Đề thi học kì 1 Văn 8 - Kết nối tri thức
Đề cương ôn tập học kì 1 Văn 8 - Kết nối tri thức
A. NỘI DUNG ÔN TẬP
1. Phần đọc hiểu
a. Câu chuyện của lịch sử
- Truyện lịch sử là tác phẩm truyện tái hiện những sự kiện, nhân vật ở một thời kì, một giai đoạn lịch sử cụ thể. Tình hình chính trị của quốc gia, dân tộc; khung cảnh sinh hoạt của con người;... là các yếu tố cơ bản tạo nên bối cảnh lịch sử của câu chuyện. Nhờ khả năng tưởng tượng, hư cấu và cách miêu tả của nhà văn, bối cảnh của một thời đại trong quá khứ trở nên sống động như đang diễn ra.
- Cốt truyện của truyện lịch sử thường được xây dựng trên cơ sở các sự kiện đã xảy ra; nhà văn tái tạo, hư cấu, sắp xếp theo ý đồ nghệ thuật của mình nhằm thể hiện một chủ đề, tư tưởng nào đó.
- Thế giới nhân vật trong truyện lịch sử cũng phong phú như trong cuộc đời thực. Việc chọn kiểu nhân vật nào để miêu tả trong truyện là dụng ý nghệ thuật riêng của nhà văn. Thông thường, truyện lịch sử tập trung khắc hoạ những nhân vật nổi tiếng như vua chúa, anh hùng, danh nhân,... - những con người có vai trò quan trọng đối với đời sống của cộng đồng, dân tộc. Tuy nhiên, các nhân vật đó hiện ra dưới cái nhìn riêng, thể hiện cách lí giải độc đáo của nhà văn về lịch sử. Bên cạnh đó, mối quan hệ phức tạp giữa nhân vật với nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội cũng được nhà văn quan tâm thể hiện.
- Dù viết bằng văn xuôi hay văn vần, truyện ngắn hay tiểu thuyết, ngôn ngữ trong truyện lịch sử, nhất là ngôn ngữ nhân vật, phải phù hợp với thời đại được miêu tả, thể hiện vị thế xã hội, tính cách riêng của từng đối tượng.
b. Vẻ đẹp cổ điển
Thơ Đường luật là thuật ngữ chỉ chung các thể thơ được viết theo quy tắc chặt chẽ (luật) định hình từ thời nhà Đường (Trung Quốc), gồm hai thể chính là bắt cú Đường luật và tứ tuyệt Đường luật, trong đó thất ngôn bát cú (mỗi câu thơ có 7 tiếng, mỗi bài thơ có 8 câu) được xác định là dạng cơ bản nhất. Bài thơ Đường luật có quy định nghiêm ngặt về hoà thanh (phối hợp, điều hoà thanh điệu), và niêm, đối, vẫn và nhịp. Ngôn ngữ thơ Đường luật rất cô đọng, hàm súc; bút pháp tả cảnh thiên về gợi và ngụ tình; ý thơ thường gắn với mối liên hệ giữa tinh và cảnh, tĩnh và động, thời gian và không gian, quá khứ và hiện tại, hữu hạn và vô hạn.
c. Lời sông núi
- Một văn bản nghị luận bao gồm nhiều thành tố: luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng… Các thành tố đó được tổ chức thành một chỉnh thể, có quan hệ chặt chẽ với nhau, nhằm đạt hiệu quả thuyết phục cao nhất
- Là thành tố có tính chất bao trùm, luận đề có chức năng định hướng việc triển khai các luận điểm. Các luận điểm trong văn bản nghị luận, với sự thống nhất của lí lẽ và bằng chứng, có nhiệm vụ làm rõ từng khía cạnh và thể hiện tính nhất quán của luận đề. Mối quan hệ có tính bản chất giữa các thành tố như vậy tạo nên cấu trúc đặc thù của văn bản nghị luận
d. Tiếng cười trào phúng trong thơ
Thơ trào phúng
- Nội dung: Thơ trào phúng dùng tiếng cười để phê phán những cái chưa hay, chưa đẹp hoặc cái tiêu cực, xấu xa,… nhằm hướng con người tới các giá trị thẩm mĩ, nhân văn hoặc lý tưởng sống cao đẹp
- Nghệ thuật: Thơ trào phúng thường sử dụng biện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ, nói quá,… tạo ra tiếng cười khi hài hước, mỉa mai, châm biếm nhẹ nhàng; lúc đả kích mạnh mẽ, sâu cay
e. Những câu chuyện hài
Hài kịch
Hài kịch là một thể loại của kịch, hướng vào sự cười nhạo cái xấu xa, là bịch, lạc hậu,... đối lập với các chuẩn mực về cái tốt đẹp, tiến bộ. Trong hài kịch có nhiều hình thức xung đột, nhưng phổ biến nhất là sự không tương xứng giữa cái bên trong với cái bên ngoài. Xung đột kịch biểu hiện qua hành động kịch với các sự việc, tình huống gây cười. Nhân vật chính trong hài kịch là những kiểu người có tính cách tiêu biểu cho các thói xấu đáng phê phán: hà tiện, tham lam, kiêu căng, khoe mẽ,... Lời đối thoại trong hài kịch mang đậm tính khẩu ngữ; cấu trúc đối thoại dựa trên những nội dung đối nghịch. Hài kịch thường sử dụng các thủ pháp trào phúng như: tạo tình huống kịch tính cải trang; dùng điệu bộ gây cười; dùng thủ pháp phóng đại, chơi chữ, gây hiểu lầm, thoại bỏ lửng, nhại,...
Truyện cười
- Truyện cười là một thể loại tự sự có dung lượng nhỏ, dùng tiếng cười vừa để chế giễu những thói hư tật xấu, những điều trái tự nhiên, trái thuần phong mĩ tục của con người vừa nhằm mục đích giải trí. Truyện cười thường ngắn, cốt truyện tập trung vào sự việc có yếu tố gây cười, tình huống trớ trêu, những nghịch lí trong đời sống,...
Bối cảnh được xây dựng trong truyện cười thường bị cường điệu so với thực tế, có yếu tố bất ngờ. Nhân vật chính trong truyện cười thường là đối tượng bị chế giễu. Ngôn ngữ truyện cười dân dã, nhiều ẩn ý.
- Truyện cười thường là truyện dân gian, tuy nhiên cũng có cả ở hình thức truyện kể của văn học viết.
2. Phần tiếng Việt
a. Biệt ngữ xã hội
b. Từ tượng hình và từ tượng thanh
c. Biện pháp tu từ đảo ngữ
d. Từ Hán Việt
e. Sác thái nghĩa của từ ngữ
f. Câu hỏi tu từ
g. Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn của câu
3. Phần làm văn
a. Viết bài văn kể lại một chuyến đi
b. Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học
c. Viết bài văn nghị luận về một vấn đề đời sống
B. BÀI TẬP
1. Phần đọc hiểu
*Đề bài
Văn bản Lá cờ thêu sáu chữ vàng
Câu 1: Hoài Văn có tâm trạng như thế nào khi phải đứng trên bờ nhìn quang cảnh một sự kiện đặc biệt đang diễn ra ở bến Bình Than?
A. Thờ ơ, bình thản
B. Hoảng sợ, rụt rè
C. Sốt ruột, lo lắng
D. Giận dữ, tức giận
Câu 2: Lý do mà Hoài Văn có những hành động như tuốt gươm quát lớn, gây náo động cả bến sống khi bị quân Thánh Dực ngăn cản là gì?
A. Đã phải chờ quá lâu
B. Vừa đói vừa lo lắng, sốt ruột
C. Xin đánh quân giặc
D. Tất cả đáp án trên
Câu 3: Chọn câu không đúng trong các câu dưới đây
A. Trần Quốc Toản là thiếu niên anh hùng, sau này chính là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.
B. Trần Quốc Toản là anh vua Trần Nhân Tông, tham gia kháng chiến chống giặc Nguyên.
C. Trần Quốc Toản là con trai vua Trần Nhân Tông, tham gia kháng chiến chống giặc Nguyên.
D. Trần Quốc Toản là em vua Trần Nhân Tông, tham gia kháng chiến chống giặc Nguyên.
Văn bản Quang Trung đại phá quân Thanh
Câu 4: Văn bản Quang Trung đại phá quân Thanh viết về sự kiện lịch sử nào?
A. Trần Hưng Đạo phá quân Nguyên
B. Hai Bà Trưng đánh đuổi quân Nam Hán
C. Quang Trung đại phá quân Thanh
D. Lê Lợi đại phá quân Minh
Câu 5: Quang Trung đại phá quân Thanh xây dựng hình ảnh vua Quang Trung như thế nào?
A. Hành động mạnh mẽ, quyết đoán
B. Trí tuệ sáng suốt, mẫn cán, điều binh khiển tướng tài tình
C. Tài thao lược, lãnh đạo tài tình, phi thường
D. Tất cả đáp án trên
Câu 6: Tại sao tác giả trung thành với nhà Lê nhưng viết chân thực về Quang Trung – “kẻ thù” của họ?
A. Vì họ tôn trọng lịch sử
B. Vì ý thức dân tộc
C. Vì họ luôn ủng hộ kẻ mạnh
D. A và B đúng
Văn bản Thu điếu
Câu 7: Nhà thơ đã bao quát cảnh thu như thế nào?
A. Cảnh thu được đón nhận từ cao, xa đến gần, rồi lại từ gần đến cao, xa
B. Cảnh thu được đón nhận từ gần đến cao, xa rôi lại từ cao, xa trở lại gần
C. Cảnh thu được đón nhận theo trình tự thời gian
D. Cảnh thu được đón nhận từ không gian rộng đến không gian hẹp
Câu 8: Câu thơ nào trong bài thơ Thu điếu có sự xuất hiện của âm thanh?
A. Ao thu lạnh lẽo nước trong veo/ Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
B. Sóng biếc theo làn hơi gợn tí/ Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
C. Tựa gối buông cần lâu chẳng được/ Cá đâu đớp động dưới chân bèo
D. Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt/ Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Câu 9: Tác dụng của cách giéo vần “eo” là gì?
A. Góp phần diễn tả không gian bao la, rộng lớn
B. Góp phần diễn tả không gian gần gũi
C. Góp phần diễn tả không gian vắng lặng, thu nhỏ dần, khép kín, phù hợp với tâm trạng uẩn khúc của thi nhân
D. Tất cả đáp án trên đều sai
Văn bản Thiên Trường vãn vọng
Câu 10: Cảnh tượng được miêu tả trong bài thơ như thế nào?
A. Rực rỡ và diễm lệ
B. Hùng vĩ và tươi tắn
C. Huyền ảo và thanh bình
D. U ám và buồn bã
Câu 11: Bài thơ miêu tả cảnh vật vào thời điểm nào trong ngày?
A. Cảnh đêm
B. Cảnh buổi sớm
C. Cảnh trưa
D. Cảnh chiều
Câu 12: Bài thơ Thiên Trường vãn vọng được tác giả sáng tác trong hoàn cảnh nào?
A. Khi tác giả đang sống ẩn ở quê nhà
B. Khi tác giả đang trên đường ra chiến trận
C. Trong một dịp tác giả về thăm quê
D. Khi tác giả lần đầu tiên xa nhà xa quê để vào Huế nhận chức quan của mình
Văn bản Hịch tướng sĩ
Câu 13: Lí do nào khiến tác giả nêu gương đời trước và đương thời?
A. Để tăng sức thuyết phục đối với các tì tướng
B. Để cho dẫn chứng nêu ra được đầy đủ
C. Để buộc các tì tướng phải xem xét lại mình
D. Để chứng tỏ mình là người thông hiểu văn chương, sử sách
Câu 14: Dụng ý của tác giả thể hiện qua câu: “Huống chi ta cùng các ngươi sinh phải thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan”?
A. Thể hiện sự thông cảm với các tướng sĩ
B. Kêu gọi tinh thần đấu tranh của các tướng sĩ
C. Miêu tả hoàn cảnh sinh sống của mình cũng như của các tướng sĩ
D. Khẳng định mình và các tướng sĩ là những người cùng cảnh ngộ
Câu 15: Đoạn văn nào thể hiện rõ nhất lòng yêu nước, căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn?
A. Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.
B. Giặc với ta là kẻ thù không đội trời chung, các ngươi cứ điềm nhiên không biết rửa nhục, không lo trừ hung, không dậy quân sĩ; chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc…
C. Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng mất; chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc…
D. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ bỏ mạng vì nước, đời nào không có? Giả sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường tình, thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được
Văn bản Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu
Câu 16: Sự xuất hiện của những nhân vật nào làm cho trường thi trở nên lố bịch nhất?
A. Sĩ tử và quan trường
B. Quan sứ và bà đầm
C. Quan sứ và quan trường
D. Quan trường bà đầ
Câu 17: Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu của Trần Tế Xương là một bài thơ kết hợp hai yếu tố: trữ tình và trào phúng. Anh (chị) hãy cho biết giá trị châm biếm của bài thơ bộc lộ rõ nét nhất qua hai câu thơ nào?
A. Hai câu đề
B. Hai câu thực
C. Hai câu luận
D. Hai câu kết
Văn bản Lai Tân
Câu 18: “Giải người, cảnh trưởng kiếm ăn quanh”
“Cảnh trưởng” trong câu thơ trên là chỉ ai?
A. Một chức giám ngục
B. Cảnh sát trưởng
C. Quan huyện
D. Lính trưởng
Câu 19: “Chong đèn, huyện trưởng làm công việc”
“Công việc” huyện trưởng làm ở đây là:
A. Ăn chặn tiền của tù nhân
B. Đánh bạc
C. Hút thuộc phiện
D. Đánh tù nhân
Văn bản Trưởng giả học làm sang
Câu 20: Qua thái độ của ông Giuốc-đanh với chiếc áo may hoa ngược, em thấy ông ta là người như thế nào?
A. Dốt nát, kém hiểu biết
B. Cầu kì trong vấn đề ăn mặc
C. Thích những cái lạ mắt
D. Hài hước và hóm hỉnh
Câu 21: Bác phó may đã làm gì để lợi dụng tính cách học đòi làm sang của ông Giuốc-đanh?
A. Giải thích cho ông Giuốc-đanh biết rằng việc may áo ngược hoa là phù hợp với kiểu cách của người quí phái
B. May thêm một chiếc áo cho riêng mình bằng chính tấm vải ông Giuốc-đanh đặt để may bộ lễ phục
C. Đem theo những người thợ phụ giúp ông Giuốc-đanh mặc theo cách thức của những người quí phái để moi tiền của ông ta
D. Tất cả đáp án trên
Văn bản Chùm truyện cười dân gian Việt Nam
Câu 22: Bài học nào sau đây đúng với truyện Lợn cưới, áo mới?
A. Có gì hay nên khoe mọi người cùng biết
B. Chỉ khoe những gì mình có
C. Không nên khoe một cách hợm hĩnh
D. Nên tự chủ trong cuộc sống
Câu 23: Bài học nào sau đây đúng với truyện Treo biển?
A. Phải tự chủ trong cuộc sống
B. Nên nghe nhiều người góp ý
C. Chỉ làm theo lời khuyên đầu tiên
D. Không nên nghe ai
Câu 24: Bài học nào đúng với truyện Nói dóc gặp nhau?
A. Nên thành thật không nên khoác lác, nói xạo
B. Nên nghe nhiều người góp ý
C. Có gì hay nên khoe mọi người cùng biết
D. Chỉ khoe những gì mình có
2. Phần tiếng Việt
a. Biệt ngữ xã hội
Câu 1: Các từ “trẫm, khanh, long thể, mặt rồng, ngự giá, ngự bút, long bào” thuộc loại từ nào?
A. Từ ngữ địa phương
B. Từ ngữ toàn dân
C. Từ ngữ thuộc về nghề nghiệp
D. Biệt ngữ xã hội
Câu 2: Các từ ngữ thuộc về nghề nghiệp là?
A. Các từ ngữ được toàn dân sử dụng
B. Các từ ngữ đặc trưng của vùng miền
C. Các từ ngữ chuyên ngành thuộc về một số ngành nghề
D. Các từ ngữ dùng trong một tầng lớp
Câu 3: Sử dụng biệt ngữ xã hội trong thơ văn, sáng tác các tác phẩm văn học có tác dụng gì?
A. Tăng tính biểu cảm
B. Thể hiện rõ tầng lớp xã hội
C. Làm nổi bật tính cách của nhân vật
D. Tất cả đáp án trên
b. Từ tượng hình và từ tượng thanh
Câu 4: Từ tượng hình “lênh đênh” có tác dụng gì?
A. Chỉ trạng thái trôi nổi, không biết đi đâu về đâu
B. Chỉ trạng thái trôi nổi nhẹ nhàng, thuật theo chiều gió
C. Chỉ độ cao ngất ngưởng, không cân đối, dễ đổ ngã
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 5: Xác định từ tượng thanh trong đoạn trích sau:
“Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…”
A. co rúm
B. móm mém
C. hu hu
D. Tất cả đáp án trên
c. Biện pháp tu từ đảo ngữ
Câu 6: Chỉ ra tác dụng của biện pháp đảo ngữ trong đoạn thơ sau:
“Dừng chân nghỉ lại Nha Trang
Hiu hiu gió thổi, trời quang tuyệt vời”
A. Nhấn mạnh sự xuất hiện của sự vật
B. Gợi tả rõ bức tranh cảnh vật
C. Gợi màu sắc của biển trời và cảm xúc có phần lạ lẫm, bất ngờ của tác giả trước thiên nhiên, đất trời tươi đẹp nơi đây
D. Gợi mức độ nhẹ nhàng của cơn gió và cảm giác dễ chịu, thư thái trong cảnh vật và trong chính cảm xúc của tác giả – người khác qua đường nán lại dừng chân nghỉ ngơi
d. Từ Hán Việt
Câu 7: Đâu không phải là từ Hán Việt?
A. Xã tắc
B. Sơn thủy
C. Đất nước
D. Giang sơn
e. Sác thái nghĩa của từ ngữ
Câu 8: Từ “ăn” thể hiện sắc thái gì?
A. Sắc thái trung tính
B. Sắc thái trang trọng
C. Sắc thái nghĩa tích cực
D. Sắc thái nghĩa tiêu cực
f. Câu hỏi tu từ
Câu 9: Xác định câu hỏi tu từ trong các trường hợp sau?
A. Em là ai? Cô gái hay nàng tiên?
B. Anh chị nói nhỏ một chút có được không?
C. Sao bạn chịu khó thế?
D. Sao con hư thế nhỉ?
g. Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn của câu
Câu 10: Xác định câu chứa nghĩa tường minh?
A. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
B. Lá lành đùm lá rách
C. Chị ngã em nâng
D. Bầu ơi thương lấy bí cùng
Câu 11: Câu nào dưới đây chứa hàm ý?
A. Lão trông tẩm ngẩm thế nhưng cũng ra phết chứ chẳng vừa đâu, lão vừa cho tôi xin một ít bả chó
B. Lão làm khổ lão chứ ai làm khổ lão
C. Cuộc đời quả thực cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn
D. Chẳng hiểu lão chết vì gì mà bất thình lình như vậy
3. Phần làm văn
a. Viết bài văn kể lại một chuyến đi
Đề 1: Viết bài văn kể lại chuyến đi tham quan một di tích lịch sử văn hóa
b. Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học
Đề 1: Viết bài văn phân tích tác phẩm Thu điếu
Đề 2: Viết bài văn phân tích tác phẩm Thiên trường vãn vọng
Đề 3:Viết bài văn phân tích bài thơ Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu
Đề 4: Viết bài văn phân tích bài thơ Lai Tân
c. Viết bài văn nghị luận về một vấn đề đời sống
Đề 1: Viết bài văn nghị luận về vấn đề ô nhiễm môi trường
Đề 2: Viết bài văn nghị luận về vấn đề bạo lực học đường
Đề 3: Viết bài văn nghị luận về vấn đề xả rác bừa bãi
Đề 4: Viết bài văn nghị luận về trách nhiệm của giới trẻ trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống
Đề 5:Viết bài văn nghị luận về trách nhiệm của giới trẻ trong việc gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt
C. LỜI GIẢI CHI TIẾT
1. Phần đọc hiểu
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
21 |
22 |
23 |
24 |
|
C |
D |
D |
C |
D |
D |
B |
C |
C |
C |
D |
C |
A |
D |
A |
B |
C |
B |
C |
A |
D |
C |
A |
A |
2. Phần tiếng Việt
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
11 |
|
D |
C |
D |
A |
D |
D |
C |
A |
A |
C |
A |
3. Phần làm văn
a. Viết bài văn kể lại một chuyến đi
Đề 1: Viết bài văn kể lại chuyến đi tham quan một di tích lịch sử văn hóa
Thông thường, sau những ngày tháng học tập và lao động mệt mỏi, con người thường tìm đến những chuyến du lịch để tìm lại sự cân bằng, thư thái. Đối với em, chuyến du lịch với bạn bè lớp 6A là những kỷ niệm và hành trang đáng nhớ. Đến tận bây giờ, em vẫn không thể nào quên được chuyến du lịch vui vẻ và bổ ích ấy.
Nhân ngày nghỉ Tết dương lịch, lớp em đã tổ chức một chuyến đi du lịch ở khu K9 và Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam tại Hà Nội. Cả lớp và cô giáo chủ nhiệm ai cũng vui bởi vì sau kỳ thi căng thẳng chúng em sẽ có những giây phút vui chơi và nô đùa cùng nhau. Tất cả lịch trình và địa điểm em chúng em đều đã nắm rõ, chắc hẳn chuyến du lịch sẽ rất vui và bổ ích.
Buổi tối hôm ấy, em đã rất hồi hộp và chờ đợi chuyến du lịch ngày hôm sau. Những thực phẩm và dụng cụ cần thiết em đã chuẩn bị rất kĩ. Hôm sau, em thức dậy vào lúc 5 giờ để vệ sinh cá nhân, mọi thứ đã sẵn sàng. Đúng 5:30, chúng em bắt đầu đến trường tập trung, chiếc xe du lịch đã đến đón chúng em, cuộc hành trình đã bắt đầu.
Ngồi trên xe, chúng em trò chuyện với nhau rất vui và dự đoán về chuyến du lịch sắp tới. Hướng dẫn viên du lịch của chúng em là chú Minh – một người rất vui tính và thân thiện. Chú đang nói cho chúng em nghe rất nhiều câu chuyện về địa điểm du lịch của lớp, bên cạnh đó, chúng em còn được thư giãn bằng một trò chơi mà chú Minh đã đưa ra, đó chính là “Lắng nghe và ghi nhớ” . Khi nghe chú thuyết trình về địa điểm du lịch, chúng em phải ghi nhớ, những ý chính, rồi khi được chú hỏi lại, bạn nào trả lời đúng sẽ được nhận quà. Em thấy đây là một trò chơi rất bổ ích, giúp chúng em ghi nhớ và có thêm nhiều hiểu biết về những địa điểm du lịch mà chú đã hướng dẫn.
Cuối cùng cũng đến nơi, khung cảnh ở đây thật tuyệt làm sao! Những đồi núi hùng vĩ, cây cối trên núi thì xanh tươi mượt mà, những làn gió lướt nhẹ làm cho chúng đung đưa như đang rì rầm trò chuyện. Chúng em được ghé thăm khu di tích lịch sử K9, ở đó có rất nhiều binh sĩ, các chú trông rất oai phong và trang trọng. Cô giáo chủ nhiệm lớp và chú Minh đã dẫn chúng em đến tham quan ngôi nhà xưa của Bác Hồ, ngôi nhà thật đẹp và đã được sửa sang lại. Sau khi tham quan các khu di tích lịch sử, tất cả các bạn trong lớp đều cảm thấy đói nên chúng em được đi ăn trưa và nghỉ ngơi. Chúng em được dẫn đến nhà hàng “Quê Hương” để ăn trưa, đồ ăn ở đây rất ngon và đầy đủ chất dinh dưỡng. Sau khi ăn trưa, cả lớp được chú Minh dẫn đến một địa điểm để mua quà lưu niệm và các món đồ ăn vặt, em đã mua một vài món quà xinh xinh để mang về tặng cho gia đình. Sau khi ăn nhẹ và mua quà, chúng em trở về khách sạn đã được thuê để nghỉ trưa kết thúc một buổi sáng thật vui và ý nghĩa.
Một buổi chiều đẹp trời lại đến, lớp chúng em lại được tham quan một địa điểm nữa đó chính là “ Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam”. Vừa đến nơi, chúng em đã được chụp một bức ảnh kỉ niệm. Vào tham quan tháp Chăm, Đền Cổ và một số ngôi nhà của người dân tộc khác. Đi một vòng quanh khu di tích, chúng em đã dừng chân ở một bãi cỏ trống rất xanh và rộng, trên bãi cỏ đó có những đồ dùng cần thiết để cho chúng em chơi – thì ra là cô giáo và chú Minh đã chuẩn bị. Mỗi tổ sẽ tham gia một trò chơi, đội nào thắng cuộc sẽ giành được những món quà. Mọi người ai cũng chơi thật hào hứng và vui vẻ.
Chẳng mấy mà đã kết thúc một ngày, chúng em phải trở về nhà. Trước khi lên xe, chú Minh đã chào tạm biệt chúng em và chúc lớp có thật nhiều thành tích cao trong học tập. Thế là một chuyến du lịch bổ ích đã khép lại, hôm ấy, phải rất muộn em mới về đến nhà. Em đã kể cho mọi người nghe về chuyến du lịch rất vui của mình cùng với các bạn, qua đây em cảm thấy mình trưởng thành và có thêm được nhiều những kiến thức bổ ích. Hi vọng rằng trong tương lai em sẽ có thêm nhiều chuyến du lịch như vậy cùng với các bạn trong lớp.
Chuyến đi đó đã giúp chúng em của mở rộng tầm hiểu biết của mình, thêm nữa còn tăng thêm tình đoàn kết giữa các bạn trong lớp với nhau. Tất cả sẽ mãi là một kỉ niệm đẹp in dấu trong tâm trí của mỗi thành viên trong lớp. Đối với bản thân em, đây là một chuyến hành trình cũng như một lần trải nghiệm đáng nhớ mà không bao giờ em quên.
(Bài làm của học sinh)
b. Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học
Đề 1: Viết bài văn phân tích tác phẩm Thu điếu
I. Mở bài
Đôi nét về tác giả Nguyễn Khuyến: một tác giả chịu ảnh hưởng đậm nét tư tưởng Nho giáo, sáng tác của ông thường về đạo đức con người, người quân tử. Sau khi thấy thực tại rối ren, ông ở ẩn sáng tác các tác phẩm thể hiện sự hòa hợp với thiên nhiên thanh tịnh
Bài thơ Câu cá mùa thu: Là một bài thơ trong chùm thơ thu ba bài được sáng tác trong thời gian tác giả ở ẩn
II. Thân bài
1. Hai câu đề
- Mùa thu gợi ra với hai hình ảnh vừa đối lập vừa cân đối hài hoà “ao thu”, “chiếc thuyền câu” bé tẻo teo;
Màu sắc “trong veo”: sự dịu nhẹ, thanh sơ của mùa thu
Hình ảnh: Chiếc thuyền câu bé tẻo teo → rất nhỏ
Cách gieo vần “eo”: giàu sức biểu hiện
- Cũng từ ao thu ấy tác giả nhìn ra mặt ao và không gian quanh ao → đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ.
→ bộc lộ rung cảm của tâm hồn thi sĩ trước cảnh đẹp mùa thu và của tiết trời mùa thu, gợi cảm giác yên tĩnh lạ thường
2. Hai câu thực
- Tiếp tục nét vẽ về mùa thu giàu hình ảnh:
Sóng biếc: Gợi hình ảnh nhưng đồng thời gợi được cả màu sắc, đó là sắc xanh dịu nhẹ và mát mẻ, phải chăng là sự phản chiếu màu trời thu trong xanh
Lá vàng trước gió: Hình ảnh và màu sắc đặc trưng của mùa thu Việt Nam
- Sự chuyển động:
hơi gợn tí → chuyển động rất nhẹ →sự chăm chú quan sát của tác giả
“khẽ đưa vèo” → chuyển động rất nhẹ rất khẽ → Sự cảm nhận sâu sắc và tinh tế
→ Nét đặc sắc rất riêng của mùa thu làng quê được gợi lên từ những hình ảnh bình dị, đó chính là “cái hồn dân dã”
3. Hai câu luận
- Cảnh thu đẹp một vẻ bình dị nhưng tĩnh lặng và đượm buồn:
Không gian của bức tranh thu được mở rộng cả về chiều cao và chiều sâu
Tầng mây lơ lửng: gợi cảm giác thanh nhẹ, quen thuộc gần gũi, yên bình, tĩnh lặng.
Hình ảnh trời xanh ngắt: sắc xanh của mùa thu lại được tiếp tục sử dụng, nhưng không phải là màu xanh dịu nhẹ, mát mẻ mà xanh thuần một màu trên diện rộng → đặc trưng của mùa thu.
Hình ảnh làng quê được gợi lên với “ngõ trúc quanh co”: hình ảnh quen thuộc
Khách vắng teo: Gieo vần “eo” gợi sự thanh vắng, yên ả, tĩnh lặng
→ Không gian của mùa thu làng cảnh Việt Nam được mở rộng lên cao rồi lại hướng trực tiếp vào chiều sâu, không gian tĩnh lặng và thanh vắng
4. Hai câu kết
- Xuất hiện hình ảnh con người câu cá trong không gian thu tĩnh lặng với tư thế “Tựa gối buông cần”:
“ Buông”: Thả ra (thả lỏng) đi câu để giải trí, ngắm cảnh mùa thu
“Lâu chẳng được” : Không câu được cá
→ Đằng sau đó là tư thế thư thái thong thả ngắm cảnh thu, câu cá như một thú vui làm thư thái tâm hồn → sự hòa hợp với thiên nhiên của con người
- Toàn bài thơ mang vẻ tĩnh lặng đến câu cuối mới xuất hiện tiếng động:
+ Tiếng cá “đớp động dưới chân bèo” → sự chăm chú quan sát của nhà thơ trong không gian yên tĩnh của mùa thu, nghệ thuật “lấy động tả tĩnh”
→ Tiếng động rất khẽ, rất nhẹ trong không gian rộng lớn càng làm tăng vẻ tĩnh vắng , “cái tĩnh tạo nên từ một cái động rất nhỏ”
→ Nói câu cá nhưng thực ra không phải bàn chuyện câu cá, sự tĩnh lặng của cảnh vật cho cảm nhận về nỗi cô quạnh, uẩn khúc trong tâm hồn nhà thơ, đó là tâm sự đầy đau buồn trước tình cảnh đất nước đầy đau thương
5. Nghệ thuật
Bút pháp thuỷ mặc (dùng đường nét chấm phá) Đường thi và vẻ đẹp thi trung hữu hoạ của bức tranh phong cảnh
Vận dụng tài tình nghệ thuật đối.
Nghệ thuật lấy động tả tĩnh được sử dụng thành công
Cách gieo vần “eo” và sử dụng từ láy tài tình
III. Kết bài
Khẳng định lại những nét tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật của bài thơ
Bài thơ đem đến cho độc giả những cảm nhận sâu lắng về một tâm hồn yêu nước thầm kín mà thiết tha
Đề 2: Viết bài văn phân tích tác phẩm Thiên trường vãn vọng
1. Mở bài: Giới thiệu tác phẩm Thiên Trường vãn vọng của Trần Nhân Tông
2. Thân bài
a. Hai câu thơ đầu:
"Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô, bán hữu tịch dương biên
(Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiều man mác có dường không).
- Bối cảnh không gian làng quê được bao phủ bởi khói chiều, với mốc thời gian là buổi chiều buông.
- Làn khói tỏa mờ, bao phủ trước xóm sau thôn, thứ khói bếp màu xanh bốc lên từ bếp lửa của những ngôi nhà trong thôn xóm mang lại cảm giác ấm áp, thanh bình.
→ Cảnh vật trong hai câu thơ đầu hiện lên là một cảnh tĩnh, được bao phủ bởi bóng chiều và khói bếp, đem đến vẻ hư ảo, nửa thực nửa hư, tạo nên cho con người cảm xúc lâng lâng, say đắm lòng người.
→ Thái độ của tác giả trước dáng vẻ của quê hương chính là sự gắn bó, cảm nhận tinh tế, sâu sắc cùng với dáng vẻ thư thái, tự tại trước không gian rộng lớn, giản dị của quê hương.
b. Hai câu thơ sau:
"Mục đồng địch lí ngưu quy tận"
Bạch lộ song song phi hạ điền
(Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng).
- Hình ảnh mục đồng dắt trâu về và hình ảnh những con cò trắng từng đôi từng một hạ cánh xuống cánh đồng, âm thanh của tiếng sáo bảy lỗ, kết hợp với gam màu trắng muốt của cánh cò.
→ Là những thứ rất đỗi thân thuộc với làng quê, đặc biệt hình ảnh con trâu lại là bằng chứng sống cho sự thanh bình của đất nước.
- Hình ảnh từng đôi cò trắng hạ xuống đồng chính là biểu trưng cho tình yêu đôi lứa, sự sinh sôi nảy nở dòng giống của dân tộc, thể hiện sự phát triển vững bền của dân tộc xuất phát từ chính những làng quê nhỏ bé, chân chất, bởi gia đình chính là tế bào của xã hội.
3. Kết bài: Nêu cảm nhận về Thiên Trường vãn vọng của Trần Nhân Tông
Đề 3:Viết bài văn phân tích bài thơ Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu
1. Mở bài
Dẫn dắt, giới thiệu về văn bản Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu.
2. Thân bài
a. Giới thiệu về khoa thi năm Đinh Dậu
- Theo lệ thường “Nhà nước ba năm mở một khoa”: Ba năm có một khoa thi Hương.
- Điều khác thường:
“Trường Nam thi lẫn với trường Hà”: “Trường Nam” là trường thi ở Nam Định, “Trường Hà” là trường thi ở Hà Nội. Đó là hai trường thi Hương ở Bắc kì thời xưa. Nhưng khi thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội thì trường thi ở đây bị bãi bỏ, các sĩ tử ở Hà Nội phải xuống thi chung ở trường Nam Định.
Từ “lẫn” cho thấy quang cảnh bát nháo, lẫn lộn của trường thi. Điều đó làm mất đi vẻ trang nghiêm của kì thi Hương.
b. Cảnh trường thi trong thực tế
Sĩ tử “lôi thôi, vai đeo lọ” gợi dáng vẻ luộm thuộm, nhếch nhác.
Quan trường “ậm ọe, miệng thét loa”: sự ra oai, nạt nộ nhưng đó là vẻ bên ngoài.
→ Từ đó cho thấy cảnh thi cử lúc bấy giờ thật nhốn nháo, không còn theo quy củ. Cảnh trường thi đã gián tiếp phản ánh sự suy vong của một nền học vấn, sự lỗi thời của đạo Nho.
Quan sứ: “Cờ kéo (Lọng kéo) rợp trời quan sứ đến”: cho thấy sự đón tiếp trọng thể.
Mụ đầm: “Váy lê quét đất mụ đầm ra” cho thấy lối ăn mặc diêm dúa, phô trương.
Nghệ thuật đối: cờ - váy, trời - đất, quan sứ - mụ đầm nhằm mỉa mai, châm biếm hạ nhục bọn quan lại, thực dân.
→ Sự có mặt của quan sự đáng lẽ ra phải khiến quang cảnh trường thi trở nên trang nghiêm hơn. Nhưng trái lại, sự xuất hiện này càng khiến cho sự nhếch nhác, tùy tiện được bày ra rõ ràng hơn.
c. Thái độ, tâm trạng của nhà thơ
- Câu hỏi tu từ “Nhân tài đất Bắc nào ai đó”: thức tỉnh các sĩ tử về nỗi nhục mất nước. Kẻ thù xâm lược vẫn còn đó, thì đường công danh này có ý nghĩa gì.
- Tâm trạng, thái độ: sự tủi nhục, xót xa trước thực tại đau đớn của nước nha.
→ Bài thơ đã khắc họa khung cảnh trường thi nhốn nháo, để làm bật lên tiếng cười chua chát về cảnh ngộ mất nước.
3. Kết bài
Khẳng định giá trị của bài thơ Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu.
Đề 4: Viết bài văn phân tích bài thơ Lai Tân
A. Mở bài
Phong cách nghệ thuật trong thơ Hồ Chí Minh rất đa dạng, phong phú nhưng vẫn đồng nhất : Có thơ trữ tình, thơ tự sự, tự trào, có cả thơ châm biếm, đả kích. Nụ cười châm biếm của Người thật nhẹ nhàng, giản dị, dí dỏm mà vô cùng thâm thuý, sâu cay. Tác phẩm “Lai Tân” là một trong những bài đặc sắc nhất cho phong cách của thơ Bác.
B. Thân bài
I. Giới thiệu đôi nét về bài thơ.
1. Lai Tân là bài thơ được sáng tác trong khoảng thời gian bốn tháng đầu Hồ Chí Minh bị giam giữ tại các nhà tù quốc dân Đảng ở Quảng Tây - Trung Quốc.
2. “Lai Tân” rút ra từ tập “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh. Bài thơ mang nội dung phê phán chế độ nhà tù và xã hội Trung Quốc với nghệ thuật châm biếm rất sắc sảo.
II. Phân tích
1. Ba câu đầu
Đó là ba câu tự sự nói về hành vi thường thấy ở ba viên quan lại cai quản nhà ngục Lai Tân.
a. Ở đây, dường như Bác không bình luận mà chỉ kể lại sự việc. Nhưng ngẫm cho kỹ, chúng ta thấy ý nghĩa của lời thơ thật sâu xa. Ba đối tượng mà Bác tập trung phê phán chủ yếu là ba đối tượng từ thấp đến cao, những kẻ cầm quyền và quản lý trực tiếp trật tự an ninh địa phương. Đó là những kẻ cầm cân nảy mực thực thi pháp luật, những quan lại “gương mẫu” nhất trong việc vi phạm pháp luật.
b. Ban trưởng ngày ngày đánh bạc, cảnh trưởng ăn tiền hối lộ của phạm nhân một cách trắng trợn ; huyện trưởng thì “chong đèn làm công việc” nhưng thực chất “ngài đốt đèn để hút thuốc phiện đấy. Đó là một sự thật trong các huyện đường Quảng Tây dưới thời Tưởng”.
2. Câu cuối cùng
Một kết luận, một đánh giá về tình trạng của bộ máy cai trị nhà tù.
a. Người đọc chờ đợi một sự lên án quyết liệt hùng hồn. Nhưng Hồ Chí Minh đã không làm như vậy, mà hạ một câu có vẻ dửng dưng, lạnh lùng: “Trời đất Lai Tân vẫn thái bình”. Song những đòn đả kích độc đáo bất ngờ ấy, thâm thuý sâu cay cũng lại chính là ở chỗ đấy. Thì ra tình trạng thối nát vô trách nhiệm của bọn quan lại ở Lai Tân là chuyện bình thường, trở thành bản chất của bộ máy cai trị ở đây.
b. Câu kết, nhất là chữ “thái bình” như ẩn giấu “một tiếng cười khẩy” đầy mỉa mai có ý nghĩa lật tẩy bản chất thối nát của cả bộ máy nhà nước ở Lai Tân. Nhà phê bình Hoàng Trung Thông đã nhận xét “ở đâu đánh giặc thì cứ đánh, còn cái trời đất Lai tân này thì vẫn thái bình như muôn thuở”.
C. Kết bài
Ở một chỗ khác, Hoàng Trung Thông còn viết tiếp: “một chữ “thái bình” mà trở thành bao nhiêu việc làm trên vốn là muôn thuở của xã hội Trung Quốc, của giai cấp bóc lột thống trị. Chỉ một chữ ấy mà xé toang tất cả sự thái bình dối trá, nhưng mà thật sự đại loạn là ở bên trong”. (Bác Hồ làm thơ và thơ của Bác).
c. Viết bài văn nghị luận về một vấn đề đời sống
Đề 1: Viết bài văn nghị luận về vấn đề ô nhiễm môi trường
A. Mở bài
Gần đây, báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng đang rầm rộ đưa tin về hiện tượng cá chết hàng loạt ở các vùng biển duyên hải miền Trung. Điều này dẫn tới nhiều lo ngại trong dân chúng về cuộc sống ngày càng kém chất lượng hơn.
Cá chết hàng loạt không chỉ tạo nên cảnh cực khổ nhọc nhằn với miếng cơm manh áo của dân chài miền Trung quanh năm bám biển mà còn nữa là câu chuyện làm sao để giữ cảnh quan thiên nhiên dưới tay "tử thần" khi mà biển biến thành "biển đen", "biển chết" vì ô nhiễm ngày càng thêm nặng nề.
B. Thân bài
a. Giải thích vấn đề
- Ô nhiễm môi trường là một trong những vấn đề toàn cầu nóng bỏng của nhân loại, cụ thể là hiện trạng môi trường xuất hiện những chất độc, chất hại dẫn đến thay đổi nhanh chóng và gây tác hại xấu đến cuộc sống con người. Biển là một bộ phận của môi trường, ô nhiễm biển là việc tồn tại nhiều chất hại trong môi sinh biển khiến các sinh vật biển không thể sinh sống và tạo ra những vấn đề xấu với con người.
b. Thực trạng
- Hiện nay, việc cá chết hàng loạt ở khắp các tỉnh từ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị mỗi ngày lại thêm những diễn biến phức tạp. Nguyên nhân vẫn chưa được công khai chính thức trong dư luận vì vậy sự hoang mang của xã hội ngày càng tăng dần lên.
- Dẫn chứng
Cá chết bất thường được phát hiện từ đầu tháng 4 ở Hà Tĩnh, lan vào khu vực Hòn La (Quảng Bình, giáp Hà Tĩnh) rồi mở rộng xuống vùng biển Nhật Lệ, Hải Ninh và Lệ Thuỷ. Đến ngày 18 và 19/4, Quảng Trị và Huế cũng xuất hiện tình trạng này.
Riêng tại Quảng Trị, tổng khối lượng cá chết mà người dân vớt được từ 2 đến 4 tấn.
Hàng ngày có hàng tấn rác thải được đổ ra biển, các chất độc hại ngày càng tích lũy và ảnh hưởng xấu tới môi sinh và các sinh vật biển.
10 tấn rác thải "tấn công" vịnh Nha Trang mỗi ngày.
Chỉ trong mấy ngày qua bờ biển tỉnh Hà Tĩnh chứng kiến hai sự cố mà tác nhân chủ yếu đến từ ô nhiễm môi trường ven bờ biển. Từ ngày 2 - 3, hơn 50ha nghêu thương phẩm vùng bờ biển bãi ngang hai huyện Kỳ Anh và Cẩm Xuyên chết dạt đến gần 90% chưa có biện pháp khắc phục hậu quả thì ngay sau đó sò lông, ốc hương tự nhiên chết theo sóng biển tấp vào đầy nghẹt bờ cát ven bờ huyện Kỳ Anh, dọn không xuể.
c. Nguyên nhân
Do ý thức kém của con người.
Do hiện tượng cực đoan của xã hội.
Sự quản lí của nhà nước: hoạt động của các doanh nghiệp trong việc xử lí.
d. Hậu quả
Ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người.
Mất đi các nguồn lợi từ biển: các hải sản, du lịch biển.
Một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới năm 2008 dự báo, mỗi năm, Việt Nam đang mất đi ít nhất 69 triệu USD thu nhập từ ngành du lịch do hệ thống xử lý vệ sinh kém. Ô nhiễm môi trường cũng làm giảm đi sức thu hút khách của ngành du lịch.
Mất cân bằng đa dạng sinh học của môi trường sống.
e. Giải pháp
Nâng cao ý thức con người.
Tăng cường sự quản lí của nhà nước.
Tiến hành áp dụng công nghệ khoa học để giải quyết hiện trạng ô nhiễm nước thải ... hiện nay.
C. Kết bài
Hiện tượng cá chết vẫn đang đặt ra cho xã hội những bài toán khó để.
Để khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, du lịch biển cần sự tham chống ô nhiễm biển cần sự tham gia của các cấp, các ngành và mọi thành phần của xã hội.
Đề 2: Viết bài văn nghị luận về vấn đề bạo lực học đường
a) Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận:
- Học sinh sinh viên là thời đẹp nhất trong cuộc đời mỗi chúng ta.
- Thế nhưng hiện nay, sự trong sáng, tươi đẹp hồn nhiên của thế hệ học sinh không còn nữa. Thay vào đó là những lời nói và hành động thô bạo, bậy bạ, thậm chí những đứa trẻ này còn đánh nhau, chúng xé áo, đánh bạn giữa đường.
- Tình trạng bạo lực học đường diễn ra phổ biến, tràn lan được lan rộng trên Internet, chúng ta cùng đi tìm hiểu tình trạng này.
b) Thân bài
* Thế nào là bạo lực học đường ?
- Bạo lực học đường là những hành vi thô bạo, thiếu đạo đức với bạn mình.
- Cách cư xử thiếu văn minh, không có giáo dục của thế hệ học sinh.
- Xúc phạm đến tinh thần và thể xác người khác, gây ảnh hưởng nghiêm trọng.
* Hiện trạng của bạo lực học đường hiện nay
- Hình thức:
Xúc phạm, lăng mạ, xỉ nhục, đay nghiến, chà đạp nhân phẩm, làm tổn thương về mặt tinh thần con người thông qua lời nói.
Đánh đập, tra tấn, hành hạ, làm tổn hại về sức khỏe, xâm phạm cơ thể con người thông qua những hành vi bạo lực.
- Thực tế chứng minh:
Chỉ cần một thao tác rất nhanh trên Google ta có thể tìm thấy hàng loạt các clip bạo lực của nữ sinh: nữ sinh Hưng Yên bị bạo hành, thêm một vụ bạo lực học đường vừa xảy ra ở Quảng Ninh...
Học sinh có thái độ không đúng mực với thầy cô giáo, dùng dao đâm bạn bè, thầy cô…
Lập nên các nhóm hội hoạt động đánh nhau có tổ chức.
Giáo viên đánh đập, xúc phạm tới nhân phẩm của học sinh…
* Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng bạo lực học đường
- Do ảnh hưởng của môi trường bạo lực, thiếu văn hóa.
- Chưa có sự quan tâm từ gia đình.
- Không có sự giáo dục đúng đắn của nhà trường.
- Xã hội dửng dưng trước những hành động bạo lực.
- Sự phát triển chưa toàn diện của học sinh.
* Hậu quả của bạo lực học đường
- Với người bị bạo lực:
Bị ảnh hưởng về tinh thần và thể chất.
Làm cho gia đình họ bị đau thương.
Làm cho xã hội nghị luận, tranh cãi.
- Với người gây ra bạo lực:
Phát triển không toàn diện.
Mọi người, xã hội chê trách.
Ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống hiện tại và tương lai, sự nghiệp bị mất.
* Giải pháp khắc phục nạn bạo lực học đường
- Nhà trường cần nâng cao tầm quan trọng trong việc dạy bảo học sinh hiệu quả nhất, luôn quan sát, quan tâm về cả bên ngoài lẫn nhận thức của các em trong các vấn đề.
- Cha mẹ nên chăm lo và quan tâm đến con cái nhiều hơn.
- Tự bản thân có trách nhiệm xa lánh tình trạng này.
c) Kết bài
Nêu cảm nghĩ của em về nạn bạo lực học đường.
- Đây là một hành vi không tốt.
- Em sẽ làm gì để ngăn chặn tình trạng này?
Đề 3: Viết bài văn nghị luận về vấn đề xả rác bừa bãi
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Hiện tượng vứt rác thải ra nơi công cộng.
Lưu ý: Học sinh tự lựa chọn cách dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào khả năng của mình.
2. Thân bài
a. Thực trạng
Ở những nơi công cộng: bệnh viện, nhà trường, các danh lam thắng cảnh không khó để bắt gặp những rác thải được vứt ngổn ngang bao gồm các loại rác thải từ mềm đến cứng bốc mùi hôi thối và gây ảnh hưởng đến cảnh quan của nơi công cộng đó.
b. Nguyên nhân
Chủ quan: do ý thức của người dân chưa tốt, tiện tay là vứt rác vì nghĩ nơi công cộng không phải là trách nhiệm của bản thân mình.
Khách quan: do lượng thùng rác ở nơi công cộng Việt Nam chưa đủ để đáp ứng được nhu cầu xả rác vô cùng lớn của người dân khiến cho rác thải vứt bừa bãi.
c. Hậu quả
Lượng rác thải xả ra nhiều gây ảnh hưởng đến môi trường khi ngày nay ô nhiễm môi trường ngày càng tăng.
Gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người; gây mất mĩ quan.
Việc rác thải xả bừa bãi ở nơi công cộng gây khó khăn cho nhân viên vệ sinh trong việc thu gom và xử lí.
d. Giải pháp
Mỗi con người cần tự giác ý thức phân loại rác thải, bỏ rác vào đúng nơi quy định ở những nơi công cộng.
Mỗi nơi công cộng cần có những biển báo đổ rác thải, bố trí thùng rác hợp lí cũng như có những hình phạt thích đáng với những trường hợp xả rác bừa bãi.
Nhà nước, các cấp quản lí cần tuyên truyền mạnh mẽ hơn nữa những tác hại của rác thải đồng thời có hình thức xử lí nghiêm khắc đối với những trường hợp vi phạm.
3. Kết bài
Khái quát lại vấn đề nghị luận: hiện tượng vứt rác thải bừa bãi ra nơi công cộng đồng thời rút ra bài học, liên hệ bản thân.
Đề 4: Viết bài văn nghị luận về trách nhiệm của giới trẻ trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống
I. Mở bài
Đất nước đang trong quá trình hội nhập quốc tế, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là vấn đề quan trọng. Và ý thức của thanh thiếu niên Việt Nam trong vấn đề này là điều rất đáng quan tâm suy nghĩ.
II. Thân bài
- Ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc của thanh thiếu niên Việt Nam được biểu hiện ở nhiều phương diện: cách sống, lối sống, quan niệm, suy nghĩ, hoạt động, nói năng, ăn mặc, ứng xử….
- Qua những biểu hiện trên, có thể thấy rõ ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc của thanh thiếu niên Việt Nam là như thế nào?
- Xem xét nguyên nhân của vấn đề này phải nhìn ở cả 2 mặt: khách quan và chủ quan. Khách quan là sự tác động của môi trường sống, của bối cảnh thời đại. Chủ quan là bản thân sự vận động trong tư duy của đối tượng: các thanh niên, thiếu niên đã quan tâm, suy nghĩ ở mức độ nào về vấn đề này.
- Với một ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc như vậy, thanh thiếu niên Việt Nam đang tác động như thế nào đến bộ mặt văn hoá dân tộc, đang để lại một kết quả ra sao cho tương lai, đặc biệt là trong bối cảnh quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra sôi động.
- Xã hội, gia đình, bản thân mỗi thanh niên, thiếu niên nên làm gì để góp phần khẳng định bản sắc văn hoá Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.
III. Kết bài
Bản sắc văn hoá là cái riêng của mỗi dân tộc. Giữ gìn cái riêng đó là trách nhiệm của mỗi công dân, trong đó có phần quan trọng của thế hệ trẻ.
Đề 5:Viết bài văn nghị luận về trách nhiệm của giới trẻ trong việc gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt
1. Mở bài
Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận: giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
2. Thân bài
a. Giải thích
Tình yêu, giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt chính là sự tôn trọng ngôn ngữ mẹ đẻ, sử dụng tiếng việt một cách hợp lí, đúng đắn, không chêm xen quá nhiều ngôn ngữ khác khi giao tiếp, có ý thức giữ gìn và phát huy tiếng việt cũng như quảng bá đến bạn bè trên thế giới.
b. Phân tích
Mỗi một quốc gia có một nền văn hóa, một ngôn ngữ khác nhau, là công dân của quốc gia, mỗi người có ý thức giữ gìn, phát huy cũng như truyền bá văn hóa, ngôn ngữ của mình.
Chúng ta cần phải bảo vệ tiếng việt, giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt, không để người khác làm mai một, bão hòa ngôn ngữ riêng của mình với bất kì thứ ngôn ngữ nào khác.
Tuy nhiên, giữ gìn tiếng mẹ đẻ không có nghĩa là bài trừ những ngôn ngữ khác mà cần sử dụng tiếng nước ngoài sao cho phù hợp, không được lạm dụng quá mức.
c. Chứng minh
Học sinh lấy dẫn chứng những tác phẩm tiếng việt nổi tiếng hoặc những con người, những hành động cao đẹp bảo vệ, quảng bá tiếng việt ra thế giới,… để làm ví dụ minh họa cho bài làm văn của mình.
d. Phản đề
Trong cuộc sống vẫn còn có nhiều trường hợp lạm dụng tiếng nước ngoài vào trong giao tiếp, cũng có những trường hợp sử dụng tiếng việt với mục đích xấu làm mất đi sự trong sáng của tiếng việt,… những hành động này cần ngăn ngừa.
3. Kết bài
Khái quát lại vấn đề cần nghị luận: giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; đồng thời rút ra bài học và liên hệ bản thân.
Đề thi học kì 1 Văn 8 Kết nối tri thức - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới
Đất Vị Hoàng
Có đất nào như đất ấy không?
Phố phường tiếp giáp với bờ sông.
Nhà kia lỗi phép con khinh bố,
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.
Keo cú người đâu như cứt sắt,
Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng.
Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,
Có đất nào như đất ấy không?
(Trần Tế Xương,Tuyển tập thơ trung đại, NXB Văn học, 2012)
Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước phương án trả lời đúng cho các câu hỏi từ 1 đến 7:
Câu 1: Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
A.Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
B. Thất ngôn bát cú Đường luật
C. Ngũ ngôn
D. Lục bát
Câu 2: Phương thức biểu đạt chính trong bài thơ là gì?
A. Biểu cảm
B. Miêu tả
C. Tự sự
D. Nghị luận
Câu 3: Bài thơ có giọng điệu như thế nào?
A. Vui mừng, phấn khởi
B. Trào phúng, mỉa mai
C. Buồn, ngậm ngùi
D. Cả ba phương án trên
Câu 4: Bài thơ đã nêu lên những thực trạng gì của xã hôi?
A. Con khinh bố
B. Vợ chửi chồng
C. Con người keo kiệt, tham lam
D. Cả 3 phương án trên
Câu 5: Câu thơ “Keo cú người đâu như cứt sắt” sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?
A. Nhân hóa
B. Ẩn dụ
C. So sánh
D. Hoán dụ
Câu 6: Nhận định nào sau đây đúng nhất về con người Tú Xương?
A. Là con người tài năng, cá tính, phóng túng
B. Là nhà Nho khuôn phép, trung thành với các lễ nghi, khuôn khổ
C. Là người ngông nghênh, ngất ngưởng
D. Là con người bản lĩnh, anh hung.
Câu 7: Hai câu thơ sau nói về điều gì
Keo cú người đâu như cứt sắt,
Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng.
A. Nói về những câu chuyện đáng buồn trong xã hội
B. Nói về những kẻ hằn học, thù oán người khác
C. Nói về những người keo kiệt, tham lam trong xã hội
D. Nói về những thói hư tật xấu trong xã hội
Câu 8: Phân tích ý nghĩa của câu hỏi tu từ trong bài thơ trên
Câu 9: Nhận xét về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ
Câu 10: Từ nội dung bài thơ, anh/chị hãy viết đoạn văn khoảng 5-7 dòng nêu suy nghĩ của bản thân về việc giữ gìn những giá trị văn hóa, đạo đức của dân tộc
II. VIẾT (4.0 điểm)
Viết bài văn nghị luận trình bày cảm nhận về giá trị nội dung và nghệ thuật của một bài thơ Đường luật đã để lại cho anh/ chị ấn tượng sâu sắc.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
B |
A |
B |
D |
C |
A |
C |
Câu 1 (0.5 điểm)
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Xác định thể thơ
Lời giải chi tiết:
Bài thơ được viết theo thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật
→ Đáp án: B
Câu 2 (0.5 điểm)
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Xác định phương thức biểu đạt
Lời giải chi tiết:
Bài thơ sử dụng các phương thức biểu đạt: Biểu cảm
→ Đáp án: A
Câu 3 (0.5 điểm)
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Xác định giọng điệu
Lời giải chi tiết:
Giọng điệu bài thơ: Trào phúng, mỉa mai
→ Đáp án: B
Câu 4 (0.5 điểm)
Phương pháp:
Đọc kĩ câu thơ
Vận dụng kiến thức của bản than để trả lời
Lời giải chi tiết:
Bài thơ đã nêu lên những thực trạng xã hôi rối loạn: con khinh bố, vợ chửi chồng, con người keo kiệt, tham lam.
→ Đáp án: D
Câu 5 (0.5 điểm)
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Xác định biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết:
Câu thơ “Keo cú người đâu như cứt sắt” sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh
→ Đáp án: C
Câu 6 (0.5 điểm)
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời
Lời giải chi tiết:
Nhận định nào sau đây đúng nhất về con người Tú Xương: Là con người tài năng, cá tính, phóng túng
→ Đáp án: A
Câu 7 (0.5 điểm)
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý ngữ cảnh
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời
Lời giải chi tiết:
Hai câu thơ sau nói về: Nói về những người keo kiệt, tham lam trong xã hội
→ Đáp án: C
Câu 8 (0.5 điểm)
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời
Lời giải chi tiết:
Ý nghĩa của câu hỏi tu từ trong bài thơ:
- Câu hỏi tu từ ở đầu và cuối bài tạo nên kết câu vòng tròn gợi cảm giác luẩn quẩn, bế tắc trước thực tại
- Ý nghĩa: Câu hỏi cất lên như một lời đay nghiến, vừa xót xa đau đớn, vừa căm giận khinh bỉ cái xã hội bị đồng tiền chi phối, cái xã hội ta tàu lẫn lộn, bị xuống cấp, suy đồi về đạo đức.
Câu 9 (1.0 điểm)
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng cách hiểu của bản thân để trả lời câu hỏi
Lời giải chi tiết:
Tâm trạng của nhân vật trữ tình
- Tú Xương đau cho nỗi đau quê nhà, xót cho thói đời đen bạc, buồn cho cảnh đất nước bị mất chủ quyền, quê cũ làng xưa đổi thay, bao chuyện đau lòng ngày một thêm nhiều cứ bày ra.
- Thể hiện sự kinh bỉ,căm hận châm biếm, lên án, phê phán những thói hư tật xấu, sự xuống cấp về đạo đức của một xã hội kim tiền
Nhận xét: Tâm trạng của nhân vật trữ tình đã cho ta thấy tấm lòng của một người yêu quê hương, yêu đất nước rất đáng trân trọng
Câu 10 (1.0 điểm)
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi
Lời giải chi tiết:
- Về hình thức: Đảm bảo hình thức đoạn văn theo lối diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp, đảm bảo đúng dung lượng
- Về nội dung: HS thể hiện suy nghĩ của mình về vấn đề giữ gìn văn hóa, đạo đức của dân tộc với lí lẽ thuyết phục, định hướng theo một số nội dung sau:
+ Thực trạng:
Xã hội phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, con người hòa nhập với nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới. Nhiều bản sắc văn hóa của dân tộc đang ngày bị mai một, giới trẻ ngày càng ít quan tâm, tìm hiểu về những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
+ Hậu quả: Những giá trị truyền thống tốt đẹp ngày càng bị mai một dần đi, nhiều bản sắc đã và đang dần mất đi, giới trẻ bị thu hẹp tầm hiểu biết về những truyền thống tất yếu của dân tộc mình. Con người đánh mất đi giá trị cốt lõi của đất nước mình
+ Biện pháp:
Mỗi cá nhân đặc biệt là học sinh chúng ta phải tìm hiểu những bản sắc văn hóa vốn có của dân tộc, giữ gìn và phát huy những giá trị đó với bạn bè năm châu.
Nhà trường cần tổ chức nhiều hơn những hoạt động để tuyên truyền, mang đến cho học sinh nguồn tri thức về bản sắc văn hóa dân tộc.
PHẦN II –LÀM VĂN (4 điểm)
Phương pháp giải:
1. Mở bài
Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận.
2. Thân bài
*Phân tích bài thơ: trích thơ rồi lần lượt phân tích những từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ, v.v…. trong từng câu thơ, giải mã đúng từ ngữ, hình ảnh đó để giúp người đọc cảm thấy được những cái hay, cái đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của bài thơ.
Nhận xét đánh giá bài thơ:
+ Đánh giá về nội dung, tư tưởng của bài thơ. (Nét đặc sắc về nội dung của bài thơ là gì? Thành công/hạn chế?)
+ Đánh giá về nghệ thuật biểu hiện đặc sắc (Thành công/hạn chế?)
+ Đánh giá về phong cách tác giả. (Qua bài thơ, em thấy tác giả là người như thế nào; có thể nói thêm những đặc điểm về phong cách nghệ thuật và đóng góp của nhà thơ trên văn đàn lúc bấy giờ).
3. Kết bài
Khẳng định lại vấn đề
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo
Hồ Xuân Hương, người phụ nữ tài danh của dân tộc ta vào cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, đã ghi dấu ấn với phong cách thơ rắn rỏi và mạnh mẽ. Với tài năng của mình, bà được người đời gọi là "Bà chúa thơ Nôm". Trong số những tác phẩm của bà, bài thơ "Bánh trôi nước" đặc biệt thể hiện phong cách thơ độc đáo của bà. Thông qua hình ảnh bánh trôi nước, nhà thơ đã phản ánh thân phận nhỏ bé và bấp bênh, chìm nổi của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, đồng thời cũng thể hiện phẩm giá cao đẹp của họ.
"Bánh trôi nước" là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt theo Đường luật. Đề tài và cảm hứng sáng tác của bài thơ bắt nguồn từ những vấn đề phổ biến tồn tại trong xã hội phong kiến: vẻ đẹp và số phận của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại đó. Mặc dù chỉ bốn dòng thơ, hai mươi tám chữ, nhưng bài thơ đã truyền đạt một cách sâu sắc và ẩn ý sâu xa, để mỗi độc giả có thể hình dung một cách chân thực và rõ nét vẻ đẹp và thân phận của người phụ nữ Việt Nam.
Bài thơ miêu tả đặc điểm và quá trình làm bánh trôi: từ hình dáng, cấu tạo, đặc điểm, tính chất cho đến cách thức. Bánh trôi là một loại bánh được làm từ bột nếp, là một món ăn quen thuộc và dân giã ở đồng bằng Bắc Bộ. Bánh trôi có vẻ ngoài đặc trưng là "trắng, tròn", bột được nhào nước cho nhuyễn, sau đó được nặn thành hình tròn giống quả táo, bên ngoài được bọc một lớp đường đen. Để chín, bánh được cho vào nồi khi nước sôi, trải qua quá trình "chìm nổi", và khi chín thì bánh nổi lên. Người nặn bột phải khéo tay để bánh đẹp, nếu làm vụng sẽ khiến bánh trở nên cứng hoặc nhão. Tuy nhiên, bất kể thế nào, bánh vẫn phải có nhân. Thiếu nhân, bánh sẽ trở nên nhạt nhẽo. Đọc bài thơ, ta có thể thấy rõ đúng là bánh trôi nước, không sai một li. Khi để nguội, bánh có cảm giác dẻo và rất ngon. Theo quan niệm của ông cha ta, đây là một loại bánh tinh khiết, có thể dùng để cúng tổ tiên vào ngày mùng 3 tháng 3 Âm lịch. Có thể thấy, hình ảnh chiếc bánh trôi "trắng, tròn", dù trải qua quá trình "chìm nổi" hoặc phụ thuộc vào sự khéo léo của người nặntạo, vẫn giữ được sự tinh khiết và độc đáo của nó.
Tuy nhiên, bài thơ "Bánh trôi nước" của Hồ Xuân Hương không chỉ đơn thuần là một miêu tả về bánh trôi, mà còn mang ý nghĩa sâu sắc về cuộc sống và thân phận của người phụ nữ. Bằng cách so sánh bản thân mình với chiếc bánh trôi nhỏ bé, chìm nổi trong nước, Hồ Xuân Hương đã thể hiện sự nhạy bén và cá nhân hóa vấn đề xã hội trong thời đại đó.
Với tài năng văn chương và sự thông thái, Hồ Xuân Hương đã tạo ra những bài thơ tràn đầy sức sống, sắc sảo và hài hước. Bà không ngần ngại viết về tình yêu, tình dục và những vấn đề xã hội nhạy cảm khác. Công lao và tài năng của Hồ Xuân Hương đã để lại dấu ấn lớn trong văn học Việt Nam và trở thành một nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ nhà văn và nhà thơ sau này.
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non”
Bánh trôi - một món bánh quen thuộc, đơn giản trong cuộc sống hàng ngày, nhưng thông qua ánh mắt tinh tế và sự quan sát nhạy bén, nhà thơ Hồ Xuân Hương đã phát hiện ra những nét tương đồng giữa chiếc bánh trôi đó và cuộc đời của người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến. Cả chiếc bánh trôi và người phụ nữ đều có vẻ bề ngoài tuyệt đẹp, tâm hồn thanh cao, nhưng số phận lại không may mắn, phải chìm nổi, bấp bênh, không thể kiểm soát cuộc sống của mình. Sự lặp lại từ "vừa" trong một dòng thơ nhấn mạnh phẩm chất và vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ. Bằng cách sử dụng từ ngữ khéo léo, vẻ đẹp của người phụ nữ không chỉ được thể hiện rõ ràng mà còn chứa đựng niềm tự hào, ý thức về vẻ đẹp của chính mình.
Trong văn học thời Trung Đại, phụ nữ hiếm khi dám tự tin nói về vẻ đẹp của mình, nhưng trong thơ của Hồ Xuân Hương, những điều đó được nêu lên một cách tự tin và mạnh mẽ. Điều này tạo ra một sự mới mẻ, độc đáo trong thơ của bà. Với nhan sắc tuyệt đẹp và phẩm chất tuyệt vời, người phụ nữ đã nên có một cuộc sống ấm êm và hạnh phúc, nhưng những bất công trong xã hội phong kiến đã khiến cuộc sống của họ không như vậy. Hồ Xuân Hương đã khéo léo sử dụng thành ngữ dân gian "bảy nổi ba chìm" trong câu thơ, làm cho chúng ta hình dung được cuộc sống bấp bênh, không chắc chắn, không biết đi đến đâu của người phụ nữ. Cuộc sống của những người phụ nữ này thực sự đáng thương!
Như vậy, Hồ Xuân Hương đã truyền tải thông điệp về cuộc sống khó khăn, bất công mà người phụ nữ phải đối mặt trong xã hội phong kiến. Tuy nhiên, qua sự kiên cường, lòng trung thành và sắt son của họ, những người phụ nữ này vẫn tiếp tục sống và tỏa sáng, vượt qua mọi khó khăn để tỏa ngọn lửa trong cuộc sống. Bài thơ "Bánh trôi nước" của Hồ Xuân Hương là một tác phẩm văn học tuyệt vời, mang trong mình những giá trị văn hóa, tinh thần về sự kiên cường và lòng trung thành của người phụ nữ Việt Nam dưới thời phong kiến.
Bánh trôi nước, như một biểu tượng của cuộc sống phụ nữ, đã được Hồ Xuân Hương khéo léo khắc họa qua những từ ngữ tinh tế và hình ảnh tươi sáng. Đây không chỉ là một món bánh đơn thuần, mà còn chứa đựng ý nghĩa sâu sắc về cuộc sống của người phụ nữ Việt Nam. Vẻ đẹp tuyệt mỹ của bánh trôi và người phụ nữ, cùng với sự thanh cao trong tâm hồn, tạo nên một sự tương đồng đặc biệt. Tuy nhiên, cả hai đều phải đối mặt với những khó khăn, bất công và sự chìm nổi trong cuộc sống.
Bằng cách sử dụng từ ngữ tinh tế, Hồ Xuân Hương đã không chỉ thể hiện vẻ đẹp bề ngoài của người phụ nữ, mà còn phản ánh cả niềm tự hào và ý thức về vẻ đẹp của bản thân. Điều này làm nổi bật sự tự tin và mạnh mẽ của người phụ nữ trong thơ Nôm, khi họ không ngại thể hiện vẻ đẹp của mình một cách rõ ràng và kiêu hãnh. Đây là một sự đột phá, một nét mới trong thơ của Hồ Xuân Hương.
“Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.
Câu thơ đã diễn tả một hình ảnh đơn giản nhưng sâu sắc, mô tả rằng hình dạng của chiếc bánh trôi tròn hay méo phụ thuộc vào bàn tay của người nặn. Tuy nhiên, điều này cũng có thể ám chỉ đến cuộc sống của người phụ nữ và sự ảnh hưởng của những người có quyền lực trong xã hội đối với cuộc sống của họ.
Người phụ nữ, như chiếc bánh trôi, phải chịu sự tác động và hình thành từ những yếu tố bên ngoài. Sự hạnh phúc hay bất hạnh của cuộc sống đều dựa vào những người có quyền lực trong xã hội. Trái với quan điểm này, câu thơ bắt đầu bằng cặp từ "rắn - nát" để nhấn mạnh vào sự éo le, sự phụ thuộc và sự bất công trong cuộc sống của người phụ nữ.
Xã hội cũ đã tồn tại những quy định nghiêm ngặt và quan niệm trọng nam khinh nữ, tam tòng tứ đức, đã cướp đi sự hạnh phúc và tự do của người phụ nữ. Những quy luật này đã giới hạn vai trò và quyền lực của phụ nữ, đẩy họ vào tình thế bất ổn và không công bằng.
Hồ Xuân Hương, một nữ nhà thơ nổi tiếng trong lịch sử văn học Việt Nam, cũng đã trải qua nhiều bi kịch và sự bất công như vậy. Bà đã yêu Chiêu Hồ, nhưng tình yêu của bà không được đền đáp. Hơn nữa, bà đã trở thành vợ lẽ của Tổng Cóc và làm lẽ Phủ Vĩnh Tường. Các tác phẩm thơ của bà đã phản ánh thực tế và thể hiện thân phận bất hạnh của mình.
Hồ Xuân Hương đã sáng tác những câu thơ đầy ý nghĩa để nói về cuộc sống và thân phận của mình. Trong những câu thơ đó, bà đã khéo léo sử dụng hình ảnh và ngôn ngữ để miêu tả sự đau khổ, sự bất công và sự phụ thuộc của người phụ nữ trong xã hội. Bằng cách này, bà đã truyền tải thông điệp về tình trạng khốn khó và sự thiếu công bằng mà phụ nữ phải đối mặt trong xã hội.
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Cuộc đời của bà không chỉ bấp bênh, bảy nổi ba chìm mà còn chịu nhiều cay đắng hơn bội phần. Hồ Xuân Hương thương cho số phận của mình, thương cho những người có cùng cảnh ngộ như mình. Bằng những lời bộc bạch chân thành, tự nhiên nữ sĩ đã nói lên những đau đớn, những uất ức chung của người phụ nữ. Từng câu chữ ở trong câu thơ chính là lời phản kháng mạnh mẽ, lên án xã hội đầy rẫy những bất công.
Tuy cuộc sống nhiều đau khổ như vậy, nhưng họ vẫn luôn giữ cho mình phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam:
“Mà em vẫn giữ tấm lòng son.”
Bài thơ "Bánh trôi nước" của Hồ Xuân Hương đã lồng ghép hình ảnh của chiếc bánh trôi mang màu đỏ của đường để thể hiện vẻ đẹp thanh cao và phẩm giá của người phụ nữ. Bài thơ này chứa đựng ý nghĩa quan trọng nhất trong toàn bài, nhấn mạnh tấm lòng đáng quý và mạnh mẽ như màu đỏ của dòng máu chảy trong người phụ nữ.
Hồ Xuân Hương đã sử dụng những từ "mặc dầu" và "mà" để miêu tả tinh thần của người phụ nữ, người luôn sẵn sàng đối mặt với những quan niệm khắc nghiệt của chế độ phong kiến và giữ gìn phẩm giá cao đẹp của mình trong mọi hoàn cảnh. Sự thuỷ chung, phẩm giá và tài năng của họ vẫn tỏa sáng như những hạt ngọc long lanh.
Mặc dù bài thơ chỉ có bốn câu thơ ngắn gọn, nhưng Hồ Xuân Hương đã sử dụng linh hoạt các biện pháp nghệ thuật như so sánh, đảo ngữ, ẩn dụ, thành ngữ và tính từ để tạo nên sự độc đáo và sâu sắc trong nội dung. Nhờ đó, người đọc có thể hình dung rõ hơn về vẻ đẹp và số phận của người phụ nữ.
Bài thơ cũng đặc sắc với ngôn ngữ thơ bình dị, mang nhiều lớp nghĩa và tài luyện của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Việc sử dụng chữ Nôm đặc sắc trong viết bài thơ "Bánh trôi nước" càng thể hiện sự trân trọng và ca ngợi vẻ đẹp và phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam. Bài thơ khẳng định rằng dù xã hội có nhiều bất công và đàn áp đối với người phụ nữ, họ vẫn luôn nhận thức được giá trị của bản thân mình trong mọi hoàn cảnh.
Chúng ta cần ngưỡng mộ những tài năng kiệt xuất của nữ sĩ Hồ Xuân Hương và học hỏi những phẩm chất tốt đẹp mà bài thơ này truyền tải. Đặc biệt, thế hệ phụ nữ ngày nay cần phát huy những phẩm chất đó để tỏa sáng và khẳng định giá trị của mình trong xã hội.
Đề thi học kì 1 Văn 8 Kết nối tri thức - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
Gần trưa, Chiêu Minh vương hộ tống nhà vua tiễn Trần Quốc Tuấn ra bến Đông làm lễ tế cờ xuất sư. […] Không khí trang trọng đến tức thở. Nhân Tông vái Trần Quốc Tuấn và phán:
- Từ nay việc an nguy của giang sơn xã tắc trẫm xin trao cho Quốc công.
Trần Quốc Tuấn nghiêm trang đáp lễ:
- Lão thần thề không để nhục mệnh của bệ hạ.
Nhân Tông ban kiếm Thượng Phương, trao quyền chém trước tâu sau cho Trần Quốc Tuấn. Nhà vua chăm chú nhìn vị tướng già và thấy Trần Quốc Tuấn quắc thước lạ lùng.
Từ trên đài cao, Trần Quốc Tuấn lặng nhìn các đội quân hàng ngũ chỉnh tề bên dưới. […] Trần Quốc Tuấn thấy tất cả sức mạnh của dân tộc từ nghìn xưa truyền lại nâng cao tâm hồn ông lên khiến cho hai vai ông dư sức gánh sứ mệnh nặng nề. Ông thét lớn:
- Bớ ba quân!
Tiếng dạ vang dậy kinh thành và sông nước.
Trần Quốc Tuấn lại thét tiếp:
- Quan gia đã hạ chỉ cho ta lĩnh cờ tiết chế cùng các ngươi xuất sư phá giặc. Kiếm Thượng Phương đây! -Trần Quốc Tuấn nâng cao kiếm lên khỏi đầu.
- Ai trái mệnh, phản dân, hại nước, ta sẽ nghiêm trị không tha.
Quân sĩ lại đồng thanh dạ ran. Nhân Tông vẫy Dã Tượng lại gần, cầm lấy cái gậy trúc xương cá của Trần Quốc Tuấn. Nhà vua ân cần trao cây gậy cho vị tướng già và dặn dò: […]
- Trọng phụ tuổi đã cao, xin vì trẫm, vì đất nước và trăm họ mà giữ gìn sức khỏe.
(Trích Trên sông truyền hịch, Hà Ân)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Xác định các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên.
A. Tự sự, biểu cảm, nghị luận
B. Tự sự, nghị luận, miêu tả
C. Tự sự, miêu tả, biểu cảm
D.Tự sự, thuyết minh, nghị luận
Câu 2. Vua Trần Nhân Tông gửi gắm với Trần Quốc Tuấn vấn đề trọng đại gì?
A. Trao kiếm
B. Dặn dò nhiều điều
C. Trọng phụ tuổi đã cao, xin vì trẫm, vì đất nước và trăm họ mà giữ gìn sức
khỏe.
D. Từ nay việc an nguy của giang sơn xã tắc trẫm xin trao cho Quốc công.
Câu 3. Vua ban vật quý gì cho Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Tuấn sẽ có quyền gì?
A. Rượu quý, quyền lãnh đạo ba quân.
B. Ban kiếm Thượng Phương , quyền gặp vua bất cứ lúc nào.
C. Áo choàng, quyền quản lí quân sĩ.
D. Ban kiếm Thượng Phương, quyền chém trước tâu sau.
Câu 4. Tại sao không khí buổi lễ tế cờ xuất sư được miêu tả trang trọng đến tức thở?
A. Vì đây là buổi lễ quan trọng chuẩn bị cho cuộc chiến chống lại quân Nguyên - Mông xâm lược.
B. Vì đây là buổi lễ quan trọng chuẩn bị cho việc lên ngôi của Trần Quốc Tuấn.
C. Vì đây là buổi lễ quan trọng của hoàng cung.
D. Vì đây là buổi chia tay sinh tử.
Câu 5. Sự việc vua trao cho Trần Quốc Tuấn quyền chém trước tâu sau cho ta thấy vua là người như thế nào?
A. Vua rất anh minh
B. Vua rất tin tưởng Trần Quốc Tuấn
C. Vua rất tin tưởng vào tài năng cầm quân của Trần Quốc Tuấn, chờ đợi chiến thắng trong cuộc chiến chống giặc Nguyên - Mông.
D. Cả A,B,C.
Câu 6. Em hiểu thế nào về lời hứa của Trần Quốc Tuấn với vua: Lão thần thề không để nhục mệnh của bệ hạ.
A. Trần Quốc Tuấn quyết tâm không thể hiện tài năng, chứng tỏ bản thân mình cho vua xem
B. Trần Quốc Tuấn tự tin và thể hiện quyết tâm mang về chiến thắng để báo đáp niềm tin tưởng của vua.
C. Trần Quốc Tuấn hứa hẹn chiến thắng quân giặc.
D. Trần Quốc Tuấn tự tin sẽ bảo vệ danh dự cho vua, quyết tâm bảo vệ hoàng cung, không phụ lòng mong mỏi của vua.
Câu 7. “Trần Quốc Tuấn thấy tất cả sức mạnh của dân tộc từ nghìn xưa truyền lại nâng cao tâm hồn ông lên khiến cho hai vai ông dư sức gánh sứ mệnh nặng nề”. Câu văn này gợi đến tâm trạng, cảm xúc gì của Trần Quốc Tuấn?
A. Trần Quốc Tuấn cảm nhận được sức mạnh của dân tộc và niềm hứng khởi khi đón nhận sứ mệnh vua ban.
B. Trần Quốc Tuấn thấy vui vẻ.
C. Trần Quốc Tuấn thấy ai cũng đáng tin yêu
D. Trần Quốc Tuấn thấy dân tộc mình thật kiên cường.
Câu 8. Có thể hiểu câu dặn dò của vua với Trần Quốc Tuấn "Trọng phụ tuổi đã cao, xin vì trẫm, vì đất nước và trăm họ mà giữ gìn sức khỏe” như thế nào?
A. Vua đã già không thể gánh vác đất nước, mọi sự nhờ cậy vào Trần Quốc Tuấn
B. Vua mong Trần Quốc Tuấn biết bảo trọng thân thể vì vua, vì đất nước.
C. Vua thấy Trần Quốc Tuấn tuổi cao, sức yếu nên cần giữ gìn sức khoẻ.
D. Cả A, B, C
Trả lời câu hỏi:
Câu 9. Em hãy nêu nhận xét của mình về vị tướng già Trần Quốc Tuấn?
Câu 10. Qua văn bản và cách biểu hiện của các nhân vật, em rút ra được bài học gì cho bản thân?
PHẦN II. VIẾT (4.0 điểm)
Trong nhiều chuyến đi tham quan, trải nghiệm của em, em hãy viết bài văn kể lại một chuyến đi ấn tượng nhất cho bạn bè và thầy cô được biết.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
C |
D |
D |
A |
C |
B |
A |
D |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Xác định các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên. A. Tự sự, biểu cảm, nghị luận B. Tự sự, nghị luận, miêu tả C. Tự sự, miêu tả, biểu cảm D. Tự sự, thuyết minh, nghị luận |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Xác định phương thức biểu đạt
Lời giải chi tiết:
Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên: Tự sự, miêu tả, biểu cảm
→ Đáp án: C
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Vua Trần Nhân Tông gửi gắm với Trần Quốc Tuấn vấn đề trọng đại gì? A. Trao kiếm B. Dặn dò nhiều điều C. Trọng phụ tuổi đã cao, xin vì trẫm, vì đất nước và trăm họ mà giữ gìn sức khỏe. D. Từ nay việc an nguy của giang sơn xã tắc trẫm xin trao cho Quốc công. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Xác định vấn đề trọng đại mà Vua Trần Nhân Tông gửi gắm.
Lời giải chi tiết:
Vua Trần Nhân Tông gửi gắm với Trần Quốc Tuấn vấn đề trọng đại: Từ nay việc an nguy của giang sơn xã tắc trẫm xin trao cho Quốc công.
→ Đáp án: D
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Vua ban vật quý gì cho Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Tuấn sẽ có quyền gì? A. Rượu quý, quyền lãnh đạo ba quân. B. Ban kiếm Thượng Phương , quyền gặp vua bất cứ lúc nào. C. Áo choàng, quyền quản lí quân sĩ. D. Ban kiếm Thượng Phương, quyền chém trước tâu sau. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Vua ban kiếm Thượng Phương, quyền chém trước tâu sau.
→ Đáp án: D
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Tại sao không khí buổi lễ tế cờ xuất sư được miêu tả trang trọng đến tức thở? A. Vì đây là buổi lễ quan trọng chuẩn bị cho cuộc chiến chống lại quân Nguyên - Mông xâm lược. B. Vì đây là buổi lễ quan trọng chuẩn bị cho việc lên ngôi của Trần Quốc Tuấn. C. Vì đây là buổi lễ quan trọng của hoàng cung. D. Vì đây là buổi chia tay sinh tử. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời
Lời giải chi tiết:
Không khí buổi lễ tế cờ xuất sư được miêu tả trang trọng đến tức thở vì: đây là buổi lễ quan trọng chuẩn bị cho cuộc chiến chống lại quân Nguyên - Mông xâm lược.
→ Đáp án: A
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Sự việc vua trao cho Trần Quốc Tuấn quyền chém trước tâu sau cho ta thấy vua là người như thế nào? A. Vua rất anh minh B. Vua rất tin tưởng Trần Quốc Tuấn C. Vua rất tin tưởng vào tài năng cầm quân của Trần Quốc Tuấn, chờ đợi chiến thắng trong cuộc chiến chống giặc Nguyên - Mông. D. Cả ba đáp án trên. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời
Lời giải chi tiết:
Sự việc vua trao cho Trần Quốc Tuấn quyền chém trước tâu sau cho ta thấy vua là người rất anh minh, tin tưởng vào tài năng cầm quân của Trần Quốc Tuấn, chờ đợi chiến thắng trong cuộc chiến chống giặc Nguyên - Mông.
→ Đáp án: D
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Em hiểu thế nào về lời hứa của Trần Quốc Tuấn với vua: Lão thần thề không để nhục mệnh của bệ hạ. A. Trần Quốc Tuấn quyết tâm không thể hiện tài năng, chứng tỏ bản thân mình cho vua xem B. Trần Quốc Tuấn tự tin và thể hiện quyết tâm mang về chiến thắng để báo đáp niềm tin tưởng của vua. C. Trần Quốc Tuấn hứa hẹn chiến thắng quân giặc. D. Trần Quốc Tuấn tự tin sẽ bảo vệ danh dự cho vua, quyết tâm bảo vệ hoàng cung, không phụ lòng mong mỏi của vua. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Lời hứa của Trần Quốc Tuấn với vua: Lão thần thề không để nhục mệnh của bệ hạ cho thấy Trần Quốc Tuấn rất tự tin và tinh thần quyết tâm mang về chiến thắng để báo đáp niềm tin tưởng của vua.
→ Đáp án: D
Câu 7 (0.5 điểm)
|
“Trần Quốc Tuấn thấy tất cả sức mạnh của dân tộc từ nghìn xưa truyền lại nâng cao tâm hồn ông lên khiến cho hai vai ông dư sức gánh sứ mệnh nặng nề”. Câu văn này gợi đến tâm trạng, cảm xúc gì của Trần Quốc Tuấn? A. Trần Quốc Tuấn cảm nhận được sức mạnh của dân tộc và niềm hứng khởi khi đón nhận sứ mệnh vua ban. B. Trần Quốc Tuấn thấy vui vẻ. C. Trần Quốc Tuấn thấy ai cũng đáng tin yêu D. Trần Quốc Tuấn thấy dân tộc mình thật kiên cường. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý tâm trạng, cảm xúc của Trần Quốc Tuấn
Lời giải chi tiết:
Câu văn này gợi đến tâm trạng, cảm xúc của Trần Quốc Tuấn: Trần Quốc Tuấn cảm nhận được sức mạnh của dân tộc và niềm hứng khởi khi đón nhận sứ mệnh vua ban.
→ Đáp án: A
Câu 8 (0.5 điểm)
|
Có thể hiểu câu dặn dò của vua với Trần Quốc Tuấn "Trọng phụ tuổi đã cao, xin vì trẫm, vì đất nước và trăm họ mà giữ gìn sức khỏe” như thế nào? A. Vua đã già không thể gánh vác đất nước, mọi sự nhờ cậy vào Trần Quốc Tuấn B. Vua mong Trần Quốc Tuấn biết bảo trọng thân thể vì vua, vì đất nước. C. Vua thấy Trần Quốc Tuấn tuổi cao, sức yếu nên cần giữ gìn sức khoẻ. D. Cả A, B, C |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng cách hiểu của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Có thể hiểu câu dặn dò của vua: Vua mong Trần Quốc Tuấn biết bảo trọng thân thể vì vua, vì đất nước.
→ Đáp án: B
Câu 9 (1.0 điểm)
|
Em hãy nêu nhận xét của mình về vị tướng già Trần Quốc Tuấn? |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng cách hiểu của bản thân để trả lời câu hỏi
Lời giải chi tiết:
Trần Quốc Tuấn là một vị tướng giỏi, uy nghi, dũng mãnh. Ông được các vua thời Trần tín nhiệm, nhân dân yêu mến, là con người suốt cả đời theo nghiệp nhà binh, bảo vệ đất nước bao phen khỏi kẻ thù xâm lược, đã từng đánh thắng giặc Nguyên Mông lần thứ nhất vào năm 1257, lần thứ hai vào năm 1285, lần thứ ba vào năm 1288.
Câu 10 (1.0 điểm)
|
Qua văn bản và cách biểu hiện của các nhân vật, em rút ra được bài học gì cho bản thân? |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
HS rút ra 2 đến 3 bài học có ý nghĩa cho bản thân, phù hợp chuẩn mực đạo đức.
Gợi ý:
- Chúng ta cần phải sống và làm việc hết mình vì đất nước.
- Phải đặt lợi ích, vận mệnh dân tộc lên mọi lợi ích khác.
- Dù là ở cương vị cao hơn cũng luôn phải tôn trọng người lớn tuổi, người có tài.
- Khi làm việc gì cũng luôn cần sự tự tin và quyết tâm.
PHẦN II –LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1 (4 điểm):
|
Viết bài văn kể lại một chuyến đi tham quan, trải nghiệm mà em ấn tượng nhất. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn kể lại một chuyến đi tham quan, trải nghiệm mà em ấn tượng nhất |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận - Nêu được nêu tên một chuyến đi có ý nghĩa mà em đã tham gia |
|
Thân bài |
2,5 |
Lần lượt kể lại chuyến đi theo trình tự nhất định: - Nêu mục đích của chuyến đi, lí do em tham gia chuyến đi đó. - Kể về hình thức tổ chức hoạt động của chuyến đi (thành phần tham gia, thời gian, địa điểm,…). - Kể về quá trình tiến hành chuyến đi (bắt đầu, hoạt động chính, kết thúc). - Nêu kết quả, ý nghĩa của chuyến đi, nêu cảm xúc, tâm trạng của em sau chuyến đi (về vật chất và về tinh thần) Lưu ý: Kết hợp với các yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị luận để kể lại.
|
|
Kết bài |
0,5 |
Khẳng định ý nghĩa và bài học sau khi tham gia chuyến đi |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận - Diễn đạt rõ ràng, gãy gọn, có yếu tố biểu cảm. Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Sử dụng từ ngữ, câu văn có sự liên kết các luận điểm, giữa bằng chứng và lí lẽ đảm bảo sự mạch lạc. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 8 Kết nối tri thức - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ
Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa lẩn trống đồn.
Gác mái, ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốn trang đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?
( Bà Huyện Thanh Quan)
Khoanh tròn vào đáp án đúng:
Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
A. Thất ngôn
B. Bảy chữ
C. Thất ngôn bát cú
D. Thất ngôn tứ tuyệt
Câu 2. Đâu không phải là từ Hán Việt được sử dụng trong bài thơ?
A. Lảng bảng
B. Hoàng hôn
C. Ngư ông
D. Gió cuốn
Câu 3. Từ “cô thôn” trong câu “Gõ sừng, mục tử lại cô thôn” có nghĩa là:
A. Người con gái ở vùng quê
B. Vùng quê hẻo lánh
C. Người con gái cô đơn
D. Người chăn trâu ở vùng quê hẻo lánh.
Câu 4. Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ là gì?
A.Vui mừng, phấn khởi
B. Xót xa, sầu tủi
C. Buồn, ngậm ngùi
D. Cả ba phương án trên
Câu 5. Nội dung của bài thơ là gì?
A. Tâm trạng buồn lê thê, một niềm sầu thương tê tái của người lữ khách đi xa nhớ nhà, nhớ quê hương da diết.
B. Tâm trạng hân hoan, vui sướng khi nhớ về quê nhà
C. Nhớ tiếc một thời vàng son của Thăng Long cũng là trở về cội nguồn của dân tộc, tự hào về sức sống và nền văn hiến Đại Việt
D. Hoài niệm về những tàn dư thủa trước
Câu 6. Nhận định nào sau đây đúng nhất về thơ của Bà Huyện Thanh Quan?
A. Trang nhã, đậm chất bác học và thấm đẫm niềm hoài cổ.
B. Trẻ trung, mạnh mẽ đầy hơi thở dân gian.
C. Ngôn ngữ bình dị, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày.
D. Trang nhã, đậm chất bác học.
Câu 7. Em có nhận xét gì về nghệ thuật đặc sắc của bài thơ Chiều hôm nhớ nhà?
A. Kết cấu bài thơ phù hợp với tâm trạng chủ thể trữ tình
B. Thủ pháp nghệ thuật phóng đại được sử dụng hiệu quả
C. Lời thơ trang nhã, sử dựng nhiều từ Hán Việt, giọng thơ man mác, hoài cổ
D. Ngôn ngữ thơ Nôm bình dị, hình ảnh gợi cảm, giàu màu sắc, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc
Câu 8. Căn cứ vào nội dung bài thơ cho thấy rõ nhất điều gì ở nhân vật trữ tình?
A. Lòng tự trọng
B. Yêu nhà, yêu quê hương
C. Sự hoài cổ
D. Khát khao tình yêu mãnh liệt.
Câu 9. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ trong các câu thơ sau:
Gác mái, ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Câu10. Từ nội dung của bài thơ, em hãy nêu rõ vai trò của quê hương đối với mỗi người. (Trả lời khoảng 5-7 dòng)
Phần II. Viết (4,0 điểm)
Viết bài văn phân tích bài thơ Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan .
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
C |
D |
B |
C |
A |
A |
C |
B |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Bài thơ được viết theo thể thơ nào? A. Thất ngôn B. Bảy chữ C. Thất ngôn bát cú D. Thất ngôn tứ tuyệt |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Xác định thể thơ
Lời giải chi tiết:
Bài thơ được viết theo thể thơ: Thất ngôn bát cú
→ Đáp án: C
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Đâu không phải là từ Hán Việt được sử dụng trong bài thơ? A. Lảng bảng B. Hoàng hôn C. Ngư ông D. Gió cuốn |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Xác định các từ Hán Việt có trong bài thơ
Lời giải chi tiết:
Từ không phải là từ Hán Việt là: Gió cuốn
→ Đáp án: D
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Từ “cô thôn” trong câu “Gõ sừng, mục tử lại cô thôn” có nghĩa là: A. Người con gái ở vùng quê B. Vùng quê hẻo lánh C. Người con gái cô đơn D. Người chăn trâu ở vùng quê hẻo lánh. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Giải nghĩa của từ
Lời giải chi tiết:
Từ “cô thôn” trong câu “Gõ sừng, mục tử lại cô thôn” có nghĩa là: Vùng quê hẻo lánh.
→ Đáp án: B
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ là gì? A.Vui mừng, phấn khởi B. Xót xa, sầu tủi C. Buồn, ngậm ngùi D. Cả ba phương án trên |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Xác định tâm trạng của nhân vật trữ tình
Lời giải chi tiết:
Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ là: Buồn, ngậm ngùi
→ Đáp án: C
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Nội dung của bài thơ là gì? A. Tâm trạng buồn lê thê, một niềm sầu thương tê tái của người lữ khách đi xa nhớ nhà, nhớ quê hương da diết. B. Tâm trạng hân hoan, vui sướng khi nhớ về quê nhà C. Nhớ tiếc một thời vàng son của Thăng Long cũng là trở về cội nguồn của dân tộc, tự hào về sức sống và nền văn hiến Đại Việt |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Xác định nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Nội dung của bài thơ là: Tâm trạng buồn lê thê, một niềm sầu thương tê tái của người lữ khách đi xa nhớ nhà, nhớ quê hương da diết.
→ Đáp án: A
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Nhận định nào sau đây đúng nhất về thơ của Bà Huyện Thanh Quan? A. Trang nhã, đậm chất bác học và thấm đẫm niềm hoài cổ. B. Trẻ trung, mạnh mẽ đầy hơi thở dân gian. C. Ngôn ngữ bình dị, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày. D. Trang nhã, đậm chất bác học. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Nhận định đúng nhất về thơ của Bà Huyện Thanh Quan: Trang nhã, đậm chất bác học và thấm đẫm niềm hoài cổ.
→ Đáp án: A
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Em có nhận xét gì về nghệ thuật đặc sắc của bài thơ Chiều hôm nhớ nhà? A. Kết cấu bài thơ phù hợp với tâm trạng chủ thể trữ tình B. Thủ pháp nghệ thuật phóng đại được sử dụng hiệu quả C. Lời thơ trang nhã, sử dựng nhiều từ Hán Việt, giọng thơ man mác, hoài cổ D. Ngôn ngữ thơ Nôm bình dị, hình ảnh gợi cảm, giàu màu sắc, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Rút ra bài học có ý nghĩa
Lời giải chi tiết:
Nghệ thuật đặc sắc của bài thơ Chiều hôm nhớ nhà: Lời thơ trang nhã, sử dựng nhiều từ Hán Việt, giọng thơ man mác, hoài cổ.
→ Đáp án: A
Câu 8 (0.5 điểm)
|
Căn cứ vào nội dung bài thơ cho thấy rõ nhất điều gì ở nhân vật trữ tình? A. Lòng tự trọng B. Yêu nhà, yêu quê hương C. Sự hoài cổ D. Khát khao tình yêu mãnh liệt. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng cách hiểu của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Căn cứ vào nội dung bài thơ cho thấy nhân vật trữ tình là người yêu nhà, yêu quê hương.
→ Đáp án: B
Câu 9 (1.0 điểm)
|
Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ trong các câu thơ sau: Gác mái, ngư ông về viễn phố, |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi
Lời giải chi tiết:
- HS chỉ rõ và nêu được tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ.
- Đảo ngữ: Gác mái – ngư ông, Gõ sừng – mục tử.
- Tác dụng:
+ Động từ "gác mái" biểu đạt một tâm thế nhàn của ngư ông đang sống ở miền quê, đã thoát vòng danh lợi. Đảo vị ngữ “ Gác mái” càng nhấn mạnh sự nghỉ ngơi thư thái của ngư ông.
+ “Gõ sừng” cũng được đảo ra phía trước để nhấn mạnh cử động của mục tử (người chăn trâu) nhưng là cử động trở về, nghỉ ngơi .
→ Tóm lại, hai câu thực đã thể hiện một cách tài hoa chủ đề “ chiều hôm nhớ nhà”, tạo nên không khí tĩnh lặng, cảnh chiều thêm tĩnh mịch và ẩn chứa một nỗi niềm man mác, bâng khuâng của lòng người.
Câu 10 (1.0 điểm)
|
Từ nội dung của bài thơ, em hãy nêu rõ vai trò của quê hương đối với mỗi người. (Trả lời khoảng 5-7 dòng) |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
- HS nêu vai trò của quê hương đối với mỗi người.
- Yêu cầu hình thức: Viết thành đoạn văn, đủ số câu, không xuống dòng.
Gợi ý:
- Quê hương chính là nơi chôn nhau cắt rốn của ta, là nơi nuôi ta lớn lên với biết bao kỉ niệm chẳng thể phai nhòa.
- Quê hương dạy ta biết lớn khôn và trưởng thành . Quê hương cho ta những năm tháng tuổi thơ tuyệt vời mà suốt hành hình trình trưởng thành ta không bao giờ tìm lại được.
- Quê hương ấy, những con người quen thuộc ấy sẽ theo dấu chân ta trên suốt quãng đời của mình ...
PHẦN II –LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1 (4 điểm):
|
Viết bài văn phân tích bài thơ Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn phân tích bài thơ Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu khái quát về Bà Huyện Thanh Quan. - Giới thiệu khái quát về bài thơ Chiều hôm nhớ nhà.
|
|
Thân bài |
2,5 |
Nội dung: - Ở bài thơ, ta bắt gặp một quang cảnh buồn, hoang vắng, cô tịch. Đó là cảnh buổi hoàng hôn tím sẫm, cái khoảng không gian và thời gian buồn, gợi nhớ nhất trong một ngày. - Xuất hiện hình ảnh con người nhưng chỉ thoáng bóng thôi, và quang cảnh chỉ có thế. Đó là những người dân lao động nghèo, vất vả làm ăn, sinh hoạt của họ thật tẻ nhạt, thiếu sinh động. - Bà luôn hoài cổ để chối bỏ thực tại và bày tỏ sự chán ghét thực tại. Đó là nỗi nhớ nước, nhớ nhà bà luôn giấu kín trong lòng. - Trước cảnh, bà bộc lộ được niềm tâm sự của mình, một tâm sự hoài cổ, đầy nuối tiếc, muốn níu giữ những kỉ niệm xa xưa. Nghệ thuật: - Bài thơ đã đạt đến sự chuẩn mực trong việc sử dụng thể thơ Đường luật. - Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình được sử dụng tài năng và đem đến hiệu quả nghệ thuật to lớn. - Nghệ thuật đảo ngữ, chơi chữ cùng việc sử dụng các từ láy. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề
|
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận - Diễn đạt rõ ràng, gãy gọn, có yếu tố biểu cảm. Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Sử dụng từ ngữ, câu văn có sự liên kết các luận điểm, giữa bằng chứng và lí lẽ đảm bảo sự mạch lạc. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 8 Kết nối tri thức - Đề số 4
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
THỎ VÀ RÙA
Ngày xưa, thỏ lúc nào cũng cười mũi con rùa về sự chậm chạp. Nhưng rùa thì dằn lòng trước sự khoe khoang của thỏ. Một hôm, trước đông đủ bá thú, rùa thách thỏ chạy thi. Thỏ trả lời:
- Ðừng có đùa dai! Bạn không biết là tôi có thể chạy cả chục vòng quanh bạn hay sao.
Rùa mỉm cười:
- Không cần nhiều lời. Muốn biết ai nhanh thì cứ việc thi.
Thế là trường đua được vạch ra. Con cáo làm trọng tài. Nó hú ba tiếng là cuộc thi bắt đầu. Thoắt một cái, con thỏ đã biến mất. Con rùa cứ chậm chạp bước theo. Các thú khác ở dọc đường cổ vũ. Một lúc sau, thỏ đứng lại đợi rùa, nhân tiện diễu chơi cho bõ ghét. Ðợi một lúc mà rùa vẫn chưa tới. Thỏ vừa thiêm thiếp vừa lẩm bẩm:
- Ta cứ chợp mắt một tí trên bãi cỏ này. Khi trời mát xuống ta sẽ chạy tiếp cũng chẳng muộn gì!
Thế rồi nó dạng chân, duỗi tay, nhắm mắt ngủ ngon lành. Một lúc sau, con rùa ì ạch bò tới. Nó bỏ qua chỗ con thỏ đang ngủ say, rồi đến được mức cuối. Tiếng reo hò náo nhiệt. Lúc đó, con thỏ vừa mở mắt. Biết mình thua cuộc, thỏ xấu hổ trốn vào rừng.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính
A. Biểu cảm
B. Miêu tả
C. Nghị luận
D. Tự sự
Câu 2. Truyện “Thỏ và rùa” kể theo ngôi thứ mấy?
A. Ngôi kể thứ nhất.
B. Ngôi kể thứ hai.
C. Ngôi kể thứ ba.
D. Ngôi kể thứ tư.
Câu 3. Đâu không phải là từ tượng hình được sử dụng trong văn bản?
A. Thiêm thiếp
B. Chậm chạp
C. Trường đua
D. Lẩm bẩm
Câu 4. Nhận xét nào sau đây đúng với truyện Thỏ và Rùa?
A. Giải thích nguyên nhân của sự chủ quan, kiêu ngạo.
B. Ca ngợi tình cảm cộng đồng bền chặt, sự chăm chỉ, nỗ lực.
C. Bài học về cách nhìn sự việc, cách ứng xử của con người.
D. Giải thích nguyên nhân sự chăm chỉ và tự tin của rùa.
Câu 5. Truyện xoay quanh sự việc nào?
A. Thỏ và rùa thách nhau chạy thi.
B. Thỏ khinh thường rùa chậm chạp.
C. Rùa cần mẫn chăm chỉ nỗ lực thi chạy.
D. Cuộc thi chạy giữa thỏ và rùa.
Câu 6. Hành động của thỏ trong tác phẩm thể hiện tính cách gì?
A. Kiêu ngạo, chủ quan.
B. Khinh thường, nhanh nhẹn.
C. Chủ quan, chậm chạp.
D. Tự tin, nhanh nhẹn.
Câu 7. Xác định nghĩa của phó từ “đã, đang, vẫn, cứ” trong văn bản?
A. Chỉ thời gian, sự tiếp diễn.
B. Chỉ không gian, sự tiếp diễn.
C. Chỉ thời gian, sự phủ định.
D. Chỉ thời gian, kết quả.
Câu 8. “Ngày xưa, một hôm, một lúc sau, lúc đó” có gì?
A. Trạng ngữ chỉ thời gian, cách thức trong truyện.
B. Trạng ngữ chỉ thời gian, không gian trong truyện.
C. Trạng ngữ chỉ nơi chốn, cách thức trong truyện.
D. Trạng ngữ chỉ thời gian, nguyên nhân trong truyện
Câu 9. Thông điệp cuộc sống mà văn bản gợi cho em là gì?
Câu 10. Có bạn cho rằng: bài học vẫn không có gì thay đổi, nếu thay hai nhân vật thỏ và rùa trong truyện bằng hai nhân vật đều là thỏ hoặc hai nhân vật đều là rùa chạy thi với nhau; và vì một lí do nào đó, con vật tưởng là yếu hơn, chậm hơn đã giành chiến thắng. Em có đồng ý như vậy không? Vì sao?
Phần II. Viết (4,0 điểm)
Ngạn ngữ có câu: “Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian không mua được. Thế mới biết vàng có giá mà thời gian là vô giá.”
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
D |
C |
C |
C |
D |
A |
A |
B |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Xác định phương thức biểu đạt chính A. Biểu cảm B. Miêu tả C. Nghị luận D. Tự sự |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Xác định phương thức biểu đạt chính
Lời giải chi tiết:
Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
→ Đáp án: D
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Truyện “Thỏ và rùa” kể theo ngôi thứ mấy? A. Ngôi kể thứ nhất. B. Ngôi kể thứ hai. C. Ngôi kể thứ ba. D. Ngôi kể thứ tư. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Xác định ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Truyện “Thỏ và rùa” kể theo ngôi thứ ba
→ Đáp án: C
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Đâu không phải là từ tượng hình được sử dụng trong văn bản? A. Thiêm thiếp B. Chậm chạp C. Trường đua D. Lẩm bẩm |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Xác định từ tượng hình
Lời giải chi tiết:
Từ tượng hình được sử dụng trong văn bản: Thiêm thiếp, chậm chạp, lẩm bẩm
→ Đáp án: C
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Nhận xét nào sau đây đúng với truyện Thỏ và Rùa? A. Giải thích nguyên nhân của sự chủ quan, kiêu ngạo. B. Ca ngợi tình cảm cộng đồng bền chặt, sự chăm chỉ, nỗ lực. C. Bài học về cách nhìn sự việc, cách ứng xử của con người. D. Giải thích nguyên nhân sự chăm chỉ và tự tin của rùa. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời
Lời giải chi tiết:
Nhận xét đúng với truyện Thỏ và Rùa: . Bài học về cách nhìn sự việc, cách ứng xử của con người.
→ Đáp án: C
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Truyện xoay quanh sự việc nào? A. Thỏ và rùa thách nhau chạy thi. B. Thỏ khinh thường rùa chậm chạp. C. Rùa cần mẫn chăm chỉ nỗ lực thi chạy. D. Cuộc thi chạy giữa thỏ và rùa. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Xác định sự việc chính
Lời giải chi tiết:
Truyện xoay quanh sự việc: Cuộc thi chạy giữa thỏ và rùa.
→ Đáp án: D
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Hành động của thỏ trong tác phẩm thể hiện tính cách gì? A. Kiêu ngạo, chủ quan. B. Khinh thường, nhanh nhẹn. C. Chủ quan, chậm chạp. D. Tự tin, nhanh nhẹn. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Hành động của thỏ trong tác phẩm thể hiện tính cách kiêu ngạo, chủ quan
→ Đáp án: A
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Xác định nghĩa của phó từ “đã, đang, vẫn, cứ” trong văn bản? A. Chỉ thời gian, sự tiếp diễn. B. Chỉ không gian, sự tiếp diễn. C. Chỉ thời gian, sự phủ định. D. Chỉ thời gian, kết quả. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Xác định nghĩa của các phó từ
Lời giải chi tiết:
Nghĩa của phó từ “đã, đang, vẫn, cứ” trong văn bản: Chỉ thời gian, sự tiếp diễn.
→ Đáp án: A
Câu 8 (0.5 điểm)
|
“Ngày xưa, một hôm, một lúc sau, lúc đó” có gì? A. Trạng ngữ chỉ thời gian, cách thức trong truyện. B. Trạng ngữ chỉ thời gian, không gian trong truyện. C. Trạng ngữ chỉ nơi chốn, cách thức trong truyện. D. Trạng ngữ chỉ thời gian, nguyên nhân trong truyện. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng cách hiểu của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
“Ngày xưa, một hôm, một lúc sau, lúc đó” có ý nghĩa
→ Đáp án: B
Câu 9 (1.0 điểm)
|
Thông điệp cuộc sống mà văn bản gợi cho em là gì? |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi
Lời giải chi tiết:
- HS nêu được thông điệp cuộc sống mà văn bản gợi ra.
- Lí giải được lí do nêu thông điệp ấy.
Gợi ý:
- Cần phải kiên trì, nỗ lực, dù gặp khó khăn cũng không được từ bỏ
- Không được kiêu ngạo, khinh thường người khác…
Câu 10 (1.0 điểm)
|
Có bạn cho rằng: bài học vẫn không có gì thay đổi, nếu thay hai nhân vật thỏ và rùa trong truyện bằng hai nhân vật đều là thỏ hoặc hai nhân vật đều là rùa chạy thi với nhau; và vì một lí do nào đó, con vật tưởng là yếu hơn, chậm hơn đã giành chiến thắng. Em có đồng ý như vậy không? Vì sao? |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
- HS có thể đồng tình/không đồng tình/ vừa đồng tình vừa không đồng tình nhưng phải lí giải hợp lý
Gợ ý:
- Đồng ý vì chăm chỉ, tự tin sẽ giúp đến đích sớm hơn; kiêu ngạo, chủ quan sẽ thất bại, hơn thua ở việc làm, hành động thực tế, không ở lời nói suông; …
PHẦN II –LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1 (4 điểm):
|
Ngạn ngữ có câu: “Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian không mua được. Thế mới biết vàng có giá mà thời gian là vô giá." Viết bài văn trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của em về ý kiến: “Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian không mua được. Thế mới biết vàng có giá mà thời gian là vô giá." |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận. |
|
Thân bài |
2,5 |
HS triển khai vấn đề theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; sau đây là một số gợi ý: Giải thích: - Thời gian là vàng: sự quý giá của thời gian sánh ngang với vật phẩm giá trị cao là vàng. - Vàng mua được: Nhấn mạnh tính vật chất, cụ thể, hữu hình của vàng. Đó là dạng vật chất có thể mua được, trao đổi được trên thị trường, tính bằng sự cụ thể, mua bằng tiền. - Thời gian không mua được: đây chính là sự đối lập giữa thời gian và vàng. Thời gian là vô hình, không thể nắm bắt, mất đi không lấy lại được, không thể mua được bằng tiền. → Ý cả câu: Nhấn mạnh tầm quan trọng của thời gian, sự quý báu của việc trân trọng thời gian, giá trị của thời gian là không có gì sánh bằng. Phân tích, bình luận: - Thời gian là vàng bởi thời gian được tính bằng giây, phút, giờ, tháng, năm… nó luôn tiếp diễn theo dòng tuần hoàn của cuộc sống chứ không dừng lại. - Thời gian giúp con người ta khôn lớn, trưởng thành, giúp ta biết lao động, làm mọi việc cần thiết trong cuộc sống. Nó tạo ra giá trị tiền bạc dưới bàn tay lao động của con người - Thời gian là vô giá bởi nó có tính chất một đi không trở lại, như mũi tên đã bắt đi nên không lấy lại được. - Thời gian là vô giá bởi nó sẽ đem lại con người biết trân trọng nó, sử dụng nó hợp lý đạt đến vinh quang, niềm vui và hạnh phúc. Thời gian là báu vật của cuộc sống. - Phê phán những người lãng phí thời gian, không biết trân trọng nó khiến con người sẽ có cảm giác nuối tiếc, hụt hẫng về những giá trị đã qua. Rút ra bài học về nhận thức, liên hệ bản thân: - Biết quý trọng thời gian chính là biết quý trọng những giá trị của cuộc sống. - Cần phải có ý thức được giá trị của thời gian, sống đẹp trong từng ngày của hiện tại, trân trọng từng phút, giây. - Biết quý trọng thời gian không có nghĩa là sống vội, sống gấp, sống chỉ biết tận hưởng mỗi ngày.
|
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề
|
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận - Diễn đạt rõ ràng, gãy gọn, có yếu tố biểu cảm. Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Sử dụng từ ngữ, câu văn có sự liên kết các luận điểm, giữa bằng chứng và lí lẽ đảm bảo sự mạch lạc. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 8 Kết nối tri thức - Đề số 5
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Tháng 6, ngày 24, sao sa.
Hưng Đạo Vương ốm. Vua ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?”
Hưng Đạo Vương trả lời:
- Ngày xưa Triệu Vũ dựng nước, vua Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã, đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời Đinh, Lê dùng người tài giỏi, đất phương Nam mới mạnh mà phương Bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy.
Quốc Tuấn là con An Sinh Vương, lúc mới sinh ra, có một thầy tướng xem cho và bảo: “Người này ngày sau có thể giúp nước cứu đời”. Đến khi lớn lên, dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, đọc rộng các sách, có tài văn võ. An Sinh Vương trước đây vốn có hiềm khích với Chiêu Lăng, mang lòng hậm hực, tìm khắp những người tài nghệ để dạy Quốc Tuấn. Lúc sắp mất, An Sinh cầm tay Quốc Tuấn giối giăng rằng:
- Con mà không vì cha lấy được thiên hạ thì cha dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.
Quốc Tuấn ghi để điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải.
Đến khi vận nước ở trong tay, quyền quân quyền nước đều do ở mình, ông đem lời cha dặn nói với gia nô là Dã Tượng, Yết Kiêu. Hai người gia nô can ông:
- Làm kế ấy tuy được phú quý một thời mà để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay đại vương há chẳng đủ phú quý hay sao? Chúng tôi xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xin lấy người ta làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi!
Quốc Tuấn cảm phục đển khóc, khen ngợi hai người.
Một hôm Quốc Tuấn vờ hỏi con ông là Hưng Vũ Vương:
- Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào?
Hưng Vũ Vương trả lời:
- Dẫu khác họ cũng còn không nên, huống chi là cùng một họ!
Quốc Tuấn ngẫm cho là phải.
Lại một hôm Quốc Tuấn đem chuyện ấy hỏi người con thứ là Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng. Quốc Tảng tiến lên thưa:
- Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ.
Quốc Tuấn rút gươm kể tội:
- Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra.
Định giết Quốc Tảng. Hưng Vũ Vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Quốc Tuấn mới tha. Đến đây, ông dặn Hưng Vũ Vương:
- Sau khi ta chết, đậy nắp quân tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng.
Mùa thu, tháng 8, ngày 20, Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn mất ở phủ đệ Vạn Kiếp, được tặng thái sư Thương phụ Thượng quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương.
Thánh Tông có soạn bài văn bia ở sinh từ của Quốc Tuấn, ví ông với Thượng phụ ngày xưa. Lại vì ông có công lao lớn, gia phong là Thượng quốc công, cho phép ông được quyền phong tước cho người khác, từ Minh tự trở xuống, chỉ có tước Hầu thì phong trước rồi tâu sau. Nhưng Quốc Tuấn chưa bao giờ phong tước cho một người nào. Khi giặc Hồ vào cướp, Quốc Tuấn lệnh cho nhà giàu bỏ thóc ra cấp lương quân, mà cũng chỉ cho họ làm lang tướng giả chứ không dám cho họ tước lang tướng thực, ông kính cẩn giữ tiết làm tôi như vậy đấy.
Quốc Tuấn lại từng soạn sách để khích lệ tướng sĩ dưới quyền, dẫn chuyện Kỉ Tín chết thay để thoát Hán Cao, Do Vu giơ lưng chịu giáo để cứu Sở Tử. Thế là dạy đạo trung đó.
Khi sắp mất, ông dặn con rằng:
- Ta chết thì phải hỏa táng, lấy vật tròn đựng xương, bí mật chôn trong vườn An Lạc, rồi san đất và trồng cây như cũ, để người đời không biết chỗ nào, lại phải làm sao cho mau mục.
Quốc Tuấn giữ Lạng Giang, người Nguyên hai lần vào cướp, ông liên tiếp đánh bại chúng, sợ sau này có thể xảy ra tai họa đào mả chăng. Ông lo nghĩ tới việc sau khi mất như thế đấy.
Ông lại khéo tiến cử người tài giỏi cho đất nước, như Dã Tượng, Yết Kiêu là gia thần của ông, có dự công dẹp Ô Mã Nhi, Toa Đô. Bọn Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực vốn là môn khách của ông, đều nổi tiếng thời đó về văn chương và chính sự, bởi vì ông có tài mưu lược, anh hùng, lại một lòng giữ gìn trung nghĩa vậy. Xem như khi Thánh Tông vờ bảo Quốc Tuấn rằng: “Thế giặc như vậy, ta phải hàng thôi”, Quốc Tuấn trả lời: “Bệ hạ chém đầu tôi trước rồi hãy hàng”. Vì thế, đời Trùng Hưng lập nên công nghiệp hiếm có. Tiếng vang đến giặc Bắc, chúng thường gọi ông là An Nam Hưng Đạo Vương mà không dám gọi tên. Sau khi mất rồi, các châu huyện ở Lạng Giang hễ có tai nạn, dịch bệnh, nhiều người cầu đảo ông. Đến nay, mỗi khi đất nước có giặc vào cướp, đến lễ ở đền ông, hễ tráp dựng kiếm có tiếng kêu thì thế nào cũng thắng lớn.
(Trích Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn)
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là?
A. Miêu tả
B. Tự sự
C. Biểu cảm
D. Nghị luận
Câu 2. Xác định các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn: Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được
A. So sánh, điệp ngữ, nhân hoá
B. So sánh, liệt kê, ẩn dụ
C. Điệp từ, liệt kê, so sánh
D. So sánh
Câu 3. Vì sao Quốc Tuấn khi nghe những lời “giối giăng” của cha thì dấu kín trong lòng, chỉ đến khi vận nước ở trong tay, quyền quân, quyền nước đều do ở mình ông mới đem lời cha dặn nói với gia nô Dã Tượng, Yết Kiêu?
A. Vì muốn thử lòng các gia nô dưới quyền mình.
B. Vì muốn thử lòng mình, và muốn làm vơi đi một chuyện không vui.
C. Vì muốn nghiệm lại chủ kiến của mình và tìm thêm người chia sẻ.
D. Vì muốn vững tin hơn vào điều mình không cho là phải.
Câu 4. Khi vua hỏi về kế đánh quân Nguyên, ngoài kế thanh dã, dùng đoản (binh) chế trường (trận),… không dưới bốn lần, Hưng Đạo Đại Vương đặc biệt nhấn mạnh vào một điều mà ông luôn xem là “thượng sách”. “Thượng sách” đó, nói một cách đầy đủ mà khái quát nhất, là gì?
A. Phải thấy được sức mạnh đoàn kết toàn dân trong cả nước.
B. Vua tôi, tướng sĩ trong cả nước phải đồng tâm hiệp lực với nhau.
C. Vua tôi, tướng sĩ, binh lính phải thực lòng yêu thương nhau.
D. Phải thu phục lòng dân, tập hợp, phát huy bằng được sức mạnh, ý chí đoàn kết toàn dân.
Câu 5. Trong văn bản có nói đến binh pháp. Binh pháp được hiểu là:
A. Binh thư, pháp luật
B. Binh lính, pháp thuật
C. Phương pháp đào tạo binh lính
D. Binh thư, phương pháp
Câu 6. Nhận xét nào sau đây không đúng với Trần Quốc Tuấn:
A. Là một vị tướng anh hùng, đầy tài năng mưu lược.
B. Là một người cha nghiêm khắc giáo dục con cái.
C. Là một vị vua đặt tình nhà trên nợ nước.
D. Là một người cống hiến cho đời sau nhiều tác phẩm quân sự có giá trị.
Câu 7. Dòng nào sau đây diễn đạt không đúng mối quan hệ giữa trung và hiếu toát ra từ lời “kể tội” con của Quốc Tuấn: Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra ?
A. Trung là gốc là rễ, hiếu là ngọn là cành.
B. Trung là ngọn là cành, hiếu là gốc là rễ.
C. Trung, hiếu đều là gốc là rễ, tuy hai mà chỉ là một.
D. Trung, hiếu đều từ một gốc rễ mà ra
Câu 8. Câu “Chúng tôi xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xin lấy người ta làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi!” chứng tỏ Yết Kiêu, Dã Tượng luôn ghi nhớ quan niệm gì?
A. Làm việc tốt không phải để chờ ân thưởng.
B. Người trung hiếu không tính toán thiệt hơn.
C. Hễ thấy việc trung nghĩa thì phải làm.
D. Đất nước thái bình thì ai ai cũng được hưởng hạnh phúc
Câu 9. Em có nhận xét gì về nghệ thuật kể chuyện trong văn bản?
Câu 10. Em rút ra được điều gì qua lời trình bày của Trần Quốc Tuấn với vua về kế sách giữ nước?
Phần II. Viết (4,0 điểm)
Viết một bài văn kể lại một hoạt động xã hội để lại cho em ấn tượng sâu sắc.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
B |
C |
C |
D |
D |
C |
B |
D |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là? A. Miêu tả B. Tự sự C. Biểu cảm D. Nghị luận |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Xác định phương thức biểu đạt chính
Lời giải chi tiết:
Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là tự sự
→ Đáp án: B
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Xác định các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn: Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được A. So sánh, điệp ngữ, nhân hoá B. So sánh, liệt kê, ẩn dụ C. Điệp từ, liệt kê, so sánh D. So sánh |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Xác định biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết:
các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn: Điệp từ, liệt kê, so sánh
→ Đáp án: C
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Vì sao Quốc Tuấn khi nghe những lời “giối giăng” của cha thì dấu kín trong lòng, chỉ đến khi vận nước ở trong tay, quyền quân, quyền nước đều do ở mình ông mới đem lời cha dặn nói với gia nô Dã Tượng, Yết Kiêu? A. Vì muốn thử lòng các gia nô dưới quyền mình. B. Vì muốn thử lòng mình, và muốn làm vơi đi một chuyện không vui. C. Vì muốn nghiệm lại chủ kiến của mình và tìm thêm người chia sẻ. D. Vì muốn vững tin hơn vào điều mình không cho là phải. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Quốc Tuấn khi nghe những lời “giối giăng” của cha thì dấu kín trong lòng, chỉ đến khi vận nước ở trong tay, quyền quân, quyền nước đều do ở mình ông mới đem lời cha dặn nói với gia nô Dã Tượng, Yết Kiêu vì: Vì muốn nghiệm lại chủ kiến của mình và tìm thêm người chia sẻ.
→ Đáp án: C
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Khi vua hỏi về kế đánh quân Nguyên, ngoài kế thanh dã, dùng đoản (binh) chế trường (trận),… không dưới bốn lần, Hưng Đạo Đại Vương đặc biệt nhấn mạnh vào một điều mà ông luôn xem là “thượng sách”. “Thượng sách” đó, nói một cách đầy đủ mà khái quát nhất, là gì? A. Phải thấy được sức mạnh đoàn kết toàn dân trong cả nước. B. Vua tôi, tướng sĩ trong cả nước phải đồng tâm hiệp lực với nhau. C. Vua tôi, tướng sĩ, binh lính phải thực lòng yêu thương nhau. D. Phải thu phục lòng dân, tập hợp, phát huy bằng được sức mạnh, ý chí đoàn kết toàn dân. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời
Lời giải chi tiết:
“Thượng sách” đó, nói một cách đầy đủ mà khái quát nhất, là: Phải thu phục lòng dân, tập hợp, phát huy bằng được sức mạnh, ý chí đoàn kết toàn dân.
→ Đáp án: D
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Trong văn bản có nói đến binh pháp. Binh pháp được hiểu là: A. Binh thư, pháp luật B. Binh lính, pháp thuật C. Phương pháp đào tạo binh lính D. Binh thư, phương pháp |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Giải nghĩa của từ
Lời giải chi tiết:
Binh pháp được hiểu là: Binh thư, phương pháp
→ Đáp án: D
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Nhận xét nào sau đây không đúng với Trần Quốc Tuấn: A. Là một vị tướng anh hùng, đầy tài năng mưu lược. B. Là một người cha nghiêm khắc giáo dục con cái. C. Là một vị vua đặt tình nhà trên nợ nước. D. Là một người cống hiến cho đời sau nhiều tác phẩm quân sự có giá trị. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Nhận xét không đúng với Trần Quốc Tuấn: Là một vị vua đặt tình nhà trên nợ nước.
→ Đáp án: C
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Dòng nào sau đây diễn đạt không đúng mối quan hệ giữa trung và hiếu toát ra từ lời “kể tội” con của Quốc Tuấn: Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra ? A. Trung là gốc là rễ, hiếu là ngọn là cành. B. Trung là ngọn là cành, hiếu là gốc là rễ. C. Trung, hiếu đều là gốc là rễ, tuy hai mà chỉ là một. D. Trung, hiếu đều từ một gốc rễ mà ra |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Dòng diễn đạt không đúng mối quan hệ giữa trung và hiếu toát ra từ lời “kể tội” con của Quốc Tuấn: Trung là ngọn là cành, hiếu là gốc là rễ.
→ Đáp án: B
Câu 8 (0.5 điểm)
|
Câu “Chúng tôi xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xin lấy người ta làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi!” chứng tỏ Yết Kiêu, Dã Tượng luôn ghi nhớ quan niệm gì? A. Làm việc tốt không phải để chờ ân thưởng. B. Người trung hiếu không tính toán thiệt hơn. C. Hễ thấy việc trung nghĩa thì phải làm. D. Đất nước thái bình thì ai ai cũng được hưởng hạnh phúc. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng cách hiểu của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Câu “Chúng tôi xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xin lấy người ta làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi!” chứng tỏ Yết Kiêu, Dã Tượng luôn ghi nhớ quan niệm: Đất nước thái bình thì ai ai cũng được hưởng hạnh phúc.
→ Đáp án: D
Câu 9 (1.0 điểm)
|
Em có nhận xét gì về nghệ thuật kể chuyện trong văn bản? |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi
Lời giải chi tiết:
Nghệ thuật kể chuyện:
- Cách kể về các nhân vật lịch sử không đơn điệu theo trình tự thời gian.
- Nhà viết sử không chỉ kể chuyện một cách phức hợp, với nhiều chiều thời gian, mà còn khéo léo lồng vào câu chuyện những nhận xét sâu sắc nhằm định hướng cho người đọc có những nhận xét, đánh giá thoả đáng.
- Cách kể chuyện trong đoạn trích vừa mạch lạc, khúc chiết vừa giải quyết được những vấn đề then chốt về nhân vật đồng thời vẫn giữ được mạch truyện tiếp nối logic. Chuyện vì thế trở nên sinh động, hấp dẫn. Nhân vật lịch sử cũng vì thế mà được nổi bật chân dung.
Câu 10 (1.0 điểm)
|
Em rút ra được điều gì qua lời trình bày của Trần Quốc Tuấn với vua về kế sách giữ nước? |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Nội dung lời trình bày của Trần Quốc Tuấn với vua:
- Nên tuỳ thời thế mà có sách lược phù hợp, binh pháp cần vận dụng linh hoạt, không có khuôn mẫu nhất định.
- Điều kiện quan trọng nhất để thắng giặc là toàn dân đoàn kết một lòng
Do đó phải giảm thuế khoá, bớt hình phạt, không phiền nhiễu dân, chăm lo cho dân có đời sống sung túc,... đó chính là "thượng sách giữ nước".
=> Qua nội dung lời trình bày, người đọc nhận thấy Trần Quốc Tuấn không những là vị tướng tài năng, mưu lược, có lòng trung quân mà còn biết thương dân, trọng dân và biết lo cho dân.
PHẦN II –LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1 (4 điểm):
|
Viết một bài văn kể lại một hoạt động xã hội để lại cho em ấn tượng sâu sắc. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết một bài văn kể lại một hoạt động xã hội để lại cho em ấn tượng sâu sắc. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu về một hoạt động xã hội để lại trong em ấn tượng sâu sắc. |
|
Thân bài |
2,5 |
HS triển khai vấn đề theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng kết hợp với các yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị luận để kể lại. Lần lượt kể lại hoạt động theo trình tự nhất định: - Nêu mục đích của hoạt động, lí do em tham gia hoạt động đó. - Kể về hình thức tổ chức hoạt động (thành phần tham gia, thời gian, địa điểm,…). - Kể về quá trình tiến hành hoạt động (bắt đầu, hoạt động chính, kết thúc). - Nêu kết quả, ý nghĩa của hoạt động (về vật chất và về tinh thần) (tham khảo bài viết mẫu) |
|
Kết bài |
0,5 |
Khẳng định ý nghĩa và bài học sau khi tham gia hoặc hoạt động xã hội. |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo cấu trúc bài vài văn - Diễn đạt rõ ràng, gãy gọn, có yếu tố biểu cảm. Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Sử dụng từ ngữ, câu văn có sự liên kết các luận điểm, giữa bằng chứng và lí lẽ đảm bảo sự mạch lạc. |
Bài viết mẫu
(Nguồn: Sưu tầm)
Vào ngày mùng một tháng sáu hàng năm, trường chúng tôi thường có những buổi từ thiện quyên góp cho học sinh vùng lũ lụt như quyên góp sách vở quần áo hay những vật dụng cũ. Những buổi quyên góp như thế để lại trong chúng tôi rất nhiều ấn tượng khó quên. Đối với riêng tôi thì buổi quyên góp hay hoạt động từ thiện của chúng tôi vào năm ngoái đã để lại trong tôi rất nhiều ấn tượng khó quên bởi lần đó chúng tôi đã được trực tiếp xuống vùng núi Cao Bằng để quyên góp ủng hộ cho các bạn học sinh nơi đây.
Hôm trước buổi từ thiện chúng tôi đã họp rất nhiều lần để xem nên làm từ thiện gì cho các bạn nơi đây. Được sự góp ý của các thầy cô giáo và bố mẹ chúng tôi biết được các bạn trên đó thiếu thốn rất nhiều thứ như sách vở quần áo nhưng thiếu nhất đó là thức ăn do địa điểm mà chúng tôi ghé thăm là một điểm trường vùng cao, nơi đây các bạn ở lại tạm trú nên cuộc sống rất khó khăn. Biết được tình trạng của các bạn nơi đây chúng tôi quyết định thu gom tất cả những đồ dùng cũ để đem cho các bạn. Đó là những quyển sách hay cái bút và cả cặp sách cũ nữa. Bên cạnh đó chúng tôi cũng góp thêm một ít tiền để mua một số lương thực và cả thuốc men cho các bạn do sống xa nhà nên hầu như những bữa cơm của các bạn rất đạm bạc.
Đúng sáu giờ sáng ngày hôm sau chúng tôi đã có mặt đông đủ để chuẩn bị cho buổi từ thiện vùng cao. Chúng tôi vui lắm đứa nào đứa đấy vui vẻ rạng rỡ khác hẳn mọi khi. Đúng giờ chúng tôi đã có mặt tại điểm trường vùng cao Cao Bằng. Đến nơi ấn tượng đầu tiên đập vào mắt tô là chúng tôi được các bạn và các thầy cô giáo nơi đây chào đón rất nhiệt tình khiến chúng tôi cảm thấy rất thân thiện và có thiện cảm với nơi đây. Các thầy cô giáo bắt tay từng đứa một khiến chúng tôi cảm nhận được tuy ở đây rất khó khăn nhưng cái tình nơi đây thật khiến cho chúng ta cảm thấy cần học hỏi. Những giáo viên bám trụ nơi đây không ngại những khó khăn vất vả cũng khiến chúng tôi cảm thấy rất ấm lòng. Dường như những học sinh siêng học nơi đây chính là động lực để các thầy cô bám trụ đến ngày nay.
Bắt đầu buổi từ thiện chúng tôi đưa những vật dụng mà chúng tôi đã thu hoạch được sau khi kêu gọi tất cả những người thân chung tay ủng hộ cho các bạn nơi đây. Các bạn nơi đây nhận được những phần quà này ai nấy đều rất xúc động và cảm ơn chúng tôi rất nhiều. Các thầy cô giáo nơi đây còn bật khóc, các thầy cô chia sẻ “các thầy cô và các bạn ở đây lâu lắm rồi mới được đón những đoàn ủng hộ như các em đến nên mọi người vui lắm. Biết được hôm nay các em đến ai nấy đều chuẩn bị tươm tất thậm chí các em ở đây còn bận những quần áo đẹp nhất để đón các em đấy. Có các em đến mọi người đều cảm thấy mình không bị lãng quên bởi sống xa nhà sống xa quê hương không được tiếp thu những tri thức mới nên các em đến như đem lại một nguồn sáng mới cho nơi đây vậy”. Chúng tôi cũng tặng rất nhiều những bao gạo những thùng mì tôm và cả những cân thịt được đem đến từ đồng bằng. Các bạn thích lắm ai nấy đều phấn khởi. Chúng tôi cũng đưa cho các bạn thêm một ít tiền để có thể chuẩn bị cho những bữa ăn được tươm tất hơn. Các bạn lúc đầu không nhận nhưng khi chúng tôi nói đây là tiền bố mẹ chúng tôi gửi cho các bạn thì các bạn mới chịu nhận. Hôm nay dự định của chúng tôi là sẽ nấu cho các bạn một bữa cơm thế nên khi trao quà cho các bạn xong chúng tôi gấp rút chuẩn bị, đứa thì nấu cơm đứa thì nhặt rau và không thể thiếu những món ăn làm từ thịt để bổ sung chất dinh dưỡng cho các bạn. Các thầy cô giáo và các bạn mỗi người xúm vào một tay giúp chúng tôi chuẩn bị cho bữa cơm được tươm tất. Sau khi hoàn thiện cũng là lúc đã quá trưa chúng tôi nhanh chóng dọn cơm. Lúc này ai cũng đã đói, nhìn mọi người ăn ngon lành chúng tôi vui lắm ai nấy đều phấn khởi.
Sau khi thu dọn xong cũng là lúc chúng tôi sắp phải ra về để chuẩn bị cho ngày mai đi học. Nhìn tất cả mọi người lưu luyến chẳng ai muốn về khiến chúng tôi đều cảm thấy buổi tham quan rất có ý nghĩa và nhất định chúng tôi sẽ quay lại nơi đây một lần sớm nhất
Buổi từ thiện đã để lại trong tôi rất nhiều ấn tượng khó quên. Nó cho tôi rất nhiều bài học đáng nhớ rằng hãy biết quý trọng những gì chúng ta đang có bởi với rất nhiều người đó lại là những thứ rất xa vời.
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 8 - Đề số 6
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
Việc tử tế không phải là những gì to tát, phi thường mà đôi khi chỉ là một hành động nhỏ bé nhưng vô cùng giá trị như câu chuyện được lan truyền trên mạng xã hội của cậu bé Đạt “thông cống” khi trời mưa, câu chuyện của nữ sinh nhặt được của rơi trả người đánh mất, cụ bà 80 tuổi với kinh nghiệm 20 năm vá đường không công, sư thầy nhận nuôi hàng trăm trẻ mồ côi…Hay đơn giản, việc tử tế chỉ là hành động thể hiện thái độ sống tích cực, hành động kính trên nhường dưới, có trước có sau, dắt cụ bà qua đường, nhặt rác nơi công cộng… Việc tử tế không phải một ngày, cũng không phải một tháng, một năm mà là toàn bộ thời gian chúng ta đang sống. Vì vậy, hãy tiếp tục lan tỏa những việc làm tử tế mỗi ngày để góp phần xây dựng một cuộc sống tốt đẹp và nhân văn hơn.
Câu 1 (0.5 điểm): Đoạn trích trên thuộc thể loại gì?
Câu 2 (1.0 điểm): Theo tác giả, những câu chuyện tử tế “vô cùng giá trị … được lan truyền trên mạng xã hội” là những câu chuyện nào?
Câu 3 (1.0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu sau: “Hay đơn giản, việc tử tế chỉ là hành động thể hiện thái độ sống tích cực, hành động kính trên nhường dưới, có trước có sau, dắt cụ bà qua đường, nhặt rác nơi công cộng …”
Câu 4 (1.5 điểm): Anh/chị có đồng ý với tác giả rằng: “Việc tử tế không phải một ngày, cũng không phải một tháng, một năm mà là toàn bộ thời gian chúng ta đang sống” hay không? Vì sao?
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề làm thế nào để lan tỏa việc tử tế trong môi trường học đường.
Câu 2 (4.0 điểm) Hằng năm, các em học sinh thường được tham gia nhiều chuyến đi trải nghiệm thực tế do nhà trường tổ chức. Mỗi một chuyến đi luôn để lại những kỉ niệm đẹp khó quên. Hãy kể lại một kỉ niệm đáng nhớ của em trong chuyến đi thực tế ấy.
(Kể chuyện kết hợp với yếu tố miêu tả và biểu cảm)
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Đoạn trích trên thuộc thể loại gì? |
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Thể loại văn bản nghị luận
Câu 2.
|
Theo tác giả, những câu chuyện tử tế “vô cùng giá trị … được lan truyền trên mạng xã hội” là những câu chuyện nào? |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích, xác định những câu chuyện tử tế được nhắc đến
Lời giải chi tiết:
Những câu chuyện tử tế “vô cùng giá trị … được lan truyền trên mạng xã hội” là:
- cậu bé Đạt “thống cống” khi trời mưa
- nữ sinh nhặt được của rơi trả người đánh mất
- cụ bà 80 tuổi với kinh nghiệm 20 năm vá đường không công
- sư thầy nhận nuôi hàng trăm trẻ mồ côi
Câu 3.
|
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu sau: “Hay đơn giản, việc tử tế chỉ là hành động thể hiện thái độ sống tích cực, hành động kính trên nhường dưới, có trước có sau, dắt cụ bà qua đường, nhặt rác nơi công cộng …” |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về các biện pháp tu từ được học
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp: Liệt kê (thái độ sống tích cực, hành động kính trên nhường dưới, có trước có sau, dắt cụ bà qua đường, nhặt rác nơi công cộng).
- Tác dụng:
+ Làm nổi bật ý nghĩa của việc tử tế qua các hành động cụ thể
+ Nhấn mạnh rằng sự tử tế không cần những hành động lớn lao mà đến từ những việc làm nhỏ bé, bình dị trong cuộc sống hàng ngày
Câu 4.
|
Anh/chị có đồng ý với tác giả rằng: “Việc tử tế không phải một ngày, cũng không phải một tháng, một năm mà là toàn bộ thời gian chúng ta đang sống” hay không? Vì sao? |
Phương pháp:
Nêu suy nghĩ của em và lí giải
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
Đồng ý vì:
- Việc tử tế là giá trị cốt lõi làm nên nhân cách con người, cần được thực hiện liên tục để xây dựng xã hội tốt đẹp hơn.
- Lòng tử tế cần được duy trì, không phải chỉ trong thời gian ngắn mà trong suốt cả cuộc đời, bởi nó có ý nghĩa lớn đến cuộc sống cá nhân và cộng đồng.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề làm thế nào để lan tỏa việc tử tế trong môi trường học đường. |
Phương pháp:
- Viết đoạn văn theo kết cấu rõ ràng: Mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn.
- Tập trung vào các giải pháp cụ thể, thiết thực.
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở đoạn
Giới thiệu vấn đề: làm thế nào để lan tỏa việc tử tế trong môi trường học đường.
2. Thân đoạn
a. Giải thích vấn dề
- Tử tế là thái độ, hành động mang tính nhân văn, giúp đỡ người khác và sống có trách nhiệm với cộng đồng.
=> Việc tử tế trong môi trường học đường là hành động mang lại ý nghĩa sâu sắc
b. Biểu hiện của sự tử tế trong học đường
- Hỗ trợ bạn bè trong học tập.
- Tôn trọng thầy cô, giữ gìn trường lớp sạch đẹp.
…
c. Ý nghĩa của việc lan tỏa sự tử tế trong học đường
- Góp phần xây dựng nhân cách mỗi học sinh
- Tạo môi trường học tập tích cực, hòa đồng
- Gắn kết mối quan hệ giữa học sinh với bạn bè, thầy cô…
- Truyền cảm hứng và lan tỏa giá trị sống tốt đẹp
- Định hướng lối sống cho tương lai của học sinh
d. Để lan tỏa việc tử tế trong môi trường học đường, chúng ta cần:
- Giáo dục lòng tử tế ngay từ gia đình và nhà trường.
- Khuyến khích các phong trào, hoạt động cộng đồng để lan tỏa hành động đẹp.
- Cá nhân cần tự ý thức, rèn luyện thói quen sống tử tế mỗi ngày.
- Dẫn chứng: học sinh lựa chọn một dẫn chứng phù hợp để tăng tính thuyết phục
e. Phản đề
- Một số trường hợp sống ích kỉ, không có ý thức gây ảnh hưởng đến bạn bè, thầy cô…
3. Kết đoạn
- Khẳng định lại vấn đề
- Liên hệ bản thân
Câu 2.
|
Hằng năm, các em học sinh thường được tham gia nhiều chuyến đi trải nghiệm thực tế do nhà trường tổ chức. Mỗi một chuyến đi luôn để lại những kỉ niệm đẹp khó quên. Hãy kể lại một kỉ niệm đáng nhớ của em trong chuyến đi thực tế ấy. (Kể chuyện kết hợp với yếu tố miêu tả và biểu cảm) |
Phương pháp:
Sử dụng các phương thức biểu đạt miêu tả, biểu cảm để tạo lập văn bản tự sự.
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở bài
- Giới thiệu một kỉ niệm đáng nhớ
- Ấn tượng của em về kỉ niệm đó
2. Thân bài
- Giới thiệu kỉ niệm:
+ Đây là kỉ niệm buồn hay vui.
+ Xảy ra trong hoàn cảnh, thời gian nào: chuyến trải nghiệm thực tế do nhà trường tổ chức vào dịp sắp nghỉ hè.
- Miêu tả sơ nét về người mà làm nên kỉ niệm với em: thầy, cô, bạn bè.
+ Hình dáng, tuổi tác.
+ Đặc điểm mà em ấn tượng
+ Tính cách và cách cư xử của người đó
- Diễn biến của câu chuỵên:
+ Nêu mở đầu câu chuyện và diễn biến như thế nào
+ Trình bày đỉnh điểm của câu chuyện
+ Thái độ, tình cảm của nhân vật trong chuyện
- Kết thúc câu chuyện
+ Câu chuyện kết thúc như thế nào.
+ Nêu suy nghĩ và cảm nhận của em qua câu chuyện.
3. Kết bài:
Câu chuyện là một kỉ niệm đẹp thời cắp sách đến trường. nó đã cho em một bài học quý giá và em sẽ không bao giờ quên kỉ niệm này.
Bài tham khảo
Đầu năm học, lớp tôi được đi dã ngoại ở bảo tàng dân tộc học. Ở đó, chúng tôi đã được biết thêm về nhiều dân tộc khác nhau trên mảnh đất chữ S rộng lớn này.
Từ sáng sớm, khi chiếc xe chuyển bánh, ai nấy đều vui mừng, háo hức. Trên xe, chúng tôi hát vang những bài hát quen thuộc. Cổng bảo tàng rất đẹp, nhưng bước vào trong mới thấy hết vẻ rộng lớn và đẹp đẽ của nơi này. Cô giáo cho chúng tôi xếp thành nhiều hàng để di chuyển được dễ dàng. Cô hướng dẫn viên đưa đoàn đi lần lượt tới những khung cảnh khác nhau. Những hàng cây cao, xanh cứ đu đưa theo gió. Biết bao ngôi nhà được dựng bằng tre nứa hiện ra. Tôi ấn tượng nhất ngôi nhà rông cao chót vót với những bậc thang đưa lên sàn nhà.
Một lúc sau, chúng tôi dừng lại ở ngôi nhà dài. Cô tôi kể đây là kiểu nhà của những đại gia đình dân tộc Ê – đê. Chúng tôi ngồi nghỉ ở đó. Cô giáo cho chúng tôi ngồi thành vòng tròn để chuẩn bị chơi trò chơi. Chà! Thật khác với những buổi dã ngoại ngoài trời, chơi trò chơi ở nhà dài Ê – đê có nhiều điều thú vị riêng. Chúng tôi chơi nhiều trò lắm, nào là chia đội hát đối, nào là trả lời ai nhanh hơn, rồi còn chơi cả trò kể tên những dân tộc trên đất nước chúng ta. Tôi đã được bố kể cho nghe về các dân tộc nên nhớ được khá nhiều. Đội tôi đã chiến thắng và được thưởng một túi kẹo dẻo.
Sau đó, lớp di chuyển ra bãi cỏ xanh dưới gốc cây xà cừ. Chúng tôi trải những tấm thảm xuống nền cỏ để chuẩn bị ăn trưa. Mỗi bạn đều được mẹ chuẩn bị cho những món thật ngon. Cô giáo đưa cho chúng tôi ăn một món mà ai cũng thích thú, cơm cuộn rong biển. Ăn xong, tôi khẽ nằm rồi ngước nhìn bầu trời cao trong xanh. Tôi lại nghĩ về những lời cô hướng dẫn viên nói ban sáng, ngày xưa, một số dân tộc còn đói khổ, họ phải vào rừng săn bắt động vật rồi nướng trên ngọn lửa để ăn, rồi các bạn nhỏ không được đi học, họ nhỏ xíu đã phải lên rẫy giúp đỡ cha mẹ.
Quả thực, tôi cảm thấy tự hào vì những thế hệ đi trước đã hi sinh để chúng ta có cuộc sống yên bình như hiện nay. Và tôi cũng cảm thấy may mắn vì mình được đi học, được tham gia những chuyến dã ngoại vừa học tập vừa vui chơi giải trí thế này. Đây là chuyến dã ngoại tôi vui nhất, bởi nó đã đưa tôi tới nhiều vùng miền khác nhau chỉ với những ngôi nhà, những hình ảnh.
Đề thi học kì 1 Văn 8 - Đề số 7
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
THƯƠNG VỢ
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:
Có chồng hờ hững cũng như không!
Câu 1 (0.5 điểm): Bài thơ trên thuộc thể thơ gì?
Câu 2 (0.5 điểm): Xác định chủ đề của bài thơ trên.
Câu 3 (1.0 điểm): Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong hai câu thơ:
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Câu 4 (1.0 điểm): Từ ngữ nào trong câu thơ “Lặn lội thân cò khi quãng vắng” có giá trị miêu tả ngoại hình bà Tú? Ý nghĩa của hình ảnh đó?
Câu 5 (1.0 điểm): Từ hình tượng bà Tú trong văn bản Thương vợ em có suy nghĩ gì về hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của em về hình ảnh bà Tú trong bài thơ Thương vợ của Tú Xương.
Câu 2 (4.0 điểm) Hãy viết bài văn nghị luận về tinh thần tương thân tương ái của dân tộc ta.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Bài thơ trên thuộc thể thơ gì? |
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Bài thơ thuộc thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật
Câu 2.
|
Xác định chủ đề của bài thơ trên. |
Phương pháp:
Đọc kĩ bài thơ và xác định nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Thương vợ là bức chân dung chân thực về người vợ đảm đang, chịu thương, chịu khó, là hình tượng tiêu biểu cho người phụ nữ truyền thống Việt Nam: tháo vát, cần cù, lam lũ và giàu đức hy sinh. Đồng thời thể hiện tình cảm thương quý, biết ơn của nhà thơ đối với vợ.
Câu 3.
|
Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong hai câu thơ: Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông. |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về các biện pháp nghệ thuật
Lời giải chi tiết:
Nghệ thuật của 2 câu thơ
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
- Sử dụng lối nói dân gian một cách sáng tạo.
- Sử dụng từ láy giàu giá trị gợi hình biểu cảm.
- Sử dụng biện pháp đảo ngữ và nghệ thuật đối.
→ Tác dụng: Thể hiện sự hoá thân của đối tượng trữ tình thành “thân cò”, làm nổi bật cái vất vả đảm đang của bà Tú và ẩn sau câu chữ vẫn là tấm lòng nhà thơ với cái nhìn ái ngại, cảm thông.
Câu 4.
|
Từ ngữ nào trong câu thơ “Lặn lội thân cò khi quãng vắng” có giá trị miêu tả ngoại hình bà Tú? Ý nghĩa của hình ảnh đó? |
Phương pháp:
Đọc và xác định từ miêu tả ngoại hình bà Tú
Lời giải chi tiết:
- Từ ngữ có giá trị miêu tả ngoại hình bà Tú: thân cò (lam lũ, vất vả, chịu thương, có phần xót xa, tội nghiệp xuất hiện trong cái rợn ngợp của cả không gian và thời gian).
- Trong ca dao hình ảnh con cò thường dùng để chỉ người phụ nữ trong xã hội cũ. Ở đây Tú Xương đã sử dụng hình ảnh ẩn dụ để chỉ sự lam lũ cực nhọc của bà Tú.
Câu 5.
|
Từ hình tượng bà Tú trong văn bản Thương vợ em có suy nghĩ gì về hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến. |
Phương pháp:
Kết hợp với hiểu biết về hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến và nêu suy nghĩ của em
Lời giải chi tiết:
Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến qua hình ảnh bà Tú:
- Người phụ nữ Việt Nam luôn cần cù, chăm chỉ lao động trong cuộc sống dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, có khó khăn đến đâu.
- Dù cuộc sống, công việc của họ có gặp phải nhiều khó khăn nhưng ở họ vẫn luôn giữ được tinh thần lạc quan, sự cần mẫn, chăm chỉ vốn có của mình.
- Họ là những người không được lựa chọn cuộc đời, số phận cho mình, họ chỉ được cách chấp nhận số phận của mình được người khác sắp đặt và cố gắng hòa nhập với cuộc sống ấy.
- Người phụ nữ Việt Nam dù có gặp phải người chồng hờ hững hay tệ bạc cũng vẫn luôn giữ cho mình nhân phẩm cao đẹp vốn có để chấp nhận và cùng chung sống.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của em về hình ảnh bà Tú trong bài thơ Thương vợ của Tú Xương. |
Phương pháp:
Đọc kĩ bài thơ, chú ý các từ ngữ miêu tả bà Tú, các biện pháp nghệ thuật đặc sắc
Chú ý hình thức của đoạn văn khoảng 200 chữ
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở đoạn
- Giới thiệu khái quát về bài thơ Thương vợ và hình ảnh bà Tú.
- Khẳng định hình ảnh bà Tú là biểu tượng của đức hy sinh và sự tần tảo.
2. Thân đoạn
a) Hình ảnh bà Tú qua công việc lao động vất vả
- Câu thơ: "Quanh năm buôn bán ở mom sông"
+ Bà Tú gắn bó với công việc buôn bán, không quản thời gian, không gian.
+ Hình ảnh “mom sông” gợi sự nguy hiểm, bấp bênh của công việc mưu sinh.
- Câu thơ: "Nuôi đủ năm con với một chồng"
+ Bà Tú đảm đang, gánh vác trách nhiệm gia đình.
+ Con số “năm con với một chồng” vừa cụ thể, vừa hài hước, thể hiện sự nặng nề của gánh nặng trên vai bà Tú.
b) Đức hy sinh của bà Tú
- Câu thơ: "Lặn lội thân cò khi quãng vắng"
+ Hình ảnh "thân cò" là biểu tượng cho người phụ nữ lam lũ, nhỏ bé nhưng đầy nghị lực.
+ Từ "lặn lội" nhấn mạnh sự vất vả, dãi dầu mưa nắng.
- Câu thơ: "Eo sèo mặt nước buổi đò đông"
+ Bà Tú phải đối mặt với sự chen lấn, tranh giành, vừa nhọc nhằn, vừa mệt mỏi.
c) Sự trân trọng và lòng biết ơn của Tú Xương dành cho bà Tú
- Câu thơ: "Một duyên hai nợ âu đành phận"
+ Tú Xương thấu hiểu nỗi khổ của vợ, coi sự chịu đựng ấy như một “duyên nợ”.
+ Sự trách móc xã hội phong kiến bất công đã đẩy người phụ nữ vào cảnh khổ cực.
3. Kết đoạn
- Khẳng định hình ảnh bà Tú là đại diện cho vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam xưa: cần cù, giàu đức hy sinh.
- Thể hiện lòng cảm phục đối với nhân vật bà Tú cũng như tài năng của Tú Xương trong việc khắc họa nhân vật.
Bài tham khảo
Hình ảnh bà Tú trong bài thơ Thương vợ của Tú Xương hiện lên với vẻ đẹp của một người phụ nữ tần tảo, hy sinh. Bà là trụ cột chính trong gia đình, ngày ngày “quanh năm buôn bán ở mom sông,” bất chấp hiểm nguy và khó khăn để nuôi sống “năm con với một chồng.” Công việc của bà không chỉ vất vả về thể chất mà còn áp lực tinh thần khi phải đối mặt với “eo sèo mặt nước buổi đò đông.” Hình ảnh “thân cò” lặn lội là biểu tượng cho sự chịu thương chịu khó, đức hy sinh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Qua lời thơ, Tú Xương không chỉ bày tỏ lòng biết ơn, trân trọng với vợ mình mà còn ngầm phê phán xã hội bất công đã đẩy người phụ nữ vào cảnh khổ cực. Bằng sự khéo léo trong việc chọn lọc hình ảnh và ngôn ngữ, Tú Xương đã khắc họa thành công bà Tú – một người phụ nữ tuy nhỏ bé nhưng lại mang trong mình sức mạnh phi thường, khiến người đọc không khỏi cảm phục và xúc động.
Câu 2.
|
Hãy viết bài văn nghị luận về tinh thần tương thân tương ái của dân tộc ta. |
Phương pháp:
Mở bài giới thiệu được vấn đề cần nghị luận. Thân bài phân tích làm rõ vấn đề. Kết bài khái quát ý kiến, rút ra bài học bản thân
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở bài
Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận: tinh thần tương thân tương ái của dân tộc ta
2. Thân bài
a. Giải thích
Tương thân tương ái: là tình yêu thương giữa con người với con người, sự sẵn sàng đồng cảm, chia sẻ, thấu hiểu và giúp đỡ người khác khi người ta gặp khó khăn. Rộng hơn nữa chính là tình đồng bào, tinh thần đoàn kết.
Tương thân tương ái là một trong những tình cảm, hành động cao đẹp của con người mà mỗi chúng ta cần có để giúp cho xã hội phát triển bền vững, tốt đẹp hơn.
b. Phân tích
- Biểu hiện của người có tinh thần tương thân tương ái:
+ Luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác khi người ta gặp khó khăn, hoạn nạn mà không mưu cầu lợi ích cho bản thân.
+ Sống chan hòa, yêu thương với mọi người xung quanh, cho đi mà không cần mong nhận lại.
+ Bỏ qua cái tôi cá nhân, hướng đến lợi ích chung của mọi người, biết bỏ qua tư lợi cá nhân để phát triển tốt đẹp cái chung.
- Ý nghĩa, vai trò của tinh thần tương thân tương ái trong cuộc sống:
+ Khi chúng ta sống với tinh thần tương thân tương ái thì không chỉ người được chúng ta giúp đỡ trở nên tốt hơn mà chính bản thân ta cũng trở nên tốt hơn, vui vẻ hơn.
+ Một con người có tâm thiện, có tinh thần tương thân tương ái sẽ được mọi người yêu quý, kính trọng và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Nếu xã hội ai cũng có tấm lòng “tương thân tương ái” thì xã hội sẽ được lan tỏa nhiều điều tốt đẹp.
c. Chứng minh
Học sinh tự lấy dẫn chứng về những con người sống có lòng thương người, tinh thần tương thân tương ái để minh họa cho bài làm của mình.
d. Phản đề
Bên cạnh đó vẫn còn có nhiều người sống với thái độ thờ ơ, vô cảm trước nỗi đau của người khác, chỉ biết đến bản thân mình. Lại có những người ích kỉ, chỉ biết đến bản thân mình,… những người này khó cảm nhận được tình cảm ấm áp của con người và cần phải sửa đổi nếu muốn cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn.
3. Kết bài
Khái quát lại ý nghĩa và tầm quan trọng của tinh thần tương thân tương ái; đồng thời rút ra bài học và liên hệ bản thân.
Bài tham khảo
Có một câu nói rất hay: “Con người vốn sinh ra không phải để tan biến đi như một hạt cát, mà là để lưu dấu trên mặt đất và sống mãi trong trái tim người khác”. Và đó chính là minh chứng cho tinh thần tương thân tương ái giữa người với người.
Tương thân tương ái là tình yêu thương giữa con người với con người, sự sẵn sàng đồng cảm, chia sẻ, thấu hiểu và giúp đỡ người khác khi người ta gặp khó khăn. Rộng hơn nữa chính là tình đồng bào, tinh thần đoàn kết. Từ xưa đến nay, tương thân tương ái được xem như một truyền thống quý báu của dân tộc ta. Những lúc ta sẵn sàng giúp đỡ người khác khi người ta gặp khó khăn, hoạn nạn mà không mưu cầu lợi ích cho bản thân, đó chính là tinh thần cao đẹp ấy. Tinh thần ấy cũng chính là sự tôn trọng và quan tâm đến mọi người xung quanh hay những giây phút chia sẻ và đồng cảm với mọi người trong cuộc sống. Và khi chúng ta trao đi tấm lòng cũng là lúc những mảnh đời khó khăn cảm thấy được an ủi và có thêm niềm tin để vượt qua khó khăn bởi “không ai bị bỏ lại phía sau”. Không chỉ vậy, người cho đi yêu thương cũng sẽ cảm thấy vui vẻ, yêu cuộc sống này khi mang đến hạnh phúc và niềm vui cho người khác. Tình yêu thương chính là sợi dây gắn kết và thu hẹp khoảng cách với nhau.
Chắc hẳn chúng ta chưa thể quên khoảnh khắc kinh hoàng khi đồng bào các tỉnh miền Trung phải gồng mình vượt qua bao nỗi khó khăn bởi cơn bão số mười hai với sức tàn phá khủng khiếp. Nhưng với tinh thần “tương thân tương ái”, tất cả đồng bào, đồng chí đều hướng về miền Trung bằng những hành động ý nghĩa, thiết thực nhất.
Tuy nhiên, ngày nay vẫn còn có nhiều người sống với thái độ thờ ơ, vô cảm trước nỗi đau của người khác, chỉ biết đến bản thân mình. Hay thậm chí có kẻ còn lấy sự khó khăn của người khác để biến nó thành một chiêu trò giật tít, câu view. Những kẻ ích kỷ, vô cảm ấy thật đáng chê trách và cũng thật cảm thông có những ai đánh mất niềm tin khi bị lợi dụng tình thương. Hãy trao đi yêu thương để nhận lại yêu thương để có thể “Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Ta có thêm ngày mới để yêu thương.” Có ai đó từng nói rằng “Mọi thứ rồi sẽ qua đi, chỉ có tình người là ở lại”. Theo guồng quay của xã hội, mọi giá trị vật chất dù hào nhoáng, bóng bẩy đến đâu rồi cũng sẽ bị quên lãng, đổi thay, duy chỉ có tình người là mãi mãi chẳng thể đổi thay, bởi nó được lưu lại trong trái tim mỗi người.
Bởi vậy có thể nói, tình yêu thương, tinh thần tương thân tương ái giữa con người với con người là thứ tình cảm thiêng liêng, cao quý nhất, nó như bông hoa tỏa rạng giữa cuộc đời.
Đề thi học kì 1 Văn 8 - Đề số 8
Đề thi
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
Tam đại con gà
Xưa, có anh học trò học hành dốt nát, nhưng trò đời “Xấu hay làm tốt, dốt hay chơi chữ”, đi đâu cũng lên mặt văn hay chữ tốt.
Có người tưởng anh ta hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ.
Một hôm, dạy sách Tam thiên tự, sau chữ “tước” là chim sẻ, đến chữ “kê” là gà, thầy thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối, không biết chữ gì, học trò lại hỏi gấp, thầy cuống, nói liều: “Dủ dỉ là con dù dì”. Thầy cũng khôn, sợ nhỡ sai, người nào biết thì xấu hổ, mới bảo học trò đọc khẽ, tuy vậy, trong lòng thầy vẫn thấp thỏm.
Nhân trong nhà có bàn thờ thổ công, thầy mới đến khấn thầm xin ba đài âm dương để xem chữ ấy có phải thật là “dù dì” không. Thổ công cho ba đài được cả ba.
Thấy vậy, thầy lấy làm đắc chí lắm, hôm sau bệ vệ ngồi trên giường, bảo trẻ đọc cho to. Trò vâng lời thầy, gân cổ lên gào:
– Dủ dỉ là con dù dì! Dủ dỉ là con dù dì…
Bố chúng đang cuốc đất ngoài vườn, nghe tiếng học, ngạc nhiên bỏ cuốc chạy vào, giở sách ra xem, hỏi thầy:
– Chết chửa! Chữ “kê” là gà, sao thầy lại dạy ra “dủ dỉ” là con “dù dì”?
Bấy giờ thầy mới nghĩ thầm: “Mình đã dốt, thổ công nhà nó cũng dốt nữa”, nhưng
nhanh trí thầy vội nói gỡ:
– Tôi vẫn biết chữ ấy là chữ “kê” mà “kê” nghĩa là “gà” nhưng tôi dạy cháu thế là dạy cho cháu nó biết tận tam đại con gà kia.
Chủ nhà càng không hiểu, hỏi:
– Tam đại con gà là nghĩa ra làm sao?
– Thế này nhé! Dủ dỉ là con dù dì, dù dì là chị con công, con công là ông con gà!
Câu 1 (0.5 điểm): Truyện Tam đại con gà thuộc thể loại nào?
Câu 2 (0.5 điểm): Xác định ngôi kể của văn bản trên.
Câu 3 (1.0 điểm): Hãy cho biết nội dung cười và tình huống gây cười của truyện.
Câu 4 (1.0 điểm): Hãy nêu bài học ý nghĩa nhất đối với em rút ra từ văn bản trên.
Câu 5 (1.0 điểm): Qua câu chuyện, tác giả dân gian đã phê phán kiểu người nào trong xã hội bấy giờ?
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của tiếng cười trong truyện Tam đại con gà.
Câu 2 (4.0 điểm) Viết bài văn nêu suy nghĩ của em về vấn đề tuổi trẻ cần có trách nhiệm với việc bảo vệ môi trường sống.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Truyện Tam đại con gà thuộc thể loại nào? |
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Truyện Tam đại con gà thuộc thể loại truyện cười
Câu 2.
|
Xác định ngôi kể của văn bản trên. |
Phương pháp:
Chú ý lời của người kể chuyện
Lời giải chi tiết:
Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba
Câu 3.
|
Hãy cho biết nội dung cười và tình huống gây cười của truyện. |
Phương pháp:
Đọc kĩ nội dung đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Nội dung cười: cái dốt không che đậy được, càng giấu càng lộ ra, càng làm trò cười cho thiên hạ.
Tình huống gây cười: có 2 tình huống gây cười
+Tình huống 1: Thầy giáo thấy chữ “kê” nhưng không biết chữ gì và dạy học sinh đọc sai.
+Tình huống 2: Bị phụ huynh lật tẩy.
Câu 4.
|
Hãy nêu bài học ý nghĩa nhất đối với em rút ra từ văn bản trên. |
Phương pháp:
Rút ra bài học em học được từ văn bản
Chú ý bài học phù hợp với chuẩn mực đạo đức
Lời giải chi tiết:
Gợi ý: luôn học hỏi, không nên che dấu cái dốt của mình, không nên sĩ diện hão,…
Câu 5.
|
Qua câu chuyện, tác giả dân gian đã phê phán kiểu người nào trong xã hội bấy giờ? |
Phương pháp:
Từ nội dung văn bản, xác định đối tượng mà tác giả dân gian muốn phê phán
Lời giải chi tiết:
Tác giả phê phán thói dốt nát và sĩ diện hão của những ông thầy đồ ngày xưa.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của tiếng cười trong truyện Tam đại con gà. |
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại truyện cười, xác định yếu tố tiếng cười trong truyện
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở đoạn
- Tổng quan về thể loại truyện cười: Được tạo ra từ trí óc hài hước và là công cụ quan trọng trong cuộc chiến chống lại sự ngớ ngẩn của chúng ta.
- Giới thiệu về truyện Tam đại con gà: Là một tác phẩm hài hước, sử dụng tiếng cười để chỉ trích sự ngớ ngẩn nhưng kiêu căng của thầy giáo.
2. Thân đoạn
a. Hành động gây cười
- Thầy đồ che giấu sự ngu dốt bằng cách giải thích vô căn cứ và mê tín cầu thần thánh.
- Thầy xem dạy học như trò may rủi, tự mãn trong sự ngớ ngẩn.
b. Câu nói gây cười
- Lời giải thích "dủ dỉ là con dù dì" phi lý và lố bịch.
- Đổ lỗi cho thổ công thay vì nhận sai.
- Ngụy biện láu cá khiến người đọc bật cười, bộc lộ sự xảo trá và huênh hoang.
c. Ý nghĩa của tiếng cười
- Chỉ trích những kẻ ngu dốt nhưng tự tin khoe khoang.
- Phê phán tình hình xã hội thực: Người dốt lại làm thầy.
- Khuyên bảo mọi người không nên che giấu sự ngu dốt mà hãy can đảm học hỏi.
3. Thân đoạn
- Tóm tắt lại nội dung và nghệ thuật tạo tiếng cười trong câu chuyện tam đại con gà.
- Diễn đạt ý kiến cá nhân về những tiếng cười đó: Tiếng cười trong câu chuyện không chỉ mang lại niềm vui mà còn là bài học để mỗi người tự suy ngẫm và tự đánh giá.
Bài tham khảo
Truyện cười Tam đại con gà là một tác phẩm tiêu biểu, sử dụng tiếng cười để phê phán thói ngu dốt nhưng lại kiêu căng, huênh hoang của thầy đồ. Thầy đồ trong câu chuyện gây cười bằng những hành động và lời nói phi lý. Khi không biết chữ “kê” nghĩa là gì, thầy không dám thừa nhận mà còn cầu khấn thổ công để che giấu sự dốt nát. Đỉnh điểm là lời giải thích “kê là dủ dỉ là con dù dì,” vừa vô căn cứ vừa lố bịch. Khi bị phát hiện sai lầm, thay vì nhận lỗi, thầy đổ lỗi cho thổ công, ngụy biện láu cá bằng cách viện dẫn bài đồng dao để biện hộ. Tiếng cười trong truyện không chỉ phát ra từ sự phi lý trong hành động và lời nói của thầy mà còn chứa đựng ý nghĩa sâu sắc. Nó phê phán những kẻ dốt nhưng tự tin khoe khoang, đồng thời phản ánh thực trạng xã hội khi người thiếu năng lực lại làm thầy. Qua đó, truyện gửi gắm bài học: thay vì che giấu sự thiếu hiểu biết, con người cần biết khiêm tốn học hỏi để hoàn thiện bản thân. Tiếng cười trong Tam đại con gà không chỉ mang lại niềm vui mà còn để lại những suy ngẫm ý nghĩa về cuộc sống.
Câu 2.
|
Viết bài văn nêu suy nghĩ của em về vấn đề tuổi trẻ cần có trách nhiệm với việc bảo vệ môi trường sống. |
Phương pháp:
Vận dụng hiểu biết của em về vấn đề
Chú ý hình thức một bài văn gồm 3 phần: mở bài – thân bài – kết bài
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: trách nhiệm của tuổi trẻ đối với việc bảo vệ môi trường sống
2. Thân bài
- Giải thích vì sao tuổi trẻ cần có trách nhiệm với vấn đề bảo vệ môi trường sống:
+ Tuổi trẻ là lực lượng lao động chính của xã hội, có nhiều sức lực, tâm huyết và khả năng làm việc tốt hơn các thế hệ khác (còn nhỏ tuổi hoặc đã lớn tuổi)
+ Thế hệ trẻ ngày nay được đào tạo bài bản, chỉn chu, tiếp xúc nhiều với khoa học kĩ thuật, có khả năng áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào cong cuộc bảo vệ môi trường sống, giúp hoạt động này có một bước tiến xa hơn thế hệ trước đã làm
- Biểu hiện và kết quả khi thế hệ trẻ thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường sống:
+ Tham gia các hoạt động tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường sống không chỉ qua các buổi gặp mặt, phát tờ rơi, mà còn thông qua các trang mạng xã hội dành cho người trẻ như instagram, facebook, tiktok…, giúp lan tỏa mạnh mẽ
+ Tham gia các hoạt động dọn dẹp vệ sinh xung quanh môi trường sống, cắt tỉa cây cối… với hiệu suất cao nhờ sức trẻ và tinh thần cống hiến, nhiệt huyết tuổi trẻ…
+ Đẩy mạnh các phong trào bảo vệ môi trường sống như dọn vệ sinh, tiết kiệm điện, chạy bộ vì môi trường… giúp dâng cao làn sóng bảo vệ môi trường trong cộng đồng…
- Mặt trái của việc thế hệ trẻ tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường sống:
+ Nhiều người trẻ chưa có ý thức tham gia các hoạt động tập thể bảo vệ môi trường sống, thậm chí còn cố tình gây ra các hành vi phá hoại môi trường
+ Một bộ phận người trẻ tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường nhằm đánh bóng tên tuổi, hoặc vì mục đích riêng, không chú tâm vào hoạt động chính, thậm chí gây nên các tác động tích cực
→ Đây chỉ là một bộ phận nhỏ, không đại diện cho toàn bộ giới trẻ ngày nay và dần được chấn chỉnh, thay đổi tác phong, cách suy nghĩ theo thời gian
- Liên hệ bản thân:
+ Là một người trẻ, em có thái độ, suy nghĩ như thế nào về việc tham gia bảo vệ môi trường sống của giới trẻ xung quanh mình?
+ Bản thân em đã tham gia những hoạt động nào để bảo vệ môi trường sống xung quanh mình? Cảm nghĩ của em về hoạt động đó và những người tham gia cùng mình?
3. Kết bài
Suy nghĩ của em về trách nhiệm của tuổi trẻ đối với việc bảo vệ môi trường sống
Bài tham khảo
Bảo vệ môi trường sống là trách nhiệm chung của cả cộng đồng. Tuy nhiên, với sức trẻ, sự năng động và nhiệt huyết, thế hệ trẻ tuổi vẫn luôn đóng vai trò là ngọn cờ tiên phong cho phong trào này.
Theo đó, không phải chỉ những người trẻ mới có trách nhiệm với việc bảo vệ môi trường. Mà là trong các lứa tuổi, tuổi trẻ là giai đoạn con người có nhiều sức khỏe, tinh thần nhất cho việc này. Nếu trẻ em là ngày mai của đất nước, người già là ngày hôm qua thì những người trẻ tuổi chính là ngày hôm nay của tổ quốc. Vì thế, chúng ta phải làm sao cho ngày hôm nay thật rực rỡ, thật thành công để kế thừa những gì “ngày hôm qua đã làm được”. Và chuẩn bị một nền tảng tốt cho “ngày mai” tiếp bước. Thế nên, là một người trẻ, chúng ta cần cống hiến hết sức mình cho tổ quốc, trong đó có nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Đó không phải là việc gì quá to lớn, khó khăn, mà có thể làm được ngay từ các hành động nhỏ nhặt nhất. Như quét dọn vệ sinh nơi ở, trường lớp, đường phố thật sạch sẽ. Phân loại rác trước khi vứt, và vứt rác đúng nơi quy định. Hạn chế sử dụng các loại đồ nhựa chỉ sử dụng một lần. Tiết kiện điện, nước và các tài nguyên thiên nhiên khác. Đó chính là bảo vệ môi trường sống của chúng ta rồi. Ngoài ra, chúng ta còn có thể tham gia các hoạt động tập thể như trồng cây gây rừng, tuyên truyền bảo vệ môi trường, đấu tranh chống nạn khai thác gỗ trái phép… Chỉ cần mỗi người trẻ chúng ta có ý thức hơn một chút về trách nhiệm của mình, cố gắng hơn một chút trong từng hành động, quyết liệt hơn một chút trong suy nghĩ, thì khi đó công cuộc bảo vệ môi trường sống sẽ trở nên hiệu quả hơn bao giờ hết. Và tất nhiên, khi môi trường sống được bảo vệ và nâng cao hơn mỗi ngày thì chính bản thân chúng ta là người được tận hưởng nó. Thử nghĩ mà xem, việc được bước đi trên con đường sạch sẽ, có bóng cây mát rượi, không khí trong lành, có tiếng chim hót líu lo và chẳng có bóng dáng mẩu rác nào ven đường. Như vậy, chẳng phải thật quá tuyệt vời hay sao?
Vì vậy, là một người trẻ, chúng ta hãy cùng nhau đứng dậy, gánh trên vai trọng trách bảo vệ môi trường sống của chính chúng ta ngay hôm nay!
Đề thi học kì 1 Văn 8 - Đề số 9
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
KHÔNG CẦN HỌC NỮA
Một lão nhà giàu đã dốt lại hà tiện. Con đã lớn mà không cho đi học, sợ tốn tiền. Một ông khách thấy vậy, hỏi:
- Sao không cho thằng nhỏ đi học trường?
- Cho cháu đến trường, sợ học trò lớn bắt nạt.
- Thì rước thầy về nhà cho cháu học vậy!
- Nó chưa có trí, biết nó có học được hay không?
- Có khó gì, thầy sẽ tuỳ theo sức nó mà dạy. Nay dạy chữ nhất là một, một gạch, qua ngày mai, dạy nó chữ nhị là hai, hai gạch, qua bữa mốt, dạy nó chữ tam là ba, ba gạch, lần lần như vậy thì cháu phải biết chữ.
Khách ra về, thằng con mới bảo cha:
- Thôi, cha đừng rước thầy về tốn kém. Mấy chữ ấy con không học cũng biết rồi ... Con nghe qua là đã thuộc!
Người cha bảo nó viết chữ nhất, chữ nhị, chữ tam, nó viết được cả, ông ta khen con sáng dạ, không mời thầy về nữa. Một hôm, người cha bảo nó viết chữ vạn. Nó thủng thẳng ngồi viết, viết mãi đến chiều tối cũng chưa xong. Người cha mắng:
- Viết gì mà lâu thế?
Nó thưa.
- Chữ vạn dài lắm bố ạ! Con viết hơn nửa ngày mà được nửa chữ thôi!
(Trích Bình giảng truyện cười, Nguyễn Việt Hùng, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, tr.99 – 100)
Câu 1 (0.5 điểm): Nhân vật chính trong truyện cười trên là ai?
Câu 2 (0.5 điểm): Vì sao người con trong truyện cười trên đã lớn mà người cha không cho đi học?
Câu 3 (1.0 điểm): Yếu tố gây cười của câu chuyện thể hiện rõ nhất ở câu nói nào?
Câu 4 (1.0 điểm): Từ “hà tiện” trong câu văn: “Một lão nhà giàu đã dốt lại hà tiện” có nghĩa như thế nào?
Câu 5 (1.0 điểm): Tại sao cậu bé trong truyện mất nhiều thời gian vẫn viết chưa xong chữ “vạn”?
Câu 6 (1.0 điểm): Qua câu chuyện, tác giả dân gian muốn phê phán thói xấu nào của con người?
Câu 7 (1.0 điểm): Giả sử là một người trực tiếp chứng kiến cuộc đối thoại của hai cha con trong câu chuyện trên, em sẽ nói gì để người cha hiểu được tầm quan trọng của việc cho con đến trường học tập? (Trả lời khoảng 5 – 7 dòng)
PHẦN VIẾT (4.0 điểm)
Là con thì phải tuyệt đối nghe lời mẹ cha
Là một người con, em suy nghĩ thế nào về quan điểm trên? Hãy viết một bài văn nghị luận để bày tỏ ý kiến của mình.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, xác định nhân vật chính
Lời giải chi tiết:
Nhân vật chính trong văn bản là lão nhà giàu
Câu 2.
Phương pháp:
Chú ý đặc điểm tính cách của lão nhà giàu được nêu ở phần mở đầu văn bản
Lời giải chi tiết:
Vì người cha là một lão nhà giàu nhưng lại dốt nát, hà tiện.
Câu 3.
Phương pháp:
Xác định câu nói gây cười trong truyện
Lời giải chi tiết:
Yếu tố gây cười của câu chuyện thể hiện rõ nhất ở câu nói: “Chữ vạn dài lắm bố ạ! Con viết hơn nửa ngày mà được nửa chữ thôi!”
Câu 4.
Phương pháp:
Dựa vào ngữ cảnh, xác định nghĩa của từ
Lời giải chi tiết:
Từ “hà tiện” trong câu văn có nghĩa là keo kiệt, bủn xỉn, dù có điều kiện kinh tế nhưng không muốn bỏ ra.
Câu 5.
Phương pháp:
Chú ý câu nói của người khách và người con để hiểu hàm ý sâu xa
Lời giải chi tiết:
Cậu bé trong truyện mất nhiều thời gian nhưng vẫn chưa viết xong chữ “vạn” vì cậu đã hiểu chữ “vạn” theo nghĩa đen, rằng nó bao gồm một số lượng rất lớn các nét gạch thay vì nhận thức đó là một ký tự chữ Hán. Do đó, cậu đã ngồi viết hàng ngàn nét gạch liên tiếp, dẫn đến việc “viết mãi không xong”.
Câu 6.
Phương pháp:
Chú ý lối sống, hành động của lão nhà giàu và đứa con
Lời giải chi tiết:
Qua câu chuyện, tác giả dân gian muốn phê phán thói keo kiệt, dốt nát và tư duy bảo thủ của con người
Câu 7.
Phương pháp:
Tưởng tượng bối cảnh và nêu suy nghĩ
Lời giải chi tiết:
Em sẽ nói với ông lão rằng việc cho con đến trường học tập không chỉ giúp nó biết chữ mà còn giúp mở mang trí tuệ và có khả năng tự lập trong tương lai. Dù ban đầu có tốn kém, nhưng tri thức là tài sản lâu dài, không ai có thể lấy đi được. Nếu con ông được học, sau này nó có thể làm việc tốt hơn, giúp gia đình ngày càng phát triển. Ông đầu tư cho con học hôm nay chính là tạo dựng tương lai tốt đẹp cho cả nhà mình.
PHẦN VIẾT (4.0 điểm)
Phương pháp:
- Xác định vấn đề cần bàn luận: nghị luận về quan điểm: “Là con thì phải tuyệt đối nghe lời
mẹ cha”
- Xác định hình thức bài văn nghị luận gồm 3 phần: mở bài - thân bài - kết bài
- Nêu luận điểm: đồng tình/ không đồng tình hoặc đồng tình một phần
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
I. Mở bài
- Giới thiệu về vai trò của cha mẹ trong cuộc sống của mỗi người.
- Dẫn dắt đến quan điểm: “Là con thì phải tuyệt đối nghe lời mẹ cha”
- Đặt vấn đề: Quan điểm này có thực sự đúng trong mọi hoàn cảnh?
II. Thân bài
1. Giải thích vấn đề
- "Tuyệt đối nghe lời mẹ cha”: Là luôn làm theo mọi điều cha mẹ dạy bảo, không phản kháng, không tự ý làm trái lời cha mẹ.
- Quan điểm này thể hiện lòng kính trọng, biết ơn cha mẹ vì công lao sinh thành, dưỡng dục.
2. Bàn luận
a. Mặt đúng của quan điểm
- Cha mẹ thường có kinh nghiệm sống phong phú, hiểu biết và tình yêu thương dành cho con.
- Những lời dạy bảo của cha mẹ thường xuất phát từ mong muốn tốt đẹp, giúp con cái trưởng thành và tránh sai lầm.
- Nghe lời cha mẹ là cách thể hiện lòng hiếu thảo và đạo làm con.
b. Hạn chế của quan điểm
- Không phải lúc nào cha mẹ cũng đung, vì tư duy, quan điểm của cha mẹ đôi khi bị ảnh hưởng bởi thời đại và hoàn cảnh sống.
- Nếu cha mẹ áp đặt, không lắng nghe ý kiến của con cái, quan điểm này có thể làm mất đi sự tự lập và sáng tạo của con.
- Trong một số trường hợp, việc “tuyệt đối nghe lời” có thể dẫn đến hậu quả tiêu cực nếu lời khuyên không phù hợp với tình hình thực tế.
c. Liên hệ bản thân
- Làm con cần lắng nghe và cân nhắc ý kiến của cha mẹ, nhưng cũng cần có chính kiến và sự tự chủ.
- Trong những trường hợp cha mẹ không đúng, con cái cần khéo léo bày tỏ ý kiến và thuyết phục thay vì chỉ tuân theo một cách máy móc.
3. Bài học rút ra
- Cần xây dựng mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái dựa trên sự tôn trọng và thấu hiểu lẫn nhau.
- Một người con hiếu thảo không chỉ biết vâng lời mà còn biết góp ý và làm điều đúng đắn, ngay cả khi điều đó trái với ý cha mẹ.
III. Kết bài
- Khẳng định tầm quan trọng của việc lắng nghe lời cha mẹ nhưng cũng cần linh hoạt trong việc áp dụng.
- Kêu gọi mọi người trân trọng và tôn trọng cha mẹ, đồng thời phát huy tinh thần tự lập để trở thành người con có trách nhiệm với chính mình và gia đình.
Bài tham khảo
Cha mẹ là người có công lao sinh thành, dưỡng dục, dành cả đời để yêu thương và dạy bảo con cái. Chính vì thế, trong xã hội Việt Nam, quan điểm “Là con thì phải tuyệt đối nghe lời mẹ cha” từ lâu đã trở thành một chuẩn mực đạo đức. Tuy nhiên, liệu rằng quan điểm này có đúng trong mọi hoàn cảnh, hay cần được xem xét linh hoạt hơn?
Trước hết, "tuyệt đối nghe lời mẹ cha" có nghĩa là con cái cần làm theo mọi lời dạy bảo của cha mẹ, không phản kháng, không đặt câu hỏi. Quan điểm này xuất phát từ lòng hiếu thảo, thể hiện sự kính trọng và biết ơn đối với cha mẹ. Bởi cha mẹ thường là người từng trải, có nhiều kinh nghiệm sống, nên những lời dạy bảo thường xuất phát từ tình yêu thương và mong muốn tốt đẹp cho con cái. Nghe lời cha mẹ là cách thể hiện đạo làm con, giúp con cái tránh được những sai lầm và định hướng tốt hơn trong cuộc sống.
Tuy nhiên, quan điểm này không phải lúc nào cũng đúng đắn. Cuộc sống hiện đại ngày nay thay đổi nhanh chóng, có những vấn đề mà tư duy của cha mẹ đôi khi không còn phù hợp với thực tế. Nếu cha mẹ áp đặt quan điểm mà không lắng nghe ý kiến của con, điều này có thể làm mất đi sự tự lập, sáng tạo của con cái. Đặc biệt, trong một số trường hợp, lời khuyên của cha mẹ không chính xác có thể dẫn đến những hậu quả tiêu cực nếu con cái tuân theo một cách mù quáng.
Là con, chúng ta cần lắng nghe và trân trọng lời dạy của cha mẹ, nhưng cũng cần suy nghĩ kỹ lưỡng và cân nhắc áp dụng vào thực tế. Trong trường hợp nhận thấy cha mẹ chưa hoàn toàn đúng, chúng ta cần bày tỏ ý kiến một cách khéo léo, nhẹ nhàng để cha mẹ hiểu và đồng thuận. Đây không chỉ là sự thể hiện lòng hiếu thảo mà còn là trách nhiệm của một người con đối với chính mình và gia đình.
Tóm lại, việc lắng nghe lời cha mẹ là cần thiết, nhưng không nhất thiết phải tuyệt đối trong mọi hoàn cảnh. Một người con hiếu thảo là người biết tôn trọng cha mẹ, nhưng cũng có chính kiến và hành động phù hợp với thực tế. Sự kết hợp hài hòa giữa lắng nghe và tự chủ chính là chìa khóa để xây dựng một gia đình hạnh phúc và phát triển.
Đề thi học kì 1 Văn 8 - Đề số 10
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
ĐẾN CHẾT VẪN HÀ TIỆN
Ngày xưa có anh nhà giàu, tính hà tiện ăn chẳng dám ăn, mặc chẳng dám mặc, chỉ khư khư tích của làm giàu. Có người bạn rủ ra tỉnh[1] chơi, anh nấn ná không đi vì sợ, đi với bạn phải đãi bạn. Bị người ta chê cười mãi, một hôm, anh vào buồng giắt một quan tiền[2] vào lưng, rồi sai một người ở cùng đi lên tỉnh.
Đến tỉnh, anh trông thấy cái gì cũng muốn mua, nhưng sợ mất tiền rồi lại thôi. Trời nắng như thiêu, anh muốn vào quán uống nước, nhưng sợ phải trả tiền cho người nhà, đành đi qua.
Đến chiều trở về, khi qua đò, đến giữa dòng, anh khát quá không chịu được mới cúi xuống uống nước chẳng may lộn cổ xuống sông.
Anh người nhà vội kêu to lên:
- Ai cứu chủ tôi, xin thưởng một quan tiền!
Anh keo kiệt đương loay hoay giữa dòng, nghe tiếng, cố ngoi lên nói:
- Một quan đắt lắm!
Anh người nhà vội chữa lại:
- Thôi thì năm tiền vậy!
Anh keo kiệt lại cố ngoi lên một lần nữa và chỉ kịp nói: “Năm tiền còn đắt quá…!” [3] rồi chìm nghỉm.
(Trích Văn học dân gian những tác phẩm chọn lọc, Bùi Mạnh Nhị - Chủ biên, NXB Giáo dục, 2004, tr. 88,89)
Chú thích
1. Ra tỉnh: tức là ra tỉnh lị, lên tỉnh lị, nay gọi là thị xã.
2. Quan tiền: thời xưa tiều xâu lại thành chuỗi, cứ mười đồng là một tiền, trăm đồng là một quan (một quan có mười tiền).
3. Truyện có nhiều dị bản. Truyện trên đây soạn dựa theo tài liệu của Đỗ Thận và Nguyễn Hồng Phong.
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể loại của văn bản trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Văn bản trên được kể theo ngôi thứ mấy?
Câu 3 (1,0 điểm). Em hãy chỉ ra một câu mang nghĩa hàm ẩn trong văn bản trên.
Câu 4 (1,0 điểm). Nêu hiệu quả yếu tố gây cười trong văn bản “Đến chết vẫn hà tiện”.
Câu 5 (1,0 điểm). Từ câu chuyện “Đến chết vẫn hà tiện”, em hãy rút ra một bài học có ý nghĩa nhất với bản thân và lí giải vì sao?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) phân tích nét đặc sắc về thủ pháp gây cười được thể hiện trong câu chuyện trên.
Câu 2 (4,0 điểm).
Hiện nay, có một bộ phận học sinh đang hút thuốc lá điện tử gây ra những tác hại nghiêm trọng.
Em hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về vấn đề trên.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Thể loại: truyện cười
Câu 2.
Phương pháp:
Chú ý lời của người kể chuyện
Lời giải chi tiết:
Văn bản “Đến chết vẫn hà tiện” kể theo ngôi thứ ba.
Câu 3.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về nghĩa tường mình, nghĩa hàm ẩn
Lời giải chi tiết:
Hai câu có mang nghĩa hàm ẩn:
- Một quan đắt lắm!
- Năm tiền còn đắt quá…!
Câu 4.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
- Các sự việc gây cười: khi được bạn rủ đi nấn ná không đi vì sợ phải đãi bạn; trông thấy cái gì cũng muốn mua nhưng sợ phải mất tiền; khát nước cũng không dám mua uống vì sợ trả tiền cho người nhà; khi bị ngã xuống sông vẫn tiếc tiền hơn mạng sống.
- Ý nghĩa tiếng cười: Truyện bật tiếng cười phê phán thói keo kiệt, hà tiện của con người.
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra bài học phù
Lời giải chi tiết:
+ Trong cuộc sống ta không nên quá keo kiệt, bủn xỉn dẫn đến những điều tệ hại cho bản thân mình.
+ Thói keo kiệt, bủn xỉn là thói xấu, không đáng để chúng ta học hỏi.
+ Chúng ta phải trân trọng sự sống của mình không nên vì quá hà tiện mà đánh đổi cả mạng sống của chính mình.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
- Hình thức: một đoạn văn, thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo một trong các cách: diễn dịch, quy nạp, phối hợp, song song.
- Dung lượng: khoảng 150 chữ.
- Vận dụng thao tác lập luận, phân tích
Lời giải chi tiết:
- Truyện ngắn gọn, cốt truyện tập trung vào sự việc có yếu tố gây cười.
- Bối cảnh của câu chuyện được cường điệu so với thực tế.
- Tạo tình huống trớ trêu. Mâu thuẫn, nghịch lí gây cười ở đây là mâu thuẫn, nghịch lí giữa những nhu cầu cần thiết (mua đồ, uống nước, được cứu mạng) và thói keo kiệt. Các hành động keo kiệt được phóng đại, tăng cấp lớn dần lên đỉnh điểm để tạo ra sự oái ăm, tréo ngoe nhằm bật ra tiếng cười.
- Sắp đặt lời thoại hợp lí, ngôn ngữ của nhân vật dân dã dễ hiểu, để tạo sự bất ngờ, từ đó lật tẩy bản chất hà tiện của nhân vật.
- Ý nghĩa của truyện: thông qua câu chuyện một người keo kiệt đến nỗi sắp chết rồi vẫn mặc cả, tác giả dân gian phê phán thói hà tiện của con người.
Câu 2.
Phương pháp:
- Xác định được các ý chính của bài viết.
- Sắp xếp được các ý hợp lí theo theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận.
Lời giải chi tiết:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận: Việc hút thuốc lá điện tử của một bộ phận học sinh hiện nay.
* Triển khai vấn đề cần nghị luận
Học sinh có thể triển khai vấn đề theo nhiều cách khác nhau, có thể đưa ra nhiều góc nhìn không giống như đáp án tuy nhiên cần có sức thuyết phục, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức và pháp luật, đảm bảo được các ý cơ bản sau:
- Giải thích: Thuốc lá điện tử là thiết bị mô phỏng hình dạng và chức năng của thuốc lá truyền thống. Nhưng khác với thuốc lá thường, thuốc lá điện tử không tạo khói mà tạo ra luồng hơi có mùi vị và cảm giác giống thuốc lá thật.
- Thực trạng của hiện tượng hút thuốc lá điện tử của một bộ phận học sinh: hút thuộc lá điện tử trong các quán hàng, trong nhà vệ sinh ở trường,…
- Bày tỏ quan điểm của cá nhân đồng tình với ý kiến: Việc hút thuốc lá điện tử của một bộ phận học sinh gây tác hại nghiêm trọng. Bởi vì:
+ Hút thuốc lá điện tử ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe vì trong khói thuốc có nhiều chất độc hại như chất nicotin, hương liệu tạo mùi,..
+ Ảnh hưởng đến kết quả học tập: ngại học, lười học, chểnh mảng, sa sút trong học tập
+ Ảnh hưởng đến nhân cách, đạo đức: thiếu trung thực, dẫn đến nhiều sai lầm khác.
+ Đe dọa hạnh phúc gia đình: bố mẹ phiền lòng, lo lắng, bất an...
+ Ảnh hưởng xấu đến môi trường học đường.
- Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện
* Kết thúc vấn đề NL: Khẳng định ý kiến của bản thân, rút ra bài học.
Đề thi học kì 1 Văn 8 - Đề số 11
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi:
Con về quê cũ trời thưa vắng
Ngõ cúc buồn tênh dậu cúc già
Bên thềm trầu úa không người hái
Cau đã mấy mùa quên trổ hoa.
Nhớ xưa bóng ngoại nghiêng chiều nắng
Tóc trắng cùng mây trắng dưới trời
Xòe tay ngoại đếm từng thu cuối
Con nào hay biết mỗi thu vơi
Con đi mỗi bước xa, xa mãi
Dáng ngoại bên hiên. Nắng tắt dần
Lả nghiêng về cội con tìm ngoại
Tê tái chiều buông tím góc sân
(Nhớ ngoại, Bảo Ngọc, in trong tập Giữ lửa, NXB Hội Nhà văn 2015)
Chú thích: Nhà thơ Bảo Ngọc với cái tên gần gũi: “Người lưu giữ Kỷ ức đồng quê cho trẻ”. Chị có khá nhiều bải thơ được lựa chọn đưa vào Sách giáo khoa bậc TH và THCS, có vài chục bải thơ được phổ nhạc, được hòa âm phối khí dàn dựng trong Liên hoan tiềng hảt thiểu nhi Thủ đô và được trao giải.
Câu 1 (0,5 điểm): Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
Câu 2 (0,5 điểm): Hãy chỉ ra chủ thể trữ tình và đối tượng trữ tình trong bài thơ.
Câu 3 (1,0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau:
Bên thềm trầu úa không người hái
Cau đã mấy mùa quên trổ hoa
Câu 4 (1,0 điểm): Em hiểu như thế nào về ý nghĩa của hai câu thơ:
Xòe tay ngoại đếm từng thu cuối
Con nào hay biết mỗi thu vơi
Câu 5 (1,0 điểm): Trong nhịp sống hiện đại ngày nay, chúng ta ít có thời gian được gần gũi với thế hệ ông bà và những người họ hàng thân thích ở những miền quê. Theo em, cần có những việc làm nào để rút ngắn khoảng cách về không gian địa lý, để tạo ra mối liên hệ gần gũi, gắn kết thường xuyên với ông bà, họ hàng ở quê xa?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích khổ thơ cuối của bài thơ
Câu 2 (4,0 điểm):
Hãy viết một văn bản nghị luận (khoảng 400 chữ) nêu suy nghĩ của em về vấn đề: Tình yêu quê hương, đất nước của thế hệ trẻ trong thời đại ngày nay.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Thể thơ 7 chữ
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc và xác định chủ thể trữ tình, đối tượng trữ tình
Lời giải chi tiết:
- Chủ thể trữ tình: Người cháu (nhân vật “con”) – người trở về quê, nhớ về người bà ngoại.
- Đối tượng trữ tình: Người bà ngoại đã khuất, cùng với cảnh quê hương gắn bó với ngoại.
Câu 3.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp nhân hoá
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ: Nhân hoá (“trầu úa không người hái”, “cau quên trổ hoa”).
- Tác dụng: Gợi sự tàn phai, hiu hắt của cảnh vật quê nhà khi vắng bóng người bà; qua đó bộc lộ nỗi nhớ thương, trống vắng trong lòng người cháu khi trở lại quê cũ.
Câu 4.
Phương pháp:
Dựa vào ngữ cảnh để xác định nghĩa của hai câu thơ
Lời giải chi tiết:
Hai câu thơ gợi hình ảnh người bà già yếu, mỗi mùa thu đến là một lần tuổi già thêm nặng, sức khỏe thêm giảm sút. Bà lặng lẽ đếm từng mùa thu như đếm những ngày cuối đời, còn người cháu vô tư, chưa thấu hiểu được sự hữu hạn ấy. Câu thơ thể hiện nỗi xót xa và hối tiếc muộn màng của người cháu khi nhớ về ngoại.
Câu 5.
Phương pháp:
Liên hệ thực tế
Lời giải chi tiết:
Để rút ngắn khoảng cách và giữ liên hệ với ông bà, họ hàng ở quê xa, chúng ta có thể:
- Thường xuyên gọi điện, video call thăm hỏi, chia sẻ cuộc sống.
- Về thăm quê khi có dịp, cùng ông bà làm việc, trò chuyện, ăn bữa cơm sum họp.
- Gửi quà, thiệp, ảnh thể hiện sự quan tâm, nhớ thương.
- Giữ gìn truyền thống gia đình, kể cho con cháu nghe về nguồn cội, giúp gắn kết các thế hệ.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc kĩ khổ thơ cuối
Xác định giá trị nội dung, nghệ thuật
Vận dụng thao tác lập luận, phân tích
Lời giải chi tiết:
Khổ thơ cuối là nốt lặng buồn, thấm đẫm nỗi nhớ và tiếc thương.
- Hình ảnh “con đi mỗi bước xa, xa mãi” gợi sự cách trở về không gian và thời gian, cũng là sự xa dần giữa người sống và người đã khuất.
- “Dáng ngoại bên hiên. Nắng tắt dần” vừa tả cảnh chiều tà, vừa ẩn dụ cho sự tàn phai của kiếp người.
- “Lả nghiêng về cội con tìm ngoại” – khát khao được trở về cội nguồn, tìm lại bóng hình yêu thương.
- “Tê tái chiều buông tím góc sân” – kết thúc bằng sắc tím buồn, thể hiện nỗi đau thương xen lẫn day dứt.
→ Khổ thơ gợi cảm xúc lắng sâu về tình bà cháu, về lòng hiếu thảo và nỗi nhớ quê hương da diết.
Câu 2.
Phương pháp:
Xác định vấn đề cần bàn luận
Liên hệ thực tế
Vận dụng thao tác lập luận, kĩ năng viết bài
Lời giải chi tiết:
Quê hương chính là nơi chúng ta cất tiếng khóc chào đời, là cái nôi đầu tiên đón nhận tiếng khóc đầu tiên của chúng ta. Những bước đi chập chững vào đời, những ký ức tuổi thơ không bao giờ quên được. Và là nơi là đến cuối cùng của cuộc đời chúng ta vẫn mong trở về nhất. Tình yêu quê hương được biểu hiện từ những tình cảm bình dị nhất là tình yêu gia đình hàng xóm, là nỗi niềm mong ngóng được trở về mỗi khi mình xa quê. Yêu quê hương chính là yêu những gì nơi mình sinh ra, yêu làng xóm, yêu con đường làng sỏi đá, gập ghềnh. Mỗi lần xa quê tình yêu ấy lại âm ỉ cháy trong tim, có khi da diết có khi sục sôi, có khi lại thổn thức. Là sự háo hức mỗi lần được trở về với đất mẹ sau mỗi lần xa quê. Tình cảm này là tình cảm không gì có thể thay thế được, nó luôn ở mãi trong tim của mỗi con người.
Khi đất nước ngày càng phát triển quá trình nông thôn mới cũng được đẩy mạnh hơn. Tình yêu quê hương được biểu hiện bằng hành động. Có rất nhiều người thành đạt xa quê đã có những đóng góp về tiền bạc và sức lực để xây dựng một quê hương ngày càng vững mạnh và phát triển hơn. Đây đều là những biểu hiện của tình yêu quê hương đất nước với mong muốn quê hương mình ngày càng phát triển hơn. Yêu quê hương còn là trách nhiệm xây dựng quê hương ngày càng phát triển hơn.
Ngày nay yêu quê hương không phải cứ phải cầm súng đánh giặc nữa, mà yêu quê hương chính là góp phần dựng xây quê hương phát triển ngày càng giàu mạnh hơn. Chúng ta là những thế hệ trẻ hãy góp phần công sức của mình để xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh hơn nữa.
Đề thi học kì 1 Văn 8 - Đề số 12
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
NÓI CÓ ĐẦU CÓ ĐUÔI
Lão nhà giàu nọ có anh đầy tớ tính rất bộp chộp, thấy gì nói ấy, gặp đâu nói đó, chẳng có đầu có đuôi gì cả. Lão mới gọi anh ta bảo:
- Mày ăn nói chẳng có đầu có đuôi gì cả, người ta cười cả tao lẫn mày. Từ rày nói cái gì thì phải nói cho có đầu có đuôi nghe không?
Anh đầy tớ vâng vâng dạ dạ.
Một hôm lão mặc quần áo sắp sửa đi chơi, đang ngồi hút thuốc thì thấy anh đầy tớ đứng chắp tay trịnh trọng nói:
- Thưa ông, con tằm nó nhả tơ, người ta đem tơ đi bán cho người Tầu, người Tầu đem dệt thành the rồi bán sang ta. Ông đi mua the về may thành áo. Hôm nay ông mặc áo, ông hút thuốc. Tàn thuốc nó rơi vào áo ông, và áo ông đang cháy...
Lão giật mình nhìn xuống thì áo đã cháy to bằng bàn tay rồi.
(Truyện cười dân gian Việt Nam, NXB Văn học, 2016)
Câu 1 (0,5 điểm). Truyện cười trên sử dụng ngôi kể nào?
Câu 2 (0,5 điểm). Xác định tình huống của truyện cười trên.
Câu 3 (1,0 điểm). Đối tượng gây cười trong truyện trên là ai?
Câu 4 (1,0 điểm). Thông điệp mà em rút ra từ truyện cười trên là gì?
Câu 5 (1,0 điểm). Nếu là lão nhà giàu trong câu chuyện, em sẽ nói gì với anh đầy tớ để tránh được việc chiếc áo bị cháy?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Từ văn bản trên, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nghệ thuật gây cười của truyện và nêu hiệu quả của nghệ thuật này trong việc thể hiện ý nghĩa phê phán của tác phẩm.
Câu 2 (4,0 điểm). Hiện nay, ở một số trường học còn có những hiện tượng đáng lo ngại. Em hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về một hiện tượng mà em quan tâm.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Chú ý lời của người kể chuyện
Lời giải chi tiết:
Ngôi kể thứ ba
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và xác định tình huống
Lời giải chi tiết:
Tình huống: Lão nhà giàu mặc quần áo sắp sửa đi chơi, đang ngồi hút thuốc thì áo bị cháy.
Câu 3.
Phương pháp:
Đọc và xác định đối tượng gây cười
Lời giải chi tiết:
Đối tượng gây cười: anh đầy tớ
Câu 4.
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra thông điệp phù hợp
Lời giải chi tiết:
- Nói phải đúng trọng tâm và kịp thời — không nên vòng vo mà bỏ sót điều quan trọng.
- Cần suy nghĩ trước khi nói, nhưng cũng phải biết nhạy bén, thực tế (khi việc cần gấp thì nói ngắn, rõ ràng).
Câu 5.
Phương pháp:
Liên hệ bản thân
Lời giải chi tiết:
Nếu là lão nhà giàu trong câu chuyện, em sẽ nói: “Từ nay nếu thấy có chuyện cấp bách, mày nói ngay thẳng và ngắn gọn — ví dụ: ‘Áo ông đang cháy!’ — rồi giúp dập lửa. Đừng kể vòng vo.”
=> Yêu cầu nói thẳng, thông báo kịp thời và kèm hành động giúp xử lý.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại truyện cười
Vận dụng thao tác lập luận, phân tích
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn
- Giới thiệu truyện cười “Nói có đầu có đuôi” thuộc kho tàng truyện cười dân gian.
- Gợi vấn đề: nghệ thuật gây cười độc đáo của truyện và ý nghĩa phê phán.
2. Thân đoạn
- Luận điểm 1: Tình huống gây cười được xây dựng bất ngờ.
+ Anh đầy tớ bị chủ nhắc nhở nên cố gắng “nói có đầu có đuôi” một cách máy móc.
+ Sự kéo dài câu chuyện theo kiểu vòng vo dẫn đến hậu quả khôi hài: áo chủ cháy to mà vẫn “thuyết minh”.
- Luận điểm 2: Nghệ thuật nói quá, nói vòng – đặc trưng của truyện cười dân gian.
+ Việc anh đầy tớ kể từ chuyện tằm → tơ → người Tàu → dệt the… tạo ra sự phi lí, dài dòng, gây tiếng cười.
- Luận điểm 3: Tiếng cười mang ý nghĩa phê phán và nhắc nhở.
+ Chê thói nói năng máy móc, không linh hoạt.
+ Phê phán cả sự quan liêu, hình thức của người chủ.
3. Kết đoạn
- Tiếng cười nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, giúp người đọc nhận ra những hạn chế trong giao tiếp đời sống.
- Khẳng định giá trị của truyện cười dân gian: vừa giải trí vừa phê phán xã hội thâm thúy.
Câu 2.
Phương pháp:
Xác định vấn đề cần bàn luận
Liên hệ thực tế
Vận dụng thao tác lập luận, chứng minh
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Tình trạng xả rác bừa bãi của học sinh ở trường lớp ngày nay.
2. Thân bài
a. Thực trạng
- Trên lớp không khó bắt gặp sau những giờ học rất nhiều giấy rác được xả ra nền nhà; trong thùng rác góc lớp. Hằng ngày trực nhật thu được rất nhiều rác trong một lớp học.
- Nhiều bạn học sinh có thói quen ăn quà vặt, sáng muộn giờ nên mang đồ ăn lên lớp, ăn xong tiện tay xả rác ở mọi nơi.
- Sau những giờ liên hoan, không khó để nhìn thấy rác thải vứt lung tung.
b. Nguyên nhân
- Do ý thức của các bạn học sinh chưa cao: các bạn cho rằng đã có cô chú lao công dọn dẹp; chưa nhận thức được những hệ quả của việc xả rác; chưa ý thức được trách nhiệm của bản thân mình đối với môi trường.
- Nguyên nhân khách quan: do sự thiếu sót của cha mẹ trong việc dạy dỗ các em về ý thức thu gom rác thải; do điều kiện ngoại cảnh (không có đủ thùng chứa rác,…).
c. Hậu quả
- Rác thải bị xả ra môi trường ngày càng nhiều gây ô nhiễm môi trường ngày càng nặng nề ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người.
- Việc xả rác gây lỗ hổng trong nhận thức và hành động của các em học sinh, từ đó gây nên một thói quen xấu cho thế hệ tương lai.
d. Giải pháp
- Trước hết, mỗi cá nhân người học sinh cần có ý thức tự giác, bỏ rác đúng nơi quy định, không vứt rác bừa bãi, biết phân loại và thu gom rác thải không chỉ của mình mà còn biết thu gom những rác thải ngoài môi trường.
- Gia đình cần giáo dục các em thói quen thu gom rác, hạn chế xả rác ra môi trường; dạy các em về những tác hại của rác thải và các biện pháp để bảo vệ môi trường.
- Nhà trường và xã hội có biện pháp giáo dục, tuyên truyền đến thế hệ trẻ việc bảo vệ môi trường sống.
3. Kết bài
Khái quát lại vấn đề và rút ra bài học cho bản thân.
Đề thi học kì 1 Văn 8 - Đề số 13
Đề thi
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Chạy giặc
Nguyễn Đình Chiểu
Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay.
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,
Mất ổ bầy chim dáo dác bay.
Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.
Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mắc nạn này?
(Trích “Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu” NXB văn học, 1971)
Ghi chú:
- Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), sinh ra tại quê mẹ - làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), quê cha ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Cuộc đời gặp nhiều bất hạnh, mất mát. Các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu truyền bá đạo lý làm người và cổ vũ tinh thần yêu nước.
- Tác phẩm: Bài thơ Chạy giặc (có sách ghi là Chạy Tây) là một trong những tác phẩm đầu tiên của văn học yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kỉ XIX. Bài thơ được viết vào khoảng năm 1959 khi thực dân Pháp đánh chiếm Gia Định, gây bao cảnh đau thương, mất mát cho nhân dân ta.
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 (0,5 điểm): Bài thơ được viết theo thể thơ nào?
Câu 2 (0,5 điểm): Bài thơ được viết theo luật Bằng hay Trắc, căn cứ vào đâu em biết?
Câu 3 (1,0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp đảo ngữ trong hai câu thơ:
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,
Mất ổ bầy chim dáo dác bay.
Câu 4 (1,0 điểm): Tâm trạng, tình cảm và thái độ của tác giả được thể hiện như thế nào qua bài thơ trên?
Câu 5 (1,0 điểm): Em rút ra thông điệp gì sau khi đọc bài thơ?
II.PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Từ nội dung bài thơ, em hãy viết đoạn văn nghị luận (200 chữ) để trả lời câu hỏi: Là học sinh, em cần làm gì để thể hiện tình yêu quê hương, đất nước?
Câu 2 (4,0 điểm): Em hãy phân tích bài thơ sau:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
(Cảnh khuya, Hồ Chí Minh, NXB văn học)
Ghi chú: Bài thơ được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết vào năm 1947 tại chiến khu Việt Bắc - trong những năm tháng đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954). Cuối năm 1947, quân Pháp ồ ạt tấn công lên Việt Bắc, hòng tiêu diệt lực lượng chủ yếu và cơ quan đầu não của ta. Chiến dịch Việt Bắc của quân và dân ta đã làm thất bại ý đồ của địch và tiêu diệt nhiều lực lượng của chúng.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Thể loại: Thất ngôn bát cú Đường luật
Câu 2.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
- Bài thơ được viết theo luật: Trắc
- Căn cứ vào chữ thứ hai của câu thứ nhất: từ chợ (T)
Câu 3.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp đảo ngữ
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp đảo ngữ: đảo vị trí của cụm chủ vị, của các từ trong cụm động từ.
Bỏ nhà /lũ trẻ /lơ xơ /chạy,
Mất ổ/ bầy chim/ dáo dác /bay.
- Tác dụng:
+ Giúp cho câu thơ sinh động, gợi cảm.
+ Nhấn mạnh sự vội vã, bất an, lo lắng, hốt hoảng, sợ hãi của lũ trẻ và bầy chim trước sự tàn phá của giặc Pháp khi sang xâm lược nước ta.
+ Làm nổi bật nỗi đau chia li trong tình cảnh chiến tranh.
Câu 4.
Phương pháp:
Đọc và xác định tâm trạng, thái độ của nhà thơ
Lời giải chi tiết:
- Tâm trạng thái độ của nhà thơ:
+ Tác giả bày tỏ nỗi đau đau đớn, phẫn nộ trước cảnh mất mát, ly tán do chiến tranh gây ra.
+ Lên tiếng tố cáo chiến tranh và tội ác của giặc Pháp.
+ Thể hiện tình yêu quê hương đất nước sâu nặng.
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra thông điệp phù hợp
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
- Cuộc sống yên bình của nhân dân đã bị phá hủy khi xảy ra chiến tranh.
- Chiến tranh gây ra đau thương, mất mất và chia li.
- Cần phải lên án tố cáo chiến tranh.
- Ý thức trách nhiệm của con người đối với quê hương đất nước.
….…………….
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
- Xác định đúng kiểu bài: nghị luận xã hội.
- Đoạn văn đảm bảo đúng cấu trúc (hình thức, độ dài của đoạn)
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận, vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.
Lời giải chi tiết:
1. Giải thích:
-Tình yêu quê hương đất nước là tình cảm sâu sắc và thiêng liêng mà mỗi người dành cho nơi mình sinh ra, lớn lên, và những giá trị văn hóa, lịch sử, con người nơi đó.
- Quê hương đất nước không chỉ là nơi sinh ra mà còn là nền tảng vững chắc cho sự hình thành và phát triển của mỗi con người cũng như của toàn xã hội.
2. Học sinh cần làm gì để thể hiện tình yêu quê hương, đất nước.
- Cần nhận thức được vai trò của quê hương đất nước rất quan trọng trong cuộc đời của mỗi con người.
- Học tập, tu dưỡng đạo đức trở thành người có kiến thức, có thể góp phần xây dựng quê hương.
- Tìm hiểu về lịch sử và những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của đất nước, từ đó thể hiện lòng biết ơn.
- Luôn phát huy những truyền thống tốt đẹp của gia đình, quê hương, đất nước.
- Sống có trách nhiệm, không làm những điều tổn hại đến quê hương đất nước.
….……
Câu 2.
Phương pháp:
- Xác định đúng kiểu bài: nghị luận văn học. Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài.
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận; triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.
Lời giải chi tiết:
1. Khái quát về tác giả, tác phẩm:
-Tác giả: Hồ Chí Minh (1890 - 1969) nhà cách mạng sáng suốt, vị lãnh tụ thiên tài và là một nhà thơ lớn của dân tộc. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người gắn liền với lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam.
-Tác phẩm: Ra đời vào những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp tại chiến khu Việt Bắc.
-Nội dung: Bài thơ miêu tả bức tranh thiên nhiên ở chiến khu Việt Bắc trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên, tâm hồn nhạy cảm, lòng yêu nước sâu nặng và phong thái ung dung, lạc quan của Bác Hồ.
2. Phân tích nội dung của tác phẩm
*Bức tranh thiên nhiên núi rừng Việt Bắc (2 câu thơ đầu).
-Vẻ đẹp của bức tranh cảnh khuya được gợi lên từ thanh âm: “Tiếng suối”. Biện pháp so sánh gợi lên vẻ đẹp tĩnh lặng, gần gũi và ấm áp.
-Bức tranh đêm trăng hiện lên giàu chất tạo hình trong những nét vẽ: “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa” gợi lên nhiều cách hiểu:
+ Ánh trăng chiếu xuống mặt đất xuyên qua từng tán cây, chiếu xuống cả những bông hoa rừng. Không gian thiên nhiên ngập tràn ánh trăng.
+ Ánh trăng sáng chiếu xuống mặt đất xuyên qua từng tán cây cổ thụ, khi phản chiếu xuống mặt đất tạo ra hình thù như những bông hoa.
-> Câu thơ gợi vẻ đẹp quyện hòa, đan cài của thiên nhiên.
*Vẻ đẹp tâm hồn thi sĩ quyện hòa cùng chất chiến sĩ của nhân vật trữ tình (2 câu thơ sau):
- Hình ảnh đó gợi lên từ trạng thái “cảnh khuya như vẽ”, khắc họa rõ nét cốt cách người nghệ sĩ, thể hiện sự rung động trước vẻ đẹp của đêm trăng chốn núi rừng Việt Bắc.
- Hình ảnh “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà” gợi mở vẻ đẹp của phẩm chất người chiến sĩ.
- Điệp từ “chưa ngủ” được nhắc lại hai lần đã tô đậm hơn nữa tình yêu thiên nhiên quyện hòa cùng tình yêu đối với nhân dân, đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
->Câu thơ thể hiện tinh thần lạc quan, phong thái ung dung và cốt cách của người chiến sĩ các mạng Hồ Chí Minh.
3. Đánh giá về nghệ thuật của tác phẩm
- Vận dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt ngắn gọn, hàm xúc.
- Sử dụng từ ngữ giản dị: Ngôn ngữ của bài thơ rất gần gũi, dễ hiểu, nhưng lại đầy hình ảnh sinh động. Từ ngữ như “suối”, "trăng", "rừng", "cảnh khuya" khiến người đọc cảm nhận được sự gần gũi với thiên nhiên.
- Sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, điệp ngữ để làm nổi bật vẻ đẹp của thiên nhiên và tâm trạng của người chiến sĩ cách mạng.
- Nhịp thơ linh hoạt: mềm mại, uyển chuyển, thể hiện sự êm đềm của cảnh vật và tâm trạng của con người trong đêm khuya.
- Âm điệu: trầm bổng nhẹ nhàng, sâu lắng với nội dung trữ tình tạo nên một cảm xúc lắng đọng cho người đọc.
- Bài thơ vừa mang vẻ đẹp cổ điển vừa mang vẻ đẹp hiện đại, không chỉ thể hiện vẻ đẹp của núi rừng mà còn là tình yêu thiên nhiên, đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đề thi học kì 1 Văn 8 - Đề số 14
Đề thi
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn văn bản sau vàn thực hiện các yêu cầu:
Lòng trung thực từ một ván cờ
Sáng tinh mơ thức dậy, vừa xuống phòng khách tôi đã thấy một tờ giấy ghi dòng chữ rất to: “Bố đừng xoá bàn cờ của con”. Nhìn nét chữ nguệch ngoạc của cậu con trai thứ hai, cạnh một bàn cờ vua vẽ bằng giấy với la liệt các quân bị ăn nằm lăn lóc bên cạnh, tôi thoáng nhận ra thế cờ tàn mà hai anh em đang chơi dở.
Không cần nhiều thời gian phân tích, tôi cũng biết rằng với sức cờ hơn hẳn của cậu anh ( vẫn chơi quân cờ màu đen), nhiều khả năng cậu em (chơi quân trắng) sẽ phải thua trong vài nước nữa. Dĩ nhiên, điều này còn đòi hỏi người chơi thật tinh, chọn giải pháp hợp lí nhất, không sai sót. Nếu không thì, vẫn có thể...
Tôi hình dung trận đấu đêm qua căng lắm nên khuya thế mà bàn cờ vẫn còn dang dở. Trước đó, tôi lấy làm lạ vì hình như hôm nay cậu em thức dậy khá sớm. Cậu cứ nằm trên giường trằn trọc, lăn qua lăn lại mãi. Giờ thì tôi hiểu, cậu đang lo tính kế quyết đấu trong một thế cờ ẩn chứa nhiều tuyệt vọng.
Dù không đụng chạm vào “bãi chiến trường” dưới đất, tôi vẫn cẩn thận lấy giấy bút ghi lại hiện trạng đang có trên bàn cờ.
Khi ra sân tập thể dục trở lại nhà, tôi nhìn thấy cậu em đang im lặng khóc. Bàn cờ đã dẹp. Hai anh em khi tỉnh dậy đã vội vã lao ngay vào cuộc “tỉ thí” với ván cờ dở dang. Và kết cục thì có lẽ các bạn đã đoán ra. Cậu em đã thất bại. Đúng như lời ông anh vẫn nói, giọng giễu cợt “Mới chơi mà cứ đòi thắng người ta. Thắng thế nào được!”.
Nhưng tôi lấy làm ngạc nhiên vì những giọt nước mắt của cậu em hôm nay ẩn chứa một điều gì. Hình như cậu cảm thấy mất niềm tin vào chính bản thân mình (sau những trăn trở, quyết tâm dồn nén trong đêm)? Tôi liền lấy tờ giấy chép thế cờ mà tôi đã ghi lại lúc sáng. Cả ba bố con cùng diễn lại cách chơi. Cuối cùng mọi người phát hiện ra có một quân cờ đã bị đặt sai chỗ ngay từ đầu. Cái sai này đã đem lại một lợi thế hơn hẳn cho cậu anh.
Dù sắp đến giờ đi học, hai anh em vẫn hì hục chơi lại. Cậu em bình tĩnh đi như đã nghĩ rất lung từ trong đêm. Và chỉ sau 5 nước nữa, cậu đã có một nước chiếu vĩnh viễn. Đây là nước chiếu dẫn tới thế cờ mà bất kì ai chơi cờ vua cũng rõ: Hoà.
Vâng, chỉ là hoà thôi. Nhưng với cậu em, đây quả là một “kiệt tác”.
Tôi không dám khẳng định một điều: Hình như cậu anh đoán ra được quyết tâm của em và sợ mình hố, nên đã lén thay đổi vị trí bàn cờ? Phải thế không? Có thể như thế lắm… Trước khi đưa cậu anh vào lớp, tôi nói nhỏ: “Nếu con đã tráo đổi thế cờ có lợi cho con thì đó là một điều rất đáng xấu hổ. Con cần phải biết đứng trên đôi chân của chính mình. Ván cờ có kết cục hoà nhưng chính em đã thắng con đó. Em đã thắng con bằng tinh thần quả cảm và lòng trung thực”.
(Lòng trung thực từ một ván cờ, PGS-TS. Phạm Văn Tình - Tổng Thư kí Hội Ngôn ngữ học Việt Nam - Tạp chí Người đô thị, 2018)
Câu 1 (0,5 điểm). Văn bản trên được kể theo ngôi thứ mấy?
Câu 2 (0,5 điểm). Xác định đề tài của văn bản trên?
Câu 3 (1,0 điểm). Xác định và nêu tác dụng phép tu từ so sánh trong câu văn sau: Không cần nhiều thời gian phân tích, tôi cũng biết rằng với sức cờ hơn hẳn của cậu anh (vẫn chơi quân cờ màu đen), nhiều khả năng cậu em (chơi quân trắng) sẽ phải thua trong vài nước nữa.
Câu 4 (1,0 điểm). Nhận xét về tình cảm, cảm xúc của tác giả được thể hiện qua văn bản?
Câu 5 (1,0 điểm). Những bài học cuộc sống nào tác giả gửi gắm qua văn bản trên?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ của em về bài thơ :
MẸ
Con nhớ ngày xưa mẹ hát:
“Hoa sen lặng lẽ dưới đầm
Hương hoa dịu dàng bát ngát
Thơm tho không gian, thời gian”…
Mẹ nghèo như đóa hoa sen
Tháng năm âm thầm lặng lẽ
Giọt máu hòa theo dòng lệ
Hương đời mẹ ướp cho con
Khi con thành đóa hoa thơm
Đời mẹ lắt lay chiếc bóng
Con đi…chân trời gió lộng
Mẹ về…nắng quái chiều hôm
Sen đã tàn sau mùa hạ
Mẹ cũng lìa xa cõi đời,
Sen tàn rồi sen lại nở
Mẹ thành ngôi sao trên trời.
(Dẫn theo Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường, Viễn Phương, Thanh Hải, Nguyễn Khoa Điềm, NXB Giáo dục Việt Nam, 1999, trang 37)
Chú thích: Viễn Phương, sinh năm 1928, mất năm 2005, quê ở An Giang. Ông là nhà thơ gắn bó với cuộc sống chiến đấu của bà con quê hương trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Bài thơ Mẹ mang đến cho người đọc những hình ảnh và cảm nhận sâu sắc về tình mẹ vì sự hy sinh vô điều kiện của mẹ dành cho con.
Câu 2 (4,0 điểm). Là học sinh, em nghĩ làm thế nào để rèn luyện được sự tự tin cho bản thân. Hãy viết bài văn nghị luận xã hội trình bày suy nghĩ của em về vấn đề cần giải quyết trên.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Chú ý lời của người kể chuyện
Cách giải:
Ngôi kể thứ nhất
Câu 2.
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra đề tài phù hợp
Cách giải:
Đề tài: Lòng trung thực
Câu 3.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp so sánh
Cách giải:
- Biện pháp so sánh: “sức cờ hơn hẳn của cậu anh”
- Tác dụng:
+ Làm cho câu văn thêm sinh động, gợi hình gợi cảm, ấn tượng với người đọc người nghe
+ Nhấn mạnh khả năng chơi cờ của người anh hơn hẳn khả năng chơi cờ của người em
+ Bày tỏ thái độ ngạc nhiên trước tình huống nhiều khả năng cậu em (chơi quân trắng) sẽ phải thua người anh trong vài nước nữa
Câu 4.
Phương pháp:
Xác định thái độ, cảm xúc của tác giả
Cách giải:
Tình cảm, cảm xúc của tác giả được thể hiện trong văn bản
- Yêu mến, trân trọng, đề cao những người có lòng trung thực ngay từ những điều bình thường trong cuộc sống hàng ngày.
- Phê phán, không đồng tình với những người không dám chịu trách nhiệm về những hành động của mình.
- Ca ngợi những người có lòng quyết tâm, quả cảm, dám đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống.
=> Đó là những tình cảm chân thành, giản dị, sâu sắc, góp phần giáo dục cho thế hệ trẻ lối sống đẹp trong xã hội.
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra bài học phfu hợp
Cách giải:
* Những bài học cuộc sống tác giả gửi gắm qua câu chuyện
- Sống trung thực sẽ đem đến sự thanh thản trong tâm hồn, giúp con người luôn vui vẻ, thoải mái. Điều này lại đem đến sự tỉnh táo, sáng suốt khi đưa ra những lựa chọn, những quyết định quan trọng trong cuộc sống.
- Sự trung thực là điều kiện, là yếu tố quan trọng đưa con người đến thành công.
- Sự trung thực sẽ giúp tạo được niềm tin, lòng tin với mọi người, từ đó giữ cho các mối quan hệ được bền vững, lâu dài, giúp công việc thuận lợi, các mối quan hệ xã hội trở nên hài hòa.
- Nhận thức được đức tính trung thực là một đức tính tốt mà bản thân mỗi người cần xây dựng và gìn giữ.
- Xây dựng ý thức trung thực trong từng việc nhỏ hàng ngày đến việc lớn. Luôn nói đúng, làm đúng với những chuẩn mực của đời sống xã hội…
- Cần tích cực tu dưỡng, rèn luyện đạo đức; chăm lo học tập trau dồi kiến thức để nâng cao tri thức và có cách ứng xử phù hợp trong cuộc sống.
.........
PHẦN II.
Câu 1.
Phương pháp:
a. Xác định được yêu cầu về hình thức và dung lượng đoạn văn
Xác định được yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, song song, phối hợp.
b. Xác định đúng yêu cầu về nội dung
Xác định đúng nội dung đoạn văn: cảm nghĩ về bài thơ Mẹ của tác giả Viễn Phương
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp làm rõ nội dung trọng tâm của đoạn văn
Cách giải:
* Xác định được các ý phù hợp để tập trung làm rõ nội dung đoạn văn, sau đây là một số gợi ý:
- Giới thiệu nhan đề, tác giả và nêu cảm nghĩ chung về bài thơ.
- Trình bày cảm nghĩ về nét độc đáo của bài thơ trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật:
+ Cảm nghĩ về nội dung (mạch cảm xúc, chủ đề, thông điệp...): bài thơ là dòng cảm xúc, nỗi nhớ thương của người con đối với người mẹ đã mất, dù mẹ đã đi xa nhưng những kỉ niệm và sự hi sinh của mẹ con dành cho con không bao giờ con quên. Qua đó, thể hiện lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc của tác giả đối với mẹ.
- Cảm nghĩ về yếu tố nghệ thuật:
+ Hình ảnh thơ giản dị mộc mạc, gợi cảm: hoa sen, hương hoa, từ láy (lặng lẽ, dịu dàng, bát ngát âm thầm…), phép tu từ so sánh “Mẹ nghèo như đóa hoa sen” ẩn dụ “giọt máu – dòng lệ; đóa hoa thơm”... để ca ngợi những phẩm chất và tình yêu thương, sự hi sinh của mẹ;
+Thể thơ sáu chữ với lối gieo vần, ngắt nhịp khá linh hoạt khiến những câu thơ như một bản nhạc giàu âm điệu về tình mẹ…
- Khái quát cảm nghĩ về bài thơ.
Câu 2.
Phương pháp:
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: học sinh làm thế nào để rèn luyện được sự tự tin cho bản thân
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết:
- Xác định được các ý của bài viết
- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
2. Triển khai vấn đề nghị luận:
a. Giải thích vấn đề:
Tự tin là gì? Là niềm tin vào khả năng của bản thân, là sự dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm về hành động của mình.
b. Thể hiện quan điểm của người viết về vấn đề nghị luận, có thể theo một số gợi ý sau:
* Phân tích các khía cạnh của vấn đề:
- Thực trạng: Trong xã hội hiện nay, nhiều học sinh vẫn còn thiếu tự tin vào bản thân. Các em thường tự ti về ngoại hình, năng lực học tập, kỹ năng giao tiếp… Điều này dẫn đến việc các em không dám thể hiện bản thân, ngại tham gia các hoạt động ngoại khóa, thậm chí là sợ hãi khi phải đứng trước đám đông.
- Nguyên nhân: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu tự tin ở học sinh.
+ Áp lực học tập: Chương trình học nặng nề, kỳ vọng quá cao từ gia đình và xã hội khiến học sinh luôn cảm thấy căng thẳng, mệt mỏi và mất niềm tin vào bản thân.
+ Thiếu sự động viên, khích lệ: Sự thiếu quan tâm, động viên từ gia đình, thầy cô khiến học sinh cảm thấy cô đơn, lạc lõng và mất đi động lực phấn đấu.
+ Tác động tiêu cực từ mạng xã hội: Mạng xã hội là con dao hai lưỡi. Nếu không sử dụng đúng cách, nó có thể khiến học sinh tiếp xúc với những thông tin tiêu cực, hình ảnh không lành mạnh, từ đó ảnh hưởng đến tâm lý và sự tự tin của các em.
- Hậu quả của thực trạng trên: Thiếu tự tin có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với học sinh:
+ Kết quả học tập kém: Học sinh thiếu tự tin thường không dám phát biểu ý kiến, không dám hỏi khi chưa hiểu bài, dẫn đến việc không nắm vững kiến thức và kết quả học tập kém.
+ Khó hòa nhập với môi trường xung quanh: Các em thường ngại giao tiếp, kết bạn, tham gia các hoạt động tập thể, từ đó trở nên cô lập, thu mình.
+ Ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần: Tự ti có thể dẫn đến trầm cảm, lo âu và các vấn đề tâm lý khác.
- Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện về vấn đề.
* Đề xuất giải pháp khả thi và có tính thuyết phục:
- Tự nhìn nhận bản thân để nhận ra điểm mạnh và điểm yếu và có hướng khắc phục.
- Xây dựng mục tiêu cụ thể và kế hoạch hành động rõ ràng, nỗ lực để đạt được mục tiêu:
- Tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa, xã hội để rèn luyện tự tin, khẳng định bản thân:
- Học cách chấp nhận và vượt qua thất bại để tự tin hơn...
(HS có thể đưa ra ba giải pháp, trình bày có sức thuyết phục là đạt điểm tối đa)
* Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân.
Đề thi học kì 1 Văn 8 - Đề số 15
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
(1) “Lòng nhân ái không phải tự sinh ra con người đã có. Lòng nhân ái là một trong những phẩm chất hàng đầu, là văn hóa của mỗi một con người. Lòng nhân ái có được là do sự góp công của mỗi gia đình và nhà trường tạo lập cho các em thông qua các hoạt động trải nghiệm rèn luyện, học tập, sẻ chia, “đau với nỗi đau của người khác” …
(2) Lòng nhân ái rất cần trong đời sống, đó là nét văn hóa, là cốt cách của mỗi con người. Các hoạt động từ thiện đã và đang diễn ra tại Trường Quốc tế Global đã góp phần giúp các em học sinh xây dựng tính cộng đồng, tinh thần trách nhiệm, sẻ chia với mọi người và giúp người khi khó khăn hoạn nạn, phát triển toàn diện tri thức và đạo đức để trở thành những công dân ưu tú, có ích cho xã hội, gìn giữ được bản sắc văn hóa Việt Nam.”
(Trích Dạy trẻ lòng nhân ái ở trường quốc tế Global – theo Dân trí – ngày 14/2/2015)
Câu 1. (1.0 điểm) Xác định thể loại và nêu luận đề của đoạn ngữ liệu.
Câu 2. (1.0 điểm) Xác định một yếu tố Hán Việt và cho biết nghĩa của yếu tố Hán Việt trong câu in đậm.
Câu 3. (1.0 điểm) Tìm hai bằng chứng có trong đoạn ngữ liệu.
Câu 4. (1.0 điểm) Nêu luận điểm của đoạn ngữ (1).
Câu 5. (2.0 điểm) Từ vấn đề nghị luận được đặt ra, em rút ra bài học gì về lòng nhân ái? (Hãy viết đoạn văn trả lời từ 4 đến 6 dòng).
PHẦN LÀM VĂN (4,0 điểm)
Môi trường sống đang ngày càng bị ô nhiễm. Bảo vệ môi trường sống là trách nhiệm của tất cả chúng ta. Em có suy nghĩ gì về nhận định “Học sinh cần có trách nhiệm với việc bảo vệ môi trường sống”. Hãy viết bài văn nghị luận về vấn đề trên.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
- Thể loại: Nghị luận.
- Luận đề: Bàn về lòng nhân ái của con người.
Câu 2.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về từ Hán Việt
Lời giải chi tiết:
- Yếu tố Hán Việt: nhân, ái,...
- Ý nghĩa của yếu tố Hán Việt trên là: nhân nghĩa là người; ái nghĩa là yêu
Câu 3.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại, xác định bằng chứng
Lời giải chi tiết:
Bằng chứng trong đoạn ngữ liệu trên là:
- Sự góp công của mỗi gia đình và nhà trường tạo lập cho các em thông qua các hoạt động trải nghiệm rèn luyện, học tập, sẻ chia, “đau với nỗi đau của người khác”
- Các hoạt động từ thiện đã và đang diễn ra tại Trường Quốc tế Global
Câu 4.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại, xác định luận điểm
Lời giải chi tiết:
Luận điểm trong đoạn ngữ liệu trên là: Lòng nhân ái là một trong những phẩm chất hàng đầu, là văn hóa của mỗi một con người: Lòng nhân ái là phẩm chất của con người
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra bài học phù hợp
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
- Lòng nhân ái rất cần trong đời sống, đó là nét văn hóa, là cốt cách của mỗi một con người
- Lòng nhân ái là cách con người trao cho nhau tình thương mà không cần sự đền đáp, trả ơn từ người mình đã giúp đỡ.
- Quan tâm đến những người xung quanh.
- Chia sẻ, cảm thông với những nỗi đau của người khác.
- Lòng nhân ái của con người trong thời chiến, thời bình
- Phê phán những kẻ chỉ biết có mình, ích kỉ, vì lợi ích của bản thân, không quan tâm đến người khác.
- Mỗi người phải rèn luyện cho mình đức tính tốt đó là: tinh thần yêu thương, san sẻ cho nhau trong cuộc sống; tự bản thân phải sống tốt và ngày càng hoàn thiện mình hơn.
PHẦN VIẾT (4.0 điểm)
Phương pháp:
Xác định vấn đề cần bàn luận
Liên hệ thực tế
Vận dụng thao tác lập luận, chứng minh
Lời giải chi tiết:
I. Mở bài
- Nêu vấn đề cần bàn luận
- Nêu ý kiến đối với vấn đề cần bàn luận
II. Thân bài
1. Giải thích từ ngữ, ý kiến cần bàn luận
- Trách nhiệm là nghĩa vụ, ý thức, công việc mà mỗi người phải hoàn thành với một công việc bất kỳ nào đó hoặc với vấn đề diễn ra xung quanh.
- Môi trường sống là nơi tồn tại và phát triển của con người. Ở đây, môi trường sống được hiểu chính là môi trường tự nhiên… Trách nhiệm bảo vệ môi trường là sự ràng buộc về ý thức, về hành động, là nghĩa vụ của con người đối với việc bảo vệ môi trường sống…
2. Bàn luận
- Khẳng định vấn đề cần bàn luận và nhấn mạnh ý kiến:
+ Vấn đề cần bàn luận: bảo vệ môi trường sống là trách nhiệm của học sinh ở mọi lứa tuổi với những việc làm phù hợp với độ tuổi, khả năng,… của mình.
+ Ý kiến: hoàn toàn đồng tình với việc học sinh cần có trách nhiệm với việc bảo vệ môi trường sống.
- Lí lẽ và bằng chứng:
+ Lí lẽ 1: Môi trường sống có sự ảnh hưởng trực tiếp, đóng vai trò quan trọng đối với cuộc sống của chúng ta…
+ Bằng chứng 1: Con người sống trong lòng thiên nhiên, xã hội loài người duy trì và phát triển gắn chặt với thiên nhiên…
+ Lí lẽ 2: Môi trường sống của chúng ta đang ngày càng ô nhiễm…
+ Bằng chứng 2: WHO đã gọi tình trạng ô nhiễm môi trường không khí là “kẻ giết người thầm lặng” khi mà 92% dân số thế giới đang sống trong môi trường có chất lượng không khí ở dưới mức tiêu chuẩn của who,…
3. Vai trò của học sinh
- Học sinh là một phần không thể thiếu của xã hội. Học sinh cần phải có nhận thức đúng đắn về vấn đề bảo vệ môi trường sống, tham gia những hoạt động cụ thể, thiết thực bảo vệ môi trường nơi mình sinh sống và học tập,…
- Học sinh là một phần không thể thiếu của xã hội. Học sinh cần phải có nhận thức đúng đắn về vấn đề bảo vệ môi trường sống, tham gia những hoạt động cụ thể, thiết thực bảo vệ môi trường nơi mình sinh sống và học tập,…
III. Kết bài
- Khẳng định lại vấn đề
- Nêu bài học
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP8
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
