Đề thi học kì 1 Văn 9 - Cánh diều
Đề cương ôn tập học kì 1 Văn 9 - Cánh diều
A. NỘI DUNG ÔN TẬP
1. Phần đọc hiểu
1.1. Thơ và thơ song thất lục bát
|
|
Thơ song thất lục bát |
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Khái niệm |
Là thể thơ có nguồn gốc dân tộc, kết hợp đan xen từng cặp câu 7 tiếng (song thất) với từng cặp câu 6 và 8 tiếng (lục bát) |
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Hình thức |
Bài thơ song thất lục bát có thể chia khổ hoặc không, số câu thơ trong mỗi khổ thơ cũng không cố định. |
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Vần |
Tiếng cuối dòng bảy trên bắt vần trắc xuống tiếng thứ năm của dòng bảy dưới; tiếng cuối của dòng bảy dưới bắt vần với tiếng cuối của dòng sáu; tiếng cuối của dòng sáu bắt vần với tiếng thứ sáu của dòng tám; tiếng cuối của dòng tám lại bắt vần với tiếng thứ ba hoặc tiếng thứ năm ở dòng bảy đầu khổ thơ sau. Như vậy, mỗi khổ thơ có hai vần trắc và năm vần bằng; dòng sáu chỉ có vần chân, ba dòng kia vừa có vần chân vừa có vần lưng. |
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Thanh điệu |
Thanh bằng (B) – trắc (T) của các tiếng ở một số vị trí trong câu thơ là cố định, cụ thể:
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Nhịp |
Câu thơ 7 tiếng thường có cách ngắt nhịp lẻ trước chẵn sau (3/2/2 hay 3/4). Hai câu 6 và 8 ngắt nhịp theo thể lục bát. Một số câu thơ có thể đọc theo những cách ngắt nhịp khác nhau, mỗi cách ngắt nhịp tạo ra một nghĩa, giúp người đọc có được sự đa dạng trong cảm thụ. |
1.2. Truyện thơ Nôm
|
|
Truyện thơ Nôm |
|
Khái niệm |
Là thể loại tự sự bằng thơ, được viết bằng chữ Nôm, hình thành vào khoảng thế kỉ XVI – XVII, phát triển mạnh và đạt được nhiều thành tựu to lớn ở cuối thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX. Ở giai đoạn đầu, một số truyện thơ Nôm được sáng tác bằng thể thơ Đường luật hoặc song thất lục bát, sau đó các tác giả chủ yếu sử dụng thể thơ lục bát. |
|
Đề tài, chủ đề |
Rộng mở, phong phú, có giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực sâu sắc. |
|
Cốt truyện |
Ở truyện thơ Nôm, cốt truyện đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng tác phẩm. Mô hình cốt truyện của truyện thơ Nôm gồm ba chặng: Gặp gỡ - Lưu lạc (hoặc Thử thách) - Đoàn tụ. |
|
Nhân vật |
Trong truyện thơ Nôm, nhân vật thường được chia thành hai tuyến đối lập nhau gồm các nhân vật chính diện (đại diện cho cái thiện, chính nghĩa) và các nhân vật phản diện (đại diện cho cái ác, phi nghĩa). Nhân vật chính diện và phản diện thường được xây dựng đối lập về phẩm chất theo từng cặp như: Từ Hải - Hồ Tôn Hiến. |
|
Lời thoại nhân vật |
Đối thoại và độc thoại |
|
Ngôn ngữ |
Giản dị, gần với lời ăn tiếng nói của nhân dân |
1.3. Văn bản thông tin
|
|
Văn bản thuyết minh giới thiệu một danh lam thắng cảnh |
|
Khái niệm |
Thuộc loại văn bản thông tin, cung cấp cho người đọc thông tin về một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử. |
|
Cấu trúc |
- Phần mở đầu: giới thiệu khái quát về danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử. - Phần nội dung: giới thiệu có hệ thống những phương diện khác nhau của danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử. Nội dung có thể trình bày thông tin về vị trí địa lí, lịch sử hình thành, nhân vật lịch sử có liên quan, đặc điểm kiến trúc/ cảnh quan, vẻ đẹp / sức hấp dẫn, cách thức tham quan, ... - Phần kết thúc: nhận xét khái quát về giá trị của danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử trong đời sống văn hoá, tinh thần của con người; có thể bày tỏ tình cảm, thái độ của người viết dành cho danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử. |
|
Đặc điểm hình thức |
Có thể sử dụng các đề mục để làm nổi bật thông tin chính; một số từ ngữ chuyên ngành (kiến trúc, lịch sử, địa lí, sinh vật,...); từ ngữ giàu giá trị miêu tả, biểu cảm; hình ảnh minh hoạ, sơ đồ/ bản đồ chỉ dẫn;... |
|
Cách trình bày thông tin |
Về cách trình bày thông tin: Thông tin thường được trình bày theo trật tự thời gian, theo trật tự không gian, theo cách phân loại đối tượng (ví dụ: phân loại các đặc điểm kiến trúc, tự nhiên, xã hội, ... của danh lam thắng cảnh/ di tích lịch sử),... |
|
Phương thức biểu đạt |
Miêu tả, tự sự, biểu cảm |
1.4. Truyện ngắn
|
|
Truyện ngắn |
|
Khái niệm |
Là thể loại cỡ nhỏ của tác phẩm văn xuôi hư cấu, thường phản ánh một “khoảnh khắc”, một tình huống độc đáo, một sự kiện gây ấn tượng mạnh, có ý nghĩa nhất trong cuộc đời nhân vật. |
|
Hình thức |
Tự sự cỡ nhỏ, có khuôn khổ ngắn |
|
Nhân vật |
Ít nhân vật nhưng đa dạng tính cách, đặc điểm, miêu tả nhân vật ở những khía cạnh nổi bật nhất và sinh động trong mối quan hệ với hoàn cảnh, với môi trường xung quanh. |
|
Ngôi kể |
Ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba |
|
Nội dung |
Phản ánh hiện thực trong tính khách quan của nó |
|
Kết cấu |
Kết cấu bất ngờ đột biến, hoặc tương phản, hoặc liên tưởng |
1.5. Nghị luận xã hội
|
|
Nghị luận xã hội |
|
Cách trình bày vấn đề khách quan |
Chỉ đưa thông tin, nêu ra các bằng chứng khách quan. Cách trình bày tạo ra cơ sở vững chắc (từ pháp lí, từ thực tiễn,…), đảm bảo tính chính xác, đúng đắn cho các lập luận. |
|
Cách trình bày vấn đề chủ quan |
Đưa ra ý kiến, đánh giá chủ quan, thể hiện rõ tình cảm, quan điểm của người viết. Cách trình bày này tác động đến cảm xúc của người đọc, khơi gợi sự đồng cảm, mối quan tâm của người đọc về những vấn đề được bàn luận. |
|
Ví dụ |
(1) Tôi đã chứng kiến cả ngàn cơn trâu rừng bị chết dần chết mòn trên những cánh đồng trơ trọi vì bị người da trắng bắn mỗi khi có đoàn tàu chạy qua. (2) Tôi là kẻ hoang dã, tôi không hiểu nổi tại sao một con ngựa sắt nhả khói lại quan trọng hơn nhiều con trâu rừng mà chúng tôi chỉ giết để duy trì cuộc sống. (3) Con người là gì, nếu cuộc sống thiếu những con thủ? (Xi-át-tô, Bức thư của thủ lĩnh da đỏ) Trong ví dụ trên, câu (1) trình bày vấn đề khách quan bởi chủ yếu đưa ra bằng chứng từ thực tế mà người viết đã chứng kiến. Câu (2) và (3) trình bày vấn đề chủ quan bởi thể hiện ý kiến, đánh giá, cảm xúc của cá nhân người viết trước hiện tượng con người nhẫn tâm tàn sát các con thú. |
2. Phần tiếng Việt
2.1. Chữ Nôm, chữ Quốc ngữ
|
|
Chữ Nôm |
Chữ Quốc ngữ |
|
Khái niệm |
Là chữ viết cổ dùng để ghi âm tiếng Việt, được ông cha ta sáng tạo dựa theo kí hiệu văn tự Hán |
Là chữ viết dùng chữ cái La-tinh để ghi âm tiếng Việt. |
|
Nguồn gốc ra đời |
Được hình thành vào khoảng thế kỉ X và đã được sử dụng để sáng tác thơ văn khoảng từ thế kỉ XII - XIII |
Được hình thành từ đầu thế kỉ XVII, trong quá trình các tu sĩ Dòng Tên truyền đạo Công giáo tại Việt Nam. |
|
Ý nghĩa |
Thể hiện tinh thần tự cường, tự tôn dân tộc; đánh dấu bước phát triển vượt bậc về văn hóa và khẳng định vị trí, vai trò của tiếng Việt. |
Được chỉnh lí, thay thế dần chữ Hán và chữ Nôm. Từ năm 1945 có vị thế văn tự chính thức của quốc gia |
2.2. Điển tích, điển cố
|
|
Điển tích, điển cố |
Ví dụ |
|
Khái niệm |
Là câu chuyện, sự việc hay câu chữ trong sách xưa, được dẫn lại một các cô đúc trong văn bản của các tác giả đời sau. |
Sương in mặt tuyết pha thân, Sen vàng lãng đãng như gần như xa. (Nguyễn Du, Truyện Kiều) Vua Hậu Chủ thời Ngũ Đại (Trung Quốc), do yêu bà phi, lấy vàng đúc thành những đóa sen, đem lót xuống đất bảo phi đặt chân lên đó mà dạo bước, rồi nói: mỗi bước đi nở một đóa sen vàng. Sen vàng thành điển tích chỉ bước chân của người đẹp. |
|
Tác dụng |
- Đối với thơ, làm cho câu thơ, câu văn hàm súc, trang nhã. - Đối với văn nghị luận, giúp người viết củng cố lí lẽ, làm tăng sức thuyết phục của văn bản. - Điển tích, điển cố được dùng rộng rãi trong các loại văn bản (thơ, truyện, chèo, tuồng, nghị luận,…), rất phổ biến trong văn học trung đại. Về sau, khi ý thức sáng tạo của cá nhân được đề cao, các tác giả hạn chế dùng điển tích, điển cố. Nếu lạm dụng điển tích, điển cố, văn bản sẽ trở nên nặng nề, khó hiểu, mòn sáo, hạn chế tính độc đáo. |
Bấy lâu nghe tiếng má đào Mắt xanh chẳng để ai vào có không? (Nguyễn Du, Truyện Kiều) Mắt xanh chữ Hán là “thanh nhãn”, lấy tích Nguyễn Tịch thời Tần khi tiếp người mình ưa thì nhìn thẳng nên để lộ tròng mắt xanh, khi tiếp người mình ghét thì nhìn nghiêng để lộ tròng mắt trắng. Trong lời Từ Hải, điển tích này có ý đánh giá rất cao cách nhìn người của Thúy Kiều. |
2.3. Cách dẫn trực tiếp, các dẫn gián tiếp
|
|
Cách dẫn trực tiếp |
Cách dẫn gián tiếp |
|
Khái niệm |
Là sử dụng nguyên văn từ ngữ, câu, đoạn,… của một văn bản gốc vào bài viết, bài nói. Trong bài viết, phần dẫn trực tiếp cần đượt đặt trong dấu ngoặc kép |
Là sử dụng ý tưởng của người khác và diễn đạt lại theo cách của mình. Tuy được diễn đạt lại nhưng ý tưởng trong văn bản gốc cần được thể hiện một cách trung thành. Trong bài viết, phần dẫn gián tiếp không đặt trong dấu ngoặc kép. |
|
Dấu hiệu nhận biết |
Đặt trong dấu ngoặc kép và theo sau là dấu hai chấm |
Thay vì trích dẫn chính xác những gì người nói đã nói, lời dẫn gián tiếp cho phép chúng ta điều chỉnh và thay đổi ý kiến một cách hài hòa với nội dung văn bản. |
|
Tác dụng |
- Truyền tải thông tin chính xác - Tăng tính chân thật và sống động - Tạo độ tin cậy và động viên - Dễ dàng trích dẫn và sử dụng lại |
- Truyền đạt thông tin - Thể hiện sự suy nghĩ và phân tích - Tạo sự tương tác và tiếp thu - Tạo sự linh hoạt trong ngôn ngữ - Tạo sự tinh tế và đa dạng trong diễn đạt |
|
Ví dụ |
Khánh nói: "Tôi rất hạnh phúc về thành tích đạt được." |
Khánh nói với tôi cậu ấy rất hạnh phúc về thành tích đạt được |
2.4. Câu đơn, câu ghép
|
|
Câu đơn |
Câu ghép |
|
Khái niệm |
Là câu được cấu tạo bằng một cụm chủ ngữ – vị ngữ nòng cốt (cụm chủ ngữ – vị ngữ không bị bao chứa trong một cụm từ khác). |
Là câu do hai hoặc nhiều cụm chủ ngữ – vị ngữ nòng cốt tạo thành, mỗi cụm chủ ngữ – vị ngữ này được gọi là một vế câu. |
|
Phân loại |
Câu đơn được chia thành 3 loại gồm câu đơn bình thường, câu đơn rút gọn và câu đơn đặc biệt. Cụ thể: - Kiểu câu đơn bình thường có nghĩa là kiểu câu đơn gồm đủ 2 bộ phận chính là chủ ngữ và vị ngữ để làm nòng cốt cho câu. - Kiểu câu đơn rút gọn là dạng câu đơn khuyết đi một trong hai bộ phận cấu thành câu, hoặc cũng có thể là cả hai bộ phận đều được rút gọn lại. - Kiểu câu đơn đặc biệt thường dùng để bộc lộ cảm xúc hoặc nêu cảm nhận bản thân về một sự việc hay hiện tượng nào đó. |
Về cơ bản, câu ghép có 5 loại: - Câu ghép đẳng lập: bao gồm hai vế câu không phụ thuộc vào nhau và có mối quan hệ ngang hàng, không phụ thuộc vào nhau. - Câu ghép chính phụ: câu ghép chính – phụ là câu được nối với nhau bằng quan hệ từ hoặc được kết nối bằng một cặp từ hô ứng. - Câu ghép hô ứng: câu ghép hô ứng hay còn gọi là câu ghép qua lại. Cách thức để kết nối những vế trong câu ghép hô ứng bao gồm phụ từ và cặp đại từ: “chưa…đã”, “vừa…vừa”, “mới…đã”, “càng…càng”, “nào…nấy”, “bao nhiêu…bấy nhiêu”,… - Câu ghép chuỗi: là câu ghép có hai vế trở lên, giữa các vế có quan hệ chuỗi, tức là theo kiểu liệt kê - Câu ghép hỗn hợp: giữa các vế của câu ghép hỗn hợp sẽ có mối quan hệ tầng bậc và có nhiều kiểu quan hệ về ngữ pháp. |
|
Ví dụ |
VD1: Kiểu câu đơn bình thường Hà: "Tối nay, mấy giờ mình đi xem phim?". An trả lời: "8h” => Có thể thấy cả thành phần chủ ngữ và vị ngữ trong câu đều đã bị rút gọn và lược bỏ. Câu đầy đủ sẽ là "hẹn cậu tối nay 8h đi xem phim nha". VD2: Kiểu câu đơn rút gọn Mẹ hỏi hai đứa "Ai là người đã xem tivi lúc mẹ vắng nhà" An lấm lép trả lời "Con ạ" => Có thể thấy câu trả lời của An đã rút bớt đi thành phần vị ngữ. Câu đầy đủ phải là "Con đã xem ạ" VD3: Kiểu câu đơn đặc biệt “Sa Pa” => đây là câu đơn đơn biệt xác định rõ địa điểm. “Còn đời mày nữa” (Ngô Tất Tố) => câu đơn đặc biệt xác định trạng thái tồn tại của sự vật. |
VD1: Câu ghép đẳng lập “Hôm nay tôi làm việc hoặc mai làm.” VD2: Câu ghép chính phụ “Nếu em chăm chỉ hơn thì em đã thành công” VD3: Câu ghép hô ứng “Người thế nào thì vật thế ấy.” VD4: Câu ghép chuỗi “Trời mưa, gió lớn, cây đổ.” VD5: Câu ghép hỗn hợp “Mặc dù tôi đã khuyên nó cố gắng siêng năng nhưng nó không nghe cho nên bây giờ nó vẫn chưa tìm được việc” |
3. Phần làm văn
3.1. Phân tích một tác phẩm thơ
|
|
Phân tích một đoạn trích tác phẩm thơ |
|
Định hướng |
Phân tích một tác phẩm thơ là kiểu bài đã được học ở lớp dưới. Yêu cầu phân tích một tác phẩm thơ ở đây gắn với ngữ liệu các bài đọc hiểu về thơ và thơ song thất lục bát, vì thế, các em cần xem lại những văn bản thơ đã đọc hiểu trong Bài 1. |
|
Yêu cầu |
- Đọc kĩ bài thơ, chú ý đặc điểm thể loại, tác giả và hoàn cảnh ra đời (nếu cần thiết) của tác phẩm. - Phân tích nội dung và các yếu tố hình thức nghệ thuật nổi bật của bài thơ. Chỉ ra mối quan hệ giữa hình thức và nội dung; từ đó, làm rõ giá trị của các yếu tố hình thức trong việc thể hiện nội dung, chủ đề của tác phẩm. - Thực hiện các bước viết bài văn theo quy trình bốn bước: chuẩn bị, tìm ý và lập dàn ý, viết, kiểm tra và chỉnh sửa. - Suy nghĩ, nhận xét về ý nghĩa, giá trị và sự tác động của tác phẩm đối với người đọc cũng như với cá nhân em. |
|
Dàn ý |
- Mở bài: Giới thiệu khái quát về đề tài và giá trị của bài thơ Khóc Dương Khuê. - Thân bài: Có thể nêu các ý theo trình tự sau: + Nêu hoàn cảnh ra đời và sự kiện tạo ra nguồn cảm xúc cho tác giả viết bài thơ. + Nêu chủ đề của bài thơ. + Phân tích các yếu tố hình thức và tác dụng của chúng trong việc biểu đạt nội dung bài thơ. + So sánh với một số bài thơ viết về cùng đề tài (nếu có) để làm rõ sự độc đáo của bài Khóc Dương Khuê. - Kết bài: Khái quát giá trị bài thơ và nêu tác động của bài thơ đối với cá nhân em. |
3.2. Phân tích một đoạn trích tác phẩm văn học
|
|
Phân tích một đoạn trích tác phẩm văn học |
|
Định hướng |
Ở Bài 1, các em đã được rèn luyện kĩ năng phân tích một tác phẩm văn học, đối tượng phân tích là một bài thơ trọn vẹn. Bài 2 tiếp tục rèn luyện kĩ năng phân tích một đoạn trích gắn với truyện thơ Nôm. |
|
Yêu cầu |
- Đọc kĩ đoạn trích, chú ý đặc điểm thể loại truyện thơ Nôm đã học và xác định rõ vị trí đoạn trích trong tác phẩm. - Xác định nội dung và các yếu tố hình thức nổi bật của đoạn trích. Chỉ ra mối quan hệ giữa hình thức và nội dung; từ đó, làm rõ giá trị của các yếu tố hình thức trong việc thể hiện nội dung, chủ đề của tác phẩm. - Xác định luận đề và các luận điểm trong bài viết, lựa chọn bằng chứng từ đoạn trích cho mỗi luận điểm. - Suy nghĩ, nhận xét về ý nghĩa và sự tác động của văn bản đối với người đọc cũng như bản thân em. |
|
Dàn ý |
- Mở bài: Giới thiệu khái quát về Truyện Kiều và đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích. - Thân bài + Nêu tóm tắt câu chuyện trước đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích và cảm hứng chủ đạo của đoạn trích này. + Phân tích khung cảnh gợi nỗi nhớ của Thuý Kiều qua đoạn mở đầu (từ đầu đến “Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng."). Chú ý nghệ thuật lựa chọn không gian, thời gian và các hình ảnh. + Phân tích nỗi nhớ thương của Thuý Kiều qua đoạn tiếp theo (từ "Tưởng người dưới nguyệt chén đồng” đến “Có khi gốc tử đã vừa người ôm?"). Chú ý nghệ thuật lựa chọn ngôn từ và bút pháp miêu tả nội tâm nhân vật. + Phân tích diễn biến tâm trạng của Thuý Kiều qua tám dòng thơ cuối. Chú ý các biện pháp nghệ thuật: điệp ngữ, lựa chọn hình ảnh, không gian và thời gian, câu hỏi tu từ, ... - Kết bài: Nêu những suy nghĩ và cảm xúc của em về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích. |
3.3. Viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh
|
|
Viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh |
|
Định hướng |
Mỗi vùng miền trên đất nước ta đều có những phong cảnh thiên nhiên kì diệu được coi là những danh lam thắng cảnh. Đó đều là những di sản quý báu cần bảo vệ, gìn giữ và giới thiệu rộng rãi cho nhiều người biết. Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh là nêu lên các đặc điểm nổi bật của danh lam thắng cảnh đó, phân tích làm sáng tỏ vẻ đẹp và giá trị (vật chất và tinh thần) của di sản được giới thiệu,... Ngoài ra, cũng có thể nêu các hướng dẫn và lưu ý đối với khách khi đến tham quan,... |
|
Yêu cầu |
- Xác định danh lam thắng cảnh cần giới thiệu - Tìm hiểu và ghi chép các thông tin quan trọng cần giới thiệu về danh lam thắng cảnh đó. - Triển khai bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh theo bố cục ba phần, trong nội dung cụ thể của mỗi phần có kết hợp thuyết minh với các phương thức biểu đạt khác, phương tiện ngôn ngữ với hình ảnh. - Liên hệ và kết nối với những hiểu biết, trải nghiệm của cá nhân về các danh lam thắng cảnh trong nước và thế giới để viết bài văn sinh động, giàu sức thuyết phục. |
|
Dàn ý |
|
3.4. Phân tích một tác phẩm truyện
|
|
Phân tích một tác phẩm truyện |
|
Định hướng |
Bài văn phân tích một tác phẩm truyện cần phân tích được nội dung chủ đề; dẫn ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật được dùng trong tác phẩm, từ đó, nêu lên nhận xét, đánh giá cá nhân về hiệu quả thẩm mĩ của những nét đặc sắc ấy. |
|
Yêu cầu |
- Đọc kĩ văn bản truyện, xác định chủ đề của truyện - Xác định các đặc sắc nghệ thuật của truyện như: nhan đề, ngôi kể, cốt truyện, tình huống truyện, nhân vật, lời nhân vật và lời người kể chuyện, ...; làm rõ tác dụng của những yếu tố này trong việc thể hiện chủ đề, ý nghĩa của tác phẩm. - Xác định các luận điểm trong bài viết; lựa chọn các bằng chứng từ tác phẩm truyện cho mỗi luận điểm. - Liên hệ, so sánh với những tác giả, tác phẩm khác có cùng đề tài, chủ đề để nhận xét điểm gặp gỡ và sáng tạo riêng của tác giả được thể hiện trong tác phẩm truyện. Từ bối cảnh đọc hiện tại và hoàn cảnh bản thân để suy nghĩ, nhận xét về tác động, ý nghĩa của tác phẩm với người đọc và cá nhân. |
|
Dàn ý |
- Mở bài: Giới thiệu nhan đề, tác giả và nhận xét chung về truyện. - Thân bài: Phân tích chủ đề của truyện: + Nêu và nhận xét về chủ đề của truyện. + Phân tích, đánh giá các đặc sắc nghệ thuật để làm rõ chủ đề của truyện và hiệu quả thẩm mĩ của các đặc sắc đó: · Đặc sắc về nhan đề và tình huống truyện: nhan đề giản dị, giàu sức khái quát; tình huống truyện độc đáo. · Đặc sắc về nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật (ông Hai và một số nhân vật). · Một số đặc sắc nghệ thuật khác trong truyện: ngôi kể, ngôn ngữ, ... - Kết bài: Nhận xét khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện. Nêu ý nghĩa, tác động của truyện đối với người viết. |
3.5. Viết bài văn nghị luận xã hội về một vấn đề cần giải quyết
|
|
Viết bài văn nghị luận xã hội về một vấn đề cần giải quyết |
|
Định hướng |
- Nêu lên được vấn đề cần giải quyết. - Triển khai tường minh, mạch lạc; làm rõ những hạn chế của vấn đề cần được khắc phục. - Trình bày được một số biện pháp khả thi và có sức thuyết phục để giải quyết những hạn chế của vấn đề. |
|
Yêu cầu |
- Chọn vấn đề mang tính thời sự, có ý nghĩa xã hội, đang còn những hạn chế cần được giải quyết; vấn đề có tính thiết thực và phù hợp với mối quan tâm của các em. - Trình bày rõ những hạn chế của vấn đề; nêu và lí giải được một số đề xuất để khắc phục những hạn chế đó. - Làm sáng tỏ luận đề của bài viết bằng các luận điểm, với đủ lí lẽ và bằng chứng phong phú, chính xác, có sức thuyết phục, ... - Thể hiện rõ mục đích, thái độ của bản thân về vấn đề thông qua lí lẽ, bằng chứng và giọng điệu. |
|
Dàn ý |
- Mở bài: Giới thiệu vấn đề một số học sinh ngại đọc sách, nêu nhận xét chung. - Thân bài: + Trình bày cụ thể các biểu hiện của vấn đề một số học sinh ngại đọc sách. + Lí giải về những tác hại của việc ngại đọc sách (đối với việc học, phát triển bản thân, ... ). + Chỉ ra những nguyên nhân khiến một số học sinh ngại đọc sách (chủ quan, khách quan). + Đề xuất những biện pháp khắc phục vấn đề một số học sinh ngại đọc sách (Bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng nên làm gì, làm như thế nào?). - Kết bài: + Khẳng định quan điểm của bản thân về vấn đề. + Nêu lên suy nghĩ, mong muốn của bản thân liên quan đến vấn đề. |
B. BÀI TẬP
1. Phần đọc hiểu
Văn bản Sông núi nước Nam
Câu 1.
a. Bài thơ được sáng tác theo thể thơ gì?
b. Vì sao bài thơ được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên?
Văn bản Khóc Dương Khuê
Câu 2.
a. Bài thơ viết theo thể thơ nào và về đề tài gì?
b. Chỉ ra 03 kỉ niệm giữa nhà thơ và bạn của mình được nhắc tới trong bài thơ.
c. Nhận xét về tình bạn của nhà thơ và Dương Khuê.
Văn bản Phò giá về kinh
Câu 3.
a. Bài thơ Phò giá về kinh được viết theo thể loại nào?
b. Đặc điểm gieo vần của bài thơ Phò giá về kinh là gì?
c. Nêu tình cảm, thái độ của nhà thơ thể hiện qua bài thơ.
Văn bản Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
Câu 4. Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa
Hương gượng đốt, hồn đà mê mải,
Gương gượng soi, lệ lại chứa chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.
a. Xác định các từ láy trong văn bản? Nêu hiệu quả nghệ thuật của việc dùng từ láy đó.
b. Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của phép điệp và các biện pháp tu từ trong văn bản?
c. Xác định nguyên nhân gẫy ra nỗi đau khổ của người chinh phụ trong văn bản.
Văn bản Cảnh ngày xuân
Câu 5. Đọc kỹ đoạn văn dưới đây và trả lời các câu hỏi
Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh
Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước áo quần như nêm
a. Đoạn thơ trên được trích từ tác phẩm nào? Tác giả là ai?
b. Tìm 4 từ ghép Hán Việt trong đoạn thơ trên.
c. Câu thơ nào là câu ghép? Câu nào dùng đảo ngữ?
d. Chỉ ra những từ láy trong đoạn thơ. Những từ láy đó giúp em hình dung một ngày lễ hội như thế nào?
Văn bản Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga
Câu 6. Qua hành động đánh cướp và cách cư xử với Kiều Nguyệt Nga, hình ảnh Vân Tiên nổi bật với những phẩm chất nào?
Văn bản Kiều ở lầu Ngưng Bích
Câu 7. Cảm nhận của em về tâm trạng của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích qua nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật của Nguyễn Du.
Văn bản Vịnh Hạ Long: một kì quan thiên nhiên độc đáo và tuyệt mĩ
Câu 8. Từ văn bản, xác định những giá trị của vịnh Hạ Long.
Văn bản Khám phá kì quan thế giới: thác I-goa-zu
Câu 9.
a. Xác định bố cục và nội dung chính của từng phần
b. Xác định mục đích của văn bản
c. Nêu đặc điểm và giá trị của thác I-goa-du
Văn bản Vườn Quốc gia Tràm Chim – Tam Nông
Câu 10. Phân tích đặc điểm của văn bản thông tin giới thiệu một danh lam thắng cảnh thể hiện ở văn bản Vườn quốc gia Tràm Chim - Tam Nông
Văn bản Làng
Câu 11. Đọc đoạn trích và trả lời câu hỏi:
Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác, len lén đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau. Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ tràn ra… Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu… ông lão nắm chặt hai tay lại và rít lên:
- Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này! Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình nói không được đúng lắm.
Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được. Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng. Quyết tâm một sống một chết với giặc, có đời nào lại can tâm làm điều nhục nhã ấy!… Nhưng sao lại nảy ra cái tin như vậy được? Mà thằng chánh Bệu thì đích thị là người làng không sai rồi. Không có lửa thì sao có khói? Ai người ta hơi đâu bịa tạc ra những chuyện ấy làm gì. Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Rồi đây biết làm ăn, buôn bán ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta buôn bán mấy. Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước… Lại còn bao nhiêu người làng, tan tác mỗi người một phương nữa không biết họ đã rõ cái cơ sự này chưa?
a. Nêu nội dung chính của đoạn trích
b. Trong đoạn: Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình nói không được đúng lắm.
Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được. Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng. Quyết tâm một sống một chết với giặc, có đời nào lại can tâm làm điều nhục nhã ấy.
“Ông lão” trong đoạn trích trên là nhân vật nào? Điều “nhục nhã” được nói đến là điều gì?
Những câu văn nào là lời trần thuật của tác giả, những câu văn nào là lời độc thoại nội tâm của nhân vật? Những lời độc thoại nội tâm ấy thể hiện tâm trạng gì của nhân vật?
c. Câu “Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được.” thì từ “Chả nhẽ” là thành phần gì trong câu? Nêu rõ tên thành phần đó?
d. Đoạn văn “Nhưng sao lại nảy ra cái tin...cái cơ sự này chưa?…” là lời của ai? Điều đó có ý nghĩa gì trong việc bộc lộ tâm trạng của nhân vật ông Hai?
Văn bản Ông lão bên chiếc cầu
Câu 12.
a. Xác định đề tài, bối cảnh, ngôi kể và các nhân vật trong truyện.
b. Nhân vật ông lão được thể hiện như thế nào?
Văn bản Chiếc lược ngà
Câu 13. Đoạn đoạn trích:
Trong bữa cơm đó, anh Sáu gắp một cái trứng cá to vàng để vào chén nó. Nó liền lấy đũa xoi vào chén, để đó rồi bất thần hất cái trứng ra, cơm văng tung toé cả mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ, anh vung tay đánh vào mông nó và hét lên:
- Sao mày cứng đầu quá vậy, hả?
Tôi tưởng con bé sẽ lăn ra khóc, sẽ giãy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt đi. Nhưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào,nó cầm đũa gắp lại cái trứng cá để vào chén,rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm.Xuống bến, nó nhảy xuống xuồng, mở lòi tói cố làm cho dây lòi tói khua rổn rảng, khua thật to, rồi lấy dầm bơi qua sông.Nó sang qua nhà ngoại, mét với ngoại và khóc ở bên ấy
a. Nêu tóm tắt mối quan hệ tình cảm giữa hai nhân vật được kể trước khi sự việc này xảy ra?
b. Những biểu hiện của nhân vật bé Thu ở trên nói lên thái độ gì và qua đó bộc lộ tình cảm như thế nào đối với nhân vật ông Sáu?
Văn bản Chiếc lá cuối cùng
Câu 14.
a. Văn bản thuộc thể loại gì và được kể theo ngôi thứ mấy?
b. Xác định các nhân vật xuất hiện trong văn bản
c. Đối với Giôn-xi, chiếc lá cuối cùng rụng hay không rụng có ý nghĩa như thế nào?
Văn bản Bàn về đọc sách
Câu 15. Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
(1) Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của học vấn. Bởi vì học vấn không chỉ là việc cá nhân, mà là việc của toàn nhân loại. Mỗi loại học vấn đến giai đoạn hôm nay đều là thành quả của toàn nhân loại nhờ biết phân công, cố gắng tích luỹ ngày đêm mà có. Các thành quả đó sở dĩ không bị vùi lấp đi, đều là do sách vở ghi chép, lưu truyền lại. Sách là kho tàng quý báu cất giữ di sản tinh thần nhân loại, cũng có thể nói đó là những cột mốc trên con đường tiến hoá học thuật của nhân loại. Chúng ta mong tiến lên từ văn hoá, học thuật của giai đoạn này, thì nhất định phải lấy thành quả nhân loại đã đạt được trong quá khứ làm điểm xuất phát. Nếu xoá bỏ hết các thành quả nhân loại đã đạt được trong quá khứ thì chưa biết chừng chúng ta đã lùi điểm xuất phát về đến mấy trăm năm, thậm chí là mấy nghìn năm trước. Lúc đó, dù có tiến lên cũng chỉ là đi giật lùi, làm kẻ lạc hậu.
(2) Đọc sách là muốn trả món nợ đối với thành quả nhân loại trong quá khứ, là ôn lại kinh nghiệm, tư tưởng của nhân loại tích luỹ mấy nghìn năm trong mấy chục năm ngắn ngủi, là một mình hưởng thụ các kiến thức, lời dạy mà biết bao người trong quá khứ đã khổ công tìm kiếm mới thu nhận được. Có được sự chuẩn bị như thế thì một con người mới có thể làm được cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, nhằm phát hiện thế giới mới.
(Chu Quang Tiềm – Bàn về đọc sách)
a. Vấn đề nghị luận trong đoạn trích trên là gì?
b. Qua lời bàn của Chu Quang Tiềm, anh/ chị thấy sách có tầm quan trọng như thế nào? Việc đọc sách có ý nghĩa gì?
c. Theo anh/ chị, vì sao muốn tích luỹ kiến thức, đọc sách có hiệu quả thì trước tiên cần phải biết chọn lựa sách mà đọc?
Văn bản Khoa học muôn năm
Câu 16. Xác định nội dung chính của văn bản
Văn bản Mục đích của việc học
Câu 17. Xác định hệ thống luận điểm của văn bản
2. Phần tiếng Việt
2.1. Chữ Nôm, chữ Quốc ngữ
Câu 1. Trong các tác phẩm dưới đây, tác phẩm nào viết bằng chữ Hán, tác phẩm nào viết bằng chữ Nôm, tác phẩm nào viết bằng chữ Quốc ngữ?
Sông núi nước Nam (khuyết danh), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi), Truyện Kiều (Nguyễn Du), Truyện Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu), Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh), Nhật kí trong tù (Hồ Chí Minh), Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Lão Hạc (Nam Cao), Dế Mèn phiêu lưu kí (Tô Hoài).
Câu 2. Hãy tìm thêm một số ví dụ về các trường hợp sau trong chữ Quốc ngữ:
a) Trường hợp dùng nhiều chữ cái khác nhau để ghi cùng một âm. Ví dụ, ghi âm /k/ bằng các chữ c, k, q.....
b) Trường hợp dùng một chữ cái để ghi nhiều âm khác nhau. Ví dụ, dùng chữ a vừa để ghi âm /a/, vừa để ghi âm /ă/....
c) Trường hợp ghép nhiều chữ cái để ghi một âm. Ví dụ: ch, ng, kh…
2.2. Điển tích, điển cố
Câu 3. Hãy phân tích ý nghĩa của điển tích: nước cành dương, mạc cưa mướp đắng, mắt xanh
Câu 4. Xác định điển tích, điển cố và nêu tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong các trường hợp sau
a. Trướng hùm mở giữa trung quân,
Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi.
Tiên nghiêm, trống chửa dứt hồi,
Điểm danh trước dẫn chực ngoài cửa viên.
(Nguyễn Du, truyện Kiều)
b.
Cho gươm mời đến Thúc Lang,
Mặt như chàm đổ, mình dường dẽ run.
Nàng rằng: “Nghĩa trọng nghìn non,
Lâm Tri người cũ, chàng còn nhớ kkhông?
Sâm, Thương chẳng vẹn chữ tòng,
Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?
Gần trăm cuối, bạc nhìn cân.
Tạ lòng dễ xứng, báo ân gọi là, […]”
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Câu 5. Tìm các điển cố, điển tích (in đậm) ở bên A với nguồn gốc và nghĩa nêu ở bên B:
|
A. Điển cố, điển tích |
B. Nguồn gốc và nghĩa |
|
a. Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiễn về đông, / Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả (Nguyễn Trãi) |
1. Điển tích, lấy từ chuyện xưa bên Trung Quốc: “Vua Hán Vũ Đế kén phò mã, cho công chúa ngồi trên lầu ném quả cầu xuống, ai cướp được thì được làm phò mã". Câu thơ mượn chuyện này để ngụ ý: Cha mẹ Thuý Kiều mong muốn gả con vào nơi xứng đáng. |
|
b. Chí làm trai dặm ngàn da ngựa / Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao (Chinh phụ ngâm) |
2. Điển tích, lấy từ chuyện xưa bên Trung Quốc: “Tín Lăng Quân người nước Ngụy, nghe nói Hầu Doanh là người hiền tài, đem xe đi đón. Tín Lăng Quân ngồi bên hữu (bên phải), dành bên tả (bên trái) cho Hầu Doanh để tỏ ý đặc biệt tôn trọng.”. Câu văn mượn chuyện này để ngụ ý: Lê Lợi luôn mong đợi người hiền tài. |
|
c. Một hai nghiêng nước nghiêng thành, / Sắc đành đòi một tài đành hoạ hại (Nguyễn Du) |
3. Điển cố, lấy ý từ câu cảu Mã Viện thời Hán: “Bậc trượng phu nên chết ở nơi biên giới, chốn chiến trường, lấy da ngựa mà bọc thây…”. Câu này ngụ ý: Làm trai phải đánh đông dẹp bắc, xả thân nơi chiến trường vì nghĩa lớn. |
|
d. Nuôi con những ước về sau/ Trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi. (Nguyễn Du) |
4. Điển cố, lấy từ bài ca của Lý Diên Niên (Trung Quốc): "Nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc (Ngoảnh lại một cái làm xiêu thành trì của người, ngoảnh lại cái nữa làm xiêu nước người). Câu thơ mượn từ ngữ của bài thơ xưa để diễn tả về đẹp của Thuý Kiều. |
2.2. Cách dẫn trực tiếp, Cách dẫn gián tiếp
Câu 6. Tìm lời dẫn trong những đoạn trích sau (trích từ truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao). Cho biết đó là lời nói hay ý nghĩ được dẫn, là lời dẫn trực tiếp hay gián tiếp?
a) Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi, như muốn bảo tôi rằng: A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão đối xử với tôi như thế này à?”.
b) Sau khi thằng con đi, lão tự bảo rằng: “Cái vườn là của con ta. Hồi còn mồ ma mẹ nó, mẹ nó cố thắt lưng buộc bụng, dè sẻn mãi, mới để ra được năm mươi đồng bạc tậu. Hồi ấy, mọi thức còn rẻ cả…”
Câu 7. Hãy chuyển đoạn trích sau trở thành lời dẫn gián tiếp:
a. Chưa đến bực cửa, ông lão đã bô bô:
- Bác Thứ đâu rồi? Bác Thứ làm gì đấy? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhẵn! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên đây cải chính, ông ấy cho biết… cải chính cái tin làng Chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo! Láo hết! Toàn sai sự mục đích cả.
b. Anh Sáu cứ vẫn ngồi im. Tôi dọa nó:
- Cơm mà nhão, mà cháu về thế nào cũng bị đòn. Sao cháu không gọi ba cháu. Cháu gọi một tiếng “ba” không được sao?
Câu 8. Tìm lời dẫn cho những đoạn trích sau, xác định đó là lời nói hay ý nghĩa được trích dẫn, và xác định liệu đó là lời dẫn trực tiếp hay gián tiếp?
a, Họa sĩ suy tư: “Khách tới đột ngột, chắc em chưa kịp dọn dẹp, gấp chăn chẳng hạn”. Ông ngạc nhiên khi bước lên bậc thang bằng đất, thấy chàng trai đang hái hoa. Cô kỹ sư chỉ “ô” lên một tiếng! Sau gần hai ngày, qua gần bốn trăm cây số đường cách xa Hà Nội…
b, Anh Nhuận Thổ nói:
- Lạy ông cụ ạ! Con đã nhận được thư của ông, biết ông sắp về chơi, thật là vui quá!
Mẹ tôi vui vẻ nói:
- Ừ, sao lại xa cách như vậy! Chẳng phải là trước đây, ta vẫn gọi nhau là anh em chứ! Hãy gọi là anh Tấn như trước đi!
Câu 9. Chuyển đoạn trích sau thành lời dẫn gián tiếp:
a. Trước khi đến cửa, ông lão đã lẩm bẩm:
- Ông Thứ ở đâu rồi? Ông Thứ đang làm gì đấy? Tây nó đốt nhà tôi rồi ông ạ. Đốt sạch! Ông chủ tịch làng tôi mới đến đây làm rõ, ông ấy cho biết… làm rõ tin đồn làng Chợ Dầu chúng tôi đến Việt gian ấy mà. Lừa! Lừa hết! Toàn sai sự mục đích cả.
b. Anh Sáu vẫn ngồi im lặng. Tôi đe dọa nó:
- Cơm nhão như thế này, về nhà thì cháu cũng phải nhận phải một trận đòn. Sao cháu không gọi ba cháu. Gọi một tiếng “ba” cũng không được sao?
Câu 10. Chuyển các câu sau đây từ cách dẫn trực tiếp sang cách dẫn gián tiếp:
1. Minh nói: "Tôi rất thích đọc sách."
2. Cô giáo hỏi: "Em đã làm xong bài tập chưa?"
3. Bà bảo: "Cháu nhớ giữ gìn sức khỏe nhé."
4. Hương thắc mắc: "Tại sao hôm nay trời lại mưa to vậy?"
2.3. Câu đơn, câu ghép
Câu 11. Xác định các câu sau đây là câu đơn hay câu ghép:
1. Em rất thích đọc sách.
2. Trời mưa to nhưng mọi người vẫn ra ngoài làm việc.
3. Cô ấy chăm chỉ học tập và luôn đạt điểm cao.
4. Chúng tôi đi dã ngoại, cả nhóm đã chụp rất nhiều ảnh.
5. Con mèo nằm ngủ trên ghế.
Câu 12. Chuyển các câu đơn sau thành câu ghép:
a. Hôm nay tôi được nghỉ học.
b. Nam rất yêu thể thao.
Câu 13. Chuyển các câu ghép sau thành câu đơn:
a. Trời nắng đẹp nên tôi đi dạo.
b. Lan học rất giỏi nhưng cô ấy vẫn luôn khiêm tốn.
Câu 14. Điền từ nối phù hợp để hoàn chỉnh câu ghép sau:
a. Trời lạnh ___ mọi người vẫn đi bộ tập thể dục.
b. Tôi không thích xem phim kinh dị ___ bạn tôi lại rất mê.
c. Cậu ấy vẽ rất đẹp ___ bài dự thi của cậu ấy đạt giải nhất
Câu 15. Viết 3 câu đơn và 3 câu ghép theo chủ đề: "Cuộc sống hằng ngày".
3. Phần làm văn
3.1. Phân tích một tác phẩm thơ
Câu 1. Viết bài văn trình bày suy nghĩ của em về bài thơ Sông núi nước Nam
Câu 2. Phân tích bài thơ Khóc Dương Khuê
Câu 3. Phân tích bài thơ Phò giá về kinh
3.2. Phân tích một đoạn trích tác phẩm văn học
Câu 4. Phân tích đoạn trích Cảnh ngày xuân trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du
Câu 5. Phân tích đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga trích Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu
Câu 6. Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du
3.3. Viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh
Câu 7. Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Chùa Hương
Câu 8. Hãy viết bài văn thuyết minh về Lăng Bác
Câu 9. Hãy viết bài văn thuyết minh về Văn miếu Quốc Tử Giám
3.4. Phân tích một tác phẩm truyện
Câu 10. Phân tích truyện ngắn Làng của Kim Lân
Câu 11. Phân tích truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng
Câu 12. Phân tích truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O. Hen-ry
3.5. Viết bài văn nghị luận xã hội về một vấn đề cần giải quyết
Câu 13. Trình bày suy nghĩ của em về câu nói “Thiên nhiên không chỉ là nơi chúng ta sống, mà còn là nguồn cảm hứng vô tận cho tâm hồn con người”.
Câu 14. Trước thực trạng thiên nhiên đang bị tàn phá nghiêm trọng, hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ của em về trách nhiệm của con người trong việc bảo vệ môi trường sống của mình.
Câu 15. Trình bày suy nghĩ của em về tình trạng thiếu động lực học tập ở học sinh và những cách để khơi dậy niềm đam mê học hỏi
C. LỜI GIẢI CHI TIẾT
1. Phần đọc hiểu
Câu 1.
a. Thất ngôn tứ tuyệt
b. Bài thơ sông núi nước Nam được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta vì bài thơ tuyên bố chủ quyền độc lập của đất nước và không một thế lực nào có thể xâm phạm quyền độc lập tự do của dân tộc.
Câu 2.
a.
Bài thơ Khóc Dương Khuê viết bằng thể thơ song thất lục bát.
Đề tài bài Khóc Dương Khuê viết về tình bằng hữu/ tình bạn bè.
b.
+ Cùng đi hát ả đào.
+ Cùng uống rượu ngon
+ Cùng bàn soạn câu văn trong các sách cổ,…
c. Tình bạn giữa nhà thơ Nguyễn Khuyến và Dương Khuê: được thể hiện qua việc nhà thơ nhắc lại bao kỉ niệm đã gắn bó cùng với bạn; thể hiện qua nỗi đau đớn, tiếc thương bạn từ chính cõi lòng nhà thơ lan tỏa ra cả không gian rộng lớn, bao la. Đó là tình bạn đẹp đẽ, chân thành, đáng quý giữa những người bạn tri âm, tri kỉ. Qua tình bạn giữa nhà thơ và Dương Khuê, nhà thơ đã lan tỏa đến người đọc giá trị của tình bạn chân chính.
Câu 3.
a. Ngũ ngôn tứ tuyệt (4 câu thơ, mỗi câu thơ có 5 chữ)
b. Vần được gieo ở tiếng thứ 5 của các câu 2, 4 (thù - thu)
c. Nhà thơ thể hiện tình cảm hân hoan, tự hào về chiến thắng quan trọng ở Chương Dương và Hàm Tử của dân tộc. Đồng thời, nhà thơ cũng thể hiện khát vọng thái bình, đất nước muôn đời vững bền của mình
Câu 4.
a.
- Các từ láy trong văn bản: eo óc, phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc, mê mải, chứa chan
- Hiệu quả nghệ thuật của việc dùng từ láy: Gợi âm thanh, cảnh vật và diễn tả tâm trạng chờ đợi trong đau khổ, tuyệt vọng của người chinh phụ.
b. Phép điệp và các biện pháp tu từ trong văn bản:
- Phép điệp từ: gượng (3 lần); điệp ngữ: Hương gượng đốt; Gương gượng soi; Sắt cầm gượng gảy; điệp cú pháp: Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng.
- So sánh: đằng đẵng như niên; dằng dặc tựa miền biển xa
Hiệu quả nghệ thuật:
- Sử dụng phép điệp:
+ Người chinh phụ gượng dậy đốt hương để xua bớt đi cái lạnh lẽo, để tìm lại sự thanh thản, song tâm hồn lại như thêm mê man.
+ Gượng soi gương để trang điểm nhưng nhìn thấy khuôn mặt mình thì chinh phụ lại ứa nước mắt.
+ Ngồi trước phím đàn nhưng chỉ gượng gảy vì sợ dây đàn chùng báo hiệu điều không may. Tất cả chỉ là gượng gạo, âm thầm, bởi nàng lẻ loi, cô độc quá.
- Biện pháp so sánh quen thuộc: như niên, tựa miền biển xa để cụ thể hóa mối sầu dằng dặc của người chinh phụ
c. Nguyên nhân đau khổ của người chinh phụ có thể là:
+ Nàng lo lắng cho sự an nguy của chồng nơi chiến trận;
+ Tuổi trẻ qua đi vội vã. Hạnh phúc và tình yêu cũng sẽ mất theo. Điều đ1o chứng tỏ nàng rất khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi;
+ Niềm tin vào cuộc sống tương lai mỏng manh và vô vọng.
Câu 5.
a. Đoạn thơ trích từ tác phẩm Cảnh ngày xuân (trích Truyện Kiều), của tác giả Nguyễn Du.
b. Bốn từ ghép Hán Việt là: Thanh minh, tảo mộ, tài tử, giai nhân (hoặc đạp thanh, bộ hành)
c.
- Câu thơ ghép: Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh
- Câu dùng đảo ngữ: Gần xa nô nức yến anh
d. Những từ láy trong đoạn thơ là: Nô nức, sắm sửa, dập dìu
- Đây là những từ láy tượng hình, tượng thanh gợi ra trước mắt người đọc khung cảnh đẹp về ngày hội trong buổi sáng thanh minh tháng ba.
+ Không gian thoáng đãng, thời tiết ấm áp, dễ chịu.
+ Gần xa trai –gái nô nức đi trẩy hội, dập dìu từng cặp, từng đôi, ngựa xe ngược xuôi, chen chúc, vui vẻ.
+ Ngày lễ giao hòa độc đáo giữa cái quá khứ và hiện tại, cái đã qua và sắp tới.
+ Những nam thanh nữ tú đi lễ tưởng niệm quá khứ nhưng có thể tìm thấy sợi tơ hồng trong ngày hội cho mai sau.
Câu 6. Qua hành động đánh cướp và cách cư xử với Kiều Nguyệt Nga, hình ảnh Vân Tiên là Hình ảnh một người anh hùng hảo hán, có khí phách, trượng nghĩa, thượng võ, bênh vực kẻ yếu, trừ gian diệt ác cho nhân dân. Lục Vân Tiên không chỉ là một người có học thức mà còn là một người hào hiệp, trượng nghĩa. Đối với Vân Tiên, chàng coi việc nhân nghĩa trên đời là điều tất yếu, nếu làm ơn mà vì được đền đáp, trông ngóng đến việc trả ơn thì đó không còn là người anh hùng.
Câu 7.
a. Mở bài: Giới thiệu chung về đoạn trích (Đoạn thơ hay nhất biểu hiện bút pháp nghệ thuật đặc sắc về tự sự, tả cảnh ngụ tình, ngôn ngữ độc thoại thể hiện nỗi lòng và tâm trạng của nhân vật Thuý Kiều)
b. Thân bài:
- Tâm trạng của Thuý Kiều khi ở lầu Ngưng Bích:
+ Đó là tâm trạng cô đơn buồn tủi, đau đớn xót xa
+ Nàng nhớ đến Kim Trọng, thương chàng.
+ Nàng thương cha mẹ già thiếu người chăm sóc.
+ Nàng nghĩ về hiện tại của bản thân thì thấy buồn dâng lớp lớp như tâm trạng ngổn ngang trước một tương lai mờ mịt, bế tắc.
- Nghệ thuật miêu tả tâm lý của Nguyễn Du:
+ Nhà thơ sử dụng ngoại cảnh để tả tâm cảnh.
+ Vừa tạo ra sự đối lập Thiên nhiên rộng lớn – con người nhỏ bé cô đơn vừa tạo ra sự tương đồng: cảnh ngổn ngang – tâm trạng ngổn ngang, cảnh mờ mịt nhạt nhoà – tâm trạng u buồn, bế tắc.
+ Nguyễn Du sử dụng điệp ngữ, các từ láy tạo nên sự trùng điệp như nỗi lòng của Kiều đang “Lớp lớp sóng dồi”
c. Kết bài:
- Khẳng định nghệ thuật vịnh cảnh ngụ tình đặc sắc của đại thi hào Nguyễn Du.
- Xót thương số phận tài hoa bạc mệnh của Thuý Kiều.
- Căm ghét xã hội phong kiến xấu xa, thối nát, tàn bạo.
Câu 8.
- Giá trị độc đáo: là sự kết hợp của điêu khắc và hội họa, giữa tính hoành tráng khỏe khoắn với nét duyên dáng mơ mộng. Trên diện tích rộng mọc lên hàng nghìn đảo đá muôn hình muôn vẻ
- Giá trị tuyệt mĩ: cảnh quan biến đổi theo thời gian với vẻ đẹp huyền ảo và đặc sắc; hệ thống hang động với những lâu đài bí ẩn
Câu 9.
a. Văn bản gồm 3 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “450000 mét khối): thời gian, địa điểm và nét đặc sắc chính của thác I-goa-zu
- Phần 2 (tiếp theo đến “khá kinh hoàng”): vẻ đẹp kì diệu và các trải nghiệm
- Phần 3 (còn lại): ván bài sinh tử khi tham quan “họng quỷ”
b. Mục đích: giúp cho người đọc có những những thông tin cơ bản về thác I-goa- du và các trải nghiệm cảm giác mạnh khi khám phá nơi đây
c.
- Đặc điểm: có lưu lượng chảy trung bình năm lớn nhất trên thế giới với cảnh quan hùng vĩ, đồ sộ. Có rất nhiều hình thức trải nghiệm du lịch nơi đây: đường thủy, đường bộ và đường hàng không. Cuộc trải nghiệm “Họng quỷ” là một hành trình bất ngờ và cảm giác mạnh
- Giá trị: giá trị về tham quan, du lịch; về thủy điện và văn hóa của các quốc gia khu vực thác I-goa-zu
Câu 10. Đặc điểm:
- Tập trung nêu lên vẻ đẹp và giá trị của vườn quốc gia Tràm Chim với thiên nhiên, hệ sinh thái
- Trình bày theo trật tự không gian, phân loại đối tượng sinh vật, quan hệ nguyên nhân - kết quả của việc biến mất và xuất hiện…
- Nhan đề nêu địa danh: Tràm Chim - Tam Nông
Câu 11.
a. Nội dung chính của đoạn trích trên là: Đoạn trích nói về tâm trạng đau đớn của ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc.
b. Trong đoạn: "Ông lão bỗng ngừng lại... có đời nào lại can tâm làm điều nhục nhã ấy", “Ông lão” trong đoạn trích trên là nhân vật ông Hai.
- Điều "nhục nhã" được nói đến là làng Chợ Dầu theo giặc.
- Những câu văn nào là lời trần thuật của tác giả:
(1) “Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm.
(3) Ông kiểm điểm từng người trong óc
- Những câu văn là lời độc thoại của nội tâm của nhân vật:
(2) Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được.
(4) Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả mà
(5) Họ đã ở lại làng, quyết tâm một sống một chết với giặc, có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy!
- Những lời độc thoại nội tâm ấy thể hiện tâm trạng của ông Hai: băn khoăn, day dứt nhưng vẫn tin tưởng vào lòng trung thành của người dân làng Chợ Dầu với cách mạng.
c. Câu “Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được.” thì từ “Chả nhẽ” là thành phần biệt lập tình thái trong câu.
d. Đoạn văn "Nhưng sao lại nảy ra cái tin...cái cơ sự này chưa?…" là lời độc thoại nội tâm của nhân vật ông Hai.
Điều này góp phần thể hiện sự nghi vấn, hoài nghi của ông Hai trước tin đồn làng Chợ Dầu theo Tây. Sau sự hoài nghi chính là nỗi đau và sự xấu hổ vì cả làng theo Tây.
Câu 12.
a.
- Đề tài: Số phận con người và loài vật trong chiến tranh
- Bối cảnh: nội chiến Tây Ban Nha
- Ngôi kể thứ nhất
- Các nhân vật: tôi, ông lão
b. Nhân vật ông lão là một người có chân dung bụi bặm, xám bẩn nhưng ánh lên sau đó là tấm lòng lương thiện sâu sắc dành cho các con vật nuôi của mình
Câu 13.
a. Tóm tắt mối quan hệ tình cảm giữa hai nhân vật được kể trước khi sự việc này xảy ra:
Quan hệ hai cha con ông Sáu trước đó đã không êm ả: Hai cha con gặp nhau sau tám năm xa cách, bé Thu không nhận ra ông Sáu là cha nên nó đối xử với ông như với người xa lạ. Còn ông Sáu dù đã cố gắng vỗ về nó để mong được gọi là "ba" nhưng không thành.
b. Những biểu hiện của bé Thu ở trên nói lên thái độ bướng bỉnh không chịu nhận ông Sáu làm cha.
Câu 14.
a. Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn và được kể theo ngôi thứ ba
b. Các nhân vật xuất hiện trong văn bản: Xiu, Giôn-xi, cụ Bơ-men
c. Đối với Giôn-xi, chiếc lá cuối cùng rụng hay không rụng có ý nghĩa quyết định số phận của cô. Nếu nó rụng, cuộc đời của cô cũng sẽ chấm hết.
Câu 15.
a. Vấn đề nghị luận trong đoạn trích trên là:
- Đoạn 1: tác giả Chu Quang Tiềm bàn về việc đọc sách và nhấn mạnh đọc sách là một con đường quan trọng của học vấn. “Sách là kho tàng quý báu cất giữ di sản tinh thần nhân loại, cũng có thể nói đó là những cột mốc trên con đường tiến hoá học thuật của nhân loại”.
- Đoạn 2: tác giả khẳng định “Đọc sách là muốn trả món nợ đối với thành quả nhân loại trong quá khứ, là ôn lại kinh nghiệm, tư tưởng của nhân loại tích luỹ mấy nghìn năm trong mấy chục năm ngắn ngủi”. Và con đường học vấn không thể thiếu sách.
b. Qua lời bàn của Chu Quang Tiềm, ta thấy sách có tầm quan trọng rất lớn, đó là con đường của học vấn vì sách là kho tàng tích luỹ kiến thức của nhân loại. Muốn tiến bộ thì phải đọc sách, phải lấy thành quả nhân loại đã đạt được trong quá khứ làm điểm xuất phát.
Việc đọc sách có ý nghĩa: tiếp thu kiến thức, cập nhật những vấn đề mới để không bị lạc hậu. Từ đó ta mới có thể vững vàng trên con đường học vấn.
c. Muốn tích luỹ kiến thức, đọc sách có hiệu quả thì trước tiên cần phải biết chọn lựa sách mà đọc vì: sách có nhiều loại sách, nhiều lĩnh vực: khoa học, xã hội, giải trí, giáo khoa… Mỗi chúng ta cần biết mình ở độ tuổi nào, có thế mạnh về lĩnh vực gì. Xác định được điều đó ta mới có thể tích luỹ được kiến thức hiệu quả. Cần hạn chế việc đọc sách tràn lan lãng phí thời gian và công sức…
Câu 16. Nội dung chính: văn bản nêu lên giá trị của khoa học và nghệ thuật, mối quan hệ giữa khoa học và nghệ thuật. Qua văn bản, tác giả đem tới những thông tin thiết thực, lí thú về giá trị của một nền khoa học.
Câu 17.
|
Luận điểm |
Lí lẽ, bằng chứng |
|
Học để hiểu |
- là đi sâu nắm bắt bản chất; khai thác, phân tích; tư duy - là cách học khoa học, tự nghiên cứu, tạo cho mình năng lực tự học - mối quan hệ giữa học và hiểu |
|
Học để làm |
- Các quan điểm của Hồ Chí Minh, Kant, Piaget - Cần có năng lực xử lí tình huống mới - Mối quan hệ giữa học và làm |
|
Học để hợp tác, cùng chung sống |
- cần hiểu bản thân và người khác - ý nghĩa - Mối quan hệ giữa học và hợp tác |
|
Học để làm người |
- giải thích - khám phá ra bản thân, vượt qua chính mình - kết quả: tạo ra con người tự chủ, sáng tạo… |
2. Phần tiếng Việt
Câu 1.
* Viết bằng chữ Hán:
- Sông núi nước Nam
- Hịch tướng sĩ
- Nhật kí trong tù
* Viết bằng chữ Nôm
- Quốc âm thi tập
- Truyện Kiều
- Truyện Lục Vân Tiên
* Viết bằng chữ Quốc ngữ
- Tuyên ngôn Độc lập
- Tắt đèn
- Lão Hạc
- Dế Mèn phiêu lưu kí
Câu 2.
a) Âm /c/ thay cho /k/, /q/…
b) Âm /â/ vừa để ghi âm /â/ vừa để ghi âm /ơ/
c) Qu, ngh, gh…
Câu 3.
|
nước cành dương |
mạc cưa mướp đắng |
mắt xanh |
|
-Tính lịch sử: có người nước Thiên Trúc tên là Trừng rất giỏi các phép chữa bệnh của nhà Phật. Thạch Lộc nghe tiếng, mời đến chữa bệnh cho con đang ốm nặng. Trừng lấy cành dương nhúng vào nước trong rẩy lên mình người bệnh. Người bệnh tỉnh và sống lại. -Tính biểu trưng: điển tích này dùng để chỉ nước phép chữa được bệnh. |
-Tính lịch sử: có người lấy mạc cưa giả làm cám đem đi bán. Người ấy lại gặp một người khác lấy mướp đắng gỉa làm dưa chuột. Hai bên mua bán cho nhau - Tính biểu tượng: điển tích này dùng để chỉ phường bịp bợm. |
Tính lịch sử: Nguyễn Tịch đời Tấn quý ai thì tiếp bằng mắt xanh 9lòng đen của mắt), không ưa ai thì tiếp bằng mắt trắng (lòng trắn g của mắt). Tính biểu trưng: thể hiện lòng quý trọng của chủ thể đối với một người nào đó. |
Câu 4.
a.
- Điển tích, điển cố trong văn bản trên: trướng hùm, cửa viên
b.
- Điển tích, điển cố trong văn bản trên: dẽ run, Sâm, Thương.
=> Tác dụng: Cách diễn đạt trở nên hàm súc, uyên bác, giàu sức biểu hiện, gián tiếp bộ lộ, thái độ, cảm xúc của tác giả, tạo nhịp điệu cho câu thơ.
Câu 5. a – 2; b – 3; c – 4; d – 1
Câu 6.
Cách dẫn trong các câu ở (a) và (b) đều là dẫn trực tiếp.
a) “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?”.
⟹ Lời nói
b) “Cái vườn là của con ta. Hồi còn mồ ma mẹ nó, mẹ nó thắt lưng buộc bụng, dè sẻn mãi, mới để ra năm mươi đồng bạc tậu. Hồi ấy, mọỉ thứ còn rẻ cả...”
⟹ Ý nghĩ
Câu 7.
a. Ông Hai chưa đến bực cửa đã bô bô nói với bác Thứ rằng ông chủ tịch làng chợ Dầu mới lên cải chính tin đồn làng ông theo giặc.
b. Tôi dọa nó nếu để cơm nhão thế nào cũng bị đánh đòn, và nhắc nó gọi “ba” giúp đỡ.
Câu 8.
a. Lời dẫn gián tiếp.
Tác giả trình bày suy nghĩ, lời nói của nhân vật
b. Lời dẫn trực tiếp
Các nhân vật tự diễn đạt lời nói, suy nghĩ của mình.
Câu 9.
a. Ông Hai khi chưa đến cửa đã lên tiếng với bác Thứ rằng ông chủ tịch làng Chợ Dầu vừa mới cải chính thông tin lan truyền rằng làng ông bị giặc xâm lược.
b. Tôi đe dọa nó rằng nếu cơm nhão như thế nào cũng bị đánh đập, và nhắc nhở nó gọi “ba” để được giúp đỡ.
Câu 10.
1. Minh nói: "Tôi rất thích đọc sách."
=> Cách dẫn gián tiếp: Minh nói rằng cậu rất thích đọc sách.
2. Cô giáo hỏi: "Em đã làm xong bài tập chưa?"
=> Cách dẫn gián tiếp: Cô giáo hỏi em đã làm xong bài tập chưa.
3. Bà bảo: "Cháu nhớ giữ gìn sức khỏe nhé."
=> Cách dẫn gián tiếp: Bà bảo cháu nhớ giữ gìn sức khỏe.
4. Hương thắc mắc: "Tại sao hôm nay trời lại mưa to vậy?"
=> Cách dẫn gián tiếp: Hương thắc mắc tại sao hôm nay trời lại mưa to như vậy.
Câu 11.
1. Em rất thích đọc sách. => Câu đơn (một cụm chủ - vị).
2. Trời mưa to nhưng mọi người vẫn ra ngoài làm việc. => Câu ghép (hai cụm chủ - vị, nối bằng từ "nhưng").
3. Cô ấy chăm chỉ học tập và luôn đạt điểm cao. => Câu ghép (hai cụm chủ - vị, nối bằng "và").
4. Chúng tôi đi dã ngoại, cả nhóm đã chụp rất nhiều ảnh. => Câu ghép (hai cụm chủ - vị, nối bằng dấu phẩy).
5. Con mèo nằm ngủ trên ghế. => Câu đơn (một cụm chủ - vị).
Câu 12.
a. Câu đơn: Hôm nay tôi được nghỉ học.
=> Câu ghép: Hôm nay tôi được nghỉ học nên tôi dành thời gian để thư giãn.
b. Câu đơn: Nam rất yêu thể thao.
=> Câu ghép: Nam rất yêu thể thao và cậu ấy thường chơi bóng rổ vào buổi chiều.
Câu 13.
a. Câu ghép: Trời nắng đẹp nên tôi đi dạo.
=> Câu đơn: Tôi đi dạo vì trời nắng đẹp.
b. Câu ghép: Lan học rất giỏi nhưng cô ấy vẫn luôn khiêm tốn.
=> Câu đơn: Dù học rất giỏi, Lan vẫn luôn khiêm tốn.
Câu 14.
a. nhưng
b. nhưng
c. nên
Câu 15.
|
3 câu đơn |
3 câu ghép |
|
1. Tôi dậy sớm vào mỗi buổi sáng. 2. Hôm nay mẹ nấu một bữa ăn rất ngon. 3. Con chó nằm ngủ dưới gốc cây. |
1. Tôi thích đọc sách nên tôi thường đến thư viện vào cuối tuần. 2. Trời mưa to nhưng chúng tôi vẫn đến trường đúng giờ. 3. Cả nhà cùng nhau làm vườn, sau đó chúng tôi nghỉ ngơi dưới bóng cây. |
3. Phần làm văn
Câu 1.
I. Mở bài
- Giới thiệu sơ lược tác phẩm Sông núi nước Nam và tác giả Lí Thường Kiệt.
II. Thân bài: nêu cảm nghĩ về tác phẩm Sông núi nước Nam
1. Cảm nghĩ về câu thứ nhất: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”
- Tác giả khẳng định người Nam phải ở nước Nam.
- Vua Nam thì phải ở nước Nam.
- Đã phân định rõ ràng vêc chủ quyền và lãnh thổ.
2. Cảm nghĩ về câu thứ hai: “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”
- Tác giả khẳng định rằng chủ quyền này đã được định rõ ở sách trời.
- Tác giả thể hiện được chân lí sống, chân lí lẽ thường tình.
- Sự xâm lược của các nước khác là sai lầm.
3. Cảm nghĩ về câu thứ ba: “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm”
- Tác giả giận dữ và có thái độ khinh bỉ đối với kẻ thù.
- Tác giả cho rằng địa phận nước ta tại sao dám xâm lăng.
- Thể hiện sự căm thù giặc sâu sắc của tác giả.
4. Câu cuối cùng: “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
- Tác giả cảnh cáo rằng làm trái sách trời sẽ bị quả báo.
- Khẳng định lại một lần nữa chủ quyền của mình.
III. Kết bài: nêu cảm nghĩ của em về bài thơ Sông núi nước Nam
Câu 2.
1. Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác phẩm văn học cần phân tích: Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến
2. Thân bài:
a. Nêu hoàn cảnh sáng tác, chủ đề và nguồn cảm xúc cho tác giả viết nên bài thơ này:
- Hoàn cảnh sáng tác: sau khi người bạn tri kỉ của Nguyễn Khuyến là Dương khuê qua đời
- Nguồn cảm xúc của tác giả: sự bất ngờ, đau buồn trước sự ra đi của người bạn tri kỉ
- Chủ đề chính của bài thơ: thể hiện tâm trạng đau đớn, xót xa, mất mát vô cùng của Nguyễn Khuyến trước sự ra đi của Dương Khuê
b. Phân tích các yếu tố hình thức và tác dụng của chúng trong việc biểu đạt nội dung bài thơ (trọng tâm):
- Phần 1: Thể hiện trực tiếp nỗi bàng hoàng, đau xót khôn cùng khi hay tin bạn vừa qua đời:
+ Sử dụng biện pháp nói giảm nói tránh “thôi đã thôi rồi” để không nhắc trực tiếp đến sự ra đi của bạn, nhằm giảm bớt sự đau thương
+ Sử dụng từ ngữ “nước mây” để diễn rat sự to lớn, mênh mông của nỗi đau mất bạn của tác giả
+ Sử dụng đại từ xưng hô “tôi” - “bác” để thể hiện sự kính trọng với người đã khuất
- Phần 2: Gợi nhắc lại những kỉ niệm với người bạn thân trong quá khứ, từ khi vừa đỗ đạt, đến lúc cùng vào triều làm quan, cùng dạo chơi khắp chốn, cùng đương đầu với khó khăn, rồi cùng nhau về hưu
→ Sắp xếp theo trình tự thời gian từ lúc còn trẻ đến khi về già như một thước phim ngắn
- Phần 3:
+ Khắc họa trực tiếp nỗi đau của Nguyễn Khuyến sau khi nghe tin bạn mất: bất ngờ đến hoảng hốt “chân tay rụng rời”
+ Khắc họa sự lạc lõng đến chua xót khi không còn bạn nữa: cuộc sống trở nên trống vắng, tẻ nhạt, không còn niềm vui nào nữa (không mua rượu, không viết thơ…); sử dụng điển cố “giường treo”, “đàn kia” để nói về những đồ vật vô tri cũng cảm nhận được nỗi buồn mà trở nên ngẩn ngơ, hững hờ
+ Cố gắng tự kìm nén nỗi đau, tự an ủi bản thân trước sự ra đi của bạn, dù trong lòng nước mắt chan chứa
c. Kết bài:
- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ
- Nêu cảm nhận, cảm nghĩ của em về bài thơ
Câu 3.
1. Mở bài
- Giới thiệu về tác giả Trần Quang Khải (những nét chính về cuộc đời, đặc điểm sáng tác…)
- Giới thiệu về bài thơ “Phò giá về kinh” (hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật…)
2. Thân bài
a. Hào khí chiến thẳng của quân dân ta
- Hai câu đầu nói về chiến thắng của quân và dân ta, trong đó có sự đóng góp to lớn của người chỉ huy chính là tác giả.
- Động từ “đoạt, cầm” kết hợp với các địa danh “Chương Dương”, “Hồ Hàm Tử” góp phần làm nổi bật sự hào hùng và không khí chiến thắng ở Chương Dương và Hàm Tử.
- Đây đều là những trận chiến gây được tiếng vang lớn.
=> Không chỉ ca ngợi chiến công của quân dân ta mà còn thể hiện lòng tự hào dân tộc.
b. Khát vọng thái bình thịnh trị của dân tộc ta
- Câu thơ 3: Thái bình tu trí lực (Thái bình nên gắng sức). Sau khi đánh bại quân thù, đất nước giành được độc lập bước vào thời bình, cần phải xây dựng và phát triển đất nước.
- Câu thứ 4: Vạn cổ thử giang sang (Non nước ấy ngàn thu). Khẳng định sự tồn vong bất diệt của đất nước đến muôn đời.
=> Đây không chỉ là mong muốn của riêng tác giả mà còn là mong muốn của cả một quốc gia, dân tộc.
3. Kết bài
- Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Phò giá về kinh.
- Cảm nhận về bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải.
Câu 4.
I. Mở bài
- Giới thiệu về đoạn trích tác giả Nguyễn Du, tác phẩm Truyện Kiều và đoạn trích “Cảnh ngày xuân”.
- Nêu khái quát cảm nhận của em về đoạn trích Cảnh ngày xuân.
II. Thân bài
1. Khung cảnh thiên nhiên mùa xuân
- Thời gian: “ngày xuân”, “chín chục đã ngoài sáu mươi” - Ý chỉ thời gian trôi qua thật nhanh, đã bước sang tháng thứ ba.
- Không gian: “thiều quang” - ánh sáng đẹp đẽ của mùa xuân bao trùm không gian.
- Bức tranh thiên nhiên điểm một vài nét nổi bật:
+ “Cỏ non xanh tận chân trời”: không gian bao la tràn ngập sự sống của mùa xuân.
+ “Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”: đảo ngữ nhấn mạnh hình ảnh những bông hoa lê với sắc trắng đặc trưng cho mùa xuân.
+ Động từ “điểm” gợi ra hình ảnh bàn tay người họa sĩ đang vẽ nên những bông hoa lê để tô điểm cho cảnh mùa xuân tươi, khiến cảnh vật trở nên sống động có hồn.
=> Chỉ vài nét chấm phá, tác giả đã gợi tả bức tranh thiên nhiên đầy sinh động.
2. Khung cảnh lễ hội trong tết Thanh minh
- Khung cảnh tết Thanh minh diễn ra với hai phần:
+ lễ Tảo mộ (dọn dẹp, sửa sang phần mộ của người đã mất)
+ hội Đạp thanh (ý chí hành động du xuân).
- Không khí lễ hội được diễn ta qua một loạt các từ ngữ:
+ Các từ “nô nức”, “gần xa” và “ngổn ngang” bộc lộ tâm trạng của người đi hội.
+ Hình ảnh “ngựa xe như nước, áo quần như nêm” gợi sự đông đúc của những người đi hội.
=> Khung cảnh lễ hội mang đậm truyền thống văn hóa của dân tộc.
3. Khung cảnh chị em Thúy Kiều khi ra về
- Thời gian: “Tà tà bóng ngả về tây” - thời điểm kết thúc của một ngày.
- Hình ảnh chị em Thúy Kiều: “thơ thẩn dan tay ra về” - lễ hội kết thúc cũng là lúc con người phải trở về với sinh hoạt hằng ngày.
- Hai câu cuối: khắc họa cảnh vật trên đường trở về, qua đó bộc lộ tâm trạng nuối tiếc của con người.
III. Kết bài
- Khẳng định lại giá trị của đoạn trích Cảnh ngày xuân.
- Nêu cảm nhận về đoạn trích trên.
Câu 5.
1. Mở bài
Giới thiệu tác phẩm và đoạn trích
2. Thân bài
a) Tình huống gặp gỡ - Lục Vân Tiên đánh cướp:
- Chủ tớ Kiều Nguyệt Nga trên đường bị cướp chặn xe, Lục Vân Tiên tình cờ đi ngang qua, thấy vậy liền ra tay cứu giúp.
- Cảnh đánh cướp thể hiện tài năng võ thuật, sự mưu trí, khỏe khoắn của Lục Vân Tiên
- Kết quả của trận đánh: kẻ cướp thua tan tác, bỏ cả gươm giáo, thủ lĩnh Phong Lai bị Vân Tiên tiêu diệt.
b) Cảnh Lục Vân Tiên gặp Kiều Nguyệt Nga:
- Tính cách, phẩm chất của Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga thể hiện qua màn đối đáp trả ơn.
- Khi thấy tiếng than khóc trong xe ngựa, Vân Tiên hỏi chuyện "động lòng" trước cảnh hai cô gái gặp nguy, khẳng định đã trừ hết kẻ gian.
- Khi biết người cứu mình là một trang nam tử hán, Kiều Nguyệt Nga đã kể rõ sự tình,
- Khi nhận được ngỏ ý tạ ơn của Nguyệt Nga, Lục Vân Tiên liền từ chối: " Làm ơn há dễ trông người trả ơn/ Nhớ câu kiến ngãi bất vi/ Làm người thế ấy cũng phi anh hùng".
3. Kết bài
- Kết luận về nội dung
- Nghệ thuật miêu tả nhân vật xuất sắc, ngôn ngữ giàu tính triết lí
Câu 6.
1. Mở bài:
- Giới thiệu về tác phẩm và đoạn trích:
+ Tác phẩm “Truyện Kiều” là một tuyệt phẩm của tác giả Nguyễn Du. Ông đã đóng góp cho nền thi ca Việt Nam cổ đại một tác phẩm tuyệt vời có sức sáng tạo, vang xa tới nhiều thế hệ sau.
+ Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một đoạn trích hay nó đã lột tả được tâm trạng của Thúy Kiều.
2. Thân bài:
- Giới thiệu qua về hoàn cảnh của Thúy Kiều vì đâu mà nàng lại có mặt tại lầu Ngưng Bích này.
- Sau khi gia đình lâm biến và bị Mã Giám Sinh dùng mưu hèn kế bẩn, gạ gẫm lừa tình rồi bị bán vào thanh lâu, Thúy Kiều đã định tự kết liễu đời mình, nhưng kế hoạch của nàng không thành công.
- Đây là tâm trạng của Kiều những ngày đầu ở lầu Ngưng Bích, một tâm trạng sống không bằng chết, cô đơn chán nản cuộc đời và mất lòng tin ở con người.
“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia”
- Phân tích hai từ “khóa xuân” hai từ này đã gợi lên trong lòng người đọc rất nhiều cảm xúc chua chát.
- Không gian càng mênh mông tăm tối, mịt mù càng làm cho tâm trạng Thúy Kiều trở nên thê lương bi đát hơn bao giờ hết. Một cuộc sống bị giam cầm tù đày cả về tâm hồn, lẫn thể xác.
“Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”
- Hai từ “bẽ bàng” đã lột tả được mọi sự ê chề, đau đớn của Thúy Kiều, khi cô vừa bị Mã Giám Sinh lừa tình, rồi lại còn bị bán vào lầu xanh.
- “Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng” con người và cảnh vật đã thật sự hòa nhập vào làm một. Cảnh vật cũng như người đều mang cảnh u sầu, trống trải, cô đơn khắc khoải…
- Trong những câu thơ tiếp theo tác giả đưa nhịp bài thơ nhanh hơn, chuyển hướng tâm trạng của Thúy Kiều hồi tưởng lại những ngày xưa bình yên hạnh phúc.
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”
- Phân tích tâm trạng của Thúy Kiều khi nhớ về Kim Trọng mối tình đầu của nàng trong sự ê chề, bẽ bàng, tủi nhục này người nàng nhớ về đầu tiên chính là chàng Kim Trọng, nhớ người đã thề hẹn ước nguyện với nàng.
“Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ”
- Tâm trạng của Kiều khi nghĩ về cha mẹ. Nàng nghĩ về những người sinh thành ra mình, cảm thấy xót xa.
- Tâm trạng của Thúy Kiều lại trở về với thực tại của đời mình, trở về với nỗi đau hiện thực:
“Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Buồn trông ngọn cỏ dầu dầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”
- Điệp từ “buồn trông” được nhắc đi nhắc lại trong khổ thơ. Nó như tâm trạng của Kiều lúc này, đúng là “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
- Câu thơ nói lên sự lênh đênh trên chặng đường đời nhiều sóng gió trước mặt Kiều. Nó nói lên sự phong ba, gập ghềnh mà Kiều sẽ phải đi qua:
“Buồn trông sóng cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”
3. Kết bài:
+ Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một bức tranh được vẽ lên với những màu sắc xám lạnh, gợi tả tâm trạng vô cùng sống động, nhưng nó cũng nhiều thê lương ai oán.
+ Phân tích bút pháp nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình” của Nguyễn Du. Cảnh và người trong đoạn trích như hòa vào làm một.
Câu 7.
1. Mở bài
- Đất nước ta có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng.
- Chùa Hương là một trong những danh lam thắng cảnh đó.
- Phong cảnh chung của chùa Hương đã để lại trong lòng khách du lịch thập phương những ấn tượng khó quên.
- Chùa Hương có đặc điểm riêng mà những danh lam thắng cảnh khác không có.
2. Thân bài
a. Giới thiệu những nét chung về chùa Hương
- Chùa Hương là cách gọi trong dân gian. Trên thực tế chùa Hương hay Hương Sơn là cả một quần thể văn hóa - tôn giáo Việt Nam, gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền thờ thần, một số ngôi đền thờ tín ngưỡng nông nghiệp.
- Trung tâm chùa Hương nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Trung tâm của cụm đền, chùa tại vùng này chính là chùa Hương nằm trong động Hương Tích hay còn gọi là chùa Trong.
b. Đặc điểm nổi bật của chùa Hương
- Quần thể chùa Hương là sự kết hợp hài hòa, tuyệt vời giữa kì công thiên nhiên với sự tạo dựng bởi bàn tay tài hoa của con người.
- Ở đây có sông suối, núi non, ruộng đồng. Tất cả tạo nên bức tranh thiên nhiên đa dạng, phong phú sắc màu, đẹp như một bức tranh sơn thủy.
- Quần thể chùa Hương có nhiều công trình nằm rải rác. Để vào được khu trung tâm, ta lên đò ở bến Đục. Dọc theo con suối Yến khoảng mấy km, ta xuống đò ở bến Trò. Từ đó, ta đi bộ, đi cáp treo lên động Hương Tích.
- Khu vực chính của chùa Ngoài còn gọi là chùa Trò (còn có tên khác là chùa Thiên Trù). Tam quan của chùa được cất lên ba khoảng sân rộng lát gạch. Sân thứ ba dựng tháp chuông với ba tầng mái.
- Chùa chính, tức chùa Trong không phải là một công trình nhân tạo mà là một động đá thiên nhiên. Ở lối xuống hang có cổng lớn. Trên cổng có ghi: "Hương Tích động môn". Qua cổng là con dốc dài, lối đi xây thành 120 bậc lát đá. Vách động có 5 chữ "Nam thiên đệ nhất động" (Động đẹp nhất trời Nam). Đó là bút tích của chúa Trịnh Sâm khi đến thăm Hương Sơn.
-Trong động có pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát. Xung quanh là những nhũ đá lớn được gọi là cây vàng, cây bạc, buồng tằm, nong kén, núi cô, núi cậu... Đặc biệt, trên vòm động có hình 9 con rồng.
c. Giới thiệu về lễ hội chùa Hương
- Ngày 6 tháng giêng là ngày khai hội chùa Hương. Lễ hội kéo dài đến hết tháng 3 âm lịch.
- Chùa Hương đã trở thành một địa chỉ quen thuộc trong tâm linh của du khách trong nước và quốc tế.
- Mùa xuân, khi đất trời giao hòa, thiên nhiên tươi tốt cũng là lúc du khách từ khắp nơi tưng bừng trẩy hội.
- Chùa Hương là một danh thắng nổi tiếng không chỉ bởi cảnh đẹp mà nó còn là một nét đẹp văn hóa tín ngưỡng đạo Phật của người dân Việt Nam.
- Chùa Hương là một tập hợp nhiều đền chùa hang động gắn liền với núi rừng, sông suối,... và trở thành một quần thể thắng cảnh rộng lớn, với một kiến trúc hài hòa giữa thiên nhiên và nhân tạo. Có lẽ vì vậy mà du khách thập phương đã nô nức về đây với mong muốn được thắp một nén tâm hương.
3. Kết bài
- Chùa Hương là một danh lam thắng cảnh, một di tích lịch sử văn hóa, tín ngưỡng nổi tiếng của Hà Nội nói riêng và của Việt Nam nói chung.
- Những ai chưa một lần đến chùa Hương hãy về đây để được thưởng ngoạn vẻ đẹp quyến rũ của quần thể Hương Sơn này.
Câu 8.
1. Mở bài:
Giới thiệu chung về lăng Bác.
2. Thân bài:
a. Nguồn gốc của lăng:
- Lăng Bác được khởi công xây dựng vào ngày 2 tháng 9 năm 1973
- Lăng Bác được xây dựng tại quảng trường Ba Đình, nơi Bác đã đưa ra các quyết định và tuyên ngôn.
- Lăng được khánh thành vào ngày 29 tháng 8 năm 1975
b. Kết cấu của lăng:
- Lăng có chiều cao 21,6m
- Lăng được cấu tạo 3 lớp:
+ Lớp dưới tạo dáng bậc thềm tam cấp
+ Lớp giữa là kết cấu trung tâm của lăng gồm phòng thi hài
+ Lớp trên cùng là mái lăng hình tam cấp
- Quanh bống mặt là những hàng cột vuông bằng đá hoa cương
c. Miêu tả khái quát lăng Bác:
- Trên đỉnh lăng là hàng chữ "Chủ tịch Hồ Chí Minh" , dòng chữ này được làm từ đá ngọc màu đỏ thẫm được lấy từ tỉnh Cao Bằng
- Tiền sảnh ốp đá hoa cương vân đỏ hồng, làm nền cho dòng chữ "Không có gì quý hơn Độc lập Tự do" và chữ ký của Hồ Chí Minh được dát bằng vàng.
- 200 bộ cửa trong Lăng được làm từ các loại gỗ quý do nhân dân và bộ đội miền Trung gửi ra, và do các nghệ nhân nghề mộc của Nam Hà, Hà Bắc, và Nghệ An thực hiện
- Hai bên cửa chính là hai cây hoa đại.
- Quanh lăng có 79 cây vạn tuế tượng trưng cho 79 năm trong cuộc đời của Hồ Chủ tịch.
- Hai bên phía nam và bắc của lăng là hai rặng tre, loại cây biểu tượng cho nước Việt Nam.
- Trước cửa lăng luôn có hai người lính đứng gác, 1 giờ đổi gác một lần.
d. Thời gian mở cửa:
- Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh mở cửa 5 ngày một tuần, vào các buổi sáng thứ Ba, thứ Tư, thứ Năm, thứ Bảy và Chủ nhật.
- Hàng năm Lăng đóng cửa để làm nhiệm vụ tu bổ định kỳ vào 2 tháng: tháng 10 và tháng 11.
3. Kết bài:
Khẳng định tình cảm và ý thức giữ gìn lăng Bác.
Câu 9.
1. Mở bài
- Văn Miếu - Quốc Tử Giám là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội.
- Văn Miếu - Quốc Tử Giám là nơi tham quan của du khách trong và ngoài nước đồng thời cũng là nơi khen tặng học sinh xuất sắc và nơi tổ chức hội thơ hằng năm vào ngày rằm tháng giêng.
2. Thân bài
a. Nguồn gốc, xuất xứ
- Văn Miếu được xây dựng từ năm (1070) tức năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông.
- Năm 1076. Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam.
- Năm 1253, vua Trần Thái Tông đổi Quốc Tử Giám thành Quốc Học Viện cho mở rộng và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc. Chức năng trường Quốc học ngày càng nổi bật hơn chức năng của một nơi tế lễ..
- Đời Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử giám Tư nghiệp (hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử. Năm 1370 ông mất được vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử.
- Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành.
- Vào năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia tiến sĩ của những người thi đỗ tiến sĩ từ khoa thi 1442 trở đi (chủ trương đã đề ra năm 1442 nhưng chưa thực hiện được). Mỗi khoa, một tấm bia đặt trên lưng rùa. Tới năm đó, nhà Lê đã tổ chức được 12 khoa thi cao cấp) Lê Thánh Tông (1460 - 1497) đã tổ chức đều đặn cứ ba năm một lần, đúng 12 khoa thi).
- Năm 1762, Lê Hiển Tông cho sửa lại là Quốc Tử Giám - cơ sở đào tạo giáo dục cao cấp của triều đình.
- Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử Giám lập tại Huế.
- Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây là Văn Miếu - Hà Nội và cho xây dựng Khuê Văn Các, với một chức năng duy nhất là nơi thờ tự Thánh hiền. Trường Giám cũ ở phía sau Văn Miếu lấy làm nhà Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử.
- Đầu năm 1947, giặc Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá. Ngày nay, ngôi nhà này đã được phục dựng theo kiến trúc cùng thời với quần thể các công trình còn lại.
b. Kết cấu
- Nhà Thái học có ba gian, có tường nang, lợp bằng ngói đồng.
- Nhà giảng dạy ở phía đông và tây hai dãy đều 14 gian.
- Phòng học của học sinh tam xá đều ba dãy, mỗi dãy 25 gian, mỗi gian 2 người.
- Khuôn viên được bao bọc bởi bốn bức tường xây bằng gạch Bát Tràng.
- Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám được bố cục đăng đối từng Khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn Miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc.
- Phía trước Văn Miếu có một hồ lớn gọi là hồ Văn Chương, tên cũ xưa gọi là Thái Hồ. Giữa hồ có gò Kim Châu, trước đây có lầu để ngắm cảnh.
- Ngoài cổng chính có tứ trụ, hai bên tả hữu có bia “Hạ Mã”, xung quanh khu vực xây tường cao bao quanh.
- Cổng Văn Miếu xây kiểu Tam quan, trên có 3 chữ “Văn Miếu Môn” kiểu chữ Hán cổ xưa.
- Trong Văn miếu chia làm 5 khu vực rõ rệt, mỗi khu vực đều có tường ngăn cách và cổng đi lại liên hệ với nhau:
+ Khu thứ nhất: bắt đầu với cổng chính Văn Miếu Môn đi đến cổng Đại Trung Mòn, hai bên có cửa nhỏ là Thành Đức Mòn và Đạt Tài Môn.
+ Khu thứ hai: từ Đại Trung Môn vào đến Khuê Văn Các (do Đức Tiền Quân Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành cho xây năm 1805).
+ Khu thứ ba: gồm hồ nước Thiên Quang Tỉnh (nghĩa là giếng soi ánh mặt trời).
+ Khu thứ tư: là khu trung tâm và là kiến trúc chủ yếu của Văn Miếu, gồm hai công trình lớn bố cục song song và nối tiếp nhau. Toà ngoài nhà là Bái đường, toả trong là Thượng cung.
+ Khu thứ năm: là khu Thái Học, trước kia đã có một thời kỳ đây là khu đền Khải thánh, thờ bố mẹ Khổng Tử, nhưng đã bị phá huỷ. Khu nhà Thái Học mới được xây dựng lại năm 2000.
- Trong Văn Miếu có tượng Khổng Tử và Tứ Phối (Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử).
- Ở điện thờ Khổng Tử có hai cặp hạc cưỡi trên lưng rùa.
- Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hoà giữa trời và đất. giữa hai thái cực âm - dương.
c. Ý nghĩa
- Là hình ảnh tiêu biểu của Hà Nội.
- Là nơi tượng trưng cho truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam.
3. Kết bài
- Vào tháng 3/2010, 82 tấm bia Tiến sĩ triều Lê - Mạc tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
- Đến ngày 27/7/2011, 82 bia Tiến sĩ lại tiếp tục được công nhận là Di sản tư liệu thế giới trên phạm vi toàn cầu.
- Di tích làm rạng rỡ văn hóa, lịch sử sâu rộng của dân tộc Việt Nam; tôn vinh nền văn hóa, nền giáo dục, truyền thống hiếu học, hiếu nghĩa, tôn sư trọng đạo, quý đức, quý tài của dân tộc Việt Nam.
Câu 10.
1. Mở bài
Giới thiệu về nhà văn Kim Lân, truyện ngắn Làng.
2. Thân bài
a. Cuộc sống của ông Hai ở nơi tản cư
- Ông Hai luôn đau đáu nhớ về quê hương, nghĩ đến những ngày tháng làm việc cùng với anh em.
- Khoe về làng mình: giàu và đẹp, lát đá xanh, có nhà ngói san sát sầm uất như tỉnh, phong trào cách mạng diễn ra sôi nổi, chòi phát thanh cao bằng ngọn tre.
- Đến phòng thông tin: đọc báo, nghe tin tức về cuộc kháng chiến.
- Khi nghe đến tin về chiến thắng của ta, “ruột gan ông lão cứ múa vui cả lên” .
=> Tình cảm sâu đậm của ông Hai dành cho quê hương, đất nước và đặc biệt là làng của ông.
b. Diễn biến tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng theo giặc
* Khi vừa mới nghe tin làng chợ Dầu theo giặc:
- Ông sững sờ, xấu hổ và uất ức: “cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như không thở được”.
- Tin tức làng chợ Dầu theo giặc như một tiếng sét giáng xuống đầu ông, nhưng khi trấn tĩnh lại liền tỏ ra nghi ngờ, không tin: “Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi: Liệu có thật không hở bác?...”
- Những người tản cư đã kể rảnh rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên” làm ông không thể không tin.
- Từ đấy, trong tâm trí của ông chỉ nghĩ về cái tin dữ ấy. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “cúi gằm mặt mà đi”.
* Khi về đến nhà
- Ông Hai nằm vật ra giường, nhìn lũ con lại thấy tủi thân, nước mắt cứ giàn ra. Bao nhiêu niềm tự hào về làng đều sụp đổ.
- Ông tự hỏi và buồn thay cho số phận những đứa con của mình: “Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư?”
- Ông nắm chặt tay, rít lên: “Chúng bay … mà nhục nhã thế này?”.
=> Ông hai cảm thấy chính bản thân đang mang nỗi nhục của một tên bán nước, cả các con ông rồi cũng sẽ phải mang nỗi nhục ấy.
* Những ngày sau đó:
- Suốt mấy ngày ông không dám đi đâu.
- Ông chỉ quanh quẩn ở nhà, nghe ngóng tình hình bên ngoài: “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”.
- Thoáng nghe những tiếng “Tây, Việt gian, cam - nhông… là ông lủi ra một nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi!”
- Khi nghĩ đến tương lai, ông rơi vào bế tắc, không biết phải đi đâu về đâu: Về làng thì không được, vì về làng lúc này là đồng nghĩa với theo Tây, phản bội kháng chiến. Ở lại thì không xong, vì mụ chủ nhà đã đánh tiếng xua đuổi. Còn đi thi biết đi đâu bởi ai người ta chưa chấp dân làng Chợ Dầu phản bội.
=> Điều này buộc ông phải lựa chọn giữa tình yêu làng và yêu nước.
- Ông hai đã trò chuyện với đứa con trai út, để rồi đưa ra quyết định: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.
=> Tình yêu nước mãnh liệt của người Việt Nam, họ sẵn sàng vượt lên trên tình cảm cá nhân để hướng đến tình cảm chung của cộng đồng.
c. Niềm vui sướng của ông khi nghe tin cải chính
Thái độ hoàn toàn thay đổi:
- “Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”
- “Mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy”…
- Về đến nhà thì chia quà cho lũ con rồi sang nhà bác Thứ để đính chính lại cái tin làng chợ Dầu theo giặc.
- “bô bô” khoe với mọi người về cái tin làng ông bị “đốt nhẵn”, nhà ông bị “đốt nhẵn”
=> Niềm vui mừng của ông Hai khi nghe tin cải chính về làng chợ Dầu đã vượt lên trên sự mất mát về của cải khi làng bị giặc đốt sạch. Từ đó, nhà văn Kim Lân đã cho thấy tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc của người nông dân.
3. Kết bài
Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Làng.
Câu 11.
1. Mở bài
- Đề cập đến sức mạnh giúp con người có thể vượt qua những khốc liệt của chiến tranh: Tình đồng chí, đồng đội, tình cảm cộng đồng, tình cảm cha con
- Truyện ngắn Chiếc lược ngà, một tác phẩm ra đời năm 1966 của Nguyễn Quang Sáng đã khắc họa thành công tình cảm cha con bất diệt của ông Sáu và bé Thu trước hoàn cảnh chiến tranh
2. Thân bài
a. Ông Sáu và bé Thu phải sống trong hoàn cảnh chia li bởi chiến tranh
- Ông Sáu là một chiến sĩ hoạt động trên chiến trường, suốt 8 năm ròng ông chưa từng được gặp mặt đứa con gái của mình
- Đồng nghĩa suốt 8 năm bé Thu chỉ biết cha qua tấm ảnh chụp chung với mẹ nó
⇒ Chiến tranh đẩy con người vào hoàn cảnh xa cách
b. Tình cảm cha con sâu nặng giữa ông Sáu và bé Thu
* Lúc còn ở rừng
- Ông Sáu nhớ thương con vô cùng, khao khát gặp con, được sống trong tình yêu thương của con
- Khi gặp con:
+ Thuyền chưa cập bến đã nhảy vội lên bờ gọi con
+ Đáp lại bé Thu ngạc nhiên, sợ hãi, vụt bỏ chạy
* Trong ba ngày ngày nghỉ phép
- Ông Sáu khao khát tình cảm của con bao nhiêu thì bé Thu lại hoàn toàn lạnh lùng trước mọi tình cảm của cha
+ Ông càng xích lại gần, bé Thu càng lùi xa
+ Ông càng chiều bé Thu bao nhiêu, bé Thu càng lẩn tránh
+ Ông càng mong nghe được tiếng ba, bé Thu coàng cố tình trốn tránh
+ Ngay cả khi bé Thu bị lâm vào thế bí “nồi cơm sôi sùng sục nó cũng không chịu cất lên cái tiếng mà ba nó mong đợi
+ Trong bữa cơm, hành động hất cái trứng cá của bé Thu là hành động đỉnh điểm nhất khiến ông Sáu thực sự đau lòng
⇒ Ông Sáu nhận ra tình cảm không dễ gì gượng ép, vì vậy ông cam chịu
- Bé Thu cũng là một người thương yêu ba của mình vô cùng
+ Tất cả những thái độ ương nhạnh ngang bướng của bé Thu đối với ông Sáu lại là biểu hiện tuyệt vời của tình phụ tử bởi Thu chỉ có duy nhất một người cha là người trong bức ảnh chụp với má nó
+ Khi Thu được bà ngoại giảng giải người có vết thẹo chính là ba em ⇒ Tình yêu thương dành cho ông Sáu tăng lên gấp bội
+ Trong khoảnh khắc cuối cùng trước lúc ông Sáu lên đường, Thu chạy ra ôm hôn cha
+ Hành động cùng giọt nước mắt ân hận của bé Thu chảy đầm đìa trên má, trên cằm khiến ông không kìm nén được xúc động
⇒ Tình cảm giữa hai cha con ông Sáu và bé Thu là vô cùng sâu nặng
* Lại những ngày ông Sáu xa con
- Ông Sáu thương nhớ con, ân hận vì mình đã đánh con.
- Tình yêu thương con đã khiến ông tự tay làm chiếc lược ngà thực hiện lời hứa với con
- Khi bị thương nặng ông đã dồn tất cả tàn lực của mình trao chiếc lược ngà cho ông Ba như một lời chăng chối cuối cùng
⇒ Tình cảm cha con trong lòng ông Sáu là một tình cảm bất diệt, chiến tranh có thể hủy diệt thân xác ông nhưng không thể hủy diệt tình cảm cha con của ông Sáu và bé Thu kết tinh trong chiếc lược ngà.
3. Kết bài
- Vài nét về giá trị nghệ thuật tác phẩm: Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, ngôn ngữ nhân vật đặc sắc...
- Qua truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng thể hiện được sâu sắc tư tưởng, chủ đề của tác phẩm, đó là sự khẳng định ngợi ca tình phụ tử thiêng liêng như một giá trị nhân văn sâu sắc. Tình cảm ấy là cội nguồn, sức mạnh vượt lên sự hủy diệt tàn bạo của chiến tranh.
Câu 12.
1. Mở bài
- Giới thiệu sơ lược tác giả, tác phẩm và thông điệp của tác phẩm.
2. Thân bài
a. Khái quát chung
- Giới thiệu các nhân vật: Giôn-xi, Xiu và cụ Bơ-men là những họa sĩ nghèo, thuê trọ ở một khu phố tồi tàn phía tây công viên Oa-sinh-tơn.
- Tóm tắt tình huống:
+ Giôn-xi ốm nặng và nằm đợi chiếc lá cuối cùng của cây thường xuân bên cửa sổ rụng, khi đó cô sẽ chết.
+ Nhưng qua một buổi sáng và một đêm mữa gió phũ phàng, chiếc lá vẫn không rụng. Điều đó làm Giôn-xi thoát khỏi ý nghĩ về cái chết.
+ Xiu đã cho Giôn-xi biết chiếc lá đó chính là bức tranh họa sĩ già Bơ-men đã vẽ trong đêm mưa gió để cứu cô và chính cụ đã chết vì sưng phổi.
b. Phân tích
* Nội dung:
- Khung cảnh mùa đông và tình cảnh tuyệt vọng của Giôn-xi:
+ Nỗi sợ hãi ám ảnh tâm trạng xủa Xiu và cụ Bơ-men trong đêm mưa gió.
+ Niềm tin kì quặc của Giôn-xi khi phó thác cuộc đời cho chiếc lá thường xuân.
- Tình huống đảo ngược thứ nhất:
+ Tâm trạng đau khổ của Xiu khi mở cửa cho Giôn-xi. Sự bất ngờ ngoài dự kiến: chiếc lá vẫn ở đó.
+ Tâm trạng chờ đợi héo hắt của Giôn-xi: tuyệt vọng, thiếu niềm tin vào cuộc sống.
+ Chiếc lá vẫn ở trên tường: thức tỉnh ý chí sống của Giôn-xi, giúp cô tự tin vượt qua bệnh tật. Thiên nhiên thua chiếc lá, bệnh tật thua ý chí con người.
- Tình huống đảo ngược thứ hai:
+ Tâm trạng Xiu: từ hồi hộp lo lắng đến khi hiểu rõ sự thật là sự hòa trộn tình yêu thương, cảm phục trước tấm lòng cao cả của cụ Bơ-men.
+ Sự hi sinh cao cả đã đem đến nguồn sống cho đồng loại. Nghệ thuật cao cra có thể thức tỉnh lòng tin ở con người.
* Nghệ thuật:
- Kể xen tả và biểu cảm.
- Đảo ngược tình huống 2 lần -> Kết thúc độc đáo, bất ngờ.
- Xây dựng tình huống hấp dẫn, sắp xếp chặt chẽ và khéo léo, gây hứng thú cho người đọc.
c. Nhận xét:
- Ca ngợi tình yêu thương cao cả giữa những người nghèo khổ.
- Nghệ thuật chân chính là nghệ thuật của tình yêu thương, vì sự sống của con người.
3. Kết bài
- Đánh giá, nhìn nhận lại vấn đề.
- Liên tưởng và suy nghĩ về bản thân.
Câu 13.
1. Mở bài
- Giới thiệu khái quát về tầm quan trọng của thiên nhiên đối với cuộc sống của con người.
- Dẫn dắt đến câu nói “Thiên nhiên không chỉ là nơi chúng ta sống, mà còn là nguồn cảm hứng vô tận cho tâm hồn con người”.
- Nêu luận điểm về mối liên hệ giữa con người và thiên nhiên, thiên nhiên không chỉ nuôi dưỡng mà còn làm phong phú tâm hồn.
2. Thân bài
a. Thiên nhiên là môi trường sống và là nguồn cung cấp tài nguyên
- Thiên nhiên cung cấp những điều kiện cần thiết như không khí, nước, đất đai, thực phẩm... cho sự sống và phát triển của con người.
- Vai trò của thiên nhiên trong duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ sức khỏe con người.
b. Thiên nhiên là nguồn cảm hứng cho nghệ thuật và đời sống tinh thần
- Thiên nhiên tạo nên vẻ đẹp kỳ diệu, đa dạng, là nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm nghệ thuật như hội họa, thơ ca, nhạc, văn chương.
- Những cảnh đẹp thiên nhiên như hoàng hôn, cánh rừng, bãi biển yên bình đều có thể làm dịu đi nỗi buồn, mang lại niềm vui và khơi dậy lòng yêu đời.
c. Thiên nhiên nuôi dưỡng tâm hồn con người
- Thiên nhiên giúp con người tìm thấy sự bình yên, gắn kết và trở nên hài hòa với cuộc sống.
- Những trải nghiệm hòa mình vào thiên nhiên giúp ta hiểu hơn về giá trị cuộc sống, phát triển cảm xúc tích cực, tăng cường lòng biết ơn.
d. Tầm quan trọng của việc bảo vệ thiên nhiên
- Con người cần phải nhận thức được vai trò của thiên nhiên và có trách nhiệm trong việc bảo vệ, giữ gìn thiên nhiên để bảo vệ chính nguồn cảm hứng của mình.
- Nêu các biện pháp cụ thể để bảo vệ thiên nhiên như trồng cây xanh, giảm thiểu rác thải, bảo tồn động thực vật...
3. Kết bài
- Khẳng định lại tầm quan trọng của thiên nhiên với cuộc sống và tâm hồn con người.
- Liên hệ bản thân
Câu 14.
1. Mở bài
- Khái quát thực trạng thiên nhiên đang bị tàn phá nghiêm trọng qua các hiện tượng như ô nhiễm môi trường, phá rừng, biến đổi khí hậu...
- Nêu vấn đề cần nghị luận: trách nhiệm của con người trong việc bảo vệ môi trường sống của mình.
2. Thân bài
a. Thực trạng tàn phá môi trường hiện nay
- Ô nhiễm không khí, nước, đất đai ngày càng nghiêm trọng do hoạt động công nghiệp, giao thông, chất thải sinh hoạt...
- Rừng bị chặt phá để mở rộng diện tích trồng trọt, khai thác khoáng sản, xây dựng cơ sở hạ tầng.
- Biến đổi khí hậu, thiên tai ngày càng khắc nghiệt hơn như bão, lũ lụt, hạn hán do con người tác động tiêu cực đến tự nhiên.
b. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng tàn phá môi trường
- Lối sống tiêu thụ quá mức và thiếu ý thức của con người đối với tài nguyên thiên nhiên.
- Phát triển kinh tế không bền vững, chạy theo lợi nhuận mà quên đi những hệ lụy về môi trường.
- Sự thiếu kiểm soát và quản lý trong khai thác tài nguyên, sản xuất, xả thải.
c. Trách nhiệm của con người trong việc bảo vệ môi trường
- Trách nhiệm cá nhân: Mỗi người cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, từ những việc nhỏ như giảm sử dụng túi ni-lông, tái chế, tiết kiệm năng lượng.
- Trách nhiệm cộng đồng: Cùng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, hưởng ứng các phong trào trồng cây xanh, vệ sinh môi trường.
- Trách nhiệm của nhà nước và các tổ chức: Ban hành luật bảo vệ môi trường, xử lý nghiêm các hành vi gây hại đến môi trường, tuyên truyền nâng cao ý thức cộng đồng.
- Trách nhiệm của doanh nghiệp: Phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường, đầu tư vào công nghệ sạch, giảm thiểu khí thải và rác thải độc hại.
d. Tác động tích cực của việc bảo vệ môi trường đối với cuộc sống
- Môi trường trong lành giúp con người có sức khỏe tốt, cuộc sống bền vững.
- Giảm thiểu thiên tai và biến đổi khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái.
- Đảm bảo nguồn tài nguyên cho các thế hệ sau.
3. Kết bài
- Khẳng định lại tầm quan trọng của môi trường đối với sự sống của con người và mọi sinh vật.
- Liên hệ bản thân
Câu 15.
1. Mở bài
- Giới thiệu vấn đề: tình trạng thiếu động lực học tập ở học sinh và những cách để khơi dậy niềm đam mê học hỏi.
- Nêu tầm quan trọng của động lực học tập đối với quá trình học hỏi và phát triển cá nhân.
2. Thân bài
a. Thực trạng
- Nhiều học sinh cảm thấy học tập là áp lực, chán nản và thiếu hứng thú với việc học.
- Biểu hiện: không tập trung học, hay bỏ giờ, không làm bài tập, thành tích sa sút.
b. Nguyên nhân
- Áp lực học tập quá lớn: Khối lượng bài vở nặng nề, kỳ vọng cao từ gia đình, thầy cô.
- Phương pháp học chưa hiệu quả: thường học theo lối học thuộc lòng, không hiểu sâu dẫn đến chán nản.
- Thiếu mục tiêu, định hướng rõ ràng: Nhiều học sinh chưa xác định được ý nghĩa của việc học, không có mục tiêu rõ ràng.
- Ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài: Mạng xã hội, trò chơi điện tử, các hoạt động giải trí dễ làm xao nhãng.
- Thiếu sự khuyến khích, động viên: Gia đình, nhà trường đôi khi chỉ tập trung vào điểm số mà thiếu quan tâm đến tâm lý và nhu cầu của học sinh.
c. Giải pháp để khơi dậy niềm đam mê học hỏi và tăng động lực học tập
- Xác định mục tiêu học tập rõ ràng:
+ Khuyến khích học sinh tự đặt mục tiêu cụ thể, phù hợp với năng lực và sở thích.
+ Giúp học sinh hiểu rõ ý nghĩa và lợi ích lâu dài của việc học.
- Thay đổi phương pháp học tập:
+ Khuyến khích học sinh học cách tự tìm hiểu và tư duy độc lập.
+ Đa dạng hóa phương pháp học tập: thảo luận nhóm, nghiên cứu thực tế, học qua trò chơi, bài giảng video, ứng dụng học tập trực tuyến.
- Tạo ra môi trường học tập tích cực:
+ Khuyến khích học sinh đặt câu hỏi, chia sẻ quan điểm, phát huy sự sáng tạo.
+ Xây dựng tập thể lớp đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhau.
- Giảm áp lực học tập không cần thiết:
+ Thầy cô và gia đình cần hiểu tâm lý học sinh, không gây áp lực quá lớn về điểm số.
+ Đặt kỳ vọng phù hợp với năng lực, khuyến khích quá trình tiến bộ thay vì chỉ tập trung vào kết quả.
- Khuyến khích tham gia các hoạt động ngoại khóa:
+ Giúp học sinh khám phá sở thích và phát triển các kỹ năng mềm.
+ Tạo cơ hội cho học sinh thể hiện bản thân qua các hoạt động thể thao, nghệ thuật, tình nguyện...
d. Ý nghĩa của việc khơi dậy động lực và niềm đam mê học hỏi
- Giúp học sinh cảm thấy học tập là niềm vui và tự giác học hỏi.
- Tạo nền tảng vững chắc cho học sinh phát triển bản thân và chuẩn bị tốt hơn cho tương lai.
3. Kết bài
- Khẳng định lại tầm quan trọng của động lực học tập đối với học sinh.
- Liên hệ bản thân
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 1
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
"Mỗi người trong chúng ta đều mang theo một ước mơ, một mục đích sống riêng, như những ngọn hải đăng nhỏ bé giữa biển cả cuộc đời. Ước mơ ấy có thể là trở thành một người tốt, một nhà khoa học, một nghệ sĩ hay chỉ đơn giản là một người biết yêu thương. Nhưng con đường dẫn đến những ước mơ không phải lúc nào cũng bằng phẳng. Chúng ta sẽ phải đối mặt với những khó khăn, thử thách, thậm chí là sự thất bại. Điều quan trọng là ta không bao giờ ngừng cố gắng, không bao giờ đánh mất niềm tin vào chính mình và vào cuộc sống. Chính sự kiên trì, lòng dũng cảm và khả năng vượt qua những trở ngại sẽ giúp ta trưởng thành và đạt được mục đích của mình. Dù ước mơ là gì, hãy luôn nhớ rằng, cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi chúng ta không ngừng nỗ lực để trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình."
(Nguồn: Sưu tầm)
Câu 1 (0.5 điểm): Văn bản trên thuộc thể loại nào?
Câu 2 (1.0 điểm): Tìm và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong đoạn trích
Câu 3 (1.0 điểm): Theo em, vì sao đoạn trích so sánh ước mơ của mỗi người với "ngọn hải đăng giữa biển cả cuộc đời"?
Câu 4 (0.5 điểm): Chỉ ra thông điệp của tác giả về ý nghĩa của cuộc sống được gửi gắm trong đoạn trích.
Câu 5 (1.0 điểm): Từ đoạn trích, em hãy viết một đoạn văn (5-7 dòng) nêu suy nghĩ của em về ý chí và nghị lực trong hành trình thực hiện ước mơ
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Em hãy viết một đoạn văn nghị luận trình bày ý kiến của mình về ý nghĩa của ý chí và nghị lực trong cuộc sống.
Câu 2 (4.0 điểm) Viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở địa phương em.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Văn bản trên thuộc thể loại nào? |
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng của thể loại
Lời giải chi tiết:
Văn bản nghị luận
Câu 2.
|
Tìm và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong đoạn trích. |
Phương pháp:
Tìm các biện pháp tu từ thường gặp như so sánh, ẩn dụ, điệp từ, điệp ngữ… và xác định tác dụng
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ so sánh: “Mỗi người trong chúng ta đều mang theo một ước mơ, một mục đích sống riêng, như những ngọn hải đăng nhỏ bé giữa biển cả cuộc đời.”
- Tác dụng: So sánh ước mơ của mỗi người với “ngọn hải đăng” nhằm nhấn mạnh vai trò của ước mơ trong việc định hướng, dẫn dắt con người qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống.
Câu 3.
|
Theo em, vì sao đoạn trích so sánh ước mơ của mỗi người với "ngọn hải đăng giữa biển cả cuộc đời"? |
Phương pháp:
Phân tích ý nghĩa của “ngọn hải đăng” và sự tương đồng giữa ngọn hải đăng và ước mơ của con người
Lời giải chi tiết:
“Ngọn hải đăng” là biểu tượng của ánh sáng và sự dẫn lối. Tương tự như ngọn hải đăng soi sáng đường đi trong đêm tối, ước mơ giúp con người có mục tiêu rõ ràng, hướng đi trong cuộc sống. Nó là động lực giúp con người không bỏ cuộc khi gặp khó khăn.
Câu 4.
|
Chỉ ra thông điệp của tác giả về ý nghĩa của cuộc sống được gửi gắm trong đoạn trích. |
Phương pháp:
Tìm các câu then chốt trong đoạn văn để rút ra thông điệp chính
Lời giải chi tiết:
Thông điệp của đoạn trích là: Cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người không ngừng nỗ lực để đạt được ước mơ và trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình.
Câu 5.
|
Từ đoạn trích, em hãy viết một đoạn văn (5-7 dòng) nêu suy nghĩ của em về ý chí và nghị lực trong hành trình thực hiện ước mơ |
Phương pháp:
Dựa vào nội dung đoạn trích để trình bày suy nghĩ cá nhân về tầm quan trọng của ý chí và nghị lực.
Lời giải chi tiết:
Trong hành trình hiện thực hóa ước mơ, ý chí và nghị lực đóng vai trò quan trọng. Ý chí giúp chúng ta kiên định, không dễ dàng từ bỏ trước những khó khăn, thử thách. Nghị lực là sức mạnh nội tại, giúp con người vượt qua những trở ngại để đến gần hơn với ước mơ. Thiếu ý chí và nghị lực, ước mơ dù có lớn lao đến đâu cũng chỉ là giấc mơ không bao giờ thành hiện thực.
PHẦN VIẾT (7.0 điểm)
Câu 1.
|
Em hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày ý kiến của mình về ý nghĩa của ý chí và nghị lực trong cuộc sống |
Phương pháp:
Sử dụng các dẫn chứng và lập luận để trình bày rõ ý nghĩa của ý chí, nghị lực trong cuộc sống. Cấu trúc bài gồm mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn.
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài:
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: ý nghĩa của ý chí và nghị lực trong cuộc sống.
2. Thân bài:
a. Giải thích vấn đề
- Ý chí là sự quyết tâm, kiên định để đạt được mục tiêu đã đặt ra.
- Nghị lực là sức mạnh tinh thần để vượt qua khó khăn, thử thách trong cuộc sống.
=> Ý chí và nghị lực đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống
b. Bàn luận vấn đề
- Ý nghĩa của ý chí và nghị lực trong cuộc sống:
+ Giúp con người vượt qua nghịch cảnh: Những người có ý chí và nghị lực sẽ không dễ dàng gục ngã trước khó khăn.
+ Tạo ra sức mạnh để thực hiện ước mơ: Không có ý chí và nghị lực, con người sẽ khó đạt được mục tiêu, mơ ước.
- Dẫn chứng: Trích dẫn những tấm gương nổi tiếng, ví dụ như Nick Vujicic – người không tay, không chân nhưng nhờ nghị lực phi thường, anh đã truyền cảm hứng sống tích cực đến hàng triệu người trên thế giới.
- Phản đề: Một số người sống mà không có ý chí, nghị lực vươn lên, chỉ biết ý lại vào người khác…
- Bài học rút ra: Mỗi chúng ta cần trau dồi và rèn luyện ý chí, nghị lực để không ngừng tiến bộ và đạt được thành công trong cuộc sống.
3. Kết đoạn:
Khẳng định tầm quan trọng của ý chí và nghị lực; kêu gọi mọi người không ngừng cố gắng, phấn đấu trong mọi hoàn cảnh.
Câu 2.
|
Viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở địa phương em. |
Phương pháp:
1. Mở bài
Giới thiệu chung về danh lam thắng cảnh mà em muốn thuyết minh.
2. Thân bài
- Lịch sử và nguồn gốc
- Đặc điểm nổi bật
- Giá trị và ý nghĩa
- Hoạt động tham quan và trải nghiệm
3. Kết bài
- Khẳng định lại vẻ đẹp và giá trị của danh lam thắng cảnh.
Lời giải chi tiết:
Dàn ý:
1. Mở bài
- Giới thiệu chung về danh lam thắng cảnh mà em muốn thuyết minh.
Ví dụ: Tên danh lam thắng cảnh, vị trí, và tầm quan trọng đối với địa phương.
2. Thân bài
a. Lịch sử và nguồn gốc
- Thời gian hình thành hoặc xây dựng.
- Người sáng lập hoặc gắn liền với sự kiện lịch sử nào.
- Những câu chuyện, truyền thuyết liên quan.
b. Đặc điểm nổi bật
- Vị trí và không gian: Nằm ở đâu? Có đặc điểm địa lý nào thu hút (núi non, sông nước,...)
- Kiến trúc hoặc cảnh quan đặc sắc:
+ Mô tả chi tiết về cấu trúc, hình dáng, thiết kế hoặc vẻ đẹp thiên nhiên.
+ Các yếu tố độc đáo như tượng, tháp, đền, cây cối,...
- Ý nghĩa văn hóa, lịch sử, tâm linh: Vai trò của danh lam thắng cảnh đối với người dân địa phương và du khách.
c. Giá trị và ý nghĩa
- Ý nghĩa về mặt lịch sử.
- Giá trị văn hóa và tâm linh.
- Đóng góp vào phát triển du lịch địa phương.
d. Hoạt động tham quan và trải nghiệm
- Các hoạt động du khách có thể tham gia: ngắm cảnh, chụp ảnh, tìm hiểu lịch sử.
- Lễ hội hoặc sự kiện thường niên nếu có.
3. Kết bài
- Khẳng định lại vẻ đẹp và giá trị của danh lam thắng cảnh.
- Lời kêu gọi bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị của địa điểm này.
Bài tham khảo:
Khu tâm linh chùa Bái Đính thuộc Quần thể Danh thắng Tràng An, cách thành phố Ninh Bình 15 km, nổi tiếng với nhiều kỷ lục như tượng Phật bằng đồng lớn nhất Đông Nam Á và chuông đồng lớn nhất khu vực. Đây là nơi kết nối tâm linh qua hàng nghìn năm.
Với kiến trúc đồ sộ, những tượng Phật uy nghi và nghệ thuật tinh tế, Bái Đính nằm giữa cảnh quan hùng vĩ, tạo nên không gian thanh tịnh. Tam Quan cao 17 mét là biểu tượng của sự kết hợp giữa thiêng liêng và đời sống hàng ngày, nơi mọi người tìm đến Chân - Thiện - Mỹ.
Bước chân vào Bái Đính, bạn gặp Tam Quan trang nghiêm, sau đó là chuông đồng 36 tấn vang vọng khắp nơi, xua đi mọi phiền muộn. Hành lang 500 vị La Hán dẫn ta đến gần với cõi Phật, trong khi các tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, Phật Thích Ca Mâu Ni truyền đạt nét uy nguy và lòng nhân ái.
Khu chùa Bái Đính nằm bên sườn đồi xanh thẳm, toát lên vẻ đẹp cổ kính và huyền bí, tạo nên một bức tranh tâm linh tuyệt vời.
Chùa Bái Đính - Hành trình tìm về 'địa linh - nhân kiệt', nơi Quốc sư Nguyễn Minh Không từng thực hiện nghi lễ và tu hành. Dấu chân của ông lan tỏa khắp nơi, là nơi gắn bó với sự đoàn kết giữa tâm linh và cuộc sống hàng ngày.
Nguyễn Minh Không - Thánh y và học giả, sinh ra tại Gia Viễn, Ninh Bình, được coi là người có công lớn trong việc cứu chữa bệnh cho nhà vua Lý Thần Tông. Với bài đồng dao của lũ trẻ, ông trở thành hiện thân của sự tin tưởng và kỳ diệu.
Khi vua Lý Thần Tông bị bệnh nặng, tất cả các danh y đều thất bại trong việc chữa trị. Nguyễn Minh Không, đang tu hành tại chùa Bái Đính, được mời về Kinh đô và thực hiện kỳ công khi nhổ chiếc đinh khó nhất, chứng minh sức mạnh siêu nhiên của mình.
Chùa Bái Đính không chỉ là di tích lịch sử và tâm linh, mà còn là kết nối với câu chuyện huyền bí về Nguyễn Minh Không - một huyền thoại sống mãi trong lòng người dân.
Nguyễn Minh Không thực hiện 'kỳ công' khi chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông, làm mọi người kinh ngạc và tôn kính tài năng siêu phàm của ông. Từ đó, ông được phong làm Quốc sư, trở thành nhà cao tăng hàng đầu triều đại Lý.
Là ông tổ nghề đúc đồng, Nguyễn Minh Không đóng góp quan trọng vào sự nghiệp văn hóa Việt Nam. Ông chế tạo 'Tứ đại khí' gồm Tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng Phật Quỳnh Lâm, và vạc Phổ Minh. Câu chuyện về ông trở thành huyền thoại và nguồn cảm hứng lớn cho người Việt.
Bái Đính, nơi gắn bó với linh khí núi sông và tâm linh dân tộc, trở thành viên ngọc sáng lấp lánh trong lòng Việt Nam. Phong cảnh kỳ vĩ và những câu chuyện huyền bí về Nguyễn Minh Không kết hợp tạo nên một bức tranh tâm linh và văn hóa độc đáo.
Với sự huyền bí và tâm linh đặc sắc, Bái Đính không chỉ là di tích lịch sử mà còn là biểu tượng của lòng tin và truyền thống văn hóa sâu sắc của dân tộc Việt Nam, được xây dựng và duy trì qua hàng ngàn năm.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 2
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
NỖI OÁN SẦU NGƯỜI CUNG NỮ
|
1. Trong cung quế âm thầm chiếc bóng Đêm năm canh trông ngóng lần lần, Khoảnh làm chi, bấy chúa xuân Chơi hoa cho rữa nhụy dần lại thôi. 5. Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ Gác thừa lương thức ngủ thu phong, Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng Gương loan bẻ nửa, dải đồng xẻ đôi, |
Chiều ủ dột giấc mai khuya sớm 10. Vẻ bâng khuâng hồn bướm vẩn vơ Thâm khuê vắng ngắt như tờ, Cửa châu gió lọt, rèm ngà sương gieo. Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ, Dấu dương xa đám cỏ quanh co 15. Lầu Tần chiều nhạt vẻ thu, Gối loan tuyết đóng, chăn cù giá đông. |
(Những khúc ngâm chọn lọc, tập I, NXB Giáo dục, 1994, tr.153-154)
Nguyễn Gia Thiều:
- Ông thuộc gia đình quý tộc, xuất thân là quan võ. Năm 1782, ông giữ chức Tổng binh ở Hưng Hóa, phong tước Ôn Như hầu, nhưng ông lại xin thôi, về sống cuộc đời tài tử, làm thơ, uống rượu và cả đi tu (ông có hiệu là Như ý Thiền).
- Ông là một thi nhân mà cũng là một nhạc sĩ. Ông đã sáng tác các bản nhạc Sơn trung âm, Sở từ điệu. Ông vẽ đẹp, có bức tranh Tổng sơn đồ được vua Lê khen thưởng. Ông cũng am tường cả về kiến trúc, Tháp chùa Thiên Tích (Bắc Ninh) đã được xây dựng dưới sự điều khiển của ông. Quãng cuối đời, ông có được triều Tây Sơn mời ra cộng tác, nhưng đã chối từ, về sống ở quê nhà: làng Liễu Ngạn, huyện Siêu Loại (nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) cho đến khi mất.
- Cung oán ngâm khúc:
+ Hoành cảnh ra đời: Nguyễn Gia Thiều viết Cung oán ngâm khúc theo thể thơ song thất lục bát gồm 356 dòng vào cuối thế kỉ XIX, khi XH Việt Nam đang đi vào suy thoái với lối sống hưởng thụ, ăn chơi sa đọa của vua chúa và sự lầm than của nhân dân. Những số phận bất hạnh không chỉ có người nông dân mà còn có những cung nữ.
+ Tóm tắt nội dung tác phẩm: Cung oán ngâm khúc là bài ca ai oán của người cung nữ có tài sắc, trước được vưa yêu chuộng, sủng ái, nhưng chẳng bao lâu bị ruồng bỏ. Ở trong cung, nàng xót thương cho thân phận mình và oán trách nhà vua phụ bạc. Qua khúc ngâm, tác giả còn gửi gắm quan niệm của ông về cuộc đời bạc bẽo, phù du. Cả khúc ngâm dài 356 câu với một ngôn ngữ tài hoa, bác học, có nhiều chữ Hán và điển cố. Đoạn trích trên gồm 16 câu (từ câu 245 – 260)
Câu 1 (1.0 điểm): Chỉ ra đặc trưng của thể thơ song thất lục bát được thể hiện trong khổ một của đoạn trích trên.
Câu 2 (1.0 điểm): Em hiểu hai câu thơ sau như thế nào?
Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ,
Dấu dương xa đám cỏ quanh co
Câu 3 (1.0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được thể hiện trong hai câu thơ:
Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng
Gương loan bẻ nửa, dải đồng xẻ đôi
Câu 4 (1.0 điểm): Kể tên một văn bản khác có cùng thể thơ với đoạn trích trên.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn nêu cảm nhận về đoạn trích trên.
Câu 2 (4.0 điểm) Viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo vệ môi trường sống hiện nay.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Chỉ ra đặc trưng của thể thơ song thất lục bát được thể hiện trong khổ một của đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
- Thể thơ: Song thất lục bát
- Số tiếng: 2 câu thất ngôn (7 tiếng) đan xen với 2 câu lục bát (6 tiếng và 8 tiếng)
- Vần: gieo vần chân, vần lưng. Hiệp vần theo quy định: tiếng cuối của câu thất thứ nhất hiệp vần với tiếng thứ năm của câu thất hai (bóng - ngóng); tiếng cuối của câu thất 2 sẽ hiệp vần với tiếng thứ 6 của câu lục và tiếng thứ 6 của bát (Ví dụ: lần – xuân – dần)
- Thanh điệu: Tuân thủ quy định về thanh điệu ở vị trí một số tiếng nhất định
- Nhịp: câu thất ngôn ngắt nhịp lẻ trước ¾; câu lục bát ngắt nhịp chẵn 2/4 và 4/4…
Câu 2.
|
Em hiểu hai câu thơ sau như thế nào? Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ, Dấu dương xa đám cỏ quanh co |
Phương pháp:
Phân tích nghĩa của từng câu và rút ra nội dung chính
Lời giải chi tiết:
- Giải thích nghĩa từng câu:
+ Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ: dấu xe phượng, cỗ xe chở nhà vua đến với người cung nữ giờ rêu đã lên lỗ chỗ;
+ Dấu dương xa đám cỏ quanh co: dấu vết bánh xe dê kéo nhà vua đến với phi tần cỏ cũng đã mọc quanh co;
- Nghĩa cả hai câu:
+ Người cung nữ đã một thời được sủng ái, được nhà vui năng tới lui sủng hạnh nhưng đã rất lâu rồi nhà vua không còn ghé tới, không còn đoái thương, nàng cung nữ đã bị thất sủng
+ Hai câu thơ bộc lộ nỗi xót xa, bẽ bàng, tủi hổ của người cung nữ khi chỉ biết sống trong cô đơn mỏi mỏi, đợi mong vô vọng.
+ Qua đó thể hiện tấm lòng đồng cảm, xót thương của nhà văn trước số phận đáng thương của những người cung nữ bị thất sủng.
Câu 3.
|
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được thể hiện trong hai câu thơ: Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng Gương loan bẻ nửa, dải đồng xẻ đôi |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về các biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp so sánh: phòng tiêu lạnh ngắt như đồng
- Tác dụng:
+ Cách ví von, so sánh giúp cho câu thơ trở nên giàu hình ảnh, tăng sức gợi cảm và sinh động.
+ Gợi hình dung căn phòng của người cung nữ trở nên vô cùng lạnh lẽo à từ đó làm nổi bật tâm trạng cô đơn, sầu tủi khi bị thất sủng, bị nhà vua quên lãng.
+ Tác giả bộc lộ niềm cảm thông, thương cảm với số phận bất hạnh của người cung nữ
Câu 4.
|
Kể tên một văn bản khác có cùng thể thơ với đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại để xác định các bài thơ khác có cùng thể loại
Lời giải chi tiết:
Nỗi niềm chinh phụ (Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn)
Tiếng đàn mưa (Bích Khê)
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn văn nêu cảm nhận về đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích và nêu cảm nhận
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo:
Đoạn trích “Nỗi oán sầu người cung nữ” của Nguyễn Gia Thiều như một bức tranh buồn, phản ánh tâm trạng cô đơn của người phụ nữ sống trong chốn cung cấm. Hình ảnh “cung quế âm thầm chiếc bóng” gợi lên không gian tĩnh lặng, lạnh lẽo, trong khi “đêm năm canh” kéo dài như thử thách nỗi chịu đựng của nhân vật. Mỗi câu thơ đều thấm đượm nỗi buồn và sự chờ đợi vô vọng, tạo nên một bầu không khí u ám. Các hình ảnh như “gương loan bẻ nửa, dải đồng xé đôi” không chỉ mô tả sự tan vỡ mà còn là biểu tượng cho những ước mơ, hy vọng vụt tắt. Qua đoạn thơ, ta cảm nhận được sự sâu sắc trong tâm hồn nhạy cảm của người phụ nữ, những khát khao yêu thương và ước vọng tự do. Nguyễn Gia Thiều đã khéo léo vẽ nên một bức tranh tâm lý tinh tế, làm nổi bật nỗi khát khao và bất lực của phận nữ trong xã hội phong kiến.
Câu 2.
|
Viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo vệ môi trường sống hiện nay. |
Phương pháp:
Vận dụng hiểu biết của mình
Chú ý hình thức của một bài văn (600 chữ) gồm: mở bài, thân bài, kết bài
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở bài:
- Giới thiệu vấn đề môi trường đang là một thách thức lớn đối với toàn cầu.
- Vai trò của thế hệ trẻ trong việc bảo vệ môi trường.
2. Thân bài:
- Thực trạng môi trường hiện nay: Ô nhiễm không khí, nước, đất đai; rác thải nhựa, biến đổi khí hậu.
- Nguyên nhân gây ra vấn đề môi trường: Do con người khai thác tài nguyên quá mức, xả thải bừa bãi,...
- Trách nhiệm của thế hệ trẻ:
+ Nhận thức và thay đổi thói quen tiêu dùng.
+ Tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, như trồng cây, tái chế rác thải.
+ Đóng góp ý tưởng sáng tạo, áp dụng khoa học kỹ thuật xanh.
- Dẫn chứng: Những tấm gương trẻ góp phần bảo vệ môi trường, phong trào sống xanh,...
3. Kết bài:
- Khẳng định vai trò quan trọng của thế hệ trẻ.
- Kêu gọi ý thức trách nhiệm của mọi người trong việc chung tay bảo vệ môi trường.
Bài tham khảo
Môi trường sống đang ngày càng bị đe dọa nghiêm trọng bởi các hoạt động của con người. Ô nhiễm không khí, rác thải nhựa, suy thoái đất và biến đổi khí hậu là những vấn đề cấp bách không chỉ ảnh hưởng đến chúng ta hôm nay mà còn để lại hậu quả lâu dài cho các thế hệ mai sau. Trong bối cảnh đó, thế hệ trẻ - những người kế thừa và làm chủ tương lai - có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, giữ gìn hành tinh xanh cho chính mình và cộng đồng.
Hiện nay, tình trạng ô nhiễm môi trường đã đạt mức báo động. Theo các báo cáo, lượng rác thải nhựa trên toàn cầu đã vượt qua 300 triệu tấn mỗi năm, trong đó chỉ một phần nhỏ được tái chế. Khí thải từ các nhà máy, phương tiện giao thông cũng góp phần làm suy giảm tầng ozon, gây nên hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu. Nguyên nhân chính là do sự thiếu ý thức của con người trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi.
Trong bối cảnh ấy, thế hệ trẻ cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với môi trường. Trước hết, mỗi cá nhân trẻ cần thay đổi thói quen sống, từ việc giảm sử dụng đồ nhựa dùng một lần đến việc phân loại rác thải. Những hành động nhỏ như mang theo túi vải khi đi chợ, sử dụng bình nước cá nhân hay tái chế rác cũng góp phần lớn vào việc bảo vệ môi trường.
Bên cạnh đó, thế hệ trẻ cần chủ động tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường, chẳng hạn như trồng cây xanh, dọn dẹp rác thải ở khu vực công cộng hoặc tham gia các chiến dịch tuyên truyền về ý thức môi trường. Ngoài ra, các bạn trẻ có thể áp dụng kiến thức khoa học và công nghệ để đưa ra những sáng kiến sáng tạo, như phát minh sản phẩm thân thiện với môi trường hay nghiên cứu các giải pháp năng lượng tái tạo.
Thực tế đã có nhiều tấm gương sáng trong việc bảo vệ môi trường. Một số bạn trẻ đã khởi xướng các dự án "sống xanh" đầy ý nghĩa, như biến rác thải thành vật liệu hữu ích hoặc tổ chức các chương trình giáo dục về bảo vệ môi trường. Những hành động này không chỉ truyền cảm hứng mà còn tạo ra ảnh hưởng tích cực đến cộng đồng.
Thế hệ trẻ chính là những người giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ hành tinh xanh. Bằng sự nhiệt huyết, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm, họ có thể trở thành nhân tố thay đổi tích cực, góp phần xây dựng một tương lai bền vững. Mỗi người, dù nhỏ bé đến đâu, cũng có thể góp phần làm nên sự khác biệt. Vì vậy, ngay từ hôm nay, hãy cùng nhau hành động vì một môi trường trong lành và một trái đất xanh tươi.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 3
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
“Mỗi ngày chúng ta thức dậy là một ngày mới, một cơ hội mới để sống, làm việc, yêu thương và cống hiến. Thời gian không bao giờ quay trở lại, vì vậy đừng để nó trôi qua vô nghĩa. Hãy sống một cách chủ động, làm những việc có ích và tạo giá trị cho bản thân cũng như xã hội. Hạnh phúc không phải lúc nào cũng là những điều lớn lao, mà đôi khi chỉ đơn giản là một nụ cười, một lời cảm ơn, hay cảm giác ấm áp khi giúp đỡ người khác. Điều quan trọng nhất chính là chúng ta biết tận hưởng và trân trọng từng khoảnh khắc hiện tại. Đừng chờ đợi một ngày đặc biệt để yêu thương, bởi mỗi ngày trôi qua đều là món quà quý giá mà cuộc sống đã ban tặng.”
(Nguồn: Sưu tầm)
Câu 1 (1 điểm): Nội dung chính của đoạn văn là gì?
Câu 2 (1 điểm): Theo tác giả, vì sao chúng ta cần sống một cách chủ động và trân trọng hiện tại?
Câu 3 (1 điểm): Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu:
“Hạnh phúc không phải lúc nào cũng là những điều lớn lao, mà đôi khi chỉ đơn giản là một nụ cười, một lời cảm ơn, hay cảm giác ấm áp khi giúp đỡ người khác.”
Câu 4 (1 điểm): Em hiểu thế nào về câu nói: “Đừng chờ đợi một ngày đặc biệt để yêu thương, bởi mỗi ngày trôi qua đều là món quà quý giá mà cuộc sống đã ban tặng.”? Từ ý nghĩa của câu nói trên, em rút ra bài học gì?
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về cách tận hưởng cuộc sống ý nghĩa từ những điều nhỏ bé xung quanh.
Câu 2 (4.0 điểm) Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) được coi là một bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta. Đọc bài thơ và viết một bài văn nêu cảm nhận của em.
Phiên âm:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Dịch nghĩa:
Sông núi nước Nam vua nước Nam cai quản
Giới phận đã được khẳng định rõ ràng ở trong sách trời.
Cớ gì lũ giặc kia tới xâm phạm,
Các ngươi sẽ nhìn thấy việc chuốc lấy bại vong.
Dịch thơ:
Sông núi nước Nam, vua Nam ngự,
Rành rành định phận ở sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Nội dung chính của đoạn văn là gì? |
Phương pháp:
Dựa trên các từ khóa như: “cơ hội mới,” “sống chủ động,” “hạnh phúc giản dị,” và “trân trọng hiện tại.”
Lời giải chi tiết:
Nội dung chính: ý nghĩa của việc sống chủ động, trân trọng từng khoảnh khắc trong hiện tại, và tìm thấy hạnh phúc từ những điều giản dị trong cuộc sống.
Câu 2.
|
Theo tác giả, vì sao chúng ta cần sống một cách chủ động và trân trọng hiện tại? |
Phương pháp:
Chú ý các ý về giá trị của thời gian và hạnh phúc từ những điều nhỏ bé.
Lời giải chi tiết:
- Thời gian không bao giờ quay trở lại, vì vậy mỗi ngày đều là một cơ hội quý giá để sống ý nghĩa.
- Hạnh phúc không chỉ đến từ những điều lớn lao mà còn từ những khoảnh khắc nhỏ bé, giản dị.
Câu 3.
|
Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu: “Hạnh phúc không phải lúc nào cũng là những điều lớn lao, mà đôi khi chỉ đơn giản là một nụ cười, một lời cảm ơn, hay cảm giác ấm áp khi giúp đỡ người khác.” |
Phương pháp:
Chỉ ra biện pháp tu từ và giải thích ý nghĩa của chúng trong việc truyền tải nội dung.
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ:
+ Điệp từ "một" (nhấn mạnh sự giản dị của hạnh phúc).
+ Liệt kê (nụ cười, lời cảm ơn, cảm giác ấm áp): Tạo sự cụ thể, sinh động khi nói về hạnh phúc.
- Tác dụng: Nhấn mạnh ý nghĩa của những điều nhỏ bé, giản dị trong cuộc sống mà con người thường không để ý nhưng lại là nguồn cội của hạnh phúc.
Câu 4.
|
Em hiểu thế nào về câu nói: “Đừng chờ đợi một ngày đặc biệt để yêu thương, bởi mỗi ngày trôi qua đều là món quà quý giá mà cuộc sống đã ban tặng.”? Từ ý nghĩa của câu nói trên, em rút ra bài học gì? |
Phương pháp:
Giải thích từng vế của câu nói và rút ra bài học phù hợp với bản thân.
Lời giải chi tiết:
- Ý nghĩa: Mỗi ngày là một cơ hội để sống, yêu thương và tạo giá trị. Chúng ta không nên chờ đợi những dịp đặc biệt mà hãy tận dụng hiện tại để bày tỏ tình cảm và làm điều tốt đẹp.
- Bài học: Sống trọn vẹn với hiện tại, trân trọng thời gian, và biết thể hiện tình yêu thương hàng ngày.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về cách tận hưởng cuộc sống ý nghĩa từ những điều nhỏ bé xung quanh. |
Phương pháp:
Kết hợp lập luận, giải thích với dẫn chứng cụ thể, liên hệ thực tế.
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn:
Nêu vấn đề: Cuộc sống trở nên ý nghĩa khi chúng ta biết trân trọng và tận hưởng những điều giản dị.
2. Thân đoạn:
a. Giải thích:
- Những điều nhỏ bé xung quanh như một nụ cười, một bữa cơm gia đình, hay một lời động viên đều chứa đựng giá trị tinh thần lớn lao.
b. Ý nghĩa:
- Giúp con người nhận ra hạnh phúc không đến từ những điều to lớn, mà từ sự bình dị của cuộc sống hàng ngày.
- Làm cho tâm hồn thư thái, cân bằng giữa áp lực và niềm vui.
c. Dẫn chứng:
- Một học sinh tìm thấy niềm vui khi giúp đỡ bạn bè, một người cảm nhận sự bình yên qua thiên nhiên.
d. Phản đề
- Một số người sống tiêu cực, không muốn thoát ra khỏi vùng tối để tới với những điều tích cực trong cuộc sống.
3. Kết đoạn:
- Tổng kết lại vấn đề: Hãy tận hưởng cuộc sống từ những niềm vui giản dị quanh ta, vì chính những điều đó tạo nên giá trị thật sự của hạnh phúc.
- Liên hệ bản thân
Câu 2.
|
Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) được coi là một bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta. Đọc bài thơ và viết một bài văn nêu cảm nhận của em. |
Phương pháp:
Đọc kĩ bài thơ, chú ý các từ ngữ, hình ảnh, biện pháp nghệ thuật đặc sắc
Hình thức bài văn có 3 phần: mở bài – thân bài – kết bài
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
I. Mở bài
Giới thiệu đôi nét về bài thơ Sông núi nước Nam.
II. Thân bài
1. Lời khẳng định chủ quyền lãnh thổ của quốc gia, dân tộc
- Câu thơ 1: Nam quốc sơn hà Nam đế cư (Sông núi nước Nam vua Nam ở)
+ Trong quan niệm của xã hội xưa: toàn bộ diện tích lãnh thổ, của cải vật chất, con người của một đất nước đều thuộc về nhà vua. Người có quyền quyết định tất cả mọi thứ, thậm chí cả quyền sinh sát.
+ “Nam đế”: hoàng đế nước Nam, người đứng đầu của một quốc gia - thể hiện sự ngang hàng với phương Bắc.
- Câu thơ 2: Tiệt nhiên định phận tại thiên thư (Vành vạch sách trời chia xứ sở)
+ “Thiên thư”: sách trời - Lãnh thổ, địa phận của đất nước đã được ghi tại sách trời.
+ Điều này khẳng định chủ quyền lãnh thổ của dân tộc ta là một chân lý không thể chối cãi và thay đổi được.
=> Một lời khẳng định đanh thép, bản lĩnh.
2. Sự quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của quốc gia, dân tộc
- Câu thơ 3: Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm (Giặc giữ cớ sao xâm phạm đến đây?)
+ Câu hỏi tu từ: “như hà” - “cớ sao?” nhằm khẳng định lại chủ quyền dân tộc.
+ “nghịch lỗ”: khẳng định những kẻ xâm lược đi xâm lược lãnh thổ là đang làm trái ý trời.
- Câu thơ 4: Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Chúng mày nhất định phải tan vỡ): Những kẻ đi xâm lược, cướp nước của dân tộc khác sẽ không có được kết thúc tốt đẹp.
=> Một lần nữa khẳng định quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.
III. Kết bài
Đánh giá về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.
Bài tham khảo
Được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam, bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” của chủ tướng Lý Thường Kiệt đã trở thành một áng thơ văn bất hủ. Không chỉ khẳng định được vấn đề về lãnh thổ, chủ quyền, độc lập của dân tộc Việt Nam, mà bài thơ còn thể hiện được tính thần lực, tự tôn dân tộc mạnh mẽ của vị chủ tướng tài ba Lý Thường Kiệt cũng như những người dân Việt Nam nói chung. Bài thơ cũng là lời khẳng định tuyên bố đanh thép của tác giả đối với những kẻ có ý định xâm lăng vào lãnh thổ ấy, xâm phạm vào lòng tự tôn của một dân tộc anh hùng.
Trong cuộc chiến đấu chống quân Tống của quân dân Đại Việt, chủ tướng Lý Thường Kiệt đã đọc bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” ở đền thờ hai vị thần Trương Hống, Trương Hát. Là hai vị thần của sông Như Nguyệt. Khi bài thơ thần này vang lên vào thời điểm đêm khuya, lại được vọng ra hùng tráng, đanh thép từ một ngôi đền thiêng liêng nên đã làm cho quân Tống vô cùng khiếp sợ, chúng đã vô cùng hoảng loạn, lo lắng, nhuệ khí của quân giặc bị suy giảm một cách nhanh chóng. Cũng nhờ đó mà quân dân ta có thể tạo ra một chiến thắng lừng lẫy, oai hùng sau đó.
Mở đầu bài thơ, tác giả Lý Thường Kiệt đã khẳng định một cách chắc chắn, mạnh mẽ về vấn đề chủ quyền, ranh giới lãnh thổ của dân tộc Đại Việt, đó là ranh giới đã được định sẵn, là nơi sinh sống của người dân Đại Việt. Lời khẳng định này không phải chỉ là lời khẳng định của tác giả, mà tác giả còn đưa ra những luận chứng sắc sảo, đó là bởi “sách trời” quy định. Tức sự độc lập,chủ quyền về lãnh thổ ấy được trời đất quy định, chứng giám. Một sự thật hiển nhiên mà không một ai có thể chối cãi được:
“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời”
“Sông núi nước Nam” là những vật thuộc quyền sở hữu của người Nam, cũng là những hình ảnh biểu tượng không chỉ cho ranh giới, chủ quyền của người nam mà còn khẳng định một cách chắc chắn quyền sở hữu của “sông núi” ấy là của người Nam. Chúng ta cũng có thể thấy đây là lần đầu tiên trong một tác phẩm thơ văn mà vấn đề chủ quyền dân tộc được khẳng định mạnh mẽ, hào sảng đến như vậy. Không chỉ là dân tộc có chủ quyền, có lãnh thổ mà dân tộc ấy còn có người đứng đầu, người quản lí, làm chủ người dân của quốc gia ấy, đó chính là “vua Nam”. Chủ quyền ấy, lãnh thổ cương vực ấy không phải do người Nam tự quyết định lựa chọn cho mình, người dân nơi ấy chỉ sinh sống, làm ăn sinh hoạt từ rất lâu đời, do sự định phận của “sách trời”, đó là đấng cao quý vì vậy mọi sự quy định, chỉ dẫn của “trời” đều rất có giá trị, đều rất đáng trân trọng.
“Rành rành” là dùng để chỉ sự hiển hiện, tất yếu mà ai cũng có thể nhận biết cũng phân biệt được. “Rành rành định phận ở sách trời” có nghĩa vùng lãnh thổ ấy, chủ quyền ấy của người Nam đã được sách trời ghi chép rõ ràng, dù có muốn cũng không thể chối cãi, phủ định. Như vậy, ở hai câu thơ đầu, tác giả Lý Thường Kiệt không chỉ đưa ra luận điểm là lời khẳng định hào sảng, chắc chắn về vùng lãnh thổ, ranh giới quốc gia và chủ quyền, quyền làm chủ của nhân dân Đại Việt với quốc gia, dân tộc mình mà tác giả còn rất tỉnh táo, sắc sảo khi đưa ra những luận cứ đúng đắn, giàu sức thuyết phục mà còn đưa ra một sự thật mà không một kẻ nào, một thế lực nào có thể phủ định, bác bỏ được nó. Giọng văn hào hùng, mạnh mẽ nhưng không giấu được niềm tự hào của bản thân Lý Thường Kiệt về chủ quyền của dân tộc mình.
Từ sự khẳng định mạnh mẽ vấn đề chủ quyền của dân tộc Đại Việt, Lý Thường Kiệt đã lớn tiếng khẳng định, cũng là lời cảnh cáo đến kẻ thù, đó chính là cái kết cục đầy bi thảm mà chúng sẽ phải đón nhận nếu biết nhưng vẫn cố tình thực hiện hành động xâm lăng lãnh thổ, gây đau khổ cho nhân dân Đại Việt:
“Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh cho tơi bời”
Sự thật hiển nhiên rằng “Sông núi nước Nam” là do người Nam ở, người Nam làm chủ. Nhưng lũ giặc không hề màng đến sự quy định mang tính tất yếu ấy, chúng cố tình xâm phạm Đại Việt cũng là xúc phạm đến sự tôn nghiêm của đạo lý, của luật trời: “Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm” hành động ngông cuồng, phi nghĩa này của bọn chúng thật đáng bị phê phán, thậm chí đáng để trừng phạt bằng những hình thức thích đáng nhất. Và ở trong bài thơ này, tác giả Lý Thường Kiệt cũng đã đanh thép khẳng định cái kết cục đầy bi đát, ê chề cho lũ cướp nước, coi thường đạo lí: “Chúng bay sẽ bị đánh cho tơi bời”. Với tất cả sức mạnh cũng như lòng tự tôn, tính chính nghĩa của dân tộc Đại Việt thì lũ xâm lăng chỉ có một kết cục duy nhất, một kết quả không thể tránh khỏi “bị đánh cho tơi bời”.
Như vậy, bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” là một bài thơ, một bài thơ mang tính chính luận rõ ràng, sâu sắc, một bản tuyên ngôn hùng hồn, mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam. Bài thơ thể hiện lòng tự hào của người Việt Nam về chủ quyền thiêng liêng của dân tộc, về sức mạnh vĩ đại của người dân trong công cuộc đánh đuổi ngoại xâm.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 4
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
(1) Cùng một cơn mưa, người tiêu cực sẽ bực mình vì phải trùm áo mưa, người lạc quan thì nghĩ đến cây cối xanh tươi, không khí sẽ được trong lành. Và một khi chúng ta không thể thay đổi được hiện tượng xảy ra, tốt nhất là nhìn nó bằng ánh mắt tích cực. Cái thiện có thể sẽ thua cái ác trong một thời điểm nhưng chung cuộc sẽ chiến thắng. Cứ sau một sự cố, con người lại tìm nguyên nhân và khắc phục nó. Sau lũ lụt, phù sa sẽ làm màu mỡ hơn cho cánh đồng, sâu bọ sẽ bị quét sạch ra biển, dư lượng hóa chất trong đất đai sẽ bị rửa sạch. Lỗi lầm của người khác, thay vì giữ trong lòng và tức giận, thôi bỏ qua, mình sẽ thấy thoải mái hơn rất nhiều. Nói một cách khác, nếu bạn được sống 100 năm, xem như là một bộ phim có 100 tập, thì hãy tạo ra ít nhất 2/3 tập có tiếng cười thay vì tập nào cũng rơi vào bi kịch chán chường, đau khổ, chia lìa, mất mát.
(2) Trong từ Hán Việt, nguy cơ bao gồm nguy và cơ. Đối với người có tư duy tích cực, “nguy” (problem) sẽ được họ biến thành “cơ” (opportunity). Người tích cực và lạc quan sẽ có gương mặt sáng bừng, nụ cười thường trực trên môi, sống và cháy hết mình, học tập và làm việc hết mình dù ngày mai trời có sập.
(Trích Tư duy tích cực, Theo Tony Buổi sáng, trên đường băng, NXB Trẻ, 2016)
Câu 1 (0.5 điểm). Nêu nội dung chính của văn bản trên.
Câu 2 (0.5 điểm). Tìm trong văn bản 02 biểu hiện của người có thái độ sống tích cực, lạc quan.
Câu 3 (1.0 điểm). Tìm thuật ngữ trong cụm từ in đậm ở đoạn (1) và cho biết thuật ngữ đó thuộc lĩnh vực khoa học nào.
Câu 4 (1.0 điểm). Từ in đậm trong đoạn văn (2) được sử dụng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Nếu là nghĩa chuyển thì được chuyển theo phương thức nào?
Câu 5 (1.0 điểm). Hãy chỉ ra và cho biết giá trị của một biện pháp tu từ được sử dụng ở đoạn (1)
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Đọc đoạn thơ sau và viết đoạn văn nêu cảm nhận em về cơ sở hình thành tình đồng chí của những người lính:
Quê hương anh nước mặn, đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi đôi người xa l
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng, đầu sát bên đầu,
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí!
(Đồng chí – Chính Hữu)
Câu 2 (4.0 điểm) Em hãy viết bài văn nghị luận ngắn trình bày suy nghĩ về tinh thần tương thân tương ái của đồng bào ta, nhất là trong hoạn nạn.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Nêu nội dung chính của văn bản trên. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Nội dung chính: Tác dụng của việc nhìn nhận mọi thứ theo hướng tích cực.
Câu 2.
|
Tìm trong văn bản 02 biểu hiện của người có thái độ sống tích cực, lạc quan. |
Phương pháp:
Đọc, tìm ý
Lời giải chi tiết:
- Biểu hiện:
+ nụ cười thường trực trên môi,
+sống, học tập và làm việc hết mình
Câu 3.
|
Tìm thuật ngữ trong cụm từ in đậm ở đoạn (1) và cho biết thuật ngữ đó thuộc lĩnh vực khoa học nào. |
Phương pháp:
Căn cứ vào bài học Thuật ngữ
Lời giải chi tiết:
Thuật ngữ: “không khí” là thuật ngữ về môi trường thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên.
Câu 4.
|
Từ in đậm trong đoạn văn (2) được sử dụng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Nếu là nghĩa chuyển thì được chuyển theo phương thức nào? |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về từ đa nghĩa
Lời giải chi tiết:
- Cháy hết mình: “cháy” được hiểu là con người dám dấn thân, dám đem hết nhiệt huyết để sống trọn vẹn cuộc đời và tỏa sáng.
- Từ “cháy” được chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ.
Câu 5.
|
Hãy chỉ ra và cho biết giá trị của một biện pháp tu từ được sử dụng ở đoạn (1) |
Phương pháp:
Căn cứ vào lý thuyết các biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ: liệt kê (Sau lũ lụt, phù sa sẽ làm màu mỡ hơn cho cánh đồng, sâu bọ sẽ bị quét sạch ra biển, dư lượng hóa chất trong đất đai sẽ bị rửa sạch… hãy tạo ra ít nhất 2/3 tập có tiếng cười thay vì tập nào cũng rơi vào bi kịch chán chường, đau khổ, chia lìa, mất mát.
- Tác dụng: Làm cho đoạn văn giàu giá trị biểu đạt, tăng sức gợi hình, gợi cảm. Đồng thời chỉ rõ những biểu hiện trong việc nhìn nhận sự việc tích cực và tiêu cực.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Đọc đoạn thơ sau và viết đoạn văn nêu cảm nhận em về cơ sở hình thành tình đồng chí của những người lính: Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá. Anh với tôi đôi người xa l Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau, Súng bên súng, đầu sát bên đầu, Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ. Đồng chí! (Đồng chí – Chính Hữu) |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích, chú ý các từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ đặc sắc
Lời giải chi tiết:
Dàn ý:
1. Mở bài
- Giới thiệu chung về nhà thơ Chính Hữu và bài thơ Đồng chí.
- Dẫn dắt vào 7 câu thơ đầu của bài: Cơ sở hình thành tình đồng chí, đồng đội của những người lính.
2. Thân bài
a. Những người lính có chung hoàn cảnh, xuất thân
- “quê hương”, “làng”: Các từ cùng trường nghĩa → Những người lính đều có xuất thân từ những người nông dân nghèo.
- “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá”: hoàn cảnh, điều kiện sống khắc nghiệt, khó khăn → quê hương nghèo khó.
=> Những người lính tương đồng về cảnh ngộ, hoàn cảnh sống.
b. Những người lính có chung lí tưởng cứu nước cao đẹp
- Các xưng hô “anh” – “tôi” thân thiết, gần gũi.
- “Súng bên súng”: Những người lính kề vai sát cánh trong chiến đấu.
- “Đầu sát bên đầu”: Cùng chung lí tưởng chiến đấu cao đẹp: Ra đi, chiến đấu để bảo vệ quê hương.
c. Cùng nhau trải qua những khó khăn, gian khổ trong cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu
- “Đêm rét”: Thời tiết lạnh giá, khắc nghiệt.
- “Chung chăn”: chia sẻ với nhau những thứ vật chất ít ỏi, thiếu thốn.
- “Thành đôi tri kỉ”: tình cảm gắn bó khăng khít, thân tình
- “Đồng chí!”: tình cảm keo sơn, gắn bó, khó tách rời.
3. Kết bài
- Khẳng định lại giá trị của đoạn thơ.
Bài tham khảo:
Ngay từ những câu thơ mở đầu bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu đã lí giải những cơ sở hình thành tình đồng chí thắm thiết, sâu nặng của “anh” và “tôi” – của những người lính cách mạng. Thành ngữ “nước mặn đồng chua” và hình ảnh “đất cày lên sỏi đá”, giọng điệu thủ thỉ tâm tình như lời kể chuyện, cùng nghệ thuật sóng đôi, tác giả cho thấy tình đồng chí, đồng đội bắt nguồn sâu xa từ sự tương đồng cùng cảnh ngộ. Họ là những người nông dân áo vải, ra đi từ những miền quê nghèo khó – miền biển nước mặn, vùng đồi núi trung du. Không hẹn mà nên, những người nông dân ấy gặp nhau tại một điểm: lòng yêu nước. Tình yêu quê hương, gia đình, nghĩa vụ công dân thúc giục họ lên đường chiến đấu. Bởi thế nên từ những phương trời xa lạ, mọi người “chẳng hẹn mà quen nhau”. Giống như những anh lính trong bài thơ “Nhớ” của Hồng Nguyên: “Lũ chúng tôi bọn người tứ xứ - Gặp nhau từ hồi chưa biết chữ - Quen nhau từ buổi “một, hai” – Súng bắn chưa quen – Quân sự mươi bài – Lòng vẫn cười vui kháng chiến”. Trong môi trường quân đội, đơn vị thay cho mái ấm gia đình, tình đồng đội thay cho tình máu thịt. Cái xa lạ ban đầu nhanh chóng bị xóa đi. Sát cánh bên nhau chiến đấu, càng ngày họ càng cảm nhận sâu sắc về sự hòa hợp, gắn bó giữa đồng đội cùng chung nhiệm vụ và lí tưởng cao đẹp: “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”. Hình ảnh sóng đôi, các điệp từ “súng”, “đầu”, giọng điệu thơ trở nên tha thiết, trầm lắng như nhấn mạnh tình cảm gắn bó của người lính trong chiến đấu. Họ đồng tâm, đồng lòng, cùng nhau ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước, quê hương, giữ gìn nền độc lập, tự do, sự sống còn của dân tộc – “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Và chính sự đồng cảnh, đồng cảm và hiểu nhau đã giúp các anh gắn bó với nhau, cùng sẻ chia mọi gian lao thiếu thốn của cuộc đời người lính: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. Từ gian khó, hiểm nguy, tình cảm trong họ đã nảy nở và họ đã trở thành những người bạn tâm giao, tri kỉ, hiểu nhau sâu sắc, gắn bó thành đồng chí. Hai tiếng “Đồng chí” kết thúc khổ thơ thật đặc biệt, sâu lắng! Nó như một nốt nhạc làm bừng sáng cả đoạn thơ, là điểm hội tụ, nơi kết tinh của bao tình cảm đẹp mà chỉ có ở thời đại mới: tình giai cấp, tình đồng đội, tình bạn bè trong chiến tranh.
Câu 2.
|
Em hãy viết bài văn nghị luận ngắn (khoảng một trang giấy thi) trình bày suy nghĩ tinh thần tương thân tương ái của đồng bào ta, nhất là trong hoạn nạn. |
Phương pháp:
- Yêu cầu hình thức:
+ Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm nghị luận xã hội để tạo lập bài văn.
+ Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
- Yêu cầu nội dung:
+ Vận dụng kiến thức xã hội để nghị luận về tinh thần tương thân tương ái.
+ Vận dụng các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ để nghị luận về bài văn.
Lời giải chi tiết:
Dàn ý:
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề: suy nghĩ về tinh thần tương thân tương ái của đồng bào ta, nhất là trong hoạn nạn.
2. Thân bài
a. Giải thích: Tương thân tương ái là sự quan tâm, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống giữa con người với con người.
b. Vì sao ta cần phải có tinh thần tương thân, tương ái?
– Tinh thần tương thân, tương ái thể hiện phẩm chất, nhân cách cao quý của con người, là biểu hiện của tình yêu thương.
– Tinh thần tương thân, tương ái giúp gắn kết con người lại với nhau, tạo ra sức mạnh vật chất lẫn tinh thần để vượt qua mọi khó khăn, thử thách.
– Tinh thần tương thân, tương ái giúp con người sống nhân ái hơn.
– Sống không có tinh thần tương thân, tương ái, thể hiện sự vô cảm của con người, con người sẽ bị tách biệt khỏi tập thể.
– Tinh thần tương thân, tương ái thể hiện lối sống trọng tình, trọng nghĩa của dân tộc ta.
c. Biểu hiện:
– Người có tinh thần tương thân, tương ái là người sống có tấm lòng nhân nghĩa, có phẩm chất đạo đức tốt đẹp:
+ Trong gia đình: yêu thương, kính trọng ông bà, cha mẹ; sống hòa hợp, gắn bó với anh, chị, em; biết nhường nhịn lẫn nhau
+ Trong nhà trường: kính trọng, yêu mến thầy cô giáo, tôn trọng, giúp đỡ bạn bè,…
+ Ngoài xã hội: biết cảm thông, chia sẻ với hoàn cảnh của người nghèo khó; biết tương trợ, giúp đỡ đồng bào vùng thiên tai, lũ lụt, …
d. Bình luận: Biết tương thân, tương ái, giúp đỡ người khác trong khó khăn, hoạn nạn là việc làm tốt đẹp, cần tuyên dương, ngợi khen và lan tỏa trong cộng đồng. Thế nhưng, lòng tốt cũng cần phải đặt đúng chỗ, giúp đúng người, đúng việc, đừng để lòng tốt của mình bị kẻ xấu lợi dụng.
e. Phê phán:
Trong xã hội ngày nay vẫn còn những kẻ chỉ biết nghĩ đến quyền lợi của bản thân mình, thờ ơ, vô cảm trước hoàn cảnh khó khăn, nỗi khổ đau của người khác. Những người như thế thật đáng chê trách.
3. Kết bài
- Bài học: Không có gì đẹp bằng ánh sáng của lòng nhân ái. Hãy biết yêu thương, giúp đỡ người khác.
- Liên hệ bản thân
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 5
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
“Tổ quốc là nơi ta sinh ra và lớn lên, là mái nhà chung của mọi người. Từng con sông, ngọn núi, mỗi cánh đồng hay làn nước biển đều lưu giữ những dấu ấn lịch sử, văn hóa và tinh thần bất khuất của cha ông. Lòng yêu nước không chỉ thể hiện qua lời nói, mà còn nằm trong từng hành động nhỏ bé: bảo vệ môi trường, giữ gìn văn hóa, và sẵn sàng đứng lên khi Tổ quốc cần. Chỉ khi hiểu và trân trọng giá trị của quê hương, ta mới thực sự xứng đáng với công lao của tiền nhân.”
(Nguồn: Sưu tầm)
Câu 1 (1 điểm): Nội dung chính của đoạn văn trên là gì?
Câu 2 (1 điểm): Theo đoạn văn, lòng yêu nước được thể hiện qua những hành động nào?
Câu 3 (1 điểm): Tìm và phân tích ý nghĩa của hình ảnh “Từng con sông, ngọn núi” trong đoạn văn.
Câu 4 (1 điểm): Em có đồng ý với quan điểm: “Chỉ khi hiểu và trân trọng giá trị của quê hương, ta mới thực sự xứng đáng với công lao của tiền nhân”? Vì sao?
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc.
Câu 2 (4.0 điểm) Viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh mà em yêu thích
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Nội dung chính của đoạn văn trên là gì? |
Phương pháp:
Xác định ý chính dựa trên từ khóa như: Tổ quốc, lòng yêu nước, hành động thiết thực.
Lời giải chi tiết:
Nội dung chính: Đoạn văn nêu lên ý nghĩa của Tổ quốc trong đời sống con người, đồng thời khẳng định lòng yêu nước phải được thể hiện qua hành động thiết thực, chứ không chỉ dừng lại ở lời nói.
Câu 2.
|
Theo đoạn văn, lòng yêu nước được thể hiện qua những hành động nào? |
Phương pháp:
Tìm các hành động cụ thể được liệt kê trong đoạn văn.
Lời giải chi tiết:
Lòng yêu nước được thể hiện qua những hành động:
- Bảo vệ môi trường.
- Giữ gìn văn hóa truyền thống.
- Sẵn sàng đứng lên bảo vệ Tổ quốc khi cần.
Câu 3.
|
Tìm và phân tích ý nghĩa của hình ảnh “Từng con sông, ngọn núi” trong đoạn văn. |
Phương pháp:
Phân tích nghĩa đen và nghĩa bóng của hình ảnh trong ngữ cảnh đoạn văn.
Lời giải chi tiết:
- Hình ảnh “từng con sông, ngọn núi” tượng trưng cho vẻ đẹp và sự thiêng liêng của Tổ quốc.
- Nó gợi nhớ những dấu ấn lịch sử, văn hóa, và tinh thần bất khuất của cha ông trong việc bảo vệ quê hương.
Câu 4.
|
Em có đồng ý với quan điểm: “Chỉ khi hiểu và trân trọng giá trị của quê hương, ta mới thực sự xứng đáng với công lao của tiền nhân”? Vì sao? |
Phương pháp:
Trình bày quan điểm cá nhân, lập luận chặt chẽ và có dẫn chứng phù hợp.
Lời giải chi tiết:
Đồng ý. Vì:
- Hiểu và trân trọng giá trị quê hương giúp chúng ta sống có trách nhiệm hơn với bản thân, xã hội và lịch sử.
- Điều này còn khuyến khích tinh thần yêu nước, bảo vệ chủ quyền dân tộc và duy trì những giá trị truyền thống.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc. |
Phương pháp:
Liên hệ kiến thức của bản thân
Chú ý hình thức của đoạn văn gồm 3 phần: mở đoạn – thân đoạn – kết đoạn
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn:
Giới thiệu vấn đề: trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc.
2. Thân đoạn:
- Giải thích: Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng, là nền tảng bảo đảm sự độc lập và phát triển của đất nước.
- Trách nhiệm của thế hệ trẻ:
+ Tích cực học tập, rèn luyện để nâng cao nhận thức và hiểu biết về lịch sử, văn hóa dân tộc.
+ Tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên và di sản văn hóa.
+ Lan tỏa tình yêu nước qua việc tôn trọng các giá trị truyền thống.
+ Sẵn sàng lên tiếng trước các hành vi xâm phạm chủ quyền.
- Dẫn chứng: Học sinh, sinh viên tham gia các cuộc thi tìm hiểu về chủ quyền biển đảo, các phong trào như "Trường Sa xanh".
- Phản đề: một số người không có ý thức bảo vệ lãnh thổ, cố tình chia rẽ tinh thần đoàn kết dân tộc…
3. Kết đoạn:
- Tổng kết lại vấn đề: Mỗi hành động nhỏ của thế hệ trẻ hôm nay sẽ góp phần bảo vệ và xây dựng một Tổ quốc vững mạnh trong tương lai.
- Liên hệ bản thân
Câu 2.
|
Viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh mà em yêu thích |
Phương pháp:
Chọn một danh lam thắng cảnh mà em đã từng tới và có ấn tượng sâu sắc
Chú ý hình thức của bài văn có 3 phần: mở bài – thân bài – kết bài
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở bài
- Giới thiệu chung về danh lam thắng cảnh định viết
- Nêu tầm quan trọng hoặc sự hấp dẫn của danh lam thắng cảnh đối với khách du lịch và người dân.
2. Thân bài
a. Vị trí địa lý
- Địa điểm cụ thể (nằm ở đâu: tỉnh, thành phố, khu vực).
- Đặc điểm địa lý xung quanh (sông núi, biển cả, khí hậu,...).
b. Lịch sử, nguồn gốc
- Giới thiệu lịch sử hình thành (nếu có).
- Những câu chuyện, truyền thuyết hoặc sự kiện lịch sử gắn liền với danh lam thắng cảnh.
c. Đặc điểm nổi bật
- Mô tả cụ thể:
+ Vẻ đẹp tự nhiên (núi non, sông nước, hệ sinh thái...).
+ Kiến trúc (đền, chùa, công trình nhân tạo nếu có).
- Các giá trị văn hóa, tinh thần:
+ Liên quan đến văn hóa dân tộc hoặc tín ngưỡng.
+ Các lễ hội, phong tục đặc trưng diễn ra tại đây.
d. Ý nghĩa và giá trị
- Giá trị lịch sử, văn hóa, hoặc tinh thần mà danh lam thắng cảnh mang lại.
- Vai trò trong việc quảng bá hình ảnh đất nước, thu hút du lịch và phát triển kinh tế.
e. Trải nghiệm thực tế
- Hoạt động du lịch nổi bật: Tham quan, chụp ảnh, tham gia các lễ hội, thưởng thức ẩm thực địa phương.
- Những cảm nhận mà du khách thường chia sẻ khi đến đây.
3. Kết bài
- Khẳng định lại giá trị của danh lam thắng cảnh trong đời sống và văn hóa.
- Kêu gọi mọi người bảo vệ và phát huy giá trị của địa danh này.
- Gợi mở cảm xúc: Mời gọi du khách đến thăm hoặc chia sẻ trải nghiệm nếu đã từng ghé qua.
Bài tham khảo
Chùa Tiên nằm dưới chân núi Tung Xê trên một khu đất bằng phẳng, theo truyền thuyết chùa đã được xây dựng từ thời xa xưa theo lối kiến trúc nhà sàn, sử dụng nguyên liệu từ tranh tre nứa lá. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, ngôi chùa đã xuống cấp trầm trọng. Đến năm 1998, Chùa Tiên được trùng tu và tôn tạo lại khang trang như ngày nay.
Khác với các tỉnh đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, nơi làng nào cũng có chùa làng hoặc chùa vùng, tỉnh Hòa Bình có ít chùa hơn và Phật giáo cũng không có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của người dân. Những ngôi chùa ở đây thường được giản lược và có xu hướng pha trộn với tín ngưỡng bản địa. Các huyện, xã giáp ranh với các tỉnh miền xuôi thỉnh thoảng xuất hiện những ngôi chùa nhỏ, nhưng hệ thống tượng Phật cũng không đầy đủ, thường được thờ chung với các vị thánh khác.
Ở xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình, những ngôi chùa thờ Phật được dựng lên nhằm sử dụng giáo lý của đạo Phật và đức Phật từ bi để khuyến thiện, trừng ác, và giáo dục lòng nhân nghĩa cho con người. Chùa cũng là nơi thực hiện mọi nghi lễ tín ngưỡng tôn giáo của dân làng. Khi đến dâng hương tại Chùa Tiên, du khách sẽ có dịp bày tỏ lòng thành kính và gửi gắm những ước nguyện của mình đến các đức Phật.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân địa phương và khách thập phương đến lễ Phật, vào năm 2007, ngôi chùa được khởi công xây mới với chiều dài 34m, chiều rộng 33m, tổng diện tích lên đến 1.122m². Hệ thống tượng Phật được lắp đặt công phu, bài trí trong không gian rộng rãi, tĩnh mịch và u huyền.
Lễ hội Chùa Tiên là một lễ hội truyền thống có lịch sử lâu đời, đã đi vào tiềm thức của người dân địa phương và du khách gần xa, trở thành nét đẹp văn hóa không thể thiếu mỗi độ xuân về. Những năm gần đây, lễ hội Chùa Tiên không chỉ của người dân địa phương mà còn thu hút du khách trong và ngoài nước. Tại đây có đình, chùa và 20 điểm động ghi nhận những giá trị khảo cổ học, văn hóa lịch sử và thắng cảnh thiên nhiên. Hàng năm, Chùa Tiên thu hút hàng triệu du khách đến tham quan, vãn cảnh.
Với hệ thống hang động được bố trí rải rác dọc theo hai dãy núi Tung Xê và Hương Tích, thuộc địa phận thôn Lão Nội và Lão Ngoại của xã Phú Lão (nay là xã Phú Nghĩa), huyện Lạc Thủy, khu di tích Chùa Tiên nổi bật với đa dạng loại hình du lịch như du lịch tâm linh, du lịch sinh thái, và du lịch văn hóa lịch sử. Cảnh quan nơi đây được thiên nhiên ban tặng tựa như một bức tranh thủy mặc giữa vùng bán sơn địa. Quần thể hang động Chùa Tiên đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích cấp Quốc gia vào năm 2011.
Lễ hội Chùa Tiên là cơ hội để du khách thập phương tham quan, vãn cảnh chùa, và tìm hiểu nét đẹp văn hóa của vùng đất Mường. Tại đây, du khách có thể khám phá những nét đặc trưng của người dân địa phương thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, trò chơi dân gian, và các lễ hội truyền thống. Đồng thời, du khách còn có thể dâng hương lễ Phật, cầu mong cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mọi người khỏe mạnh, gia đình ấm no và hạnh phúc.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 6
Đề thi
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
Phạm Tử Hư quê ở Cẩm Giàng, là một người tuấn sảng hào mại không ưa kiềm thúc. Theo học nhà xử sĩ Dương Trạm, Trạm thường răn Tử Hư về cái tính hay kiêu căng. Từ đấy chàng cố sức sửa đổi, trở nên người có đức tính tốt.
Khi Dương Trạm chết, các học trò đều tản đi cẩ, duy Tử Hư làm lều ở mả đề chầu chực, sau ba năm rồi mới trở về. Năm 40 tuổi, Tử Hư đi thi vẫn chưa đỗ; đời Trần, sang du học ở kinh, ngụ ở trong một nhà dân bên bờ Hồ Tây.
Một buổi sáng, ở nhà trọ đi ra, trong áng sương mù thấy có một đám những tán vàng kiệu ngọc bay lên trên không; kế lại có một cỗ xe nạm hạt châu, kẻ theo hầu cũng rất chững chạc. Tử Hư khẽ dòm trộm xem thì người ngồi trong xe, chính thầy học mình là Dương Trạm. Chàng toan đến gần sụp lạy nhưng Trạm xua tay nói:
- Giữa đường không phải chỗ nói chuyện, tối mai nên đến đền Trấn Vũ cửa Bắc, thầy trò ta sẽ hàn huyên.
Tử Hư bèn sắm rượu và thức nhắm, đúng hẹn mà đến. Thầy trò gặp nhau vui vẻ lắm, chàng nhân hỏi rằng:
- Thầy mới từ trần chưa bao lâu, thoắt đã trở nên hiển hách khác hẳn ngày trước, xin thầy cho biết rõ duyên do để con được vui mừng.
Dương Trạm nói:
- Ta thuở sống không có một điều thiện nào đáng khen, chỉ có hay giữ điều tín thực đối với thầy bạn, quý trọng những tờ giấy có chữ, hễ thấy rơi vãi liền nhặt mà đốt đi. Đức Đế quân đây ngài khen là có bụng tốt tâu xin cho làm chức trực lại ở cửa Tử đồng. Hôm qua ta hầu lính giá ngài lên chầu Thiên cung, tình cờ lại gặp nhà người, đó cũng là vì thầy trò mình có cái mối duyên.
(Trích Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên Tào, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, NXB Trẻ, 2016, tr.142)
Câu 1 (0.5 điểm): Câu chuyện trong đoạn trích trên được kể bằng lời của ai?
Câu 2 (0.5 điểm): Các sự kiện trong câu chuyện được sắp xếp theo trật tự thời gian, không gian nào?
Câu 3 (1.0 điểm): Lời của thầy Dương Trạm trong câu văn sau sử dụng dẫn lời nói hay dẫn ý nghĩ? Vì sao em biết được điều đó?
Dương Trạm nói:
- Ta thuở sống không có một điều thiện nào đáng khen,… đó cũng là vì thầy trò mình có cái mối duyên.
Câu 4 (1.5 điểm): Phân tích tác dụng của một yếu tố hoang đường, kì ảo có trong đoạn trích trên.
Câu 5 (1.0 điểm): Nêu nội dung chính của văn bản và một số căn cứ giúp em xác định được nội dung ấy.
Câu 6 (1.5 điểm): Theo em tinh thần tôn sư trọng đạo được biểu hiện như thế nào? Từ những hành động và tình cảm của Tử Hư dành cho người thầy của mình, em có suy nghĩ gì về truyền thống tôn sư trọng đạo của nhân dân ta?
PHẦN VIẾT (4.0 điểm)
Kể lại một truyện sáng tạo, phỏng theo một truyện đã đọc (có sử dụng yếu tố miêu tả, biểu cảm)
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Câu chuyện trong đoạn trích trên được kể bằng lời của ai? |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về ngôi kể, người kể chuyện trong truyện truyền kì
Lời giải chi tiết:
Lời của người kể chuyện, không tham gia trực tiếp và câu chuyện
Câu 2.
|
Các sự kiện trong câu chuyện được sắp xếp theo trật tự thời gian, không gian nào? |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, xác định trật tự thời gian, không gian
Lời giải chi tiết:
Các sự kiện trong câu chuyện được sắp xếp theo trình tự thời gian từ khi Phạm Tử Hư học thầy Dương Trạm, thầy mất, đến khi ông gặp lại thầy sau khi qua đời, và theo không gian từ Cẩm Giàng, mộ thầy, kinh thành, đến đền Trấn Vũ.
Câu 3.
|
Lời của thầy Dương Trạm trong câu văn sau sử dụng dẫn lời nói hay dẫn ý nghĩ? Vì sao em biết được điều đó? Dương Trạm nói: - Ta thuở sống không có một điều thiện nào đáng khen,… đó cũng là vì thầy trò mình có cái mối duyên. |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về lời dẫn trực tiếp, lời dẫn gián tiếp
Lời giải chi tiết:
Lời của thầy Dương Trạm trong câu văn trên sử dụng lời dẫn trực tiếp lời nói của thầy. Căn cứ vào dấu hai chấm và dấu gạch ngang trước lời nói, trích dẫn nguyên văn những gì nhân vật đã nói, không phải là ý nghĩ được diễn đạt gián tiếp.
Câu 4.
|
Phân tích tác dụng của một yếu tố hoang đường, kì ảo có trong đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì
Lời giải chi tiết:
- Yếu tố hoang đường, kỳ ảo trong đoạn trích là hình ảnh thầy Dương Trạm - người đã mất nhưng xuất hiện trong hình dáng thần tiên, ngồi trên cỗ xe “nạm hạt châu” được lính hầu và đi chầu Thiên cung.
- Tác dụng:
+ Tôn vinh giá trị đạo đức và nhân cách
+ Thể hiện lòng kính trọng với thầy giáo
+ Tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện
+ Biểu tượng cho sự trường tồn của giá trị văn hóa
Câu 5.
|
Nêu nội dung chính của văn bản và một số căn cứ giúp em xác định được nội dung ấy. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích, xác định cốt truyện, sự kiện chính và rút ra nội dung chính
Lời giải chi tiết:
- Nội dung chính: Văn bản kể về lòng biết ơn và tình thầy trò sâu sắc giữa Phạm Tử Hư và thầy Dương Trạm, qua đó nhấn mạnh giá trị của sự tu dưỡng đạo đức và triết lý nhân quả.
- Căn cứ vào các chi tiết:
+ Hành động kính thầy của Phạm Tử Hư (chầu bên mộ thầy ba năm).
+ Chi tiết kỳ ảo về sự “hiển hách” của thầy Dương Trạm sau khi qua đời.
+ Lời khuyên về đạo đức và triết lý sống được thầy truyền đạt.
Câu 6.
|
Theo em tinh thần tôn sư trọng đạo được biểu hiện như thế nào? Từ những hành động và tình cảm của Tử Hư dành cho người thầy của mình, em có suy nghĩ gì về truyền thống tôn sư trọng đạo của nhân dân ta? |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, xác định các chi tiết thể hiện tinh thần tôn sư trọng đạo và nêu suy nghĩ
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở bài:
- Giới thiệu truyền thống tôn sư trọng đạo là một nét đẹp văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam.
- Khẳng định đây là giá trị đạo đức tốt đẹp cần được giữ gìn và phát huy.
2. Thân bài:
a. Giải thích truyền thống tôn sư trọng đạo:
- Tôn sư trọng đạo là thái độ kính trọng, biết ơn thầy cô - những người truyền dạy tri thức, đạo lý.
- Trọng đạo thể hiện ở sự tôn vinh vai trò của tri thức, giáo dục và người thầy trong xã hội.
b. Biểu hiện của truyền thống tôn sư trọng đạo trong cuộc sống:
- Trong lịch sử: các vị vua, anh hùng dân tộc luôn kính trọng và biết ơn thầy dạy (ví dụ: Bác Hồ với thầy giáo Nguyễn Sinh Sắc)
- Trong đoạn trích phần đọc hiểu: những hành động và tình cảm của Tử Hư dành cho người thầy của mình
- Trong hiện tại:
+ Học sinh biết vâng lời, lễ phép, chăm ngoan để tri ân thầy cô.
+ Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 là dịp để bày tỏ lòng biết ơn với thầy cô.
c. Ý nghĩa của truyền thống tôn sư trọng đạo:
- Đối với cá nhân: giúp mỗi người hoàn thiện nhân cách, học cách sống biết ơn, tôn trọng người khác.
- Đối với xã hội: xây dựng mối quan hệ thầy trò bền chặt, góp phần gìn giữ giá trị văn hóa dân tộc.
d. Bài học rút ra và phê phán:
- Bài học:
+ Mỗi người cần luôn kính trọng, biết ơn và tôn vinh người thầy.
+ Phát huy truyền thống bằng cách học tập chăm chỉ và rèn luyện bản thân tốt.
- Phê phán:
+ Những người vô ơn, không coi trọng công lao của thầy cô.
+ Tình trạng bạo lực học đường, hành xử thiếu lễ phép với thầy cô.
3. Kết bài:
- Khẳng định vai trò quan trọng của truyền thống tôn sư trọng đạo.
- Bày tỏ quyết tâm giữ gìn, phát huy truyền thống bằng thái độ, hành động cụ thể trong cuộc sống.
Bài tham khảo
Truyền thống tôn sư trọng đạo là một nét đẹp văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam, thể hiện lòng kính trọng và biết ơn đối với thầy cô - những người truyền dạy tri thức và đạo lý làm người. Đây không chỉ là giá trị đạo đức mà còn là biểu tượng cho sự quý trọng tri thức, giáo dục của một dân tộc có truyền thống hiếu học.
Tôn sư trọng đạo được hiểu là thái độ trân trọng, ghi nhớ công lao của thầy cô, đồng thời đề cao vai trò của người thầy trong việc hình thành nhân cách và nâng cao kiến thức của con người. Tôn sư là kính trọng thầy, trọng đạo là coi trọng đạo lý, những điều tốt đẹp mà thầy cô dạy bảo.
Truyền thống này được thể hiện sâu sắc qua nhiều biểu hiện trong lịch sử và hiện tại. Trong quá khứ, các vị vua, danh nhân, anh hùng dân tộc luôn dành cho thầy giáo của mình lòng biết ơn sâu sắc. Điển hình như Bác Hồ từng thể hiện sự kính yêu với cha mình, đồng thời là thầy giáo Nguyễn Sinh Sắc, hay câu chuyện về Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn nhớ về công lao thầy dạy. Ngày nay, học sinh thể hiện lòng tôn kính qua những lời chào lễ phép, những món quà ý nghĩa vào dịp 20/11 – Ngày Nhà giáo Việt Nam. Hay học trò Phạm Hư Tử chầu trực ba năm bên mộ thầy Dương Trạm.
Ý nghĩa của truyền thống này rất lớn lao. Đối với cá nhân, tôn sư trọng đạo giúp mỗi người hoàn thiện nhân cách, sống biết ơn và tôn trọng người khác. Với xã hội, điều này tạo nên một môi trường giáo dục lành mạnh, bền chặt, nơi mối quan hệ thầy trò trở thành nền tảng vững chắc để xây dựng con người có ích.
Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị tốt đẹp, vẫn còn tồn tại hiện tượng thiếu tôn trọng thầy cô như bạo lực học đường, hành xử vô lễ. Điều này đáng bị phê phán và cần được giáo dục lại.
Truyền thống tôn sư trọng đạo là tài sản quý giá của dân tộc, cần được giữ gìn và phát huy. Bản thân mỗi người cần thể hiện lòng kính trọng đối với thầy cô qua những hành động cụ thể: học tập tốt, sống đúng đạo lý và luôn biết ơn. Đó chính là cách chúng ta tiếp nối và lan tỏa giá trị văn hóa tốt đẹp này.
PHẦN VIẾT (4.0 điểm)
|
Kể lại một truyện sáng tạo, phỏng theo một truyện đã đọc (có sử dụng yếu tố miêu tả, biểu cảm) |
Phương pháp:
Chọn một câu chuyện mà em yêu thích.
Kể lại một cách sáng tạo nhưng không làm mất đi cốt truyện gốc, các sự kiện chính
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
a. Mở đầu truyện
- Giới thiệu bối cảnh, nhân vật chính của câu chuyện
b. Diễn biến truyện
Thuật lại diễn biến các sự kiện trong câu chuyện theo trình tự hợp lí; thể hiện khả năng tưởng tượng và cách kể chuyện sáng tạo; có kết hợp sử dụng các yếu tố miêu tả, biểu cảm trong khi kể chuyện.
- Sự việc 1: Kể lại sự việc thứ nhất.
- Sự việc 2: Kể lại sự việc thứ hai.
- Sự việc 3: Kể lại sự việc thứ ba.
- ....
c. Kết thúc truyện
- Kết thúc phù hợp, gây ấn tượng hoặc gợi suy nghĩ đối với người đọc.
Bài tham khảo
Truyện cổ tích Tấm Cám là một câu chuyện có từ rất lâu, và đã đồng hành với biết bao thế hệ trẻ em Việt Nam ta.
Câu chuyện xoay quanh cuộc đời của nhân vật chính là cô Tấm dịu dàng, nết na. Cô Tấm mồ côi mẹ từ sớm. Cha sau khi đi bước nữa không lâu thì qua đời, dể cô sống một mình với bà dì ghẻ và người con riêng của bà là Cám. Biết bao đau khổ của đời Tấm đều do hai mẹ con độc ác này gây nên.
Suốt những năm tháng tuổi thơ đến khi lớn lên, Tấm bị dì ghẻ bắt làm việc quần quật suốt ngày, lại chịu cảnh mắng nhiếc, thiếu thốn đủ đường. Một lần, dì ta lấy chiếc yếm đào mới để tổ chức cho Tấm và Cám thi mò cua bắt ốc. Dĩ nhiên với tính chăm chỉ của mình, phần hơn sẽ phải nghiêng về Tấm. Ngờ đâu Cám gian xảo đã bày mưu lừa Tấm đi gội đầu sạch sẽ, để cướp giỏ tôm cua về nhà trước. Chờ Tấm lên bờ thì trong giỏ chỉ còn mỗi con cá bống nhỏ xíu. Tấm bật khóc nức nở, thì ông Bụt hiện lên và dặn dò cô mang cá bống về nuôi.
Tấm nuôi cá trong cái giếng sau nhà. Hôm nào cũng mang cơm ra cho cá ăn, và hát bài hát riêng của mình thì bống mới ngoi lên. Ngờ đâu, mụ dì ghẻ độc ác đã rình mò và nghĩ ra kế xấu. Mụ ta lừa Tấm đi chăn trâu ở đồng xa, rồi ở nhà bắt chước Tấm gọi cá bống lên và ăn thịt. Ăn xong, mụ chôn xương cá ở góc bếp. Chờ đến lúc Tấm về nhà, mang cơm ra giếng, gọi bống lên thì chỉ còn cục máu đỏ tươi mà thôi. Buồn bã, Tấm bật khóc nức nở. Ông Bụt lại hiện lên, chỉ cho Tấm lấy nắm thóc cho gà ăn, để nó bới đất tìm xương cá bống cho. Rồi ông dặn Tấm chôn xương vào bốn chiếc bình, đặt ở chân giường.
Ít lâu sau, nhà vua mở hội tuyển vợ, con gái khắp nơi xúng xính váy áo để đi trảy hội. Tấm cũng hớn hở theo. Cô xin dì ghẻ cho được đi trảy hội. Ngờ đâu, bà ta bắt cô phải nhặt hết một đống đầy hạt gạo, hạt đỗ lẫn vào nhau xong mới được đi hội. Đau khổ, lần nữa Tấm lại òa khóc. Ông Bụt lại hiện lên lần nữa, gọi đàn chim sẻ đến giúp Tấm. Nhờ vậy, cô nhanh chóng hoàn thành xong công việc dì ghẻ giao. Nhưng bây giờ, cô lấy gì mặc để đi hội, khi cô chỉ toàn những bộ trang phục cũ rích? Thấy cô băn khoăn, ông Bụt bảo cô lấy những chiếc bình ở chân giường lên. Chao ôi, bên trong là bộ váy và đôi hài lộng lẫy. Mặc lên, Tấm đẹp như một nàng công chúa vậy.
Có váy áo, Tấm cảm ơn ông Bụt rồi hớn hở đến hội. Lúc đi qua sông, cô đánh rơi một bên giày xuống nước. Người đến hội đông quá, cô không sao xuống tìm giày được. Đúng lúc đó, voi của vua đi ngang qua, vướng chiếc giày nên mãi chẳng chịu đi. Vua cho lính xuống mò lên, ngắm đôi giày một lát, vua ra chỉ: Ai đi vừa chiếc giày ấy, sẽ được làm vợ vua. Biết bao cô gái đến thử vận may, nhưng chẳng ai vừa cả. Đến lượt Tấm, cô vừa đi thử là vừa ngay như in. Thế là Tấm trở thành hoàng hậu.
Tuy trở thành vợ vua, nhưng cô Tấm vẫn giữ nguyên những đức tính chăm chỉ ngày nào. Năm đó, đến giỗ cha, cô xin vua được trở về quê lo giỗ. Về nhà, cô tự tay mình chuẩn bị một mâm cũng tươm tất để thờ cha. Đến lúc sau, mụ dì ghẻ nhờ Tấm trèo lên cây hái buồng cau. Rồi nhân lúc cô ở trên cau thì chặt gốc, khiến cô ngã xuống ao rồi qua đời.
Nhờ phép lạ, Tấm không chết mà hóa thành vàng anh bay vào cung vua. Vua quý vàng anh lắm, đi đâu cũng mang theo. Điều này khiến Cám - kẻ mặc áo của Tấm vào cung để thay chị hầu vua ghen tức vô cùng. Nhân một hôm vua đi vắng, Cám bắt chim ăn thịt, rồi vứt lông chim ở góc vườn. Từ đống lông chim ấy, mọc lên một cây xoan cao lớn xum xuê lạ thường. Ở dưới bóng mát của cây, vua cảm thấy rất thoải mái, nên cho lính mắc võng dưới cây rồi thường xuyên ra đó nghỉ ngơi. Ghen tức với cây xoan, chờ vua đi tuần, Cám cho người chặt cây làm thành khung cửi. Nhưng mỗi lần Cám dệt vải, khung cửi lại kêu lên kẽo cà kẽo kẹt những tiếng chửi mắng đáng sợ khiến cô ta khiếp vía. Nên cô ta cho người đốt khung cửi thành tro, rồi đem ra đổ ở ngã tư thật xa cung vua.
Cám cứ tưởng thế là xong nên hả hê lắm. Ngờ đâu từ đống tro ấy, mọc lên một cây thị to lớn, rồi cây cho ra một quả thị duy nhất, tỏa hương thơm ngát. Có bà bán nước ở gốc cây thấy vậy đã xin cây cho lấy trái thị về nhà để ngửi, và hứa là không ăn quả. Thế là quả thị rớt vào bị của bà. Từ hôm đó, chờ bà cụ đi vắng, cô Tấm từ trong quả thị bước ra, giúp bà việc nhà, cơm nước. Bà cụ thấy lạ, nên rình xem và phát hiện ra cô. Bà đã ôm chầm lấy Tấm và xin được nhận cô làm con nuôi. Từ đó, hai người trở thành mẹ con của nhau.
Một hôm, nhà vua đi tuần về, nghỉ chân ở quán nước của bà cụ. Nhìn những miếng trầu cánh phượng hệt như vợ têm, vua liền mời người têm trầu ra gặp mặt. Khi nhìn thấy nhau, hai người mừng mừng tủi tủi, ôm chầm lấy nhau trọng hạnh phúc. Sau đó, Tấm theo vua về cung, chung sống hạnh phúc. Còn mẹ con Cám thì bị đuổi đi biệt xứ, không bao giờ trở về nữa. Thật xứng đáng cho hai kẻ độc ác.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 7
Đề thi
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
SA MẠC CỦA TUỔI THƠ (trích)
(Dương Thị Xuân Quý)
Xa thôn Hương đã mười năm, nhưng tôi vẫn không thể quên cái xóm nhỏ ấy: những mái nhà nhấp nhô ven sông Chu. Nước sông bốn mùa xanh biêng biếc... Dạo kháng chiến gia đình tôi tản cư đến, và tôi được ở đó nhiều năm.
Thôn Hương nằm gọn trong vòng ôm của con đê cao. Con đê như một đường thêu xanh, xuyên qua lũy tre và bãi dâu bát ngát. Thôn Hương còn có một dải cát mênh mông trồi lên cao, vượt khỏi bãi dâu và mặt đê. Đó là nơi tôi có nhiều kỷ niệm trong những ngày bé thơ. Về thôn Hương, đi từ phía nào lại, cũng nhìn thấy bãi cát đó. Trông xa, nó nổi lên như hòn đảo trắng, lóng lánh dưới nắng. Đến gần, mới nhận ra những cồn cát nhỏ mấp mô trên bãi sóng như làn sương.
Bọn trẻ con trong làng gọi bãi cát ấy là “sa mạc”. Vì tuy ở ven sông, nhưng bãi không hề đọng một giọt nước. Cả lúc ngập lụt, nó vẫn trơ trơ như hòn đảo khô không². Ngày nắng, cát nóng hầm hập như một cái chảo rang. Mùa hanh, từng cơn gió khô khan như chiếc chổi vô hình quét lên những cồn cát, làm cả vùng trời bụi mù mịt.
(Lược bớt một đoạn: Nhân vật “tôi” nhớ lại những kỷ niệm tuổi thơ cùng cô bạn tên Khếnh và các bạn chơi trò “mở chiến dịch tấn công” giành nhau từng cồn cát. Cứ vài năm, nước sông Chu lại dâng cao nhấn chìm bãi dâu của thôn, duy chỉ bãi “sa mạc” (bãi Nhiên) là nơi duy nhất không bị nước. Các cụ già trong thôn cứ ước ao giá trồng được dâu ở bãi Nhiên. Mùa hè năm nay, “tôi” có dịp trở lại thôn Hương liền nhận ra “sa mạc” năm xưa đã xanh mát những luống dâu, vồng khoai lang dây đỏ tía.)
Tôi đang đưa mắt tìm bạn bè cũ thì gặp Khếnh. Khếnh vừa đổ xong một sọt đất phù sa vào gốc dâu. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, cười nói líu tíu. Vẫn cái dáng thâm thấp, vẫn khuôn mặt bầu bĩnh với đôi mắt tròn trong suốt như thủy tinh ẩn dưới hàng mi dài và đôi lông mày cong cong. Vẫn thế, nhưng Khếnh lớn hơn nhiều, người to ra, béo lẳn. Vai tròn, bắp chân chắc nịch.
Có tiếng nói từ phía sau:
- Gớm, bà bí thư chi đoàn đón “đại biểu tham quan” thân mật quá.
Khếnh vừa cười vừa nói một câu pha trò, làm tôi chả hiểu gì sất³:
- Cái anh chàng “thợ giày” kia! Ai khảo mà xưng thế!
Rồi Khếnh phát mạnh vào vai tôi:
- Chà, cậu lớn khiếp! Sao bấy lâu không về chơi? Mẹ mình vẫn nhắc cậu. Bà cụ hồi này khỏe ra...
[...]
Nghe tôi nhắc lại cái tên “sa mạc”, Khếnh nheo mắt cười. Nụ cười như có ý bảo : “Mình vẫn còn nhớ những ngày ấy”... Rồi Khếnh vui vẻ trả lời:
- Dạo này thanh niên chúng tớ mở “chiến dịch 15 ngày” đắp phù sa thêm cho dâu đây mà. Cậu nhìn bãi dâu có thấy khoái không? Mới hai đợt “chiến dịch” thôi nhé.
- Hai đợt là thế nào? – Tôi đùa. – Ngày trước bọn mình cũng “mở chiến dịch” ở bãi “sa mạc”
này bao lần rồi còn gì!
Khếnh tròn mắt búng vào tai tôi mấy cái liền. Và thế là Khếnh lôi tôi vào bãi dâu. Vừa đi, Khếnh vừa liên tiếp nói:
- Ấy, bây giờ cũng vẫn bọn “nhóc” ngày xưa cả. Chỉ thiếu mấy cậu đi thoát ly, đi nghĩa vụ.
Còn tất cả chúng tớ đều bắt tay cải tạo bãi Nhiên này. Cậu biết không? Mới một năm thôi đấy. Đầu tiên chúng tớ đem cày xốc cát hai lần. Luống cát cao võng lên rãnh dài, sâu hút xuống như “giao thông hào” ngày bé của chúng mình ấy. Ừ, xong rồi gánh đất phù sa úp kín rãnh, cứ y như thợ bê tông đổ móng nhà. Sảo⁴ nọ liền sảo kia. Bùn đất quánh như sáp, khó đào lắm, nhưng cắm hom dâu xuống, dâu, chứ đá cũng phải nảy mầm. Chả mấy lâu, dâu xanh phơi phới, bốn tháng sau đã có dấu chân...
Giọng Khếnh sôi nổi. Niềm vui lớn xen cả vẻ tự hào lộ rõ trên nét mặt rạng rỡ, có làn môi chúm chím như đang cười.
(50 truyện ngắn chọn lọc, NXB Thanh niên, Hà Nội, 2004, tr. 371 - 376)
1 Sa mạc của tuổi thơ (nằm trong nền văn xuôi những năm 1960) thể hiện được công cuộc lao động, sản xuất của thanh niên, chủ yếu là phụ nữ nông thôn, đang góp phần xây dựng cuộc sống mới.
2 Khô khỏng: khô cứng, giòn, không còn chút hơi ẩm nào.
3 Sất (khẩu ngữ): từ biểu thị ý nhấn mạnh sự phủ định hoàn toàn.
4 Sảo: rổ nông lòng, nan to, mắt rất thưa.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể của đoạn trích trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra kiểu câu (xét theo mục đích nói) của câu văn sau: “Trông xa, nó nổi lên như hòn đảo trắng, lóng lánh dưới nắng.”.
Câu 3 (1,0 điểm). Theo đoạn trích, vì sao bọn trẻ con trong làng gọi bãi cát ở thôn Hương (bãi Nhiên) là “sa mạc”? Khếnh và nam nữ thanh niên trong thôn đã làm gì để “sa mạc” năm xưa giờ đây xanh mát những luống dâu, vồng khoai lang dây đỏ tía?
Câu 4 (1,0 điểm). Các chi tiết miêu tả ngoại hình Khếnh trong đoạn trích giúp em hiểu gì về nhân vật này?
Câu 5 (1,0 điểm). Hãy nêu bài học tâm đắc nhất em rút ra từ việc đọc đoạn trích trên và lí giải trong khoảng 3 - 5 câu văn.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích đặc điểm nhân vật Khếnh trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Thanh niên thôn Hương tiêu biểu cho những người khai hoang, cải tạo đất đai, đưa khoa học kĩ thuật vào đời sống sản xuất,... mang tới cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân miền Bắc lúc bấy giờ. Theo em, cần thay đổi hoàn cảnh để trở nên tốt hơn hay thay đổi bản thân để thích nghi với hoàn cảnh?
Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trả lời cho câu hỏi trên.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Chú ý lời của người kể chuyện
Lời giải chi tiết:
Ngôi kể thứ nhất.
Câu 2.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các kiểu câu phân loại theo mục đích nói
Lời giải chi tiết:
Xét theo mục đích nói, câu văn: “Trông xa, nó nổi lên như hòn đảo trắng, lóng lánh dưới nắng.” thuộc kiểu câu trần thuật (câu kể).
Câu 3.
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích và xác định lí do
Lời giải chi tiết:
- Theo đoạn trích, bọn trẻ con trong làng gọi bãi cát ở thôn Hương (bãi Nhiên) là “sa mạc” vì: tuy ở ven sông, nhưng bãi không hề đọng một giọt nước. Cả lúc ngập lụt, nó vẫn trơ trơ như hòn đảo khô không. Ngày nắng, cát nóng hầm hập như một cái chảo rang. Mùa hanh, từng cơn gió khô khan như chiếc chổi vô hình quét lên những cồn cát, làm cả vùng trời bụi mù mịt.
- Khếnh và nam nữ thanh niên trong thôn đã cải tạo bãi Nhiên (gánh đất phù sa úp kín các rãnh cát, gốc dâu) để “sa mạc” năm xưa giờ đây xanh mát những luống dâu, vồng khoai lang dây đỏ tía.
Câu 4.
Phương pháp:
Chú ý các chi tiết miêu tả ngoại hình Khếnh
Lời giải chi tiết:
Các chi tiết miêu tả ngoại hình Khếnh trong đoạn trích giúp em hiểu về nhân vật:
- Khếnh có nét trong sáng, đáng yêu, ... của một cô gái trẻ;
- Khếnh còn có nét khỏe khoắn, mạnh mẽ, vững vàng,... của người lao động
Câu 5.
Phương pháp:
Nêu được bài học tâm đắc cho bản thân.
Lí giải thuyết phục
Lời giải chi tiết:
Từ đoạn trích “Sa mạc của tuổi thơ”, em học được bài học về tinh thần lao động và ý chí cải tạo thiên nhiên. Con người có thể biến vùng đất khô cằn thành đồng ruộng xanh tốt nếu có niềm tin, đoàn kết và sự nỗ lực không ngừng. Bãi cát “sa mạc” năm xưa được phủ xanh là minh chứng cho sức mạnh của con người khi dám thay đổi và hành động. Bài học ấy nhắc em phải luôn kiên trì, chủ động trong cuộc sống để biến điều không thể thành có thể.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Giới thiệu nhân vật Khếnh trong đoạn trích “Sa mạc của tuổi thơ" (Dương Thị Xuân Quý), nêu khái quát ấn tượng về nhân vật.
- Chỉ ra được đặc điểm của nhân vật Khếnh dựa trên các bằng chứng trong đoạn trích (ngoại hình; hành động, cử chỉ; ngôn ngữ; ...); nhận xét, đánh giá về nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn; nêu ý nghĩa của hình tượng nhân vật;
- Đánh giá về nhân vật.
Lời giải chi tiết:
Trong đoạn trích của truyện ngắn "Sa mạc tuổi thơ", nhân vật Khểnh được tác giả miêu tả là một nhân vật tiêu biểu đại diện cho tầng lớp thanh niên khi hòa bình được lặp lại. Đầu tiên, Khểnh được miêu tả là một cô bé vui tính, hồn nhiên và có mối quan hệ mật thiết với tuổi thơ của tác giả. Trong hồi ức của nhân vật "tôi", Khểnh là một cô bạn đã chơi cùng từ bé gắn với trò chơi "mở chiến dịch" trên những cồn cát "sa mạc" đầy nắng gió. Lớn lên, khi nhân vật "tôi" đi xa về, Khểnh vẫn giữ được nét ngây thơ, hồn nhiên ấy. Tính cách ấy của nhân vật này được miêu tả qua những chi tiết như: "Chà, cậu lớn khiếp! Sao bấy lâu nay không về chơi" hay "Khềnh tròn mắt búng vào tai tôi mấy cái liền",... Tất cả những chi tiết trên đều cho thấy Khểnh là cô bạn dễ thương, luôn gìn giữ những kỉ niệm thuở nhỏ. Thứ hai, nhân vật Khểnh hiện lên với tinh thần trách nhiệm, đầy nhiệt huyết của thế hệ thanh niên. Cô bé ấy giờ đây không chỉ thay đổi về thể chất ("vai tròn, bắp chân chắc nịch") mà còn thay đổi về cả ý chí lẫn tinh thần lao động. Khểnh hiện đang cùng thanh niên tham gia phong trào cải tạo đất, biến bãi "sa mạc" khô cằn thành vùng dâu tươi tốt. Qua những chi tiết trên, có thể thấy nhân vật Khểnh là nhân vật tiêu biểu, đại diện cho thế hệ trẻ nông thôn sau chiến tranh với sự hồn nhiên, tình cảm, giàu tinh thần trách nhiệm và đầy sức sống. Tác giả đã khắc họa nên nhân vật bằng ngôn ngữ linh hoạt, lối văn sinh động cùng những câu từ đầy cảm xúc. Qua đó khiến người đọc cảm nhận được sức cháy, sức lửa của thế hệ trẻ trong chương mới của đất nước.
Câu 2.
Phương pháp:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận, nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Thân bài:
- Giải thích vấn đề
- Bàn luận:
+ Thể hiện quan điểm của người viết, có thể lựa chọn một trong hai ý
kiến hoặc kết hợp cả hai.
Gợi ý:
- Thay đổi hoàn cảnh để bản thân tốt hơn: “cải tạo” hoàn cảnh để phục vụ cuộc sống, sự phát triển, hạnh phúc,... của mình. Đây là cách giúp con người chiến thắng hoàn cảnh.
- Thay đổi bản thân để thích nghi với hoàn cảnh: giúp con người trở nên chủ động, tiến bộ hơn, tạo ra những giá trị tích cực trong cuộc sống. Việc đối mặt và thay đổi là cách để sống một cuộc đời ý nghĩa hơn.
+ Mở rộng, phản đề, đối thoại với ý kiến trái chiều
(HS nêu bằng chứng phù hợp)
* Kết bài: Khẳng định ý kiến về vấn đề, rút ra bài học cho bản thân.
Lưu ý: Thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
Lời giải chi tiết:
Trong cuộc sống, ai cũng mong muốn mình được sống trong hoàn cảnh thuận lợi, tốt đẹp. Tuy nhiên, khi đối diện với những khó khăn, mỗi người lại có lựa chọn khác nhau: thay đổi hoàn cảnh để tốt hơn hay thay đổi bản thân để thích nghi với hoàn cảnh. Theo em, cả hai đều cần thiết, nhưng thay đổi bản thân là điều quan trọng và thiết thực hơn.
Thay đổi hoàn cảnh nghĩa là con người nỗ lực cải tạo môi trường sống, biến cái khắc nghiệt thành thuận lợi hơn, như cách những thanh niên thôn Hương đã phủ xanh “sa mạc” bằng mồ hôi và sức lao động. Tuy nhiên, không phải hoàn cảnh nào cũng có thể thay đổi được. Khi đó, con người cần biết thích nghi, rèn luyện bản lĩnh và sự linh hoạt để tồn tại và phát triển. Thay đổi bản thân chính là cách ta làm chủ cuộc đời, không bị hoàn cảnh chi phối. Người biết tự điều chỉnh, học hỏi, thích nghi sẽ trưởng thành và mạnh mẽ hơn.
Thực tế cho thấy, những người thành công luôn là những người không ngại đối diện khó khăn, dám đổi mới mình để thích ứng với sự thay đổi của xã hội. Vì thế, thay đổi bản thân không chỉ giúp ta hòa nhập, mà còn giúp ta đủ sức tạo nên những thay đổi lớn lao cho hoàn cảnh xung quanh.
Tóm lại, muốn cuộc sống tốt đẹp hơn, con người cần vừa biết thích nghi, vừa không ngừng cải tạo môi trường sống. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là bắt đầu từ sự thay đổi chính mình — bởi khi ta tốt hơn, thế giới xung quanh cũng sẽ thay đổi theo.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 8
Đề thi
I. Đọc hiểu (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Lễ hội Hoa Lư: Hào khí một thuở vang vọng ngàn năm
Trong dòng chảy bất tận của thời gian, với bao thăng trầm của lịch sử, Lễ hội Hoa Lư vẫn còn đó vẹn nguyên giá trị trong kho tàng di sản văn hoá phi vật thể.
Bản sắc văn hoá được tôn vinh
(1) Lễ hội Hoa Lư năm 2025 diễn ra trong 3 ngày, từ ngày 9-11/3 âm lịch. Trong những ngày diễn ra Lễ hội, ước tính có hàng nghìn người dân, du khách thập phương cùng hội tụ về miền di sản để được đắm chìm trong không gian lễ hội linh thiêng. Người về trẩy hội được tham gia nhiều hoạt động lễ hội đặc sắc.
(2) Trong đó, phần lễ được tổ chức trang nghiêm với các nghi lễ truyền thống, tôn vinh, tri ân công đức các bậc tiên đế, tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước; thể hiện ước nguyện của Nhân dân cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi… thông qua các nghi thức: Lễ mở cửa đền, dâng hương, rước nước, rước kiệu, cầu siêu và các lễ hội hoa đăng, lễ tạ…
(3) Phần hội gồm các hoạt động văn hóa, thể thao, trò chơi dân gian như: Trưng bày, triển lãm, chọi gà, cờ người, biểu diễn trống hội, cồng chiêng; các giải thể thao, giải vật dân tộc…
(4) Các hoạt động này đã góp phần bảo tồn và phát huy truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc; quảng bá tiềm năng thế mạnh du lịch, văn hóa, thu hút du khách trong và ngoài nước về với Ninh Bình.
[…]
(5) Bà Trần Thị Đạt (thôn Yên Trạch, xã Trường Yên) chia sẻ: Xưa kia, Lễ hội Hoa Lư có tên là hội Trường Yên chỉ được tổ chức với quy mô cấp làng, cấp xã, song với những người dân Trường Yên và các vùng lân cận thì đó là một hoạt động tâm linh được chờ đợi nhất trong năm.
[…]
Hào khí Hoa Lư – động lực cho sự phát triển
(6) Trải qua bao biến thiên của lịch sử, cho đến ngày nay, Lễ hội Hoa Lư - tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể vẫn là hoạt động sinh hoạt văn hóa tinh thần độc đáo, đặc sắc riêng của người dân Cố đô Ninh Bình.
Thực hiện các yêu cầu sau
Câu 1 (0,5 điểm). Văn bản trên thuộc thể loại gì?
Câu 2 (0,5 điểm). Văn bản trên cung cấp thông tin gì?
Câu 3 (1,0 điểm). Xác định phần dẫn trong đoạn văn (5) và cho biết phần đó được dẫn theo cách trực tiếp hay gián tiếp?
Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích hiệu quả biểu đạt của phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản trên.
Câu 5 (1,0 điểm). Là người con của quê hương Ninh Bình, theo anh/chị, thế hệ trẻ cần làm gì để tri ân các vị tiên đế, các bậc tiền nhân đã có công với đất nước?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày ý nghĩa của việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
Câu 2 (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) phân tích chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn sau:
BÀ TÔI
(Tóm lược phần đầu: Do xích mích cùng con trai và con dâu, bà của Minh – nhân vật “tôi”, chuyển đến sống cùng người em của mình. Tình cờ nghe được cuộc trò chuyện của những người hàng xóm, “tôi” mới biết bà đang đi bán bỏng ở bến tàu)
Thì ra bà tôi lâu nay vẫn đi bán bỏng ngoài bến tàu. Khổ thân bà quá! Bà ơi, cháu thương bà lắm. Bà có nghe thấy tiếng cháu gọi thầm bà không? Lúc này bà làm gì, ở đâu? Sao bà không về với cháu đi bà!
Ôi, tôi như nhìn thấy bà tôi đang len lỏi đi dọc các toa tàu, giơ gói bỏng lên trước mặt hành khách nài nỉ: “Ông ơi, bà ơi mua bỏng giúp tôi đi!”. Nhưng con tàu vô tình cứ mang các hành khách chạy đi, để lại bà tôi tóc bạc, lưng còng, đứng chơ vơ giữa hai vệt đường ray… Chính tôi, tôi cũng vô tình như con tàu, tôi chẳng để ý gì đến bà tôi, tôi chỉ nghĩ đến những con quay, những quả bóng của tôi thôi! Nhiều lúc bà tôi đến chơi, mới ngồi với bà được một tí, tôi đã vội bỏ đi với những trò chơi của tôi rồi! Không, không thể để thế được. Tôi đã mười hai tuổi, lớn rồi, tôi cũng có quyền bàn chuyện nghiêm chỉnh với bố mẹ tôi chứ! Nghĩ rồi, tôi chạy ào xuống nhà. Tôi thấy mẹ tôi đang rửa bát, còn bố tôi đang xách nước lên.
- Bố mẹ ơi, - tôi gọi giục giã, - bố mẹ vào cả đây con có chuyện này muốn nói.
[…]
- … Bố mẹ ơi, bố mẹ có thương bà không?
- Sao tự nhiên con lại hỏi thế? - Bố tôi hỏi lại tôi. - Mà bà làm sao kia mà thương?
- Bà chẳng làm sao cả. Bà đi bán bỏng ở bến tàu ấy, người ta bảo thế. Bố mẹ có biết không?
- Biết, - bố tôi có vẻ lúng túng, - nhưng thế thì sao.
- Còn sao nữa! - Tôi nghẹn ngào - Bà già rồi. Sao bố lại để bà như thế? Khổ thân bà!
- Bố có bắt bà phải thế đâu, - mẹ tôi trả lời thay cho bố, - vì bà thích thế chứ.
- Thích ư? Con chắc là bà chẳng thích đâu. Đời nào bà lại thích đi bán bỏng hơn ở nhà với con, với bố mẹ. Bà yêu thương bố mẹ và con lắm kia mà. Ôi, con cứ nghĩ đến những ngày nắng, ngày rét mà bà thì già thế, bà sao chịu nổi, bà ốm rồi bà chết như bà Thìn bên cạnh ấy thì sao. - Nói đến đây tôi oà lên khóc. - Ước gì bây giờ con đã lớn để con nuôi được bà!
Bố mẹ lặng lẽ nhìn tôi rồi lại nhìn nhau. Bố tôi đặt một bàn tay lên vai tôi rồi nói:
- Thôi con nín đi. Bố hiểu rồi. Con nín đi con!
Tôi cảm thấy giọng bố tôi hơi run và bàn tay nóng ran của bố truyền hơi nóng sang vai tôi. Mẹ tôi cũng nghẹn ngào:
- Con nói đúng, bố mẹ có lỗi với bà. Con đi ngủ đi, sáng mai bố mẹ sẽ xuống Vĩnh Tuy đón bà về đây. Gia đình ta lại sum họp như trước…
(Trích Bà tôi, Những truyện hay viết cho thiếu nhi, Xuân Quỳnh, NXB Kim Đồng, 2024, tr. 56 - 65)
Chú thích
Xuân Quỳnh (1942 - 1988) tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh. Bà không chỉ là một nhà thơ trữ tình nổi tiếng của thơ ca Việt Nam hiện đại mà còn là cây bút có duyên trong những truyện ngắn viết cho thiếu nhi. Những thiên truyện của bà thường viết về tình người cao đẹp, vô cùng trong trẻo, thuần khiết, giàu giá trị nhân văn.
Truyện ngắn Bà tôi là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Xuân Quỳnh viết cho thiếu nhi, ca ngợi và tôn vinh những tình cảm đẹp đẽ mang tính nhân bản của con người.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Văn bản thông tin/ Văn bản thuyết minh
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, xác định thông tin chính được cung cấp
Lời giải chi tiết:
Văn bản trên cung cấp thông tin về Lễ hội Hoa Lư năm 2025, tỉnh Ninh Bình.
Câu 3.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại, xác định phần dẫn trong đoạn (5)
Lời giải chi tiết:
- Phần dẫn trong đoạn văn (5): Xưa kia, Lễ hội Hoa Lư có tên là hội Trường Yên chỉ được tổ chức với quy mô cấp làng, cấp xã, song với những người dân Trường Yên và các vùng lân cận thì đó là một hoạt động tâm linh được chờ đợi nhất trong năm.
- Phần đó được dẫn theo cách gián tiếp.
Câu 4.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về phương tiện phi ngôn ngữ
Lời giải chi tiết:
- Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh lễ rước nước trên sông Hoàng Long tại Lễ hội Hoa Lư.
- Hiệu quả biểu đạt:
+ Nhấn mạnh và làm nổi bật thông tin, giúp người đọc hình dung được không gian linh thiêng và trang nghiêm của một trong những nghi lễ truyền thống của Lễ hội Hoa Lư.
+ Tăng tính sinh động, hấp dẫn cho văn bản.
+ Thể hiện niềm tự hào, trân trọng và mong muốn lan toả, giữ gìn những nghi lễ truyền thống của tác giả.
Câu 5.
Phương pháp:
Những việc thế hệ trẻ cần làm để tri ân các vị tiên đế, các bậc tiền nhân đã có công với đất nước. Đây là câu hỏi mở, học sinh có thể đưa ra nhiều ý kiến khác nhau nhưng cần có sức thuyết phục, không vi phạm những chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
- Trân trọng, giữ gìn, phát huy truyền thống lịch sử của các vị tiên đế, các bậc tiền nhân.
- Tuyên truyền và quảng bá công lao to lớn của đức Đinh Tiên Hoàng Đế, các vị tiên đế, các bậc tiền nhân tới bạn bè trong nước và quốc tế.
- Tích cực học tập, tu dưỡng đạo đức, rèn luyện các kỹ năng để đóng góp công sức xây dựng và phát triển đất nước.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
- Hình thức: Một đoạn văn, thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, song song.
- Dung lượng: Khoảng 200 chữ.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
Lời giải chi tiết:
Việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc có ý nghĩa:
- Thể hiện tình yêu, niềm tự hào, tự tôn dân tộc;
- Mang đậm màu sắc riêng, nét đẹp riêng để không hòa lẫn với quốc gia, dân tộc khác;
- Lan tỏa những giá trị văn hóa tốt đẹp của quê hương, đất nước với mọi người và bạn bè thế giới;
- Góp phần tạo nên một cộng đồng đoàn kết, nhân ái, văn minh.
…
Câu 2:
Phương pháp:
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận văn học
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Bà tôi (Xuân Quỳnh).
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết
- Xác định được các ý chính của bài viết.
- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận
Lời giải chi tiết:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận: Giới thiệu về tác giả Xuân Quỳnh, tác phẩm Bà tôi và vấn đề nghị luận (chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của truyện).
* Triển khai vấn đề nghị luận: Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách khác nhau (phân tích theo 2 luận điểm lớn là chủ đề và đặc sắc nghệ thuật, phân tích lồng ghép nghệ thuật vào nội dung,…) có thể có những cảm nhận cá nhân không giống như đáp án, tuy nhiên cần có sức thuyết phục, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức và pháp luật, đảm bảo được các ý cơ bản sau:
- Chủ đề của truyện: Truyện ngắn Bà tôi thể hiện tình cảm gia đình giản dị mà thiêng liêng, sâu sắc; đề cao giá trị của tình thân, lòng hiếu thảo và trách nhiệm của mỗi người đối với những người thân trong gia đình.
Chủ đề ấy được thể hiện thông qua nhan đề, cốt truyện và hệ thống nhân vật trong truyện.
+ Nhan đề: Bà tôi ngắn gọn, có ý nghĩa khái quát nội dung chủ đề của tác phẩm. Bà tôi không chỉ là cách gọi bà thân thương mà còn chứa đựng ý nghĩa sâu sắc về tình cảm gia đình, lòng biết ơn, sự hiếu kính và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình đối với người bà.
+ Cốt truyện: Đơn giản, xoay quanh câu chuyện bà tôi đi bán bỏng ngoài bến tàu, khiến “tôi” lo lắng, thương bà, mong muốn bố mẹ đón bà về nhà để gia đình được sum họp bên nhau.
+ Chủ đề được thể hiện qua tình cảm, cảm xúc của “tôi” dành cho người bà.
++ Thương bà, xót xa khi biết bà đi bán bỏng ở bến tàu: “Thì ra bà tôi lâu nay vẫn đi bán bỏng ngoài bến tàu. Khổ thân bà quá! Bà ơi, cháu thương bà lắm; nghĩ đến những ngày nắng, ngày rét mà bà thì già thế, bà sao chịu nổi, bà ốm rồi bà chết như bà Thìn bên cạnh ấy thì sao.”.
++ Ăn năn, hối lỗi về sự vô tâm của mình trước kia: “Tôi cũng vô tình như con tàu, tôi chẳng để ý gì đến bà tôi,… Nhiều lúc bà tôi đến chơi, mới ngồi với bà được một tí, tôi đã vội bỏ đi với những trò chơi của tôi rồi!”.
++ Tình yêu thương bà lớn dần, thôi thúc “tôi” hành động và mong muốn làm điều tốt đẹp cho bà: Thẳng thắn nói chuyện với bố mẹ về tình cảnh hiện tại của bà “Bố mẹ ơi, bố mẹ có thương bà không? Bà đi bán bỏng ở bến tàu ấy. Sao bố lại để bà như thế? Khổ thân bà!”; thấu hiểu tình cảm của bà dành cho con cháu “Đời nào bà lại thích đi bán bỏng hơn ở nhà với con, với bố mẹ. Bà yêu thương bố mẹ và con lắm kia mà.”; muốn lớn khôn để chăm sóc cho bà “Ước gì bây giờ con đã lớn để con nuôi được bà!”
-> Tôi là người cháu ngoan ngoãn, hiếu thảo, vô cùng yêu thương bà.
+ Chủ đề của truyện được thể hiện qua sự thay đổi trong nhận thức và tình cảm của bố mẹ: Lời nói chân thành của “tôi” đánh thức cảm xúc và tình cảm trong lòng bố mẹ, bố mẹ đã có quyết định đúng đắn: “Con nói đúng, bố mẹ có lỗi với bà, sáng mai bố mẹ sẽ xuống Vĩnh Tuy đón bà về đây. Gia đình ta lại sum họp như trước.”
-> Bố mẹ “tôi” là người biết lắng nghe, thấu hiểu tình cảm gia đình là điều thiêng liêng, quý giá nhất.
- Đặc sắc nghệ thuật:
+ Nghệ thuật xây dựng cốt truyện, tình huống truyện: Đơn giản nhưng bất ngờ và giàu cảm xúc, tạo nút thắt, đẩy cảm xúc và mở ra cao trào, góp phần làm nổi bật chủ đề và sự thay đổi trong suy nghĩ, tình cảm của các nhân vật.
+ Ngôi kể: Ngôi kể thứ nhất phù hợp, tạo độ tin cậy đối với người đọc; giúp nhân vật dễ dàng bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc.
+ Ngôn ngữ, giọng kể: Giản dị, đối thoại tự nhiên, giàu tính kịch góp phần thể hiện rõ tâm lý nhân vật; giọng kể khi chậm rãi, nhẹ nhàng, khi hối hả gấp gáp, vừa thể hiện được tình cảm, cảm xúc của các nhân vật vừa giúp người đọc dễ dàng đồng cảm với nhân vật.
+ Chi tiết nghệ thuật tiêu biểu: Xây dựng được những chi tiết truyện hấp dẫn, góp phần làm nổi bật chủ đề.
+ Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật: Nhân vật chủ yếu được miêu tả qua cảm xúc, suy nghĩ, lời nói; qua đó bộc lộ tình cảm bà cháu sâu sắc, tạo sự xúc động nhẹ nhàng, thấm thía.
* Kết thúc vấn đề nghị luận: Đánh giá chung về chủ đề, đặc sắc về nghệ thuật của truyện; liên hệ, rút ra bài học/thông điệp có ý nghĩa với bản thân
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 9
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
SÔNG BẠCH ĐẰNG LỊCH SỬ
Sông Bạch Đằng là con sông nổi tiếng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt. Sông có “tên hiệu” là sông Vân Cừ và tên “dân dã” là sông Rừng. Người Quảng Yên trước đây từng lưu truyền câu “Con ơi, nhớ lấy lời cha / Gió nồm, nước rặc chớ qua sông Rừng” để nói lên sự hiểm yếu của con sông này.
Cha ông ta xưa kia hiểu rất rõ “thủy chế” của sông Bạch Đằng dưới tác động của thủy triều, nên đã vận dụng vào những trận chiến bảo vệ Tổ quốc, đánh đuổi kẻ thù ở nơi cửa ngõ này. Sông đã ba lần lập chiến công, là mồ chôn quân giặc từ phương Bắc tới.
1. Trận Bạch Đằng năm 938
Năm 938, vua Nam Hán là Lưu Nghiễm phong cho con là Lưu Hoằng Tháo thống lĩnh hai vạn quân, tiến vào cửa sông Bạch Đằng, đánh chiếm nước ta.
Ngô Quyền cho quân sĩ đóng cọc bịt sắt nhọn xuống lòng sông Bạch Đằng. Khi thủy triều lên, bãi cọc không bị lộ.
Quân Nam Hán tiến vào. Ngô Quyền ra lệnh cho quân rút lên thượng lưu. Đợi đến khi thủy triều xuống, quân ta đổ ra đánh. Nhiều thuyền chiến lớn của quân Nam Hán bị mắc cạn và bị cọc đâm thủng. Lúc ấy Ngô Quyền mới tung quân ra tấn công dữ dội. Quân Nam Hán thua chạy, Lưu Hoằng Tháo bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ.
2. Trận Bạch Đằng năm 981
Cuối năm 979, Đinh Tiên Hoàng và con là Đinh Liễn bị ám hại. Nhân khi Đại Cồ Việt có nội loạn, mùa thu năm 980, nhà Tống đem quân chia làm hai đạo tiến vào theo đường bộ và đường thủy. Cánh quân thủy do Hầu Nhân Bảo chỉ huy tiến vào cửa sông Bạch Đằng.
Ngày 28-4-981, trận quyết chiến diễn ra trên sông. Lê Hoàn cho một cánh quân ra khiêu chiến với Hầu Nhân Bảo, giả thua nhử quân địch đuổi theo. Khi đoàn chiến thuyền của Hầu Nhân Bảo lọt vào trận địa mai phục, Lê Hoàn tung quân từ khắp các ngả tấn công quân Tống. Hầu Nhân Bảo bị giết chết trong cuộc hỗn chiến. Đám tàn quân hoảng sợ vội tháo lui ra biển. Nghe tin thất trận, các đạo quân Tống hoảng sợ rút lui, bị quân Đại Cồ Việt truy kích tiêu diệt quá nửa.
3. Trận Bạch Đằng năm 1288
Năm 1287, nhà Nguyên mở cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ ba, nhưng chỉ chiếm được kinh thành Thăng Long không một bóng người. Đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ bị thủy quân Trần do Trần Khánh Dư chỉ huy đánh tan trong trận Vân Đồn. Trước tình thế bất lợi, quân Nguyên định tổ chức rút về Trung Quốc theo các hướng khác nhau.
Trần Hưng Đạo chỉ huy quân dân Đại Việt chuẩn bị trận địa mai phục trên sông Bạch Đằng. Các cây gỗ lim, gỗ táu đốn từ trên rừng được kéo về bến sông, tại đây cây được đẽo nhọn và cắm xuống lòng sông ở các cửa dẫn ra biển, chỉ để trống sông Đá Bạc cho quân Nguyên kéo vào.
Nhân lúc nước lớn, Ô Mã Nhi dẫn đoàn thuyền tiến vào sông Bạch Đằng. Thủy quân Trần tràn ra giao chiến, rồi giả thua chạy vào sâu bên trong. Ô Mã Nhi trúng kế thúc quân đuổi theo, tiến sâu vào khúc sông đã đóng cọc. Quân Trần đợi cho thủy triều xuống, nhất loạt quay thuyền lại đánh thẳng vào đội hình địch. Quân Nguyên hoảng loạn, bỏ thuyền lên bờ tìm đường chạy trốn, nhưng lại rơi vào ổ phục kích của quân Trần.
Hơn 4 vạn quân Nguyên bị loại khỏi vòng chiến, nhiều tướng Nguyên trong đó có Ô Mã Nhi bị bắt sống. Trận đại thắng trên sông Bạch Đằng của Trần Hưng Đạo được xem là trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, và là thắng lợi tiêu biểu nhất của Đại Việt trong ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông.
Gắn liền với những chiến thắng oanh liệt của dân tộc, sông Bạch Đằng xứng đáng được vinh danh trong bảng vàng lịch sử. Năm 1835, vua Minh Mạng cho đúc Cửu đỉnh đặt ở Thái Miếu trong kinh thành Huế. Nhà vua đã cho chạm chín dòng sông tiêu biểu của Việt Nam lên Cửu đỉnh, gồm các sông Bến Nghé, sông Hương, sông Gianh, sông Mã, sông Lô, Bạch Đằng, Thạch Hãn, sông Lam, sông Hồng. Trong đó sông Bạch Đằng được khắc lên Nghị đỉnh.
(Nguyễn Như Mai, Nguyễn Huy Thắng, Nguyễn Quốc Tín, “Dạt dào sông nước”, NXB Kim Đồng, 2015)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định chủ đề của văn bản?
Câu 2. Thông tin về các trận chiến trên sông Bạch Đằng được trình bày theo hình thức tổ chức nào?
Câu 3. Phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ trong câu văn sau:
“Nhà vua đã cho chạm chín dòng sông tiêu biểu của Việt Nam lên Cửu đỉnh, gồm các sông Bến Nghé, sông Hương, sông Gianh, sông Mã, sông Lô, Bạch Đằng, Thạch Hãn, sông Lam, sông Hồng. Trong đó sông Bạch Đằng được khắc lên Nghị đỉnh”.
Câu 4. Từ ngữ, câu văn sử dụng trong văn bản có đặc điểm gì nổi bật?
Câu 5. Em có nhận xét gì về thái độ, cảm xúc của tác giả thể hiện trong bài viết?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Từ văn bản đọc hiểu có thể thấy thấy tác giả không chỉ am hiểu lịch sử mà còn rất yêu quê hương đất nước. Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về giá trị của tình yêu quê hương.
Câu 2. Phân tích nhân vật người bố trong truyện ngắn sau:
BỐ TÔI
(Nguyễn Ngọc Thuần)
Tôi đi học dưới đồng bằng. Còn bố tôi, từ núi đồi hiểm trở, ông luôn dõi theo tôi.
Bao giờ cũng vậy, ông mặc chiếc áo kẻ ô phẳng phiu nhất, xuống núi vào cuối mỗi tuần. Ông rẽ vào bưu điện để nhận những lá thư tôi gửi. Lặng lẽ, ông vụng về mở nó ra. Ông xem từng con chữ, lấy tay chạm vào nó, rồi ép vào khuôn mặt đầy râu của ông. Rồi lặng lẽ như lúc mở ra, ông xếp nó lại, nhét vào bao thư. Ông ngồi trầm ngâm một lúc, khẽ mỉm cười rồi đi về núi.
Về đến nhà, ông nói với mẹ tôi: “Con mình vừa gửi thư về”. Mẹ tôi hỏi: “Thư đâu?”. Ông trao thư cho bà. Bà lại cẩn thận mở nó ra, khen: “Ôi, con mình viết chữ đẹp quá! Những chữ tròn, thật tròn, những cái móc thật bén. Chỉ tiếc là không biết nó viết gì. Sao ông không nhờ ai đó ở bưu điện đọc giùm?”. Ông nói: “Nó là con tôi, nó viết gì tôi biết cả.”. Rồi ông lấy lại thư, xếp vào trong tủ cùng những lá thư trước, những lá thư được bóc ra nhìn ngắm, chạm mặt rồi cất vào, không thiếu một lá, ngay cả những lá thư đầu tiên nét chữ còn non nớt.
Hôm nay là ngày đầu tiên tôi bước chân vào trường đại học. Một ngày khai trường đầu tiên không có bố. Bố tôi đã mất. Nhưng tôi biết bố sẽ đi cùng tôi trên những con đường mà tôi sẽ đi, suốt cả hành trình cuộc đời.
(Theo Nguyễn Ngọc Thuần, in trong “Bồi dưỡng học sinh vào lớp 6 môn Tiếng Việt”, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012)
Đáp án
PHẦN I.
Câu 1.
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra chủ đề
Lời giải chi tiết:
Chủ đề của văn bản là lịch sử của sông Bạch Đằng trong các trận chiến chống ngoại xâm của dân tộc Việt.
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc và xác định hình thức tổ chức của thông tin trận chiến
Lời giải chi tiết:
Thông tin về các trận chiến trên sông Bạch Đằng được trình bày theo hình thức:
- Liệt kê các trận chiến lịch sử.
- Trật tự thời gian từ trước tới sau.
Câu 3.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp liệt kê
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ liệt kê “sông Bến Nghé, sông Hương, sông Gianh, sông Mã, sông Lô, Bạch Đằng, Thạch Hãn, sông Lam, sông Hồng”
-> Làm cho lời văn sinh động, gợi hình, gợi cảm, tăng tính nhịp nhàng, cân đối. Thông qua đó nhằm nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử của các con sông, đặc biệt là sông Bạch Đằng. Đồng thời thể hiện niềm tự hào của tác giả trước những giá trị lịch sử của dân tộc
Câu 4.
Phương pháp:
Đọc và xác định nét đặc sắc của từ ngữ, câu văn
Lời giải chi tiết:
Từ ngữ và câu văn trong văn bản sử dụng ngôn ngữ trang trọng, lịch sự, và truyền cảm những cảm xúc ca ngợi, tôn vinh lịch sử và chiến công của dân tộc.
Câu 5.
Phương pháp:
Đọc và xác định cảm xúc, thái độc của tác giả
Lời giải chi tiết:
Tác giả thể hiện thái độ và cảm xúc tôn vinh, ca ngợi lịch sử và chiến công của dân tộc Việt trong việc chống ngoại xâm trên sông Bạch Đằng.
PHẦN II.
Câu 1.
Phương pháp:
Xác định vấn đề cần bàn luận
Liên hệ thực tế
Vận dụng thao tác lập luận, kĩ năng viết bài
Lời giải chi tiết:
– Giải thích vấn đề: sông bạch đằng lịch sử; đọc hiểu sông bạch đằng lịch sử
Tình yêu quê hương là tình cảm thiêng liêng cao quý được biểu hiện ở sự nặng lòng thương nhớ, gắn bó với nơi mình sinh ra và lớn lên
– Bàn luận về ý nghĩa, giá trị của tình yêu quê hương:
+ Tình yêu quê hương là cơ sở của lòng yêu nước
+ Tình yêu quê hương giúp cho con người luôn hướng về nguồn cội, tổ tiên vì thế nó có ý nghĩa tình thần to lớn khi giúp con người biết hiếu thảo, thành kính với tổ tiên, ông bà, cha mẹ.
+ Con người có tình yêu quê hương sẽ biết sống trách nhiệm hơn với cộng đồng, được mọi người tôn trọng và yêu quý.
+ Thiếu đi tình yêu quê hương con người sẽ trở thành kẻ mất gốc.
– Mở rộng vấn đề: sông bạch đằng lịch sử ; đọc hiểu sông bạch đằng lịch sử
+ Phê phán những kẻ thờ ơ, vô cảm thiếu trách nhiệm với quê hương
– Bài học: thấy được vai trò của quê hương đối với mỗi con người; vun đắp cho mình tình yêu quê hương; góp công xây dựng quê hương giàu đẹp.
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ nội dung văn bản
Xác định các chi tiết, hình ảnh miêu tả nhân vật bố
Vận dụng thao tác lập luận, phân tích
Lời giải chi tiết:
a) Mở bài
– Giới thiệu truyện ngắn “Bố tôi” của nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần.
– Nêu nội dung khái quát cần phân tích, đánh giá: Truyện đã xây dựng thành công hình ảnh người bố – một người đàn ông miền núi chất phác, hiền hậu, hết lòng yêu thương con, trân trọng tình cảm gia đình
b) Thân bài
* Khái quát nội dung, chủ đề của truyện:
- Truyện kể về người bố của nhân vật “tôi”. Ông ở vùng đồi núi hiểm trở, người con học ở dưới đồng bằng xa nhà. Ông dành cho con những tình yêu thương sâu sắc và luôn dõi theo con từng ngày. Mỗi khi nhận được thư của con gửi về, ông cảm thấy vô cùng hạnh phúc và luôn trân trọng những bức thư ấy vì theo ông nghĩ con viết thư về được là vẫn mạnh khỏe. Ngày con bước chân vào giảng đường đại học cũng là lúc người bố ra đi mãi mãi, đó là ngày khai trường đầu tiên mà nhân vật “tôi” không có bố đi cùng. Nhưng nhân vật “tôi” tin rằng bố sẽ theo mình suốt hành trình cuộc đời phía trước. Truyện ca ngợi tình yêu thương sâu nặng của người bố dành cho gia đình, con cái và tấm lòng biết ơn sâu nặng của người con dành cho người bố kính yêu. Đồng thời, truyện cũng gửi gắm lời nhắc nhở những người con phải biết thương yêu, kính trọng và biết ơn và sống hiếu thảo với bố mę của mình.
*Phân tích hình ảnh người bố trong truyện:
- Hình ảnh người cha miền núi nghèo, tần tảo, vất vả, một nắng hai sương làm nương rẫy ở trên vùng núi cao và không có điều kiện để đi học:
+ Còn bố tôi từ một vùng núi cao xa xôi.
+ Đi chân đất xuống núi.
+ Không biết chữ.
+ Cha con xa nhau chỉ có cách liên lạc là qua những bức thư.
+ Đối với người dân miền núi, nuôi con đi học xa nhà không phải là việc dễ dàng nhưng ông vẫn cố gắng hết mình lo cho con.
- Một người cha yêu con, tinh tế, thấu hiểu tâm tư tình cảm của con:
+ Một người cha luôn quan tâm, dõi theo con: Cuối mỗi tuần, bao giờ ông cũng mặc chiếc áo phẳng phiu nhất, đi chân đất xuống núi, rẽ vào bưu điện để nhận lá thư con gửi.
+ Một người cha trân trọng, nâng niu tất cả những gì thuộc về con: Rồi ông lấy lại lá thư, xếp vào trong tủ cùng những lá thư trước, những lá thư được bóc ra nhìn ngắm, chạm vào mặt rồi cất đi, không thiếu một lá, ngay cả những lá thư đầu tiên nét chữ còn non nớt
+ Một người cha tinh tế, thấu hiểu được những tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của con mình: Ông không biết chữ, không đọc được những dòng thư con viết những bằng trái tim giàu tình yêu thương, ông lại biết con muốn nói những gì, cảm nhận được tình yêu, nỗi nhớ nhà, nhớ người thân của con.
- Đặc sắc về hình thức nghệ nghệ thuật:
– Xây dựng nhân vật chủ yếu qua ngoại hình, hành động, lời nói.
– Cách kể chuyện bằng ngôi thứ nhất làm cho câu chuyện chân thực, sinh động, nhân vật dễ bộc lộ cảm xúc.
– Kết thúc bất ngờ để lại nhiều dư âm, cảm động trong lòng bạn đọc về tình phụ tử thiêng liêng, vĩnh cửu: Người bố mất, nhưng “tôi” biết chắc chắn, bố sẽ đi cùng tôi trên con đường mà tôi sẽ đi suốt cả cuộc đời.
– Cách đặt tên truyện thể hiện chủ đề tư tưởng của truyện.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 10
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
LẼ SỐNG CỦA THANH NIÊN, SINH VIÊN
(1) Đỉnh núi cao không dành cho những người hèn nhát và lười vận động, đỉnh tri thức không có chỗ cho kẻ chỉ rong chơi. Nếu không có sự miệt mài, tìm tòi khám phá và dốc lòng cho những đam mê thì làm sao có một Edison vĩ đại và bóng đèn chiếu sáng hôm nay. Đi đến tận cùng đam mê là điều không dễ, vì có lúc tuổi trẻ nóng vội, khao khát nhanh chóng thành công nên vội vàng đốt cháy giai đoạn khiến những dự định trở thành dang dở. Giữ được lửa nhiệt huyết trong tâm hồn và kiên trì trong ý nghĩ đúng là điều rất quan trọng. Nếu cháy bùng lên rồi vụt tắt thì đó chỉ là một ánh sao băng giữa thiên hà vô tận.
(2) Đừng sợ! Nỗi sợ hãi sẽ giết chết mọi manh nha của bao ý nghĩ táo bạo, và sợ hãi sẽ là ngục tù của trí tuệ. Khi cái đầu vẫn bị đóng khung trong giới hạn thì ý tưởng có chăng cũng chỉ dừng lại những cái đã có rồi. Tự do chỉ có được khi nắm được và dự báo được quy luật, ý tưởng tốt đẹp phải được nảy mầm từ những khát khao chính đáng, mọi mơ hồ cùng lắm là ánh trăng suông. Nếu mải miết trên đất liền và lo cuồng phong, bão tố thì làm sao Chiristopher Columbus có cuộc phiêu lưu để tìm ra châu Mĩ bao la?
(3) Đất mãi mãi là đất, rừng mãi mãi là rừng, biển cả bao la vẫn quanh năm sóng vỗ, phố xá vẫn quen từng bước chân về. Ta nghĩ gì và làm gì trên đất, ta nghĩ gì để rừng mãi xanh tươi, ta nghĩ gì để biển khơi không chỉ đem về tôm cá mà cả những vần thơ làm dịu mát tâm hồn? Vẫn là đất, vẫn là rừng, vẫn là biển cả, vẫn là phố xưa nhưng no ấm đủ đầy? Phải làm sao? Các bạn hãy dành nhiều thời gian để nghĩ về điều đó và ra tay vì năm tháng chẳng đợi chờ, tuổi xuân trôi qua nhanh lắm.
(Trích Những lời chia sẻ, Nguyễn Văn Minh, NXB Đại học Sư phạm, 2023, tr.239-240)
Trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1. (0,75 điểm). Xác định thể loại văn bản của đoạn trích trên.
Câu 2. (0,75 điểm). Chỉ ra luận đề của đoạn trích.
Câu 3. (0,75 điểm). Những câu hỏi tu từ được sử dụng trong đoạn văn (3) có tác dụng gì?
Câu 4. (0,75 điểm). Theo em, thế hệ trẻ cần làm gì để tạo dựng một cuộc sống no ấm đủ đầy cho bản thân và có đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng?
Câu 5. (1.0 điểm). Rút ra thông điệp có ý nghĩa nhất đối với em khi đọc đoạn trích.
II. VIẾT (6.0 điểm)
Viết bài văn phân tích nhân vật “tôi” trong văn bản sau:
VÌ YÊU THƯƠNG CẦN LAN TOẢ
(Tóm tắt phần lược bỏ: Thú chơi tem của “tôi” bắt đầu từ khi phát hiện ra trong nhà kho những con tem binh sĩ cổ của ông- một phần kỉ niệm thời chinh chiến của ông. Ông đã đồng ý cho “tôi” toàn bộ số tem cũ và dạy “tôi” cách sắp xếp tem).
(…) Tôi cẩn thận hơn, bớt làm bể bát, hỏng đồ hơn khi dần rèn cho mình tính cẩn thận nhờ chơi tem. Đôi khi, tem dính chặt tới mức để không rách một “răng” nào, tôi phải toát mồ hôi hột. Kiến thức xã hội của tôi cũng tăng đáng kể từ khi chơi tem. Tôi có thể kể vanh vách các danh lam thắng cảnh của các vùng, chịu tìm tòi đọc về các danh nhân mà tôi “gặp” trên tem.
Hoàng là cậu bạn chơi tem đầu tiên của tôi. Cậu đã “tặng” một bài học không hề có trong đầu tôi. Cu cậu mê tít mắt khi nhìn thấy bộ tem binh sĩ, tem thời chiến mộc mạc mà tôi thừa hưởng được từ ông. Trong khi đó tôi lại mê tít mắt những bộ tem cá, chim, du thuyền, đặc biệt là những bộ tem tàu vũ trụ đa sắc. Bố Hoàng từng là một du học sinh Nga nên những con tem nước ngoài trong bộ tem của cậu tôi chưa từng thấy bao giờ.
“Sẽ không có bất cứ ai có những bộ tem đẹp như thế này để đổi cho cậu.” - Hoàng gạ gẫm tôi đổi bộ tem du thuyền và chim bướm để lấy tem cổ... Trúng phóc tim đen, tôi hào hứng đổi luôn cả những con tem cổ để lấy số tem du thuyền, chim bướm. Số tem binh sĩ, tem có của tôi vơi đi hơn một nửa nhưng lòng phơi phới vì tin rằng mình đã rất “lời”.
Một thời gian sau, khi kinh nghiệm chơi tem dày dặn hơn một chút, tôi mới biết những con tem Hoàng đổi cho tôi là tem cắt từ trên báo chí. Hình như cậu đã phải tỉ mẩn dùng kim để đục từng răng tem. Nó thực chất chỉ là hình minh họa, không phải tem. Tôi không thể gặp lại Hoàng để bắt đền vì nhà Hoàng đã chuyển đi nơi khác sống.
Tôi vẫn cất cuốn sổ tem thời bé thơ như cất giữ một bài học đắt giá đầu tiên mà mình học được từ người bạn nhỏ. Có lần, lang thang Facebook, tôi kể lại câu chuyện này cho một nhóm bạn cùng sở thích chơi tem với tâm trạng rất buồn. Nhiều bạn hỏi địa chỉ vì muốn chuyển cho tôi vài con tem... an ủi.
Đã có hàng chục, và rồi là hàng trăm con tem binh sĩ, tem cổ được gửi tới tôi chỉ vài ngày sau đó. Có bạn còn gửi kèm một lá thư nắn nót dòng chữ “Xin lỗi” thay lời cậu nhóc năm xưa gửi tới tôi. Có bạn còn dặn, nếu thiếu con tem nào tôi từng mất, bạn sẽ tặng, để tôi không giữ nỗi buồn về tem nữa. Vì những con tem chắp cánh cho yêu thương bay xa nên hãy để tình thương lan tỏa, đừng để nỗi buồn lan tỏa.
Tôi đã tha thứ cho một người bạn, vì từ những người bạn mới, tôi hiểu được rằng thực ra nếu bạn giữ mãi lỗi lầm về ai đó, bạn sẽ rất nặng lòng. Vì thế tha thứ cũng là để làm mình hạnh phúc hơn.
(Trích Góc nhỏ yêu thương, Võ Thu Hương, NXB Kim Đồng, 2024, Tr.66-69,)
* Chú thích: Võ Thu Hương, một nhà văn trẻ quê ở Nghệ An, hiện đang sống ở TP. Hồ Chí Minh, là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Cô là tác giả của nhiều cuốn sách dành cho thiếu nhi. Tập sách Góc nhỏ yêu thương gồm những câu chuyện hướng thiếu nhi tới tình yêu thương, sự chia sẻ từ những điều bé nhỏ, gần gũi xung quanh.
Đáp án
PHẦN I
Câu 1.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Cách giải:
Nghị luận
Câu 2.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại, xác định luận đề
Cách giải:
Luận đề của đoạn trích: Bàn về lẽ sống của thanh niên, sinh viên
Câu 3.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về câu hỏi tu từ
Cách giải:
- Câu hỏi tu từ: Ta nghĩ gì và làm gì trên đất, ta nghĩ gì để rừng mãi xanh tươi, ta nghĩ gì để biển khơi không chỉ đem về tôm cá mà cả những vần thơ làm dịu mát tâm hồn? Vẫn là đất, vẫn là rừng, vẫn là biển cả, vẫn là phố xưa nhưng no ấm đủ đầy? Phải làm sao?
- Tác dụng:
+ Tạo nên nhịp điệu, lời nhắn gửi đầy thiết tha đến với thế hệ trẻ hãy suy nghĩ và hành động.
+ Nhấn mạnh để thành công ta không được lười biếng mà phải có suy nghĩ và hành động thiết thực để biến mọi khát khao thành hiện thực.
Câu 4.
Phương pháp:
Liên hệ thực tế
Cách giải:
Gợi ý:
- Có phương hướng, mục tiêu rõ ràng.
- Luôn phấn đấu, không chùn bước trước những khó khăn để đạt mục tiêu mình đã đề ra.
- Trau dồi tri thức….
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra thông điệp phù hợp
Cách giải:
+ Phải có bản lĩnh đương đầu với những khó khăn thử thách.
+ Phải có mục đích sống, có lý tưởng và có hướng đi đúng đắn.
+ Mỗi người cần phải làm chủ bản thân mình, có suy nghĩ tích cực, tự tin và luôn chịu khó học hỏi, tự xây dựng kỹ năng cho riêng mình.
…
PHẦN II
Phương pháp:
Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật “tôi” trong văn bản Vì yêu thương cần lan toả của tác giả Võ Thu Hương.
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức, bố cục của đoạn văn
b. Xác định đúng yêu cầu về nội dung: Phân tích đặc điểm của nhân vật “tôi” trong văn bản Vì yêu thương cần lan toả (tác giả Võ Thu Hương)
c. Viết được bài văn cảm nghĩ đảm bảo các yêu cầu:
- Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách để làm rõ tích đặc điểm của nhân vật “tôi”, bảo đảm hợp lí, thuyết phục, phù hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu truyện ngắn “Vì yêu thương cần lan toả” của Võ Thu Hương – một tác phẩm giàu tính nhân văn, hướng người đọc đến giá trị của tình yêu thương, sự sẻ chia và tha thứ.
Dẫn vào nhân vật trung tâm – nhân vật “tôi” – người kể chuyện, cũng là người trải nghiệm những cung bậc cảm xúc, bài học đáng nhớ của tuổi thơ.
2. Thân bài:
* Chủ đề: Yêu thương cần được chia sẻ và truyền tải để tạo nên sự kết nối mạnh mẽ giữa mọi người.
* Nhan đề: “Yêu thương cần lan toả” ngắn gọn mà giàu sức gợi, thể hiện sâu sắc thông điệp của truyện: hãy lan toả yêu thương từ những điều bình dị nhất để cuộc sống trở nên ý nghĩa và ấm áp hơn. Tình yêu thương, dù nhỏ bé, cũng có thể xoa dịu tổn thương, chữa lành trái tim và truyền đi những giá trị nhân văn
* Tóm tắt truyện”
Nhân vật “tôi” bắt đầu đam mê chơi tem sau khi tìm thấy bộ tem binh sĩ cũ của ông nội – kỷ vật thời chiến. Từ đó, “tôi” không chỉ rèn luyện tính cẩn thận mà còn mở rộng hiểu biết xã hội qua từng con tem. Trong quá trình chơi tem, “tôi” bị cậu bạn Hoàng lừa đổi bộ tem quý để lấy những con tem giả được cắt từ báo. Dù buồn và tiếc, “tôi” vẫn giữ lại cuốn sổ tem như một bài học tuổi thơ. Sau này, khi chia sẻ câu chuyện lên mạng xã hội, “tôi” bất ngờ nhận được sự an ủi và chia sẻ từ những người bạn yêu tem khác: họ gửi tặng tem, viết thư động viên, thậm chí có người “xin lỗi thay” cho Hoàng. Nhờ đó, “tôi” cảm nhận được sự ấm áp của tình người và học được cách tha thứ. Truyện gửi gắm thông điệp: hãy để tình thương lan tỏa, đừng để nỗi buồn lan tỏa.
* Luận điểm 1: Hoàn cảnh, sở thích và mối liên hệ với ông.
- “Tôi” bắt đầu đam mê chơi tem sau khi phát hiện bộ tem binh sĩ cổ trong nhà kho – kỷ vật thời chinh chiến của ông nội.
- Ông không chỉ tặng tem mà còn truyền lửa đam mê, hướng dẫn tỉ mỉ cách sắp xếp, bảo quản – thể hiện nhân vật “tôi” là người gắn bó tình cảm với gia đình, biết trân trọng quá khứ.
- Đây cũng là dấu mốc quan trọng cho hành trình trưởng thành của “tôi”.
* Luận điểm 2: Là người ham học hỏi, có tinh thần cầu tiến
- Qua thú chơi tem, “tôi” rèn được tính cẩn thận, kiên nhẫn:
- “Bớt làm bể bát, hỏng đồ”,
- “Toát mồ hôi” để gỡ tem không rách.
- Khả năng tự học, tự tìm hiểu: biết thêm nhiều kiến thức về địa danh, danh nhân, vũ trụ thông qua tem – cho thấy sự ham học, yêu khám phá, khả năng tự giáo dục bản thân.
* Luận điểm 3: Là người trong sáng, hồn nhiên nhưng dễ bị tổn thương
- Bị bạn Hoàng lừa đổi tem quý lấy tem giả (cắt từ báo), “tôi” vẫn vô tư nghĩ mình “lời to”.
- Khi phát hiện sự thật, không trách móc, chỉ giữ lại làm kỷ niệm – thể hiện tính cách trong sáng, không toan tính, không thù dai, mang vẻ đẹp ngây thơ đáng trân trọng của tuổi thơ.
* Luận điểm 4: Có đời sống nội tâm sâu sắc, biết trân trọng kỷ niệm và bài học cuộc sống
- Vẫn cất giữ cuốn sổ tem – không chỉ để nhớ tem mà để giữ lại một bài học tuổi thơ quý giá.
- Biết chia sẻ cảm xúc thật lên mạng xã hội – là người sống tình cảm, chân thành, mong tìm được sự đồng cảm.
* Luận điểm 5: Là người biết tha thứ, sống yêu thương và lan toả điều tốt đẹp
- Cảm động khi nhận được tem và thư từ bạn bè xa lạ – những người sẻ chia và “xin lỗi thay” cho Hoàng.
- Tha thứ cho người bạn năm xưa:
- Nhận ra sự tha thứ không chỉ là vì người khác mà còn để chính mình được nhẹ lòng, thanh thản.
- Đó là một sự trưởng thành đầy nhân văn: biết buông bỏ oán giận để sống tích cực hơn.
- “Tôi” trở thành người truyền cảm hứng sống tử tế, lan toả yêu thương đúng như thông điệp truyện truyền tải: “Đừng để nỗi buồn lan toả, hãy để tình thương lan toả”.
* Đánh giá nghệ thuật:
- Nghệ thuật kể chuyện từ góc nhìn trẻ thơ: Truyện được kể bằng ngôi nhất (“tôi”), với giọng điệu hồn nhiên, chân thật và cảm xúc, tạo nên sự gần gũi, dễ đồng cảm với người đọc – đặc biệt là lứa tuổi thiếu nhi. Việc tái hiện cảm xúc của một đứa trẻ khi lần đầu bị lừa, rồi dần trưởng thành và học được cách tha thứ được thể hiện nhẹ nhàng, không lên gân, rất tự nhiên.
- Kết cấu truyện đơn giản mà hiệu quả: Tác phẩm không có nhiều tình tiết gay cấn, mà đi theo mạch cảm xúc của nhân vật “tôi” – từ niềm vui sưu tầm tem, sự cả tin, hụt hẫng, rồi đến sự vỡ lẽ và cuối cùng là sự tha thứ, thanh thản. Cốt truyện tuyến tính, mạch lạc, phù hợp với đặc điểm truyện ngắn thiếu nhi.
- Chi tiết nghệ thuật tinh tế, giàu biểu cảm: Hình ảnh “lá thư với dòng chữ Xin lỗi” và những con tem được gửi đến không chỉ là hành động sẻ chia mà còn là biểu tượng của tình yêu thương lan tỏa – một cách thể hiện nghệ thuật đầy tính nhân văn.
- Ngôn ngữ mộc mạc, trong sáng: Võ Thu Hương sử dụng ngôn ngữ gần gũi, giản dị, nhưng vẫn gợi hình, gợi cảm.
- Tính giáo dục lồng ghép khéo léo: Không lên lớp hay khô cứng, bài học về sự cẩn thận, lòng bao dung, tha thứ, và lan tỏa yêu thương được truyền tải rất nhẹ nhàng qua hành trình cảm xúc của nhân vật. Đây chính là giá trị nhân văn sâu sắc được thể hiện bằng nghệ thuật kể chuyện giản dị mà giàu sức lay động.
→ “Yêu thương cần lan tỏa” là một truyện ngắn thiếu nhi giàu tính nghệ thuật: từ cách kể chuyện cảm xúc, xây dựng chi tiết tinh tế, đến thông điệp nhân văn sâu sắc. Võ Thu Hương đã sử dụng nghệ thuật kể chuyện giản dị để truyền đi một bài học lớn về lòng vị tha và sức mạnh của yêu thương – đúng như tên gọi của truyện.
3. Kết bài:
- Nhân vật “tôi” là hình ảnh đẹp của một tâm hồn trẻ thơ trong sáng, sống tình cảm, biết yêu thương và tha thứ.
- Qua hành trình cảm xúc của nhân vật, truyện ngắn truyền đi thông điệp sâu sắc:
- Yêu thương có thể xuất phát từ những điều nhỏ bé nhất.
- Sự tha thứ và lòng tốt có sức lan tỏa kỳ diệu, mang đến hạnh phúc cho chính bản thân và cộng đồng.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 11
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Mùa hè năm đó là mùa hè quê ngoại.
Cuối năm lớp chín, tôi học bù đầu, người xanh như tàu lá. Ngày nào mẹ tôi cũng mua bí đỏ về nấu canh cho tôi ăn. Mẹ bảo bí đỏ bổ óc, ăn vào học bài sẽ mau thuộc. Trước nay, tôi vốn thích món này. Bí đỏ nấu với đậu phộng thêm vài cọng rau om, ngon hết biết. Nhưng ngày nào cũng phải buộc ăn món đó, tôi đâm ngán. Hơn nữa, dù dạ dày tôi bấy giờ tuyền một màu đỏ, trí nhớ tôi vẫn chẳng khá lên chút nào. Tôi học trước quên sau, học sau quên trước. Vì vậy tôi phải học gấp đôi những đứa khác.
Tối, tôi thức khuya lơ khuya lắc. Sáng, tôi dậy từ lúc trời còn tờ mờ. Mắt tôi lúc nào cũng đỏ kè. Ba tôi bảo:
- Nhất định đầu thằng Chương bị hở một chỗ nào đó. Chữ nghĩa đổ vô bao nhiêu rớt ra bấy nhiêu. Thế nào sang năm cũng phải hàn lại.
Mẹ tôi khác ba tôi. Mẹ không phải là đàn ông. Mẹ không nỡ bông phèng trước thân hình còm nhom của tôi. Mẹ xích lại gần tôi, đưa tay nắn nắn khớp xương đang lồi ra trên vai tôi, bùi ngùi nói:
- Mày học hành cách sao mà càng ngày mày càng giống con mắm vậy Chương ơi !
Giọng mẹ tôi như một lời than. Tôi mỉm cười trấn an mẹ:
- Mẹ đừng lo! Qua kỳ thi này, con lại mập lên cho mẹ coi!
Không hiểu mẹ có tin lời tôi không mà tôi thấy mắt mẹ rưng rưng. Thấy mẹ buồn, tôi cũng buồn lây. Nhưng tôi chẳng biết cách nào an ủi mẹ. Tôi đành phải nín thở nuốt trọn một tô canh bí đỏ cho mẹ vui lòng.
Dù sao, công của tôi không phải là công cốc. Những ngày thức khuya dậy sớm đã không phản bội lại tôi. Kỳ thi cuối năm, tôi xếp hạng khá cao.
Ba tôi hào hứng thông báo:
- Sang năm ba sẽ mua cho con một chiếc xe đạp.
Mẹ tôi chẳng hứa hẹn gì. Mẹ chỉ “thưởng” tôi một cái cốc trên trán:
- Cha mày! Từ nay lo mà ăn ngủ cho lại sức nghe chưa!
Ba tôi vui. Mẹ tôi vui. Nhưng tôi mới là người vui nhất. Tôi đàng hoàng chia tay với những tô canh bí đỏ mà không sợ mẹ tôi thở dài. Dù sao thì cũng cảm ơn mày, cơn ác mộng của tao, nhưng bây giờ xin tạm biệt nhé! Tôi cúi đầu nói thầm với trái bí cuối cùng đang nằm lăn lóc trong góc bếp trước khi vung tay cốc cho nó một phát.
(Trích Hạ đỏ, Nguyễn Nhật Ánh, Nxb Trẻ, 2019)
Câu 1. Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ mấy? Ai là người kể chuyện?
Câu 2. Theo văn bản, vì sao nhân vật “tôi” phải học gấp đôi những đứa khác?
Câu 3. Trong đoạn văn sau câu nào là câu rút gọn? Việc sử dụng câu rút gọn trong đoạn văn đó có tác dụng gì?
“Nhất định đầu thằng Chương bị hở một chỗ nào đó. Chữ nghĩa đổ vô bao nhiêu rớt ra bấy nhiêu. Thế nào sang năm cũng phải hàn lại”.
Câu 4. Chi tiết “Thấy mẹ buồn, tôi cũng buồn lây. Nhưng tôi chẳng biết cách nào an ủi mẹ. Tôi đành phải nín thở nuốt trọn một tô canh bí đỏ cho mẹ vui lòng” cho thấy tình cảm gì của nhân vật “tôi” đối với người mẹ của mình?
Câu 5. Qua văn bản trên, em rút ra được những thông điệp gì?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Từ nội dung đoạn trích phần đọc - hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của em về nhân vật “tôi”.
Câu 2. (4,0 điểm)
Trong thời đại công nghệ 4.0, sự giao lưu, hội nhập giữa các nền văn hóa càng trở nên phổ biến. Một bộ phận giới trẻ chưa chú ý tới việc giữ gìn và bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Hãy viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của em để giải quyết vấn đề trên.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Chú ý lời của người kể chuyện
Cách giải:
- Ngôi kể thứ nhất
- Người kể: tôi (nhân vật Chương)
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Cách giải:
Việc nhân vật tôi phải học học gấp đôi những đứa khác vì: “Tôi học trước quên sau, học sau quên trước”
Câu 3.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về câu rút gọn
Cách giải:
- Câu rút gọn: Thế nào sang năm cũng phải hàn lại.
- Tác dụng: Làm cho câu ngắn gọn, thông tin dược nhanh, tránh lặp lại những từ ngữ đã lặp lại ở những câu trước.
Câu 4.
Phương pháp:
Dựa vào ngữ cảnh để xác định tình cảm của nhân vật “tôi”
Cách giải:
Chi tiết “Thấy mẹ buồn, tôi cũng buồn lây. Nhưng tôi chẳng biết cách nào an ủi mẹ. Tôi đành phải nín thở nuốt trọn một tô canh bí đỏ cho mẹ vui lòng” cho thấy tình cảm của nhân vật tôi đối với người mẹ của mình:
+ Sự yêu thương và quan tâm: Dù không biết cách nào để an ủi mẹ, nhân vật "tôi" vẫn cố gắng làm điều gì đó để mẹ vui lòng. Hành động nín thở nuốt trọn tô canh bí đỏ dù có thể không thích món ăn này cho thấy "tôi" rất yêu thương và quan tâm đến mẹ, luôn sẵn sàng làm bất cứ điều gì để mẹ được vui vẻ.
+ Lòng hiếu thảo: Nhân vật "tôi" muốn mẹ vui lòng và sẵn sàng làm những việc dù nhỏ bé nhưng có ý nghĩa để làm mẹ hạnh phúc. Điều này cho thấy lòng hiếu thảo của "tôi" đối với mẹ, luôn muốn đáp lại sự chăm sóc và tình yêu thương của mẹ bằng những hành động thiết thực.
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra thông điệp phù hợp
Cách giải:
Những thông điệp rút ra từ văn bản:
+ Dù có gặp khó khăn, sự kiên trì và nỗ lực sẽ giúp bạn vượt qua và đạt được thành quả xứng đáng.
+ Tình cảm gia đình là điểm tựa, là động lực tinh thần mạnh mẽ để mỗi người vượt qua những thử thách, chông gai trên đường đời.
+ Con cái phải biết yêu thương, quan tâm, biết ơn và hiếu thảo với cha mẹ.
PHẦN II.
Câu 1.
Phương pháp:
1.1. Yêu cầu chung:
Đảm bảo thể thức đoạn văn; hướng về chủ đề, suy nghĩ mới mẻ, diễn đạt trôi chảy bằng ngôn ngữ của mình, giàu chất văn chương, đảm bảo tính liên kết, không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
1.2. Yêu cầu cụ thể:
a) Đảm bảo thể thức đoạn văn: Học sinh trình bày đoạn văn hoàn chỉnh, có câu chủ đề, có các câu phát triển chủ đề.
b) Xác định đúng vấn đề: Tâm trạng của nhân vật “tôi””
Cách giải:
* Mở đoạn:
- Trong truyện ngắn “Hạ đỏ” của Nguyễn Nhật Ánh và đặc biệt là đoạn trích “Mùa năm đó ở quê ngoại….”, tác giả đã thể hiện thành công tâm trạng của nhân vật “tôi”. Trong bức tranh mùa hè ấy, tôi là một nhân vật có nhiều áp lực và lo lắng nhưng luôn kiên trì và nỗ lực.
* Thân đoạn:
- Chương là một cậu bé chịu nhiều áp lực vào mùa thi
+ Mặc dù mùa hè thường là thời gian của niềm vui và tự do, nhưng đối với tôi, nó biến thành một thử thách không nhỏ. Tôi cảm thấy căng thẳng và mệt mỏi khi phải học bù để đuổi kịp chương trình “tôi phải học gấp đôi những đứa khác.”, “Tối, tôi thức khuya lơ khuya lắc. Sáng, tôi dậy từ lúc trời còn tờ mờ. Mắt tôi lúc nào cũng đỏ kè”
+ Món canh bí đỏ, dù từng là một món ngon yêu thích, bây giờ lại trở thành nỗi ám ảnh “ngày nào cũng phải buộc ăn món đó, tôi đâm ngán”. Mỗi ngày, tôi phải chịu sức ép từ gia đình, đặc biệt là ba. Ba tôi bảo “Nhất định đầu thằng Chương bị hở một chỗ nào đó. Chữ nghĩa đổ vô bao nhiêu rớt ra bấy nhiêu”, nhưng mẹ lại là người hiểu và an ủi tôi “lại gần tôi, đưa tay nắn nắn khớp xương đang lồi ra trên vai tôi”. Dù vậy, tôi vẫn cảm thấy phải cố gắng hơn để không làm mẹ buồn “Tôi đành phải nín thở nuốt trọn một tô canh bí đỏ cho mẹ vui lòng.”
- Nhưng “tôi” là cậu học trò luôn bền bỉ, cố gắng và kiên trì trong học tập. Sau những nỗ lực không ngừng, tôi đã vượt qua kỳ thi và nhận được sự tự hào và ủng hộ từ gia đình bởi “Kỳ thi cuối năm, tôi xếp hạng khá cao.”.
- Cảm giác hạnh phúc và thoải mái khi được giải thoát khỏi áp lực và nỗi lo âu của ngày trước là điều không thể diễn tả “Ba tôi vui. Mẹ tôi vui. Nhưng tôi mới là người vui nhất”.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhân vật Chương được khắc hoạ thông qua việc miêu tả ngoại hình, hành động và tính cách…
* Kết đoạn: - Khẳng định lại vấn đề
- Liên hệ bản thân.
c) Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo, hấp dẫn.
d) Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, đặt câu.
Câu 2.
Phương pháp:
2.1. Yêu cầu chung
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về vấn đề cần giải quyết: Trong thời đại công nghệ 4.0, sự giao lưu, hội nhập giữa các nền văn hóa càng trở nên phổ biến. Một bộ phận giới trẻ chưa chú ý tới việc giữ gìn và bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
2.2. Yêu cầu cụ thể
a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận: Trình bày đầy đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Đảm bảo sự liên kết câu, liên kết đoạn.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trong thời đại công nghệ 4.0, một bộ phận giới trẻ chưa chú ý tới việc giữ gìn và bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Bài làm cần đảm bảo các nội dung cơ bản sau:
- Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu
Cách giải:
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận, sự cần thiết của vấn đề cần bàn luận.
2. Thân bài:
a. Giải thích vấn đề nghị luận
- Văn hóa truyền thống là những giá trị tinh thần được hình thành từ lâu đời, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó là những phong tục, tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, lối sống, cách ứng xử… của ông cha ta từ ngàn xưa. Những giá trị văn hóa đó đã tạo nên bản sắc riêng của mỗi dân tộc giúp chúng ta phân biệt được với các dân tộc khác trên thế giới.
b. Phân tích vấn đề
* Thực trạng
+ Trong thời đại 4.0 toàn cầu hóa, văn hóa truyền thống đang phải đối mặt với nguy cơ mai một và biến dạng. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống đang bị lãng quên, thay vào đó là sự du nhập của văn hóa ngoại lai. Một số phong tục tập quán tốt đẹp đang dần biến mất, các lễ hội truyền thống bị thương mại hóa, ngôn ngữ bị pha tạp...đặc biệt là ở các trung tâm đô thị.
+ Một số bạn trẻ lãng quên những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, chạy theo những thứ phù phiếm, xa hoa hay những danh lợi vật chất, sa đà vào mạng xã hội….
* Nguyên nhân
- Thực trạng trên xuất phát từ sự tác động của quá trình hội nhập và giao lưu văn hóa, sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội, sự thiếu quan tâm, hiểu biết của một bộ phận giới trẻ về văn hóa truyền thống, sự buông lỏng quản lý của một số cơ quan chức năng….
* Hậu quả
- Nếu không có biện pháp bảo vệ kịp thời, văn hóa truyền thống sẽ dần mai một, làm mất đi bản sắc dân tộc, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước. Giới trẻ sẽ đánh mất cội nguồn, thiếu đi những giá trị tinh thần để làm chỗ dựa trong cuộc sống…
Học sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp, triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách để làm rõ vấn đề nghị luận, bảo đảm hợp lí, thuyết phục, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
* Ý kiến trái chiều và phản bác
- Ý kiến trái chiều: Một số người cho rằng giữ gìn truyền thống văn hóa có từ xa xưa là lỗi thời, không phù hợp với xã hội hiện đại.
- Phản bác: Giữ gìn truyền thống không có nghĩa là chống lại hiện đại có thể bổ trợ cho nhau, tạo nên sức mạnh mới.
Bằng chứng: Nhiều di sản văn hóa được số hóa như tranh Đông Hồ và múa rối nước, được quảng bá rộng rãi trên toàn cầu.
* Đề xuất giải pháp khả thi và có tính thuyết phục:
- Giáo dục:
+ Đưa văn hóa dân gian vào chương trình học và tổ chức các buổi ngoại khóa minh chứng “ngày hội văn hóa dân gian” tại các trường học thu hút đông đảo học sinh tham gia.
+ Tích cực tìm hiểu, học hỏi và trân trọng các giá trị văn hóa truyền thống thông qua việc đọc sách, tham gia các hoạt động văn hóa, lễ hội truyền thống, tìm hiểu về lịch sử, phong tục tập quán của dân tộc.
- Ứng dụng công nghệ: số hóa các di sản văn hóa và quảng bá trên các mạng xã hội. Minh chứng: Nhiều video về văn hóa Việt Nam được đăng tải trên TikTok, Youtube thu hút nhiều triệu lượt xem…
- Khuyến khích sáng tạo: Tích hợp truyền thống và hiện đại để tạo ra các sản phẩm văn hóa phù hợp với giới trẻ.
Nhà nước: Ban hành chính sách bảo tồn và phát triển di sản văn hóa.
• Liên hệ bản thân: …..
Học sinh có thể đề xuất một hoặc nhiều giải pháp, trình bày theo nhiều hướng, bảo đảm hợp lí, thuyết phục, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
3. Kết bài: Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 12
Đề thi
PHẦN I. ĐỌC - HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
MỘT LẦN VÀ MÃI MÃI
(Trích)
Cứ trưa trưa, bọn trẻ chúng tôi lại rủ nhau tụ tập dưới tán những cây bàng ở giữa làng. Thằng Bá, một thằng mập ú, khôn ngoan và lanh lợi nhất trong bọn, đứng ra cầm đầu chúng tôi. Nó khinh khỉnh đưa mắt lướt qua để nhẩm đếm số lượng rồi phân chúng tôi ra làm hai nhóm. Xong đâu đấy, nó đưa hai ngón tay vào mồm huýt lên một hồi còi. Lập tức, chúng tôi xông vào cuộc quần nhau chí tử với quả bóng được bện bằng giẻ rách. Khi thấy chúng tôi mệt lử, thằng Bá lại đưa hai ngón tay vào mồm huýt lên một hồi còi nữa: ấy là hiệu lệnh cho nghỉ. Chúng tôi, đứa nào đứa nấy ngồi bệt xuống gốc cây bàng thở hổn hển. Một lúc sau, Bá lại đưa hai ngón tay vào mồm huýt lên một hồi còi nữa. Đó là lệnh bảo chúng tôi đến quán bà Bảy Nhiêu mua kẹo, mua đường "bồi dưỡng". Lập tức đứa nào đứa nấy đều thò tay vào túi lôi ra những tờ bạc tín phiếu(1) nát nhàu mà chúng tôi cạy cục xin mẹ rồi chạy ù đi...
Quán bà Bảy Nhiêu nằm gần một khu mả đá, được bao bọc bởi những hàng rào bàn chải. Đó là một cái chòi tranh rách nát như vậy. Trong chòi có đặt một cái bàn gỗ đã cũ, hai cái ghế băng cũng đã già nua như vậy, một cái đã hỏng mất một chân. Trên chiếc bàn gỗ có xếp mấy lọ kẹo, đường táng, những thứ mà bà con nông dân tự làm lấy.
Bà Bảy Nhiêu sống có một mình. Người trong làng không ai rõ chồng con bà đã mất từ lúc nào, mà cũng có thể là bà chưa hề có chồng con gì cả. Trước đây, mắt bà còn tinh nhưng độ
hai năm nay bà bị lòa. Người ta bảo nhà bà ở gần động cát quá, nên gió thổi cát vào mắt nhiều lần, lâu ngày mà nó vậy.
Chúng tôi nhao nhao:
- Bán cho con một đường, bà.
- Bán cho con hai viên kẹo bi, bà.
- Bán cho con một táng đường, một viên kẹo bi, bà.
Bà Bảy Nhiêu run run đưa bàn tay trái lên cầm tiền của chúng tôi, bỏ ngay vào cái cơi trầu bà đặt dưới bàn, tay phải quờ quờ lục vào các lọ lấy kẹo, đường cho từng đứa. Hầu như không bao giờ bà đếm tiền. Bà tin chúng tôi.
Trưa hôm đó, sau hiệu lệnh của thằng Bá, tôi cho tay vào túi. Những tờ bạc lẻ mà mẹ tôi cho đã biến đâu mất. Tôi ngần ngừ một lúc nhưng nỗi thèm ngọt đã khiến tôi lủi thủi theo sau các bạn mong được "ăn ghẹ" của một đứa nào đấy. Giữa đường, nghĩ xấu hổ, tôi quay lại... Sao mày không đi mua đường, mua kẹo? - Thằng Bá đi phía sau hỏi tôi.
- Tao không có tiền.
Bá cười sằng sặc:
- Chớ hồi giờ tao đâu có tiền mà vẫn mua được kẹo.
Tôi ngạc nhiên:
- Chớ lâu nay mày mua bằng thứ gì?
Bá không trả lời ngay. Nó kéo tôi sát lại gần nó, rút trong túi ra một tờ giấy đã viết, được cắt gọn gẽ như một tờ giấy bạc, nói thì thầm:
- Tao chuyên đưa bà Bảy những tờ giấy này. Bả mù, bả đâu có thấy - Nó ngừng một lát rồi tiếp - tao có ba tờ, tao cho mày một tờ. Mày đợi tụi nó mua xong, cuối cùng mình mới mua.
Tôi ngần ngại một lát nhưng cuối cùng cũng cầm tờ giấy lộn. Tôi có cảm giác khi cầm tờ "bạc giả" của tôi, mắt bà Bảy Nhiêu như có tia sáng lóe lên. Nhưng bà không nói gì, vẫn bỏ nó vào cơi trầu và đưa táng đường đen cho tôi.
Ngày hôm sau, sự việc vẫn lặp lại y như ngày hôm trước. Có điều, khi tôi và Bá đến quán thì không có chuyện mua bán xảy ra. Các bạn đến trước đều đứng tụm lại giữa quán nhìn sững vào trong nhà bà Bảy. Trong nhà có tiếng người lao xao. Một bác nông dân quen biết trong làng đang ngồi trước cửa vừa giở cơi trầu của bà Bảy ra đếm tiền, vừa nói vọng ra:
- Tụi bay về đi. Bà Bảy trúng gió chết hồi hôm rồi.
Chúng tôi sững sờ, đứng im không nhúc nhích. Bác nông dân lẩm bẩm điều gì đó rồi quay vô nhà nói với ai đó:
- Số tiền này vừa mua đủ một chiếc chiếu gói bả đấy - Im lặng một lúc rồi bác tiếp - Bả mù mà tinh thật. Bọn xỏ lá nào đưa giấy lộn cho bả, bả cũng nhận rồi gói riêng ra…
Tôi và Bá đứng như chôn chân xuống đất. Sống lưng lạnh buốt.
Từ đó đến nay đã bốn mươi năm trôi qua. Bạn bè của tôi không còn đủ đông như trước. Mấy chục năm chiến tranh đã xáo trộn chúng tôi. (…) Riêng tôi may mắn, được đi tập kết, được học hành để trở thành một nhà văn. Cứ mỗi lần về quê, tôi lại rủ Bá ra thăm mả bà Bảy Nhiêu. Cả hai đều đứng lặng, miệng lầm rầm cầu mong bà tha thứ... Trong đời, có những điều ta lầm lỡ, không bao giờ có dịp để sửa chữa được nữa.
(Thanh Quế, trích 65 truyện ngắn hay dành cho thiếu nhi)
Chú thích:
Bạc tín phiếu: tờ bạc dùng ở vùng tự do Khu V trong khángN chiến chống Pháp.
Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản.
Câu 2. Chỉ ra một phép liên kết hình thức được sử dụng trong đoạn văn in đậm của văn bản.
Câu 3. Em có nhận xét gì về nhân vật Bà Bảy trong văn bản?
Câu 4. Em hiểu như thế nào về câu văn “Trong đời, có những điều ta lầm lỡ, không bao giờ có dịp để sửa chữa được nữa”?
Câu 5. Những thông điệp được gợi ra từ văn bản trên là gì?
PHẦN II: VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nội dung, chủ đề đoạn trích truyện “Một lần và mãi mãi” đã dẫn ở phần đọc hiểu.
Câu 2: Trong thời kì hội nhập toàn cầu, giới trẻ đứng trước nhiều lựa chọn về cách sống và học tập. Theo em, nên “chủ động học hỏi để hòa nhập với thế giới” hay “giữ gìn bản sắc để không bị hòa tan”?
Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của em.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Chú ý lời của người kể chuyện
Cách giải:
Truyện được kể ở ngôi thứ nhất
Câu 2.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các phép liên kết trong câu
Cách giải:
- Phép lặp: lặp từ “chúng tôi”, “nó”
- Phép thế: từ “nó” thế cho “thằng Bá”
Câu 3.
Phương pháp:
Đọc và chú ý các chi tiết miêu tả nhân vật bà Bảy
Cách giải:
- Bà bảy là người phụ nữ có hoàn cảnh bất hạnh: sống một mình, mù lòa, chết vì trúng gió trong cô quạnh
- Bà Bảy là người có tấm lòng bao dung, nhân hậu:
+ Luôn tin tưởng vào bọn trẻ: không bao giờ đếm tiền
+ Dù biết bọn trẻ dùng giấy lộn để mua kẹo bà vẫn không vạch trần hay trách móc chúng
+ Bà là tấm gương về lối sống bao dung, nhân hậu
Câu 4.
Phương pháp:
Dựa vào ngữ cảnh để xác định
Cách giải:
Câu văn: “Trong đời, có những điều ta lầm lỡ, không bao giờ có dịp để sửa chữa được nữa” được hiểu là:
+ Trong cuộc đời, có những sai lầm dù có muốn nhưng cũng không
có cơ hội để sửa chữa khiến ta sống mãi trong sự hối hận, day dứt
+ Nhắc nhở mỗi chúng ta về lối sống trung thực, tử tế, không làm
người khác bị tổn thương, tránh những hành động sai lầm để không phải hối hận, day dứt khi không có cơ hội sửa chữa
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra thông điệp phù hợp
Cách giải:
- Giá trị của sự trung thực và lòng tin: Câu chuyện nhấn mạnh tầm quan trọng của sự trung thực trong các mối quan hệ giữa người với người
- Sự hối hận và lương tâm: lương tâm luôn là một phần quan trọng
trong mỗi con người và nó sẽ trỗi dậy khi chúng ta làm điều sai trái
- Sự tha thứ và lòng bao dung
- Những sai lầm không thể sửa chữa: có những hành động, dù nhỏ, cũng có thể gây ra hậu quả lớn và không thể nào bù đắp được
PHẦN II
Câu 1.
Phương pháp:
- Đảm bảo cấu trúc và dung lượng đoạn văn.
- Đảm bảo yêu cầu nội dung: Phân tích nội dung, chủ đề truyện
HS có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần đưa ra luận điểm chính xác, lập luận chặt chẽ, sử dụng bằng chứng thuyết phục.
Cách giải:
* Mở đoạn:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhận định khái quát về tác phẩm: câu
chuyện chứa đựng bài học quý giá trong cuộc sống.
* Thân đoạn: Phân tích nội dung, chủ đề của truyện:
- Nội dung của tác phẩm: Truyện xoay quanh kỷ niệm tuổi thơ của nhân vật "tôi" và bạn bè với bà Bảy Nhiêu- một người phụ nữ nghèo khổ, mù lòa, bán kẹo, bán đường cho bọn trẻ trong làng. Trong một lần vì đánh rơi mất tiền, không có tiền mua kẹo nên nhân vật “tôi” đã được Bá mách cho cách dùng giấy lộn để mua kẹo của bà Bảy. Vì nỗi thèm ngọt mà nhân vật “tôi” đã làm theo Bá. Bà Bảy dù nhận ra hành động của “tôi” và Bá nhưng vẫn bán kẹo cho chúng như không có chuyện gì. Khi “tôi” và Bá định lặp lại chuyện đó thì biết bà Bảy đã qua đời. Cả hai bàng hoàng, sững sờ. Để rồi 40 năm trôi qua, cứ mỗi lần về quê, “tôi” lại rủ Bá ra thăm mả bà Bảy Nhiêu cầu mong bà tha thứ...và rút ra một bài học sâu sắc: Trong đời, có những điều ta lầm lỡ, không bao giờ có dịp để sửa chữa được nữa.
- Chủ đề: Từ câu chuyện giản dị này, nhà văn thể hiện một cách tinh tế, chân thực sự ăn năn, hối hận của nhân vật “tôi” và Bá, tấm lòng bao dung, nhân hậu của nhân vật bà Bảy Nhiêu, từ đó đặt ra nhiều vấn đề đáng suy ngẫm về lỗi lầm, sự ân hận và lối sống tử tế trong cuộc sống.
- Các yếu tố nghệ thuật góp phần thể hiện chủ đề:
+ Ngôi kể thứ nhất.
+ Nhan đề.
+ Xây dựng tình huống truyện bất ngờ.
* Kết đoạn: Khẳng định lại chủ để và nêu thông điệp gợi ra từ chủ đề.
Câu 2.
Phương pháp:
a. Đảm bảo cấu trúc, dung lượng bài văn nghị luận.
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài
khái quát được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận thể hiện quan điểm, suy nghĩ: Kết hợp hài hòa hai yếu tố.
c. Triển khai vấn đề
HS có thể viết bài theo nhiều cách trên cơ sở kết hợp được lý lẽ và bằng chứng để tạo tính chặt chẽ, logic của quan điểm nêu ra, sau đây là một hướng giải quyết.
Cách giải:
I. Mở bài:
- Nêu vấn đề, trích dẫn câu hỏi. - Nêu quan điểm của bản thân: cần chủ động học hỏi để hòa nhập với
thế giới, song hành giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
II. Thân bài: Cần triển khai các ý:
1. Giải thích
- “Chủ động học hỏi để hòa nhập với thế giới”: Là tinh thần sẵn sàng tiếp cận cái mới, tiếp thu tri thức toàn cầu, trau dồi kỹ năng để thích nghi và phát triển trong môi trường quốc tế. -“Giữ gìn bản sắc để không bị hòa tan”: Là sự kiên định, trân trọng và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc như lòng yêu nước, tính trung thực, lối sống thủy chung, nghĩa tình…, không để bản thân đánh mất cội nguồn trong quá trình tiếp xúc với thế giới. -> Sự kết hợp giữa “chủ động học hỏi để hòa nhập thế giới “với”
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc” là lựa chọn tích cực và phù hợp nhất với giới trẻ trong thời đại toàn cầu hóa, giúp giới trẻ trở thành những công dân toàn cầu năng động, sáng tạo nhưng vẫn mang đậm bản sắc Việt Nam.
2. Bàn luận khẳng định.
a. Ý nghĩa của việc “chủ động học hỏi để hòa nhập với thế giới”:
+ Mở rộng được tầm nhìn, nâng cao kiến thức và hiểu biết về thế
giới.
+ Tiếp cận được những phương pháp học tập và làm việc hiệu quả.
+ Tăng cơ hội việc làm và phát triển sự nghiệp trong môi trường quốc tế.
+ Góp phần vào sự phát triển chung của đất nước thông qua việc ứng dụng những tiến bộ của thế giới.
+ Góp phần xây dựng thế hệ công dân toàn cầu năng động, góp phần đưa hình ảnh đất nước vươn xa. (Bằng chứng).
b. Ý nghĩa của việc “Giữ gìn bản sắc để không bị hòa tan”
- Bản sắc văn hóa dân tộc là những giá trị cốt lõi không thể thiếu của mỗi con người Việt Nam. Cần phải giữ gìn để truyền cho các thế hệ mai sau.
- Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là biểu hiện của lòng yêu nước, của lòng tự tôn dân tộc, khẳng định vị thế của dân tộc trên trường quốc tế.
- Giữ gìn văn hóa dân tộc giúp xây dựng tình đoàn kết, thúc đẩy sự cố gắng phát triển đất nước.
c. Mối quan hệ giữa hòa nhập và giữ gìn bản sắc.
- Không đối lập, mà cần bổ sung lẫn nhau.
- Hòa nhập mà không hòa tan: biết chọn lọc, tiếp thu cái hay cái đẹp, đồng thời giữ được những gì là tinh túy của dân tộc; tiếp thu cái mới, cái hiện đại trên nền tảng văn hóa dân tộc.
3. Phản bác ý kiến trái chiều
- Ý kiến trái chiều: Có người cho rằng việc gìn giữ bản sắc văn hóa là quan trọng nhất, còn việc chủ động học hỏi để hòa nhập với thế giới chỉ là điều thứ yếu.
- Phản biện:
+ Đây là ý kiến không đúng.
+ Nếu chỉ chăm chăm giữ gìn bản sắc mà không chủ động học hỏi
thì cũng giống như xây một tường thành kín mít, không đón được
ánh sáng mới. Dễ trở nên bảo thủ, lạc hậu, khó thích nghi với sự thay đổi liên tục của thế giới, thiếu kĩ năng toàn cầu, mất đi cơ hội phát triển bản thân và đóng góp cho đất nước.
+ Hòa nhập không có nghĩa là hòa tan – đó là sự tiếp thu có chọn lọc và bản lĩnh cá nhân sẽ giúp phân biệt rõ đâu là giá trị cần giữ, đâu là thứ nên thay đổi.
4. Bài học nhận thức, hành động.
- Nhận thức: Học sinh cần hiểu rằng hòa nhập là xu thế tất yếu của
thời đại, nhưng phải đi kèm với sự gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.
- Hành động:
+ Chủ động học ngoại ngữ, kỹ năng mềm, tìm hiểu, tiếp thu có chọn lọc văn hóa thế giới.
+ Đồng thời, trau dồi kiến thức về lịch sử - văn hóa Việt Nam, giữ
gìn tiếng Việt, tôn trọng truyền thống dân tộc...
III. Kết bài:
- Khẳng định lại tính đúng đắn của lựa chọn.
- Liên hệ bản thân
- Đưa ra thông điệp.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 13
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
ĐỀN NGỌC SƠN, CẦU THÊ HÚC - BIỂU TƯỢNG VĂN HOÁ ĐẤT THỦ ĐÔ
“... Cầu Thê Húc màu son, cong cong như con tôm, dẫn vào đền Ngọc Sơn. Mải đền lấp ló bên gốc đa già, rễ lá xum xuê ... ". Đó là những hình ảnh trong bài tập đọc lớp 1 có lẽ đã quá thân quen với bao lớp người Việt. Cứ như thế, hinh ảnh đền Ngoc Sơn, cầu The Húc chẳng biết tự bao giờ đã ăn sâu vào tiềm thức người Việt, đến nỗi, có khi chưa một lần đặt chân đến đất thủ đô, nhưng hễ nghe nhắc đến hồ Hoàn Kiếm, người ta lại thấy thấp thoáng đâu đỏ bóng chiếc cầu son, ngôi đền cổ ẩn hiện trong tâm hồn...”

(Hình ảnh về cầu Thê Húc và đền Ngọc Sơn)
Nét đẹp nên thơ của Đền Ngọc Sơn và cầu Thê Húc Tương truyền, trên hồ Tả Vọng (nay là Hoàn Kiếm) có gò đất cao, nơi các tiên nữ thường về đây ca hát. Xưa kia gọi đây là Ngọc Tượng Sơn, vua Lý Thái Tổ khi dời đô ra Thăng Long đặt tên cho ngôi chùa đã có tại đây là Ngọc Tượng. Do tồn tại lâu ngày, ngôi chùa bị sụp đổ. Đến thời Vĩnh Hựu nhà Lê (1735-1739), chúa Trịnh Giang đã cho dựng cung Thuỵ Khánh, đắp hai quả núi đất ở trên bờ phía đông đối diện với Ngọc Tượng gọi là núi Đào Tai và Ngọc Bội.
Cuối đời Lê, cung Thuỵ Khánh bị Lê Chiêu Thống phá huỷ. Một nhà từ thiện tên là Tín Trai đã lập ra một ngôi chùa gọi là chùa Ngọc Sơn trên nền cung Thuỵ Khánh cũ. Năm Thiệu Trị thứ ba (1843), một hội từ thiện đã bỏ gác chuông, xây lại các gian điện chính, các dãy phòng hai bên, đưa tượng Văn Xương Đế Quân - ngôi sao chủ việc văn chương khoa cử và đức Trần Hưng Đạo - vị anh hùng có công phá quân Nguyên thế kỷ 13 vào thờ, đổi tên là đền Ngọc Sơn. [...]
Nhắc đến đền Ngọc Sơn mà không nhắc đến cầu Thê Húc thì quả là một thiếu sót lớn. [...] Cầu Thê Húc (nghĩa là giữ lại ánh sáng đẹp của mặt trời) gồm 15 nhịp, có 32 chân cột gỗ tròn xếp thành 16 đôi, mặt cầu lát ván, thành sơn màu đỏ sẫm, chữ Thê Húc được thếp vàng. Xưa kia, cầu Thê Húc được sơn màu đỏ và làm bằng gỗ rất thô sơ. Tuy nhiên, sau sự cố gãy cầu năm 1952, thị trưởng Hà Nội lúc đó là Thẩm Hoàng Tín đã cho phá bỏ cây cầu cũ, xây dựng lại một cây cầu mới dựa trên bản thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Diệm. Cầu vẫn được thiết kế theo dáng vòng cung, nhưng có độ cong lớn hơn cây cầu cũ và vẫn giữ nguyên 16 hàng cọc. Tuy các dầm ngang và dọc đã được đúc bằng bê tông nhưng mặt cầu và thành cầu vẫn được làm bằng gỗ.
Ngày nay, cầu Thê Húc vẫn được người dân thủ đô xem là biểu tượng của mặt trời, sự sống và hạnh phúc không chỉ bởi sắc đỏ rực rỡ mà còn bởi cầu hướng về phía Đông, nơi mặt trời mọc để đón nhận toàn bộ sinh khi tươi sáng của một ngày mới. Cụm di tích đền Ngọc Sơn - cầu Thê Húc hiện nay được xem là một trong những điểm đến rất thu hút khách du lịch khi có dịp ghé thăm đất thủ đô Hà Nội, một không gian cổ kính, trầm mặc hương khói cho ta được thư thái, tĩnh tâm.
(Dẫn theo Đền Ngọc Sơn cầu Thê Húc - biểu tượng văn hoá đất thủ đô, bài đăng ngày 06/10/2019)
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định kiểu văn bản thông tin của đoạn trích trên.
Câu 2. (0,5 điểm) Đoạn trích trên sử dụng cách trình bày thông tin nào?
Câu 3. (1,0 điểm) Trình bày ý nghĩa nhan đề của đoạn trích.
Câu 4. (1,0 điểm) Hiệu quả của các phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 5. (1,0 điểm) Từ những hiểu biết về lịch sử và giá trị của cụm di tích đền Ngọc Sơn - cầu Thê Húc, theo em, chúng ta cần làm gì để quảng bá hình ảnh văn hoá dân tộc đến bạn bè quốc tế?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật bạn Ga-ro-nê trong đoạn trích sau:
Tóm tắt: Những tấm lòng cao cả là cuốn nhật kí của cậu bé En-ri-cô người Ý 11 tuổi, một học sinh lớp ba ở thành phố Tu-rin, nước Ý. Xuyên suốt năm học, En-ri-cô ghi lại những bức thư của bố, mẹ, những truyện đọc hàng tháng, những kỉ niệm sâu sắc, cảm động về thầy giáo, cô giáo, bạn bè tuổi thơ,... Trong lớp, En-ri-cô có những người bạn mang nhiều phẩm chất đáng quý như: Đề-rốt-xi thông minh và gương mẫu, Nê-li tật nguyền nhưng giàu nghị lực... và đoạn trích sau En-ri-cô kể về bạn Ga-ro-nê.
Chúng tôi chỉ được nghỉ có hai ngày, ấy thế mà tôi tưởng như đã trải qua một thời gian vô tận không được gặp Ga-ro-nê. Càng hiểu cậu, tôi càng yêu cậu; cả lớp tôi đều có thiện cảm với cậu, trừ những đứa độc ác, vì Ga-ro-nê chống lại những hành động độc ác của chúng; mỗi khi có một đứa lớn định trêu ghẹo hay hà hiếp một đứa bé, mà đứa bé gọi Ga-ro-nê đến thì đứa lớn kia buộc phải đứng yên ngay.
Bố Ga-ro-nê là thợ máy xe lửa. Vì bị ốm liền hai năm, nên Ga-ro-nê đi học hơi chậm. Nay cậu là người lớn và khoẻ nhất lớp; cậu có thể nhấc cái ghế dài chỉ một tay thôi... Khoẻ vậy, mà lại tốt nữa... Ai hỏi bất cứ cái gì: con dao, cây bút, cái tẩy, tờ giấy, cậu vui vẻ cho mượn hoặc cho hẳn ngay. I....] Thủ Bảy tuần trước, cậu đã cho một học sinh lớp Một hai xu, vì cậu này để ai lấy mất tiền, không có để mua cuốn vở. Giờ Ga-ro-nê đang bận viết một bức thư dài tâm trang trên một loại giấy có nền hoa to màu rực rỡ, để mừng sinh nhật của mẹ. Bà mẹ của Ga-ro-nễ, một người cao, béo, rất dễ mến, thường hay đến trường đón con. Thầy giáo nhìn Ga- ro-nệ vẻ hiền từ và mỗi khi đến gần thầy lại tát yêu vào má cậu. Tất nhiên, tôi yêu bạn Ga-ro- nê lắm! Tôi rất vui thích được nắm chặt bàn tay to tướng của cậu trong tay mình. Tôi tin chắc rằng cậu sẽ không ngại liều mình để cứu một người, cậu sẽ đem hết sức mình để che chở cho bạn: cứ nhìn vào đôi mắt của Ga-ro-nê thì thấy rõ điều đó! Giọng nói của cậu tuy hơi cộc, nhưng người ta cảm thấy rằng đó là tiếng vọng của một tấm lòng cao thượng và hào hiệp.
(Ét-môn-đô đơ A-mi-xi, Bạn Ga-ro-nê của tôi, trích Những tâm lòng cao cả, Hoàng Thiếu Sơn dịch, NXB Văn học, Hà Nội, 2016, tr. 41 - 42)
Câu 2. (4,0 điểm). Mỗi khi tan học, cảnh tượng học sinh tụ tập xung quanh những xe đẩy bán đồ ăn vặt tại cổng trường trở nên quen thuộc. Những món như xúc xích chiên, bánh tráng trộn, khoai tây lắc, hay những ly nước giải khát đủ màu sắc thu hút các em học sinh [...] Thời gian qua đã có nhiều vụ việc học sinh bị ngộ độc do ăn quà vặt trước cổng trường làm ảnh hưởng đến sức khoẻ tinh thần của học sinh, gây lo lắng cho gia đình, thầy cô giáo và ảnh hưởng đến an toàn, an ninh xã hội.
(Dẫn theo Phương Anh, bài đăng ngày 31/10/2024, báo Thanh tra- Cơ quan ngôn luận của Thanh tra chính phủ và Ngành Thanh tra)
Từ thực trạng được phản ánh trong đoạn trích trên, em hãy viết bài văn nghị luận trình bày ý kiến của mình về vấn đề cần giải quyết: nhiều học sinh ăn quà vặt không rõ nguồn gốc, thiếu an toàn thực phẩm tại cổng trường.
Đáp án
PHẦN I
Câu 1.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Cách giải:
Kiểu văn bản thông tin của đoạn trích: Văn bản thông tin giới thiệu về di tích lịch sử.
Câu 2.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Cách giải:
Đoạn trích trên sử dụng cách trình bày thông tin: Theo các đối tượng phân loại.
Câu 3.
Phương pháp:
Liên hệ với nội dung
Cách giải:
- Nhan đề đoạn trích: Đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc - biểu tượng văn hoa đất
- Ý nghĩa của nhan đề:
+ Với hình thức câu văn dài, được in hoa, in đậm, đặt ngay đầu văn bản đã gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc.
=>Nhan đề đã cung cấp thông tin về đối tượng được giới thiệu trong đoạn trích Là: di tích lịch sử Đền Ngọc Sơn, Cầu Thê Húc.
+ Nhan đề cũng cung cấp thông tin: Đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc là biểu tượng văn hoá của thủ đô Hà Nội. Đây là thông tin cơ bản, quan trọng của đoạn trích. Từ đó nhan đề giúp làm nổi bật các thông tin chính trong đoạn
trích.
+) Giúp người đọc dễ dàng theo dõi được thông tin chính qua nhan đề.
+ Tạo nên sự hấp dẫn và tò mò, khuyến khích người đọc tìm hiểu thêm về di tích lịch sử Đền Ngọc Sơn, Cầu Thê Húc được nói đến trong đoạn trích. + Thể hiện sự hiểu biết của tác giả về đối tượng.
Câu 4.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về phương tiện phi ngôn ngữ
Cách giải:
- Các phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích:
+ Hình ảnh: Nét đẹp nên thơ của Đền Ngọc Sơn và Cầu Thê Húc.
+ Số liệu: 1735-1739, Năm Thiệu Trị thứ ba (1843), thế kỷ 13, 15 nhịp, 32 chân cột gỗ tròn xếp thành 16 đôi, năm 1952, 16 hàng cọc.
- Hiệu quả của các phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích: + Hình ảnh giúp đoạn trích trở nên trở nên trực quan, sinh động, hấp dẫn, thu hút sự chú ý, kích thích sự khám phá của người đọc.
+ Hình ảnh cũng góp phần minh họa cho thông tin về đền Ngọc Sơn và cầu Thê Húc.
+ Số liệu (về lịch sử, đặc điểm kiến trúc của di tích) giúp cho thông tin trong đoạn trích trở nên chi tiết, chính xác, rõ ràng. Từ đó đoạn trích thêm tin cậy, thuyết phục, làm nổi bật những thông tin quan trọng.
+ Các phương tiện phi ngôn ngữ giúp người đọc dễ hiểu, dễ nhớ, tiếp nhận thông tin nhanh chóng và chính xác hơn từ đó truyền tải thông tin hiệu quả hơn.
+ Thể hiện sự hiểu biết tường tận của tác giả về Đền Ngọc Sơn và Cầu Thê Húc.
Câu 5.
Phương pháp:
Hs nêu những việc làm phù hợp để quảng bá hình ảnh văn hoá dân tộc đến bạn bè quốc tế.
Cách giải:
Gợi ý:
- Bảo tồn và trùng tu các di tích văn hóa, đảm bảo giữ nguyên kiến trúc, cảnh quan và giá trị lịch sử.
- Thiết kế các tour du lịch trải nghiệm kết hợp thuyết minh bằng nhiều ngôn ngữ.
- Ứng dụng công nghệ số: tạo video, mô hình 3D, tour du lịch thực tế ảo về
các di tích văn hoá.
- Xây dựng phim tài liệu, phóng sự, ấn phẩm truyền thông giới thiệu về lịch sử và giá trị của di tích. Tổ chức các sự kiện giao lưu văn hoá, triển lãm ảnh, tuần lễ văn hóa Việt Nam ở nước ngoài.
- Đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên du lịch có khả năng giao tiếp tốt với người nước ngoài và hiểu sâu về di sản.
- Sử dụng mạng xã hội và nền tảng số (YouTube, TikTok, Instagram...) để lan toả hình ảnh văn hoá Việt.
- Lồng ghép nội dung về di sản văn hóa vào các môn học và hoạt động ngoại khóa trong trường học.
- Khuyến khích học sinh, sinh viên làm các sản phẩm sáng tạo (clip, bài viết, bản đồ du lịch...) bằng tiếng Anh để giới thiệu văn hóa Việt.
- Hợp tác với các tổ chức văn hóa quốc tế để đưa di sản Việt Nam ra thế giới.
PHẦN II
Câu 1.
Phương pháp:
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức, bố cục của đoạn văn
b. Xác định dùng yêu cầu về nội dung: Phân tích nhân vật bạn Ga-ro-nê trong đoạn trích Những tấm lòng cao cả của Ét-môn-đô đo A-mi-xi.
c. Viết được đoạn văn cảm nghĩ đảm bảo các yêu cầu:
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách để làm rõ đặc điểm của nhân vật Ga-ro-nê, bảo đảm hợp lí, thuyết phục, phù hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật.
Cách giải:
- Mở đoạn: Giới thiệu nhan đề, tác giả và nêu nhận xét, đánh giá chung về nhân vật.
- Thân đoạn:
+ Phân tích đặc điểm của nhân vật Ga- ro- nê: Ga-ro-nê là một người bạn dũng cảm, chính trực; là người có tấm lòng nhân hậu, giàu tình cảm; là người con hiểu thảo, sống tình cảm; được mọi người yêu quý,...
+ Phân tích qua các phương diện: ngoại hình, hành động, lời nói, cử chỉ, hành động, mối quan hệ với các nhân vật khác....
+ Đặc điểm của nhân vật góp phần làm rõ nội dung chủ đề của truyện: Ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất cao thượng và lòng nhân ái, sự dũng cảm, tố bụng, luôn sẵn sàng giúp đỡ và bảo vệ người khác.
- Kết đoạn: Đánh giá khái quát về nhân vật, liên hệ, rút ra bài học...
Câu 2.
Phương pháp:
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận xã hội:
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Tình trạng nhiều học sinh ăn quả vật không rõ nguồn gốc, thiếu an toàn thực phẩm tại cổng trường.
c. Viết được bài văn nghị luận bảo đảm các yêu cầu
Cách giải:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
* Thân bài:
- Giải thích vấn đề nghị luận
- Bàn luận:
+ Thực trạng: Hiện nay, tại nhiều trường học, đặc biệt là vào giờ tan học, cổ thể dễ dàng quan sát thấy nhiều học sinh tụ tập đông trước cổng trường để mua đồ ăn vật. Các loại quà vặt phổ biến như: xúc xích chiên, bánh tráng trộn, cá viên chiến, trà sữa pha sẵn, nước sirô đá bào, các loại kẹo lạ mắt, bim bim... thường được bày bán ở các xe đẩy, quầy hàng rong ven đường. Nhiều món ăn không có bao bì đóng gói, không ghi rõ nhà sản xuất, hạn sử dụng. Nguyên liệu chế biến như bánh tráng, nước sốt, các loại xiên que... thường được đựng trong túi nilon hoặc hộp nhựa sơ sài, không có nhãn mác hay thông tin xuất xứ. Người bán không đảm bảo quy trình bảo quản thực phẩm đúng cách (ví dụ: để thực phẩm ngoài trời hàng giờ liền, không có dụng cụ che chắn khỏi bụi bẩn, ruồi nhặng...).
Nhiều món đồ ăn vặt thiếu an toàn thực phẩm bởi món ăn được chiên bằng | dầu đã qua sử dụng nhiều lần, dụng cụ chế biến không được vệ sinh sạch sẽ -à Một số trường hợp ghi nhận học sinh bị đau bụng, buồn nôn hoặc tiêu chảy | sau khi ăn các món ăn vặt này, cho thấy nguy cơ ngộ độc thực phẩm là có thật.
+ Nguyên nhân:
/ Thói quen và tâm lý thích ăn quà vặt của học sinh
Học sinh, đặc biệt là lứa tuổi tiểu học và trung học cơ sở, thường có tâm lý tò mò, thích khám phá, bị hấp dẫn bởi màu sắc, hương vị và cách trình bày bắt mắt của các món ăn vặt. Việc ăn quà vặt cũng trở thành một thói quen hoặc hoạt động mang tính “giải trí” sau giờ học.
/ Thiếu hiểu biết về an toàn thực phẩm
Nhiều học sinh chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về tác hại của thực | phẩm không rõ nguồn gốc, chưa phân biệt được thế nào là thực phẩm an toàn, chưa có kỹ năng lựa chọn món ăn phù hợp và đảm bảo sức khỏe.
/ Sự buông lỏng trong quản lý khu vực quanh trường học
Một số địa phương chưa có biện pháp quản lý hiệu quả hoạt động buôn bán quanh cổng trường. Các hàng rong tự phát, xe đẩy bán đồ ăn không đảm bảo vệ sinh vẫn hoạt động công khai mà chưa bị kiểm tra, xử lý kịp thời.
/ Sự buông lỏng từ phía phụ huynh và nhà trường
Một số phụ huynh vì bận rộn hoặc chủ quan đã không theo dõi, nhắc nhở con em về việc ăn uống. Nhà trường đôi khi chưa thường xuyên tuyên | truyền hoặc chưa phối hợp chặt chẽ với lực lượng chức năng để ngăn chặn các hoạt động kinh doanh không đảm bảo an toàn thực phẩm trước cổng trường.
/ Giá rẻ và tiện lợi
Các món ăn vặt thường có giá rất rẻ, phù hợp với túi tiền của học sinh. Việc mua cũng dễ dàng, không tổn nhiều thời gian nên càng khiến học sinh ưa chuộng.
+ Hậu quả:
/Ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe học sinh: Nguy cơ ngộ độc thực phẩm: | Ăn phải đồ ăn kém vệ sinh, chế biến bằng nguyên liệu ôi thiu, dùng dầu chiến đi chiên lại... có thể gây đau bụng, nôn ói, tiêu chảy, thậm chí phải nhập viện; Dễ mắc các bệnh đường tiêu hóa: Thực phẩm bẩn, không che đậy cẩn thận rất dễ bị nhiễm vi khuẩn, vi sinh vật có hại, gây ra các bệnh về dạ dày, ruột, giun sán; Tích tụ chất độc lâu dài trong cơ thể. Các loại phẩm màu, hương liệu, chất bảo quản công nghiệp không rõ nguồn gốc có thể gây tổn thương gan, thận, ảnh hưởng sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ em.
/ Gây ảnh hưởng đến thói quen ăn uống khoa học: Ăn quà vặt trước hoặc
Được vài giờ học các con bỏ chính, ăn uống thiếu điều độ, dẫn đến suy dinh dưỡng hoặc béo phì.
/ Gây mất mỹ quan và vệ sinh môi trường quanh công trường:
- Đề xuất giải pháp khả thi và có tính thuyết phục:
+ Giáo dục nhận thức về an toàn thực phẩm trong trường học
/ Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, ngoại khóa, mời chuyên gia y tế, bác sĩ tư vấn về tác hại của thực phẩm bẩn, không rõ nguồn gốc.
/ Đưa nội dung giáo dục về an toàn thực phẩm vào môn học giáo dục công dân hoặc sinh hoạt lớp.
+ Siết chặt công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trong và ngoài trường học
/ Thành lập các buổi kiểm tra chuyên đề an toàn thực phẩm trường học, nhất là việc kinh doanh thực phẩm ở khu vực gần trường học.
/ Điều tra, rà soát, cập nhật thường xuyên, liên tục thông tin về các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố, kinh doanh tạp hóa có bán thực phẩm bao gói sẵn, thực phẩm chế biến ăn ngay theo từng ngành hàng, mặt hàng thực phẩm xung quanh cổng trường học.
+ Thiết lập mô hình Căng-tin học đường xanh
/Xây dựng hoặc cải tạo căng-tin trường học theo tiêu chuẩn: thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng, vệ sinh sạch sẽ, nhẫn viên có chứng chỉ vệ sinh an toàn thực phẩm.
/ Cẩm học sinh mua hàng rong bên ngoài cổng trưởng
+ Kết nối gia đình - nhà trường trong giám sát ăn uống
/ Tổ chức họp phụ huynh định kỳ để tuyên truyền, chia sẻ thông tin về tình | hình an toàn thực phẩm.
/ Lập nhóm Zalo lớp để giáo viên, phụ huynh chia sẻ thực đơn, cảnh báo thực phẩm không an toàn gần trưởng.
+....
* Kết bài: Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bảy và rút ra bài học cho bản thân.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 14
Đề thi
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
(...)
Cánh cửa mở ra và Jim bước vào. Trông anh gầy gò và rất khắc khổ. Anh chàng tội nghiệp, anh chỉ mới hai mươi hai - mà đã phải gánh vác gia đình! Chiếc áo khoác đã cũ mèm mà anh không có nổi một đôi găng tay.
Jim dừng lại sau cánh cửa, bất động như là con chó săn vừa đánh hơi được con mồi, chằm chằm nhìn Della, không thể hiểu những biểu lộ cảm xúc trên mặt anh, nhưng khiến cô khiếp sợ. Đấy không phải là giận dữ, cũng không phải ngạc nhiên, cũng không
phải tán thành, lại càng không kinh hãi, không phải bất cứ loại cảm xúc nào mà cô đang chờ đợi. Anh chỉ đơn giản là nhìn cô chăm chăm với vẻ mặt đầy bí ẩn.
Della lách mình khỏi bàn ăn và đi đến bên anh. Cô thốt lên:
- Jim, anh yêu, đừng nhìn em như thế. Em đã cắt mái tóc và bán nó vì em không muốn có một Giáng Sinh mà không có quà tặng cho anh? Tóc em sẽ mọc lại thôi - anh không trách em chứ? Em buộc phải làm thế. Tóc của em mọc nhanh lắm. Này Jim, mình chúc mừng Giáng Sinh đi anh, vui lên đi anh. Anh không biết em đã chuẩn bị một món quà đẹp đẽ, tuyệt vời như thế nào dành cho anh đâu.
Jim đau đớn hỏi lại, như thể không chịu đựng nổi một sự thật phũ phàng:
- Em đã cắt tóc rồi ư?
- Em đã cắt và bán nó rồi. Anh không thích em như thế này sao? Em vẫn là em dù không còn mái tóc ấy, phải không anh?
Jim ngó quanh phòng tìm kiếm. Anh lại hỏi, với vẻ bộ tịch thật ngớ ngẩn:
- Em nói rằng mái tóc đã không còn?
- Đừng tìm nó nữa. Em đã bán nó, em bảo anh rồi - đã bán rồi, không còn nữa.
Tối nay là đêm Giáng Sinh rồi, anh yêu! Hãy dịu dàng với em, em bán nó vì anh!
Della tiếp tục với giọng ngọt ngào thấm đẫm cảm xúc:
- Giờ anh có thể đếm được tóc trên đầu em, nhưng không ai có thể đếm tình yêu em dành cho anh. Em sẽ hâm lại món sườn nhé, Jim?
Jim như chợt bừng tỉnh. Anh ôm chặt Della vào lòng.
(...)
Jim rút một cái hộp từ túi áo choàng của anh và đặt nó lên bàn. Anh nói:
- Đừng hiểu lầm anh, Della. Dù em có cắt tóc, cạo đầu, hay tẩy gội như thế nào đi nữa anh cũng không bớt yêu em. Nhưng nếu em mở cái hộp này, em sẽ hiểu tại sao anh lại sửng sốt như vậy.
Những ngón tay trắng thoăn thoắt tháo dây buộc và xé toạc giấy bọc. Một tiếng kêu thảng thốt đầy phấn khích và vui sướng. Rồi thì, than ôi! Niềm háo hức đầy nữ tính ấy biến thành những giọt lệ đắng và tiếng khóc tỉ tê, thôi thúc chủ nhân căn hộ phải vội vàng an ủi.
Vì lẽ, trong đó là bộ lược - một bộ lược cài tóc, cho hai bên và phía sau mái tóc, từ lâu Della vẫn khát khao mà chỉ dám đứng nhìn qua khung cửa kính tại một cửa hàng trên đường Broadway. Những chiếc lược cài tóc đẹp tuyệt vời, bằng vỏ đồi mồi nguyên chất, viền bằng đá quý - để làm gì khi mái tóc đẹp không còn. Cô biết chúng là những chiếc lược đắt tiền mà cô vẫn luôn thèm muốn và khao khát dù chẳng bao giờ có được. Và bây giờ, chúng là của cô, nhưng mái tóc lẽ ra được tô điểm bằng những món trang sức quý giá ấy thì nay đã không còn.
Nhưng cô vẫn ôm chúng vào lòng, mắt nhòa lệ, cô ngước nhìn, mỉm cười khẽ nói:
- Tóc em sẽ dài nhanh thôi, Jim ạ.
Như con mèo nhỏ bị thương, Della vụt đứng lên, thốt rằng: "À, này!". Jim vẫn chưa nhìn thấy món quà tuyệt đẹp dành cho anh ấy. Cô háo hức đưa nó cho anh trên lòng bàn tay mở rộng của mình. Một sợi dây bằng kim loại quý trên tay cô, nó lấp lánh như cố phản chiếu niềm vui rực rỡ từ tấm lòng chân thành của cô gái.
- Anh có thấy nó tuyệt vời không, Jim? Em đã săn lùng cả thành phố mới tìm ra đấy. Chắc chắn anh sẽ phải nhìn ngắm nó cả trăm lần mỗi ngày. Đưa cho em chiếc đồng hồ của anh. Em muốn thấy nó đẹp biết chừng nào khi đính vào sợi dây xinh xắn này.
Thay vì làm theo lời cô, Jim ngồi vật xuống chiếc ghế bành, đặt hai bàn tay sau gáy và mỉm cười.
- Della, ta hãy cất các món quà Giáng Sinh và giữ chúng trong một thời gian. Chúng quá đẹp để sử dụng ngay bây giờ. Anh đã bán chiếc đồng hồ để mua cho em bộ lược. Bây giờ anh nghĩ em nên hâm lại món sườn cho bữa tối.
(O. Henry, trích Món quà của những nhà thông thái, Truyện ngắn đặc sắc, NXB Hội Nhà Văn, 2010)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể loại của văn bản trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra những chi tiết trong văn bản phản ánh sự nghèo khó của hai vợ chồng Jim và Della.
Câu 3 (1,0 điểm). Nêu cảm nhận về nhân vật Jim thông qua câu nói: “Dù em có cắt tóc, cạo đầu, hay tẩy gội như thế nào đi nữa anh cũng không bớt yêu em.”.
Câu 4 (1,0 điểm). Nhận xét về sự trớ trêu của tình huống trong đoạn trích.
Câu 5 (1,0 điểm). Tục ngữ Việt Nam có câu “Của cho không bằng cách cho”. Từ việc đọc đoạn trích trên, em hãy cho biết quan điểm của mình (đồng tình hay không đồng tình) với câu tục ngữ trên và giải thích lý do.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của hình tượng hai món quà Giáng Sinh trong truyện Món quà của những nhà thông thái được trích trong phần đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Cuộc sống không chỉ được đo bằng những gì ta sở hữu, mà còn bởi những gì ta sẵn sàng cho đi vì người khác. Hãy viết một bài văn (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của sự hy sinh trong tình yêu thương giữa con người với con người.
Đáp án
PHẦN I
Câu 1.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Cách giải:
Thể loại: truyện ngắn
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và xác định những chi tiết miêu tả sự nghèo khó của hai vợ chồng Jim và Della
Cách giải:
Những chi tiết trong văn bản phản ánh sự nghèo khó của hai vợ chồng Jim và Della:
- Jim gầy gò và khắc khổ.
- Chiếc áo khoác đã cũ mèm; không có nổi một đôi găng tay.
- Della phải cắt tóc của mình để mua quà cho Jim.
- Jim phải bán chiếc đồng hồ của mình để mua quà cho Della
Câu 3.
Phương pháp:
Dựa vào ngữ cảnh để cảm nhận về nhân vật
Cách giải:
- Người đàn ông chân thành, thủy chung, son sắt, luôn cảm thông và thấu hiểu người vợ của mình.
- Người biết trân trọng những giá trị tình cảm từ bên trong hơn là
những giá trị của ngoại hình, vật chất bên ngoài.
Câu 4.
Phương pháp:
Xác định tình huống truyện
Cách giải:
Nhận xét về sự trớ trêu của tình huống trong đoạn trích:
- Sự trớ trêu của tình huống truyện nằm ở việc cả hai vợ chồng đều hi sinh những thứ quý giá nhất của mình để mua quà cho người kia nhưng kết quả là món quà lại không còn giá trị sử dụng nữa
- Sự trớ trêu của tình huống góp phần khắc họa vẻ đẹp của tình yêu thương chân thành, sự hi sinh đẹp đẽ cho người thân yêu ở hai nhân vật
- Tình huống trớ trêu góp phần thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm: ca ngợi giá trị của tình yêu thương trong cuộc sống
Câu 5.
Phương pháp:
Nêu suy nghĩ của bản thân
Cách giải:
- Câu tục ngữ có ý khuyên răn con người cần chú trọng vào tình cảm và cách thể hiện tình cảm dành cho người khác hơn là quan tâm đến yếu tố vật chất có thể dành cho người khác.
- HS đưa ra quan điểm cá nhân và giải thích sao cho phù hợp: Sau đây là một số gợi ý:
+ Đồng tình với nội dung của câu tục ngữ bởi cách cho mới thể hiện đúng sự tôn trọng, tinh tế và tình cảm chân thành của con người; cách cho phù hợp cũng giúp giá trị của món quà được ý nghĩa hơn;…
+ Tuy nhiên cũng cần lưu ý bất kể thứ gì dành cho người khác cũng cần phải phù hợp với đặc điểm, sở thích, nhu cầu, hoàn cảnh của người được nhận. HS có thể diễn giải theo nhiều cách khác nhau để thể hiện quan điểm của mình, miễn ý kiến phù hợp.
PHẦN II.
Câu 1.
Phương pháp:
a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn phân tích môt đoạn thơ. Mở đoạn giới thiệu tên tác giả, tên tác phẩm, hình tượng hai món quà Giáng Sinh; thân đoạn phân tích làm rõ được ý nghĩa của hình tượng hai món quà cùng yếu tố nghệ thuật của truyện; kết đoạn khái quát, tổng hợp lại
b. Xác định đúng yêu cầu phân tích: phân tích ý nghĩa của hình tượng hai món quà Giáng Sinh
c. Phân tích làm rõ
Cách giải:
- Mô tả đặc điểm hai món quà:
+ Hai món quà có giá trị vật chất quý giá: Bộ lược bằng vỏ đồi mồi đắt tiền – dành cho mái tóc tuyệt đẹp của Della; Dây đeo đồng hồ bằng kim loại quý – dành cho chiếc đồng hồ di sản của Jim. Cả hai món quà đều có giá trị cao.
+ Hai món quà đáng quý hơn ở giá trị tinh thần: Cả hai món quà được mua bằng sự hy sinh thứ quý giá nhất mà mỗi người sở hữu.
(Đưa ra các bằng chứng cụ thể trong đoạn trích)
- Phân tích ý nghĩa:
+ Hai món quà tạo nên sự trớ trêu, bất ngờ độc đáo cho tình huống truyện
+ Thể hiện đặc điểm nhân vật: Cả Jim và Della đều yêu thương sâu sắc, sẵn sàng hy sinh vì nhau mà không tính toán thiệt hơn.
+ Thể hiện tư tưởng, chủ đề: ca ngợi vẻ đẹp của tình yêu thương chân thành.
- Khái quát nghệ thuật: Hình ảnh hai món quà tạo nên tình huống truyện độc đáo, mang ý nghĩa hình tượng đặc sắc trong tác phẩm.
Câu 2.
Phương pháp:
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khái quát được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận
Bàn luận được về giá trị, ý nghĩa của sự hi sinh trong tình yêu thương giữa con người với con người.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
HS có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng
Cách giải:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận: - Giải thích vấn đề nghị luận:
+ Hi sinh là gì?
+ Xác định được vấn đề: Hi sinh là đức tính cao cả, thể hiện tình yêu thương chân thành, sâu sắc. - Bàn luận – Chứng minh (nêu lí lẽ kèm dẫn chứng)
+ Sự hi sinh góp phần nuôi dưỡng khả năng đồng cảm, sẻ chia.
+ Sự hi sinh giúp con người nuôi dưỡng những cảm xúc sâu sắc, biết rung động trước những vẻ đẹp của tình cảm.
+ Sự hi sinh giúp ta yêu thương những người thân trọn vẹn nhất, giúp gắn kết con người với nhau trong cuộc sống. - Mở rộng, nhìn nhận vấn đề đa chiều:
+ Trong thế giới còn nhiều biến động, những hành động hy sinh dù nhỏ bé vẫn góp phần làm nên sự ấm áp và nhân văn trong cuộc sống.
+ Nếu sự hy sinh trở nên mù quáng, không tỉnh táo, dễ bị lợi dụng hoặc đi ngược với giá trị bản thân, nó có thể gây tổn thương và đánh mất chính mình.
- Rút ra liên hệ đối với bản thân:
+ Biết suy nghĩ cho người khác.
+ Biết sẻ chia, nhường nhịn với những người thân xung quanh.
+ Xây dựng lối sống tích cực, có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng.
…
* Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa cao đẹp của sự hy sinh trong tình yêu thương giữa con người với nhau.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 15
Đề thi
PHẦN I. ĐỌC - HIỂU (4,0 điểm).
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Hi vọng là một thứ rất tuyệt diệu. Hi vọng cong, xoắn, thỉnh thoảng nó khuất đi, nhưng hiếm khi nó tan vỡ… Hi vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được… Hi vọng cho chúng ta có thể thể tiếp tục, cho chúng ta can đảm để tiến lên phía trước, khi chúng ta tự nhủ là mình sắp bỏ cuộc…
Hi vọng đặt nụ cười lên gương mặt chúng ta khi mà trái tim không chủ động được điều đó…
Hi vọng đặt đôi chân chúng ta lên con đường mà mắt chúng ta không nhìn thấy được …
Hi vọng thúc giục chúng ta hành động khi tinh thần chúng ta không nhận biết được phương hướng nữa… Hi vọng là điều kỳ diệu, một điều cần được nuôi dưỡng và ấp ủ và đổi lại nó sẽ làm cho chúng ta luôn sống động… Và hi vọng có thể tìm thấy trong mỗi chúng ta, và nó thể mang ánh sáng vào những nơi tăm tối nhất…
Đừng bao giờ mất hi vọng!
(Trích, Luôn mỉm cười với cuộc sống - NXB Trẻ)
Câu 1 (0,5 điểm). Luận đề chính được đặt ra trong đoạn trích là gì?
Câu 2 (0,5 điểm). Hình ảnh hi vọng được tác giả miêu tả qua những từ ngữ nào?
Câu 3 (1,0 điểm). Việc lặp lại nhiều lần từ hi vọng có tác dụng gì?
Câu 4 (1,0 điểm). Em có đồng ý với quan điểm: “Hi vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được” của tác giả không? Vì sao?
Câu 5 (1,0 điểm). Thông điệp em tâm đắc nhất từ đoạn trích là gì?
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ của em về đoạn thơ sau trong bài thơ “Mái ấm ngôi nhà” của Trương Hữu Lợi.
Nếu ngọn gió nào dẫn con đến phương trời xa thẳm
Con đừng quên lối về nhà
Nơi thung sâu khơi nguồn ngọn gió...
Nếu cánh chim nào chở con lên thăm mặt trời cháy đỏ
Con đừng quên lối về nhà
Nơi sớm chiều vẫn nhen ngọn lửa
Nếu vạt mây nào đưa con lên chơi với ngôi sao xanh biếc
Con đừng quên lối về nhà
Suối trong con tắm mình thuở bé...?
(“Mái ấm ngôi nhà”- Trương Hữu Lợi)
Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn nghị luận về vấn đề cần giải quyết: "Là học sinh, em nghĩ nên ứng xử thế nào khi bị lôi kéo vào các hoạt động tiêu cực trong nhà trường?”
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc kĩ nội dung văn bản, xác định luận đề
Cách giải:
Luận đề: Hy vọng và ý nghĩa của hi vọng trong cuộc sống.
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc và xác định từ ngữ miêu tả hình ảnh hi vọng
Cách giải:
Hình ảnh hi vọng được tác giả miêu tả qua những từ ngữ: tuyệt diệu. cong, xoắn, nó khuất đi, nó tan vỡ…
Câu 3.
Phương pháp:
Dựa vào ngữ cảnh để xác định
Vận dụng kiến thức về phép lặp
Cách giải:
Việc lặp lại nhiều lần từ hi vọng có tác dụng:
+ Làm cho văn bản thêm tính hài hoà, cân đối, nhịp nhàng, sinh động, hấp dẫn;
+ Tăng tính liên kết giữa các câu trong văn bản; Nhấn mạnh vai trò quan trọng của hi vọng trong cuộc sống của mỗi con người.
+ Hi vọng là điều kỳ diệu, là điểm tựa để đưa con người vượt qua những khó khăn thử thách hướng đến những điều tốt đẹp ở phía trước.
Câu 4.
Phương pháp:
Nêu suy nghĩ của bản thân
Cách giải:
- Đồng ý với ý kiến: Hi vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được.
- Vì cuộc sống nhiều khó khăn và thử thách, nhờ hi vọng mà ta có được năng lượng để duy trì cuộc sống. Hi vọng tạo ra niềm tin, ý chí, động lực, lòng can đảm; Hi vọng sẽ giúp con người sống lạc quan, yêu đời, chiến thắng nghịch cảnh.
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra thông điệp
Cách giải:
- Thông điệp tâm đắc nhất: Đừng bao giờ mất hy vọng!
- Vì: mất hi vọng chúng ta sẽ mất năng lượng và động lực sống. Hãy nuôi hi vọng mỗi ngày, tạo động lực và hành động mỗi ngày để sống lạc quan
PHẦN II.
Câu 1.
Phương pháp:
* Hình thức:
- Trình bày đảm bảo cấu trúc của đoạn văn theo hướng: Diễn dịch, quy nạp hoặc phối hợp.
- Đảm bảo dung lượng, diễn đạt mạch lạc, rõ ý, đúng chuẩn chính tả, ngữ pháp.
* Nội dung:
- Xác định đúng đối tượng nghị luận: Đoạn thơ trong ngữ liệu đã cho
- Sử dụng đúng phương thức biểu đạt: Nghị luận
- Biết bám sát và khai thác hiệu quả của các tín hiệu nghệ thuật trong đoạn thơ để làm nổi bật vẻ đẹp của đoạn trích
Cách giải:
1. Mở đoạn:
- Giới thiệu đoạn thơ trong bài "Mái ấm ngôi nhà" của Trương Hữu Lợi, nhấn mạnh nội dung về tình cảm gia đình thiêng liêng, nơi mái ấm luôn là chốn trở về của mỗi con người.
- Khẳng định ý nghĩa của đoạn thơ qua việc nhắn nhủ con về giá trị gia đình, nơi khởi nguồn mọi yêu thương và che chở.
2. Thân đoạn:
- Phân tích nội dung chính:
+ Đoạn thơ là những lời nhắn nhủ ân cần của người lớn (cha/mẹ) với con khi bước vào cuộc đời với những hành trình mới. Hình ảnh "ngọn gió", "cánh chim", "vạt mây" tượng trưng cho những ước mơ, khát vọng bay xa và khám phá thế giới rộng lớn của con cái.
+ Lời nhắc "Con đừng quên lối về nhà" lặp đi lặp lại không chỉ nhấn mạnh sự nhớ nhung, mong chờ mà còn gợi ý niệm về mái ấm gia đình như cội nguồn thiêng liêng, nơi lưu giữ yêu thương, nơi con sẽ tìm thấy sự bình yên và che chở dù ở bất cứ đâu.
+ Hình ảnh "thung sâu khơi nguồn ngọn gió", "sớm chiều nhen ngọn lửa", "suối trong con tắm mình thuở bé" tượng trưng cho những kỷ niệm thời thơ ấu, tình thương và sự chăm sóc mà cha mẹ đã dành trọn vẹn cho con. Qua những hình ảnh này, tác giả khẳng định ý nghĩa bền chặt của gia đình, nơi cội nguồn tình yêu không bao giờ phai nhòa.
- Phân tích nghệ thuật:
+ Biện pháp lặp cấu trúc "Con đừng quên lối về nhà" tạo nên nhịp điệu trầm lắng, nhấn mạnh cảm xúc yêu thương và sự nhắc nhở tha thiết.
+ Sử dụng hình ảnh thiên nhiên giàu tính biểu tượng (gió, chim, mây) mang đến sự bay bổng, kết hợp với các chi tiết cụ thể về gia đình tạo sự cân bằng giữa cảm xúc và biểu đạt.
+ Ngôn từ nhẹ nhàng, sâu sắc giúp đoạn thơ thấm đượm tình cảm gia đình thiêng liêng, gợi lên trong lòng người đọc sự đồng cảm và suy tư.
3. Kết đoạn:
- Khẳng định lại giá trị của mái ấm gia đình qua những hình ảnh đẹp trong đoạn thơ. Gia đình không chỉ là nơi con xuất phát mà còn là chốn trở về, mang theo những ký ức và tình yêu không bao giờ cạn.
- Bài thơ là lời nhắc nhở mỗi người về trách nhiệm gìn giữ và trân trọng gia đình - mái ấm thiêng liêng mà không gì có thể thay thế.
Câu 2.
Phương pháp:
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận xã hội
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Nên ứng xử thế nào khi bị lôi kéo vào các hoạt động tiêu cực trong nhà trường.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: HS có thể tổ chức bài làm theo nhiều cách, miễn là hợp lí và vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng
Cách giải:
1. Mở bài
- Nêu vấn đề cần nghị luận: Nên ứng xử thế nào khi bị lôi kéo vào các hoạt động tiêu cực trong nhà trường.
2. Thân bài
* Giải thích: Hoạt động tiêu cực trong nhà trường là những hành vi sai trái, vi phạm đạo đức, pháp luật và nội quy của nhà trường. Chúng bao gồm nhiều hình thức như: bạo lực học đường, gian lận trong thi cử, trộm cắp, sử dụng chất kích thích, tham gia các nhóm, hội hoạt động không lành mạnh...
* Thực trạng:
- Tình trạng học sinh bị lôi kéo vào các hoạt động tiêu cực đang diễn ra phổ biến và ngày càng gia tăng với mức độ nghiêm trọng. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2022, cả nước ghi nhận hơn 1.600 vụ bạo lực học đường, tăng 10% so với năm 2021. Bên cạnh đó, các tệ nạn khác như gian lận thi cử, sử dụng chất kích thích cũng có xu hướng gia tăng, đặc biệt là ở các thành phố lớn.
(Lấy dẫn chứng cụ thể).
* Nguyên nhân:
- Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, bao gồm cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Một số nguyên nhân chính có thể kể đến như:
+ Sự thiếu quan tâm, giáo dục từ phía gia đình.
+ Sự tác động tiêu cực từ môi trường xung quanh, bạn bè xấu.
+ Sự thiếu hiểu biết, nhận thức về hậu quả của các hành vi tiêu cực.
+ Sự tò mò, muốn thể hiện bản thân của tuổi mới lớn.
+ Sự lỏng lẻo trong quản lý của nhà trường.
* Hậu quả
- Nếu không được giải quyết kịp thời, vấn nạn này sẽ để lại những hậu quả nặng nề:
- Ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần và sự phát triển nhân cách của học sinh.
- Làm suy giảm chất lượng giáo dục, đạo đức xã hội.
- Tạo ra những hệ lụy tiêu cực cho gia đình và cộng đồng.
- Một số học sinh có thể bị sa ngã vào con đường phạm tội.
* Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện: Một số người cho rằng, việc học sinh bị lôi kéo vào các hoạt động tiêu cực là do bản tính của các em. Tuy nhiên, quan điểm này là hoàn toàn sai lầm. Bởi lẽ, không có đứa trẻ nào sinh ra đã xấu. Môi trường sống và sự giáo dục mới là yếu tố quyết định đến sự hình thành nhân cách của các em.
* Giải pháp
+ Nâng cao nhận thức và hiểu biết:
- Tích cực tham gia các buổi sinh hoạt lớp, ngoại khóa về phòng chống các tệ nạn xã hội. Tìm hiểu thông tin từ các nguồn đáng tin cậy như sách báo, internet,...
- Việc trang bị kiến thức sẽ giúp học sinh hiểu rõ bản chất của các hoạt động tiêu cực, từ đó có ý thức phòng ngừa và tránh xa.
- Bằng chứng: Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, học sinh có kiến thức tốt về các tệ nạn xã hội có khả năng chống lại sự lôi kéo cao hơn gấp 3 lần so với những em không có kiến thức.
+ Xây dựng bản lĩnh và kỹ năng sống:
- Rèn luyện sự tự tin, quyết đoán, kỹ năng giao tiếp, từ chối và giải quyết mâu thuẫn. Tham gia các hoạt động ngoại khóa, thể thao, nghệ thuật để nâng cao sức khỏe tinh thần và thể chất.
- Bản lĩnh vững vàng và kỹ năng sống tốt sẽ giúp học sinh có khả năng đối mặt với áp lực, cám dỗ và đưa ra quyết định đúng đắn.
- Bằng chứng: Trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam đã tổ chức chương trình "Rèn luyện kỹ năng sống" cho học sinh, kết quả cho thấy tỷ lệ học sinh tham gia vào các hoạt động tiêu cực giảm đáng kể.
+ Tìm kiếm sự hỗ trợ từ người lớn:
- Học sinh chia sẻ với cha mẹ, thầy cô, bạn bè hoặc các chuyên gia tâm lý khi gặp khó khăn. Phụ huynh quan tâm, lắng nghe và chia sẻ với con cái. Giáo viên chủ động nắm bắt tâm lý học sinh, tổ chức các hoạt động tư vấn, hỗ trợ.
- Sự hỗ trợ từ người lớn sẽ giúp học sinh cảm thấy an toàn, được chia sẻ và có thêm động lực để vượt qua khó khăn.
- Bằng chứng: Trường THCS Nguyễn Du (TP.HCM) đã thành lập "Tổ tư vấn tâm lý học đường", giúp đỡ nhiều học sinh thoát khỏi các hoạt động tiêu cực.
+ Xây dựng môi trường học đường lành mạnh:
- Nhà trường xây dựng quy chế, nội quy rõ ràng, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Giáo viên tạo không khí học tập tích cực, thân thiện, khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động ngoại khóa bổ ích. Học sinh tôn trọng thầy cô, bạn bè, xây dựng tình bạn đẹp.
- Môi trường học đường lành mạnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh phát triển toàn diện, hạn chế các yếu tố tiêu cực.
- Bằng chứng: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (TP.HCM) đã thực hiện mô hình "Trường học hạnh phúc", tạo ra môi trường học tập tích cực, giúp học sinh phát triển tốt về mọi mặt.
3. Kết bài
- Khẳng định ý nghĩa của việc giải quyết vấn đề: Vấn đề học sinh bị lôi kéo vào hoạt động tiêu cực trong nhà trường là một vấn đề nhức nhối cần được giải quyết triệt để....
- Liên hệ:...
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
