Đề thi học kì 2 Ngữ Văn 11
Đề cương ôn tập học kì 2 Văn 11 - Kết nối tri thức
A. NỘI DUNG ÔN TẬP
1. Phần đọc hiểu
1.1. Truyện thơ Nôm
- Là loại hình tác phẩm tự sự độc đáo của văn học trung đại Việt Nam, kết hợp phương thức tự sự và trữ tình, được viết bằng chữ Nôm, trong đó, tiêu chí đặc điểm nội dung và nghệ thuật được sử dụng độc đáo
- Có thể chia thành 2 nhóm: truyện thơ Nôm bình dân và truyện thơ Nôm bác học
- Đề tài, chủ đề của truyện thơ Nôm rất rộng mở, từ tôn giáo, lịch sử, xã hội đến cuộc sống đời thường; đặt ra nhiều vấn đề bức thiết của thời đại
- Trong truyện thơ Nôm, các câu chuyện thường được kể theo trình tự thời gian với nhiều yếu tố ngẫu nhiên, kì ảo và thường được tổ chức theo mô hình: Gặp gỡ - Chia li- Đoàn tụ
- Nhân vật của truyện thơ Nôm khá phong phú, đa dạng về thành phần
1.2. Kí
-Kí là tên gọi một nhóm các thể/ tiểu loại tác phẩm văn xuôi phi hư cấu có khả năng dung hợp các phương thức tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thông tin,… nhằm tái hiện những trạng thái đời sống đang được xã hội quan tâm và bộc lộ trực tiếp những cảm nghĩ của tác giả
- Tùy vào mục đích viết, sự bộc lộ cái tôi tác giả và cách thức các phương tiện biểu đạt và tác phẩm kí được gọi là tùy bút, tản văn, phóng sự hay là kí sự, truyện kí, hồi kí, nhật kí, du kí,…
1.3. Văn bản thông tin
* Các yếu tố hình thức của văn bản thông tin
- Văn bản thông tin thường có những dấu hiệu nổi bật về hình thức thể hiện qua nhan đề, đề mục, sơ đồ, bảng biểu, chữ in nghiêng, chữ in đậm,... Những dấu hiệu này giúp cho người đọc nắm bắt thông tin chính của văn bản một cách nhanh chóng.
* Bố cục, mạch lạc của văn bản thông tin
- Nội dung của văn bản thông tin được tạo thành bởi các yếu tố chính: chủ đề, các ý chính và ý phụ. Chủ đề là vấn đề chủ yếu được đề cập trong văn bản thông tin, thường được diễn đạt bằng một từ hoặc một cụm từ. Ý chính là ý quan trọng nhất mà tác giả muốn nói về chủ đề.
* Cách trình bày dữ liệu trong văn bản thông tin
- Văn bản thông tin thường được trình bày theo những cách phù hợp với tiến trình nhận thức tự nhiên của người đọc. Có một số mô hình tổ chức thông tin chính: tổ chức thông tin theo trật tự thời gian, theo trật tự nhân quả, theo tầm quan trọng của vấn đề, theo quan hệ so sánh hoặc tương phản.
+ Tổ chức thông tin theo trật tự thời gian
+ Tổ chức thông tin theo trật tự nhân quả
+ Tổ chức thông tin theo tầm quan trọng của vấn đề
+ Tổ chức thông tin theo quan hệ so sánh hoặc tương phản
* Mục đích, quan điểm của người viết trong văn bản thông tin
- Văn bản thông tin có nội dung khách quan, hạn chế tối đa việc thể hiện quan điểm, thái độ của tác giả. Tuy nhiên, mỗi tác giả khi viết văn bản thông tin thường hướng tới một mục đích nhất định. Mục đích giao tiếp chủ yếu của văn bản thông tin là cung cấp thông tin, nhưng bên cạnh đó, nó còn có thể nhắm đến mục đích khác như: thuyết phục, giải trí,... Mặt khác, kinh nghiệm, niềm tin của người viết cũng chi phối việc bày tỏ quan điểm, thái độ đối với vấn đề được đề cập.
2. Phần tiếng Việt
2.1. Biện pháp tu từ lặp cấu trúc
2.2. Biện pháp tu từ đối
2.3. Một số hiện tượng phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ thông thường
2.4. Cách giải thích nghĩa của từ
3. Phần làm văn
3.1. Viết văn bản thuyết minh về một tác phẩm văn học
3.2. Viết văn bản thuyết minh về một sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội
3.3. Viết văn bản thuyết minh về một sự vật, hiện tượng trong tự nhiên
3.4. Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật
B. BÀI TẬP
1. Phần đọc hiểu
*Đề bài
1.1. Văn bản Trao duyên
Câu 1: Tác phẩm Trao duyên thuộc thể loại nào?
Câu 2: Đoạn trích thuộc phần nào trong tác phẩm Truyện Kiều?
Câu 3: Thúy Kiều dùng những từ như “cậy”, “thưa” cùng hành động “lạy” là muốn thể hiện điều gì?
Câu 4: Hình ảnh: “lò hương”, “ngọn cỏ lá cây”, “hiu hiu gió”, “hồn”, “thân bồ liễu”,… gợi đến điều gì?
1.2. Văn bản Độc Tiểu Thanh kí
Câu 5: "Son phấn", "văn chương" là để nói về điều gì ở Tiểu Thanh?
Câu 6: Hai câu thực và hai câu luận, tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?
Câu 7: “Cổ kim hận sự” có nghĩa là gì?
1.3. Văn bản Chí khí anh hùng
Câu 8: Chí khí anh hùng được sáng tác theo thể nào?
Câu 9:“Nửa năm hương lửa đương nồng,
Câu 10: Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?
Câu thơ trên thể hiện thái độ gì của Từ Hải khi nghe Kiều xin đi theo?
1.4. Văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông?
Câu 11: Thể loại của tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông là
Câu 12: Ngay câu mở đầu văn bản, tác giả đã nêu đặc điểm đặc biệt gì của dòng sông Hương?
Câu 13: Giá trị nội dung của đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông là?
1.5. Văn bản “Và tôi vẫn muốn mẹ”
Câu 14: Nhân vật đã chứng kiến hình ảnh gì trên đường đi trại hè đội viên?
Câu 15: Kết quả của việc chờ đợi ba mẹ của nhân vật trữ tình là gì?
1.6. Văn bản Nữ phóng viên đầu tiên
Câu 16: Văn bản được triển khai theo trình tự nào?
Câu 17: Phong trào xã hội nào đã được nói đến trong văn bản?
1.7. Văn bản Trí thông minh nhân tạo
Câu 18: Chủ đề của văn bản là?
Câu 19: Theo tác giả, “AI mạnh” có thể:
1.8. Văn bản Pa-ra-lim-pích: Một lịch sử chữa lành những vết thương
Câu 20: Mục đích ban đầu của việc tổ chức thế vận hội Pa – ra – lim – píc là?
1.9. Văn bản Bài ca ngất ngưởng
Câu 21: Theo em, từ “ngất ngưởng” trong bài thơ được hiểu như thế nào?
Câu 22: Câu thơ “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” được hiểu là?
1.10. Văn bản Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Câu 23: Mục đích của tác phẩm Văn Tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là:
Câu 24: Bài văn tế thường có bố cục những phần nào?
1.11. Văn bản Cộng đồng và cá thể
Câu 25: Tác giả đã đưa ra luận cứ nào để chứng minh cho luận điểm thứ nhất: “Hầu hết những hoạt động và mong muốn của chúng ta đều có quan hệ với sự tồn tại của người khác”?
2. Phần tiếng Việt
2.1. Biện pháp tu từ lặp cấu trúc
Câu 1: Xác định câu văn KHÔNG sử dụng phép lặp cú pháp trong đoạn trích sau?
“ Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”
(Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh)
Câu 2: Câu văn sau sử dụng phép liên kết gì?
Nghệ thuật nói nhiều với tư tưởng nữa, nghệ thuật không thể nào thiếu tư tưởng. Không tư tưởng, con người có thể nào còn là con người
2.2. Biện pháp tu từ đối
Câu 3: Tác dụng của phép đối là?
2.3. Một số hiện tượng phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ thông thường
Câu 4: Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
(Tràng giang)
Câu thơ trên sử dụng hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường nào?
Câu 5:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
(Vội vàng, Xuân Diệu)
Đoạn thơ trên sử dụng hiện tượng phá vỡ quy tắc thông thường nào?
2.4. Cách giải thích nghĩa của từ
Câu 6: Khi giải thích “Cầu hôn: xin được lấy làm vợ” là đã giải thích nghĩa của từ bằng cách nào?
Câu 7: Trung niên: người đã quá tuổi thanh niên nhưng chưa già
Từ trên được giải thích theo cách nào?
Câu 8: Học lỏm có nghĩa là?
Câu 9: Sơn Tinh: thần núi; Thủy Tinh: thần nước
Hai từ trên được giải thích theo cách nào?
Câu 10: Yếu tố “tri” trong từ “tri âm” có nghĩa là gì?
3. Phần làm văn
3.1. Viết văn bản thuyết minh về một tác phẩm văn học
Đề 1: Viết bài văn thuyết minh về tác phẩm Chí Phèo
Đề 2: Viết bài thuyết minh về Chuyện chức phán sự đền Tản Viên
Đề 3: Viết bài văn thuyết minh về đoạn trích Hồi trống Cổ Thành
3.2. Viết văn bản thuyết minh về một sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội
Đề 1: Viết văn bản thuyết minh về hiện tượng chảy máu chất xám
Đề 2: Viết văn bản thuyết minh về hiệu ứng nhà kính
Đề 3: Viết văn bản thuyết minh về hiện tượng vô cảm
3.3. Viết văn bản thuyết minh về một sự vật, hiện tượng trong tự nhiên
Đề 1: Viết văn bản thuyết minh về hiện tượng núi lửa
Đề 2: Viết văn bản thuyết minh về hiện tượng thủy triều
3.4. Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật
Đề 1: Phân tích tác phẩm "Bước đường cùng"
Đề 2: Phân tích tác phẩm "Đất rừng phương Nam"
C. LỜI GIẢI CHI TIẾT
1. Phần đọc hiểu
|
Câu 1: Tác phẩm Trao duyên thuộc thể loại nào? |
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại đặc điểm về thể loại
Lời giải chi tiết
Truyện thơ Nôm
|
Câu 2: Đoạn trích thuộc phần nào trong tác phẩm Truyện Kiều? Đoạn trích thuộc phần 2 - Gia biến và lưu lạc (từ câu 723 đến câu 756) |
Phương pháp
Nhớ lại xuất xứ của đoạn trích
Lời giải chi tiết
Đoạn trích thuộc phần 2 - Gia biến và lưu lạc (từ câu 723 đến câu 756)
|
Câu 3: Thúy Kiều dùng những từ như “cậy”, “thưa” cùng hành động “lạy” là muốn thể hiện điều gì? Việc Kiều nhờ em rất thiêng liêng. Kiều đặt Vân vào hoàn cảnh không thể từ chối. Kiều đang trong một hoàn cảnh đặc biệt khác thường, nài ép Vân phải nhận. |
Phương pháp
Đọc kĩ đoạn thơ
Chú ý phân tích sắc thái biểu thị của các từ ngữ
Lời giải chi tiết
Việc Kiều nhờ em rất thiêng liêng.
Kiều đặt Vân vào hoàn cảnh không thể từ chối.
Kiều đang trong một hoàn cảnh đặc biệt khác thường, nài ép Vân phải nhận.
|
Câu 4: Hình ảnh: “lò hương”, “ngọn cỏ lá cây”, “hiu hiu gió”, “hồn”, “thân bồ liễu”,… gợi đến điều gì? |
Phương pháp
Phân tích đoạn thơ
Lời giải chi tiết
Hình ảnh: “lò hương”, “ngọn cỏ lá cây”, “hiu hiu gió”, “hồn”, “thân bồ liễu”, “đền nghì trúc mai”, “dạ đài”, “giọt nước”, “người thác oan”… → nhắc nhiều đến cái chết.
→ Kiều coi mình như đã chết. Kiều vẫn đang nuối tiếc, xót xa những kỉ niệm hạnh phúc, vẫn hi vọng mong manh về sự sum họp.
→ Tình cảm của Kiều dành cho Kim Trọng rất sâu sắc và mãnh liệt.
|
Câu 5: "Son phấn", "văn chương" là để nói về điều gì ở Tiểu Thanh? "Son phấn", "văn chương" là để nói Tiểu Thanh là một cô gái xinh đẹp, có tài hoa |
Phương pháp
Phân tích nghĩa của từ dựa vào ngữ cảnh
Lời giải chi tiết
"Son phấn", "văn chương" là để nói Tiểu Thanh là một cô gái xinh đẹp, có tài hoa
|
Câu 6: Hai câu thực và hai câu luận, tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? |
Phương pháp
Đọc kĩ hai câu thực và hai câu luận
Nhớ lại kiến thức về các biện pháp nghệ thuật
Lời giải chi tiết
Trong hai thực và hai câu luận, tác giả đã sử dụng nghệ thuật đối
“Son phấn” – “văn chương”
“vẫn hận” – “còn vương”
“Nỗi hờn” – “cái án”
|
Câu 7: “Cổ kim hận sự” có nghĩa là gì? |
Phương pháp
Tra cứu nghĩa trên sách, báo, internet,…
Áp dụng vào ngữ cảnh cụ thể của câu thơ
Lời giải chi tiết
“ Cổ kim hận sự”: mối hận xưa và nay, mối hận muôn đời, mối hận truyền kiếp → mối hận của những người tài hoa bạc mệnh
→ Câu thơ mang tính chất khái quát cao. Nỗi hận kia không phải là nỗi hận của riêng nàng Tiểu Thanh, của Nguyễn Du mà là của tất cả những người tài hoa trong xã hội phong kiến.
|
Câu 8: Chí khí anh hùng được sáng tác theo thể nào? |
Phương pháp
Dựa vào số chữ trong câu, số câu trong bài
Lời giải chi tiết
Thể thơ: lục bát
|
Câu 9:“Nửa năm hương lửa đương nồng, Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương” “Lòng bốn phương” trong hai câu thơ trên được hiểu là “Lòng bốn phương”: chí nguyện lập công danh, sự nghiệp |
Phương pháp
Phân tích từ ngữ dựa trên ngữ cảnh của câu
Lời giải chi tiết
“Lòng bốn phương”: chí nguyện lập công danh, sự nghiệp
|
Câu 10: Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình? Câu thơ trên thể hiện thái độ gì của Từ Hải khi nghe Kiều xin đi theo? |
Phương pháp
Phân tích câu thơ
Lời giải chi tiết
Từ Hải muốn nói:
- Thúy Kiều là người hiểu Từ Hải sâu sắc
- Là lời trách móc nhẹ nhàng Thúy Kiều vì chưa thoát khỏi sự ủy mị của nữ nhi tầm thường
- Là lời an ủi, động viên Thúy Kiều
|
Câu 11: Thể loại của tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông là |
Phương pháp
Đọc kĩ tác phẩm
Nhớ lại đặc điểm thể loại
Lời giải chi tiết
Thể loại bút kí
|
Câu 12: Ngay câu mở đầu văn bản, tác giả đã nêu đặc điểm đặc biệt gì của dòng sông Hương? |
Phương pháp
Đọc kĩ câu mở đầu, chỉ ra đặc điểm của sông Hương
Lời giải chi tiết
Điểm đặc biệt của dòng sông Hương: sông Hương chỉ thuộc về một thành phố duy nhất
|
Câu 13: Giá trị nội dung của đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông là? |
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản và rút ra giá trị nội dung
Lời giải chi tiết
Giá trị nội dung:
Là đoạn văn xuôi súc tích và đầy chất thơ. Nét đặc sắc làm nên sức hấp dẫn của đoạn văn là những cảm xúc sâu lắng được tổng hợp từ vốn hiểu biết phong phú về văn hóa, lịch sử, địa lí và văn chương cùng một văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế và tài hoa
|
Câu 14: Nhân vật đã chứng kiến hình ảnh gì trên đường đi trại hè đội viên? |
Phương pháp
Đọc kĩ đoạn đầu văn bản
Lời giải chi tiết
Tác giả đã vui sướng khi nhìn thấy những chiếc máy bay Đức và hiểu ra sự chết chóc đang đến dần khi chiếc máy bay đó ném bom xuống.
|
Câu 15: Kết quả của việc chờ đợi ba mẹ của nhân vật trữ tình là gì? |
Phương pháp
Đọc kĩ đoạn cuối
Lời giải chi tiết
Sau bao nhiêu năm, trải qua biết bao sóng gió, tác giả vẫn không chờ đợi được ba mẹ của mình và khi ở độ tuổi hiện tại, đã năm mươi mốt tuổi, tác giả vẫn muốn gặp lại mẹ của mình như chục năm về trước, trong hình hài của một đứa trẻ.
|
Câu 16: Văn bản được triển khai theo trình tự nào? |
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Văn bản được trình bày theo trình tự thời gian, tác giả trình bày theo chuỗi từ thời niên thiếu cho đến những năm tháng cuối đời của nhân vật.
|
Câu 17: Phong trào xã hội nào đã được nói đến trong văn bản? |
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Phong trào xã hội được nói đến trong văn bản là phong trào dân chủ, đấu tranh vì quyền của phụ nữ, về bình đẳng giới.
|
Câu 18: Chủ đề của văn bản là? |
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản và tiêu đề
Lời giải chi tiết
Chủ đề của văn bản là bàn về trí thông minh nhân tạo.
|
Câu 19: Theo tác giả, “AI mạnh” có thể: |
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Trong tương lai, những cỗ máy có AI mạnh sẽ có khả năng học hỏi khi chúng vận hành và phản ứng lại với các sự kiện bất ngờ. Bạn hãy nghĩ về khả năng những việc như:
- Chẩn đoán bệnh và phẫu thuật, lập kế hoạch quân sự và ra lệnh chiến đấu
- Chăm sóc khách hàng được tự động hóa
- Những chú rô – bốt với óc sáng tạo và tính tự động nhân tạo có thể dự đoán và đối phó với tội phạm
|
Câu 20: Mục đích ban đầu của việc tổ chức thế vận hội Pa – ra – lim – píc là? |
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Pa – ra – lim – pích ra đời vào năm 1960. Cội nguồn của Pa – ra – lim – píc chính là dành cho các nạn nhân của chiến tranh, với mục tiêu giúp họ hòa nhập cùng cuộc sống bình thường
|
Câu 21: Theo em, từ “ngất ngưởng” trong bài thơ được hiểu như thế nào? |
Phương pháp
Đọc kĩ bài thơ
Phân tích từ “ngất ngưởng”
Lời giải chi tiết
Hiểu theo nghĩa bóng, “ngất ngưởng” là cách sống vượt lên những khuôn mẫu gò bó, thể hiện tính cách, thái độ, cách sống ngang tàng của Nguyễn Công Trứ
|
Câu 22: Câu thơ “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” được hiểu là? |
Phương pháp
Phân tích câu thơ
Lời giải chi tiết
Bài thơ mở đầu bằng một câu chữ Hán trang trọng thể hiện quan niệm cao cả, đẹp đẽ của một nhà Nho chân chính về bổn phận, nghĩa vụ của mình với đời, với dân, với nước; bộc lộ niềm tự hào không che giấu của nhà thơ về vị trí, vai trò và cả tầm vóc của cá nhân mình trước cuộc đời
|
Câu 23: Mục đích của tác phẩm Văn Tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là: |
Phương pháp
Nhớ lại mục đích của văn bản
Lời giải chi tiết
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được Nguyễn Đình Chiểu viết theo yêu cầu của tuần phủ Gia Định, để tưởng nhớ công ơn của những người nông dân đã anh dũng đứng lên chống giặc
|
Câu 24: Bài văn tế thường có bố cục những phần nào? |
Phương pháp
Nhớ lại bố cục về bài văn tế
Lời giải chi tiết
Bố cục bài văn tế thường có các phần:
- Lung khởi: cảm tưởng khái quát về người chết
- Thích thực: hồi tưởng công đức của người chết
- Ai vãn: than tiếc người chết
- Kết: nêu lên ý nghĩa và lời mời của người đứng tế đối với linh hồn của người chết
|
Câu 25: Tác giả đã đưa ra luận cứ nào để chứng minh cho luận điểm thứ nhất: “Hầu hết những hoạt động và mong muốn của chúng ta đều có quan hệ với sự tồn tại của người khác”? |
Phương pháp
Đọc kĩ đoạn đầu văn bản
Lời giải chi tiết
Chúng ta nhận ra rằng, về bản chất giống loài, chúng ta cũng giống như những động vật sống theo bầy
Chúng ta ăn thức ăn người khác trồng, mặc quần áo người khác may, sống trong nhà người khác xây
Hầu hết những gì ta hiểu biết và tin tưởng đều do người khác bày cho ta thông qua một ngôn ngữ, mà ngôn ngữ cũng do những người khác tạo ra
2. Phần tiếng Việt
|
Câu 1: Xác định câu văn KHÔNG sử dụng phép lặp cú pháp trong đoạn trích sau? “ Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa” (Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh) |
Phương pháp
Đọc kĩ đoạn trích
Nhớ lại kiến thức về biện pháp lặp cú pháp
Lời giải chi tiết
Câu: Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị
|
Câu 2: Câu văn sau sử dụng phép liên kết gì? Nghệ thuật nói nhiều với tư tưởng nữa, nghệ thuật không thể nào thiếu tư tưởng. Không tư tưởng, con người có thể nào còn là con người |
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về các phép liên kết
Lời giải chi tiết
Phép lặp từ ngữ
|
Câu 3: Tác dụng của phép đối là |
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về phép đối
Lời giải chi tiết
- Gợi sự phong phú về ý nghĩa (tương đồng và tương phản)
- Tạo ra sự hài hòa về thanh
- Nhấn mạnh ý
|
Câu 4: Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều (Tràng giang) Câu thơ trên sử dụng nào? |
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về các hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường
Lời giải chi tiết
Hai câu thơ sử dụng hình thức đảo ngữ để nhấn mạnh một đặc điểm nào đó của đối tượng miêu tả thể hiện
|
Câu 5: Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi (Vội vàng, Xuân Diệu) Đoạn thơ trên sử dụng hiện tượng phá vỡ quy tắc thông thường nào? |
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về các hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường
Lời giải chi tiết
Hai câu thơ sử dụng hình thức tạo ra những kết hợp từ trái logic nhằm “lạ hóa” đối tượng được nói tới
|
Câu 6: Khi giải thích “Cầu hôn: xin được lấy làm vợ” là đã giải thích nghĩa của từ bằng cách nào? |
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về cách giải thích nghĩa của từ
Lời giải chi tiết
Khi giải thích như vậy, ta đã sử dụng cách trình bày khái niệm mà từ biểu thị
|
Câu 7: Trung niên: người đã quá tuổi thanh niên nhưng chưa già Từ trên được giải thích theo cách nào? |
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về cách giải thích nghĩa của từ
Lời giải chi tiết
Khi giải thích như vậy, ta đã sử dụng cách trình bày khái niệm mà từ biểu thị
|
Câu 8: Học lỏm có nghĩa là: |
Phương pháp
Dựa vào kiến thức của bản thân hoặc tra cứu trên sách, báo, internet,…
Lời giải chi tiết
Nghe hoặc thấy người ta làm rồi làm theo, chứ không được ai trực tiếp dạy bảo
|
Câu 9: Sơn Tinh: thần núi; Thủy Tinh: thần nước Hai từ trên được giải thích theo cách nào? |
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về nghĩa của từ
Lời giải chi tiết
Hai từ trên được giải thích theo cách Phân tích nội dung nghĩa của từ
|
Câu 10: Yếu tố “tri” trong từ “tri âm” có nghĩa là gì? |
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về nghĩa của từ
Phân tích nghĩa của từng yếu tố trong từ
Lời giải chi tiết
Ban đầu, từ “tri âm” được hiểu với nghĩa ám chỉ ai đó biết thưởng thức âm nhạc, biết lắng nghe những giai điệu của ca từ. Qua thời gian phát triển của ngôn ngữ, “tri âm” hiện nay được biết đến nhiều hơn theo nghĩa là những người bạn bè thấu hiểu nhau.
3. Phần làm văn
3.1. Viết văn bản thuyết minh về một tác phẩm văn học
Đề 1: Viết bài văn thuyết minh về tác phẩm Chí Phèo
I. Mở bài: Giới thiệu tác phẩm “ Chí Phèo” và nhà văn Nam Cao.
II. Thân bài:
- Tóm tắt nội dung của tác phẩm: Truyện xoay quanh nhân vật Chí Phèo - đứa trẻ bị bỏ hoang trong một lò gạch cũ và được nhặt về nuôi. Lớn lên hắn đi ở hết nhà này nhà khác. Năm 20 tuổi, hắn làm canh điền cho nhà Bá Kiến, bị Bá Kiến vu oan và bắt bỏ tù. Hắn ở tù bảy tám năm rồi trở về với bộ dạng khác hẳn ngày xưa.
- Hoàn cảnh ra đời: Chí Phèo được nhà văn Nam Cao sáng tác năm 1941. Tên đầu tiên là: Cái lò gạch cũ.
- Truyện xoay quanh 3 nhân vật chính: Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến. ( Nêu đặc điểm nhân vật và hoàn cảnh của mỗi nhân vật)
- Giá trị nội dung và nghệ thuật qua tác phẩm.
- Liên hệ thực tế và rút ra bài học cho bản thân.
III. Kết bài: Kết luận vấn đề và nêu cảm nhận của bản thân.
Đề 2: Viết bài thuyết minh về Chuyện chức phán sự đền Tản Viên
I. Mở bài:
- Giới thiệu tác phẩm.
II. Thân bài:
a. Tác giả:
- Tác giả Nguyễn Dữ, có người gọi là Nguyễn Dư hoặc Nguyễn Tự, chưa rõ năm sinh năm mất, sống vào khoảng đầu thế kỷ XVI, quê ở tỉnh Hải Dương.
- Ông được xem là người đã đưa khái niệm "truyền kỳ" tiến vào văn học của nước ta.
- Để lại duy nhất tác phẩm Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyền kỳ khác nhau.
b. Khái niệm truyền kỳ:
- Các tác phẩm văn xuôi trung đại có các yếu tố hoang đường kì ảo. Ở đó có sự tương giao giữa thế giới con người với cõi âm, cõi tiên với sự xuất hiện của thánh thần, ma quỷ làm tăng sức hấp dẫn của tác phẩm, đồng thời góp phần phản ánh các nội dung cốt lõi trong quan niệm của tác giả.
c. Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục:
- Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục là một tập truyện gồm có 20 truyện khác nhau được viết bằng chữ Hán chứa nhiều yếu tố hoang đường kì ảo, ra đời vào khoảng nửa đầu thế kỷ XVI.
- Nội dung chính của các truyện trong Truyền Kỳ Mạn Lục là vạch trần hiện thực xã hội phong kiến đương thời thối nát, cảm thông cho số phận bi thảm của những con người nhỏ bé trong xã hội, đặc biệt là người phụ nữ. Đồng thời đề cao vẻ đẹp phẩm cách, đạo đức, trí tuệ của con người, thể hiện sự ủng hộ quan niệm "lánh đục về trong" của cách danh sĩ đường thời, cũng phản ánh ước mơ, niềm tin của nhân dân về chân lý cái thiện luôn chiến thắng cái ác.
d. Tóm tắt Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Tự tóm tắt).
e. Nội dung cốt lõi của tác phẩm:
* Sự kiên định chính nghĩa của nhân vật Ngô Tử Văn:
- Thể hiện trong thái độ và cách hành động của chàng khi đốt đền của yêu quái, trong việc chàng đối mặt với lời đe dọa của tên ác thần.
- Thái độ bình tĩnh của chàng khi bị bắt về cõi âm ti, với sự xuất hiện của các loài quỷ nanh ác, không gian rùng rợn ghê sợ.
- Sự chính trực, ngay thẳng, dũng cảm thể hiện trong việc chàng đấu tranh, minh oan cho bản thân trước mặt Diêm Vương.
- Kết quả: Giành được chiến thắng, mang lại sự yên ổn cho nhân dân, giải oan cho bản thân, lấy lại ngôi đền cho Thổ thần và được tiến cử chức phán sự đền Tản Viên, trở thành tiên.
→ Khẳng định niềm tin chính nhất định sẽ thắng tà. Mặt khác nhân vật Ngô Tử Văn còn đại diện cho anh tài đất Việt giành chiến thắng trước kẻ thù xâm lược, nêu cao tinh thần dân tộc, sự anh dũng, mạnh mẽ của nhân dân ta trong quá trình chống giặc ngoại xâm, chống lại cái ác cái xấu.
* Ngụ ý phê phán:
- Hồn ma tên tướng giặc lúc sống làm quân xâm lược lúc chết đi lại làm yêu quái quấy nhiễu dân lành. Từ đầu tới cuối lên mang trong mình dã tâm xâm lược, đáng phải nhận sự trừng trị, tiêu diệt.
- Phản ánh sự bất công đầy rẫy trong xã hội phong kiến thối nát, thông qua chuyện tên tướng giặc hối lộ thánh thần, còn lực lượng thực thi công lý như Diêm Vương lại bị che mắt.
f. Nghệ thuật:
- Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, mở đầu bằng tình tiết khác lạ, xây dựng cao trào truyện đầy kịch tính lô-gíc, với các nút thắt, và cách giải quyết hợp lý, làm thỏa mãn người đọc.
- Yếu tố kỳ ảo hoang đường được đưa vào một cách khéo léo làm nổi bật chủ đề, nội dung câu chuyện, đồng thời khắc họa rõ ràng tính cách của nhân vật.
III. Kết bài:
Nêu tổng kết.
Đề 3: Viết bài văn thuyết minh về đoạn trích Hồi trống Cổ Thành
1. Mở bài
- Giới thiệu vài nét về tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa: Là một trong số "Tứ đại danh tác của Trung Quốc".
- Nêu vấn đề cần nghị luận: Đoạn trích Hồi trống Cổ Thành làm nổi bật vẻ đẹp phẩm chất tuyệt nghĩa của Trương Phi đồng thời hiểu hơn về ý nghĩa của vấn đề "trung thành hay phản bội".
2. Thân bài
- Xuất xứ: "Hồi trống Cổ Thành" nằm giữa hồi thứ 28 của bộ tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa
- Nội dung: Nói về sự kiện Trương Phi gặp lại Quan Công sau bao ngày xa cách nhưng với thái độ tức giận, đòi giết cho kì được Quan Công bỏ ngoài tai mọi lời khuyên ngăn của mọi người và lời giải thích của Quan Vân Trường. Chỉ đến khi Quan Công lấy đầu tướng của Tào Tháo là Sái Dương sau một hồi trống thì Trương Phi mới nguôi giận, nghe tên lính kể chuyện thực hư, Trương Phi mới tin anh mình và khóc lóc, thụp lạy.
* Cảnh gặp mặt và mâu thuẫn giữa Trương Phi và Quan Công
- Khi nghe tin báo:
+ Quan Công: Khi nghe tin em thì mừng rỡ, nôn nóng, muốn gặp mặt
→ Người giàu lòng trung nghĩa, giàu tình nghĩa và biết nghĩ cho mọi người.
+ Trương Phi: Khi nghe tin Quan Công thì "chẳng nói chẳng rằng... dẫn một nghìn quân" chạy đến giết Quan Công.
→ Hành động dứt khoát, quyết liệt khẳng định vẻ đẹp cương trực, khảng khái, rõ ràng.
- Khi gặp mặt nhau:
+ Quan Công mới gặp Trương Phi vội tránh mũi mâu, nhắc lại tình nghĩa vườn đào và ra sức thanh minh cho bản thân: "Chuyện này... em đến mà hỏi".
→ Tính cách: Điềm đạm, nhẹ nhàng, kiên nhẫn nhưng không kém phần dứt khoát.
+ Trương Phi: Vừa gặp anh liền quát mắng, nổi giận đùng đùng.
→ Tính cách nóng nảy, cương trực.
* Cảnh hóa giải mọi mâu thuẫn
- Trương Phi đưa ra yêu cầu đối với Quan Công: Muốn chứng minh tấm lòng trung nghĩa của mình, Quan Công phải chém được đầu tên tướng giặc là Sái Dương.
- Khi Trương Phi đánh trống, Quan Vân Trường múa đao xô lại, dứt khoát chém một nhát rơi đầu tên tướng giặc.
→ Ý nghĩa chi tiết hồi trống Cổ Thành:
Giải quyết mâu thuẫn một cách chóng vánh + khắc họa thêm tấm lòng trung nghĩa của Quan Công, sự thẳng thắn mạnh mẽ của Trương Phi.
Là minh chứng cho thủ pháp cường điệu, phóng đại - nghệ thuật đặc trưng trong tiểu thuyết chương hồi.
3. Kết bài
- Khẳng định giá trị nội dung, nghệ thuật của đoạn trích Hồi trống Cổ Thành.
- Nêu suy nghĩ, đánh giá của bản thân về tác phẩm.
3.2. Viết văn bản thuyết minh về một sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội
Đề 1: Viết văn bản thuyết minh về hiện tượng chảy máu chất xám
1. Mở bài
Dẫn dắt đến vấn đề cần nghị luận: Hiện tượng chảy máu chất xám
2. Thân bài
- Giải thích: "Chảy máu chất xám" là việc mất đi nguồn lực trí thức có năng lực, trình độ khi họ quyết định làm việc và định cư ở nước ngoài.
- Thực trạng:
+ Nhiều người quyết định sinh sống và cống hiến tài năng cho các nước phát triển thay vì làm việc tại quê nhà.
+ Việt Nam đã và đang phải đối diện với thực trạng "khủng hoảng", thiếu trầm trọng nhân tài.
+ Hàng năm nhà nước phải chi nguồn kinh phí lớn cho việc thuê các chuyên gia nước ngoài về làm việc.
- Nguyên nhân:
+ Chủ quan: Do mong muốn được làm việc trong một môi trường tốt, thu nhập cao.
+ Khách quan: Cơ sở hạ tầng ở Việt Nam còn kém phát triển, điều kiện làm việc tại các cơ sở trong nước còn hạn chế, chưa phát huy hết được năng lực, tài năng của người tài.
- Đề xuất giải pháp:
+ Mỗi người cần ý thức được trách nhiệm xây dựng và phát triển đất nước.
+ Nhà nước có những chính sách thiết thực, hiệu quả để thu hút hiền tài.
3. Kết bài
Chốt lại vấn đề nghị luận.
Đề 2: Viết văn bản thuyết minh về hiệu ứng nhà kính
Mở bài: Dẫn dắt vấn đề
Thân bài:
I. Giới thiệu về hiệu ứng nhà kính
- Khái niệm hiệu ứng nhà kính: là quá trình tăng nhiệt độ trái đất do sự tăng cường của các khí nhà kính trong không khí.
- Các khí nhà kính chính: CO2, methane (CH4), nitrous oxide (N2O), hơi nước và ozone (O3).
- Nguyên nhân gây ra hiệu ứng nhà kính: hoạt động con người như đốt nhiên liệu hóa thạch, rừng bị chặt phá, nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp...
II. Các hệ quả của hiệu ứng nhà kính
1. Tác động đến môi trường
- Tăng nhiệt độ trái đất: gây biến đổi khí hậu, làm tăng mực nước biển, làm thay đổi chu kỳ mưa, tạo ra các hiện tượng thời tiết cực đoan.
- Sự tăng nhiệt độ gây ra sự chảy nhanh của băng ở cực, làm tăng mực nước biển, gây nguy hiểm cho các đảo quốc và các khu vực ven biển.
- Gây ra sự suy thoái và mất mát đa dạng sinh học, làm thay đổi môi trường sống của nhiều loài động vật và thực vật.
2. Tác động đến con người
- Gây ra các vấn đề sức khỏe: tăng nguy cơ mắc các bệnh hô hấp, bệnh tim mạch, tăng nguy cơ ung thư do tác động của các chất ô nhiễm trong không khí.
- Gây ra thiệt hại kinh tế: làm giảm năng suất nông nghiệp, gây thiệt hại cho ngành công nghiệp du lịch, gây mất mát tài sản do thiên tai và biến đổi khí hậu.
III. Biện pháp giảm thiểu hiệu ứng nhà kính
1. Sử dụng năng lượng tái tạo: tăng cường sử dụng năng lượng mặt trời, gió, thủy điện và nhiệt điện sinh học để giảm sự phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch.
2. Kiểm soát ô nhiễm môi trường: giảm thiểu khí thải từ các nguồn công nghiệp, giao thông và nông nghiệp.
3. Bảo vệ và phục hồi môi trường: tăng cường bảo vệ rừng, tái tạo đất, bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên.
4. Tăng cường nhận thức và giáo dục: tăng cường giáo dục về biến đổi khí hậu và hiệu ứng nhà kính để tạo ra những thay đổi tích cực trong hành vi của con người.
Kết bài:
- Hiệu ứng nhà kính gây ra nhiều hệ quả nghiêm trọng đối với môi trường và con người.
- Để giảm thiểu hiệu ứng nhà kính, cần thực hiện các biện pháp như sử dụng năng lượng tái tạo, kiểm soát ô nhiễm môi trường, bảo vệ và phục hồi môi trường, cùng với việc tăng cường nhận thức và giáo dục.
Đề 3: Viết văn bản thuyết minh về hiện tượng vô cảm
3.3. Viết văn bản thuyết minh về một sự vật, hiện tượng trong tự nhiên
Đề 1: Viết văn bản thuyết minh về hiện tượng núi lửa
1. Mở bài
Giới thiệu khái quát về hiện tượng núi lửa.
2. Thân bài
-Núi lửa là gì?
-Nguyên nhân, cơ chế hình thành núi lửa?
-Lợi ích hoặc tác hại của hiện tượng núi lửa?
-Liên hệ mở rộng về các vấn đề liên quan đến núi lửa.
3. Kết bài
Trình bày sự việc cuối/kết quả của núi lửa.
Đề 2: Viết văn bản thuyết minh về hiện tượng thủy triều
1. Mở bài: Giới thiệu về hiện tượng thủy triều.
2. Thân bài:
Thủy triều là hiện tượng nước biển lên xuống trong một chu kỳ biến chuyển thiên văn.
2.1 Sự hình thành của thủy triều
- Sức hút lẫn nhau giữa Mặt trăng và Trái đất có xu hướng làm cho chúng xích lại gần nhau. Nhưng sức hút này được bù bằng lực quay ly tâm của Trái đất, cũng như của Mặt trăng, xung quanh tâm quán tính của chúng.
- Ở tâm Trái đất, lực ly tâm và lực hút từ Mặt trăng bù nhau. Nhưng đây không phải là trường hợp tại một điểm nào đó trên mặt đất vì hai lực thay đổi theo chiều ngược nhau: một điểm càng xa trọng tâm của Trái đất - Mặt trăng, lực ly tâm mà nó phải chịu sẽ càng lớn, trong khi ngược lại, sức hút của Mặt trăng giảm theo khoảng cách.
- Do đó, hai lực không bù nhau trên bề mặt của Trái đất và sự chênh lệch của chúng là nguồn gốc của thủy triều: ở điểm A, lực ly tâm không đủ để cân bằng với sức hút, vì vậy A có xu hướng dịch chuyển về phía Mặt trăng. Ngược lại, ở điểm B lực ly tâm lớn hơn so với lực của Mặt trăng, do đó, B có xu hướng rời xa nó. Đó là lý do trên Trái đất có hai lần thủy triều mỗi ngày.
- Hiện tượng hút vi phân này tác động đến toàn bộ bề mặt của Trái đất, nhưng chỉ sự biến dạng của đại dương là dễ nhận thấy, còn vỏ Trái đất quá rắn nên hình dạng của nó khó thay đổi. Sự biến dạng này tăng lên khi Mặt trời nằm tháng hàng với Mặt trăng và Trái đất, khi ấy thêm vào hiệu ứng thủy triều riêng của nó. Chính vì vậy vào lúc trăng non và trăng tròn thủy triều là mạnh nhất.
- Hàng ngày, có 2 lần thủy triều lên và 2 lần thủy triều xuống. Mỗi ngày thủy triều lại xuất hiện muộn hơn khoảng 1 giờ so với ngày hôm trước. Bởi mỗi ngày, Mặt trăng phải thực hiện một phần vòng quay luân chuyển xung quanh Trái đất nên Mặt trăng bị chênh 1 giờ mới trở lại đúng cùng một điểm cũ.
- Biên đồ của thủy triều (độ chênh lệch mực nước biển khi thủy triều lên và xuống) rất khác nhau. Ở các đại dương, biên độ này là 1m, ở các biển kín và nhỏ thì ít hơn: khoảng 30cm, nhưng ở các cửa sông và eo biển có thể lên tới 17m.
2.2 Tác động của thủy triều
- Thủy triều là một hiện tượng xảy ra trong tự nhiên đem lại vai trò to lớn đối với con người, nhất là trong kinh tế. Khi mực nước thủy triều dâng lên, những nơi mà nó đi qua sẽ làm cho vùng đất trở nên màu mỡ, tươi tốt. Người dân có thể tận dụng để trồng hoa màu thu lại năng suất cao. Đồng thời thủy triều dâng lên sẽ mang lại nguồn lợi thủy hải sản phong phú. Ngư dân có thể tận dụng cơ hội này để thu về nguồi lợi hải sản.
- Tuy nhiên, song song với những mặt lợi của thủy triều là những mặt xấu cua hiện tượng này. Thủy triều cũng có thể gây ra những thiên tai như lũ lụt, đất ngập mặn, cản trở việc đánh bắt thủy hải sản, …
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề.
3.4. Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật
Đề 1: Phân tích tác phẩm "Đất rừng phương Nam"
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
2. Thân bài:
* Chủ đề của tác phẩm: cuộc sống và công việc của người dân Nam Bộ. => ca ngợi thiên nhiên, con người vùng đất U Minh.
2.1. Phân tích, đánh giá chủ đề của tác phẩm:
a. Công việc được khắc họa chủ yếu qua chi tiết dựng kèo nuôi ong và đi lấy mật:
* Dựng kèo: công việc đòi hỏi con người phải có hiểu biết, giàu kinh nghiệm:
- Phải quan sát, chọn được vùng rừng tốt.
- Lựa chọn cây phù hợp để làm kèo.
* Lấy mật: công việc gian khổ, vất vả:
- Đi vào rừng từ lúc sáng sớm, kết thúc khi gần về chiều.
- Phải đối mặt với tình cảnh đàn ong vỡ tổ, bay vù vù trong rừng.
- Lấy mật từ những sáp trắng trên nhánh kèo khô.
- Vắt mật vào gùi, đựng sáp ở một thúng riêng -> đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn thận.
b. Nhận xét chung về công việc:
- Công việc được thực hiện một cách khéo léo nhờ đôi bàn tay, sự am hiểu của con người Nam Bộ.
- Công việc ấy gắn liền với thiên nhiên, núi rừng vùng U Minh.
2.2. Phân tích, đánh giá một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật:
- Ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu, đậm chất Nam Bộ.
- Hình ảnh giàu sức gợi.
- Ngôi kể thứ nhất khiến văn bản thêm hấp dẫn, lôi cuốn.
3. Kết bài:
+ Khẳng định khái quát những nét đặc sắc về nghệ thuật và nét độc đáo về chủ đề của tác phẩm.
+ Nêu tác động của tác phẩm đối với bản thân hoặc cảm nghĩ sau khi đọc, thưởng thức tác phẩm.
Đề thi học kì 2 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
BỤI QUÝ
(K.G. Paustovsky)
(1) [...] “Gõ kiến” là biệt hiệu mà hàng xóm láng giềng đặt cho Samet, ta phải hình dung anh là một người gầy gò, mũi nhọn và dưới vành mũ bao giờ cũng lủng lẳng một mớ tóc giống như mào chim.
Trước kia, Samet đăng lính trong quân đội của “Tiểu Napôlêông” trong thời gian chiến tranh ở Mêhicô. Anh bị sốt rét nặng ở Vera-Krux, liền được gửi về nước. Viên chỉ huy trung đoàn nhân dịp bèn nhờ Samet đưa đứa con gái lên tám của ông tên là Xuyzan về Pháp. Viên chỉ huy góa vợ, vì thế đi đầu ông cũng phải đèo bòng con gái theo. Nhưng lần này ông quyết định tạm xa con và gửi nó về cho người chị ở Ruăng, bởi ở đây thiếu gì những nguy hiểm bất ngờ.
Trên đường về, con bé suốt ngày im lặng. Thậm chí nhìn những con cá bay vọt lên khỏi mặt nước, bóng nhẫy, nó cũng chẳng mỉm cười. Samet hết sức chăm sóc Xuyzan[...] Càng ngày anh càng hay bắt gặp cái nhìn băn khoăn của con bé. Cuối cùng anh đánh liều kể cho nó nghe về cuộc đời mình, anh ngạc nhiên thấy con bé nghe một cách háo hức và thậm chí còn bắt anh kể đi kể lại, đòi biết thêm những tình tiết mới... Anh kể về một bông hồng bằng vàng... bông hồng sáng lấp lánh như thế nào, mặc dù bên ngoài cửa sổ không có nắng và cơn bão buồn thảm đang gầm gào ngoài eo biển: Bà lão trong thôn có một bông hồng vàng, mọi người đều ngạc nhiên thấy bà lão dân chài không chịu bán vật quý của mình đi. Bán nó đi bà có thể thu được cả đống tiền. Chỉ một mình mẹ Samet biết rằng bán bông hồng ấy đi là có tội, bởi vì đó là quà chúc phúc của người tình bà lão tặng bà, khi bà còn là một cô gái tươi hơn hớn làm ở nhà máy đóng hộp cá ở tỉnh Ôđécnơ.
Trên thế gian này hiếm ai có được những bông hồng vàng, - mẹ Samet nói.
- Nhà nào có nó, nhà ấy sẽ được hạnh phúc. Mà không riêng gì họ, ai đụng tới bông hồng đó, người ấy cũng sẽ được hạnh phúc. Thằng bé Samet sốt ruột đợi mãi ngày bà lão dân chài được hưởng hạnh phúc. Nhưng đến cả bóng dáng của hạnh phúc cũng chẳng thấy đâu. Thế rồi Samet bỏ làng ra đi, không đợi được đến ngày cuộc đời bà lão thay đổi. Mãi một năm sau, một người quen ở Lơ Havrơ mới kể cho anh nghe rằng con trai bà lão bất thình lình từ Pari trở về, anh chàng họa sĩ đó râu xồm, vui nhộn và có tính khí kỳ quặc. Từ ngày ấy người ta không còn nhận ra túp lều kia nữa. Nó trở nên ồn ào và dư dật. Người ta kháo nhau rằng bọn họa sĩ vẽ lăng nhăng cũng kiếm được ối tiền.
Một hôm, ngồi trên boong tàu, Samet đang dùng chiếc lược sắt của mình chải mớ tóc rối tung trước gió cho Xuyzan thì con bé hỏi anh:
- Anh Giăng ơi, rồi cũng có người cho em một bông hồng vàng chứ?
- Rất có thể, - Samet trả lời. - Rồi cũng sẽ có một thằng nào đó cho em, Xuyzan a! [...]
Trước đó Samet đã nghe nhiều chuyện bịa đặt của lính tráng, nhưng riêng anh, anh chưa từng bịa chuyện bao giờ. Không phải anh không biết tưởng tượng, chẳng qua anh chưa bao giờ thấy cần phải làm như vậy. Còn giờ đây anh coi việc làm vui cho Xuyzan là một bổn phận thiêng liêng.
Samet đưa Xuyzan đến Ruăng và trao tận tay cho bác gái nó. Bà ta đeo hạt cườm đen khắp mình trông như một con rắn ở rạp xiếc. Con bé vừa trông thấy bà bác đã vội bám chặt lấy Samet và nép vào cái áo ca pốt bạc phếch của anh.
- Không sao! - Samet thì thầm và khẽ đẩy vào vai Xuyzan. - Bọn lính trơn bọn anh cũng chẳng được lựa chọn cho mình các ông đại đội trưởng đâu. Chịu khó vậy, cô lính ạ!
(2) Samet bỏ đi. Trong túi dết Samet còn giữ lại kỷ niệm của Xuyzan: một cái dịu đến thế, như thể nó được cất giữ trong một giành hoa tím. Năm tháng qua đi nơ buộc tóc đã nhàu nát màu xanh. Có trời mới biết vì sao cái băng đó lại thơm trong cảnh thiếu thốn đơn điệu. Samet nếm trải hết nghề cực nhọc này đến nghề khốn khổ khác và cuối cùng anh trở thành người hót rác thành Pari...
Ngày lại ngày quyện lấy nhau trong một màu vàng đục. Nhưng đôi khi trong cái màu vàng đục ấy, Samet lại thấy dấy lên trong lòng mình một áng mây hồng. Đó là bộ áo dài cũ của Xuyzan. Từ tấm áo ấy phảng phất hương xuân tươi mát như thể người ta cũng cất nó trong giành hoa tím.
Xuyzan giờ ở đâu? Em sống ra sao?... Đã nhiều lần Samet định đi Ruăng thăm Xuyzan. Anh hiểu rằng mình đã bỏ lỡ thời gian và chắc chắn Xuyzan đã quen anh rồi. Anh tự mắng mình là đồ bị thịt, khi nhớ đến cuộc chia tay với Xuyzan. Đáng lẽ phải hôn cô bé thì anh lại ấn vào lưng nó, đẩy nó tới chỗ con quạ già nọ và bảo “Chịu khó vậy, Xuzi, cô lính a!”[...]
(3) Một hôm, cũng vào một buổi bình minh mờ mịt hơi sương như thế, Samet đi trên cầu Phế Binh bắc ngang sông Xen và gặp một thiếu phụ mặc áo dài màu tím nhạt, đính đăng ten đen. Thiếu phụ đứng trên thành cầu và nhìn xuống dòng sông.
Samet dừng lại, cất bỏ chiếc mũ bụi bặm và nói:
Thưa tiểu thư, nước sống Xen lúc này lạnh lắm. Tiểu thư để tôi đưa về nhà thì hơn
- Giờ đây tôi cũng chẳng có nhà.Thiếu phụ trả lời rất nhanh và quay về phía Samet.
Samet để rơi chiếc mũ.
- Xuzi! – Anh kêu lên bằng một giọng tuyệt vọng và sung sướng đến cực độ
- Cô lính Xuzi! Cô bé của anh! Thế là cuối cùng anh cũng đã gặp em. Chắc là em quên anh rồi. Anh là Giăng Ecnet Samet đây, cái anh binh nhì ở Trung đoàn Thuộc địa số Hai Mươi Bảy đã đưa em về cho mụ bác gái tởm lợm ở Ruăng đây.
Em bây giờ xinh quá đi thôi! Tóc em chải mới khéo nữa chứ! Còn anh, cái thằng lính quèn này thì chẳng biết xoay xở với mái tóc em thế nào.
- Giăng! - Thiếu phụ kêu lên, đảm bổ tới ôm lấy cổ anh và khóc, - Giăng, anh vẫn tốt như xưa. Em còn nhớ hết mà!
- Ồ, rõ vớ vẩn! – Samet lầu bầu trong miệng. – Lòng tốt của anh thì lợi lộc gì cho ai. Có chuyện gì đã xảy ra với em vậy, em gái bé nhỏ của anh?
Samet kéo Xuyzan lại gần mình và làm cái việc anh không dám làm trước kia ở Ruăng: Vuốt ve và hôn lên mái tóc óng ả của nàng. Rồi anh vội lánh ra, sợ Xuyzan ngửi thấy mùi chuột cống trên áo ngoài của anh. Nhưng Xuyzan lại càng nép chặt vào vai anh hơn
- Có chuyện gì vậy, em bé nhỏ của anh? – Samet bối rối nhắc lại.
Xuyzan không trả lời. Nàng không nén được tiếng nức nở. Samet hiểu rằng lúc này chưa nên hỏi nàng chuyện gì hết.
- Anh có một cái hang chỗ tường thành. – Samet vội vã nói. – Hơi xa đây một chút. Tất nhiên ở nhà chẳng có gì hết, nhẵn như chùi. Nhưng được cái có thể hâm nước cho nóng và nằm ngủ trên giường. Ở đó em có thể tắm táp và nghỉ ngơi. Và nói chung em muốn ở bao lâu tùy thích.
Xuyzan ở nhà Samet năm ngày. Năm ngày ấy, một mặt trời kỳ lạ cất lên trên thành Pari. Hết thảy mọi ngôi nhà, kể cả những nhà cũ kỹ nhất, ám khói, tất cả những khu vườn, thậm chí cả cái hang của Samet nữa đều rực rỡ trong những tia sáng của vừng thái dương ấy, như là những báu vật.
Ai chưa từng được xúc động với hơi thở nhè nhẹ của thiếu nữ trong giấc ngủ, người đó chưa thể hiểu thế nào là dịu dàng. Mỗi nàng tươi hơn cả những cánh hoa ẩm ướt và đôi hàng mi nàng lấp lánh những giọt lệ đêm.
Phải, những gì đã xảy ra với Xuyzan quả đúng như Samet dự đoán. Người tình của nàng - một diễn viên trẻ - đã phụ nàng. Nhưng năm ngày Xuyzan sống bên Samet đã đủ để cặp tình nhân làm lành với nhau[...].
Khi đôi bạn trẻ lên đường, Xuyzan vội vã nhảy lên xe, nàng quên cả từ biệt Samet. Liền đó nàng sực nhớ ra, đỏ mặt và ngượng ngùng đưa tay cho anh.
Em đã chọn lấy cuộc sống theo ý em, anh chỉ còn biết chúc em hạnh phúc.
- Cuối cùng Samet mới nói.
- Em chưa biết rồi sẽ ra sao? – Xuyzan trả lời và mắt nàng ngấn lệ.
- Em băn khoăn như vậy thực là vô ích, em bé nhỏ của anh ạ! – Anh chàng diễn viên trẻ dài giọng và nhắc lại. – Em bé xinh đẹp của anh.
- Giá có ai đó tặng cho em một bông hồng vàng! – Xuyzan thở dài. – Cái đó chắc chắn sẽ mang lại cho em hạnh phúc. Em vẫn nhớ câu chuyện anh kể trên tàu, anh Giăng ạ!
- Biết đâu đấy! – Samet trả lời. – Nhưng dù sao thì người sẽ mang bông hồng vàng đến cho em cũng chẳng phải là cái anh chàng quý phái này đâu.
(4) Sau lần gặp Suzanne, anh thôi không đổ bụi quét ở những hiệu kim hoàn đi nữa. Anh giấu giếm bỏ chúng vào một cái túi rồi vác về lều. Xóm giềng cho rằng anh chàng quét rác nọ đã “lẩn thẩn”. Hiếm ai biết rằng trong số bụi anh mang về có chứa một ít bột vàng, bởi vì những người thợ bạc khi làm việc thể nào cũng để rơi rớt một chút xíu thứ kim loại quý đó. Samet quyết định sàng sẩy lấy vàng để đúc một thoi nhỏ. Anh sẽ dùng thoi vàng ấy để đánh bông hồng sẽ mang lại hạnh phúc cho Suzanne. Mà rất có thể, như mẹ anh đã nói, nó còn mang lại hạnh phúc cho nhiều người khác nữa. Biết đâu đấy! Anh quyết không gặp lại Suzanne nữa, chừng nào bông hồng chưa xong
[...] Samet làm một cái quạt gió nhỏ và đêm đêm, ở sân nhà, anh quạt bụi thu lượm được ở các cửa hiệu kim hoàn. Anh hồi hộp mãi cho đến lúc trông thấy mờ mờ một lớp mạt vàng lấp lánh trên ngăn gỗ. Đến lúc có đủ mạt để đánh được một thoi vàng thì đã mất nhiều thời gian lắm. Nhưng Samet chưa đưa cho thợ bạc đánh bông hồng vội. Không phải Samet thiếu tiền thuê thợ: bất cứ ông thợ bạc nào cũng sẵn sàng đánh bông hồng ấy để lấy tiền công bằng một phân ba thoi vàng, và như thế họ cũng đã hài lòng lắm. Nguyên do là ở chỗ khác. Mỗi ngày qua, giờ gặp gỡ với Suzanne càng gần lại. Nhưng không biết từ lúc nào, Samet bắt đầu sợ cái giờ ấy. Tất cả tình cảm trìu mến từ lâu được giữ kín trong lòng [...]
Cuối cùng, khi đã đánh xong bông hồng, Samet mới biết Suzanne đã rời Paris
đi sang Hoa Kỳ từ một năm trước và, người ta nói, nàng đi hẳn, không trở lại nữa. Không ai có thể cho Samet biết địa chỉ của nàng. Thoạt đầu, Samet thấy nhẹ hẳn người. Nhưng rồi không hiểu vì sao, tất cả nỗi chờ mong cuộc gặp gỡ đầm ấm và thanh thản với Suzanne đã biến thành một mảnh sắt rỉ. Mảnh sắt nhọn ấy mắc trong lồng ngực anh, ngay bên tim, và Samet cầu Trời cho nó mau mau đâm thẳng vào trái tim ốm yếu đi, cho nó vĩnh viễn ngừng đập.
Samet bỏ việc quét dọn các xưởng. Anh nằm bẹp trong túp lều của anh mấy ngày liền, quay mặt vào tường... Chỉ có một người chăm sóc Samet. Đó là ông thợ bạc đứng tuổi đã đánh từ thoi vàng ra một bông hồng rất mực tinh xảo. Cùng trên một cành, ngay bên cạnh bông hoa, ông ta đánh thêm một nụ hồng bé và nhọn...
Thực thế, Samet lặng lẽ qua đời... Ông thợ bạc, ông ta nâng đầu anh thợ quét rác lên, lật cái gối xám bẩn và lôi ra bông hồng vàng bọc trong một cái nơ nhầu nát màu xanh... Lúc đó vào cuối thu. Màn đêm rung động vì gió và vì những đốm lửa nhấp nháy. Ông thợ bạc nhớ đến nét đổi thay trên mặt Samet sau khi anh chết. Bộ mặt anh trở nên nghiêm nghị và trầm tĩnh. Ông ta thấy niềm cay đắng hiện trên mặt anh còn tuyệt đẹp nữa là khác. “Cuộc sống không cho người ta cái gì thì cái chết cho người ta cái ấy”.
(5) Ít lâu sau ông ta đem bông hồng vàng nọ bán cho một nhà văn già ăn vận lôi thôi lốc thốc, và theo ông thợ bạc nhận xét, thì nhà văn này cũng chẳng giàu có gì cho lắm để có thể bỏ tiền ra mua một vật đắt đến như thế. Hẳn câu chuyện về bông hồng vàng do ông thợ bạc kể lại cho nhà văn đã đóng vai trò quyết định trong việc mua bán nọ.
Chúng ta phải mang ơn nhà văn già, nhờ những ghi chép của ông mà sau này mới có người biết được câu chuyện cay đắng trong đời người cựu binh trung đoàn thuộc địa thứ Hai Mươi Bảy là Jean Samet.
Trong những ghi chép của ông, nhà văn viết:
“Mỗi phút, mỗi lời tình cờ được nói ra và mỗi cái nhìn vô tình ta bắt gặp, mỗi ý nghĩ sâu sắc hoặc bông đùa, mỗi rung động thầm lặng của con tim, thậm chí một bông tiêu huyền xốp đang bay lượn, hay lửa sao trong một vũng nước đêm - tất cả những cái đó đều là những hạt rất nhỏ của bụi vàng. Chúng ta, những nhà văn, chúng ta bòn đãi chúng trong hàng chục năm, hàng triệu những hạt cát đó, thu góp chúng lại cho mình, một cách thầm lặng mà chính mình cũng không nhận thấy, biến chúng thành một hợp kim và rồi từ hợp kim ấy ta đánh “bông hồng vàng” của ta - truyện, tiểu thuyết hay là thơ”.
Bông hồng vàng của Samet!
Đối với tôi, nó phần nào là hình tượng tương lai của hoạt động sáng tạo của chúng ta. Thật là lạ, chẳng có ai chịu khó nghiền ngẫm xem từ những hạt bụi quý ấy đã khởi sinh nguồn văn học sống động như thế nào.
Nhưng cũng giống như bông hồng vàng của người thợ quét rác kia được tạo ra vì hạnh phúc của Suzanne, sáng tác của chúng ta được tạo ra là để cho cái đẹp của đất đai, cho lời kêu gọi đấu tranh vì hạnh phúc, cho niềm vui và tự do, cho cái cao rộng của tâm hồn người, cho sức mạnh của trí tuệ sẽ chiến thắng bóng tối, để chúng vĩnh viễn rực rỡ như một mặt trời không bao giờ tắt”.
(KG Paustovsky, Bông Hồng Vàng Và Bình Minh Mưa. NXB Văn học 2009.)
............
Konstantin Georgiyevich Paustovsky (1892- 1968) là một nhà văn Liên Xô nổi tiếng với thể loại truyện ngắn. Ông được đề cử Giải Nobel Văn học năm 1965.
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Cảm hứng chủ đạo của văn bản Bụi quý là gì?
Câu 2: Văn bản Bụi quý sử dụng chủ yếu những điểm nhìn trần thuật nào?
Câu 3: Nhận xét nghệ thuật kể chuyện, tác dụng của chúng trong đoạn văn sau:
Anh hồi hộp mãi cho đến lúc trông thấy mờ mờ một lớp mạt vàng lấp lánh trên ngăn gỗ. Đến lúc có đủ mạt để đánh được một thoi vàng thì đã mất nhiều thời gian lắm
Câu 4: Theo em, đoạn nào trong văn bản đọc toát lên “phong cách lãng mạn cao thượng với bút pháp phóng khoáng và tuôn tràn đầy lòng cảm thương, trân trọng những khát vọng cháy bỏng về hạnh phúc con người” của Paustovsky? Hãy phân tích đôi nét về nghệ thuật của đoạn ấy.
Câu 5: Paustovsky nói về điều gì, về ai? Ông muốn gửi gắm điều gì tới người đọc trong đoạn cuối của văn bản?
II. Viết (4đ)
Câu 1: Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ):
Sứ mệnh duy nhất của nhà văn, không gì khác đó là hướng đến những giá trị nhân văn. Thoạt nhìn đấy là một mệnh đề cũ kỹ. Điểm khác biệt là ở chỗ các nhà văn trước Nguyễn Huy Thiệp nói đến nó với sự hân hoan, với niềm tin về nhân văn như là một hằng số của tồn tại người - những hạt ngọc ẩn giấu trong cuộc đời mà nhà văn là kẻ kiếm tìm. Một cuộc kiếm tìm mà dù nhọc lòng đến đâu, lầm lạc đến đâu thì rồi cũng sẽ được đền đáp một cách xứng đáng. Nguyễn Huy Thiệp nói về sứ mệnh này một cách căng thẳng, bi phẫn: “Điều khốn nạn, trớ trêu và cũng là điểm yếu của một nhà văn là dù hiểu đời, lịch lãm đến đâu cuối cùng anh ta vẫn phải hành xử và biết trình bày tư tưởng nhân đạo một cách nghệ thuật. Giá trị nhân đạo là lý do duy nhất để cho văn học tồn tại”.
(Trần Văn Toàn - HTTPS://BOM.SO/1MLKI0)
a. Đoạn văn bản viết về vấn đề gì?
b. Những vấn đề đoạn ngữ liệu đề cập tới có thể hiện ở văn bản đọc Bụi quý không? Thể hiện như thế nào?
Câu 2: Viết bài luận: Hãy bàn luận về một giá trị mà em cho là đặc sắc của truyện Bụi quý (Paustovsky) (3đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Cảm hứng chủ đạo của văn bản Bụi quý là gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và rút ra nội dung chính
Từ đó suy ra cảm hứng chủ đạo
Lời giải chi tiết:
Cảm hứng chủ đạo: Cảm thương, trân trọng khát vọng cháy bỏng về hạnh phúc con người
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Văn bản Bụi quý sử dụng chủ yếu những điểm nhìn trần thuật nào? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về điểm nhìn trần thuật
Lời giải chi tiết:
Văn bản sử dụng
- Điểm nhìn thời gian
- Điểm nhìn bên trong
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Nhận xét nghệ thuật kể chuyện, tác dụng của chúng trong đoạn văn sau: Anh hồi hộp mãi cho đến lúc trông thấy mờ mờ một lớp mạt vàng lấp lánh trên ngăn gỗ. Đến lúc có đủ mạt để đánh được một thoi vàng thì đã mất nhiều thời gian lắm |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Chú ý cách sử dụng từ láy và các chi tiết tiêu biểu
Lời giải chi tiết:
Kết hợp kể, tả, từ điểm nhìn bên ngoài (của người kể chuyện) khiến đoạn văn trở nên hàm súc, giàu sức gợi:
- Diễn tả khát vọng, cảm xúc đặc biệt thường trực trong tâm hồn nhân vật Samet (hồi hộp mãi); thái độ cẩn trọng, sự kiên trì, nhẫn nại đến vô cùng của Samet trong suốt quá trình gom mạt vàng li ti
- Gợi được cả thời gian dài Samet dành để gom mạt vàng, để có được bông hồng vàng
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Theo em, đoạn nào trong văn bản đọc toát lên “phong cách lãng mạn cao thượng với bút pháp phóng khoáng và tuôn tràn đầy lòng cảm thương, trân trọng những khát vọng cháy bỏng về hạnh phúc con người” của Paustovsky? Hãy phân tích đôi nét về nghệ thuật của đoạn ấy. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản để chỉ ra được đoạn văn đề bài nhắc đến
Chú ý các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn để phân tích tác dụng
Lời giải chi tiết:
* Đoạn văn bản đọc
- Đó là ông thợ bạc đứng tuổi đã đánh từ thoi vàng ra một bông hồng rất tinh xảo. Cùng trên một cành, ngay bên cạnh bông hoa, ông ta đánh thêm một nụ hồng bé và nhọn... lật cái gối xám bẩn và lỗi ra bỗng hồng vàng bọc trong một cái nơ nhầu nát màu xanh Lúc đó vào cuối thu. Màn đêm rung động vì gió và vì
những đốm lửa nhấp nháy...niềm cay đắng hiện trên mặt anh còn tuyệt đẹp nữa là khác. “Cuộc sống không cho người ta cái gì thì cái chết cho người ta cái ấy”.
* Về nghệ thuật: tương phản đối lập của bút pháp lãng mạn.
+ Hình ảnh đẹp: nụ hồng bé; bông hồng rất mực tinh xảo; đốm lửa nhấp nháy
+ Tương phản: hiện thực nghèo nàn (cái gối xám bẩn; cái nơ nhầu nát; cái nơ nhầu nát >< với hình ảnh lung linh (nụ hồng bé; bông hồng rất mực tinh xảo...)
+ Hình ảnh đẹp thể hiện trân trọng những khát vọng cháy bỏng về hạnh phúc con người; hiện thực nghèo nàn thể hiện lòng cảm thương.
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Paustovsky nói về điều gì, về ai? Ông muốn gửi gắm điều gì tới người đọc trong đoạn cuối của văn bản? |
Phương pháp giải:
Dựa vào phần phân tích ở trên
Đọc kĩ đoạn cuối văn bản
Lời giải chi tiết:
- Nói về những người nghệ sĩ nghèo nhưng trân trọng, cái đẹp, yêu cái đẹp say đắm. Họ sẵn sàng hy sinh một điều gì đó ở bản thân để bòn đãi những tinh túy ở hiện thực biến chúng thành một hợp kim tạo những giá trị bất tử cho đời.
- Paustovsky qua thiên truyện này còn muốn ngầm ví công việc sáng tạo của mỗi nhà văn giống như quá trình chế tác một bông hồng vàng, phải lọc đi biết bao nhiều cát bụi mới thành được một chút gì đẹp đẽ dâng tặng cho đời.
II. VIẾT (4đ)
Câu 1 (1 điểm)
|
a. Đoạn văn bản viết về vấn đề gì? b. Những vấn đề đoạn ngữ liệu đề cập tới có thể hiện ở văn bản đọc Bụi quý không? Thể hiện như thế nào? |
Phương pháp giải:
a. Đọc kĩ văn bản
b. Chú ý những vấn đề đoạn ngữ liệu đề cập tới
Lời giải chi tiết:
a. Sứ mệnh của nhà văn: hướng đến giá trị nhân đạo (nhà văn phải kiếm tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong cuộc đời; biết trình bày tư tưởng nhân đạo một cách nghệ thuật).
b. Thể hiện: Ngữ liệu đã kết nối với Bụi quý một cách hoàn hảo. Với Bụi quý, nhà văn Paustovsky đã hoàn thành sứ mệnh của mình một cách vinh quang nhất
+ Paustovsky đã viết về tình yêu, sự khát khao hạnh phúc của con người bằng sự hân hoan, với niềm tin về nhân văn mãnh liệt (qua hình tượng bông hồng vàng và quá trình làm nên nó).
+ Paustovsky đã trình bày tư tưởng nhân đạo một cách nghệ thuật qua áng văn lãng mạn, phóng khoáng, qua ngôn từ lấp lánh sắc màu của cảm xúc...
Câu 2 (3 điểm)
|
Câu 2: Viết bài luận: Hãy bàn luận về một giá trị mà em cho là đặc sắc của truyện Bụi quý (Paustovsky) (3đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Hãy bàn luận về một giá trị mà em cho là đặc sắc của truyện Bụi quý (Paustovsky) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Giới thiệu tác giả tác phẩm - Giới thiệu luận đề, vai trò của luận đề với tác phẩm |
|
Thân bài |
2,0 |
- Tóm tắt tác phẩm (ngắn gọn) - Hệ thống luận điểm làm sáng tỏ luận đề +Luận điểm 1 (lí lẽ + dẫn chứng) +Luận điểm 2 (lí lẽ+ dẫn chứng) Lưu ý: HS có thể chọn một vấn đề cụ thể có thể nghị luận về toàn tác phẩm - Nội dung, nghệ thuật, bức thông điệp - Nhân vật Jean Samet/ Nghệ thuật kể truyện/ Hình tượng bông hồng vàng, sứ mệnh nhà văn… |
|
Kết bài |
0,25 |
- Tác động của văn bản văn học tới tình cảm, cách nhìn và đánh giá con người, cuộc sống |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Thể hiện rõ nhận thức cá nhân - Dẫn chứng tiêu biểu, ngắn gọn, phù hợp với lí lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
XUÂN KHÔNG MÙA
(Xuân Diệu)
Một ít nắng, vài ba sương mỏng thắm,
Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêu
Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều.
Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng.
Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng;
Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,
Chim trên cành há mỏ hót ra thơ;
Xuân là lúc gió về không định trước.
Đông đang lạnh bỗng một hôm trở ngược,
Mây bay đi để hở một khung trời
Thế là xuân. Ngày chỉ ấm hơi hơi,
Như được nắm một bàn tay son trẻ...
Xuân ở giữa mùa đông khi nắng hé;
Giữa mùa hè khi trời biếc sau mưa;
Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa
Lùa thanh sắc ngẫu nhiên trong áo rộng.
Nếu lá úa trên cành bàng không rụng,
Mà hoa thưa ửng máu quá ngày thường;
Nếu vườn nào cây nhãn bỗng ra hương,
Là xuân đó. Tôi đợi chờ chi nữa?
Bình minh quá, mỗi khi tình lại hứa,
Xuân ơi xuân vĩnh viễn giữa lòng ta
Khi những em gặp gỡ giữa đường qua
Ngừng mắt lại, để trao cười, bỡ ngỡ.
Ấy là máu báo tin lòng sắp nở
Thêm một phen, tuy đã mấy lần tàn.
Ấy là hồn giăng rộng khắp không gian
Để đánh lưới những duyên hờ mới mẻ?
Ấy những cánh chuyển trong lòng nhẹ nhẹ
Nghe xôn xao rờn rợn đến hay hay...
Ấy là thư hồi hộp đón trong tay;
Ấy dư âm giọng nói đã lâu ngày
Một sớm tim bỗng dịu dàng đồng vọng.
Miễn trời sáng, mà lòng ta dợn sóng,
Thế là xuân. Hà tất đủ chim, hoa?
Kể chi mùa, thời tiết, với niên hoa,
Tình không tuổi, và xuân không ngày tháng.
(Nguồn: Thơ Xuân Diệu. NXB Văn Học, 2019)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Tứ thơ của văn bản Xuân không mùa là gì?
Câu 2: Vai trò của những yếu tố tượng trưng trong Xuân không mùa là gì?
Câu 3: Đất trời, vạn vật biến đổi như thế nào trong tâm hồn Xuân Diệu? Phân tích cảm xúc của chủ thể trữ tình trước phút giây huyền diệu ấy
Câu 4: Tác giả dùng phép tu từ nào để diễn tả Xuân không mùa trong lòng mình? Hãy phân tích những câu thơ mà em cho là đặc sắc nhất
Câu 5: Xuân không mùa của Xuân Diệu khởi xuất từ đâu? Tác giả đã gửi đến chúng ta quan niệm nhân sinh nào trong thi phẩm thơ độc đáo này?
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Quan sát bức hình sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)


(Nguồn ảnh: Internet)
a. Mô tả ngắn gọn, nêu bức thông điệp được chuyển tải qua từng bức hình
b. Hai bức hình có thể gợi ra những vấn đề nào của cuộc sống? Em quan tâm tới vấn đề nào nhất, vì sao?
Câu 2: Viết bài nghị luận: Từ hiểu biết về văn bản đọc Xuân không mùa (Xuân Diệu) và ý nghĩa của 2 bức hình trên, em hãy viết bài luận thể hiện quan điểm sống của bản thân
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Tứ thơ của văn bản Xuân không mùa là gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Nhớ lại kiến thức về tứ thơ
Lời giải chi tiết:
Tứ thơ của văn bản: Xuân của đất trời- Xuân ở lòng người – Xuân không ngày tháng
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Vai trò của những yếu tố tượng trưng trong Xuân không mùa là gì? |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về yếu tố tượng trưng
Lời giải chi tiết:
- Tạo nên một thế giới nghệ thuật thơ độc đáo cuốn hút
- Diễn tả niềm yêu đời say mê đến cuồng nhiệt của thi sĩ
- Diễn tả sự tương hợp kì diệu giữa vũ trụ và lòng người
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Đất trời, vạn vật biến đổi như thế nào trong tâm hồn Xuân Diệu? Phân tích cảm xúc của chủ thể trữ tình trước phút giây huyền diệu ấy |
Phương pháp giải:
Chú ý các chi tiết thể hiện sự biến đổi trong tâm hồn tác giả
Lời giải chi tiết:
*Đất trời, vạn vật biến đổi tinh vi, diệu kì
- Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,
Chim trên cành há mỏ hót ra thơ;
- Đông đang lạnh bỗng một hôm trở ngược,
Mây bay đi để hở một khung trời
- Giữa mùa hè khi trời biếc sau mưa;
Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa…
→Đất trời, vạn vật biến đổi bất ngờ tinh vi, diệu kì: nắng rạng, chim hót ra thơ, hở một khung trời, trời biếc sau mưa… tất thảy đẹp hơn, rạng rỡ hơn… đem mùa xuân đến với lòng người
* Thi sĩ giao hòa, đắm say ngắm nhìn, ghi lại từng vi mạch của sự sống, những khoảnh khắc trở mình bất chợt của tạo vật… để hân hoan sống, đón nhận sức sống đang bừng lên trong màu nắng, làn gió, áng mây,…
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Tác giả dùng phép tu từ nào để diễn tả Xuân không mùa trong lòng mình? Hãy phân tích những câu thơ mà em cho là đặc sắc nhất |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Nhớ lại kiến thức về biện pháp tu từ
Lựa chọn câu thơ em cho là đặc sắc và phân tích
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ:
+ Điệp từ, điệp ngữ: Xuân là, ấy là, thế là;
+ Điệp cấu trúc câu: Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều; Thế là xuân. Ngày chỉ ấm hơi hơi; Thế là xuân. Hà tất đủ chim, hoa?
- Phân tích những câu thơ đặc sắc: HS tự lựa chọn theo cảm nhận của cá nhân (gợi ý cách phân tích: phân tích phép tu từ, từ ngữ đặc sắc… cảm xúc của thi sĩ… cảm nhận của cá nhân)
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Xuân không mùa của Xuân Diệu khởi xuất từ đâu? Tác giả đã gửi đến chúng ta quan niệm nhân sinh nào trong thi phẩm thơ độc đáo này? |
Phương pháp giải:
Phân tích mùa xuân của tác giả thể hiện trong văn bản (bắt nguồn từ thiên nhiên, cảnh vật hay từ lòng người)
Rút ra quan niệm nhân sinh tác giả muốn gửi gắm
Lời giải chi tiết:
- Xuân không mùa của Xuân Diệu khởi xuất từ lòng yêu đời của con người
- Quan niệm nhân sinh:
+ Sống lạc quan, yêu đời, sống hết mình và giao hòa cùng vũ trụ, thiên nhiên để cảm nhận những biến chuyển, những tín hiệu sống diệu kì
+ Sống tích cực lạc quan để cảm nhận mùa xuân lai láng trong đất trời vạn vật để có xuân không mùa, xuân lai láng trong lòng mình
II. VIẾT (4đ)
Câu 1 (1 điểm)
|
a. Mô tả ngắn gọn, nêu bức thông điệp được chuyển tải qua từng bức hình b. Hai bức hình có thể gợi ra những vấn đề nào của cuộc sống? Em quan tâm tới vấn đề nào nhất, vì sao? |
Phương pháp giải:
a. Quan sát kĩ 2 bức hình
b. Dựa vào nội dung thông điệp ở trên
Nêu quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
a. Bức 1: Con người tự giam hãm (nhốt) mình trong không gian hẹp
Bức 2: Con người giao hòa cùng đất trời
- Thông điệp: không nên tự giam hãm bản thân trong không gian chật hẹp tù túng; hãy mở lòng giao lưu cùng thiên nhiên đất trời để tiếp thêm năng lượng sống
b. Hai bức hình có thể gợi ra những vấn đề: HS tự đề xuất vấn đề (tham khảo gợi ý sau)
- Sống tiêu cực
- Sống tích cực
- Không gian sống tác động tới quan niệm sống của con người
- Hãy mở rộng không gian sống…
+Em quan tâm tới vấn đề nào nhất, vì sao? HS tự làm theo quan điểm cá nhân
Câu 2 (3 điểm)
|
Câu 2: Viết bài nghị luận: Từ hiểu biết về văn bản đọc Xuân không mùa (Xuân Diệu) và ý nghĩa của 2 bức hình trên, em hãy viết bài luận thể hiện quan điểm sống của bản thân |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Từ hiểu biết về văn bản đọc Xuân không mùa (Xuân Diệu) và ý nghĩa của 2 bức hình trên, em hãy viết bài luận thể hiện quan điểm sống của bản thân |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Giới thiệu luận đề: Quan điểm sống sẽ bàn luận - Tầm quan trọng của luận đề đối với đời sống hiện đại |
|
Thân bài |
2,0 |
- Làm rõ cách hiểu về quan điểm sống - Vai trò của luận đề: chi phối lối sống, hành động, cảm xúc… - Biểu hiện của quan điểm sống đã lựa chọn - Tác dụng/ hệ quả của quan niệm sống đã lựa chọn - Phân tích quan điểm sống trong sự đối chiếu với quan điểm sống đối lập (với quan điểm đã lựa chọn) |
|
Kết bài |
0,25 |
Nhận thức, hành động của cá nhân |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Lựa chọn luận đề/ vấn đề nghị luận: quan điểm sống - Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Dẫn chứng tiêu biểu, ngắn gọn phù hợp với lí lẽ, luận điểm |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
BÌNH MINH GỢI LẠI NHỮNG BÌNH MINH
(Sergei Yesenin)
Bình minh đang gọi ra bình minh khác
Trên cánh đồng lúa mạch bốc khói sương...
Tôi nhớ về người tôi thương mến nhất
Nhớ mẹ hiền già lão, yêu thương.
Như ngày trước mẹ đi ra đồi nhỏ
Nắm chặt trong tay cây gậy của mình
Mẹ nhìn vào đôi dày trăng đã cũ
Đang bơi trên dòng sông ngủ mơ màng.
Và cay đắng trong lòng, con biết mẹ
Với một nỗi lo và một nỗi buồn
Rằng giờ đây thằng con trai của mẹ
Đã không còn nhớ gì đến quê hương
Rồi sau đó mẹ đi ra nghĩa địa
Mẹ nhìn vào hòn đá xám chằm chằm
Mẹ trút ra hơi thở dài nhè nhẹ
Mẹ tiếc thương những anh, chị em con.
Mặc chúng con trưởng thành trong cay đắng
Còn các em đã lớn tựa mùa xuân
Dù sao mẹ đôi mắt hiền, sống động
Đừng để cho dâng ngập nỗi đau buồn.
Quá đủ rồi! Khổ đau đã lắm!
Giờ đến lúc mẹ thấy một điều rằng
Cả cây táo cũng vô cùng đau đớn
Khi phải trút đi những chiếc lá vàng.
Bởi một điều niềm vui là hiếm lắm
Như tiếng ngân vang buổi sớm mùa xuân
Đối với con nếu trên cành rữa xuống
Thì cháy thành tro trong gió còn hơn.
(Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng - https://bom.so/CHsHEO)
Sergey Yesenin ( 1895 -1925) là một thi sĩ, ngâm sĩ và ca sĩ tân lãng mạn Nga. Cho đến nay, Yesenin là một trong những nhà thơ Nga được đọc nhiều nhất, và là người phục sinhcsự tươi sáng, tinh khôi, giàu hình tượng cho thơ ca hiện đại Nga.
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Tứ thơ của văn bản Bình minh gợi lại những bình minh là gì?
Câu 2: Dòng thơ nào trong đoạn sau có cấu tạo độc đáo? Và để diễn tả điều gì?
Và cay đắng trong lòng, con biết mẹ
Với một nỗi lo và một nỗi buồn
Rằng giờ đây thằng con trai của mẹ
Đã không còn nhớ gì đến quê hương
Câu 3: Tác giả thể hiện điều gì trong 2 dòng thơ: Cả cây táo cũng vô cùng đau đớn/Khi phải trút đi những chiếc lá vàng?
Câu 4: Em hiểu như thế nào về nhan đề bài thơ Bình minh gợi lại những bình minh khác
Câu 5: Cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn của chủ thể trữ tình trong bài thơ? Hãy cho biết nét đẹp tâm hồn nào tác động sâu sắc tới cảm xúc của em?
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Đọc đoạn thơ trích từ Thư gửi mẹ (Sergei Yesenin) trong ô 1 và tìm những câu thơ có nội dung tương tự ở Bình minh gợi lại những bình minh (Sergei Yesenin) điền vào ô thứ 2 và nhận xét về tình cảm của mẹ dành cho con và của chủ thể trữ tình dành cho mẹ của mình.
|
1. Thư gửi mẹ (Sergei Yesenin) |
2. Bình minh gợi lại những bình minh (Sergei Yesenin) |
|
Chỉ mẹ là niềm tin, là ánh sáng diệu kì Chỉ mình mẹ giúp đời con vững bước Mẹ thân yêu hãy yên lòng mẹ nhé Đừng muộn phiền quá đỗi về con |
|
Câu 2: Đọc tài liệu sau và thực hiện yêu cầu a, b
Trữ tình là yếu tố quyết định tạo nên chất thơ. Tác phẩm thơ luôn thiên về diễn tả những cảm xúc, rung động, suy tư của chính nhà thơ về cuộc đời. Những rung động ấy xét đến cùng là những tiếng dội của những sự kiện, những hiện tượng đời sống vào tâm hồn nhà thơ. Đây là đặc điểm cơ bản nhất của tác phẩm
thơ. Nắm vững đặc điểm này ta sẽ có một định hướng rõ ràng trong việc tiếp cận, phân tích đúng tác phẩm thơ. Nghĩa là, khi phân tích tác phẩm thơ, ta không phải đi sâu vào mổ xẻ, cắt nghĩa, lí giải về các chi tiết, sự kiện, sự việc được nhà thơ đề cập, mà điều cốt lõi là thấy và nói được những cảm xúc, tâm trạng, thái độ và suy tư của nhà thơ về các vấn đề trên. Ví tác phẩm thơ như một cơ thể sống thì chữ nghĩa, chất liệu, sự kiện,... chỉ là phần xác, phần hồn của nó chính là nội dung trữ tình. Nội dung trữ tình luôn là cái đích cuối cùng phải vươn tới của quá trình sáng tác cũng như cảm thụ, phân tích thơ.
a. Tài liệu trên có định hướng nào giúp cho em trong cảm thụ, phân tích thơ?
b. Vận dụng kiến thức về thơ đã được học từ THCS, lớp 10 và lớp 11, em hãy phân tích, đánh giá tác phẩm Bình minh gợi lại những bình minh (Sergei Yesenin)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Tứ thơ của văn bản Bình minh gợi lại những bình minh là gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ và suy ra tứ thơ của văn bản
Lời giải chi tiết:
Bình minh, đồng lúa mạch gợi nhớ mẹ - Mẹ vất vả, yêu thương – quan điểm nhân sinh
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Dòng thơ nào trong đoạn sau có cấu tạo độc đáo? Và để diễn tả điều gì? |
Phương pháp giải:
Nhớ lại dấu hiệu nhận biết một số kiểu câu có cấu tạo độc đáo
Phân tích dòng thơ
Lời giải chi tiết:
Dòng thứ nhất
Diễn tả sự thấu hiểu nỗi lòng mẹ của nhân vật trữ tình
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Tác giả thể hiện điều gì trong 2 dòng thơ: Cả cây táo cũng vô cùng đau đớn/Khi phải trút đi những chiếc lá vàng? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ 2 dòng thơ
Chú ý những chi tiết “đau đớn”, “trút đi”,….
Lời giải chi tiết:
Qui luật của cuộc đời: đau đớn bởi sinh li, tử biệt
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Em hiểu như thế nào về nhan đề bài thơ Bình minh gợi lại những bình minh khác? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhan đề
Phân tích dựa trên chỉnh thể nôi dung toàn văn bản
Lời giải chi tiết:
- Bình minh gợi lại những bình minh khác: Là nhan đề giàu ý nghĩa biểu tượng
- Bình minh gợi cảm xúc trong tâm hồn thi sĩ: Bình minh trên cánh đồng lúa mạch bốc khói sương. Chính bình minh này đã gợi lại bao bình minh khác – những kí ức, tình cảm đẹp về mẹ, về quê hương, gợi quan niệm sống đẹp của thi sĩ
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn của chủ thể trữ tình trong bài thơ? Hãy cho biết nét đẹp tâm hồn nào tác động sâu sắc tới cảm xúc của em? |
Phương pháp giải:
Phân tích vẻ đẹp tâm hồn của chủ thể trữ tình trong bài thơ
Lời giải chi tiết:
- Là người con yêu thương mẹ, mong mẹ đừng sống trong buồn đau
- Là người con hiểu thấu nỗi lòng của mẹ (nỗi lo, nỗi buồn; mẹ lo về chính mình)
- Là người nhạy cảm, thấu hiểu quy luật cuộc đời
- Là người có nhân sinh quan sống đẹp
II. VIẾT (4đ)
Câu 1 (1 điểm)
|
Đọc đoạn thơ trích từ Thư gửi mẹ (Sergei Yesenin) trong ô 1 và tìm những câu thơ có nội dung tương tự ở Bình minh gợi lại những bình minh (Sergei Yesenin) điền vào ô thứ 2 và nhận xét về tình cảm của mẹ dành cho con và của chủ thể trữ tình dành cho mẹ của mình. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ 2 đoạn thơ
Chú ý những hình ảnh thể hiện tình cảm của mẹ dành cho con và của chủ thể trữ tình dành cho mẹ của mình.
Lời giải chi tiết:
|
1. Thư gửi mẹ (Sergei Yesenin) |
2. Bình minh gợi lại những bình minh (Sergei Yesenin) |
|
Chỉ mẹ là niềm tin, là ánh sáng diệu kì Chỉ mình mẹ giúp đời con vững bước Mẹ thân yêu hãy yên lòng mẹ nhé Đừng muộn phiền quá đỗi về con |
Và cay đắng trong lòng, con biết mẹ Với một nỗi lo và một nỗi buồn Rằng giờ đây thằng con trai của mẹ Đã không còn nhớ gì đến quê hương |
- Mẹ luôn lo lắng, buồn phiền về con trai
- Con thấu hiểu nỗi lòng của mẹ (rằng mình là nỗi lo lắng của mẹ, mẹ không yên tâm về con); Mẹ và tình yêu của mẹ là nguồn sống diệu kì trong tim con, là động lực để con bước tiếp; Con luôn mong mẹ hãy an lòng về con
Câu 2 (3 điểm)
|
a. Tài liệu trên có định hướng nào giúp cho em trong cảm thụ, phân tích thơ? b. Vận dụng kiến thức về thơ đã được học từ THCS, lớp 10 và lớp 11, em hãy phân tích, đánh giá tác phẩm Bình minh gợi lại những bình minh (Sergei Yesenin) |
Phương pháp giải:
a.Đọc kĩ tài liệu và nêu ý kiến của bản thân
b.Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
a. Tác phẩm thơ luôn thiên về diễn tả những cảm xúc, rung động, suy tư của chính nhà thơ về cuộc đời; điều cốt lõi là thấy và nói được những cảm xúc, tâm trạng, thái độ và suy tư của nhà thơ về các vấn đề trên; phần hồn của thơ là nội dung trữ tình
b.
|
Vận dụng kiến thức về thơ đã được học từ THCS, lớp 10 và lớp 11, em hãy phân tích, đánh giá tác phẩm Bình minh gợi lại những bình minh (Sergei Yesenin) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Giới thiệu ngắn về tác phẩm thơ, tác giả - Nêu luận đề: những cảm xúc, rung động, suy tư của chính nhà thơ về mẹ, cuộc đời |
|
Thân bài |
2,0 |
- Giới thiệu ngắn gọn về tứ, mạch cảm xúc chủ đạo của bài thơ - Cảm xúc suy tư của nhà thơ về mẹ - Suy tư của tác giả về cuộc đời, quan điểm sống… Lưu ý: Các luận điểm làm sáng tỏ luận đề gồm câu chứa luận điểm +lí lẽ+dẫn chứng |
|
Kết bài |
0,25 |
Cảm nhận, nhận thức của cá nhân về những cảm xúc, rung động, suy tư của chủ thể trữ tình |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp với lí lẽ, luận điểm |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 4
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
VŨ NHƯ TÔ XÂY CỬU TRÙNG ĐÀI
(Vũ Như Tô – Nguyễn Huy Tưởng)
Tóm tắt vở kịch Vũ Như Tô
Hồi 1: Vũ Như Tô, một kiến trúc sư thiên tài, bị hôn quân Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi với các cung nữ. Vốn là một nghệ sĩ chân chính, gắn bó với nhân dân, cho nên mặc dù bị Lê Tương Dực dọa giết, Vũ Như Tô vẫn ngang nhiên chửi mắng tên hôn quân và kiên quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài
Hồi 2: Đan Thiêm, cung nữ đã thuyết phục Vũ Như Tô chấp nhận yêu cầu của Lê Tương Dực, lợi dụng quyền thế và tiền bạc của hắn, trổ hết tài năng để xây dựng cho đất nước tòa lâu đài vĩ đại “bền như trăng sao”, có thể “tranh tinh xảo với hóa công” để cho dân ta nghìn thu còn hãnh diện.
Hồi 3: Theo lời khuyên, Vũ Như Tô đã thay đổi thái độ, chấp nhận xây Cửu Trùng đài. Từ đó, ông dồn hết tâm trí và bằng mọi giá xây dựng toà đài sao cho thật hùng vĩ, tráng lệ
Hồi 4: Lợi dụng tình hình rối ren và mâu thuẫn ấy, Quận công Trịnh Duy Sản - kẻ cầm đầu phe đối lập trong triều đình đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm Vũ Như Tô, Đan Thiềm. Cửu Trùng đài bị chính những người thợ nổi loạn đập phá, thiêu hủy.
Hồi thứ tư
Bốn tháng sau - Cũng cảnh ấy, một đêm hè. Những phiến đá đã dọn đi. Xa xa là nửa một thứ “khải hoàn môn, một bên (về phía con rồng) là bức tường đá ong thấp, trên có tượng một kỵ mã, mũ trụ, áo giáp, đeo cung kiếm.
Lớp I (Vũ Như Tô - Thị Nhiên)
Họ ở Khải Hoàn môn đi ra. Vũ Như Tô phải chống gậy đi khập khiễng, tay trái cầm một chiếc đèn lồng, chàng thúng thẳng họ.
THỊ NHIÊN:
- Đây là cái gì, tôi rờn rợn người làm sao ấy. Cái cổng này cao như núi, nó như nuốt tôi đi không bằng. Mà sao bày lắm tượng thế này. Trời đất ơi! (đếm). Tất cả mười pho, mỗi hàng năm chạy dài dằng dặc, cưỡi ngựa trông gớm chết, như đánh ai thế kia? (bước ra). Mà cái bực đá này nữa, sao mà cao, mà lắm bực thế? Ngã một cái thì chết mất thôi. To quá, cao quá, gió thổi mạnh quá. Tôi chóng mặt lắm, thầy nó ạ. Tôi chịu thôi, cho tôi ra khỏi chỗ này (bíu lấy chồng).
VŨ NHƯ TÔ (cười) - Việc gì mà chóng mặt.
THỊ NHIÊN:
- Tôi sợ lắm (chợt nhìn chồng). Mà sao thầy nó không bước đi được thế kia... Khốn nạn. Có đau lắm không? Việc gì phải giấu tôi mới được chứ?
VŨ NHƯ TÔ: (có vẻ đau nhưng gượng): Tôi có làm sao đâu. Mẹ nó đến hay lo.
THỊ NHIÊN:
- Nghe tin thầy nó ngã từ trên nóc nhà xuống, đá đè lên cả người tôi cứ rụng rời ra. Phúc làm sao mà lại được vô sự. Nhưng thế này cũng thành tật! Què mất thôi!
VŨ NHƯ TÔ:
- Đành chịu chứ làm thế nào? Mình đã thấm vào đâu. (trông chung quanh nói một hình) Được đấy! (gật gù hỏi vợ) Mẹ nó trông có đẹp không?
THỊ NHIÊN:
- Thì tôi đã bảo tôi đang sợ hết vía lên đây. Tượng kia cứ như xô lại đánh tôi. Mà cái cổng kia, nói dại, nó đổ xuống thì chết (rùng mình)...
VŨ NHƯ TÔ:
- Mẹ nó mới chỉ biết cảnh ban đêm. Chứ buổi chiều lúc mặt trời lặn, buổi sáng lúc mặt trời mọc, chỗ sáng, chỗ tối, bóng người bóng ngựa, lóng la lóng lánh, trông còn rực rỡ, đẹp đẽ bằng trăm, bằng nghìn.
THỊ NHIÊN:
- Thầy nó nói đến khéo. à phải, tôi thấy nhiều người khen cái đài này lắm.
VŨ NHƯ TÔ: - Thế à, có thật không?
THỊ NHIÊN:
- Bao nhiêu người đi xem đấy, ai về cũng trầm trồ khen đẹp, khen lớn. Họ khen rồi họ chê đấy.
VŨ NHƯ TÔ: - Họ chê ở chỗ nào?
THỊ NHIÊN:
- Có người chế đài chỉ toàn là cảnh An Nam, xấu lắm. Mấy lị họ chê ở chỉ xây đài phí tiền.
VŨ NHƯ TÔ: - Họ thì biết gì, cứ ruộng nhiều là tốt.
THỊ NHIÊN:
- Chứ gì. ấy cứ có ruộng, có thóc, có khoai, có đỗ, thế là thích nhất. Tôi cũng cứ thế đấy. à thầy nó ạ, lúa chiêm năm nay hỏng cả.
VŨ NHƯ TÔ: (mơ màng) - Hỏng à?
THỊ NHIÊN: - Vụ chiêm hỏng, mà lụt luôn mấy năm nay. Đói kém lắm thầy nó ạ
VŨ NHƯ TÔ: (nói mơ hồ) - Phó Độ mà chạm thì không còn phải nói nữa.
THỊ NHIÊN:
- Thầy nó nói gì thế!... ở làng ta, mà cả ở quanh vùng, độ này cướp bóc nhiều lắm. Không biết rồi có yên không? Bên làng Cuội, có cả giặc nổi lên. Lý trưởng đến thu thuế, chúng giết cả Lý trưởng.
VŨ NHƯ TÔ: - Phiền nhỉ?...
THỊ NHIÊN:
- Còn thằng cu Nhớn tôi cho nó đi học cụ Đồ rồi đấy. Nhưng cái Bé thì cứ quặt quẹo luôn. Khốn nạn lúc nào cũng hỏi bố ở đâu, mà bố chẳng hỏi con bao giờ. Nghĩ gì thế thầy nó?
VŨ NHƯ TÔ:
- Để nhiều khoảng rộng thế này mới đẹp, mới hùng. To lớn tự khắc là oai nghiêm.
THỊ NHIÊN: - Thôi cho tôi về.
VŨ NHƯ TÔ: - Đêm tối thế này về thế nào được!
THỊ NHIÊN:
- Thầy nó còn lạ gì tôi ngược xuôi buôn bán, làm ruộng, làm áng, quen với đêm khuya rồi. Thầy nó tính chẳng ra: Thân mình thì tàn tật, việc nhà thì bỏ, con cái cũng chẳng nhìn...
VŨ NHƯ TÔ:
- Mẹ nó nói thế nào tôi cũng xin chịu. Thôi bao nhiêu việc ở nhà xin trông ong vào mẹ nó đấy.
THỊ NHIÊN:
- Tôi có trách gì thầy nó đâu... Việc nuôi con, tôi xin lo liệu đâu có đấy. Nhưng biết bao giờ thầy nó về cho con nó mừng, cho cửa nhà vui vẻ. Con có cha như nhà có nóc. Nói thực cho tôi yên lòng nào...
VŨ NHƯ TÔ: - Độ năm năm nữa thôi.
THỊ NHIÊN: (buồn)
- Hãy còn lâu thế cơ? (ghé vào tai chồng) à này, tôi thấy người ta nói thầy nó có tình ý với cái người cung nữ Thiềm gì ấy, có phải không?
VŨ NHƯ TÔ: (tái mặt) - Chỉ bậy.
THỊ NHIÊN:
- Đàn ông thì ba vợ bảy nàng hầu, tôi có cấm đoán gì thầy nó, nhưng là nơi vua chúa, thì rồi chết cả họ!
VŨ NHƯ TÔ:
(tức giận) - Không hiểu làm sao thiên hạ lại đồn như thế? Bậy hết sức.
THỊ NHIÊN:
- Thì tôi có dám nghi ngờ thầy nó đâu? Thôi tôi về đây, nhất định năm năm nữa chứ
VŨ NHƯ TÔ:
- Năm năm nhất định. Mẹ nó ở lại đây, mai tôi dẫn đi xem chỗ đẹp hơn.
THỊ NHIÊN:
- Thôi thế là đủ, đẹp lắm rồi! Năm năm nữa. Gớm, thầy nó đến là hay vẻ chuyện. Cứ làm nho nhỏ cũng được. Người nghèo thì làm cái nhà bé, nước nhỏ thì xây cái đài nhỏ, ai lại... Đấy, lại làm thầy nó tức. Thầy nó ở lại nhé. Thế là thành tật đấy. Khổ quá. Mai bảo con là bố sắp về thì chúng nó phải biết là vui.
VŨ NHƯ TÔ:- Chán quá, chả có gì cho con.
THỊ NHIÊN:
- Thôi, tôi đi đường mua mấy cái bánh tẻ, bảo là của bố cho con thế cũng được (cắp nón đi xuống). Gớm cao quá đi mất thôi. Thầy nó có xuống được không? Đưa đèn đây tôi xách cho (giằng lấy).
VŨ NHƯ TÔ:
- Tôi xuống được. Còn giỏi chán. Mẹ nó vịn vào con rồng này mà xuống cho khỏi rợn. Còn một tay đưa tôi dắt. (Họ cùng xuống).
THỊ NHIÊN: (thè lưỡi) - Lèo ơi! Cứ như núi ấy thôi.
(Họ lần bước xuống. Khi xuống đến bực dưới cùng, vào khuất thì Thái tử Chiêm và tên thợ Chiêm ở phía tượng kỵ mã đi ra).
Lớp II: Thái tử Chiêm Thành - Một tên thợ Chiêm thành
THÁI TỬ:
- Gió mạnh quá nhỉ (trông chung quanh). Đài này kể ra thì đẹp thực! Người An Nam họ cũng tài, mà đây là họ mới bắt đầu đấy. Đến khi xong cả thì đẹp biết chừng nào. Trông lớn lao đồ sộ thực.
TÊN THỢ:
- Tưởng Thái tử không nên giúp họ xây cái đài này mới phải. Nào tải đá, nào kén thợ, nào mộ phu để bây giờ thuyền đắm, người chết hàng nghìn. Họ lại mượn cớ dọa không cho Thái tử về nước nữa.
THÁI TỬ:
- Mi hiểu làm sao được. Ta giúp họ xây đài là vì hai cớ. Cớ thứ nhất là để được chóng về nước; cớ thứ hai là để báo thù cho giống Hời ta.
TÊN THỢ: - Bẩm giúp họ xây cái đài thì sao gọi là báo thù được?
THÁI TỬ:
- Mi ngu lắm. Họ với ta có cái thù truyền kiếp. Họ đã cướp đất ta, giết dân ta, bắt hàng vạn người về làm nô tỳ. Vua Chế Bồng Nga xưa dùng võ để báo thù đài, ta mừng lắm, họ trúng kế ta. Mi có biết không? Nước ta bại chỉ vì nay làm đền, mai đẽo tượng, rút cục cả vua lẫn dân chết vì đền đài, còn họ chỉ nai lưng khơi sông, đắp đê, khai khẩn ruộng hoang; cho nên dân họ đông, nước họ mạnh, người họ hùng cường mới lấn áp ta được. Mi bảo nước ta xây đài cho đẹp, có ích gì không? Thế mà bây giờ họ lại bắt chước ta, ta nên cố giúp cho vua họ xây đài, cho hao người tốn của, cho họ kiệt quệ như ta. Bao nhiêu tinh anh, đổ cả vào cái đài này. Mi đã biết chưa? Rồi họ chết!
TÊN THỢ - Thái tử thật là khôn ngoan.
THÁI TỬ:
Vì có mấy chuyến thuyền bị bão, chúng nhất định giữ ta lại suốt đời ở đây, không còn bao giờ trông thấy nước non, cha mẹ, hoàng phi nữa. Ta cũng đành lòng, miễn là chúng cứ xây đài. Ta chờ ngày chúng nó chết.
TÊN THỢ:
- Bẩm Thái tử, có tiếng người. (Có tiếng phó Độ hát: Buồn trông con nhện chăng tơ, nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai?) Xin Thái tử đừng nói nữa.
THÁI TỬ:
- Mi theo ta, đi xem chỗ khác. Đêm hè nóng nực ta nhớ nước không sao ngủ được. (Họ ra, trong khi bọn phó Cõi ở cửa Khải hoàn đi vào).
(Vũ Như Tô - Nguyễn Huy Tưởng. NXB Kim Đồng, 2020)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Đoạn sau đứng ở vị trí nào, đảm nhiệm chức năng gì đối với lớp kịch 1?
Bốn tháng sau – Cũng cảnh ấy, một đêm hè. Những phiến đá đã dọn đi. Xa xa là nửa một thứ “Khải Hoàn môn”, một bên (về phía con rồng) là bức tường đá ong thấp, trên có tượng một kị mã, mũ trụ, áo giáp, đeo cung kiếm
Câu 2: Nhân vật Thái tử Chiêm Thành có vai trò như thế nào đối với trích đoạn kịch bản trên?
Câu 3: Đọc đoạn sau và trả lời câu hỏi a, b,c
Đây là cái gì, tôi rờn rợn người làm sao ấy. Cái cổng này cao như núi, nó như nuốt tôi đi không bằng. Mà sao bày lắm tượng thế này. Trời đất ơi! (đếm). Tất cả mười pho, mỗi hàng năm chạy dài dằng dặc, cưỡi ngựa trông gớm chết, như đánh ai thế kia? (bước ra). Mà cái bực đá này nữa, sao mà cao, mà lắm bực thế? Ngã một cái thì chết mất thôi. To quá, cao quá, gió thổi mạnh quá. Tôi chóng mặt lắm, thầy nó ạ. Tôi chịu thôi, cho tôi ra khỏi chỗ này (bíu lấy chồng).
a. Đoạn sau đây gồm những thành phần nào của kịch bản
b. Đoạn trên là lời của ai diễn tả điều gì? Nhằm mục đích gì?
Câu 4: Em có đồng ý với nhận xét của Thái tử Chiêm Thành (sau đây) không? Hãy nói rõ quan điểm của mình?
Nước ta bại chỉ vì nay làm đền, mai đẽo tượng, rút cục cả vua lẫn dân chết vì đền đài, còn họ chỉ nai lưng khơi sông, đắp đê, khai khẩn ruộng hoang; cho nên dân họ đông, nước họ mạnh, người họ hùng cường mới lấn áp ta được.
Câu 5: Phân tích bi kịch (hiện thực, khát vọng lớn lao của người nghệ sĩ) được thể hiện qua nhân vật Vũ Như Tô trong trích đoạn đọc hiểu trên.
II. VIẾT (4đ)
Câu 1. Đọc tài liệu sau và trả lời câu hỏi a,b
NHÂN VẬT VŨ NHƯ TÔ: TẤN BI KỊCH CỦA NGƯỜI NGHỆ SĨ TÀI BA
(Bùi Thị Cẩm Hằng)
Thời đại của Vũ Như Tô sống là một thời đại rối ren. Khát vọng mà người nghệ sĩ ấp ủ thật cao đẹp nhưng làm sao có thể hiện thực hóa được khi nhân dân đang đói khổ, lầm than. Hệ quả cuối cùng là người nghệ sĩ bị đẩy vào một bi kịch không lối thoát khi mâu thuẫn giữa lý tưởng nghệ thuật cao siêu, thuần túy và lợi ích thiết thực của quần chúng nhân dân.
Nguyên nhân chính xuất phát từ bản chất cái Đẹp mà Vũ Như Tô theo đuổi. Đài Cửu Trùng xây lên đó là “mộng lớn” của Vũ Như Tô. Nhưng mộng lớn đó được sử dụng với mục đích phục vụ cho cái Ác. Đó là việc ăn chơi hưởng lạc của hôn quân bạo chúa Lê Tương Dực. Vũ Như Tô đã mượn tay vua để thực hiện mệnh lớn của đời mình. Nhưng trong một cuộc sống nhân dân còn khốn khổ, điêu linh, việc theo đuổi đến cùng một cái đẹp tuyệt mỹ là một tội ác. Điều đó đã khiến người nghệ sĩ đi đến chỗ bỏ rơi cái Thiện và chà đạp lên cái Thiện. Vũ Như Tô trở thành kẻ thù, thành tội đồ của nhân dân, và bị nhân dân nguyền rủa.
Hết mình với ngọn lửa đam mê của đời mình, Vũ Như Tô đã đắm chìm vào ảo mộng mà xa rời thực tế, mù lòa trước một hiện thực nhỡn tiền: Cửu Trùng Đài xây cao bao nhiêu, quần chúng nhân dân khốn khổ lầm than bấy nhiêu.
“Phần phật bốc cao cùng một lúc là ngọn lửa sinh tồn và ngọn lửa hủy diệt. Cả hai quấn quýt lấy nhau bao nhiêu để sớm loại trừ nhau bấy nhiêu” (Băng Sơn). Nhưng, tiếc thay ngọn lửa mà Vũ Như Tô đốt lên lại là ngọn lửa hủy diệt.
Bản thân Vũ Như Tô lại luôn xem đó là ngọn lửa sinh tồn. Sự sai lầm khi theo đuổi một cái Đẹp cao cả và đẫm máu đã khiến Vũ Như Tô lầm lạc trong suy nghĩ và hành động. Nhân vật quyết liệt, cả tin trong suy nghĩ và mù quáng, cố chấp trong hành động.
Trong tình thế dầu sôi lửa bỏng, nguy ngập và cấp bách “loạn đến nơi rồi”, Vũ Như Tô vẫn một mực cố chấp “Vô lí, vô lí! Tôi làm gì nên tội”. Khi những thanh âm của cuộc nổi loạn càng rõ rệt, Vũ Như Tô vẫn vẹn nguyên một niềm tin ngày thơ và lầm lạc “Tôi sống với Cửu Trùng Đài, chết với Cửu Trùng Đài. Tôi không thể rời xa Cửu Trùng Đài một bước. Hồn tôi để cả đây”
Người nghệ sĩ hoàn toàn đắm chìm trong ảo mộng lãng mạn của đời mình mà mù lòa trước thực tế. Chỉ đến khi tận mắt chứng kiến Cửu Trùng Đài bị thiêu trụi thành tro, nhân vật mới vỡ mộng. Anh lửa đã thiêu trụi giấc mơ của Vũ Như Tô. Vũ Như Tô bị rơi xuống từ một Cửu Trùng Đài cao vời vợi. Cho đến những giây phút cuối cùng, người nghệ sĩ vẫn mù quáng và cố chấp. Vũ Như Tô vừa là nạn nhân, vừa là tội đồ, vừa đáng thương vừa đáng trách. Đó là bản chất của nhân vật bi kịch. Bởi lẽ “Nếu con người hoàn toàn vô tội thì bi kịch không còn chỗ lí thú. Nếu con người tự có lỗi hoàn toàn thì nó không khiến con người ta quan tâm” (Phạm Vĩnh Cư).
Thành công của Nguyễn Huy Tưởng là đã xây dựng được một nhân vật trung tâm vừa có tội lại vừa không có tội, vừa khiến người đọc cảm thông lại khiến người đọc trách móc. Vì vậy, cái chết của Vũ Như Tô là sự chuộc tội, dù bản thân nhân vật không ý thức được điều đó.
a. Văn bản trên viết về vấn đề gì?
b. Phân tích ngắn gọn mối liên quan của văn bản Nhân vật Vũ Như Tô: Tấn bi kịch của người nghệ sĩ tài ba với kịch bản đọc hiểu trên (3-5 dòng)
Câu 2. Đặt vấn đề (chủ đề) rút ra từ văn bản Nhân vật Vũ Như Tô: Tấn bi kịch của người nghệ sĩ tài ba, kịch bản đọc hiểu trên và bàn luận (thể hiện quan điểm cá nhân) về vấn đề đó (dài 1,5 – 2 trang) (3đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Đoạn sau đứng ở vị trí nào, đảm nhiệm chức năng gì đối với lớp kịch 1? Bốn tháng sau – Cũng cảnh ấy, một đêm hè. Những phiến đá đã dọn đi. Xa xa là nửa một thứ “Khải Hoàn môn”, một bên (về phía con rồng) là bức tường đá ong thấp, trên có tượng một kị mã, mũ trụ, áo giáp, đeo cung kiếm |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Đối chiếu với chỉnh thể toàn văn bản
Lời giải chi tiết:
Ở đầu hồi kịch, thông báo thời gian, không gian và bối cảnh hồi kịch
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Nhân vật Thái tử Chiêm Thành có vai trò như thế nào đối với trích đoạn kịch bản trên? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những lời thoại xuất hiện nhân vật Thái tử Chiêm Thành
Lời giải chi tiết:
Tô đậm bi kịch của kiến trúc sư Vũ Như Tô; dự báo sự việc sẽ diễn ra
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Đọc đoạn sau và trả lời câu hỏi a, b, c a. Đoạn sau đây gồm những thành phần nào của kịch bản b. Đoạn trên là lời của ai diễn tả điều gì? Nhằm mục đích gì? |
Phương pháp giải:
a. Đọc kĩ đoạn văn
b. Chú ý phần chỉ dẫn về lượt lời
Lời giải chi tiết:
a. Hành động kịch và chỉ dẫn sân khấu
b. Lời của Thị Nhiên – vợ của Vũ Như Tô; diễn tả cảm xúc, cảm giác của mình khi tận mắt quan sát Cửu Trùng Đài
Nhằm mục đích: thể hiện sự đồ sộ, lớn lao của đài, tài năng của Vũ Như Tô
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Em có đồng ý với nhận xét của Thái tử Chiêm Thành (sau đây) không? Hãy nói rõ quan điểm của mình? Nước ta bại chỉ vì nay làm đền, mai đẽo tượng, rút cục cả vua lẫn dân chết vì đền đài, còn họ chỉ nai lưng khơi sông, đắp đê, khai khẩn ruộng hoang; cho nên dân họ đông, nước họ mạnh, người họ hùng cường mới lấn áp ta được. |
Phương pháp giải:
Đưa ra quan điểm bản thân
Lời giải chi tiết:
Hs tự trả lời theo quan điểm bản thân
- Tham khảo gợi ý sau:
+ Lí do khiến làm nền, mai đẽo tượng , rút cục cả vua lẫn dân chết vì đền đài
+ Lí do khiến nai lưng khơi sông, đắp đê, khai khẩn ruộng hoang cho dân đông nước hùng cường
+ Vai trò của các công trình kiến trúc với giá trị văn hóa dân tộc
→ Dựa vào 3 thông tin trên để thực hiện quan điểm cá nhân
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Phân tích bi kịch (hiện thực, khát vọng lớn lao của người nghệ sĩ) được thể hiện qua nhân vật Vũ Như Tô trong trích đoạn đọc hiểu trên. |
Phương pháp giải:
Nhớ lại đặc điểm của thể loại bi kịch
Chú ý những chi tiết lột tả được bi kịch nhân vật Vũ Như Tô
Lời giải chi tiết:
- Chỉ say mê xây Cửu Trùng Đài mà xa rời thực tế (không biết đến đói khổ, mất mùa của dân chúng; hao tiền tốn của vì xây đài…)
- Thân thể suy kiệt vì bắt vắt kiệt trí tuệ, thể lực…
- Không được hưởng hạnh phúc gia đình: vợ xa chồng; con nhớ bố; cha không có tiền để mua quà cho con…; chồng không lo được việc lớn cho gia đình… luôn tin vào năm năm nữa (chỉ là viễn vọng…)
- Khát vọng lớn lao (làm cho nhà nước một tòa nguy nga, tráng lệ…) không biết có trở thành hiện thực không, khi (Thị Nhiên, Thái tử Chiêm thành nghĩ về việc xây thành…)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1 (1 điểm)
|
a. Văn bản trên viết về vấn đề gì? b. Phân tích ngắn gọn mối liên quan của văn bản Nhân vật Vũ Như Tô: Tấn bi kịch của người nghệ sĩ tài ba với kịch bản đọc hiểu trên (3-5 dòng) |
Phương pháp giải:
a. Đọc kĩ văn bản
b. So sánh nội dung 2 văn bản
Chú ý những chi tiết thể hiện bi kịch của nhân vật
Lời giải chi tiết:
a. Viết về bi kịch đau đớn của nghệ sĩ Vũ Như Tô (Kịch Vũ Như Tô – Nguyễn Huy Tưởng)
b. Mối liên quan: Cùng viết về một đối tượng Vũ Như Tô (bi kịch đau đớn của người kiến trúc sư)
Câu 2 (3 điểm)
|
Câu 2. Đặt vấn đề (chủ đề) rút ra từ văn bản Nhân vật Vũ Như Tô: Tấn bi kịch của người nghệ sĩ tài ba, kịch bản đọc hiểu trên và bàn luận (thể hiện quan điểm cá nhân) về vấn đề đó (dài 1,5 – 2 trang) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
- HS tự phát hiện, đặt vấn đề (thể hiện tư duy và tầm nhìn của cá nhân)
- Tham khảo một số gợi ý (HS có thể viết về các vấn đề sau)
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật kịch (miêu tả bi kịch, nỗi đau tột cùng)
+ Khát vọng cống hiến của người nghệ sĩ
- Lựa chọn vấn đề triển khai bài nghị luận (HS tự xác lập bố cục, góc nhìn và các yếu tố hỗ trợ để thể hiện quan điểm của mình về vấn đề bàn luận)
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 5
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
HỒN TRƯƠNG BA VÀ VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT
(Hồn Trương Ba, da hàng thịt – Lưu Quang Vũ)
Tóm tắt vở kịch
Hồn Trương Ba, da hàng thịt là vở kịch của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ, được viết vào năm 1981-1984, dựa theo truyện dân gian “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, nội dung có ý nghĩa xã hội vô cùng sâu sắc.
Trương Ba là một người làm vườn tốt bụng, nhân hậu, rất cao cờ và thường đấu cờ với Đế Thích. Danh tiếng của ông vang đến tận trời xanh. Tuy nhiên, do sự làm ăn tắc trách mà Nam Tào gạch bừa tên Trương Ba, khiến ông phải chết oan. Theo gợi ý của Đế Thích, Nam Tào cho hồn Trương Ba nhập vào thể xác hàng thịt ngoài ba mươi tuổi mới mất ở làng bên. Trương Ba sống lại và nhập vào xác hàng thịt vừa mới chết. Trú nhờ linh hồn trong thể xác hàng thịt, Trương Ba gặp rất nhiều phiền toái: lý trưởng sách nhiễu, chị hàng thịt đòi chồng, gia đình Trương Ba cảm thấy xa lạ vì không phải da thịt của người thân mình..., bản thân
Trương Ba thì đau khổ vì phải sống trái tự nhiên, giả tạo. Đặc biệt, Trương Ba nhiễm phải nhiều thói xấu và những nhu cầu vốn không phải của chính bản thân anh vì thân xác của lão hàng thịt. Trước nguy cơ tha hóa về nhân cách và sự phiền toái do mượn thân xác của kẻ khác, Trương Ba quyết định trả lại xác cho hàng thịt và chấp nhận cái chết theo đúng quy luật sinh - lão - bệnh - tử.
Ở trong kịch bản, Lưu Quang Vũ đã tách rõ từng nghịch cảnh
Đoạn trích sau là cảnh tại nhà hàng thịt (sau khi được sống lại trong xác anh hàng thịt)
(Hồn Trương Ba và vợ người hàng thịt. Trời đã khuya)
HỒN TRƯƠNG BA:
(Tay áo xắn cao, mặt buồn rầu, ném mấy con dao bầu đầm đìa máu vào thùng, nói với vợ người hàng thịt) Con lợn tôi đã xẻ xong, thủ chân giò để trong thúng, thịt xếp trên phản đậy mấy tàu lá chuối, tim gan bầu dục trong cái rổ treo trên quang, chị để ý kẻo mèo chó nó tha..
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
(Mỉm cười) Được rồi, ông khỏi lo... Mà bữa nay ông chọc tiết pha thịt cũng thạo dần rồi đấy!
HỒN TRƯƠNG BA: (Lúng túng) Cũng ...cũng tạm!
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
Em đã nói với ông rồi: Có khó gì đâu, ông nhỉ? Sức vóc như ông (Cầm tay Trương Ba). Hai bàn tay này vốn nhanh nhẹn tháo vát lắm!
HỒN TRƯƠNG BA: (Bối rối rụt tay lại) Công việc xong, giờ đã khuya, tôi phải về...
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
Về! Hôm nào cũng vội vã thế? Ngồi xuống đây với em một lát đã, ông... Bát tiết canh em đánh cho ông, để trên chống, ông đã xơi chưa?
HỒN TRƯƠNG BA: Rồi!
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT: Cả cút rượu nữa, ông đã uống chứ?
HỒN TRƯƠNG BA: Đã!
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT: Với đĩa hành sống, em biết ông thích xơi hành sống
HỒN TRƯƠNG BA: Vâng, cám ơn chị.
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT: Cảm ơn khách sáo thế? Mà sao ông cứ gọi em là chị
HỒN TRƯƠNG BA: (Lúng túng) Thôi tôi xin phép...phải về...khuya rồi.
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
Ngoài kia đang mưa rét, sương gió mịt mờ khắp trời...(Cầm chai rượu dưới gầm để lên bàn). Ông uống nữa đi, thứ rượu tăm say nhưng dịu...em phải cất công đi xa lắm mới mua được (Rốt ra chén). Ông uống với em một chén, em cũng uống (Rót mình). Nào, ông!
(Hồn Trương Ba ngần ngừ nhấp rồi uống cạn)
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT: (Uống) Ấm nóng cả người.
HỒN TRƯƠNG BA: (Vội vã đứng dậy) Tôi phải về.
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
(Cũng đứng dậy) Ông (Buồn rầu). Ông lại về bên ấy...Còn em thì còn lại một mình, trong gian nhà trống trải này...em sợ...
HỒN TRƯƠNG BA:
(Ái ngại) Chị sợ gì?
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
Em sợ...một mình...Ông hãy ở lại lát nữa...một lát nữa thôi...
HỒN TRƯƠNG BA: Khuya quá rồi, không tiện, chị Hợi ạ.
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
Nhưng không tiện cái nỗi gì kia chứ? Ông không có quyền nán lại một chút hay sao? Chẳng lẽ ông cứ mãi coi mình như đứa ở hết giờ làm công lại về đây là nhà của ông cơ mà! Và em, em là ... Sao ông cứ khăng khăng lạnh nhạt với em, bỏ mặc em vò võ một thân một mình?
HỒN TRƯƠNG BA:
Hiểu tình cảnh chị neo đơn vất vả, tôi đã không nề hà gì công việc hàng họ, thịt thà...
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
Em không cần thịt thà.. Trước thì em cũng cần đấy, nhưng bây giờ em không thiết nữa! Em không thể sống thế này mãi được! Em đâu đáng phải chịu sự hững hờ của ông...Em là vợ ông!
HỒN TRƯƠNG BA:
(Khổ sở) Chị, chị phải biết rằng tôi không phải là chồng chị, không phải là anh Hợi. Hơn ai hết, chị biết rõ điều đó.
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
(Sau một hồi im lặng) Em biết, em biết chứ! Chính vì vậy mà em càng thương quý ông. Em đi lấy chồng năm mười sáu tuổi. Suốt mười năm sống bên chồng, em chưa hề biết một lời nói dịu dàng, một cử chỉ ân cần...Ngoài chuyện buôn bán lừa lọc, ông ấy chỉ biết ăn, ngủ và say rượu...Cả ban đêm, khi gần gũi vợ, ông ấy cũng say khướt. Rồi những trận đòn tàn tạ.(Vợ người hàng thịt nhắm mắt lại, trước mắt chị như hiện ra cảnh tượng cũ: Xác người hàng thịt mang hồn Trương Ba vụt trở về anh hàng thịt đang khật khưỡng ngồi uống rượu, tay gắp miệng nhai nhồm nhoàm. Rồi anh ta loạng choạng đứng dậy, hùng hổ trỏ tay vào mặt vợ. Chị vợ sợ hãi lùi dần. Anh hàng thịt vung nắm tay. Chị vợ kêu lên. Chị mở bừng mắt ra: Trước mặt chị lại là Anh hàng thịt mang hồn Trương Ba điềm tĩnh hiền hậu).
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
Giờ đây, ở bên em, vẫn là hình vóc ấy, khuôn mặt ấy nhưng tất cả đều đã khác... Lần đầu tiên em được biết thế nào là những lời thanh tạo hiền hậu, những cử chỉ nhã nhặn ân cần. Lần đầu tiên em thấy mình được quý trọng...
HỒN TRƯƠNG BA: Kìa, chẳng phải là chị đã khóc thương tiếc ông nhà đó sao?
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
Đúng! Không phải em ghét bỏ gì con người cũ của chồng em. Em đã chịu ơn ông ấy, thuộc về ông ấy, than khóc khổ sở khi ông ấy mất nhưng chỉ từ khi ông tới, hay nói đúng hơn từ khi hồn ông nhập vào thân xác chồng em, em mới biết trước kia em thiếu những gì, em mới biết lâu nay em chưa hề được sống lại thời con gái, nỗi sướng vui... Em cảm tạ Trời Phật đã cho hồn ông nhập vào hình vóc quen thuộc này! (Cầm hai bàn tay Hồn Trương Ba). Em không ao ước gì hơn nữa! Người chồng toàn vẹn của em đây! Người em đã từng mong đợi xưa kia đây! Anh đừng e ngại nữa, em là của anh.. (ôm lấy Trương Ba thắm thiết, say sưa). Đôi cánh tay này đã bao lần ghì chặt lấy em đến nỗi em phát sợ nhưng bây giờ đã khác trước, anh nhỉ? (gục mặt vào ngực hồn Trương Ba).
(Như bị một sức mạnh ghê gớm kéo đi, hồn Trương Ba cũng ôm lấy vợ người hàng thịt, vuốt ve đôi vai và cánh tay mạnh mẽ của chị ta)
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
(Vuốt tóc Trương Ba) Em sẽ săn sóc hầu hạ anh, tận tụy với anh mãi. Anh ơi, chúng ta hãy rời bỏ nơi này, vứt bỏ tất cả, không còn hồn Trương Ba, xác hàng thịt gì nữa, chỉ còn em với anh... Chúng ta hãy trốn đi, tới một nơi nào đó không còn ai biết quá khứ của chúng ta nữa, không còn lão Lý trưởng, không còn những thằng lái lợn, không có cả gã con trai gian xảo của anh..
Chúng ta sẽ đi ngay ngày mai, băng qua mấy cánh đồng, là sẽ tới bến Tằm, ta sẽ xuống đò xuôi ở đó...
HỒN TRƯƠNG BA:
(Như sực tỉnh) Bến Tằm? (Ngơ ngác rồi bàng hoàng buông vợ người hàng thịt ra, đứng bật dậy) Bến Tằm... đêm hát đối... Mình...trời ơi, ta đang làm gì thế này? (Nhìn lại đôi tay mình, sợ hãi) Không! Không (Lùi xa vợ người hàng thịt) Cái đốm sáng mong manh nào trong ta vừa chợt loé lên? Vái linh hồn của ta, hãy trở lại với ta, Trương Ba...ta là Trương Ba.. Mình ơi! Tôi đã làm gì? (Ôm mặt) Bà nó ơi!
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
Kìa! Anh! (Đến bên Trương Ba nhìn vừa đắm đuối vừa năn nỉ). Anh!
HỒN TRƯƠNG BA:
(Lắc đầu) Không! Đừng! Hãy tha cho tôi! Tôi van chị! (Như sợ mình không thắng nổi sự cám dỗ, lùi dần ra cửa) Không! (Chạy đi)
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT: (Gục xuống nức nở) Anh!
(Đèn tắt, chuyển cảnh)
(Hồn Trương Ba da hàng thịt - Tôi và chúng ta, Lưu Quang Vũ, Nxb Kim Đồng 2010)
Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) là một nhà soạn kịch, nhà thơ và nhà văn người Việt Nam. Các vở kịch, truyện ngắn, thơ của Lưu Quang Vũ giàu tính hiện thực và nhân văn, in đậm dấu ấn của từng giai đoạn trong cuộc sống của ông. Ông đã là tác giả của gần 50 vở kịch và hầu hết các vở kịch của ông đều được các đoàn kịch, chèo gây dựng thành công dưới sự chỉ đạo của nhiều đạo diễn nổi tiếng làm sôi động sân khấu Việt Nam thời kì đó
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: (Hồn Trương Ba và vợ người hàng thịt. Trời đã khuya) là thành phần nào của kịch bản, có hình thức như thế nào, đảm nhiệm chức năng gì ở lớp kịch?
Câu 2: Đọc đoạn sau và cho biết: Người vợ hàng thịt mong muốn điều gì? Vì sao chị lại bỏ lửng lời nói ở dấu ba chấm trong lời của mình?
Nhưng không tiện cái nỗi gì kia chứ? Ông không có quyền nán lại một chút hay sao? Chẳng lẽ ông cứ mãi coi mình như đứa ở hết giờ làm công lại về, đây là nhà của ông cơ mà! Và em, em là… Sao ông cứ khăng khăng lạnh nhạt với em, bỏ mặc em vò võ một thân một mình?
Câu 3: Nêu suy nghĩ, tình cảm của em dành cho nhân vật Hồn Trương Ba
Câu 4: Trích đoạn kịch Hồn Trương Ba và vợ người hàng thịt đã tác động như thế nào tới suy nghĩ, tình cảm của em?
Câu 5: Theo em, đọc kịch bản văn học, độc giả có được những trải nghiệm gì mà khi xem vở kịch không thể có được?
II. VIẾT (4đ)
Câu 1. Với kịch bản Hồn Trương Ba và vợ người hàng thịt, em nhận thấy tác giả Lưu Quang Vũ đặt ra những vấn đề nào? Em hãy điền các từ khóa của vấn đề đó vào sơ đồ sau đây

Câu 2. Lựa chọn một vấn đề mà em cho là thiết thực nhất và viết bài luận thể hiện hiểu biết, quan điểm của mình về vấn đề đó
Yêu cầu thực hiện: HS tự đặt tiêu đề và từ triển khai văn bản (dài từ 1,5 – 2 trang)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: (Hồn Trương Ba và vợ người hàng thịt. Trời đã khuya) là thành phần nào của kịch bản, có hình thức như thế nào, đảm nhiệm chức năng gì ở lớp kịch? |
Phương pháp giải:
Nhớ lại các thành phần của kịch bản sân khấu và tác dụng
Lời giải chi tiết:
Chỉ dẫn sân khấu, in nghiêng trong ngoặc đơn: thời gian, nhân vật của lớp kịch
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Đọc đoạn sau và cho biết: Người vợ hàng thịt mong muốn điều gì? Vì sao chị lại bỏ lửng lời nói ở dấu ba chấm trong lời của mình? Nhưng không tiện cái nỗi gì kia chứ? Ông không có quyền nán lại một chút hay sao? Chẳng lẽ ông cứ mãi coi mình như đứa ở hết giờ làm công lại về, đây là nhà của ông cơ mà! Và em, em là… Sao ông cứ khăng khăng lạnh nhạt với em, bỏ mặc em vò võ một thân một mình? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn kịch
Nhớ lại kiến thức về tác dụng của dấu ba chấm
Lời giải chi tiết:
Muốn hồn Trương Ba ngủ lại nhà mình; Vì ngại ngùng
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Nêu suy nghĩ, tình cảm của em dành cho nhân vật Hồn Trương Ba |
Phương pháp giải:
Chú ý những chi tiết, lời thoại thể hiện cảm xúc, con người nhân vật Hồn Trương Ba
Nêu cảm nhận của bản thân
Lời giải chi tiết:
- HS thể hiện góc nhìn, cảm xúc riêng của bản thân
- Gợi ý: Xác định vẻ đẹp của nhân vật; cảnh ngộ của nhân vật… Để từ đó, thể hiện sự trân trọng, sự cảm thông…
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Trích đoạn kịch Hồn Trương Ba và vợ người hàng thịt đã tác động như thế nào tới suy nghĩ, tình cảm của em? |
Phương pháp giải:
HS nêu cảm xúc, suy nghĩ của bản thân
Lời giải chi tiết:
Gợi ý: Hướng về nỗi khao khát của người vợ hàng thịt để thấy được giá trị mà con người ở tầng lớp nào cũng luôn hướng tới; hành xử, bi kịch của Hồn Trương Ba… để điều chỉnh hành vi bản thân
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Theo em, đọc kịch bản văn học, độc giả có được những trải nghiệm gì mà khi xem vở kịch không thể có được? |
Phương pháp giải:
Đưa ra trải nghiệm của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Được hiểu rõ cốt truyện, tưởng tượng diễn xuất của nhân vật qua ngôn từ của kịch bản
- Chỉ dẫn sân khấu giúp độc giả hiểu sâu hơn tâm trạng, cảm xúc của nhân vật
- Có thể đọc lại, suy ngẫm những ngôn từ đặc sắc diễn tả tâm trạng nhân vật, chuyển tải những triết lý, giá trị văn hóa…
II. VIẾT (4đ)
Câu 1 (1 điểm)
|
Với kịch bản Hồn Trương Ba và vợ người hàng thịt, em nhận thấy tác giả Lưu Quang Vũ đặt ra những vấn đề nào? Em hãy điền các từ khóa của vấn đề đó vào sơ đồ sau đây |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Tóm tắt văn bản bằng các từ khóa và sơ đồ hóa
Lời giải chi tiết:

Câu 2 (3 điểm)
|
Lựa chọn một vấn đề mà em cho là thiết thực nhất và viết bài luận thể hiện hiểu biết, quan điểm của mình về vấn đề đó Yêu cầu thực hiện: HS tự đặt tiêu đề và từ triển khai văn bản (dài từ 1,5 – 2 trang) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Luận đề/ Vấn đề nghị luận |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0.25 |
- Nêu, giới thiệu luận đề/ vấn đề nghị luận - Thái độ của người viết đối với luận đề |
|
Thân bài |
2.0 |
- Mô tả/ thuyết minh ngắn gọn về luận đề - Phân tích biểu hiện của vấn đề/ luận đề - Thái độ/ tình cảm đối với đối tượng (hiện tượng/ con người) - Đề xuất một số giải pháp khả thi |
|
Kết bài |
0.5 |
- Thái độ của bản thân trước luận đề (đồng tình/ phản đối) - Nhận thức và hành động của bản thân |
|
Yêu cầu khác |
0.25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Dẫn chứng đa dạng phù hợp với lí lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 11 - Đề số 6
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
ĐÂY THÔN VĨ DẠ
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vướn ai mướt quá, xanh như ngọc
Là trúc che ngang mặt chữ điền
Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa, khách đường xa.
Áo em trắng quá nhìn không ra.
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?
(Trích Đau thương, Hàn Mặc Tử, NXB Hội Nhà văn, 1995)
Câu 1 (0.5 điểm). Tìm những từ ngữ miêu tả cảnh thiên nhiên thôn Vĩ lúc bình minh.
Câu 2 (0.5 điểm). Ngắt nhịp những câu thơ sau:
“Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”
Câu 3 (1.0 điểm). Xác định biện pháp tu từ và tác dụng nghệ thuật trong câu thơ sau: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”
Câu 4 (1.0 điểm). Anh/chị hiểu như thế nào về câu thơ: “Gió theo lối gió, mây đường mây”
Câu 5 (1.0 điểm). Anh/chị cảm nhận như thế nào về khát vọng, thái độ của nhà thơ trong những dòng thơ sau:
“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?”
II. VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm)
Hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích chủ đề bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ.
Câu 2. (4.0 điểm)
Tình thương là hạnh phúc của con người
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1
Phương pháp giải:
Đọc và xác định
Lời giải chi tiết:
Những từ ngữ miêu tả cảnh thiên nhiên thôn Vĩ lúc bình minh: nắng hàng cau, nắng mới lên, vườn ai mướt quá, xanh như ngọc, trúc che ngang mặt chữ điền.
Câu 2
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn thơ và ngắt nhịp
Lời giải chi tiết:
Ngắt nhịp câu thơ:
Gió theo lối gió / mây đường mây (4/4)
Dòng nước buồn thiu / hoa bắp lay (4/4)
Câu 3
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức đã học về biện pháp tu từ (câu hỏi tu từ)
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ: Câu hỏi tu từ.
- Tác dụng: Gợi lên nỗi nhớ nhung, khát khao được trở về thôn Vĩ, đồng thời bộc lộ sự nuối tiếc, trách móc nhẹ nhàng của nhân vật trữ tình.
Câu 4
Phương pháp giải:
Trình bày ý hiểu của em
Lời giải chi tiết:
Câu thơ “Gió theo lối gió, mây đường mây” diễn tả sự chia lìa, xa cách giữa thiên nhiên, con người và cảm xúc. Hình ảnh gió và mây không đi cùng nhau tượng trưng cho sự chia cắt trong tâm trạng của nhân vật trữ tình – một nỗi buồn cô đơn, lẻ loi và khát khao được gắn kết nhưng không thể.
Câu 5
Phương pháp giải:
Phân tích hình ảnh sương khói mờ nhân ảnh → thể hiện sự xa cách, mờ ảo, không rõ ràng trong tình cảm.
Lời giải chi tiết:
Hai câu thơ “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh, Ai biết tình ai có đậm đà?” thể hiện sự mông lung, vô định của nhân vật trữ tình. Tình yêu trong thơ Hàn Mặc Tử vừa thiết tha vừa đầy hoài nghi, lo âu. Sự mờ ảo của sương khói gợi lên cảm giác xa cách, nỗi sợ rằng tình cảm của mình có thể không được đáp lại hoặc bị lãng quên. Đây cũng là sự tiếc nuối và khao khát về một tình yêu chân thành, sâu sắc.
PHẦN II. VIẾT
Câu 1
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, nắm nội dung chính
Xác định yêu cầu: phân tích chủ đề
Vận dụng kĩ năng lập luận, phân tích
Lời giải chi tiết:
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử thể hiện nỗi khắc khoải về tình yêu, cuộc sống và khao khát được trở về với vẻ đẹp thanh bình của quê hương. Thông qua bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ dịu dàng, sáng trong, nhà thơ gợi lên nỗi nhớ nhung sâu sắc về một nơi chốn đã xa và một người từng thân thương. Bài thơ còn chất chứa tâm trạng cô đơn, tuyệt vọng của tác giả trong những ngày cuối đời, khi ông sống giữa ranh giới mong manh của thực tại và mộng tưởng. Câu hỏi tu từ da diết, những hình ảnh gợi cảm và mờ ảo như “sương khói mờ nhân ảnh”, “gió theo lối gió, mây đường mây” càng làm nổi bật sự chia lìa, xa cách trong tâm hồn thi sĩ. Từ đó, Đây thôn Vĩ Dạ không chỉ là khúc tình ca đau đáu về một mối duyên lỡ dở mà còn là tiếng vọng tha thiết từ một trái tim nghệ sĩ cô độc, đầy yêu thương nhưng tuyệt vọng trước cuộc đời.
Câu 2
Phương pháp giải:
Xác định vấn đề cần bàn luận
Vận dụng kiến thức của em về vấn đề
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở bài
- Hạnh phúc là một khái niệm tinh thần trừu tượng. Tùy theo vai trò, vị trí của từng cá nhân, từ giai cấp trong xã hội mà có những quan niệm khác nhau về hạnh phúc.
- Nhân dân ta quan niệm: Tình thương là hạnh phúc của con người.
2. Thân bài
a. Giải thích câu nói: Tình thương là hạnh phúc của con người.
- Tình thương: là tình cảm nồng nhiệt làm cho gắn bó mật thiết và có trách nhiệm với người, với vật (Từ điển tiếng Việt)
- Hạnh phúc: là trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện. (Từ điển tiếng Việt)
- Tại sao Tình thương là hạnh phúc của con người?
+ Tình thương khiến cho người ta luôn hướng về nhau để chia sẻ, thông cảm, đùm bọc lẫn nhau.
+ Như vậy là thỏa mãn mọi ý nguyện, đã được hưởng sung sướng, hạnh phúc mà tình thương mang lại.
b. Phân tích để khẳng định, chứng minh các biểu hiện, ý nghĩa của tình thương:
- Trong phạm vi gia đình:
+ Cha mẹ yêu thương con cái, chấp nhận bao vất vả, cực nhọc, hi sinh bản thân để nuôi dạy con cái nên người. Con cái ngoan ngoãn, trưởng thành, cha mẹ coi đó là hạnh phúc nhất của đời mình.
+ Trong đời người có nhiều nỗi khổ, nhưng con cái không nên danh nên phận hoặc hư hỏng là nỗi đau lớn nhất của cha mẹ.
+ Con cái biết nghe lời dạy bảo của cha mẹ, biết đem lại niềm vui cho cha mẹ, đó là hiếu thảo, là tình thương và hạnh phúc.
+ Tình thương yêu, sự hòa thuận giữa anh em, giữa cha mẹ và con cái tạo nên sự bền vững của hạnh phúc gia đình.
- Trong phạm vi xã hội:
+ Tình thương chân thành là cơ sở của tình yêu đôi lứa.
+ Tình thương là truyền thống đạo lí: Thương người như thể thương thân; tạo nên sự gắn bó chặt chẽ trong quan hệ cộng đồng giai cấp, dân tộc.
+ Tình thương mở rộng, nâng cao thành tình yêu nhân loại.
- Những tấm gương sáng trong lịch sử coi Tình thương là hạnh phúc của con người:
+ Vua Trần Nhân Tông trong một chuyến đi thăm quân sĩ đã cởi áo bào khoát cho một người lính giữa đêm đông lạnh giá.
+ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cùng chia sẻ ngọt bùi, cùng vào sinh ra tử với tướng sĩ dưới quyền trong ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông, giành thắng lợi vẻ vang cho dân tộc.
+ Người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi suốt đời đeo đuổi lí tưởng vì dân vì nước, gác sang một bên những oan ức, bất hạnh của riêng mình.
+ Người thanh niên Nguyễn Tất Thành xuất phát từ lòng yêu nước thương dân trong tình cảnh nô lệ nên đã rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Phương châm sống đúng đắn của Người là: Mình vì mọi người. Bác luôn lấy tình yêu thương con người làm mục đích và hạnh phúc cao nhất của cuộc đời mình.
c. Phê phán, bác bỏ:
Lối sống thờ ơ, vô cảm, thiếu tình thương, không biết quan tâm, chia sẻ, đồng cảm và giúp đỡ người khác ...
d. Liên hệ bản thân:
Rút ra bài học về phương châm sống xứng đáng là con người có đạo đức, có nhân cách và hành động vì tình thương.
3. Kết bài
- Tình thương là lẽ sống cao cả của con người. Tình thương vượt lên trên mọi sự khác biệt giữa các dân tộc trên thế giới.
- Để tình thương thực sự trở thành hạnh phúc của con người, mỗi chúng ta phải vươn lên chống đói nghèo, áp bức bất công, chiến tranh phi nghĩa ... để góp phần xây dựng một thế giới hòa bình thịnh vượng ...
Đề thi học kì 2 Văn 11 - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Lược dẫn: Trong tiết Thanh Minh, Thúy Kiều cùng với Thúy Vân và Vương Quan (là hai em của Kiều) đi chơi xuân. Khi trở về, gặp một nấm mộ vô danh ven đường, không người hương khói. Kiều hỏi thì được Vương Quan cho biết đó là mộ Đạm Tiên, một ca nhi nổi danh tài sắc nhưng bạc mệnh.
|
Lòng đâu sẵn mối thương tâm, Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa. Đau đớn thay phận đàn bà! Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung. Phũ phàng chi bấy hoá công, Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha. Sống làm vợ khắp người ta, Hại thay thác xuống làm ma không chồng. Nào người phượng chạ loan chung, Nào người tích lục tham hồng là ai? Đã không kẻ đoái người hoài, Sẵn đây ta thắp một vài nén nhang. |
Gọi là gặp gỡ giữa đàng, Họa là người dưới suối vàng biết cho. Lầm rầm khấn vái nhỏ to, Sụp ngồi đặt cỏ trước mồ bước ra. Một vùng cỏ áy bóng tà, Gió hiu hiu thổi một và bông lau. Rút trâm giắt sẵn mái đầu, Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần. Lại càng mê mẩn tâm thần Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra. Lại càng ủ dột nét hoa, Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài. |
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, NXBS Dân Trí, Hà Nội, 2013)
Câu 1 (0.5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản
Câu 2 (0.5 điểm). Đoạn thơ trên có sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt nào?
Câu 3 (1.0 điểm). Phân tích hiệu quả nghệ thuật của phép điệp trong 4 câu thơ sau:
Lại càng mê mẩn tâm thần
Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra.
Lại càng ủ dột nét hoa,
Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài
Câu 4 (1.0 điểm). Theo Anh/chị, quan niệm Đau đớn thay phận đàn bà; Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung có còn đúng với xã hội hiện nay không? Lí giải?
Câu 5 (1.0 điểm). Anh/chị có suy nghĩ gì về thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến sau khi đọc đoạn thơ? (Viết khoảng 5 – 7 dòng)
II. VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp tinh thần sáng lên trong gian khó của những người lính đảo ở đoạn thơ sau:
Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn (trích)
…Ôi ước gì được thấy mưa rơi
Mặt chúng tôi ngửa lên như đất
Những màu mây sẽ thôi không héo quắt
Đá san hô sẽ nảy cỏ xanh lên
Đảo xa khơi sẽ hóa đất liền
Chúng tôi không cạo đầu, để tóc lên như cỏ
Rồi kháo nhau
Bữa tiệc linh đình bày toàn nước ngọt
Ôi ước gì được thấy mưa rơi
Cơn mưa lớn vẫn rập rình ngoài biển
Ánh chớp xanh vẫn lấp loáng phía chân trời...
(Trần Đăng Khoa, Bên cửa sổ máy bay, NXB Tác phẩm mới, 1985)
Câu 2. (4.0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về thông điệp được gợi ra từ câu nói: “Hạnh phúc giữ trong tay chỉ còn là hạt; hạnh phúc mang ra san sẻ mới trổ hoa” (Ernest Hemingway).
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1
Phương pháp giải:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Thể thơ: lục bát
Câu 2
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức đã học về phương thức biểu đạt
Lời giải chi tiết:
Phương thức kết hợp: Tự sự và biểu cảm
Câu 3
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức đã học về tác dụng của phép điệp
Lời giải chi tiết:
Hiệu quả của phép điệp:
- Điệp từ “lại”
- Hiệu quả:
+ Nhấn mạnh, làm nổi bật tâm trạng đau đớn, xót xa của Thúy Kiều khi thăm mộ Đạm Tiên.
+ Thể hiện sự đồng cảm, niềm xót thương sâu sắc của nàng Kiều dành cho Đạm Tiên.
+ Nhịp thơ thay đổi, chậm lại; câu thơ sinh động, hấp dẫn.
Câu 4
Phương pháp giải:
Nêu suy nghĩ và lí giải phù hợp
Lời giải chi tiết:
- Quan niệm Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung không còn đúng với xã hội hiện đại.
- Lí giải: Vì trong xã hội hiện đại, nam nữ đã bình đẳng, bình quyền, người phụ nữ không còn bị ràng buộc hay phụ thuộc vào nam giới, họ đã có quyền tự chủ, tự quyết định cuộc đời và số phận của mình.
Câu 5
Phương pháp giải:
Nêu suy nghĩ và lập luận phù hợp
Lời giải chi tiết:
- Với quan điểm trọng nam khinh nữ, người phụ nữ trong xã hội phong kiến thường không có tiếng nói, không tự quyết định được cuộc đời của mình.
- Là phái đẹp, họ vừa được nâng niu, nhưng đồng thời cũng dễ trở thành món đồ chơi, vật đổi trao trong tay người khác
- Khi còn hương sắc, họ được yêu mến, nhưng khi hương sắc tàn phai, họ lại bị chà đạp, hắt hủi, ruồng rẫy, bỏ rơi…
PHẦN II. VIẾT
Câu 1
Phương pháp giải:
Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
Trình bày đoạn văn theo các cách diễn dịch, quy nạp, tổng- phân- hợp, móc xích hoặc song hành
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
- Đoạn thơ có sử dụng các biện pháp tu từ như phép điệp, phép liệt kê, phép so sánh kết hợp với những từ ngữ giản dị, đời thường, đậm chất lính (kháo nhau) có tác dụng diễn tả niềm mơ ước cháy bỏng của người lính đảo: trời có mưa, có nước ngọt, để cả thiên nhiên và con người trên đảo thỏa khát khao được hồi sinh từ nguồn nước ngọt.
- Từ ước mơ có mưa giữa bốn bề nước biển mặn cho thấy cuộc sống khó khăn vô vàn của người lính giữa đảo xa. Thấy được vẻ đẹp tinh thần của người lính đảo trong sự lạc quan, trẻ trung.
- Đoạn thơ sinh động, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc...
Câu 2
Phương pháp giải:
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Liên hệ kiến thức về vấn đề
Vận dụng thao tác lập luận, kĩ năng viết bài
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài
- Giới thiệu và nêu khái quát tư tưởng: quan niệm về hạnh phúc và sự cần thiết phải san sẻ, trao đi hạnh phúc. Trích dẫn câu cách ngôn.
2. Thân bài
* Giải thích câu nói
- Hạnh phúc là trạng thái cảm xúc vui mừng và thỏa mãn khi con người đạt được những điều mong ước trong cuộc sống: tiền tài, danh vị, sự nghiệp, học vấn, gia đình, tình yêu…
- Hạt: nhỏ bé, là yếu tố ban đầu, là khởi nguồn, đáng quý nhưng chỉ mãi ở tiềm năng…; hoa: là sự ngọt ngào, đẹp đẽ, đáng trân trọng, nâng niu, làm đẹp cho đời…; giữ trong tay: giữ cho riêng mình; mang ra san sẻ: chia sẻ cho người khác, biết trao đi…
Câu nói có nghĩa là: Hạnh phúc chưa thực sự có ý nghĩa, có giá trị khi ta chỉ giữ nó cho riêng mình. Hạnh phúc chỉ thực sự có ý nghĩa, có giá trị và làm đẹp cho đời khi ta biết trao đi, biết chia sẻ với mọi người.
* Bày tỏ quan điểm và bàn luận
- Hạnh phúc giữ trong tay chỉ còn là hạt:
+ Biểu hiện của hạnh phúc “giữ trong tay”: người có nhiều may mắn, thành công nhưng sống cá nhân, vị kỉ, vô tình với người kém may mắn hơn mình.
+ Hậu quả: Đó là hạnh phúc nhỏ nhoi, hạn hẹp, chỉ thỏa mãn cá nhân, chưa mạng lại ý nghĩa lớn lao cho cuộc đời; cuộc sống chưa thực sự có ý nghĩa (Dẫn chứng)
- Hạnh phúc mang ra san sẻ mới trổ hoa:
+ Biểu hiện của hạnh phúc “san sẻ” “trổ hoa”: luôn quan tâm và sẵn sàng chia sẻ những giá trị vật chất, tinh thần mà mình có với những người bất hạnh quanh mình.
+ Ý nghĩa của hạnh phúc “trổ hoa”: Hạnh phúc được chia sẻ sẽ đem đến niềm vui và những giá trị cho mọi người; làm vơi bớt những bất hạnh trong cuộc sống; người biết chia sẻ hạnh phúc sẽ có được niềm vui, tình yêu thương, sự biết ơn, quý mến….; cuộc sống mới thực sự ý nghĩa; xã hội trở nên tốt đẹp, nhân ái, đầy tính nhân văn… (Dẫn chứng)
* Mở rộng, phản đề
- Phê phán những người chỉ giữ hạnh phúc cho riêng mình…
- Hạnh phúc cần trao cho người xứng đáng…
* Bài học: biết quan tâm, chia sẻ, đem đến niềm vui và những điều tốt đẹp cho nọi người, cuộc sống của ta sẽ có hạnh phúc đích thực...
3. Kết bài
- Tổng kết vấn đề
Đề thi học kì 2 Văn 11 - Đề số 8
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
(1) Cuộc sống quanh ta có biết bao nhiêu điều tốt đẹp đáng quý và cần trân trọng. Chỉ cần ta biết khéo léo nhận ra và chọn lọc, chúng ta không hề thiếu thốn những hạt giống tốt đẹp để gieo trồng. Mặt khác, trong cuộc sống cũng đầy rẫy những cỏ dại xấu xa. Chỉ cần ta sống buông trôi, thiếu hiểu biết, cuộc đời ta sẽ phải trả giá bằng những u ám, tối tăm kéo dài.
(2) Một tâm hồn tươi đẹp đầy hoa thơm trái quý, hay tiêu điều hoang vắng với cỏ dại lan tràn… Điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào nhận thức và nỗ lực của chính chúng ta, không phụ thuộc vào bất kỳ ai khác.
(3) Nuôi dưỡng tâm hồn cũng quan trọng, cần thiết không kém gì việc nuôi dưỡng thể xác, nhưng chúng ta rất thường lãng quên không chú ý đến việc này. Chúng ta đôi khi bỏ mặc tâm hồn mình khô cằn hoặc mọc đầy cỏ dại. Nếu ý thức được điều này và bắt đầu chăm sóc gieo trồng những hạt giống tốt lành, chắc chắn bạn sẽ có được một cuộc sống tươi vui và hạnh phúc hơn nhiều.
(http://www.kynang.edu.vn/ky-nang-mem/nuoi-duong-tam-hon-noi-chinh-ban.html)
Câu 1 (0.5 điểm). Xác định nội dung chính của đoạn trích trên.
Câu 2 (0.5 điểm). Chỉ ra một biện pháp tu từ trong đoạn (1)
Câu 3 (1.0 điểm). Anh/ chị hiểu như thế nào về đoạn (2): Một tâm hồn tươi đẹp đầy hoa thơm trái quý, hay tiêu điều hoang vắng với cỏ dại lan tràn… Điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào nhận thức và nỗ lực của chính chúng ta, không phụ thuộc vào bất kỳ ai khác?
Câu 4 (1.0 điểm). Việc nuôi dưỡng tâm hồn có ý nghĩa như thế nào đối với con người?
Câu 5 (1.0 điểm). Thông điệp mà anh/ chị tâm đắc nhất qua văn bản là gì? Nêu rõ lí do chọn thông điệp đó.
II. VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm)
Hãy viết 1 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về hậu quả của việc “bỏ mặc tâm hồn mình khô cằn hoặc mọc đầy cỏ dại” đối với tuổi trẻ trong cuộc sống hôm nay được gợi ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4.0 điểm)
Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích tác phẩm Mẹ Tơm của Tố Hữu
Con đã về đây, ơi mẹ Tơm
Hỡi người mẹ khổ đã dành cơm
Cho con, cho Đảng ngày xưa ấy
Không sợ tù gông, chấp súng gươm
Nhà ai mới nhỉ, tường vôi trắng
Thơm nức mùi tôm nặng mấy nong
Ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng
Giếng vườn ai vậy, nước khơi trong?
Ôi bóng người xưa, đã khuất rồi
Tròn đôi nấm đất trắng chân đồi
Sống trong cát, chết vùi trong cát
Những trái tim như ngọc sáng ngời
Đốt nén hương thơm, mát dạ Người
Hãy về vui chút, mẹ Tơm ơi!
Nắng tươi xóm ngói, tường vôi mới
Phấp phới buồm dong, nắng biển khơi...”
(Trích bài thơ “Mẹ Tơm”- Tố Hữu, Thơ Việt Nam 1945 - 1985)
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, xác định nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Tâm hồn con người giống như một mảnh đất, nếu biết nhận thức và nỗ lực gieo trồng những điều tốt đẹp, cuộc sống sẽ trở nên ý nghĩa và hạnh phúc; ngược lại, nếu buông thả, tâm hồn sẽ bị phủ đầy cỏ dại và dẫn đến cuộc sống tiêu cực.
Câu 2
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức đã học về biện pháp ẩn dụ
Lời giải chi tiết:
Đoạn văn sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ: hạt giống tốt đẹp, cỏ dại xấu xa
Câu 3
Phương pháp giải:
Nêu suy nghĩ của em
Lời giải chi tiết:
"Một tâm hồn tươi đẹp đầy hoa thơm trái quý, hay tiêu điều hoang vắng với cỏ dại lan tràn… Điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào nhận thức và nỗ lực của chính chúng ta, không phụ thuộc vào bất kỳ ai khác" có thể hiểu rằng:
– Chính chúng ta được lựa chọn và quyết định để làm nên một tâm hồn tốt đẹp hay u ám.
– Mỗi người phải tự chú động, nỗ lực làm đẹp cuộc sống, tâm hồn của mình; đừng nên trông chờ vào người khác.
Câu 4
Phương pháp giải:
Dựa vào nội dung đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Việc nuôi dưỡng tâm hồn sẽ hướng con người tới những giá trị tốt đẹp, tránh xa những điều xấu xa. Tâm hồn đẹp cũng sẽ giúp chúng ta tự tin, yêu đời, nhận ra những điều giản đơn nhưng vô cùng ý nghĩa.
Câu 5
Phương pháp giải:
Từ nội dung rút ra thông điệp phù hợp
Lời giải chi tiết:
Thông điệp em tâm đắc nhất là: nuôi dưỡng tâm hồn tinh tế. Bởi:
- Nhiều người vẫn đang loay hoay đi tìm hạnh phúc ở nơi xa xôi mà quên mất đáp án tồn tại ngay trong họ.
- Cuộc sống và lòng người đang có nhiều biến đổi và chịu tác động nhiều từ ngoại cảnh, nếu mỗi người biết tự ý thức, chọn lọc những điều tốt thì cuộc sống của ta sẽ tốt đẹp hơn.
PHẦN II. VIẾT
Câu 1
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức của mình về vấn đề để triển khai bàn luận
Vận dụng thao tác lập luận, kĩ năng viết bài
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn
- Dẫn dắt vấn đề: Trong cuộc sống hiện đại, tuổi trẻ có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng dễ bị cuốn vào lối sống buông thả, thực dụng.
- Nêu vấn đề: Việc “bỏ mặc tâm hồn mình khô cằn hoặc mọc đầy cỏ dại” để lại nhiều hậu quả tiêu cực cho thế hệ trẻ ngày nay.
2. Thân đoạn
- Giải thích:
+ “Tâm hồn khô cằn” là tâm hồn thiếu cảm xúc, tình thương, lý tưởng sống.
+ “Cỏ dại” tượng trưng cho những suy nghĩ, thói quen, hành động tiêu cực như ích kỷ, vô cảm, lười biếng, thực dụng, vướng vào tệ nạn,...
- Hậu quả:
+ Dễ mất phương hướng, không có mục tiêu sống rõ ràng.
+ Trở nên vô cảm, xa rời giá trị đạo đức, thiếu trách nhiệm với bản thân và cộng đồng.
+ Gây tổn thương cho chính mình và những người xung quanh, khó hòa nhập xã hội.
+ Lãng phí tuổi trẻ, đánh mất cơ hội phát triển toàn diện.
- Biện pháp khắc phục:
+ Thường xuyên tự nhìn lại bản thân, nhận diện “cỏ dại” trong tâm hồn để kịp thời loại bỏ.
+ Chủ động tiếp thu cái hay, cái đẹp từ sách vở, nghệ thuật, con người tử tế.
+ Tham gia các hoạt động tích cực: tình nguyện, thể thao, kỹ năng sống,… để nuôi dưỡng tâm hồn phong phú.
+ Xây dựng lý tưởng sống rõ ràng, rèn luyện đạo đức và bản lĩnh vững vàng.
- Dẫn chứng: HS đưa dẫn chứng phù hợp
3. Kết đoạn
- Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng tâm hồn bằng những giá trị sống tích cực.
- Tuổi trẻ cần tỉnh táo, biết chọn lọc, học hỏi, rèn luyện bản thân để không đánh mất mình giữa dòng đời.
Câu 2
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nội dung bài thơ
Dựa vào đặc trưng thể loại để phân tích
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở bài
Giới thiệu khái quát tác giả Tố Hữu và bài thơ mẹ Tơm
- Tố Hữu- người được mệnh danh là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam
- Bài thơ là lời ngợi ca của nhà thơ đối với mẹ Tơm – với những phẩm chất tốt đẹp và cao quý.
2. Thân bài
- Bài thơ được Tố Hữu sáng tác khi về thăm quê hương nơi Mẹ Tơm ở sau 9 năm
- Giới thiệu mẹ Tơm
+Mẹ cũng giống như bào người phụ nữ chân yếu tay mềm khác, nhưng ở mẹ có một lòng dũng cảm
+ Mẹ đã nuôi dưỡng tác giả trong những ngày nhà thơ vượt ngục
+ Mẹ dành những phần cơm cho cán bộ, mẹ yêu thương, quan tâm, coi những chiến sĩ cách mạng như chính con ruột của mình, căm thù bọn Tây Nhật
+ Là người mẹ anh hùng bất khuất kiên trung, giàu lòng yêu thương và lí tưởng cao quý. Chính mẹ với lòng dũng cảm kiên cường, không sợ những đe dọa cùng cực hình tàn bạo của quân thù
+ Không chỉ khéo léo mẹ còn rất gan dạ và thông minh khi để lẫn những lá thư mật tuyên truyền cách mạng trong những mớ rau.
→ Bài thơ ngợi ca mẹ Tơm với những phẩm chất tốt đẹp và cao quý. Tác giả bày tỏ tình cảm đặc biệt dành cho người mẹ anh hùng
3. Kết bài
- Nêu cảm nghĩ chung về bài thơ.
Bài tham khảo
Tố Hữu có cả một dòng thơ viết về người mẹ. Trong tập thơ “Từ ấy” có bài “Bà má Hậu Giang”, trong tập thơ “Việt Bắc” có “Bầm ơi!”, “Bà Bủ”, “Bà mẹ Việt Bắc”, trong tập thơ “Gió lộng” có “Quê mẹ”, “Mẹ Tơm”, trong tập thơ “Ra trận” có “Mẹ Suốt”… Ông viết về người mẹ với tấm lòng thương yêu, kính trọng, ngợi ca.
Bài thơ “Mẹ Tơm” cũng được tác giả viết với dòng cảm xúc cao quý ấy và gửi gắm lòng biết ơn người mẹ đã nuôi dưỡng nhà thơ trong những ngày vượt ngục. Từ xúc cảm cụ thể, bài thơ vươn lên triết lí, để cao đạo lí ân nghĩa của dân tộc. Tác giả đã chọn thể loại thơ trữ tình kết hợp với tự sự thích hợp với giọng điệu tâm tình. Kết cấu của bài thơ theo diễn biến của cuộc hành trình và theo sự vận động nội tâm của tác giả.
Cái tôi trữ tình hiện diện ngay ở đầu bài thơ với cảm xúc dào dạt khi nhà thơ trở về miền biển Hậu Lộc, quê hương của mẹ Tơm, sau mười chín năm xa cách:
“Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa
Một buổi trưa, nắng dài bãi cát
Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa
Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát…”
Nhà thơ đi trong không gian thoáng đãng, dưới trưa nắng sáng, trong âm vang của sóng biển (hay sóng lòng?). Những từ láy phụ âm đầu như “xôn xao”, “đu đưa”, “ngân nga” đã cộng hưởng thành một hòa âm xao động mà êm ái du dương.
Nhà thơ trở nên hồn nhiên, trò chuyện với những cái không thể trò chuyện được, chào hỏi những vật vô tri như chào hỏi cố nhân:
“Hòn Nẹ ta ơi! Mảng về chưa đó
Có nhiều không con nục, con thu?
Cho những buồm nâu thuyền câu Diêm Phố!
Nhớ nhau chăng, hỡi Hanh Cát, Hanh Cù?”
Màu sắc cũng được gợi lên thật đẹp. Màu xanh của “dừa xanh” đầy sức sống, nổi bật trên màu trắng của “cát trắng” tinh anh và điểm xuyết nét đỏ của “dưa đỏ ngọt lành”. Nhưng hay nhất của khúc tâm tình này là âm nhạc. Những từ láy và những vần lưng cộng hưởng thành những hòa âm phong phú”
“Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát”
“Chào những buồm nâu thuyền câu Diêm Phố”
“Hỡi đồi cát trắng rung rinh nắng”
Trong điệu nhạc ân tình, nhà thơ tưởng nhớ đến người mẹ nuôi xưa.
“Con đã về đây, ơi mẹ Tơm
Hỡi người mẹ khổ đã dành cơm
Cho con, cho Đảng ngày xưa ấy
Không sợ tù gông, chấp súng gươm”
Tố Hữu nhớ đến mẹ Tơm là nhớ đến một người mẹ giàu lòng thương yêu, có lí tưởng cao quý. Chính mẹ Tơm mười chín năm về trước đã nuôi dưỡng, che chở, bảo vệ cho Tố Hữu trong những ngày vượt ngục đầy gian nan, bất chấp bạo lực của kẻ thù. Mẹ Tơm tình nghĩa mà anh hùng!
Nhà thơ ngạc nhiên, vui mừng trước sự đổi thay của quê hương Hậu Lộc:
“Nhà ai mới nhỉ, tường vôi trắng
Thơm phức mùi tôm nặng mấy nong
Ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng
Giếng vườn ai vậy, nước khơi trong?”
Màu sắc mới mẻ (tường vôi trắng), hương vị miền biển (thơm phức mùi tôm, hình ảnh “ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng" đã nói lên sự thay da đổi thịt của miền quê Hậu Lộc – một miền quê biển thanh bình, sung túc.
Nhà thơ ngơ ngác trước cuộc sống lạ lùng hôm nay. “Cô gái má bồ quân”, “Mái đầu tóc xoã xanh bên giếng”, mười chín năm trước đã quen thâ, vậy mà giờ đây cả hai đều bỡ ngỡ. Lời thoại giữa cô gái và nhà thơ tạo ra không khí sôi nổi, trẻ trung cho thơ:
“Nhiều đấy ư em, mấy tuổi rồi?
- Hai mươi.
- Ờ nhỉ, tháng năm trôi
Sóng bồi thêm bãi, thiền thêm bến
Gió lộng đường khơi, rộng đất trời!”
Rồi giọng thơ lại bùi ngùi trước hai tin buồn:
“Ông mất năm nao ngày độc lập
Bà về năm đói, làng treo lưới
Biển động: Hòn Mê, giặc bắn vào …”
Nhà thơ lại “bâng khuâng” nhớ lại chuyện cũ. Mười chín năm trước, Tố Hữu và một số bạn tù đã vượt ngục Đắc Lay về Thanh Hoá và “Duyên may dây nối, đất Hanh Cù”. Nhà thơ và các bạn tù đã tìm đến bà mẹ nghèo ở đất Hanh Cù:
“Đầu thôn, cồn vắng, túp lều rơm:
Tổ ấm chim về. Có mẹ Tơm
Hai đứa trai ngày đi cúp dạo
Nồi khoai sớm tôi lót thay cơm”
Mẹ Tơm nghèo nhưng tình nghĩa “thương người cộng sản, căm Tây, Nhật”, trung thành, thuỷ chung với cách mạng:
“Buồng Mẹ – buồng tim – giấu chúng con”
Thật không còn hình ảnh nào xác thực hơn để ngợi ca lòng trung thành của mẹ Tơm đối với Đảng, với cách mạng! Hình tượng người Mẹ cứ lớn dần lên hoà lẫn với non nước thật là cao đẹp.
… “Bóng Mẹ ngồi canh lẫn bóng cồn”
… “Bóng Mẹ ngồi trông, vọng nước non!”
Mẹ Tơm từ người mẹ nuôi dưỡng, đã trở thành người mẹ tranh đấu. Từ những việc làm âm thầm như nuôi giấu cán bộ, ngồi canh cho những hoạt động của chiến sĩ cách mạng, dần dần Mẹ đã tham gia trực tiếp vào cuộc chiến tranh:
“Chợ xa, Mẹ gánh mớ rau xanh
Thêm bó truyền đơn gọi đấu tranh
Bãi cát vàng thau in bóng mẹ
Chiều về…Hòn Nẹ…biển reo quanh!”
Mẹ Tơm gợi nhớ đến nhân vật Nhilopna trong tiểu thuyết “Người mẹ” của Macxim Go-rơ-ki. Hai người Mẹ đều bắt đầu từ tự phát đến tự giác đấu tranh. Và đều có những hành động anh hùng, bất khuất.
Nhà thơ tưởng niệm mẹ Tơm bằng một “nén hương thơm” và triết lí sâu sắc ngợi ca người Mẹ tình nghĩa mà anh hùng:
“Ôi bóng người xưa, đã khuất rồi
Tròn đôi nấm đất trắng chân đồi
Sống trong cát, chết vùi trong cát
Những trái tim như ngọc sáng ngời!
Đốt nén hương thơm mát dạ Người
Hãy về vui chút, mẹ Tơm ơi!
Nắng tươi xóm ngói, tường vôi mới
Phấp phới buồm giong, nắng biển khơi”
Thành công lớn nhất của bài thơ là đã tái hiện được hình ảnh mẹ Tơm. Người mẹ nghèo khổ sống lặng lẽ âm thầm nhưng giàu lòng thương yêu và son sắt thuỷ chung với cách mạng. Từ người mẹ thật ngoài đời đã bước vào trong thơ thành nhân vật lí tưởng của thi nhân. Tượng đài người mẹ anh hùng mà tình nghĩa dược hiện lên trong âm nhạc hoài niệm và ngợi ca nên có sức ngân vang mãi trong lòng người đọc.
Đề thi học kì 2 Văn 11 - Đề số 9
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Thu muộn
Đã đi vào lãng quên mùi vị bánh nướng, bánh dẻo, hạt cốm Vòng bọc trong lá sen buộc sợi rơm vàng duyên dáng. Thu đã qua lâu, tháng mười một tây lịch rồi, tôi vẫn cứ chờ những hạt mưa bay và hơi sương - tuyệt phẩm của mùa thu, như chờ đợi tiếng hú một con tàu. Lại nhớ năm ngoái, một đêm tháng mười trăng mờ, ngồi bên hồ Núi Cốc, lành lạnh tiết thu ngấm vào mỗi phân vuông trên làn da mát lịm nơi bờ vai người yêu dấu.
Thu không mưa bay, không sương mờ hai buổi sớm tối, trơ trẽn đến lạ. Thời khắc cứ lì ra, ngần ngại không chuyển dịch, cảm xúc cũng mòn mỏi đơn điệu khô héo như lá cây trong khu vườn nhỏ của tôi. Trong vườn nhỏ của tôi, rũ úa cả một khóm thuỷ trúc, một gốc hoa tỏi. Thiếu nước và nắng, hoa mười giờ, khép chặt hai mắt lá như lá cây trinh nữ khi tự vệ.
Có người nói: Ở những xứ có tiết khí hậu biến đổi thường xuyên, con người thông minh hơn. Thông minh hơn thì tôi không dám chắc. Nhưng dồi dào cảm xúc thì là điều ai cũng nhận ra. Lịch thiên nhiên quay vòng bốn tiết một năm, ít nhất mười hai tháng trời, tôi ngẩn ngơ xao xuyến mất bốn lần. Trong tâm cảm mình, dẫu thế nào lúc này cũng xôn xang chờ đón một ánh sương đọng huyền ẩn và làn mưa bay xiên xiên mơ màng. Tôi chờ đợi tháng ngày. Thiếu mưa sương như thiếu bạn. Thiếu cái miền để ta trốn lẩn khỏi cái nhộn nhàng bận rộn của thường nhật chen đua, để ẩn náu và nuôi dưỡng cái phần đời sống không nhìn thấy của con người. Cái gì mà không cần sự yên ả, ngập ngừng trong một góc trời riêng.
Tôi đã hết hy vọng. Bởi nắng chợt sáng bừng như đèn trời lồng lộng không gian. Hết cả rồi “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi”, hết cả rồi “Lá vàng bay theo gió, hoa tàn rụng bến sông”. Tất cả đều lộ liễu phô bầy giữa thanh thiên rát một thứ nắng vàng phong phanh và nóng. Đi trong nắng hanh là cả một khối mâu thuẫn đến khó chịu. Ngoài làn áo là cái bỏng rát tàn bạo thiêu đốt, trong làn da là cái âm âm lạnh của tiết động giá toả từ tiềm ẩn dồn nén có từ thuở nao. Cứ tưởng thu đã hết rồi với nắng hanh sáng choang thô lỗ. Vậy mà một ngày kia, tôi đã giật mình dừng lại bên hè phố Giảng Võ. Bưởi! Bưởi vàng, sản phẩm đích thực của mùa thu, chất cao từng chồng quả, như những dấu chấm vàng kết đọng và tĩnh lặng buông mình ở cuối những câu văn dài đầy nhạc cảm.
Thu chưa đi. Bản tính thu là lưu luyến. Cuối cùng thì tôi đã thấy, có một ngày các khớp xương đều tấy đỏ tê nhức và mũi nghẹt đặc, vô cùng khó thở, rồi sau đó, tựa như có phép lạ, tất cả bỗng biến mất, như ách tắc được giải toả, thông thoát: Mưa bắt đầu rơi! Mưa thu rơi. Đúng là thứ mưa tôi chờ :Rầm rì, thủ thỉ, mu mơ.
Người ta bảo: Thu nay đến muộn. Như tình yêu, tình thu vang vọng như một tiếng còi tàu chia ly đầy nhớ thương, tình thu, có bao giờ biến vào vô tăm tích! Thu ơi, ta nhớ em như nhớ một người yêu từ kiếp trước.
(Thu muộn, In trong Một thoáng lam mờ, Ma Văn Kháng, NXB Dân Trí, 2017, tr.110 – 111)
Câu 1. Xác định đề tài của văn bản trên?
Câu 2. Em hãy chỉ ra yếu tố tự sự được thể hiện trong đoạn văn thứ nhất?
Câu 3. Theo em, tình cảm mà tác giả bộc lộ đối với mùa thu là những tình cảm gì?
Câu 4. Em có đồng tình với câu nói “Ở những xứ có tiết khí hậu biến đổi thường xuyên, con người thông minh hơn” hay không? Vì sao?
Câu 5. Qua văn bản trên, em có cảm nhận như thế nào về mùa thu Hà Nội?
II. VIẾT
Hãy viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của việc sống lạc quan.
----- Hết -----
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Đề tài là lát cắt đời sống được nhà văn lựa chọn, tái hiện và thể hiện qua văn bản.
- Dựa vào nội dung bao trùm, hình tượng trung tâm và cảm hứng chủ đạo của toàn bộ văn bản.
Cách giải:
Đề tài thiên nhiên
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kĩ đoạn văn thứ nhất
- Tìm trong đoạn văn những câu, những chi tiết có tính chất tự sự
Cách giải:
- Lại nhớ năm ngoái, một đêm tháng mười trăng mờ, ngồi bên hồ Núi Cốc, lành lạnh tiết thu ngấm vào mỗi phân vuông trên làn da mát lịm nơi bờ vai người yêu dấu.
Câu 3:
Phương pháp:
- Phân tích các từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ và giọng điệu để xác định tình cảm, cảm xúc của tác giả.
Cách giải:
Tác giả bộc lộ tình cảm yêu quý, thân thuộc, xem mùa thu như một người bạn tri kỷ lâu ngày không gặp lại.
Câu 4:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Đồng tình vì: việc ở nơi có khí hậu thay đổi nhiều yêu cầu người ta phải linh hoạt thích nghi hơn, từ đó họ sẽ nhanh nhẹn hơn trong việc xử lý các vấn đề của cuộc sống.
- Không đồng tình vì: việc con người thông minh hay không còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như bộ gen, môi trường giáo dục,…
Cách giải:
Em không đồng tình với câu nói trên. Bởi vì trí thông minh của con người chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố quan trọng như giáo dục, di truyền, môi trường xã hội. Khí hậu thay đổi có thể tạo ra những thách thức, giúp con người linh hoạt hơn trong ứng phó, nhưng không phải là yếu tố quyết định duy nhất cho sự thông minh.
Câu 5:
Phương pháp:
Có thể theo gợi ý sau:
- Mùa thu Hà Nội dịu dàng nhưng có lúc vô tình làm người ta cứ chờ đợi
- Nó làm người ta trở nên bình yên hơn, sống chậm hơn và mọi thứ thật nhẹ nhàng tĩnh lặng….
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Qua văn bản "Thu muộn" của Ma Văn Kháng, em cảm nhận mùa thu Hà Nội hiện lên thật dịu dàng, sâu lắng và đầy sức quyến rũ. Đó là một thứ thu rất riêng với những tín hiệu không thể nhầm lẫn: hương cốm Vòng thanh tao, mưa bay hơi sương mờ ảo, nắng hanh vàng và cả những cơn mưa "rầm rì, thủ thỉ". Thu Hà Nội trong văn Ma Văn Kháng không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên mà còn là cả một thế giới cảm xúc, nơi con người có thể "ẩn náu và nuôi dưỡng cái phần đời sống không nhìn thấy". Vẻ đẹp của thu khiến lòng người phải "ngẩn ngơ xao xuyến", và cũng bởi thế mà nỗi nhớ thu, sự chờ đợi thu trở nên da diết, khắc khoải. Có thể nói, mùa thu Hà Nội trong tác phẩm là một bức tranh thiên nhiên tinh tế hòa quyện với tâm hồn đa cảm, tinh tế của con người.
II. PHẦN VIẾT
Phương pháp:
1. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề
2. Thân bài
- Giải thích: lạc quan là luôn hướng về những điều tích cực trong cuộc sống cho dù có gặp phải những tình huống khó khăn nhất, giúp cho cuộc sống được nhẹ nhàng, an nhiên hơn
- Ý nghĩa của việc sống lạc quan:
+ Với cá nhân: tinh thần lạc quan giúp con người sống vui vẻ hơn, tận hưởng được nhiều vẻ đẹp hơn của cuộc sống, giúp cho cuộc sống muôn màu sắc hơn. Người lạc quan luôn truyền được năng lượng tích cực cho người khác. Tinh thần lạc quan vô cùng quan trọng, cùng với ý chí, lạc quan sẽ giúp con người đến gần với thành công hơn
+ Với gia đình, cộng đồng, tập thể: tinh thần lạc quan giúp cho mỗi thành viên có thể tìm thấy niềm vui và ý nghĩa trong cuộc sống của mình, có thể truyền tải năng lượng tích cực cho nhau, giúp cho mối quan hệ tốt đẹp hơn, ngoài ra còn giúp cho mỗi thành viên có thể vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống một cách tích cực và hiệu quả hơn..
- Phản đề: còn rất nhiều người có thái độ bi quan, luôn lo sợ và e dè trước mọi khó khăn => cần thay đổi thái độ sống tốt hơn.
- Bài học bản thân: Phải biết phân biệt được lạc quan và xem nhẹ vấn đề, để tránh gây ra những hậu quả đáng tiếc, hình thành thái độ tích cực, tự tạo cho mình một môi trường lành mạnh để rèn luyện tinh thần…
3. Kết bài khái quát được vấn đề
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Cuộc sống như một dòng sông, lúc êm đềm, lúc cuồn cuộn sóng gió. Để có thể vững vàng vượt qua những thác ghềnh, mỗi người cần trang bị cho mình một hành trang vững chắc, trong đó không thể thiếu tinh thần lạc quan. Sống lạc quan có ý nghĩa vô cùng to lớn, là chìa khóa mở ra cánh cửa của hạnh phúc và thành công.
Vậy lạc quan là gì? Lạc quan là thái độ sống tích cực, là cách chúng ta nhìn nhận mọi sự việc, hiện tượng với một góc nhìn đầy hy vọng và tin tưởng vào những điều tốt đẹp. Người lạc quan không phải là người không bao giờ gặp khó khăn hay thất bại, mà là người luôn có khả năng tìm thấy tia sáng ngay trong đêm tối, tìm thấy cơ hội từ thử thách. Họ tin rằng mọi việc rồi sẽ tốt đẹp, và bản thân họ có đủ sức mạnh để vượt qua.
Tinh thần lạc quan mang lại những ý nghĩa vô giá. Trước hết, nó là liều thuốc bổ cho tinh thần và sức khỏe của mỗi cá nhân. Khi suy nghĩ tích cực, con người sẽ giải phóng được những áp lực, lo âu, từ đó tinh thần sảng khoái, cơ thể khỏe mạnh hơn. Hơn nữa, lạc quan là động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua nghịch cảnh. Câu chuyện về nhà văn Ma Văn Kháng trong tác phẩm "Thu muộn" cũng vậy, dù phải chờ đợi mòn mỏi vì thu đến muộn, ông vẫn giữ vững niềm tin vào sự trở lại của những giá trị đích thực của mùa thu, để rồi cuối cùng cảm nhận được "phép lạ". Hay như Nick Vujicic, người sinh ra đã không có tứ chi, nếu bi quan, ắt hẳn cuộc đời ông sẽ là một chuỗi ngày tuyệt vọng. Nhưng bằng tinh thần lạc quan phi thường, ông đã chiến thắng số phận, trở thành một diễn giả truyền cảm hứng cho hàng triệu người trên thế giới. Như vậy, lạc quan không chỉ giúp ta chữa lành vết thương mà còn tiếp thêm sức mạnh để ta kiến tạo nên những điều kỳ diệu.
Không chỉ dừng lại ở giá trị cá nhân, tinh thần lạc quan còn có sức lan tỏa mạnh mẽ đến cộng đồng. Một người lạc quan sẽ như một "ngọn đuốc sống", thắp sáng niềm tin và hy vọng cho những người xung quanh. Họ truyền năng lượng tích cực, tạo nên một môi trường làm việc, học tập vui vẻ, đoàn kết. Một tập thể tràn đầy tinh thần lạc quan sẽ có sức chống chịu tốt trước những biến cố, dễ dàng vượt qua khó khăn và đạt được những mục tiêu chung.
Tuy nhiên, trong xã hội vẫn còn không ít người có lối sống bi quan, tiêu cực. Họ chỉ nhìn thấy khó khăn, thất bại, dễ dàng nản chí và buông xuôi. Lối sống ấy không chỉ khiến bản thân họ mất đi cơ hội phát triển mà còn ảnh hưởng đến tinh thần của những người xung quanh. Bên cạnh đó, cần phân biệt rõ lạc quan với thái độ chủ quan, duy ý chí. Lạc quan không có nghĩa là phớt lờ khó khăn, mà là đối diện với nó một cách tỉnh táo, tìm ra giải pháp và tin tưởng vào khả năng giải quyết của bản thân.
Là một người trẻ, chúng ta cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của việc sống lạc quan. Hãy rèn luyện cho mình thói quen suy nghĩ tích cực, tìm kiếm điều tốt đẹp trong mọi hoàn cảnh, đặt ra những mục tiêu vừa sức và kiên trì theo đuổi chúng. Hãy nhớ rằng, thái độ sống của chúng ta hôm nay sẽ quyết định chất lượng cuộc sống của chúng ta ngày mai.
Tóm lại, sống lạc quan là một triết lý nhân văn sâu sắc. Nó là điểm tựa tinh thần vững chắc, là hành trang quý báu giúp con người vượt qua mọi thử thách, khẳng định giá trị bản thân và kiến tạo một cuộc sống tốt đẹp hơn. Mỗi chúng ta hãy chọn cho mình một thái độ sống tích cực, để cuộc đời luôn rực rỡ sắc màu của niềm tin và hy vọng.
Đề thi học kì 2 Văn 11 - Đề số 10
Đề thi
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
(Lược một đoạn: Anh trai, chị gái và Tân đều lên đường đi du học nước ngoài. Chỉ có Nghĩa, cậu em út, xung phong đi bộ đội dù anh đỗ ĐH Bách Khoa và mặc cho người cha ngăn cản. Từ khi Nghĩa lên đường, bà mẹ thường xuyên viết thư đến địa chị một hòm thư để gửi cho Nghĩa tuy nhiên thư viết đi bao nhiêu lại bị trả về nguyên vẹn bấy nhiêu. Mãi sau này khi người mẹ mất, Tân mang chiếc rương cũ về mở ra mới biết trong đó là những kỉ vật một thời, đặc biệt là những bức thư chưa bao giờ được mở mà người mẹ viết gửi cho Nghĩa – người con đi chiến đấu đã mãi mãi không trở về.)
Tất cả đều bị gửi ngược về hoàn trả, nhưng mẹ vẫn nhẫn nại viết và nhẫn nại gửi cầu may tới cái hòm thư đã hoang phế đó. Mấy bức đầu mẹ anh viết ngắn như là viết vội để gửi đi gấp. Không viết gì nhiều, những thư ấy chỉ hối Nghĩa mau biên thư về cho cha mẹ hay số hòm thư mới với lại hiện đang ở đâu, sức khoẻ thế nào. Nhưng theo dần năm tháng chiến tranh, thư của mẹ ngày một nhiều trang hơn và ngày một buồn bã hơn. Gửi đi bao nhiêu nhận lại bấy nhiêu, những lá thư của mẹ càng về sau càng như nhật ký, như là để gửi tới chính mình. Chữ mẹ nắn nót, dễ đọc dẫu mầu mực đã phai, dòng nối dòng đều đều, miên man che giấu niềm vô vọng. Mẹ kể rằng đêm qua mẹ nhìn thấy Nghĩa nhưng chưa kịp gọi thì đã tỉnh, tỉnh dậy thì đã chẳng còn lại gì, chẳng níu giữ được gì nữa cả, trong phòng tối đen, ngoài trời còi báo động hú vang. […]
Tất cả những điều ấy chưa từng bao giờ mẹ viết trong thư gửi ra nước ngoài cho Tân và anh chị của anh. Sau này cũng không bao giờ kể ra lời. Vậy mà bây giờ nhận lấy chiếc rương này thì câu chuyện dài triền miên đêm này qua đêm khác, năm này qua năm khác mẹ đã kể với người con út, Tân lại phải đón lấy. “Khổ thân các con sinh ra gặp thời loạn lạc ...", lá thư ấy mẹ viết vào ngày cuối tháng Chạp năm 72. Đất trời bùng cháy, thành phố đổ vỡ, nhưng mẹ không rời Hà Nội. Hơi bom phá toang cửa kính, mẹ vẫn đêm đêm yên lặng ngồi chỗ ngày trước cha vẫn thường ngồi, và vẫn như hồi cha còn sống, mẹ pha một ấm trà để lên khay trên bàn giữa hai cái tách hạt mít... Trước kia, đối với mẹ, sinh con trai con gái đều quý. Nhưng bây giờ nhìn cảnh bom đạn mù trời, mẹ nghĩ giá hồi đó con sinh ra được mang phận con gái thì hơn. Thời loạn thân gái cũng chẳng sướng gì, nhưng dù sao nếu phận gái thì chắc không đến nỗi bây giờ con biệt âm vô tín. Mẹ biết chắc con còn sống, nhưng giờ đây con ở phương nào vậy con? Sao con lại có thể im lặng lâu như thế hở con? Không một bức thư, không một tin tức nhắn nhe nào cho mẹ, sao thế hở con, Nghĩa ơi? ".
Nghĩa ơi! Tiếng gọi ấy là lời cuối của lá thư cuối cùng mẹ của Tân viết gửi người con trai út. Không còn lá thư nào viết vào những ngày tháng sau đó nữa. Có lẽ vì sau đó là năm 73, hòa bình. Anh chị em Tân lần lượt đỗ đạt trở về.
Có những người con sáng giá như anh chị em Tân, mẹ là một bà mẹ hạnh phúc hơn bao bà mẹ khác. Nào ngờ mẹ không hề biết thế là hạnh phúc. Gương mặt mẹ suốt bao năm trời đến tận khi nhắm mắt xuôi tay luôn lẳng lặng một vẻ chờ đợi âm thầm, rụt rè và vô vọng. May thay, cũng giống như những bức thư mãi mãi ở yên dưới đáy rương bên đầu giường mẹ, nỗi đau lòng của mẹ không bao giờ thốt nên lời, người ta không biết tới.
(Gọi con, Bảo Ninh, nhandan.vn, ngày 19/8/2005)
Chú thích:
Nhà văn Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, sinh năm 1952, tại Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Quê ông ở Xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh (nay thuộc thành phố Đồng Hới), tỉnh Quảng Bình. Bảo Ninh được biết tới với những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh và thời hậu chiến. Ông là nhà văn có nhiều đóng góp quan trọng trong công cuộc đổi mới văn xuôi Việt Nam hiện đại giai đoạn từ sau 1975 tới nay.
Truyện ngắn “Gọi con” trong tập truyện “Chuyện xưa kết đi, được chưa” xuất bản năm 2009 của nhà văn Bảo Ninh là một tác phẩm giàu cảm xúc, khắc họa nỗi lòng người mẹ có con hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản.
Câu 2. Chỉ ra điểm nhìn và sự dịch chuyển điểm nhìn trong văn bản.
Câu 3. Phân tích tác dụng của câu hỏi tu từ được sử dụng trong những câu văn sau:
“Mẹ biết chắc con còn sống, nhưng giờ đây con ở phương nào vậy con? Sao con lại có thể im lặng lâu như thế hở con? Không một bức thư, không một tin tức nhắn nhe nào cho mẹ, sao thế hở con, Nghĩa ơi? "
Câu 4. Hình ảnh “Gương mặt mẹ suốt bao năm trời đến tận khi nhắm mắt xuôi tay luôn lẳng lặng một vẻ chờ đợi âm thầm, rụt rè và vô vọng.” gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?
Câu 5. Thông điệp ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ văn bản trên, lí giải vì sao?
II. VIẾT
Câu 1.
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá vẻ đẹp phẩm chất nhân vật người mẹ trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2.
“Rất nhiều người tìm kiếm sự an toàn và chắc chắn trong tư duy số đông. Họ nghĩ rằng số đông người đang làm gì đó. Việc đó chắc phải đúng.”
(John Maxwell, Tôi tư duy, tôi thành đạt, NXB Lao động xã hội, 2012)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh chị dưới góc nhìn của tuổi trẻ về Tư duy số đông.
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về ngôi kể
- Căn cứ vào đại từ xưng hô, cách gọi tên nhân vật trong đoạn trích.
Cách giải:
Ngôi kể của người kể chuyện trong văn bản: Ngôi thứ ba
Câu 2:
Phương pháp:
- Điểm nhìn là vị trí, góc độ từ đó câu chuyện được kể
- Phân tích các đoạn văn để nhận diện sự thay đổi điểm nhìn: đoạn nào từ góc nhìn của người kể, đoạn nào từ góc nhìn của nhân vật.
Cách giải:
- Truyện được kể theo điểm nhìn bên ngoài, toàn tri - điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ ba
- Có sự dịch chuyển điểm nhìn từ điểm nhìn của người kể chuyện sang điểm nhìn của nhân vật người mẹ
Câu 3:
Phương pháp:
- Nhận diện câu hỏi tu từ
- Phân tích tác dụng
Cách giải:
Tác dụng của câu hỏi tu từ:
- Nhấn mạnh tâm trạng đau khổ, mong ngóng, chờ đợi con trong vô vọng qua đó thấy được tình yêu thương con vô bờ của người mẹ.
- Tạo giọng điệu khắc khoải, day dứt, buồn thương cho câu văn
Câu 4:
Phương pháp:
- Phân tích từ ngữ giàu giá trị biểu cảm
- Liên hệ với hoàn cảnh nhân vật và bối cảnh chiến tranh.
Cách giải:
Hình ảnh gợi suy nghĩ:
- Cho đến lúc chết người mẹ vẫn không thôi chờ đợi, mong mỏi người con trở về
- Chiến tranh để lại những đau thương, mất mát mãi không bao giờ nguôi ngoai
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Thông điệp về tình mẫu tử thiêng liêng
- Thông điệp về những nỗi đau mà chiến tranh để lại…
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Thông điệp ý nghĩa nhất mà tôi rút ra từ văn bản là: Tình mẫu tử là bất diệt, nhưng cũng có thể trở thành nỗi đau dai dẳng nhất khi chiến tranh cướp đi người con. Bởi lẽ, xuyên suốt đoạn trích, hình ảnh người mẹ kiên nhẫn viết từng bức thư dù biết chẳng bao giờ đến tay Nghĩa, gương mặt lẳng lặng chờ đợi "âm thầm, rụt rè và vô vọng" cho đến phút cuối đời đã khắc họa một sự thật nghiệt ngã: chiến tranh không chỉ lấy đi sinh mạng người lính mà còn giết chết niềm vui, sự bình an trong lòng người mẹ suốt cả cuộc đời còn lại.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Phân tích vẻ đẹp tâm hồn của người mẹ qua đoạn trích:
+ Tình yêu thương con vô bờ bến: Vì lo cho Nghĩa nên bà viết thư hỏi thăm động viên, thư dù bị trả về nhưng người mẹ vẫn cứ viết với hy vọng những lá thư ấy sẽ đến tay con mình; Sống trong hy vọng, khắc khoải chờ đợi ngày con trở về, thậm chí trong giấc mơ cũng thấy con.
+ Giàu đức hi sinh: Luôn nghĩ cho các con, vì không muốn những đứa con khác lo lắng cho mình nên bà giữ kín những nỗi niềm trong lòng cho đến tận lúc qua đời.
=> Nhân vật người mẹ tiêu biểu cho vẻ đẹp của những người phụ nữ Việt Nam, hết lòng yêu thương, hi sinh tất cả vì con.
+ Vẻ đẹp tâm hồn người mẹ được thể hiện sinh động qua hành động, lời nói và diễn biến tâm trạng; ngôn ngữ giàu hình ảnh, cảm xúc.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Trong đoạn trích "Gọi con", nhân vật người mẹ hiện lên với vẻ đẹp tâm hồn cao quý, tiêu biểu cho phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam thời chiến. Trước hết, đó là tình yêu thương con vô bờ bến. Dù những bức thư gửi cho Nghĩa liên tục bị trả về nguyên vẹn, người mẹ vẫn nhẫn nại viết, vẫn kiên trì gửi với hy vọng mong manh rằng có ngày con sẽ nhận được. Bà sống trong khắc khoải chờ đợi, ngay cả trong giấc mơ cũng thấy con trở về. Tình yêu ấy còn thể hiện qua nỗi đau đáu khi tự hỏi "con ở phương nào?" hay "sao con im lặng lâu thế?", những câu hỏi tu từ chất chứa bao day dứt, nhớ thương. Bên cạnh đó, người mẹ còn giàu đức hy sinh thầm lặng. Suốt bao năm, bà giấu kín nỗi đau mất con, không bao giờ kể với Tân hay những đứa con khác, chỉ âm thầm viết vào những trang thư chẳng thể gửi đi. Gương mặt bà "lẳng lặng một vẻ chờ đợi âm thầm, rụt rè và vô vọng" cho đến tận khi nhắm mắt xuôi tay. Vẻ đẹp ấy được nhà văn khắc họa sinh động qua hành động viết thư, lời độc thoại nội tâm và những hình ảnh giàu cảm xúc, khiến người đọc không khỏi xót xa, trân trọng. Qua nhân vật người mẹ, Bảo Ninh đã gửi gắm niềm tri ân sâu sắc đến những người phụ nữ Việt Nam đã âm thầm chịu đựng mất mát vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Câu 2:
Phương pháp:
Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
Thân bài:
- Giải thích ý kiến của John Maxwell và khái niệm “ư duy số đông”
- Bàn luận
+ Tư duy số đông hiện hữu trong mọi lĩnh vực của đời sống: chính trị, văn hoá, xã hội…
+ Chúng ta thường có xu hướng tham vấn ý kiến của nhiều người và đặt niềm tin vào những quan điểm của đại đa số.
+ Khi số đông tham gia bàn bạc, giải quyết vấn đề nào đó, thường đưa ra những quyết định, giải pháp sáng suốt, hợp lý do đó con người có suy nghĩ rằng số đông bao giờ cũng đúng.
+ Đem đến con người cảm giác an toàn, có chỗ dựa, được bảo vệ và giảm áp lực nặng nề về trách nhiệm…
- Nêu nhận thức của bản thân, rút ra thông điệp bài học.
- Mở rộng vấn đề trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác.
Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Trong cuộc sống hiện đại, con người thường có xu hướng tìm kiếm sự an toàn trong đám đông. Nhà tư tưởng John Maxwell đã từng nhận định: "Rất nhiều người tìm kiếm sự an toàn và chắc chắn trong tư duy số đông. Họ nghĩ rằng số đông người đang làm gì đó. Việc đó chắc phải đúng." Câu nói ấy đã chạm đến một hiện tượng tâm lý phổ biến, đặc biệt có ý nghĩa dưới góc nhìn của tuổi trẻ hôm nay.
Trước hết, cần hiểu "tư duy số đông" là gì. Đó là xu hướng tin rằng quan điểm, hành vi hay quyết định của phần lớn mọi người là đúng đắn và đáng làm theo. Người có tư duy số đông thường sợ khác biệt, sợ bị cô lập, vì vậy họ chọn cách hòa mình vào tập thể, cho rằng "mọi người đều thế thì chắc không sai". Tư duy này hiện hữu ở khắp mọi lĩnh vực từ chính trị, văn hóa đến xã hội, từ việc lựa chọn nghề nghiệp, xu hướng thời trang đến cách thể hiện quan điểm cá nhân.
Trong nhiều trường hợp, tư duy số đông mang lại những lợi ích nhất định. Chúng ta thường có xu hướng tham vấn ý kiến của nhiều người và đặt niềm tin vào những quan điểm của đại đa số bởi số đông khi tham gia bàn bạc, giải quyết vấn đề thường đưa ra những quyết định sáng suốt, hợp lý. Tư duy số đông cũng đem đến cho con người cảm giác an toàn, có chỗ dựa, được bảo vệ và giảm áp lực nặng nề về trách nhiệm. Khi làm theo số đông, nếu sai, ta có thể an ủi mình rằng "ai cũng thế".
Tuy nhiên, nhìn sâu hơn, tư duy số đông tiềm ẩn nhiều nguy cơ, đặc biệt với tuổi trẻ. Nó dần thui chột tư duy phản biện, khả năng sáng tạo và bản lĩnh cá nhân. Một bạn trẻ luôn chạy theo trào lưu, sợ bị gọi là "lạc hậu" sẽ dễ dàng đánh mất chính kiến, thậm chí đánh mất ước mơ của riêng mình. Lịch sử đã chứng minh, nhiều phát minh vĩ đại, những tư tưởng tiến bộ ban đầu đều bị số đông phản đối. Nếu các nhà khoa học, nghệ sĩ, doanh nhân thành công chỉ biết nghe theo số đông, thế giới sẽ chẳng có những đột phá làm thay đổi cuộc sống.
Vậy, thái độ đúng đắn trước tư duy số đông là gì? Là tuổi trẻ, chúng ta cần tỉnh táo tiếp thu ý kiến số đông nhưng không để nó lấn át tiếng nói của lương tri và khát vọng cá nhân. Hãy học cách đặt câu hỏi, kiểm chứng thông tin và dám chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình. Dám nghĩ khác, dám làm khác không có nghĩa là chống đối tất cả, mà là dám sống thật với chính mình.
Tóm lại, tư duy số đông là con dao hai lưỡi. Nếu biết tận dụng, nó giúp ta học hỏi và hòa nhập. Nếu để nó chi phối, nó sẽ nhấn chìm cá tính và khát vọng. Tuổi trẻ hôm nay cần bản lĩnh để vừa là một phần của cộng đồng, vừa giữ được ngọn lửa riêng của chính mình, bởi thế giới luôn cần những con người dám sống khác biệt để tạo nên những giá trị mới.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP11
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
