Đề thi học kì 1 Văn 9 - Chân trời sáng tạo
Đề cương ôn tập học kì 1 Văn 9 - Chân trời sáng tạo
A. NỘI DUNG ÔN TẬP
1. Phần đọc hiểu
1.1. Thương nhớ quê hương
|
|
Thơ |
|
Khái niệm |
Là hình thức nghệ thuật dùng từ trong ngôn ngữ làm chất liệu và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới hình thức logic nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mĩ cho người đọc, người nghe |
|
Kết cấu |
Là toàn bộ tổ chức chặt chẽ và sinh động các yếu tố về nội dung và hình thức của bài thơ, tạo ra tính toàn vẹn và thể hiện một cách tốt nhất chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. Kết cấu của bài thơ được biểu hiện ở mọi phương diện tổ chức của tác phẩm: (1) sự chọn lựa thể thơ; (2) sự sắp xếp các phần, các đoạn thơ theo một trình tự nhất định (bố cục); (3) sự triển khai mạch cảm xúc; (4) sự phối hợp của vần, nhịp, hình ảnh thơ, các biện pháp tu từ, ... |
|
Ngôn ngữ |
Ngôn ngữ thơ có đặc điểm là hàm súc, ngắn gọn, giàu hình ảnh, gợi nhiều hơn tả, giàu nhạc điệu, được tổ chức thành một cấu trúc đặc biệt: có vần, nhịp, thanh điệu, đối, ... Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ được thể hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn được thể hiện qua âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ, những yếu tố ấy góp phần làm tăng thêm hàm nghĩa cho bài thơ. Những đặc điểm trên khiến cho bài thơ dễ dàng tác động trực tiếp đến cảm xúc của người đọc và khắc sâu trong tâm trí họ. |
1.2. Giá trị của văn chương
|
|
Văn bản nghị luận |
|
Cách trình bày vấn đề khách quan |
Chỉ đưa thông tin, nêu ra các bằng chứng khách quan. Cách trình bày tạo ra cơ sở vững chắc (từ pháp lí, từ thực tiễn,…), đảm bảo tính chính xác, đúng đắn cho các lập luận. |
|
Cách trình bày vấn đề chủ quan |
Đưa ra ý kiến, đánh giá chủ quan, thể hiện rõ tình cảm, quan điểm của người viết. Cách trình bày này tác động đến cảm xúc của người đọc, khơi gợi sự đồng cảm, mối quan tâm của người đọc về những vấn đề được bàn luận. |
|
Ví dụ |
(1) Tôi đã chứng kiến cả ngàn cơn trâu rừng bị chết dần chết mòn trên những cánh đồng trơ trọi vì bị người da trắng bắn mỗi khi có đoàn tàu chạy qua. (2) Tôi là kẻ hoang dã, tôi không hiểu nổi tại sao một con ngựa sắt nhả khói lại quan trọng hơn nhiều con trâu rừng mà chúng tôi chỉ giết để duy trì cuộc sống. (3) Con người là gì, nếu cuộc sống thiếu những con thủ? (Xi-át-tô, Bức thư của thủ lĩnh da đỏ) Trong ví dụ trên, câu (1) trình bày vấn đề khách quan bởi chủ yếu đưa ra bằng chứng từ thực tế mà người viết đã chứng kiến. Câu (2) và (3) trình bày vấn đề chủ quan bởi thể hiện ý kiến, đánh giá, cảm xúc của cá nhân người viết trước hiện tượng con người nhẫn tâm tàn sát các con thú. |
1.3. Những di tích lịch sử và danh thắng
|
|
Văn bản thông tin giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử |
|
Khái niệm |
Thuộc loại văn bản thông tin, cung cấp cho người đọc thông tin về một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử. |
|
Cấu trúc |
- Phần mở đầu: giới thiệu khái quát về danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử. - Phần nội dung: giới thiệu có hệ thống những phương diện khác nhau của danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử. Nội dung có thể trình bày thông tin về vị trí địa lí, lịch sử hình thành, nhân vật lịch sử có liên quan, đặc điểm kiến trúc/ cảnh quan, vẻ đẹp / sức hấp dẫn, cách thức tham quan, ... - Phần kết thúc: nhận xét khái quát về giá trị của danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử trong đời sống văn hoá, tinh thần của con người; có thể bày tỏ tình cảm, thái độ của người viết dành cho danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử. |
|
Đặc điểm hình thức |
Có thể sử dụng các đề mục để làm nổi bật thông tin chính; một số từ ngữ chuyên ngành (kiến trúc, lịch sử, địa lí, sinh vật,...); từ ngữ giàu giá trị miêu tả, biểu cảm; hình ảnh minh hoạ, sơ đồ/ bản đồ chỉ dẫn;... |
|
Cách trình bày thông tin |
Về cách trình bày thông tin: Thông tin thường được trình bày theo trật tự thời gian, theo trật tự không gian, theo cách phân loại đối tượng (ví dụ: phân loại các đặc điểm kiến trúc, tự nhiên, xã hội, ... của danh lam thắng cảnh/ di tích lịch sử),... |
|
Phương thức biểu đạt |
Miêu tả, tự sự, biểu cảm |
1.4. Con người trong thế giới kì ảo
|
|
Truyện truyền kì |
|
Khái niệm |
Là một thể loại văn xuôi tự sự thời trung đại, phản ánh hiện thực qua những yếu tố kì lạ, hoang đường. Ở Việt Nam, truyện truyền kì được viết bằng chữ Hán, phát triển mạnh ở thế kỉ XVI – XVII. |
|
Không gian |
Thế giới con người và thế giới thánh thần, ma, quỷ có sự tương giao. Điều này làm nên đặc điểm riêng cho không gian truyện truyền kì - không gian giàu yếu tố kì ảo. |
|
Thời gian |
Có sự khác biệt về thời gian ở cõi trần với cõi âm ti, thuý phủ hoặc nơi thượng giới (biểu hiện qua nhịp độ nhanh chậm của thời gian); con người có thể sống nhiều đời, nhiều cuộc đời hoặc sống nhờ các phép thuật kì ảo. |
|
Nhân vật |
Nhân vật có thể là con người hay thần linh, ma, quý,... Nếu nhân vật là con người, họ thường có nét đặc biệt nào đó; nếu nhân vật là thần linh, ma, quỷ, họ thường mang hình ảnh, tính cách của con người. |
|
Cốt truyện |
Truyện truyền kì thường sử dụng yếu tố kì ảo tạo nên những biến đổi bất ngờ và hợp lí hoá những điều ngẫu nhiên, bất bình thường trong cốt truyện. |
|
Lời của người kể chuyện |
Lời của người kể chuyện trong truyện truyền kì là lời kể của một người biết hết mọi chuyện ở trần gian, địa phủ, thượng giới; mọi hành động, suy nghĩ của nhân vật. Lời của người kể chuyện thường chiếm tỉ lệ cao trong văn bản. |
1.5. Khát vọng công lí
|
|
Truyện thơ Nôm |
|
Khái niệm |
Là thể loại tự sự bằng thơ, được viết bằng chữ Nôm, hình thành vào khoảng thế kỉ XVI – XVII, phát triển mạnh và đạt được nhiều thành tựu to lớn ở cuối thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX. Ở giai đoạn đầu, một số truyện thơ Nôm được sáng tác bằng thể thơ Đường luật hoặc song thất lục bát, sau đó các tác giả chủ yếu sử dụng thể thơ lục bát. |
|
Đề tài, chủ đề |
Rộng mở, phong phú, có giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực sâu sắc. |
|
Cốt truyện |
Thường được triển khai theo trình tự thời gian với mô hình cơ bản: gặp gỡ – chia li – đoàn tụ. Tiếp thu nguồn cốt truyện từ văn học dân gian hoặc văn học Trung Quốc, sau đó các tác giả có những đóng góp, sáng tạo riêng tạo nên những tác phẩm mới có giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc. Một số truyện thơ Nôm lấy đề tài từ đời sống thực tế và có cốt truyện do tác giả tự sáng tạo |
|
Nhân vật |
Là những cô gái, chàng trai có vẻ đẹp toàn diện (hình thể, tâm hồn, đức hạnh, trí tuệ, tài năng…) nhưng cuộc sống thường gặp nhiều trắc trở, gian nan. |
|
Lời thoại nhân vật |
Đối thoại và độc thoại |
|
Ngôn ngữ |
Giản dị, gần với lời ăn tiếng nói của nhân dân |
2. Phần tiếng Việt
2.1. Biện pháp tu từ Chơi chữ
|
|
Biện pháp chơi chữ |
Ví dụ |
|
Khái niệm |
Là biện pháp tu từ vận dụng các đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa của từ ngữ một cách khéo léo nhằm đem lại những liên tưởng bất ngờ, thú vị cho người đọc (người nghe). |
VD1: Thầy giáo, tháo giày đi dép lốp VD2: Đuối như trái chuối VD3: Sành điệu như củ kiệu VD4: Tôi yêu Việt Nam "đồng" VD5: Nhớ nước đau lòng con quốc quốc/ Thương nhà mỏi miệng cái gia gia |
|
Các lối chơi chữ thường gặp |
- Loại 1: Dùng từ đồng âm + Sử dụng các từ giống nhau về cách phát âm hoặc đồng âm. + Thường được gọi là đồng âm nhưng có nghĩa hoàn toàn khác nhau. + Cách chơi chữ này thường mang hàm ý và nghĩa châm biếm, đả kích là chính. - Loại 2: Dùng lối nói trại âm (gần giống) + Là lối chơi chữ sử dụng các từ gần giống nhau, chỉ khác nhau về dấu câu, nhưng ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. - Loại 3: Dùng cách điệp âm + Cố ý lặp lại một số yếu tố ngữ âm nào đó (phụ âm đầu, vần hoặc thanh) để tạo sự cộng hưởng ý nghĩa, có tác dụng tô đậm thêm hình tượng hoặc xúc cảm, gợi liên tưởng, đồng thời giúp cho lời văn, lời thơ thêm nhạc tính. - Loại 4: Dùng lối nói lái + Nói lái hay còn gọi là cách nói ngược câu chữ, có tác dụng châm biếm, mỉa mai hoặc bông đùa - Loại 5: Dùng từ ngữ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa + Chỉ giống nhau phụ âm đầu, giúp tạo điểm nhấn cho toàn bộ bài thơ |
VD1: Anh Hươu đi chợ Đồng Nai Bước qua bến Nghé, ngồi nhai thịt bò
VD2: Sánh với Na Va "ranh tướng" Pháp Tiếng tăm nồng nặc ở Đông Dương
VD3: Mênh mông muôn mẫu một màu mưa Mỏi mắt miên man mãi mịt mờ.
VD4: “Một con cá đối nằm trên cối đá. Hai con cá đối nằm trên cối đá”
VD5: Ngọt thơm sau lớp vỏ gai, Quả ngon lớn mãi cho ai đẹp lòng Mời cô mời bác ăn cùng Sầu riêng mà hóa vui chung trăm nhà |
|
Tác dụng |
- Giúp câu văn thể hiện sự hài hước, dí dỏm gây được nhiều hứng thú ấn tượng với người đọc, người nghe. Nó giúp bài viết, lời nói sử dụng biện pháp chơi chữ được ghi nhớ lâu dài. - Thể hiện sự khéo léo, tinh tế khi lồng ghép các câu từ để cho câu văn mang nhiều ý nghĩa, mang đậm sự trào phúng nhưng tinh tế, không lộ liễu. |
Sánh với Na Va "ranh tướng" Pháp Tiếng tăm nồng nặc ở Đông Dương - Dựa vào hiện tượng gần âm: “ranh tướng” gần với “danh tướng” nhưng nghĩa hoàn toàn khác nhau. - Danh tướng là vị tướng giỏi được lưu danh, còn ranh tướng là kẻ ranh ma => Tác dụng: mang ý mỉa mai - chế giễu |
2.2. Biện pháp tu từ Điệp thanh, điệp vần
|
|
Điệp thanh |
Điệp vần |
|
Khái niệm |
Là biện pháp tu từ ngữ âm, tạo nên bằng cách lặp lại thanh điệu cùng loại (thanh bằng hoặc thanh trắc) để làm tăng tính nhạc, nâng cao hiệu quả diễn đạt cho câu thơ. |
Là biện pháp tu từ ngữ âm, sử dụng những âm tiết có vần giống nhau nhằm tạo ra sự trùng điệp về âm hưởng, tăng tính nhạc để biểu đạt cảm xúc của người viết (người nói), đồng thời gây ấn tượng thẩm mĩ cho người đọc (người nghe). |
|
Tác dụng |
Làm tăng tính nhạc, nâng cao hiệu quả diễn đạt cho câu thơ. |
Tạo ra sự trùng điệp về âm hưởng, với mục đích tăng tính biểu cảm, tăng tính nghệ cho mỗi câu thơ |
|
Ví dụ |
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.” (Trích Tây Tiến – Quang Dũng) |
Lơ thơ tơ liễu buông mành. Con oanh học nói trên cành mỉa mai
|
2.3. Phương tiện phi ngôn ngữ
|
|
Phương tiện phi ngôn ngữ |
Ví dụ |
|
Khái niệm |
Trong văn bản thông tin, người viết thường sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ (hình ảnh, đồ thị, sơ đồ, bảng biểu, bản đồ…) để trình bày thông tin một cách trực quan và làm nổi bật những thông tin quan trọng. Ngoài ra, tỏng một số trường hợp, phương tiện phi ngôn ngữ có thể cung cấp thêm thông tin về đối tượng chưa được thể hiện bằng phương tiện phi ngôn ngữ. |
|
|
Cách sử dụng |
- Trong giao tiếp ngôn ngữ, các phương tiện phi ngôn ngữ thường được dùng kèm để bổ trợ cho phương tiện ngôn ngữ; đồng thời có thể được dùng để giải thích thêm cho các phương tiện phi ngôn ngữ. - Trong những hình thức giao tiếp khác, nhiều trường hợp, người ta chỉ cần hoặc chỉ có thể sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ (dùng đèn giao thông, vẫy cờ,...) để giao tiếp mà vẫn đạt hiệu quả. |
Ví dụ, sơ đồ khu di tích thành Cổ Loa trong hình sau đã cung cấp thông tin chi tiết về kiến trúc của thành Cổ Loa một cách trực quan, ngắn gọn; làm nổi bật thông tin quan trọng “thành Cổ Loa là một phòng tuyến bảo vệ kiên cố, không thể đánh từ ngoài vào”; cung cấp thêm thông tin chưa được trình bày bằng phương tiện ngôn ngữ (vị trí của những đình, chùa, đền, xóm làng và cầu trong thành Cổ Loa). |
|
Tác dụng |
- Các số liệu thường được sử dụng để cung cấp những thông tin cụ thể, chính xác. - Các đường nối giữa các hình vẽ thường được dùng để biểu đạt mối quan hệ giữa các thông tin. - Các biểu đồ, sơ đồ giúp trình bày thông tin một cách hệ thống. - Các hình ảnh làm tăng tính hấp dẫn và trực quan của thông tin,... |
2.4. Lời đối thoại, lời độc thoại
|
|
Lời đối thoại |
Lời độc thoại |
|
Khái niệm |
Lời đối thoại là hình thức thể hiện của lời nhân vật khi đối tượng hướng đến là một hoặc nhiều người tham gia giao tiếp trực tiếp. |
Là hình thức thể hiện của lời nhân vật khi đối tượng hướng đến không phải là người tham gia đối thoại trực tiếp. Trong kịch, độc thoại được sử dụng để nhân vật tự nói với chính mình, khán giả chỉ là người “nghe trộm”, nhờ đó biết được những cảm xúc sâu kín của nhân vật. Trong truyện (bao gồm cả truyện thơ), đặc biệt là trong truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại, độc thoại được sử dụng để tái hiện tiếng nói nội tâm hay trạng thái cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật. Lúc này, độc thoại được gọi bằng một thuật ngữ xác định hơn là độc thoại nội tâm.
|
|
Tác dụng |
Trong đời sống thường ngày, đối thoại cũng như giao tiếp đơn thuần sẽ giúp con người trao đổi với nhau một cách trực tiếp các thông tin qua lại nhanh chóng. |
Bộc lộ trực tiếp thái độ, cảm xúc, tâm lí của nhân vật |
|
Ví dụ |
Mẹ tôi nói: – Con hãy nghỉ ngơi vài hôm, đi thăm các nhà bà con một chút rồi cùng mẹ con mình lên đường. – Vâng. (Cố hương – Lỗ Tấn) |
Tôi chui tọt ngay vào hang, lên giường nằm khểnh bắt chân chữ ngũ. Bụng nghĩ thú vị: "Mày tức thì mày cứ tức, mày ghè vỡ đầu mày ra cho nhỏ đi, nhỏ đến đâu thì mày cũng không chui nỗi vào tổ tao đâu!". (Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí, Ngữ văn 6, tập hai). |
2.5. Cách dẫn trực tiếp, cách dẫn gián tiếp
|
|
Cách dẫn trực tiếp |
Cách dẫn gián tiếp |
|
Khái niệm |
Là sử dụng nguyên văn từ ngữ, câu, đoạn,… của một văn bản gốc vào bài viết, bài nói. Trong bài viết, phần dẫn trực tiếp cần đượt đặt trong dấu ngoặc kép |
Là sử dụng ý tưởng của người khác và diễn đạt lại theo cách của mình. Tuy được diễn đạt lại nhưng ý tưởng trong văn bản gốc cần được thể hiện một cách trung thành. Trong bài viết, phần dẫn gián tiếp không đặt trong dấu ngoặc kép. |
|
Dấu hiệu nhận biết |
Đặt trong dấu ngoặc kép và theo sau là dấu hai chấm |
Thay vì trích dẫn chính xác những gì người nói đã nói, lời dẫn gián tiếp cho phép chúng ta điều chỉnh và thay đổi ý kiến một cách hài hòa với nội dung văn bản. |
|
Tác dụng |
- Truyền tải thông tin chính xác - Tăng tính chân thật và sống động - Tạo độ tin cậy và động viên - Dễ dàng trích dẫn và sử dụng lại |
- Truyền đạt thông tin - Thể hiện sự suy nghĩ và phân tích - Tạo sự tương tác và tiếp thu - Tạo sự linh hoạt trong ngôn ngữ - Tạo sự tinh tế và đa dạng trong diễn đạt |
|
Ví dụ |
Khánh nói: "Tôi rất hạnh phúc về thành tích đạt được." |
Khánh nói với tôi cậu ấy rất hạnh phúc về thành tích đạt được |
2.6. Điển tích, điển cố
|
|
Điển tích, điển cố |
Ví dụ |
|
Khái niệm |
Là câu chuyện, sự việc hay câu chữ trong sách xưa, được dẫn lại một các cô đúc trong văn bản của các tác giả đời sau. |
Sương in mặt tuyết pha thân, Sen vàng lãng đãng như gần như xa. (Nguyễn Du, Truyện Kiều) Vua Hậu Chủ thời Ngũ Đại (Trung Quốc), do yêu bà phi, lấy vàng đúc thành những đóa sen, đem lót xuống đất bảo phi đặt chân lên đó mà dạo bước, rồi nói: mỗi bước đi nở một đóa sen vàng. Sen vàng thành điển tích chỉ bước chân của người đẹp. |
|
Tác dụng |
- Đối với thơ, làm cho câu thơ, câu văn hàm súc, trang nhã. - Đối với văn nghị luận, giúp người viết củng cố lí lẽ, làm tăng sức thuyết phục của văn bản. - Điển tích, điển cố được dùng rộng rãi trong các loại văn bản (thơ, truyện, chèo, tuồng, nghị luận,…), rất phổ biến trong văn học trung đại. Về sau, khi ý thức sáng tạo của cá nhân được đề cao, các tác giả hạn chế dùng điển tích, điển cố. Nếu lạm dụng điển tích, điển cố, văn bản sẽ trở nên nặng nề, khó hiểu, mòn sáo, hạn chế tính độc đáo. |
Bấy lâu nghe tiếng má đào Mắt xanh chẳng để ai vào có không? (Nguyễn Du, Truyện Kiều) Mắt xanh chữ Hán là “thanh nhãn”, lấy tích Nguyễn Tịch thời Tần khi tiếp người mình ưa thì nhìn thẳng nên để lộ tròng mắt xanh, khi tiếp người mình ghét thì nhìn nghiêng để lộ tròng mắt trắng. Trong lời Từ Hải, điển tích này có ý đánh giá rất cao cách nhìn người của Thúy Kiều. |
3. Phần làm văn
3.1. Viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ
|
|
Đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ |
|
Khái niệm |
Là đoạn văn thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của người đọc về một bài thơ tám chữ |
|
Yêu cầu |
- Trình bày cảm nghĩ của người viết về một bài thơ tám chữ. - Cấu trúc gồm ba phần: + Mở đoạn: giới thiệu nhan đề bài thơ, tác giả và cảm nghĩ chung của người viết về bài thơ bằng một câu (câu chủ đề). + Thân đoạn: trình bày cảm xúc, suy nghĩ của bản thân về một hoặc vài nét đặc sắc trong nội dung và hình thức nghệ thuật của bài thơ; làm rõ cảm xúc, suy nghĩ về những hình ảnh, từ ngữ được trích từ bài thơ. + Kết đoạn: khẳng định lại cảm nghĩ về bài thơ và ý nghĩa của bài thơ đối với bản thân. |
|
Dàn ý |
- Mở đoạn: Giới thiệu nhan đề bài thơ, tên tác giả, nêu cảm nghĩ chung về bài thơ - Thân đoạn: Nêu các ý thể hiện cảm xúc, suy nghĩ về một hoặc vài nét độc đáo của bài thơ (nội dung, hình thức nghệ thuật) - Kết đoạn: Khẳng định lại cảm nghĩ về bài thơ và ý nghĩa của nó đối với bản thân |
3.2. Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học
|
|
Phân tích một tác phẩm văn học |
|
Khái niệm |
Thuộc kiểu bài nghị luận văn học, trong đó người viết dùng lí lẽ, bằng chứng để làm sáng tỏ chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm và hiệu quả của nó đối với việc thể hiện nội dung tác phẩm. |
|
Yêu cầu |
- Về nội dung: phân tích được nội dung chủ đề; nêu và phân tích được tác dụng của những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật đối với việc thể hiện nội dung. - Về hình thức: lập luận chặt chẽ, có bằng chứng tin cậy từ tác phẩm, diễn đạt mạch lạc, sử dụng các phương tiện liên kết hợp lí để giúp người đọc nhận ra mạch lập luận của văn bản. - Bố cục bài viết cần đảm bảo: + Mở bài: giới thiệu về tác phẩm văn học (tên tác phẩm, tác giả), nêu ý kiến khái quát về chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm. + Thân bài: lần lượt trình bày các luận điểm làm nổi bật chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật trong tác phẩm và tác dụng của nó đối với việc thể hiện nội dung tác phẩm. + Kết bài: khẳng định lại ý kiến về chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm; nêu suy nghĩ, cảm xúc, trải nghiệm cá nhân hoặc bài học rút ra từ tác phẩm. |
|
Dàn ý |
- Mở bài: + Giới thiệu tên tác phẩm, thể loại, tên tác giả + Khái quát những nét đặc sắc của tác phẩm (chủ để, hình thức nghệ thuật nổi bật) - Thân bài + Trình bày luận điểm về chủ để tác phẩm + Phân tích lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ một vài khía cạnh nội dung chủ đề + Trình bày luận điểm về những nét đặc sắc nghệ thuật + Phân tích lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ các đặc sắc nghệ thuật trong tác phẩm - Kết bài + Khẳng định lại ý kiến về chủ đề, những nét đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm + Nêu suy nghĩ, cảm xúc hoặc bài học rút ra từ tác phẩm |
3.3. Viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử
|
|
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử |
|
Khái niệm |
Thuộc loại văn bản thông tin, được viết nhằm cung cấp thông tin cho người đọc về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử trên các phương diện: vị trí toạ lạc; lịch sử hình thành; đặc điểm kiến trúc, cảnh quan,...; giá trị văn hoa, lịch sử; cách thức tham quan;... |
|
Yêu cầu |
- Giới thiệu rõ ràng, cụ thể về danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử. - Trình bày thông tin theo một số kiểu cấu trúc như: trật tự không gian, trật tự thời gian, quan hệ nhân quả, phân loại đối tượng,... - Dùng đề mục và các dấu hiệu hình thức để làm nổi bật thông tin quan trọng. - Sử dụng kết hợp một số phương tiện phi ngôn ngữ (sơ đồ, bảng biểu, hình ảnh,...) để minh hoa và làm nổi bật thông tin. |
|
Dàn ý |
1. Mở bài - Nêu tên danh lam thang canh hay di tích lịch sử - Giới thiệu khái quát về danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử 2. Thân bài Lần lượt trình bày các thông tin về danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử: vị trí toạ lạc; lịch sử hình thành; đặc điểm kiến trúc, cảnh quan, ...; giá trị lịch sử, văn hóa; cách thức tham quan ;... 3. Kết bài - Đánh giá khái quát về danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử - Bày tỏ suy nghĩ, tình cảm của người viết về danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử - Đưa ra lời mời tham quan (nếu cần) |
3.4. Viết một truyện kể sáng tạo dựa trên một truyện đã đọc
|
|
Viết truyện kể sáng tạo dựa trên một truyện đã đọc |
|
Khái niệm |
Viết một truyện kể sáng tạo dựa trên một truyện kể đã đọc là dùng trí tưởng tượng và kĩ năng kể chuyện của người viết để viết một truyện kể bằng cách phỏng theo một truyện đã đọc với những sáng tạo, kết hợp sử dụng các yếu tố miêu tả, biểu cảm trong khi kể. |
|
Yêu cầu |
- Có nhân vật, cốt truyện, bối cảnh phù hợp; nội dung có tính giáo dục. - Thể hiện được sự sáng tạo của người viết về nội dung truyện đã đọc (khơi sâu, nắn lại chủ đề, bổ sung nhân vật, sự việc; thay đổi bối cảnh, quan hệ;...) hoặc về hình thức (thay đổi ngôi kể, nhân vật; cách tạo dựng đối thoại, độc thoại, biện pháp tu từ, kết hợp miêu tả, biểu cảm;...). - Kết hợp sử dụng yếu tố miêu tả và biểu cảm. - Bố cục truyện kể gồm các phần: + Mở đầu truyện: giới thiệu nhân vật/ bối cảnh/ nội dung chính của truyện kể. + Diễn biến truyện: thuật lại diễn biến các sự việc trong câu chuyện theo một trình tự hợp lí; thể hiện được khả năng tưởng tượng và cách kể chuyện sáng tạo; có kết hợp sử dụng các yếu tố miêu tả, biểu cảm trọng khi kể chuyện. + Kết thúc truyện: phù hợp, gây ấn tượng hoặc gợi suy nghĩ đối với người đọc (tuỳ trường hợp có thể giải thích hoặc khái quát ý nghĩa bài học từ truyện kể). |
B. BÀI TẬP
1. Phần đọc hiểu
Văn bản Quê hương
Câu 1. Đọc đoạn thơ và trả lời các câu hỏi:
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.
a. Đoạn thơ trên được trích trong văn bản nào? Tác giả là ai?
b. Tìm các từ cùng trường từ vựng chỉ sự vật có liên quan đến nghề chài lưới.
c. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong đoạn thơ trên.
Văn bản Bếp lửa
Câu 2. Trong những dòng hồi tưởng về tuổi thơ của người cháu, những kỉ niệm nào về tình bà cháu được gợi lại?
Văn bản Vẻ đẹp của sông Đà
Câu 3. Vẻ đẹp Sông Đà hiện lên như thế nào trong văn bản và được miêu tả từ những góc nhìn nào? Những từ ngữ, hình ảnh nào thể hiện Sông Đà từ những góc nhìn đó?
Văn bản Mùa xuân nho nhỏ
Câu 4. Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi từ 1 đến 4
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
a. Xác định thể loại của đoạn thơ trên.
b. Xác định 2 biện pháp tu từ chính được tác giả sử dụng trong đoạn thơ và phân tích hiệu quả nghệ thuật của chúng?
c. Nêu nội dung chính của đoạn thơ?
d. Đoạn thơ gợi cho em những tình cảm gì về ý nghĩa cuộc sống của mỗi con người?
e. Nốt nhạc trong bài thơ thể hiện nét gì? Điều đó góp phần gì vào việc thể hiện nguyện ước của tác giả?
Văn bản Về hình tượng bà Tú trong bài thơ Thương vợ
Câu 5. Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
THƯƠNG VỢ
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:
Có chồng hờ hững cũng như không!
a. Tú Xương gửi gắm tâm sự gì qua hai câu thơ “Một duyên hai nợ âu đành phận/ Năm nắng mười mưa dám quản công”?
b. Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong hai câu thơ:
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
c. Từ ngữ nào trong câu thơ “Lặn lội thân cò khi quãng vắng” có giá trị miêu tả ngoại hình bà Tú? Ý nghĩa của hình ảnh đó?
Văn bản Ý nghĩa văn chương
Câu 6. Hãy nêu lên quan niệm của Hoài Thanh về mối liên hệ giữa văn chương và sự sống. Nên hiểu từ “sự sống” trong cụm từ “sáng tạo ra sự sống” như thế nào?
Văn bản Thơ ca
Câu 7. Tác giả đã sử dụng những hình ảnh so sánh nào để nói về thơ ca? Em thích hình ảnh nào nhất? Vì sao?
Văn bản Tính đa nghĩa trong bài thơ Bánh trôi nước
Câu 8. Xác định luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng của văn bản.
Văn bản Vườn Quốc gia Cúc Phương
Câu 9. Văn bản đã trình bày (những) thông tin cơ bản nào? Nhan đề Vườn Quốc gia Cúc Phương đã làm nổi bật và khái quát được nội dung của toàn văn bản chưa? Vì sao?
Văn bản Ngọ Môn
Câu 10. Văn bản Ngọ Môn thể hiện những đặc điểm nào của kiểu văn bản giới thiệu một di tích lịch sử? Em căn cứ vào đâu để xác định?
Văn bản Nhiều giá trị khảo cổ từ Hoàng thành Thăng Long cần được UNESCO công nhận
Câu 11. Xác định thông tin cơ bản của văn bản. Theo em, nhan đề của văn bản có vai trò như thế nào trong việc thể hiện thông tin cơ bản của văn bản?
Văn bản Cột cờ Thủ Ngữ – Di tích bên sông Sài Gòn
Câu 12. Mục đích viết của văn bản là gì? Những đặc điểm nào của văn bản giúp em nhận ra mục đích ấy?
Văn bản Chuyện người con gái Nam Xương
Câu 13. Vũ Thị Thiết, người con gái Nam Xương, tính tình đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp. Trong làng có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương Sinh có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải bất hòa. Cuộc sum vầy chưa được bao lâu thì xảy ra việc triều đình bắt lính đi đánh giặc Chiêm. Trương tuy con hào phú nhưng không có học, nên phải ghi trong sổ lính vào loại đầu.
a. Đoạn trích trên được viết theo phương thức biểu đạt nào?
b. Nội dung tổng quát của đoạn trích trên là gì?
c. Giải thích cụm từ “tư dung tốt đẹp” và từ “dung hạnh” được sử dụng trong hai câu đầu đoạn trích.
d. Em hãy nêu ra phương thức liên kết trong đoạn văn trên?
e. Tìm thành phần biệt lập được sử dụng trong đoạn trích trên?
Văn bản Truyện lạ nhà thuyền chài
Câu 14. Tóm tắt nội dung câu chuyện và cho biết các sự kiện trong câu chuyện được sắp xếp theo trật tự thời gian, không gian như thế nào.
Văn bản Sơn Tinh, Thủy Tinh
Câu 15. Liệt kê những chi tiết miêu tả Mị Nương và nêu cảm nhận của em về Mị Nương qua những chi tiết đó
Văn bản Dế chọi
Câu 16. Phân tích tác dụng của những yếu tố kì ảo trong truyện Dế Chọi
Văn bản Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga
Câu 17. Qua hành động đánh cướp và cách cư xử với Kiều Nguyệt Nga, hình ảnh Vân Tiên nổi bật với những phẩm chất nào?
Văn bản Thúy Kiều báo ân, báo oán
Câu 18. 12 câu thơ đầu tả cảnh Thúy Kiều báo ân (trả ơn).
a. Qua những lời Thúy Kiều nói với Thúc Sinh, các em học sinh thấy Kiều là người thế nào?
b. Tại sao lúc trả ơn Thúc Sinh, Kiều lại nói với Thúc Sinh về Hoạn Thư? Có sự khác nhau như thế nào trong ngôn ngữ của Kiều nói với Thúc Sinh và khi nói về Hoạn Thư? Tại sao lại có sự khác nhau ấy?
Văn bản Nhân vật lí tưởng trong kết thúc của truyện cổ tích thần kì
Câu 19. Theo tác giả bài viết, kết thúc của truyện cổ tích thần kì phản ánh ước mơ gì của quần chúng nhân dân? (Những) ước mơ ấy thường được thể hiện như thế nào qua cách kết thúc của truyện cổ tích thần kì?
Văn bản Tiếng đàn giải oan
Câu 20. Tóm tắt các sự kiện được kể, liệt kê các nhân vật và xác định nhân vật chính trong văn bản Tiếng đàn giải oan. Nhân vật chính là người như thế nào? Từ đó, nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện thơ
2. Phần tiếng Việt
2.1. Biện pháp tu từ Chơi chữ
Câu 1. Tìm các hiện tượng chơi chữ trong các phần trích sau và cho biết chúng thuộc về lối chơi chữ nào?
a. Khi đi cưa ngọn, khi về cũng cưa ngọn
b. Trên trời rơi xuống mà lại mau co
c. Bò lang chạy vào làng Bo
d. Leo thang tất phải theo lang
Câu 2. Xác định biện pháp tu từ chơi chữ trong những câu dưới đây. Chỉ rõ lối chơi chữ trong mỗi câu và tác dụng của chúng.
a)
Bán rượu, bán chè, không bán nước.
Buôn trăm, buôn chục, chẳng buôn quan.
(Câu đối)
b)
Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
(Nguyễn Du)
c)
Ngọt thơm sau lớp vỏ gai,
Quả ngon lớn mãi cho ai đẹp lòng.
Mời cô mời bác ăn cùng,
Sầu riêng mà hóa vui chung trăm nhà.
(Phạm Hồ)
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ chơi chữ trong các trường hợp dưới đây:
a. Một nghề cho chín1 còn hơn chín2 nghề.
b. Sánh với Na-va "ranh tướng" Pháp
Tiếng tăm nồng nặc ở Đông Dương
(Tú Mỡ)
c. Mênh mông muôn mẫu một màu mưa
Mỏi mắt miên man mãi mịt mờ.
2.2. Biện pháp tu từ Điệp thanh, điệp vần
Câu 4. Xác định biện pháp tu từ điệp thanh và điệp vần trong các trường hợp sau:
a) Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trăng nắng chang chang
b) Em ơi ba lan mùa tuyết tan
Đường bạch dương sương trăng nắng tràn
Anh đi bao tiếng người xưa vọng
Một giọng thơ ngâm một giọng đàn
Câu 5. Tìm các biện pháp tu từ điệp thanh, điệp vần trong những câu dưới đây. Chỉ ra tác dụng của chúng.
a)
Đoạn trường thay lúc phân kì,
Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.
(Nguyễn Du)
b)
Tài cao phận thấp chí khí uất,
Giang hồ mê chơi quên quê hương.
(Tản Đà)
c)
Bác đi... Di chúc giục lòng ta
Cho cả muôn đời một khúc ca
(Tố Hữu)
d)
Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan
Đường bạch dương sương trắng nắng tràn
(Tố Hữu)
2.3. Phương tiện phi ngôn ngữ
Câu 6. Nêu các phương tiện phi ngôn ngữ có thể sử dụng trong cuộc sống hàng ngày.
Câu 7. Sử dụng các kí hiệu phi ngôn ngữ để thiết kế một bản hướng dẫn nơi công cộng dựa trên những thông tin sau:
Hướng dẫn tham quan khu trung tâm, vườn Quốc gia Cúc Phương
Động Sơn Cung, cây chò ngàn năm
7km đi bộ cả đi và về; thời gian tham quan: 2-3 giờ; du khách có thể tự đi hoặc đi cùng hướng dẫn viên của vườn Quốc gia.
Cây sấu cổ thụ
6km đi bộ cả đi và về; thời gian tham quan: 1,5-2 giờ; du khách có thể tự đi hoặc đi cùng hướng dẫn viên của vườn Quốc gia.
Bản Mường
15km đi bộ xuyên qua rừng già và một đêm nghỉ lại tại nhà sàn truyền thống; có hướng dẫn viên của vườn Quốc gia đi cùng.
Đỉnh Mây Bạc
7km đi bộ; thời gian tham quan: 4-5 giờ; có hướng dẫn viên của vườn Quốc gia đi cùng.
2.4. Lời đối thoại, lời độc thoại
Câu 8. Xác định các hình thức: đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong đoạn trích sau
a. Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn
- Em thắp đèn lên chị Liên nhé
Nghe tiếng An, Liên đứng dậy trả lời:
- Hẵng thong thả một lát nữa cũng được. Em ra ngồi đây với chị kẻo trong muỗi.
An bỏ bao diêm xuống bàn cùng chị ra ngoài chõng ngồi; chiếc chõng nan lún xuống và kêu cót két.
- Cái chõng này sắp gãy rồi chị nhỉ?
- Ừ để rồi chị bảo mẹ mua cái khác thay vào.
(Thạch Lam, Hai đứa trẻ)
b.
Một mình nương ngọn đèn khuya
Áo dầm giọt lệ tóc se mái đầu
Phận rầu dầu vậy cũng dầu
Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời.
Công trình kể biết mấy mươi
Vì ta khăng khít cho người dở dang
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
c. Một hôm, tôi phàn nàn về việc ấy với binh Tư. Binh Tư là một người láng giềng khác của tôi. Hắn làm nghề ăn trộm nên vốn không ưa lão Hạc bởi vì lão lương thiện quá. Hắn bĩu môi và bảo:
- Lão làm bộ đấy! Thật ra thì lão chỉ tâm ngẩm thế, nhưng cũng ra phết
chứ chả vừa đâu. Lão vừa xin tôi một ít bả chó...
Tôi trố to đôi mắt, ngạc nhiên. Hắn thì thầm:
- Lão bảo có con chó nhà nào cứ đến vườn nhà lão... Lão định cho nó xơi một bữa. Nếu trúng, lão với tôi uống rượu.
Hỡi ơi lão Hạc! Thì ra đến lúc cùng lão cũng có thể làm liều như ai hết... Một người như thế ấy!... Một người đã khóc vì trót lừa một con chó!... Một người nhịn ăn để tiền lại làm ma, bởi không muốn liên lụy đến hàng xóm, láng giềng.. Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót binh Tư để có ăn ư? Cuộc đời quả thật cứ một ngày một thêm đáng buồn...
(Nam Cao. Lão Hạc)
Câu 9. Tìm những lời đối thoại có trong câu chuyện sau. Theo em, cần sử dụng dấu câu nào để đánh dấu lời đối thoại của nhân vật.
Khi đã trở thành nhà bác học lừng danh thế giới, Đác-uyn vẫn không ngừng học. Có lần thấy cha còn miệt mài đọc sách giữa đêm khuya, con của Đác-uyn hỏi: Cha đã là bác học rồi, còn phải ngày đêm nghiên cứu làm gì cho mệt? Đác-uyn bĩnh thản đáp: Bác học không có nghĩa là ngừng học.
2.5. Cách dẫn trực tiếp, cách dẫn gián tiếp
Câu 10. Tìm lời dẫn trong những đoạn trích sau (trích từ truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao). Cho biết đó là lời nói hay ý nghĩ được dẫn, là lời dẫn trực tiếp hay gián tiếp?
a) Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi, như muốn bảo tôi rằng: A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão đối xử với tôi như thế này à?”.
b) Sau khi thằng con đi, lão tự bảo rằng: “Cái vườn là của con ta. Hồi còn mồ ma mẹ nó, mẹ nó cố thắt lưng buộc bụng, dè sẻn mãi, mới để ra được năm mươi đồng bạc tậu. Hồi ấy, mọi thức còn rẻ cả…”
Câu 11. Hãy chuyển đoạn trích sau trở thành lời dẫn gián tiếp:
a. Chưa đến bực cửa, ông lão đã bô bô:
- Bác Thứ đâu rồi? Bác Thứ làm gì đấy? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhẵn! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên đây cải chính, ông ấy cho biết… cải chính cái tin làng Chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo! Láo hết! Toàn sai sự mục đích cả.
b. Anh Sáu cứ vẫn ngồi im. Tôi dọa nó:
- Cơm mà nhão, mà cháu về thế nào cũng bị đòn. Sao cháu không gọi ba cháu. Cháu gọi một tiếng “ba” không được sao?
Câu 12. Tìm lời dẫn cho những đoạn trích sau, xác định đó là lời nói hay ý nghĩa được trích dẫn, và xác định liệu đó là lời dẫn trực tiếp hay gián tiếp?
a, Họa sĩ suy tư: “Khách tới đột ngột, chắc em chưa kịp dọn dẹp, gấp chăn chẳng hạn”. Ông ngạc nhiên khi bước lên bậc thang bằng đất, thấy chàng trai đang hái hoa. Cô kỹ sư chỉ “ô” lên một tiếng! Sau gần hai ngày, qua gần bốn trăm cây số đường cách xa Hà Nội…
b, Anh Nhuận Thổ nói:
- Lạy ông cụ ạ! Con đã nhận được thư của ông, biết ông sắp về chơi, thật là vui quá!
Mẹ tôi vui vẻ nói:
- Ừ, sao lại xa cách như vậy! Chẳng phải là trước đây, ta vẫn gọi nhau là anh em chứ! Hãy gọi là anh Tấn như trước đi!
Câu 13. Chuyển đoạn trích sau thành lời dẫn gián tiếp:
a. Trước khi đến cửa, ông lão đã lẩm bẩm:
- Ông Thứ ở đâu rồi? Ông Thứ đang làm gì đấy? Tây nó đốt nhà tôi rồi ông ạ. Đốt sạch! Ông chủ tịch làng tôi mới đến đây làm rõ, ông ấy cho biết… làm rõ tin đồn làng Chợ Dầu chúng tôi đến Việt gian ấy mà. Lừa! Lừa hết! Toàn sai sự mục đích cả.
b. Anh Sáu vẫn ngồi im lặng. Tôi đe dọa nó:
- Cơm nhão như thế này, về nhà thì cháu cũng phải nhận phải một trận đòn. Sao cháu không gọi ba cháu. Gọi một tiếng “ba” cũng không được sao?
2.6. Điển tích, điển cố
Câu 14. Hãy phân tích ý nghĩa của điển tích: nước cành dương, mạc cưa mướp đắng, mắt xanh
Câu 15. Xác định điển tích, điển cố và nêu tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố trong các trường hợp sau
a. Trướng hùm mở giữa trung quân,
Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi.
Tiên nghiêm, trống chửa dứt hồi,
Điểm danh trước dẫn chực ngoài cửa viên.
(Nguyễn Du, truyện Kiều)
b.
Cho gươm mời đến Thúc Lang,
Mặt như chàm đổ, mình dường dẽ run.
Nàng rằng: “Nghĩa trọng nghìn non,
Lâm Tri người cũ, chàng còn nhớ kkhông?
Sâm, Thương chẳng vẹn chữ tòng,
Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?
Gần trăm cuối, bạc nhìn cân.
Tạ lòng dễ xứng, báo ân gọi là, […]”
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
3. Phần làm văn
3.1. Viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ
Câu 1. Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh
Câu 2. Tìm hiểu tâm hồn Tế Hanh qua bài thơ Quê hương
Câu 3. Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt
Câu 4. Nêu cảm nhận của em về tình bà cháu và hình ảnh bếp lửa trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt
3.2. Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học
Câu 5. Phân tích tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương
Câu 6. Phân tích tác phẩm Dế chọi
Câu 7. Phân tích tác phẩm Sơn Tinh Thủy Tinh của Nguyễn Nhược Pháp
Câu 8. Phân tích văn bản Truyện lạ nhà thuyền chài
3.3. Viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử
Câu 9. Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Chùa Hương
Câu 10. Hãy viết bài văn thuyết minh về Lăng Bác
Câu 11. Hãy viết bài văn thuyết minh về Cố đô Huế
Câu 12. Hãy viết bài văn thuyết minh về Văn miếu Quốc Tử Giám
3.4. Viết một truyện kể sáng tạo dựa trên một truyện đã đọc
Câu 13. Hãy kể lại Chuyện người con gái Nam Xương theo góc nhìn của em.
Câu 14. Hãy tưởng tượng mình là một nhân vật trong truyện Dế chọi và kể lại câu chuyện
Câu 15. Hãy kể lại truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh bằng lời văn của em
C. LỜI GIẢI CHI TIẾT
1. Phần đọc hiểu
Câu 1.
a.
- Văn bản: Quê hương
- Tác giả: Tế Hanh.
b. Trường từ vựng liên quan đến nghề chài lưới: Thuyền, mái chèo, buồm.
c.
- Biện pháp so sánh:
“Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã”
“Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng”
- Tác dụng
+ Giúp câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn.
+ Khiến cho sự vật trở nên có thần, có hồn, sức truyền cảm mạnh mẽ: Con thuyền như một chú ngựa đẹp đẽ, với sức lực phi thường, vươn mình trên biển cả mênh mông, rộng lớn.
+ Hình ảnh cánh buồm vốn giản dị, mộc mạc bỗng trở nên vĩ đại, lớn lao và thiêng liêng biết bao nhiêu, cánh buồm đã trở thành biểu tượng, linh hồn của quê hương. Cùng với đó là hình ảnh nhân hóa “rướn” cho thấy sức mạnh không chỉ của con thuyền căng mình lao về phía trước mà đằng sau đó là niềm tin, khát vọng của những người dân chài lưới vào một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Câu 2. Những kỉ niệm về tuổi thơ được gợi lại trong tâm trí người cháu:
- Tuổi thơ nhiều gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằm từ năm lên bốn tuổi đó là những năm tháng chiến tranh gian khổ ác liệt: “đói mòn đói mỏi”.
+ Cái đói ám ảnh tâm trí đứa trẻ, nhà thơ đã cho ta thấy một quá khứ tang thương đầy những thảm cảnh của dân tộc gắn với thân phận người dân mất nước.
+ Những hình ảnh đau thương của dân tộc gây ấn tượng mạnh, sâu đậm với tâm hồn nhà thơ, ấn tượng về khói bếp “hun nhèm mắt”.
- Tuổi thơ có gian khổ của những ngày giặc ngoại xâm gây tội ác.
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
- Dòng hồi tưởng của đứa cháu gắn với âm thanh của tiếng chim tu hú, âm thanh quen thuộc nơi đồng quê mỗi dịp hè về cứ vang vọng, cuộn xoáy trong lòng người xa xứ.
+ Với 11 câu thơ, tiếng tu hú được nhắc tới 5 lần, khi thảng thốt, khi khắc khoải, lúc lại mơ hồ từ những cánh đồng xa.
+ Không gian mênh mông, bao la, buồn tới lạnh lùng. Trong từng cung bậc của tiếng tu hú, tình cảm, nỗi nhớ của người cháu càng trở nên da diết, mạnh mẽ hơn.
→ Tác giả lựa chọn những hình ảnh, âm thanh tiêu biểu nhắc lại những ấn tượng khó phai về tuổi thơ của chính mình.
Câu 3.
- Vẻ đẹp hùng vĩ, trữ tình, thơ mộng, hoang sơ của sông Đà. Các góc nhìn: từ trên máy bay nhìn xuống, từ trên mặt đất, trên sông nhìn sang hai bờ sông.
- Một số từ ngữ miêu tả sông Đà từ góc nhìn trên cao: cái dây thừng ngoằn ngoèo, từng nét sông tãi ra trên đại dương đá lờ lờ bóng mây, tuôn dài như một áng tóc trữ tình, mùa xuân dòng xanh ngọc bích; từ ngữ miêu tả sông Đà từ góc nhìn trên mặt đất: màu nắng tháng ba Đường thi, bờ sông Đà, bãi sông Đa, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà; từ ngữ miêu tả sông Đà từ hai bên bờ sông: cảnh ven sông lặng tờ, nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa, cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp, đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh, bờ sông hoang dại.
Câu 4.
a. Thể loại: thơ 5 chữ
b. Các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ: (Các em lựa chọn 2 trong các BPTT bên dưới)
- Biện pháp điệp ngữ: “ta làm” diễn tả khát vọng muốn được làm những việc hữu ích dâng hiến cho cuộc đời được bày tỏ qua những hình ảnh tự nhiên, giản dị: chim, nhành hoa, nốt trầm.
+ Điệp từ “ta” như một lời khẳng định, đó không chỉ là ước nguyện của nhà thơ mà còn là ước nguyện chung của rất nhiều người.
+ Biện pháp đảo ngữ trong câu thơ “lặng lẽ dâng cho đời”: nhấn mạnh vào trạng thái thầm lặng khi cống hiến, khát vọng được hóa thân một cách lặng lẽ, khiêm nhường.
+ Điệp ngữ “dù là” nhấn mạnh vào sự tha thiết cũng như sức cống hiến không ngừng nghỉ, có thể nói đây là sự tận hiến của người khát khao sống có ích cho đời dù là khi trẻ hay già.
+ Mùa xuân nho nhỏ: biện pháp ẩn dụ đầy sáng tạo thể hiện thiết tha và cảm động ước mong được cống hiến, sống đẹp và có ích với cuộc đời chung.
c. Nội dung chính của đoạn thơ là khát vọng mãnh liệt của nhà thơ khi muốn hóa thân mình thành một mùa xuân nho nhỏ lặng lẽ tỏa hương cho đời để cống hiến cho đất nước, nhân dân những điều cao đẹp.
d. Đảm bảo yêu cầu về hình thức của đoạn văn.
Nội dung nêu được những ý cơ bản: Sống ở trên đời phải biết sống vì cái chung, phải biết cống hiến cho đời. Cuộc sống vì vậy mới trở nên thật sự có ý nghĩa.
e. “Một nốt trầm” chính là sự khiêm nhường, lặng lẽ của tác giả giữa bản giao hưởng bất tận của cuộc sống. Nốt trầm góp một chút công sức để các nốt nhạc khúc thăng hoa hơn, ở đây tác giả rất tinh tế khi kết hợp nốt trầm lắng với tính từ “xao xuyến”. Như vậy, chính nốt trầm cũng tạo dấu ấn, gây được những xao động đẹp đẽ trong lòng người đọc. Qua đó thể hiện nguyện ước chân thành, nhỏ bé của nhà thơ được hóa thân thành những điều đẹp đẽ như nốt trầm xao xuyến kia, luôn có mặt, hiện hữu trong bản đàn muôn bậc của sự sống.
Câu 5.
a. Sự trân trọng của ông đối với tấm lòng và đức độ của bà Tú.
b. Nghệ thuật của 2 câu thơ
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
- Sử dụng lối nói dân gian một cách sáng tạo.
- Sử dụng từ láy giàu giá trị gợi hình biểu cảm.
- Sử dụng biện pháp đảo ngữ và nghệ thuật đối.
→ Tác dụng: Thể hiện sự hoá thân của đối tượng trữ tình thành “thân cò”, làm nổi bật cái vất vả đảm đang của bà Tú và ẩn sau câu chữ vẫn là tấm lòng nhà thơ với cái nhìn ái ngại, cảm thông.
c.
- Từ ngữ có giá trị miêu tả ngoại hình bà Tú: thân cò (lam lũ, vất vả, chịu thương, có phần xót xa, tội nghiệp xuất hiện trong cái rợn ngợp của cả không gian và thời gian).
- Trong ca dao hình ảnh con cò thường dùng để chỉ người phụ nữ trong xã hội cũ. Ở đây Tú Xương đã sử dụng hình ảnh ẩn dụ để chỉ sự lam lũ cực nhọc của bà Tú.
Câu 6.
- Hoài Thanh đã thấy được mối quan hệ hai chiều giữa văn chương và sự sống.
+ Một mặt, văn chương là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng.
+ Mặt khác, văn chương lại có thể sáng tạo ra sự sống.
- Nên hiểu từ “sự sống” trong cụm từ “sáng tạo ra sự sống” theo hai bình diện:
+ Bình diện cuộc sống cụ thể: văn chương không thể sáng tạo ra được bản thân đời sống vật chất, tuy nhiên văn chương tái hiện lại đời sống ấy, tái tạo nó theo một cách mới.
+ Bình diện cuộc sống tinh thần: văn chương khơi gợi cảm xúc, tình cảm.
Câu 7. Tác giả đã sử dụng những hình ảnh so sánh đề nói về thơ ca là:
- Thơ như bài hát ru, như mơ ước mùa xuân, như khát vọng chiến công
- Thơ giống như bà mẹ, như người yêu, thơ sẽ là con gái
- Thơ như trái núi cao không thể tới, như cánh chim sà đậu xuống lòng tay
- Thơ như đôi cánh nâng tôi bay
- Thơ như là vũ khí trong trận đánh
- Thơ là tất cả
- Thơ là công viẹc tân cùng, là rảnh rỗi bắt đầu, …
=> Em thích nhất hình ảnh thơ “Khi tôi nhỏ, thơ giống như bà mẹ/ Tôi lớn lên, thơ lại giống người yêu” Vì thơ ca theo chúng ta đến suốt cuộc đời, thơ ca là vĩnh cữu. Thơ luôn ân cần, chu đáo như vậy. Khi thì dịu dàng, đong đầy tình cảm luyện cho ta những tình cảm tốt đẹp như người mẹ, khi lại nồng nàn, đong đầy tình yêu lứa đôi.
Câu 8.
|
Luận đề của văn bản: Tính đa nghĩa trong bài thơ Bánh trôi nước |
|
|
Luận điểm 1: Nghĩa thực của chiếc bánh trôi |
Luận điểm 2: Nghĩa ẩn dụ về con người |
|
Lí lẽ: Quá trình hình thành của chiếc bánh trôi |
Lí lẽ: Nhan sắc, thân phận và phẩm chất của người phụ nữ trong xã hội cũ |
|
Bằng chứng - Tác giả đưa ra cách làm bánh trôi qua việc miêu tả quá trình ấy, qua đó thấy được Hồ Xuân Hương là một người am hiểu về miêu tả sự vật. - Bánh trôi như có linh hồn hay chính Hồ Xuân Hương đã thổi hồn vào nó. |
Bằng chứng - Tác giả phân tích bài thơ sử dụng các bằng chứng trong bài để chứng mình về lí lẽ trên - Tác giả liên hệ tới thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ đó là phụ thuộc, long đong nhưng bản lĩnh của họ sẽ vượt lên trên cảnh ngộ, vẫn son sắt thuỷ chung... |
Câu 9.
- Những thông tin cơ bản của VB: VB đã giới thiệu những đặc điểm quan trọng của Vườn Quốc gia Cúc Phương khiến nơi đây trở thành điểm đến sinh thái nổi tiếng, hấp dẫn với những người ai say mê khám phá và du lịch:
+ Điểm độc đáo về quần thể động, thực vật.
+ Đặc sắc về cảnh quan thiên nhiên và giá trị văn hoá.
- Nhan đề Vườn Quốc gia Cúc Phương đã khái quát được nội dung của toàn VB vì tất cả các thông tin cơ bản của VB này đều tập trung hướng đến việc giới thiệu, làm rõ những đặc điểm của Vườn Quốc gia Cúc Phương.
Câu 10.
1. Về cấu trúc: Thể hiện đầy đủ cấu trúc của một VB thông tin giới thiệu về một di tích lịch sử.
- Sapo: "Ngọ Môn là công trình kiến trúc ... cố đô Huế": Giới thiệu tóm tắt nội dung bài viết, tạo sự lôi cuốn đối với người đọc.
- Phần 1: “Ngọ Môn là cổng chính, cổng phía nam của Hoàng thành được xây dựng vào năm 1833 ... vị vua cuối cùng của Việt Nam vào ngày 30/8/1945.": Giới thiệu khái quát về di tích lịch sử Ngọ Môn ở Huế.
- Phần 2: "Đặc điểm kiến trúc Ngọ Môn... Chúng được làm tương đối đơn giản, không cầu kì nhưng lại rất thanh thoát, đẹp mắt, có tính mĩ thuật cao.": Giới thiệu một cách có hệ thống những phương diện khác nhau (đặc điểm kiến trúc, nét riêng trong cách trang trí) làm nên giá trị biểu tượng của Ngọ Môn trong kiến trúc cung đình Huế.
- Phần 3: "Ngọ Môn là một tổng thể kiến trúc có vóc dáng đồ ... phong cảnh thiên nhiên và tình cảm, tâm hồn của người dân đất Việt nói chung, xứ Huế nói riêng" ...: Nhận xét khái quát về giá trị của di tích Ngọ Môn; qua đó bày tỏ tình cảm, thái độ của người viết dành cho di tích.
2. Về đặc điểm hình thức:
- Hệ thống đề mục (Đặc điểm kiến trúc Ngọ Môn, Net riêng trong cach trang trí Ngọ Môn) để làm nổi bật thông tin cơ bản của VB.
- Từ ngữ chuyên ngành kiến trúc (ví dụ: cồng chính, nền cổng, lễ đài, thành, mặt bằng, công trình, cuốn vòm, đình cửa, thiết kế, cuốn vòm, đỉnh cổng, xà ngang, xà dọc, gạch vồ, đá thanh, lan can, tráng men, cột, ... ), lịch sử (ví dụ: triều đình, vua, lễ Ban sóc, lễ thoái vị, Hoàng thành...)
- Từ ngu giau giá trị miêu tả, biểu cảm: bề thế, đồ sộ, lối cuốn vòm, hình cung, gạch hoa đúc rỗng tráng men ngũ sắc, công phu, tỉ mỉ,...
- Hình ảnh minh hoạ.
3. Về cách trình bày thông tin:
- Trình bày thông tin theo trật tự không gian (ví dụ: đoạn mô tả kết cấu các cửa của nền đài, ... ).
- Trình bày theo các đối tượng phân loại (cấu trúc của hai hệ thống: hệ thống nền đài, hệ thống lầu Ngũ Phụng).
- Trình bày thông tin theo mối quan hệ nhân quả (thông tin lí giải về tên gọi lầu Ngũ Phụng theo quan niệm dân gian).
Câu 11.
- Thông tin cơ bản của VB: quá trình và kết quả nghiên cứu khảo cổ khu Hoàng thành Thăng Long; nghiên cứu khảo cổ tại Hoàng thành Thăng Long là công trình có giá trị, cần được UNESCO công nhận.
- Vai trò của nhan đề trong việc thể hiện thông tin cơ bản của VB: khái quát thông tin cơ bản của VB, giúp người đọc có định hướng tiếp nhận VB tốt hơn.
Câu 12.
- Mục đích viết của VB: cung cấp cho người đọc thông tin về di tích Cột cờ Thủ gữ.
- Các đặc điểm của VB Cột cờ Thủ Ngữ - Di tích cổ bên sông Sài Gòn thể hiện rõ đặc điểm của kiểu VB giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử, dự trên cơ sở đó người đọc có thể xác định được mục đích viết của VB:
|
Đặc điểm của văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lich sử |
Đặc điểm của kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử thể hiện trong văn bản Cột cờ Thủ Ngữ - Di tích cổ bên sông Sài Gòn |
|
Cấu trúc của VB |
- Sapo: "Cột cờ Thủ Ngữ nằm ở góc cong ... trên nóc hầm Thủ Thiêm": Giới thiệu trực tiếp, ngắn gọn về vị trí của Cột cờ Thủ Ngữ hiện nay, nội dung này của đoạn sapo có sự tiếp nối với các phần còn lại của VB. Tác dụng: xác định trực tiếp di tích lịch sử sẽ giới thiệu trong nội dung bài viết, cung cấp lượng thông tin “vừa đủ" về đối tượng và kết nối chặt chẽ với nội dung VB để thu hút sự chú ý, hứng thú của người đọc. - Phần mở đầu: không có: Trong trường hợp của VB thông tin này, phần mở đầu có thể đã được chuyển thành sapo. - Phần nội dung:"Một trong những công trình cổ nhất của Sài Gòn ... Cột cờ Thủ Ngữ mang trên mình một bề dày lịch sử, làm chứng nhân cho sự phát triển và lớn mạnh không ngừng của Sài Gòn xưa, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.": Giới thiệu một cách có hệ thống những phương diện khác nhau (quá trình hình thành và sự thay đổi về kết cấu, diện mạo, chức năng của di tích cũng như những khu vực lân cận; bề dày lịch sử) làm nên dấu ấn cổ xưa của Cột cờ Thủ Ngữ để nơi đây xứng đáng được xem là di tích cổ bên sông Sài Gòn. - Phần kết thúc: "Thành phố bên sông ngày nay ... cùng với bến Nhà Rồng lịch sử": Nhận xét khái quát về giá trị của di tích Cột cờ Thủ Ngữ; qua đó bày tỏ tình cảm, thái độ của người viết dành cho di tích lịch sử này. |
|
Đặc điểm hình thức của VB |
VB sử dụng: - Hệ thống đề mục (Một trong những công trình cổ nhất của Sài Gòn, bề dày lịch sử) để làm nổi bật thông tin cơ bản của VB. - Từ ngữ chuyên ngành kiến trúc (ví dụ: công trình, chân đế, sàn, khối nhà, mặt bằng, kết cấu, mái dốc, ... ), lịch sử (ví dụ: Cách mạng tháng Tám, Pháp, quân Anh, kháng chiến, cuộc xâm lược, lực lượng quân và dân Nam Bộ, .. ). - Từ ngữ giàu giá trị miêu tả, biểu cảm: nhộn nhịp, quyết liệt, ngoan cường, ... - Hình ảnh minh hoạ. |
|
Cách trình bày thông tin của VB |
VB sử dụng phối hợp nhiều cách trình bày thông tin: - Trình bày thông tin theo trật tự thời gian (trình bày thông tin về sự hình thành và phát triển của Cột cờ Thủ Ngữ, ... ). - Trình bày thông tin theo mối quan hệ nhân quả (thông tin lí giải về tên gọi của di tích). |
Câu 13.
a. Đoạn trích trên được viết theo phương thức tự sự.
b. Nội dung chính: giới thiệu về nhân vật Vũ Nương - người con gái đẹp người đẹp nết được Trương Sinh, con nhà hào phú, cưới về làm vợ.
c. Tư dung tốt đẹp: nhan sắc và dáng vẻ tốt đẹp.
- Dung hạnh: chỉ nhan sắc và đức hạnh.
Ý nói Vũ Nương là người con gái không chỉ đẹp về ngoại hình, dung nhan mà còn đức hạnh.
d. Phương thức liên kết trong đoạn văn trên: phép nối, phép lặp, phép thế.
- Phép nối: từ ngữ để nối “song”.
- Phép thế: từ “nàng”, “vợ” thế cho từ “Vũ Nương”.
- Phép lặp: từ “Trương Sinh”.
e. Thành phần biệt lập: thành phần phụ chú (người con gái quê ở Nam Xương), nhằm bổ sung thông tin về quê quán cho nhân vật được kể.
Câu 14.
1. Do hiếm muộn, 60 tuổi vợ chồng lão đánh cá mới sinh được cậu con trai đặt tên là Thúc Ngư.
2. Khi đã 15 tuổi, Thúc Ngư không chịu đi học theo lời khuyên của cha với lí do: trong sách không có cá và không thể lấy lời nói và việc làm của thánh hiền mà đánh cá được. Rồi Thúc Ngư bỏ công sức hai, ba năm lặng lẽ tự mình đi tìm bằng được “một người vợ về làm thay cha mẹ, chung sức lại có thể kiếm được nhiều tiền hơn, may ra nghiệp nhà có thể khá lên được ít nhiều".
3. Một lần, cha mẹ Thúc Ngư mải đánh cá, trời tối, lạc lối về. Ông bà tình cờ gặp được cha mẹ của Ngọa Vân; được tiếp đón rất nhiệt tình, nồng hậu, lại gặp mặt được cả Ngoạ Vân, cô con dâu tương lai. Hai bên vui vẻ kết làm thông gia. Ngoạ Vân dùng phép thuật đưa ông bà về tận nhà chỉ trong chớp mắt. Hôn lễ của Thúc Ngư - Ngoạ Vân được tiến hành sau đó không lâu.
4. Từ đó, nhờ có sự góp sức của Ngọa Vân, công việc đánh cá thuận lợi, bội thu, gia tư giàu có dần. Cứ như thế được bốn năm. Chẳng may, một đêm gia đình nghỉ đánh cá, đang khi làm lễ “khất xảo" thì tai hoạ xảy ra. Biển khơi dậy sóng lớn, nhấn chìm tất cả. Ngoạ Vân phải tận lực dùng phép thuật ngăn sóng dữ cứu được cha mẹ Thúc Ngư, Thúc Ngư và gia sản nhà chồng. Tuy vậy, khi đã để lộ bí mật của bản thân và “thiên cơ", Ngọa Vân phải từ biệt chồng và cha mẹ chồng. Nàng khóc, giã biệt mọi người bằng một bài hát bi thương và không quên để lại cho Thúc Ngư một bí quyết phòng tránh gió to, sóng dữ nơi biển cả.
Cuối truyện là lời bàn của Sơn Nam Thúc
Câu 15.
- Những chi tiết miêu tả Mị Nương: Con vua Hùng Vương thứ mười tám, xinh như tiên, tóc xanh, viền má hây hây đỏ, miệng bé thắm như san hô, tay trắng nõn, hai chân nhỏ, bao người mê nên làm thơ ca ngợi,...
- Những chi tiết đó giúp ta cảm nhận Mị Nương là một người con gái xinh đẹp tuyệt trần, nền nã, nết na và rất đáng yêu. Đáng yêu không chỉ bởi vẻ đẹp ngoại hình mà còn bởi cách thể hiện cảm xúc (nghĩ vì mình mà xảy ra cuộc chiến khốc liệt giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh): Mị Nương kinh hãi ngồi trong kiệu/ Bỗng chợt nàng kêu, mắt lệ nhoà/ (Giọng kiêu hay buồn không ai hiểu/ Nhưng thật dễ thương): "Ô! Vì ta!” ... Cũng qua miêu tả từ hình thức tới cách thể hiện nội tâm, ta thấy nàng Mị Nương của Nguyễn Nhược Pháp ít nhiều đã được “hiện đại hoá”.
Câu 16.
Các yếu tố kì ảo trong truyện Dế chọi:
- “Cô đồng đứng bên hướng lên không trung khấn thay, mồm mấp máy thầm thì không biết những gì. Mọi người xung quanh cung kính đứng nghe. Lát sau, trong mành ném ra mảnh giấy ghi những lời truyền phán chỉ bảo, không mảy may sai lẫn”.
- “con dế của Thành mỗi khi nghe tiếng đàn cầm, đàn sắt là lại nhảy múa theo các tiết điệu".
- “Còn con Thành, hơn năm sau tinh thần trở lại như cũ và kể lại rằng: Mình đã hóa thành dế lanh lẹ, chọi giỏi, nay mới thực sống lại.".
=> Tác dụng: Các yếu tố này khiến cho câu chuyện trở nên li kì, hấp dẫn, đồng thời góp phần làm nổi bật những tiêu cực trong đời sống xã hội thời đó: Người dân khốn đốn vì sự hưởng lạc của quan lại.
Câu 17.
Qua hành động đánh cướp và cách cư xử với Kiều Nguyệt Nga, hình ảnh Vân Tiên là Hình ảnh một người anh hùng hảo hán, có khí phách, trượng nghĩa, thượng võ, bênh vực kẻ yếu, trừ gian diệt ác cho nhân dân. Lục Vân Tiên không chỉ là một người có học thức mà còn là một người hào hiệp, trượng nghĩa. Đối với Vân Tiên, chàng coi việc nhân nghĩa trên đời là điều tất yếu, nếu làm ơn mà vì được đền đáp, trông ngóng đến việc trả ơn thì đó không còn là người anh hùng.
Câu 18.
a. Qua lời nói của Kiều với Thúc Sinh, chúng ta thấy được Thúy Kiều là một người trọng ân nghĩa. Kiều rất trân trọng và biết ơn Thúc Sinh đã cứu nàng ra khỏi lầu xanh. Mặc dù sau này khi bị Hoạn Thư hành hạ nhưng không nhận được sự giúp đỡ từ Thúc Sinh nhưng Kiều vẫn báo ân cho chàng.
b. Việc Thúy Kiều nhắc đến Hoạn Thư với Thúc Sinh cho thấy Kiều vẫn không quên được những điều mà Hoạn Thư đã làm, vết thương lòng trong Kiều vẫn còn đau đớn không nguôi.
Khi nói chuyện với Thúc Sinh, Thúy Kiều dùng những từ ngữ trang trọng như “ nghĩa”, “ chữ tòng”, “tạ”, “cố nhân”… , sử dụng điển cố “ Sâm Thương” với một giọng điệu hết sức ôn tồn và nhẹ nhàng còn nói về Hoạn Thư, Kiều lại sử dụng những cụm từ nôm na, những thành ngữ dân gian như “quỷ quái tinh ma”, “kẻ cắp bà già”, “kiến bò miệng chén”..
=> Việc sử dụng từ ngữ khác nhau ở đây đã thể hiện thái độ của Thúy Kiều. Đối với Thúc Sinh – người được báo ân là những ngôn từ trịnh trọng và phù hợp với người thư sinh như Thúc Sinh để diễn tả tấm lòng biết ơn và trân trọng. Còn đối với Hoạn Thư – đối tượng báo oán thì Kiều dùng từ ngữ nôm na kiểu dân gian để tỏ thái độ coi thường của Thúy Kiều. Hơn nữa hình phạt theo quan điểm của nhân dân thì sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân sẽ phù hợp hơn.
Câu 19.
- Theo tác giả bài viết, kết thúc của truyện cổ tích thần kì phản ánh ước mơ gì của quần chúng nhân dân:
+ Hầu hết các truyện cổ tích đều phản ánh ước mơ của nhân dân về đời sống tinh thần và vật chất, công lí dân gian. Bằng cách thưởng cho các nhân vật chính chịu sự bất hạnh khổ đạt trong truyện qua việc để nhân vật kế hôn, sống hạnh phúc, lên ngôi, cuộc sống thay đổi theo hướng tươi sáng.
+ Nhân dân trong thực tại không có chỗ đứng, họ mới gửi gắm vào nhân vật, mong muốn nhân vật sẽ có những điều hoàn hảo mà nhân dân tạo ra. Đưa nhân vật vào những điều tốt đẹp, một cuộc sống giàu sang, một trật tự khác, công lí được thực thi đối lập với cuộc sống thực tế của họ
Câu 20.
Tóm tắt các sự kiện được kể:
- Thạch Sanh vào tù
- Nhận ra con người Lý Thông
- Chàng đánh đàn kêu oan
- Chàng kể tội của Lý Thông
Nhân vật trong văn bản: Thạch Sanh, Lý Thsông
Thạch Sanh là người có tính cách vượt lên trên mọi điều, luôn thật thà, giàu tình cảm. Điều đó thể hiện qua cách anh đối diện với cái ác – luôn sẵn sàng hành động trừ gian diệt ác mỗi khi cần thiết. Thạch Sanh cũng không thiếu sự bao dung, sẵn lòng giúp đỡ người khác, làm cho anh trở thành một người dũng sĩ thực sự.
=> Nghệ thuật xây dựng nhân vật: bằng bút pháp lý tưởng hóa nhân vật Thạch Sanh, thể hiện triết lý ngàn đời của cha ông: ở hiền gặp lành.
2. Phần tiếng Việt
Câu 1.
a. Hiện tượng chơi chữ: cưa ngọn
- Chúng thuộc lối chơi chữ nói lái: cưa ngọn - con ngựa
b. Hiện tượng chơi chữ: rơi - mau
- Chúng thuộc lối chơi chữ dùng từ trái nghĩa
c. Hiện tượng chơi chữ: bò làng - làng bò
- Chúng thuộc lối chơi chữ nói lái
d.Hiện tượng chơi chữ: leo thang - theo làng
- Chúng thuộc lối chơi chữ nói lái
Câu 2.
a)
- Lối Chơi Chữ: Sử dụng trò chơi chữ "bán" với nghĩa được mở rộng. Ở đây, "bán" không chỉ là bán hàng mà còn mang nghĩa "dễ thu phục" với nguyên vẹn ý "không bán" ở cuối câu.
- Tác Dụng: Tạo ra sự hài hước, khéo léo thông qua lối chơi chữ, gợi lên hình ảnh những người giữ trọng vọng của mình và không dễ "bán" với mọi lời đề nghị.
b)
- Lối Chơi Chữ: Mối quan hệ không hoàn toàn tích cực giữa "tài" (năng khiếu, tài năng) và "tai" (tai nạn, rủi ro). Hai từ này có cùng âm vần nhưng ý nghĩa hoàn toàn trái ngược nhau.
- Tác Dụng: Cách chơi chữ này nhấn mạnh việc cần phải khiêm tốn, không được cầy có tài.
c)
- Lối Chơi Chữ: Cách chơi chữ đơn giản thông qua việc so sánh "vỏ gai" (gai khó chịu bên ngoài) với "quả" bên trong, hay tượng trưng cho người tâm hồn đẹp trong bên trong mặc dù bề ngoài không thể nào ám ảnh hơn.
- Tác Dụng: Chơi chữ nhấn mạnh việc không nên đánh giá người khác qua hình dáng bên ngoài mà hãy để lòng chân thành và tốt đẹp bên trong xác định giá trị thực sự của họ.
Câu 3.
a.
- chín1: tính từ chỉ khả năng nắm chắc, tinh thông, kĩ lưỡng, đầy đủ mọi khía cạnh.
- chín2: danh từ chỉ số tự nhiên liền kề sau số tám.
=> Tác dụng: làm phong phú cho tư duy (cùng một âm đọc nhưng có thể là những từ khác nhau, biểu thị các ý nghĩa khác nhau).
b. Nhà thơ không dùng từ danh tướng (viên tướng có tài năng nức tiếng) mà trại âm thành "ranh tướng" (ranh: ma mãnh; bé, nhỏ, oắt con) để chế giễu tên tướng giặc một cách sâu cay.
c. Sử dụng cách điệp âm "m", diễn tả vẻ mờ mịt của không gian đầy mưa, đồng thời tạo nét đặc sắc cho câu thơ.
Câu 4.
a. Biện pháp điệp thanh "chang chang"
Tác dụng: tạo được giọng thơ vừa ngân nga kéo dài vừa dứt khoát cô đọng. Đồng thời, điệp thanh "chang chang" cũng nhấn mạnh được hình ảnh của cái nắng gay gắt
b. Biện pháp điệp vần "an" (tan, tràn), "ương" (sương, dương), "ong" (vọng, giọng)
Tác dụng: gieo vần cho bài thơ và tạo được giọng thơ êm ái, thiết tha và thấm đượm trữ tình sâu sắc
Câu 5.
a. Trong hai câu thơ Truyện Kiều, tác giả dùng hai từ láy: khấp khểnh, gập ghềnh.
- Ở mỗi từ láy, có điệp âm đầu (kh – kh, g – gh) và chuyển đổi vần âp – ênh.
- Hai từ láy điệp vần âp – ênh.
Tác dụng: tạo ra hình ảnh con đường mấp mô, vó ngựa và bánh xe luôn luôn ở trạng thái chuyển động khó khăn, xóc nảy, trục trặc. Đồng thời cũng gián tiếp bộc lộ tâm trạng đau khổ, bất an của nàng Kiều lúc phải li biệt với gia đình để bán mình cho Mã Giám Sinh.
b.
Điệp thanh trắc: Thấp chí khí uất (sắc).
Tác dụng: Gợi cảm giác về sự uất ức của một người tài cao. Câu: giang hồ mê chơi quên quê hương.
Điệp thanh bằng: giang hồ mê chơi quên quê hương.
Tác dụng: Gợi cảm giác thanh bình của làng quê trong tâm trí của người giang hồ.
c.
Điệp vần “i" (đi, di), “a" (ta, cả, ca)
Tác Dụng: Câu thơ chủ yếu Tạo ra sự tôn kính, thể hiện sự xót thương
d.
Gieo vần "an" và điệp vần "ương" (đường - dương - sương), điệp vần "ăng" (trắng - nắng).
Sử dụng chủ yếu là vần bằng (Hai câu thơ mười bốn chữ có tới mười thanh bằng) nhưng không gợi cảm giác buồn như vẫn thường có mà kết hợp với các thanh trắc, cùng với những âm mở, khiến cho ta cảm nhận được niềm hân hoan trong cảm xúc của nhà thơ trước khung cảnh thiên nhiên đẹp và mới lạ của nước bạn. Tiếng reo vui hân hoan cũng là một lời san sẻ với người mình yêu thương, với quê hương, đất nước mình.
Câu 6. Các phương tiện phi ngôn ngữ có thể sử dụng trong cuộc sống hàng ngày là: cử chỉ, biểu cảm khuôn mặt, sơ đồ, hình ảnh, kí hiệu…
Câu 7.

Câu 8.
- Hình thức thoại trong (a): đối thoại
- Hình thức thoại trong (b): độc thoại nội tâm
- Hình thức thoại trong (c): đối thoại và độc thoại nội tâm
Câu 9.
Những lời đối thoại có trong câu chuyện:
- Cha đã là bác học rồi, còn phải ngày đêm nghiên cứu làm gì cho mệt?
- Bác học không có nghĩa là ngừng học.
Theo em, cần sử dụng dấu ngoặc kép để đánh dấu lời đối thoại của nhân vật.
Câu 10.
Cách dẫn trong các câu ở (a) và (b) đều là dẫn trực tiếp.
a) “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?”.
⟹ Lời nói
b) “Cái vườn là của con ta. Hồi còn mồ ma mẹ nó, mẹ nó thắt lưng buộc bụng, dè sẻn mãi, mới để ra năm mươi đồng bạc tậu. Hồi ấy, mọỉ thứ còn rẻ cả...”
⟹ Ý nghĩ
Câu 11.
a. Ông Hai chưa đến bực cửa đã bô bô nói với bác Thứ rằng ông chủ tịch làng chợ Dầu mới lên cải chính tin đồn làng ông theo giặc.
b. Tôi dọa nó nếu để cơm nhão thế nào cũng bị đánh đòn, và nhắc nó gọi “ba” giúp đỡ.
Câu 12.
a. Lời dẫn gián tiếp.
Tác giả trình bày suy nghĩ, lời nói của nhân vật
b. Lời dẫn trực tiếp
Các nhân vật tự diễn đạt lời nói, suy nghĩ của mình.
Câu 13.
a. Ông Hai khi chưa đến cửa đã lên tiếng với bác Thứ rằng ông chủ tịch làng Chợ Dầu vừa mới cải chính thông tin lan truyền rằng làng ông bị giặc xâm lược.
b. Tôi đe dọa nó rằng nếu cơm nhão như thế nào cũng bị đánh đập, và nhắc nhở nó gọi “ba” để được giúp đỡ.
Câu 14.
|
nước cành dương |
mạc cưa mướp đắng |
mắt xanh |
|
-Tính lịch sử: có người nước Thiên Trúc tên là Trừng rất giỏi các phép chữa bệnh của nhà Phật. Thạch Lộc nghe tiếng, mời đến chữa bệnh cho con đang ốm nặng. Trừng lấy cành dương nhúng vào nước trong rẩy lên mình người bệnh. Người bệnh tỉnh và sống lại. -Tính biểu trưng: điển tích này dùng để chỉ nước phép chữa được bệnh. |
-Tính lịch sử: có người lấy mạc cưa giả làm cám đem đi bán. Người ấy lại gặp một người khác lấy mướp đắng gỉa làm dưa chuột. Hai bên mua bán cho nhau - Tính biểu tượng: điển tích này dùng để chỉ phường bịp bợm. |
Tính lịch sử: Nguyễn Tịch đời Tấn quý ai thì tiếp bằng mắt xanh 9lòng đen của mắt), không ưa ai thì tiếp bằng mắt trắng (lòng trắn g của mắt). Tính biểu trưng: thể hiện lòng quý trọng của chủ thể đối với một người nào đó. |
Câu 15.
a.
- Điển tích, điển cố trong văn bản trên: trướng hùm, cửa viên
b.
- Điển tích, điển cố trong văn bản trên: dẽ run, Sâm, Thương.
=> Tác dụng: Cách diễn đạt trở nên hàm súc, uyên bác, giàu sức biểu hiện, gián tiếp bộ lộ, thái độ, cảm xúc của tác giả, tạo nhịp điệu cho câu thơ.
3. Phần làm văn
Câu 1.
I/ Mở bài
- Nỗi niềm buồn nhớ quê hương là nỗi niềm chung của bất kì người xa quê nào, và một nhà thơ thuộc phong trào Thơ Mới như Tế Hanh cũng không phải là ngoại lệ
- Bằng cảm xúc chân thành giản dị với quê hương miền biển của mình, ông đã viết nên “Quê hương” đi vào lòng người đọc
II/ Thân bài
1. Hình ảnh quê hương trong nỗi nhớ của tác giả
- “Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới”: Cách gọi giản dị mà đầy thương yêu, giới thiệu về một miền quê ven biển với nghề chính là chài lưới
- Vị trí của làng chài: cách biển nửa ngày sông
⇒ Cách giới thiệu tự nhiên nhưng cụ thể về một làng chài ven biển
2. Bức tranh lao động của làng chài
a. Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi
- Thời gian bắt đầu: Sớm mai hồng => gợi niềm tin, hi vọng
- Không gian “trời xanh”, “gió nhẹ”
⇒ Người dân chài đi đánh cá trong buổi sáng đẹp trời, hứa hẹn một chuyến ra khơi đầy thắng lợi
- Hình ảnh chiếc thuyền “hăng như con tuấn mã”: phép so sánh thể hiện sự dũng mãnh của con thuyền khi lướt sóng ra khơi, sự hồ hởi, tư thế tráng sĩ của trai làng biển
- “Cánh buồn như mảnh hồn làng”: hồn quê hương cụ thể gần gũi, đó là biểu tượng của làng chài quê hương
- Phép nhân hóa “rướn thân trắng” kết hợp với các động từ mạnh: con thuyền từ tư thế bị động thành chủ động
⇒ Nghệ thuật ẩn dụ: cánh buồm chính là linh hồn của làng chài
⇒ Cảnh tượng lao động hăng say, hứng khởi tràn đầy sức sống
b. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về
- Không khí trở về:
+ Trên biển ồn ào
+ Dân làng tấp nập
⇒ Thể hiện không khí tưng bừng rộn rã vì đánh được nhiều cá
⇒ Lòng biết ơn đối với biển cả cho người dân chài nhiều cá tôm
- Hình ảnh người dân chài:
+ “Da ngăm rám nắng”, “nồng thở vị xa xăm”: phép tả thực kết hợp với lãng mạn => vẻ đẹp khỏe khoắn vạm vỡ trong từng làn da thớ thịt của người dân chài
- Hình ảnh “con thuyền” được nhân hóa “im bến mỏi trở về nằm” kết hợp với nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác => Con thuyền trở nên có hồn, có sức sống như con người cơ thể cũng nhuộm vị nắng gió xa xăm
⇒ Bức tranh sinh động về một làng chài đầy ắp niềm vui, gợi tả một cuộc sống bình yên, no ấm
3. Nỗi nhớ quê hương da diết
- Nỗi nhớ quê hương thiết tha của tác giả được bộc lộ rõ nét:
+ Màu xanh của nước
+ Màu bạc của cá
+ Màu vôi của cánh buồm
+ Hình ảnh con thuyền
+ Mùi mặn mòi của biển
⇒ Những hình ảnh, màu sắc bình dị, thân thuộc và đặc trưng
⇒ Nỗi nhớ quê hương chân thành da diết và sự gắn bó sâu nặng với quê hương
III/ Kết bài
- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
- Bài học về lòng yêu quê hương, đất nước
Câu 2.
I. Mở bài
- Nỗi niềm buồn nhớ quê hương là nỗi niềm chung của bất kì người xa quê nào, và một nhà thơ thuộc phong trào Thơ Mới như Tế Hanh cũng không phải là ngoại lệ.
- Bằng cảm xúc chân thành giản dị với quê hương miền biển của mình, ông đã viết nên “Quê hương” đi vào lòng người đọc.
II. Thân bài
1. Hình ảnh quê hương trong nỗi nhớ của tác giả
- “Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới”: Cách gọi giản dị mà đầy thương yêu, giới thiệu về một miền quê ven biển với nghề chính là chài lưới
- Vị trí của làng chài: cách biển nửa ngày sông
⇒ Cách giới thiệu tự nhiên nhưng cụ thể về một làng chài ven biển
2. Bức tranh lao động của làng chài
a. Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi
- Thời gian bắt đầu: Sớm mai hồng => gợi niềm tin, hi vọng
- Không gian “trời xanh”, “gió nhẹ”
⇒ Người dân chài đi đánh cá trong buổi sáng đẹp trời, hứa hẹn một chuyến ra khơi đầy thắng lợi
- Hình ảnh chiếc thuyền “hăng như con tuấn mã”: phép so sánh thể hiện sự dũng mãnh của con thuyền khi lướt sóng ra khơi, sự hồ hởi, tư thế tráng sĩ của trai làng biển
- “Cánh buồn như mảnh hồn làng”: hồn quê hương cụ thể gần gũi, đó là biểu tượng của làng chài quê hương
- Phép nhân hóa “rướn thân trắng” kết hợp với các động từ mạnh: con thuyền từ tư thế bị động thành chủ động
⇒ Nghệ thuật ẩn dụ: cánh buồm chính là linh hồn của làng chài
⇒ Cảnh tượng lao động hăng say, hứng khởi tràn đầy sức sống
b. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về
- Không khí trở về:
+ Trên biển ồn ào
+ Dân làng tấp nập
⇒ Thể hiện không khí tưng bừng rộn rã vì đánh được nhiều cá
⇒ Lòng biết ơn đối với biển cả cho người dân chài nhiều cá tôm
- Hình ảnh người dân chài:
+ “Da ngăm rám nắng”, “nồng thở vị xa xăm”: phép tả thực kết hợp với lãng mạn => vẻ đẹp khỏe khoắn vạm vỡ trong từng làn da thớ thịt của người dân chài
- Hình ảnh “con thuyền” được nhân hóa “im bến mỏi trở về nằm” kết hợp với nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác => Con thuyền trở nên có hồn, có sức sống như con người cơ thể cũng nuộm vị nắng gió xa xăm
⇒ Bức tranh sinh động về một làng chài đầy ắp niềm vui, gợi tả một cuộc sống bình yên, no ấm
3. Nỗi nhớ quê hương da diết
- Nỗi nhớ quê hương thiết tha của tác giả được bộc lộ rõ nét:
+ Màu xanh của nước
+ Màu bạc của cá
+ Màu vôi của cánh buồm
+ Hình ảnh con thuyền
+ Mùi mặn mòi của biển
⇒ Những hình ảnh, màu sắc bình dị, thân thuộc và đặc trưng
⇒ Nỗi nhớ quê hương chân thành da diết và sự gắn bó sâu nặng với quê hương
III. Kết bài
- Tâm hồn yêu quê của người con làng chài qua bài thơ.
- Bài học về lòng yêu quê hương, đất nước,
Câu 3.
I. Mở bài: Giới thiệu về tác giả, tác phẩm
- Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong phong trào kháng chiến chống Mỹ. Thơ ông trong trẻo, mượt mà, khai thác những kỉ niệm đẹp và ước mơ tuổi trẻ.
- Bài thơ “Bếp lửa” được sáng tác năm 1963 khi tác giả là du học sinh Liên Xô.
- Chủ đề bài thơ gợi lại những kỉ niệm về người bà và tình bà cháu sâu sắc, thấm thía.
II. Thân bài:
1. Những kỉ niệm tuổi thơ và tình bà cháu
- Dòng hồi tưởng về bà bắt nguồn từ hình ảnh bếp lửa:
+ Bếp lửa “chờn vờn sương sớm” – bếp lửa thực.
+ Bếp lửa “ấp iu nồng đượm” diễn tả sự dịu dàng, ấm áo, kiên nhẫn của người nhóm lửa.
+ Biện pháp điệp từ (điệp từ “bếp lửa”) gợi lên hình ảnh sống động lung linh nhưng hết sức thân thuộc gần gũi với người cháu.
=> Hình ảnh bếp lửa làm trỗi dậy dòng kí ức về bà và tuổi thơ.
- Kỉ niệm về tuổi thơ nhiều gian khổ, thiếu thốn:
+ “Đói mòn đói mỏi” người cháu thấy ám ảnh bởi nạn đối và quá khứ đau thương của dân tộc.
+ Ấn tượng về khói bếp hun nhèm mắt cháu để khi nghĩ lại “sống mũi còn cay”.
+ Dòng hổi tưởng, kỉ niệm gắn với âm thanh tiếng tu hú của chốn đồng nội: tiếng tu hú được nhắc tới 5 lần trong bài khi thẳng thốt, lúc khắc khoải, mơ hồ tất cả để gợi lên không gian mênh mông, bao la, buồn vắng đến lạnh lùng.
+ Tâm trạng của cháu vì thế cũng tha thiết, mãnh liệt hơn bởi sự đùm bọc, che chở của bà.
- Tuổi thơ khó khăn gian khổ nhưng cháu được mà yêu thương, che chở:
+ “Bà dạy”, bà chăm” thể hiện sâu đậm tấm lòng nhân hậu, tình yêu thương vô bờ và sự chăm chút của bà đối với cháu.
+ Ngay cả trong gian khó, hiểm nguy của chiến tranh bà vẫn vững vàng – phẩm chất cao quý của những người mẹ Việt Nam anh hùng ( Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh).
→ Qua dòng hồi tưởng về bà, những dòng cảm xúc của nhân vật trữ tình chính là sự kết hợp, đan xen nhuần nhuyễn giữa các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự, nỗi nhớ của người cháu thể hiện tình yêu thương vô hạn đối với bà.
2. Những suy ngẫm chiêm nghiệm về cuộc đời của bà cũng như hình tượng bếp lửa
- Từ những kỉ niệm, hình ảnh bếp lửa luôn gắn với hình ảnh người bà
+ Hình ảnh bếp lửa kết tinh trong hình ảnh ngọn lửa: ngọn lửa của tình yêu thương, sự hi sinh luôn ủ sẵn trong lòng bà để làm sáng lên hy vọng, ý chí.
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
+ Điệp ngữ “một ngọn lửa” nhấn mạnh tình yêu thương ấm áp bà dành cho cháu, người bà nhen nhóm những điều thiện lương tốt đẹp đối với cháu.
→ Hình ảnh người bà trong lòng cháu là người thắp lửa, giữ lửa và truyền lửa, truyền niềm tin, sức sống tới thế hệ tương lai.
- Sự tần tảo, hi sinh của bà thể hiện: “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa” - sự chiêm nghiệm của cháu về cuộc đời bà
+ Cuộc đời bà đầy những gian truân, vất vả, lận đận trải qua nắng mưa tưởng như không bao giờ dứt.
+ Điệp từ “nhóm” lặp lại bốn lần: người bà đã nhóm lên, khơi dậy những yêu thương, kí ức và giá trị sống tốt đẹp trong lòng người cháu.
- Hình ảnh bếp lửa kết tinh thành hình ảnh ngọn lửa chất chứa niềm tin, hy vọng của bà: Người cháu như phát hiện ra điều kì diệu giữa cuộc sống đời thường “Ôi kì lạ và thiêng liêng- bếp lửa” - người cháu thấm nhuần được tình yêu thương và đức hi sinh của bà.
3. Nỗi nhớ khắc khoải, khôn nguôi về người bà
- Lời tự bạch của đứa cháu khi trưởng thành, xa quê hương: người cháu vẫn cảm thấy ấm áp bởi tình yêu thương vô bờ của bà.
- Kết thúc bài thơ tác giả tự vấn “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”: niềm tin dai dẳng, nỗi nhớ luôn thường trực trong lòng người cháu.
III. Kết bài:
- Tác giả rất thành công trong việc sáng tạo ra hình tượng mang ý nghĩa thực, mang ý nghĩa biểu tượng: bếp lửa.
- Kết hợp miêu tả, biểu cảm, tự sự phù hợp với dòng hồi tưởng và tình cảm của cháu.
- Bài thơ chứa đựng triết lý, ý nghĩa thầm kín: những điều thân thiết của tuổi thơ của mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng đỡ con người trên hành trình cuộc đời, tình yêu thương và lòng biết ơn chính là biểu hiện cụ thể của tình yêu thương, quê hương.
Câu 4.
I. Mở bài:
- Giới thiệu về tác giả Bàng Việt và tác phẩm Bếp lửa.
- Dẫn dắt về tình cảm bà cháu thiêng liêng và cảm động.
II. Thân bài:
1. Hình ảnh bếp lửa nơi xứ người gợi lên nỗi nhớ bà, nhớ quê hương
- Dòng hồi tưởng về bà, về tuổi thơ được khơi gợi từ hình ảnh thân thương- bếp lửa:
+ Hình ảnh người bà nhân hậu với tấm lòng chi chút của người nhóm lửa chợt ùa về trong tiềm thức khi nhìn thấy bếp lửa
+ Bếp lửa được nhóm lên trong thời khắc xa xứ đã làm thức dậy nỗi niềm nhớ thương về người bà tần tảo, chịu thương, chịu khó
- Bếp lửa gợi lại kỉ niệm ấp áp, êm đềm của tuổi thơ khi bên bà:
+ Tuổi thơ đứa cháu là những chuỗi ngày thiếu thốn nhưng nhờ có bà, cuộc sống của cháu luôn tràn ngập tình yêu thương, đầm ấm
+ Bên cạnh bếp lửa, hồi ức về bà đã gợi lên hình ảnh hai bà cháu gắn bó, chia sẻ tình cảm nồng ấm suốt 8 năm trời.
- Bà luôn ân cần đảm nhiệm nhiều vai trò khi chăm sóc cháu, tình yêu thương cháu và sự chăm sóc chi chút cho cháu của bà:
+ Bà trở thành chỗ dựa vững chắc cho cháu, lấp đầy những thiếu thốn về vật chất và tinh thần của đứa cháu
+ Trong hoàn cảnh chiến tranh tàn phá, bà vững lòng, bình tĩnh tạo niềm tin cho con cháu
2. Những suy ngẫm về cuộc đời bà và hình tượng bếp lửa
- Từ những hoài niệm về bà, người cháu suy ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời bà
+ Hình ảnh của bà luôn gắn chặt với hình ảnh bếp lửa ấm áp, thân thuộc
+ Trong lòng bà luôn có một “ngọn lửa” “ủ sẵn”, đây là ngọn lửa của niềm tin, ý chí, nghị lực và khát vọng sống
+ Ngọn lửa đó thắp lên niềm tin, tình yêu và nghị lực sống tin tưởng vào ngày mai cho đứa cháu
- Hình ảnh người bà tần tảo khuya sớm, là người thắp lửa, giữ lửa truyền tới thế hệ trẻ
+ Mặc dù cuộc đời bà trải qua “nắng mưa” lận đận, nhưng bà luôn lạc quan, tin tưởng và dành những điều tốt đẹp cho con cháu
+ Động từ “nhóm” được lặp đi lặp lại nhằm khẳng định : bà chính là người khơi dậy những giá trị sống tốt đẹp trong cuộc đời mỗi con người. Bà đã truyền hơi ấm tình người, khơi dậy trong tâm hồn cháu tình yêu thương ruột thịt, sự cảm thông chia sẻ
- Khổ thơ cuối là lời tự bạch của người cháu khi trưởng thành, xa quê.
3. Nghệ thuật:
- Mạch cảm xúc xen với lời kể, cùng hình ảnh thơ lan tỏa hiện lên rõ nét đã để lại dấu ấn sâu đậm về người bà
- Điệp từ “một ngọn lửa” nhấn mạnh vào tình yêu thương cũng như tấm lòng nhân hậu của bà dành cho cháu
III. Kết bài: Khẳng định phẩm chất đáng quý của bà và tình bà cháu thiêng liêng, cao đẹp
Câu 5.
1. Mở bài
Giới thiệu về tác giả tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương:
- Nguyễn Dữ người học rộng tài cao, nhân cách sáng ngời.
- Câu chuyện thương tâm về cái chết oan khuất của nhân vật Vũ Nương, tác giả thể hiện niềm thương cảm sâu sắc đối với thân phận người phụ nữ, đồng thời ca ngợi phẩm chất đáng quý của họ trong xã hội phong kiến
2. Thân bài
a. Phân tích nhân vật Vũ Nương
* Những phẩm chất cao đẹp của nhân vật Vũ Nương
- Vũ Nương là người con gái tính tình đã thùy mị, nết na lại thêm tư dung tốt đẹp
- Vũ Nương lấy người chồng là Trương Sinh tính tình đa nghi, hay ghen nhưng chưa bao giờ nàng để vợ chồng bất hòa
- Khi chồng ra trận, nàng ở nhà hết mực thủy chung với chồng, phụng dưỡng, hiếu thảo với mẹ chồng và chăm sóc con cái
→ Nàng làm trọn bổn phận người phụ nữ tam tòng tứ đức một cách hoàn hảo
* Nỗi oan và cái chết của Vũ Nương
- Khi chồng trở về nghe lời đứa con nhỏ dại liền nghi oan và trách mắng Vũ Nương
- Nàng đau đớn, thất vọng trước sự đối xử bất công và tàn nhẫn của chồng
- Vũ Nương lựa chọn cái chết để rửa nỗi nhục → đây là hành động quyết liệt nhất chất chứa nỗi tuyệt vọng cay đắng, sự bất lực của thân phận
- Khi sống dưới thủy cung, nàng vẫn khôn nguôi nhớ về cuộc sống trần thế
- Nguyên nhân cái chết của Vũ Nương:
+ Trực tiếp: lời nói ngây thơ của bé Đản
+ Gián tiếp: người chồng tính tình đa nghi, hay ghen đã cư xử hồ đồ,phũ phàng
+ Do ngay từ đầu cuộc hôn nhân không có sự bình đẳng
+ Do chiến tranh và lễ giáo phong kiến hà khắc
b. Phân tích giá trị nội dung
- Giá trị hiện thực: phê phán tố cáo xã hội phong kiến bất công chà đạp lên số phận người phụ nữ, người phụ nữ chịu nhiều oan khuất, bế tắc nhưng không tự bảo vệ được mình
- Giá trị nhân đạo: ca ngợi phẩm chất tốt đẹp và thương cảm cho người phụ nữ thông qua hình tượng nhân vật Vũ Nương
c. Phân tích giá trị nghệ thuật
- Xây dựng tình huống truyện độc đáo đặc biệt chi tiết chiếc bóng, nhằm hoàn thiện thêm vẻ đẹp nhân cách cho nhân vật Vũ Nương nhưng cũng thể hiện rõ nét bi kịch số phận nhân vật
- Nghệ thuật dựng truyện: tình huống truyện éo le, dẫn tới nhiều bất ngờ thú vị, tăng tính bi kịch của truyện
- Xây dựng thành công nhân vật qua lời nói và hành động, kết hợp với các hình ảnh ước lệ tượng trưng
3. Kết bài
- Chuyện người con gái Nam Xương là tác phẩm xuất sắc góp phần vào tiếng nói chung đòi sự bình đẳng cho người phụ nữ.
- Truyện xây dựng thành công hình tượng nhân vật Vũ Nương, thể hiện niềm xót thương thân phận người phụ nữ xưa và thông qua đó ca ngợi phẩm chất son sắc, thủy chung của họ.
Câu 6.
1. Mở bài:
Giới thiệu tác giả Bồ Tùng Linh, tác phẩm Dế chọi
2. Thân bài:
- Hoàn cảnh sáng tác, nhan đề, tóm tắt tác phẩm.
- Đoạn 1: từ đầu - “khuynh gia bại sản”: Nguyên do và thực tế đưa dế chọi trở thành thú vui triều đình và là cái khổ của người dân phải chịu (mở ra khung cảnh và sự tình).
- Đoạn 2: tiếp đến - “việc tự tử”: Hoàn cảnh của Thành - nhân vật chính (thắt nút).
- Đoạn 3: tiếp - “chờ đến kì hạn nộp quan”: Giải quyết vấn đề tìm dế của gia đình Thành: nhờ sự trợ giúp của bà bói toán mà vợ Thành nghe ngóng được (tìm cách giải quyết).
- Đoạn 4: tiếp theo - “nằm đờ buồn bã”: Bi kịch tiếp tục xảy đến với gia đình Thành: từ con trai trở nên đờ đẫn đến con dế nuôi chết phải đối mặt với những hình phạt đáng sợ từ triều đình (cao trào).
- Đoạn 5: tiếp - “vội bắt dế bỏ vào lồng”: Hóa giải bi kịch trong gia đình Thành (mở nút).
- Đoạn cuối: phần còn lại: Sự thay đổi của gia đình Thành: giàu lên nhờ nuôi được dế tốt (con trai Tùng), giải thích về hiện tượng của con trai Thành (đoạn kết có hậu).
- Câu nói của Dị Sử thị ở cuối tác phẩm.
=> Giá trị nghệ thuật: thông qua câu chuyện ngắn kết hợp với những chi tiết li kì, kì ảo và ngôn từ dễ hiểu.
=> Giá trị nội dung: vẽ nên bức tranh hiện thực thời đầu Mãn Thanh để thỏa sự vui thú của triều đình mà làm khổ dân chúng. Cũng từ đó mà bộc lộ bộ mặt tham quan của triều đình. Nhờ có một con dế cũng có thể đổi đời vì làm vừa lòng được bề trên…
3. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề.
Câu 7.
1. Mở bài:
Giới thiệu tác giả Nguyễn Nhược Pháp, tác phẩm Sơn Tinh, Thủy Tinh
2. Thân bài:
- Đôi nét về phong cách tác giả và hoàn cảnh sáng tác. Có những điểm nào mới so với chuyện.
- Phần I:
+ Chuyện kén rể của Hùng Vương thứ mười lăm.
+ Vẻ đẹp của nàng Mỵ Nương.
+ Hình tượng Sơn Tinh.
+ Hình Tượng Thủy Tinh.
+ Sức mạnh của Sơn Tinh và Thủy Tinh.
- Phần III
+ Sơn Tinh cưới được Mỵ Nương.
+ Giương oai và bị Thủy Tinh ghen ghét mà chặn lại. Sử dụng sức mạnh của mình để ngăn cản.
+ Sơn Tinh dâng núi bảo vệ tình yêu.
+ Chuyện xảy ra mỗi năm.
=> Giá trị nghệ thuật: Chuyển câu chuyện thành một bài thơ bố cục rõ ràng, ngôn từ dễ hiểu, dễ nắm bắt.
=> Giá trị nghệ thuật: Câu chuyện tình yêu, sự dai dẳng trong tình yêu. Để có được tình yêu và hạnh phúc, con người luôn hết mình tìm kiếm và cũng là một chấp niệm cho người thua cuộc. Bên cạnh đó đây cũng là một câu chuyện đi theo tiềm thức người Việt, giải thích về hiện tượng trong năm luôn có một mùa lũ dâng cao (Thủy Tinh không phục muốn giành lại Mỵ Nương từ tay Sơn Tinh).
3. Kết bài: Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật.
Câu 8.
I. Mở bài:
- Lê Thánh Tông (1442 - 1497) là một vị vua tài đức vẹn toàn. Dưới thời Lê Thánh Tông, ông chỉnh đốn lại bộ máy nhà nước, coi trọng sự học hành, mở rộng thêm bờ cõi, đất nước ta đã đạt được sự toàn thịnh. Bên cạnh đó, ông còn là một nhà thơ, chủ soái của hội Tao Đàn, tập hợp 28 nhà thơ lớn đương thời. Hội Tao Đàn để lại nhiều bài thơ xướng hoạ, đẹp đẽ, đánh dấu 1 giai đoạn phát triển của thơ ca Việt Nam.
- Văn bản Truyện lạ nhà thuyền chài là tác phẩm đặc sắc của vua Lê Thánh Tông. Dựa trên những câu chuyện kể dân gian, nhà vua đã ghi lại thành câu chuyện hoàn chỉnh,
- Bố cục văn bản chia làm 4 phần.
+ Phần 1 (Từ đầu đến phần con): Giới thiệu về gia cảnh đôi vợ chồng.
+ Phần 2 (Tiếp theo đến…thế nào cũng mặc): quan niệm khác nhau về học hành giữa hai cha con.
+ Phần 3 (Tiếp theo đến…vẻ gì khác cả): cuộc hội thoại giữa hai vợ chồng.
+ Phần còn lại: Ngọa Vân từ biệt gia đình Thúc Ngư.
- Nội dung truyện xoay quanh nhân vật chính là Thúc Ngữ - một người dân nghèo, đã lấy vợ là Ngọa Vân - người có dòng dõi hải tiên, bí ẩn và đầy tài năng. Hai vợ chồng luôn cố gắng làm lụm chăm chỉ để nuôi gia đình. Ngọa Vân giúp Thúc Ngư trở thành một ngư dân giàu có và thành công. Vào một ngày nọ, nước biển dâng cao, Ngọa Vân phải biến thành cá to, dài để che chắn ngọn nước. Nhờ đó mà gia đình tai qua nạn khỏi. Tuy nhiên, Ngọa Vân đã lộ thân phận bí ẩn của bản thân. Vậy nên, nàng đã rời xa Thúc Ngư và bố mẹ chồng để đảm bảo bình yên cho họ.
II. Thân bài
1. Nhân vật Thúc Ngư.
- Thúc Ngư không muốn học trong sách vở mà muốn học trong cuộc sống, chàng muốn đi đánh cá, muốn nhìn thấy vật thật hơn là chữ nghĩa.
- Cha Thúc Ngư lại muốn học con chữ, học làm người.
- Thúc Ngư là một ngư dân nghèo, nhưng anh ta luôn cố gắng học hỏi và làm việc chăm chỉ để cải thiện cuộc sống của mình và gia đình.
- Lời bàn của Sơn Nam Thúc ở cuối truyện có tác dụng hỗ trợ đọc hiểu văn bản Truyện lạ nhà thuyền chài vì lí giải sự kì lạ của câu chuyện, giúp em hiểu rõ câu chuyện, bài học tính triết lý câu chuyện mang lại, tóm tắt lại câu chuyện một cách ngắn gọn.
2. Nhân vật Ngọa Vân.
- Nhân vật Ngọa Vân trong truyện có tính cách rất đặc biệt:
+ Nàng là một người phụ nữ bí ẩn và tài năng, đã giúp Thúc Ngư trở thành một ngư dân giàu có và thành công.
+ Ngọa Vân được miêu tả là xinh đẹp và duyên dáng, với sắc đẹp tuyệt trần.
+ Ngọa Vân có lòng hiếu thảo và sẵn lòng hi sinh cho gia đình. Ví dụ, khi đối mặt với cơn bão biển khủng khiếp, nàng đã biến thành một con cá để bảo vệ gia đình.
→ Tính cách của Ngọa Vân thể hiện sự mạnh mẽ, thông minh và sẵn lòng hy sinh cho người thân yêu.
3. Những chi tiết kì ảo trong truyện
- Ngọa Vân biến thành một con cá để bảo vệ gia đình trong cơn bão biển khủng khiếp.
- Tác giả miêu tả Ngọa Vân là một người phụ nữ xinh đẹp và duyên dáng, xuất thân đặc biệt, hành động khác thường.
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh tính hy sinh và lòng hiếu thảo của Ngọa Vân.
+ Nhằm tạo nên hình ảnh quyến rũ và tuyệt trần của nhân vật.
→ Các chi tiết kì ảo này giúp thể hiện tính cách mạnh mẽ, thông minh và sẵn lòng hy sinh của Ngọa Vân, cũng như tạo nên không khí kỳ bí và lãng mạn trong văn bản.
- Ngoạ Vân có đức hi sinh, tính đảm đang gánh vác của người vợ, người mẹ, người phụ nữ trong cuộc sống. Tiếng khóc của Ngọa Vân, “một điểm rãi” gửi lại cho chồng trước lúc hoá rồng bay về phương tây bắc cũng thể hiện tình ân nghĩa sâu nặng của Ngọa Vân, của người vợ hiền thảo, thuỷ chung trong cuộc đời. Nhân vật Ngọa Vân mang bao phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam.
4. Nhận xét:
- Truyện viết bằng chữ Hán, kết hợp những yếu tố hiện thực và yếu tố kì ảo, hoang đường tạo sự hấp dẫn, ly kỳ cho câu chuyện, khơi gợi trí tưởng tượng của người đọc; ngôn ngữ giản dị, mộc mạc phù hợp với hoàn cảnh và tính cách nhân vật, gây ấn tượng và dễ hiểu cho người đọc; kết cấu hợp lý, chặt chẽ, kết thúc có hậu, tạo ấn tượng sâu sắc, truyện đã ca ngợi tình yêu, lòng hi sinh, đề cao giá trị đạo đức, sự đoàn kết trong gia đình, truyền đạt thông điệp về sự kiên nhẫn và lòng yêu thương gia đình trong cuộc sống, khẳng định vẻ đẹp của con người lao động; qua đó thể hiện tấm lòng trân trọng của tác giả đối với những người lao động bình dị.
III. Kết bài:
Với lời kể bình dị về cuộc sống của một gia đình thuyền chài trên biển, truyện tập trung vào cuộc sống của nhân vật chính là Thúc Ngư. Câu chuyện nhấn mạnh về tình yêu và sự đoàn kết trong gia đình, truyền đạt thông điệp về sự kiên nhẫn và lòng yêu thương gia đình trong cuộc sống. Qua câu chuyện, chúng ta thấy rằng việc học và chọn nghề đúng đắn có thể mang lại thành công và hạnh phúc trong cuộc sống.
Câu 9.
1. Mở bài
- Đất nước ta có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng.
- Chùa Hương là một trong những danh lam thắng cảnh đó.
- Phong cảnh chung của chùa Hương đã để lại trong lòng khách du lịch thập phương những ấn tượng khó quên.
- Chùa Hương có đặc điểm riêng mà những danh lam thắng cảnh khác không có.
2. Thân bài
a. Giới thiệu những nét chung về chùa Hương
- Chùa Hương là cách gọi trong dân gian. Trên thực tế chùa Hương hay Hương Sơn là cả một quần thể văn hóa - tôn giáo Việt Nam, gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền thờ thần, một số ngôi đền thờ tín ngưỡng nông nghiệp.
- Trung tâm chùa Hương nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Trung tâm của cụm đền, chùa tại vùng này chính là chùa Hương nằm trong động Hương Tích hay còn gọi là chùa Trong.
b. Đặc điểm nổi bật của chùa Hương
- Quần thể chùa Hương là sự kết hợp hài hòa, tuyệt vời giữa kì công thiên nhiên với sự tạo dựng bởi bàn tay tài hoa của con người.
- Ở đây có sông suối, núi non, ruộng đồng. Tất cả tạo nên bức tranh thiên nhiên đa dạng, phong phú sắc màu, đẹp như một bức tranh sơn thủy.
- Quần thể chùa Hương có nhiều công trình nằm rải rác. Để vào được khu trung tâm, ta lên đò ở bến Đục. Dọc theo con suối Yến khoảng mấy km, ta xuống đò ở bến Trò. Từ đó, ta đi bộ, đi cáp treo lên động Hương Tích.
- Khu vực chính của chùa Ngoài còn gọi là chùa Trò (còn có tên khác là chùa Thiên Trù). Tam quan của chùa được cất lên ba khoảng sân rộng lát gạch. Sân thứ ba dựng tháp chuông với ba tầng mái.
- Chùa chính, tức chùa Trong không phải là một công trình nhân tạo mà là một động đá thiên nhiên. Ở lối xuống hang có cổng lớn. Trên cổng có ghi: "Hương Tích động môn". Qua cổng là con dốc dài, lối đi xây thành 120 bậc lát đá. Vách động có 5 chữ "Nam thiên đệ nhất động" (Động đẹp nhất trời Nam). Đó là bút tích của chúa Trịnh Sâm khi đến thăm Hương Sơn.
-Trong động có pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát. Xung quanh là những nhũ đá lớn được gọi là cây vàng, cây bạc, buồng tằm, nong kén, núi cô, núi cậu... Đặc biệt, trên vòm động có hình 9 con rồng.
c. Giới thiệu về lễ hội chùa Hương
- Ngày 6 tháng giêng là ngày khai hội chùa Hương. Lễ hội kéo dài đến hết tháng 3 âm lịch.
- Chùa Hương đã trở thành một địa chỉ quen thuộc trong tâm linh của du khách trong nước và quốc tế.
- Mùa xuân, khi đất trời giao hòa, thiên nhiên tươi tốt cũng là lúc du khách từ khắp nơi tưng bừng trẩy hội.
- Chùa Hương là một danh thắng nổi tiếng không chỉ bởi cảnh đẹp mà nó còn là một nét đẹp văn hóa tín ngưỡng đạo Phật của người dân Việt Nam.
- Chùa Hương là một tập hợp nhiều đền chùa hang động gắn liền với núi rừng, sông suối,... và trở thành một quần thể thắng cảnh rộng lớn, với một kiến trúc hài hòa giữa thiên nhiên và nhân tạo. Có lẽ vì vậy mà du khách thập phương đã nô nức về đây với mong muốn được thắp một nén tâm hương.
3. Kết bài
- Chùa Hương là một danh lam thắng cảnh, một di tích lịch sử văn hóa, tín ngưỡng nổi tiếng của Hà Nội nói riêng và của Việt Nam nói chung.
- Những ai chưa một lần đến chùa Hương hãy về đây để được thưởng ngoạn vẻ đẹp quyến rũ của quần thể Hương Sơn này.
Câu 10.
1. Mở bài:
Giới thiệu chung về lăng Bác.
2. Thân bài:
a. Nguồn gốc của lăng:
- Lăng Bác được khởi công xây dựng vào ngày 2 tháng 9 năm 1973
- Lăng Bác được xây dựng tại quảng trường Ba Đình, nơi Bác đã đưa ra các quyết định và tuyên ngôn.
- Lăng được khánh thành vào ngày 29 tháng 8 năm 1975
b. Kết cấu của lăng:
- Lăng có chiều cao 21,6m
- Lăng được cấu tạo 3 lớp:
+ Lớp dưới tạo dáng bậc thềm tam cấp
+ Lớp giữa là kết cấu trung tâm của lăng gồm phòng thi hài
+ Lớp trên cùng là mái lăng hình tam cấp
- Quanh bống mặt là những hàng cột vuông bằng đá hoa cương
c. Miêu tả khái quát lăng Bác:
- Trên đỉnh lăng là hàng chữ "Chủ tịch Hồ Chí Minh" , dòng chữ này được làm từ đá ngọc màu đỏ thẫm được lấy từ tỉnh Cao Bằng
- Tiền sảnh ốp đá hoa cương vân đỏ hồng, làm nền cho dòng chữ "Không có gì quý hơn Độc lập Tự do" và chữ ký của Hồ Chí Minh được dát bằng vàng.
- 200 bộ cửa trong Lăng được làm từ các loại gỗ quý do nhân dân và bộ đội miền Trung gửi ra, và do các nghệ nhân nghề mộc của Nam Hà, Hà Bắc, và Nghệ An thực hiện
- Hai bên cửa chính là hai cây hoa đại.
- Quanh lăng có 79 cây vạn tuế tượng trưng cho 79 năm trong cuộc đời của Hồ Chủ tịch.
- Hai bên phía nam và bắc của lăng là hai rặng tre, loại cây biểu tượng cho nước Việt Nam.
- Trước cửa lăng luôn có hai người lính đứng gác, 1 giờ đổi gác một lần.
d. Thời gian mở cửa:
- Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh mở cửa 5 ngày một tuần, vào các buổi sáng thứ Ba, thứ Tư, thứ Năm, thứ Bảy và Chủ nhật.
- Hàng năm Lăng đóng cửa để làm nhiệm vụ tu bổ định kỳ vào 2 tháng: tháng 10 và tháng 11.
3. Kết bài:
Khẳng định tình cảm và ý thức giữ gìn lăng Bác.
Câu 11.
1. Mở bài:
Giới thiệu về quần thể di tích cố đô Huế.
2. Thân bài:
a. Vị trí, lịch sử hình thành và phát triển:
- Nằm bên cạnh dòng sông Hương, giữa trung tâm thành phố Huế, với diện tích khoảng hơn 500 ha.
- Từng là kinh đô của cả nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn.
- Được các thời vua Nguyễn liên tục xây dựng và trùng tu nhiều công trình kiến trúc, tạo nên một tổng thể kinh thành đồ sộ và tráng lệ.
- Đặc điểm: Chủ yếu được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống của Huế, tuân theo các nguyên tắc phong thủy của phương Đông, lối bố trí kiểu kết hợp nhà vườn, cân bằng, hài hòa giữa kiến trúc nhân tạo và tự nhiên.
b. Kết cấu: Gồm ba bộ phận chính là Kinh thành, Hoàng thành và Tử Cấm thành, với ba vòng thành tương ứng.
- Kinh thành Huế:
+ Là vòng ngoài cùng bao gồm một số công trình phụ và các lăng tẩm được xây dựng rải rác khắp nơi qua các đời vua.
+ Được khởi công xây dựng vào năm 1805, dưới thời vua Gia Long, nằm trên hai chi Bạch Yến và Kim Long của dòng sông Hương.
+ Được xây dựng trên một mặt bằng gần vuông hơi khum hình cánh cung, bên ngoài được bao bọc bởi hệ thống tường thành có chu vi 10571 mét.
+ Một số kiến trúc nổi bật: Kỳ Đài trường, Trường Quốc Tử giám, Điện Long An, Hồ Tịnh tâm, đình Phú Xuân.
- Hoàng thành:
+ Còn gọi là Đại Nội được xây dựng vào năm 1804, trên một mặt bằng hình vuông với diện tích khoảng 36 ha, được bao bọc xung quanh bởi tường thành.
+ Ngọ Môn quan là cửa chính và lớn nhất, chỉ dành riêng cho vua và các sứ thần đi lại, nằm ở hướng Nam, có bình diện kiểu đài chữ U, bên trên đài đặt lầu Ngũ Phụng.
+ Các công trình trong Đại Nội được đặt theo trục dọc đối xứng, các công trình dành cho vua thì đặt chính giữa, các công trình phụ đặt hai bên.
- Tử Cấm thành:
+ Các công trình phục vụ đời sống, sinh hoạt của hoàng tộc như điện Cần Chánh, cung Trường Thọ, cung Khôn Thái, viện Thái Y, điện Quang Minh, Điện Trinh Minh, Điện Trung Hòa,...
+ Công trình phục vụ việc thờ tự như Thế Miếu, Triệu Tổ Miếu, Hoàng Khảo Miếu, điện Hoàng Nhân...
3. Kết bài:
- Nêu giá trị của Cố đô Huế và nêu cảm nhận của mình
Câu 12.
1. Mở bài
- Văn Miếu - Quốc Tử Giám là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội.
- Văn Miếu - Quốc Tử Giám là nơi tham quan của du khách trong và ngoài nước đồng thời cũng là nơi khen tặng học sinh xuất sắc và nơi tổ chức hội thơ hằng năm vào ngày rằm tháng giêng.
2. Thân bài
a. Nguồn gốc, xuất xứ
- Văn Miếu được xây dựng từ năm (1070) tức năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông.
- Năm 1076. Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam.
- Năm 1253, vua Trần Thái Tông đổi Quốc Tử Giám thành Quốc Học Viện cho mở rộng và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc. Chức năng trường Quốc học ngày càng nổi bật hơn chức năng của một nơi tế lễ..
- Đời Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử giám Tư nghiệp (hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử. Năm 1370 ông mất được vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử.
- Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành.
- Vào năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia tiến sĩ của những người thi đỗ tiến sĩ từ khoa thi 1442 trở đi (chủ trương đã đề ra năm 1442 nhưng chưa thực hiện được). Mỗi khoa, một tấm bia đặt trên lưng rùa. Tới năm đó, nhà Lê đã tổ chức được 12 khoa thi cao cấp) Lê Thánh Tông (1460 - 1497) đã tổ chức đều đặn cứ ba năm một lần, đúng 12 khoa thi).
- Năm 1762, Lê Hiển Tông cho sửa lại là Quốc Tử Giám - cơ sở đào tạo giáo dục cao cấp của triều đình.
- Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử Giám lập tại Huế.
- Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây là Văn Miếu - Hà Nội và cho xây dựng Khuê Văn Các, với một chức năng duy nhất là nơi thờ tự Thánh hiền. Trường Giám cũ ở phía sau Văn Miếu lấy làm nhà Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử.
- Đầu năm 1947, giặc Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá. Ngày nay, ngôi nhà này đã được phục dựng theo kiến trúc cùng thời với quần thể các công trình còn lại.
b. Kết cấu
- Nhà Thái học có ba gian, có tường nang, lợp bằng ngói đồng.
- Nhà giảng dạy ở phía đông và tây hai dãy đều 14 gian.
- Phòng học của học sinh tam xá đều ba dãy, mỗi dãy 25 gian, mỗi gian 2 người.
- Khuôn viên được bao bọc bởi bốn bức tường xây bằng gạch Bát Tràng.
- Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám được bố cục đăng đối từng Khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn Miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc.
- Phía trước Văn Miếu có một hồ lớn gọi là hồ Văn Chương, tên cũ xưa gọi là Thái Hồ. Giữa hồ có gò Kim Châu, trước đây có lầu để ngắm cảnh.
- Ngoài cổng chính có tứ trụ, hai bên tả hữu có bia “Hạ Mã”, xung quanh khu vực xây tường cao bao quanh.
- Cổng Văn Miếu xây kiểu Tam quan, trên có 3 chữ “Văn Miếu Môn” kiểu chữ Hán cổ xưa.
- Trong Văn miếu chia làm 5 khu vực rõ rệt, mỗi khu vực đều có tường ngăn cách và cổng đi lại liên hệ với nhau:
+ Khu thứ nhất: bắt đầu với cổng chính Văn Miếu Môn đi đến cổng Đại Trung Mòn, hai bên có cửa nhỏ là Thành Đức Mòn và Đạt Tài Môn.
+ Khu thứ hai: từ Đại Trung Môn vào đến Khuê Văn Các (do Đức Tiền Quân Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành cho xây năm 1805).
+ Khu thứ ba: gồm hồ nước Thiên Quang Tỉnh (nghĩa là giếng soi ánh mặt trời).
+ Khu thứ tư: là khu trung tâm và là kiến trúc chủ yếu của Văn Miếu, gồm hai công trình lớn bố cục song song và nối tiếp nhau. Toà ngoài nhà là Bái đường, toả trong là Thượng cung.
+ Khu thứ năm: là khu Thái Học, trước kia đã có một thời kỳ đây là khu đền Khải thánh, thờ bố mẹ Khổng Tử, nhưng đã bị phá huỷ. Khu nhà Thái Học mới được xây dựng lại năm 2000.
- Trong Văn Miếu có tượng Khổng Tử và Tứ Phối (Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử).
- Ở điện thờ Khổng Tử có hai cặp hạc cưỡi trên lưng rùa.
- Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hoà giữa trời và đất. giữa hai thái cực âm - dương.
c. Ý nghĩa
- Là hình ảnh tiêu biểu của Hà Nội.
- Là nơi tượng trưng cho truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam.
3. Kết bài
- Vào tháng 3/2010, 82 tấm bia Tiến sĩ triều Lê - Mạc tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
- Đến ngày 27/7/2011, 82 bia Tiến sĩ lại tiếp tục được công nhận là Di sản tư liệu thế giới trên phạm vi toàn cầu.
- Di tích làm rạng rỡ văn hóa, lịch sử sâu rộng của dân tộc Việt Nam; tôn vinh nền văn hóa, nền giáo dục, truyền thống hiếu học, hiếu nghĩa, tôn sư trọng đạo, quý đức, quý tài của dân tộc Việt Nam.
Câu 13.
1. Mở bài
Giới thiệu vào tình huống câu chuyện.
2. Thân bài
a. Khái quát bối cảnh
- Trương Sinh là con trai duy nhất của một gia đình khá giả, được cha mẹ yêu thương, cưng chiều.
- Trương Sinh phải lòng một cô gái tên là Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) có dung nhan xinh đẹp và phẩm chất đoan trang, đầy đủ công dung ngôn hạnh.
- Sau khi lập gia đình có một cuộc sống hạnh phúc: có một cậu con trai mới chào đời kháu khỉnh.
→ Cuộc sống viên mãn, được nhiều người ngưỡng mộ và mơ ước.
b. Tình huống truyện
- Cuộc sống đang êm ả thì bị gọi đi lính tuy trong lòng không đành nhưng vẫn dứt áo lên đường.
- Ngày chia tay buồn bã, bịn rịn không muốn rời.
- Khi nghe những lời dặn dò đầy yêu thương của vợ thì đã vô cùng cảm động và yên tâm ra đi đánh giặc.
- Ở chiến trường, Trương Sinh vẫn luôn giữ vững niềm tin yêu và hướng về gia đình, hướng về vợ con với tấm lòng thủy chung.
c. Khi đi lính về
- Khi trở về nghe tin mẹ đã qua đời thì chàng vô cùng đau lòng. Khi bế con ra thăm mộ mẹ, đứng trầm ngâm nhớ về mẹ thì con quấy khóc; cố gắng vỗ về nó thì nó không nhận mình là cha và nói rằng cha nó thường xuyên đến thăm nó khi đêm về → trong lòng vô cùng tức tối, anh nghĩ rằng vợ đã phản bội mình và có người đàn ông khác nên đã rất bức xúc.
- Lúc về nhà Trương Sinh đã lãm rõ sự việc, vợ ra sức thanh minh nhưng đó chỉ là những lời biện minh vô nghĩa. Không thể chịu đựng được người phụ nữ này, quá thất vọng nên đã đuổi cô ta đi.
- Khi nghe tin cô vợ mất tích vẫn không mảy may suy nghĩ và cho rằng đó là những điều cô ta phải chịu.
d. Tâm trạng ăn năn, hối lỗi
- Một buổi tối, khi Trương Sinh thắp ngọn đèn dầu thấy cái bóng của mình, con trai tôi reo lên và chỉ đấy là bố nó mà đêm nào cũng đến như nó đã kể. → Sự thật được phơi bày và cảm thấy ăn năn, hối hận vì đã không nghe vợ giải thích mà ra sức nhiếc móc và đuổi vợ đi.
- Trương Sinh đi tìm vợ nhưng không thấy nàng ở đâu → đau buồn, tâm trạng nặng nề ngày này qua ngày khác.
- Một thời gian sau, người trong làng tên là Phan Lang đến kể với tôi về chuyện của nàng, về cuộc sống hiện tại của nàng ở nơi thủy cung rằng nàng tự vẫn nhưng được cứu về đó và sống yên bình. Trương Sinh không tin nhưng Phan Lang đưa cho tôi kỉ vật của nàng thì anh giật mình và tin những gì anh ta nói.
- Trương Sinh lập đàn theo lời Phan Lang dặn và quả nhiên vợ anh trở về. Nàng hiện lên giữa sông trên chiếc kiệu xinh đẹp. Trương Sinh vô cùng xúc động, van xin nàng và mong nàng trở về dân gian sống cùng anh nhưng nàng không còn trở về được nữa.
- Khi nàng trở về thủy cung nơi lòng sông, anh vô cùng buồn bã và đau khổ nhưng bất lực.
3. Kết bài
- Khái quát lại giá trị tác phẩm và bài học cho nhân vật.
Câu 14.
1. Mở bài
Giới thiệu nhân vật mà mình đóng vai để kể lại câu chuyện
2. Thân bài
a. Thời gian, không gian, sự việc liên quan
- Thời gian: Đời Tuyên Đức nhà Minh.
- Không gian: Trong cung, dân gian.
- Sự việc liên quan:
+ Trong cung rất chuộng trò chơi chọi dế yêu cầu dân gian cống nộp.
+ Muốn lấy lòng quan trên cho nên các Tri huyện đem hiến 1 con, quan chơi thử thấy hay đòi dâng nộp thường xuyên, Tri huyện lại đòi lí trưởng… (cứ theo cấp bậc để truyền lệnh cống nạp) và cấp bậc cuối cùng là người dân phải chịu tất cả những sách nhiễu vì chọi dế.
b. Đảm bảo đủ các sự kiện chính trong truyện:
- Thành là lí chính, phải nộp dế lên quan nhưng không tìm được dế dù đã quy cách. Vợ Thành tìm đến bà đồng được một bức vẽ chỗ tìm dế, nhờ vậy bắt được một con khỏe mạnh về nuôi, chờ ngày nộp quan.
- Con trai Thành tò mò mở ra xem, vô tình làm dế chết, sợ quá bỏ đi mà rơi xuống giếng. Tới nửa đêm, con Thành sống lại nhưng ngây ngốc như người gỗ, ngủ mê mệt.
- Hôm sau, Thành chụp được con dế lạ, đánh đâu thắng đó. Thành đem nộp quan và được trọng thưởng, sau mấy năm trở nên giàu có. Con Thành bình phục, kể lại chuyện hóa thành dế chọi để giúp cha.
3. Kết bài
- Khái quát lại câu chuyện
- Gửi gắm thông điệp mới, phù hợp với bối cảnh sáng tạo.
Câu 15.
1. Mở bài: Giới thiệu câu chuyện mà em muốn kể: Sơn Tinh, Thủy Tinh
2. Thân bài: Kể lại diễn biến các sự việc chính trong câu chuyện theo trình tự thời gian:
- Vua Hùng thứ 18 có một cô con gái tên là Mị Nương
- Khi đến tuổi cập kê, Mị Nương xinh đẹp, nết na nên vua vô cùng yêu thương, quyết tìm cho con một người chồng thật xứng đáng
- Vua Hùng tổ chức kén rể, thu hút nhiều thanh niên tài tuấn đến tham dự, nhưng nổi bật nhất là hai chàng trai Sơn tinh và Thủy Tinh
- Sơn Tinh có tài dời non lấp bể, Thủy Tinh có tài hô mưa gọi gió, hai bên ngang sức ngang tài, thi đấu mãi vẫn không phân thắng bại
- Vua Hùng quyết định đưa ra thử thách về sính lễ cho hai chàng trai, ai mang đủ sính lễ đến trước sẽ được cưới công chúa
- Sáng hôm sau, Sơn Tinh mang đủ sính lễ đến từ sớm nên cưới được Mị Nương, rồi rước nàng về núi Tản Viên
- Thủy Tinh đến sau thì vô cùng tức giận, liền gọi mây đến làm mưa bão, nhấn chìm thành Phong Châu, rồi đuổi theo Sơn tinh
- Thủy Tinh dâng nước lên cao, tạo thành từng đợt sóng dữ, thì Sơn Tinh đắp thành lũy, dời đất lên cao để đối phó
- Hai bên dằng co hàng tháng trời thì Thủy Tinh đuổi sức trước, nên đành rút lui
- Từ đó về sau, năm nào Thủy Tinh cũng dâng nước đánh Sơn Tinh, nhưng lần nào cũng thất bại thảm hại
3. Kết bài: Nêu suy nghĩ, cảm xúc của em về câu chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh
|
Đặc điểm của văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lich sử |
Đặc điểm của kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử thể hiện trong văn bản Cột cờ Thủ Ngữ - Di tích cổ bên sông Sài Gòn |
|
Cấu trúc của VB |
- Sapo: "Cột cờ Thủ Ngữ nằm ở góc cong ... trên nóc hầm Thủ Thiêm": Giới thiệu trực tiếp, ngắn gọn về vị trí của Cột cờ Thủ Ngữ hiện nay, nội dung này của đoạn sapo có sự tiếp nối với các phần còn lại của VB. Tác dụng: xác định trực tiếp di tích lịch sử sẽ giới thiệu trong nội dung bài viết, cung cấp lượng thông tin “vừa đủ" về đối tượng và kết nối chặt chẽ với nội dung VB để thu hút sự chú ý, hứng thú của người đọc. - Phần mở đầu: không có: Trong trường hợp của VB thông tin này, phần mở đầu có thể đã được chuyển thành sapo. - Phần nội dung:"Một trong những công trình cổ nhất của Sài Gòn ... Cột cờ Thủ Ngữ mang trên mình một bề dày lịch sử, làm chứng nhân cho sự phát triển và lớn mạnh không ngừng của Sài Gòn xưa, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.": Giới thiệu một cách có hệ thống những phương diện khác nhau (quá trình hình thành và sự thay đổi về kết cấu, diện mạo, chức năng của di tích cũng như những khu vực lân cận; bề dày lịch sử) làm nên dấu ấn cổ xưa của Cột cờ Thủ Ngữ để nơi đây xứng đáng được xem là di tích cổ bên sông Sài Gòn. - Phần kết thúc: "Thành phố bên sông ngày nay ... cùng với bến Nhà Rồng lịch sử": Nhận xét khái quát về giá trị của di tích Cột cờ Thủ Ngữ; qua đó bày tỏ tình cảm, thái độ của người viết dành cho di tích lịch sử này. |
|
Đặc điểm hình thức của VB |
VB sử dụng: - Hệ thống đề mục (Một trong những công trình cổ nhất của Sài Gòn, bề dày lịch sử) để làm nổi bật thông tin cơ bản của VB. - Từ ngữ chuyên ngành kiến trúc (ví dụ: công trình, chân đế, sàn, khối nhà, mặt bằng, kết cấu, mái dốc, ... ), lịch sử (ví dụ: Cách mạng tháng Tám, Pháp, quân Anh, kháng chiến, cuộc xâm lược, lực lượng quân và dân Nam Bộ, .. ). - Từ ngữ giàu giá trị miêu tả, biểu cảm: nhộn nhịp, quyết liệt, ngoan cường, ... - Hình ảnh minh hoạ. |
|
Cách trình bày thông tin của VB |
VB sử dụng phối hợp nhiều cách trình bày thông tin: - Trình bày thông tin theo trật tự thời gian (trình bày thông tin về sự hình thành và phát triển của Cột cờ Thủ Ngữ, ... ). - Trình bày thông tin theo mối quan hệ nhân quả (thông tin lí giải về tên gọi của di tích). |
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 1
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
"Mỗi người trong chúng ta đều mang theo một ước mơ, một mục đích sống riêng, như những ngọn hải đăng nhỏ bé giữa biển cả cuộc đời. Ước mơ ấy có thể là trở thành một người tốt, một nhà khoa học, một nghệ sĩ hay chỉ đơn giản là một người biết yêu thương. Nhưng con đường dẫn đến những ước mơ không phải lúc nào cũng bằng phẳng. Chúng ta sẽ phải đối mặt với những khó khăn, thử thách, thậm chí là sự thất bại. Điều quan trọng là ta không bao giờ ngừng cố gắng, không bao giờ đánh mất niềm tin vào chính mình và vào cuộc sống. Chính sự kiên trì, lòng dũng cảm và khả năng vượt qua những trở ngại sẽ giúp ta trưởng thành và đạt được mục đích của mình. Dù ước mơ là gì, hãy luôn nhớ rằng, cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi chúng ta không ngừng nỗ lực để trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình."
(Nguồn: Sưu tầm)
Câu 1 (0.5 điểm): Văn bản trên thuộc thể loại nào?
Câu 2 (1.0 điểm): Tìm và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong đoạn trích
Câu 3 (1.0 điểm): Theo em, vì sao đoạn trích so sánh ước mơ của mỗi người với "ngọn hải đăng giữa biển cả cuộc đời"?
Câu 4 (0.5 điểm): Chỉ ra thông điệp của tác giả về ý nghĩa của cuộc sống được gửi gắm trong đoạn trích.
Câu 5 (1.0 điểm): Từ đoạn trích, em hãy viết một đoạn văn (5-7 dòng) nêu suy nghĩ của em về ý chí và nghị lực trong hành trình thực hiện ước mơ
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Em hãy viết một đoạn văn nghị luận trình bày ý kiến của mình về ý nghĩa của ý chí và nghị lực trong cuộc sống.
Câu 2 (4.0 điểm) Viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở địa phương em.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Văn bản trên thuộc thể loại nào? |
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng của thể loại
Lời giải chi tiết:
Văn bản nghị luận
Câu 2.
|
Tìm và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong đoạn trích. |
Phương pháp:
Tìm các biện pháp tu từ thường gặp như so sánh, ẩn dụ, điệp từ, điệp ngữ… và xác định tác dụng
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ so sánh: “Mỗi người trong chúng ta đều mang theo một ước mơ, một mục đích sống riêng, như những ngọn hải đăng nhỏ bé giữa biển cả cuộc đời.”
- Tác dụng: So sánh ước mơ của mỗi người với “ngọn hải đăng” nhằm nhấn mạnh vai trò của ước mơ trong việc định hướng, dẫn dắt con người qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống.
Câu 3.
|
Theo em, vì sao đoạn trích so sánh ước mơ của mỗi người với "ngọn hải đăng giữa biển cả cuộc đời"? |
Phương pháp:
Phân tích ý nghĩa của “ngọn hải đăng” và sự tương đồng giữa ngọn hải đăng và ước mơ của con người
Lời giải chi tiết:
“Ngọn hải đăng” là biểu tượng của ánh sáng và sự dẫn lối. Tương tự như ngọn hải đăng soi sáng đường đi trong đêm tối, ước mơ giúp con người có mục tiêu rõ ràng, hướng đi trong cuộc sống. Nó là động lực giúp con người không bỏ cuộc khi gặp khó khăn.
Câu 4.
|
Chỉ ra thông điệp của tác giả về ý nghĩa của cuộc sống được gửi gắm trong đoạn trích. |
Phương pháp:
Tìm các câu then chốt trong đoạn văn để rút ra thông điệp chính
Lời giải chi tiết:
Thông điệp của đoạn trích là: Cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người không ngừng nỗ lực để đạt được ước mơ và trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình.
Câu 5.
|
Từ đoạn trích, em hãy viết một đoạn văn (5-7 dòng) nêu suy nghĩ của em về ý chí và nghị lực trong hành trình thực hiện ước mơ |
Phương pháp:
Dựa vào nội dung đoạn trích để trình bày suy nghĩ cá nhân về tầm quan trọng của ý chí và nghị lực.
Lời giải chi tiết:
Trong hành trình hiện thực hóa ước mơ, ý chí và nghị lực đóng vai trò quan trọng. Ý chí giúp chúng ta kiên định, không dễ dàng từ bỏ trước những khó khăn, thử thách. Nghị lực là sức mạnh nội tại, giúp con người vượt qua những trở ngại để đến gần hơn với ước mơ. Thiếu ý chí và nghị lực, ước mơ dù có lớn lao đến đâu cũng chỉ là giấc mơ không bao giờ thành hiện thực.
PHẦN VIẾT (7.0 điểm)
Câu 1.
|
Em hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày ý kiến của mình về ý nghĩa của ý chí và nghị lực trong cuộc sống |
Phương pháp:
Sử dụng các dẫn chứng và lập luận để trình bày rõ ý nghĩa của ý chí, nghị lực trong cuộc sống. Cấu trúc bài gồm mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn.
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài:
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: ý nghĩa của ý chí và nghị lực trong cuộc sống.
2. Thân bài:
a. Giải thích vấn đề
- Ý chí là sự quyết tâm, kiên định để đạt được mục tiêu đã đặt ra.
- Nghị lực là sức mạnh tinh thần để vượt qua khó khăn, thử thách trong cuộc sống.
=> Ý chí và nghị lực đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống
b. Bàn luận vấn đề
- Ý nghĩa của ý chí và nghị lực trong cuộc sống:
+ Giúp con người vượt qua nghịch cảnh: Những người có ý chí và nghị lực sẽ không dễ dàng gục ngã trước khó khăn.
+ Tạo ra sức mạnh để thực hiện ước mơ: Không có ý chí và nghị lực, con người sẽ khó đạt được mục tiêu, mơ ước.
- Dẫn chứng: Trích dẫn những tấm gương nổi tiếng, ví dụ như Nick Vujicic – người không tay, không chân nhưng nhờ nghị lực phi thường, anh đã truyền cảm hứng sống tích cực đến hàng triệu người trên thế giới.
- Phản đề: Một số người sống mà không có ý chí, nghị lực vươn lên, chỉ biết ý lại vào người khác…
- Bài học rút ra: Mỗi chúng ta cần trau dồi và rèn luyện ý chí, nghị lực để không ngừng tiến bộ và đạt được thành công trong cuộc sống.
3. Kết đoạn:
Khẳng định tầm quan trọng của ý chí và nghị lực; kêu gọi mọi người không ngừng cố gắng, phấn đấu trong mọi hoàn cảnh.
Câu 2.
|
Viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở địa phương em. |
Phương pháp:
1. Mở bài
Giới thiệu chung về danh lam thắng cảnh mà em muốn thuyết minh.
2. Thân bài
- Lịch sử và nguồn gốc
- Đặc điểm nổi bật
- Giá trị và ý nghĩa
- Hoạt động tham quan và trải nghiệm
3. Kết bài
- Khẳng định lại vẻ đẹp và giá trị của danh lam thắng cảnh.
Lời giải chi tiết:
Dàn ý:
1. Mở bài
- Giới thiệu chung về danh lam thắng cảnh mà em muốn thuyết minh.
Ví dụ: Tên danh lam thắng cảnh, vị trí, và tầm quan trọng đối với địa phương.
2. Thân bài
a. Lịch sử và nguồn gốc
- Thời gian hình thành hoặc xây dựng.
- Người sáng lập hoặc gắn liền với sự kiện lịch sử nào.
- Những câu chuyện, truyền thuyết liên quan.
b. Đặc điểm nổi bật
- Vị trí và không gian: Nằm ở đâu? Có đặc điểm địa lý nào thu hút (núi non, sông nước,...)
- Kiến trúc hoặc cảnh quan đặc sắc:
+ Mô tả chi tiết về cấu trúc, hình dáng, thiết kế hoặc vẻ đẹp thiên nhiên.
+ Các yếu tố độc đáo như tượng, tháp, đền, cây cối,...
- Ý nghĩa văn hóa, lịch sử, tâm linh: Vai trò của danh lam thắng cảnh đối với người dân địa phương và du khách.
c. Giá trị và ý nghĩa
- Ý nghĩa về mặt lịch sử.
- Giá trị văn hóa và tâm linh.
- Đóng góp vào phát triển du lịch địa phương.
d. Hoạt động tham quan và trải nghiệm
- Các hoạt động du khách có thể tham gia: ngắm cảnh, chụp ảnh, tìm hiểu lịch sử.
- Lễ hội hoặc sự kiện thường niên nếu có.
3. Kết bài
- Khẳng định lại vẻ đẹp và giá trị của danh lam thắng cảnh.
- Lời kêu gọi bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị của địa điểm này.
Bài tham khảo:
Khu tâm linh chùa Bái Đính thuộc Quần thể Danh thắng Tràng An, cách thành phố Ninh Bình 15 km, nổi tiếng với nhiều kỷ lục như tượng Phật bằng đồng lớn nhất Đông Nam Á và chuông đồng lớn nhất khu vực. Đây là nơi kết nối tâm linh qua hàng nghìn năm.
Với kiến trúc đồ sộ, những tượng Phật uy nghi và nghệ thuật tinh tế, Bái Đính nằm giữa cảnh quan hùng vĩ, tạo nên không gian thanh tịnh. Tam Quan cao 17 mét là biểu tượng của sự kết hợp giữa thiêng liêng và đời sống hàng ngày, nơi mọi người tìm đến Chân - Thiện - Mỹ.
Bước chân vào Bái Đính, bạn gặp Tam Quan trang nghiêm, sau đó là chuông đồng 36 tấn vang vọng khắp nơi, xua đi mọi phiền muộn. Hành lang 500 vị La Hán dẫn ta đến gần với cõi Phật, trong khi các tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, Phật Thích Ca Mâu Ni truyền đạt nét uy nguy và lòng nhân ái.
Khu chùa Bái Đính nằm bên sườn đồi xanh thẳm, toát lên vẻ đẹp cổ kính và huyền bí, tạo nên một bức tranh tâm linh tuyệt vời.
Chùa Bái Đính - Hành trình tìm về 'địa linh - nhân kiệt', nơi Quốc sư Nguyễn Minh Không từng thực hiện nghi lễ và tu hành. Dấu chân của ông lan tỏa khắp nơi, là nơi gắn bó với sự đoàn kết giữa tâm linh và cuộc sống hàng ngày.
Nguyễn Minh Không - Thánh y và học giả, sinh ra tại Gia Viễn, Ninh Bình, được coi là người có công lớn trong việc cứu chữa bệnh cho nhà vua Lý Thần Tông. Với bài đồng dao của lũ trẻ, ông trở thành hiện thân của sự tin tưởng và kỳ diệu.
Khi vua Lý Thần Tông bị bệnh nặng, tất cả các danh y đều thất bại trong việc chữa trị. Nguyễn Minh Không, đang tu hành tại chùa Bái Đính, được mời về Kinh đô và thực hiện kỳ công khi nhổ chiếc đinh khó nhất, chứng minh sức mạnh siêu nhiên của mình.
Chùa Bái Đính không chỉ là di tích lịch sử và tâm linh, mà còn là kết nối với câu chuyện huyền bí về Nguyễn Minh Không - một huyền thoại sống mãi trong lòng người dân.
Nguyễn Minh Không thực hiện 'kỳ công' khi chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông, làm mọi người kinh ngạc và tôn kính tài năng siêu phàm của ông. Từ đó, ông được phong làm Quốc sư, trở thành nhà cao tăng hàng đầu triều đại Lý.
Là ông tổ nghề đúc đồng, Nguyễn Minh Không đóng góp quan trọng vào sự nghiệp văn hóa Việt Nam. Ông chế tạo 'Tứ đại khí' gồm Tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng Phật Quỳnh Lâm, và vạc Phổ Minh. Câu chuyện về ông trở thành huyền thoại và nguồn cảm hứng lớn cho người Việt.
Bái Đính, nơi gắn bó với linh khí núi sông và tâm linh dân tộc, trở thành viên ngọc sáng lấp lánh trong lòng Việt Nam. Phong cảnh kỳ vĩ và những câu chuyện huyền bí về Nguyễn Minh Không kết hợp tạo nên một bức tranh tâm linh và văn hóa độc đáo.
Với sự huyền bí và tâm linh đặc sắc, Bái Đính không chỉ là di tích lịch sử mà còn là biểu tượng của lòng tin và truyền thống văn hóa sâu sắc của dân tộc Việt Nam, được xây dựng và duy trì qua hàng ngàn năm.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 2
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
NỖI OÁN SẦU NGƯỜI CUNG NỮ
|
1. Trong cung quế âm thầm chiếc bóng Đêm năm canh trông ngóng lần lần, Khoảnh làm chi, bấy chúa xuân Chơi hoa cho rữa nhụy dần lại thôi. 5. Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ Gác thừa lương thức ngủ thu phong, Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng Gương loan bẻ nửa, dải đồng xẻ đôi, |
Chiều ủ dột giấc mai khuya sớm 10. Vẻ bâng khuâng hồn bướm vẩn vơ Thâm khuê vắng ngắt như tờ, Cửa châu gió lọt, rèm ngà sương gieo. Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ, Dấu dương xa đám cỏ quanh co 15. Lầu Tần chiều nhạt vẻ thu, Gối loan tuyết đóng, chăn cù giá đông. |
(Những khúc ngâm chọn lọc, tập I, NXB Giáo dục, 1994, tr.153-154)
Nguyễn Gia Thiều:
- Ông thuộc gia đình quý tộc, xuất thân là quan võ. Năm 1782, ông giữ chức Tổng binh ở Hưng Hóa, phong tước Ôn Như hầu, nhưng ông lại xin thôi, về sống cuộc đời tài tử, làm thơ, uống rượu và cả đi tu (ông có hiệu là Như ý Thiền).
- Ông là một thi nhân mà cũng là một nhạc sĩ. Ông đã sáng tác các bản nhạc Sơn trung âm, Sở từ điệu. Ông vẽ đẹp, có bức tranh Tổng sơn đồ được vua Lê khen thưởng. Ông cũng am tường cả về kiến trúc, Tháp chùa Thiên Tích (Bắc Ninh) đã được xây dựng dưới sự điều khiển của ông. Quãng cuối đời, ông có được triều Tây Sơn mời ra cộng tác, nhưng đã chối từ, về sống ở quê nhà: làng Liễu Ngạn, huyện Siêu Loại (nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) cho đến khi mất.
- Cung oán ngâm khúc:
+ Hoành cảnh ra đời: Nguyễn Gia Thiều viết Cung oán ngâm khúc theo thể thơ song thất lục bát gồm 356 dòng vào cuối thế kỉ XIX, khi XH Việt Nam đang đi vào suy thoái với lối sống hưởng thụ, ăn chơi sa đọa của vua chúa và sự lầm than của nhân dân. Những số phận bất hạnh không chỉ có người nông dân mà còn có những cung nữ.
+ Tóm tắt nội dung tác phẩm: Cung oán ngâm khúc là bài ca ai oán của người cung nữ có tài sắc, trước được vưa yêu chuộng, sủng ái, nhưng chẳng bao lâu bị ruồng bỏ. Ở trong cung, nàng xót thương cho thân phận mình và oán trách nhà vua phụ bạc. Qua khúc ngâm, tác giả còn gửi gắm quan niệm của ông về cuộc đời bạc bẽo, phù du. Cả khúc ngâm dài 356 câu với một ngôn ngữ tài hoa, bác học, có nhiều chữ Hán và điển cố. Đoạn trích trên gồm 16 câu (từ câu 245 – 260)
Câu 1 (1.0 điểm): Chỉ ra đặc trưng của thể thơ song thất lục bát được thể hiện trong khổ một của đoạn trích trên.
Câu 2 (1.0 điểm): Em hiểu hai câu thơ sau như thế nào?
Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ,
Dấu dương xa đám cỏ quanh co
Câu 3 (1.0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được thể hiện trong hai câu thơ:
Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng
Gương loan bẻ nửa, dải đồng xẻ đôi
Câu 4 (1.0 điểm): Kể tên một văn bản khác có cùng thể thơ với đoạn trích trên.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn nêu cảm nhận về đoạn trích trên.
Câu 2 (4.0 điểm) Viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo vệ môi trường sống hiện nay.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Chỉ ra đặc trưng của thể thơ song thất lục bát được thể hiện trong khổ một của đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
- Thể thơ: Song thất lục bát
- Số tiếng: 2 câu thất ngôn (7 tiếng) đan xen với 2 câu lục bát (6 tiếng và 8 tiếng)
- Vần: gieo vần chân, vần lưng. Hiệp vần theo quy định: tiếng cuối của câu thất thứ nhất hiệp vần với tiếng thứ năm của câu thất hai (bóng - ngóng); tiếng cuối của câu thất 2 sẽ hiệp vần với tiếng thứ 6 của câu lục và tiếng thứ 6 của bát (Ví dụ: lần – xuân – dần)
- Thanh điệu: Tuân thủ quy định về thanh điệu ở vị trí một số tiếng nhất định
- Nhịp: câu thất ngôn ngắt nhịp lẻ trước ¾; câu lục bát ngắt nhịp chẵn 2/4 và 4/4…
Câu 2.
|
Em hiểu hai câu thơ sau như thế nào? Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ, Dấu dương xa đám cỏ quanh co |
Phương pháp:
Phân tích nghĩa của từng câu và rút ra nội dung chính
Lời giải chi tiết:
- Giải thích nghĩa từng câu:
+ Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ: dấu xe phượng, cỗ xe chở nhà vua đến với người cung nữ giờ rêu đã lên lỗ chỗ;
+ Dấu dương xa đám cỏ quanh co: dấu vết bánh xe dê kéo nhà vua đến với phi tần cỏ cũng đã mọc quanh co;
- Nghĩa cả hai câu:
+ Người cung nữ đã một thời được sủng ái, được nhà vui năng tới lui sủng hạnh nhưng đã rất lâu rồi nhà vua không còn ghé tới, không còn đoái thương, nàng cung nữ đã bị thất sủng
+ Hai câu thơ bộc lộ nỗi xót xa, bẽ bàng, tủi hổ của người cung nữ khi chỉ biết sống trong cô đơn mỏi mỏi, đợi mong vô vọng.
+ Qua đó thể hiện tấm lòng đồng cảm, xót thương của nhà văn trước số phận đáng thương của những người cung nữ bị thất sủng.
Câu 3.
|
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được thể hiện trong hai câu thơ: Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng Gương loan bẻ nửa, dải đồng xẻ đôi |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về các biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp so sánh: phòng tiêu lạnh ngắt như đồng
- Tác dụng:
+ Cách ví von, so sánh giúp cho câu thơ trở nên giàu hình ảnh, tăng sức gợi cảm và sinh động.
+ Gợi hình dung căn phòng của người cung nữ trở nên vô cùng lạnh lẽo à từ đó làm nổi bật tâm trạng cô đơn, sầu tủi khi bị thất sủng, bị nhà vua quên lãng.
+ Tác giả bộc lộ niềm cảm thông, thương cảm với số phận bất hạnh của người cung nữ
Câu 4.
|
Kể tên một văn bản khác có cùng thể thơ với đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại để xác định các bài thơ khác có cùng thể loại
Lời giải chi tiết:
Nỗi niềm chinh phụ (Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn)
Tiếng đàn mưa (Bích Khê)
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn văn nêu cảm nhận về đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích và nêu cảm nhận
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo:
Đoạn trích “Nỗi oán sầu người cung nữ” của Nguyễn Gia Thiều như một bức tranh buồn, phản ánh tâm trạng cô đơn của người phụ nữ sống trong chốn cung cấm. Hình ảnh “cung quế âm thầm chiếc bóng” gợi lên không gian tĩnh lặng, lạnh lẽo, trong khi “đêm năm canh” kéo dài như thử thách nỗi chịu đựng của nhân vật. Mỗi câu thơ đều thấm đượm nỗi buồn và sự chờ đợi vô vọng, tạo nên một bầu không khí u ám. Các hình ảnh như “gương loan bẻ nửa, dải đồng xé đôi” không chỉ mô tả sự tan vỡ mà còn là biểu tượng cho những ước mơ, hy vọng vụt tắt. Qua đoạn thơ, ta cảm nhận được sự sâu sắc trong tâm hồn nhạy cảm của người phụ nữ, những khát khao yêu thương và ước vọng tự do. Nguyễn Gia Thiều đã khéo léo vẽ nên một bức tranh tâm lý tinh tế, làm nổi bật nỗi khát khao và bất lực của phận nữ trong xã hội phong kiến.
Câu 2.
|
Viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo vệ môi trường sống hiện nay. |
Phương pháp:
Vận dụng hiểu biết của mình
Chú ý hình thức của một bài văn (600 chữ) gồm: mở bài, thân bài, kết bài
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở bài:
- Giới thiệu vấn đề môi trường đang là một thách thức lớn đối với toàn cầu.
- Vai trò của thế hệ trẻ trong việc bảo vệ môi trường.
2. Thân bài:
- Thực trạng môi trường hiện nay: Ô nhiễm không khí, nước, đất đai; rác thải nhựa, biến đổi khí hậu.
- Nguyên nhân gây ra vấn đề môi trường: Do con người khai thác tài nguyên quá mức, xả thải bừa bãi,...
- Trách nhiệm của thế hệ trẻ:
+ Nhận thức và thay đổi thói quen tiêu dùng.
+ Tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, như trồng cây, tái chế rác thải.
+ Đóng góp ý tưởng sáng tạo, áp dụng khoa học kỹ thuật xanh.
- Dẫn chứng: Những tấm gương trẻ góp phần bảo vệ môi trường, phong trào sống xanh,...
3. Kết bài:
- Khẳng định vai trò quan trọng của thế hệ trẻ.
- Kêu gọi ý thức trách nhiệm của mọi người trong việc chung tay bảo vệ môi trường.
Bài tham khảo
Môi trường sống đang ngày càng bị đe dọa nghiêm trọng bởi các hoạt động của con người. Ô nhiễm không khí, rác thải nhựa, suy thoái đất và biến đổi khí hậu là những vấn đề cấp bách không chỉ ảnh hưởng đến chúng ta hôm nay mà còn để lại hậu quả lâu dài cho các thế hệ mai sau. Trong bối cảnh đó, thế hệ trẻ - những người kế thừa và làm chủ tương lai - có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, giữ gìn hành tinh xanh cho chính mình và cộng đồng.
Hiện nay, tình trạng ô nhiễm môi trường đã đạt mức báo động. Theo các báo cáo, lượng rác thải nhựa trên toàn cầu đã vượt qua 300 triệu tấn mỗi năm, trong đó chỉ một phần nhỏ được tái chế. Khí thải từ các nhà máy, phương tiện giao thông cũng góp phần làm suy giảm tầng ozon, gây nên hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu. Nguyên nhân chính là do sự thiếu ý thức của con người trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi.
Trong bối cảnh ấy, thế hệ trẻ cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với môi trường. Trước hết, mỗi cá nhân trẻ cần thay đổi thói quen sống, từ việc giảm sử dụng đồ nhựa dùng một lần đến việc phân loại rác thải. Những hành động nhỏ như mang theo túi vải khi đi chợ, sử dụng bình nước cá nhân hay tái chế rác cũng góp phần lớn vào việc bảo vệ môi trường.
Bên cạnh đó, thế hệ trẻ cần chủ động tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường, chẳng hạn như trồng cây xanh, dọn dẹp rác thải ở khu vực công cộng hoặc tham gia các chiến dịch tuyên truyền về ý thức môi trường. Ngoài ra, các bạn trẻ có thể áp dụng kiến thức khoa học và công nghệ để đưa ra những sáng kiến sáng tạo, như phát minh sản phẩm thân thiện với môi trường hay nghiên cứu các giải pháp năng lượng tái tạo.
Thực tế đã có nhiều tấm gương sáng trong việc bảo vệ môi trường. Một số bạn trẻ đã khởi xướng các dự án "sống xanh" đầy ý nghĩa, như biến rác thải thành vật liệu hữu ích hoặc tổ chức các chương trình giáo dục về bảo vệ môi trường. Những hành động này không chỉ truyền cảm hứng mà còn tạo ra ảnh hưởng tích cực đến cộng đồng.
Thế hệ trẻ chính là những người giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ hành tinh xanh. Bằng sự nhiệt huyết, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm, họ có thể trở thành nhân tố thay đổi tích cực, góp phần xây dựng một tương lai bền vững. Mỗi người, dù nhỏ bé đến đâu, cũng có thể góp phần làm nên sự khác biệt. Vì vậy, ngay từ hôm nay, hãy cùng nhau hành động vì một môi trường trong lành và một trái đất xanh tươi.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 3
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
“Mỗi ngày chúng ta thức dậy là một ngày mới, một cơ hội mới để sống, làm việc, yêu thương và cống hiến. Thời gian không bao giờ quay trở lại, vì vậy đừng để nó trôi qua vô nghĩa. Hãy sống một cách chủ động, làm những việc có ích và tạo giá trị cho bản thân cũng như xã hội. Hạnh phúc không phải lúc nào cũng là những điều lớn lao, mà đôi khi chỉ đơn giản là một nụ cười, một lời cảm ơn, hay cảm giác ấm áp khi giúp đỡ người khác. Điều quan trọng nhất chính là chúng ta biết tận hưởng và trân trọng từng khoảnh khắc hiện tại. Đừng chờ đợi một ngày đặc biệt để yêu thương, bởi mỗi ngày trôi qua đều là món quà quý giá mà cuộc sống đã ban tặng.”
(Nguồn: Sưu tầm)
Câu 1 (1 điểm): Nội dung chính của đoạn văn là gì?
Câu 2 (1 điểm): Theo tác giả, vì sao chúng ta cần sống một cách chủ động và trân trọng hiện tại?
Câu 3 (1 điểm): Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu:
“Hạnh phúc không phải lúc nào cũng là những điều lớn lao, mà đôi khi chỉ đơn giản là một nụ cười, một lời cảm ơn, hay cảm giác ấm áp khi giúp đỡ người khác.”
Câu 4 (1 điểm): Em hiểu thế nào về câu nói: “Đừng chờ đợi một ngày đặc biệt để yêu thương, bởi mỗi ngày trôi qua đều là món quà quý giá mà cuộc sống đã ban tặng.”? Từ ý nghĩa của câu nói trên, em rút ra bài học gì?
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về cách tận hưởng cuộc sống ý nghĩa từ những điều nhỏ bé xung quanh.
Câu 2 (4.0 điểm) Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) được coi là một bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta. Đọc bài thơ và viết một bài văn nêu cảm nhận của em.
Phiên âm:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Dịch nghĩa:
Sông núi nước Nam vua nước Nam cai quản
Giới phận đã được khẳng định rõ ràng ở trong sách trời.
Cớ gì lũ giặc kia tới xâm phạm,
Các ngươi sẽ nhìn thấy việc chuốc lấy bại vong.
Dịch thơ:
Sông núi nước Nam, vua Nam ngự,
Rành rành định phận ở sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Nội dung chính của đoạn văn là gì? |
Phương pháp:
Dựa trên các từ khóa như: “cơ hội mới,” “sống chủ động,” “hạnh phúc giản dị,” và “trân trọng hiện tại.”
Lời giải chi tiết:
Nội dung chính: ý nghĩa của việc sống chủ động, trân trọng từng khoảnh khắc trong hiện tại, và tìm thấy hạnh phúc từ những điều giản dị trong cuộc sống.
Câu 2.
|
Theo tác giả, vì sao chúng ta cần sống một cách chủ động và trân trọng hiện tại? |
Phương pháp:
Chú ý các ý về giá trị của thời gian và hạnh phúc từ những điều nhỏ bé.
Lời giải chi tiết:
- Thời gian không bao giờ quay trở lại, vì vậy mỗi ngày đều là một cơ hội quý giá để sống ý nghĩa.
- Hạnh phúc không chỉ đến từ những điều lớn lao mà còn từ những khoảnh khắc nhỏ bé, giản dị.
Câu 3.
|
Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu: “Hạnh phúc không phải lúc nào cũng là những điều lớn lao, mà đôi khi chỉ đơn giản là một nụ cười, một lời cảm ơn, hay cảm giác ấm áp khi giúp đỡ người khác.” |
Phương pháp:
Chỉ ra biện pháp tu từ và giải thích ý nghĩa của chúng trong việc truyền tải nội dung.
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ:
+ Điệp từ "một" (nhấn mạnh sự giản dị của hạnh phúc).
+ Liệt kê (nụ cười, lời cảm ơn, cảm giác ấm áp): Tạo sự cụ thể, sinh động khi nói về hạnh phúc.
- Tác dụng: Nhấn mạnh ý nghĩa của những điều nhỏ bé, giản dị trong cuộc sống mà con người thường không để ý nhưng lại là nguồn cội của hạnh phúc.
Câu 4.
|
Em hiểu thế nào về câu nói: “Đừng chờ đợi một ngày đặc biệt để yêu thương, bởi mỗi ngày trôi qua đều là món quà quý giá mà cuộc sống đã ban tặng.”? Từ ý nghĩa của câu nói trên, em rút ra bài học gì? |
Phương pháp:
Giải thích từng vế của câu nói và rút ra bài học phù hợp với bản thân.
Lời giải chi tiết:
- Ý nghĩa: Mỗi ngày là một cơ hội để sống, yêu thương và tạo giá trị. Chúng ta không nên chờ đợi những dịp đặc biệt mà hãy tận dụng hiện tại để bày tỏ tình cảm và làm điều tốt đẹp.
- Bài học: Sống trọn vẹn với hiện tại, trân trọng thời gian, và biết thể hiện tình yêu thương hàng ngày.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về cách tận hưởng cuộc sống ý nghĩa từ những điều nhỏ bé xung quanh. |
Phương pháp:
Kết hợp lập luận, giải thích với dẫn chứng cụ thể, liên hệ thực tế.
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn:
Nêu vấn đề: Cuộc sống trở nên ý nghĩa khi chúng ta biết trân trọng và tận hưởng những điều giản dị.
2. Thân đoạn:
a. Giải thích:
- Những điều nhỏ bé xung quanh như một nụ cười, một bữa cơm gia đình, hay một lời động viên đều chứa đựng giá trị tinh thần lớn lao.
b. Ý nghĩa:
- Giúp con người nhận ra hạnh phúc không đến từ những điều to lớn, mà từ sự bình dị của cuộc sống hàng ngày.
- Làm cho tâm hồn thư thái, cân bằng giữa áp lực và niềm vui.
c. Dẫn chứng:
- Một học sinh tìm thấy niềm vui khi giúp đỡ bạn bè, một người cảm nhận sự bình yên qua thiên nhiên.
d. Phản đề
- Một số người sống tiêu cực, không muốn thoát ra khỏi vùng tối để tới với những điều tích cực trong cuộc sống.
3. Kết đoạn:
- Tổng kết lại vấn đề: Hãy tận hưởng cuộc sống từ những niềm vui giản dị quanh ta, vì chính những điều đó tạo nên giá trị thật sự của hạnh phúc.
- Liên hệ bản thân
Câu 2.
|
Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) được coi là một bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta. Đọc bài thơ và viết một bài văn nêu cảm nhận của em. |
Phương pháp:
Đọc kĩ bài thơ, chú ý các từ ngữ, hình ảnh, biện pháp nghệ thuật đặc sắc
Hình thức bài văn có 3 phần: mở bài – thân bài – kết bài
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
I. Mở bài
Giới thiệu đôi nét về bài thơ Sông núi nước Nam.
II. Thân bài
1. Lời khẳng định chủ quyền lãnh thổ của quốc gia, dân tộc
- Câu thơ 1: Nam quốc sơn hà Nam đế cư (Sông núi nước Nam vua Nam ở)
+ Trong quan niệm của xã hội xưa: toàn bộ diện tích lãnh thổ, của cải vật chất, con người của một đất nước đều thuộc về nhà vua. Người có quyền quyết định tất cả mọi thứ, thậm chí cả quyền sinh sát.
+ “Nam đế”: hoàng đế nước Nam, người đứng đầu của một quốc gia - thể hiện sự ngang hàng với phương Bắc.
- Câu thơ 2: Tiệt nhiên định phận tại thiên thư (Vành vạch sách trời chia xứ sở)
+ “Thiên thư”: sách trời - Lãnh thổ, địa phận của đất nước đã được ghi tại sách trời.
+ Điều này khẳng định chủ quyền lãnh thổ của dân tộc ta là một chân lý không thể chối cãi và thay đổi được.
=> Một lời khẳng định đanh thép, bản lĩnh.
2. Sự quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của quốc gia, dân tộc
- Câu thơ 3: Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm (Giặc giữ cớ sao xâm phạm đến đây?)
+ Câu hỏi tu từ: “như hà” - “cớ sao?” nhằm khẳng định lại chủ quyền dân tộc.
+ “nghịch lỗ”: khẳng định những kẻ xâm lược đi xâm lược lãnh thổ là đang làm trái ý trời.
- Câu thơ 4: Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Chúng mày nhất định phải tan vỡ): Những kẻ đi xâm lược, cướp nước của dân tộc khác sẽ không có được kết thúc tốt đẹp.
=> Một lần nữa khẳng định quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.
III. Kết bài
Đánh giá về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.
Bài tham khảo
Được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam, bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” của chủ tướng Lý Thường Kiệt đã trở thành một áng thơ văn bất hủ. Không chỉ khẳng định được vấn đề về lãnh thổ, chủ quyền, độc lập của dân tộc Việt Nam, mà bài thơ còn thể hiện được tính thần lực, tự tôn dân tộc mạnh mẽ của vị chủ tướng tài ba Lý Thường Kiệt cũng như những người dân Việt Nam nói chung. Bài thơ cũng là lời khẳng định tuyên bố đanh thép của tác giả đối với những kẻ có ý định xâm lăng vào lãnh thổ ấy, xâm phạm vào lòng tự tôn của một dân tộc anh hùng.
Trong cuộc chiến đấu chống quân Tống của quân dân Đại Việt, chủ tướng Lý Thường Kiệt đã đọc bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” ở đền thờ hai vị thần Trương Hống, Trương Hát. Là hai vị thần của sông Như Nguyệt. Khi bài thơ thần này vang lên vào thời điểm đêm khuya, lại được vọng ra hùng tráng, đanh thép từ một ngôi đền thiêng liêng nên đã làm cho quân Tống vô cùng khiếp sợ, chúng đã vô cùng hoảng loạn, lo lắng, nhuệ khí của quân giặc bị suy giảm một cách nhanh chóng. Cũng nhờ đó mà quân dân ta có thể tạo ra một chiến thắng lừng lẫy, oai hùng sau đó.
Mở đầu bài thơ, tác giả Lý Thường Kiệt đã khẳng định một cách chắc chắn, mạnh mẽ về vấn đề chủ quyền, ranh giới lãnh thổ của dân tộc Đại Việt, đó là ranh giới đã được định sẵn, là nơi sinh sống của người dân Đại Việt. Lời khẳng định này không phải chỉ là lời khẳng định của tác giả, mà tác giả còn đưa ra những luận chứng sắc sảo, đó là bởi “sách trời” quy định. Tức sự độc lập,chủ quyền về lãnh thổ ấy được trời đất quy định, chứng giám. Một sự thật hiển nhiên mà không một ai có thể chối cãi được:
“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời”
“Sông núi nước Nam” là những vật thuộc quyền sở hữu của người Nam, cũng là những hình ảnh biểu tượng không chỉ cho ranh giới, chủ quyền của người nam mà còn khẳng định một cách chắc chắn quyền sở hữu của “sông núi” ấy là của người Nam. Chúng ta cũng có thể thấy đây là lần đầu tiên trong một tác phẩm thơ văn mà vấn đề chủ quyền dân tộc được khẳng định mạnh mẽ, hào sảng đến như vậy. Không chỉ là dân tộc có chủ quyền, có lãnh thổ mà dân tộc ấy còn có người đứng đầu, người quản lí, làm chủ người dân của quốc gia ấy, đó chính là “vua Nam”. Chủ quyền ấy, lãnh thổ cương vực ấy không phải do người Nam tự quyết định lựa chọn cho mình, người dân nơi ấy chỉ sinh sống, làm ăn sinh hoạt từ rất lâu đời, do sự định phận của “sách trời”, đó là đấng cao quý vì vậy mọi sự quy định, chỉ dẫn của “trời” đều rất có giá trị, đều rất đáng trân trọng.
“Rành rành” là dùng để chỉ sự hiển hiện, tất yếu mà ai cũng có thể nhận biết cũng phân biệt được. “Rành rành định phận ở sách trời” có nghĩa vùng lãnh thổ ấy, chủ quyền ấy của người Nam đã được sách trời ghi chép rõ ràng, dù có muốn cũng không thể chối cãi, phủ định. Như vậy, ở hai câu thơ đầu, tác giả Lý Thường Kiệt không chỉ đưa ra luận điểm là lời khẳng định hào sảng, chắc chắn về vùng lãnh thổ, ranh giới quốc gia và chủ quyền, quyền làm chủ của nhân dân Đại Việt với quốc gia, dân tộc mình mà tác giả còn rất tỉnh táo, sắc sảo khi đưa ra những luận cứ đúng đắn, giàu sức thuyết phục mà còn đưa ra một sự thật mà không một kẻ nào, một thế lực nào có thể phủ định, bác bỏ được nó. Giọng văn hào hùng, mạnh mẽ nhưng không giấu được niềm tự hào của bản thân Lý Thường Kiệt về chủ quyền của dân tộc mình.
Từ sự khẳng định mạnh mẽ vấn đề chủ quyền của dân tộc Đại Việt, Lý Thường Kiệt đã lớn tiếng khẳng định, cũng là lời cảnh cáo đến kẻ thù, đó chính là cái kết cục đầy bi thảm mà chúng sẽ phải đón nhận nếu biết nhưng vẫn cố tình thực hiện hành động xâm lăng lãnh thổ, gây đau khổ cho nhân dân Đại Việt:
“Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh cho tơi bời”
Sự thật hiển nhiên rằng “Sông núi nước Nam” là do người Nam ở, người Nam làm chủ. Nhưng lũ giặc không hề màng đến sự quy định mang tính tất yếu ấy, chúng cố tình xâm phạm Đại Việt cũng là xúc phạm đến sự tôn nghiêm của đạo lý, của luật trời: “Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm” hành động ngông cuồng, phi nghĩa này của bọn chúng thật đáng bị phê phán, thậm chí đáng để trừng phạt bằng những hình thức thích đáng nhất. Và ở trong bài thơ này, tác giả Lý Thường Kiệt cũng đã đanh thép khẳng định cái kết cục đầy bi đát, ê chề cho lũ cướp nước, coi thường đạo lí: “Chúng bay sẽ bị đánh cho tơi bời”. Với tất cả sức mạnh cũng như lòng tự tôn, tính chính nghĩa của dân tộc Đại Việt thì lũ xâm lăng chỉ có một kết cục duy nhất, một kết quả không thể tránh khỏi “bị đánh cho tơi bời”.
Như vậy, bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” là một bài thơ, một bài thơ mang tính chính luận rõ ràng, sâu sắc, một bản tuyên ngôn hùng hồn, mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam. Bài thơ thể hiện lòng tự hào của người Việt Nam về chủ quyền thiêng liêng của dân tộc, về sức mạnh vĩ đại của người dân trong công cuộc đánh đuổi ngoại xâm.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 4
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
(1) Cùng một cơn mưa, người tiêu cực sẽ bực mình vì phải trùm áo mưa, người lạc quan thì nghĩ đến cây cối xanh tươi, không khí sẽ được trong lành. Và một khi chúng ta không thể thay đổi được hiện tượng xảy ra, tốt nhất là nhìn nó bằng ánh mắt tích cực. Cái thiện có thể sẽ thua cái ác trong một thời điểm nhưng chung cuộc sẽ chiến thắng. Cứ sau một sự cố, con người lại tìm nguyên nhân và khắc phục nó. Sau lũ lụt, phù sa sẽ làm màu mỡ hơn cho cánh đồng, sâu bọ sẽ bị quét sạch ra biển, dư lượng hóa chất trong đất đai sẽ bị rửa sạch. Lỗi lầm của người khác, thay vì giữ trong lòng và tức giận, thôi bỏ qua, mình sẽ thấy thoải mái hơn rất nhiều. Nói một cách khác, nếu bạn được sống 100 năm, xem như là một bộ phim có 100 tập, thì hãy tạo ra ít nhất 2/3 tập có tiếng cười thay vì tập nào cũng rơi vào bi kịch chán chường, đau khổ, chia lìa, mất mát.
(2) Trong từ Hán Việt, nguy cơ bao gồm nguy và cơ. Đối với người có tư duy tích cực, “nguy” (problem) sẽ được họ biến thành “cơ” (opportunity). Người tích cực và lạc quan sẽ có gương mặt sáng bừng, nụ cười thường trực trên môi, sống và cháy hết mình, học tập và làm việc hết mình dù ngày mai trời có sập.
(Trích Tư duy tích cực, Theo Tony Buổi sáng, trên đường băng, NXB Trẻ, 2016)
Câu 1 (0.5 điểm). Nêu nội dung chính của văn bản trên.
Câu 2 (0.5 điểm). Tìm trong văn bản 02 biểu hiện của người có thái độ sống tích cực, lạc quan.
Câu 3 (1.0 điểm). Tìm thuật ngữ trong cụm từ in đậm ở đoạn (1) và cho biết thuật ngữ đó thuộc lĩnh vực khoa học nào.
Câu 4 (1.0 điểm). Từ in đậm trong đoạn văn (2) được sử dụng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Nếu là nghĩa chuyển thì được chuyển theo phương thức nào?
Câu 5 (1.0 điểm). Hãy chỉ ra và cho biết giá trị của một biện pháp tu từ được sử dụng ở đoạn (1)
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Đọc đoạn thơ sau và viết đoạn văn nêu cảm nhận em về cơ sở hình thành tình đồng chí của những người lính:
Quê hương anh nước mặn, đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi đôi người xa l
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng, đầu sát bên đầu,
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí!
(Đồng chí – Chính Hữu)
Câu 2 (4.0 điểm) Em hãy viết bài văn nghị luận ngắn trình bày suy nghĩ về tinh thần tương thân tương ái của đồng bào ta, nhất là trong hoạn nạn.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Nêu nội dung chính của văn bản trên. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Nội dung chính: Tác dụng của việc nhìn nhận mọi thứ theo hướng tích cực.
Câu 2.
|
Tìm trong văn bản 02 biểu hiện của người có thái độ sống tích cực, lạc quan. |
Phương pháp:
Đọc, tìm ý
Lời giải chi tiết:
- Biểu hiện:
+ nụ cười thường trực trên môi,
+sống, học tập và làm việc hết mình
Câu 3.
|
Tìm thuật ngữ trong cụm từ in đậm ở đoạn (1) và cho biết thuật ngữ đó thuộc lĩnh vực khoa học nào. |
Phương pháp:
Căn cứ vào bài học Thuật ngữ
Lời giải chi tiết:
Thuật ngữ: “không khí” là thuật ngữ về môi trường thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên.
Câu 4.
|
Từ in đậm trong đoạn văn (2) được sử dụng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Nếu là nghĩa chuyển thì được chuyển theo phương thức nào? |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về từ đa nghĩa
Lời giải chi tiết:
- Cháy hết mình: “cháy” được hiểu là con người dám dấn thân, dám đem hết nhiệt huyết để sống trọn vẹn cuộc đời và tỏa sáng.
- Từ “cháy” được chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ.
Câu 5.
|
Hãy chỉ ra và cho biết giá trị của một biện pháp tu từ được sử dụng ở đoạn (1) |
Phương pháp:
Căn cứ vào lý thuyết các biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ: liệt kê (Sau lũ lụt, phù sa sẽ làm màu mỡ hơn cho cánh đồng, sâu bọ sẽ bị quét sạch ra biển, dư lượng hóa chất trong đất đai sẽ bị rửa sạch… hãy tạo ra ít nhất 2/3 tập có tiếng cười thay vì tập nào cũng rơi vào bi kịch chán chường, đau khổ, chia lìa, mất mát.
- Tác dụng: Làm cho đoạn văn giàu giá trị biểu đạt, tăng sức gợi hình, gợi cảm. Đồng thời chỉ rõ những biểu hiện trong việc nhìn nhận sự việc tích cực và tiêu cực.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Đọc đoạn thơ sau và viết đoạn văn nêu cảm nhận em về cơ sở hình thành tình đồng chí của những người lính: Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá. Anh với tôi đôi người xa l Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau, Súng bên súng, đầu sát bên đầu, Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ. Đồng chí! (Đồng chí – Chính Hữu) |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích, chú ý các từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ đặc sắc
Lời giải chi tiết:
Dàn ý:
1. Mở bài
- Giới thiệu chung về nhà thơ Chính Hữu và bài thơ Đồng chí.
- Dẫn dắt vào 7 câu thơ đầu của bài: Cơ sở hình thành tình đồng chí, đồng đội của những người lính.
2. Thân bài
a. Những người lính có chung hoàn cảnh, xuất thân
- “quê hương”, “làng”: Các từ cùng trường nghĩa → Những người lính đều có xuất thân từ những người nông dân nghèo.
- “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá”: hoàn cảnh, điều kiện sống khắc nghiệt, khó khăn → quê hương nghèo khó.
=> Những người lính tương đồng về cảnh ngộ, hoàn cảnh sống.
b. Những người lính có chung lí tưởng cứu nước cao đẹp
- Các xưng hô “anh” – “tôi” thân thiết, gần gũi.
- “Súng bên súng”: Những người lính kề vai sát cánh trong chiến đấu.
- “Đầu sát bên đầu”: Cùng chung lí tưởng chiến đấu cao đẹp: Ra đi, chiến đấu để bảo vệ quê hương.
c. Cùng nhau trải qua những khó khăn, gian khổ trong cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu
- “Đêm rét”: Thời tiết lạnh giá, khắc nghiệt.
- “Chung chăn”: chia sẻ với nhau những thứ vật chất ít ỏi, thiếu thốn.
- “Thành đôi tri kỉ”: tình cảm gắn bó khăng khít, thân tình
- “Đồng chí!”: tình cảm keo sơn, gắn bó, khó tách rời.
3. Kết bài
- Khẳng định lại giá trị của đoạn thơ.
Bài tham khảo:
Ngay từ những câu thơ mở đầu bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu đã lí giải những cơ sở hình thành tình đồng chí thắm thiết, sâu nặng của “anh” và “tôi” – của những người lính cách mạng. Thành ngữ “nước mặn đồng chua” và hình ảnh “đất cày lên sỏi đá”, giọng điệu thủ thỉ tâm tình như lời kể chuyện, cùng nghệ thuật sóng đôi, tác giả cho thấy tình đồng chí, đồng đội bắt nguồn sâu xa từ sự tương đồng cùng cảnh ngộ. Họ là những người nông dân áo vải, ra đi từ những miền quê nghèo khó – miền biển nước mặn, vùng đồi núi trung du. Không hẹn mà nên, những người nông dân ấy gặp nhau tại một điểm: lòng yêu nước. Tình yêu quê hương, gia đình, nghĩa vụ công dân thúc giục họ lên đường chiến đấu. Bởi thế nên từ những phương trời xa lạ, mọi người “chẳng hẹn mà quen nhau”. Giống như những anh lính trong bài thơ “Nhớ” của Hồng Nguyên: “Lũ chúng tôi bọn người tứ xứ - Gặp nhau từ hồi chưa biết chữ - Quen nhau từ buổi “một, hai” – Súng bắn chưa quen – Quân sự mươi bài – Lòng vẫn cười vui kháng chiến”. Trong môi trường quân đội, đơn vị thay cho mái ấm gia đình, tình đồng đội thay cho tình máu thịt. Cái xa lạ ban đầu nhanh chóng bị xóa đi. Sát cánh bên nhau chiến đấu, càng ngày họ càng cảm nhận sâu sắc về sự hòa hợp, gắn bó giữa đồng đội cùng chung nhiệm vụ và lí tưởng cao đẹp: “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”. Hình ảnh sóng đôi, các điệp từ “súng”, “đầu”, giọng điệu thơ trở nên tha thiết, trầm lắng như nhấn mạnh tình cảm gắn bó của người lính trong chiến đấu. Họ đồng tâm, đồng lòng, cùng nhau ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước, quê hương, giữ gìn nền độc lập, tự do, sự sống còn của dân tộc – “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Và chính sự đồng cảnh, đồng cảm và hiểu nhau đã giúp các anh gắn bó với nhau, cùng sẻ chia mọi gian lao thiếu thốn của cuộc đời người lính: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. Từ gian khó, hiểm nguy, tình cảm trong họ đã nảy nở và họ đã trở thành những người bạn tâm giao, tri kỉ, hiểu nhau sâu sắc, gắn bó thành đồng chí. Hai tiếng “Đồng chí” kết thúc khổ thơ thật đặc biệt, sâu lắng! Nó như một nốt nhạc làm bừng sáng cả đoạn thơ, là điểm hội tụ, nơi kết tinh của bao tình cảm đẹp mà chỉ có ở thời đại mới: tình giai cấp, tình đồng đội, tình bạn bè trong chiến tranh.
Câu 2.
|
Em hãy viết bài văn nghị luận ngắn (khoảng một trang giấy thi) trình bày suy nghĩ tinh thần tương thân tương ái của đồng bào ta, nhất là trong hoạn nạn. |
Phương pháp:
- Yêu cầu hình thức:
+ Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm nghị luận xã hội để tạo lập bài văn.
+ Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
- Yêu cầu nội dung:
+ Vận dụng kiến thức xã hội để nghị luận về tinh thần tương thân tương ái.
+ Vận dụng các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ để nghị luận về bài văn.
Lời giải chi tiết:
Dàn ý:
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề: suy nghĩ về tinh thần tương thân tương ái của đồng bào ta, nhất là trong hoạn nạn.
2. Thân bài
a. Giải thích: Tương thân tương ái là sự quan tâm, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống giữa con người với con người.
b. Vì sao ta cần phải có tinh thần tương thân, tương ái?
– Tinh thần tương thân, tương ái thể hiện phẩm chất, nhân cách cao quý của con người, là biểu hiện của tình yêu thương.
– Tinh thần tương thân, tương ái giúp gắn kết con người lại với nhau, tạo ra sức mạnh vật chất lẫn tinh thần để vượt qua mọi khó khăn, thử thách.
– Tinh thần tương thân, tương ái giúp con người sống nhân ái hơn.
– Sống không có tinh thần tương thân, tương ái, thể hiện sự vô cảm của con người, con người sẽ bị tách biệt khỏi tập thể.
– Tinh thần tương thân, tương ái thể hiện lối sống trọng tình, trọng nghĩa của dân tộc ta.
c. Biểu hiện:
– Người có tinh thần tương thân, tương ái là người sống có tấm lòng nhân nghĩa, có phẩm chất đạo đức tốt đẹp:
+ Trong gia đình: yêu thương, kính trọng ông bà, cha mẹ; sống hòa hợp, gắn bó với anh, chị, em; biết nhường nhịn lẫn nhau
+ Trong nhà trường: kính trọng, yêu mến thầy cô giáo, tôn trọng, giúp đỡ bạn bè,…
+ Ngoài xã hội: biết cảm thông, chia sẻ với hoàn cảnh của người nghèo khó; biết tương trợ, giúp đỡ đồng bào vùng thiên tai, lũ lụt, …
d. Bình luận: Biết tương thân, tương ái, giúp đỡ người khác trong khó khăn, hoạn nạn là việc làm tốt đẹp, cần tuyên dương, ngợi khen và lan tỏa trong cộng đồng. Thế nhưng, lòng tốt cũng cần phải đặt đúng chỗ, giúp đúng người, đúng việc, đừng để lòng tốt của mình bị kẻ xấu lợi dụng.
e. Phê phán:
Trong xã hội ngày nay vẫn còn những kẻ chỉ biết nghĩ đến quyền lợi của bản thân mình, thờ ơ, vô cảm trước hoàn cảnh khó khăn, nỗi khổ đau của người khác. Những người như thế thật đáng chê trách.
3. Kết bài
- Bài học: Không có gì đẹp bằng ánh sáng của lòng nhân ái. Hãy biết yêu thương, giúp đỡ người khác.
- Liên hệ bản thân
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 5
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
“Tổ quốc là nơi ta sinh ra và lớn lên, là mái nhà chung của mọi người. Từng con sông, ngọn núi, mỗi cánh đồng hay làn nước biển đều lưu giữ những dấu ấn lịch sử, văn hóa và tinh thần bất khuất của cha ông. Lòng yêu nước không chỉ thể hiện qua lời nói, mà còn nằm trong từng hành động nhỏ bé: bảo vệ môi trường, giữ gìn văn hóa, và sẵn sàng đứng lên khi Tổ quốc cần. Chỉ khi hiểu và trân trọng giá trị của quê hương, ta mới thực sự xứng đáng với công lao của tiền nhân.”
(Nguồn: Sưu tầm)
Câu 1 (1 điểm): Nội dung chính của đoạn văn trên là gì?
Câu 2 (1 điểm): Theo đoạn văn, lòng yêu nước được thể hiện qua những hành động nào?
Câu 3 (1 điểm): Tìm và phân tích ý nghĩa của hình ảnh “Từng con sông, ngọn núi” trong đoạn văn.
Câu 4 (1 điểm): Em có đồng ý với quan điểm: “Chỉ khi hiểu và trân trọng giá trị của quê hương, ta mới thực sự xứng đáng với công lao của tiền nhân”? Vì sao?
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc.
Câu 2 (4.0 điểm) Viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh mà em yêu thích
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Nội dung chính của đoạn văn trên là gì? |
Phương pháp:
Xác định ý chính dựa trên từ khóa như: Tổ quốc, lòng yêu nước, hành động thiết thực.
Lời giải chi tiết:
Nội dung chính: Đoạn văn nêu lên ý nghĩa của Tổ quốc trong đời sống con người, đồng thời khẳng định lòng yêu nước phải được thể hiện qua hành động thiết thực, chứ không chỉ dừng lại ở lời nói.
Câu 2.
|
Theo đoạn văn, lòng yêu nước được thể hiện qua những hành động nào? |
Phương pháp:
Tìm các hành động cụ thể được liệt kê trong đoạn văn.
Lời giải chi tiết:
Lòng yêu nước được thể hiện qua những hành động:
- Bảo vệ môi trường.
- Giữ gìn văn hóa truyền thống.
- Sẵn sàng đứng lên bảo vệ Tổ quốc khi cần.
Câu 3.
|
Tìm và phân tích ý nghĩa của hình ảnh “Từng con sông, ngọn núi” trong đoạn văn. |
Phương pháp:
Phân tích nghĩa đen và nghĩa bóng của hình ảnh trong ngữ cảnh đoạn văn.
Lời giải chi tiết:
- Hình ảnh “từng con sông, ngọn núi” tượng trưng cho vẻ đẹp và sự thiêng liêng của Tổ quốc.
- Nó gợi nhớ những dấu ấn lịch sử, văn hóa, và tinh thần bất khuất của cha ông trong việc bảo vệ quê hương.
Câu 4.
|
Em có đồng ý với quan điểm: “Chỉ khi hiểu và trân trọng giá trị của quê hương, ta mới thực sự xứng đáng với công lao của tiền nhân”? Vì sao? |
Phương pháp:
Trình bày quan điểm cá nhân, lập luận chặt chẽ và có dẫn chứng phù hợp.
Lời giải chi tiết:
Đồng ý. Vì:
- Hiểu và trân trọng giá trị quê hương giúp chúng ta sống có trách nhiệm hơn với bản thân, xã hội và lịch sử.
- Điều này còn khuyến khích tinh thần yêu nước, bảo vệ chủ quyền dân tộc và duy trì những giá trị truyền thống.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc. |
Phương pháp:
Liên hệ kiến thức của bản thân
Chú ý hình thức của đoạn văn gồm 3 phần: mở đoạn – thân đoạn – kết đoạn
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn:
Giới thiệu vấn đề: trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc.
2. Thân đoạn:
- Giải thích: Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng, là nền tảng bảo đảm sự độc lập và phát triển của đất nước.
- Trách nhiệm của thế hệ trẻ:
+ Tích cực học tập, rèn luyện để nâng cao nhận thức và hiểu biết về lịch sử, văn hóa dân tộc.
+ Tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên và di sản văn hóa.
+ Lan tỏa tình yêu nước qua việc tôn trọng các giá trị truyền thống.
+ Sẵn sàng lên tiếng trước các hành vi xâm phạm chủ quyền.
- Dẫn chứng: Học sinh, sinh viên tham gia các cuộc thi tìm hiểu về chủ quyền biển đảo, các phong trào như "Trường Sa xanh".
- Phản đề: một số người không có ý thức bảo vệ lãnh thổ, cố tình chia rẽ tinh thần đoàn kết dân tộc…
3. Kết đoạn:
- Tổng kết lại vấn đề: Mỗi hành động nhỏ của thế hệ trẻ hôm nay sẽ góp phần bảo vệ và xây dựng một Tổ quốc vững mạnh trong tương lai.
- Liên hệ bản thân
Câu 2.
|
Viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh mà em yêu thích |
Phương pháp:
Chọn một danh lam thắng cảnh mà em đã từng tới và có ấn tượng sâu sắc
Chú ý hình thức của bài văn có 3 phần: mở bài – thân bài – kết bài
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở bài
- Giới thiệu chung về danh lam thắng cảnh định viết
- Nêu tầm quan trọng hoặc sự hấp dẫn của danh lam thắng cảnh đối với khách du lịch và người dân.
2. Thân bài
a. Vị trí địa lý
- Địa điểm cụ thể (nằm ở đâu: tỉnh, thành phố, khu vực).
- Đặc điểm địa lý xung quanh (sông núi, biển cả, khí hậu,...).
b. Lịch sử, nguồn gốc
- Giới thiệu lịch sử hình thành (nếu có).
- Những câu chuyện, truyền thuyết hoặc sự kiện lịch sử gắn liền với danh lam thắng cảnh.
c. Đặc điểm nổi bật
- Mô tả cụ thể:
+ Vẻ đẹp tự nhiên (núi non, sông nước, hệ sinh thái...).
+ Kiến trúc (đền, chùa, công trình nhân tạo nếu có).
- Các giá trị văn hóa, tinh thần:
+ Liên quan đến văn hóa dân tộc hoặc tín ngưỡng.
+ Các lễ hội, phong tục đặc trưng diễn ra tại đây.
d. Ý nghĩa và giá trị
- Giá trị lịch sử, văn hóa, hoặc tinh thần mà danh lam thắng cảnh mang lại.
- Vai trò trong việc quảng bá hình ảnh đất nước, thu hút du lịch và phát triển kinh tế.
e. Trải nghiệm thực tế
- Hoạt động du lịch nổi bật: Tham quan, chụp ảnh, tham gia các lễ hội, thưởng thức ẩm thực địa phương.
- Những cảm nhận mà du khách thường chia sẻ khi đến đây.
3. Kết bài
- Khẳng định lại giá trị của danh lam thắng cảnh trong đời sống và văn hóa.
- Kêu gọi mọi người bảo vệ và phát huy giá trị của địa danh này.
- Gợi mở cảm xúc: Mời gọi du khách đến thăm hoặc chia sẻ trải nghiệm nếu đã từng ghé qua.
Bài tham khảo
Chùa Tiên nằm dưới chân núi Tung Xê trên một khu đất bằng phẳng, theo truyền thuyết chùa đã được xây dựng từ thời xa xưa theo lối kiến trúc nhà sàn, sử dụng nguyên liệu từ tranh tre nứa lá. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, ngôi chùa đã xuống cấp trầm trọng. Đến năm 1998, Chùa Tiên được trùng tu và tôn tạo lại khang trang như ngày nay.
Khác với các tỉnh đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, nơi làng nào cũng có chùa làng hoặc chùa vùng, tỉnh Hòa Bình có ít chùa hơn và Phật giáo cũng không có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của người dân. Những ngôi chùa ở đây thường được giản lược và có xu hướng pha trộn với tín ngưỡng bản địa. Các huyện, xã giáp ranh với các tỉnh miền xuôi thỉnh thoảng xuất hiện những ngôi chùa nhỏ, nhưng hệ thống tượng Phật cũng không đầy đủ, thường được thờ chung với các vị thánh khác.
Ở xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình, những ngôi chùa thờ Phật được dựng lên nhằm sử dụng giáo lý của đạo Phật và đức Phật từ bi để khuyến thiện, trừng ác, và giáo dục lòng nhân nghĩa cho con người. Chùa cũng là nơi thực hiện mọi nghi lễ tín ngưỡng tôn giáo của dân làng. Khi đến dâng hương tại Chùa Tiên, du khách sẽ có dịp bày tỏ lòng thành kính và gửi gắm những ước nguyện của mình đến các đức Phật.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân địa phương và khách thập phương đến lễ Phật, vào năm 2007, ngôi chùa được khởi công xây mới với chiều dài 34m, chiều rộng 33m, tổng diện tích lên đến 1.122m². Hệ thống tượng Phật được lắp đặt công phu, bài trí trong không gian rộng rãi, tĩnh mịch và u huyền.
Lễ hội Chùa Tiên là một lễ hội truyền thống có lịch sử lâu đời, đã đi vào tiềm thức của người dân địa phương và du khách gần xa, trở thành nét đẹp văn hóa không thể thiếu mỗi độ xuân về. Những năm gần đây, lễ hội Chùa Tiên không chỉ của người dân địa phương mà còn thu hút du khách trong và ngoài nước. Tại đây có đình, chùa và 20 điểm động ghi nhận những giá trị khảo cổ học, văn hóa lịch sử và thắng cảnh thiên nhiên. Hàng năm, Chùa Tiên thu hút hàng triệu du khách đến tham quan, vãn cảnh.
Với hệ thống hang động được bố trí rải rác dọc theo hai dãy núi Tung Xê và Hương Tích, thuộc địa phận thôn Lão Nội và Lão Ngoại của xã Phú Lão (nay là xã Phú Nghĩa), huyện Lạc Thủy, khu di tích Chùa Tiên nổi bật với đa dạng loại hình du lịch như du lịch tâm linh, du lịch sinh thái, và du lịch văn hóa lịch sử. Cảnh quan nơi đây được thiên nhiên ban tặng tựa như một bức tranh thủy mặc giữa vùng bán sơn địa. Quần thể hang động Chùa Tiên đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích cấp Quốc gia vào năm 2011.
Lễ hội Chùa Tiên là cơ hội để du khách thập phương tham quan, vãn cảnh chùa, và tìm hiểu nét đẹp văn hóa của vùng đất Mường. Tại đây, du khách có thể khám phá những nét đặc trưng của người dân địa phương thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, trò chơi dân gian, và các lễ hội truyền thống. Đồng thời, du khách còn có thể dâng hương lễ Phật, cầu mong cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mọi người khỏe mạnh, gia đình ấm no và hạnh phúc.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 6
Đề thi
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
Phạm Tử Hư quê ở Cẩm Giàng, là một người tuấn sảng hào mại không ưa kiềm thúc. Theo học nhà xử sĩ Dương Trạm, Trạm thường răn Tử Hư về cái tính hay kiêu căng. Từ đấy chàng cố sức sửa đổi, trở nên người có đức tính tốt.
Khi Dương Trạm chết, các học trò đều tản đi cẩ, duy Tử Hư làm lều ở mả đề chầu chực, sau ba năm rồi mới trở về. Năm 40 tuổi, Tử Hư đi thi vẫn chưa đỗ; đời Trần, sang du học ở kinh, ngụ ở trong một nhà dân bên bờ Hồ Tây.
Một buổi sáng, ở nhà trọ đi ra, trong áng sương mù thấy có một đám những tán vàng kiệu ngọc bay lên trên không; kế lại có một cỗ xe nạm hạt châu, kẻ theo hầu cũng rất chững chạc. Tử Hư khẽ dòm trộm xem thì người ngồi trong xe, chính thầy học mình là Dương Trạm. Chàng toan đến gần sụp lạy nhưng Trạm xua tay nói:
- Giữa đường không phải chỗ nói chuyện, tối mai nên đến đền Trấn Vũ cửa Bắc, thầy trò ta sẽ hàn huyên.
Tử Hư bèn sắm rượu và thức nhắm, đúng hẹn mà đến. Thầy trò gặp nhau vui vẻ lắm, chàng nhân hỏi rằng:
- Thầy mới từ trần chưa bao lâu, thoắt đã trở nên hiển hách khác hẳn ngày trước, xin thầy cho biết rõ duyên do để con được vui mừng.
Dương Trạm nói:
- Ta thuở sống không có một điều thiện nào đáng khen, chỉ có hay giữ điều tín thực đối với thầy bạn, quý trọng những tờ giấy có chữ, hễ thấy rơi vãi liền nhặt mà đốt đi. Đức Đế quân đây ngài khen là có bụng tốt tâu xin cho làm chức trực lại ở cửa Tử đồng. Hôm qua ta hầu lính giá ngài lên chầu Thiên cung, tình cờ lại gặp nhà người, đó cũng là vì thầy trò mình có cái mối duyên.
(Trích Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên Tào, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, NXB Trẻ, 2016, tr.142)
Câu 1 (0.5 điểm): Câu chuyện trong đoạn trích trên được kể bằng lời của ai?
Câu 2 (0.5 điểm): Các sự kiện trong câu chuyện được sắp xếp theo trật tự thời gian, không gian nào?
Câu 3 (1.0 điểm): Lời của thầy Dương Trạm trong câu văn sau sử dụng dẫn lời nói hay dẫn ý nghĩ? Vì sao em biết được điều đó?
Dương Trạm nói:
- Ta thuở sống không có một điều thiện nào đáng khen,… đó cũng là vì thầy trò mình có cái mối duyên.
Câu 4 (1.5 điểm): Phân tích tác dụng của một yếu tố hoang đường, kì ảo có trong đoạn trích trên.
Câu 5 (1.0 điểm): Nêu nội dung chính của văn bản và một số căn cứ giúp em xác định được nội dung ấy.
Câu 6 (1.5 điểm): Theo em tinh thần tôn sư trọng đạo được biểu hiện như thế nào? Từ những hành động và tình cảm của Tử Hư dành cho người thầy của mình, em có suy nghĩ gì về truyền thống tôn sư trọng đạo của nhân dân ta?
PHẦN VIẾT (4.0 điểm)
Kể lại một truyện sáng tạo, phỏng theo một truyện đã đọc (có sử dụng yếu tố miêu tả, biểu cảm)
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Câu chuyện trong đoạn trích trên được kể bằng lời của ai? |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về ngôi kể, người kể chuyện trong truyện truyền kì
Lời giải chi tiết:
Lời của người kể chuyện, không tham gia trực tiếp và câu chuyện
Câu 2.
|
Các sự kiện trong câu chuyện được sắp xếp theo trật tự thời gian, không gian nào? |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, xác định trật tự thời gian, không gian
Lời giải chi tiết:
Các sự kiện trong câu chuyện được sắp xếp theo trình tự thời gian từ khi Phạm Tử Hư học thầy Dương Trạm, thầy mất, đến khi ông gặp lại thầy sau khi qua đời, và theo không gian từ Cẩm Giàng, mộ thầy, kinh thành, đến đền Trấn Vũ.
Câu 3.
|
Lời của thầy Dương Trạm trong câu văn sau sử dụng dẫn lời nói hay dẫn ý nghĩ? Vì sao em biết được điều đó? Dương Trạm nói: - Ta thuở sống không có một điều thiện nào đáng khen,… đó cũng là vì thầy trò mình có cái mối duyên. |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về lời dẫn trực tiếp, lời dẫn gián tiếp
Lời giải chi tiết:
Lời của thầy Dương Trạm trong câu văn trên sử dụng lời dẫn trực tiếp lời nói của thầy. Căn cứ vào dấu hai chấm và dấu gạch ngang trước lời nói, trích dẫn nguyên văn những gì nhân vật đã nói, không phải là ý nghĩ được diễn đạt gián tiếp.
Câu 4.
|
Phân tích tác dụng của một yếu tố hoang đường, kì ảo có trong đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì
Lời giải chi tiết:
- Yếu tố hoang đường, kỳ ảo trong đoạn trích là hình ảnh thầy Dương Trạm - người đã mất nhưng xuất hiện trong hình dáng thần tiên, ngồi trên cỗ xe “nạm hạt châu” được lính hầu và đi chầu Thiên cung.
- Tác dụng:
+ Tôn vinh giá trị đạo đức và nhân cách
+ Thể hiện lòng kính trọng với thầy giáo
+ Tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện
+ Biểu tượng cho sự trường tồn của giá trị văn hóa
Câu 5.
|
Nêu nội dung chính của văn bản và một số căn cứ giúp em xác định được nội dung ấy. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích, xác định cốt truyện, sự kiện chính và rút ra nội dung chính
Lời giải chi tiết:
- Nội dung chính: Văn bản kể về lòng biết ơn và tình thầy trò sâu sắc giữa Phạm Tử Hư và thầy Dương Trạm, qua đó nhấn mạnh giá trị của sự tu dưỡng đạo đức và triết lý nhân quả.
- Căn cứ vào các chi tiết:
+ Hành động kính thầy của Phạm Tử Hư (chầu bên mộ thầy ba năm).
+ Chi tiết kỳ ảo về sự “hiển hách” của thầy Dương Trạm sau khi qua đời.
+ Lời khuyên về đạo đức và triết lý sống được thầy truyền đạt.
Câu 6.
|
Theo em tinh thần tôn sư trọng đạo được biểu hiện như thế nào? Từ những hành động và tình cảm của Tử Hư dành cho người thầy của mình, em có suy nghĩ gì về truyền thống tôn sư trọng đạo của nhân dân ta? |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, xác định các chi tiết thể hiện tinh thần tôn sư trọng đạo và nêu suy nghĩ
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở bài:
- Giới thiệu truyền thống tôn sư trọng đạo là một nét đẹp văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam.
- Khẳng định đây là giá trị đạo đức tốt đẹp cần được giữ gìn và phát huy.
2. Thân bài:
a. Giải thích truyền thống tôn sư trọng đạo:
- Tôn sư trọng đạo là thái độ kính trọng, biết ơn thầy cô - những người truyền dạy tri thức, đạo lý.
- Trọng đạo thể hiện ở sự tôn vinh vai trò của tri thức, giáo dục và người thầy trong xã hội.
b. Biểu hiện của truyền thống tôn sư trọng đạo trong cuộc sống:
- Trong lịch sử: các vị vua, anh hùng dân tộc luôn kính trọng và biết ơn thầy dạy (ví dụ: Bác Hồ với thầy giáo Nguyễn Sinh Sắc)
- Trong đoạn trích phần đọc hiểu: những hành động và tình cảm của Tử Hư dành cho người thầy của mình
- Trong hiện tại:
+ Học sinh biết vâng lời, lễ phép, chăm ngoan để tri ân thầy cô.
+ Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 là dịp để bày tỏ lòng biết ơn với thầy cô.
c. Ý nghĩa của truyền thống tôn sư trọng đạo:
- Đối với cá nhân: giúp mỗi người hoàn thiện nhân cách, học cách sống biết ơn, tôn trọng người khác.
- Đối với xã hội: xây dựng mối quan hệ thầy trò bền chặt, góp phần gìn giữ giá trị văn hóa dân tộc.
d. Bài học rút ra và phê phán:
- Bài học:
+ Mỗi người cần luôn kính trọng, biết ơn và tôn vinh người thầy.
+ Phát huy truyền thống bằng cách học tập chăm chỉ và rèn luyện bản thân tốt.
- Phê phán:
+ Những người vô ơn, không coi trọng công lao của thầy cô.
+ Tình trạng bạo lực học đường, hành xử thiếu lễ phép với thầy cô.
3. Kết bài:
- Khẳng định vai trò quan trọng của truyền thống tôn sư trọng đạo.
- Bày tỏ quyết tâm giữ gìn, phát huy truyền thống bằng thái độ, hành động cụ thể trong cuộc sống.
Bài tham khảo
Truyền thống tôn sư trọng đạo là một nét đẹp văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam, thể hiện lòng kính trọng và biết ơn đối với thầy cô - những người truyền dạy tri thức và đạo lý làm người. Đây không chỉ là giá trị đạo đức mà còn là biểu tượng cho sự quý trọng tri thức, giáo dục của một dân tộc có truyền thống hiếu học.
Tôn sư trọng đạo được hiểu là thái độ trân trọng, ghi nhớ công lao của thầy cô, đồng thời đề cao vai trò của người thầy trong việc hình thành nhân cách và nâng cao kiến thức của con người. Tôn sư là kính trọng thầy, trọng đạo là coi trọng đạo lý, những điều tốt đẹp mà thầy cô dạy bảo.
Truyền thống này được thể hiện sâu sắc qua nhiều biểu hiện trong lịch sử và hiện tại. Trong quá khứ, các vị vua, danh nhân, anh hùng dân tộc luôn dành cho thầy giáo của mình lòng biết ơn sâu sắc. Điển hình như Bác Hồ từng thể hiện sự kính yêu với cha mình, đồng thời là thầy giáo Nguyễn Sinh Sắc, hay câu chuyện về Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn nhớ về công lao thầy dạy. Ngày nay, học sinh thể hiện lòng tôn kính qua những lời chào lễ phép, những món quà ý nghĩa vào dịp 20/11 – Ngày Nhà giáo Việt Nam. Hay học trò Phạm Hư Tử chầu trực ba năm bên mộ thầy Dương Trạm.
Ý nghĩa của truyền thống này rất lớn lao. Đối với cá nhân, tôn sư trọng đạo giúp mỗi người hoàn thiện nhân cách, sống biết ơn và tôn trọng người khác. Với xã hội, điều này tạo nên một môi trường giáo dục lành mạnh, bền chặt, nơi mối quan hệ thầy trò trở thành nền tảng vững chắc để xây dựng con người có ích.
Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị tốt đẹp, vẫn còn tồn tại hiện tượng thiếu tôn trọng thầy cô như bạo lực học đường, hành xử vô lễ. Điều này đáng bị phê phán và cần được giáo dục lại.
Truyền thống tôn sư trọng đạo là tài sản quý giá của dân tộc, cần được giữ gìn và phát huy. Bản thân mỗi người cần thể hiện lòng kính trọng đối với thầy cô qua những hành động cụ thể: học tập tốt, sống đúng đạo lý và luôn biết ơn. Đó chính là cách chúng ta tiếp nối và lan tỏa giá trị văn hóa tốt đẹp này.
PHẦN VIẾT (4.0 điểm)
|
Kể lại một truyện sáng tạo, phỏng theo một truyện đã đọc (có sử dụng yếu tố miêu tả, biểu cảm) |
Phương pháp:
Chọn một câu chuyện mà em yêu thích.
Kể lại một cách sáng tạo nhưng không làm mất đi cốt truyện gốc, các sự kiện chính
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
a. Mở đầu truyện
- Giới thiệu bối cảnh, nhân vật chính của câu chuyện
b. Diễn biến truyện
Thuật lại diễn biến các sự kiện trong câu chuyện theo trình tự hợp lí; thể hiện khả năng tưởng tượng và cách kể chuyện sáng tạo; có kết hợp sử dụng các yếu tố miêu tả, biểu cảm trong khi kể chuyện.
- Sự việc 1: Kể lại sự việc thứ nhất.
- Sự việc 2: Kể lại sự việc thứ hai.
- Sự việc 3: Kể lại sự việc thứ ba.
- ....
c. Kết thúc truyện
- Kết thúc phù hợp, gây ấn tượng hoặc gợi suy nghĩ đối với người đọc.
Bài tham khảo
Truyện cổ tích Tấm Cám là một câu chuyện có từ rất lâu, và đã đồng hành với biết bao thế hệ trẻ em Việt Nam ta.
Câu chuyện xoay quanh cuộc đời của nhân vật chính là cô Tấm dịu dàng, nết na. Cô Tấm mồ côi mẹ từ sớm. Cha sau khi đi bước nữa không lâu thì qua đời, dể cô sống một mình với bà dì ghẻ và người con riêng của bà là Cám. Biết bao đau khổ của đời Tấm đều do hai mẹ con độc ác này gây nên.
Suốt những năm tháng tuổi thơ đến khi lớn lên, Tấm bị dì ghẻ bắt làm việc quần quật suốt ngày, lại chịu cảnh mắng nhiếc, thiếu thốn đủ đường. Một lần, dì ta lấy chiếc yếm đào mới để tổ chức cho Tấm và Cám thi mò cua bắt ốc. Dĩ nhiên với tính chăm chỉ của mình, phần hơn sẽ phải nghiêng về Tấm. Ngờ đâu Cám gian xảo đã bày mưu lừa Tấm đi gội đầu sạch sẽ, để cướp giỏ tôm cua về nhà trước. Chờ Tấm lên bờ thì trong giỏ chỉ còn mỗi con cá bống nhỏ xíu. Tấm bật khóc nức nở, thì ông Bụt hiện lên và dặn dò cô mang cá bống về nuôi.
Tấm nuôi cá trong cái giếng sau nhà. Hôm nào cũng mang cơm ra cho cá ăn, và hát bài hát riêng của mình thì bống mới ngoi lên. Ngờ đâu, mụ dì ghẻ độc ác đã rình mò và nghĩ ra kế xấu. Mụ ta lừa Tấm đi chăn trâu ở đồng xa, rồi ở nhà bắt chước Tấm gọi cá bống lên và ăn thịt. Ăn xong, mụ chôn xương cá ở góc bếp. Chờ đến lúc Tấm về nhà, mang cơm ra giếng, gọi bống lên thì chỉ còn cục máu đỏ tươi mà thôi. Buồn bã, Tấm bật khóc nức nở. Ông Bụt lại hiện lên, chỉ cho Tấm lấy nắm thóc cho gà ăn, để nó bới đất tìm xương cá bống cho. Rồi ông dặn Tấm chôn xương vào bốn chiếc bình, đặt ở chân giường.
Ít lâu sau, nhà vua mở hội tuyển vợ, con gái khắp nơi xúng xính váy áo để đi trảy hội. Tấm cũng hớn hở theo. Cô xin dì ghẻ cho được đi trảy hội. Ngờ đâu, bà ta bắt cô phải nhặt hết một đống đầy hạt gạo, hạt đỗ lẫn vào nhau xong mới được đi hội. Đau khổ, lần nữa Tấm lại òa khóc. Ông Bụt lại hiện lên lần nữa, gọi đàn chim sẻ đến giúp Tấm. Nhờ vậy, cô nhanh chóng hoàn thành xong công việc dì ghẻ giao. Nhưng bây giờ, cô lấy gì mặc để đi hội, khi cô chỉ toàn những bộ trang phục cũ rích? Thấy cô băn khoăn, ông Bụt bảo cô lấy những chiếc bình ở chân giường lên. Chao ôi, bên trong là bộ váy và đôi hài lộng lẫy. Mặc lên, Tấm đẹp như một nàng công chúa vậy.
Có váy áo, Tấm cảm ơn ông Bụt rồi hớn hở đến hội. Lúc đi qua sông, cô đánh rơi một bên giày xuống nước. Người đến hội đông quá, cô không sao xuống tìm giày được. Đúng lúc đó, voi của vua đi ngang qua, vướng chiếc giày nên mãi chẳng chịu đi. Vua cho lính xuống mò lên, ngắm đôi giày một lát, vua ra chỉ: Ai đi vừa chiếc giày ấy, sẽ được làm vợ vua. Biết bao cô gái đến thử vận may, nhưng chẳng ai vừa cả. Đến lượt Tấm, cô vừa đi thử là vừa ngay như in. Thế là Tấm trở thành hoàng hậu.
Tuy trở thành vợ vua, nhưng cô Tấm vẫn giữ nguyên những đức tính chăm chỉ ngày nào. Năm đó, đến giỗ cha, cô xin vua được trở về quê lo giỗ. Về nhà, cô tự tay mình chuẩn bị một mâm cũng tươm tất để thờ cha. Đến lúc sau, mụ dì ghẻ nhờ Tấm trèo lên cây hái buồng cau. Rồi nhân lúc cô ở trên cau thì chặt gốc, khiến cô ngã xuống ao rồi qua đời.
Nhờ phép lạ, Tấm không chết mà hóa thành vàng anh bay vào cung vua. Vua quý vàng anh lắm, đi đâu cũng mang theo. Điều này khiến Cám - kẻ mặc áo của Tấm vào cung để thay chị hầu vua ghen tức vô cùng. Nhân một hôm vua đi vắng, Cám bắt chim ăn thịt, rồi vứt lông chim ở góc vườn. Từ đống lông chim ấy, mọc lên một cây xoan cao lớn xum xuê lạ thường. Ở dưới bóng mát của cây, vua cảm thấy rất thoải mái, nên cho lính mắc võng dưới cây rồi thường xuyên ra đó nghỉ ngơi. Ghen tức với cây xoan, chờ vua đi tuần, Cám cho người chặt cây làm thành khung cửi. Nhưng mỗi lần Cám dệt vải, khung cửi lại kêu lên kẽo cà kẽo kẹt những tiếng chửi mắng đáng sợ khiến cô ta khiếp vía. Nên cô ta cho người đốt khung cửi thành tro, rồi đem ra đổ ở ngã tư thật xa cung vua.
Cám cứ tưởng thế là xong nên hả hê lắm. Ngờ đâu từ đống tro ấy, mọc lên một cây thị to lớn, rồi cây cho ra một quả thị duy nhất, tỏa hương thơm ngát. Có bà bán nước ở gốc cây thấy vậy đã xin cây cho lấy trái thị về nhà để ngửi, và hứa là không ăn quả. Thế là quả thị rớt vào bị của bà. Từ hôm đó, chờ bà cụ đi vắng, cô Tấm từ trong quả thị bước ra, giúp bà việc nhà, cơm nước. Bà cụ thấy lạ, nên rình xem và phát hiện ra cô. Bà đã ôm chầm lấy Tấm và xin được nhận cô làm con nuôi. Từ đó, hai người trở thành mẹ con của nhau.
Một hôm, nhà vua đi tuần về, nghỉ chân ở quán nước của bà cụ. Nhìn những miếng trầu cánh phượng hệt như vợ têm, vua liền mời người têm trầu ra gặp mặt. Khi nhìn thấy nhau, hai người mừng mừng tủi tủi, ôm chầm lấy nhau trọng hạnh phúc. Sau đó, Tấm theo vua về cung, chung sống hạnh phúc. Còn mẹ con Cám thì bị đuổi đi biệt xứ, không bao giờ trở về nữa. Thật xứng đáng cho hai kẻ độc ác.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 7
Đề thi
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
SA MẠC CỦA TUỔI THƠ (trích)
(Dương Thị Xuân Quý)
Xa thôn Hương đã mười năm, nhưng tôi vẫn không thể quên cái xóm nhỏ ấy: những mái nhà nhấp nhô ven sông Chu. Nước sông bốn mùa xanh biêng biếc... Dạo kháng chiến gia đình tôi tản cư đến, và tôi được ở đó nhiều năm.
Thôn Hương nằm gọn trong vòng ôm của con đê cao. Con đê như một đường thêu xanh, xuyên qua lũy tre và bãi dâu bát ngát. Thôn Hương còn có một dải cát mênh mông trồi lên cao, vượt khỏi bãi dâu và mặt đê. Đó là nơi tôi có nhiều kỷ niệm trong những ngày bé thơ. Về thôn Hương, đi từ phía nào lại, cũng nhìn thấy bãi cát đó. Trông xa, nó nổi lên như hòn đảo trắng, lóng lánh dưới nắng. Đến gần, mới nhận ra những cồn cát nhỏ mấp mô trên bãi sóng như làn sương.
Bọn trẻ con trong làng gọi bãi cát ấy là “sa mạc”. Vì tuy ở ven sông, nhưng bãi không hề đọng một giọt nước. Cả lúc ngập lụt, nó vẫn trơ trơ như hòn đảo khô không². Ngày nắng, cát nóng hầm hập như một cái chảo rang. Mùa hanh, từng cơn gió khô khan như chiếc chổi vô hình quét lên những cồn cát, làm cả vùng trời bụi mù mịt.
(Lược bớt một đoạn: Nhân vật “tôi” nhớ lại những kỷ niệm tuổi thơ cùng cô bạn tên Khếnh và các bạn chơi trò “mở chiến dịch tấn công” giành nhau từng cồn cát. Cứ vài năm, nước sông Chu lại dâng cao nhấn chìm bãi dâu của thôn, duy chỉ bãi “sa mạc” (bãi Nhiên) là nơi duy nhất không bị nước. Các cụ già trong thôn cứ ước ao giá trồng được dâu ở bãi Nhiên. Mùa hè năm nay, “tôi” có dịp trở lại thôn Hương liền nhận ra “sa mạc” năm xưa đã xanh mát những luống dâu, vồng khoai lang dây đỏ tía.)
Tôi đang đưa mắt tìm bạn bè cũ thì gặp Khếnh. Khếnh vừa đổ xong một sọt đất phù sa vào gốc dâu. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, cười nói líu tíu. Vẫn cái dáng thâm thấp, vẫn khuôn mặt bầu bĩnh với đôi mắt tròn trong suốt như thủy tinh ẩn dưới hàng mi dài và đôi lông mày cong cong. Vẫn thế, nhưng Khếnh lớn hơn nhiều, người to ra, béo lẳn. Vai tròn, bắp chân chắc nịch.
Có tiếng nói từ phía sau:
- Gớm, bà bí thư chi đoàn đón “đại biểu tham quan” thân mật quá.
Khếnh vừa cười vừa nói một câu pha trò, làm tôi chả hiểu gì sất³:
- Cái anh chàng “thợ giày” kia! Ai khảo mà xưng thế!
Rồi Khếnh phát mạnh vào vai tôi:
- Chà, cậu lớn khiếp! Sao bấy lâu không về chơi? Mẹ mình vẫn nhắc cậu. Bà cụ hồi này khỏe ra...
[...]
Nghe tôi nhắc lại cái tên “sa mạc”, Khếnh nheo mắt cười. Nụ cười như có ý bảo : “Mình vẫn còn nhớ những ngày ấy”... Rồi Khếnh vui vẻ trả lời:
- Dạo này thanh niên chúng tớ mở “chiến dịch 15 ngày” đắp phù sa thêm cho dâu đây mà. Cậu nhìn bãi dâu có thấy khoái không? Mới hai đợt “chiến dịch” thôi nhé.
- Hai đợt là thế nào? – Tôi đùa. – Ngày trước bọn mình cũng “mở chiến dịch” ở bãi “sa mạc”
này bao lần rồi còn gì!
Khếnh tròn mắt búng vào tai tôi mấy cái liền. Và thế là Khếnh lôi tôi vào bãi dâu. Vừa đi, Khếnh vừa liên tiếp nói:
- Ấy, bây giờ cũng vẫn bọn “nhóc” ngày xưa cả. Chỉ thiếu mấy cậu đi thoát ly, đi nghĩa vụ.
Còn tất cả chúng tớ đều bắt tay cải tạo bãi Nhiên này. Cậu biết không? Mới một năm thôi đấy. Đầu tiên chúng tớ đem cày xốc cát hai lần. Luống cát cao võng lên rãnh dài, sâu hút xuống như “giao thông hào” ngày bé của chúng mình ấy. Ừ, xong rồi gánh đất phù sa úp kín rãnh, cứ y như thợ bê tông đổ móng nhà. Sảo⁴ nọ liền sảo kia. Bùn đất quánh như sáp, khó đào lắm, nhưng cắm hom dâu xuống, dâu, chứ đá cũng phải nảy mầm. Chả mấy lâu, dâu xanh phơi phới, bốn tháng sau đã có dấu chân...
Giọng Khếnh sôi nổi. Niềm vui lớn xen cả vẻ tự hào lộ rõ trên nét mặt rạng rỡ, có làn môi chúm chím như đang cười.
(50 truyện ngắn chọn lọc, NXB Thanh niên, Hà Nội, 2004, tr. 371 - 376)
1 Sa mạc của tuổi thơ (nằm trong nền văn xuôi những năm 1960) thể hiện được công cuộc lao động, sản xuất của thanh niên, chủ yếu là phụ nữ nông thôn, đang góp phần xây dựng cuộc sống mới.
2 Khô khỏng: khô cứng, giòn, không còn chút hơi ẩm nào.
3 Sất (khẩu ngữ): từ biểu thị ý nhấn mạnh sự phủ định hoàn toàn.
4 Sảo: rổ nông lòng, nan to, mắt rất thưa.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ngôi kể của đoạn trích trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra kiểu câu (xét theo mục đích nói) của câu văn sau: “Trông xa, nó nổi lên như hòn đảo trắng, lóng lánh dưới nắng.”.
Câu 3 (1,0 điểm). Theo đoạn trích, vì sao bọn trẻ con trong làng gọi bãi cát ở thôn Hương (bãi Nhiên) là “sa mạc”? Khếnh và nam nữ thanh niên trong thôn đã làm gì để “sa mạc” năm xưa giờ đây xanh mát những luống dâu, vồng khoai lang dây đỏ tía?
Câu 4 (1,0 điểm). Các chi tiết miêu tả ngoại hình Khếnh trong đoạn trích giúp em hiểu gì về nhân vật này?
Câu 5 (1,0 điểm). Hãy nêu bài học tâm đắc nhất em rút ra từ việc đọc đoạn trích trên và lí giải trong khoảng 3 - 5 câu văn.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích đặc điểm nhân vật Khếnh trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Thanh niên thôn Hương tiêu biểu cho những người khai hoang, cải tạo đất đai, đưa khoa học kĩ thuật vào đời sống sản xuất,... mang tới cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân miền Bắc lúc bấy giờ. Theo em, cần thay đổi hoàn cảnh để trở nên tốt hơn hay thay đổi bản thân để thích nghi với hoàn cảnh?
Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trả lời cho câu hỏi trên.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Chú ý lời của người kể chuyện
Lời giải chi tiết:
Ngôi kể thứ nhất.
Câu 2.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các kiểu câu phân loại theo mục đích nói
Lời giải chi tiết:
Xét theo mục đích nói, câu văn: “Trông xa, nó nổi lên như hòn đảo trắng, lóng lánh dưới nắng.” thuộc kiểu câu trần thuật (câu kể).
Câu 3.
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích và xác định lí do
Lời giải chi tiết:
- Theo đoạn trích, bọn trẻ con trong làng gọi bãi cát ở thôn Hương (bãi Nhiên) là “sa mạc” vì: tuy ở ven sông, nhưng bãi không hề đọng một giọt nước. Cả lúc ngập lụt, nó vẫn trơ trơ như hòn đảo khô không. Ngày nắng, cát nóng hầm hập như một cái chảo rang. Mùa hanh, từng cơn gió khô khan như chiếc chổi vô hình quét lên những cồn cát, làm cả vùng trời bụi mù mịt.
- Khếnh và nam nữ thanh niên trong thôn đã cải tạo bãi Nhiên (gánh đất phù sa úp kín các rãnh cát, gốc dâu) để “sa mạc” năm xưa giờ đây xanh mát những luống dâu, vồng khoai lang dây đỏ tía.
Câu 4.
Phương pháp:
Chú ý các chi tiết miêu tả ngoại hình Khếnh
Lời giải chi tiết:
Các chi tiết miêu tả ngoại hình Khếnh trong đoạn trích giúp em hiểu về nhân vật:
- Khếnh có nét trong sáng, đáng yêu, ... của một cô gái trẻ;
- Khếnh còn có nét khỏe khoắn, mạnh mẽ, vững vàng,... của người lao động
Câu 5.
Phương pháp:
Nêu được bài học tâm đắc cho bản thân.
Lí giải thuyết phục
Lời giải chi tiết:
Từ đoạn trích “Sa mạc của tuổi thơ”, em học được bài học về tinh thần lao động và ý chí cải tạo thiên nhiên. Con người có thể biến vùng đất khô cằn thành đồng ruộng xanh tốt nếu có niềm tin, đoàn kết và sự nỗ lực không ngừng. Bãi cát “sa mạc” năm xưa được phủ xanh là minh chứng cho sức mạnh của con người khi dám thay đổi và hành động. Bài học ấy nhắc em phải luôn kiên trì, chủ động trong cuộc sống để biến điều không thể thành có thể.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Giới thiệu nhân vật Khếnh trong đoạn trích “Sa mạc của tuổi thơ" (Dương Thị Xuân Quý), nêu khái quát ấn tượng về nhân vật.
- Chỉ ra được đặc điểm của nhân vật Khếnh dựa trên các bằng chứng trong đoạn trích (ngoại hình; hành động, cử chỉ; ngôn ngữ; ...); nhận xét, đánh giá về nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn; nêu ý nghĩa của hình tượng nhân vật;
- Đánh giá về nhân vật.
Lời giải chi tiết:
Trong đoạn trích của truyện ngắn "Sa mạc tuổi thơ", nhân vật Khểnh được tác giả miêu tả là một nhân vật tiêu biểu đại diện cho tầng lớp thanh niên khi hòa bình được lặp lại. Đầu tiên, Khểnh được miêu tả là một cô bé vui tính, hồn nhiên và có mối quan hệ mật thiết với tuổi thơ của tác giả. Trong hồi ức của nhân vật "tôi", Khểnh là một cô bạn đã chơi cùng từ bé gắn với trò chơi "mở chiến dịch" trên những cồn cát "sa mạc" đầy nắng gió. Lớn lên, khi nhân vật "tôi" đi xa về, Khểnh vẫn giữ được nét ngây thơ, hồn nhiên ấy. Tính cách ấy của nhân vật này được miêu tả qua những chi tiết như: "Chà, cậu lớn khiếp! Sao bấy lâu nay không về chơi" hay "Khềnh tròn mắt búng vào tai tôi mấy cái liền",... Tất cả những chi tiết trên đều cho thấy Khểnh là cô bạn dễ thương, luôn gìn giữ những kỉ niệm thuở nhỏ. Thứ hai, nhân vật Khểnh hiện lên với tinh thần trách nhiệm, đầy nhiệt huyết của thế hệ thanh niên. Cô bé ấy giờ đây không chỉ thay đổi về thể chất ("vai tròn, bắp chân chắc nịch") mà còn thay đổi về cả ý chí lẫn tinh thần lao động. Khểnh hiện đang cùng thanh niên tham gia phong trào cải tạo đất, biến bãi "sa mạc" khô cằn thành vùng dâu tươi tốt. Qua những chi tiết trên, có thể thấy nhân vật Khểnh là nhân vật tiêu biểu, đại diện cho thế hệ trẻ nông thôn sau chiến tranh với sự hồn nhiên, tình cảm, giàu tinh thần trách nhiệm và đầy sức sống. Tác giả đã khắc họa nên nhân vật bằng ngôn ngữ linh hoạt, lối văn sinh động cùng những câu từ đầy cảm xúc. Qua đó khiến người đọc cảm nhận được sức cháy, sức lửa của thế hệ trẻ trong chương mới của đất nước.
Câu 2.
Phương pháp:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận, nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Thân bài:
- Giải thích vấn đề
- Bàn luận:
+ Thể hiện quan điểm của người viết, có thể lựa chọn một trong hai ý
kiến hoặc kết hợp cả hai.
Gợi ý:
- Thay đổi hoàn cảnh để bản thân tốt hơn: “cải tạo” hoàn cảnh để phục vụ cuộc sống, sự phát triển, hạnh phúc,... của mình. Đây là cách giúp con người chiến thắng hoàn cảnh.
- Thay đổi bản thân để thích nghi với hoàn cảnh: giúp con người trở nên chủ động, tiến bộ hơn, tạo ra những giá trị tích cực trong cuộc sống. Việc đối mặt và thay đổi là cách để sống một cuộc đời ý nghĩa hơn.
+ Mở rộng, phản đề, đối thoại với ý kiến trái chiều
(HS nêu bằng chứng phù hợp)
* Kết bài: Khẳng định ý kiến về vấn đề, rút ra bài học cho bản thân.
Lưu ý: Thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
Lời giải chi tiết:
Trong cuộc sống, ai cũng mong muốn mình được sống trong hoàn cảnh thuận lợi, tốt đẹp. Tuy nhiên, khi đối diện với những khó khăn, mỗi người lại có lựa chọn khác nhau: thay đổi hoàn cảnh để tốt hơn hay thay đổi bản thân để thích nghi với hoàn cảnh. Theo em, cả hai đều cần thiết, nhưng thay đổi bản thân là điều quan trọng và thiết thực hơn.
Thay đổi hoàn cảnh nghĩa là con người nỗ lực cải tạo môi trường sống, biến cái khắc nghiệt thành thuận lợi hơn, như cách những thanh niên thôn Hương đã phủ xanh “sa mạc” bằng mồ hôi và sức lao động. Tuy nhiên, không phải hoàn cảnh nào cũng có thể thay đổi được. Khi đó, con người cần biết thích nghi, rèn luyện bản lĩnh và sự linh hoạt để tồn tại và phát triển. Thay đổi bản thân chính là cách ta làm chủ cuộc đời, không bị hoàn cảnh chi phối. Người biết tự điều chỉnh, học hỏi, thích nghi sẽ trưởng thành và mạnh mẽ hơn.
Thực tế cho thấy, những người thành công luôn là những người không ngại đối diện khó khăn, dám đổi mới mình để thích ứng với sự thay đổi của xã hội. Vì thế, thay đổi bản thân không chỉ giúp ta hòa nhập, mà còn giúp ta đủ sức tạo nên những thay đổi lớn lao cho hoàn cảnh xung quanh.
Tóm lại, muốn cuộc sống tốt đẹp hơn, con người cần vừa biết thích nghi, vừa không ngừng cải tạo môi trường sống. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là bắt đầu từ sự thay đổi chính mình — bởi khi ta tốt hơn, thế giới xung quanh cũng sẽ thay đổi theo.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 8
Đề thi
I. Đọc hiểu (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Lễ hội Hoa Lư: Hào khí một thuở vang vọng ngàn năm
Trong dòng chảy bất tận của thời gian, với bao thăng trầm của lịch sử, Lễ hội Hoa Lư vẫn còn đó vẹn nguyên giá trị trong kho tàng di sản văn hoá phi vật thể.
Bản sắc văn hoá được tôn vinh
(1) Lễ hội Hoa Lư năm 2025 diễn ra trong 3 ngày, từ ngày 9-11/3 âm lịch. Trong những ngày diễn ra Lễ hội, ước tính có hàng nghìn người dân, du khách thập phương cùng hội tụ về miền di sản để được đắm chìm trong không gian lễ hội linh thiêng. Người về trẩy hội được tham gia nhiều hoạt động lễ hội đặc sắc.
(2) Trong đó, phần lễ được tổ chức trang nghiêm với các nghi lễ truyền thống, tôn vinh, tri ân công đức các bậc tiên đế, tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước; thể hiện ước nguyện của Nhân dân cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi… thông qua các nghi thức: Lễ mở cửa đền, dâng hương, rước nước, rước kiệu, cầu siêu và các lễ hội hoa đăng, lễ tạ…
(3) Phần hội gồm các hoạt động văn hóa, thể thao, trò chơi dân gian như: Trưng bày, triển lãm, chọi gà, cờ người, biểu diễn trống hội, cồng chiêng; các giải thể thao, giải vật dân tộc…
(4) Các hoạt động này đã góp phần bảo tồn và phát huy truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc; quảng bá tiềm năng thế mạnh du lịch, văn hóa, thu hút du khách trong và ngoài nước về với Ninh Bình.
[…]
(5) Bà Trần Thị Đạt (thôn Yên Trạch, xã Trường Yên) chia sẻ: Xưa kia, Lễ hội Hoa Lư có tên là hội Trường Yên chỉ được tổ chức với quy mô cấp làng, cấp xã, song với những người dân Trường Yên và các vùng lân cận thì đó là một hoạt động tâm linh được chờ đợi nhất trong năm.
[…]
Hào khí Hoa Lư – động lực cho sự phát triển
(6) Trải qua bao biến thiên của lịch sử, cho đến ngày nay, Lễ hội Hoa Lư - tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể vẫn là hoạt động sinh hoạt văn hóa tinh thần độc đáo, đặc sắc riêng của người dân Cố đô Ninh Bình.
Thực hiện các yêu cầu sau
Câu 1 (0,5 điểm). Văn bản trên thuộc thể loại gì?
Câu 2 (0,5 điểm). Văn bản trên cung cấp thông tin gì?
Câu 3 (1,0 điểm). Xác định phần dẫn trong đoạn văn (5) và cho biết phần đó được dẫn theo cách trực tiếp hay gián tiếp?
Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích hiệu quả biểu đạt của phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản trên.
Câu 5 (1,0 điểm). Là người con của quê hương Ninh Bình, theo anh/chị, thế hệ trẻ cần làm gì để tri ân các vị tiên đế, các bậc tiền nhân đã có công với đất nước?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày ý nghĩa của việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
Câu 2 (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) phân tích chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn sau:
BÀ TÔI
(Tóm lược phần đầu: Do xích mích cùng con trai và con dâu, bà của Minh – nhân vật “tôi”, chuyển đến sống cùng người em của mình. Tình cờ nghe được cuộc trò chuyện của những người hàng xóm, “tôi” mới biết bà đang đi bán bỏng ở bến tàu)
Thì ra bà tôi lâu nay vẫn đi bán bỏng ngoài bến tàu. Khổ thân bà quá! Bà ơi, cháu thương bà lắm. Bà có nghe thấy tiếng cháu gọi thầm bà không? Lúc này bà làm gì, ở đâu? Sao bà không về với cháu đi bà!
Ôi, tôi như nhìn thấy bà tôi đang len lỏi đi dọc các toa tàu, giơ gói bỏng lên trước mặt hành khách nài nỉ: “Ông ơi, bà ơi mua bỏng giúp tôi đi!”. Nhưng con tàu vô tình cứ mang các hành khách chạy đi, để lại bà tôi tóc bạc, lưng còng, đứng chơ vơ giữa hai vệt đường ray… Chính tôi, tôi cũng vô tình như con tàu, tôi chẳng để ý gì đến bà tôi, tôi chỉ nghĩ đến những con quay, những quả bóng của tôi thôi! Nhiều lúc bà tôi đến chơi, mới ngồi với bà được một tí, tôi đã vội bỏ đi với những trò chơi của tôi rồi! Không, không thể để thế được. Tôi đã mười hai tuổi, lớn rồi, tôi cũng có quyền bàn chuyện nghiêm chỉnh với bố mẹ tôi chứ! Nghĩ rồi, tôi chạy ào xuống nhà. Tôi thấy mẹ tôi đang rửa bát, còn bố tôi đang xách nước lên.
- Bố mẹ ơi, - tôi gọi giục giã, - bố mẹ vào cả đây con có chuyện này muốn nói.
[…]
- … Bố mẹ ơi, bố mẹ có thương bà không?
- Sao tự nhiên con lại hỏi thế? - Bố tôi hỏi lại tôi. - Mà bà làm sao kia mà thương?
- Bà chẳng làm sao cả. Bà đi bán bỏng ở bến tàu ấy, người ta bảo thế. Bố mẹ có biết không?
- Biết, - bố tôi có vẻ lúng túng, - nhưng thế thì sao.
- Còn sao nữa! - Tôi nghẹn ngào - Bà già rồi. Sao bố lại để bà như thế? Khổ thân bà!
- Bố có bắt bà phải thế đâu, - mẹ tôi trả lời thay cho bố, - vì bà thích thế chứ.
- Thích ư? Con chắc là bà chẳng thích đâu. Đời nào bà lại thích đi bán bỏng hơn ở nhà với con, với bố mẹ. Bà yêu thương bố mẹ và con lắm kia mà. Ôi, con cứ nghĩ đến những ngày nắng, ngày rét mà bà thì già thế, bà sao chịu nổi, bà ốm rồi bà chết như bà Thìn bên cạnh ấy thì sao. - Nói đến đây tôi oà lên khóc. - Ước gì bây giờ con đã lớn để con nuôi được bà!
Bố mẹ lặng lẽ nhìn tôi rồi lại nhìn nhau. Bố tôi đặt một bàn tay lên vai tôi rồi nói:
- Thôi con nín đi. Bố hiểu rồi. Con nín đi con!
Tôi cảm thấy giọng bố tôi hơi run và bàn tay nóng ran của bố truyền hơi nóng sang vai tôi. Mẹ tôi cũng nghẹn ngào:
- Con nói đúng, bố mẹ có lỗi với bà. Con đi ngủ đi, sáng mai bố mẹ sẽ xuống Vĩnh Tuy đón bà về đây. Gia đình ta lại sum họp như trước…
(Trích Bà tôi, Những truyện hay viết cho thiếu nhi, Xuân Quỳnh, NXB Kim Đồng, 2024, tr. 56 - 65)
Chú thích
Xuân Quỳnh (1942 - 1988) tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh. Bà không chỉ là một nhà thơ trữ tình nổi tiếng của thơ ca Việt Nam hiện đại mà còn là cây bút có duyên trong những truyện ngắn viết cho thiếu nhi. Những thiên truyện của bà thường viết về tình người cao đẹp, vô cùng trong trẻo, thuần khiết, giàu giá trị nhân văn.
Truyện ngắn Bà tôi là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Xuân Quỳnh viết cho thiếu nhi, ca ngợi và tôn vinh những tình cảm đẹp đẽ mang tính nhân bản của con người.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Văn bản thông tin/ Văn bản thuyết minh
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, xác định thông tin chính được cung cấp
Lời giải chi tiết:
Văn bản trên cung cấp thông tin về Lễ hội Hoa Lư năm 2025, tỉnh Ninh Bình.
Câu 3.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại, xác định phần dẫn trong đoạn (5)
Lời giải chi tiết:
- Phần dẫn trong đoạn văn (5): Xưa kia, Lễ hội Hoa Lư có tên là hội Trường Yên chỉ được tổ chức với quy mô cấp làng, cấp xã, song với những người dân Trường Yên và các vùng lân cận thì đó là một hoạt động tâm linh được chờ đợi nhất trong năm.
- Phần đó được dẫn theo cách gián tiếp.
Câu 4.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về phương tiện phi ngôn ngữ
Lời giải chi tiết:
- Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh lễ rước nước trên sông Hoàng Long tại Lễ hội Hoa Lư.
- Hiệu quả biểu đạt:
+ Nhấn mạnh và làm nổi bật thông tin, giúp người đọc hình dung được không gian linh thiêng và trang nghiêm của một trong những nghi lễ truyền thống của Lễ hội Hoa Lư.
+ Tăng tính sinh động, hấp dẫn cho văn bản.
+ Thể hiện niềm tự hào, trân trọng và mong muốn lan toả, giữ gìn những nghi lễ truyền thống của tác giả.
Câu 5.
Phương pháp:
Những việc thế hệ trẻ cần làm để tri ân các vị tiên đế, các bậc tiền nhân đã có công với đất nước. Đây là câu hỏi mở, học sinh có thể đưa ra nhiều ý kiến khác nhau nhưng cần có sức thuyết phục, không vi phạm những chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
- Trân trọng, giữ gìn, phát huy truyền thống lịch sử của các vị tiên đế, các bậc tiền nhân.
- Tuyên truyền và quảng bá công lao to lớn của đức Đinh Tiên Hoàng Đế, các vị tiên đế, các bậc tiền nhân tới bạn bè trong nước và quốc tế.
- Tích cực học tập, tu dưỡng đạo đức, rèn luyện các kỹ năng để đóng góp công sức xây dựng và phát triển đất nước.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
- Hình thức: Một đoạn văn, thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, song song.
- Dung lượng: Khoảng 200 chữ.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
Lời giải chi tiết:
Việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc có ý nghĩa:
- Thể hiện tình yêu, niềm tự hào, tự tôn dân tộc;
- Mang đậm màu sắc riêng, nét đẹp riêng để không hòa lẫn với quốc gia, dân tộc khác;
- Lan tỏa những giá trị văn hóa tốt đẹp của quê hương, đất nước với mọi người và bạn bè thế giới;
- Góp phần tạo nên một cộng đồng đoàn kết, nhân ái, văn minh.
…
Câu 2:
Phương pháp:
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận văn học
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Bà tôi (Xuân Quỳnh).
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết
- Xác định được các ý chính của bài viết.
- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận
Lời giải chi tiết:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận: Giới thiệu về tác giả Xuân Quỳnh, tác phẩm Bà tôi và vấn đề nghị luận (chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của truyện).
* Triển khai vấn đề nghị luận: Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách khác nhau (phân tích theo 2 luận điểm lớn là chủ đề và đặc sắc nghệ thuật, phân tích lồng ghép nghệ thuật vào nội dung,…) có thể có những cảm nhận cá nhân không giống như đáp án, tuy nhiên cần có sức thuyết phục, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức và pháp luật, đảm bảo được các ý cơ bản sau:
- Chủ đề của truyện: Truyện ngắn Bà tôi thể hiện tình cảm gia đình giản dị mà thiêng liêng, sâu sắc; đề cao giá trị của tình thân, lòng hiếu thảo và trách nhiệm của mỗi người đối với những người thân trong gia đình.
Chủ đề ấy được thể hiện thông qua nhan đề, cốt truyện và hệ thống nhân vật trong truyện.
+ Nhan đề: Bà tôi ngắn gọn, có ý nghĩa khái quát nội dung chủ đề của tác phẩm. Bà tôi không chỉ là cách gọi bà thân thương mà còn chứa đựng ý nghĩa sâu sắc về tình cảm gia đình, lòng biết ơn, sự hiếu kính và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình đối với người bà.
+ Cốt truyện: Đơn giản, xoay quanh câu chuyện bà tôi đi bán bỏng ngoài bến tàu, khiến “tôi” lo lắng, thương bà, mong muốn bố mẹ đón bà về nhà để gia đình được sum họp bên nhau.
+ Chủ đề được thể hiện qua tình cảm, cảm xúc của “tôi” dành cho người bà.
++ Thương bà, xót xa khi biết bà đi bán bỏng ở bến tàu: “Thì ra bà tôi lâu nay vẫn đi bán bỏng ngoài bến tàu. Khổ thân bà quá! Bà ơi, cháu thương bà lắm; nghĩ đến những ngày nắng, ngày rét mà bà thì già thế, bà sao chịu nổi, bà ốm rồi bà chết như bà Thìn bên cạnh ấy thì sao.”.
++ Ăn năn, hối lỗi về sự vô tâm của mình trước kia: “Tôi cũng vô tình như con tàu, tôi chẳng để ý gì đến bà tôi,… Nhiều lúc bà tôi đến chơi, mới ngồi với bà được một tí, tôi đã vội bỏ đi với những trò chơi của tôi rồi!”.
++ Tình yêu thương bà lớn dần, thôi thúc “tôi” hành động và mong muốn làm điều tốt đẹp cho bà: Thẳng thắn nói chuyện với bố mẹ về tình cảnh hiện tại của bà “Bố mẹ ơi, bố mẹ có thương bà không? Bà đi bán bỏng ở bến tàu ấy. Sao bố lại để bà như thế? Khổ thân bà!”; thấu hiểu tình cảm của bà dành cho con cháu “Đời nào bà lại thích đi bán bỏng hơn ở nhà với con, với bố mẹ. Bà yêu thương bố mẹ và con lắm kia mà.”; muốn lớn khôn để chăm sóc cho bà “Ước gì bây giờ con đã lớn để con nuôi được bà!”
-> Tôi là người cháu ngoan ngoãn, hiếu thảo, vô cùng yêu thương bà.
+ Chủ đề của truyện được thể hiện qua sự thay đổi trong nhận thức và tình cảm của bố mẹ: Lời nói chân thành của “tôi” đánh thức cảm xúc và tình cảm trong lòng bố mẹ, bố mẹ đã có quyết định đúng đắn: “Con nói đúng, bố mẹ có lỗi với bà, sáng mai bố mẹ sẽ xuống Vĩnh Tuy đón bà về đây. Gia đình ta lại sum họp như trước.”
-> Bố mẹ “tôi” là người biết lắng nghe, thấu hiểu tình cảm gia đình là điều thiêng liêng, quý giá nhất.
- Đặc sắc nghệ thuật:
+ Nghệ thuật xây dựng cốt truyện, tình huống truyện: Đơn giản nhưng bất ngờ và giàu cảm xúc, tạo nút thắt, đẩy cảm xúc và mở ra cao trào, góp phần làm nổi bật chủ đề và sự thay đổi trong suy nghĩ, tình cảm của các nhân vật.
+ Ngôi kể: Ngôi kể thứ nhất phù hợp, tạo độ tin cậy đối với người đọc; giúp nhân vật dễ dàng bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc.
+ Ngôn ngữ, giọng kể: Giản dị, đối thoại tự nhiên, giàu tính kịch góp phần thể hiện rõ tâm lý nhân vật; giọng kể khi chậm rãi, nhẹ nhàng, khi hối hả gấp gáp, vừa thể hiện được tình cảm, cảm xúc của các nhân vật vừa giúp người đọc dễ dàng đồng cảm với nhân vật.
+ Chi tiết nghệ thuật tiêu biểu: Xây dựng được những chi tiết truyện hấp dẫn, góp phần làm nổi bật chủ đề.
+ Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật: Nhân vật chủ yếu được miêu tả qua cảm xúc, suy nghĩ, lời nói; qua đó bộc lộ tình cảm bà cháu sâu sắc, tạo sự xúc động nhẹ nhàng, thấm thía.
* Kết thúc vấn đề nghị luận: Đánh giá chung về chủ đề, đặc sắc về nghệ thuật của truyện; liên hệ, rút ra bài học/thông điệp có ý nghĩa với bản thân
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 9
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
SÔNG BẠCH ĐẰNG LỊCH SỬ
Sông Bạch Đằng là con sông nổi tiếng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt. Sông có “tên hiệu” là sông Vân Cừ và tên “dân dã” là sông Rừng. Người Quảng Yên trước đây từng lưu truyền câu “Con ơi, nhớ lấy lời cha / Gió nồm, nước rặc chớ qua sông Rừng” để nói lên sự hiểm yếu của con sông này.
Cha ông ta xưa kia hiểu rất rõ “thủy chế” của sông Bạch Đằng dưới tác động của thủy triều, nên đã vận dụng vào những trận chiến bảo vệ Tổ quốc, đánh đuổi kẻ thù ở nơi cửa ngõ này. Sông đã ba lần lập chiến công, là mồ chôn quân giặc từ phương Bắc tới.
1. Trận Bạch Đằng năm 938
Năm 938, vua Nam Hán là Lưu Nghiễm phong cho con là Lưu Hoằng Tháo thống lĩnh hai vạn quân, tiến vào cửa sông Bạch Đằng, đánh chiếm nước ta.
Ngô Quyền cho quân sĩ đóng cọc bịt sắt nhọn xuống lòng sông Bạch Đằng. Khi thủy triều lên, bãi cọc không bị lộ.
Quân Nam Hán tiến vào. Ngô Quyền ra lệnh cho quân rút lên thượng lưu. Đợi đến khi thủy triều xuống, quân ta đổ ra đánh. Nhiều thuyền chiến lớn của quân Nam Hán bị mắc cạn và bị cọc đâm thủng. Lúc ấy Ngô Quyền mới tung quân ra tấn công dữ dội. Quân Nam Hán thua chạy, Lưu Hoằng Tháo bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ.
2. Trận Bạch Đằng năm 981
Cuối năm 979, Đinh Tiên Hoàng và con là Đinh Liễn bị ám hại. Nhân khi Đại Cồ Việt có nội loạn, mùa thu năm 980, nhà Tống đem quân chia làm hai đạo tiến vào theo đường bộ và đường thủy. Cánh quân thủy do Hầu Nhân Bảo chỉ huy tiến vào cửa sông Bạch Đằng.
Ngày 28-4-981, trận quyết chiến diễn ra trên sông. Lê Hoàn cho một cánh quân ra khiêu chiến với Hầu Nhân Bảo, giả thua nhử quân địch đuổi theo. Khi đoàn chiến thuyền của Hầu Nhân Bảo lọt vào trận địa mai phục, Lê Hoàn tung quân từ khắp các ngả tấn công quân Tống. Hầu Nhân Bảo bị giết chết trong cuộc hỗn chiến. Đám tàn quân hoảng sợ vội tháo lui ra biển. Nghe tin thất trận, các đạo quân Tống hoảng sợ rút lui, bị quân Đại Cồ Việt truy kích tiêu diệt quá nửa.
3. Trận Bạch Đằng năm 1288
Năm 1287, nhà Nguyên mở cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ ba, nhưng chỉ chiếm được kinh thành Thăng Long không một bóng người. Đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ bị thủy quân Trần do Trần Khánh Dư chỉ huy đánh tan trong trận Vân Đồn. Trước tình thế bất lợi, quân Nguyên định tổ chức rút về Trung Quốc theo các hướng khác nhau.
Trần Hưng Đạo chỉ huy quân dân Đại Việt chuẩn bị trận địa mai phục trên sông Bạch Đằng. Các cây gỗ lim, gỗ táu đốn từ trên rừng được kéo về bến sông, tại đây cây được đẽo nhọn và cắm xuống lòng sông ở các cửa dẫn ra biển, chỉ để trống sông Đá Bạc cho quân Nguyên kéo vào.
Nhân lúc nước lớn, Ô Mã Nhi dẫn đoàn thuyền tiến vào sông Bạch Đằng. Thủy quân Trần tràn ra giao chiến, rồi giả thua chạy vào sâu bên trong. Ô Mã Nhi trúng kế thúc quân đuổi theo, tiến sâu vào khúc sông đã đóng cọc. Quân Trần đợi cho thủy triều xuống, nhất loạt quay thuyền lại đánh thẳng vào đội hình địch. Quân Nguyên hoảng loạn, bỏ thuyền lên bờ tìm đường chạy trốn, nhưng lại rơi vào ổ phục kích của quân Trần.
Hơn 4 vạn quân Nguyên bị loại khỏi vòng chiến, nhiều tướng Nguyên trong đó có Ô Mã Nhi bị bắt sống. Trận đại thắng trên sông Bạch Đằng của Trần Hưng Đạo được xem là trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, và là thắng lợi tiêu biểu nhất của Đại Việt trong ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông.
Gắn liền với những chiến thắng oanh liệt của dân tộc, sông Bạch Đằng xứng đáng được vinh danh trong bảng vàng lịch sử. Năm 1835, vua Minh Mạng cho đúc Cửu đỉnh đặt ở Thái Miếu trong kinh thành Huế. Nhà vua đã cho chạm chín dòng sông tiêu biểu của Việt Nam lên Cửu đỉnh, gồm các sông Bến Nghé, sông Hương, sông Gianh, sông Mã, sông Lô, Bạch Đằng, Thạch Hãn, sông Lam, sông Hồng. Trong đó sông Bạch Đằng được khắc lên Nghị đỉnh.
(Nguyễn Như Mai, Nguyễn Huy Thắng, Nguyễn Quốc Tín, “Dạt dào sông nước”, NXB Kim Đồng, 2015)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định chủ đề của văn bản?
Câu 2. Thông tin về các trận chiến trên sông Bạch Đằng được trình bày theo hình thức tổ chức nào?
Câu 3. Phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ trong câu văn sau:
“Nhà vua đã cho chạm chín dòng sông tiêu biểu của Việt Nam lên Cửu đỉnh, gồm các sông Bến Nghé, sông Hương, sông Gianh, sông Mã, sông Lô, Bạch Đằng, Thạch Hãn, sông Lam, sông Hồng. Trong đó sông Bạch Đằng được khắc lên Nghị đỉnh”.
Câu 4. Từ ngữ, câu văn sử dụng trong văn bản có đặc điểm gì nổi bật?
Câu 5. Em có nhận xét gì về thái độ, cảm xúc của tác giả thể hiện trong bài viết?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Từ văn bản đọc hiểu có thể thấy thấy tác giả không chỉ am hiểu lịch sử mà còn rất yêu quê hương đất nước. Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về giá trị của tình yêu quê hương.
Câu 2. Phân tích nhân vật người bố trong truyện ngắn sau:
BỐ TÔI
(Nguyễn Ngọc Thuần)
Tôi đi học dưới đồng bằng. Còn bố tôi, từ núi đồi hiểm trở, ông luôn dõi theo tôi.
Bao giờ cũng vậy, ông mặc chiếc áo kẻ ô phẳng phiu nhất, xuống núi vào cuối mỗi tuần. Ông rẽ vào bưu điện để nhận những lá thư tôi gửi. Lặng lẽ, ông vụng về mở nó ra. Ông xem từng con chữ, lấy tay chạm vào nó, rồi ép vào khuôn mặt đầy râu của ông. Rồi lặng lẽ như lúc mở ra, ông xếp nó lại, nhét vào bao thư. Ông ngồi trầm ngâm một lúc, khẽ mỉm cười rồi đi về núi.
Về đến nhà, ông nói với mẹ tôi: “Con mình vừa gửi thư về”. Mẹ tôi hỏi: “Thư đâu?”. Ông trao thư cho bà. Bà lại cẩn thận mở nó ra, khen: “Ôi, con mình viết chữ đẹp quá! Những chữ tròn, thật tròn, những cái móc thật bén. Chỉ tiếc là không biết nó viết gì. Sao ông không nhờ ai đó ở bưu điện đọc giùm?”. Ông nói: “Nó là con tôi, nó viết gì tôi biết cả.”. Rồi ông lấy lại thư, xếp vào trong tủ cùng những lá thư trước, những lá thư được bóc ra nhìn ngắm, chạm mặt rồi cất vào, không thiếu một lá, ngay cả những lá thư đầu tiên nét chữ còn non nớt.
Hôm nay là ngày đầu tiên tôi bước chân vào trường đại học. Một ngày khai trường đầu tiên không có bố. Bố tôi đã mất. Nhưng tôi biết bố sẽ đi cùng tôi trên những con đường mà tôi sẽ đi, suốt cả hành trình cuộc đời.
(Theo Nguyễn Ngọc Thuần, in trong “Bồi dưỡng học sinh vào lớp 6 môn Tiếng Việt”, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012)
Đáp án
PHẦN I.
Câu 1.
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra chủ đề
Lời giải chi tiết:
Chủ đề của văn bản là lịch sử của sông Bạch Đằng trong các trận chiến chống ngoại xâm của dân tộc Việt.
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc và xác định hình thức tổ chức của thông tin trận chiến
Lời giải chi tiết:
Thông tin về các trận chiến trên sông Bạch Đằng được trình bày theo hình thức:
- Liệt kê các trận chiến lịch sử.
- Trật tự thời gian từ trước tới sau.
Câu 3.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp liệt kê
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ liệt kê “sông Bến Nghé, sông Hương, sông Gianh, sông Mã, sông Lô, Bạch Đằng, Thạch Hãn, sông Lam, sông Hồng”
-> Làm cho lời văn sinh động, gợi hình, gợi cảm, tăng tính nhịp nhàng, cân đối. Thông qua đó nhằm nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử của các con sông, đặc biệt là sông Bạch Đằng. Đồng thời thể hiện niềm tự hào của tác giả trước những giá trị lịch sử của dân tộc
Câu 4.
Phương pháp:
Đọc và xác định nét đặc sắc của từ ngữ, câu văn
Lời giải chi tiết:
Từ ngữ và câu văn trong văn bản sử dụng ngôn ngữ trang trọng, lịch sự, và truyền cảm những cảm xúc ca ngợi, tôn vinh lịch sử và chiến công của dân tộc.
Câu 5.
Phương pháp:
Đọc và xác định cảm xúc, thái độc của tác giả
Lời giải chi tiết:
Tác giả thể hiện thái độ và cảm xúc tôn vinh, ca ngợi lịch sử và chiến công của dân tộc Việt trong việc chống ngoại xâm trên sông Bạch Đằng.
PHẦN II.
Câu 1.
Phương pháp:
Xác định vấn đề cần bàn luận
Liên hệ thực tế
Vận dụng thao tác lập luận, kĩ năng viết bài
Lời giải chi tiết:
– Giải thích vấn đề: sông bạch đằng lịch sử; đọc hiểu sông bạch đằng lịch sử
Tình yêu quê hương là tình cảm thiêng liêng cao quý được biểu hiện ở sự nặng lòng thương nhớ, gắn bó với nơi mình sinh ra và lớn lên
– Bàn luận về ý nghĩa, giá trị của tình yêu quê hương:
+ Tình yêu quê hương là cơ sở của lòng yêu nước
+ Tình yêu quê hương giúp cho con người luôn hướng về nguồn cội, tổ tiên vì thế nó có ý nghĩa tình thần to lớn khi giúp con người biết hiếu thảo, thành kính với tổ tiên, ông bà, cha mẹ.
+ Con người có tình yêu quê hương sẽ biết sống trách nhiệm hơn với cộng đồng, được mọi người tôn trọng và yêu quý.
+ Thiếu đi tình yêu quê hương con người sẽ trở thành kẻ mất gốc.
– Mở rộng vấn đề: sông bạch đằng lịch sử ; đọc hiểu sông bạch đằng lịch sử
+ Phê phán những kẻ thờ ơ, vô cảm thiếu trách nhiệm với quê hương
– Bài học: thấy được vai trò của quê hương đối với mỗi con người; vun đắp cho mình tình yêu quê hương; góp công xây dựng quê hương giàu đẹp.
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ nội dung văn bản
Xác định các chi tiết, hình ảnh miêu tả nhân vật bố
Vận dụng thao tác lập luận, phân tích
Lời giải chi tiết:
a) Mở bài
– Giới thiệu truyện ngắn “Bố tôi” của nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần.
– Nêu nội dung khái quát cần phân tích, đánh giá: Truyện đã xây dựng thành công hình ảnh người bố – một người đàn ông miền núi chất phác, hiền hậu, hết lòng yêu thương con, trân trọng tình cảm gia đình
b) Thân bài
* Khái quát nội dung, chủ đề của truyện:
- Truyện kể về người bố của nhân vật “tôi”. Ông ở vùng đồi núi hiểm trở, người con học ở dưới đồng bằng xa nhà. Ông dành cho con những tình yêu thương sâu sắc và luôn dõi theo con từng ngày. Mỗi khi nhận được thư của con gửi về, ông cảm thấy vô cùng hạnh phúc và luôn trân trọng những bức thư ấy vì theo ông nghĩ con viết thư về được là vẫn mạnh khỏe. Ngày con bước chân vào giảng đường đại học cũng là lúc người bố ra đi mãi mãi, đó là ngày khai trường đầu tiên mà nhân vật “tôi” không có bố đi cùng. Nhưng nhân vật “tôi” tin rằng bố sẽ theo mình suốt hành trình cuộc đời phía trước. Truyện ca ngợi tình yêu thương sâu nặng của người bố dành cho gia đình, con cái và tấm lòng biết ơn sâu nặng của người con dành cho người bố kính yêu. Đồng thời, truyện cũng gửi gắm lời nhắc nhở những người con phải biết thương yêu, kính trọng và biết ơn và sống hiếu thảo với bố mę của mình.
*Phân tích hình ảnh người bố trong truyện:
- Hình ảnh người cha miền núi nghèo, tần tảo, vất vả, một nắng hai sương làm nương rẫy ở trên vùng núi cao và không có điều kiện để đi học:
+ Còn bố tôi từ một vùng núi cao xa xôi.
+ Đi chân đất xuống núi.
+ Không biết chữ.
+ Cha con xa nhau chỉ có cách liên lạc là qua những bức thư.
+ Đối với người dân miền núi, nuôi con đi học xa nhà không phải là việc dễ dàng nhưng ông vẫn cố gắng hết mình lo cho con.
- Một người cha yêu con, tinh tế, thấu hiểu tâm tư tình cảm của con:
+ Một người cha luôn quan tâm, dõi theo con: Cuối mỗi tuần, bao giờ ông cũng mặc chiếc áo phẳng phiu nhất, đi chân đất xuống núi, rẽ vào bưu điện để nhận lá thư con gửi.
+ Một người cha trân trọng, nâng niu tất cả những gì thuộc về con: Rồi ông lấy lại lá thư, xếp vào trong tủ cùng những lá thư trước, những lá thư được bóc ra nhìn ngắm, chạm vào mặt rồi cất đi, không thiếu một lá, ngay cả những lá thư đầu tiên nét chữ còn non nớt
+ Một người cha tinh tế, thấu hiểu được những tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của con mình: Ông không biết chữ, không đọc được những dòng thư con viết những bằng trái tim giàu tình yêu thương, ông lại biết con muốn nói những gì, cảm nhận được tình yêu, nỗi nhớ nhà, nhớ người thân của con.
- Đặc sắc về hình thức nghệ nghệ thuật:
– Xây dựng nhân vật chủ yếu qua ngoại hình, hành động, lời nói.
– Cách kể chuyện bằng ngôi thứ nhất làm cho câu chuyện chân thực, sinh động, nhân vật dễ bộc lộ cảm xúc.
– Kết thúc bất ngờ để lại nhiều dư âm, cảm động trong lòng bạn đọc về tình phụ tử thiêng liêng, vĩnh cửu: Người bố mất, nhưng “tôi” biết chắc chắn, bố sẽ đi cùng tôi trên con đường mà tôi sẽ đi suốt cả cuộc đời.
– Cách đặt tên truyện thể hiện chủ đề tư tưởng của truyện.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 10
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
LẼ SỐNG CỦA THANH NIÊN, SINH VIÊN
(1) Đỉnh núi cao không dành cho những người hèn nhát và lười vận động, đỉnh tri thức không có chỗ cho kẻ chỉ rong chơi. Nếu không có sự miệt mài, tìm tòi khám phá và dốc lòng cho những đam mê thì làm sao có một Edison vĩ đại và bóng đèn chiếu sáng hôm nay. Đi đến tận cùng đam mê là điều không dễ, vì có lúc tuổi trẻ nóng vội, khao khát nhanh chóng thành công nên vội vàng đốt cháy giai đoạn khiến những dự định trở thành dang dở. Giữ được lửa nhiệt huyết trong tâm hồn và kiên trì trong ý nghĩ đúng là điều rất quan trọng. Nếu cháy bùng lên rồi vụt tắt thì đó chỉ là một ánh sao băng giữa thiên hà vô tận.
(2) Đừng sợ! Nỗi sợ hãi sẽ giết chết mọi manh nha của bao ý nghĩ táo bạo, và sợ hãi sẽ là ngục tù của trí tuệ. Khi cái đầu vẫn bị đóng khung trong giới hạn thì ý tưởng có chăng cũng chỉ dừng lại những cái đã có rồi. Tự do chỉ có được khi nắm được và dự báo được quy luật, ý tưởng tốt đẹp phải được nảy mầm từ những khát khao chính đáng, mọi mơ hồ cùng lắm là ánh trăng suông. Nếu mải miết trên đất liền và lo cuồng phong, bão tố thì làm sao Chiristopher Columbus có cuộc phiêu lưu để tìm ra châu Mĩ bao la?
(3) Đất mãi mãi là đất, rừng mãi mãi là rừng, biển cả bao la vẫn quanh năm sóng vỗ, phố xá vẫn quen từng bước chân về. Ta nghĩ gì và làm gì trên đất, ta nghĩ gì để rừng mãi xanh tươi, ta nghĩ gì để biển khơi không chỉ đem về tôm cá mà cả những vần thơ làm dịu mát tâm hồn? Vẫn là đất, vẫn là rừng, vẫn là biển cả, vẫn là phố xưa nhưng no ấm đủ đầy? Phải làm sao? Các bạn hãy dành nhiều thời gian để nghĩ về điều đó và ra tay vì năm tháng chẳng đợi chờ, tuổi xuân trôi qua nhanh lắm.
(Trích Những lời chia sẻ, Nguyễn Văn Minh, NXB Đại học Sư phạm, 2023, tr.239-240)
Trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1. (0,75 điểm). Xác định thể loại văn bản của đoạn trích trên.
Câu 2. (0,75 điểm). Chỉ ra luận đề của đoạn trích.
Câu 3. (0,75 điểm). Những câu hỏi tu từ được sử dụng trong đoạn văn (3) có tác dụng gì?
Câu 4. (0,75 điểm). Theo em, thế hệ trẻ cần làm gì để tạo dựng một cuộc sống no ấm đủ đầy cho bản thân và có đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng?
Câu 5. (1.0 điểm). Rút ra thông điệp có ý nghĩa nhất đối với em khi đọc đoạn trích.
II. VIẾT (6.0 điểm)
Viết bài văn phân tích nhân vật “tôi” trong văn bản sau:
VÌ YÊU THƯƠNG CẦN LAN TOẢ
(Tóm tắt phần lược bỏ: Thú chơi tem của “tôi” bắt đầu từ khi phát hiện ra trong nhà kho những con tem binh sĩ cổ của ông- một phần kỉ niệm thời chinh chiến của ông. Ông đã đồng ý cho “tôi” toàn bộ số tem cũ và dạy “tôi” cách sắp xếp tem).
(…) Tôi cẩn thận hơn, bớt làm bể bát, hỏng đồ hơn khi dần rèn cho mình tính cẩn thận nhờ chơi tem. Đôi khi, tem dính chặt tới mức để không rách một “răng” nào, tôi phải toát mồ hôi hột. Kiến thức xã hội của tôi cũng tăng đáng kể từ khi chơi tem. Tôi có thể kể vanh vách các danh lam thắng cảnh của các vùng, chịu tìm tòi đọc về các danh nhân mà tôi “gặp” trên tem.
Hoàng là cậu bạn chơi tem đầu tiên của tôi. Cậu đã “tặng” một bài học không hề có trong đầu tôi. Cu cậu mê tít mắt khi nhìn thấy bộ tem binh sĩ, tem thời chiến mộc mạc mà tôi thừa hưởng được từ ông. Trong khi đó tôi lại mê tít mắt những bộ tem cá, chim, du thuyền, đặc biệt là những bộ tem tàu vũ trụ đa sắc. Bố Hoàng từng là một du học sinh Nga nên những con tem nước ngoài trong bộ tem của cậu tôi chưa từng thấy bao giờ.
“Sẽ không có bất cứ ai có những bộ tem đẹp như thế này để đổi cho cậu.” - Hoàng gạ gẫm tôi đổi bộ tem du thuyền và chim bướm để lấy tem cổ... Trúng phóc tim đen, tôi hào hứng đổi luôn cả những con tem cổ để lấy số tem du thuyền, chim bướm. Số tem binh sĩ, tem có của tôi vơi đi hơn một nửa nhưng lòng phơi phới vì tin rằng mình đã rất “lời”.
Một thời gian sau, khi kinh nghiệm chơi tem dày dặn hơn một chút, tôi mới biết những con tem Hoàng đổi cho tôi là tem cắt từ trên báo chí. Hình như cậu đã phải tỉ mẩn dùng kim để đục từng răng tem. Nó thực chất chỉ là hình minh họa, không phải tem. Tôi không thể gặp lại Hoàng để bắt đền vì nhà Hoàng đã chuyển đi nơi khác sống.
Tôi vẫn cất cuốn sổ tem thời bé thơ như cất giữ một bài học đắt giá đầu tiên mà mình học được từ người bạn nhỏ. Có lần, lang thang Facebook, tôi kể lại câu chuyện này cho một nhóm bạn cùng sở thích chơi tem với tâm trạng rất buồn. Nhiều bạn hỏi địa chỉ vì muốn chuyển cho tôi vài con tem... an ủi.
Đã có hàng chục, và rồi là hàng trăm con tem binh sĩ, tem cổ được gửi tới tôi chỉ vài ngày sau đó. Có bạn còn gửi kèm một lá thư nắn nót dòng chữ “Xin lỗi” thay lời cậu nhóc năm xưa gửi tới tôi. Có bạn còn dặn, nếu thiếu con tem nào tôi từng mất, bạn sẽ tặng, để tôi không giữ nỗi buồn về tem nữa. Vì những con tem chắp cánh cho yêu thương bay xa nên hãy để tình thương lan tỏa, đừng để nỗi buồn lan tỏa.
Tôi đã tha thứ cho một người bạn, vì từ những người bạn mới, tôi hiểu được rằng thực ra nếu bạn giữ mãi lỗi lầm về ai đó, bạn sẽ rất nặng lòng. Vì thế tha thứ cũng là để làm mình hạnh phúc hơn.
(Trích Góc nhỏ yêu thương, Võ Thu Hương, NXB Kim Đồng, 2024, Tr.66-69,)
* Chú thích: Võ Thu Hương, một nhà văn trẻ quê ở Nghệ An, hiện đang sống ở TP. Hồ Chí Minh, là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Cô là tác giả của nhiều cuốn sách dành cho thiếu nhi. Tập sách Góc nhỏ yêu thương gồm những câu chuyện hướng thiếu nhi tới tình yêu thương, sự chia sẻ từ những điều bé nhỏ, gần gũi xung quanh.
Đáp án
PHẦN I
Câu 1.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Cách giải:
Nghị luận
Câu 2.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại, xác định luận đề
Cách giải:
Luận đề của đoạn trích: Bàn về lẽ sống của thanh niên, sinh viên
Câu 3.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về câu hỏi tu từ
Cách giải:
- Câu hỏi tu từ: Ta nghĩ gì và làm gì trên đất, ta nghĩ gì để rừng mãi xanh tươi, ta nghĩ gì để biển khơi không chỉ đem về tôm cá mà cả những vần thơ làm dịu mát tâm hồn? Vẫn là đất, vẫn là rừng, vẫn là biển cả, vẫn là phố xưa nhưng no ấm đủ đầy? Phải làm sao?
- Tác dụng:
+ Tạo nên nhịp điệu, lời nhắn gửi đầy thiết tha đến với thế hệ trẻ hãy suy nghĩ và hành động.
+ Nhấn mạnh để thành công ta không được lười biếng mà phải có suy nghĩ và hành động thiết thực để biến mọi khát khao thành hiện thực.
Câu 4.
Phương pháp:
Liên hệ thực tế
Cách giải:
Gợi ý:
- Có phương hướng, mục tiêu rõ ràng.
- Luôn phấn đấu, không chùn bước trước những khó khăn để đạt mục tiêu mình đã đề ra.
- Trau dồi tri thức….
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra thông điệp phù hợp
Cách giải:
+ Phải có bản lĩnh đương đầu với những khó khăn thử thách.
+ Phải có mục đích sống, có lý tưởng và có hướng đi đúng đắn.
+ Mỗi người cần phải làm chủ bản thân mình, có suy nghĩ tích cực, tự tin và luôn chịu khó học hỏi, tự xây dựng kỹ năng cho riêng mình.
…
PHẦN II
Phương pháp:
Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật “tôi” trong văn bản Vì yêu thương cần lan toả của tác giả Võ Thu Hương.
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức, bố cục của đoạn văn
b. Xác định đúng yêu cầu về nội dung: Phân tích đặc điểm của nhân vật “tôi” trong văn bản Vì yêu thương cần lan toả (tác giả Võ Thu Hương)
c. Viết được bài văn cảm nghĩ đảm bảo các yêu cầu:
- Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách để làm rõ tích đặc điểm của nhân vật “tôi”, bảo đảm hợp lí, thuyết phục, phù hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu truyện ngắn “Vì yêu thương cần lan toả” của Võ Thu Hương – một tác phẩm giàu tính nhân văn, hướng người đọc đến giá trị của tình yêu thương, sự sẻ chia và tha thứ.
Dẫn vào nhân vật trung tâm – nhân vật “tôi” – người kể chuyện, cũng là người trải nghiệm những cung bậc cảm xúc, bài học đáng nhớ của tuổi thơ.
2. Thân bài:
* Chủ đề: Yêu thương cần được chia sẻ và truyền tải để tạo nên sự kết nối mạnh mẽ giữa mọi người.
* Nhan đề: “Yêu thương cần lan toả” ngắn gọn mà giàu sức gợi, thể hiện sâu sắc thông điệp của truyện: hãy lan toả yêu thương từ những điều bình dị nhất để cuộc sống trở nên ý nghĩa và ấm áp hơn. Tình yêu thương, dù nhỏ bé, cũng có thể xoa dịu tổn thương, chữa lành trái tim và truyền đi những giá trị nhân văn
* Tóm tắt truyện”
Nhân vật “tôi” bắt đầu đam mê chơi tem sau khi tìm thấy bộ tem binh sĩ cũ của ông nội – kỷ vật thời chiến. Từ đó, “tôi” không chỉ rèn luyện tính cẩn thận mà còn mở rộng hiểu biết xã hội qua từng con tem. Trong quá trình chơi tem, “tôi” bị cậu bạn Hoàng lừa đổi bộ tem quý để lấy những con tem giả được cắt từ báo. Dù buồn và tiếc, “tôi” vẫn giữ lại cuốn sổ tem như một bài học tuổi thơ. Sau này, khi chia sẻ câu chuyện lên mạng xã hội, “tôi” bất ngờ nhận được sự an ủi và chia sẻ từ những người bạn yêu tem khác: họ gửi tặng tem, viết thư động viên, thậm chí có người “xin lỗi thay” cho Hoàng. Nhờ đó, “tôi” cảm nhận được sự ấm áp của tình người và học được cách tha thứ. Truyện gửi gắm thông điệp: hãy để tình thương lan tỏa, đừng để nỗi buồn lan tỏa.
* Luận điểm 1: Hoàn cảnh, sở thích và mối liên hệ với ông.
- “Tôi” bắt đầu đam mê chơi tem sau khi phát hiện bộ tem binh sĩ cổ trong nhà kho – kỷ vật thời chinh chiến của ông nội.
- Ông không chỉ tặng tem mà còn truyền lửa đam mê, hướng dẫn tỉ mỉ cách sắp xếp, bảo quản – thể hiện nhân vật “tôi” là người gắn bó tình cảm với gia đình, biết trân trọng quá khứ.
- Đây cũng là dấu mốc quan trọng cho hành trình trưởng thành của “tôi”.
* Luận điểm 2: Là người ham học hỏi, có tinh thần cầu tiến
- Qua thú chơi tem, “tôi” rèn được tính cẩn thận, kiên nhẫn:
- “Bớt làm bể bát, hỏng đồ”,
- “Toát mồ hôi” để gỡ tem không rách.
- Khả năng tự học, tự tìm hiểu: biết thêm nhiều kiến thức về địa danh, danh nhân, vũ trụ thông qua tem – cho thấy sự ham học, yêu khám phá, khả năng tự giáo dục bản thân.
* Luận điểm 3: Là người trong sáng, hồn nhiên nhưng dễ bị tổn thương
- Bị bạn Hoàng lừa đổi tem quý lấy tem giả (cắt từ báo), “tôi” vẫn vô tư nghĩ mình “lời to”.
- Khi phát hiện sự thật, không trách móc, chỉ giữ lại làm kỷ niệm – thể hiện tính cách trong sáng, không toan tính, không thù dai, mang vẻ đẹp ngây thơ đáng trân trọng của tuổi thơ.
* Luận điểm 4: Có đời sống nội tâm sâu sắc, biết trân trọng kỷ niệm và bài học cuộc sống
- Vẫn cất giữ cuốn sổ tem – không chỉ để nhớ tem mà để giữ lại một bài học tuổi thơ quý giá.
- Biết chia sẻ cảm xúc thật lên mạng xã hội – là người sống tình cảm, chân thành, mong tìm được sự đồng cảm.
* Luận điểm 5: Là người biết tha thứ, sống yêu thương và lan toả điều tốt đẹp
- Cảm động khi nhận được tem và thư từ bạn bè xa lạ – những người sẻ chia và “xin lỗi thay” cho Hoàng.
- Tha thứ cho người bạn năm xưa:
- Nhận ra sự tha thứ không chỉ là vì người khác mà còn để chính mình được nhẹ lòng, thanh thản.
- Đó là một sự trưởng thành đầy nhân văn: biết buông bỏ oán giận để sống tích cực hơn.
- “Tôi” trở thành người truyền cảm hứng sống tử tế, lan toả yêu thương đúng như thông điệp truyện truyền tải: “Đừng để nỗi buồn lan toả, hãy để tình thương lan toả”.
* Đánh giá nghệ thuật:
- Nghệ thuật kể chuyện từ góc nhìn trẻ thơ: Truyện được kể bằng ngôi nhất (“tôi”), với giọng điệu hồn nhiên, chân thật và cảm xúc, tạo nên sự gần gũi, dễ đồng cảm với người đọc – đặc biệt là lứa tuổi thiếu nhi. Việc tái hiện cảm xúc của một đứa trẻ khi lần đầu bị lừa, rồi dần trưởng thành và học được cách tha thứ được thể hiện nhẹ nhàng, không lên gân, rất tự nhiên.
- Kết cấu truyện đơn giản mà hiệu quả: Tác phẩm không có nhiều tình tiết gay cấn, mà đi theo mạch cảm xúc của nhân vật “tôi” – từ niềm vui sưu tầm tem, sự cả tin, hụt hẫng, rồi đến sự vỡ lẽ và cuối cùng là sự tha thứ, thanh thản. Cốt truyện tuyến tính, mạch lạc, phù hợp với đặc điểm truyện ngắn thiếu nhi.
- Chi tiết nghệ thuật tinh tế, giàu biểu cảm: Hình ảnh “lá thư với dòng chữ Xin lỗi” và những con tem được gửi đến không chỉ là hành động sẻ chia mà còn là biểu tượng của tình yêu thương lan tỏa – một cách thể hiện nghệ thuật đầy tính nhân văn.
- Ngôn ngữ mộc mạc, trong sáng: Võ Thu Hương sử dụng ngôn ngữ gần gũi, giản dị, nhưng vẫn gợi hình, gợi cảm.
- Tính giáo dục lồng ghép khéo léo: Không lên lớp hay khô cứng, bài học về sự cẩn thận, lòng bao dung, tha thứ, và lan tỏa yêu thương được truyền tải rất nhẹ nhàng qua hành trình cảm xúc của nhân vật. Đây chính là giá trị nhân văn sâu sắc được thể hiện bằng nghệ thuật kể chuyện giản dị mà giàu sức lay động.
→ “Yêu thương cần lan tỏa” là một truyện ngắn thiếu nhi giàu tính nghệ thuật: từ cách kể chuyện cảm xúc, xây dựng chi tiết tinh tế, đến thông điệp nhân văn sâu sắc. Võ Thu Hương đã sử dụng nghệ thuật kể chuyện giản dị để truyền đi một bài học lớn về lòng vị tha và sức mạnh của yêu thương – đúng như tên gọi của truyện.
3. Kết bài:
- Nhân vật “tôi” là hình ảnh đẹp của một tâm hồn trẻ thơ trong sáng, sống tình cảm, biết yêu thương và tha thứ.
- Qua hành trình cảm xúc của nhân vật, truyện ngắn truyền đi thông điệp sâu sắc:
- Yêu thương có thể xuất phát từ những điều nhỏ bé nhất.
- Sự tha thứ và lòng tốt có sức lan tỏa kỳ diệu, mang đến hạnh phúc cho chính bản thân và cộng đồng.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 11
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Mùa hè năm đó là mùa hè quê ngoại.
Cuối năm lớp chín, tôi học bù đầu, người xanh như tàu lá. Ngày nào mẹ tôi cũng mua bí đỏ về nấu canh cho tôi ăn. Mẹ bảo bí đỏ bổ óc, ăn vào học bài sẽ mau thuộc. Trước nay, tôi vốn thích món này. Bí đỏ nấu với đậu phộng thêm vài cọng rau om, ngon hết biết. Nhưng ngày nào cũng phải buộc ăn món đó, tôi đâm ngán. Hơn nữa, dù dạ dày tôi bấy giờ tuyền một màu đỏ, trí nhớ tôi vẫn chẳng khá lên chút nào. Tôi học trước quên sau, học sau quên trước. Vì vậy tôi phải học gấp đôi những đứa khác.
Tối, tôi thức khuya lơ khuya lắc. Sáng, tôi dậy từ lúc trời còn tờ mờ. Mắt tôi lúc nào cũng đỏ kè. Ba tôi bảo:
- Nhất định đầu thằng Chương bị hở một chỗ nào đó. Chữ nghĩa đổ vô bao nhiêu rớt ra bấy nhiêu. Thế nào sang năm cũng phải hàn lại.
Mẹ tôi khác ba tôi. Mẹ không phải là đàn ông. Mẹ không nỡ bông phèng trước thân hình còm nhom của tôi. Mẹ xích lại gần tôi, đưa tay nắn nắn khớp xương đang lồi ra trên vai tôi, bùi ngùi nói:
- Mày học hành cách sao mà càng ngày mày càng giống con mắm vậy Chương ơi !
Giọng mẹ tôi như một lời than. Tôi mỉm cười trấn an mẹ:
- Mẹ đừng lo! Qua kỳ thi này, con lại mập lên cho mẹ coi!
Không hiểu mẹ có tin lời tôi không mà tôi thấy mắt mẹ rưng rưng. Thấy mẹ buồn, tôi cũng buồn lây. Nhưng tôi chẳng biết cách nào an ủi mẹ. Tôi đành phải nín thở nuốt trọn một tô canh bí đỏ cho mẹ vui lòng.
Dù sao, công của tôi không phải là công cốc. Những ngày thức khuya dậy sớm đã không phản bội lại tôi. Kỳ thi cuối năm, tôi xếp hạng khá cao.
Ba tôi hào hứng thông báo:
- Sang năm ba sẽ mua cho con một chiếc xe đạp.
Mẹ tôi chẳng hứa hẹn gì. Mẹ chỉ “thưởng” tôi một cái cốc trên trán:
- Cha mày! Từ nay lo mà ăn ngủ cho lại sức nghe chưa!
Ba tôi vui. Mẹ tôi vui. Nhưng tôi mới là người vui nhất. Tôi đàng hoàng chia tay với những tô canh bí đỏ mà không sợ mẹ tôi thở dài. Dù sao thì cũng cảm ơn mày, cơn ác mộng của tao, nhưng bây giờ xin tạm biệt nhé! Tôi cúi đầu nói thầm với trái bí cuối cùng đang nằm lăn lóc trong góc bếp trước khi vung tay cốc cho nó một phát.
(Trích Hạ đỏ, Nguyễn Nhật Ánh, Nxb Trẻ, 2019)
Câu 1. Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ mấy? Ai là người kể chuyện?
Câu 2. Theo văn bản, vì sao nhân vật “tôi” phải học gấp đôi những đứa khác?
Câu 3. Trong đoạn văn sau câu nào là câu rút gọn? Việc sử dụng câu rút gọn trong đoạn văn đó có tác dụng gì?
“Nhất định đầu thằng Chương bị hở một chỗ nào đó. Chữ nghĩa đổ vô bao nhiêu rớt ra bấy nhiêu. Thế nào sang năm cũng phải hàn lại”.
Câu 4. Chi tiết “Thấy mẹ buồn, tôi cũng buồn lây. Nhưng tôi chẳng biết cách nào an ủi mẹ. Tôi đành phải nín thở nuốt trọn một tô canh bí đỏ cho mẹ vui lòng” cho thấy tình cảm gì của nhân vật “tôi” đối với người mẹ của mình?
Câu 5. Qua văn bản trên, em rút ra được những thông điệp gì?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Từ nội dung đoạn trích phần đọc - hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của em về nhân vật “tôi”.
Câu 2. (4,0 điểm)
Trong thời đại công nghệ 4.0, sự giao lưu, hội nhập giữa các nền văn hóa càng trở nên phổ biến. Một bộ phận giới trẻ chưa chú ý tới việc giữ gìn và bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Hãy viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của em để giải quyết vấn đề trên.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Chú ý lời của người kể chuyện
Cách giải:
- Ngôi kể thứ nhất
- Người kể: tôi (nhân vật Chương)
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Cách giải:
Việc nhân vật tôi phải học học gấp đôi những đứa khác vì: “Tôi học trước quên sau, học sau quên trước”
Câu 3.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về câu rút gọn
Cách giải:
- Câu rút gọn: Thế nào sang năm cũng phải hàn lại.
- Tác dụng: Làm cho câu ngắn gọn, thông tin dược nhanh, tránh lặp lại những từ ngữ đã lặp lại ở những câu trước.
Câu 4.
Phương pháp:
Dựa vào ngữ cảnh để xác định tình cảm của nhân vật “tôi”
Cách giải:
Chi tiết “Thấy mẹ buồn, tôi cũng buồn lây. Nhưng tôi chẳng biết cách nào an ủi mẹ. Tôi đành phải nín thở nuốt trọn một tô canh bí đỏ cho mẹ vui lòng” cho thấy tình cảm của nhân vật tôi đối với người mẹ của mình:
+ Sự yêu thương và quan tâm: Dù không biết cách nào để an ủi mẹ, nhân vật "tôi" vẫn cố gắng làm điều gì đó để mẹ vui lòng. Hành động nín thở nuốt trọn tô canh bí đỏ dù có thể không thích món ăn này cho thấy "tôi" rất yêu thương và quan tâm đến mẹ, luôn sẵn sàng làm bất cứ điều gì để mẹ được vui vẻ.
+ Lòng hiếu thảo: Nhân vật "tôi" muốn mẹ vui lòng và sẵn sàng làm những việc dù nhỏ bé nhưng có ý nghĩa để làm mẹ hạnh phúc. Điều này cho thấy lòng hiếu thảo của "tôi" đối với mẹ, luôn muốn đáp lại sự chăm sóc và tình yêu thương của mẹ bằng những hành động thiết thực.
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra thông điệp phù hợp
Cách giải:
Những thông điệp rút ra từ văn bản:
+ Dù có gặp khó khăn, sự kiên trì và nỗ lực sẽ giúp bạn vượt qua và đạt được thành quả xứng đáng.
+ Tình cảm gia đình là điểm tựa, là động lực tinh thần mạnh mẽ để mỗi người vượt qua những thử thách, chông gai trên đường đời.
+ Con cái phải biết yêu thương, quan tâm, biết ơn và hiếu thảo với cha mẹ.
PHẦN II.
Câu 1.
Phương pháp:
1.1. Yêu cầu chung:
Đảm bảo thể thức đoạn văn; hướng về chủ đề, suy nghĩ mới mẻ, diễn đạt trôi chảy bằng ngôn ngữ của mình, giàu chất văn chương, đảm bảo tính liên kết, không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
1.2. Yêu cầu cụ thể:
a) Đảm bảo thể thức đoạn văn: Học sinh trình bày đoạn văn hoàn chỉnh, có câu chủ đề, có các câu phát triển chủ đề.
b) Xác định đúng vấn đề: Tâm trạng của nhân vật “tôi””
Cách giải:
* Mở đoạn:
- Trong truyện ngắn “Hạ đỏ” của Nguyễn Nhật Ánh và đặc biệt là đoạn trích “Mùa năm đó ở quê ngoại….”, tác giả đã thể hiện thành công tâm trạng của nhân vật “tôi”. Trong bức tranh mùa hè ấy, tôi là một nhân vật có nhiều áp lực và lo lắng nhưng luôn kiên trì và nỗ lực.
* Thân đoạn:
- Chương là một cậu bé chịu nhiều áp lực vào mùa thi
+ Mặc dù mùa hè thường là thời gian của niềm vui và tự do, nhưng đối với tôi, nó biến thành một thử thách không nhỏ. Tôi cảm thấy căng thẳng và mệt mỏi khi phải học bù để đuổi kịp chương trình “tôi phải học gấp đôi những đứa khác.”, “Tối, tôi thức khuya lơ khuya lắc. Sáng, tôi dậy từ lúc trời còn tờ mờ. Mắt tôi lúc nào cũng đỏ kè”
+ Món canh bí đỏ, dù từng là một món ngon yêu thích, bây giờ lại trở thành nỗi ám ảnh “ngày nào cũng phải buộc ăn món đó, tôi đâm ngán”. Mỗi ngày, tôi phải chịu sức ép từ gia đình, đặc biệt là ba. Ba tôi bảo “Nhất định đầu thằng Chương bị hở một chỗ nào đó. Chữ nghĩa đổ vô bao nhiêu rớt ra bấy nhiêu”, nhưng mẹ lại là người hiểu và an ủi tôi “lại gần tôi, đưa tay nắn nắn khớp xương đang lồi ra trên vai tôi”. Dù vậy, tôi vẫn cảm thấy phải cố gắng hơn để không làm mẹ buồn “Tôi đành phải nín thở nuốt trọn một tô canh bí đỏ cho mẹ vui lòng.”
- Nhưng “tôi” là cậu học trò luôn bền bỉ, cố gắng và kiên trì trong học tập. Sau những nỗ lực không ngừng, tôi đã vượt qua kỳ thi và nhận được sự tự hào và ủng hộ từ gia đình bởi “Kỳ thi cuối năm, tôi xếp hạng khá cao.”.
- Cảm giác hạnh phúc và thoải mái khi được giải thoát khỏi áp lực và nỗi lo âu của ngày trước là điều không thể diễn tả “Ba tôi vui. Mẹ tôi vui. Nhưng tôi mới là người vui nhất”.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhân vật Chương được khắc hoạ thông qua việc miêu tả ngoại hình, hành động và tính cách…
* Kết đoạn: - Khẳng định lại vấn đề
- Liên hệ bản thân.
c) Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo, hấp dẫn.
d) Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, đặt câu.
Câu 2.
Phương pháp:
2.1. Yêu cầu chung
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về vấn đề cần giải quyết: Trong thời đại công nghệ 4.0, sự giao lưu, hội nhập giữa các nền văn hóa càng trở nên phổ biến. Một bộ phận giới trẻ chưa chú ý tới việc giữ gìn và bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
2.2. Yêu cầu cụ thể
a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận: Trình bày đầy đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Đảm bảo sự liên kết câu, liên kết đoạn.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trong thời đại công nghệ 4.0, một bộ phận giới trẻ chưa chú ý tới việc giữ gìn và bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Bài làm cần đảm bảo các nội dung cơ bản sau:
- Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu
Cách giải:
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận, sự cần thiết của vấn đề cần bàn luận.
2. Thân bài:
a. Giải thích vấn đề nghị luận
- Văn hóa truyền thống là những giá trị tinh thần được hình thành từ lâu đời, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó là những phong tục, tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, lối sống, cách ứng xử… của ông cha ta từ ngàn xưa. Những giá trị văn hóa đó đã tạo nên bản sắc riêng của mỗi dân tộc giúp chúng ta phân biệt được với các dân tộc khác trên thế giới.
b. Phân tích vấn đề
* Thực trạng
+ Trong thời đại 4.0 toàn cầu hóa, văn hóa truyền thống đang phải đối mặt với nguy cơ mai một và biến dạng. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống đang bị lãng quên, thay vào đó là sự du nhập của văn hóa ngoại lai. Một số phong tục tập quán tốt đẹp đang dần biến mất, các lễ hội truyền thống bị thương mại hóa, ngôn ngữ bị pha tạp...đặc biệt là ở các trung tâm đô thị.
+ Một số bạn trẻ lãng quên những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, chạy theo những thứ phù phiếm, xa hoa hay những danh lợi vật chất, sa đà vào mạng xã hội….
* Nguyên nhân
- Thực trạng trên xuất phát từ sự tác động của quá trình hội nhập và giao lưu văn hóa, sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội, sự thiếu quan tâm, hiểu biết của một bộ phận giới trẻ về văn hóa truyền thống, sự buông lỏng quản lý của một số cơ quan chức năng….
* Hậu quả
- Nếu không có biện pháp bảo vệ kịp thời, văn hóa truyền thống sẽ dần mai một, làm mất đi bản sắc dân tộc, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước. Giới trẻ sẽ đánh mất cội nguồn, thiếu đi những giá trị tinh thần để làm chỗ dựa trong cuộc sống…
Học sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp, triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách để làm rõ vấn đề nghị luận, bảo đảm hợp lí, thuyết phục, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
* Ý kiến trái chiều và phản bác
- Ý kiến trái chiều: Một số người cho rằng giữ gìn truyền thống văn hóa có từ xa xưa là lỗi thời, không phù hợp với xã hội hiện đại.
- Phản bác: Giữ gìn truyền thống không có nghĩa là chống lại hiện đại có thể bổ trợ cho nhau, tạo nên sức mạnh mới.
Bằng chứng: Nhiều di sản văn hóa được số hóa như tranh Đông Hồ và múa rối nước, được quảng bá rộng rãi trên toàn cầu.
* Đề xuất giải pháp khả thi và có tính thuyết phục:
- Giáo dục:
+ Đưa văn hóa dân gian vào chương trình học và tổ chức các buổi ngoại khóa minh chứng “ngày hội văn hóa dân gian” tại các trường học thu hút đông đảo học sinh tham gia.
+ Tích cực tìm hiểu, học hỏi và trân trọng các giá trị văn hóa truyền thống thông qua việc đọc sách, tham gia các hoạt động văn hóa, lễ hội truyền thống, tìm hiểu về lịch sử, phong tục tập quán của dân tộc.
- Ứng dụng công nghệ: số hóa các di sản văn hóa và quảng bá trên các mạng xã hội. Minh chứng: Nhiều video về văn hóa Việt Nam được đăng tải trên TikTok, Youtube thu hút nhiều triệu lượt xem…
- Khuyến khích sáng tạo: Tích hợp truyền thống và hiện đại để tạo ra các sản phẩm văn hóa phù hợp với giới trẻ.
Nhà nước: Ban hành chính sách bảo tồn và phát triển di sản văn hóa.
• Liên hệ bản thân: …..
Học sinh có thể đề xuất một hoặc nhiều giải pháp, trình bày theo nhiều hướng, bảo đảm hợp lí, thuyết phục, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
3. Kết bài: Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 12
Đề thi
PHẦN I. ĐỌC - HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
MỘT LẦN VÀ MÃI MÃI
(Trích)
Cứ trưa trưa, bọn trẻ chúng tôi lại rủ nhau tụ tập dưới tán những cây bàng ở giữa làng. Thằng Bá, một thằng mập ú, khôn ngoan và lanh lợi nhất trong bọn, đứng ra cầm đầu chúng tôi. Nó khinh khỉnh đưa mắt lướt qua để nhẩm đếm số lượng rồi phân chúng tôi ra làm hai nhóm. Xong đâu đấy, nó đưa hai ngón tay vào mồm huýt lên một hồi còi. Lập tức, chúng tôi xông vào cuộc quần nhau chí tử với quả bóng được bện bằng giẻ rách. Khi thấy chúng tôi mệt lử, thằng Bá lại đưa hai ngón tay vào mồm huýt lên một hồi còi nữa: ấy là hiệu lệnh cho nghỉ. Chúng tôi, đứa nào đứa nấy ngồi bệt xuống gốc cây bàng thở hổn hển. Một lúc sau, Bá lại đưa hai ngón tay vào mồm huýt lên một hồi còi nữa. Đó là lệnh bảo chúng tôi đến quán bà Bảy Nhiêu mua kẹo, mua đường "bồi dưỡng". Lập tức đứa nào đứa nấy đều thò tay vào túi lôi ra những tờ bạc tín phiếu(1) nát nhàu mà chúng tôi cạy cục xin mẹ rồi chạy ù đi...
Quán bà Bảy Nhiêu nằm gần một khu mả đá, được bao bọc bởi những hàng rào bàn chải. Đó là một cái chòi tranh rách nát như vậy. Trong chòi có đặt một cái bàn gỗ đã cũ, hai cái ghế băng cũng đã già nua như vậy, một cái đã hỏng mất một chân. Trên chiếc bàn gỗ có xếp mấy lọ kẹo, đường táng, những thứ mà bà con nông dân tự làm lấy.
Bà Bảy Nhiêu sống có một mình. Người trong làng không ai rõ chồng con bà đã mất từ lúc nào, mà cũng có thể là bà chưa hề có chồng con gì cả. Trước đây, mắt bà còn tinh nhưng độ
hai năm nay bà bị lòa. Người ta bảo nhà bà ở gần động cát quá, nên gió thổi cát vào mắt nhiều lần, lâu ngày mà nó vậy.
Chúng tôi nhao nhao:
- Bán cho con một đường, bà.
- Bán cho con hai viên kẹo bi, bà.
- Bán cho con một táng đường, một viên kẹo bi, bà.
Bà Bảy Nhiêu run run đưa bàn tay trái lên cầm tiền của chúng tôi, bỏ ngay vào cái cơi trầu bà đặt dưới bàn, tay phải quờ quờ lục vào các lọ lấy kẹo, đường cho từng đứa. Hầu như không bao giờ bà đếm tiền. Bà tin chúng tôi.
Trưa hôm đó, sau hiệu lệnh của thằng Bá, tôi cho tay vào túi. Những tờ bạc lẻ mà mẹ tôi cho đã biến đâu mất. Tôi ngần ngừ một lúc nhưng nỗi thèm ngọt đã khiến tôi lủi thủi theo sau các bạn mong được "ăn ghẹ" của một đứa nào đấy. Giữa đường, nghĩ xấu hổ, tôi quay lại... Sao mày không đi mua đường, mua kẹo? - Thằng Bá đi phía sau hỏi tôi.
- Tao không có tiền.
Bá cười sằng sặc:
- Chớ hồi giờ tao đâu có tiền mà vẫn mua được kẹo.
Tôi ngạc nhiên:
- Chớ lâu nay mày mua bằng thứ gì?
Bá không trả lời ngay. Nó kéo tôi sát lại gần nó, rút trong túi ra một tờ giấy đã viết, được cắt gọn gẽ như một tờ giấy bạc, nói thì thầm:
- Tao chuyên đưa bà Bảy những tờ giấy này. Bả mù, bả đâu có thấy - Nó ngừng một lát rồi tiếp - tao có ba tờ, tao cho mày một tờ. Mày đợi tụi nó mua xong, cuối cùng mình mới mua.
Tôi ngần ngại một lát nhưng cuối cùng cũng cầm tờ giấy lộn. Tôi có cảm giác khi cầm tờ "bạc giả" của tôi, mắt bà Bảy Nhiêu như có tia sáng lóe lên. Nhưng bà không nói gì, vẫn bỏ nó vào cơi trầu và đưa táng đường đen cho tôi.
Ngày hôm sau, sự việc vẫn lặp lại y như ngày hôm trước. Có điều, khi tôi và Bá đến quán thì không có chuyện mua bán xảy ra. Các bạn đến trước đều đứng tụm lại giữa quán nhìn sững vào trong nhà bà Bảy. Trong nhà có tiếng người lao xao. Một bác nông dân quen biết trong làng đang ngồi trước cửa vừa giở cơi trầu của bà Bảy ra đếm tiền, vừa nói vọng ra:
- Tụi bay về đi. Bà Bảy trúng gió chết hồi hôm rồi.
Chúng tôi sững sờ, đứng im không nhúc nhích. Bác nông dân lẩm bẩm điều gì đó rồi quay vô nhà nói với ai đó:
- Số tiền này vừa mua đủ một chiếc chiếu gói bả đấy - Im lặng một lúc rồi bác tiếp - Bả mù mà tinh thật. Bọn xỏ lá nào đưa giấy lộn cho bả, bả cũng nhận rồi gói riêng ra…
Tôi và Bá đứng như chôn chân xuống đất. Sống lưng lạnh buốt.
Từ đó đến nay đã bốn mươi năm trôi qua. Bạn bè của tôi không còn đủ đông như trước. Mấy chục năm chiến tranh đã xáo trộn chúng tôi. (…) Riêng tôi may mắn, được đi tập kết, được học hành để trở thành một nhà văn. Cứ mỗi lần về quê, tôi lại rủ Bá ra thăm mả bà Bảy Nhiêu. Cả hai đều đứng lặng, miệng lầm rầm cầu mong bà tha thứ... Trong đời, có những điều ta lầm lỡ, không bao giờ có dịp để sửa chữa được nữa.
(Thanh Quế, trích 65 truyện ngắn hay dành cho thiếu nhi)
Chú thích:
Bạc tín phiếu: tờ bạc dùng ở vùng tự do Khu V trong khángN chiến chống Pháp.
Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản.
Câu 2. Chỉ ra một phép liên kết hình thức được sử dụng trong đoạn văn in đậm của văn bản.
Câu 3. Em có nhận xét gì về nhân vật Bà Bảy trong văn bản?
Câu 4. Em hiểu như thế nào về câu văn “Trong đời, có những điều ta lầm lỡ, không bao giờ có dịp để sửa chữa được nữa”?
Câu 5. Những thông điệp được gợi ra từ văn bản trên là gì?
PHẦN II: VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nội dung, chủ đề đoạn trích truyện “Một lần và mãi mãi” đã dẫn ở phần đọc hiểu.
Câu 2: Trong thời kì hội nhập toàn cầu, giới trẻ đứng trước nhiều lựa chọn về cách sống và học tập. Theo em, nên “chủ động học hỏi để hòa nhập với thế giới” hay “giữ gìn bản sắc để không bị hòa tan”?
Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của em.
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Chú ý lời của người kể chuyện
Cách giải:
Truyện được kể ở ngôi thứ nhất
Câu 2.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các phép liên kết trong câu
Cách giải:
- Phép lặp: lặp từ “chúng tôi”, “nó”
- Phép thế: từ “nó” thế cho “thằng Bá”
Câu 3.
Phương pháp:
Đọc và chú ý các chi tiết miêu tả nhân vật bà Bảy
Cách giải:
- Bà bảy là người phụ nữ có hoàn cảnh bất hạnh: sống một mình, mù lòa, chết vì trúng gió trong cô quạnh
- Bà Bảy là người có tấm lòng bao dung, nhân hậu:
+ Luôn tin tưởng vào bọn trẻ: không bao giờ đếm tiền
+ Dù biết bọn trẻ dùng giấy lộn để mua kẹo bà vẫn không vạch trần hay trách móc chúng
+ Bà là tấm gương về lối sống bao dung, nhân hậu
Câu 4.
Phương pháp:
Dựa vào ngữ cảnh để xác định
Cách giải:
Câu văn: “Trong đời, có những điều ta lầm lỡ, không bao giờ có dịp để sửa chữa được nữa” được hiểu là:
+ Trong cuộc đời, có những sai lầm dù có muốn nhưng cũng không
có cơ hội để sửa chữa khiến ta sống mãi trong sự hối hận, day dứt
+ Nhắc nhở mỗi chúng ta về lối sống trung thực, tử tế, không làm
người khác bị tổn thương, tránh những hành động sai lầm để không phải hối hận, day dứt khi không có cơ hội sửa chữa
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra thông điệp phù hợp
Cách giải:
- Giá trị của sự trung thực và lòng tin: Câu chuyện nhấn mạnh tầm quan trọng của sự trung thực trong các mối quan hệ giữa người với người
- Sự hối hận và lương tâm: lương tâm luôn là một phần quan trọng
trong mỗi con người và nó sẽ trỗi dậy khi chúng ta làm điều sai trái
- Sự tha thứ và lòng bao dung
- Những sai lầm không thể sửa chữa: có những hành động, dù nhỏ, cũng có thể gây ra hậu quả lớn và không thể nào bù đắp được
PHẦN II
Câu 1.
Phương pháp:
- Đảm bảo cấu trúc và dung lượng đoạn văn.
- Đảm bảo yêu cầu nội dung: Phân tích nội dung, chủ đề truyện
HS có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần đưa ra luận điểm chính xác, lập luận chặt chẽ, sử dụng bằng chứng thuyết phục.
Cách giải:
* Mở đoạn:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhận định khái quát về tác phẩm: câu
chuyện chứa đựng bài học quý giá trong cuộc sống.
* Thân đoạn: Phân tích nội dung, chủ đề của truyện:
- Nội dung của tác phẩm: Truyện xoay quanh kỷ niệm tuổi thơ của nhân vật "tôi" và bạn bè với bà Bảy Nhiêu- một người phụ nữ nghèo khổ, mù lòa, bán kẹo, bán đường cho bọn trẻ trong làng. Trong một lần vì đánh rơi mất tiền, không có tiền mua kẹo nên nhân vật “tôi” đã được Bá mách cho cách dùng giấy lộn để mua kẹo của bà Bảy. Vì nỗi thèm ngọt mà nhân vật “tôi” đã làm theo Bá. Bà Bảy dù nhận ra hành động của “tôi” và Bá nhưng vẫn bán kẹo cho chúng như không có chuyện gì. Khi “tôi” và Bá định lặp lại chuyện đó thì biết bà Bảy đã qua đời. Cả hai bàng hoàng, sững sờ. Để rồi 40 năm trôi qua, cứ mỗi lần về quê, “tôi” lại rủ Bá ra thăm mả bà Bảy Nhiêu cầu mong bà tha thứ...và rút ra một bài học sâu sắc: Trong đời, có những điều ta lầm lỡ, không bao giờ có dịp để sửa chữa được nữa.
- Chủ đề: Từ câu chuyện giản dị này, nhà văn thể hiện một cách tinh tế, chân thực sự ăn năn, hối hận của nhân vật “tôi” và Bá, tấm lòng bao dung, nhân hậu của nhân vật bà Bảy Nhiêu, từ đó đặt ra nhiều vấn đề đáng suy ngẫm về lỗi lầm, sự ân hận và lối sống tử tế trong cuộc sống.
- Các yếu tố nghệ thuật góp phần thể hiện chủ đề:
+ Ngôi kể thứ nhất.
+ Nhan đề.
+ Xây dựng tình huống truyện bất ngờ.
* Kết đoạn: Khẳng định lại chủ để và nêu thông điệp gợi ra từ chủ đề.
Câu 2.
Phương pháp:
a. Đảm bảo cấu trúc, dung lượng bài văn nghị luận.
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài
khái quát được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận thể hiện quan điểm, suy nghĩ: Kết hợp hài hòa hai yếu tố.
c. Triển khai vấn đề
HS có thể viết bài theo nhiều cách trên cơ sở kết hợp được lý lẽ và bằng chứng để tạo tính chặt chẽ, logic của quan điểm nêu ra, sau đây là một hướng giải quyết.
Cách giải:
I. Mở bài:
- Nêu vấn đề, trích dẫn câu hỏi. - Nêu quan điểm của bản thân: cần chủ động học hỏi để hòa nhập với
thế giới, song hành giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
II. Thân bài: Cần triển khai các ý:
1. Giải thích
- “Chủ động học hỏi để hòa nhập với thế giới”: Là tinh thần sẵn sàng tiếp cận cái mới, tiếp thu tri thức toàn cầu, trau dồi kỹ năng để thích nghi và phát triển trong môi trường quốc tế. -“Giữ gìn bản sắc để không bị hòa tan”: Là sự kiên định, trân trọng và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc như lòng yêu nước, tính trung thực, lối sống thủy chung, nghĩa tình…, không để bản thân đánh mất cội nguồn trong quá trình tiếp xúc với thế giới. -> Sự kết hợp giữa “chủ động học hỏi để hòa nhập thế giới “với”
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc” là lựa chọn tích cực và phù hợp nhất với giới trẻ trong thời đại toàn cầu hóa, giúp giới trẻ trở thành những công dân toàn cầu năng động, sáng tạo nhưng vẫn mang đậm bản sắc Việt Nam.
2. Bàn luận khẳng định.
a. Ý nghĩa của việc “chủ động học hỏi để hòa nhập với thế giới”:
+ Mở rộng được tầm nhìn, nâng cao kiến thức và hiểu biết về thế
giới.
+ Tiếp cận được những phương pháp học tập và làm việc hiệu quả.
+ Tăng cơ hội việc làm và phát triển sự nghiệp trong môi trường quốc tế.
+ Góp phần vào sự phát triển chung của đất nước thông qua việc ứng dụng những tiến bộ của thế giới.
+ Góp phần xây dựng thế hệ công dân toàn cầu năng động, góp phần đưa hình ảnh đất nước vươn xa. (Bằng chứng).
b. Ý nghĩa của việc “Giữ gìn bản sắc để không bị hòa tan”
- Bản sắc văn hóa dân tộc là những giá trị cốt lõi không thể thiếu của mỗi con người Việt Nam. Cần phải giữ gìn để truyền cho các thế hệ mai sau.
- Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là biểu hiện của lòng yêu nước, của lòng tự tôn dân tộc, khẳng định vị thế của dân tộc trên trường quốc tế.
- Giữ gìn văn hóa dân tộc giúp xây dựng tình đoàn kết, thúc đẩy sự cố gắng phát triển đất nước.
c. Mối quan hệ giữa hòa nhập và giữ gìn bản sắc.
- Không đối lập, mà cần bổ sung lẫn nhau.
- Hòa nhập mà không hòa tan: biết chọn lọc, tiếp thu cái hay cái đẹp, đồng thời giữ được những gì là tinh túy của dân tộc; tiếp thu cái mới, cái hiện đại trên nền tảng văn hóa dân tộc.
3. Phản bác ý kiến trái chiều
- Ý kiến trái chiều: Có người cho rằng việc gìn giữ bản sắc văn hóa là quan trọng nhất, còn việc chủ động học hỏi để hòa nhập với thế giới chỉ là điều thứ yếu.
- Phản biện:
+ Đây là ý kiến không đúng.
+ Nếu chỉ chăm chăm giữ gìn bản sắc mà không chủ động học hỏi
thì cũng giống như xây một tường thành kín mít, không đón được
ánh sáng mới. Dễ trở nên bảo thủ, lạc hậu, khó thích nghi với sự thay đổi liên tục của thế giới, thiếu kĩ năng toàn cầu, mất đi cơ hội phát triển bản thân và đóng góp cho đất nước.
+ Hòa nhập không có nghĩa là hòa tan – đó là sự tiếp thu có chọn lọc và bản lĩnh cá nhân sẽ giúp phân biệt rõ đâu là giá trị cần giữ, đâu là thứ nên thay đổi.
4. Bài học nhận thức, hành động.
- Nhận thức: Học sinh cần hiểu rằng hòa nhập là xu thế tất yếu của
thời đại, nhưng phải đi kèm với sự gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.
- Hành động:
+ Chủ động học ngoại ngữ, kỹ năng mềm, tìm hiểu, tiếp thu có chọn lọc văn hóa thế giới.
+ Đồng thời, trau dồi kiến thức về lịch sử - văn hóa Việt Nam, giữ
gìn tiếng Việt, tôn trọng truyền thống dân tộc...
III. Kết bài:
- Khẳng định lại tính đúng đắn của lựa chọn.
- Liên hệ bản thân
- Đưa ra thông điệp.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 13
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
ĐỀN NGỌC SƠN, CẦU THÊ HÚC - BIỂU TƯỢNG VĂN HOÁ ĐẤT THỦ ĐÔ
“... Cầu Thê Húc màu son, cong cong như con tôm, dẫn vào đền Ngọc Sơn. Mải đền lấp ló bên gốc đa già, rễ lá xum xuê ... ". Đó là những hình ảnh trong bài tập đọc lớp 1 có lẽ đã quá thân quen với bao lớp người Việt. Cứ như thế, hinh ảnh đền Ngoc Sơn, cầu The Húc chẳng biết tự bao giờ đã ăn sâu vào tiềm thức người Việt, đến nỗi, có khi chưa một lần đặt chân đến đất thủ đô, nhưng hễ nghe nhắc đến hồ Hoàn Kiếm, người ta lại thấy thấp thoáng đâu đỏ bóng chiếc cầu son, ngôi đền cổ ẩn hiện trong tâm hồn...”

(Hình ảnh về cầu Thê Húc và đền Ngọc Sơn)
Nét đẹp nên thơ của Đền Ngọc Sơn và cầu Thê Húc Tương truyền, trên hồ Tả Vọng (nay là Hoàn Kiếm) có gò đất cao, nơi các tiên nữ thường về đây ca hát. Xưa kia gọi đây là Ngọc Tượng Sơn, vua Lý Thái Tổ khi dời đô ra Thăng Long đặt tên cho ngôi chùa đã có tại đây là Ngọc Tượng. Do tồn tại lâu ngày, ngôi chùa bị sụp đổ. Đến thời Vĩnh Hựu nhà Lê (1735-1739), chúa Trịnh Giang đã cho dựng cung Thuỵ Khánh, đắp hai quả núi đất ở trên bờ phía đông đối diện với Ngọc Tượng gọi là núi Đào Tai và Ngọc Bội.
Cuối đời Lê, cung Thuỵ Khánh bị Lê Chiêu Thống phá huỷ. Một nhà từ thiện tên là Tín Trai đã lập ra một ngôi chùa gọi là chùa Ngọc Sơn trên nền cung Thuỵ Khánh cũ. Năm Thiệu Trị thứ ba (1843), một hội từ thiện đã bỏ gác chuông, xây lại các gian điện chính, các dãy phòng hai bên, đưa tượng Văn Xương Đế Quân - ngôi sao chủ việc văn chương khoa cử và đức Trần Hưng Đạo - vị anh hùng có công phá quân Nguyên thế kỷ 13 vào thờ, đổi tên là đền Ngọc Sơn. [...]
Nhắc đến đền Ngọc Sơn mà không nhắc đến cầu Thê Húc thì quả là một thiếu sót lớn. [...] Cầu Thê Húc (nghĩa là giữ lại ánh sáng đẹp của mặt trời) gồm 15 nhịp, có 32 chân cột gỗ tròn xếp thành 16 đôi, mặt cầu lát ván, thành sơn màu đỏ sẫm, chữ Thê Húc được thếp vàng. Xưa kia, cầu Thê Húc được sơn màu đỏ và làm bằng gỗ rất thô sơ. Tuy nhiên, sau sự cố gãy cầu năm 1952, thị trưởng Hà Nội lúc đó là Thẩm Hoàng Tín đã cho phá bỏ cây cầu cũ, xây dựng lại một cây cầu mới dựa trên bản thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Diệm. Cầu vẫn được thiết kế theo dáng vòng cung, nhưng có độ cong lớn hơn cây cầu cũ và vẫn giữ nguyên 16 hàng cọc. Tuy các dầm ngang và dọc đã được đúc bằng bê tông nhưng mặt cầu và thành cầu vẫn được làm bằng gỗ.
Ngày nay, cầu Thê Húc vẫn được người dân thủ đô xem là biểu tượng của mặt trời, sự sống và hạnh phúc không chỉ bởi sắc đỏ rực rỡ mà còn bởi cầu hướng về phía Đông, nơi mặt trời mọc để đón nhận toàn bộ sinh khi tươi sáng của một ngày mới. Cụm di tích đền Ngọc Sơn - cầu Thê Húc hiện nay được xem là một trong những điểm đến rất thu hút khách du lịch khi có dịp ghé thăm đất thủ đô Hà Nội, một không gian cổ kính, trầm mặc hương khói cho ta được thư thái, tĩnh tâm.
(Dẫn theo Đền Ngọc Sơn cầu Thê Húc - biểu tượng văn hoá đất thủ đô, bài đăng ngày 06/10/2019)
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định kiểu văn bản thông tin của đoạn trích trên.
Câu 2. (0,5 điểm) Đoạn trích trên sử dụng cách trình bày thông tin nào?
Câu 3. (1,0 điểm) Trình bày ý nghĩa nhan đề của đoạn trích.
Câu 4. (1,0 điểm) Hiệu quả của các phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 5. (1,0 điểm) Từ những hiểu biết về lịch sử và giá trị của cụm di tích đền Ngọc Sơn - cầu Thê Húc, theo em, chúng ta cần làm gì để quảng bá hình ảnh văn hoá dân tộc đến bạn bè quốc tế?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật bạn Ga-ro-nê trong đoạn trích sau:
Tóm tắt: Những tấm lòng cao cả là cuốn nhật kí của cậu bé En-ri-cô người Ý 11 tuổi, một học sinh lớp ba ở thành phố Tu-rin, nước Ý. Xuyên suốt năm học, En-ri-cô ghi lại những bức thư của bố, mẹ, những truyện đọc hàng tháng, những kỉ niệm sâu sắc, cảm động về thầy giáo, cô giáo, bạn bè tuổi thơ,... Trong lớp, En-ri-cô có những người bạn mang nhiều phẩm chất đáng quý như: Đề-rốt-xi thông minh và gương mẫu, Nê-li tật nguyền nhưng giàu nghị lực... và đoạn trích sau En-ri-cô kể về bạn Ga-ro-nê.
Chúng tôi chỉ được nghỉ có hai ngày, ấy thế mà tôi tưởng như đã trải qua một thời gian vô tận không được gặp Ga-ro-nê. Càng hiểu cậu, tôi càng yêu cậu; cả lớp tôi đều có thiện cảm với cậu, trừ những đứa độc ác, vì Ga-ro-nê chống lại những hành động độc ác của chúng; mỗi khi có một đứa lớn định trêu ghẹo hay hà hiếp một đứa bé, mà đứa bé gọi Ga-ro-nê đến thì đứa lớn kia buộc phải đứng yên ngay.
Bố Ga-ro-nê là thợ máy xe lửa. Vì bị ốm liền hai năm, nên Ga-ro-nê đi học hơi chậm. Nay cậu là người lớn và khoẻ nhất lớp; cậu có thể nhấc cái ghế dài chỉ một tay thôi... Khoẻ vậy, mà lại tốt nữa... Ai hỏi bất cứ cái gì: con dao, cây bút, cái tẩy, tờ giấy, cậu vui vẻ cho mượn hoặc cho hẳn ngay. I....] Thủ Bảy tuần trước, cậu đã cho một học sinh lớp Một hai xu, vì cậu này để ai lấy mất tiền, không có để mua cuốn vở. Giờ Ga-ro-nê đang bận viết một bức thư dài tâm trang trên một loại giấy có nền hoa to màu rực rỡ, để mừng sinh nhật của mẹ. Bà mẹ của Ga-ro-nễ, một người cao, béo, rất dễ mến, thường hay đến trường đón con. Thầy giáo nhìn Ga- ro-nệ vẻ hiền từ và mỗi khi đến gần thầy lại tát yêu vào má cậu. Tất nhiên, tôi yêu bạn Ga-ro- nê lắm! Tôi rất vui thích được nắm chặt bàn tay to tướng của cậu trong tay mình. Tôi tin chắc rằng cậu sẽ không ngại liều mình để cứu một người, cậu sẽ đem hết sức mình để che chở cho bạn: cứ nhìn vào đôi mắt của Ga-ro-nê thì thấy rõ điều đó! Giọng nói của cậu tuy hơi cộc, nhưng người ta cảm thấy rằng đó là tiếng vọng của một tấm lòng cao thượng và hào hiệp.
(Ét-môn-đô đơ A-mi-xi, Bạn Ga-ro-nê của tôi, trích Những tâm lòng cao cả, Hoàng Thiếu Sơn dịch, NXB Văn học, Hà Nội, 2016, tr. 41 - 42)
Câu 2. (4,0 điểm). Mỗi khi tan học, cảnh tượng học sinh tụ tập xung quanh những xe đẩy bán đồ ăn vặt tại cổng trường trở nên quen thuộc. Những món như xúc xích chiên, bánh tráng trộn, khoai tây lắc, hay những ly nước giải khát đủ màu sắc thu hút các em học sinh [...] Thời gian qua đã có nhiều vụ việc học sinh bị ngộ độc do ăn quà vặt trước cổng trường làm ảnh hưởng đến sức khoẻ tinh thần của học sinh, gây lo lắng cho gia đình, thầy cô giáo và ảnh hưởng đến an toàn, an ninh xã hội.
(Dẫn theo Phương Anh, bài đăng ngày 31/10/2024, báo Thanh tra- Cơ quan ngôn luận của Thanh tra chính phủ và Ngành Thanh tra)
Từ thực trạng được phản ánh trong đoạn trích trên, em hãy viết bài văn nghị luận trình bày ý kiến của mình về vấn đề cần giải quyết: nhiều học sinh ăn quà vặt không rõ nguồn gốc, thiếu an toàn thực phẩm tại cổng trường.
Đáp án
PHẦN I
Câu 1.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Cách giải:
Kiểu văn bản thông tin của đoạn trích: Văn bản thông tin giới thiệu về di tích lịch sử.
Câu 2.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Cách giải:
Đoạn trích trên sử dụng cách trình bày thông tin: Theo các đối tượng phân loại.
Câu 3.
Phương pháp:
Liên hệ với nội dung
Cách giải:
- Nhan đề đoạn trích: Đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc - biểu tượng văn hoa đất
- Ý nghĩa của nhan đề:
+ Với hình thức câu văn dài, được in hoa, in đậm, đặt ngay đầu văn bản đã gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc.
=>Nhan đề đã cung cấp thông tin về đối tượng được giới thiệu trong đoạn trích Là: di tích lịch sử Đền Ngọc Sơn, Cầu Thê Húc.
+ Nhan đề cũng cung cấp thông tin: Đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc là biểu tượng văn hoá của thủ đô Hà Nội. Đây là thông tin cơ bản, quan trọng của đoạn trích. Từ đó nhan đề giúp làm nổi bật các thông tin chính trong đoạn
trích.
+) Giúp người đọc dễ dàng theo dõi được thông tin chính qua nhan đề.
+ Tạo nên sự hấp dẫn và tò mò, khuyến khích người đọc tìm hiểu thêm về di tích lịch sử Đền Ngọc Sơn, Cầu Thê Húc được nói đến trong đoạn trích. + Thể hiện sự hiểu biết của tác giả về đối tượng.
Câu 4.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về phương tiện phi ngôn ngữ
Cách giải:
- Các phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích:
+ Hình ảnh: Nét đẹp nên thơ của Đền Ngọc Sơn và Cầu Thê Húc.
+ Số liệu: 1735-1739, Năm Thiệu Trị thứ ba (1843), thế kỷ 13, 15 nhịp, 32 chân cột gỗ tròn xếp thành 16 đôi, năm 1952, 16 hàng cọc.
- Hiệu quả của các phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích: + Hình ảnh giúp đoạn trích trở nên trở nên trực quan, sinh động, hấp dẫn, thu hút sự chú ý, kích thích sự khám phá của người đọc.
+ Hình ảnh cũng góp phần minh họa cho thông tin về đền Ngọc Sơn và cầu Thê Húc.
+ Số liệu (về lịch sử, đặc điểm kiến trúc của di tích) giúp cho thông tin trong đoạn trích trở nên chi tiết, chính xác, rõ ràng. Từ đó đoạn trích thêm tin cậy, thuyết phục, làm nổi bật những thông tin quan trọng.
+ Các phương tiện phi ngôn ngữ giúp người đọc dễ hiểu, dễ nhớ, tiếp nhận thông tin nhanh chóng và chính xác hơn từ đó truyền tải thông tin hiệu quả hơn.
+ Thể hiện sự hiểu biết tường tận của tác giả về Đền Ngọc Sơn và Cầu Thê Húc.
Câu 5.
Phương pháp:
Hs nêu những việc làm phù hợp để quảng bá hình ảnh văn hoá dân tộc đến bạn bè quốc tế.
Cách giải:
Gợi ý:
- Bảo tồn và trùng tu các di tích văn hóa, đảm bảo giữ nguyên kiến trúc, cảnh quan và giá trị lịch sử.
- Thiết kế các tour du lịch trải nghiệm kết hợp thuyết minh bằng nhiều ngôn ngữ.
- Ứng dụng công nghệ số: tạo video, mô hình 3D, tour du lịch thực tế ảo về
các di tích văn hoá.
- Xây dựng phim tài liệu, phóng sự, ấn phẩm truyền thông giới thiệu về lịch sử và giá trị của di tích. Tổ chức các sự kiện giao lưu văn hoá, triển lãm ảnh, tuần lễ văn hóa Việt Nam ở nước ngoài.
- Đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên du lịch có khả năng giao tiếp tốt với người nước ngoài và hiểu sâu về di sản.
- Sử dụng mạng xã hội và nền tảng số (YouTube, TikTok, Instagram...) để lan toả hình ảnh văn hoá Việt.
- Lồng ghép nội dung về di sản văn hóa vào các môn học và hoạt động ngoại khóa trong trường học.
- Khuyến khích học sinh, sinh viên làm các sản phẩm sáng tạo (clip, bài viết, bản đồ du lịch...) bằng tiếng Anh để giới thiệu văn hóa Việt.
- Hợp tác với các tổ chức văn hóa quốc tế để đưa di sản Việt Nam ra thế giới.
PHẦN II
Câu 1.
Phương pháp:
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức, bố cục của đoạn văn
b. Xác định dùng yêu cầu về nội dung: Phân tích nhân vật bạn Ga-ro-nê trong đoạn trích Những tấm lòng cao cả của Ét-môn-đô đo A-mi-xi.
c. Viết được đoạn văn cảm nghĩ đảm bảo các yêu cầu:
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách để làm rõ đặc điểm của nhân vật Ga-ro-nê, bảo đảm hợp lí, thuyết phục, phù hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật.
Cách giải:
- Mở đoạn: Giới thiệu nhan đề, tác giả và nêu nhận xét, đánh giá chung về nhân vật.
- Thân đoạn:
+ Phân tích đặc điểm của nhân vật Ga- ro- nê: Ga-ro-nê là một người bạn dũng cảm, chính trực; là người có tấm lòng nhân hậu, giàu tình cảm; là người con hiểu thảo, sống tình cảm; được mọi người yêu quý,...
+ Phân tích qua các phương diện: ngoại hình, hành động, lời nói, cử chỉ, hành động, mối quan hệ với các nhân vật khác....
+ Đặc điểm của nhân vật góp phần làm rõ nội dung chủ đề của truyện: Ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất cao thượng và lòng nhân ái, sự dũng cảm, tố bụng, luôn sẵn sàng giúp đỡ và bảo vệ người khác.
- Kết đoạn: Đánh giá khái quát về nhân vật, liên hệ, rút ra bài học...
Câu 2.
Phương pháp:
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận xã hội:
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Tình trạng nhiều học sinh ăn quả vật không rõ nguồn gốc, thiếu an toàn thực phẩm tại cổng trường.
c. Viết được bài văn nghị luận bảo đảm các yêu cầu
Cách giải:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
* Thân bài:
- Giải thích vấn đề nghị luận
- Bàn luận:
+ Thực trạng: Hiện nay, tại nhiều trường học, đặc biệt là vào giờ tan học, cổ thể dễ dàng quan sát thấy nhiều học sinh tụ tập đông trước cổng trường để mua đồ ăn vật. Các loại quà vặt phổ biến như: xúc xích chiên, bánh tráng trộn, cá viên chiến, trà sữa pha sẵn, nước sirô đá bào, các loại kẹo lạ mắt, bim bim... thường được bày bán ở các xe đẩy, quầy hàng rong ven đường. Nhiều món ăn không có bao bì đóng gói, không ghi rõ nhà sản xuất, hạn sử dụng. Nguyên liệu chế biến như bánh tráng, nước sốt, các loại xiên que... thường được đựng trong túi nilon hoặc hộp nhựa sơ sài, không có nhãn mác hay thông tin xuất xứ. Người bán không đảm bảo quy trình bảo quản thực phẩm đúng cách (ví dụ: để thực phẩm ngoài trời hàng giờ liền, không có dụng cụ che chắn khỏi bụi bẩn, ruồi nhặng...).
Nhiều món đồ ăn vặt thiếu an toàn thực phẩm bởi món ăn được chiên bằng | dầu đã qua sử dụng nhiều lần, dụng cụ chế biến không được vệ sinh sạch sẽ -à Một số trường hợp ghi nhận học sinh bị đau bụng, buồn nôn hoặc tiêu chảy | sau khi ăn các món ăn vặt này, cho thấy nguy cơ ngộ độc thực phẩm là có thật.
+ Nguyên nhân:
/ Thói quen và tâm lý thích ăn quà vặt của học sinh
Học sinh, đặc biệt là lứa tuổi tiểu học và trung học cơ sở, thường có tâm lý tò mò, thích khám phá, bị hấp dẫn bởi màu sắc, hương vị và cách trình bày bắt mắt của các món ăn vặt. Việc ăn quà vặt cũng trở thành một thói quen hoặc hoạt động mang tính “giải trí” sau giờ học.
/ Thiếu hiểu biết về an toàn thực phẩm
Nhiều học sinh chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về tác hại của thực | phẩm không rõ nguồn gốc, chưa phân biệt được thế nào là thực phẩm an toàn, chưa có kỹ năng lựa chọn món ăn phù hợp và đảm bảo sức khỏe.
/ Sự buông lỏng trong quản lý khu vực quanh trường học
Một số địa phương chưa có biện pháp quản lý hiệu quả hoạt động buôn bán quanh cổng trường. Các hàng rong tự phát, xe đẩy bán đồ ăn không đảm bảo vệ sinh vẫn hoạt động công khai mà chưa bị kiểm tra, xử lý kịp thời.
/ Sự buông lỏng từ phía phụ huynh và nhà trường
Một số phụ huynh vì bận rộn hoặc chủ quan đã không theo dõi, nhắc nhở con em về việc ăn uống. Nhà trường đôi khi chưa thường xuyên tuyên | truyền hoặc chưa phối hợp chặt chẽ với lực lượng chức năng để ngăn chặn các hoạt động kinh doanh không đảm bảo an toàn thực phẩm trước cổng trường.
/ Giá rẻ và tiện lợi
Các món ăn vặt thường có giá rất rẻ, phù hợp với túi tiền của học sinh. Việc mua cũng dễ dàng, không tổn nhiều thời gian nên càng khiến học sinh ưa chuộng.
+ Hậu quả:
/Ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe học sinh: Nguy cơ ngộ độc thực phẩm: | Ăn phải đồ ăn kém vệ sinh, chế biến bằng nguyên liệu ôi thiu, dùng dầu chiến đi chiên lại... có thể gây đau bụng, nôn ói, tiêu chảy, thậm chí phải nhập viện; Dễ mắc các bệnh đường tiêu hóa: Thực phẩm bẩn, không che đậy cẩn thận rất dễ bị nhiễm vi khuẩn, vi sinh vật có hại, gây ra các bệnh về dạ dày, ruột, giun sán; Tích tụ chất độc lâu dài trong cơ thể. Các loại phẩm màu, hương liệu, chất bảo quản công nghiệp không rõ nguồn gốc có thể gây tổn thương gan, thận, ảnh hưởng sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ em.
/ Gây ảnh hưởng đến thói quen ăn uống khoa học: Ăn quà vặt trước hoặc
Được vài giờ học các con bỏ chính, ăn uống thiếu điều độ, dẫn đến suy dinh dưỡng hoặc béo phì.
/ Gây mất mỹ quan và vệ sinh môi trường quanh công trường:
- Đề xuất giải pháp khả thi và có tính thuyết phục:
+ Giáo dục nhận thức về an toàn thực phẩm trong trường học
/ Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, ngoại khóa, mời chuyên gia y tế, bác sĩ tư vấn về tác hại của thực phẩm bẩn, không rõ nguồn gốc.
/ Đưa nội dung giáo dục về an toàn thực phẩm vào môn học giáo dục công dân hoặc sinh hoạt lớp.
+ Siết chặt công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trong và ngoài trường học
/ Thành lập các buổi kiểm tra chuyên đề an toàn thực phẩm trường học, nhất là việc kinh doanh thực phẩm ở khu vực gần trường học.
/ Điều tra, rà soát, cập nhật thường xuyên, liên tục thông tin về các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố, kinh doanh tạp hóa có bán thực phẩm bao gói sẵn, thực phẩm chế biến ăn ngay theo từng ngành hàng, mặt hàng thực phẩm xung quanh cổng trường học.
+ Thiết lập mô hình Căng-tin học đường xanh
/Xây dựng hoặc cải tạo căng-tin trường học theo tiêu chuẩn: thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng, vệ sinh sạch sẽ, nhẫn viên có chứng chỉ vệ sinh an toàn thực phẩm.
/ Cẩm học sinh mua hàng rong bên ngoài cổng trưởng
+ Kết nối gia đình - nhà trường trong giám sát ăn uống
/ Tổ chức họp phụ huynh định kỳ để tuyên truyền, chia sẻ thông tin về tình | hình an toàn thực phẩm.
/ Lập nhóm Zalo lớp để giáo viên, phụ huynh chia sẻ thực đơn, cảnh báo thực phẩm không an toàn gần trưởng.
+....
* Kết bài: Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bảy và rút ra bài học cho bản thân.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 14
Đề thi
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
(...)
Cánh cửa mở ra và Jim bước vào. Trông anh gầy gò và rất khắc khổ. Anh chàng tội nghiệp, anh chỉ mới hai mươi hai - mà đã phải gánh vác gia đình! Chiếc áo khoác đã cũ mèm mà anh không có nổi một đôi găng tay.
Jim dừng lại sau cánh cửa, bất động như là con chó săn vừa đánh hơi được con mồi, chằm chằm nhìn Della, không thể hiểu những biểu lộ cảm xúc trên mặt anh, nhưng khiến cô khiếp sợ. Đấy không phải là giận dữ, cũng không phải ngạc nhiên, cũng không
phải tán thành, lại càng không kinh hãi, không phải bất cứ loại cảm xúc nào mà cô đang chờ đợi. Anh chỉ đơn giản là nhìn cô chăm chăm với vẻ mặt đầy bí ẩn.
Della lách mình khỏi bàn ăn và đi đến bên anh. Cô thốt lên:
- Jim, anh yêu, đừng nhìn em như thế. Em đã cắt mái tóc và bán nó vì em không muốn có một Giáng Sinh mà không có quà tặng cho anh? Tóc em sẽ mọc lại thôi - anh không trách em chứ? Em buộc phải làm thế. Tóc của em mọc nhanh lắm. Này Jim, mình chúc mừng Giáng Sinh đi anh, vui lên đi anh. Anh không biết em đã chuẩn bị một món quà đẹp đẽ, tuyệt vời như thế nào dành cho anh đâu.
Jim đau đớn hỏi lại, như thể không chịu đựng nổi một sự thật phũ phàng:
- Em đã cắt tóc rồi ư?
- Em đã cắt và bán nó rồi. Anh không thích em như thế này sao? Em vẫn là em dù không còn mái tóc ấy, phải không anh?
Jim ngó quanh phòng tìm kiếm. Anh lại hỏi, với vẻ bộ tịch thật ngớ ngẩn:
- Em nói rằng mái tóc đã không còn?
- Đừng tìm nó nữa. Em đã bán nó, em bảo anh rồi - đã bán rồi, không còn nữa.
Tối nay là đêm Giáng Sinh rồi, anh yêu! Hãy dịu dàng với em, em bán nó vì anh!
Della tiếp tục với giọng ngọt ngào thấm đẫm cảm xúc:
- Giờ anh có thể đếm được tóc trên đầu em, nhưng không ai có thể đếm tình yêu em dành cho anh. Em sẽ hâm lại món sườn nhé, Jim?
Jim như chợt bừng tỉnh. Anh ôm chặt Della vào lòng.
(...)
Jim rút một cái hộp từ túi áo choàng của anh và đặt nó lên bàn. Anh nói:
- Đừng hiểu lầm anh, Della. Dù em có cắt tóc, cạo đầu, hay tẩy gội như thế nào đi nữa anh cũng không bớt yêu em. Nhưng nếu em mở cái hộp này, em sẽ hiểu tại sao anh lại sửng sốt như vậy.
Những ngón tay trắng thoăn thoắt tháo dây buộc và xé toạc giấy bọc. Một tiếng kêu thảng thốt đầy phấn khích và vui sướng. Rồi thì, than ôi! Niềm háo hức đầy nữ tính ấy biến thành những giọt lệ đắng và tiếng khóc tỉ tê, thôi thúc chủ nhân căn hộ phải vội vàng an ủi.
Vì lẽ, trong đó là bộ lược - một bộ lược cài tóc, cho hai bên và phía sau mái tóc, từ lâu Della vẫn khát khao mà chỉ dám đứng nhìn qua khung cửa kính tại một cửa hàng trên đường Broadway. Những chiếc lược cài tóc đẹp tuyệt vời, bằng vỏ đồi mồi nguyên chất, viền bằng đá quý - để làm gì khi mái tóc đẹp không còn. Cô biết chúng là những chiếc lược đắt tiền mà cô vẫn luôn thèm muốn và khao khát dù chẳng bao giờ có được. Và bây giờ, chúng là của cô, nhưng mái tóc lẽ ra được tô điểm bằng những món trang sức quý giá ấy thì nay đã không còn.
Nhưng cô vẫn ôm chúng vào lòng, mắt nhòa lệ, cô ngước nhìn, mỉm cười khẽ nói:
- Tóc em sẽ dài nhanh thôi, Jim ạ.
Như con mèo nhỏ bị thương, Della vụt đứng lên, thốt rằng: "À, này!". Jim vẫn chưa nhìn thấy món quà tuyệt đẹp dành cho anh ấy. Cô háo hức đưa nó cho anh trên lòng bàn tay mở rộng của mình. Một sợi dây bằng kim loại quý trên tay cô, nó lấp lánh như cố phản chiếu niềm vui rực rỡ từ tấm lòng chân thành của cô gái.
- Anh có thấy nó tuyệt vời không, Jim? Em đã săn lùng cả thành phố mới tìm ra đấy. Chắc chắn anh sẽ phải nhìn ngắm nó cả trăm lần mỗi ngày. Đưa cho em chiếc đồng hồ của anh. Em muốn thấy nó đẹp biết chừng nào khi đính vào sợi dây xinh xắn này.
Thay vì làm theo lời cô, Jim ngồi vật xuống chiếc ghế bành, đặt hai bàn tay sau gáy và mỉm cười.
- Della, ta hãy cất các món quà Giáng Sinh và giữ chúng trong một thời gian. Chúng quá đẹp để sử dụng ngay bây giờ. Anh đã bán chiếc đồng hồ để mua cho em bộ lược. Bây giờ anh nghĩ em nên hâm lại món sườn cho bữa tối.
(O. Henry, trích Món quà của những nhà thông thái, Truyện ngắn đặc sắc, NXB Hội Nhà Văn, 2010)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể loại của văn bản trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra những chi tiết trong văn bản phản ánh sự nghèo khó của hai vợ chồng Jim và Della.
Câu 3 (1,0 điểm). Nêu cảm nhận về nhân vật Jim thông qua câu nói: “Dù em có cắt tóc, cạo đầu, hay tẩy gội như thế nào đi nữa anh cũng không bớt yêu em.”.
Câu 4 (1,0 điểm). Nhận xét về sự trớ trêu của tình huống trong đoạn trích.
Câu 5 (1,0 điểm). Tục ngữ Việt Nam có câu “Của cho không bằng cách cho”. Từ việc đọc đoạn trích trên, em hãy cho biết quan điểm của mình (đồng tình hay không đồng tình) với câu tục ngữ trên và giải thích lý do.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của hình tượng hai món quà Giáng Sinh trong truyện Món quà của những nhà thông thái được trích trong phần đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Cuộc sống không chỉ được đo bằng những gì ta sở hữu, mà còn bởi những gì ta sẵn sàng cho đi vì người khác. Hãy viết một bài văn (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của sự hy sinh trong tình yêu thương giữa con người với con người.
Đáp án
PHẦN I
Câu 1.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Cách giải:
Thể loại: truyện ngắn
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và xác định những chi tiết miêu tả sự nghèo khó của hai vợ chồng Jim và Della
Cách giải:
Những chi tiết trong văn bản phản ánh sự nghèo khó của hai vợ chồng Jim và Della:
- Jim gầy gò và khắc khổ.
- Chiếc áo khoác đã cũ mèm; không có nổi một đôi găng tay.
- Della phải cắt tóc của mình để mua quà cho Jim.
- Jim phải bán chiếc đồng hồ của mình để mua quà cho Della
Câu 3.
Phương pháp:
Dựa vào ngữ cảnh để cảm nhận về nhân vật
Cách giải:
- Người đàn ông chân thành, thủy chung, son sắt, luôn cảm thông và thấu hiểu người vợ của mình.
- Người biết trân trọng những giá trị tình cảm từ bên trong hơn là
những giá trị của ngoại hình, vật chất bên ngoài.
Câu 4.
Phương pháp:
Xác định tình huống truyện
Cách giải:
Nhận xét về sự trớ trêu của tình huống trong đoạn trích:
- Sự trớ trêu của tình huống truyện nằm ở việc cả hai vợ chồng đều hi sinh những thứ quý giá nhất của mình để mua quà cho người kia nhưng kết quả là món quà lại không còn giá trị sử dụng nữa
- Sự trớ trêu của tình huống góp phần khắc họa vẻ đẹp của tình yêu thương chân thành, sự hi sinh đẹp đẽ cho người thân yêu ở hai nhân vật
- Tình huống trớ trêu góp phần thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm: ca ngợi giá trị của tình yêu thương trong cuộc sống
Câu 5.
Phương pháp:
Nêu suy nghĩ của bản thân
Cách giải:
- Câu tục ngữ có ý khuyên răn con người cần chú trọng vào tình cảm và cách thể hiện tình cảm dành cho người khác hơn là quan tâm đến yếu tố vật chất có thể dành cho người khác.
- HS đưa ra quan điểm cá nhân và giải thích sao cho phù hợp: Sau đây là một số gợi ý:
+ Đồng tình với nội dung của câu tục ngữ bởi cách cho mới thể hiện đúng sự tôn trọng, tinh tế và tình cảm chân thành của con người; cách cho phù hợp cũng giúp giá trị của món quà được ý nghĩa hơn;…
+ Tuy nhiên cũng cần lưu ý bất kể thứ gì dành cho người khác cũng cần phải phù hợp với đặc điểm, sở thích, nhu cầu, hoàn cảnh của người được nhận. HS có thể diễn giải theo nhiều cách khác nhau để thể hiện quan điểm của mình, miễn ý kiến phù hợp.
PHẦN II.
Câu 1.
Phương pháp:
a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn phân tích môt đoạn thơ. Mở đoạn giới thiệu tên tác giả, tên tác phẩm, hình tượng hai món quà Giáng Sinh; thân đoạn phân tích làm rõ được ý nghĩa của hình tượng hai món quà cùng yếu tố nghệ thuật của truyện; kết đoạn khái quát, tổng hợp lại
b. Xác định đúng yêu cầu phân tích: phân tích ý nghĩa của hình tượng hai món quà Giáng Sinh
c. Phân tích làm rõ
Cách giải:
- Mô tả đặc điểm hai món quà:
+ Hai món quà có giá trị vật chất quý giá: Bộ lược bằng vỏ đồi mồi đắt tiền – dành cho mái tóc tuyệt đẹp của Della; Dây đeo đồng hồ bằng kim loại quý – dành cho chiếc đồng hồ di sản của Jim. Cả hai món quà đều có giá trị cao.
+ Hai món quà đáng quý hơn ở giá trị tinh thần: Cả hai món quà được mua bằng sự hy sinh thứ quý giá nhất mà mỗi người sở hữu.
(Đưa ra các bằng chứng cụ thể trong đoạn trích)
- Phân tích ý nghĩa:
+ Hai món quà tạo nên sự trớ trêu, bất ngờ độc đáo cho tình huống truyện
+ Thể hiện đặc điểm nhân vật: Cả Jim và Della đều yêu thương sâu sắc, sẵn sàng hy sinh vì nhau mà không tính toán thiệt hơn.
+ Thể hiện tư tưởng, chủ đề: ca ngợi vẻ đẹp của tình yêu thương chân thành.
- Khái quát nghệ thuật: Hình ảnh hai món quà tạo nên tình huống truyện độc đáo, mang ý nghĩa hình tượng đặc sắc trong tác phẩm.
Câu 2.
Phương pháp:
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khái quát được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận
Bàn luận được về giá trị, ý nghĩa của sự hi sinh trong tình yêu thương giữa con người với con người.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
HS có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng
Cách giải:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận: - Giải thích vấn đề nghị luận:
+ Hi sinh là gì?
+ Xác định được vấn đề: Hi sinh là đức tính cao cả, thể hiện tình yêu thương chân thành, sâu sắc. - Bàn luận – Chứng minh (nêu lí lẽ kèm dẫn chứng)
+ Sự hi sinh góp phần nuôi dưỡng khả năng đồng cảm, sẻ chia.
+ Sự hi sinh giúp con người nuôi dưỡng những cảm xúc sâu sắc, biết rung động trước những vẻ đẹp của tình cảm.
+ Sự hi sinh giúp ta yêu thương những người thân trọn vẹn nhất, giúp gắn kết con người với nhau trong cuộc sống. - Mở rộng, nhìn nhận vấn đề đa chiều:
+ Trong thế giới còn nhiều biến động, những hành động hy sinh dù nhỏ bé vẫn góp phần làm nên sự ấm áp và nhân văn trong cuộc sống.
+ Nếu sự hy sinh trở nên mù quáng, không tỉnh táo, dễ bị lợi dụng hoặc đi ngược với giá trị bản thân, nó có thể gây tổn thương và đánh mất chính mình.
- Rút ra liên hệ đối với bản thân:
+ Biết suy nghĩ cho người khác.
+ Biết sẻ chia, nhường nhịn với những người thân xung quanh.
+ Xây dựng lối sống tích cực, có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng.
…
* Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa cao đẹp của sự hy sinh trong tình yêu thương giữa con người với nhau.
Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 15
Đề thi
PHẦN I. ĐỌC - HIỂU (4,0 điểm).
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Hi vọng là một thứ rất tuyệt diệu. Hi vọng cong, xoắn, thỉnh thoảng nó khuất đi, nhưng hiếm khi nó tan vỡ… Hi vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được… Hi vọng cho chúng ta có thể thể tiếp tục, cho chúng ta can đảm để tiến lên phía trước, khi chúng ta tự nhủ là mình sắp bỏ cuộc…
Hi vọng đặt nụ cười lên gương mặt chúng ta khi mà trái tim không chủ động được điều đó…
Hi vọng đặt đôi chân chúng ta lên con đường mà mắt chúng ta không nhìn thấy được …
Hi vọng thúc giục chúng ta hành động khi tinh thần chúng ta không nhận biết được phương hướng nữa… Hi vọng là điều kỳ diệu, một điều cần được nuôi dưỡng và ấp ủ và đổi lại nó sẽ làm cho chúng ta luôn sống động… Và hi vọng có thể tìm thấy trong mỗi chúng ta, và nó thể mang ánh sáng vào những nơi tăm tối nhất…
Đừng bao giờ mất hi vọng!
(Trích, Luôn mỉm cười với cuộc sống - NXB Trẻ)
Câu 1 (0,5 điểm). Luận đề chính được đặt ra trong đoạn trích là gì?
Câu 2 (0,5 điểm). Hình ảnh hi vọng được tác giả miêu tả qua những từ ngữ nào?
Câu 3 (1,0 điểm). Việc lặp lại nhiều lần từ hi vọng có tác dụng gì?
Câu 4 (1,0 điểm). Em có đồng ý với quan điểm: “Hi vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được” của tác giả không? Vì sao?
Câu 5 (1,0 điểm). Thông điệp em tâm đắc nhất từ đoạn trích là gì?
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ của em về đoạn thơ sau trong bài thơ “Mái ấm ngôi nhà” của Trương Hữu Lợi.
Nếu ngọn gió nào dẫn con đến phương trời xa thẳm
Con đừng quên lối về nhà
Nơi thung sâu khơi nguồn ngọn gió...
Nếu cánh chim nào chở con lên thăm mặt trời cháy đỏ
Con đừng quên lối về nhà
Nơi sớm chiều vẫn nhen ngọn lửa
Nếu vạt mây nào đưa con lên chơi với ngôi sao xanh biếc
Con đừng quên lối về nhà
Suối trong con tắm mình thuở bé...?
(“Mái ấm ngôi nhà”- Trương Hữu Lợi)
Câu 2 (4,0 điểm). Viết bài văn nghị luận về vấn đề cần giải quyết: "Là học sinh, em nghĩ nên ứng xử thế nào khi bị lôi kéo vào các hoạt động tiêu cực trong nhà trường?”
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc kĩ nội dung văn bản, xác định luận đề
Cách giải:
Luận đề: Hy vọng và ý nghĩa của hi vọng trong cuộc sống.
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc và xác định từ ngữ miêu tả hình ảnh hi vọng
Cách giải:
Hình ảnh hi vọng được tác giả miêu tả qua những từ ngữ: tuyệt diệu. cong, xoắn, nó khuất đi, nó tan vỡ…
Câu 3.
Phương pháp:
Dựa vào ngữ cảnh để xác định
Vận dụng kiến thức về phép lặp
Cách giải:
Việc lặp lại nhiều lần từ hi vọng có tác dụng:
+ Làm cho văn bản thêm tính hài hoà, cân đối, nhịp nhàng, sinh động, hấp dẫn;
+ Tăng tính liên kết giữa các câu trong văn bản; Nhấn mạnh vai trò quan trọng của hi vọng trong cuộc sống của mỗi con người.
+ Hi vọng là điều kỳ diệu, là điểm tựa để đưa con người vượt qua những khó khăn thử thách hướng đến những điều tốt đẹp ở phía trước.
Câu 4.
Phương pháp:
Nêu suy nghĩ của bản thân
Cách giải:
- Đồng ý với ý kiến: Hi vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được.
- Vì cuộc sống nhiều khó khăn và thử thách, nhờ hi vọng mà ta có được năng lượng để duy trì cuộc sống. Hi vọng tạo ra niềm tin, ý chí, động lực, lòng can đảm; Hi vọng sẽ giúp con người sống lạc quan, yêu đời, chiến thắng nghịch cảnh.
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra thông điệp
Cách giải:
- Thông điệp tâm đắc nhất: Đừng bao giờ mất hy vọng!
- Vì: mất hi vọng chúng ta sẽ mất năng lượng và động lực sống. Hãy nuôi hi vọng mỗi ngày, tạo động lực và hành động mỗi ngày để sống lạc quan
PHẦN II.
Câu 1.
Phương pháp:
* Hình thức:
- Trình bày đảm bảo cấu trúc của đoạn văn theo hướng: Diễn dịch, quy nạp hoặc phối hợp.
- Đảm bảo dung lượng, diễn đạt mạch lạc, rõ ý, đúng chuẩn chính tả, ngữ pháp.
* Nội dung:
- Xác định đúng đối tượng nghị luận: Đoạn thơ trong ngữ liệu đã cho
- Sử dụng đúng phương thức biểu đạt: Nghị luận
- Biết bám sát và khai thác hiệu quả của các tín hiệu nghệ thuật trong đoạn thơ để làm nổi bật vẻ đẹp của đoạn trích
Cách giải:
1. Mở đoạn:
- Giới thiệu đoạn thơ trong bài "Mái ấm ngôi nhà" của Trương Hữu Lợi, nhấn mạnh nội dung về tình cảm gia đình thiêng liêng, nơi mái ấm luôn là chốn trở về của mỗi con người.
- Khẳng định ý nghĩa của đoạn thơ qua việc nhắn nhủ con về giá trị gia đình, nơi khởi nguồn mọi yêu thương và che chở.
2. Thân đoạn:
- Phân tích nội dung chính:
+ Đoạn thơ là những lời nhắn nhủ ân cần của người lớn (cha/mẹ) với con khi bước vào cuộc đời với những hành trình mới. Hình ảnh "ngọn gió", "cánh chim", "vạt mây" tượng trưng cho những ước mơ, khát vọng bay xa và khám phá thế giới rộng lớn của con cái.
+ Lời nhắc "Con đừng quên lối về nhà" lặp đi lặp lại không chỉ nhấn mạnh sự nhớ nhung, mong chờ mà còn gợi ý niệm về mái ấm gia đình như cội nguồn thiêng liêng, nơi lưu giữ yêu thương, nơi con sẽ tìm thấy sự bình yên và che chở dù ở bất cứ đâu.
+ Hình ảnh "thung sâu khơi nguồn ngọn gió", "sớm chiều nhen ngọn lửa", "suối trong con tắm mình thuở bé" tượng trưng cho những kỷ niệm thời thơ ấu, tình thương và sự chăm sóc mà cha mẹ đã dành trọn vẹn cho con. Qua những hình ảnh này, tác giả khẳng định ý nghĩa bền chặt của gia đình, nơi cội nguồn tình yêu không bao giờ phai nhòa.
- Phân tích nghệ thuật:
+ Biện pháp lặp cấu trúc "Con đừng quên lối về nhà" tạo nên nhịp điệu trầm lắng, nhấn mạnh cảm xúc yêu thương và sự nhắc nhở tha thiết.
+ Sử dụng hình ảnh thiên nhiên giàu tính biểu tượng (gió, chim, mây) mang đến sự bay bổng, kết hợp với các chi tiết cụ thể về gia đình tạo sự cân bằng giữa cảm xúc và biểu đạt.
+ Ngôn từ nhẹ nhàng, sâu sắc giúp đoạn thơ thấm đượm tình cảm gia đình thiêng liêng, gợi lên trong lòng người đọc sự đồng cảm và suy tư.
3. Kết đoạn:
- Khẳng định lại giá trị của mái ấm gia đình qua những hình ảnh đẹp trong đoạn thơ. Gia đình không chỉ là nơi con xuất phát mà còn là chốn trở về, mang theo những ký ức và tình yêu không bao giờ cạn.
- Bài thơ là lời nhắc nhở mỗi người về trách nhiệm gìn giữ và trân trọng gia đình - mái ấm thiêng liêng mà không gì có thể thay thế.
Câu 2.
Phương pháp:
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận xã hội
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Nên ứng xử thế nào khi bị lôi kéo vào các hoạt động tiêu cực trong nhà trường.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: HS có thể tổ chức bài làm theo nhiều cách, miễn là hợp lí và vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng
Cách giải:
1. Mở bài
- Nêu vấn đề cần nghị luận: Nên ứng xử thế nào khi bị lôi kéo vào các hoạt động tiêu cực trong nhà trường.
2. Thân bài
* Giải thích: Hoạt động tiêu cực trong nhà trường là những hành vi sai trái, vi phạm đạo đức, pháp luật và nội quy của nhà trường. Chúng bao gồm nhiều hình thức như: bạo lực học đường, gian lận trong thi cử, trộm cắp, sử dụng chất kích thích, tham gia các nhóm, hội hoạt động không lành mạnh...
* Thực trạng:
- Tình trạng học sinh bị lôi kéo vào các hoạt động tiêu cực đang diễn ra phổ biến và ngày càng gia tăng với mức độ nghiêm trọng. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2022, cả nước ghi nhận hơn 1.600 vụ bạo lực học đường, tăng 10% so với năm 2021. Bên cạnh đó, các tệ nạn khác như gian lận thi cử, sử dụng chất kích thích cũng có xu hướng gia tăng, đặc biệt là ở các thành phố lớn.
(Lấy dẫn chứng cụ thể).
* Nguyên nhân:
- Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, bao gồm cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Một số nguyên nhân chính có thể kể đến như:
+ Sự thiếu quan tâm, giáo dục từ phía gia đình.
+ Sự tác động tiêu cực từ môi trường xung quanh, bạn bè xấu.
+ Sự thiếu hiểu biết, nhận thức về hậu quả của các hành vi tiêu cực.
+ Sự tò mò, muốn thể hiện bản thân của tuổi mới lớn.
+ Sự lỏng lẻo trong quản lý của nhà trường.
* Hậu quả
- Nếu không được giải quyết kịp thời, vấn nạn này sẽ để lại những hậu quả nặng nề:
- Ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần và sự phát triển nhân cách của học sinh.
- Làm suy giảm chất lượng giáo dục, đạo đức xã hội.
- Tạo ra những hệ lụy tiêu cực cho gia đình và cộng đồng.
- Một số học sinh có thể bị sa ngã vào con đường phạm tội.
* Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện: Một số người cho rằng, việc học sinh bị lôi kéo vào các hoạt động tiêu cực là do bản tính của các em. Tuy nhiên, quan điểm này là hoàn toàn sai lầm. Bởi lẽ, không có đứa trẻ nào sinh ra đã xấu. Môi trường sống và sự giáo dục mới là yếu tố quyết định đến sự hình thành nhân cách của các em.
* Giải pháp
+ Nâng cao nhận thức và hiểu biết:
- Tích cực tham gia các buổi sinh hoạt lớp, ngoại khóa về phòng chống các tệ nạn xã hội. Tìm hiểu thông tin từ các nguồn đáng tin cậy như sách báo, internet,...
- Việc trang bị kiến thức sẽ giúp học sinh hiểu rõ bản chất của các hoạt động tiêu cực, từ đó có ý thức phòng ngừa và tránh xa.
- Bằng chứng: Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, học sinh có kiến thức tốt về các tệ nạn xã hội có khả năng chống lại sự lôi kéo cao hơn gấp 3 lần so với những em không có kiến thức.
+ Xây dựng bản lĩnh và kỹ năng sống:
- Rèn luyện sự tự tin, quyết đoán, kỹ năng giao tiếp, từ chối và giải quyết mâu thuẫn. Tham gia các hoạt động ngoại khóa, thể thao, nghệ thuật để nâng cao sức khỏe tinh thần và thể chất.
- Bản lĩnh vững vàng và kỹ năng sống tốt sẽ giúp học sinh có khả năng đối mặt với áp lực, cám dỗ và đưa ra quyết định đúng đắn.
- Bằng chứng: Trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam đã tổ chức chương trình "Rèn luyện kỹ năng sống" cho học sinh, kết quả cho thấy tỷ lệ học sinh tham gia vào các hoạt động tiêu cực giảm đáng kể.
+ Tìm kiếm sự hỗ trợ từ người lớn:
- Học sinh chia sẻ với cha mẹ, thầy cô, bạn bè hoặc các chuyên gia tâm lý khi gặp khó khăn. Phụ huynh quan tâm, lắng nghe và chia sẻ với con cái. Giáo viên chủ động nắm bắt tâm lý học sinh, tổ chức các hoạt động tư vấn, hỗ trợ.
- Sự hỗ trợ từ người lớn sẽ giúp học sinh cảm thấy an toàn, được chia sẻ và có thêm động lực để vượt qua khó khăn.
- Bằng chứng: Trường THCS Nguyễn Du (TP.HCM) đã thành lập "Tổ tư vấn tâm lý học đường", giúp đỡ nhiều học sinh thoát khỏi các hoạt động tiêu cực.
+ Xây dựng môi trường học đường lành mạnh:
- Nhà trường xây dựng quy chế, nội quy rõ ràng, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Giáo viên tạo không khí học tập tích cực, thân thiện, khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động ngoại khóa bổ ích. Học sinh tôn trọng thầy cô, bạn bè, xây dựng tình bạn đẹp.
- Môi trường học đường lành mạnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh phát triển toàn diện, hạn chế các yếu tố tiêu cực.
- Bằng chứng: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (TP.HCM) đã thực hiện mô hình "Trường học hạnh phúc", tạo ra môi trường học tập tích cực, giúp học sinh phát triển tốt về mọi mặt.
3. Kết bài
- Khẳng định ý nghĩa của việc giải quyết vấn đề: Vấn đề học sinh bị lôi kéo vào hoạt động tiêu cực trong nhà trường là một vấn đề nhức nhối cần được giải quyết triệt để....
- Liên hệ:...
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
