tham khảo gợi ý sau:
+ Chọn đoạn (mở đầu đoạn số 2 của văn bản): Khối óc của người ta còn có nhiều phen nghĩ cách chống lại được cả tạo vật biến đổi được cả cơ giới, lẽ tất nhiên chẳng khi nào người ta chịu để yên cho bốn đồng tiền giấy kia được tự do úp sấp, lật ngửa. Cái công dụng của sự sấp, ngửa kia lại còn to tát đến nỗi tuỳ nó, người ta phải bán nhà, cầm ruộng, hoặc là được tậu ruộng, cầm nhà thì tìm cách sai khiến được đồng tiền cho tuỳ theo ý muốn, khó đến thế nào nghĩ cũng phải ra.
+ Đây là đoạn bình luận của tác giả với ngôn ngữ ấn tượng làm nổi bật mưu mô của con người trong “nghề” cờ bạc (phen này nghĩ cách chống lại được cả tạo vật, biến đổi được cả cơ giời); có nghĩa cảnh báo cho người có ý đồ gia nhập nghề cờ bạc: cờ bạc sẽ khánh kiệt gia tài (người ta phải bán nhà, cầm ruộng, hoặc là được tậu ruộng, cầm nhà thì tìm cách sai khiến được đồng tiền cho tuỳ theo ý muốn, khó đến thế nào nghĩ cũng phải ra).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Xác định cảm hứng, thông điệp của văn bản và cho biết: Những nội dung được đề cập trong văn bản còn có ý nghĩa đối với thực tiễn hiện nay không? Nếu có, chúng đã biến tướng như thế nào? (Viết đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Dựa vào phần phân tích ở trên
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Triển khai đoạn đảm bảo dung lượng; nội dung hướng vào các ý sau đây:
– Cảm hứng: lên án, phê phán.
- Thông điệp: Học sinh tự đúc rút từ nhận thức cá nhân (bám sát văn bản với
hai ý chính: cờ bạc là bịp bợm; cờ bạc làm khánh kiệt sản nghiệp; cờ bạc là ma lực dẫn dụ con người).
- Vấn nạn cờ bạc bịp còn nguyên giá trị và có giá trị ở mọi thời đại; cờ bạc bịp ở
thời đại số biến tướng dưới nhiều hình thức và tác hại khôn lường (hình thức biến tướng: Chỉ cần truy cập ứng dụng CHplay (trên Androi) hoặc App Store (trên iOS) của điện thoại thông minh sẽ có vô số trò cờ bạc dưới hình thức game online chào mời và bất cứ ai cũng có thể trở thành con bạc.
Câu 2 (4 điểm)
|
Câu 2. Đọc thông tin sau và viết bài luận (600 chữ) thể hiện suy nghĩ cá nhân về hiện tượng được đề cập đến trong trích đoạn bản tin đó. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Đọc thông tin sau và viết bài luận (600 chữ) thể hiện suy nghĩ cá nhân về hiện tượng được đề cập đến trong trích đoạn bản tin đó. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề nghị luận - Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ |
|
Thân bài |
3,0 |
* Về vấn đề: - Biểu hiện nạn cờ bạc 4.0 - Nguyên nhân (chủ quan ở con người, sự tác động của mạng xã hội) - Hậu quả đối với cá nhân, xã hội * Quan niệm, chính kiến của bản thân (đồng tình/ phản đối) - Nhận thức cá nhân về hiện tượng - Thái độ trước hiện tượng * Đề xuất một số giải pháp (đối với thanh niên) |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về giá trị của vấn đề đối với thanh niên - Hành động của cá nhân (trong tình huống giả định) |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng các thao tác phân tích so sánh, chứng minh, bình luận - Dẫn chứng phù hợp với lí lẽ, luận điểm |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
MỘT ĐÁM VÀO NGÔI
(Việc làng, Ngô Tất Tố)
Nhà bác Cả Mão mọi ngày thường im phăng phắc, hôm nay bỗng nhiên linh đình như đám giỗ nhỏ. Dưới cầu ao, hai người đàn ông lực lưỡng đang châu đầu trên chiếc rổ thưa, tỉ mỉ nhổ từng sợi lông tơ cho một con gà trong rổ. Trên bờ con chó xóm bị trói bốn chân, nhe răng nằm trên vũng máu lênh láng. Cạnh nó, một nồi nước sôi khói bốc nghi ngút và bốn năm người, cũng hạng đàn ông lực lưỡng, kẻ cầm gáo múc nước, người cầm dao sắp sửa cạo lông. Từ cổng đến thềm, tập nập những người đi lại. Tôi mới nhô vào đến sân, bác Cả lật đật chạy ra đón lên nhà trên với một bộ điệu vui vẻ. Ở gian bên kia, độ bảy tám ông ngôn ngang nằm vây một chiếc khay đèn thuốc phiện. Với những cặp môi thâm xịt và dài vều, và những chiếc quần cháo lòng, áo ba-đờ-xúa rách lòi khố tải, các ông ấy như muốn bảo cho tôi biết đây toàn là hạng kì dịch kiêm tín đồ của đức chúa Phù dung. Dãy phản bên này, hai bàn tổ tôm kế nhau. Bàn trong vang những tiếng ăn, tiếng phỗng, bàn ngoài đương ỏm tỏi cãi nhau về sự đánh thấp đánh cao. Chủ nhân lễ phép mời tôi vào ngôi trong chiếc tràng kỉ kê ở gian giữa, đối mặt với toà bàn thờ hương khói vắng tanh. Mấy ông trong bàn tổ tôm thi nhau nhìn tôi bằng nửa con mắt trong nghiêng giữa khi vài ông ở bàn thuốc phiện lần lượt ngóc cổ như đàn rắn lửa. Rồi thì ai nấy lại cùng theo đuổi công việc của họ, người hút cứ hút, người đánh bài cử đánh bài.
- Ông có lòng đến đây mừng cho nhà cháu, thật là quý hoá! Xin mời ông xơi tạm chén nước.
Bác Cả Mão đương một tay gãi tai, một tay bưng chén chè nụ đặt trước mặt tôi, bên bàn tổ tôm bỗng có tiếng gọi:
- Anh Cả đâu! Cho mượn hai đồng đánh thêm hội nữa. Đen quá, cả hội chẳng ù ván nào!
Bằng một tiếng vâng đầy giọng thành tâm, bác Cả Mão nhanh nhẩu chạy xuống nhà dưới, để tôi ngồi đó với bác Hai Thìn, một người em ruột bác ấy. Thơ thần chưa biết nên nói chuyện gì, tôi có dịp nghĩ đến cái câu của bác Cả Mão mới nói. Với bác, tôi chỉ là người trọ học ở nhà láng giềng. Vì năng gặp bác, thành ra quen biết. Hôm nay là ngày “vào ngôi” cho thằng con bác mới đẻ được ba tháng nay, bác vẫn mến tôi nên cố mời tôi sang chơi. Ở làng khác, vào ngôi chỉ là một lệ rất thường, người ta phí tổn độ vài ba chục, hay vài ba trăm quả cau là xong. Sao trong đám này lại có cỗ bàn linh đình, và sao ở trước mặt khách, ông chủ lại nói đến câu “mừng cho nhà cháu”?
Hay là riêng với làng này, vào ngôi là một việc hỉ? Nếu vậy, có lẽ mình phải mất một món tiền mừng. Óc tôi còn đương vẩn vơ, bác Cả Mão đã ở nhà dưới chạy lên. Cung kính trao hai đồng bạc cho một ông trong bàn tổ tôm, bác ấy tung tăng ra sân, khiến tôi không kịp nói chuyện. Dưới bếp, có tiếng dao thớt kí cốc, mùi xôi ngào ngạt đưa lên nhà trên. Một ông trong đám thuốc phiện dõng dạc cất cái giọng khàn khàn
- Anh Cả đâu! Lên đây tôi bảo!
Một tiếng dạ lớn, bác Cả Mão từ sân vào thềm, rồi khoanh tay đứng tựa vào cột:
- Bẩm cụ dạy gì con ạ?
- Trưa lắm rồi đấy! Liệu mà giục bảo chúng nó sắp đồ lễ mau lên! Rồi anh phải thân hành đến mời cụ Điền lại chơi, kẻo cụ lại ăn cơm nhà
Lại một tiếng “dạ” rất lễ phép, bác Cả rón rén lui ra. Tiện dịp, tôi bảo bác ngồi xuống chỗ tôi ngồi và móc ví lấy một đồng bạc mừng bác. Nhưng bác khăng khăng từ chối, nói rằng việc này không có lệ mừng. Ngoài thềm có tiếng lẻng kẻng. Một người xách chiếc mâm đồng sáng choang đặt lên cái bàn ở trước mặt tôi. Rồi một người khác để luôn thúng xôi vào đó. Bác Cả Mão núc hai bàn tay như thầy phù thuỷ bắt quyết và nói với tôi:
- Bên này chật quá, mời ông sang nhà chú cháu. Ông nhạc tôi cũng ở bên ấy. May quá, tôi đang muốn tránh cái bầu không khí khó chịu.
Nghe lời chủ nhân, tôi liền theo bác Hai Thìn đi luôn. Nhà này cũng thấy lố nhố những người, nhưng toàn là người tôi quen. Qua một tuần trà, bác Hai Thìn nhìn tôi và nói bằng giọng sung sướng:
- Anh tôi lo công việc này cho cháu tất cả cũng hết đến trăm rưỡi bạc. Ấy là chúng tôi khôn khéo, xoay xở thì việc mới xong, người khác ở vào địa vị chúng tôi, dù có mấy trăm, vị tất đã lo nổi!
Câu nói của bác khiến tôi hết sức ngạc nhiên:
- Sao nhà các ông hoang quá như vậy? Tôi thấy người ta “vào ngôi” cho con chỉ tốn độ vài đồng bạc là cùng!
Bác Hai xua tay và nói bằng giọng thì thầm:
- Nào có phải hoang! Ông tính ở đời ai muốn mất tiền! Đó là sự bất đắc dĩ. Nói giấu gì ông, nhà tôi không phải gốc gác ở làng này. Ông thân chúng tôi ở vùng Nam lên đây sinh cơ lập nghiệp, rồi mới đẻ ra anh tôi và tôi. Thế là tới ở làng này, nhà tôi mới ở có hai đời. Theo lệ nhà quê, những người ngụ cư ba đời mới được “thành tổ”. Nghĩa là được ngang hàng với mọi người khác. Làng này lại ngặt hơn nữa, từ xưa đến giờ họ không cho một người ngoài nào nhập bạ. Vì thế, anh tôi và tôi cũng như ông thân chúng tôi, đều không có ngôi ở đình. Chắc ông cũng biết ở làng mà không có ngôi, thật là một sự nhục nhã.
- Người ta không nhận thì càng khỏi mất. Việc gì mà cực!
Tôi mỉm cười và đáp một câu khôi hài như vậy. Bác Hai vẫn nói một cách thật thà:
– Thế được còn nói gì nữa! Anh em chúng tôi, trời cho trong nhà cũng đủ bát ăn, mỗi người cũng có được con trâu cày và dăm mẫu ruộng. Thế mà không thể nộp được lệ làng cho cha và mẹ, tức là tiếng xấu để đời... Mỗi khi nghĩ lại những nông nỗi ấy, anh tôi và tôi tức chết người đi được. Trước đây, chúng tôi đã cố luồn lọt mấy ông đàn anh, để xin nhập bạ, nhưng mà bấy giờ hãy còn cụ Bá, cụ ấy nghiệt lắm, nhất định bảo nhà tôi đến ở làng này chưa được ba đời, không thể nhận lời. Chúng tôi đành phải cắn răng mà chịu. Bởi vậy lần này anh tôi sinh được mụn cháu, lại may gặp lúc cụ Bá đã mất, chúng tôi phải cố vào ngôi cho nó.
- Nhưng mà các ông tiêu những món gì mà hết đến hơn trăm bạc
Bác Hai càng hạ giọng xuống, sau khi liếc mắt ngó qua những người chung quanh:
- Ông bảo những công việc ấy, nói bằng miệng không được ư? Phải mất tiền cả đấy! Cụ chưởng lễ ba chục, ông chánh hội hai chục, cụ lí trưởng mười lăm đồng, ông phó lí và ông phó hội mỗi người mười hai đồng, thư kí, trưởng bạ, mỗi người mươi đồng, hương trưởng, lí cựu, tộc biểu, trương tuần mỗi người năm đồng. Những số tiền ấy hết ngoài trăm đồng rồi. Lại còn ăn uống từ chiều hôm qua đến giờ...
- Nếu đã mất tiền cho họ thì thôi bữa ăn uống được không? Bày vẽ làm gì cho tốn
Bác Hai lắc đầu:
- Không được ông ạ! Ở chốn thôn quê, ăn uống là sự đầu tiên, hễ không có ăn thì việc không thành. Lúc trước, anh tôi cũng nghĩ như ông, đã định chước sự ăn uống vì đã rắc tiền khắp mặt chức dịch. Nhưng ông chánh hội không nghe. Ông ấy nói rằng thế nào cũng phải đấm miệng cho các bô lão, và bọn trai đinh bò bướu một bữa. Nếu không họ sẽ phá ngang, tất nhiên sẽ có cản trở.
Bác Hai ngừng lại một lát chờ cho một người ấy đi qua, rồi tiếp:
- Một bữa ăn này, ít ra anh tôi cũng phải tiêu đến năm, sáu chục đồng. Vì kiêng tiếng làm thịt lợn, sợ rằng làng nước cho là hứng mỡ, nên mới đi chợ mua thịt. Sự thực, mua thịt lại quá giết lợn. Sáng ngày đi lấy vừa lòng lợn vừa thịt lợn tất cả mười một đồng bạc, đáng lẽ cũng đủ chan chát, nhưng cụ chưởng lễ thích ăn thịt cầy, nên ông lí trưởng bắt phải giết thêm con cầy. Chẳng nhẽ mời dẫn mời làng ăn uống trong nhà, ngoài đình lại khổng có gì. Bởi thế chúng tôi phải sửa cỗ xôi, con gà để ra lễ thờ.
Bấy nhiêu món hết ngót hai chục rồi. Còn tiền rượu, tiền thuốc phiện, còn tiền cung đốn họ đánh tổ tôm. Ông đã biết rõ, mọi khi làng tôi có ai dám đánh “góp một”? Lớn lắm chỉ “góp năm hào”. Hôm nay vì tiền nhà chủ bỏ ra, được thì ăn, thua không phải trả, nên họ hò nhau đánh góp hai đồng. Rồi đấy ông xem, đến lúc đứng dậy, ai cũng thu hết, anh tôi đưa ra bao nhiêu mất hút bấy nhiêu, chẳng lấy lại được đồng nào hết... Lúc nãy tôi nói trăm rưỡi, còn là hà tiện, xong việc có lẽ hết hơn, chứ bấy nhiêu tiền không thể nào đủ.
Bác Hai còn muốn nói nữa. Bên nhà bác Cả chợt nghe có tiếng ầm ầm, bác ấy lật đật xin lỗi đứng dậy:
- Mời ông ngồi chơi với các cụ tôi. Tôi phải chạy sang bên kia. Làng đã vào rồi! Tiếng ầm ầm bên nhà bác Cả mỗi lúc một to, trước còn cười nói, sau đến quát tháo, cuối cùng thì đến những tiếng mách tục mách qué. Lâu lâu cuộc xô xát lại dữ dội thêm, bác Hai Thìn hốt hoảng chạy về, vừa thở vừa nói:
- Khổ quá, mấy ông bô lão lại còn bẻ vành bẻ vẻ, nhất định nói rằng: hương ước không có chỗ nào nói cho người ngoài vào ngôi. Cụ Điền hết sức dàn xếp không được. Ông chánh hội và ông lí trưởng bảo anh tôi phải chồng hai chục đồng bạc – tiền ngay cốc cốc – để cúng vào nóc các lão, thì việc mới yên. Thôi thế cũng còn là may.
Cuộc ăn uống kéo dài mãi đến gần tối, nhưng không xảy ra sự gì nữa. Cách ba bữa sau, bác Cả Mão sang nhà tôi trọ, dạm bán cho ông chủ nhà một mẫu hai ruộng, lấy trăm đồng bạc để trang công nợ. Vui vẻ bác khoe với tôi:
- Tất cả, tôi lo hết gần hai trăm. Của nhà có non một trăm, còn thì đều phải đi vay. Nhưng tôi cũng lấy làm hả. Từ nay trở đi, cháu đã có ngôi đình, chúng tôi sẽ được ăn miếng thịt phần việc làng của nó....
(Ngô Tất Tố, Tuyển tập. NXB Văn học 2016)
* Ngô Tất Tố (1893 – 1954) là một nhà văn, nhà báo, nhà nho học, dịch giả và nhà nghiên cứu có ảnh hưởng lớn ở Việt Nam giai đoạn trước 1954. Ngô Tất Tố viết nhiều thể loại báo chí, trong đó tiểu phẩm và phóng sự là hai thể loại đã giúp ông thành danh. Di sản báo chí của Ngô Tất Tố trở thành những tư liệu phong phú, chi tiết, phản ánh toán diện và trung thực xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX, tiêu biểu là tiểu thuyết Tắt đèn, Lều chõng và phóng sự Việc làng.
Câu hỏi
Câu 1. Nhan đề Một đám vào ngôi của văn bản có thể gợi lên những suy luận, phán đoán gì về những khía cạnh nào của bài phóng sự? (1.0 điểm)
Câu 2. Liệt kê các sự việc chính theo trình tự được thuật lại trong văn bản. Từ đó nhận xét về nghệ thuật viết phóng sự của tác giả (sử dụng ngôi kể, điểm nhìn, thủ pháp miêu tả, trần thuật, cách sắp xếp sự kiện chi tiết, ngôn ngữ,..) trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng, thông điệp của văn bản. (1.0 điểm)
Câu 3. Qua văn bản Một đám vào ngôi, tác giả đã nêu vấn đề gì? Thái độ của tác giả trước vấn đề đó như thế nào? (1.0 điểm)
Câu 4. Tính khách quan, xác thực của thông tin thể hiện qua những yếu tố nào? Điều đó cho độc giả hiểu thêm gì về tác giả? (1.0 điểm)
Câu 5. Nêu cảm nhận của em về nhân vật bác Cả Mão. Từ đó cho biết thái độ của tác giả Ngô Tất Tố đối với nhân vật này. (Trả lời tối thiểu bằng 2/3 trang giấy thi /trang vở) (1.5 điểm)
II. VIẾT (6đ)
Câu 1. Theo bạn, những nội dung được đề cập trong văn bản còn có ý nghĩa đối với thực tiễn hiện nay không? Lí giải ý kiến của bạn. (viết đoạn 200 chữ) (2.0 điểm
Câu 2. Địa phương nơi em sinh sống (phường/xã) tổ chức phát động Phong trào xây dựng địa phương/gia đình văn hoá, em được đề nghị phát biểu trong buổi lễ đó. Hãy viết bài phát biểu (600 chữ) để phát biểu trong buổi lễ đó.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Nhan đề Một đám vào ngôi của văn bản có thể gợi lên những suy luận, phán đoán gì về những khía cạnh nào của bài phóng sự? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhan đề
Nhớ lại kiến thức về thể loại phóng sự
Lời giải chi tiết:
- Gợi nội dung phản ánh về một tục lệ/hủ tục ở nông thôn Việt Nam.
- Gợi suy luận về vấn đề (đặt ra trong tác phẩm), thái độ tác giả đối với vấn đề đó
- Vấn đề: hủ tục ở nông thôn nặng nề, gây tốn kém, nhũng nhiễu đời sống dân nghèo.
+ Thái độ của tác giả: lên án, phê phán...
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Liệt kê các sự việc chính theo trình tự được thuật lại trong văn bản. Từ đó nhận xét về nghệ thuật viết phóng sự của tác giả (sử dụng ngôi kể, điểm nhìn, thủ pháp miêu tả, trần thuật, cách sắp xếp sự kiện chi tiết, ngôn ngữ,..) trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng, thông điệp của văn bản. (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Văn bản Một đám vào ngôi với các sự việc chính:
+ Chuẩn bị cỗ.
+ Các đám đánh bạc, hút thuốc phiện.
+ Không chấp nhận việc vào ngôi, chủ nhà phải nộp thêm 20 đồng.
+ Việc chi tiêu và việc vay tiền chi trả.
- Nghệ thuật viết phóng sự của tác giả:
+ Sử dụng ngôi kể thứ nhất và kết hợp điểm nhìn bên trong, bên ngoài.
+ Kết hợp miêu tả, trần thuật, bình luận rất hiệu quả.
+ Sắp xếp sự kiện, chi tiết hợp lý (đảo trình tự thời gian việc: không được vào ngôi khi cụ Bá còn sống; gốc 2 đời nhà bác Cả Mão xuống dưới để lý giải việc nhà bác Cả Mão tưng bừng đón đám vào ngôi).
→ Tất cả các yếu tố trên đã kết nối các sự việc làm nổi bật chủ đề: Một đám
vào ngôi – hủ tục ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng 8/1945; thể hiện tư tưởng tiến bộ, cấp tiến của tác giả: lên án hủ tục khiến đời sống nông dân ngày càng nghèo khó hơn thể hiện thông điệp: xóa bỏ hủ tục nơi thôn quê, giải phóng tư tưởng lạc hậu u mê cho người nông dân (miếng ăn nơi góc chiếu, sân đình).
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Qua văn bản Một đám vào ngôi, tác giả đã nêu vấn đề gì? Thái độ của tác giả trước vấn đề đó như thế nào? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và rút ra nội dung chính
Chú ý các chi tiết thể hiện thái độ của tác giả
Lời giải chi tiết:
– Nêu vấn đề nhức nhối ở nông thôn:
+ Bất bình đẳng, thiếu tôn trọng người dân ngụ cư (phải 3 đời mới được nhập bạ; không có ngôi, thật là một sự nhục nhã)
+ Quan chức ở nông thôn chèn ép, bòn rút tiền bạc của nông dân (phải sửa cổ xôi, con gà để ra lễ thờ; tiền rượu, tiền thuốc phiện, còn tiền cung đón họ đánh tổ tôm; chồng hai chục đồng bạc – tiền ngay cốc cốc – để cúng vào nóc các lão, thì việc mới yên)
- Thái độ tác giả: bất bình, lên án (qua thái độ của nhân vật “tôi” – người kể chuyện)
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Tính khách quan, xác thực của thông tin thể hiện qua những yếu tố nào? Điều đó cho độc giả hiểu thêm gì về tác giả? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về tính phi hư cấu của phóng sự
Liên hệ đến phong cách sáng tác, con người tác giả
Lời giải chi tiết:
– Khách quan chân thực: đến tận cùng sự thật với hàng loạt số liệu, truy tìm nguyên nhân làm xuất hiện vấn đề, dẫn dắt trình bày, lý giải những chi tiết và tổ chức ý kiến của các đối tượng đối thoại. Cái tôi tác giả – nhân chứng chủ động khơi lên những vấn đề phỏng vấn, mô tả biện luận: “Cụ chưởng lễ ba chục, ông chánh hội hai chục, ông lý trưởng mười lăm đồng, ông phó lý và ông phó hội mỗi người mười hai đồng, thư ký, trưởng bạ mỗi người năm đồng. Những số tiền ấy hết ngoài trăm đồng rồi. Lại còn ăn uống từ chiều hôm qua đến giờ...Ở chốn thôn quê ăn uống là sự đầu tiên”. Vậy là khổ chủ phải bán đi một mẫu hai ruộng lấy hai trăm đồng trả nợ...
– Tác giả: hiểu sâu hiện thực, kỳ công tìm hiểu tư liệu; nhạy cảm, sắc sảo dám nói sự thật; bám sát nông thôn, khảo sát mô tả những hủ tục, những lệ làng quái gở, man rợ, nạn “xôi thịt”, những cảnh đau lòng xung quanh miếng ăn ở nông thôn Việt Nam đương thời.
Câu 5 (1 điểm)
|
Câu 5. Nêu cảm nhận của em về nhân vật bác Cả Mão. Từ đó cho biết thái độ của tác giả Ngô Tất Tố đối với nhân vật này. (Trả lời tối thiểu bằng 2/3 trang giấy thi /trang vở) (1.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý các chi tiết miêu tả bác Cả Mão
Lời giải chi tiết:
- Nội dung đoạn văn bản bám sát văn bản làm rõ đặc điểm của nhân vật (cam chịu, u mê – khổ mà vẫn vui, háo danh hão đã trở thành nạn nhân của hủ tục...)
- Hình thức: đảm bảo độ dài, tính logic, mạch lạc cho đoạn văn bản; đủ các yếu tổ lí lẽ, dẫn chứng, nhận định.
- Thái độ của Ngô Tất Tố: thương cảm, phê phán; đả kích, châm biếm.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Theo bạn, những nội dung được đề cập trong văn bản còn có ý nghĩa đối với thực tiễn hiện nay không? Lí giải ý kiến của bạn. (viết đoạn 200 chữ) (2.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Dựa vào phần phân tích ở trên
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Triển khai đoạn đảm bảo dung lượng; nội dung hướng vào các ý sau đây:
- HS tự thể hiện quan điểm cá nhân.
- Có thể tham khảo gợi ý sau:
+ Trải qua biết bao biến đổi, Việc làng vẫn còn ý nghĩa lớn và để lại nhiều bài học có giá trị trong quá trình chọn lọc, cải biến và xây dựng đời sống văn hoá mới trong xã hội nông thôn hiện nay.
+ Việc làng – Đám vào ngôi thuật lại các “phong tục” có ý nghĩa tốt đẹp về “sự gắn bó của dân với làng”, về tục “vào ngôi” khi con trẻ ra đời nhưng không biến chúng thành hủ tục nặng nề để bòn rút làm khổ dân nghèo.
+ Mỗi người dân hãy tiếp thu các phong trào, lối sống có chọn lọc, không nên lệ thuộc, hoặc cố thực hiện khi điều kiện kinh tế của gia đình không cho phép.
Câu 2 (4 điểm)
|
Câu 2. Địa phương nơi em sinh sống (phường/xã) tổ chức phát động Phong trào xây dựng địa phương/gia đình văn hoá, em được đề nghị phát biểu trong buổi lễ đó. Hãy viết bài phát biểu (600 chữ) để phát biểu trong buổi lễ đó. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Địa phương nơi em sinh sống (phường/xã) tổ chức phát động Phong trào xây dựng địa phương/gia đình văn hoá, em được đề nghị phát biểu trong buổi lễ đó. Hãy viết bài phát biểu (600 chữ) để phát biểu trong buổi lễ đó. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Kính thưa đại biểu tham dự (HS vận dụng phù hợp với thực tế) - Giới thiệu bản thân (1-2 dòng) và nêu tên phong trào |
|
Thân bài |
3,0 |
- Nêu lí do, mục đích của phong trào đối với HS, tuổi trẻ, xã hội; ý nghĩa của Phong trào xây dựng địa phương/ gia đình văn hóa - Hành động, việc làm cụ thể của thanh niên, HS, người dân địa phương + Giữ gìn cảnh quan đường phố, xã (xóa quảng cáo rao vặt; dọn vệ sinh; sinh hoạt văn minh tại các gia đình; phát hiện tụ điểm ma túy, chơi không lành mạnh) + Tổ chức vui chơi, giải trí: thể thao, xây dựng thư viện xã/ phường + Thăm hỏi, giúp gia đình hoạn nạn… - Hành động, việc làm cụ thể của cá nhân (phù hợp với sở trường) + Lựa chọn hành động của cá nhân + Cảm xúc, suy nghĩ của cá nhân về mục đích ý nghĩa phong trào… + Tinh thần khi tham gia hoạt động của xã/ phường |
|
Kết bài |
0,25 |
- Thể hiện sự ủng hộ, niềm tin vào phong trào - Cổ vũ, kêu gọi các bạn ủng hộ tham gia phong trào |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Bài viết có cảm xúc, thể hiện sự hiểu biết, nhiệt huyết về hoạt động - Kỹ thuật viết: lời hô gọi tạo sự tương tác, cổ vũ hành động |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 4
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
KHÔNG THỂ THÀNH NGƯỜI
(A – dít Nê - xin)
Trong bọn tôi chỉ cần có một kẻ nào đó hoài nghi kêu lên rằng: “Không thể được, anh em ơi, lũ chúng ta không thành người được!” là lập tức mọi người gật đầu tán thưởng: “Đu-u-úng! Chí phải, chí chí phải, không thể thành người!”. Và không bói đâu ra một người phản bác: “Sai lại thế! Phải tự trọng chứ!”
Hồi còn trẻ, có một lần, dạo ấy tôi vào quãng hai mươi nhăm tuổi, bầu nhiệt huyết còn sôi sục, tôi đã cả gan chống lại luận thuyết đó.
Lần ấy tôi đi tàu thuỷ ra đảo Hoàng Nam, bỗng có một người đàn ông làu nhàu:
“Xin lỗi các người, làm sao chúng ta có thể thành người được!”. Mọi người có mặt trong phòng lúc ấy đều gật đầu đồng ý. Riêng tôi thì nóng mắt cự lại: “Sao lại không thành? Dứt khoát là thành!”.. Mà còn thành những người làm chấn động địa cầu là khác.
Mọi người trong phòng khách tuồng như ăn ý với nhau từ trước, đồng thanh kêu ầm lên: Bậy nào, bậy nào, không thể thành người được....
Được mọi người hỗ trợ, ông già kia bớt nóng: “Nghe thấy chưa, con?... Các vị đây đều nhất trí ủng hộ tôi đấy. “Thành người!... Nhất định sẽ thành người!” – Tôi lặp lại.
Ông già cười nhạt: “Đó, con vừa nói: “Nhất định sẽ thành người.” Như thế nghĩa là trước đây và bây giờ chưa thành người chứ sao.
Từ bấy đến nay bao nhiêu năm trôi qua mà lúc nào tôi cũng băn khoăn: “Vì sao chúng ta không thành người được?”. Lần đi tù mới đây đã mở cho tôi đôi mắt; cuối cùng tôi đã tìm ra câu đáp.
Những ngày tiếp người nhà, tôi được nghe toàn những tin xấu. Tôi thấy nặng nề, ủ dột. Tệ hơn nữa là tôi có mặc cảm tuyệt vọng và nghĩ chỉ còn một lối thoát: phải lập tức ngồi viết tiểu thuyết. Không được lãng phí thời giờ! Phải chấm dứt chuyện trò ba láp hoặc ngồi không, nghĩ vớ nghĩ vẩn.
Chưa viết được mươi dòng thì một vị phạm nhân đầu óc sáng láng đến gần tôi: “Chúng ta không thể thành người được! Quyết không, quyết không!”. Rồi ông ta kể lể dài dòng và cặn kẽ về cuộc sống ở hai nước Anh và Bỉ. Tôi phát rầu rĩ và đưa mắt nhìn xuống, cố ý cho ông ta hiểu rằng tôi rất bận và mong ông ta đứng dậy. Than ôi!
Bạn tôi nào có biết phán đoán. Ông ta cứ thế mà nhớ đâu nói đấy: “Bên ấy, anh sẽ thấy không ai không cầm sách vở. Đi ô tô, đi tàu hoả, chỗ nào cũng đọc”.
– Chà, ghê thật, ghê thật! – Tôi ngắt lời ông với hi vọng ông ấy tha cho tôi nhờ.
– Ghê hẳn đi chứ lị! – Ông ta nói tiếp. – Còn bây giờ anh cứ thử nhìn những người quanh đây xem. Ai cũng nhận mình là trí thức mà không có ai cầm sách cả.
Không, bạn thân mến của tôi ơi, chúng ta không thành người được...[...]
Thế là tôi mất đứt nửa ngày để nghe một bài giảng về lòng hiếu sách của người Thuỵ Sĩ và của người Bỉ.
Nuốt vội vàng mấy hạt cơm trưa, tôi lại leo lên giường viết sách. Tờ giấy trên đầu gối, cây bút trong tay, tôi vừa ngồi vừa nghĩ. Chưa viết được một chữ nào, lại một người quen bước đến:
– Anh làm gì vậy?
– Tôi viết tiểu thuyết.
Ở đây viết không ra cái gì đâu. Anh này ngộ thật... Anh đã ở châu Âu lần nào chưa!
- Không, tôi chưa bao giờ ra khỏi đất Thổ.
- Tiếc quá! Thế thì anh phải đi châu Âu mới được. Sống bên đó, được tận mắt nhìn thấy mọi vẻ sinh hoạt là điều rất thú vị. Những chuyến đi ấy làm con người mở rộng được tầm mắt. Tôi đã đi hầu khắp châu Âu, có lẽ không nước nào không đặt chân tới. Lâu nhất là thời kì tôi ở Đan Mạch, Hà Lan, Thụy Điển. Ở các nước đó, mọi người tôn trọng nhau hết sức. Thậm chí người ta không nói to để khỏi phiền người bên cạnh. Còn ở nước ta, anh xem! Muốn thủng hai màng nhĩ! Có lúc tôi muốn chợp mắt một tí, muốn đọc hoặc viết một tí, tôi thiếu gì việc phải làm hả anh, thế mà cũng không được. Ôn như chợ vỡ thế này thì anh không viết tiểu thuyết được đâu. Không thể viết được.
- Ôn như chợ vỡ tôi cũng viết được. Tôi chỉ không viết được khi bị người khác lải nhải bên tại mà thôi.
- Bạn thân mến ơi, nhưng được yên tĩnh thì thích hơn biết mấy. Có phải thế không? Mà họ có quyền gì quấy rầy anh kia chứ. Họ có thể nói nhỏ được quá chứ lị. Ở Đan Mạch, Thuỵ Điển, Hà Lan, không có ai bất lịch sự như thế bao giờ. Dân chúng người ta tân tiến vì biết tôn trọng lẫn nhau...
Ông ta cứ nói lảm nhảm hết chuyện này chuyện khác, lôi ra trăm thứ dẫn dụ để minh hoạ cho trình độ lịch thiệp và giáo dục của người châu Âu.
Tôi cúi xuống mặt giấy và bắt đầu viết. Nói đúng hơn là tôi làm ra bộ viết. Hẳn như thế là bất nhã, nhưng tôi còn biết làm sao khác được?
- Đừng hoài công vô ích. – Ông bạn lại nói. – Không viết được gì đâu. Viết thế anh chỉ làm hỏng đầu óc. Nước Thổ chứ có phải châu Âu đâu. Bạn thân mến của tôi ơi, chính vì lẽ đó mà chúng ta không nên người được đâu. Không, chẳng thể nào được.
Chắc ông ta chưa chịu kết thúc ngay, nhưng may quá, luật sư của ông ta đến cho tôi.
Sợ rằng có người khác đến ám, tôi cúi gằm hẳn mặt xuống.
Vừa viết được hai dòng, lại một ông bạn cùng xà lim bước đến.
– Chúc anh thành công! – Ông ta nói.
Ông ta ngồi xuống giường tôi, nói: “Còn xa chúng ta mới thành những người chân chính.” Tôi không hé răng nửa lời hòng chặn đứng câu chuyện ngay khởi thuỷ.
- Tiếc thật! Anh được ở bên Mĩ vài tháng anh sẽ thấy ngay vì sao chúng ta lạc hậu thế này. Người Mĩ đâu có như ta, họ không thích tán gẫu. Bên họ có câu: “Time is money. (Thời gian là tiền bạc). Còn nước Thổ ta thì sao? Cứ lấy chúng ta ra mà xem. Chúng ta đang làm gì? Chính vì vậy mà họ tân tiến.
Tôi thở dài liên tiếp, lòng thầm mong ông ta hiểu cho rằng tôi rất bận và mong ông ta đi đi cho rồi. Nhưng ông ta cứ tiếp tục... Đến giờ ăn tối, ông ta bảo:
Chúng ta không thành người được! Đúng thế. Cứ cái lối sa đà trò chuyện thế này thì chẳng có bao giờ nên người.
– Bác nói thật chí lí. – Tôi đáp. Khoắng vội cho xong bát cơm, tôi quay về làm việc. Tiểu thuyết! Phải viết tiểu thuyết.
– Cái chính là phải lao động. Những việc khác là phụ. – Tôi bỗng nghe có tiếng người nói bên cạnh.
- Theo anh thì sao? – Anh ta hỏi và ngồi xuống giường bên.
– Ai dám tranh luận chuyện đó? Lao động cần quá đi chứ. – Tôi đáp
Còn anh bạn thì sôi nổi tiếp tục: “Tôi sang Đức học đại học, sau đó tôi lại làm việc ở bên ấy nhiều năm. Người Đức chả có ai ăn không ngồi rồi cả. Còn bên ta thì thế nào? Cứ lấy tất cả những người trong khám này ra làm bằng mà xem. Chúng ta không thể thành người được. Còn lâu chúng ta mới thành những người chân chính.”
Tôi hiểu ra: Người ta không cho tôi viết tiểu thuyết. Cố viết, tôi chỉ giết chết thần kinh của mình thôi. Tận nửa đêm anh ta mới về. Bây giờ có thể làm việc được rồi. Không ai còn đến ngồi quấy phá và lên lớp cho tôi về chuyên đề lí do khiến chúng ta không nên người được.
Chao ôi, tôi đã lầm to: lại có người đến. Ông ta khe khẽ thì thầm sợ phiền đến giấc ngủ mọi người. Theo lời ông, người Pháp biết làm việc ra trò, nghỉ ngơi và vui chơi ra trò, dân tộc đó không bao giờ lẫn lộn thời gian làm việc với thời gian nghỉ ngơi. Rồi ông ta khuyên tôi không nên làm việc qua nửa đêm như thế.
- Bây giờ anh đi ngủ đi, sáng mai, đầu óc tỉnh táo, anh lại tiếp tục viết. Bên nước ta, mọi thứ cứ lùng nhùng với nhau không ra cái gì cả. Lúc nghỉ thì mình làm việc, giờ làm việc thì lại muốn nghỉ. Không bao giờ chúng ta thành người được đâu.
Không bao giờ.
Lúc ông ta đi thì tôi cũng không còn sức để viết được nữa. Hai mí mắt tôi cứng lại, tôi lăn ra ngủ vùi. Sáng hôm sau, tôi dậy thật sớm và bắt tay vào việc. Một người cùng khám mà tôi rất kính nể vừa đi ngoài về. Thấy tôi, ông ta bước lại
- Mọi thứ ở bên Anh không có như bên ta. – Ông ta nhận xét. – Anh đã ở bên Anh bao giờ chưa?
- Anh cứ hình dung anh đang ở bên ấy và đang đi tàu. Người cùng phòng với anh suốt nửa ngày không thèm nói câu nào... Còn bên ta, anh đang bận hay đang rỗi, mặc, cứ tán phét. Chính vì thế mà chúng ta chẳng bao giờ thành người được cả.
Tôi vò nát tờ giấy trên đầu gối, quẳng xuống gậm giường và nhét bút vào túi. Thế là hết... Thế là tiêu tan cái mộng tiểu thuyết của tôi. Phải, trong tù, tôi không viết được gì cả. Nhưng nhà tù đã mở ra cho tôi chân lí trăm ngàn lần quý hơn cuốn sách thai nghén kia. Tôi đã hiểu ra vì sao chúng ta không thể thành người được.
Giờ chỉ cần ai nói rằng: “Không, chúng ta không thể thành người được... thì lập tức tôi giơ tay hô lớn: Tôi biết lí do rồi. Tôi trưởng thành hẳn lên.
Đức Mẫn dịch
(A-dít Nê-xin, Những người thích đùa, NXB Hội Nhà văn, 1998)
* Tác giả A-dít Nê-xin, (1915 –1995): tên khai sinh là Mehmet Nusret. Ông là một nhà văn châm biếm được ngưỡng mộ ở Thổ Nhĩ Kì và là tác giả của hơn 100 cuốn sách. Sau khi làm viên chức trong vài năm, ông trở thành người biên tập của một loạt tạp chí trào phúng châm biếm nghiêng về chủ nghĩa xã hội.
Câu 1. Xác định tình huống truyện Không thể thành người. Phân tích mối quan hệ giữa tình huống truyện với nội dung của truyện (0,5đ)
Câu 2. Truyện được thuật kể từ điểm nhìn trần thuật nào? Điều đó có ý nghĩa gì? Các cụm từ chỉ thời gian có tác dụng như thế nào trong trần thuật? (1đ)
Câu 3. Vì sao nhân vật “tôi” không thể thực hiện được ý định viết tiểu thuyết của mình? Một số người trong tù (nói chuyện với “tôi”) có đặc điểm chung nào? Đặc điểm ấy có tồn tại trong đời sống chúng ta không?(1đ)
Câu 4. Nêu ý nghĩa về phong cách viết của truyện? Điều đó có ý nghĩa gì? Em hãy dẫn tên tác giả hoặc tác phẩm văn học của Việt Nam có phong cách như vậy (1đ)
Câu 5.
Văn bản đọc hiểu Không thể thành người (A – dít Nê – xin) đã đề cập tới vấn đề nào của con người thời hiện đại? Em hãy vẽ sơ đồ thể hiện 4 vấn đề em cho là quan trọng nhất trong văn bản đó (0,5đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Nhận xét của em về nhân vật “tôi” và cho biết: Nhân vật này đem tới cho em nhận thức, bài học gì? Tác giả đã thể hiện quan điểm như thế nào về việc nhận thức, đánh giá con người và cuộc sống (Trả lời bằng đoạn văn khoảng 200 chữ) (2đ)
Câu 2.
Em hãy lựa chọn từ một vấn đề cần thiết đối với thanh niên (trong những vấn đề đã xác định ở câu 1) và viết bà luận (khoảng 500 chữ) thể hiện quan điểm của mình về vấn đề đó (4đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Xác định tình huống truyện Không thể thành người. Phân tích mối quan hệ giữa tình huống truyện với nội dung của truyện (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Mọi người gật đầu tán thưởng ý kiến: “Không thể được, anh em ơi, lũ chúng ta không thành người được!... chỉ “tôi” đã cả gan chống lại luận thuyết đó
- Mối quan hệ giữa tình huống truyện với nội dung của truyện: tình huống nhận thức đã mở đầu cho hành trình nhận thức của nhân vật “tôi”: từ phản đối luận thuyết đến đồng tình và hiểu sâu sắc “luận thuyết”
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2. Truyện được thuật kể từ điểm nhìn trần thuật nào? Điều đó có ý nghĩa gì? Các cụm từ chỉ thời gian có tác dụng như thế nào trong trần thuật? (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, nhớ lại kiến thức về điểm nhìn trần thuật
Chú ý các cụm từ chỉ thời gian
Lời giải chi tiết:
– Truyện được thuật kể từ điểm nhìn trần thuật của nhân vật “tôi” (với điểm nhìn bên trong và bên ngoài) để diễn tả nhận thức của “tôi” từ những tác động của cuộc sống.
– Các mốc thời gian quan trọng:
+ Hồi còn trẻ
+ Lần ấy
+ Từ bấy đến nay
+ Bây giờ .
- Ý nghĩa các mốc thời gian: để diễn tả quá trình/hành trình nhận thức của “tôi” về một vấn đề “chúng ta không thành người được!” → Nhận thức là cả một quá trình, không thể hiểu và thể hiện quan điểm, chính kiến của bản thân về một vấn đề khi chưa nhận thức sâu sắc về vấn đề đó.
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Vì sao nhân vật “tôi” không thể thực hiện được ý định viết tiểu thuyết của mình? Một số người trong tù (nói chuyện với “tôi”) có đặc điểm chung nào? Đặc điểm ấy có tồn tại trong đời sống chúng ta không?(1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Liên hệ tới thực tế đời sống
Lời giải chi tiết:
- “Tôi” không thể thực hiện được ý định viết tiểu thuyết: bởi thường xuyên bị làm phiền, không có thời gian để suy nghĩ, không dám nói thẳng và từ chối những câu chuyện làm mất thời gian của mình.
- Đặc điểm chung của một số người tù:
+ Hay viện dẫn các nước châu Âu để chứng tỏ sự hiểu biết của mình.
+ Lời nói mâu thuẫn với việc làm; nói một đằng, làm một nẻo (biết rõ con người
cần đọc sách, không để thời gian lãng phí bởi câu chuyện nhảm... nhưng mình lại làm những điều đó và không chịu đọc sách).
+ Thường xuyên làm phiền người khác, không nhận thức được việc mình làm
+ Biết rõ lí do vì sao khó thành người nhưng không sao khắc phục được.
- Hay viện dẫn các nước châu Âu để chứng tỏ sự hiểu biết của mình là một căn bệnh nặng, vẫn hiện hiện trong đời sống của chúng ta
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Nêu ý nghĩa về phong cách viết của truyện? Điều đó có ý nghĩa gì? Em hãy dẫn tên tác giả hoặc tác phẩm văn học của Việt Nam có phong cách như vậy (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và rút ra phong cách viết của truyện
Liên hệ tới tác giả tác phẩm văn học Việt Nam
Lời giải chi tiết:
- Truyện được viết theo phong cách trào phúng:
+ Khai thác mâu thuẫn giữa hành động với lời nói của các nhân vật.
+ Giọng văn hài hước châm biếm rất dí dỏm nhưng cũng rất sâu sắc .
+ Biệt tài của A-dít Nê-xin không chỉ ở chỗ biết phát hiện ra những khía cạnh tức cười trong những chuyện tưởng như không có gì đáng cười xảy ra hằng ngày.
+Ông biết “kể” lại chúng với một giọng hài hước khiến ta không thể không bật cười.
- Ý nghĩa:
+ Ông châm biếm các thói hư tật xấu của con người trong xã hội. (Học sinh tự đưa dẫn chứng.).
+ Truyện làm bật lên tiếng cười hài hước khiến độc giả tự soi vào mình.
Tên tác giả/tác phẩm (có phong cách trào phúng): Nguyễn Công Hoan, Vũ
Trọng Phụng,...
Câu 5 (0,5 điểm)
Văn bản đọc hiểu Không thể thành người (A – dít Nê – xin) đã đề cập tới vấn đề nào của con người thời hiện đại? Em hãy vẽ sơ đồ thể hiện 4 vấn đề em cho là quan trọng nhất trong văn bản đó (0,5đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Nhận xét của em về nhân vật “tôi” và cho biết: Nhân vật này đem tới cho em nhận thức, bài học gì? Tác giả đã thể hiện quan điểm như thế nào về việc nhận thức, đánh giá con người và cuộc sống (Trả lời bằng đoạn văn khoảng 200 chữ) (2đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức phân tích ở trên và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Học sinh viết đoạn văn đảm bảo độ dài và hướng vào các nội dung chính sau:
- Nhân vật “tôi” là người: (Học sinh tham khảo gợi ý sau; bổ sung theo ý hiểu
của cá nhân.)
+ Có nhận thức, quan điểm và dám bày tỏ nhận thức, quan điểm của mình.
+ Là người chắt lọc được những bài học quý giá từ cuộc sống.
+ Chưa quyết liệt bày tỏ hoặc từ chối những điều đáng từ chối... thái độ không quyết liệt của anh ta đã tiêu tán thời gian, khiến thời gian của mình trôi đi trong vô ích.
+ Quan điểm của nhân vật tôi đã thay đổi: Từ cả gan chống lại luận thuyết:
“Không thể được, anh em ơi, lũ chúng ta không thành người được!” – đến đồng tình và hiểu sâu sắc lí do con người không thể thành người. (chỉ cần ai nói rằng: “Không, chúng ta không thể thành người được!” thì lập tức “tôi” giơ tay hô lớn: “Tôi biết lí do rồi. Tôi trưởng thành hẳn lên.).
- Nhận thức, bài học từ “tôi”: Học sinh từ đúc rút (cần sát với biểu hiện của “tôi”)
- Quan điểm của tác giả:
+Để nhận thức sâu sắc một vấn đề cần có một quá trình.
+ Hiện thực cuộc sống trao cho con người những bài học quý giá.
+ Từ nhận thức/lời nói đến việc làm là một khoảng cách lớn.
+ Đánh giá một con người cần chú trọng đến hành động/việc làm của họ hơn là lời nói,
Câu 2.
|
Em hãy lựa chọn từ một vấn đề cần thiết đối với thanh niên (trong những vấn đề đã xác định ở câu 1) và viết bà luận (khoảng 500 chữ) thể hiện quan điểm của mình về vấn đề đó (3,5đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Em hãy lựa chọn từ một vấn đề cần thiết đối với thanh niên (trong những vấn đề đã xác định ở câu 1) và viết bà luận (khoảng 500 chữ) thể hiện quan điểm của mình về vấn đề đó (3,5đ) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
– Giới thiệu vấn đề nghị luận (xác định được vấn đề của tuổi trẻ). – Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ. |
|
Thân bài |
2,5đ |
* Làm rõ cách hiểu vấn đề; vai trò của vấn đề đối với tuổi trẻ - Cách hiểu vấn đề theo số đông. – Vai trò của vấn đề đối với học sinh lớp 12 trong thời điểm lựa chọn ngành nghề để học tập, để phát triển bản thân trong tương lai * Biểu hiện của vấn đề trong đời sống hiện đại - Một số dạng hiểu hiện (phân tích nguyên nhân và tác động đến giới trẻ, bản thân). - Nhận thức, hành động của thanh niên (Các góc nhìn về vấn đề). - Những tồn tại của vấn đề cần giải quyết (qua một số đối tượng). + Phân tích nguyên nhân, tác hại từ những tồn tại đã nêu *Đề xuất một số giải pháp (khả thi) để cải biến thực tại |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề. - Hành động của cá nhân (với bản thân, với những người gần gũi) |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng thành thạo thao tác so sánh, tổng hợp, chứng minh. - Dẫn chứng phong phú, đa dạng phù hợp với lí lẽ, luận điểm. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 5
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
BÍ ẨN CỦA LÀN NƯỚC
(Bảo Ninh)
(1) Các dòng sông trôi đi như thời gian, và cũng như thời gian, trên mặt nước các triền sông biết bao nhiêu là chuyện đời đã diễn ra. Nhất là về đêm, trên làn nước của dòng sông quê hương tôi lấp lánh hằng hà những đốm sáng bí ẩn, có cả điều bí ẩn của đời tôi.
(2) Năm ấy, nhằm trúng đỉnh lũ đêm Rằm tháng Bảy, một loạt bom Mĩ phá tan vệt đê canh giữ đằng trước làng tôi. Dứt dậy nổ của bom và tiếng gầm ghê rợn của máy bay cường kích là chuỗi ầm ầm long lở của dòng sông phá bụng đê tràn ngang vào đồng ruộng.
Từ trên điếm canh, tôi chạy lao về làng. Hồi chiều, hay tin vợ ở nhà trở dạ nhưng tôi không thể rời vị trí hộ đê. Bây giờ giời đất sập rồi, trong tôi chỉ còn con tôi, vợ tôi. Tôi dốc toàn lực bình sinh vào đôi chân. Đằng sau, cơn đại hồng thuỷ đuổi bén gót.
Nước đã ngập làng. Tôi về, kịp dìu vợ leo lên mái. Mái nhà tranh của vợ chồng tôi bị lôi đi trong đêm đen. Đến khi mái rạ sắp rã tan ra thì ơn trời nó vướng vào thân đa trước đình làng. Đã cả một đám đông bám trên các cành. Nhiều bàn tay chìa xuống giúp tôi đỡ vợ con trèo lên. Vợ tôi ôm khư khư đứa con mới sinh, nhất định không để tôi bế đỡ.
– Con trai... con trai mà... con trai... Để yên em ẵm, anh vụng...
Nhiều giờ trôi qua. Mưa tuôn, gió thổi. Mực nước không dâng cao hơn, nhưng chảy xiết hơn. Cây đa đầy người hơn. Tôi mỏi nhừ. Tay ôm chặt vợ, tay níu mình vào chạc cây. Vợ tôi yếu lả, ướt lướt thướt, lạnh ngắt.
Khoảng gần sáng, bỗng có tiếng quẫy nước ngay dưới cành đa của vợ chồng tôi. Một giọng nghẹn sặc với lên:
- Cứu mẹ con tôi mấy... cứu mấy, người ơi...
Một bàn tay nhớt và lạnh như tay ma rờ vào chân tôi đang buông thống. Tôi vội cúi xuống, đưa tay ra. Nhưng bàn tay của người đàn bà dưới nước truội đi, chìm nghỉm. Cành đa kêu rắc, chao mạnh. Vợ tôi “ối” kêu một tiếng thảng thốt, và “ùm” con trai tôi, đứa con sơ sinh tôi chưa được nhìn thấy mặt, tuột khỏi bọc ni-lông trên tay mẹ nó, sa xuống làn nước tối tăm.
- Con tôi...! – Vợ tôi hét rú lên và lao ngay lập tức xuống nước hòng chụp lấy con.
Tôi phóng mình theo. Nước lạnh, ngầu bùn, sâu hút và cuốn mạnh. Tôi vớ kịp thằng con, nhao vội lên, trao nó cho những bàn tay đang chìa xuống, rồi lại lặn tiếp ngay để cứu vợ. Nhiều người phi xuống theo để trợ sức tôi...
Tôi tỉnh lại, thấy trời sáng rồi và đã tạnh mưa. Tôi nằm trong khoang một ca-nô cứu nạn đầy ắp người. Hồi đêm, tôi đã vật lộn điên dại quyết sống mái một phen với làn nước giết người, nhưng tôi đã thua cuộc. Ứa ra cả máu tai máu mũi mà không những không cứu nổi vợ, đến thi thể cô ấy tôi cũng bất lực không tìm thấy. Khi ca-nô quân đội tới, mọi người đã phải dùng sức để buộc tôi rời mặt nước. Kiệt sức, tôi ngất đi. Khổ đau, tôi tỉnh dậy, nước mắt nóng rực, tế nhói. Một chị phụ nữ chen tới bên tôi, lên lời an ủi:
– Phận chị ấy đã vậy, thôi thì anh phải nén lòng lại, giữ sức khoẻ mà nuôi con.
Ơn trời, anh còn kịp cứu được cháu. Chao ôi, vừa kịp khóc chào đời đã trải một cơn kinh hoàng hú vía. Anh coi con anh này. Cứ như không. Đã bú, đã ngủ rồi đây này.
Ngoan chưa này... Ôi chao, nó tè dầm rồi này.
Chị nựng nịu, và từ từ giở bọc chăn chiên đang ủ kín con tôi. Chị thay tã cho nó. Tôi nhìn, chết lặng.
- Con tôi... – Tôi khóc, đỡ lấy bọc chăn. – Con tôi!
(3) Từ bấy tới nay, thời gian trôi qua và triền nước trôi đi, tôi đã có tuổi và con gái tôi đã thành một thiếu nữ. Nó là đứa con của làn nước, mọi người đều nói thế bởi vì chuyện nó sa xuống dòng nước lụt rồi được cha nó cứu lên thì cả làng ai cũng biết. Nhưng điều bí mật kia thì không ai hay, kể cả con gái tôi cũng không thể biết.
Chỉ có dòng sông biết.
Có ngày nào mà tôi không ra đê ngắm làn nước trôi. Vợ tôi, con tôi và người đàn bà vô danh nhìn tôi từ đáy nước. Thời gian, năm tháng cứ trôi, dòng sông và lịch sử, tất cả đều đổi thay nhưng mà niềm đau của đời tôi thì khôn nguôi bởi ấy là một niềm đau không thể nói nên lời.
(Bảo Ninh, Những truyện ngắn, NXB Trẻ, Tái bản 2021)
* Bảo Ninh sinh năm 1952, tên thật là Hoàng Ấu Phương, quê ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh (nay thuộc thành phố Đồng Hới), tỉnh Quảng Bình, Việt Nam. Ông từng chiến đấu ở mặt trận B3 Tây Nguyên. Từ 1976 – 1981, ông học đại học ở Hà Nội, sau đó làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam. Từ 1984 – 1986, ông học khoá 2 Trường Viết văn Nguyễn Du. Ông làm việc tại báo Văn nghệ Trẻ và là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1997.
Câu 1. Tóm tắt ngắn gọn nội dung truyện xác định tình huống thử thách đối với nhân vật “tôi” và ý nghĩa của tình huống ấy (1đ)
Câu 2. Nhân vật “tôi” là người thế nào? Em có đồng ý với nhân vật “tôi” để “điều bí mật kia không ai hay… chỉ có dòng sông biết” không? (1đ)
Câu 3. Xác định điểm nhìn trần thuật, nghệ thuật trần thuật trong văn bản Bí ẩn của làn nước. Việc sử dụng điểm nhìn, nghệ thuật trần thuật ấy có ý nghĩa như thế nào đối với việc truyền tải nội dung của văn bản? (1đ)
Câu 4. Bí ẩn của làn nước là gì? Em hãy xác định cảm hứng và thông điệp của văn bản bằng đoạn văn dài từ 7- 10 dòng (1đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Truyện ngắn Bí ẩn của làn nước có ý nghĩa như thế nào với đời sống hôm nay? Tác phẩm tác động tới nhận thức và cảm xúc của em như thế nào? (trả lời bằng đoạn văn khoảng 200 chữ) (2đ)
Câu 2.
Đọc đoạn trích từ văn bản Sống chết mặc bay của Phạm Huy Tốn sau đây và viết bài luận so sánh, đánh giá nét tương đồng và khác biệt với tác phẩm Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh (4đ)
SỐNG CHẾT MẶC BAY
(Phạm Huy Tốn)
Gần một giờ đêm, trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên lên to quá, khúc đê làng… thuộc phủ….. xem chừng núng thế lắm, hai ba đoạn đã thẩm lậu rồi, không khéo thì vỡ mất.
Dân phu kể hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ hết sức giữ gìn, kẻ thì thuổng kẻ thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy ngập quá khuỷu chân, người nào người nấy ướt lướt thướt như chuột lột. Tình cảnh trông thật thảm.
Tuy trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người gọi nhau sang hộ, nhưng xem chừng ai ai cũng mệt lử cả, ấy vậy mà trên trời vẫn mưa tầm tã trút xuống, dưới sông thì nước bốc lên. Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi sức trời! Thế đê không sao cự lại được với thế nước! Lo thay! Nguy thay! Khúc đề này hỏng mất, ấy lũ con dân đang chân lấm tay bùn, trăm lo nghìn sợ, đem thân yếu hèn mà chống với mưa to gió lớn, để bảo thủ lấy tính mạng, gia tài, thế thời quan cha mẹ ở đâu?
Thưa rằng: đang ở trong đình kia. Cách đó chừng bốn năm trăm thước. Đình ấy cũng ở trên mặt đề, nhưng cao mà vững chãi, dẫu nước to thế nào cũng không việc gì.
Trong đình đèn thắp sáng trưng, nha lệ, lính tráng, kẻ hầu người hạ, đi lại rộn ràng. Trên sập mới kê ở gian giữa, có một mình quan phụ mẫu, uy nghi chễm chệ ngồi. Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra, để cho tên người nhà quỳ dưới đất mà gãi. Một tên lính lệ đứng bên, cầm cái quạt lông chốc chốc lại phe phẩy.
Tên nữa đứng khoanh tay chực hầu điếu đóm. Bên cạnh ngài, mé tay trái, bát yến hấp đường phèn, để trong khay khảm, khói bay nghi ngút, tráp đổi mới chữ nhật để mở, trong ngăn bạc đẩy những trầu vàng... trông mà thích mắt.
Ngoài kia tuy mưa gió ầm ầm, dân phu rối rít, nhưng trong này xem chừng tĩnh mịch, nghiêm trang lắm: trừ quan phụ mẫu, mọi người không dám to tiếng.
So với cảnh trăm họ đang lấm láp, gội gió tắm mưa như đàn sâu lũ kiến ở trên đê, thời ở trong đình rất là nhàn nhã, đường bệ, nguy nga: nào quan ngôi trên, nào nha ngồi dưới, người nhà lính lệ khoanh tay sắp hàng, nghi vệ tôn nghiêm, như thần như thánh. Thỉnh thoảng nghe tiếng quan phụ mẫu gọi: “Điếu mày”, tiếng tên lính hầu thưa: “Dạ”; tiếng thầy để hỏi: “Bẩm bốc”, tiếng quan lớn truyền: “Kẻ này “Bát sách! Ăn. Người kia “Thất văn”!... “Phỗng” lúc mau, lúc khoan, dung êm ái; khi cười, khi nói, vui vẻ, dịu dàng. Thật là tôn kính, xứng đáng với một vị phúc tinh.[...]
Quan lớn ù thêm. Người đầu cánh, kẻ cuối tay, tranh nhau phô bài để lớn rõ rằng: “Mình có đôi mà không dám phỗng qua mặt!”. Hèn chi mà quan chẳng ù luôn! Quan ù ấy là hạnh phúc....
Khi đó, ván bài quan đã chờ rồi. Ngài xơi xong bát yến vừa xong, ngồi khểnh vuốt râu rung đùi, mắt đang mãi trông đĩa nọc, bỗng nghe ngoài xa tiếng kêu vang dậy trời đất. Mọi người đều giật nảy mình, quan vẫn điềm nhiên, chỉ lăm le chờ người ta bốc trúng quân mình chờ mà hạ, vì ngài sắp ù to.
Có người khẽ nói:
- Bẩm, dễ có khi đê vỡ?
- Bẩm... quan lớn... đê vỡ mất rồi!
Ngài cau mặt, gắt rằng:
- Mặc kệ! [...]
- Đê vỡ rồi!... Đê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày. Có biết không... Lính đâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đây như vậy? Không còn phép tắc gì nữa à?
[...]
(Nguyễn Cừ, Phạm Duy, Phạm Duy Tốn – Tác phẩm chọn lọc, NXB Văn học 2002)
(*) “Sống chết mặc bay” đăng trên tạp chí Nam Phong, số 18/12/1918.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1. Tóm tắt ngắn gọn nội dung truyện xác định tình huống thử thách đối với nhân vật “tôi” và ý nghĩa của tình huống ấy (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Tóm tắt: “Tôi” nhớ lại đỉnh lũ đêm Rằm tháng Bảy, một loạt bom Mĩ phá
tan vệt đê, “tôi” hộ đê, vợ vừa sinh con trai, lũ cuốn nhà, cả nhà mắc lại trên cành đa cùng nhiều người trong đêm. Đúng lúc có người kêu cứu mẹ con tôi với, “tôi” với tay thì cành gãy, cả vợ con rơi xuống nước. “Tôi” lao vào dòng nước nhưng chỉ cứu được đứa bé gái. Ai cũng tưởng rằng “tôi” cứu được con. Tôi nuôi bé gái khôn lớn và ôm nỗi đau cùng bí mật chỉ dòng nước biết.
* Tình huống thử thách bất thường nằm ở đoạn số 2: người kêu, cành cây gãy, vợ con rơi xuống nước, “tôi” lao vào dòng nước nhưng chỉ cứu được đứa bé gái (con người kêu cứu). Ai cũng tưởng rằng “tôi” cứu được con.
+ Tình huống, khoảnh khắc gay cấn, căng thẳng, sự đe doạ dồn dập... tính mạng người khó bảo toàn.
+ Tình huống phản ánh được hiện thực cuộc sống khó khăn: Chiến tranh và thiên tại.
+ Con người không thể toan tính buộc phải hành động gấp,... Bối cảnh buộc mỗi con người bộc bộ nhân cách, bản tính của mình.
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2. Nhân vật “tôi” là người thế nào? Em có đồng ý với nhân vật “tôi” để “điều bí mật kia không ai hay… chỉ có dòng sông biết” không? (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nêu ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Về nhân vật “tôi”: Học sinh dựa vào gợi ý sau và bổ sung dẫn chứng
+ Là người trải qua nhiều đau thương, mất mát, sống sâu sắc.
+ Là người trách nhiệm với vợ con, với xã hội.
+ Là người giàu yêu thương, nhân ái.
- Về việc giữ bí mật: Học sinh tự nêu ý kiến cá nhân (chú ý đến giả định nếu công khai/ không công khai bí mật điều gì sẽ xảy ra).
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Xác định điểm nhìn trần thuật, nghệ thuật trần thuật trong văn bản Bí ẩn của làn nước. Việc sử dụng điểm nhìn, nghệ thuật trần thuật ấy có ý nghĩa như thế nào đối với việc truyền tải nội dung của văn bản? (1đ) |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về điểm nhìn trần thuật và nghệ thuật trần thuật
Lời giải chi tiết:
- Điểm nhìn: Thuật kể từ điểm nhìn của nhân vật “tôi” (phối hợp điểm nhìn bên ngoài và điểm nhìn bên trong); điểm nhìn thuật trần thuật phù hợp để truyền tải nội dung của văn bản: những sự việc xảy ra với gia đình nhân vật “tôi” trong quá khứ nay đã thành nỗi đau không thể nguôi quên.
→ Nghệ thuật trần thuật từ người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, với điểm nhìn từ bên trong (suy ngẫm đoạn đầu và cuối) đã giúp độc giả đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật, khiến tác phẩm trở nên chân thực, giàu chất trữ tình.
- Nhịp điệu trần thuật:
+ Đoạn số 2: sự việc, chi tiết diễn ra nhanh, gấp gáp, nhịp câu ngắn để diễn tả tình thế hiểm nguy, kịch tính của cuộc sống;
+ Đoạn 1, 3 sử dụng điểm nhìn từ bên trong, nhịp điệu chậm để diễn tả nỗi đau, những suy nghĩ, trải nghiệm sâu sắc từ tấm lòng nhân ái của nhân vật “tôi”
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Bí ẩn của làn nước là gì? Em hãy xác định cảm hứng và thông điệp của văn bản bằng đoạn văn dài từ 7- 10 dòng (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Rút ra nội dung chính từ đó suy ra thông điệp
Lời giải chi tiết:
– Bí ẩn của làn nước: Vợ nhân vật “tôi” sinh con trai nhưng đứa bé anh cứu sống là con gái. Điều mọi người không biết là: vợ anh sinh con trai và ngay trước khi cành đa gãy có một người mẹ kêu: “cứu con tôi với!”. “Tôi” mất cả vợ con trong cơn lũ dữ.
– Cảm hứng: hiện thực; cảm thương
– Thông điệp
+ Trong những tình huống nguy nan, ranh giới sống chết chỉ như sợi tóc
con người vẫn có thể sống yêu thương, đùm bọc, sẻ chia, thậm chí hi sinh cả sinh mạng cho người khác, cao thượng, nhân hậu.
+ Trong cuộc sống vô tận, thời gian có thể xoá nhoà đi nhiều thứ song có những nỗi đau, mất mát còn đọng mãi, không thể nguôi yên hành động cao cả, tình thương và đức hi sinh đôi khi khiến người ta vẫn phải chịu ám ảnh, xót xa.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Truyện ngắn Bí ẩn của làn nước có ý nghĩa như thế nào với đời sống hôm nay? Tác phẩm tác động tới nhận thức và cảm xúc của em như thế nào? (trả lời bằng đoạn văn khoảng 200 chữ) (2đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức phân tích ở trên và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Học sinh viết đoạn đảm bảo độ dài và hướng vào các nội dung chính sau:
- Truyện ngắn Bí ẩn của làn nước có ý nghĩa:
+ Đề cập đến hiện thực – tình huống bất thường của cuộc sống – thiên tai lũ lụt) xảy ra hằng năm trên khắp đất nước ta và thế giới.
+ Sự mất mát, nỗi đau và tình người trong hoạn nạn.
– Tác động đến nhận thức, cảm xúc: Học sinh tự làm (Gợi ý: nhận thức cuộc sống luôn có biến động bất thường (thiên tai, tai nạn,...); Cảm xúc: đau xót, cảm thông, trân trọng cách ứng xử của nhân vật “tôi”).
Câu 2.
|
Đọc đoạn trích từ văn bản Sống chết mặc bay của Phạm Huy Tốn sau đây và viết bài luận so sánh, đánh giá nét tương đồng và khác biệt với tác phẩm Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Đọc đoạn trích từ văn bản Sống chết mặc bay của Phạm Huy Tốn sau đây và viết bài luận so sánh, đánh giá nét tương đồng và khác biệt với tác phẩm Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Giới thiệu hai tác phẩm và tác giả cần so sánh; vấn đề (điểm chung giữa hai tác phẩm đề yêu cầu so sánh). - Nêu bình diện cần so sánh và vị trí của chúng đối với tác phẩm/dư luận. |
|
Thân bài |
2,5đ |
* Điểm chung ở hai tác phẩm (dùng hình ảnh/chi tiết giàu ý nghĩa) – Thể loại: truyện ngắn - Bối cảnh, tình huống gay cấn, nguy hiểm bởi thiên tai, lũ lụt → Hai tác giả chọn thể loại truyện ngắn và bối cảnh lũ lụt để phản ánh cuộc sống và bản chất con người. - Phong cách hiện thực; tư tưởng nhân đạo (xót thương thảm cảnh con người trước thiên tai...). * Điểm khác biệt - Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn: tố cáo sự vô đạo, bất nhân của bọn quan lại, mang đậm giá trị hiện thực, nhân đạo cao cả về tình người. - Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh: Trong những tình huống nguy nan, ranh giới sống chết chỉ như sợi tóc, con người vẫn có thể sống yêu thương, đùm bọc, sẻ chia, thậm chí hi sinh cả sinh mạng cho người khác, cao thượng, nhân hậu. * Lí giải sự khác biệt: căn cứ vào hoàn cảnh ra đời của hai tác phẩm |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức, đánh giá của cá nhân về ý nghĩa của từng tác phẩm theo bình diện đã so sánh ở trên. - Đánh giá sự đóng góp, thành công của từng nhà văn (rút ra từ phần phân tích trên) đối với nền văn học. |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng thành thạo thao tác so sánh, tổng hợp, chứng minh. - Dẫn chứng phong phú, đa dạng phù hợp với lí lẽ, luận điểm. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 6
Đề thi
I. PHẦN ĐỌC - HIỂU
Đọc ngữ liệu sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
(Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Thị Diễm là người một họ lớn ở huyện Đông Sơn em họ ngoại của Trần Khát Chân; cùng người đàn bà họ Lý quê ở huyện Cẩm Giàng, cùng mở ngôi hàng bán phấn đối cửa nhau tại bên ngoài thành Tây Đô . Xóm giềng gần gặn, tình nghĩa ngày một thân nhưng cả hai đều chưa con cái. Rồi đó, Nguyễn Thị quả sinh con gái đặt tên là Lệ Nương, Lý thị quả sinh con trai đặt tên là Phật Sinh. Hai trẻ đến khi trưởng thành đều ham nghề nghiên bút. Vì cớ hai bên cha mẹ thân mật, nên họ cùng đi lại với nhau suồng sã, thường cùng nhau xướng họa thơ từ. Tuy kỳ cưới xin chưa định, nhưng hai tình gắn bó, đã chẳng khác chi vợ chồng vậy.Vào năm Kỷ Mão (1399) đời Trần, xảy ra cái vạ Trần Khát Chân (7), Lệ Nương bị bắt vào trong cung, Phật Sinh rất là thất vọng. Gặp đêm trừ tịch gần hết canh năm, Sinh còn đương nằm ngủ, chợt nghe có tiếng ấm ới. Sinh vùng dậy đẩy cửa ra xem, thấy có hơn trăm chiếc kiệu hoa rậm rịch đi qua, và có một bức thư bằng lụa cài vào ngưỡng cửa, trong thư chính là bút tích của Lệ Nương đã viết. […] Sinh được thư rất là đau thương, bỏ cả ăn ngủ. Rồi vì cớ hôn sự đã hỏng, bèn thiên ra ở ngoài miền đông. Nhưng nặng tình với Lệ Nương, Sinh chưa nỡ lấy ai cả.)
Cuối đời nhà Hồ, tướng Minh là Trương Phụ chia binh vào cướp, lấn chiếm Kinh kỳ. Sinh nghe Hán Thương phải chạy, đoán chắc là Lệ Nương cũng phải đi theo, bèn từ biệt mẹ đi vào Nam, mong được gặp mặt. Lặn lội hàng tuần mới đến cửa bể Thần Phù, nghe tướng giặc Lã Nghị bắt cướp mấy trăm phụ nữ hiện đóng giữ ở phủ Thiên Trường trơ trọi không có quân ứng viện, Sinh đoán chắc Lệ Nương cũng ở trong ấy. Nhưng đất khách tay không, chẳng làm gì được. Chợt gặp khi vua Giản Định nổi quân lên ở châu Trường An, nhưng vì ít binh không địch nổi với số nhiều của quân giặc, muốn lui về Nghệ An. Sinh muốn nhờ thế quân của vua, đánh úp mà cướp lại Lệ Nương, bèn đến trước ngựa dâng một bài sách […]
Sinh đã dâng bài sách đó lên vua, vua Giản Định xem mà khen là người giỏi, cấp cho năm trăm quân, sai đi đánh phủ Thiên Trường. Sinh khảng khái thề cùng quân sĩ, dụ bảo họ về sự hưng phục nghiệp Trần, ai nấy đều hăng hái, hăm hở. Sinh cùng nghĩa quân đã chiến thắng. Sinh đã gặp một bà cụ và biết về cái chết của Lệ Nương. Bà cụ đã đưa Sinh đến ngôi mộ.
Sinh đau thương vô hạn. Đêm hôm ấy chàng ngủ ở mộ, khóc mà nói rằng:
- Ta vì nàng mà từ xa đến đây, nàng có thể cùng ta gặp gỡ trong giấc chiêm bao để cho ta một lời yên ủi hay không?
[…]
Vợ chồng bèn cùng nhau âu yếm chuyện trò, y như lúc sống. Sinh nói:
- Nàng đã không may, vậy anh đem linh thần về, khỏi uổng một chuyến đi không lại trở về rồi.
Nàng nói:
- Thiếp rất cảm tấm thâm tình ấy. Song thiếp cùng hai vị mỹ nhân gần gụi lâu ngày, giao tình thân mật, không nỡ một sớm bỏ đi. Phương chi chốn này nước non trong sáng, mây khói vật vờ, thần yên phách yên, bất tất phiền chàng dời đổi nữa.
Sau khi gà gáy ba hồi, hai người vội cùng nhau đứng dậy từ biệt. Ngày hôm sau, Sinh đem mấy lạng bạc, mua quan tài và nước thơm, cải táng cho nàng và cả hai mỹ nhân. Đêm sau mộng thấy ba người đến tạ ơn, chàng đương toan lại cùng trò chuyện thì thoắt chốc cả ba đều biến mất.
Chàng buồn rầu quay về, từ đấy không lấy ai nữa.
(Trích Chuyện Lệ Nương, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, in trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 259 - 260)
Thực hiện yêu cầu:
Câu 1. Văn bản "Chuyện Lệ Nương" thuộc thể loại nào? Tác phẩm này có đặc điểm gì nổi bật?
Câu 2. Liệt kê các sự kiện chính trong "Chuyện Lệ Nương" và cho biết sự kiện nào là quan trọng nhất?
Câu 3. Phật Sinh đã làm gì để tìm lại Lệ Nương sau khi đất nước rơi vào tay giặc Minh?
Câu 4. Phân tích ý nghĩa của giấc mơ Phật Sinh gặp lại Lệ Nương. Yếu tố huyền bí này có vai trò gì trong câu chuyện?
Câu 5. Theo em, câu chuyện "Chuyện Lệ Nương" mang lại thông điệp gì về tình yêu và số phận trong bối cảnh xã hội và lịch sử thời kỳ đó?
II. PHẦN LÀM VĂN
Câu 1. Viết đoạn nghị luận (khoảng 200 chữ) nhận xét nét đặc sắc về nghệ thuật của đoạn trích truyện Chuyện Lệ Nương.
Câu 2. “Tuổi trẻ không nhất thiết phải gắn liền với sức khỏe và vẻ tráng kiện bên ngoài, mà gắn với ý chí mạnh mẽ, trí tưởng tượng phong phú, sự mãnh liệt của tình cảm và cảm nhận phấn khởi với suối nguồn cuộc sống. Tuổi trẻ thể hiện ở lòng can đảm chứ không phải tính nhút nhát, ở sở thích phiêu lưu trải nghiệm hơn là ở sự tìm kiếm an nhàn.”
(Mac Anderson, Điều kỳ diệu của thái độ sống, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2017, tr. 68)
Em có đồng tình với quan điểm trên không? Hãy trình bày suy nghĩ của bản thân qua một bài văn nghị luận xã hội (khoảng 400-500 chữ).
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC - HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các thể loại đã học để xác định
Cách giải:
"Chuyện Lệ Nương" thuộc thể loại truyền kỳ. Tác phẩm nổi bật với yếu tố huyền bí và lồng ghép vào bối cảnh lịch sử.
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để xác định cốt truyện
Cách giải:
Các sự kiện chính:
- Lệ Nương và Phật Sinh có tình cảm từ nhỏ.
- Lệ Nương bị bắt vào cung.
- Phật Sinh tìm kiếm Lệ Nương sau khi giặc Minh xâm lược.
- Phật Sinh biết tin Lệ Nương đã chết và gặp nàng trong mơ.
- Sự kiện quan trọng nhất là Phật Sinh gặp lại Lệ Nương trong giấc mơ.
Câu 3:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để tìm chi tiết phù hợp
Cách giải:
Phật Sinh đi vào Nam, tìm đến phủ Thiên Trường sau khi nghe tin giặc Minh bắt nhiều phụ nữ, hy vọng gặp lại Lệ Nương.
Câu 4:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về yếu tố kì ảo, huyền bí trong truyện truyền kì để phân tích tác dụng
Cách giải:
Giấc mơ giúp Phật Sinh gặp lại Lệ Nương, thể hiện tình yêu và nỗi đau của chàng. Yếu tố huyền bí giúp nhấn mạnh tình yêu vượt qua cả cái chết.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý: Câu chuyện thể hiện tình yêu chung thủy, đau thương trong bối cảnh lịch sử loạn lạc, đồng thời phản ánh số phận con người trước biến cố thời cuộc.
Cách giải:
"Chuyện Lệ Nương" gửi gắm những thông điệp sâu sắc về tình yêu và thân phận con người. Trước hết, tác phẩm khẳng định sức mạnh vĩnh cửu của tình yêu chung thủy. Đồng thời, câu chuyện cũng phản ánh số phận bé nhỏ, bất lực của con người trước những thay đổi dữ dội của lịch sử và thời cuộc. Trong bối cảnh xã hội loạn lạc, những ước mơ, hạnh phúc cá nhân dễ dàng bị dập tắt, con người trở thành nạn nhân của những biến cố ngoài ý muốn. Qua đó, tác phẩm vừa ngợi ca vẻ đẹp bất diệt của tình yêu, vừa gợi lên sự đồng cảm về thân phận con người trong dòng chảy lịch sử.
II. PHẦN LÀM VĂN
Câu 1:
Phương pháp:
1. Mở đoạn:
- Giới thiệu truyện "Chuyện Lệ Nương" trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.
- Nhấn mạnh vai trò của yếu tố nghệ thuật trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm.
2. Thân đoạn:
* Sử dụng yếu tố kỳ ảo:
- Chi tiết gặp gỡ trong mộng giữa Phật Sinh và Lệ Nương là yếu tố kỳ ảo tiêu biểu.
- Yếu tố kỳ ảo này không chỉ làm câu chuyện thêm phần lôi cuốn mà còn thể hiện triết lý về sự hòa hợp giữa cõi âm và dương, giữa con người và linh hồn.
* Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế:
- Tâm trạng đau thương, khắc khoải của Phật Sinh sau khi biết về cái chết của Lệ Nương được miêu tả một cách cảm động.
- Những đối thoại trong mộng giữa hai người cũng lột tả sâu sắc nỗi đau và sự tiếc nuối.
* Cách kể chuyện xen lẫn lịch sử và huyền thoại: Truyện kết hợp khéo léo giữa bối cảnh lịch sử (như việc Trương Phụ xâm lược) với yếu tố huyền ảo, tạo nên chiều sâu lịch sử và cảm xúc.
3. Kết đoạn:
- Khẳng định sự đặc sắc của nghệ thuật trong việc xây dựng tình tiết và tâm lí nhân vật.
- Nghệ thuật kể chuyện góp phần làm nổi bật giá trị nhân văn và triết lý của tác phẩm.
Cách giải:
“Chuyện Lệ Nương” trích trong “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ là một thiên truyện đặc sắc, trong đó nghệ thuật kể chuyện đóng vai trò then chốt tạo nên sức hút và chiều sâu cho tác phẩm. Nổi bật nhất là việc tác giả khéo léo sử dụng yếu tố kỳ ảo, đặc biệt là chi tiết cuộc gặp gỡ trong mộng giữa Phật Sinh và Lệ Nương. Chi tiết này không chỉ làm câu chuyện thêm phần li kỳ, hấp dẫn mà còn thể hiện một triết lý sâu xa về sự hòa hợp giữa cõi âm và dương, giữa con người và linh hồn, khẳng định tình yêu có thể vượt qua mọi ranh giới của sự sống và cái chết. Bên cạnh đó, nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật cũng rất tinh tế. Nỗi đau đớn, khắc khoải đến tuyệt vọng của Phật Sinh khi biết tin người yêu qua đời, cùng những lời đối thoại đầy xúc động trong mộng đều được khắc họa chân thực, khiến người đọc không khỏi xót thương, đồng cảm. Hơn nữa, cốt truyện còn được dệt nên bởi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những sự kiện lịch sử có thực như cuộc xâm lược của giặc Minh dưới sự chỉ huy của Trương Phụ với những yếu tố huyền ảo. Sự kết hợp này vừa tạo nên bối cảnh sống động, vừa làm nổi bật số phận con người trong dòng chảy biến động của thời cuộc. Có thể nói, chính những nét nghệ thuật đặc sắc ấy đã góp phần quan trọng trong việc thể hiện thành công giá trị nhân văn và chiều sâu tư tưởng của tác phẩm, để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng độc giả.
Câu 2:
Phương pháp:
* Mở bài:
- Dẫn dắt vào vấn đề: Tuổi trẻ thường được gắn với sức khỏe, vẻ ngoài tráng kiện, nhưng những giá trị nội tại như ý chí, trí tưởng tượng và sự mạnh mẽ tinh thần lại quan trọng hơn.
- Giới thiệu và nêu vấn đề nghị luận: Quan điểm của Mac Anderson trong Điều kỳ diệu của thái độ sống về tuổi trẻ không chỉ gắn liền với sức khỏe mà còn là ý chí mạnh mẽ và sự dũng cảm trong cuộc sống.
* Thân bài:
1. Giải thích quan điểm:
- Ý chí mạnh mẽ và sự kiên trì: Tuổi trẻ không chỉ được định nghĩa qua sự tráng kiện về thể chất, mà còn thông qua tinh thần không chịu khuất phục trước khó khăn, kiên trì đạt được mục tiêu và vượt qua thử thách.
- Trí tưởng tượng phong phú và khát khao sáng tạo: Tuổi trẻ thường được biết đến với sự sáng tạo và trí tưởng tượng phong phú, giúp họ có khả năng tạo ra những ý tưởng mới mẻ và đột phá.
- Tình cảm mãnh liệt và cảm xúc dâng trào: Những cảm xúc mạnh mẽ, nhiệt huyết trong tình yêu, đam mê, và mong muốn thay đổi bản thân, xã hội chính là những đặc điểm nổi bật của tuổi trẻ.
- Lòng can đảm, dám nghĩ dám làm: Tuổi trẻ cần thể hiện qua sự dũng cảm, khát vọng phiêu lưu và trải nghiệm, hơn là tìm kiếm sự an nhàn, ổn định sớm.
2. Bàn luận về giá trị của quan điểm:
- Tầm quan trọng của ý chí mạnh mẽ: Ý chí là sức mạnh bên trong giúp con người vượt qua những khó khăn, thử thách. Không phải ai có thể chất mạnh mẽ cũng có thể dễ dàng đối mặt với những thất bại hay khó khăn trong cuộc sống.
- Trí tưởng tượng và sự sáng tạo: Xã hội phát triển nhờ những ý tưởng mới lạ, đột phá. Nhiều phát minh và thành tựu lớn đều bắt nguồn từ trí tưởng tượng không giới hạn của người trẻ.
- Tình cảm mãnh liệt và lòng nhiệt huyết: Người trẻ luôn là động lực chính thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Sự nhiệt huyết giúp họ sống có ý nghĩa và góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn.
- Lòng can đảm và sở thích phiêu lưu: Những người trẻ có lòng dũng cảm dám bước ra khỏi vùng an toàn sẽ có những trải nghiệm quý giá, từ đó trưởng thành và hiểu biết hơn về cuộc sống.
3. Phản đề (nếu có):
Một số ý kiến cho rằng tuổi trẻ cần có sức khỏe và thể lực tốt để thực hiện các công việc, ước mơ. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể có được sức khỏe lý tưởng, điều quan trọng là khả năng vượt qua mọi giới hạn của bản thân.
4. Liên hệ thực tiễn:
- Những tấm gương người trẻ thành công nhờ ý chí mạnh mẽ, dám vượt qua nghịch cảnh, không phụ thuộc vào sức khỏe thể chất như Nick Vujicic, Stephen Hawking.
- Tuổi trẻ Việt Nam hiện nay đang khẳng định vai trò qua những đóng góp sáng tạo, dấn thân vào các hoạt động xã hội, khởi nghiệp, và không ngại khó khăn.
5. Ý kiến trái chiều và phản bác
- Ý kiến trái chiều: Một số người cho rằng sức khỏe và ngoại hình cũng rất quan trọng trong việc đánh giá tuổi trẻ.
- Phản bác: Tuy sức khỏe là cần thiết, nhưng không thể đánh giá một người chỉ dựa vào vẻ bề ngoài. Sự thực hiện và phát triển nội tâm mới là điều quyết định giá trị của tuổi trẻ.
6. Giải pháp và khuyến khích
- Khuyến khích tinh thần trải nghiệm: Các bậc phụ huynh và giáo viên nên tạo điều kiện cho thanh thiếu niên tham gia vào các hoạt động ngoại khóa, tình nguyện.
- Tạo môi trường thuận lợi: Cần xây dựng môi trường nơi thanh niên có thể tự do bộc lộ cảm xúc và sáng tạo.
* Kết bài:
- Khẳng định lại giá trị của quan điểm: Tuổi trẻ không chỉ là sức mạnh thể chất mà còn là ý chí mạnh mẽ, sự sáng tạo và lòng can đảm. Những yếu tố này mới thực sự tạo nên giá trị của tuổi trẻ.
- Lời khuyên cho giới trẻ: Hãy sống dũng cảm, nhiệt huyết, và sáng tạo để thể hiện đúng tinh thần của tuổi trẻ.
Cách giải:
Khi nhắc đến tuổi trẻ, người ta thường nghĩ ngay đến hình ảnh của những thân hình cường tráng, những sức sống dồi dào và sự khỏe mạnh về thể chất. Thế nhưng, Mac Anderson trong tác phẩm "Điều kỳ diệu của thái độ sống" đã đưa ra một quan điểm hết sức sâu sắc khi cho rằng tuổi trẻ không nhất thiết phải gắn liền với sức khỏe và vẻ tráng kiện bên ngoài, mà quan trọng hơn là gắn với ý chí mạnh mẽ, trí tưởng tượng phong phú, sự mãnh liệt của tình cảm và lòng can đảm. Quan điểm này mở ra một cách hiểu mới về giá trị đích thực của tuổi trẻ, không nằm ở vẻ bề ngoài mà ở những phẩm chất tinh thần bên trong.
Trước hết, cần hiểu rõ ý nghĩa trong lời phát biểu của Anderson. Tác giả không phủ nhận vai trò của sức khỏe thể chất, nhưng ông nhấn mạnh rằng tuổi trẻ thực sự được định nghĩa bởi sức mạnh nội tâm. Đó là ý chí kiên cường giúp chúng ta đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã, là trí tưởng tượng phong phú mở ra những chân trời sáng tạo, là sự mãnh liệt trong tình cảm để yêu thương hết mình và cống hiến nhiệt thành, và trên hết là lòng can đảm để dám phiêu lưu, trải nghiệm thay vì tìm kiếm sự an nhàn. Những phẩm chất này mới chính là thước đo giá trị thực sự của một người trẻ.
Quan điểm này hoàn toàn có cơ sở trong thực tế cuộc sống. Lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều tấm gương trẻ tuổi tỏa sáng không phải bằng thể xác mà bằng tinh thần. Nick Vujicic, chàng trai sinh ra không có tay chân, nhưng bằng ý chí phi thường đã trở thành diễn giả nổi tiếng toàn cầu. Stephen Hawking, nhà vật lý thiên tài chiến đấu với bệnh tật suốt đời nhưng trí tuệ và khát vọng khám phá vũ trụ của ông vẫn mãi trường tồn. Ở Việt Nam, chúng ta thấy những bạn trẻ khởi nghiệp sáng tạo, những tình nguyện viên xung phong đến vùng khó khăn, tất cả họ đang sống một tuổi trẻ đích thực bằng nhiệt huyết và lòng dũng cảm.
Dĩ nhiên, không ai có thể phủ nhận vai trò của sức khỏe thể chất. Một cơ thể khỏe mạnh sẽ là phương tiện quý giá để thực hiện những ước mơ. Tuy nhiên, nếu chỉ có sức khỏe mà thiếu đi ý chí, khát vọng và lòng can đảm thì tuổi trẻ ấy cũng chỉ như một đóa hoa đẹp nhưng sớm tàn phai. Ngược lại, một người có thể không may mắn về sức khỏe, nhưng nếu sở hữu ý chí mạnh mẽ và tinh thần kiên cường, họ vẫn có thể viết nên những trang đời ý nghĩa.
Để tuổi trẻ thực sự tỏa sáng, mỗi chúng ta cần không ngừng rèn luyện cả thể chất lẫn tinh thần. Chúng ta cần dám ước mơ, dám thất bại và dám đứng dậy. Chúng ta cần nuôi dưỡng trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo. Quan trọng hơn cả, chúng ta cần sống với trái tim nhiệt huyết và tinh thần trách nhiệm. Gia đình, nhà trường và xã hội cần tạo môi trường thuận lợi để người trẻ được phát huy hết tiềm năng, được thử nghiệm và trưởng thành từ những trải nghiệm.
Tóm lại, quan điểm của Mac Anderson là một triết lý sâu sắc về tuổi trẻ. Nó nhắc nhở chúng ta rằng giá trị của tuổi trẻ không nằm ở vẻ hào nhoáng bên ngoài, mà ở sức mạnh nội tâm, ở khát vọng cống hiến và lòng dũng cảm dấn thân. Tuổi trẻ chỉ thực sự ý nghĩa khi chúng ta sống hết mình, không ngừng học hỏi, sáng tạo và cống hiến cho cộng đồng. Như nhà văn Trần Mai Ninh từng viết, tuổi hai mươi làm gì cũng được, chỉ đừng bỏ phí tuổi hai mươi. Hãy để tuổi trẻ của chúng ta là một bản nhạc hào hùng của ý chí, nhiệt huyết và lòng can đảm.
Đề thi học kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau:
CHIÊM NGƯỠNG DI SẢN
VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM - HỒN THIÊNG DÂN TỘC
1.1. Lịch sử hình thành của Văn Miếu Quốc Tử Giám
Văn Miếu được xây dựng vào những năm 1070 dưới thời vua Lý Thánh Tông. Nơi đây thờ Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối. Vào những năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập thêm một công trình bên cạnh mang tên Quốc Tử Giám - Trường đại học dành riêng cho con cái của vua chúa và các gia đình quan lại, quý tộc. Cho đến thời vua Trần Thái Tông, Quốc Tử Giám được đổi tên thành Quốc học viện. Nơi đây thu nhận con cái thường dân ưu tú và có sức học xuất sắc. Sang đến thời hậu Lê, vào đời vua Lê Thánh Tông thì nơi này lại bắt đầu cho dựng bia của những người thi đỗ tiến sĩ.
Hình 1: Khu nhà bia tiến sĩ
(https://nguonluc.com.vn/bia-da-van-mieu-quoc-tu-giam-va-triet-ly-giao-duc-coitrong- hien-tai-a7247.html)
1.2. Kiến trúc độc đáo của di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám
Quần thể di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám hiện tại có diện tích rộng hơn 54.300m2. Nơi này bao gồm rất nhiều công trình kiến trúc lớn nhỏ khác nhau. Khuôn viên được bao bọc bởi những bức tường gạch. Trải qua rất nhiều lần tu sửa, quần thể di tích này còn lại các công trình như: Đại Trung môn, Hồ Văn, Văn Miếu môn, Khuê Văn Các, bia tiến sĩ, Đại Thành môn, nhà Thái Học, giếng Thiên Quang.
Phía Đông và Tây là nhà giảng dạy với 2 dãy đều có tổng cộng 14 gian. Phòng học của học sinh tam xá đều có tất cả ba dãy, mỗi dãy gồm 25 gian, mỗi gian chỉ chứa 2 người. Kiến trúc Văn Miếu mà bạn thấy hiện nay đều là kiến trúc thời đầu nhà Nguyễn. Quần thể kiến trúc của Văn Miếu được xây dựng theo bố cục đối xứng theo từng lớp, từng khu dựa trên trục Bắc Nam.
Phía chính diện của Văn Miếu có một hồ nước lớn gọi là hồ Văn Chương. Giữa hồ có gò Kim Châu, trước đây có thêm lầu để ngắm cảnh. Cổng chính có tứ trụ, hai bên tả hữu có phần bia “Hạ Mã”, xung quanh khu vực được xây tường rào cao bao quanh.
Hình 2: Khuê văn các (https://www.vntrip.vn/cam-nang/van-mieu-quoc-tu-giam-21829)
1.3. Văn Miếu Quốc Tử Giám có ý nghĩa gì?
Văn Miếu Quốc Tử Giám không đơn thuần chỉ là trường đại học đầu tiên của nước Việt mà còn là biểu tượng của truyền thống hiếu học, là một ngọn đuốc luôn rực cháy trong hành trình thắp sáng tri thức. Đến đây, bạn sẽ cảm nhận được những động lực to lớn từ những cái tên khắc trên bảng vàng từ thuở ông cha ta. Ngày nay, Quốc Tử Giám còn là nơi tổ chức các hoạt động khen tặng những học sinh ưu tú, tổ chức các hội thơ và là điểm tham quan thu hút đông đảo du khách. Vào dịp tết cổ truyền, nơi đây trở thành điểm hẹn “xin chữ” của tất cả mọi người với mong ước cầu mong một năm mới an lành, đủ đầy.
(https://mia.vn/cam-nang-du-lich/chiem-nguong-di-san-van-mieu-quoc-tu-giam-hon- thieng-dan-toc-2664)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản.
Câu 2. Cách triển khai văn bản trong phần 1.1. Lịch sử hình thành của Văn Miếu Quốc Tử Giám được trình bày theo trật tự nào?
Câu 3. Nêu hiệu quả của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong câu văn sau:
“Trải qua rất nhiều lần tu sửa, quần thể di tích này còn lại các công trình như: Đại Trung môn, Hồ Văn, Văn Miếu môn, Khuê Văn Các, bia tiến sĩ, Đại Thành môn, nhà Thái Học, giếng Thiên Quang”.
Câu 4. Em hãy nhận xét về cách trình bày thông tin của tác giả trong văn bản.
Câu 5. Từ quan điểm của tác giả cho rằng: Văn Miếu Quốc Tử Giám không đơn thuần chỉ là trường đại học đầu tiên của nước Việt mà còn là biểu tượng của truyền thống hiếu học.
Anh/chị có suy nghĩ gì về sự cần thiết của việc học đối với giới trẻ hiện nay. (Trình bày 5-7 dòng)
II. PHẦN VIẾT
Từ nội dung ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 600 chữ) bàn về trách nhiệm tuổi trẻ trong việc giữ gìn và phát huy các di sản văn hoá dân tộc.
HẾT
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các yếu tố phi ngôn ngữ trong văn bản thông tin
Cách giải:
Yếu tố phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản:
+ Hình 1: Khu nhà bia tiến sĩ
+ Hình 2: Khuê văn các
Câu 2:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các cách triển khai thông tin trong văn bản thông tin
Cách giải:
Cách triển khai văn bản trong phần 1.1. Lịch sử hình thành của Văn Miếu Quốc Tử Giám được trình bày theo trật tự thời gian.
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ liệt kê để phân tích tác dụng
Cách giải:
Hiệu quả của biện pháp tu từ liệt kê:
+ Giúp câu văn sinh động, hấp dẫn, tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
+ Chỉ ra những quần thể di tích hiện còn lại của Quốc Tử Giám. Đồng thời, khẳng định sự đồ sộ, thẩm mĩ của các công trình nơi đây.
+ Góp phần thể hiện niềm tự hào và sự tiếc nuối của tác giả trước các di sản văn hóa dân tộc.
Câu 4:
Phương pháp:
Nhận xét về cách trình bày thông tin của tác giả
Cách giải:
Nhận xét về cách trình bày thông tin của tác giả trong văn bản:
- Thông tin được trình bày theo một trật tự rõ ràng, mạch lạc, sắp sắp xếp theo một trình tự, bố cục hợp lý.
- Thông tin được trình bày chính xác, khách quan, sử dụng các dẫn chứng thuyết phục, thể hiện quan điểm rõ ràng, nhất quán.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Khẳng định việc học rất quan trọng đối với giới trẻ ngày nay
- Lí giải:
+ Học giúp mở mang kiến thức cho bản thân.
+ Học để khẳng định mình với xã hội.
+ Học để góp phần xây dựng quê hương, đất nước.
Cách giải:
Có thể khẳng định, việc học tập có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết đối với thế hệ trẻ ngày nay. Trước hết, học tập là con đường cơ bản nhất để mỗi người mở mang tri thức, hoàn thiện nhân cách và kỹ năng của bản thân. Đây cũng chính là chìa khóa giúp giới trẻ khẳng định giá trị, vị thế của mình trong xã hội, tìm kiếm được những cơ hội việc làm tốt và có một cuộc sống ổn định. Hơn thế nữa, trong bối cảnh đất nước đang trên đà hội nhập và phát triển, việc học còn là trách nhiệm của tuổi trẻ để tiếp thu tinh hoa nhân loại, từ đó góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Như vậy, tiếp nối truyền thống hiếu học được lưu giữ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, mỗi bạn trẻ cần ý thức sâu sắc về sự cần thiết của việc học, biến nó thành động lực phấn đấu không ngừng.
II. PHẦN VIẾT
Phương pháp:
1. Giải thích: Thế nào là di sản văn hóa?
Là những di sản vật chất và những di sản tinh thần chứa đựng nét đẹp tinh thần mà cha ông nhiều thế hệ đã xây dựng và vun đắp lên Vì vậy, thế hệ trẻ phải có trách nhiệm trong việc phát huy, giữ gìn di sản văn hóa dân tộc .
2. Bàn luận:
-Trách nhiệm tuổi trẻ trong việc giữ gìn, phát huy di sản văn hóa hiện nay :
+ Nhiều bạn trẻ đã và đang giữ gìn, phát huy các di sản văn hóa bằng nhiều việc làm tích cực: tìm về những giá trị truyền thống, tổ chức hoạt động du lịch, lễ hội gắn với các di tích lịch sử - văn hoá; các hoạt động quảng bá trên các kênh thông tin đại chúng… + dẫn chứng
+ Tuy nhiên, một số bạn trẻ chưa ý thức được trách nhiệm,có hành động thái độ xúc phạm, làm tổn thương di sản văn hóa… (Nêu phản đề) + dẫn chứng
- Nêu ý kiến trái chiều.
3. Khẳng định quan điểm bản thân, rút bài học
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Di sản văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần được tích lũy, sáng tạo và lưu truyền qua nhiều thế hệ, chứa đựng hồn cốt, bản sắc và trí tuệ của dân tộc. Đó có thể là những di sản vật thể như Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hoàng thành Thăng Long, hay những di sản phi vật thể như nhã nhạc cung đình Huế, hát xoan, ca trù. Những di sản ấy không chỉ là minh chứng cho lịch sử hào hùng mà còn là nền tảng để chúng ta xây dựng tương lai. Vì vậy, thế hệ trẻ những chủ nhân của đất nước, cần phải có trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc.
Trong thực tế, nhiều bạn trẻ đã và đang thể hiện rõ trách nhiệm này bằng những hành động thiết thực. Họ chủ động tìm về những giá trị truyền thống thông qua các chuyến du lịch di sản, tham gia các lễ hội văn hóa, hay học hỏi các nghề thủ công truyền thống. Đặc biệt, với sự phát triển của công nghệ, giới trẻ đã trở thành những đại sứ văn hóa đắc lực thông qua việc quảng bá hình ảnh di sản trên các nền tảng mạng xã hội. Các dự án như "Vietnamme", "I Love Việt Nam" hay những video giới thiệu ẩm thực, trang phục truyền thống trên TikTok, YouTube đã thu hút hàng triệu lượt xem, góp phần đưa văn hóa Việt đến gần hơn với bạn bè quốc tế. Những việc làm này không chỉ thể hiện lòng tự hào dân tộc mà còn chứng minh tuổi trẻ hoàn toàn có thể kế thừa và phát huy di sản bằng những cách thức sáng tạo, hiện đại.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận thanh niên chưa ý thức được trách nhiệm của mình. Nhiều bạn còn thờ ơ, thậm chí có những hành động thiếu văn hóa như xả rác tại di tích, vẽ bậy lên các công trình lịch sử, hoặc ứng xử thiếu tôn trọng trong các lễ hội truyền thống. Một số khác lại quá say mê với văn hóa ngoại lai mà quên đi những giá trị cốt lõi của dân tộc. Những hành vi này không chỉ làm tổn hại đến di sản mà còn thể hiện sự thiếu hiểu biết và vô trách nhiệm với cội nguồn.
Có ý kiến cho rằng, trong thời đại toàn cầu hóa, việc giữ gìn di sản là không cần thiết và lỗi thời. Song, chính trong bối cảnh hội nhập, việc bảo vệ bản sắc văn hóa lại càng trở nên quan trọng. Di sản văn hóa là nền tảng để chúng ta hội nhập mà không hòa tan, là điểm tựa tinh thần vững chắc giúp chúng ta vượt qua mọi thách thức.
Là một học sinh, em ý thức sâu sắc rằng mình cần phải tích cực học hỏi, tìm hiểu về các di sản văn hóa của dân tộc. Em sẽ bắt đầu từ những việc nhỏ nhất: trân trọng khi tham quan di tích, chia sẻ những thông tin tích cực về văn hóa Việt Nam, và tham gia các hoạt động bảo tồn di sản tại địa phương. Bởi lẽ, mỗi di sản đều ẩn chứa linh hồn của dân tộc, và việc bảo vệ chúng chính là bảo vệ cội nguồn của chúng ta. Tuổi trẻ hôm nay hãy cùng nhau chung tay gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa ấy, để chúng mãi trường tồn cùng đất nước.
Di sản văn hóa chính là cầu nối giữa quá khứ và tương lai, là tài sản vô giá mà mỗi thế hệ cần có trách nhiệm gìn giữ và phát huy. Đối với tuổi trẻ hôm nay, trách nhiệm này càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, bởi các bạn chính là những người chèo lái con thuyền văn hóa dân tộc trong thời đại mới. Bằng nhận thức đúng đắn, bằng tình yêu và lòng tự hào dân tộc, bằng những hành động thiết thực và sáng tạo, thế hệ trẻ hoàn toàn có thể biến những di sản tưởng chừng như xa xôi thành những giá trị sống động, gần gũi trong đời sống hiện đại.
Đề thi học kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 8
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
ĐẠO SĨ NÚI LAO
Trong ấp (huyện) có chàng họ Vương, vào hàng thứ bảy, là con nhà cố gia, tuổi trẻ mộ đạo, nghe nói trên núi Lao Sơn(1) có một vị tiên, liền quẩy tráp tới thăm. Trèo lên hết một ngọn núi, thấy một nhà quán, um tùm cây mát. Một vị đạo sĩ(2) ngồi trên bồ đoàn(3) tóc trắng rủ xuống tận cổ, tinh thần sắc sảo. Sinh khấu đầu làm lễ, bắt chuyện, thấy đạo lí huyền diệu, bèn tôn làm thầy.
Đạo sĩ nói:
– Chỉ sợ anh sức yếu, không chịu nổi khó nhọc.
Thưa là: “được”.
Học trò đạo sĩ rất đông, sẩm tối mới kéo nhau về. Vương cùng họ cúi đầu làm lễ chào nhau, rồi quyết định ở lại trong quán.
Sáng tinh sương, đạo sĩ đã gọi Vương dậy, đưa cho chiếc rìu, bảo theo lũ học trò đi hải củi. Hơn một tháng, tay chân phỏng mọng, đau không chịu nổi, có bụng muốn về.
Một buổi chiều, về đến quán, thấy đạo sĩ đang ngồi uống rượu với hai người khách. Trời đã tối mà chưa thấy thắp đèn, đốt lửa gì cả. Đạo sĩ bèn cắt một miếng giấy tròn như tấm gương, dán lên vách. Phút chốc, ánh trăng vằng vặc từ trên vách chiếu xuống, sáng rõ cả ngọn cỏ, sợi tơ. Bọn học trò chạy quanh hầu hạ.
Một người khách nói:
– Đêm nay trời đẹp, cùng nhau vui uống, nên cho ai nấy đều vui.
Bèn cầm hồ rượu trên bàn, rót cho bọn học trò đứng hầu, dặn mọi người nên uống thật say. Vương nghĩ bụng hồ rượu nhỏ như thể mà chia ra bảy, tám người, làm sao cho đủ. Thấy bọn chúng, đứa cầm chén, đứa vác chậu, tranh nhau uống trước, như sợ mất hết, không tới lượt mình. Vậy mà rót hết chén này đến chén khác, vẫn chẳng thấy rượu vơi đi chút nào, bụng thầm lấy làm lạ.
Bỗng một vị khách nói:
– Dưới trăng đẹp mà uống suông mãi cũng buồn. Sao chẳng mời chị Hằng xuống chơi?
Đạo sĩ bèn lấy một chiếc đũa, vứt vào giữa Mặt Trăng. Bỗng thấy một người đẹp từ trong bóng sáng bước ra: lúc mới đến, chưa đầy một thước, mà vừa đặt chân đến đất thời cao lớn như người thường, lưng thon thả, cổ trắng muốt, áo quần phấp phới, uyển chuyển múa khúc Nghê Thường... [...]
Vương thích lắm, đem lòng kính mộ đạo sĩ, bụng muốn về cũng tiêu tan.
Lại qua một tháng nữa, khổ không kham, mà đạo sĩ vẫn chưa truyền cho một phép gì. Sốt ruột quá, bèn lên cáo từ, xin về:
– Đệ tử qua mấy trăm dặm đường tới xin học thầy; dầu chẳng học được cái đạo trường sinh bất tử, cũng mong thầy dạy cho chút gì gọi là hả chút lòng cầu học. Thế mà qua hai, ba tháng, chỉ những sáng đi kiếm củi, tối lại trở về. Hồi ở nhà, đệ tử chưa bao giờ khổ như thế.
Đạo sĩ cười, bảo:
– Ta đã nói trước là anh không chịu nổi khó nhọc, nay đã quả nhiên. Sáng mai, sẽ cho người dẫn anh về.
Vương lại nài nỉ:
– Đệ tử làm lụng đã nhiều, xin thầy dạy cho một thuật mọn, khỏi phụ công lao đệ tử lặn lội tới đây.
Đạo sĩ hỏi muốn cầu thuật gì, Vương nói:
– Thường thấy thầy đi đâu, tường vách không ngăn nồi, chỉ xin một phép ấy cũng đủ lắm. Đạo sĩ cười, nhận lời. Bèn dạy cho phép bắt quyết(4), bảo miệng đọc mấy câu thần chú, rồi hô: “Vào đi! Vào đi!”. Vương đối mặt với bức tường, nhưng ngần ngừ không dám vào. Đạo sĩ lại hô rằng:
– Cứ vào đại thử coi!
Vương theo lời, thong thả tiến lại, nhưng đến tường bị vấp. Đạo sĩ bảo cúi đầu, vào thật nhanh, đừng rụt rè. Vương bước xa bức tường mấy bước, đọc câu thần chú, bước nhanh tới, cảm thấy như chỗ trống không. Quay nhìn lại thì đã thấy mình ở bên kia tường. Mừng quá, vào lạy tạ xin về.
Đạo sĩ nói:
– Về nhà phải giữ gìn đứng đắn; không thế thì phép không nghiệm nữa đâu
Nói rồi, cấp tiền cho Vương ăn đường mà về.
Đến nhà, chàng khoe đã gặp tiên, tường vách dày đến đâu cũng không ngăn nổi. Vợ không tin. Vương theo như cách đạo sĩ đã dạy, cách tường mấy bước, cúi đầu chạy ù vào. Đầu đập tường cứng ngã lăn đùng. Vợ nâng dậy, nhìn xem, thấy trán sưng bươu bằng quả trứng. Vợ chế giễu mãi. Vương vừa thẹn vừa tức, chửi mãi lão đạo sĩ bất lương.
(Bồ Tùng Linh, Liêu trai chí dị (Nguyễn Đức Lân dịch),
NXB Văn học, Hà Nội, 2006, tr. 20 – 23)
* Chú thích:
(1) Núi Lao Sơn: ngọn núi nổi tiếng ở phía đông nam tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.
(2) Đạo sĩ: người tu tiên.
(3) Bồ đoàn: chiếc chiếu đan bằng cỏ bồ, hình tròn, đê người đi tu hành quỳ hoặc ngồi cho êm, mỗi khi hành lễ.
(4) Bắt quyết: dùng ngón tay đan chéo vào nhau kết thành chữ để làm phép.
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Hãy dẫn ra một chi tiết thể hiện rõ yếu tố “kì” trong văn bản truyện trên.
Câu 2. Mục đích và kết quả của việc tu tiên học đạo của Vương Sinh là gì?
Câu 3. Vì sao nói truyện có kết thúc bất ngờ? Kết thúc truyện như thế có ý nghĩa thế nào?
Câu 4. Đặc điểm chung của các câu in đậm dưới đây là gì? Việc sử dụng những kiểu câu đó có tác dụng gì?
– Đạo sĩ nói: Chỉ sợ anh sức yếu, không chịu nổi khó nhọc.
Thưa là: “được”.
– Vương bước xa bức tường mấy bước, đọc câu thần chú, bước nhanh tới, cảm thấy như chỗ trống không.
Quay nhìn lại thì đã thấy mình ở bên kia tường. Mừng quá, vào lạy tạ xin về.
Câu 5. Hãy chỉ ra sự khác biệt giữa yếu tố kì ảo trong văn bản truyện Đạo sĩ núi Lao với yếu tố kì ảo trong một truyện thần thoại mà anh/ chị đã học (đọc).
II. PHẦN VIẾT
Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá vai trò của yếu tố kì ảo trong văn bản truyện truyền kì Đạo sĩ núi Lao ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh hai đoạn thơ sau:
|
(1) ... Chỉ một người ở lại với anh thôi Lúc anh vắng người ấy thường thức đợi Khi anh khổ chỉ riêng người ấy tới Anh yên lòng bên lửa ấm yêu thương Người ấy chỉ vui khi anh hết lo buồn Anh lạc bước, em đưa anh trở lại Khi cằn cỗi thấy tháng ngày mệt mỏi Em là sớm mai là tuổi trẻ của anh Khi những điều giả dối vây quanh Bàn tay ấy chở che và gìn giữ Biết ơn em, em từ miền gió cát Về với anh, bông cúc nhỏ hoa vàng Anh thành người có ích cũng nhờ em Anh biết sống vững vàng không sợ hãi … Người đổi thay, năm tháng cũng qua đi Giữa thế giới mong mạnh và biến đổi “Anh yêu em và anh tồn tại”. … (Lưu Quang Vũ, ... Và anh tồn tại, in trong Lưu Quang Vũ – Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2013, tr. 199 – 200) |
(2) Nhưng lúc này anh ở bên em Niềm vui sướng trong ta là có thật Như chiếc áo trên tường như trang sách Như chùm hoa nở cánh trước hiên nhà
Em hiểu rằng mỗi lúc đi xa Tình anh đối với em là xứ sở Là bóng rợp trên con đường nắng lửa Trái cây thơm trên miền đất khô cằn
Đây tình yêu, em muốn nói cùng anh: Nguồn gốc của muôn ngàn khát vọng Lòng tốt để duy trì sự sống Cho con người thực sự Người hơn (Xuân Quỳnh, Nói cùng anh, in trong Xuân Quỳnh – Không bao giờ là cuối, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2013, tr. 77 – 78) |
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để xác định các chi tiết có yếu tố tưởng tượng, hư cấu
Cách giải:
– Đạo sĩ bèn cắt một miếng giấy tròn như tấm gương, dán lên vách. Phút chốc, ánh trăng vằng vặc từ trên vách chiếu xuống, sáng rõ cả ngọn cỏ, sợi tơ.
– Đạo sĩ bèn lấy một chiếc đũa, vứt vào giữa Mặt Trăng. Bỗng thấy một người đẹp từ trong bóng sáng bước ra.
Hoặc:
– Đạo sĩ có thuật “đi đâu, tường vách không ngăn nổi”
Câu 2:
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản để xác định
Cách giải:
– Mục đích tu tiên học đạo của Vương Sinh là học được phép thuật của vị tiên trên núi.
– Kết quả: Học được thuật đi xuyên tường vách nhưng khi về nhà lại không thể thực hiện được, chẳng những cơ thể bị đau đớn mà còn xấu hổ vì bị vợ chê cười.
Câu 3:
Phương pháp:
Đọc kĩ kết thúc truyện để đánh giá ý nghĩa
Cách giải:
– Truyện có kết thúc bất ngờ vì phần kết thúc không có hậu dành cho Vương Sinh. Sau nhiều ngày kham khổ tưởng rằng học được một thuật nhỏ để về áp dụng nhưng kết quả lại không được như mong muốn.
– Ý nghĩa của kết truyện: học đạo là để giúp đời, làm những việc có ích nên không thể áp dụng phép thuật một cách tùy tiện hay để chỉ để khoe khoang; muốn đắc đạo, cần bền gan vững chí, sẵn sàng đối diện và vượt qua gian khổ.
Câu 4:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các kiểu câu
Cách giải:
– Các câu in đậm đều là câu rút gọn thành phần chủ ngữ. Đây là một trong những biểu hiện của hiện tượng phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ thông thường.
– Tác dụng: nhấn mạnh, làm nổi bật nội dung thông tin cần chuyển tải (ở đây là lời nói, hành động của nhân vật Vương Sinh).
Câu 5:
Phương pháp:
Liên hệ, so sánh 2 thể loại
Cách giải:
– Ở truyện thần thoại, yếu tố kì ảo chủ yếu nhằm giải thích nhận thức, cách lí giải của người cổ đại về các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ; thường gắn với thần linh.
– Với truyện truyền kì, yếu tố kì ảo góp phần tạo nên những nhân vật, hành động khác (bất) thường. qua đó, phản ánh những vấn đề của đời sống trần thế, hằng ngày của con người; không chỉ gắn với thế giới thần tiên mà còn thể hiện ở ma,
quỷ.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
* Mở đoạn: Yếu tố kì ảo có vai trò quan trọng trong việc thể hiện nội dung và đặc trưng thể loại của văn bản truyện truyền kì Đạo sĩ núi Lao.
* Thân đoạn:
- Yếu tố kì ảo được thể hiện qua những chi tiết nào?
+ Vầng trăng sáng vằng vặc được tạo nên từ miếng giấy cắt hình tròn như tấm gương dán lên vách.
+ Hồ rượu nhỏ bao nhiêu người uống cũng không hết.
+ Chị Hằng Nga từ trên cung trăng (bằng giấy) bước xuống múa khúc Nghê Thường; chủ và khách, ba người lên chơi cung trăng.
+ Phép đi xuyên tường mà vị tiên dạy Vương Sinh.
- Vai trò của yếu tố kì ảo là gì?
+ Thúc đẩy cốt truyện phát triển (không có các chi tiết này, câu chuyện có thể kết thúc ở đoạn Vương Sinh bỏ về sau một tháng lao động kham khổ. Vương chứng kiến phép thuật kì diệu của đạo sĩ đã tiếp tục ở lại thêm tháng nữa).
+ Giúp nhân vật bộc lộ tính cách (Vương Sinh ham mê học đạo; thích khoe khoang; không bền tâm vững chí).
+ Xây dựng một thế giới nhân vật khác thường (thần tiên, đạo sĩ, Hằng Nga) nhưng lại phản chiếu hình ảnh của thế giới con người (ham vui, dung tục).
* Kết đoạn:
- Yếu tố kì ảo góp phần quan trọng vào việc xây dựng thế giới nhân vật, bộc lộ chủ đề, thông điệp của truyện Đạo sĩ núi Lao.
- Yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì mang đặc trưng riêng so với các thể loại khác
Cách giải:
Yếu tố kì ảo đóng một vai trò quan trọng trong việc thể hiện nội dung và khẳng định đặc trưng thể loại của văn bản truyện truyền kì "Đạo sĩ núi Lao". Trong tác phẩm, sự kì ảo được dệt nên bởi một loạt những chi tiết đầy quyến rũ: từ vầng trăng vằng vặc được tạo ra chỉ bằng một miếng giấy cắt dán lên vách, hồ rượu nhỏ bé mà bao nhiêu người uống cũng không hết, đến việc chị Hằng Nga từ trong ánh trăng bước xuống múa điệu Nghê Thường, và đỉnh điểm là phép thuật xuyên tường mà đạo sĩ truyền dạy cho Vương Sinh. Những chi tiết này không đơn thuần là phép màu để tô điểm cho câu chuyện thêm phần hấp dẫn, mà chúng giữ những vai trò nghệ thuật then chốt. Trước hết, chúng chính là chất xúc tác thúc đẩy cốt truyện: nếu không được chứng kiến những phép lạ ấy, Vương Sinh đã bỏ về ngay sau một tháng lao động khổ cực, và câu chuyện sẽ kết thúc ở đó. Đồng thời, chính trong thế giới kì ảo đó, tính cách nhân vật mới được bộc lộ rõ nét: sự ham mê, tính khoe khoang và sự thiếu kiên định của Vương Sinh được phơi bày qua phản ứng của chàng trước phép thuật và cuối cùng là sự thất bại của phép xuyên tường. Hơn thế nữa, yếu tố kì ảo đã giúp xây dựng một thế giới khác thường với thần tiên, đạo sĩ, nhưng lại như một tấm gương phản chiếu chân thực thế giới con người với những ham muốn trần tục và bản chất không hoàn hảo. Như vậy, có thể thấy yếu tố kì ảo đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng thế giới nghệ thuật, khắc họa tính cách nhân vật và chuyển tải thông điệp, triết lý sâu sắc của truyện. Qua đây, "Đạo sĩ núi Lao" cũng khẳng định đặc trưng riêng của thể loại truyền kì: sự đan xen giữa hiện thực và kì ảo, nơi cái kì ảo luôn hướng tới việc phản ánh và bình giá hiện thực đời sống con người.
Câu 2:
Phương pháp:
- Hình thức: bài văn
- Dung lượng: khoảng 600 chữ
- Dạng bài: nghị luận văn học
- Vấn đề nghị luận: so sánh “Và anh tồn tại” của Lưu Quang Vũ và “Nói cùng anh” của Xuân Quỳnh
Cách giải:
* Mở bài: Dẫn dắt, nêu khái quát điểm tương đồng và khác biệt của hai đoạn thơ đó.
* Thân bài:
- Giới thiệu chung về nhà thơ Lưu Quang Vũ và bài thơ ... Và anh tồn tại, nhà thơ Xuân Quỳnh và bài thơ Nói cùng anh.
- So sánh hai đoạn thơ
+ Điểm giống nhau:
Về nội dung (đề tài – cùng viết về tình yêu đôi lứa, cảm hứng chủ đạo – cùng ca ngợi tình yêu và sự đồng cảm, sẻ chia; tư tưởng – cùng khẳng định sự cần thiết và ý nghĩa của tình yêu đôi lứa đối với mỗi người).
Về nghệ thuật (sử dụng thể thơ tự do; kết hợp giữa biểu cảm với tự sự; nhân vật trữ tình xuất hiện trực tiếp; sử dụng các hình ảnh liệt kê, so sánh và ẩn dụ; ngôn ngữ hàm súc; giọng điệu vừa tâm tình vừa triết lí;..).
+ Điểm khác nhau: Hai đoạn thơ chủ yếu khác nhau về nội dung cụ thể sau:
. Đoạn thơ của Lưu Quang Vũ thể hiện sự nhận thức của nhân vật trữ tình “anh” về “em” và ca ngợi, trân trọng tình yêu của “em” đối với “anh”. Nhờ tình yêu của “em” mà anh trở thành “người có ích”, “sống vững vàng không sợ hãi” và hơn hết là “anh tồn tại”.
. Đoạn thơ của Xuân Quỳnh thể hiện nhận thức của nhân vật trữ tình “em” về “anh” và tình yêu của hai người. Tình yêu mang đến cho “em” những niềm vui sướng hạnh phúc giản dị nhưng là “có thật”; tình yêu làm nảy sinh trong em nói riêng và mọi người nói chung những khát vọng (mong ước cao đẹp) ở con người, là lòng tốt để con người duy trì sự sống và sống nhân văn hơn, đẹp hơn.
- Đánh giá
+ Hai đoạn thơ có nhiều điểm tương đồng về đề tài, cảm hứng chủ đạo, tư tưởng và hình thức thể hiện.
+ Đây là hai đoạn thơ hay viết về đề tài tình yêu đôi lứa của hai nhà thơ lớn trong nền văn học Việt Nam hiện đại; kết tinh những giá trị nghệ thuật và tư tưởng khi viết về đề tài này.
* Kết bài: Nêu ấn tượng sâu đậm về hai đoạn thơ hoặc khẳng định hai đoạn thơ có sức hấp dẫn mãnh liệt đối với người đọc, nhất là những người trẻ tuổi và trẻ lòng.
Đề thi học kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 9
Đề thi
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
12.4.68
Rừng chiều sau một cơn mưa, những lá cây xanh trong trước ánh nắng, mỏng mảnh xanh gầy như bàn tay một cô gái cấm cung.
Không khí trầm lặng và buồn lạ lùng. Cả khu nhà bệnh nhân im lặng, bên khu nhân viên cũng chỉ nghe thấy tiếng Hường rì rầm trò chuyện với ai. Một nỗi nhớ mênh mang bao trùm quanh mình. Nhớ ai? Nhớ ba, nhớ má, nhớ những người vừa ra đi… và nhớ cả một người bệnh nhân đang chờ mình đến với anh nữa. Bên trong nỗi nhớ hình như có một nỗi buồn sâu kín, thầm lặng nhưng rất nặng nề. Dù sao vết thương lòng vẫn đang rỉ máu, dù mình có muốn lấy công việc lấy mọi nỗi nhớ khác đè lên trên, nó vẫn trỗi dậy, xót xa vô cùng. Hãy quên đi Th. ơi! Hãy quên đi mà tìm lại niềm hy vọng mới mẻ xanh tốt trong lành hơn. Hãy lấy niềm tự hào mà quên đi thất vọng. Con người ấy đâu có xứng đáng với tình yêu trong trắng, chung thuỷ của Thuỳ.
Ơi những người thân yêu của tôi trên quê hương Đức Phổ này, có ai hiểu và cảm thông hết nỗi lòng tôi chăng? Nỗi lòng một cô gái đầy ước mơ hy vọng mà không được đáp lại một cách xứng đáng?
(Trích Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm, NXB Hội Nhà văn)
Chú thích: “Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm” là tập nhật kí được viết từ năm 1968 đến 1970, ghi chép chân thực về cuộc sống hàng ngày của bản thân, đồng đội ở nơi tuyến đầu chống đế quốc Mỹ, về nỗi đau của dân tộc Việt Nam trong chiến tranh và cả khát khao cháy bỏng ngày đất nước hoà bình để trở về với Hà Nội thân yêu.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định dấu hiệu để nhận biết thể loại của văn bản.
Câu 2. Chỉ ra biện pháp tu từ trong câu sau: Rừng chiều sau một cơn mưa, những lá cây xanh trong trước ánh nắng, mỏng mảnh xanh gầy như bàn tay một cô gái cấm cung.
Câu 3. Phân tích hiệu quả của yếu tố phi hư cấu trong đoạn trích.
Câu 4. Trình bày tác dụng của việc kết hợp thủ pháp miêu tả với trần thuật trong văn bản.
Câu 5. Nêu ý nghĩa tác động của văn bản đối với thế hệ trẻ ngày nay.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1.
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của em về hình ảnh bác sĩ Đặng Thùy Trâm ở đoạn trích phần Đọc hiểu.
Câu 2.
Phải chăng sự khác biệt làm nên giá trị của người trẻ tuổi?
Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề trên.
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ vào đặc điểm các tiểu loại kí để xác định
Cách giải:
- Thể loại của văn bản là nhật kí.
- Dấu hiệu: Hình thức tự thuật có độ tin cậy cao, được thể hiện dưới dạng ghi chép hàng ngày, có đánh số ngày, tháng, năm.
Câu 2:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các biện pháp tu từ
Cách giải:
Biện pháp tu từ nhân hoá/so sánh: những lá cây xanh trong trước ánh nắng, mỏng mảnh xanh gầy như bàn tay một cô gái cấm cung.
Câu 3:
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản để phân tích tính phi hư cấu
Cách giải:
- Tính phi hư cấu của đoạn trích: Những sự kiện có thực mà tác giả đã trực tiếp tham gia hay chứng kiến, biểu hiện ở các mốc thời gian cụ thể, địa điểm cụ thể (rừng, khu nhà bệnh nhân).
- Hiệu quả: Tạo độ tin cậy đối với người đọc về những thông tin xác thực hằng ngày được người viết ghi lại.
Câu 4:
Phương pháp:
Nhận diện yếu tố trần thuật, miêu tả để nhận biết và phân tích tác dụng
Cách giải:
- Đoạn văn có sự kết hợp thủ pháp miêu tả với trần thuật: Không khí trầm lặng và buồn lạ lùng. Cả khu nhà bệnh nhân im lặng, bên khu nhân viên cũng chỉ nghe thấy tiếng Hường rì rầm trò chuyện với ai.
- Sự kết hợp thủ pháp miêu tả với trần thuật khiến cho sự việc hiện lên cụ thể, sinh động; đồng thời thể hiện được thái độ và đánh giá của người viết.
Câu 5:
Phương pháp:
Văn bản có ý nghĩa đối với thế hệ trẻ ngày nay:
- Lời cổ vũ, khuyến khích, động lực cho thế hệ trẻ vươn lên vượt khó.
- Tuổi trẻ phải ghi nhớ công ơn to lớn của những người đã hi sinh cho cuộc sống hòa bình hôm nay.
- Tuổi trẻ cần chăm chỉ học hành, đưa đất nước đi lên, phát triển, sánh vai với cường quốc năm châu.
Cách giải:
Đoạn trích “Nhật kí Đặng Thùy Trâm” mang đến nhiều bài học sâu sắc cho thế hệ trẻ ngày nay. Trước hết, đó là lời động viên chân thành, khích lệ chúng ta biết vượt lên nghịch cảnh, như cách bác sĩ Trâm đã tự nhủ mình "hãy quên đi" để tìm lại niềm hy vọng. Đồng thời, những dòng nhật ký ấy cũng nhắc nhở chúng ta phải luôn ghi nhớ công ơn của thế hệ cha anh đã hi sinh vì nền độc lếp tự do của Tổ quốc. Từ đó, mỗi người trẻ càng thêm ý thức trách nhiệm, không ngừng học tập và rèn luyện để góp sức xây dựng đất nước ngày càng phát triển, thực hiện khát vọng mà bao thế hệ đi trước hằng mong ước.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Dàn ý:
- Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, đoạn trích.
- Sự cảm nhận của bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm về không gian, thời gian: Rừng chiều sau một cơn mưa. Cảnh vật thiên nhiên đẹp, lãng mạn: những lá cây xanh trong trước ánh nắng, mỏng mảnh xanh gầy như bàn tay một cô gái cấm cung.
- Không khí buồn làm cho tác giả nhớ người thân, nhớ những người vừa ra đi và nhớ bệnh nhân – “anh”.
- Sự trăn trở của tác giả về tình yêu thầm kín, tình yêu đơn phương với “anh”.
=> Đặng Thuỳ Trâm là một bác sĩ giàu lòng yêu nước, hết mình với công việc, lối sống tình cảm, sống nội tâm, tình yêu trong sáng,… Bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm là hiện thân của thế hệ trẻ nhiệt huyết, sẵn sàng cống hiến tuổi xuân cho Tổ quốc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Cách giải:
Đoạn trích nhật ký ngày 12.4.1968 của bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã phác họa một cách chân thực và cảm động hình ảnh người nữ trí thức - chiến sĩ giữa chiến trường khốc liệt. Trong khung cảnh rừng chiều tĩnh lặng sau cơn mưa, tâm hồn nghệ sĩ của chị hiện lên qua những cảm nhận tinh tế về thiên nhiên "mỏng mảnh xanh gầy như bàn tay một cô gái cấm cung". Thế nhưng, không gian ấy cũng chính là chất xúc tác cho một nỗi buồn mênh mang và nỗi nhớ da diết trào dâng trong lòng người con gái Hà Nội xa nhà: nhớ ba má, nhớ những người đã ra đi, và cả nỗi nhớ day dứt về một người bệnh nhân đặc biệt. Đằng sau những dòng tâm sự ấy là một trái tim khao khát yêu thương, một tình yêu đơn phương trong sáng nhưng cũng đầy trăn trở, tổn thương. Vượt lên trên tất cả, qua từng trang nhật ký, chúng ta thấy hiện lên hình ảnh một người bác sĩ giàu lòng yêu nước, hết mình vì công việc, một con người sống nội tâm, tình cảm nhưng cũng vô cùng mạnh mẽ khi biết tự đấu tranh để vượt qua nỗi đau riêng. Bác sĩ Đặng Thùy Trâm chính là hiện thân rực rỡ của thế hệ trẻ Việt Nam nhiệt huyết, sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân cho lý tưởng cao đẹp của dân tộc.
Câu 2:
Phương pháp:
Dàn ý:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
* Thân bài:
- Giải thích: “Tuổi trẻ” là những người trong độ tuổi thanh niên, tràn đầy sức sống, nhiệt huyết, ước mơ… Họ là chủ nhân tương lai của đất nước. “Khác biệt” nghĩa là khác nhau, có những nét riêng làm cho có thể phân biệt với nhau. Câu hỏi được đặt ra là sự khác biệt nơi mỗi bạn trẻ có đem lại cho họ những giá trị hay không.
- Bàn luận:
+ Sống khác biệt chính là một cách đem lại nhiều giá trị cho bản thân, nhất là đối với người trẻ. Bởi vì, tuổi trẻ là tuổi của nhiệt huyết, sáng tạo, đam mê, dám nghĩ dám làm, không ngại dấn thân và thử thách.
+ Khi sống khác biệt, bạn trẻ chọn được cho mình hướng đi riêng, khẳng định màu sắc đặc biệt, duy nhất của bản thân, không bị lu mờ, rập khuôn, sáo rỗng.
+ Sống khác biệt giúp tuổi trẻ tăng khả năng tư duy, sáng tạo, tạo dựng được con đường sự nghiệp cá nhân.
+ Sống khác biệt giúp bạn trẻ mới có cơ hội va vấp, đụng chạm nhiều điều mới mẻ trong cuộc đời, tích lũy được kinh nghiệm, vốn sống cho bản thân, từ đó trưởng thành hơn về nhận thức và hành động.
+ Tuy vậy, sự khác biệt chưa chắc làm nên giá trị cho người trẻ tuổi. Bởi lẽ, theo đuổi lối sống khác biệt đôi lúc làm họ trở nên buông thả, chạy theo những thứ không phép, vượt xa thuần phong mỹ tục.
- Mở rộng vấn đề, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác.
+ Một số bạn trẻ thụ động, không dám vươn mình sống khác biệt, không dám chọn lối đi riêng để khẳng định giá trị bản thân.
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong xã hội hiện đại không ngừng phát triển, giới trẻ ngày càng có nhiều cơ hội để thể hiện bản thân và khẳng định vị trí của mình. Một câu hỏi thường được đặt ra: phải chăng sự khác biệt chính là yếu tố then chốt làm nên giá trị của người trẻ tuổi? Đây không chỉ là vấn đề nhận thức mà còn là câu hỏi đáng suy ngẫm về cách mà thế hệ trẻ đang định hình giá trị bản thân trong xã hội đương đại.
Trước hết, cần hiểu rõ "tuổi trẻ" là khoảng thời gian đẹp nhất của đời người, khi con người tràn đầy sức sống, nhiệt huyết, ước mơ và hoài bão. Họ chính là chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng nòng cốt trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Còn "khác biệt" được hiểu là những điểm riêng biệt, độc đáo, không trùng lặp trong suy nghĩ, tính cách, phong cách sống hay cách hành động của mỗi cá nhân. Vấn đề đặt ra là liệu những khác biệt ấy có thực sự tạo nên giá trị cho người trẻ hay không?
Thực tế cho thấy, sống khác biệt chính là một trong những cách quan trọng để người trẻ tạo dựng giá trị cho bản thân. Tuổi trẻ là giai đoạn con người có nhiều năng lượng nhất, dám nghĩ dám làm, không ngại thử thách và dấn thân. Khi dám sống khác biệt, người trẻ sẽ tìm được hướng đi riêng, khẳng định được màu sắc cá nhân độc đáo, không bị hòa tan trong đám đông hay rập khuôn theo lối mòn. Chính sự khác biệt ấy giúp họ không bị lu mờ giữa hàng ngàn người trẻ khác.
Hơn thế, sống khác biệt còn thúc đẩy tư duy sáng tạo, giúp người trẻ tạo dựng được con đường sự nghiệp riêng biệt. Trong thời đại 4.0, những người trẻ dám nghĩ khác, làm khác thường là những người tiên phong, tạo ra những giá trị mới cho xã hội. Họ không ngại va vấp, dám đối mặt với thử thách, và chính từ những trải nghiệm ấy, họ tích lũy được vốn sống quý báu, trưởng thành hơn trong nhận thức và hành động.
Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận một cách khách quan rằng không phải sự khác biệt nào cũng tạo nên giá trị tích cực. Có những bạn trẻ hiểu nhầm khác biệt với sự dị biệt, lập dị, thậm chí là những hành vi trái với thuần phong mỹ tục. Sự khác biệt chỉ thực sự có giá trị khi nó dựa trên nền tảng của tri thức, đạo đức và kỹ năng thực sự. Một sự khác biệt thiếu hiểu biết, thiếu văn hóa không những không tạo nên giá trị mà còn làm giảm đi giá trị của bản thân.
Đáng buồn thay, vẫn còn không ít bạn trẻ sống thụ động, không dám thể hiện cái tôi cá nhân, không dám chọn lối đi riêng để khẳng định giá trị bản thân. Họ chọn cách an toàn là đi theo lối mòn của số đông, sợ thất bại, sợ bị đánh giá. Nhưng họ không hiểu rằng, chính sự an toàn ấy lại là rào cản lớn nhất ngăn họ tỏa sáng.
Tóm lại, sự khác biệt đúng nghĩa chính là một trong những yếu tố quan trọng làm nên giá trị của người trẻ tuổi. Tuy nhiên, sự khác biệt ấy cần được xây dựng trên nền tảng của tri thức, đạo đức và kỹ năng thực sự. Mỗi bạn trẻ cần dũng cảm tìm kiếm và khẳng định giá trị riêng của bản thân, nhưng đồng thời cũng cần không ngừng học hỏi, rèn luyện để hoàn thiện mình. Bởi lẽ, giá trị đích thực của tuổi trẻ không chỉ nằm ở việc khác biệt với người khác, mà quan trọng hơn là ở khả năng tạo ra những giá trị tích cực cho bản thân, gia đình và xã hội.
Đề thi học kì 1 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 10
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích:
30-11-47
Nhà in đã có thể bắt đầu làm việc được rồi: Cơ quan nhận tin điện cũng gần xong. Chúng tôi xuống ở nhà đồng chí Chẩn đã hai hôm đợi ngày trở về làng. Nay mai, báo ra, chúng tôi sẽ bận hơn. Có lẽ khá lâu không có thì giờ đến chơi đây. Chúng tôi muốn xuống ở hẳn với họ mấy hôm để được chuyện trò với họ nhiều hơn.
Tối hôm nay, ngồi quây quần chung quanh bếp lửa với gần đủ mặt cả làng chúng tôi hỏi họ về các đồng chí bí mật hồi còn đế quốc. Họ nói đến đồng chí Văn, đồng chí Tống. Họ tả lại mấy trận đánh đồn. Họ hát những bài hát cách mạng hồi ấy cho chúng tôi nghe.
Chúng tôi nói với họ về miền xuôi, về Hà Nội, những ngày khởi nghĩa, về Trung Bộ, Nam Bộ có ý cho họ hiểu nước mình rộng lớn thế nào, nhiều người nhiều của thế nào và họ thuộc vào một khối người dự vào một phong trào to lớn đến đâu. Chúng tôi nói với họ cả về thế giới, về phong trào cách mạng đang sôi nổi khắp từ Á sang Âu. Nói một cách thật giản dị, thật cụ thể thôi. Chúng tôi nói đến Cụ Hồ nhiều nhất và họ cũng thích nghe chuyện Cụ Hồ nhiều nhất. Họ khoe với chúng tôi rằng hồi bí mật, Cụ Hồ vẫn đi qua đây. Nhiều lần Cụ đi đêm. Đi đêm, những con đường dốc ngược, gồ ghề, quanh co và rậm rạp thế này? Thì ra chúng tôi mới chỉ là những anh chàng "con nhà", tập tọng sống cái đời gian khổ của những người tranh đấu. Nỗi thiếu thốn vất vả của chúng tôi hiện nay chỉ như một hạt cát bụi bên cạnh trái núi lớn, nếu so với nỗi gian lao của những nhà cách mạng thời bí mật. Cuộc kháng chiến rồi đây có thể đẩy chúng tôi vào những hoàn cảnh khó khăn hơn hiện nay gấp nghìn lần. Nhưng chúng tôi không nản sợ một chút nào. Chúng tôi tin ở sức chịu đựng của chúng tôi và sự giúp đỡ che chở của đồng bào. Khi mà ở tận chốn thâm sơn cùng cốc này, vẫn còn những người Mán sống nghèo khổ lẻ tẻ, tha thiết với cách mạng và độc lập tự do thì chúng tôi có quyền vững lòng và tin tưởng.
Câu chuyện mỗi lúc thêm náo nhiệt. Mắt những người Mán ngồi với chúng tôi sáng và nhanh nhẹn hẳn lên. Một cái gì như vừa thức dậy trong những tâm hồn rừng núi âm u. Chẩn và Bảo hát vang. Họ bảo nhau: khi nào kháng chiến thành công sẽ kiếm tiền may mấy cái áo tốt, về dưới xuôi chơi. Triệu Vân Hương cũng hứng chí lên, nói toang toang. Anh ta hứa sẽ cố bắn một con hươu, lấy da may áo để mặc về Hà Nội.
(Trích Ở rừng, Tuyển tập Nam Cao tập 2, NXB Văn học, 1999, tr.357-358)
Chú thích:
- Tập tọng: chưa thành thạo, mới biết qua ít nhiều.
- Người Mán: dân tộc Dao
Câu 1. Xác định ngôi kể của đoạn trích.
Câu 2. Liệt kê chi tiết có tính xác thực về thời gian, địa điểm và nhân vật được nhắc đến trong câu chuyện.
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu sau: Nỗi thiếu thốn vất vả của chúng tôi hiện nay chỉ như một hạt cát bụi bên cạnh trái núi lớn, nếu so với nỗi gian lao của những nhà cách mạng thời bí mật.
Câu 4. Nhận xét thái độ, tình cảm của đồng bào dân tộc người Mán đối với cách mạng.
Câu 5. Trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của tinh thần đoàn kết dân tộc giữa đồng bào người Mán và cán bộ cách mạng trong việc gìn giữ nền hòa bình của đất nước. (Viết khoảng 5-7 dòng)
PHẦN VIẾT
Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vai trò của tính phi hư cấu của thể loại ký trong đoạn trích trên.
Câu 2.
Con người có thể sống gian khổ, thiếu thốn vất vả, gian lao, vượt qua hoàn cảnh khó khăn bằng sức chịu đựng.
Từ kết quả đọc hiểu trên, kết hợp với trải nghiệm cá nhân, anh/chị hãy viết một bức thư (khoảng 600 chữ) gửi cho bạn mình bàn về vai trò của sức chịu đựng trong cuộc sống.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các ngôi kể để xác định
Cách giải:
Ngôi kể thứ nhất.
Câu 2:
Phương pháp:
Căn cứ vào các đặc điểm của nhật kí để chỉ ra dấu hiệu nhận biết
Cách giải:
Một số chi tiết có tính xác thực trong nhật ký:
- Thời gian: 30-11-47
- Địa điểm: nhà in
- Nhân vật được nhắc đến trong câu chuyện là đồng chí Văn, đồng chí Tống/Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và cụ Hồ.
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ so sánh để phân tích tác dụng
Cách giải:
- Tác dụng:
+ Tạo cho câu văn có tính gợi hình, gợi cảm, tính liên tưởng.
+ Nhấn mạnh sự hy sinh và gian lao của những nhà cách mạng thời bí mật trong cuộc kháng chiến chống Pháp; Thể hiện thái độ kính trọng đối với thế hệ cha anh đi trước.
Câu 4:
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản để rút ra thái độ, tình cảm của đồng bào dân tộc người Mán đối với cách mạng
Cách giải:
Thái độ, tình cảm của đồng bào dân tộc người Mán đối với cách mạng:
- Yêu mến và tin tưởng tuyệt đối vào Đảng, cách mạng, Bác Hồ.
- Hi vọng vào tương lai tất thắng của cuộc kháng chiến
Câu 5:
Phương pháp:
Dưới đây là một số gợi ý:
- Tạo nên sức mạnh tinh thần của khối đại đoàn kết dân tộc, giúp cuộc kháng chiến vượt qua mọi thử thách, khó khăn
- Phát huy truyền thống yêu nước đấu tranh cách mạng của nhân dân ta
- Khẳng định giá trị của cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho đất nước
Cách giải:
Tinh thần đoàn kết giữa đồng bào người Mán và cán bộ cách mạng trong đoạn trích có ý nghĩa then chốt trong việc gìn giữ nền hòa bình. Sự gắn kết ấy đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn, phát huy cao độ truyền thống yêu nước và ý chí đấu tranh của toàn dân tộc. Đồng thời, nó khẳng định mạnh mẽ giá trị của độc lập, tự là; đó là thứ được đổi bằng sự hy sinh và đoàn kết của muôn người. Bài học về khối đại đoàn kết dân tộc ấy mãi là nền tảng vững chắc để bảo vệ nền hòa bình của đất nước.
PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Tạo nên tính chân thực: Tính phi hư cấu không chỉ giúp giãi bày cảm xúc, suy nghĩ cá nhân mà còn giúp tái hiện chính xác bối cảnh lịch sử, con người và sự kiện, làm cho câu chuyện trở nên đáng tin cậy và giàu sức thuyết phục.
- Ghi lại dấu ấn thời đại: Những sự kiện, con người có thật trong đoạn trích giúp lưu giữ ký ức về cuộc kháng chiến, phản ánh tinh thần cách mạng của nhân dân, đặc biệt là đồng bào miền núi.
- Khơi gợi cảm xúc và nhận thức: Sự chân thực trong trải nghiệm của người cán bộ cách mạng khiến người đọc dễ đồng cảm, từ đó nhận thức rõ hơn về ý nghĩa của kháng chiến và tinh thần đoàn kết dân tộc; truyền tải thông điệp về lòng yêu nước, niềm tin vào cách mạng một cách tự nhiên, không gượng ép, góp phần cổ vũ tinh thần đấu tranh.
Cách giải:
Tính phi hư cấu trong đoạn trích không đơn thuần là một đặc điểm thể loại mà đã trở thành yếu tố then chốt kiến tạo nên chiều sâu giá trị của văn bản. Bằng việc kiên trì bám sát sự thật, tác phẩm đã tái hiện chân thực đến từng chi tiết nhỏ về bối cảnh, sự kiện và con người, biến trang viết thành một tư liệu lịch sử sống động, có sức nặng của lòng tin. Mỗi dòng nhật ký không chỉ ghi lại dấu ấn thời đại mà còn trở thành phương tiện lưu giữ ký ức cộng đồng, khắc họa rõ nét tinh thần cách mạng đang sục sôi trong từng tầng lớp nhân dân. Điều đáng nói hơn, chính sự chân thực đến xót xa ấy đã tạo nên sức mạnh cảm xúc đặc biệt, khiến người đọc không thể dửng dưng. Chúng ta như được hòa mình vào không khí thiêng liêng của buổi tối quây quần bên bếp lửa, thấu cảm niềm vui giản dị và lòng tin sắt son của những con người đang sống và chiến đấu. Từ đó, nhận thức về ý nghĩa cuộc kháng chiến, về lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết dân tộc thấm sâu một cách tự nhiên. Nhờ vậy, tác phẩm vượt lên trên khuôn khổ một sáng tác văn chương thuần túy để trở thành một văn bản mang tính lịch sử - tư tưởng sâu sắc, một minh chứng hùng hồn về sức mạnh của chân lý và tình người trong những thời khắc lịch sử trọng đại của dân tộc.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Phần mở đầu:
- Địa điểm:
- Ngày tháng năm:
- Người nhận:
2. Phần nội dung:
* Giải thích: Sức chịu đựng là khả năng tinh thần và thể chất để duy trì một hoạt động trong thời gian dài.
* Bàn luận:
- Tại sao cần phải có sức chịu đựng trong cuộc sống hiện nay?
+ Cuộc sống luôn đặt ra những áp lực, thử thách
+ Bản thân mỗi người đều hướng đến những điều tốt đẹp nhất…
+ ….
- Cần những điều kiện nào (chủ quan, khách quan) để rèn luyện được sự chịu đựng trong cuộc sống hiện nay?
+ Ý chí, quyết tâm
+ Được tạo động lực
- Nếu thiếu sự chịu đựng
+ Bế tắc, buông xuôi
+ Gây ra những hệ lụy…
3. Phần kết thúc:
- Lời chúc, cảm ơn!
- Kí tên – người viết thư
Cách giải:
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2025
Gửi Mai thân mến,
Hôm nay, trong buổi chiều thu se lạnh, mình ngồi đọc lại những trang nhật ký thời kháng chiến và bắt gặp câu văn này: "Chúng tôi tin ở sức chịu đựng của chúng tôi". Đột nhiên, mình muốn viết cho bạn về điều này, bởi mình nghĩ rằng trong cuộc sống hiện đại hôm nay, sức chịu đựng chính là sức mạnh thầm lặng giúp chúng ta vượt qua mọi thử thách.
Sức chịu đựng, theo mình, không đơn thuần là khả năng chịu đựng đau khổ về thể xác. Đó là sự bền bỉ cả về tinh thần lẫn thể chất, cho phép chúng ta duy trì nghị lực và niềm tin ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn nhất. Nó giống như cây tre Việt Nam, mềm mại nhưng không bao giờ gãy trước gió bão cuộc đời.
Trong xã hội hiện đại ngày nay, sức chịu đựng càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy biến động với nhiều áp lực từ công việc, kỳ vọng xã hội, cho đến những thất bại trong các mối quan hệ. Tất cả đều là những thử thách đòi hỏi chúng ta phải có sức chịu đựng để đương đầu. Sâu xa hơn, sức chịu đựng chính là nền tảng giúp chúng ta đạt được những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Mỗi thành công đều cần trải qua gian khó, mỗi hạnh phúc đều đòi hỏi sự hy sinh. Những ước mơ của chúng ta, từ việc hoàn thành khóa học, xây dựng sự nghiệp, đến vun đắp những mối quan hệ chân thành, tất cả đều cần sự kiên trì và khả năng vượt qua khó khăn.
Để rèn luyện sức chịu đựng, trước hết cần xuất phát từ ý chí và quyết tâm của bản thân. Chúng ta cần học cách chấp nhận rằng khó khăn là một phần tất yếu của cuộc sống. Mỗi lần vượt qua được chính mình là một lần chúng ta trưởng thành hơn. Thứ hai, chúng ta cần được truyền cảm hứng từ những tấm gương xung quanh, từ người thân, bạn bè, hay những câu chuyện vượt khó. Đôi khi, chỉ một lời động viên kịp thời cũng đủ tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta.
Mình còn nhớ có lần bạn chia sẻ về những khó khăn khi phải vừa học vừa làm thêm. Có những đêm bạn thức trắng hoàn thành bài tập, có những ngày bạn đi làm trong mệt mỏi. Nhưng chính nhờ sức chịu đựng ấy mà giờ đây, bạn đã trở thành một con người mạnh mẽ và trưởng thành hơn rất nhiều.
Ngược lại, nếu thiếu đi sức chịu đựng, chúng ta dễ rơi vào trạng thái bế tắc và buông xuôi. Những áp lực nhỏ có thể trở thành gánh nặng khổng lồ, những thất bại tạm thời có thể khiến chúng ta gục ngã. Hệ quả không chỉ dừng lại ở việc không đạt được mục tiêu, mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần và thể chất.
Tuy nhiên, chịu đựng không có nghĩa là cam chịu mù quáng. Chúng ta cần phân biệt giữa sự kiên cường và sự chịu đựng không cần thiết. Đôi khi, việc tìm kiếm sự giúp đỡ, chia sẻ với người khác, hay thay đổi hướng đi cũng là biểu hiện của sự thông minh và mạnh mẽ. Nhìn lại những người lính trong trang nhật ký, họ đã vượt qua gian khổ bằng sức chịu đựng phi thường và niềm tin vào tương lai. Còn chúng ta hôm nay, dù không đối mặt với chiến tranh, vẫn cần rèn luyện sức chịu đựng kiên cường để đối diện với những thử thách riêng trong cuộc sống.
Mình viết thư này muốn nhắn nhủ rằng: chính nhờ những thử thách và cách chúng ta đối mặt với chúng bằng sức chịu đựng bền bỉ, chúng ta mới thực sự trưởng thành và tìm thấy ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống.
Chúc bạn luôn giữ được sức mạnh nội tâm và sự bình an trong tâm hồn để vượt qua mọi thử thách!
Thân ái,
Người bạn của Mai
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP12
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
