Đề thi học kì 1 Ngữ Văn 12
Đề cương ôn tập học kì 1 Văn 12 - Kết nối tri thức
A. NỘI DUNG ÔN TẬP
1. Phần đọc hiểu
a. Tiểu thuyết hiện đại
|
Khái niệm |
Đặc điểm |
|
- Tiểu thuyết là loại tác phẩm tự sự quy mô lớn, có khả năng thể hiện các nội dung da dạng và bao quát một phạm vi hiện thực rất rộng, trải ra trên nhiều không gian, thời gian khác nhau nhưng thường dành sự chú ý đặc biệt cho đời tư hay số phận của con người cá nhân. - Tiểu thuyết hiện đại là loại tiểu thuyết thể hiện một cách tư duy mới, mang tính hiện đại về đời sống, phân biệt với tiểu thuyết cổ điển ra đời trước thời đại tư bản chủ nghĩa. |
– Nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư; quan tâm đến cái thường ngày, cái đang diễn biến với cách tiếp cận gần gũi; không lí tưởng hoá hiện thực. - Nhân vật là "con người nếm trải”, không bất biến, có quá trình phát triển nhiều khi quanh co, phức tạp về tính cách, tâm lí – Có kết cấu nhiều tầng lớp, tuyến tính hoặc phi tuyến tính; có sự đan xen của nhiều “bè” ngôn ngữ, phản ánh sự tồn tại, xung đột thường xuyên giữa các ý thức xã hội. – Có khả năng tổng hợp cao |
b. Thơ (biểu tượng và yếu tố siêu thực trong thơ)
|
Khái niệm |
Đặc điểm |
|
Biểu tượng là hình ảnh mang tính ngụ ý, vượt lên chức năng miêu tả, tạo hình đơn giản; chứa dựng nhiều tầng nghĩa phong phú; gợi cảm nhận, suy tư về những điều mang tính phổ quát. |
- Thường được hình thành trong khoảng thời gian dài nên ý nghĩa không ngừng được bổ sung và có thể “sống” bên ngoài văn bản - Thể hiện được những quan niệm, triết lí sâu sắc về con người, cuộc sống - Thường mang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả |
|
Siêu thực trong thơ là việc sử dụng các hình ảnh, tình tiết và ý tưởng không thật sự hiện hữu trong thực tế để tạo ra một không gian, một cảm xúc đặc biệt cho người đọc. |
- Biểu hiện trước hết qua những hình ảnh có vẻ kì lạ, gắn kết với nhau theo một logic khác thường. - Yếu tố siêu thực đã xuất hiện thấp thoáng trong một số tác phẩm thơ thời trung đại hoặc thơ dân gian, nhưng chỉ trở thành hiện tượng thẩm mĩ đặc thù trong sáng tác của các nhà thơ theo chủ nghĩa siêu thực hoặc chịu ảnh hưởng sâu đậm của chủ nghĩa này ở thời hiện đại. |
c. Văn bản nghị luận (lập luận và các thao tác trong văn bản nghị luận)
|
Khái niệm |
Đặc điểm |
|
Lập luận là sử dụng lí lẽ và bằng chứng để thuyết phục người dọc về một vấn đề. |
Giá trị của văn bản nghị luận được quyết định bởi ý nghĩa của vấn đề đặt ra (luận đề) và nghệ thuật lập luận (cách dùng lí lẽ và bằng chứng) của người viết. |
|
Các thao tác: - Chứng minh là dùng lí lẽ và bằng chứng giúp người đọc thấy rằng ý kiến được nếu là hoàn toàn có cơ sở, đáng tin cậy. - Bình luận là đánh giá về sự đúng – sai, hay – dở, tốt – xấu, tích cực – tiêu cực của một quan điểm, ý kiến, sự việc, hành động... - Bác bỏ là chỉ ra sự sai lầm, phiến diện hoặc thiếu chính xác của một quan điểm, ý kiến - Giải thích là cắt nghĩa về đối tượng (sự vật, hiện tượng, khái niệm,..) một cách chi tiết, tỉ mỉ - Phân tích là chia tách đối tượng thành nhiều bộ phận - So sánh là đặt đối tượng này bên cạnh đối tượng khác |
Trong bài văn nghị luận, các thao tác trên thường được phối hợp với nhau một cách linh hoạt nhằm đạt hiệu quả thuyết phục cao nhất |
d. Truyện truyền kì
|
Khái niệm |
Đặc điểm |
|
- Là thể loại văn xuôi tự sự có nguồn gốc từ văn học Trung Quốc. - Truyện truyền kì phát triển trên nền tảng thần thoại, truyền thuyết,… của văn học dân gian và những tín ngưỡng văn hóa trong đời sống tinh thần của các dân tộc |
- Trong truyện truyền kì, yếu tố kì ảo được sử dụng như một phương thức nghệ thuật có tính đặc thù nhằm thể hiện các vấn đề của thực tại - Ngôn ngữ truyện truyền kì: thường sử dụng lối nói so sánh - ẩn dụ; ưa hình thức biểu đạt cầu kì, khoa trương, phóng đại; chuộng ngôn từ hoa mĩ; dùng nhiều điển cố, hình ảnh biểu trưng;… |
e. Hài kịch
|
Khái niệm |
Đặc điểm |
Các thành phần |
|
Là thể loại kịch, dùng tiếng cười để chế giễu những thói tật, hiện tượng đáng phê phán vốn đi lệch các chuẩn mực tốt đẹp của con người và cộng đồng |
Tiếng cười hài kịch cất lên từ sự vênh lệch, không tương thích giữa mục đích và phương tiện thực hiện, bản chất và biểu hiện, hành động và hoàn cảnh, tham vọng vá nhân và các khả năng thực hiện,… tức là từ những cái ngộ nghĩnh, ngược đời, bất hợp lí |
- Nhân vật trong hài kịch: là những nhân vật tiêu biểu cho một thói tật đáng cười, đáng phê phán, hoặc những nhân vật thường xuyên nhầm lẫn, có cách ứng xử không phù hợp với hoàn cảnh thực tế - Tình huống hài kịch: là những tình huống hài hước diễn ra trong cuộc sống sinh hoạt, thế sự với những toan tính đời thường, làm nổi bật những thói tật đáng cười của con người - Xung đột trong hài kịch: thường được xây dựng trên cơ sở mâu thuẫn giữa ảo tưởng vớ những chuẩn mực và tiến bộ xã hội |
2. Phần tiếng Việt
a. Nói mỉa và nghịch ngữ
|
Biện pháp |
Khái niệm |
Đặc điểm |
|
Nói mỉa |
Là biện pháp tu từ thể hiện thái độ mỉa mai hay sự đánh giá mang tính phủ định ngầm ẩn của người nói, người viết đối với sự vật, sự việc được đề cập |
Người nói, người viết tạo ra sự mâu thuẫn cố ý giữa phần hiển ngôn và phần hàm ngôn của một lời nói hay của cả chuỗi phát ngôn Nói mỉa chủ yếu được nhận ra nhờ hiệu quả châm biếm mà lời nói mang lại |
|
Nghịch ngữ |
Là biện pháp tu từ, ở đó, người nói, người viết dùng một cụm từ gây ấn tượng mạnh, làm nổi bật tính chất hai mặt của một tình thế, tâm trạng nào đó, hoặc làm phát lộ sự thật về đối tượng theo quan điểm của mình |
Nghĩa của nghịch ngữ đối lập với nghĩa của các cụm từ khác trong câu hoặc trong các câu khác gần kề Nghịch ngữ thường xuất hiện trong nói mỉa |
b. Một số biện pháp tu từ trong thơ
|
Biện pháp |
Khái niệm |
Tác dụng |
|
Nhân hóa |
là biện pháp tu từ sử dụng những từ ngữ chỉ hoạt động, tính cách, suy nghĩ, tên gọi ... vốn chỉ dành cho con người để miêu tả đồ vật, sự vật, con vật, cây cối |
Làm cho những vật vô tri vô giác trở nên có hồn và suy nghĩ sống động hơn. |
|
Ẩn dụ |
là biện pháp tu từ gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó |
Nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm |
|
Điệp ngữ |
là một biện pháp tu từ trong văn học, trong đó tác giả lặp lại một từ, một cụm từ hoặc cả một câu với dụng ý cụ thể |
- Nhấn mạnh - Tạo nhịp điệu - Tăng tính biểu cảm |
|
Đối |
là biện pháp tu từ, theo đó người viết (người nói) xếp đặt những từ ngữ hoặc câu có đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp tương tự hoặc tương phản nhau ở những vị trí đối xứng trong câu hoặc trong văn bản |
Tạo nên vẻ đẹp cân xứng, hài hòa cho lời thơ, câu văn |
c. Lỗi logic, lỗi câu mơ hồ và cách sửa
|
Lỗi |
Khái niệm |
Ví dụ |
|
Lỗi logic |
Là câu có sự mâu thuẫn giữa các ý được trình bày, lẫn lộn các bình diện khi nói về đối tượng, đặt các đối tượng không cùng cấp độ trong quan hệ đồng đẳng |
Bên cạnh việc hăng hái cách tân thi ca, ông còn là một chiến sĩ nhiệt thành đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít - Vế đầu câu nói về hoạt động của chủ thể, vế sau lại nói đến vị thế xã hội của chủ thể, mặc dù câu được cấu trúc theo mẫu: bên cạnh… còn… - Chính sự lẫn lộn các bình diện như thế khi nói về đối tượng đã khiến câu mắc lỗi logic |
|
Lỗi câu mơ hồ |
Là câu khiến người đọc có thể hiểu theo những cách khác nhau |
Tôi đồng ý với những đánh giá về truyện ngắn của ông ấy - Khó xác định câu này muốn đề cập những ý kiến của ông ấy đánh giá về truyện ngắn hay có những ý kiến của người khác đánh giá về truyện ngắn do ông ấy sáng tác |
d. Điển cố trong tác phẩm văn học
|
Khái niệm |
Đặc điểm |
Tác dụng |
|
là sự việc hay câu chữ trong sách xưa, được dẫn lại trong văn bản của các tác giả đời sau |
- Nguồn gốc: Xuất phát từ các tác phẩm văn học, lịch sử, dân gian có giá trị. - Tính cô đọng: Mang trong mình ý nghĩa sâu sắc, hàm súc, cô đọng. - Tính đa nghĩa: Có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh. - Tính gợi hình: Tạo ra những hình ảnh, liên tưởng sinh động, gợi cảm. - Tính truyền thống: Là một phần di sản văn hóa của dân tộc. |
- Làm phong phú ngôn ngữ: Tạo ra sự đa dạng và phong phú cho cách diễn đạt. - Tăng sức gợi hình, gợi cảm: Giúp người đọc hình dung rõ nét hơn về sự vật, hiện tượng được miêu tả. - Tăng sức biểu cảm: Thể hiện rõ nét tình cảm, cảm xúc của người viết. - Nâng cao giá trị thẩm mỹ của văn bản: Làm cho văn bản trở nên uyên bác, sang trọng hơn. - Tạo ra sự liên kết giữa quá khứ và hiện tại: Giúp người đọc hiểu sâu hơn về văn hóa, lịch sử dân tộc. |
3. Phần làm văn
a. Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện
|
Phần |
Nội dung |
|
Mở bài |
Giới thiệu hai tác phẩm truyện được xác định là đối tượng của sự so sánh, đánh giả; nêu mục đích và cơ sở của việc so sánh, đánh giá này. |
|
Thân bài |
Cần triển khai các ý: + Thông tin chung về từng tác phẩm: hoàn cảnh ra đời, đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, vị trí của tác phẩm trong dời sống văn học... + Những điểm tương đồng giữa hai tác phẩm truyện và nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng ấy (ví dụ: hai tác phẩm cùng đề cập một loại hiện tượng đời sống hay một loại hình nhân vật; hai tác giả có cùng quan điểm thẩm mĩ và cách tiếp cận hiện thực; có hiện tượng tác giả này chịu ảnh hưởng tác giả kia về đề tài, cảm hứng, bút pháp, phong cách sáng tác;...). + Những điểm khác biệt giữa hai tác phẩm truyện và điều kiện làm nên sự khác biệt ấy (ví dụ: mỗi nhà văn có quan điểm thẩm mĩ, cách tiếp cận hiện thực và cá tính sáng tạo riêng; mỗi nhà văn chịu ảnh hưởng của một truyền thống văn hoá, văn học khác nhau; đối tượng được miêu tả, câu chuyện được kể lại ở mỗi tác phẩm có điểm đặc thù;). + Đánh giá chung về sự tương đồng, khác biệt giữa hai tác phẩm truyện và khẳng định giá trị độc đáo của mỗi tác phẩm. |
|
Kết bài |
Nêu ý nghĩa của việc đánh giá các tác phẩm truyện khi đặt chúng trong tương quan so sánh. |
b. Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ
|
Phần |
Nội dung |
|
Mở bài |
Giới thiệu ngắn gọn về hai bài thơ và nếu cơ sở lựa chọn để so sánh, đánh giá. |
|
Thân bài |
Có nhiều cách trình bày nội dung so sánh, đánh giá. Người viết cần linh hoạt trong việc lựa chọn cách trình bày phù hợp với hiểu biết và hứng thú của bản thân, điều này sẽ góp phần quan trọng vào thành công của bài viết. Có thể triển khai các nội dung so sánh, đánh giá theo những cách sau: – Cách 1: Lần lượt phân tích từng bài thơ, sau đó chỉ ra điểm tương đồng, sự gặp gỡ và những điểm khác biệt, II giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đó; đồng thời đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ. – Cách 2: Phân tích bài thơ thứ nhất theo các phương diện đã xác định, khi phân tích bài thơ thứ hai sẽ so sánh với bài thơ thứ nhất theo từng phương diện và lí giải nguyên nhân của những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai bài thơ, từ đó, đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ. - Cách 3: So sánh lần lượt các phương diện đã lựa chọn đối với hai bài thơ, chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt; lí giải nguyên nhân sự tương đồng và khác biệt đó; đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ từ các nội dung so sánh. |
|
Kết bài |
Khẳng định ý nghĩa của việc so sánh, đánh giá; nêu cảm nhận và ấn tượng của bản thân về các bài thơ. |
c. Viết bài nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (những hoài bão, ước mơ)
|
Phần |
Nội dung |
|
Mở bài |
Giới thiệu vấn đề liên quan đến tuổi trẻ, nêu quan điểm của người viết về vấn đề đó. |
|
Thân bài |
– Giải thích từ ngữ, khái niệm để làm rõ bản chất vấn đề cần bàn luận liên quan đến tuổi trẻ. - Trình bày các khía cạnh của vấn đề (Vì sao vấn đề này thiết yếu đối với tuổi trẻ? Vấn đề gợi cho tuổi trẻ những suy nghĩ và hành động như thế nào? Cần có những điều kiện gì để tuổi trẻ thực hiện yêu cầu mà vấn đề nêu ra?...). Với từng luận điểm, cần dùng lí lẽ và bằng chứng phù hợp để lập luận nhằm tạo nên sức thuyết phục của bài viết. – Bình luận về sự đúng đắn, thiết thực của vấn đề, bác bỏ ý kiến trái ngược để củng cố quan điểm của mình. – Định hướng hành động của bản thân sau khi nhận thức về vấn đề. |
|
Kết bài |
Khái quát lại ý nghĩa của vấn đề, liên hệ với đời sống thực tại, rút ra bài học cho bản thân. |
d. Viết bài văn nghị luận về việc vay mượn – cải biến – sáng tạo trong một tác phẩm văn học
|
Phần |
Nội dung |
|
Mở bài |
Giới thiệu ngắn gọn các thông tin về tác giả, tác phẩm, trọng tâm vấn đề (khía cạnh nào của sự vay mượn – cải biến) mà bài viết bàn luận. |
|
Thân bài |
Cần triển khai các ý chính sau đây: + Nhận diện về phạm vi, tính chất của việc tiếp nhận, chịu ảnh hưởng + Phân tích, đánh giá sự vay mượn, tiếp nhận, chịu ảnh hưởng trên các phương diện cụ thể. + Phân tích, đánh giá những điểm cải biến, sáng tạo của tác giả trong quá trình vay mượn. Lưu ý: Việc sắp xếp hệ thống ý chính cần linh hoạt, phụ thuộc vào ý tưởng triển khai mạch nghị luận. Ví dụ, có thể sắp xếp theo cấu trúc: các phương diện chỉ vay mượn mà không cải biến, vay mượn nhưng cải biến một phần, vay mượn về mặt hình thức nhưng cải biến hoàn toàn về nội dung. |
|
Kết bài |
Ý nghĩa của việc tìm hiểu về sự vay mượn và cải biến trong tác phẩm. Nếu đánh giá chung và hướng khám phá, tìm tòi tiếp theo. |
e. Viết báo cáo nghiên cứu mộ vấn đề tự nhiên, xã hội
|
Phần |
Nội dung |
|
Lựa chọn đề tài |
Đề tài lựa chọn hoàn toàn có thể hướng về những gì liên quan đến cuộc sống và hoạt động học tập của bản thân, miễn nó thử thách được khả năng thu thập, xử lí dữ liệu từ nhiều nguồn, khả năng nêu những luận điểm thể hiện tầm nhìn bao quát về đối tượng hay vấn đề. |
|
Thu thập, phân tích và đánh giá thông tin |
Cần rút ra những bài học bổ ích trên phương diện này từ bài viết tham khảo – một báo cáo nghiên cứu được triển khai dựa trên khối lượng dữ liệu lớn, có được nhờ tác giả theo dõi sát sao thực tế và đọc nhiều tài liệu tham khảo liên quan. |
|
Xây dựng đề cương |
* Để xây dựng luận điểm cho báo cáo nghiên cứu, cần tập trung suy nghĩ về các câu hỏi sau: - Vấn đề được chọn nghiên cứu có ý nghĩa gì? - Cần xác định hưởng nghiên cứu như thế nào? – Những khía cạnh nào của vấn đề cần được tập trung phân tích? – Những cứ liệu minh hoạ nào có thể huy động? - Thái độ nên có trước các đối tượng được đề cập là gì * Cần sắp xếp các luận điểm đã có vào đúng vị trí trong bố cục của báo cáo nghiên cứu: - Đặt vấn đề: Nếu động cơ, niềm hứng thú, sự thôi thúc ở người viết khi quyết định chọn đề tài để nghiên cứu (bao hàm trong đó việc gọi tên vấn đề). - Giải quyết vấn đề: Lần lượt đánh giá hay trình bày quan điểm về từng khía cạnh của vấn đề (đánh giá bao quát, phân tích từng mặt của đối tượng, tranh luận với các quan điểm đánh giá khác, nếu khuyến nghị,... ). - Kết luận. Khái quát ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu và kết quả nghiên cứu đạt được. |
B. BÀI TẬP
1. Phần đọc hiểu
* Văn bản Xuân tóc đỏ cứu quốc
Câu 1: Cụm từ “chết một cách rất thể thao” có nghĩa là gì?
Câu 2: Đoạn văn dưới đây có thể gợi lên ấn tượng gì về nhân vật Xuân Tóc Đỏ?
“Cụ cố Hồng, ông Văn Minh, bà Phó Đoan, ông Typn và nhiều người, đều đã chán nản lắm, vì bà Văn Minh đã đại bại về giải quần vợt phụ nữ bản xứ. Tuyết cố làm cho ông bố đỡ buồn, kêu rằng cái phần danh dự của gia đình cũng còn có cơ cứu chữa được, vì mọi người còn hi vọng vào Xuân”
* Văn bản Nỗi buồn chiến tranh
Câu 3: Trạng thái tâm lí thường trực của nhân vật Kiên là gì?
* Văn bản Cảm hoài
Câu 4: Thời gian và không gian ở hai câu thơ đầu được miêu tả như thế nào?
- Thời gian: Mở đầu bài thơ, Đặng Dung phản ánh được tình hình thế sự của nước ta vào những năm 1407 – 1409 khi quân Minh kéo vào đóng chiếm Đại Việt.
- Không gian: Rộng lớn mênh mang bao trùm cả xã hội lúc bấy giờ trong cơn biến loạn dữ dội, thế sự đảo điên trong sự bất lực. Thời thế loạn lạc với sự ngông cuồng cướp phá của giặc xâm lược.
* Văn bản Tây Tiến
Câu 5: Câu thơ “Tây Tiến người đi không hẹn ước” được hiểu như thế nào?
* Văn bản Đàn ghi ta của Lor – ca
Câu 6: Ý nghĩa của lời đề từ bài thơ Đàn ghi ta của Lor – ca
Ý nghĩa lời đề từ “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”
Câu 7: Hai câu đầu bài thơ Đàn ghi ta của Lor – ca được diễn đạt lạ hóa như thế nào?
* Văn bản Nhìn về vốn văn hóa dân tộc
Câu 8: Đặc điểm của văn hóa Việt Nam về tôn giáo trong tác phẩm Nhìn về vốn văn hóa dân tộc (Trần Đình Hượu) là gì?
Câu 9: Qua đoạn trích Nhìn về vốn văn hóa dân tộc, tác giả bày tỏ quan điểm gì?
* Văn bản năng lực sáng tạo
Câu 10: Vai trò của năng lực sáng tạo trong nền kinh tế tri thức là gì?
* Văn bản Mấy ý nghĩ về thơ
Câu 11: Theo tác giả, “đầu mối của thơ” có lẽ sẽ tìm được ở đâu?
* Văn bản Đền thiêng cửa bể
Câu 12: Hành động tình nguyện nhảy xuống biển của Bích Châu chứng tỏ nàng là người như thế nào?
* Văn bản Muối của rừng
Câu 13: Đặc sắc nghệ thuật của văn bản là?
* Văn bản Nhân vật quan trọng
Câu 14: Nội dung chính của đoạn trích Nhân vật quan trọng là gì?
* Văn bản Giấu của
Câu 15: Nội dung chính của hài kịch Quẫn phản ánh thực tế bức tranh xã hội thế nào?
2. Phần tiếng Việt
a. Nói mỉa và nghịch ngữ
Câu 1: Tác dụng của biện pháp nói mỉa trong câu ca dao sau là gì?
“Vợ anh khéo liệu khéo lo,
Bán một con bò, mua cái ễnh ương
Đem về thả ở gậm giường
Nó kêu ì ọp, lại thương con bò”
Câu 2: Tác dụng của biện pháp tu từ nói mỉa trong câu văn sau:
Công chúng luôn vỗ tay hoan hô Xuân, còn trên khán đài, đức vua Xiêm đã lộ ra mặt rồng tất cả sự thịnh nộ của vị thiên tử thế thiên hành đạo ở cái nước có hàng triệu con voi.
Câu 3: Xác định nghịch ngữ trong câu sau:
Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm dậy để vồ lấy thuyền.
Câu 4: Xác định nghịch ngữ trong câu sau:
Tôi xin chịu một hình phạt êm đềm: Đôi môi tôi như hai kẻ hành hương rụt rè xin sẵn sàng xóa vết bàn tay thô bạo kia bằng một cái hôn trìu mến.
Câu 5: Dấu hiệu nhận biết nghịch ngữ trong câu sau:
Ông hứa thế, giả thử cứ cho rằng một vị Toàn quyền Đông Dương mà lại biết giữ lời hứa đi chăng nữa, thì chúng ta vẫn được phép tự hỏi liệu quan Toàn quyền Va-ren sẽ “chăm sóc” vụ ấy vào lúc nào và ra làm sao?
b. Một số biện pháp tu từ trong thơ
Câu 6: Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ sau:
“Lá vàng còn ở trên cây
Lá xanh rụng xuống trời ơi là trời”
Câu 7: Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ sau:
“Gặp thời đổ điếu công thành dễ
Lỡ vận anh hùng hận xót xa
Phò chúa dốc lòng nâng trục đất,
Tẩy binh khôn lối kéo Ngân Hà”
Câu 8: Tác dụng biện pháp tu từ trong câu thơ sau:
“Bác đã đi rồi sao Bác ơi!”
Câu 9: Nêu tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa trong câu thơ sau:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
c. Lỗi logic, lỗi câu mơ hồ và cách sửa
Câu 10: Chỉ ra lỗi sai của câu sau: Việc làm kịp thời này lẽ ra phải được tiến hành từ tháng trước.
Câu 11: Sửa lại câu sau để chỉ hiểu được 1 nghĩa: Bầu trời in xuống dòng sông xanh ngắt một màu
Câu 12: Xác định lỗi logic của câu sau: “Là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, Vội vàng của Xuân Diệu như một bản tuyên ngôn về cách sống của cái tôi cá nhân”.
Đặt các đối tượng không cùng cấp độ trong quan hệ đồng đẳng
d. Điển cố trong tác phẩm văn học
Câu 13: Tác dụng của hai điển cố trong câu thơ sau là gì?
Giường kia treo cũng hững hờ
Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.
Câu 14: Điển cố được dùng nhiều trong phong cách ngôn ngữ nào?
Câu 15: Đoạn thơ sau sử dụng những điển cố nào?
- Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.
- Nhớ ơn chín chữ cao sâu,
Một ngày một ngả bóng dâu tà tà
- Khi về hỏi Liễu Chương Đài,
Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay!
- Bấy lâu nghe tiếng má đào.
Mắt xanh chẳng để ai vào có không?
3. Phần làm văn
a. Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện
Đề 1: Viết bài văn nghị luận so sánh truyện Hoàng tử bé của Ăng-toan đơ Xanh-tơ - Ê-xu-pe-ri và Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ Nguyễn Ngọc Thuần
Đề 2: Viết bài văn nghị luận so sánh Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và Vợ nhặt của Kim Lân
Đề 3: Viết bài văn nghị luận so sánh Thời thơ ấu của Mác-xim Go-rơ-ki và Những ngày thơ ấu Nguyên Hồng
Đề 4: Viết bài văn nghị luận so sánh truyện Lão Hạc và Chí Phèo
b. Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ
Đề 1: Viết bài nghị luận so sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ: Đây mùa thu tới - Xuân Diệu và Đất nước - Nguyễn Đình Thi
Đề 2: Viết bài nghị luận so sánh thiên nhiên trong 2 bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải và Sang thu của Hữu Thỉnh
Đề 3: Viết bài nghị luận so sánh hình ảnh người lính trong 2 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng và Đồng chí của Chính Hữu
Đề 4: Viết bài nghị luận so sánh những trăn trở suy tư của hai nhà thơ về thân phận, cảm xúc của người phụ nữ trong Tự tình II của Hồ Xuân Hương và Thuyền và biển của Xuân Quỳnh
c. Viết bài nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (những hoài bão, ước mơ)
Đề 1: Có câu nói: “Cứ sai đi vì cuộc đời cho phép” nhưng lại có ý kiến cho rằng “Không nên coi sai lầm là phép thử cho cuộc đời của bạn”. Viết bài văn nêu ý kiến của bạn về 2 ý kiến trên
Đề 2: Viết bài văn nghị luận nêu quan điểm về sự cống hiến của tuổi trẻ với tổ quốc
Đề 3: Viết bài văn nghị luận về vấn đề sống có ích
d. Viết bài văn nghị luận về việc vay mượn – cải biến – sáng tạo trong một tác phẩm văn học
Đề 1: Viết bài văn nghị luận về việc vay mượn – cải biến – sáng tạo của truyện Kiều của Nguyễn Du
e. Viết báo cáo nghiên cứu một vấn đề tự nhiên, xã hội
Đề 1: Viết báo cáo nghiên cứu về vấn đề nghiện mạng xã hội hiện nay
Đề 2: Viết báo cáo nghiên cứu về Lịch sử, văn hóa, xã hội và giáo dục người Chăm ở Việt Nam
Đề 3: Viết báo cáo nghiên cứu về kiến trúc Hoàng Thành Thăng Long
C. LỜI GIẢI CHI TIẾT
1. Phần đọc hiểu
Câu 1:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Đưa cụm từ vào ngữ cảnh văn bản
Lời giải chi tiết
Thể hiện sự thái quá của người hâm mộ khi họ dùng thuốc phiện để quên đi sự tiếc nuối
Câu 2:
Phương pháp
Đọc kĩ đoạn văn
Lời giải chi tiết
→ Xuân Tóc Đỏ mặc dù không được tác giả giới thiệu một cách trực tiếp mà chỉ xuất hiện gián tiếp qua lời kể của nhân vật khác nhưng ta có thể thấy mọi người đều đang rất mong chờ, hi vọng và trao trọn niềm tin cho nhân vật này.
→ Đây là một nhân vật có quyền lực, tài giỏi vô cùng nên mới được trao niềm tin để cứu vớt lại danh dự của một gia đình.
Câu 3:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết miêu tả trạng thái tâm lí của nhân vật Kiên
Lời giải chi tiết
Trạng thái tâm lí thường trực của nhân vật Kiên trong "Nỗi buồn chiến tranh" thường chứa đựng những cảm xúc buồn bã, mất mát, cô đơn và tuyệt vọng, được tạo ra bởi những trải nghiệm đau thương trong cuộc chiến tranh
Câu 4:
Phương pháp
Đọc kĩ hai câu thơ đầu
Chú ý các chi tiết miêu tả thời gian và không gian
Lời giải chi tiết
- Thời gian: Mở đầu bài thơ, Đặng Dung phản ánh được tình hình thế sự của nước ta vào những năm 1407 – 1409 khi quân Minh kéo vào đóng chiếm Đại Việt.
- Không gian: Rộng lớn mênh mang bao trùm cả xã hội lúc bấy giờ trong cơn biến loạn dữ dội, thế sự đảo điên trong sự bất lực. Thời thế loạn lạc với sự ngông cuồng cướp phá của giặc xâm lược.
Câu 5:
Phương pháp
Đọc kĩ câu thơ
Chú ý những chi tiết, từ ngữ nổi bật
Lời giải chi tiết
Cách nói khẳng định: “Tây Tiến người đi không hẹn ước”
→ Tô đậm bầu không khí chung của một thời Tây Tiến với lời thề kim cổ: ra đi không hẹn ngày về, một đi không trở lại.
Câu 6:
Phương pháp
Đọc kĩ lời đề từ
Tìm hiểu thêm thông tin trên sách, báo, internet,…
Lời giải chi tiết
- Đây là di chúc của Lor – ca khi dự cảm về cái chết của mình. Thể hiện tình yêu Tổ quốc và tình yêu nghệ thuật say đắm bởi cây đàn là biểu tượng cho sự nghiệp của Lor – ca, là khát vọng vả đời mà Lor – ca theo đuổi.
- Lor – ca lo sợ một ngày nào đó thơ ca của mình sẽ là bước cản cho những người đi sau, vì vậy ông mong muốn xóa bỏ sự ảnh hưởng của bản thân để dọn đường cho thế hệ sau vươn tới
→ Thể hiện một nhân cách cao đẹp
Câu 7:
Phương pháp
Đọc kĩ hai câu thơ đầu
Phân tích cách diễn đạt lạ hóa
Lời giải chi tiết
Hình ảnh Lor – ca xuất hiện gắn với tiếng đàn, mà tiếng đàn tan ra thành “bọt nước”. Cách diễn đạt lạ hóa, tiếng đàn vốn được cảm nhận bằng thính giác thì Thanh Thảo đã diễn tả nó bằng thị giác (đây là cách nhà thơ siêu thực thường dùng), gợi sự mong manh, dễ vỡ của những tiếng đàn.
Câu 8:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Về tôn giáo: không cuồng tín, cực đoan mà dung hòa các tôn giáo khác nhau tạo nên sự hài hòa, không tìm sự siêu thoát tinh thần bằng tôn giáo, coi trọng cuộc sống trần tục hơn thế giới bên kia (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo,…)
Câu 9:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Phân tích quan điểm của tác giả
Lời giải chi tiết
Quan điểm tác giả: Mỗi người cần ý thức được vai trò, trách nhiệm của bản thân trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc; cần có những hành động đúng đắn, phù hợp
Câu 10:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Yếu tố “năng lực sáng tạo” trở thành chìa khóa chính cho mọi quốc gia đi vào tiến trình hội nhập
Câu 11:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
“đầu mối của thơ” có lẽ sẽ tìm được ở thế giới khách quan bên ngoài
Câu 12:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản, chú ý nguyên nhân dẫn đến hành động
Phân tích hành động nhảy xuống biển của Bích Châu
Lời giải chi tiết
Hành động tình nguyện nhảy xuống biển của Bích Châu chứng tỏ nàng là người Biết suy nghĩ cho đại cuộc chấp nhận hi sinh bản mình không muốn liên lụy đến hải thuyền.
Câu 13:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các chi tiết và hình tượng đặc sắc
Lời giải chi tiết
- Viết truyện ngắn tinh tế và hấp dẫn
- Tình tiết truyện lôi cuốn
- Xây dựng hình tượng nhân vật đặc sắc, nghệ thuật ẩn dụ đầy tinh tế
Câu 14:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Nội dung chính: Thể hiện sự thối nát của xã hội đồng thời đả kích tất cả những gì tệ hại nhất của nước Nga.
Câu 15:
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Nội dung: Tình hình xã hội miền Bắc Việt Nam những năm 60 trước chủ trương công tư hợp doanh.
2. Phần tiếng Việt
Câu 1:
Phương pháp
Đọc kĩ câu ca dao
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nói mỉa, chú ý các chi tiết tiêu biểu
Lời giải chi tiết
Câu ca dao thể hiện ý chê bai, mỉa mai những kẻ vụng suy nghĩ, tính quẫn, không biết cách làm ăn. Đồng thời khuyên chúng ta hãy lên kế hoạch, sắp xếp 1 cách thật hợp lý mọi việc làm của mình để tránh gây ra những lãng phí hoặc những sự việc không cần thiết
Câu 2:
Phương pháp
Đọc kĩ câu văn
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nói mỉa, chú ý các chi tiết tiêu biểu
Lời giải chi tiết
Nhấn mạnh sự tức giận của đức vua Xiêm, một người quyền cao chức trọng giống như một con rồng, một vị thiên tử. Đồng thời phê phán nhà vua khi dùng quyền lực của mình không đúng chỗ. Cơn thịnh nộ ấy đã khiến đức vua trở nên thiếu uy quyền và trở nên nực cười
Câu 3:
Phương pháp
Đọc kĩ câu văn
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nghịch ngữ
Lời giải chi tiết
Nghịch ngữ: Ầm ầm mà quạnh hiu
Câu 4:
Phương pháp
Đọc kĩ câu văn
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nghịch ngữ
Lời giải chi tiết
Nghịch ngữ: Hình phạt êm đềm
Câu 5:
Phương pháp
Đọc kĩ câu văn
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nghịch ngữ
Lời giải chi tiết
Sự xuất hiện của cụm từ mang tính chất của một phụ chú khác thường với đối tượng được đề cập
Câu 6:
Phương pháp
Đọc kĩ câu thơ
Nhớ lại kiến thức về các biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết
Biện pháp Hoán dụ
Câu 7:
Phương pháp
Đọc kĩ khổ thơ
Nhớ lại kiến thức về các biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết
Biện pháp đối
Câu 8:
Phương pháp
Đọc kĩ câu thơ
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nói giảm nói tránh
Lời giải chi tiết
Giảm đi sự đau thương mất mát của dân tộc trước sự ra đi của Bác Hồ
Câu 9:
Phương pháp
Đọc kĩ câu thơ, chú ý các chi tiết và hình ảnh tiêu biểu
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nhân hóa
Lời giải chi tiết
Gợi tả sự dữ dội, hoang sơ, bí hiểm và đầy đe dọa của núi rừng miền Tây
Câu 10:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về Lỗi logic, lỗi câu mơ hồ và cách sửa
Lời giải chi tiết
Câu có sự mâu thuẫn giữa các ý. Đã nói kịp thời thì không thể nói lẽ ra phải được tiến hành trước đó, hoặc nếu đã nói lẽ ra phải tiến hành từ trước đó thì không thể cho là kịp thời
Câu 11:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về Lỗi logic, lỗi câu mơ hồ và cách sửa
Lời giải chi tiết
Bầu trời xanh ngắt một màu in bóng xuống dòng sông
Câu 12:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về Lỗi logic, lỗi câu mơ hồ và cách sửa
Lời giải chi tiết
Đặt các đối tượng không cùng cấp độ trong quan hệ đồng đẳng
Câu 13:
Phương pháp
Đọc kĩ hai câu thơ, chỉ ra điển cố được sử dụng và phân tích tác dụng
Lời giải chi tiết
Được dùng để nói về tình bạn thắm thiết, keo sơn, chữ dùng ngắn gọn mà hàm ý sâu xa.
Câu 14:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về điển cố
Lời giải chi tiết
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Câu 15:
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về điển cố
Lời giải chi tiết
Điển cố: Ba thu, Chín chữ, Liễu Chương Đài, Mắt xanh
3. Phần làm văn
a. Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện
Đề 1: Viết bài văn nghị luận so sánh truyện Hoàng tử bé của Ăng-toan đơ Xanh-tơ - Ê-xu-pe-ri và Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ Nguyễn Ngọc Thuần
I. Mở bài: Giới thiệu hai tác phẩm truyện và vấn đề so sánh
II. Thân bài:
1. Nội dung 2 tác phẩm:
- Tác phẩm “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ”: Kể về một cậu bé được bố dạy cho những bài học quý giá.
- Tác phẩm “Hoàng tử bé”: Kể về hành trình đi tìm ý nghĩa cuộc sống của chàng phi công khi chàng vô tình gặp được Hoàng tử bé
2. Điểm chung 2 tác phẩm:
- Cả hai đều mang sự tinh tế và sắc sảo trong việc truyền đạt thông điệp. Tuy nhiên, "Hoàng tử bé" tập trung vào mặt nội tâm của con người, trong khi " Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ" tập trung vào khía cạnh xã hội và cuộc sống hiện thực.
3. Điểm khác nhau giữa 2 tác phẩm:
Tuy cùng thuộc thể loại truyện ngắn, "Hoàng tử bé" có một phong cách viết tưởng tượng và lãng mạn, trong khi "Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ" lại có sự chân thực và hiện thực hơn. Cả hai tác phẩm đều có sức mạnh làm cho độc giả suy ngẫm và khám phá sâu hơn về bản thân và thế giới xung quanh.
III. Kết bài:
Tóm lại, "Hoàng tử bé" và "Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ" đều là những tác phẩm văn học đáng giá, có sức lôi cuốn và ý nghĩa sâu sắc. Mỗi tác phẩm đều có cách tiếp cận và thông điệp riêng, nhưng cả hai đều góp phần làm sáng tỏ và làm giàu thêm văn chương của nền văn học thế giới và văn học Việt Nam.
Đề 2: Viết bài văn nghị luận so sánh Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và Vợ nhặt của Kim Lân
I. Mở bài: Giới thiệu hai tác phẩm truyện và vấn đề so sánh
II. Thân bài:
1. Số phận của người lao động trong 2 tác phẩm:
a. Truyện "Vợ chồng A Phủ" phản ánh số phận đau khổ, tủi nhục của những người dân lao động dưới ách thống trị của cường quyền và thần quyền ở vùng miền núi Tây Bắc. Chứng minh qua cuộc đời nhân vật Mị và A Phủ
b. Truyện "Vợ nhặt" phản ánh số phận khốn khổ, rẻ mạt của con người giữa thời đói
2. Vẻ đẹp tâm hồn của con người qua 2 tác phẩm:
a. Trong "Vợ chồng A Phủ", Tô Hoài đã tập trung miêu tả sức sống mãnh liệt, khát vọng tự do cháy bỏng và khả năng cách mạng ở những con người nghèo khổ
b. Trong "Vợ nhặt", Kim Lân đã cho thấy:
- Dù hoàn cảnh nghèo đói khốn cùng, con người vẫn yêu thương, đùm bọc nhau
- Khao khát hạnh phúc, niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng
3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
4. So sánh
a. Giống nhau:
- Lấy bối cảnh những năm 1945 – 1954
- Phản ánh số phận bi thảm đồng thời cũng khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của người lao động
- Tố cáo xã hội thực dân phong kiến chà đạp, đẩy con người vào đau khổ.
- Thể hiện tinh thần nhân đạp sâu sắc: trân trọng vẻ đẹp tâm hồn, khát vọng chính đáng của con người, có niềm tin vào sự đổi đời của con người.
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật rất tài tình, tinh tế.
b. Khác nhau:
- “Vợ chồng A Phủ” tập trung phản ánh:
+ Số phận: người lao động bị áo bức, bóc lột
+ Vẻ đẹp: sức sống mãnh liệt, khát vọng tự do.
- “Vợ nhặt” tập trung phản ánh:
+ Số phận: rẻ rúng vì đói nghèo.
+ Vẻ đẹp: khát vọng sống, ước mơ hạnh phúc.
III. Kết bài
- Nhấn mạnh: hai tác phẩm bên cạnh những nét tương đồng vẫn có những nét riêng biệt, thể hiện phong cách nghệ thuật của tác giả.
- Khẳng định giá trị hiện thực và nhân đạo to lớn của hai tác phẩm cũng như tài năng của hai tác giả.
Đề 3: Viết bài văn nghị luận so sánh Thời thơ ấu của Mác-xim Go-rơ-ki và Những ngày thơ ấu Nguyên Hồng
I. Mở bài
- Giới thiệu hai tác phẩm: "Những ngày thơ ấu" của Nguyên Hồng và "Thời thơ ấu" của Mác-xim Go-rơ-li.
- Nêu mục đích và cơ sở so sánh: tìm hiểu những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai tác phẩm về đề tài, nhân vật, cách tiếp cận và giá trị nghệ thuật.
II. Thân bài
1. Thông tin chung về từng tác phẩm
- "Những ngày thơ ấu" (Nguyên Hồng)
+ Hoàn cảnh ra đời: Giai đoạn đầu thế kỷ 20, trong bối cảnh xã hội Việt Nam nhiều biến động.
+ Đề tài: Ký ức tuổi thơ, gia đình, tình bạn và khát vọng tự do.
+ Chủ đề: Tìm kiếm bản sắc và con người trong hoàn cảnh khó khăn.
+ Nhân vật: Nhân vật chính là Hồng, thể hiện những cảm xúc, suy tư sâu sắc.
+ Vị trí trong văn học: Được coi là tác phẩm tiêu biểu của văn học hiện thực phê phán.
- "Thời thơ ấu" (Mác-xim Go-rơ-li)
+ Hoàn cảnh ra đời: Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, phản ánh đời sống xã hội Nga.
+ Đề tài: Ký ức tuổi thơ, tình thương gia đình, và những khát vọng tự do.
+ Chủ đề: Tìm kiếm ánh sáng trong những điều tối tăm của cuộc sống.
+ Nhân vật: Nhân vật chính là cậu bé trong hoàn cảnh khó khăn, thể hiện tâm hồn nhạy cảm.
+ Vị trí trong văn học: Là một tác phẩm nổi bật trong văn học Nga với phong cách chân thực.
2. Những điểm tương đồng giữa hai tác phẩm
- Cả hai tác phẩm đều viết về tuổi thơ, khai thác ký ức và cảm xúc của nhân vật.
- Đều đề cập đến những khó khăn, thử thách trong cuộc sống, phản ánh khát vọng tự do và hạnh phúc.
- Tác giả đều có cái nhìn sâu sắc về tâm hồn trẻ thơ, thể hiện sự đồng cảm với nhân vật.
- Nguyên nhân: Hai tác giả đều chịu ảnh hưởng từ bối cảnh xã hội, văn hóa và có những trải nghiệm tương đồng về tuổi thơ.
3. Những điểm khác biệt giữa hai tác phẩm
- Về bối cảnh văn hóa: "Những ngày thơ ấu" phản ánh xã hội Việt Nam với những biến động chính trị, trong khi "Thời thơ ấu" lại tập trung vào đời sống xã hội Nga.
- Cách tiếp cận nhân vật: Nguyên Hồng thường thể hiện qua những câu chuyện cụ thể, gần gũi; còn Go-rơ-li lại khắc họa qua những tình huống, cảm xúc sâu sắc hơn.
- Giọng văn và phong cách: Nguyên Hồng có giọng văn trữ tình, đậm chất tự sự; Go-rơ-li mang phong cách hiện thực hơn, chân thực và sắc nét hơn.
4. Đánh giá chung
- Cả hai tác phẩm đều có giá trị văn học cao, thể hiện những khát vọng nhân văn sâu sắc.
- Mỗi tác phẩm có phong cách và cảm hứng riêng, thể hiện sự độc đáo trong cách tiếp cận và phản ánh cuộc sống.
III. Kết bài
- Nêu ý nghĩa của việc đánh giá các tác phẩm truyện trong tương quan so sánh: Giúp chúng ta hiểu rõ hơn về giá trị nghệ thuật, nhân sinh quan của mỗi tác giả và sự phong phú của văn học thế giới.
Đề 4: Viết bài văn nghị luận so sánh truyện Lão Hạc và Chí Phèo
I. Mở bài
Giới thiệu về tác giả và 2 tác phẩm.
II. Thân bài
|
Phương diện cần phân tích |
Lão Hạc |
Chí phèo |
Nhận xét, đánh giá |
|
Cốt truyện |
Lão Hạc, nông dân nghèo, đến nối phải bán chó vàng vì túng quẫn. Bệnh tật, lão lừa mọi người ăn bả chó tự tử để giữ tiền cho con. Lão chết trong đau đớn và tủi nhục. |
Chí Phèo, đứa trẻ mồ côi, lớn lên bị xã hội tha hóa thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Bị đẩy vào con đường lưu manh, cờ bạc, Chí Phèo trở thành tay sai cho cường hào ác bá. Tuy khát khao lương thiện, Chí Phèo không thể thoát khỏi kiếp sống tăm tối. Sau khi được Thị Nở yêu thương, Chí Phèo thức tỉnh nhưng bi kịch thay, Chí Phèo không thể trở lại cuộc sống bình thường và đã tự kết liễu cuộc đời mình. |
Chí Phèo và Lão Hạc đều là những tác phẩm tiêu biểu cho văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, xoay quanh cuộc đời bi kịch của người nông dân trong xã hội thực dân phong kiến thối nát. |
|
Hệ thống nhân vật |
Nhân vật chính: Lão Hạc: Người nông dân nghèo khổ, cô đơn, góa vợ, chỉ có chú chó Vàng làm bạn. Nhân vật phụ: - Cậu Vàng: Chú chó của lão Hạc, bị lão bán đi vì túng quẫn. - Ông giáo: Người hàng xóm tốt bụng, thương lão Hạc và giúp đỡ lão lúc hoạn nạn. |
Nhân vật chính: - Chí Phèo: Nông dân lương thiện bị tha hóa thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. - Thị Nở: Người đàn bà xấu xí, ngốc nghếch Nhân vật phụ: - Bá Kiến: Cường hào ác bá, đẩy Chí Phèo vào con đường lưu manh. |
Hệ thống nhân vật trong cả hai truyện đều được xây dựng đa dạng, điển hình, góp phần làm sáng tỏ nội dung và chủ đề tác phẩm. Nhân vật chính đều là những người nông dân lương thiện, chất phác nhưng bị đẩy vào bi kịch bởi xã hội bất công, tàn bạo. Các nhân vật phụ đều đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ tính cách nhân vật chính và hiện thực xã hội. |
|
Ngôi kể, điểm nhìn trần thuật |
Là người kể chuyện, không tham gia trực tiếp vào câu chuyện. |
Nhân vật "tôi": Là người kể chuyện, đồng thời là nhân chứng cho bi kịch của Chí Phèo. |
Điểm nhìn trần thuật được sử dụng linh hoạt và hiệu quả trong cả hai tác phẩm Chí Phèo và Lão Hạc. Mỗi điểm nhìn đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, góp phần tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm và thể hiện giá trị hiện thực, nhân đạo sâu sắc. |
|
Ngôn ngữ, giọng điệu |
Ngôn ngữ: - Giản dị, mộc mạc: Phù hợp với hoàn cảnh và tính cách nhân vật. - Sử dụng nhiều từ ngữ biểu cảm: Thể hiện tâm trạng của nhân vật. - Có nhiều chi tiết miêu tả tâm lý: Giúp người đọc hiểu rõ nội tâm nhân vật. Giọng điệu: - Xót xa, thương cảm: Thể hiện sự đồng cảm với bi kịch của nhân vật lão Hạc. - Trầm lắng, buồn bã: Thể hiện tâm trạng nuối tiếc cho số phận con người. - Có sức gợi cao: Khiến người đọc suy ngẫm về cuộc sống và giá trị của con người. |
Ngôn ngữ: - Giản dị, mộc mạc: Phù hợp với hoàn cảnh và tính cách nhân vật. - Sử dụng nhiều từ ngữ địa phương: Thể hiện sự gần gũi với cuộc sống của người nông dân. - Có nhiều chi tiết miêu tả: Giúp người đọc hình dung rõ ràng về nhân vật và sự kiện. Giọng điệu: - Chế giễu, mỉa mai: Thể hiện thái độ căm phẫn trước xã hội bất công, tàn bạo. - Đau xót, thương cảm: Thể hiện sự đồng cảm với bi kịch của nhân vật Chí Phèo. - Lãng mạn, trữ tình: Thể hiện niềm tin vào bản chất tốt đẹp của con người. |
Ngôn ngữ và giọng điệu được sử dụng tinh tế và hiệu quả trong cả hai tác phẩm Chí Phèo và Lão Hạc. Mỗi tác phẩm đều có những đặc điểm riêng về ngôn ngữ và giọng điệu, góp phần tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm và thể hiện giá trị hiện thực, nhân |
III. Kết bài
Đánh giá lại vấn đề: tác giả xây dựng hình tượng nhân vật của mình khác nhau, nhưng đều có điểm chúng trong tư tưởng nhân đạo.
b. Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ
Đề 1: Viết bài nghị luận so sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ: Đây mùa thu tới - Xuân Diệu và Đất nước - Nguyễn Đình Thi
I. Mở bài: Giới thiệu 2 bài thơ và vấn đề so sánh
II. Thân bài:
1. Bài “Đây mùa thu tới”
- Cảnh sắc mùa thu trong bài Đây mùa thu tới thấm một nỗi buồn: Đó là cái buồn muôn thuở, nhưng cũng là cái buồn của thời đại, cái buồn của riêng “thơ mới”.
- Các khổ thơ tiếp theo tác giả tái hiện cảnh hoa, lá rụng, cành cây khô gầy, vầng trăng bơ vơ. Sương mờ không khí trời u uất... tất cả những hình ảnh ấy gợi lên sự chia ly, tàn tạ, phai nhạt làm nổi rõ nỗi buồn cô đơn).
- Cảnh thu buồn hiu hắt bi thương nhưng vẫn có cái gì đó dịu nhẹ, trẻ trung và rất đẹp.
- Như vậy mùa thu bên cạnh cái vẻ đìu hiu buồn, một cái buồn rất đẹp của cảnh vật, vẫn chứa đựng bên trong một sức sống trẻ trung.
- Tóm lại: cảnh thu, lòng người trước mùa thu có buồn bã cô đơn, nhưng không quá tuyệt vọng mà vẫn tươi trẻ. Toát lên từ toàn bộ bài thơ cảnh thu là vẻ đẹp của một nỗi buồn. Đó là nỗi buồn đầy cảm xúc của cái tôi cô đơn biểu hiện một niềm yêu đời, khát khao giao cảm với đời của nhà thơ Xuân Diệu.
2. Bài “Đất nước”
- Bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi là bài thơ về “Đất nước rũ bùn đứng dậy sáng loà” qua cuộc kháng chiến 9 năm (1946-1954) nhưng cảm hứng đất nước lại bắt đầu từ cảm hứng mùa thu.
- Không gian mùa thu như trải dài, mở rộng theo những con đường, dòng sông, đồng lúa, cánh rừng trùng điệp của đất nước.
- Cảm hứng của Nguyễn Đình Thi trong bài Đất nước là cảm hứng tự hào làm chủ của một nghệ sĩ đang tham gia trực tiếp vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc độc lập tự do.
- Cảm hứng chủ đạo của nhà thơ vẫn là niềm vui, niềm tự hào về đất nước giang sơn gấm vóc, về độc lập chủ quyền vì vậy đoạn thơ viết về mùa thu chiến khu Việt Bắc vang lên sang sảng tự hào đầy kiêu hãnh.
3. Sự khác biệt giữa hai tác phẩm:
- Cùng viết về mùa thu mà Xuân Diệu chỉ thấy một mùa thu rất đẹp mà rất buồn. Còn Nguyễn Đình Thi lại tiếp nhận một mùa thu trong trẻo, đầy âm thanh, màu sắc, đầy niềm vui, sức sống của cảnh vật và con người.
- Điều đó, xét cho cùng có nguyên nhân thời đại chi phối hồn thơ. Chính cảm xúc về thời đại đã quy định cảm hứng, qui định tình thu của nhà thơ và từ cảm hứng, tình thơ của nhà thơ lại qui định cảnh sắc mùa thu trong thơ.
III. Kết bài: Tóm tắt lại vấn đề so sánh
Đề 2: Viết bài nghị luận so sánh thiên nhiên trong 2 bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải và Sang thu của Hữu Thỉnh
I. Mở bài
- Tình yêu thiên nhiên là một trong những nội dung nổi bật của văn học Việt Nam.
- Các nhà thơ Việt Nam hiện đại đã góp vào đề tài này bằng những nét riêng độc đáo. Người đọc sẽ cảm nhận tình yêu thiên nhiên tha thiết của hai thi nhân: Thanh Hải qua Mùa xuân nho nhỏ, Hữu Thỉnh qua Sang thu.
2. Thân bài
a. Tình yêu thiên nhiên của thi nhân qua bài thơ Mùa xuân nho nhỏ:
- Tình yêu thiên nhiên – thiên nhiên mùa xuân xứ Huế của nhà thơ thể hiện thật tinh tế.
- Nghệ thuật phối sắc thể hiện cái đẹp hài hòa của thiên nhiên: bông hoa tím biếc, dòng sông xanh.
- Biện pháp đổi trật tự cú pháp trong câu thơ vắt dòng
- Hai câu thơ kế tiếp đã mở rộng không gian nghệ thuật bức tranh xuân. Tín hiệu xuân còn là tiếng hót vang trời của con chim chiền chiện: Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời
- Hai câu thơ 5, 6 trong khổ thơ xuất hiện bóng dáng nhân vật trữ tình trong bài thơ: Từng giọt long lanh rơi; Tôi đưa tay tôi hứng
- Phép tu từ ẩn dụ (chuyển đổi cảm giác) làm cho bức tranh xuân mang vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình với hành động đưa tay hứng âm thanh tiếng hót chim chiền chiện của nhà thơ – nhân vật trữ tình trong bài thơ.
→ Đoạn thơ đẹp như bức tranh – bức tranh có dòng sông, hoa cỏ, có chim hót, có bầu trời, sương mai, có ánh xuân, có con người. Bức tranh có sắc xuân, tình xuân và có cả khúc nhạc xuân đã thể hiện tình yêu thiên nhiên – thiên nhiên mùa xuân của thi nhân!
b. Tình yêu thiên nhiên của thi nhân qua bài thơ Sang thu
- Đọc Sang thu của Hữu Thỉnh, thêm một lần ta được thưởng thức vẻ đẹp của sự cảm nhận tinh tế, những rung động của một tâm hồn nhạy cảm nghệ sĩ lúc thu sang.
- Sự độc đáo bắt đầu bằng hương ổi – hương thu: Bỗng nhận ra hương ổi; Phả vào trong gió se; Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về
- Cảm xúc của thời điểm chuyển giao tiếp tục lan tỏa, mở ra trong cái nhìn xa hơn, rộng hơn: Sông được lúc dềnh dàng; Chim bắt đầu vội vã; Có đám mây mùa hạ; Vắt nửa mình sang thu
→ Hình ảnh thơ tự nhiên, không trau chuốt mà giàu sức gợi cảm, thể thơ năm chữ vắt dòng tạo ra những liên tưởng thú vị đã thể hiện một cách đặc sắc những xúc cảm tinh tế trước bước chuyển giao của mùa; đã diễn tả cụ thể, tinh tế, nhạy cảm tình yêu thiên nhiên tha thiết của Hữu Thỉnh.
- Cách cảm nhận và miêu tả của tác giả: tinh tế, nhạy cảm, sự liên tưởng độc đáo. Nhà thơ làm cho mùa thu trong thơ ca Việt Nam mang một hương sắc mới.
c. So sánh hai tác phẩm
- Điểm chung:
+ Cả hai thi nhân đều yêu thiên nhiên.
+ Tình yêu thiên nhiên của hai nhà thơ đều nhẹ nhàng, tinh tế nên cảnh sắc thiên nhiên trong hai bài thơ không bị hòa lẫn vào cảnh sắc thiên nhiên của các bài thơ khác.
- Điểm riêng:
+ Mùa xuân nho nhỏ: Đổi trật tự cú pháp, ẩn dụ; Bức tranh thiên nhiên mùa xuân xứ Huế; Xúc cảm của thi nhân nghiêng về hình ảnh đầy sắc xuân đẹp đẽ của thiên nhiên, đất trời → thể hiện tình yêu tha thiết với cuộc sống.
+ Sang thu: Hình ảnh đặc trưng, giàu sức biểu cảm; phép nhân hóa; Cảnh vườn thu, ngõ xóm của đồng bằng Bắc bộ; Xúc cảm của thi nhân nghiêng về cảm nhận giây phút nhẹ nhàng tình cảm gắn bó tha thiết với quê hương.
III. Kết bài
- Tình yêu thiên nhiên mùa xuân, mùa thu của hai thi nhân thật thiết tha đã bồi đắp thêm cảm xúc, tình cảm yêu mến thiên nhiên cho mỗi người đọc.
- Hai bài thơ: Mùa xuân nho nhỏ, Sang thu cùng với hai hồn thơ Thanh Hải, Hữu Thỉnh đã làm đẹp những trang thơ hiện đại Việt Nam.
Đề 3: Viết bài nghị luận so sánh hình ảnh người lính trong 2 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng và Đồng chí của Chính Hữu
I. Mở bài
- Giới thiệu sơ lược về văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975.
- Dẫn vào hình tượng người lính trong Tây Tiến và Đồng Chí.
II. Thân bài
1. Điểm chung:
- Sáng tác năm 1948.
- Bối cảnh chiến trường vùng Tây Bắc.
- Tác giả đều là những người lính thực thụ bước ra từ chiến trường máu lửa.
2. Hình tượng người lính trong Tây Tiến của Quang Dũng:
- Xuất thân:
+ Những chàng trai đến từ thủ đô, hầu hết là học sinh sinh viên.
+ Mang vẻ hào hoa, lãng mạn trong tâm hồn.
- Hoàn cảnh chiến đấu:
+ Chiến trường vùng biên giới Việt - Lào khắc nghiệt.
+ Cung đường hành quân rộng lớn, khúc khuỷu.
+ Điều kiện chiến đấu thiếu thốn, phải đối mặt với căn bệnh sốt rét kinh hoàng.
+ Thường xuyên có người hy sinh vì bệnh tật và bom đạn.
- Vẻ hào hùng, dữ dội trong ngoại hình:
+ "Không mọc tóc", "quân xanh màu lá", hậu quả của bệnh sốt rét, nhưng vào thơ Quang Dũng đã mang nét nghĩa chủ động, trở thành vẻ đẹp ngoại hình kỳ dị, trấn áp kẻ thù.
- Vẻ hào hùng, bất khuất trong lý tưởng chiến đấu: "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh": Một lòng hy sinh cho Tổ quốc, không tiếc thân mình.
+ "Rải rác biên cương mồ viễn xứ...Áo bào thay chiếu anh về đất": Cái chết hiên ngang, bất khuất, bi thương nhưng không hề bi lụy.
- Vẻ hào hoa, lãng mạn trong đời sống tâm hồn:
+ Say sưa điệu nhạc, nụ cười ánh mắt của những cô gái trẻ, vui mừng nhảy múa trong những lúc tập kết về doanh trại.
+ "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm", khao khát tình yêu, hạnh phúc.
→ Tâm hồn trẻ trung, lãng mạn, bay bổng, là động lực để người lính trở nên mạnh mẽ kiên cường trong chiến đấu.
c. Hình tượng người lính trong Đồng chí của Chính Hữu:
- Xuất thân:
+ Người nông dân áo vải, đi từ làng quê nghèo khó.
- Điều kiện chiến đấu:
+ Vùng chiến trường Việt Bắc hoang sơ, khắc nghiệt.
+ Phải đối mặt với căn bệnh sốt rét rừng.
+ Thiếu thốn vật chất, cuộc chiến vô cùng gian khổ, khó khăn.
→ Miêu tả một cách chân thực, không mang màu sắc lãng mạn.
- Ngoại hình:
+ Không mang vẻ dữ dội, thay vào đó là hình tượng người lính nghèo nàn, khổ cực "Áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá/Miệng cười buốt giá chân không giày" → Vẻ đẹp đến từ sự chân chất giản dị.
- Vẻ đẹp tâm hồn:
+ Thể hiện chủ yếu thông qua tình đồng chí gắn bó sâu sắc.
+ Sự thông cảm lẫn nhau khi cùng có chung hoàn cảnh, gắn bó sâu sắc, đồng cam cộng khổ vượt qua những lúc ốm đau bệnh tật.
+ Đặc biệt là cùng kề vai nhau bước vào chiến trường máu lửa, thấu hiểu nỗi mất mát, hy sinh trong chiến tranh.
+ Tinh thần kiên cường bất khuất vượt qua mọi khó khăn gian khổ trong chiến đấu.
3. Kết bài: Nêu cảm nhận của bản thân
Đề 4: Viết bài nghị luận so sánh những trăn trở suy tư của hai nhà thơ về thân phận, cảm xúc của người phụ nữ trong Tự tình II của Hồ Xuân Hương và Thuyền và biển của Xuân Quỳnh
I. Mở bài: Giới thiệu hai bài thơ và vấn đề so sánh
II. Thân bài:
1. Bài thơ Tự tình II
- Những vần thơ thể hiện sự vùng vẫy, bứt phá để dành hạnh phúc cho chính mình, nhưng cuối cùng vẫn phải nhận về thất bại cay đắng. Thân phận người phụ nữ trong bài thơ được thể hiện đầy cay đắng xót xa, họ ý thức về thân phận mình, ý thức về tuổi thanh xuân trôi nhanh mà hạnh phúc lứa đôi chưa được tròn vẹn.
- Trước thực tại quá đỗi phũ phàng, dường như người phụ nữ cũng phải chấp nhận: “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại/ Mảnh tình san sẻ tí con con”
- Xuân “lại lại” đồng nghĩa với thanh xuân người con gái ngày một ngắn lại, vậy mà mảnh tình cũng phải san sẻ, chia năm sẻ bảy.
- Câu thơ với cách dùng từ độc đáo, cho thấy sự nhỏ dần, ít dần của tình duyên: mảnh tình – nhỏ bé, san sẻ - càng ít hơn và cuối cùng phần nhận được chỉ còn lại “tí con con”.
2. Bài thơ Thuyền và biển
- Câu chuyện của một tình yêu chung thủy “Từ ngày nào không biết. Thuyền nghe theo lời biển khơi”: Câu thơ như một sự thú nhận ngần ngại, e ấp, rằng từ lâu em đã thích anh, sẵn sàng xây dựng hạnh phúc lứa đôi với anh. Không biết từ khi nào em đã yêu anh, nhưng tình yêu ấy là chân thành và vĩnh cửu.
- Thông thường, biển thường tượng trưng cho người con trai vì sức mạnh của nó, nhưng Xuân Quỳnh đã tạo ra một sự đảo ngược, sử dụng hình ảnh của biển để biểu hiện người con gái, vì biển cũng có sự dịu dàng, chân thật, đặc biệt là với sự rộng lớn như tình yêu của nhà thơ.
- Hình ảnh thuyền và biển vẫn liên quan chặt chẽ với nhau, biểu tượng cho tình yêu không thể chia rẽ
3. So sánh:
- Hai bài thơ Tự tình II và Thuyền và biển đều thể hiện rất tốt cảm xúc, tâm trạng của người phụ nữ trong các hoàn cảnh của cuộc đời
- Tuy nhiên vì khác nhau ở thế hệ, nên giọng điệu thơ và cách thể hiện tâm trạng cũng có phần khác nhau:
+ Ở Tự tình – khi tư tưởng còn bị ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến, người đọc thấy một tâm trạng bi ai, than thân trách phận của người phụ nữ thời xưa, khi họ khao khát được bày tỏ nỗi lòng nhưng không được chấp nhận và phải sống cuộc đời “tầm gửi”
+ Ngược lại, Thuyền và biển đã thể hiện rõ ràng tâm trạng, mong muốn, khát vọng tình yêu của người phụ nữ, để thấy được rằng, trong tình yêu, người phụ nữ cũng mạnh mẽ, sẵn sàng cho đi hơn bất kì ai khác
III. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề
c. Viết bài nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (những hoài bão, ước mơ)
Đề 1: Có câu nói: “Cứ sai đi vì cuộc đời cho phép” nhưng lại có ý kiến cho rằng “Không nên coi sai lầm là phép thử cho cuộc đời của bạn”. Viết bài văn nêu ý kiến của bạn về 2 ý kiến trên
I. Mở bài: Dẫn dắt vấn đề
II. Thân bài:
1. Giải thích khái niệm “sai lầm:
- Là một quyết định hoặc một con đường ta chọn, ta thực hiện những không đem lại kết quả mong muốn.
- Sai lầm không phải là dấu chấm hết, nó sẽ là động lực thúc đẩy mỗi con người đạt được mục đích.
2. Phân tích 2 câu nói:
- Câu nói thứ nhất khiến con người được truyền cảm hứng để dũng cảm dấn thân, thậm chí là sáng tạo và liều lĩnh. Có thất bại mới trân quý thành công.
- Tuy nhiên chúng ta cũng không nên coi đó là “phép thử” như môn học, cứ sai lại thử, dẫn đến lãng phí thời gian, tuổi trẻ, tiền bạc, tri thức và có thể phung phí cả niềm tin vào chính mình.
- Không nên coi sai lầm là phép thử chỉ để biết kết quả đó là tồi tệ, mà hãy coi nó là một bài học để không còn lặp lại trong tương lai. Và cũng đừng lấy lí do được phép sai để bào chữa cho sự sai lầm vô tội vạ của mỗi cá nhân.
- Hai ý kiến trên nghe có vẻ như trái ngược nhau nhưng không phải vậy, chúng bổ sung thích đáng cho nhau để mang đến cho chúng ta những suy nghĩ và cách ứng xử khác nhau về “sai lầm” trong cuộc sống.
III. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề
Đề 2: Viết bài văn nghị luận nêu quan điểm về sự cống hiến của tuổi trẻ với tổ quốc
I. Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: sự cống hiến của thế hệ trẻ hiện nay. (Một trong những điều mà tuổi trẻ hiện nay cần phải lưu tâm chính là sự cống hiến của mình đối với quê hương đất nước.)
Lưu ý: Học sinh tự lựa chọn cách viết mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của bản thân mình.
II. Thân bài
1. Giải thích
Sự cống hiến của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước: trách nhiệm giữ gìn nền độc lập, tích cực xây dựng nước nhà ngày càng vững mạnh,
2. Phân tích
Mỗi người khi học tập, lao động, tạo lập cho mình một cuộc sống tốt đẹp cũng chính là cống hiến cho tổ quốc.
Yêu thương, giúp đỡ đồng bào, đoàn kết không chỉ giúp cho chúng ta được yêu thương, trân trọng trong mắt mọi người mà nó còn thể hiện sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.
3. Liên hệ bản thân
Là một học sinh trước hết chúng ta cần học tập thật tốt, nghe lời ông bà cha mẹ, lễ phép với thầy cô. Có nhận thức đúng đắn về việc giữ gìn và bảo vệ tổ quốc. Luôn biết yêu thương và giúp đỡ những người xung quanh,…
4. Phản đề
Tuy nhiên vẫn còn có nhiều bạn chưa có nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước, chỉ biết đến bản thân mình, coi việc chung là việc của người khác,… những người này đáng bị xã hội thẳng thắn lên án.
III. Kết bài
Khái quát lại vấn đề nghị luận: sự cống hiến của tuổi trẻ đối với quê hương đất nước.
Mỗi chúng ta khi sinh ra được sống trong nền hòa bình đã là một sự may mắn, chính vì vậy chúng ta cần phải cống hiến nhiều hơn để phát triển nước nhà vững mạnh, có thể chống lại mọi kẻ thù.
Đề 3: Viết bài văn nghị luận về vấn đề sống có ích
I. Mở bài:
Sống có ích là một chủ đề được quan tâm trong cuộc sống hiện đại.
II. Thân bài:
1. Giải thích:
- Sống có ích đòi hỏi mỗi người phải có một mục tiêu, một ước mơ và nỗ lực để đạt được nó. Đồng thời, người sống có ích cũng phải có tinh thần yêu thương và sẵn sàng giúp đỡ những người xung quanh. Công việc cống hiến cho cuộc đời và phát triển nước nhà là một yếu tố không thể thiếu trong một cuộc sống có ý nghĩa.
2. Phân tích:
- Biểu hiện của người sống có ích: Một người sống có ích luôn có mục tiêu cho bản thân và cố gắng để đạt được nó. Họ không chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân, mà còn sẵn sàng giúp đỡ những người xung quanh. Họ có tinh thần cống hiến và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
- Lợi ích, ý nghĩa của việc sống có ích: Việc sống có ích giúp con người tìm được ý nghĩa của cuộc sống và cảm thấy hạnh phúc hơn. Đồng thời, nó còn đóng góp cho sự phát triển của xã hội và đất nước. Người sống có ích được mọi người yêu quý, tôn trọng và noi theo.
3. Chứng minh:
- Ví dụ về những người sống có ích như đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà báo Phạm Xuân Ẩn, danh họa Bùi Xuân Phái, và nhiều nhân vật khác trong lịch sử và hiện tại. Họ đều là những người đã cống hiến cho cuộc đời và đất nước, được mọi người yêu quý, tôn trọng và ghi nhớ mãi mãi.
- Vì vậy, chúng ta cần nhìn nhận và tự đánh giá mình, xem mình có đang sống có ích hay không? Nếu chưa, hãy nỗ lực để thay đổi bản thân mình, phấn đấu vươn lên và giúp đỡ những người xung quanh.
- Đôi khi, chúng ta cảm thấy rằng việc sống có ích là quá khó khăn, quá xa vời, nhưng thực sự, đó là một hành trình dài, không bao giờ dễ dàng. Tuy nhiên, nếu chúng ta không bắt đầu từ đâu, chúng ta sẽ không bao giờ đạt được điều đó.
- Và cuối cùng, hãy nhớ rằng, cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi chúng ta sống cho mục đích lớn hơn chính mình. Hãy sống có ích để cuộc sống của bạn trở nên đầy ý nghĩa và giá trị hơn.
III. Kết bài:
Trong cuộc sống, không ai là hoàn hảo và ai cũng có thể có những sai lầm. Nhưng điều quan trọng là chúng ta cần nhìn ra và sửa chữa những sai lầm đó để trở thành một người sống có ích hơn, một người đóng góp tích cực hơn cho xã hội và cuộc sống của mình.
Vì vậy, hãy cố gắng sống có ích, vươn lên và giúp đỡ những người xung quanh. Chúng ta cùng nhau tạo nên một xã hội tốt đẹp hơn, một thế giới đầy ý nghĩa và giá trị hơn.
d. Viết bài văn nghị luận về việc vay mượn – cải biến – sáng tạo trong một tác phẩm văn học
Đề 1: Viết bài văn nghị luận về việc vay mượn – cải biến – sáng tạo của truyện Kiều của Nguyễn Du
I. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
II. Thân bài:
* Sự đổi mới của tác giả Nguyễn Du: Nguyễn Du đã không sao chép một cách đơn thuần mà vay mượn một cách có chọn lọc những chất liệu như: cốt truyện, nhân vật, mô típ,... để tạo nên một tác phẩm mới mẻ, mang đậm dấu ấn cá nhân.
- Nguyễn Du đã không ngừng tiến xa hơn khỏi khung cảnh cơ bản của Truyện Kim Vân Kiều, mà đã táo bạo tạo ra những biến đổi sáng tạo và phong phú.
+ Việc bổ sung nhân vật Thúy Kiều
+ Sự thay đổi về kết thúc, từ một kết cục truyền thống sang một kết thúc mới, mang lại một thông điệp sâu sắc hơn về cuộc sống và con người.
+ Tạo ra những đặc điểm tâm lý phức tạp và mang tính nhân văn sâu sắc cho nhân vật
- Nguyễn Du đã tận dụng những mô típ quen thuộc trong văn học dân gian, nhưng thay đổi chúng để phản ánh ý tưởng và phong cách sáng tạo của mình.
+ Ví dụ, mô típ "hòn đá thử vàng" không chỉ đơn thuần là một thử thách vật chất, mà còn là một thử thách về lòng kiên nhẫn và sự chống chọi với số phận của Thúy Kiều, từ đó khẳng định giá trị nhân văn của tác phẩm.
III. Kết bài: Kết luận lại vấn đề: Sự vay mượn, cải biến và sáng tạo của Nguyễn Du đã góp phần tạo nên giá trị trường tồn của tác phẩm.
e. Viết báo cáo nghiên cứu một vấn đề tự nhiên, xã hội
Đề 1: Viết báo cáo nghiên cứu về vấn đề nghiện mạng xã hội hiện nay
1. Đặt vấn đề
1.1. Mục đích
- Tìm hiểu về lượng thời gian sử dụng mạng xã hội Facebook của học sinh.
- Tìm hiểu về mục đích sử dụng mạng xã hội Facebook của học sinh.
- Tìm hiểu về những tác động tích cực của mạng xã hội Facebook đối với học sinh.
- Tìm hiểu về những tác động tiêu cực của mạng xã hội Facebook đối với học sinh.
1.2. Nhiệm vụ
- Mô tả thực trạng sử dụng Facebook của học sinh (mục đích sử dụng, thời gian sử dụng, thời điểm sử dụng, tần suất sử dụng, phương tiện truy cập,…)
- Phân tích ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội Facebook đến học tập của học sinh.
- Phân tích ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội Facebook đến đời sống của học sinh (các quan hệ xã hội).
1.3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của mạng xã hội Facebook đối với học sinh.
- Phạm vi nghiên cứu: 560 học sinh.
- Thời gian: Tháng 11 – Tháng 12 năm 2012.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
- Phương pháp đối chiếu so sánh
- Phương pháp tổng hợp, hệ thống
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Vai trò, vị trí của mạng Facebook trong đời sống con người.
2.2. Thực trạng sử dụng mạng xã hội Facebook của học sinh
2.3. Mục đích sử dụng mạng xã hội Facebook của học sinh.
2.3.1. Chia sẻ, cập nhật thông tin và hình ảnh
2.3.2 Giao lưu, kết nối bạn bè
2.3.3 Giải trí
2.4. Những tác động tích cực và tiêu cực của mạng xã hội Facebook đối với học sinh
2.4.1. Những tác động tích cực
2.4.2. Những tác động tiêu cực
2.5. Các biện pháp nâng cao ảnh hưởng tích cực của mạng Facebook đối với học sinh
3. Kết luận
4. Tài liệu tham khảo
Đề 2: Viết báo cáo nghiên cứu về Lịch sử, văn hóa, xã hội và giáo dục người Chăm ở Việt Nam
1. Đặt vấn đề
Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, lịch sử vương quốc Champa đã thu hút nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu, công bố thành sách, tạp chí.
2. Giải quyết vấn đề
+ Trước hết, là những ghi chép về Champa trong lịch sử Trung Quốc được tìm thấy trong bộ sử Hán thư, Lương sử, Cựu Đường thư, Tân Đường thư, Tống sử… Các nhà nghiên cứu đều dựa vào những nguồn sử liệu này để dựng lại lịch sử Lâm Ấp-Hoàn Vương-Chiêm Thành.
+ Những tư liệu lịch sử của Việt Nam liên quan đến Chiêm Thành có thể tìm thấy trong Đại Nam nhất thống chí, Đại Việt sử ký toàn thư và một số sử liệu của các triều đại Việt Nam từ Lý-Trần đến triều Nguyễn.
3. Kết luận
+ Tóm lại, các công trình nghiên cứu về lịch sử và nền văn minh Champa được xuất bản thành sách, báo và tạp chí rất đa dạng và phong phú, được các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu nhiều khía cạnh, lĩnh vực khác nhau.
Đề 3: Viết báo cáo nghiên cứu về kiến trúc Hoàng Thành Thăng Long
1. Đặt vấn đề
Như chúng ta đã biết, kinh thành Thăng Long luôn được gắn với một sự kiện lịch sử nổi tiếng đó là vào năm 1010, vua Lý Thái Tổ đã dời đô từ Hoa Lư đến Đại La và cho xây dựng kinh thành Thăng Long. Thời Hậu Lê, thành Thăng Long vẫn được coi là kinh đô, trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước.
2. Giải quyết vấn đề
+ Về lịch sử hình thành: Năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư đến Đại La và cho xây dựng kinh thành
+ Về vị trí: kinh thành Thăng Long tọa lạc ở phía Bắc Việt Nam và được giảm dần về diện tích qua các triều đại.
+ Về kiến trúc: trải qua thời gian và những biến cố của lịch sử, thành Thăng Long đã có nhiều thay đổi, biến dạng, nhưng đến nay vẫn còn thấy được cả di tích trên mặt đất, dưới lòng đất, di tích lịch sử cách mạng, di tích khảo cổ, di tích kiến trúc nghệ thuật
+ Trải qua thăng trầm lịch sử, chiến tranh, thuộc địa…Kinh thành Thăng Long vẫn nằm đó như một minh chứng của lịch sử.
3. Kết luận
+ Bài báo cáo đã chỉ ra được những đặc trưng của hoàng thành Thăng Long. Tuy nhiên vẫn còn nhiều điều cần được nghiên cứu để có cái nhìn sâu rộng hơn về khu di tích.
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
THUỶ THỦ TÀU VIỄN DƯƠNG (*)
(Bệnh sĩ, Lưu Quang Vũ)
Đôi nét về hài kịch Bệnh sĩ
Nội dung vở kịch lấy bối cảnh ở một vùng làng quê nông thôn, kể về ông chủ tịch xã Toàn Nha và những xã viên của xã Hùng Tâm. Họ đều là những người dân hiền lành, chân chất, thật thà,... nhưng vì tính háo danh, tính “sĩ” mà ai cũng cố gắng phấn đấu cho mình có một cái mác thật sang trọng và hiện đại... Và từ căn bệnh đó mà xảy ra bao chuyện dở khóc, dở cười.
Bệnh sĩ của cổ tác giả Lưu Quang Vũ đề cập đến “bệnh tưng bừng dối trá, tưng bừng phô trương, tưng bừng thành tích”.
Nhân vật
|
- Ông Nha - Cô Nhàn: Con gái ông Nha - Long: Em trai Nhàn - Ông Thịnh - Hưng: Cháu ông Thịnh - Văn Sửu - Ông Độp: Tức Mạnh Tuấn - Bà Độp: Vợ ông Độp |
- Tiến: Thợ xà lan, bạn Hưng - 2 phóng viên truyền hình - “Nhà văn” - Anh Tỵ - Ông Ruộng - Cô Xoan - Bà Thủ - Võ sĩ Đại Dương |
Các quan khách, các diễn viên đội văn nghệ và những xã viên của “Liên đoàn tổ
hợp xã Công nông thương tín Hùng Tâm”.
Sau đây là cảnh III của vở kịch
Nhà Ông Thình
Ông Thình và Hưng. Hưng vừa từ ngoài vào, tay xách túi, mặc áo xanh bảo hộ lao động, bên trong là áo sọc thuỷ thủ.
Hưng: Chú.
Ông Thình: Hưng, cháu về đấy à? Trời ơi, xem nào: to khoẻ lên, rắn rỏi hẳn... thuỷ thủ có khác... Chà chà, mọi người đang mong đợi cháu. Nhận được điện, chú đã báo tin. Gặp ai chưa? Gặp cái Nhàn chưa?
Hưng: Chưa, từ bến sông cháu về thẳng nhà.
Ông Thình: Hay lắm! Thế là cháu đã trưởng thành, đã hiển đạt, chú mừng vô cùng. Vinh dự, mát mặt về cháu. Nhưng sao... cháu ăn mặc xuềnh xoàng thế này, đồng chí thuyền trưởng viễn dương?
Hưng: Viễn dương nào ạ?
Ông Thình: Viễn dương hàng hải Vốt-xcô. Cháu là thuyền trưởng.
Hưng: Ai bảo chú thế?
Ông Thình: Cô Nhàn. cô Nhàn kể, mọi người ai cũng trầm trồ thán phục cháu. Họ bảo cháu nay Nhật, mai Pháp, ngày kia Hồng Kông,... Cả xã ta giờ mới có một người làm thuyền trưởng.
Hưng: Thế đấy, cô Nhàn kể... Chết thật.
Ông Thình: Ông Nha, bố cô Nhàn, thì quý cháu, tự hào về cháu vô cùng. Nhưng sao lại chết? Cháu vẫn là thuyền trưởng chứ?
Hưng: Vâng... Nhưng thế này chú ạ... Chuyện này cháu cũng đang bối rối khó xử quá đây... số là... ngày chia tay Nhàn, cháu đã hứa với Nhàn là sẽ trở thành một nhà hàng hải. Cô gái lãng mạn ấy cứ một hai đòi cháu phải thành một nhà hàng hải, một thuyền trưởng... Nhưng cháu... quả giờ cũng đã là thuyền trưởng thật, nhưng không phải thuyền trưởng tàu biển đâu, mà chỉ là phụ trách một con tàu cũ kĩ nhỏ xíu, một con tàu kéo xà lan chuyên chạy đường sông, tàu chỉ có cháu với một anh thợ máy...
Ông Thình: Sao? Thế mày không vào hàng hải à?
Hưng: Có chứ ạ, nhưng cháu không được học tàu biển, người ta phân cháu học vận tải đường sông. Ra trường, họ cử cháu về làm việc ở một công ty vận tải của tỉnh nhà... Lúc mới vào học, viết thư cho Nhàn cháu đã không dám nói sự thật sợ cô ấy thất vọng. Cô ấy chỉ mong cháu trở thành thuyền trưởng đi biển, và cháu đã hứa, đã thề thốt, nên cháu đành nói dối cô ấy... Cháu thật tồi... Cháu sĩ, cháu sợ cô ấy sẽ không yêu cháu nữa...
Ông Thình: Mày thật là.. Mày giết tao, mày giết tao rồi, Hưng ạ.
Hưng: Cháu chỉ là một thằng thợ tàu đường sông, nhưng cháu yêu công việc của cháu. Cháu đã quyết định rồi: lần này về cháu sẽ nói thật hết với cô ấy, rồi muốn ra sao thì ra...
Ông Thình: Mày giết tạo rồi, có phải mình cái Nhàn đâu, mà còn ông Nha, bố nó. Mày còn lạ gì ông ấy, ông ấy chúa thích danh tiếng oai vệ, cạnh ông ấy lại có thằng Sửu. Họ đã tán đủ thứ về mày, nào là tài giỏi, nào là sang trọng, giàu có, biết đâu mày lại xơ xác thất thểu thế kia. Cũng chính vì vậy mà ông ấy ưng chuyện mày với cái Nhàn, đã định lần này mày về sẽ ăn hỏi... Ông Nha lại là chủ tịch, là chủ nhiệm, giờ họ gọi là giám đốc Liên hợp xã, chú là cấp dưới của ông ấy...
Hưng: Cháu sẽ thú thật với bác Nha.
Ông Thình: Không được, mày không biết tính khí ông ta đâu. Sẽ hỏng hết. Đừng hòng ông ấy gả con gái cho mày, mà ông ấy cũng sẽ cạch mặt tao, mất hết ông ấy mất thôi. Giời ạ, tao cứ đinh ninh mày là thuyền trưởng.
Hưng: Thì cháu cũng là thuyền trưởng thật đấy thôi, nhưng mà là thuyền trưởng tàu đường sông. Con tàu đang đỗ ngoài bến Nhang xã ta ấy, chúng cháu chở phân đạm cho xã ta đấy.
Ông Thình: Lại thế nữa. Giời ơi, tưởng mày nên danh nên tướng gì, viễn dương hàng hải, hơn cả phi công, hơn cả lái tàu vũ trụ, nào ngờ... mày lái tàu chở cứt hả cháu?
Hưng: Sao lại cứt? Phân lân, phân đạm.
Ông Thình: Thì cũng thế. Cứt hoá học. Chú thì chẳng sao đâu, chở phân cũng được. Chú là nhà nông chú biết chứ: “Nhất nước, nhì phân”. Không có thứ bón ruộng lấy gì mà ăn? Nhưng họ có nghĩ như thế đâu. Họ thích Vốt-xcô vốt cậu cơ. Không không được. Hưng, đã ai thấy mày ở trên cái tàu chở phân ấy xuống chưa?
Hưng: Cháu không để ý, hình như chưa.
Ông Thình: Thế này Hưng ạ, mày tuyệt nhiên không được lộ ra, không được nói gì cả. Cứ nhận mày là thuyền trưởng viễn dương đi. Mày về ít hôm rồi lại đi cơ mà. Cốt xong việc ăn hỏi đã. Mà cũng để thư thư để ông ấy khỏi xỉ vả tạo. Đối với ông này thì không gì tai hại bằng làm ông ấy tẽn, ông ấy mất danh tiếng. Nên mày đừng nói gì cả, cứ nhận mày là thuyền trưởng viễn dương đi!
Hưng: Cháu lại phải tiếp tục nói dối Nhàn ư? Lại nói dối cả bác Nha?
Ông Thình: Thì đã sao? Chính họ cũng luôn dối dá. Chính ông Nha đang bắt tao đi mượn lợn các nhà về bỏ vào chuồng chung để cho khách tham quan tới quay vô tuyến. Mày cứ nhận là thuyền trưởng viễn dương đi. Chú xin mày, đừng làm chú bẽ. Mà mày cũng rất yêu cái Nhàn kia mà, mày có muốn mất vợ không có muốn mất cái Nhàn không?
Hưng: Không. Nhưng cháu không muốn nói dối nữa.
Ông Thình: Một thời gian nữa thôi, rồi sau này mày muốn nói gì thì nói. Sông hay biển thì cũng thế, lúc đó họ giết được mày à? Nhưng bây giờ thì chớ... Nghe chú, có phải mình ăn cắp ăn trộm hay gián điệp phản động gì đâu mà sợ.
Hưng: Viết thư nói bốc phét còn dễ, đằng này, mình phải đóng kịch... cháu ngượng lắm, cháu chưa đi biển một ngày... đi biển không phải nghề của cháu.
Ông Thình: Thì ngay tao đây này, có biết nghề làm pháo bao giờ đâu. Ông ấy bắt tao phải phụ trách việc làm pháo, Ông ấy đang lên cơn mê pháo, để ra khẩu hiệu. Cả xã làm pháo, nhà nhà làm pháo... Bao nhiêu tiền của ông ấy đổ ra mua thuốc nổ về chất ở trụ sở. Mà pháo thì đã bán được đâu. Quả nổ, quả xịt. Tao đến khổ vì ông ấy. Kiểu này cuối năm tao cũng xin nghỉ thôi. Nhưng bây giờ thì không được. Mai lại là ngày họ đón khách về, rồi viết báo, rồi quay phim...
Không, chú lạy mày đấy ! Mày cứ nhận là Vốt-xcô cho chú ! Mày có muốn cả hai chú cháu mình ê mặt không? Không chứ gì, thế thì phải nghe chú. Có điều... mày phải kiếm đâu ra bộ quần áo cho nó có vẻ thuyền trưởng viễn dương để ra mắt họ, chứ không được ăn mặc tuềnh toàng thế kia.
Hưng: Kiếm đâu ra? Thôi được, cháu nghe chú. Anh bạn cùng tàu với cháu có mấy bộ quần áo hàng hải đẹp lắm. Anh ấy đi học thợ máy tàu biển về, cháu sẽ nhờ anh ấy giúp.
Ông Thình: Đúng rồi, bạn bè phải giúp nhau lúc hoạn nạn. Cháu về tàu ngay đi. Nhớ đừng để ai trông thấy. Chuẩn bị thật kĩ càng rồi mai hẵng về đây. Nhớ cháu nhé. Nhớ là thuyền trưởng hàng hải Vốt-xcô, chết cũng phải là Vốt-xcô, không thì hỏng hết!
Hưng: Chỉ tại cháu thôi, chỉ tại cháu đã không dám nói thật từ đầu với Nhàn... thế là hôm nay cháu lại chưa được gặp cô ấy.
Ông Thình: Mai. Mai họ sẽ đón cháu rất trọng thể đấy. Đi đi, rồi mai về. Nhớ là thuyền trưởng viễn dương nhá. Đi đi, đừng để ai nhìn thấy cháu xuống tàu chở phân. Đi lối này này! Giời ạ, có khổ thân tôi không cơ chứ!
(Hưng nhìn trước nhìn sau rồi chạy vụt đi. Ông Thình vò đầu bứt tại nhìn theo)
(Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh gửi lại, Hội Văn học Nghệ thuật Đà Nẵng, 1989)
(*) Tên văn bản do nhóm tác giả đặt.
* Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) là một nhà soạn kịch, nhà đạo diễn sân khấu. Từ năm 1978 đến 1988, Lưu Quang Vũ làm biên tập viên ở Tạp chí Sân khấu, bắt đầu sáng tác kịch nói với vở kịch đầu tay Sống mãi tuổi 17 viết lại theo kịch bản của Vũ Duy Kì.
Câu hỏi
Câu 1. Hãy xác định 3 đặc điểm tiêu biểu của hài kịch trong văn bản Thuỷ thủ tàu viễn dương. (0.5 điểm)
Câu 2. Xác định một số xung đột, mâu thuẫn chủ yếu trong văn bản hài kịch Thuỷ thủ tàu viễn dương và phân tích đôi nét về tác dụng của chúng. (0.5 điểm)
Câu 3. Đoạn trích hài kịch trên đã sử dụng những thủ pháp gây cười nào?(1.0 điểm)
Câu 4. Theo em, thủ pháp gây cười nào ấn tượng nhất ?Vì sao? (1.0 điểm)
Câu 5. Phân tích đôi nét về nhân vật Hưng và cho biết: Em nhận được bài học nào từ nhân vật này? Em hãy đưa ra lời khuyên với Hưng. (1.0 điểm)
II. VIẾT (6đ)
Câu 1. Nêu ý nghĩa giáo dục từ trích đoạn hài kịch trên. Từ đó đánh giá khả năng tác động của đoạn trích hài kịch Thuỷ thủ tàu viễn dương đối với bản thân và ý nghĩa thực tiễn của vở kịch Bệnh sĩ của Lưu Quang Vũ. (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ ) (2.0 điểm)
Câu 2. Đọc trích dẫn sau và thực hiện yêu cầu kế tiếp. (4đ)
Sĩ diện là biết cách giữ thể diện của mình thông qua lời nói, suy nghĩ, hành động, vẻ bên ngoài cho phù hợp các tiêu chuẩn chung để nhận được sự tôn trọng từ người khác. Ai cũng có sĩ diện và điều này giúp cho con người tự điều chỉnh hành vi, học hỏi. Nhưng khi có thêm chữ hão vào thì sĩ diện trở thành quá lố và tiêu cực.
Sĩ diện hão là cố muốn làm người khác tôn trọng mình bằng những điều mình
không có. Từ tâm lí sĩ diện hão mà người ta tự nâng mình lên quá tầm của mình và thích thú khi nhận được những lời khen tặng có cánh hoặc sướng rơn khi người ta nhìn mình bằng ánh mắt ngưỡng mộ hay ghen tị.
(trithucvn.com)
Từ trích dẫn trên và hiểu biết từ thực tế, em hãy viết bài luận (600 chữ) bàn luận, thể hiện chính kiến của mình về sĩ diện và căn bệnh sĩ diện hão trong giới trẻ ngày nay.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Hãy xác định 3 đặc điểm tiêu biểu của hài kịch trong văn bản Thuỷ thủ tàu viễn dương. (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đọc lại kiến thức về thể loại hài kịch
Lời giải chi tiết:
- Hình thức của văn bản kịch:
+ Kết cấu theo cảnh (lớp, hồi): văn bản đọc hiểu là cảnh III của vở kịch.
+ Tên nhân vật in đậm, sau tên đó có dấu hai chấm và lời thoại của nhân vật.
+ Có phần chỉ dẫn sân khấu: chữ in nghiêng trong ngoặc đơn.
– Nhân vật hài kịch có phẩm chất bên trong không tương xứng với vị trí thân phận của nó và do vậy, nó đáng là nạn nhân của tiếng cười: Hưng, Ông Nha.
– Nội dung: chứa đựng mâu thuẫn gây cười (là thuyền trưởng tàu sông nhỏ phải nhận là thuyền trưởng tàu Vốt-xcô) → chế giễu thói hư, tật xấu (bệnh sĩ, thích danh tiếng) của con người.
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Xác định một số xung đột, mâu thuẫn chủ yếu trong văn bản hài kịch Thuỷ thủ tàu viễn dương và phân tích đôi nét về tác dụng của chúng. (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các xung đột, mâu thuẫn của văn bản và phân tích tác dụng
Lời giải chi tiết:
- Phẩm chất bên trong không tương xứng với vị trí thân phận của mỗi người:
+ Hưng là tàu trưởng đường sông mang danh thuyền trưởng Vốt-xcô (tiếng là tài giỏi, sang trọng, giàu có >< thực tế xơ xác, thất thểu.
+ Mượn lợn các nhà về bỏ vào chuồng chung để cho khách tham quan tới quay vô tuyến.
- Mâu thuẫn bên trong nhân vật.
+ Hưng: muốn nói thật nhưng vẫn đành nói dối.
* Thình: không biết nghề làm pháo nhưng phải phụ trách việc làm pháo; mắng Hưng ("Mày giết tao rồi ; “Mày giết tao, mày giết tạo rồi, Hưng ạ”) vẫn buộc Hưng nói dối (nhận là thuyền trưởng Vốt-xcô)
→ Những xung đột, mâu thuẫn xuất phát từ thói háo danh đã phản ánh một
căn bệnh, xu hướng xấu tồn tại trong xã hội: thích danh tiếng, sự hào nhoáng (chúa thích danh tiếng oai vệ).
→ Những xung đột, mâu thuẫn này tạo nên kịch tính, là “linh hồn của kịch, cuốn hút, khiến người đọc dõi theo tiếng triển của nó: Hưng sẽ diễn vai thuyền trưởng Vit-xcô như thế nào? Khi nào sự việc bại lộc Khi biết Hưng chỉ là tàu trưởng đường sông (chở phân lân, phân đạm), Ông Nha, Nhàn và dân làng sẽ thế nào?
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Đoạn trích hài kịch trên đã sử dụng những thủ pháp gây cười nào?(1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đọc lại kiến thức về thủ pháp gây cười
Lời giải chi tiết:
- Xây dựng tình huống kịch:
+ “Ra trường, họ cử cháu về làm việc ở một công ti vận tải của tỉnh nhà. Lúc mới vào học, viết thư cho Nhàn cháu đã không dám nói sự thật, sợ cô ấy thất vọng. Cô ấy chỉ mong cháu trở thành thuyền trưởng đi biển, và cháu đã hứa, đã thề thốt, nên cháu dành nói dối cô ấy... Cháu thật tồi... Cháu sĩ, cháu sợ cô ấy sẽ không yêu cháu nữa....”
→ Tình huống kịch tự nhiên: từ ước mơ của cô bé học sinh lãng mạn, từ lời hứa của cậu học sinh sợ người yêu thất vọng, không dám nói thật sợ mất người yêu,…
→Tình huống cơ bản này đã đẩy cốt truyện phát triển, đẩy kịch tính lên cao trào, khiến Hưng từ người nói dối → làm dối (diễn vai thuyền trưởng Vốt-xcô trong trang phục đi mượn), làm bật lên tiếng cười hài hước, châm biếm, phê phán...
- Ngôn ngữ đậm chất hài hước: Viết thư nói bốc phét còn dễ, đằng này, mình phải đóng kịch... cháu ngượng lắm; viễn dương hàng hải, hơn cả phi công, hơn cả lái tàu vũ trụ, nào ngờ... mày lái tàu chở cứt hả cháu?; Chết cũng phải là Vốt-xô,...
- Khắc hoạ chân dung nhân vật ông Nha: không xuất hiện trực tiếp trong đoạn trích, chỉ qua lời nói của nhân vật khác mà hiện lên khá rõ nét với háo danh, mê sự hào nhoáng: chúa thích danh tiếng oai vệ; Đối với ông này thì không gì tai hại bằng làm ông ấy tên và mất danh tiếng,...
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Thủ pháp nghệ thuật nào để lại cho em nhiều ấn tượng nhất? Vì sao? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chọn một thủ pháp để lại ấn tượng và đưa ra giải thích hợp lí
Lời giải chi tiết:
- Tạo tình huống kịch tính; Nghệ thuật phóng đại (nói quá, cường điệu): Học
sinh tự đưa dẫn chứng.
- Đánh giá thủ pháp nào đặc sắc nhất: Học sinh tự làm theo quan điểm cá nhân
- Gợi ý về thủ pháp gây cười:
+ Xác định đoạn/ câu chứa thủ pháp gây cười
+ Lí giải bằng hai lí do trở lên (gây cười bởi..., ý nghĩa/tác động tới độc giả).
Câu 5 (1 điểm)
|
Câu 5. Phân tích đôi nét về nhân vật Hưng và cho biết: Em nhận được bài học nào từ nhân vật này? Em hãy đưa ra lời khuyên với Hưng. (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các lời thoại của nhân vật Hưng từ đó trả lời câu hỏi
Lời giải chi tiết:
– Nhân vật Hưng (học sinh phát hiện và gọi tên biểu hiện của nhân vật):
+ Là người lao động chăm chỉ, yêu nghề của mình.
+ Nhiễm thói háo danh (vì hứa... không dám nói sự thật với người yêu).
+ Nhận ra sự thật nói dối không hay... nhưng vẫn bị cuốn theo bệnh sĩ.
+ Không dũng cảm đối mặt với sự thật. .. chưa dám là mình...
– Bài học từ nhân vật, lời khuyên với nhân vật: Học sinh tự làm (thể hiện nhận thức, góc nhìn của cá nhân)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Nêu ý nghĩa giáo dục từ trích đoạn hài kịch trên. Từ đó đánh giá khả năng tác động của đoạn trích hài kịch Thuỷ thủ tàu viễn dương đối với bản thân và ý nghĩa thực tiễn của vở kịch Bệnh sĩ của Lưu Quang Vũ. (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ ) (2.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Dựa vào phần phân tích ở trên
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
- Triển khai đoạn đảm bảo dung lượng; nội dung hướng vào các ý sau đây:
+ Cảnh báo: bệnh sĩ, thích danh tiếng hào nhoáng sẽ đẩy con người vào tình thế “không lối thoát” bi hài và có nguy cơ trở thành người nói dối, người không trung thực.
+ Khả năng tác động của đoạn trích hài kịch: Học sinh tự trả lời theo đánh giá của cá nhân
- (Gợi ý: tiếng cười phê phán chế giễu bệnh háo danh, thích hào nhoáng sẽ khiến mỗi độc giả tự nhìn lại mình để điều chỉnh hành vi và lối sống tránh lâm vào tình cảnh bi hài (như Hưng và Ông Thình: đã nói dối... phải nói dối tiếp và tiếp,...)
- Bệnh sĩ là một trong những tác phẩm hài kịch nổi tiếng của cố tác giả Lưu Quang Vũ nói về bối cảnh xã hội cuối thế kỉ trước nhưng mang nhiều ý nghĩa phù hợp với xã hội ngày nay: vở kịch Bệnh sĩ mang tính xã hội sâu sắc, phê phán tính “sĩ hão” của một số người trong xã hội thời bao cấp, nhưng vẫn có ý nghĩa thời sự trong cuộc sống hôm nay.
Câu 2 (4 điểm)
|
Từ trích dẫn trên và hiểu biết từ thực tế, em hãy viết bài luận (600 chữ) bàn luận, thể hiện chính kiến của mình về sĩ diện và căn bệnh sĩ diện hão trong giới trẻ ngày nay. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Từ trích dẫn trên và hiểu biết từ thực tế, em hãy viết bài luận (600 chữ) bàn luận, thể hiện chính kiến của mình về sĩ diện và căn bệnh sĩ diện hão trong giới trẻ ngày nay. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề nghị luận - Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ |
|
Thân bài |
3,0 |
* Về vấn đề: - Sĩ diện: biểu hiện; tác dụng với cá nhân, xã hội - Căn bệnh sĩ diện hão: + Biểu hiện trong đời sống hiện đại + Nguyên nhân (sự tác động của mạng xã hội) + Hậu quả đối với cá nhân, xã hội (mất thời gian, nguy cơ đối với bản thân: giả dối, mất đi sự trung thực,…) - Cần phân biệt, xác định ranh giới giữa sĩ diện với căn bệnh sĩ diện hão (đề xuất một số giải pháp “chữa bệnh” sĩ hão) * Quan niệm, chính kiến của bản thân (đồng tình/ phản đối) - Nhận thức cá nhân về sĩ diện và căn bệnh sĩ diện hão - Thái độ trước sĩ diện và căn bệnh sĩ diện hão |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về giá trị của vấn đề đối với thanh niên - Hành động của cá nhân (trong tình huống giả định) |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng các thao tác phân tích so sánh, chứng minh, bình luận - Dẫn chứng phù hợp với lí lẽ, luận điểm |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
KHÔNG THỂ THÀNH NGƯỜI
(A – dít Nê - xin)
Trong bọn tôi chỉ cần có một kẻ nào đó hoài nghi kêu lên rằng: “Không thể được, anh em ơi, lũ chúng ta không thành người được!” là lập tức mọi người gật đầu tán thưởng: “Đu-u-úng! Chí phải, chí chí phải, không thể thành người!”. Và không bói đâu ra một người phản bác: “Sai lại thế! Phải tự trọng chứ!”
Hồi còn trẻ, có một lần, dạo ấy tôi vào quãng hai mươi nhăm tuổi, bầu nhiệt huyết còn sôi sục, tôi đã cả gan chống lại luận thuyết đó.
Lần ấy tôi đi tàu thuỷ ra đảo Hoàng Nam, bỗng có một người đàn ông làu nhàu:
“Xin lỗi các người, làm sao chúng ta có thể thành người được!”. Mọi người có mặt trong phòng lúc ấy đều gật đầu đồng ý. Riêng tôi thì nóng mắt cự lại: “Sao lại không thành? Dứt khoát là thành!”.. Mà còn thành những người làm chấn động địa cầu là khác.
Mọi người trong phòng khách tuồng như ăn ý với nhau từ trước, đồng thanh kêu ầm lên: Bậy nào, bậy nào, không thể thành người được....
Được mọi người hỗ trợ, ông già kia bớt nóng: “Nghe thấy chưa, con?... Các vị đây đều nhất trí ủng hộ tôi đấy. “Thành người!... Nhất định sẽ thành người!” – Tôi lặp lại.
Ông già cười nhạt: “Đó, con vừa nói: “Nhất định sẽ thành người.” Như thế nghĩa là trước đây và bây giờ chưa thành người chứ sao.
Từ bấy đến nay bao nhiêu năm trôi qua mà lúc nào tôi cũng băn khoăn: “Vì sao chúng ta không thành người được?”. Lần đi tù mới đây đã mở cho tôi đôi mắt; cuối cùng tôi đã tìm ra câu đáp.
Những ngày tiếp người nhà, tôi được nghe toàn những tin xấu. Tôi thấy nặng nề, ủ dột. Tệ hơn nữa là tôi có mặc cảm tuyệt vọng và nghĩ chỉ còn một lối thoát: phải lập tức ngồi viết tiểu thuyết. Không được lãng phí thời giờ! Phải chấm dứt chuyện trò ba láp hoặc ngồi không, nghĩ vớ nghĩ vẩn.
Chưa viết được mươi dòng thì một vị phạm nhân đầu óc sáng láng đến gần tôi: “Chúng ta không thể thành người được! Quyết không, quyết không!”. Rồi ông ta kể lể dài dòng và cặn kẽ về cuộc sống ở hai nước Anh và Bỉ. Tôi phát rầu rĩ và đưa mắt nhìn xuống, cố ý cho ông ta hiểu rằng tôi rất bận và mong ông ta đứng dậy. Than ôi!
Bạn tôi nào có biết phán đoán. Ông ta cứ thế mà nhớ đâu nói đấy: “Bên ấy, anh sẽ thấy không ai không cầm sách vở. Đi ô tô, đi tàu hoả, chỗ nào cũng đọc”.
– Chà, ghê thật, ghê thật! – Tôi ngắt lời ông với hi vọng ông ấy tha cho tôi nhờ.
– Ghê hẳn đi chứ lị! – Ông ta nói tiếp. – Còn bây giờ anh cứ thử nhìn những người quanh đây xem. Ai cũng nhận mình là trí thức mà không có ai cầm sách cả.
Không, bạn thân mến của tôi ơi, chúng ta không thành người được...[...]
Thế là tôi mất đứt nửa ngày để nghe một bài giảng về lòng hiếu sách của người Thuỵ Sĩ và của người Bỉ.
Nuốt vội vàng mấy hạt cơm trưa, tôi lại leo lên giường viết sách. Tờ giấy trên đầu gối, cây bút trong tay, tôi vừa ngồi vừa nghĩ. Chưa viết được một chữ nào, lại một người quen bước đến:
– Anh làm gì vậy?
– Tôi viết tiểu thuyết.
Ở đây viết không ra cái gì đâu. Anh này ngộ thật... Anh đã ở châu Âu lần nào chưa!
- Không, tôi chưa bao giờ ra khỏi đất Thổ.
- Tiếc quá! Thế thì anh phải đi châu Âu mới được. Sống bên đó, được tận mắt nhìn thấy mọi vẻ sinh hoạt là điều rất thú vị. Những chuyến đi ấy làm con người mở rộng được tầm mắt. Tôi đã đi hầu khắp châu Âu, có lẽ không nước nào không đặt chân tới. Lâu nhất là thời kì tôi ở Đan Mạch, Hà Lan, Thụy Điển. Ở các nước đó, mọi người tôn trọng nhau hết sức. Thậm chí người ta không nói to để khỏi phiền người bên cạnh. Còn ở nước ta, anh xem! Muốn thủng hai màng nhĩ! Có lúc tôi muốn chợp mắt một tí, muốn đọc hoặc viết một tí, tôi thiếu gì việc phải làm hả anh, thế mà cũng không được. Ôn như chợ vỡ thế này thì anh không viết tiểu thuyết được đâu. Không thể viết được.
- Ôn như chợ vỡ tôi cũng viết được. Tôi chỉ không viết được khi bị người khác lải nhải bên tại mà thôi.
- Bạn thân mến ơi, nhưng được yên tĩnh thì thích hơn biết mấy. Có phải thế không? Mà họ có quyền gì quấy rầy anh kia chứ. Họ có thể nói nhỏ được quá chứ lị. Ở Đan Mạch, Thuỵ Điển, Hà Lan, không có ai bất lịch sự như thế bao giờ. Dân chúng người ta tân tiến vì biết tôn trọng lẫn nhau...
Ông ta cứ nói lảm nhảm hết chuyện này chuyện khác, lôi ra trăm thứ dẫn dụ để minh hoạ cho trình độ lịch thiệp và giáo dục của người châu Âu.
Tôi cúi xuống mặt giấy và bắt đầu viết. Nói đúng hơn là tôi làm ra bộ viết. Hẳn như thế là bất nhã, nhưng tôi còn biết làm sao khác được?
- Đừng hoài công vô ích. – Ông bạn lại nói. – Không viết được gì đâu. Viết thế anh chỉ làm hỏng đầu óc. Nước Thổ chứ có phải châu Âu đâu. Bạn thân mến của tôi ơi, chính vì lẽ đó mà chúng ta không nên người được đâu. Không, chẳng thể nào được.
Chắc ông ta chưa chịu kết thúc ngay, nhưng may quá, luật sư của ông ta đến cho tôi.
Sợ rằng có người khác đến ám, tôi cúi gằm hẳn mặt xuống.
Vừa viết được hai dòng, lại một ông bạn cùng xà lim bước đến.
– Chúc anh thành công! – Ông ta nói.
Ông ta ngồi xuống giường tôi, nói: “Còn xa chúng ta mới thành những người chân chính.” Tôi không hé răng nửa lời hòng chặn đứng câu chuyện ngay khởi thuỷ.
- Tiếc thật! Anh được ở bên Mĩ vài tháng anh sẽ thấy ngay vì sao chúng ta lạc hậu thế này. Người Mĩ đâu có như ta, họ không thích tán gẫu. Bên họ có câu: “Time is money. (Thời gian là tiền bạc). Còn nước Thổ ta thì sao? Cứ lấy chúng ta ra mà xem. Chúng ta đang làm gì? Chính vì vậy mà họ tân tiến.
Tôi thở dài liên tiếp, lòng thầm mong ông ta hiểu cho rằng tôi rất bận và mong ông ta đi đi cho rồi. Nhưng ông ta cứ tiếp tục... Đến giờ ăn tối, ông ta bảo:
Chúng ta không thành người được! Đúng thế. Cứ cái lối sa đà trò chuyện thế này thì chẳng có bao giờ nên người.
– Bác nói thật chí lí. – Tôi đáp. Khoắng vội cho xong bát cơm, tôi quay về làm việc. Tiểu thuyết! Phải viết tiểu thuyết.
– Cái chính là phải lao động. Những việc khác là phụ. – Tôi bỗng nghe có tiếng người nói bên cạnh.
- Theo anh thì sao? – Anh ta hỏi và ngồi xuống giường bên.
– Ai dám tranh luận chuyện đó? Lao động cần quá đi chứ. – Tôi đáp
Còn anh bạn thì sôi nổi tiếp tục: “Tôi sang Đức học đại học, sau đó tôi lại làm việc ở bên ấy nhiều năm. Người Đức chả có ai ăn không ngồi rồi cả. Còn bên ta thì thế nào? Cứ lấy tất cả những người trong khám này ra làm bằng mà xem. Chúng ta không thể thành người được. Còn lâu chúng ta mới thành những người chân chính.”
Tôi hiểu ra: Người ta không cho tôi viết tiểu thuyết. Cố viết, tôi chỉ giết chết thần kinh của mình thôi. Tận nửa đêm anh ta mới về. Bây giờ có thể làm việc được rồi. Không ai còn đến ngồi quấy phá và lên lớp cho tôi về chuyên đề lí do khiến chúng ta không nên người được.
Chao ôi, tôi đã lầm to: lại có người đến. Ông ta khe khẽ thì thầm sợ phiền đến giấc ngủ mọi người. Theo lời ông, người Pháp biết làm việc ra trò, nghỉ ngơi và vui chơi ra trò, dân tộc đó không bao giờ lẫn lộn thời gian làm việc với thời gian nghỉ ngơi. Rồi ông ta khuyên tôi không nên làm việc qua nửa đêm như thế.
- Bây giờ anh đi ngủ đi, sáng mai, đầu óc tỉnh táo, anh lại tiếp tục viết. Bên nước ta, mọi thứ cứ lùng nhùng với nhau không ra cái gì cả. Lúc nghỉ thì mình làm việc, giờ làm việc thì lại muốn nghỉ. Không bao giờ chúng ta thành người được đâu.
Không bao giờ.
Lúc ông ta đi thì tôi cũng không còn sức để viết được nữa. Hai mí mắt tôi cứng lại, tôi lăn ra ngủ vùi. Sáng hôm sau, tôi dậy thật sớm và bắt tay vào việc. Một người cùng khám mà tôi rất kính nể vừa đi ngoài về. Thấy tôi, ông ta bước lại
- Mọi thứ ở bên Anh không có như bên ta. – Ông ta nhận xét. – Anh đã ở bên Anh bao giờ chưa?
- Anh cứ hình dung anh đang ở bên ấy và đang đi tàu. Người cùng phòng với anh suốt nửa ngày không thèm nói câu nào... Còn bên ta, anh đang bận hay đang rỗi, mặc, cứ tán phét. Chính vì thế mà chúng ta chẳng bao giờ thành người được cả.
Tôi vò nát tờ giấy trên đầu gối, quẳng xuống gậm giường và nhét bút vào túi. Thế là hết... Thế là tiêu tan cái mộng tiểu thuyết của tôi. Phải, trong tù, tôi không viết được gì cả. Nhưng nhà tù đã mở ra cho tôi chân lí trăm ngàn lần quý hơn cuốn sách thai nghén kia. Tôi đã hiểu ra vì sao chúng ta không thể thành người được.
Giờ chỉ cần ai nói rằng: “Không, chúng ta không thể thành người được... thì lập tức tôi giơ tay hô lớn: Tôi biết lí do rồi. Tôi trưởng thành hẳn lên.
Đức Mẫn dịch
(A-dít Nê-xin, Những người thích đùa, NXB Hội Nhà văn, 1998)
* Tác giả A-dít Nê-xin, (1915 –1995): tên khai sinh là Mehmet Nusret. Ông là một nhà văn châm biếm được ngưỡng mộ ở Thổ Nhĩ Kì và là tác giả của hơn 100 cuốn sách. Sau khi làm viên chức trong vài năm, ông trở thành người biên tập của một loạt tạp chí trào phúng châm biếm nghiêng về chủ nghĩa xã hội.
Câu 1. Xác định tình huống truyện Không thể thành người. Phân tích mối quan hệ giữa tình huống truyện với nội dung của truyện (0,5đ)
Câu 2. Truyện được thuật kể từ điểm nhìn trần thuật nào? Điều đó có ý nghĩa gì? Các cụm từ chỉ thời gian có tác dụng như thế nào trong trần thuật? (1đ)
Câu 3. Vì sao nhân vật “tôi” không thể thực hiện được ý định viết tiểu thuyết của mình? Một số người trong tù (nói chuyện với “tôi”) có đặc điểm chung nào? Đặc điểm ấy có tồn tại trong đời sống chúng ta không?(1đ)
Câu 4. Nêu ý nghĩa về phong cách viết của truyện? Điều đó có ý nghĩa gì? Em hãy dẫn tên tác giả hoặc tác phẩm văn học của Việt Nam có phong cách như vậy (1đ)
Câu 5.
Văn bản đọc hiểu Không thể thành người (A – dít Nê – xin) đã đề cập tới vấn đề nào của con người thời hiện đại? Em hãy vẽ sơ đồ thể hiện 4 vấn đề em cho là quan trọng nhất trong văn bản đó (0,5đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Nhận xét của em về nhân vật “tôi” và cho biết: Nhân vật này đem tới cho em nhận thức, bài học gì? Tác giả đã thể hiện quan điểm như thế nào về việc nhận thức, đánh giá con người và cuộc sống (Trả lời bằng đoạn văn khoảng 200 chữ) (2đ)
Câu 2.
Em hãy lựa chọn từ một vấn đề cần thiết đối với thanh niên (trong những vấn đề đã xác định ở câu 1) và viết bà luận (khoảng 500 chữ) thể hiện quan điểm của mình về vấn đề đó (4đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Xác định tình huống truyện Không thể thành người. Phân tích mối quan hệ giữa tình huống truyện với nội dung của truyện (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Mọi người gật đầu tán thưởng ý kiến: “Không thể được, anh em ơi, lũ chúng ta không thành người được!... chỉ “tôi” đã cả gan chống lại luận thuyết đó
- Mối quan hệ giữa tình huống truyện với nội dung của truyện: tình huống nhận thức đã mở đầu cho hành trình nhận thức của nhân vật “tôi”: từ phản đối luận thuyết đến đồng tình và hiểu sâu sắc “luận thuyết”
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2. Truyện được thuật kể từ điểm nhìn trần thuật nào? Điều đó có ý nghĩa gì? Các cụm từ chỉ thời gian có tác dụng như thế nào trong trần thuật? (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, nhớ lại kiến thức về điểm nhìn trần thuật
Chú ý các cụm từ chỉ thời gian
Lời giải chi tiết:
– Truyện được thuật kể từ điểm nhìn trần thuật của nhân vật “tôi” (với điểm nhìn bên trong và bên ngoài) để diễn tả nhận thức của “tôi” từ những tác động của cuộc sống.
– Các mốc thời gian quan trọng:
+ Hồi còn trẻ
+ Lần ấy
+ Từ bấy đến nay
+ Bây giờ .
- Ý nghĩa các mốc thời gian: để diễn tả quá trình/hành trình nhận thức của “tôi” về một vấn đề “chúng ta không thành người được!” → Nhận thức là cả một quá trình, không thể hiểu và thể hiện quan điểm, chính kiến của bản thân về một vấn đề khi chưa nhận thức sâu sắc về vấn đề đó.
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Vì sao nhân vật “tôi” không thể thực hiện được ý định viết tiểu thuyết của mình? Một số người trong tù (nói chuyện với “tôi”) có đặc điểm chung nào? Đặc điểm ấy có tồn tại trong đời sống chúng ta không?(1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Liên hệ tới thực tế đời sống
Lời giải chi tiết:
- “Tôi” không thể thực hiện được ý định viết tiểu thuyết: bởi thường xuyên bị làm phiền, không có thời gian để suy nghĩ, không dám nói thẳng và từ chối những câu chuyện làm mất thời gian của mình.
- Đặc điểm chung của một số người tù:
+ Hay viện dẫn các nước châu Âu để chứng tỏ sự hiểu biết của mình.
+ Lời nói mâu thuẫn với việc làm; nói một đằng, làm một nẻo (biết rõ con người
cần đọc sách, không để thời gian lãng phí bởi câu chuyện nhảm... nhưng mình lại làm những điều đó và không chịu đọc sách).
+ Thường xuyên làm phiền người khác, không nhận thức được việc mình làm
+ Biết rõ lí do vì sao khó thành người nhưng không sao khắc phục được.
- Hay viện dẫn các nước châu Âu để chứng tỏ sự hiểu biết của mình là một căn bệnh nặng, vẫn hiện hiện trong đời sống của chúng ta
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Nêu ý nghĩa về phong cách viết của truyện? Điều đó có ý nghĩa gì? Em hãy dẫn tên tác giả hoặc tác phẩm văn học của Việt Nam có phong cách như vậy (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và rút ra phong cách viết của truyện
Liên hệ tới tác giả tác phẩm văn học Việt Nam
Lời giải chi tiết:
- Truyện được viết theo phong cách trào phúng:
+ Khai thác mâu thuẫn giữa hành động với lời nói của các nhân vật.
+ Giọng văn hài hước châm biếm rất dí dỏm nhưng cũng rất sâu sắc .
+ Biệt tài của A-dít Nê-xin không chỉ ở chỗ biết phát hiện ra những khía cạnh tức cười trong những chuyện tưởng như không có gì đáng cười xảy ra hằng ngày.
+Ông biết “kể” lại chúng với một giọng hài hước khiến ta không thể không bật cười.
- Ý nghĩa:
+ Ông châm biếm các thói hư tật xấu của con người trong xã hội. (Học sinh tự đưa dẫn chứng.).
+ Truyện làm bật lên tiếng cười hài hước khiến độc giả tự soi vào mình.
Tên tác giả/tác phẩm (có phong cách trào phúng): Nguyễn Công Hoan, Vũ
Trọng Phụng,...
Câu 5 (0,5 điểm)
Văn bản đọc hiểu Không thể thành người (A – dít Nê – xin) đã đề cập tới vấn đề nào của con người thời hiện đại? Em hãy vẽ sơ đồ thể hiện 4 vấn đề em cho là quan trọng nhất trong văn bản đó (0,5đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Nhận xét của em về nhân vật “tôi” và cho biết: Nhân vật này đem tới cho em nhận thức, bài học gì? Tác giả đã thể hiện quan điểm như thế nào về việc nhận thức, đánh giá con người và cuộc sống (Trả lời bằng đoạn văn khoảng 200 chữ) (2đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức phân tích ở trên và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Học sinh viết đoạn văn đảm bảo độ dài và hướng vào các nội dung chính sau:
- Nhân vật “tôi” là người: (Học sinh tham khảo gợi ý sau; bổ sung theo ý hiểu
của cá nhân.)
+ Có nhận thức, quan điểm và dám bày tỏ nhận thức, quan điểm của mình.
+ Là người chắt lọc được những bài học quý giá từ cuộc sống.
+ Chưa quyết liệt bày tỏ hoặc từ chối những điều đáng từ chối... thái độ không quyết liệt của anh ta đã tiêu tán thời gian, khiến thời gian của mình trôi đi trong vô ích.
+ Quan điểm của nhân vật tôi đã thay đổi: Từ cả gan chống lại luận thuyết:
“Không thể được, anh em ơi, lũ chúng ta không thành người được!” – đến đồng tình và hiểu sâu sắc lí do con người không thể thành người. (chỉ cần ai nói rằng: “Không, chúng ta không thể thành người được!” thì lập tức “tôi” giơ tay hô lớn: “Tôi biết lí do rồi. Tôi trưởng thành hẳn lên.).
- Nhận thức, bài học từ “tôi”: Học sinh từ đúc rút (cần sát với biểu hiện của “tôi”)
- Quan điểm của tác giả:
+Để nhận thức sâu sắc một vấn đề cần có một quá trình.
+ Hiện thực cuộc sống trao cho con người những bài học quý giá.
+ Từ nhận thức/lời nói đến việc làm là một khoảng cách lớn.
+ Đánh giá một con người cần chú trọng đến hành động/việc làm của họ hơn là lời nói,
Câu 2.
|
Em hãy lựa chọn từ một vấn đề cần thiết đối với thanh niên (trong những vấn đề đã xác định ở câu 1) và viết bà luận (khoảng 500 chữ) thể hiện quan điểm của mình về vấn đề đó (3,5đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Em hãy lựa chọn từ một vấn đề cần thiết đối với thanh niên (trong những vấn đề đã xác định ở câu 1) và viết bà luận (khoảng 500 chữ) thể hiện quan điểm của mình về vấn đề đó (3,5đ) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
– Giới thiệu vấn đề nghị luận (xác định được vấn đề của tuổi trẻ). – Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ. |
|
Thân bài |
2,5đ |
* Làm rõ cách hiểu vấn đề; vai trò của vấn đề đối với tuổi trẻ - Cách hiểu vấn đề theo số đông. – Vai trò của vấn đề đối với học sinh lớp 12 trong thời điểm lựa chọn ngành nghề để học tập, để phát triển bản thân trong tương lai * Biểu hiện của vấn đề trong đời sống hiện đại - Một số dạng hiểu hiện (phân tích nguyên nhân và tác động đến giới trẻ, bản thân). - Nhận thức, hành động của thanh niên (Các góc nhìn về vấn đề). - Những tồn tại của vấn đề cần giải quyết (qua một số đối tượng). + Phân tích nguyên nhân, tác hại từ những tồn tại đã nêu *Đề xuất một số giải pháp (khả thi) để cải biến thực tại |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề. - Hành động của cá nhân (với bản thân, với những người gần gũi) |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng thành thạo thao tác so sánh, tổng hợp, chứng minh. - Dẫn chứng phong phú, đa dạng phù hợp với lí lẽ, luận điểm. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
BÍ ẨN CỦA LÀN NƯỚC
(Bảo Ninh)
(1) Các dòng sông trôi đi như thời gian, và cũng như thời gian, trên mặt nước các triền sông biết bao nhiêu là chuyện đời đã diễn ra. Nhất là về đêm, trên làn nước của dòng sông quê hương tôi lấp lánh hằng hà những đốm sáng bí ẩn, có cả điều bí ẩn của đời tôi.
(2) Năm ấy, nhằm trúng đỉnh lũ đêm Rằm tháng Bảy, một loạt bom Mĩ phá tan vệt đê canh giữ đằng trước làng tôi. Dứt dậy nổ của bom và tiếng gầm ghê rợn của máy bay cường kích là chuỗi ầm ầm long lở của dòng sông phá bụng đê tràn ngang vào đồng ruộng.
Từ trên điếm canh, tôi chạy lao về làng. Hồi chiều, hay tin vợ ở nhà trở dạ nhưng tôi không thể rời vị trí hộ đê. Bây giờ giời đất sập rồi, trong tôi chỉ còn con tôi, vợ tôi. Tôi dốc toàn lực bình sinh vào đôi chân. Đằng sau, cơn đại hồng thuỷ đuổi bén gót.
Nước đã ngập làng. Tôi về, kịp dìu vợ leo lên mái. Mái nhà tranh của vợ chồng tôi bị lôi đi trong đêm đen. Đến khi mái rạ sắp rã tan ra thì ơn trời nó vướng vào thân đa trước đình làng. Đã cả một đám đông bám trên các cành. Nhiều bàn tay chìa xuống giúp tôi đỡ vợ con trèo lên. Vợ tôi ôm khư khư đứa con mới sinh, nhất định không để tôi bế đỡ.
– Con trai... con trai mà... con trai... Để yên em ẵm, anh vụng...
Nhiều giờ trôi qua. Mưa tuôn, gió thổi. Mực nước không dâng cao hơn, nhưng chảy xiết hơn. Cây đa đầy người hơn. Tôi mỏi nhừ. Tay ôm chặt vợ, tay níu mình vào chạc cây. Vợ tôi yếu lả, ướt lướt thướt, lạnh ngắt.
Khoảng gần sáng, bỗng có tiếng quẫy nước ngay dưới cành đa của vợ chồng tôi. Một giọng nghẹn sặc với lên:
- Cứu mẹ con tôi mấy... cứu mấy, người ơi...
Một bàn tay nhớt và lạnh như tay ma rờ vào chân tôi đang buông thống. Tôi vội cúi xuống, đưa tay ra. Nhưng bàn tay của người đàn bà dưới nước truội đi, chìm nghỉm. Cành đa kêu rắc, chao mạnh. Vợ tôi “ối” kêu một tiếng thảng thốt, và “ùm” con trai tôi, đứa con sơ sinh tôi chưa được nhìn thấy mặt, tuột khỏi bọc ni-lông trên tay mẹ nó, sa xuống làn nước tối tăm.
- Con tôi...! – Vợ tôi hét rú lên và lao ngay lập tức xuống nước hòng chụp lấy con.
Tôi phóng mình theo. Nước lạnh, ngầu bùn, sâu hút và cuốn mạnh. Tôi vớ kịp thằng con, nhao vội lên, trao nó cho những bàn tay đang chìa xuống, rồi lại lặn tiếp ngay để cứu vợ. Nhiều người phi xuống theo để trợ sức tôi...
Tôi tỉnh lại, thấy trời sáng rồi và đã tạnh mưa. Tôi nằm trong khoang một ca-nô cứu nạn đầy ắp người. Hồi đêm, tôi đã vật lộn điên dại quyết sống mái một phen với làn nước giết người, nhưng tôi đã thua cuộc. Ứa ra cả máu tai máu mũi mà không những không cứu nổi vợ, đến thi thể cô ấy tôi cũng bất lực không tìm thấy. Khi ca-nô quân đội tới, mọi người đã phải dùng sức để buộc tôi rời mặt nước. Kiệt sức, tôi ngất đi. Khổ đau, tôi tỉnh dậy, nước mắt nóng rực, tế nhói. Một chị phụ nữ chen tới bên tôi, lên lời an ủi:
– Phận chị ấy đã vậy, thôi thì anh phải nén lòng lại, giữ sức khoẻ mà nuôi con.
Ơn trời, anh còn kịp cứu được cháu. Chao ôi, vừa kịp khóc chào đời đã trải một cơn kinh hoàng hú vía. Anh coi con anh này. Cứ như không. Đã bú, đã ngủ rồi đây này.
Ngoan chưa này... Ôi chao, nó tè dầm rồi này.
Chị nựng nịu, và từ từ giở bọc chăn chiên đang ủ kín con tôi. Chị thay tã cho nó. Tôi nhìn, chết lặng.
- Con tôi... – Tôi khóc, đỡ lấy bọc chăn. – Con tôi!
(3) Từ bấy tới nay, thời gian trôi qua và triền nước trôi đi, tôi đã có tuổi và con gái tôi đã thành một thiếu nữ. Nó là đứa con của làn nước, mọi người đều nói thế bởi vì chuyện nó sa xuống dòng nước lụt rồi được cha nó cứu lên thì cả làng ai cũng biết. Nhưng điều bí mật kia thì không ai hay, kể cả con gái tôi cũng không thể biết.
Chỉ có dòng sông biết.
Có ngày nào mà tôi không ra đê ngắm làn nước trôi. Vợ tôi, con tôi và người đàn bà vô danh nhìn tôi từ đáy nước. Thời gian, năm tháng cứ trôi, dòng sông và lịch sử, tất cả đều đổi thay nhưng mà niềm đau của đời tôi thì khôn nguôi bởi ấy là một niềm đau không thể nói nên lời.
(Bảo Ninh, Những truyện ngắn, NXB Trẻ, Tái bản 2021)
* Bảo Ninh sinh năm 1952, tên thật là Hoàng Ấu Phương, quê ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh (nay thuộc thành phố Đồng Hới), tỉnh Quảng Bình, Việt Nam. Ông từng chiến đấu ở mặt trận B3 Tây Nguyên. Từ 1976 – 1981, ông học đại học ở Hà Nội, sau đó làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam. Từ 1984 – 1986, ông học khoá 2 Trường Viết văn Nguyễn Du. Ông làm việc tại báo Văn nghệ Trẻ và là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1997.
Câu 1. Tóm tắt ngắn gọn nội dung truyện xác định tình huống thử thách đối với nhân vật “tôi” và ý nghĩa của tình huống ấy (1đ)
Câu 2. Nhân vật “tôi” là người thế nào? Em có đồng ý với nhân vật “tôi” để “điều bí mật kia không ai hay… chỉ có dòng sông biết” không? (1đ)
Câu 3. Xác định điểm nhìn trần thuật, nghệ thuật trần thuật trong văn bản Bí ẩn của làn nước. Việc sử dụng điểm nhìn, nghệ thuật trần thuật ấy có ý nghĩa như thế nào đối với việc truyền tải nội dung của văn bản? (1đ)
Câu 4. Bí ẩn của làn nước là gì? Em hãy xác định cảm hứng và thông điệp của văn bản bằng đoạn văn dài từ 7- 10 dòng (1đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Truyện ngắn Bí ẩn của làn nước có ý nghĩa như thế nào với đời sống hôm nay? Tác phẩm tác động tới nhận thức và cảm xúc của em như thế nào? (trả lời bằng đoạn văn khoảng 200 chữ) (2đ)
Câu 2.
Đọc đoạn trích từ văn bản Sống chết mặc bay của Phạm Huy Tốn sau đây và viết bài luận so sánh, đánh giá nét tương đồng và khác biệt với tác phẩm Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh (4đ)
SỐNG CHẾT MẶC BAY
(Phạm Huy Tốn)
Gần một giờ đêm, trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên lên to quá, khúc đê làng… thuộc phủ….. xem chừng núng thế lắm, hai ba đoạn đã thẩm lậu rồi, không khéo thì vỡ mất.
Dân phu kể hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ hết sức giữ gìn, kẻ thì thuổng kẻ thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy ngập quá khuỷu chân, người nào người nấy ướt lướt thướt như chuột lột. Tình cảnh trông thật thảm.
Tuy trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người gọi nhau sang hộ, nhưng xem chừng ai ai cũng mệt lử cả, ấy vậy mà trên trời vẫn mưa tầm tã trút xuống, dưới sông thì nước bốc lên. Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi sức trời! Thế đê không sao cự lại được với thế nước! Lo thay! Nguy thay! Khúc đề này hỏng mất, ấy lũ con dân đang chân lấm tay bùn, trăm lo nghìn sợ, đem thân yếu hèn mà chống với mưa to gió lớn, để bảo thủ lấy tính mạng, gia tài, thế thời quan cha mẹ ở đâu?
Thưa rằng: đang ở trong đình kia. Cách đó chừng bốn năm trăm thước. Đình ấy cũng ở trên mặt đề, nhưng cao mà vững chãi, dẫu nước to thế nào cũng không việc gì.
Trong đình đèn thắp sáng trưng, nha lệ, lính tráng, kẻ hầu người hạ, đi lại rộn ràng. Trên sập mới kê ở gian giữa, có một mình quan phụ mẫu, uy nghi chễm chệ ngồi. Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra, để cho tên người nhà quỳ dưới đất mà gãi. Một tên lính lệ đứng bên, cầm cái quạt lông chốc chốc lại phe phẩy.
Tên nữa đứng khoanh tay chực hầu điếu đóm. Bên cạnh ngài, mé tay trái, bát yến hấp đường phèn, để trong khay khảm, khói bay nghi ngút, tráp đổi mới chữ nhật để mở, trong ngăn bạc đẩy những trầu vàng... trông mà thích mắt.
Ngoài kia tuy mưa gió ầm ầm, dân phu rối rít, nhưng trong này xem chừng tĩnh mịch, nghiêm trang lắm: trừ quan phụ mẫu, mọi người không dám to tiếng.
So với cảnh trăm họ đang lấm láp, gội gió tắm mưa như đàn sâu lũ kiến ở trên đê, thời ở trong đình rất là nhàn nhã, đường bệ, nguy nga: nào quan ngôi trên, nào nha ngồi dưới, người nhà lính lệ khoanh tay sắp hàng, nghi vệ tôn nghiêm, như thần như thánh. Thỉnh thoảng nghe tiếng quan phụ mẫu gọi: “Điếu mày”, tiếng tên lính hầu thưa: “Dạ”; tiếng thầy để hỏi: “Bẩm bốc”, tiếng quan lớn truyền: “Kẻ này “Bát sách! Ăn. Người kia “Thất văn”!... “Phỗng” lúc mau, lúc khoan, dung êm ái; khi cười, khi nói, vui vẻ, dịu dàng. Thật là tôn kính, xứng đáng với một vị phúc tinh.[...]
Quan lớn ù thêm. Người đầu cánh, kẻ cuối tay, tranh nhau phô bài để lớn rõ rằng: “Mình có đôi mà không dám phỗng qua mặt!”. Hèn chi mà quan chẳng ù luôn! Quan ù ấy là hạnh phúc....
Khi đó, ván bài quan đã chờ rồi. Ngài xơi xong bát yến vừa xong, ngồi khểnh vuốt râu rung đùi, mắt đang mãi trông đĩa nọc, bỗng nghe ngoài xa tiếng kêu vang dậy trời đất. Mọi người đều giật nảy mình, quan vẫn điềm nhiên, chỉ lăm le chờ người ta bốc trúng quân mình chờ mà hạ, vì ngài sắp ù to.
Có người khẽ nói:
- Bẩm, dễ có khi đê vỡ?
- Bẩm... quan lớn... đê vỡ mất rồi!
Ngài cau mặt, gắt rằng:
- Mặc kệ! [...]
- Đê vỡ rồi!... Đê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày. Có biết không... Lính đâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đây như vậy? Không còn phép tắc gì nữa à?
[...]
(Nguyễn Cừ, Phạm Duy, Phạm Duy Tốn – Tác phẩm chọn lọc, NXB Văn học 2002)
(*) “Sống chết mặc bay” đăng trên tạp chí Nam Phong, số 18/12/1918.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1. Tóm tắt ngắn gọn nội dung truyện xác định tình huống thử thách đối với nhân vật “tôi” và ý nghĩa của tình huống ấy (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Tóm tắt: “Tôi” nhớ lại đỉnh lũ đêm Rằm tháng Bảy, một loạt bom Mĩ phá
tan vệt đê, “tôi” hộ đê, vợ vừa sinh con trai, lũ cuốn nhà, cả nhà mắc lại trên cành đa cùng nhiều người trong đêm. Đúng lúc có người kêu cứu mẹ con tôi với, “tôi” với tay thì cành gãy, cả vợ con rơi xuống nước. “Tôi” lao vào dòng nước nhưng chỉ cứu được đứa bé gái. Ai cũng tưởng rằng “tôi” cứu được con. Tôi nuôi bé gái khôn lớn và ôm nỗi đau cùng bí mật chỉ dòng nước biết.
* Tình huống thử thách bất thường nằm ở đoạn số 2: người kêu, cành cây gãy, vợ con rơi xuống nước, “tôi” lao vào dòng nước nhưng chỉ cứu được đứa bé gái (con người kêu cứu). Ai cũng tưởng rằng “tôi” cứu được con.
+ Tình huống, khoảnh khắc gay cấn, căng thẳng, sự đe doạ dồn dập... tính mạng người khó bảo toàn.
+ Tình huống phản ánh được hiện thực cuộc sống khó khăn: Chiến tranh và thiên tại.
+ Con người không thể toan tính buộc phải hành động gấp,... Bối cảnh buộc mỗi con người bộc bộ nhân cách, bản tính của mình.
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2. Nhân vật “tôi” là người thế nào? Em có đồng ý với nhân vật “tôi” để “điều bí mật kia không ai hay… chỉ có dòng sông biết” không? (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nêu ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Về nhân vật “tôi”: Học sinh dựa vào gợi ý sau và bổ sung dẫn chứng
+ Là người trải qua nhiều đau thương, mất mát, sống sâu sắc.
+ Là người trách nhiệm với vợ con, với xã hội.
+ Là người giàu yêu thương, nhân ái.
- Về việc giữ bí mật: Học sinh tự nêu ý kiến cá nhân (chú ý đến giả định nếu công khai/ không công khai bí mật điều gì sẽ xảy ra).
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Xác định điểm nhìn trần thuật, nghệ thuật trần thuật trong văn bản Bí ẩn của làn nước. Việc sử dụng điểm nhìn, nghệ thuật trần thuật ấy có ý nghĩa như thế nào đối với việc truyền tải nội dung của văn bản? (1đ) |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về điểm nhìn trần thuật và nghệ thuật trần thuật
Lời giải chi tiết:
- Điểm nhìn: Thuật kể từ điểm nhìn của nhân vật “tôi” (phối hợp điểm nhìn bên ngoài và điểm nhìn bên trong); điểm nhìn thuật trần thuật phù hợp để truyền tải nội dung của văn bản: những sự việc xảy ra với gia đình nhân vật “tôi” trong quá khứ nay đã thành nỗi đau không thể nguôi quên.
→ Nghệ thuật trần thuật từ người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, với điểm nhìn từ bên trong (suy ngẫm đoạn đầu và cuối) đã giúp độc giả đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật, khiến tác phẩm trở nên chân thực, giàu chất trữ tình.
- Nhịp điệu trần thuật:
+ Đoạn số 2: sự việc, chi tiết diễn ra nhanh, gấp gáp, nhịp câu ngắn để diễn tả tình thế hiểm nguy, kịch tính của cuộc sống;
+ Đoạn 1, 3 sử dụng điểm nhìn từ bên trong, nhịp điệu chậm để diễn tả nỗi đau, những suy nghĩ, trải nghiệm sâu sắc từ tấm lòng nhân ái của nhân vật “tôi”
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Bí ẩn của làn nước là gì? Em hãy xác định cảm hứng và thông điệp của văn bản bằng đoạn văn dài từ 7- 10 dòng (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Rút ra nội dung chính từ đó suy ra thông điệp
Lời giải chi tiết:
– Bí ẩn của làn nước: Vợ nhân vật “tôi” sinh con trai nhưng đứa bé anh cứu sống là con gái. Điều mọi người không biết là: vợ anh sinh con trai và ngay trước khi cành đa gãy có một người mẹ kêu: “cứu con tôi với!”. “Tôi” mất cả vợ con trong cơn lũ dữ.
– Cảm hứng: hiện thực; cảm thương
– Thông điệp
+ Trong những tình huống nguy nan, ranh giới sống chết chỉ như sợi tóc
con người vẫn có thể sống yêu thương, đùm bọc, sẻ chia, thậm chí hi sinh cả sinh mạng cho người khác, cao thượng, nhân hậu.
+ Trong cuộc sống vô tận, thời gian có thể xoá nhoà đi nhiều thứ song có những nỗi đau, mất mát còn đọng mãi, không thể nguôi yên hành động cao cả, tình thương và đức hi sinh đôi khi khiến người ta vẫn phải chịu ám ảnh, xót xa.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Truyện ngắn Bí ẩn của làn nước có ý nghĩa như thế nào với đời sống hôm nay? Tác phẩm tác động tới nhận thức và cảm xúc của em như thế nào? (trả lời bằng đoạn văn khoảng 200 chữ) (2đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức phân tích ở trên và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Học sinh viết đoạn đảm bảo độ dài và hướng vào các nội dung chính sau:
- Truyện ngắn Bí ẩn của làn nước có ý nghĩa:
+ Đề cập đến hiện thực – tình huống bất thường của cuộc sống – thiên tai lũ lụt) xảy ra hằng năm trên khắp đất nước ta và thế giới.
+ Sự mất mát, nỗi đau và tình người trong hoạn nạn.
– Tác động đến nhận thức, cảm xúc: Học sinh tự làm (Gợi ý: nhận thức cuộc sống luôn có biến động bất thường (thiên tai, tai nạn,...); Cảm xúc: đau xót, cảm thông, trân trọng cách ứng xử của nhân vật “tôi”).
Câu 2.
|
Đọc đoạn trích từ văn bản Sống chết mặc bay của Phạm Huy Tốn sau đây và viết bài luận so sánh, đánh giá nét tương đồng và khác biệt với tác phẩm Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Đọc đoạn trích từ văn bản Sống chết mặc bay của Phạm Huy Tốn sau đây và viết bài luận so sánh, đánh giá nét tương đồng và khác biệt với tác phẩm Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Giới thiệu hai tác phẩm và tác giả cần so sánh; vấn đề (điểm chung giữa hai tác phẩm đề yêu cầu so sánh). - Nêu bình diện cần so sánh và vị trí của chúng đối với tác phẩm/dư luận. |
|
Thân bài |
2,5đ |
* Điểm chung ở hai tác phẩm (dùng hình ảnh/chi tiết giàu ý nghĩa) – Thể loại: truyện ngắn - Bối cảnh, tình huống gay cấn, nguy hiểm bởi thiên tai, lũ lụt → Hai tác giả chọn thể loại truyện ngắn và bối cảnh lũ lụt để phản ánh cuộc sống và bản chất con người. - Phong cách hiện thực; tư tưởng nhân đạo (xót thương thảm cảnh con người trước thiên tai...). * Điểm khác biệt - Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn: tố cáo sự vô đạo, bất nhân của bọn quan lại, mang đậm giá trị hiện thực, nhân đạo cao cả về tình người. - Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh: Trong những tình huống nguy nan, ranh giới sống chết chỉ như sợi tóc, con người vẫn có thể sống yêu thương, đùm bọc, sẻ chia, thậm chí hi sinh cả sinh mạng cho người khác, cao thượng, nhân hậu. * Lí giải sự khác biệt: căn cứ vào hoàn cảnh ra đời của hai tác phẩm |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức, đánh giá của cá nhân về ý nghĩa của từng tác phẩm theo bình diện đã so sánh ở trên. - Đánh giá sự đóng góp, thành công của từng nhà văn (rút ra từ phần phân tích trên) đối với nền văn học. |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Sử dụng thành thạo thao tác so sánh, tổng hợp, chứng minh. - Dẫn chứng phong phú, đa dạng phù hợp với lí lẽ, luận điểm. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 4
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
MỘT ĐÁM VÀO NGÔI
(Việc làng, Ngô Tất Tố)
Nhà bác Cả Mão mọi ngày thường im phăng phắc, hôm nay bỗng nhiên linh đình như đám giỗ nhỏ. Dưới cầu ao, hai người đàn ông lực lưỡng đang châu đầu trên chiếc rổ thưa, tỉ mỉ nhổ từng sợi lông tơ cho một con gà trong rổ. Trên bờ con chó xóm bị trói bốn chân, nhe răng nằm trên vũng máu lênh láng. Cạnh nó, một nồi nước sôi khói bốc nghi ngút và bốn năm người, cũng hạng đàn ông lực lưỡng, kẻ cầm gáo múc nước, người cầm dao sắp sửa cạo lông. Từ cổng đến thềm, tập nập những người đi lại. Tôi mới nhô vào đến sân, bác Cả lật đật chạy ra đón lên nhà trên với một bộ điệu vui vẻ. Ở gian bên kia, độ bảy tám ông ngôn ngang nằm vây một chiếc khay đèn thuốc phiện. Với những cặp môi thâm xịt và dài vều, và những chiếc quần cháo lòng, áo ba-đờ-xúa rách lòi khố tải, các ông ấy như muốn bảo cho tôi biết đây toàn là hạng kì dịch kiêm tín đồ của đức chúa Phù dung. Dãy phản bên này, hai bàn tổ tôm kế nhau. Bàn trong vang những tiếng ăn, tiếng phỗng, bàn ngoài đương ỏm tỏi cãi nhau về sự đánh thấp đánh cao. Chủ nhân lễ phép mời tôi vào ngôi trong chiếc tràng kỉ kê ở gian giữa, đối mặt với toà bàn thờ hương khói vắng tanh. Mấy ông trong bàn tổ tôm thi nhau nhìn tôi bằng nửa con mắt trong nghiêng giữa khi vài ông ở bàn thuốc phiện lần lượt ngóc cổ như đàn rắn lửa. Rồi thì ai nấy lại cùng theo đuổi công việc của họ, người hút cứ hút, người đánh bài cử đánh bài.
- Ông có lòng đến đây mừng cho nhà cháu, thật là quý hoá! Xin mời ông xơi tạm chén nước.
Bác Cả Mão đương một tay gãi tai, một tay bưng chén chè nụ đặt trước mặt tôi, bên bàn tổ tôm bỗng có tiếng gọi:
- Anh Cả đâu! Cho mượn hai đồng đánh thêm hội nữa. Đen quá, cả hội chẳng ù ván nào!
Bằng một tiếng vâng đầy giọng thành tâm, bác Cả Mão nhanh nhẩu chạy xuống nhà dưới, để tôi ngồi đó với bác Hai Thìn, một người em ruột bác ấy. Thơ thần chưa biết nên nói chuyện gì, tôi có dịp nghĩ đến cái câu của bác Cả Mão mới nói. Với bác, tôi chỉ là người trọ học ở nhà láng giềng. Vì năng gặp bác, thành ra quen biết. Hôm nay là ngày “vào ngôi” cho thằng con bác mới đẻ được ba tháng nay, bác vẫn mến tôi nên cố mời tôi sang chơi. Ở làng khác, vào ngôi chỉ là một lệ rất thường, người ta phí tổn độ vài ba chục, hay vài ba trăm quả cau là xong. Sao trong đám này lại có cỗ bàn linh đình, và sao ở trước mặt khách, ông chủ lại nói đến câu “mừng cho nhà cháu”?
Hay là riêng với làng này, vào ngôi là một việc hỉ? Nếu vậy, có lẽ mình phải mất một món tiền mừng. Óc tôi còn đương vẩn vơ, bác Cả Mão đã ở nhà dưới chạy lên. Cung kính trao hai đồng bạc cho một ông trong bàn tổ tôm, bác ấy tung tăng ra sân, khiến tôi không kịp nói chuyện. Dưới bếp, có tiếng dao thớt kí cốc, mùi xôi ngào ngạt đưa lên nhà trên. Một ông trong đám thuốc phiện dõng dạc cất cái giọng khàn khàn
- Anh Cả đâu! Lên đây tôi bảo!
Một tiếng dạ lớn, bác Cả Mão từ sân vào thềm, rồi khoanh tay đứng tựa vào cột:
- Bẩm cụ dạy gì con ạ?
- Trưa lắm rồi đấy! Liệu mà giục bảo chúng nó sắp đồ lễ mau lên! Rồi anh phải thân hành đến mời cụ Điền lại chơi, kẻo cụ lại ăn cơm nhà
Lại một tiếng “dạ” rất lễ phép, bác Cả rón rén lui ra. Tiện dịp, tôi bảo bác ngồi xuống chỗ tôi ngồi và móc ví lấy một đồng bạc mừng bác. Nhưng bác khăng khăng từ chối, nói rằng việc này không có lệ mừng. Ngoài thềm có tiếng lẻng kẻng. Một người xách chiếc mâm đồng sáng choang đặt lên cái bàn ở trước mặt tôi. Rồi một người khác để luôn thúng xôi vào đó. Bác Cả Mão núc hai bàn tay như thầy phù thuỷ bắt quyết và nói với tôi:
- Bên này chật quá, mời ông sang nhà chú cháu. Ông nhạc tôi cũng ở bên ấy. May quá, tôi đang muốn tránh cái bầu không khí khó chịu.
Nghe lời chủ nhân, tôi liền theo bác Hai Thìn đi luôn. Nhà này cũng thấy lố nhố những người, nhưng toàn là người tôi quen. Qua một tuần trà, bác Hai Thìn nhìn tôi và nói bằng giọng sung sướng:
- Anh tôi lo công việc này cho cháu tất cả cũng hết đến trăm rưỡi bạc. Ấy là chúng tôi khôn khéo, xoay xở thì việc mới xong, người khác ở vào địa vị chúng tôi, dù có mấy trăm, vị tất đã lo nổi!
Câu nói của bác khiến tôi hết sức ngạc nhiên:
- Sao nhà các ông hoang quá như vậy? Tôi thấy người ta “vào ngôi” cho con chỉ tốn độ vài đồng bạc là cùng!
Bác Hai xua tay và nói bằng giọng thì thầm:
- Nào có phải hoang! Ông tính ở đời ai muốn mất tiền! Đó là sự bất đắc dĩ. Nói giấu gì ông, nhà tôi không phải gốc gác ở làng này. Ông thân chúng tôi ở vùng Nam lên đây sinh cơ lập nghiệp, rồi mới đẻ ra anh tôi và tôi. Thế là tới ở làng này, nhà tôi mới ở có hai đời. Theo lệ nhà quê, những người ngụ cư ba đời mới được “thành tổ”. Nghĩa là được ngang hàng với mọi người khác. Làng này lại ngặt hơn nữa, từ xưa đến giờ họ không cho một người ngoài nào nhập bạ. Vì thế, anh tôi và tôi cũng như ông thân chúng tôi, đều không có ngôi ở đình. Chắc ông cũng biết ở làng mà không có ngôi, thật là một sự nhục nhã.
- Người ta không nhận thì càng khỏi mất. Việc gì mà cực!
Tôi mỉm cười và đáp một câu khôi hài như vậy. Bác Hai vẫn nói một cách thật thà:
– Thế được còn nói gì nữa! Anh em chúng tôi, trời cho trong nhà cũng đủ bát ăn, mỗi người cũng có được con trâu cày và dăm mẫu ruộng. Thế mà không thể nộp được lệ làng cho cha và mẹ, tức là tiếng xấu để đời... Mỗi khi nghĩ lại những nông nỗi ấy, anh tôi và tôi tức chết người đi được. Trước đây, chúng tôi đã cố luồn lọt mấy ông đàn anh, để xin nhập bạ, nhưng mà bấy giờ hãy còn cụ Bá, cụ ấy nghiệt lắm, nhất định bảo nhà tôi đến ở làng này chưa được ba đời, không thể nhận lời. Chúng tôi đành phải cắn răng mà chịu. Bởi vậy lần này anh tôi sinh được mụn cháu, lại may gặp lúc cụ Bá đã mất, chúng tôi phải cố vào ngôi cho nó.
- Nhưng mà các ông tiêu những món gì mà hết đến hơn trăm bạc
Bác Hai càng hạ giọng xuống, sau khi liếc mắt ngó qua những người chung quanh:
- Ông bảo những công việc ấy, nói bằng miệng không được ư? Phải mất tiền cả đấy! Cụ chưởng lễ ba chục, ông chánh hội hai chục, cụ lí trưởng mười lăm đồng, ông phó lí và ông phó hội mỗi người mười hai đồng, thư kí, trưởng bạ, mỗi người mươi đồng, hương trưởng, lí cựu, tộc biểu, trương tuần mỗi người năm đồng. Những số tiền ấy hết ngoài trăm đồng rồi. Lại còn ăn uống từ chiều hôm qua đến giờ...
- Nếu đã mất tiền cho họ thì thôi bữa ăn uống được không? Bày vẽ làm gì cho tốn
Bác Hai lắc đầu:
- Không được ông ạ! Ở chốn thôn quê, ăn uống là sự đầu tiên, hễ không có ăn thì việc không thành. Lúc trước, anh tôi cũng nghĩ như ông, đã định chước sự ăn uống vì đã rắc tiền khắp mặt chức dịch. Nhưng ông chánh hội không nghe. Ông ấy nói rằng thế nào cũng phải đấm miệng cho các bô lão, và bọn trai đinh bò bướu một bữa. Nếu không họ sẽ phá ngang, tất nhiên sẽ có cản trở.
Bác Hai ngừng lại một lát chờ cho một người ấy đi qua, rồi tiếp:
- Một bữa ăn này, ít ra anh tôi cũng phải tiêu đến năm, sáu chục đồng. Vì kiêng tiếng làm thịt lợn, sợ rằng làng nước cho là hứng mỡ, nên mới đi chợ mua thịt. Sự thực, mua thịt lại quá giết lợn. Sáng ngày đi lấy vừa lòng lợn vừa thịt lợn tất cả mười một đồng bạc, đáng lẽ cũng đủ chan chát, nhưng cụ chưởng lễ thích ăn thịt cầy, nên ông lí trưởng bắt phải giết thêm con cầy. Chẳng nhẽ mời dẫn mời làng ăn uống trong nhà, ngoài đình lại khổng có gì. Bởi thế chúng tôi phải sửa cỗ xôi, con gà để ra lễ thờ.
Bấy nhiêu món hết ngót hai chục rồi. Còn tiền rượu, tiền thuốc phiện, còn tiền cung đốn họ đánh tổ tôm. Ông đã biết rõ, mọi khi làng tôi có ai dám đánh “góp một”? Lớn lắm chỉ “góp năm hào”. Hôm nay vì tiền nhà chủ bỏ ra, được thì ăn, thua không phải trả, nên họ hò nhau đánh góp hai đồng. Rồi đấy ông xem, đến lúc đứng dậy, ai cũng thu hết, anh tôi đưa ra bao nhiêu mất hút bấy nhiêu, chẳng lấy lại được đồng nào hết... Lúc nãy tôi nói trăm rưỡi, còn là hà tiện, xong việc có lẽ hết hơn, chứ bấy nhiêu tiền không thể nào đủ.
Bác Hai còn muốn nói nữa. Bên nhà bác Cả chợt nghe có tiếng ầm ầm, bác ấy lật đật xin lỗi đứng dậy:
- Mời ông ngồi chơi với các cụ tôi. Tôi phải chạy sang bên kia. Làng đã vào rồi! Tiếng ầm ầm bên nhà bác Cả mỗi lúc một to, trước còn cười nói, sau đến quát tháo, cuối cùng thì đến những tiếng mách tục mách qué. Lâu lâu cuộc xô xát lại dữ dội thêm, bác Hai Thìn hốt hoảng chạy về, vừa thở vừa nói:
- Khổ quá, mấy ông bô lão lại còn bẻ vành bẻ vẻ, nhất định nói rằng: hương ước không có chỗ nào nói cho người ngoài vào ngôi. Cụ Điền hết sức dàn xếp không được. Ông chánh hội và ông lí trưởng bảo anh tôi phải chồng hai chục đồng bạc – tiền ngay cốc cốc – để cúng vào nóc các lão, thì việc mới yên. Thôi thế cũng còn là may.
Cuộc ăn uống kéo dài mãi đến gần tối, nhưng không xảy ra sự gì nữa. Cách ba bữa sau, bác Cả Mão sang nhà tôi trọ, dạm bán cho ông chủ nhà một mẫu hai ruộng, lấy trăm đồng bạc để trang công nợ. Vui vẻ bác khoe với tôi:
- Tất cả, tôi lo hết gần hai trăm. Của nhà có non một trăm, còn thì đều phải đi vay. Nhưng tôi cũng lấy làm hả. Từ nay trở đi, cháu đã có ngôi đình, chúng tôi sẽ được ăn miếng thịt phần việc làng của nó....
(Ngô Tất Tố, Tuyển tập. NXB Văn học 2016)
* Ngô Tất Tố (1893 – 1954) là một nhà văn, nhà báo, nhà nho học, dịch giả và nhà nghiên cứu có ảnh hưởng lớn ở Việt Nam giai đoạn trước 1954. Ngô Tất Tố viết nhiều thể loại báo chí, trong đó tiểu phẩm và phóng sự là hai thể loại đã giúp ông thành danh. Di sản báo chí của Ngô Tất Tố trở thành những tư liệu phong phú, chi tiết, phản ánh toán diện và trung thực xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX, tiêu biểu là tiểu thuyết Tắt đèn, Lều chõng và phóng sự Việc làng.
Câu hỏi
Câu 1. Nhan đề Một đám vào ngôi của văn bản có thể gợi lên những suy luận, phán đoán gì về những khía cạnh nào của bài phóng sự? (1.0 điểm)
Câu 2. Liệt kê các sự việc chính theo trình tự được thuật lại trong văn bản. Từ đó nhận xét về nghệ thuật viết phóng sự của tác giả (sử dụng ngôi kể, điểm nhìn, thủ pháp miêu tả, trần thuật, cách sắp xếp sự kiện chi tiết, ngôn ngữ,..) trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng, thông điệp của văn bản. (1.0 điểm)
Câu 3. Qua văn bản Một đám vào ngôi, tác giả đã nêu vấn đề gì? Thái độ của tác giả trước vấn đề đó như thế nào? (1.0 điểm)
Câu 4. Tính khách quan, xác thực của thông tin thể hiện qua những yếu tố nào? Điều đó cho độc giả hiểu thêm gì về tác giả? (1.0 điểm)
Câu 5. Nêu cảm nhận của em về nhân vật bác Cả Mão. Từ đó cho biết thái độ của tác giả Ngô Tất Tố đối với nhân vật này. (Trả lời tối thiểu bằng 2/3 trang giấy thi /trang vở) (1.5 điểm)
II. VIẾT (6đ)
Câu 1. Theo bạn, những nội dung được đề cập trong văn bản còn có ý nghĩa đối với thực tiễn hiện nay không? Lí giải ý kiến của bạn. (viết đoạn 200 chữ) (2.0 điểm
Câu 2. Địa phương nơi em sinh sống (phường/xã) tổ chức phát động Phong trào xây dựng địa phương/gia đình văn hoá, em được đề nghị phát biểu trong buổi lễ đó. Hãy viết bài phát biểu (600 chữ) để phát biểu trong buổi lễ đó.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Nhan đề Một đám vào ngôi của văn bản có thể gợi lên những suy luận, phán đoán gì về những khía cạnh nào của bài phóng sự? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhan đề
Nhớ lại kiến thức về thể loại phóng sự
Lời giải chi tiết:
- Gợi nội dung phản ánh về một tục lệ/hủ tục ở nông thôn Việt Nam.
- Gợi suy luận về vấn đề (đặt ra trong tác phẩm), thái độ tác giả đối với vấn đề đó
- Vấn đề: hủ tục ở nông thôn nặng nề, gây tốn kém, nhũng nhiễu đời sống dân nghèo.
+ Thái độ của tác giả: lên án, phê phán...
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Liệt kê các sự việc chính theo trình tự được thuật lại trong văn bản. Từ đó nhận xét về nghệ thuật viết phóng sự của tác giả (sử dụng ngôi kể, điểm nhìn, thủ pháp miêu tả, trần thuật, cách sắp xếp sự kiện chi tiết, ngôn ngữ,..) trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng, thông điệp của văn bản. (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Văn bản Một đám vào ngôi với các sự việc chính:
+ Chuẩn bị cỗ.
+ Các đám đánh bạc, hút thuốc phiện.
+ Không chấp nhận việc vào ngôi, chủ nhà phải nộp thêm 20 đồng.
+ Việc chi tiêu và việc vay tiền chi trả.
- Nghệ thuật viết phóng sự của tác giả:
+ Sử dụng ngôi kể thứ nhất và kết hợp điểm nhìn bên trong, bên ngoài.
+ Kết hợp miêu tả, trần thuật, bình luận rất hiệu quả.
+ Sắp xếp sự kiện, chi tiết hợp lý (đảo trình tự thời gian việc: không được vào ngôi khi cụ Bá còn sống; gốc 2 đời nhà bác Cả Mão xuống dưới để lý giải việc nhà bác Cả Mão tưng bừng đón đám vào ngôi).
→ Tất cả các yếu tố trên đã kết nối các sự việc làm nổi bật chủ đề: Một đám
vào ngôi – hủ tục ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng 8/1945; thể hiện tư tưởng tiến bộ, cấp tiến của tác giả: lên án hủ tục khiến đời sống nông dân ngày càng nghèo khó hơn thể hiện thông điệp: xóa bỏ hủ tục nơi thôn quê, giải phóng tư tưởng lạc hậu u mê cho người nông dân (miếng ăn nơi góc chiếu, sân đình).
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Qua văn bản Một đám vào ngôi, tác giả đã nêu vấn đề gì? Thái độ của tác giả trước vấn đề đó như thế nào? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và rút ra nội dung chính
Chú ý các chi tiết thể hiện thái độ của tác giả
Lời giải chi tiết:
– Nêu vấn đề nhức nhối ở nông thôn:
+ Bất bình đẳng, thiếu tôn trọng người dân ngụ cư (phải 3 đời mới được nhập bạ; không có ngôi, thật là một sự nhục nhã)
+ Quan chức ở nông thôn chèn ép, bòn rút tiền bạc của nông dân (phải sửa cổ xôi, con gà để ra lễ thờ; tiền rượu, tiền thuốc phiện, còn tiền cung đón họ đánh tổ tôm; chồng hai chục đồng bạc – tiền ngay cốc cốc – để cúng vào nóc các lão, thì việc mới yên)
- Thái độ tác giả: bất bình, lên án (qua thái độ của nhân vật “tôi” – người kể chuyện)
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Tính khách quan, xác thực của thông tin thể hiện qua những yếu tố nào? Điều đó cho độc giả hiểu thêm gì về tác giả? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về tính phi hư cấu của phóng sự
Liên hệ đến phong cách sáng tác, con người tác giả
Lời giải chi tiết:
– Khách quan chân thực: đến tận cùng sự thật với hàng loạt số liệu, truy tìm nguyên nhân làm xuất hiện vấn đề, dẫn dắt trình bày, lý giải những chi tiết và tổ chức ý kiến của các đối tượng đối thoại. Cái tôi tác giả – nhân chứng chủ động khơi lên những vấn đề phỏng vấn, mô tả biện luận: “Cụ chưởng lễ ba chục, ông chánh hội hai chục, ông lý trưởng mười lăm đồng, ông phó lý và ông phó hội mỗi người mười hai đồng, thư ký, trưởng bạ mỗi người năm đồng. Những số tiền ấy hết ngoài trăm đồng rồi. Lại còn ăn uống từ chiều hôm qua đến giờ...Ở chốn thôn quê ăn uống là sự đầu tiên”. Vậy là khổ chủ phải bán đi một mẫu hai ruộng lấy hai trăm đồng trả nợ...
– Tác giả: hiểu sâu hiện thực, kỳ công tìm hiểu tư liệu; nhạy cảm, sắc sảo dám nói sự thật; bám sát nông thôn, khảo sát mô tả những hủ tục, những lệ làng quái gở, man rợ, nạn “xôi thịt”, những cảnh đau lòng xung quanh miếng ăn ở nông thôn Việt Nam đương thời.
Câu 5 (1 điểm)
|
Câu 5. Nêu cảm nhận của em về nhân vật bác Cả Mão. Từ đó cho biết thái độ của tác giả Ngô Tất Tố đối với nhân vật này. (Trả lời tối thiểu bằng 2/3 trang giấy thi /trang vở) (1.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý các chi tiết miêu tả bác Cả Mão
Lời giải chi tiết:
- Nội dung đoạn văn bản bám sát văn bản làm rõ đặc điểm của nhân vật (cam chịu, u mê – khổ mà vẫn vui, háo danh hão đã trở thành nạn nhân của hủ tục...)
- Hình thức: đảm bảo độ dài, tính logic, mạch lạc cho đoạn văn bản; đủ các yếu tổ lí lẽ, dẫn chứng, nhận định.
- Thái độ của Ngô Tất Tố: thương cảm, phê phán; đả kích, châm biếm.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Theo bạn, những nội dung được đề cập trong văn bản còn có ý nghĩa đối với thực tiễn hiện nay không? Lí giải ý kiến của bạn. (viết đoạn 200 chữ) (2.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Dựa vào phần phân tích ở trên
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Triển khai đoạn đảm bảo dung lượng; nội dung hướng vào các ý sau đây:
- HS tự thể hiện quan điểm cá nhân.
- Có thể tham khảo gợi ý sau:
+ Trải qua biết bao biến đổi, Việc làng vẫn còn ý nghĩa lớn và để lại nhiều bài học có giá trị trong quá trình chọn lọc, cải biến và xây dựng đời sống văn hoá mới trong xã hội nông thôn hiện nay.
+ Việc làng – Đám vào ngôi thuật lại các “phong tục” có ý nghĩa tốt đẹp về “sự gắn bó của dân với làng”, về tục “vào ngôi” khi con trẻ ra đời nhưng không biến chúng thành hủ tục nặng nề để bòn rút làm khổ dân nghèo.
+ Mỗi người dân hãy tiếp thu các phong trào, lối sống có chọn lọc, không nên lệ thuộc, hoặc cố thực hiện khi điều kiện kinh tế của gia đình không cho phép.
Câu 2 (4 điểm)
|
Câu 2. Địa phương nơi em sinh sống (phường/xã) tổ chức phát động Phong trào xây dựng địa phương/gia đình văn hoá, em được đề nghị phát biểu trong buổi lễ đó. Hãy viết bài phát biểu (600 chữ) để phát biểu trong buổi lễ đó. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Địa phương nơi em sinh sống (phường/xã) tổ chức phát động Phong trào xây dựng địa phương/gia đình văn hoá, em được đề nghị phát biểu trong buổi lễ đó. Hãy viết bài phát biểu (600 chữ) để phát biểu trong buổi lễ đó. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Kính thưa đại biểu tham dự (HS vận dụng phù hợp với thực tế) - Giới thiệu bản thân (1-2 dòng) và nêu tên phong trào |
|
Thân bài |
3,0 |
- Nêu lí do, mục đích của phong trào đối với HS, tuổi trẻ, xã hội; ý nghĩa của Phong trào xây dựng địa phương/ gia đình văn hóa - Hành động, việc làm cụ thể của thanh niên, HS, người dân địa phương + Giữ gìn cảnh quan đường phố, xã (xóa quảng cáo rao vặt; dọn vệ sinh; sinh hoạt văn minh tại các gia đình; phát hiện tụ điểm ma túy, chơi không lành mạnh) + Tổ chức vui chơi, giải trí: thể thao, xây dựng thư viện xã/ phường + Thăm hỏi, giúp gia đình hoạn nạn… - Hành động, việc làm cụ thể của cá nhân (phù hợp với sở trường) + Lựa chọn hành động của cá nhân + Cảm xúc, suy nghĩ của cá nhân về mục đích ý nghĩa phong trào… + Tinh thần khi tham gia hoạt động của xã/ phường |
|
Kết bài |
0,25 |
- Thể hiện sự ủng hộ, niềm tin vào phong trào - Cổ vũ, kêu gọi các bạn ủng hộ tham gia phong trào |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Bài viết có cảm xúc, thể hiện sự hiểu biết, nhiệt huyết về hoạt động - Kỹ thuật viết: lời hô gọi tạo sự tương tác, cổ vũ hành động |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 5
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
NHÀ THỊ TRƯỞNG HÂN HOAN
(Quan thanh tra – Gô gôn)
Tóm tắt hài kịch Quan thanh tra:
Hồi I: Thị trưởng một thị trấn tỉnh lẻ ở nước Nga đột ngột triệu tập quan chức để tuyên bố về việc nhận được mật báo: có quan thanh tra cấp cao bí mật tới thị trấn. Cả bọn kinh hãi, bởi việc gì trong thị trấn khó có thể coi là tử tế... Cả bọn tưởng một người khách ở thị trấn là quan thanh tra, nên sửa soạn đến cung phụng để che tội mình.
Hồi II: I-van A-lếch-xan-đrô-vích Khơ-lét-xta-cốp (Ivan Alexandrovitr Khlestacov) vốn là một nhân viên thư kí quèn ở văn phòng của một vụ ở Pê-téc bua (Petersburg). Anh ta từng sống chui lủi để trốn tiền trọ, song vẫn luôn giữ diện mạo bảnh bao. Khi hắn đang hết tiền, đói khát thì đám quan chức trong thị trấn, tưởng gã là quan thanh tra, tới cung phụng. Thị trưởng mời hắn chuyển đến ở nhà mình.
Hồi III: Khơ-lét-xta-cốp nhập vai quan thanh tra đến ở nhà thị trưởng. Việc được thết đãi linh đình tạo cảm hứng cho gã khoác lác về vị thế sang trọng và danh tiếng tưởng tượng của mình. Vợ và con gái thị trưởng sán lại làm thân. Lũ quan tham trong thị trấn lại thêm phần sợ hãi.
Hồi IV: Quan chức, những kẻ tò mò và cả những người bị oan khuất trong thị trấn lũ lượt xin vào gặp Khơ-lét-xta-cốp. Gã thoạt đầu còn sượng sùng vay tiền đám quan chức, tiến tới đòi hỏi, quát nạt để ăn hối lộ công khai của cả người bị hiếp đáp. Khơ-lét-xta-cốp còn tận dụng cơ hội để tán tỉnh cả vợ lẫn con gái thị trưởng, rồi cầu hôn với con gái ông ta.
Hồi V: Thị trưởng vênh váo với việc con gái mình sẽ kết hôn với “quan lớn” thanh tra, đang hân hoan thì chủ sự bưu vụ báo tin Khơ-lét-xta-cốp không phải là quan thanh tra. Đúng lúc đó, một viên hiến binh xuất hiện, tuyên bố: Quan thanh tra thực vừa mới đến thành phố, yêu cầu tất cả tới trình diện khiến tất cả kinh hoàng, đờ ra như hoá đá, chuyển vào Lớp Câm – kết thúc hài kịch.
Đoạn trích Nhà thị trưởng hân hoan là lớp 7, hồi 5 của vở hài kịch.
Cảnh sát trưởng:
Tôi hân hạnh chúc mừng ông lớn, và cầu mong ông lớn được sống lâu trăm tuổi.
Thị trưởng: Cảm ơn, cảm ơn! Thưa các vị, xin mời các vị ngồi. (Khách ngồi.)
Am-mốt phi-ô-đô-rô-vích:
Nhưng ông Am -mốt phi-ô-đô-rô-vích, xin ông cho biết, câu chuyện này bắt đầu ra sao, diễn biến như thế nào?
Thị trưởng: Chuyện thật kì lạ, chính anh ấy hỏi xin chứ lị.
An-na An-drây-ép-na:
Anh ấy hỏi một cách kính cẩn, tế nhị. Anh ấy nói rõ ràng minh bạch như thế này: “Thưa bà An-na An-đrây-ép-na, chỉ vì tối một niềm kính trọng phẩm giá của bà. Con người điển trai, có học thức, đứng đắn như thế lại nói: “Thưa bà An-na An-đrây-ép-na, không hiểu bà có tin cho không, đối với tôi cuộc đời không đáng giá một đồng xu nhỏ; chỉ vì tôi quý trọng những đức tính hiếm có của bà quá thể.”
Ma-ria An-tôn-nốp-na: Hứ! Mợ ạ, anh ấy nói với con như thế chứ.
An-na An-drây-ép-na:
Im đi, mày thì biết cái gì, đừng có dúng vào những việc không phải của mình
Anh ấy lại nói tiếp: “Bà An-na An-đrây-ép-na, bà làm cho tôi đâm thẫn thờ sửng sốt.” Anh ấy còn nhiều câu khen ngợi tôi đại loại như thế nữa. Khi tôi muốn nói với anh ấy rằng chúng tôi không hi vọng được cái vinh dự như vậy, thế là anh ấy quỳ ngay xuống, kêu lên một cách rất lịch sự: “An-na An-đrây-ép-na, bà đừng làm tôi đau khổ. Xin đáp lại mối tình của tôi, nếu không sẽ tự kết liễu cuộc đời mình.
Ma-ria An-tôn-nốp-na: Mợ ạ, đó là những câu anh ấy nói về con.
An-na An-drây-ép-na:
Phải, tất nhiên... Anh ấy cũng có nói về mày, tao không bảo là không.
Thị trưởng:
Rồi anh ấy lại còn doạ tự sát. Anh ấy nói: tôi sẽ tự tử, tôi sẽ tự bắn vào đầu.
Nhiều người nói: Thật thế kia à!
Am-mốt Phi-ô-đô-rô-vích: Chuyện kì lạ nhỉ!
Lu-ca Lu-kích: Thực là số trời run rủi.
Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích:
Bố ơi, không phải số trời đâu, số trời là cái quái gì, đó là do có tài nên danh phận đây. (Nói riêng) Thằng cha ngu như lợn này, số nó bao giờ cũng gặp may.
Am-mốt Phi-ô-đô-rô-vích:
Ông An-tôn An-tô-nô-vích, ông có muốn tôi để lại cho ông con chó đực, cái con ông muốn mua ấy...
Thị trưởng: Không, bây giờ tôi không có thì giờ nghĩ đến chó má nữa.
Am-mốt Phi-ô-đô-rô-vích: Nếu ông không muốn lấy con ấy thì chọn con khác.
Vợ Rô-cô-rốp-krin:
Chà, An-na An-đrây-ép-na, chị thật không thể tưởng tượng được em vui sướng biết bao thấy chị được hạnh phúc!
Rô-cô-rop-krin:
Xin ông cho biết, hiện nay vị khách lừng danh ở đâu? Tôi nghe nói ngài có việc phải đi rồi!
Thị trưởng: Phải, anh ấy đi một ngày thôi, có việc quan trọng.
An-na An-đrây-ép-na: Đi đến nhà chú đấy, để xin ông ta tán thành việc hôn nhân.
Thị trưởng:
Để xin ông ta tán thành; nhưng ngày mai. (Hắt hơi, mọi người cùng kêu: “Sống lâu, giàu bền”) Cảm ơn vạn bội! Nhưng ngày mai, anh ấy trở lại. (Hắt hơi. Tất cả mọi người lại kêu lên: “Sống lâu, giàu bền”)
Cảnh sát trưởng: Chúc ngài sống lâu.
Bốp-chin-xki: Sống lâu trăm tuổi, tiền của như núi.
Đốp-chin-xkhi: Sống một trăm thêm năm tuổi lẻ.
Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích: Phỉ thui, chết mẹ mày đi.
Vợ Kô-rốp-kin: Phỉ phui, quỷ bắt mày đi!
Thị trưởng: Cảm ơn, tôi cũng chúc các vị như thế.
An-na An-drây-ép-na:
Bây giờ chúng tôi có ý định sống ở thủ đô. Không khí ở đây, tôi thú thật, quê mùa lắm, rất khó chịu... Nhà tôi ấy mà, sẽ được phong nguyên soái.
Thị trưởng: Thưa các vị, tôi thú thực rất muốn làm nguyên soái, khỉ thế chứ lại.
Lu-ca Lu-kích: Cầu Chúa cho ông được toại nguyện.
Ra-xta-cốp-xki: Sức người không làm gì được, mọi việc đều do ý Chúa cả.
Am-mốt Phi-ô-đô-rô-vích: Thuyền to thì cần biển rộng chứ.
Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích: Thật vinh dự, xứng đáng với công trạng.
Am-mốt phi-ô-đô-rô-vích: (Nói riêng)
Nếu nó làm nguyên soái, thì thật là trò hề. Nó mà mang lon tướng thì như bò được thắng yên ngựa! Hử, không đâu, anh bạn, bài ca ấy nghe hãy còn xa xôi lắm! Ở đời khối thằng tài cán hơn anh mà chẳng được làm nguyên soái nữa là.
Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích: (Nói riêng)
Chà đồ chó chết, nó lại muốn leo lên chức nguyên soái. Chưa biết chừng nó được là cũng nên, nó có cái vẻ tinh ranh, khéo xoay xở lắm. (Nói với thị trưởng) An-tôn An-tô-nô-vích, lúc ấy đừng quên anh em nhé.
Am-mốt Phi-ô-đô-rô-vích:
Và nếu có việc gì xảy ra chẳng hạn như anh em cần giúp đỡ việc gì, đừng quên che chở anh em đấy nhé.
Kô-rốp-kin:
Sang năm, tôi cho cháu ra thủ đô, để nó làm việc cho nhà nước; nhờ ông nâng đỡ cháu, coi cháu như con ông vậy.
Thị trưởng: Về phía tôi, tôi xin sẵn sàng, sẵn sàng cố gắng.
An-na An-drây-ép-na:
Antôsa, lúc nào cậu cũng hay hứa trước. Lúc bấy giờ, còn thì giờ đầu mà nghĩ tới việc đó. Sao lại cứ hứa hẹn hão cho nặng mình ra
An-na An-drây-ép-na:
Tất nhiên là có thể, nhưng không thể che chở cho bất kì thằng tẹp nhẹp nào, Vợ Kô-rốp-kin: Các vị nghe chưa, bà ấy đối xử với chúng ta như thế đấy.
(Gôgôn, Quan thanh tra, Vũ Đức Phúc dịch, NXB Sân khấu, Hà Nội, 2006)
(*) Tên văn bản do nhóm biên soạn đặt.
(1) Nguyễn văn là “một lời chúc tụng”. Nhưng những người mê tín ở Việt Nam hay nói: “Sống lâu”
(2) Khi hắt hơi, người ta có hai kiểu mê tín: một là chức tụng, hai là nói để giải hoạ. Ac-lê-mi là kế quỷ quyệt, lợi dụng việc đó, xỏ thị trưởng.
* Nikolay Vasilievich Gogol (Gô-gôn) (1809 – 1852) là một văn sĩ, thi sĩ, kịch tác gia và phê bình gia người Nga gốc Ukraina – Ba Lan. Ông là một nhà văn hiện thực lớn của nước Nga và của toàn thế giới thế kỉ XIX.
Câu hỏi:
Câu 1. Tóm tắt nội dung và mâu thuẫn/xung đột thể hiện trong trích đoạn hài kịch Nhà thị trưởng hân hoan (Quan thanh tra của Gô-gôn) (0.5 điểm)
Câu 2. Vì sao vợ chồng nhà thị trưởng vênh váo như vậy? Họ là người như thế nào? Điều này khiến em dự đoán drama (kịch) nào sẽ xảy ra tiếp theo? (0.5 điểm)
Câu 3. Đặc điểm của nhân vật hài kịch hiện lên trong đoạn trích như thế nào? Em ấn tượng với thủ pháp nghệ thuật khắc hoạ nhân vật hài kịch nào của tác giả
Gô-gôn? (1.0 điểm)
Câu 4. Đọc đoạn thoại sau và trả lời câu hỏi a, b, c. (1.0 điểm)
An-na An-đrây-ép-na: Anh ấy hỏi một cách kính cẩn, tế nhị. Anh ấy nói rõ ràng minh bạch như thế này: “Thưa bà An-na An-đrây-ép-na, chỉ vì tôi một niềm kính trọng phẩm giá của bà”. Con người điển trai, có học thức, đứng đắn như thế lại nói: “Thưa bà An-na An-đrây-ép-na, không hiểu bà có tin cho không, đối với tôi cuộc đời không đáng giá một đồng xu nhỏ; chỉ vì tôi quý trọng những đức tính hiếm có của bà quá thể..”
Ma-ria An-tôn-nốp-na: Hứ! Mợ ạ, anh ấy nói với con như thế chứ.
An-na An-đrây-ép-na: Im đi, mày thì biết cái gì, đừng có dúng vào những việc không phải của mình! Anh ấy lại nói tiếp: “Bà An-na An-đrây-ép-na, bà làm cho tôi đâm thẫn thờ sửng sốt”. Anh ấy còn nhiều câu khen ngợi tôi đại loại như thế nữa. Khi tôi muốn nói với anh ấy rằng chúng tôi không hi vọng được cái vinh dự như vậy, thế là anh ấy quỳ ngay xuống, kêu lên một cách rất lịch sự: “An-na An-đrây-ép-na! Bà đừng làm tôi đau khổ. Xin đáp lại mối tình của tôi, nếu không sẽ tự kết liễu cuộc đời mình”
Ma-ria An-tôn-nốp-na: Mợ ạ, đó là những câu anh ấy nói về con.
a) Xác định nhân vật “anh ấy”, người gọi “anh ấy” và chỉ ra sự phi lí, hài hước
trong cách xưng hô này.
b) “Mợ ạ, anh ấy nói với con như thế chứ” là lời của ai? Lời nói ấy phản ánh được “vấn đề” nào?
c) Tiếng cười cất lên từ đâu? Tác giả đã gửi gắm điều gì qua đoạn hội thoại ấy?
Câu 5. Văn bản trên sử dụng những thủ pháp gây cười nào? Theo em, thủ pháp nào đặc sắc nhất? Vì sao? (1.0 điểm)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Xác định cảm hứng, những thói hư, tệ nạn cần phê phán trong trích đoạn hài kịch Nhà thị trưởng hân hoan và cho biết hiện tượng, thói xấu nào vẫn tồn tại trong đời sống hôm nay? Theo, em, thói xấu nào gây nhiều tác hại cho xã hội? Vì sao? (Đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm)
Câu 2. Viết văn bản (600 chữ) so sánh để làm nổi bật nét khác biệt và điểm tương đồng nội dung phê phán và thủ pháp trào phúng - nghệ thuật gây cười của 2 văn bản hài kịch Thuỷ thủ tàu viễn dương (Bệnh sĩ của Lưu Quang Vũ) ở đề 1 và Nhà thị trưởng hân hoan (Quan thanh tra của Gô-gôn). Từ đó chia sẻ ngắn về tác động của 2 trích đoạn hài kịch tới nhận thức của em.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Tóm tắt nội dung và mâu thuẫn/xung đột thể hiện trong trích đoạn hài kịch Nhà thị trưởng hân hoan (Quan thanh tra của Gô-gôn) (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
- Tóm tắt nội dung: Thị trưởng vênh váo, say sưa với việc con gái mình sẽ kết hôn với “quan lớn” thanh tra, gia đình sẽ chuyển về thủ đô, sẽ thật thần thế, danh giá, các quan chức địa phương đến chúc mừng, cầu cạnh. Ngoài mặt kẻ nào cũng ra sức nịnh bợ nhưng bên trong coi nhau không ra gì.
- Mâu thuẫn: giữa cái thấp hèn với cái thấp hèn (Thị trưởng vênh váo cậy thần thế, danh giá chưa có của mình >< kẻ nịnh bợ để cầu lợi, nhưng trong lòng vẫn khinh bỉ nhau)
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Vì sao vợ chồng nhà thị trưởng vênh váo như vậy? Họ là người như thế nào? Điều này khiến em dự đoán drama (kịch) nào sẽ xảy ra tiếp theo? (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đưa ra dự đoán của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Vợ chồng nhà thị trưởng vênh váo vì tin chắc rằng mình sẽ có con rể danh giá là quan thanh tra, sẽ đến thủ đô sống, sẽ được phong nguyên soái, sẽ được giao tiếp với giới thượng lưu, sẽ có nhiều người cầu cạnh,...
- Là những kẻ háo danh, hám lợi, cả tin, dễ bị lừa
- Drama (kịch) tiếp theo: nhận ra mình bị lừa cay đắng, thất vọng và căm tức kẻ thanh tra rởm.
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Đặc điểm của nhân vật hài kịch hiện lên trong đoạn trích như thế nào? Em ấn tượng với thủ pháp nghệ thuật khắc hoạ nhân vật hài kịch nào của tác giả Gô-gôn? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về đặc điểm của nhân vật hài kịch
Dựa vào kiến thức về đặc điểm sáng tác của Gô - gôn
Lời giải chi tiết:
- Các nhân vật hài kịch, phẩm chất bên trong không tương xứng với vị trí thân phận của họ và do vậy, họ đáng là nạn nhân của tiếng cười:
+ Thị trưởng: kẻ hám lợi bị công chức quèn lừa nhưng đang mong được phong nguyên soái.
+ Vợ thị trưởng: ngu dốt, mê trai; đang đê mê với lời có cánh giả dối (“Tôi một niềm kính trọng phẩm giá của bà”; “Bà đừng làm tôi đau khổ. Xin đáp lại mối tình của tôi.)
- Thủ pháp nghệ thuật khắc hoạ nhân vật hài kịch của tác giả Gô-gôn
+ Độc thoại để lột tả tính cách, bản chất nhân vật qua những chỉ dẫn sân khấu (nói riêng): (A-mi-mốt Phi-ô-đô-rô-vích: (Nói riêng) Nếu nó làm nguyên soái, thì thật là trò hề. Nó mà mang lon tướng thì như bò được thắng yên ngựa! Hử, không đâu, anh bạn, bài ca ấy nghe hãy còn xa xôi lắm! Ở đời khôi thẳng tài cán hơn anh mà chẳng được làm nguyên soái nữa là; Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích: (Nói riêng) Cha đồ chó chết, nó lại muốn leo lên chức nguyên soái. Chưa biết chừng nó được là cũng nên, nó có cái vẻ tinh ranh, khéo xoay sở lắm) → Những kẻ đểu giả nghĩ một đằng nói một nẻo.
+ Sự mâu thuẫn, vô lí, sáo rỗng trong lời thoại nhân vật.
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Đọc đoạn thoại sau và trả lời câu hỏi a, b, c. (1.0 điểm) a) Xác định nhân vật “anh ấy”, người gọi “anh ấy” và chỉ ra sự phi lí, hài hước trong cách xưng hô này. b) “Mợ ạ, anh ấy nói với con như thế chứ” là lời của ai? Lời nói ấy phản ánh được “vấn đề” nào? c) Tiếng cười cất lên từ đâu? Tác giả đã gửi gắm điều gì qua đoạn hội thoại ấy? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và các yêu cầu
Lời giải chi tiết:
a) Anh ấy là: quan thanh tra (kẻ đang bị nhận nhầm là quan thanh tra), là người sắp cưới con gái của thị trưởng; người gọi “anh ấy” chính là vợ thị trưởng, mẹ vợ tương lai của anh ta.
b) “Mợ ạ, anh ấy nói với con như thế chứ!” là lời con gái của vợ chồng nhà thị trưởng. Chứng tỏ kẻ “anh ấy” đang tán tỉnh cả hai mẹ con (vợ, con gái của thị trưởng).
c) Tiếng cười cất lên từ:
+ Thái độ của vợ thị trưởng: Bà ta nói cứ như nói về người của mình, tỏ tình với mình mà không hề ngượng ngùng, bà ta gạt phắt lời của con gái để kể say mê: bà ta cũng mê gã thanh tra rởm.
+ Từ “nội dung” lời tán tỉnh toàn những lời bóng bẩy, phi logic, vô nghĩa (“Đối với tôi, cuộc đời không đáng giá một đồng xu nhở”; “chỉ vì tôi quý trọng những đức tính hiếm có của bà quá thể”; “bà làm cho tôi đâm thẫn thờ, sửng sốt”,...)
+ Từ thực tế: Cả hai mẹ con ngu dốt, mê muội danh vọng không nhận ra bộ mặt thật của quan thanh tra rởm.
- Tác giả gửi gắm thông điệp: Những kẻ mê muội danh tiếng hão, mong hưởng thụ lợi lộc từ kẻ khác thì sẽ bị chính những thứ đó lừa dối.
|
Câu 5. Văn bản trên sử dụng những thủ pháp gây cười nào? Theo em, thủ pháp nào đặc sắc nhất? Vì sao? (1.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về thủ pháp nghệ thuật của thể loại hài kịch
Lời giải chi tiết:
– Tạo tình huống kịch tính; Điệu bộ gây cười; Nghệ thuật phóng đại (nói quá, cường điệu); Chơi chữ, gây hiểu lầm. (Học sinh tự đưa dẫn chứng.)
- Đánh giá thủ pháp đặc sắc nhất: Học sinh tự làm theo quan điểm cá nhân nhưng cần có đủ các yếu tố sau đây:
+ Xác định đoạn/ câu chứa thủ pháp gây cười.
+ Lí giải bằng hai lí do trở lên (gây cười, tác động tới độc giả).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Xác định cảm hứng, những thói hư, tệ nạn cần phê phán trong trích đoạn hài kịch Nhà thị trưởng hân hoan và cho biết hiện tượng, thói xấu nào vẫn tồn tại trong đời sống hôm nay? Theo, em, thói xấu nào gây nhiều tác hại cho xã hội? Vì sao? (Đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức phân tích ở trên và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Triển khai đoạn đảm bảo dung lượng; nội dung hướng vào các ý sau đây:
- Cảm hứng: châm biếm, phê phán thói háo danh, dựa hơi, cậy quyền, lừa lọc để từ đó con người nhận thức mà tránh xa, bài trừ, lên án cái xấu.
- Hiện tượng, thói xấu vẫn tồn tại trong đời sống hôm nay: háo danh, dựa hơi, cậy quyền, lừa lọc (các thói xấu có biểu hiện đa dạng, khó lường...).
- Thói xấu gây nhiều tác hại cho xã hội: Học sinh tự trả lời (cần có 2 đến 3 lí do thuyết phục để bảo vệ ý kiến của mình).
Câu 2.
|
Câu 2. Viết văn bản (600 chữ) so sánh để làm nổi bật nét khác biệt và điểm tương đồng nội dung phê phán và thủ pháp trào phúng - nghệ thuật gây cười của 2 văn bản hài kịch Thuỷ thủ tàu viễn dương (Bệnh sĩ của Lưu Quang Vũ) ở đề 1 và Nhà thị trưởng hân hoan (Quan thanh tra của Gô-gôn). Từ đó chia sẻ ngắn về tác động của 2 trích đoạn hài kịch tới nhận thức của em. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết văn bản (600 chữ) so sánh để làm nổi bật nét khác biệt và điểm tương đồng nội dung phê phán và thủ pháp trào phúng - nghệ thuật gây cười của 2 văn bản hài kịch Thuỷ thủ tàu viễn dương (Bệnh sĩ của Lưu Quang Vũ) ở đề 1 và Nhà thị trưởng hân hoan (Quan thanh tra của Gô-gôn). Từ đó chia sẻ ngắn về tác động của 2 trích đoạn hài kịch tới nhận thức của em. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu ngắn gọn về hài kịch, hai tác phẩm cần so sánh, đánh giá - Nêu luận đề: nét khác biệt và điểm tương đồng trong nội dung phê phán thủ pháp trào phúng - nghệ thuật gây cười của hai văn bản hài kịch và thành công riêng của mỗi tác giả. |
|
Thân bài |
2,5đ |
* Nét tương đồng trong nội dung phê phán: háo danh (Học sinh tự làm) * Khác biệt trong nghệ thuật trào phúng: - Thuỷ thủ tàu viễn dương (Bệnh sĩ của Lưu Quang Vũ) + Xây dựng tình huống kịch (Học sinh tự làm) + Ngôn ngữ đậm chất hài hước: Viết thư nói bốc phét còn dễ đằng này mình phải đóng kịch, cháu ngượng lắm; viễn dương hàng hải, hơn cả phi công, hơn cả lái tàu vũ trụ, nào ngờ... Mày lái tàu chở cứt hả cháu?; chết cũng phải là Vốt-xcô,... - Khắc hoạ chân dung nhân vật ông Nha: không xuất hiện trực tiếp trong đoạn trích, chỉ qua lời nói của nhân vật khác mà hiện lên khá rõ nét,... – Nhà thị trưởng hân hoan (Quan thanh tra của Gô-gôn) + Các nhân vật hài kịch, phẩm chất bên trong không tương xứng với vị trí thân phận của họ và do vậy, họ đáng là nạn nhân của tiếng cười. + Thủ pháp nghệ thuật khắc hoạ nhân vật hài kịch của tác giả Gô-gôn: Độc thoại để lột tả tính cách, bản chất nhân vật qua những chỉ dẫn sân khấu (nói riêng). |
|
Kết bài |
0,5 |
Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu - Ý nghĩa của sự tương đồng, khác biệt. - Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân sau khi đọc văn bản hài kịch. |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Sử dụng thành thạo thao tác so sánh, tổng hợp, chứng minh. - Dẫn chứng phong phú, đa dạng phù hợp với lí lẽ, luận điểm. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 6
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau:
(1) Toàn cầu hoá đã và đang tạo nên xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, giúp các dân tộc, quốc gia xích lại gần nhau để hợp tác, trao đổi, giao lưu, học hỏi, cùng nhau phát triển.
(2) Tuy nhiên, phát triển trong bối cảnh quốc tế mới với những diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, văn hoá dân tộc cũng chịu những tác động trái chiều, rõ nhất là mặt trái của quá trình toàn cầu hoá, kinh tế thị trường và sự lấn át của các phương tiện truyền thông mới, Internet, mạng xã hội. Biên cương văn hoá tư tưởng của quốc gia cũng chịu nhiều thách thức trước sự xâm lấn của các nền tảng xuyên biên giới.
(3) Từ thực tiễn cho thấy trong quá trình toàn cầu hoá, nhất là với lĩnh vực văn hoá, nếu không có bộ lọc đủ mạnh, thiếu bản lĩnh và tính sáng tạo sẽ nguy cơ dẫn tới tiếp thu một cách thụ động, vội vã, ồ ạt. Từ đó rất dễ dẫn đến tình trạng nguồn lực, sức mạnh nội sinh trong nước bị những yếu tố ngoại sinh lấn át, chi phối; từ đó làm triệt tiêu tính đa dạng văn hoá dân tộc, tự đánh mất bản sắc, cội rễ và truyền thống văn hoá của dân tộc mình. Không thể phủ nhận cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là bước phát triển nhảy vọt của văn minh nhân loại, mở ra những không gian mới, mang lại những loại hình dịch vụ, giải trí tiện lợi cho con người, hướng tới sự phát triển toàn diện.
[...]
(4) Cần nhận thức rằng việc tiếp thu văn hoá thế giới phải có sự chọn lọc trên cơ sở các giá trị truyền thống, bản lĩnh văn hoá dân tộc. Phải tạo sức đề kháng văn hoá với những bộ lọc, vách ngăn cần thiết để đẩy lùi và chống lại sự xâm lấn của những trào lưu phản văn hoá, các luồng tư tưởng có nội dung xấu độc. Công tác quảng bá, lan toả hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến với bạn bè quốc tế cần được đẩy mạnh.
(Nguyễn Huy Phòng, Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, dẫn theo nhandan.vn, 25- 07- 2023)
Thực hiện các yêu cầu/câu hỏi từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1. Xác định luận đề của đoạn trích.
Câu 2. Chỉ ra 01 thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn (2).
Câu 3. Phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ ẩn dụ được sử dụng trong câu văn:“Phải tạo sức đề kháng văn hoá với những bộ lọc, vách ngăn cần thiết để đẩy lùi và chống lại sự xâm lấn của những trào lưu phản văn hoá, các luồng tư tưởng có nội dung xấu độc.”.
Câu 4. Nêu quan điểm của tác giả thể hiện trong đoạn trích.
Câu 5. Anh/ chị có đồng tình với ý kiến của tác giả khi cho rằng: “Công tác quảng bá, lan toả hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến với bạn bè quốc tế cần được đẩy mạnh.” không? Vì sao? (Trình bày khoảng 5 – 7 dòng).
II. VIẾT
Có ý kiến cho rằng: “Sống trải nghiệm là lối sống rất cần thiết cho giới trẻ hôm nay”. Em hãy viết bài văn bày tỏ quan điểm của mình về ý kiến trên
--------------------Hết--------------------
Đáp án
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để xác định vấn đề nghị luận
Cách giải:
Luận đề của văn bản là bàn về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong tình hình toàn cầu hóa đất nước.
Câu 2:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các thao tác lập luận để xác định trong văn bản
Cách giải:
- Thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn (2) là: chứng minh, bình luận.
- Chỉ ra thao tác lập luận:
+ Thao tác lập chứng minh: Tuy nhiên, phát triển trong bối cảnh quốc tế mới với những diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, văn hoá dân tộc cũng chịu những tác động trái chiều, rõ nhất là mặt trái của quá trình toàn cầu hoá, kinh tế thị trường và sự lấn át của các phương tiện truyền thông mới, Internet, mạng xã hội./ Câu 1.
+ Thao tác lập luận bình luận: Biên cương văn hoá tư tưởng của quốc gia cũng chịu nhiều thách thức trước sự xâm lấn của các nền tảng xuyên biên giới./ Câu 2.
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ ẩn dụ và phân tích tác dụng
Cách giải:
- Biện pháp tu từ ẩn dụ: các từ ngữ sức đề kháng, bộ lọc, vách ngăn được sử dụng với một tầng nghĩa hoàn toàn mới.
- Hiệu quả:
+ Làm nổi bật thông điệp: cần phải có ý thức tự giác và những hành động cụ thể để bảo vệ giữ gìn những giá trị truyền thống trước tác động mạnh mẽ, lấn át của quá trình toàn cầu hoá, các sản phẩm công nghệ và nền kinh tế thị trường.
+ Cách diễn đạt hình ảnh, mới mẻ, ấn tượng, làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu văn.
Câu 4:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để xác định quan điểm của người viết
Cách giải:
Quan điểm của người viết:
- Dùng lập luận, lí lẽ và bằng chứng một cách khoa học để trình bày vấn đề toàn diện, khách quan.
- Tác giả kết luận rằng toàn cầu hóa là một quá trình tất yếu, khách quan, chứa đựng nhiều thời cơ và những thách thức to lớn; khẳng định việc cần phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- HS có thể trả lời đồng tình hoặc không đồng tình
- Giải thích hợp lí, có thể theo gợi ý (nếu đồng tình với ý kiến):
+ Công tác quảng bá, lan tỏa hình ảnh đất nước, con người là một nhiệm vụ cần thiết trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
+ Khẳng định tinh thần yêu quê hương đất nước, tâm huyết của người dân trên khắp mọi miền đất nước đối với việc quảng bá hình ảnh đất nước con người, truyền thống văn hóa cao đẹp của dân tộc ta đến với cộng đồng quốc tế.
+….
- Nếu không đồng tình, HS có cách giải thích hợp lí.
Cách giải:
Tôi đồng tình với quan điểm của tác giả. Bởi, việc quảng bá, lan tỏa hình ảnh đất nước và con người Việt Nam ra thế giới không chỉ giúp bạn bè quốc tế hiểu đúng về văn hóa, con người và truyền thống Việt Nam, mà còn góp phần nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Đồng thời, đây là cách thể hiện tinh thần tự hào dân tộc, giúp thế hệ trẻ thêm ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Việc này cũng tạo cơ hội cho Việt Nam giao lưu, học hỏi và phát triển bền vững trong thời kỳ hội nhập.
II. VIẾT
Phương pháp:
1. Mở bài:
- Nêu vấn đề cần bàn luận: Giới trẻ với lối sống trải nghiệm.
- Ý kiến đáng quan tâm về vấn đề đó: Tầm quan trọng, sự cần thiết của lối sống trải nghiệm đối với giới trẻ.
2. Thân bài:
* Trình bày thực chất của ý kiến, quan niệm đã nêu để bàn luận: Trải nghiệm là tự mình trải qua để có được hiểu biết, kinh nghiệm, tích lũy được nhiều kiến thức và vốn sống,...
* Thể hiện thái độ tán thành ý kiến vừa nêu bằng lí lẽ và bằng chứng:
- Khẳng định ý nghĩa và đưa ra những biểu hiện cũng như vai trò, tác dụng của sự trải nghiệm trong cuộc sống, nhất là với giới trẻ như:
+ Giúp mở rộng, nâng cao sự hiểu biết, kinh nghiệm, có cách nghĩ, cách sống tích cực, biết yêu thương, quan tâm chia sẻ....
+ Trải nghiệm giúp bản thân khám phá ra chính mình để có quyết định đúng đắn, sáng suốt...;
+ Giúp con người sáng tạo, biết cách vượt qua khó khăn, có bản lĩnh, nghị lực,....
- Đưa ra một số dẫn chứng thực tế, những câu chuyện nhỏ trong cuộc sống hay văn học để làm sáng tỏ.
- Chỉ ra những tác hại của lối sống thụ động, ỷ lại, nhàm chán, vô ích, đắm chìm trong thế giới ảo (game), các tệ nạn...Đó là những trải nghiệm xấu, tiêu cực vô ích,…
3. Kết bài:
- Khẳng định ý kiến mình tán thành và sự cần thiết của vấn đề mình tán thành: Trải nghiệm có vai trò to lớn, cần thiết mang đến cho mỗi người lối sống tích cực, có trải nghiệm thì bản thân mới trưởng thành, sống đẹp...
- Đưa ra phương hướng và bài học hành động cho bản thân.
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong xã hội hiện đại không ngừng phát triển, giới trẻ đứng trước vô vàn lựa chọn về lối sống. Trong đó, có một ý kiến đáng để chúng ta suy ngẫm: "Sống trải nghiệm là lối sống rất cần thiết cho giới trẻ hôm nay". Đây không chỉ là một nhận định mà còn là lời khuyên sâu sắc, định hướng cho thế hệ trẻ cách sống tích cực và ý nghĩa.
Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ về khái niệm "sống trải nghiệm". Đó là quá trình tự mình bước ra thế giới bên ngoài, trực tiếp tham gia vào các hoạt động thực tế để có được hiểu biết, kinh nghiệm, từ đó tích lũy kiến thức và vốn sống. Trải nghiệm không đơn thuần là những chuyến du lịch, mà còn là việc dám thử sức với những điều mới mẻ, dám va vấp và học hỏi từ chính những thành công hay thất bại trong cuộc sống.
Em hoàn toàn tán thành với ý kiến trên bởi lối sống trải nghiệm mang lại những giá trị to lớn cho giới trẻ. Thứ nhất, trải nghiệm giúp mở rộng và nâng cao sự hiểu biết, hình thành cách nghĩ, cách sống tích cực. Khi được đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều người, chúng ta sẽ hiểu hơn về cuộc sống, biết yêu thương và chia sẻ với những mảnh đời khó khăn. Những chuyến tình nguyện đến vùng cao hay tham gia các hoạt động cộng đồng không chỉ cho ta kinh nghiệm quý giá mà còn bồi đắp lòng trắc ẩn và tinh thần trách nhiệm. Thứ hai, trải nghiệm giúp mỗi người khám phá ra chính bản thân mình, từ đó có những quyết định đúng đắn cho tương lai. Bằng cách thử sức ở nhiều lĩnh vực khác nhau, chúng ta dần nhận ra đâu là đam mê, điểm mạnh và cả những hạn chế cần khắc phục. Một học sinh tham gia câu lạc bộ nghệ thuật có thể phát hiện ra năng khiếu của mình; một sinh viên đi làm thêm có thể xác định được hướng đi phù hợp với ngành học. Nhờ vậy, chúng ta sẽ tránh được sự lãng phí thời gian vào những thứ không phù hợp.
Hơn thế nữa, trải nghiệm giúp con người trở nên sáng tạo, biết cách vượt qua khó khăn và rèn luyện bản lĩnh, nghị lực. Cuộc sống không phải lúc nào cũng bằng phẳng, những lần thất bại, những lúc gặp thử thách chính là bài học quý giá nhất. Khi phải tự mình giải quyết vấn đề, chúng ta học được cách độc lập, kiên cường và linh hoạt trong mọi tình huống. Những doanh nhân thành công như Mark Zuckerberg hay Steve Jobs đều đã trải qua nhiều thất bại trước khi đạt được thành tựu như ngày hôm nay.
Tuy nhiên, bên cạnh những bạn trẻ biết sống tích cực, vẫn còn không ít người chọn lối sống thụ động, nhàm chán. Họ đắm chìm trong thế giới ảo của game online, mạng xã hội, hoặc sa vào các tệ nạn xã hội. Đó là những "trải nghiệm" xấu, tiêu cực, không những không mang lại lợi ích mà còn hủy hoại tương lai của chính họ. Chúng ta cần phân biệt rõ giữa trải nghiệm tích cực và những cám dỗ nguy hại, phải biết chọn lọc những hoạt động lành mạnh, bổ ích cho bản thân.
Khẳng định lại ý kiến đã nêu, em tin rằng sống trải nghiệm thực sự là lối sống cần thiết và tích cực cho giới trẻ ngày nay. Nó không chỉ mang lại kiến thức, kỹ năng mà còn giúp mỗi người trưởng thành, sống đẹp và ý nghĩa hơn. Là một học sinh, em ý thức được rằng cần phải chủ động tìm kiếm và tận dụng mọi cơ hội để trải nghiệm: tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa, học hỏi kỹ năng mới, khám phá thế giới xung quanh. Bởi chỉ khi dám bước ra khỏi vùng an toàn, dám trải nghiệm và dám thất bại, chúng ta mới thực sự sống trọn vẹn tuổi trẻ của mình.
Đề thi học kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC - HIỂU
Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu:
(1) Người xưa có câu nói rất hay: “Nước chảy không thối, trục cửa không mọt” (1)
(2) Nhà khoa học người Mĩ – Franklin từng nói câu tương tự: “Thói lười biếng cũng giống như gỉ sét, gây hại cho thân xác chúng ta hơn cả sự lao động vất vả. Chiếc chìa khóa thường xuyên dùng sẽ luôn sáng bóng.”
(3) Để thấy rằng, mưu cầu an nhàn thật nguy hại. Bất luận ở hoàn cảnh nào, hễ ở trong trạng thái an nhàn, bất cứ lúc nào chúng ta cũng có khả năng bị nguy cơ xâm nhập, và chúng ta ngày càng trở nên an dật, yếu đuối, mất hết sức chống chọi. Chúng ta nên biết rằng sự cạnh tranh trong cuộc sống vốn rất khốc liệt và tàn nhẫn, chỉ những ai đã chuẩn bị đầy đủ mới có cơ hội sống sót.
(4) Đừng để bản thân dừng quá lâu ở vùng dễ chịu, mà phải tìm cách đột phá khỏi nó. Hãy tự hỏi chính mình, bạn có yêu thích công việc đang làm hiện tại không? Điều gì khiến bạn bước vào sự an nhàn, đánh mất động lực, không chịu đột phá? Thế rồi căn cứ theo kì vọng và động cơ bản thân để đặt ra một mục tiêu phù hợp với dự định của mình. Một khi có mục tiêu rõ ràng, bạn sẽ tràn đầy động lực tiến bước về cái đích phía trước.
(Đừng chọn an nhàn khi còn trẻ, Cảnh Thiên, NXB Thế giới, 2019)
(1) Ngụ ý con người chăm chỉ hoạt động, làm lụng thì sẽ không bị lạc hậu, kém cỏi, mài mòn đi.
Thực hiện các yêu cầu :
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Câu 2. Chỉ ra những nguy hại của việc mưu cầu an nhàn khi còn trẻ.
Câu 3. Nêu nội dung đoạn (3), đoạn (4) và mối quan hệ giữa hai đoạn.
Câu 4. Nêu cách hiểu của anh/chị về nội dung câu văn: Đừng để bản thân dừng quá lâu ở vùng dễ chịu, mà phải tìm cách đột phá khỏi nó.
Câu 5. Từ tư tưởng tác giả gửi gắm trong văn bản trên, anh/chị suy nghĩ về sự cần thiết của lối sống có mục tiêu, lý tưởng đối với thế hệ trẻ.
II. VIẾT
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nhân vật Điền và Hộ trong hai đoạn trích dưới đây:
Đoạn truyện (1)
(Tóm tắt truyện: Hộ là một văn sĩ có tài; Hộ cưu mang Từ, có công cứu vớt đời Từ và Từ trở thành vợ Hộ. Hộ mải mê với văn chương, chung cuộc sống cơm áo không để Hộ ngồi yên mà viết văn, thưởng thức văn chương, … Túng quẫn và phẫn uất, Hộ chán nản lao vào rượu chè, say xỉn, … Mỗi lần say lại bốc đồng và về nhà làm khổ Từ…Khi tỉnh dậy, Hộ lại hối hận, ăn năn…)
Sáng nay, chắc Từ mệt quá, vừa mới lịm đi, nên mới ngủ trưa như thế. Ðầu Từ ngoẹo về một bên. Một tay Từ trật ra ngoài mép võng, sã xuống, cái bàn tay hơi xòe ra lỏng lẻo. Dáng nằm thật là khó nhọc và khổ não. Hắn bùi ngùi. Chao ôi! Trông Từ nằm thật đáng thương! Hèn chi mà Từ khổ cả một đời người! Cái tướng vất vả lộ ra cả đến trong giấc ngủ. Hộ nhớ ra rằng: một đôi lúc, nếu nhìn kỹ thì Từ khó mặt lắm. Ðột nhiên Hộ nảy ra ý muốn lại gần Từ, nhìn kỹ xem mặt Từ lúc bây giờ ra sao? Hắn rón rén, đi chân không lại. Hắn ngồi xổm ngay xuống đất, bên cạnh võng và cố thở cho thật khẽ. Hắn ngắm nghía mặt Từ lâu lắm. Da mặt Từ xanh nhợt; môi nhợt nhạt; mi mắt hơi tim tím và chung quanh mắt có quầng, đôi má đã hơi hóp lại khiến mặt hơi có cạnh. Hộ khẽ thở dài và lắc đầu ái ngại. Hắn dịu dàng nắm lấy tay sã xuống của Từ. Cái bàn tay lủng củng rặt những xương! Trên mu bàn tay, những đường gân xanh bóng ra, làn da mỏng và xanh trong, xanh lọc. Cái cổ tay mỏng manh. Tất cả lộ một cái gì mềm yếu, một cái gì ẻo lả, cần được hắn che chở và bênh vực... Một vẻ bạc mệnh, một cái gì đau khổ và chật vật, cần được hắn vỗ về an ủi... Thế mà hắn đã làm gì để cho đời Từ đỡ khổ hơn? Hắn đã làm gì để cho Từ khỏi khổ? Nước mắt hắn bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh. Và hắn khóc... Ôi chao! Hắn khóc! Hắn khóc nức nở, khóc như thể không ra tiếng khóc. Hắn ôm chặt lấy cái bàn tay bé nhỏ của Từ vào ngực mình mà khóc. Từ thức dậy, Từ hiểu ngay, không cần hỏi một câu nào cũng hiểu. Và Từ cảm động. Mắt Từ giàn giụa nước. Từ khẽ rút tay ra, vòng lên cổ chồng, nhẹ nhàng núi hắn vào, để hắn gục đầu lên cạnh ngực Từ. Hắn lại càng khóc to hơn và cố nói qua tiếng khóc:
- Anh... anh... chỉ là... một thằng... khốn nạn!...
- Không!... Anh chỉ là một người khổ sở!... Chính vì em mà anh khổ...
Từ bảo thế. Tay Từ níu mạnh hơn một chút. Ngực Từ thổn thức. Từ chực ngả đầu sát vào vai Hộ. Nhưng đứa con, bị giằng, khóc thét lên. Từ vội buông chồng ra để vỗ con. Tiếng vẫn còn ướt lệ, Từ dỗ nó:
- A! Mợ đây! Mợ đây mà! Ôi chao! Con tôi nó giật mình... Mợ thương...
Hộ đã tránh chỗ để Từ đưa võng... Từ vừa đưa vừa hát:
Ai làm cho gió lên giời,
Cho mưa xuống đất, cho người biệt li;
Ai làm cho Nam, Bắc phân kỳ,
Cho hai hàng lệ đầm đìa tấm thân...
(Trích “Đời thừa” , Sách Ngữ văn 11 nâng cao, NXB GD 2010, tr.207)
Đoạn truyện (2)
(Tóm tắt truyện: Điền cả đêm mệt mỏi chăm con là thằng cu Chuyên ốm, sáng ra chuẩn bị lên tỉnh lĩnh tiền. Vợ dặn phải mua thuốc cho con bé Hường đang nổi mụn khắp mặt. Hắn cáu kỉnh, bực tức vì đủ thứ phải chi tiêu, nhưng lại không chịu nổi sự càu nhàu của vợ nên đành chịu. Bản thân hắn mắc bệnh ở tim, cũng chẳng có tiền để theo đuổi thuốc thang. Làm chẳng đủ ăn, chẳng dám mua một cái áo, một quyển sách, lại suốt ngày con ốm, con đau. Hắn ngao ngán cho kiếp mình. Để tiết kiệm tiền xe, mãi đến mười giờ Ðiền mới đi bộ tới trạm Quỳnh Nha, gặp ông đội Trạm để lĩnh thư, sau đó mới lên nhà dây thép lĩnh tiền, nhưng đụng độ với người thư ký khiến một tờ giấy bạc bay mất, Điền phải nhịn ăn sáng, lếch thếch đi bộ về để tiết kiệm tiền nhưng lại quên mua thuốc cho con. Cuộc cãi vã với vợ khiến “hắn thấy mình khổ quá, khổ như một con chó vậy”. Điền nằm ngẫm nghĩ, nhưng tiếng khóc thút thít của đứa con bị bệnh đã khiến Điền ngẫm lại về lẽ đời và thở dài ngao ngán cho kiếp mình và kiếp người: “Bây giờ trong lòng hắn chỉ còn lại sự xót thương. Hắn thương vợ, thương con, thương tất cả những người phải khổ đau. Lòng hắn thiết tha rướn lên muốn vươn ra để ấp ôm lấy mọi người. Mắt hắn đầm đìa”)
[…] Hắn vùng vằng đi vào nhà, quăng mũ quăng áo, quăng nốt cả cái thân xác mỏi mệt xuống một cái giường, thở hổn hển, như để đẩy bớt ra ngoài cái khí giận đang cuồn cuộn trong ngực. Hắn thấy mình khổ quá, khổ như một con chó vậy. Hắn nhịn đói từ sáng đến giờ. Hắn đi bộ què chân, nắng hơ sém cả da. Hắn xẻn từ đồng xu uống nước trở đi. Hắn chịu nhục với mọi người... Như thế, bởi vì đâu? Chẳng phải vì vợ vì con ư? Nhưng nào vợ con có thèm biết cho đâu! Ðã chẳng an ủi một lời, vợ hắn còn vơ lấy một sự hắn quên để mà đay nghiến hắn. Ừ, mà cho rằng hắn không quên nữa, cho rằng hắn không lấy thuốc cho con là cố ý, là muốn khỏi mất mấy đồng bạc nữa, thì vợ hắn có nên nói tệ hắn như vậy hay không? Hắn hà tiện vì ai? Hắn khổ sở vì ai, riêng vào cái thân hắn chẳng phí phạm một đồng xu nào cả. Mấy mươi lần vợ hắn giục hắn may một cái áo sơ-mi, hắn chỉ ư hừ rồi để đấy, chưa bao giờ dám bỏ tiền ra mà may cả. Thế rồi bao nhiêu tiền cũng vào vợ, vào con hết... Hắn bủn xỉn, hắn tiếc tiền... ừ, nhưng mà hắn tiếc tiền cho ai?... Ðiền cứ càng nghĩ càng thấy hắn là người khổ, vợ hắn là người tệ bạc. […] Nhưng bỗng con bé Hường chạy vội ra đầu chái, về phía giường Ðiền. Ðiền nghe tiếng đôi guốc của nó lẹc kẹc rất nhanh một thoáng, rồi im lặng. Rồi Hường xịt mũi. Nó xụt xịt rất lâu ngoài ấy. Nó nghẹt mũi hay nó khóc? Ðiền cố lắng tai nghe. Hắn nghe thấy những tiếng Hường nức nở. Hắn đột nhiên run người. Lòng hắn quang ra. Những ý giận hờn bừa bộn vụt tan. Còn lại cái hình ảnh bé nhỏ của Hường, với cái mặt đầy mụn và sưng lên của nó, đôi mắt giàn giụa nước và miệng mếu. Con bé còn nhỏ tuổi nhưng đã rất hay khóc vụng; mỗi lần muốn khóc, nó lại tránh ra một chỗ, cố nén tiếng, không cho ai biết. Ðiền thấy thương nó quá. Tội nghiệp cho con bé! Nó ốm đau luôn và thường bị mẹ mắng chửi suốt ngày như tát nước. Mẹ nó mắng chửi nó, nhiều khi bất công và vô lý. Nhưng lạ thay! Lúc này Ðiền không vin vào đấy mà trách vợ. Hắn thấy vợ hắn không tệ. Thị vốn thương con lắm. Những lúc thị gắt gỏng với con như thế chỉ là những lúc thị sốt ruột quá, lo lắng quá. Cũng như hắn vậy, sao hắn nỡ đem lòng giận thị? Ai chả thế? Người không phải là thánh. Sự khổ sở dễ khiến lòng chua chát. Khi người ta lam lũ quá, lại còn lo trăm thứ, bị làm rầy vì trăm thứ, thì ai mà bình tĩnh được? Ai mà chả hay gắt gỏng? Gắt gỏng thì chính mình khổ trước. Không giữ được thì phải bật ra ngoài như vậy. Thật ra có ai muốn cau có làm chi?... Vậy thì vợ hắn gắt lên với hắn lúc này cũng chỉ là việc thường thôi.
[…] Bây giờ trong lòng hắn chỉ còn lại sự xót thương. Hắn thương vợ, thương con, thương tất cả những người phải khổ đau. Lòng hắn thiết tha rướn lên, muốn vươn ra để ấp ôm lấy mọi người. Mắt hắn đầm đìa. Hắn gọi con rất dịu dàng:
- Hường ơi!... Vào đây với thầy con!...
(Trích Nước mắt, Nam Cao, Nam Cao truyện ngắn tuyển chọn, NXB Văn học, 2016)
Chú thích: Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri (1915 – 1951), quê ở Lý Nhân, Hà Nam. Ông là một nhà văn hiện thực phê phán (trước Cách mạng) và được xem là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của thế kỉ XX. Nam Cao còn là người có đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện phong cách viết truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam ở nửa đầu thế kỉ XX. Ông được sinh ra trong một gia đình công giáo bậc trung. Nam Cao làm rất nhiều công việc mưu sinh khác nhau, làm thư ký cho một hiệu may, dạy học, viết báo kiếm sống,.. với vốn sống phong phú Nam Cao đã cho ra đời rất nhiều tác phẩm có giá trị cho đến ngày nay. Các tác phẩm chính: Chí Phèo (truyện ngắn, 19419), Lão Hạc (truyện ngắn, 1943), Sống mòn (tiểu thuyết, 1944)
Đáp án
I. ĐỌC - HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các phương thức biểu đạt để xác định
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để xác định các chi tiết phù hợp
Cách giải:
- Bất cứ lúc nào chúng ta cũng có khả năng bị nguy cơ xâm nhập,
- Chúng ta ngày càng trở nên an dật, yếu đuối, mất hết sức chống chọi.
Câu 3:
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn (3) và (4) để xác định nội dung và chỉ ra mối quan hệ
Cách giải:
- Đoạn (3): Nêu những nguy hại của trạng thái an nhàn
- Đoạn (4): Khuyên mỗi chúng ta nên từ bỏ lối sống an nhàn, xác định mục tiêu đúng đắn để tiến về phía trước
- Mối quan hệ giữa đoạn (3) và đoạn (4): Quan hệ nguyên nhân – hệ quả
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích câu văn
Cách giải:
Câu văn “Đừng để bản thân dừng quá lâu ở vùng dễ chịu, mà phải tìm cách đột phá khỏi nó” có thể hiểu như sau:
- Dừng quá lâu: trì hoãn thời gian, không chịu thay đổi
- Vùng dễ chịu: không gian an nhàn, không phải gian khổ, vất vả
- Tìm cách đột phá: cách thức thay đổi trạng thái hiện tại một cách mạnh mẽ, quyết liệt,...
→ Có thể hiểu nội dung câu văn như sau: Chúng ta không nên trì hoãn thời gian quá lâu trong việc chọn lối sống an nhàn thoải mái mà phải dứt khoát từ bỏ lối sống đó để tạo ra bước phát triển mới cho bản thân, khẳng định mình và sống có ý nghĩa,..
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Suy nghĩ về sự cần thiết của lối sống có mục tiêu, lý tưởng đối với thế hệ trẻ:
+ Giúp ta có hướng đi đúng cho cuộc đời mình
+ Cho ta thêm động lực để phấn đấu, để thành công, sẵn sàng đối mặt với khó khăn, thử thách,...
+ Trở nên hoàn thiện về tâm hồn và nhân cách, rèn luyện cho con người những phẩm chất đáng quý: chăm chỉ, cần cù, lạc quan,...
Cách giải:
Tư tưởng chủ đạo mà tác giả gửi gắm qua văn bản đã làm nổi bật sự cần thiết của một lối sống có mục tiêu và lí tưởng, đặc biệt là với thế hệ trẻ. Khi có mục tiêu rõ ràng, tuổi trẻ sẽ tìm thấy la bàn cho hành trình của mình, không còn bơ vơ, lạc lối hay dễ dàng chấp nhận sự tầm thường. Lí tưởng và mục tiêu chính là ngọn lửa thôi thúc bên trong, tiếp thêm sức mạnh để vượt qua những cám dỗ của "vùng an toàn" và kiên cường đương đầu với thử thách. Hơn hết, nó biến mỗi cá nhân từ kẻ thụ động, chỉ biết tồn tại, trở thành một chủ thể tích cực, chủ động kiến tạo cuộc đời và đóng góp giá trị cho xã hội. Một cuộc sống không có mục tiêu cũng giống như một con thuyền ra khơi không có bến đỗ, mãi mãi lênh đênh và dễ dàng bị nhấn chìm bởi những cơn sóng dữ của sự trì trệ và thất bại. Vì vậy, sống có lí tưởng không chỉ là lựa chọn, mà đó là trách nhiệm của tuổi trẻ với chính tương lai của mình.
II. VIẾT
Phương pháp:
1. Mở bài: giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận
Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Giới thiệu các nhân vật: Điền và Hộ là những người trí thức nghèo với gánh nặng áo cơm, qua đó đã làm nổi bật nên tấn bi kịch của người trí thức trong xã hội cũ
2. Thân bài:
a. Nhân vật Điền
- Tình huống:
Nam Cao đã đặt nhân Điền vào tình huống khiến Điền phải nóng giận, bực tức: Điền đi nhận lương, có một tờ tiền bị rách, Điền chẳng những không đổi được mà còn làm mất luôn tờ tiền đó. Vì nghèo, khổ, mất tiền, Điền sinh ra tiếc, rồi bực mình. Về nhà lại nghe vợ càu nhàu do quên mua thuốc cho con, Điền càng thêm cáu gắt, trút bực tức lên vợ con mình.
- Vẻ đẹp nhân vật Điền:
+ Điền là người có thương vợ, thương con: Anh nhịn ăn, nhịn tiêu, không dám mua sách, mua áo để lấy tiền cho vợ con; anh thương con bé Hường bị ốm, ôm nó vào lòng, quạt cho nó; anh thấu hiểu cho sự khó tính, hay cằn nhằn của vợ…
+ Điền là người nhân hậu, bao dung: Biết đặt mình vào hoàn cảnh người khác để thấu hiểu cho vợ, cho con gái, cho ông ký ở nhà dây thép.
+ Điền là người trí thức có ý thức phản tỉnh cao, luôn nghiêm khắc với bản thân: Từ chỗ ích kỉ trong suy nghĩ, giận dỗi với mọi người, anh dần tự xem xét để nhận ra lỗi sai của mình, để có cái nhìn nhân ái hơn.
- Đặc biệt, truyện mang đến thông điệp về đôi mắt tình thương: Người ta chỉ xấu xa trong đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỉ. Mỗi người cần có đôi mắt tình thương khi nhìn đời, nhìn người – tức là đặt mình vào hoàn cảnh người khác; nhìn bằng đôi mắt cảm thông, thấu hiểu, có như vậy mới yêu thương và trân trọng cuộc đời, con người.
b. Nhân vật Hộ
- Tình huống: Hộ là một nhà văn nghèo có lương tâm và có tài. Khi chưa có vợ con “với cách viết thận trọng của hắn, hắn chỉ kiểm được vừa đủ để một mình hắn sống một cách eo hẹp, có thể nói là cực khổ”. Nhưng từ khi “đã ghép đời Từ vào cuộc đời của hắn”, với một bầy con thơ “nhiều đen, nhiều sài, quấy rức, khóc mếu suốt ngày đêm và quanh năm uống thuốc”, thì Hộ đã rơi vào tấn bi kịch ghê gớm, bị cái nợ áo cơm ghì sát đất! Hộ cứ luẩn quẩn mãi trong bao nỗi khổ tâm “thứ nhất con đói, thứ hai nợ đòi, thứ ba nhà dột” như dân gian đã nói.
- Vẻ đẹp nhân vật Hộ:
+ Hộ là một con người giàu tình thương: Hộ đã hành động một cách cao đẹp là nuôi Từ, nuôi mẹ già, con dại cho Từ.
+ Hộ là một nhà văn trải qua một bi kịch tinh thần đau đớn, dai dẳng:
++ Anh mang trong mình hoài bão lớn nhưng vì gánh nặng áo cơm Hộ cho in cuốn văn vội, anh xấu hổ khi đọc lại văn mình, tự xỉ vả mình là một thằng khốn nạn, là một kẻ bất lương.
++ Hộ đã tìm đến rượu để giải sầu, càng ngày hắn càng lún sâu vào bi kị say rượu và đối xử vũ phu với vợ con. Tỉnh rượu lại bẽn lẽn xin lỗi Từ, hứa chừa rượu, được một thời gian ngắn, lại say, lại đánh vợ, những trò vừa buồn cười, vừa đáng sợ như lần trước.
++ Và hắn khóc… Ôi chao! Hắn khóc! Hắn khóc nức nở… Rồi hắn tự lên án mình chỉ là một thằng… khốn nạn!
++ Và câu hát ru còn thấm lệ của Từ như tô đậm thêm bi kịch của Hộ, của hai vợ chồng. Nỗi đau ấy được cực tả qua câu hát cho hai hàng lệ đầm đìa tấm thương. Tiếng khóc của Hộ, tiếng khóc của Từ mang ý nghĩa tố cáo cái xã hội tàn ác đã cướp đi mọi ước mơ, đã đày đọa cuộc sống của mỗi gia đình, đã đầu độc tâm hồn con người và làm méo mó mối quan hệ vốn tốt đẹp giữa người với người.
++ Cũng qua nhân vật Hộ, Nam Cao đã thể hiện ngòi bút hiện thực vừa tỉnh táo, vừa sắc lạnh, vừa nặng trĩu suy nghĩ đằm thắm yêu thương. Nghệ thuật phân tích nội tâm nhân vật cho người đọc vô cùng thấm thía về bi kịch của một tri thức nghèo, của một nhà văn nghèo trong xã hội cũ.
c. So sánh:
- Giống: Cả 2 đều là những người mang danh trí thức nhưng thực chất nghèo khổ, cơ cực, bị gánh nặng áo cơm "ghì" sát đất. Nhưng cả 2 đều là những người có có vẻ đẹp đáng trân trọng
- Khác:
+ Hộ vì lẽ sống tình thương mà cứu vớt cuộc đời Từ, nhưng cuối cùng chính anh lại chà đạp nên lẽ sống của mình, rồi Hộ lại day dứt lương tâm, hối hận đến đau đớn. Đó là cái đau đớn của sự tha hóa. Đêm về, khi Hộ đã tỉnh rượu và tỉnh ngộ, Hộ đã có sự bừng tỉnh của lương tâm và lương tri. Đó là sự bừng tỉnh của phần người trong con người. Nhìn người vợ đáng thương với cái dáng nằm thật là khó nhọc và khổ não. Đó là lúc Hộ đẹp nhất, là lúc con người lương tri, con người lương tâm thức tỉnh. Chuyện kết thúc nhưng cuộc đời Hộ chưa khép lại. Cảnh cuối cùng với những giọt nước mắt Hộ đã làm người đọc ít nhiều hy vọng nó sẽ thanh lọc tâm hồn, nâng đỡ nhân cách của anh, giữ anh lại trước vực thẳm sa ngã.
+ Điền không hoàn hảo, có những lúc cũng ích kỉ, gia trưởng, hẹp hỏi, thô lỗ. Nhưng vượt lên tất cả, Điền đã tự đấu tranh với chính phần “con” trong mình để vươn tới một lối sống nhân hậu, giàu tình thương hơn. Và ở Điền cong cho thấy: người ta chỉ xấu xa trong đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỉ. Mỗi người cần có đôi mắt tình thương khi nhìn đời, nhìn người – tức là đặt mình vào hoàn cảnh người khác; nhìn bằng đôi mắt cảm thông, thấu hiểu, có như vậy mới yêu thương và trân trọng cuộc đời, con người.
- Đánh giá: Cả hai truyện đều viết viết về đề tài người trí thức.
3. Kết bài:
- Khẳng định lại giá trị tác phẩm và tài năng của tác giả
Cách giải:
Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 1945. Ông đã dành nhiều trang viết xúc động về số phận những người trí thức nghèo trong xã hội cũ. Qua hai truyện ngắn "Đời thừa" và "Nước mắt", hình tượng nhân vật Hộ và Điền hiện lên với những bi kịch day dứt, nhưng ẩn sâu trong đó là vẻ đẹp tâm hồn đáng trân trọng.
Nhân vật Điền trong "Nước mắt" là điển hình cho người trí thức nghèo bị cái đói, cái khổ dồn đến chân tường. Một ngày của Điền là chuỗi dài những bực dọc, tủi nhục từ việc nhịn đói đi bộ cả chục cây số, bị người thư ký khinh miệt, làm mất tiền, đến việc về nhà nghe vợ càu nhàu. Sự bế tắc ấy khiến anh trở nên cáu kỉnh, ích kỷ, đổ lỗi cho vợ con là nguyên nhân của mọi khổ đau. Thế nhưng, vượt lên trên tất cả, Điền vẫn là một con người nhân hậu. Sự thức tỉnh của anh bắt đầu từ tiếng khóc thút thít của đứa con gái bé bỏng. Khoảnh khắc ấy, mọi giận hờn trong lòng anh tan biến, nhường chỗ cho tình thương yêu. Điền nhận ra nỗi khổ của vợ, thương cho con, và thấu hiểu cho cả những người cùng cảnh ngộ. Giọt nước mắt đầm đìa cuối truyện không phải là sự yếu đuối, mà là biểu hiện của một trái tim giàu lòng trắc ẩn, khao khát vươn ra để ấp ôm lấy mọi người. Ở nhân vật Điền, Nam Cao gửi gắm thông điệp sâu sắc về đôi mắt tình thương, rằng chỉ khi biết đặt mình vào hoàn cảnh người khác, ta mới có thể cảm thông và yêu thương thực sự.
Nếu như Điền tìm thấy sự giải thoát trong tình thương, thì Hộ trong "Đời thừa" lại chìm sâu hơn vào bi kịch. Vốn là một nhà văn tài năng với những hoài bão lớn lao về nghệ thuật, Hộ đã phải từ bỏ giấc mơ vì gánh nặng cơm áo. Anh trở thành kẻ đời thừa, thừa trong chính gia đình mình, thừa trong sự nghiệp văn chương. Cái nghèo khiến Hộ tha hóa, từ một người đàn ông nhân hậu, sẵn sàng cưu mang Từ, anh trở thành kẻ vũ phu mỗi lần say rượu. Nhưng đau đớn hơn cả là sự dằn vặt, tự ý thức về bi kịch của chính mình. Cảnh Hộ khóc khi nhìn vợ ngủ là một trong những chi tiết xúc động nhất. Những giọt nước mắt bật ra chứa đựng nỗi đau đớn tột cùng của một con người ý thức được mình đang phản bội lại lẽ sống tình thương. Lời tự trách "Anh chỉ là một thằng khốn nạn" là sự tự phán xét nghiêm khắc của lương tâm. Ở Hộ, ta thấy sự giằng xé không lối thoát giữa khát vọng cá nhân và trách nhiệm gia đình, giữa con người lương tri và sự tha hóa.
Cả Hộ và Điền đều là nạn nhân của xã hội cũ, nơi cơm áo gạo tiền khiến những người trí thức không thể sống xứng đáng với nhân cách và tài năng. Họ đều có những phẩm chất đáng quý như giàu lòng thương yêu, có ý thức về nhân cách, và luôn day dứt, trăn trở về lẽ sống. Sự khác biệt nằm ở cách họ ứng phó với bi kịch. Nếu Hộ rơi vào vòng xoáy của sự tha hóa và tự hủy hoại, thì Điền đã tìm thấy sự cứu rỗi trong tình yêu thương. Hộ đau khổ vì không thể thực hiện được hoài bão nghệ thuật, còn Điền đau khổ vì không thể bảo vệ được hạnh phúc gia đình. Cả hai bi kịch ấy đều phản ánh chân thực số phận người trí thức trong xã hội đương thời.
Qua hai nhân vật Điền và Hộ, Nam Cao không chỉ phơi bày hiện thực xã hội tàn khốc, mà còn thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc. Ông trân trọng những vẻ đẹp tâm hồn ẩn sâu trong mỗi con người, dù họ có bị vùi dập đến đâu. "Nước mắt" và "Đời thừa" xứng đáng là những kiệt tác văn học, mãi mãi khiến người đọc thổn thức về số phận con người và day dứt về những giá trị nhân văn cần được gìn giữ.
Đề thi học kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 8
Đề thi
I. PHẦN ĐỌC - HIỂU
Đọc văn bản sau:
Chuyện cái chùa hoang ở Ðông Triều
( Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ)
Vào thời nhà Trần, ở huyện Đông Triều, có một viên quan tên là Văn Tư Lập. Khi thấy dân chúng khổ sở vì nạn trộm cắp vặt, ông yêu cầu các thôn dân phải canh gác đêm ngày, nhưng tình hình không cải thiện, thậm chí còn tệ hơn. Tư Lập nghi ngờ rằng đó là do ma quỷ gây ra. Ông liền mời các thầy phù thủy cao tay để xin bùa yểm trấn, nhưng tình trạng quấy rối vẫn tiếp tục tăng lên.
Tư Lập lo lắng, quyết định kêu gọi dân chúng đến chùa để cầu xin Phật giúp đỡ. Mọi người đến chùa, thắp hương lễ bái và khấn rằng: “Ma quỷ đang gây rối, quấy nhiễu dân chúng và làm hại cả lục súc. Cúi xin Phật thương xót, ra uy trừng phạt, để chúng sinh được bình yên. Khi công việc làm ăn khôi phục, chúng tôi sẽ lại sửa chữa chùa chiền để báo đáp công đức.”
Tuy nhiên, đêm hôm ấy, nạn trộm cắp càng nghiêm trọng hơn. Không biết làm sao, Tư Lập bèn đi hỏi Vương Tiên sinh ở huyện Kim Thành, người nổi tiếng về bói dịch. Vương Tiên sinh bói và cho biết: "Hãy tìm một người cưỡi ngựa, mặc áo vải, mang túi da và tên thiếc. Người đó chính là người có thể giúp giải quyết nạn này." Vương Tiên sinh dặn thêm: “Sáng mai, hãy đi về phương Nam từ phía tả cửa huyện. Nếu gặp người nào giống như vậy, nhất định phải mời ngay, dù người đó có từ chối cũng đừng nghe.”
Hôm sau, Tư Lập và các phụ lão chờ đợi, nhưng không thấy ai như vậy. Đến chiều, một người từ núi đi ra, mặc áo vải, cưỡi ngựa và đeo cung. Mọi người vội vàng đến chào và giải thích tình hình. Người đó cười và nói: “Tôi làm nghề săn bắn từ nhỏ, không biết gì về việc trừ ma quỷ. Tôi chỉ định đến núi An Phụ để săn thú.”
Tư Lập nghĩ người này có lẽ không muốn nổi danh về thuật bùa, nên mới ẩn mình trong núi và hành nghề săn bắn. Ông quyết định mời người này ở lại huyện và đối đãi như một vị thần. Người đó cảm thấy không thoải mái vì không có tài trừ quỷ nhưng vẫn phải nhận sự tiếp đãi.
Vào nửa đêm, người ấy lén ra khỏi huyện lị. Khi đến gần một cái cầu ván, trời còn tối, người ấy thấy một nhóm người lớn đi từ dưới đồng lên. Người đó lẩn vào chỗ kín và quan sát. Nhóm người này mò cá từ ao và ăn thịt cá sống. Họ nói rằng việc ăn thịt cá ngon hơn nhiều so với đồ cúng của dân. Sau đó, họ vào vườn mía, nhổ trộm mía để ăn.
Người săn bắn bắn trúng hai người trong nhóm gian. Những kẻ gian kêu la rồi bỏ chạy. Người săn bắn gọi dân làng đến. Dân làng theo dấu máu và tìm thấy một cái chùa hoang. Họ thấy hai pho tượng Hộ pháp trong chùa, trên lưng mỗi tượng đều có một phát tên cắm vào. Mọi người cho rằng đây là một sự lạ và phá hủy hai pho tượng.
Trong khi đó, nhóm gian kêu trách Thủy thần vì cho rằng hắn là chủ mưu gây ra nạn trộm cắp. Dân làng cũng đến miếu Thủy thần và thấy pho tượng thần đắp bằng đất đã biến sắc và có vảy cá dính trên mặt. Họ phá hủy cả pho tượng này.
Quan huyện Văn Tư Lập trả ơn người săn bắn và từ đó, nạn ma quái không còn thấy tăm tích nữa.
Thực hiện yêu cầu:
Câu 1. Văn bản Cái chùa hoang ở Đông Triều thuộc thể loại nào? Tác phẩm ấy có đặc điểm gì nổi bật?
Câu 2. Liệt kê các sự việc chính trong văn bản Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều (Nguyễn Dữ), và cho biết sự việc nào quan trọng nhất?
Câu 3. Nhân vật Văn Tư Lập đã làm những việc hữu ích nào cho dân chúng? Qua đó em thấy nhân vật Văn Tư Lập có những phẩm chất đáng quý nào?
Câu 4. Phân tích ý nghĩa của việc sử dụng yếu tố huyền bí trong câu chuyện?
Câu 5. Theo em, câu chuyện Cái chùa hoang ở Đông Triều có ý nghĩa gì đối với việc hiểu biết về văn hóa và xã hội thời kỳ đó?
II. PHẦN VIẾT
Câu 1. Viết đoạn văn (200 chữ) phân tích những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều (Nguyễn Dữ).
Câu 2.
Có ý kiến cho rằng: Tự học có một vai trò hết sức quan trọng. Tự học giúp chúng ta tìm tòi được nhiều kiến thức hơn, hiểu sâu hơn, vững chắc hơn nhờ vào các kĩ năng như tự phân tích, tổng hợp tài liệu, đưa ra các phương án mới để giải quyết bài học một cách thông minh và có trình tự.
Em hãy viết bài văn nghị luận (500 chữ) bàn luận về vấn đề tự học được nêu ở ý kiến trên và đề xuất một số phương pháp tự học các môn khoa học xã hội mà em cho là hữu hiệu nhất.
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC - HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các đặc trưng thể loại để xác định và chỉ ra dấu hiệu nhận biết
Cách giải:
Văn bản "Cái chùa hoang ở Đông Triều" thuộc thể loại truyện truyền kỳ, nổi bật với sự kết hợp giữa yếu tố lịch sử và huyền bí, phản ánh đời sống xã hội và nhân sinh quan của con người.
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để xác định các sự việc chính
Cách giải:
- Các sự việc chính như sau:
1. Văn Tư Lập yêu cầu dân canh gác vì nạn trộm cắp.
2. Tư Lập mời thầy phù thủy nhưng không hiệu quả.
3. Dân cầu xin Phật nhưng tình hình không cải thiện.
4. Tư Lập tìm Vương Tiên sinh để bói.
5. Người săn bắn xuất hiện và giải quyết nạn trộm cắp.
6. Nhóm gian bị phát hiện và chạy trốn.
7. Dân phá hủy tượng Hộ pháp và Thủy thần.
8. Nạn ma quái chấm dứt.
- Sự việc quan trọng nhất trong câu chuyện là người làm nghề săn bắn phát hiện và xử lý ma quỷ, vì đây là sự việc quyết định giải quyết triệt để nạn trộm cắp và khôi phục sự bình yên cho huyện Đông Triều.
Câu 3:
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản để phân tích phẩm chất của nhân vật
Cách giải:
Văn Tư Lập đã tổ chức canh gác, cầu xin Phật và tìm Vương Tiên sinh. Ông thể hiện trách nhiệm và sự quan tâm đến dân.
Câu 4:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về yếu tố kì ảo trong truyện kì
Cách giải:
Yếu tố huyền bí tạo không khí căng thẳng, phản ánh tâm lý người dân về thế giới siêu nhiên và giúp giải thích các hiện tượng lạ, thể hiện mâu thuẫn giữa thiện và ác.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý: hiểu biết về văn hóa và xã hội thời kỳ đó qua tín ngưỡng tâm linh, vai trò của quan chức, và sự gắn kết giữa con người với hiện tượng huyền bí.
Cách giải:
Câu chuyện cho thấy đời sống văn hóa thời xưa gắn chặt với tín ngưỡng dân gian và niềm tin vào thế lực siêu nhiên. Đồng thời, tác phẩm phản ánh trách nhiệm của người cầm quyền đối với dân và khẳng định quan niệm đạo đức: cái thiện luôn chiến thắng cái ác. Qua đó, ta hiểu thêm về tâm thức, lối sống và những giá trị mà xã hội thời trung đại coi trọng.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
* Mở đoạn:
- Giới thiệu khái quát về tác phẩm và hình thức nghệ thuật nổi bật của truyện.
- Nhấn mạnh việc Nguyễn Dữ đã khéo léo sử dụng những yếu tố văn học dân gian và bút pháp huyền ảo.
* Thân đoạn:
- Kết cấu: Truyện được xây dựng theo kết cấu truyền kì, kết hợp giữa yếu tố thực và ảo. Người dân tin rằng nạn trộm cắp là do ma quỷ, từ đó mở ra mạch truyện khám phá những hiện tượng kỳ bí và cách giải quyết.
- Miêu tả huyền ảo: Tác phẩm sử dụng bút pháp tả thực kết hợp với yếu tố huyền ảo, như hình ảnh tượng Hộ pháp bị bắn, tượng Thủy thần biến sắc. Những hiện tượng siêu nhiên này gợi sự tò mò và tạo không khí li kì cho câu chuyện.
- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ trong truyện vừa mang tính dân gian, giản dị, vừa trang trọng phù hợp với câu chuyện về quan lại, thần linh. Đặc biệt, lời đối thoại mang tính linh thiêng và đậm chất thần thoại.
- Hình ảnh: Hình ảnh tượng Hộ pháp, Thủy thần bị phá hủy tượng trưng cho sự thắng lợi của con người trước các thế lực tà ác, đồng thời mang ý nghĩa trừ tà ma theo tín ngưỡng dân gian.
* Kết đoạn: Khẳng định những nét nghệ thuật đặc sắc giúp tác phẩm để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Cách giải:
Trong Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều, Nguyễn Dữ đã thể hiện nhiều đặc sắc nghệ thuật làm nên sức hấp dẫn riêng của thể loại truyền kì. Trước hết, tác giả kết hợp hài hòa giữa yếu tố hiện thực và yếu tố kì ảo. Những chi tiết như tượng Hộ pháp bị bắn tên hay tượng Thủy thần biến sắc và dính vảy cá tạo không khí huyền bí, góp phần lí giải nạn trộm cắp theo quan niệm tâm linh của người xưa. Bên cạnh đó, truyện có kết cấu rõ ràng và chặt chẽ, các sự việc nối tiếp nhau hợp lí từ lúc xảy ra nạn trộm cắp, những nỗ lực tìm cách giải quyết cho đến khi sự thật được hé lộ và trật tự được lập lại. Ngôn ngữ trong truyện giản dị nhưng trang trọng, phù hợp với bối cảnh gắn với đời sống dân gian và tín ngưỡng thần Phật. Lối kể chuyện ngắn gọn, súc tích cùng việc miêu tả hành động giàu kịch tính giúp câu chuyện trở nên sinh động và hấp dẫn. Nhờ sự hòa quyện của bút pháp huyền ảo và nghệ thuật kể chuyện tinh tế, tác phẩm để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Câu 2:
Phương pháp:
* Mở bài:
- Giới thiệu vấn đề: Trong quá trình học tập, tự học ngày càng được coi trọng. Đặc biệt, trong thời đại thông tin phát triển như hiện nay, tự học là một kỹ năng thiết yếu giúp mỗi người phát triển bản thân.
- Nêu vấn đề cần nghị luận: Bàn luận về vai trò của tự học và đề xuất một số phương pháp tự học hiệu quả cho các môn khoa học xã hội.
* Thân bài:
1. Giải thích ý kiến:
- Khái niệm tự học: Tự học là quá trình người học tự mình chủ động tiếp thu kiến thức thông qua các nguồn tài liệu khác nhau, không bị giới hạn bởi sự hướng dẫn trực tiếp từ giáo viên.
- Ý nghĩa của ý kiến: Tự học giúp phát triển tư duy sáng tạo, tự lập, nâng cao khả năng tự phân tích và tổng hợp thông tin.
Người học có thể hiểu sâu hơn và nắm vững kiến thức một cách toàn diện hơn so với việc chỉ dựa vào kiến thức thụ động từ giáo viên.
2. Vai trò của tự học:
- Tự học giúp mở rộng kiến thức:
+ Thông qua việc tìm tòi, nghiên cứu các tài liệu, học sinh có thể tiếp cận nhiều nguồn kiến thức khác nhau, từ đó mở rộng sự hiểu biết và tư duy.
+ Việc tự tìm tòi thông tin giúp học sinh hình thành thói quen khám phá, yêu thích học hỏi.
- Tự học rèn luyện kỹ năng phân tích và tổng hợp: Trong quá trình tự học, học sinh phải phân tích các vấn đề, so sánh, đối chiếu, và tổng hợp các tài liệu từ nhiều nguồn để hiểu sâu hơn về nội dung học tập.
- Tự học giúp phát triển khả năng sáng tạo và giải quyết vấn đề:
Việc tự đưa ra các phương án, cách giải quyết vấn đề giúp học sinh sáng tạo hơn trong việc tiếp cận và giải quyết các bài tập, tình huống trong học tập.
- Tự học xây dựng tính kiên nhẫn và tự lập: Tự học yêu cầu người học phải kiên nhẫn, tự chịu trách nhiệm về quá trình học của mình, từ đó phát triển tính tự lập, không bị phụ thuộc vào sự hướng dẫn của người khác.
3. Ý kiến trái chiều và phản bác:
- Ý kiến trái chiều: Một số người cho rằng tự học không thể thay thế được sự hướng dẫn của giáo viên.
- Phản bác: Tự học không phải là thay thế mà là bổ sung cho việc học dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Học sinh cần sự chủ động trong việc tìm kiếm kiến thức và thực hành.
4. Đề xuất một số phương pháp tự học hiệu quả cho môn khoa học xã hội
- Tự học qua đọc sách, tài liệu:
+ Học sinh cần có thói quen đọc sách, tài liệu tham khảo, bao gồm cả sách giáo khoa, sách chuyên khảo để hiểu sâu hơn về các khái niệm, sự kiện lịch sử, địa lý, văn học.
+ Nên ghi chép lại những kiến thức quan trọng và những điều còn chưa rõ để có thể tìm hiểu thêm.
- Lập sơ đồ tư duy:
+ Sơ đồ tư duy là công cụ hữu ích giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức một cách trực quan, dễ nhớ và dễ ôn tập.
+ Áp dụng sơ đồ tư duy trong các môn như lịch sử để hệ thống các sự kiện theo trình tự thời gian hoặc trong môn địa lý để nắm vững các yếu tố địa lý tự nhiên và kinh tế.
- Thảo luận nhóm:
+ Tự học không chỉ là việc học cá nhân, học sinh có thể cùng thảo luận với bạn bè để trao đổi ý kiến, mở rộng và làm rõ thêm những khía cạnh chưa hiểu.
+ Thảo luận giúp kích thích tư duy phản biện, đánh giá lại các quan điểm và ý kiến của bản thân.
- Luyện tập qua câu hỏi và đề cương:
+ Học sinh có thể tự đặt câu hỏi hoặc luyện tập với các đề cương tự làm để rèn luyện kỹ năng trả lời, phân tích các vấn đề một cách logic và có hệ thống.
+ Ví dụ, trong môn lịch sử, có thể đặt các câu hỏi về nguyên nhân, diễn biến và kết quả của các sự kiện lịch sử lớn.
* Kết bài:
- Khẳng định vai trò của tự học: Tự học là một phần quan trọng trong quá trình học tập, giúp học sinh phát triển bản thân và nắm vững kiến thức.
- Kêu gọi tinh thần tự học: Thế hệ trẻ cần phát huy tinh thần tự học, tự rèn luyện để trở thành những công dân có ích cho xã hội, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho tương lai.
Cách giải:
Trong quá trình học tập, tự học ngày càng được coi trọng. Đặc biệt, trong thời đại thông tin phát triển mạnh mẽ như hiện nay, tự học là một kỹ năng thiết yếu giúp mỗi người không ngừng phát triển bản thân. Chính vì vậy, việc bàn luận về vai trò của tự học và đề xuất một số phương pháp tự học hiệu quả cho các môn khoa học xã hội là hết sức cần thiết.
Tự học được hiểu là quá trình người học tự mình chủ động tiếp thu kiến thức thông qua các nguồn tài liệu khác nhau mà không bị giới hạn bởi sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên. Ý kiến này nhấn mạnh rằng tự học không chỉ giúp người học nâng cao khả năng tư duy sáng tạo, tinh thần tự lập mà còn rèn luyện năng lực phân tích và tổng hợp thông tin. Khi tự học, học sinh có điều kiện hiểu sâu hơn và nắm vững kiến thức một cách toàn diện hơn so với việc chỉ thụ động tiếp nhận từ thầy cô.
Tự học có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi học sinh. Trước hết, tự học giúp mở rộng kiến thức. Khi tìm tòi và nghiên cứu thêm tài liệu, học sinh có thể tiếp cận nhiều nguồn thông tin phong phú và đa dạng, từ đó hình thành thói quen khám phá và nuôi dưỡng niềm say mê học tập. Bên cạnh đó, quá trình tự học còn rèn luyện cho học sinh khả năng phân tích và tổng hợp khi phải so sánh, đối chiếu nhiều nguồn tài liệu khác nhau để hiểu rõ nội dung. Không chỉ vậy, tự học còn phát triển khả năng sáng tạo và giải quyết vấn đề; học sinh phải tự đưa ra cách tiếp cận phù hợp, từ đó hình thành lối suy nghĩ linh hoạt. Cuối cùng, tự học góp phần xây dựng tính kiên nhẫn và tự lập, bởi học sinh phải chịu trách nhiệm với việc học của chính mình, biết tự điều chỉnh kế hoạch và tiến độ học tập.
Tuy vậy, vẫn có ý kiến cho rằng tự học không thể thay thế hoàn toàn sự hướng dẫn của giáo viên. Thực chất, quan điểm này chỉ đúng một phần. Tự học không nhằm thay thế vai trò của thầy cô mà là sự bổ sung cần thiết để việc học tập trở nên toàn diện hơn. Học sinh vẫn cần được định hướng, giảng giải những kiến thức trọng tâm, nhưng chính sự chủ động tự học mới giúp các em tiếp thu sâu sắc và bền vững hơn.
Để việc tự học đạt hiệu quả, đặc biệt là trong các môn khoa học xã hội, học sinh có thể áp dụng nhiều phương pháp phù hợp. Trước hết, cần duy trì thói quen đọc sách và tài liệu: từ sách giáo khoa, sách tham khảo cho đến những bài nghiên cứu mở rộng. Khi đọc, học sinh nên ghi lại những kiến thức quan trọng hoặc những điểm chưa rõ để tìm hiểu thêm. Tiếp theo, lập sơ đồ tư duy là một công cụ hữu ích giúp hệ thống hóa kiến thức một cách trực quan và dễ nhớ. Trong môn Lịch sử, sơ đồ tư duy có thể dùng để xâu chuỗi các sự kiện theo trình tự thời gian; trong môn Địa lý, giúp phân nhóm các yếu tố tự nhiên hoặc kinh tế. Ngoài ra, thảo luận nhóm cũng là một cách tự học hiệu quả, bởi việc trao đổi quan điểm giúp mở rộng tư duy và bổ sung những điều còn thiếu sót. Cuối cùng, học sinh nên luyện tập bằng cách tự đặt câu hỏi hoặc làm đề cương. Với môn Lịch sử, có thể đặt câu hỏi về nguyên nhân, diễn biến, kết quả của một sự kiện để rèn luyện khả năng tổng hợp và lập luận.
Tóm lại, tự học giữ vai trò quan trọng trong quá trình học tập, giúp học sinh phát triển toàn diện cả về kiến thức lẫn kỹ năng. Thế hệ trẻ hôm nay cần phát huy tinh thần tự học, chủ động rèn luyện bản thân để trở thành những công dân có ích cho xã hội và xây dựng nền tảng vững chắc cho tương lai.
Đề thi học kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 9
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
ÔNG TIÊN ĂN MÀY
Người trong thôn là Nguyễn Ất, hồi nhỏ mồ côi cha mẹ, phải sống với anh. Anh là Giáp, tính tham lam keo kiệt. Chị dâu cũng thô bạo xấu xa. Khi Ất trưởng thành, ra ở riêng, thì gia tài của cha để lại bị anh chiếm cả. Ất chỉ được chỗ ruộng xấu và gian nhà nát thôi. Chàng phải đi làm thuê kiếm củi nuôi thân. Đã ngoài hai mươi tuổi, vì nghèo quá vẫn chưa lấy được vợ. Người anh chẳng đoái nhìn đến em, mà em cũng không xin xỏ gì anh.
Ở thôn bên cạnh, có một phú ông. Ất thường hay làm mướn cho nhà ấy, lâu dần thành quen. Phú ông có mảnh đất hoang, Ất xin ra ở đó, rồi đem bán chỗ cơ ngơi cũ của mình mà đi. Từ đó, lại càng xa Giáp hơn, cả năm cũng không gặp mặt nhau.
Ất tuy nghèo nhưng ưa làm điều việc thiện, gặp ai khốn khó, thường cấp đỡ cho. Một hôm, Ất đi làm mướn về muộn, thấy một người nằm giữa cửa nhà mình, lay gọi, thì người đã rên rỉ không dậy được. Lấy đèn soi, thấy người ấy, già nua gầy còm, mặt đầy dỉ mắt, dỉ mũi, tanh tưởi hôi hám, nhớt rãi nhổ đầy đang còng queo trước cửa. Ất nâng dậy và hỏi nguyên do. Người đó nói là người thôn bên, nghèo đói, bệnh tật phải đi xin ăn, chiều tối đến đây, mệt mỏi, buồn ngủ, xin mượn một chỗ để nằm nghỉ một đêm. Ất mở cửa đỡ vào, cho uống nước thang, người ấy hơi tỉnh. Rồi Ất đi trải chiếu xếp gối cho nằm. Nấu nướng xong Ất lại gọi dậy cùng ăn. Người già tuy ốm mà ăn rất khỏe, ăn đến hàng đấu mà vẫn kêu đói, Ất nhường cho ăn cả. Ăn xong, người đã xoa bông nói: “No rồi, con Lão bất hiếu, không nuôi lão, lão mà có đứa con như ông thì lão toại nguyện rồi”. Nói xong nằm dài ra ngủ, tiếng ngáy như sấm, tỉnh dậy thì luôn miệng khạc nhổ, lục đục suốt đêm, mà Ất không hề cáu giận. Sáng sớm hôm sau, cụ già dậy, Ất lại sắp cơm nhưng cụ già ngăn lại, nói: “Ông ưa làm việc thiện, không đáng phải chịu nghèo, một bữa cơm cho, không thể không báo đáp”. Rồi lấy chân hứng lên mũ quay lại bảo Ất lấy cán gáo đánh vào mũi mình. Ất không chịu, cụ già bảo mãi, Ất đánh vài cái, máu từ mũi cụ già chảy ra. Ất sợ quá ngừng tay, cụ già lại bảo: “Cứ đánh nữa đi”. Máu ngừng chảy, thì vàng tràn đầy chén. Cụ già nói “Giữ lấy vàng thì sẽ giàu có, hãy gắng làm việc thiện, chớ có đổi lòng”. Ất kinh ngạc, phục xuống vái lạy, đến khi ngẩng đầu lên thì cụ già đã đi mất rồi.
(Trích Ông tiên ăn mày, Vũ Trinh - Lan Trì kiến văn lục)
Văn bản có chứa đoạn trích trên thuộc thể loại gì?
- Đọc kĩ văn bản.
- Vận dụng kiến thức đã học về các thể loại văn bản.
Truyện truyền kì
Giải thích: Truyện truyền kì là một thể loại văn xuôi tự sự thời trung đại, phản ánh hiện thực qua những yếu tố kì lạ, hoang đường. Ớ Việt Nam, truyện truyền kì được viết bằng chữ Hán, phát triển mạnh ở thế kỉ XVI - XVII.
Tìm chi tiết kì ảo trong đoạn trích và cho biết tác dụng của chi tiết kì ảo đó?
Xem lời giải
Xác định chủ đề của văn bản.
Xem lời giải
Từ văn bản trên, em rút ra được bài học gì cho bản thân?
Xem lời giải
Xác định và chỉ ra tác dụng của phép tu từ liệt kê trong những câu văn sau: Ất mở cửa đỡ vào, cho uống nước thang, người ấy hơi tỉnh. Rồi Ất đi trải chiếu xếp gối cho nằm. Nấu nướng xong Ất lại gọi dậy cùng ăn. Người già tuy ốm mà ăn rất khỏe, ăn đến hàng đấu mà vẫn kêu đói, Ất nhường cho ăn cả.
Xem lời giải
Đề thi học kì 1 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 10
Đề thi
I. ĐỌC- HIỂU
Đọc đoạn trích:
Tóm tắt bối cảnh: Vào một chiều hè, “tôi” và bé Vin rủ nhau bẫy cò để bắt cò về chơi. “Tôi” đã làm một cái bẫy đặt ở cánh đồng. Khi chúng tôi định tháo bẫy vì không bắt được con cò nào thì có hai mẹ con nhà Cò Bợ sà xuống. Cò Bợ con đã lao về phía con cá mồi trong bẫy.
(…) Chiếc cần tre bật nhẹ cùng tiếng reo của tôi và bé Vin:
- Sập bẫy rồi!
Tôi nắm tay bé Vin chạy thục mạng về phía con vật đang vỗ cánh bành bạch. Cả đàn cò trắng bay vùng lên, kêu náo loạn. Cò Bợ mẹ bay thấp hơn, đau đớn gào to: “Cứu con tôi với! …”. Trong khi đó Cò Bợ con bị sợi cước thít vào cổ giẫy giụa tuyệt vọng. Thấy chúng tôi, nó vùng bay lên và ngay lập tức lại rơi bịch xuống, toàn thân bê bết bùn. Nhìn cảnh đó, bé Vin bỗng tái mặt, đầu gối díu vào nhau. Tôi đành vào tháo bẫy một mình. Tiếng con cò mẹ càng gào thảm thiết. Cò Bợ con chừng đã mệt, hai cánh áp xuống đất, mắt lóe lên như hai giọt nước, sợ run cầm cập. Đến lượt chân tôi khuỵu xuống. Tôi thấy rõ tiếng van xin của Bợ con: “Tôi van cậu! Cậu cũng là trẻ con, cũng có lúc dại dột. Tôi xin cậu”. Chắc nó đang nghĩ đến mẹ nó. Đêm nay mẹ nó sẽ khóc hết nước mắt. Rồi chỉ vài hôm nữa thế nào cũng thấy xác một con Cò Bợ mẹ chết ủ rũ vì mất con. Tôi không kịp nghĩ gì cả, ngồi thụp xuống, gỡ nút thòng lọng rồi ôm con vật tung bổng lên trời. Thoạt đầu Bợ con loạng quạng bay như diều đứt dây. Lát sau nó lấy lại được tư thế và hai mẹ con nó dìu nhau bay về phía làng.
Cả tôi và bé Vin đều ngửa cổ nhìn theo cho đến khi đàn cò chỉ còn lại như những chấm đen in lên hoàng hôn đỏ rực.
Bé Vin, mặt vẫn tái mét, im lặng bước theo tôi. Bỗng nó ngồi thụp xuống, khóc òa lên. Tôi phải dỗ nó:
- Vin giận anh à?
Nó nói trong tiếng nức nở:
- Con cò…sẽ gẫy cổ mất…Thế nào mẹ nó cũng đánh nó vì tội dại dột…Hấc! Hấc…
Tôi phải cam đoan với bé Vin con cò chỉ hơi đau, nó mới chịu nín. Nó bám tay áo tôi, vừa đi vừa quệt nước mắt.
Từ hôm sau, cứ chiều đến chúng tôi tìm một bãi cỏ nằm chờ từng đàn chim trở về. Thỉnh thoảng bé Vin lại đứng ngẩn người, lo lắng nhìn hút theo một con chim lạc bầy, vừa chấp chới bay vừa kêu thảm thiết.
(Trích Bẫy cò, Tạ Duy Anh, Báo Văn học & Tuổi trẻ,
số tháng 5 (382+383) năm 2017, NXB Giáo dục Việt Nam, trang 87,88,89)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định tình huống truyện.
Câu 2. Tìm những chi tiết miêu tả hình ảnh Cò Bợ con khi vừa sập bẫy.
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật nhân hóa trong những câu văn sau: Tôi thấy rõ tiếng van xin của Bợ con: “Tôi van cậu! Cậu cũng là trẻ con, cũng có lúc dại dột. Tôi xin cậu”.
Câu 4. Chi tiết Tôi không kịp nghĩ gì cả, ngồi thụp xuống, gỡ nút thòng lọng rồi ôm con vật tung bổng lên trời gợi cho anh/chị những suy nghĩ gì?
Câu 5. Qua đoạn trích, anh/chị rút ra được bài học gì về cách ứng xử giữa con người và thiên nhiên?
II. PHẦN VIẾT
Câu 1: Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật bé Vin qua văn bản trong phần Đọc hiểu.
Câu 2: "Nghịch cảnh có thể mài sắc bạn nếu bạn có đủ ý chí để vượt qua nó" (Ray Kroc). Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề trên.
— Hết —
Đáp án
I. ĐỌC- HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để xác định tình huống truyện
Cách giải:
Tình huống truyện: Nhân vật tôi và bé Vin đi bẫy cò. Dù Cò Bợ con đã sập bẫy nhưng cuối cùng nhân vật tôi đã thả Cò Bợ con đi.
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để chỉ ra những chi tiết miêu tả hình ảnh Cò Bợ
Cách giải:
Những chi tiết miêu tả hình ảnh Cò Bợ con khi vừa sập bẫy
+ bị sợi cước thít vào cổ giẫy giụa tuyệt vọng
+ vùng bay lên và ngay lập tức lại rơi bịch xuống, toàn thân bê bết bùn.
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ nhân hóa để phân tích tác dụng
Cách giải:
- Tác dụng:
+ Làm cho cách diễn đạt sinh động, hấp dẫn, gợi cảm xúc.
+ Nhấn mạnh đến nỗi tuyệt vọng và lời cầu cứu thảm thiết của Cò Bợ con. Tác giả thể hiện sự đồng cảm, xót thương trước mọi sinh thể sống trong tự nhiên cho dù loài vật thì nó cũng có cảm xúc giống như con người.
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích ý nghĩa của chi tiết
Cách giải:
- Chi tiết Tôi không kịp nghĩ gì cả, ngồi thụp xuống, gỡ nút thong lọng rồi ôm con vật tung bổng lên trời: Nhân vật tôi hành động thả Cò Bợ con một cách dứt khoát, không do dự.
- Chi tiết gợi suy nghĩ:
+ Nhân vật tôi là người dứt khoát; biết nhận ra hậu quả của trò chơi tinh nghịch của mình; có lòng nhân ái và thấu cảm với loài vật.
+ Chúng ta cần có tinh thần nhân văn khi ứng xử với các loài vật nói riêng và tự nhiên nói chung.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý một số bài học:
+ Cần trân trọng tự nhiên.
+ Cần có những hành động bảo vệ tự nhiên.
+ Cần xây dựng môi trường tự nhiên đa dạng và phong phú.
Cách giải:
Qua đoạn trích, chúng ta có thể rút ra bài học sâu sắc về cách ứng xử giữa con người và thiên nhiên. Đó là bài học về sự tôn trọng và đồng cảm với mọi sinh linh. Hành động bẫy cò ban đầu xuất phát từ sự hiếu kỳ, nghịch ngợm của trẻ thơ, nhưng khi chứng kiến sự đau đớn, tuyệt vọng của cò mẹ và cò con, cả hai nhân vật đã thức tỉnh. Họ nhận ra rằng muôn loài cũng có cảm xúc, tình mẫu tử và khao khát được sống tự do như con người. Từ đó, đoạn trích nhắn nhủ chúng ta cần sống hài hòa với thiên nhiên, không vì những thú vui nhất thời mà xâm phạm, gây tổn hại đến thế giới tự nhiên. Mỗi hành động bảo vệ sự sống, dù nhỏ bé, cũng chính là góp phần gìn giữ sự cân bằng và vẻ đẹp vốn có của môi trường sống quanh ta.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
1. Nêu được diễn biến tâm trạng của nhân vật bé Vin của đoạn truyện. Tham khảo gợi ý sau:
Tâm trạng bé Vin đã trải qua nhiều biến đổi phức tạp, từ sự háo hức, mong chờ giây phút bắt được con mồi, đến sự đau lòng, thương xót và hối hận khi thấy con cò giãy giụa kêu cứu, là sự lo lắng khi nghĩ đến việc con Cò Bợ sẽ bị gẫy cổ, bị mẹ đánh và cuối cùng là tâm trạng đợi chờ, trông ngóng khi những đàn chim bay trở về.
2. Chỉ ra được những biểu hiện diễn biến tâm trạng của nhân vật bé Vin. Có thể nêu một số biểu hiện sau:
- Cậu ấy tỏ ra rất phấn khích và vui vẻ trước thành quả của mình.
- Bé Vin bất an, lo lắng về sự đau đớn về thể xác của cò con và sự đau đớn về tinh thần của cò mẹ.
- Cậu ăn năn, hối lỗi, day dứt trước hành động của mình gây ra cho cò con.
- Bé Vin đồng cảm mà xót thương cho số phận của cò con.
3. Nêu được ý nghĩa của sự thay đổi nêu trên. Tham khảo gợi ý sau:
- Đây là bước ngoặt trong sự phát triển nhân cách, đánh dấu sự hình thành ý thức trách nhiệm và tình yêu thiên nhiên của nhân vật.
- Câu chuyện gửi gắm thông điệp nhân văn về sự đồng cảm, tình yêu thương và ý thức trân trọng bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống.
Cách giải:
Trong đoạn trích "Bẫy cò", diễn biến tâm trạng của bé Vin được khắc họa như một hành trình thức tỉnh đầy xúc động của lòng trắc ẩn. Ban đầu, cậu bé hiện lên với sự háo hức, phấn khích của một đứa trẻ trong trò chơi nghịch ngợm, thể hiện qua tiếng reo hò "Sập bẫy rồi!" khi con mồi mắc câu. Thế nhưng, niềm vui ấy nhanh chóng tan biến, nhường chỗ cho nỗi bất an, lo lắng khi chứng kiến cảnh Cò Bợ con giãy giụa trong tuyệt vọng. Sự thay đổi ấy được biểu hiện rõ qua những chi tiết: "bỗng tái mặt, đầu gối díu vào nhau". Nỗi sợ hãi và sự đồng cảm đã khiến cậu không dám lại gần. Đỉnh điểm của sự ăn năn, hối lỗi và xót thương là khi cậu "ngồi thụp xuống, khóc òa lên" vì lo sợ "Con cò…sẽ gẫy cổ mất… Thế nào mẹ nó cũng đánh nó vì tội dại dột…". Tiếng khóc ấy không chỉ là nỗi sợ mà còn là sự thấu cảm sâu sắc với nỗi đau của sinh linh khác. Cuối cùng, tâm trạng ấy kéo dài thành nỗi ám ảnh day dứt, thể hiện qua hình ảnh cậu bé "đứng ngẩn người, lo lắng" mỗi chiều nhìn theo cánh chim lạc đàn. Hành trình tâm trạng phức tạp ấy của Vin không chỉ là một bước ngoặt trong sự phát triển nhân cách, đánh dấu sự hình thành của ý thức trách nhiệm và tình yêu thiên nhiên, mà còn gửi gắm một thông điệp nhân văn sâu sắc: hãy biết trân trọng, yêu thương và bảo vệ mọi sự sống quanh ta.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận: "Nghịch cảnh có thể mài sắc bạn nếu bạn có đủ ý chí để vượt qua nó"
2. Thân bài:
2.1. Biết giải thích:
"Nghịch cảnh" là những khó khăn, trắc trở, thử thách,… mà con người phải đối mặt trong cuộc sống; chính nghịch cảnh "mài sắc" con người, giúp ta trau dồi bản lĩnh, nâng cao khả năng thích nghi và phát triển bản thân. Nhưng điều kiện tiên quyết là phải có đủ "ý chí để vượt qua nó" - tức là sự kiên trì, lòng quyết tâm và tinh thần không bỏ cuộc. Như vậy, câu nói gửi gắm ý nghĩa sâu sắc: chính nghịch cảnh và ý chí vượt qua nghịch cảnh sẽ tôi luyện con người trở nên mạnh mẽ, kiên cường hướng đến giá trị trọn vẹn trong cuộc sống. Điều này càng có ý nghĩa đặc biệt đối với tuổi trẻ.
2.2. Nêu được những ý cơ bản về nghịch cảnh và ý chí có thể “mài sắc” bạn:
- Nghịch cảnh đặt con người vào những tình cảnh, những trắc trở mà ta chưa hề đối mặt bao giờ. Vì thế, nó kích thích chúng ta khả năng ứng biến, tìm cách tháo gỡ để vượt qua.
- Nghịch cảnh cùng với ý chí sẽ “mài sắc” ta:
+ Khi đối mặt với nghịch cảnh, người có ý chí sẽ kiên cường, tự tin đối mặt, chấp nhận thất bại, không dễ dàng nản lòng, từ đó trở nên vững vàng trước mọi sóng gió cuộc đời.
+ Nghịch cảnh là bài học quý giá giúp con người trưởng thành, ý chí trước nghịch cảnh giúp con người tiến xa hơn trong cuộc sống.
2.3. Hơn nữa tuổi trẻ: nhạy bén, năng động, sáng tạo, ham học hỏi, dám nghỉ, dám làm, dám chịu trách nhiệm,…đây là một ưu thế để tuổi trẻ nhanh chóng vượt qua nghịch cảnh, tôi rèn ý chí mà hướng đến giá trị tốt đẹp.
- Lấy được dẫn chứng và phân tích dẫn chứng để làm rõ (….)
2.4. Biết mở rộng, nâng cao vấn đề
- Mở rộng, bày tỏ quan điểm trái chiều, hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện hơn:
+ Có những người, đặc biệt là người trẻ khi đối mặt với khó khăn, nghịch cảnh lại mất đi niềm tin vào bản thân, từ bỏ ước mơ và buông xuôi số phận.
+ Một số khác lại đổ lỗi cho hoàn cảnh, không chịu thay đổi để thích nghi và phát triển.
- Đề xuất những giải pháp để vượt qua nghịch cảnh.
3. Kết bài: Khẳng định lại quan điểm cá nhân và rút ra bài học cho bản thân đặc biệt là tuổi trẻ trong thời đại ngày nay
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Cuộc sống vốn dĩ không phải là một con đường bằng phẳng mà là hành trình luôn ẩn chứa những khúc quanh, dốc cao và hố sâu bất ngờ. Trên hành trình ấy, nghịch cảnh là điều không thể tránh khỏi, nhưng cách chúng ta đối mặt với nó mới quyết định giá trị của mỗi con người. Ray Kroc - người sáng lập đế chế McDonald's - đã đúc kết một chân lý sâu sắc: "Nghịch cảnh có thể mài sắc bạn nếu bạn có đủ ý chí để vượt qua nó". Câu nói không chỉ khẳng định sự tất yếu của thử thách mà còn chỉ ra chìa khóa then chốt để biến những thử thách ấy thành cơ hội hoàn thiện bản thân.
Nghịch cảnh là những hoàn cảnh trái ngang, khó khăn, thất bại hay mất mát mà con người phải đối mặt trong cuộc sống. Nó tựa như một hòn đá thô ráp và sắc nhọn, có thể làm ta vấp ngã và đau đớn. Thế nhưng, cũng chính hòn đá ấy, nếu được đặt dưới sự mài giũa của ý chí kiên cường, sẽ giúp chúng ta trở nên sắc bén, rắn rỏi và trưởng thành hơn. Nghịch cảnh tự bản thân nó không làm nên điều gì kỳ diệu. Điều kỳ diệu chỉ xảy ra khi con người có đủ dũng khí và ý chí để đương đầu và chiến thắng nó.
Nghịch cảnh thường đẩy con người vào những tình huống bất ngờ, buộc chúng ta phải vận động trí tuệ, phát huy khả năng ứng biến và tìm mọi cách để tháo gỡ. Khi đối mặt với nghịch cảnh, người có ý chí mạnh mẽ sẽ không dễ dàng bỏ cuộc. Họ chấp nhận thất bại như một phần tất yếu của cuộc sống, xem đó là bài học quý giá để rút kinh nghiệm. Chính quá trình vật lộn với khó khăn ấy đã rèn giũa cho họ một bản lĩnh vững vàng, một tâm thế kiên cường trước mọi sóng gió cuộc đời. Mỗi lần vượt qua một nghịch cảnh, con người lại tích lũy thêm sự từng trải, trưởng thành hơn một chút. Tựa như một thanh kiếm, phải trải qua lửa đỏ và những nhát búa nặng nề của người thợ rèn mới có thể trở nên sắc bén, con người cũng cần nghịch cảnh để hoàn thiện nhân cách và trí tuệ.
Đối với thế hệ trẻ, những người đang ở giai đoạn đẹp nhất và cũng nhiều thử thách nhất của cuộc đời, mối quan hệ giữa nghịch cảnh và ý chí càng có ý nghĩa quan trọng. Tuổi trẻ là hành trình khám phá bản thân và chinh phục ước mơ, nhưng cũng là lúc ta dễ tổn thương nhất trước những thất bại đầu đời. Sự nhạy bén, năng động, sáng tạo và dám nghĩ dám làm của tuổi trẻ chính là một ưu thế lớn để nhanh chóng vượt qua nghịch cảnh, biến chúng thành động lực để tôi rèn ý chí và vươn tới những giá trị tốt đẹp.
Trong thực tế, lịch sử nhân loại đã chứng kiến không ít những tấm gương sáng ngời về ý chí vượt lên nghịch cảnh. Nhà bác học lừng danh Thomas Edison đã thất bại hơn mười ngàn lần trước khi phát minh thành công bóng đèn điện. Nhà vật lý thiên tài Stephen Hawking dù bị bệnh tật hành hạ vẫn không ngừng cống hiến cho khoa học. Ở Việt Nam, thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký đã dùng đôi chân kỳ diệu thay cho đôi tay bị liệt để viết nên những trang sách, trở thành nhà giáo ưu tú. Những con người ấy chính là minh chứng sống động cho sức mạnh của ý chí trước nghịch cảnh.
Tuy nhiên, cần phải thẳng thắn thừa nhận rằng không phải ai trong giới trẻ ngày nay cũng có đủ dũng khí và ý chí để đối mặt với nghịch cảnh. Một bộ phận thanh niên sống trong sự bao bọc quá mức, hình thành tâm lý ngại khó, ngại khổ, dễ dàng gục ngã trước những thử thách. Họ tìm đến những lối thoát tiêu cực, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh thay vì dũng cảm nhìn nhận và thay đổi bản thân. Đây là một thực trạng đáng buồn cần được thay đổi.
Để vượt qua nghịch cảnh, mỗi người trẻ cần rèn luyện cho mình một tinh thần lạc quan, một thái độ sống tích cực. Chúng ta cần biết đặt ra những mục tiêu cụ thể và kiên trì theo đuổi chúng. Quan trọng hơn, giới trẻ cần học cách chấp nhận thất bại và xem đó như một người thầy nghiêm khắc nhưng vĩ đại trên bước đường trưởng thành. Sự đồng hành của gia đình, nhà trường và xã hội cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý chí cho thế hệ trẻ.
Tóm lại, câu nói của Ray Kroc là một bài học quý giá về triết lý sống. Nghịch cảnh là một phần tất yếu của cuộc sống, nhưng nó sẽ chỉ thực sự mài giũa chúng ta khi chúng ta có đủ ý chí để đương đầu và vượt qua. Đối với thế hệ trẻ hôm nay, việc rèn luyện ý chí, bản lĩnh không chỉ giúp chúng ta vượt qua những khó khăn trước mắt mà còn trang bị hành trang vững chắc để bước vào đời, kiến tạo một tương lai tươi sáng.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP12
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
