Đề thi học kì 2 Ngữ Văn 12 - Cánh diều
Đề thi học kì 2 Văn 12 Cánh diều - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
Ngôi nhà xưa đã dựng lại mấy lần
Nơi tuổi thơ chập chững đôi chân
Nơi buộc tao (1) nôi, nằm nghe mẹ hát
Trong lời mẹ có cánh cò cánh vạc
Có dòng sông, cánh bướm dập dờn
Cả một thời xuân sắc cho con
Từng chuyện cổ, ngọt bùi mẹ kể
Nỗi cơ cực đè cuộc đời của mẹ
Nón che nghiêng, vầng trăng khuyết tâm hồn
Để đón ngày nắng ấm cuộc đời con
(…) Một phần tư thế kỉ qua rồi
Tóc sắp bạc, lần đầu về giỗ mẹ
Con như uống ngọt ngào lời mẹ kể
Những câu ca cùng tuổi nhỏ đồng hành
Như bầu trời và cây cỏ tươi xanh
Vẫn bé bỏng con là con của mẹ
Vườn cổ tích con hái chia lớp trẻ…
… Vẳng qua rào ai cất tiếng à ơi
Giọng ru trẻ như một lời mẹ hát!
(Trích Vườn cổ tích – Xuân Tùng, Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam 1945 – 1975 – Vũ Duy Thông, NXB Giáo dục, 2000, tr.609 – 610)
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của đoạn trích (0,5đ)
Câu 2. Theo đoạn thơ dưới đây, trong lời ru của mẹ có những điều gì? (0,5đ)
Ngôi nhà xưa dựng lại mấy lần
Nơi tuổi thơ chập chững đôi chân
Nơi buộc tao nôi, nằm nghe mẹ hát
Trong lời mẹ có cánh cò cánh vạc
Có dòng sông, cánh bướm dập dờn
Câu 3. Anh/ Chị hiểu như thế nào về nội dung của những dòng thơ sau? (1đ)
Nỗi cơ cực đè cuộc đời của mẹ
Nón che nghiêng, vầng trăng khuyết tâm hồn
Để đón ngày nắng ấm cuộc đời con
Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp so sánh trong việc thể hiện nội dung chính của đoạn thơ (1đ)
Những câu ca cùng tuổi nhỏ đồng hành
Như bầu trời và cây cỏ tươi xanh
Câu 5. Những lời ru, câu chuyện mẹ kể đã trở thành điểm tựa tinh thần của chủ thể trữ tình. Điều đó gợi cho anh/ chị suy nghĩ gì về những điểm tựa tinh thần của con người trong cuộc sống? (1đ)
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nhiều người trẻ có xu hướng tìm về với thiên nhiên. Song, không khó để nhận thấy rằng có vẻ như họ thích nhìn thiên nhiên, chụp ảnh thiên nhiên nhiều hơn là thực sự trải nghiệm, chăm sóc hay có những hành động thiết thực để thưởng thức và giữ gìn vẻ đẹp thiên nhiên
Thực trạng trên gợi cho em suy nghĩ gì về cách ứng xử của con người với thiên nhiên? Với góc nhìn của người trẻ, em hãy viết bài văn nghị luận về chủ đề: Người trẻ và cách ứng xử với thiên nhiên trong xã hội hiện đại
Đáp án
Câu 1.
Phương pháp giải:
Chú ý đến số tiếng trong các dòng
Lời giải chi tiết:
Số tiếng trong các dòng không bằng nhau là dấu hiệu để xác định thể thơ tự do của đoạn trích
Câu 2
Phương pháp giải:
Tìm kiếm thông tin trong hai câu thơ cuối đoạn
Lời giải chi tiết:
Lời ru của mẹ có: cánh cò cánh vạc, dòng sông và cánh bướm dập dờn
Câu 3.
Phương pháp giải:
Phân tích hình ảnh “nón che nghiêng, vầng trăng khuyết” để thấy được nỗi vất vả của mẹ
Lời giải chi tiết:
Những dòng thơ thể hiện sự hy sinh thầm lặng của người mẹ vì con. "Nỗi cơ cực" chỉ cuộc sống vất vả, gian khó của mẹ, "nón che nghiêng, vầng trăng khuyết tâm hồn" là hình ảnh ẩn dụ cho sự thiếu thốn, lam lũ, tâm hồn mẹ không trọn vẹn vì gánh nặng cuộc sống. Nhưng tất cả đều vì "đón ngày nắng ấm cuộc đời con", thể hiện tình yêu thương vô bờ bến của mẹ dành cho con.
Câu 4
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về nhận biết và phân tích tác dụng của biện pháp so sánh
Lời giải chi tiết:
Biện pháp so sánh "Như bầu trời và cây cỏ tươi xanh" đã làm nổi bật sự gắn bó, bền chặt, trong sáng của những câu ca với tuổi thơ. Câu ca là người bạn đồng hành, giống như bầu trời bao la và cây cỏ tươi xanh luôn hiện hữu, mang lại sự tươi mát, trong lành cho cuộc sống. So sánh đã giúp hình ảnh trở nên sinh động, gợi cảm, tăng sức biểu cảm cho đoạn thơ.
Câu 5.
Phương pháp giải:
Từ đoạn thơ, học sinh liên hệ với bản thân để suy ra vai trò của điểm tựa tinh thần trong cuộc sống
Lời giải chi tiết:
Những lời ru, câu chuyện mẹ kể là điểm tựa tinh thần quan trọng, giúp chủ thể trữ tình cảm thấy an toàn, yêu thương và mạnh mẽ. Điều này gợi suy nghĩ về tầm quan trọng của những điểm tựa tinh thần trong cuộc sống mỗi người.
Chúng ta cần có những điểm tựa đó để vượt qua khó khăn, tìm thấy niềm vui và ý nghĩa trong cuộc sống. Gia đình, bạn bè, niềm tin, đam mê… đều có thể là những điểm tựa tinh thần quý giá.
II. VIẾT
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức và nội dung bài văn
Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài: Dẫn dắt vấn đề nghị luận
2. Thân bài:
- Thực trạng:
+ Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu ngày càng nghiêm trọng, việc bảo vệ môi trường và có ý thức bảo vệ thiên nhiên trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. + Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều bạn trẻ hiện nay có xu hướng "sống ảo" với thiên nhiên, thích chụp ảnh check-in hơn là thực sự trải nghiệm, chăm sóc và bảo vệ nó.
+ Họ chỉ quan tâm đến vẻ đẹp bề nổi, mà chưa thực sự thấu hiểu giá trị to lớn của thiên nhiên đối với cuộc sống con người.
- Nguyên nhân:
+ Thứ nhất, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và mạng xã hội đã khiến nhiều bạn trẻ dành nhiều thời gian hơn cho thế giới ảo, bỏ quên vẻ đẹp của thiên nhiên xung quanh.
+ Thứ hai, việc giáo dục về bảo vệ môi trường chưa thực sự hiệu quả, chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của người trẻ.
+ Cuối cùng, thiếu những hoạt động trải nghiệm thực tế, kết nối con người với thiên nhiên một cách sâu sắc.
- Giải pháp:
+ Để thay đổi thực trạng này, cần có sự chung tay của cả cộng đồng, trong đó vai trò của người trẻ là vô cùng quan trọng.
+ Nhà trường cần tăng cường giáo dục về bảo vệ môi trường, tổ chức các hoạt động ngoại khóa giúp học sinh trải nghiệm, tìm hiểu và yêu thiên nhiên.
+ Gia đình cũng cần có trách nhiệm hướng dẫn con em mình có ý thức bảo vệ môi trường, tham gia các hoạt động tình nguyện bảo vệ thiên nhiên. Bên cạnh đó, mỗi người trẻ cần chủ động tìm hiểu, trải nghiệm và bảo vệ thiên nhiên, góp phần xây dựng một xã hội văn minh, thân thiện với môi trường.
3. Kết bài
Tóm lại, người trẻ cần có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ thiên nhiên. Việc thay đổi nhận thức và hành động của người trẻ là chìa khóa để bảo vệ môi trường và hướng tới một tương lai bền vững. Hãy cùng chung tay hành động để bảo vệ hành tinh xanh của chúng ta.
Đề thi học kì 2 Văn 12 Cánh diều - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
MUỐN NÃO KHỎE, ĐỪNG ĐỂ NÃO “RẢNH RANG”
(Yên Lam)
Tuổi trẻ cuối tuần – Khi tuổi tác tăng lên, không chỉ sức khỏe thể chất mà não của con người cũng hoạt động kém hiệu quả. Chúng ta tìm cách giữ mình khỏe mạnh khi già đi, vậy có cách nào để não trẻ, khỏe lâu hơn không?

Mấu chốt của việc để tăng sức khỏe não bộ là hãy khiến mình luôn luôn phải “động não”. Không phải theo nghĩa phải vò đầu bứt tai hay bóp trán suy nghĩ những vấn đề hóc búa, mà chỉ là “kiếm cớ” để não hoạt động, giống như bài tập thể dục nhẹ, là đã đủ “bồi bổ” cho não.
Hãy luôn “động não”
Bài tập để giữ não khỏe, trẻ hơn đến 10 tuổi so với tuổi thật (ví dụ người 50 tuổi nhưng não khỏe mạnh như khi 40) không ở đâu xa mà ở ngay trang 41 số báo bạn đang cầm trên tay, với trò giải ô số Sudoku.
Theo nghiên cứu đăng trên tập san International Journal of Geriatric Psychiatry hồi giữa tháng 5, người trên 50 tuổi càng chơi các trò giải đó như ô chữ hay ô số sudoku thì não họ càng hoạt động tốt hơn.
Nghiên cứu do Đại học Exter (Anh) thực hiện, với 19.100 người tham gia, bao gồm hai phần. Đầu tiên người tham gia sẽ cho biết họ có thường xuyên chơi các trò giải đố liên quan đến chữ và số hay không, sau đó sẽ làm một loạt bài kiểm tra về khả năng chú ý, trí nhớ và lí luận.
Các nhà nghiên cứu phân tích kết quả và nhận thấy những người có chơi ô chữ hay sudoku thì sẽ đạt điểm cao trong các bài kiểm tra nói trên. Cụ thể, não của những người thích các trò chơi “động não” sẽ trẻ hơn 10 tuổi so với tuổi thật.
Trưởng nhóm nghiên cứu, tiến sĩ Anne Corbett, cho biết những người có chơi ô chữ và sudoku thể hiện sự khác biệt rõ rệt trong tốc độ và độ chính xác khi làm các bài kiểm tra, so với những người không thường xuyên chơi giải đó.
Tiến sĩ Corbett thừa nhận: Chưa thể kết luận rằng giải đổ chắc chắn sẽ giảm nguy cơ bị sa sút trí tuệ khi về già, song kết quả nghiên cứu nói trên củng cố phát hiện của các công trình trước đó rằng việc thường xuyên tiếp xúc các câu đố chữ và số giữ cho não hoạt động tốt hơn trong thời gian lâu hơn.
Trong khi đó, tiến sĩ Jessica Langbaum, chuyên gia nghiên cứu bệnh Alzheimer, cho biết có bằng chứng cho thấy tham gia các hoạt động kích thích nhận thức như giải đố sẽ giúp ích cho khả năng tư duy, chú ý và lí luận của con người.
Tương tự, tiến sĩ Gayatri Devi – nhà thần kinh học chuyên nghiên cứu các chứng rối loạn trí nhớ thuộc Bệnh viện Lenox Hill (Mĩ) – cho biết sa sút trí tuệ do các rối loạn ảnh hưởng đến não bộ gây ra, vì thế “tập thể dục” để não khoẻ
mạnh cũng là cách để trì hoãn hoặc ngăn chặn bộc phát chứng sa sút trí tuệ, “Cũng giống như ta tập thể dục, vận động để tăng cường sức khoẻ thể chất, việc chơi ô chữ, sudoku chính là cách để não khoẻ mạnh hơn”, tiến sĩ Devi nói với trang HealthLine. Theo chuyên gia này, mấu chốt của vấn đề là giữ cho não luôn phải hoạt động và bị “thách thức” – buộc phải suy nghĩ và tư duy - khi chúng ta già đi.
Vì thế nếu không muốn chơi giải đố, ta cũng có thể học một ngôn ngữ mới hay bắt đầu một thú vui mới, miễn là phải “động não” chứ không để đầu óc quá “rảnh rang” “Bất kể việc bạn làm là gì, miễn là nó đủ khó để tất cả các vùng trên não phải tham gia giải quyết thì đều đưa đến kết quả cuối cùng là giúp não khoẻ mạnh”, tiến sĩ Devi nhấn mạnh.
Các bài tập động não cũng giúp cải thiện dự trữ nhận thức (cognitive reserve), tức khả năng duy trì hoạt động nhận thức một cách bình thường ngay cả khi não bộ đã có thay đổi bệnh lí, của chúng ta.
Những bài tập khác
Một nghiên cứu trên tập san uy tín BMJ (Anh) từng chỉ ra sức khoẻ nhận thức của con người sẽ bắt đầu suy giảm vào tuổi 45, khi khả năng nhớ và nhận biết bắt đầu trượt dần. Từ mốc 45 tuổi đó, cứ mỗi năm các vùng phụ trách các tính năng khác nhau trên não như trí nhớ, chú ý, ghi nhận cũng sẽ giảm dần chức năng và không phối hợp hiệu quả với nhau nữa.

Ngay cả khi không sa sút trí tuệ, nếu ta cứ hay quên hoặc dễ mất tập trung thì cũng ảnh hưởng nhiều đến đời sống và công việc. Các nhà nghiên cứu đã đề xuất nhiều bài tập khác nhau để giúp não trẻ và khoẻ mạnh hơn khi ta già đi
Chẳng hạn, các nhà nghiên cứu Đại học Canberra (Úc) nhận thấy việc tập aerobic cũng có thể cải thiện đáng kể khả năng nhận thức như khả năng tư duy, đọc, học tập và lí luận. Các nghiên cứu tại Đại học Edinburgh (Anh) thì cho rằng càng vận động thể chất nhiều thì càng giảm sự sa sút của não.
Trong khi đó, một nghiên cứu của Đại học California cho rằng học chơi một nhạc cụ mới sẽ kích thích không chỉ khả năng sáng tạo mà còn khả năng tập trung, giảm nguy cơ bị sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức.
Chăm sóc sức khoẻ não bộ cũng đến từ việc ăn uống. Theo Global Council on Brain Health, một tổ chức của các chuyên gia sức khoẻ não bộ, “món nào tốt cho tim thì cũng tốt cho não. Điều này đồng nghĩa với việc tăng cường khẩu phần ăn gồm các thực phẩm như dâu, rau dạng lá, dầu ôliu, trái cây, sữa ít béo
cũng giúp não khoẻ hơn.
(https://cuoituan.tuoitre.vn)
Câu 1. Xác định đề tài và nhận xét cách chọn lọc, sắp xếp các thông tin trong văn bản Muốn não khoẻ, đừng để não “rảnh rang”. (0.5 điểm)
Câu 2. Tóm tắt nội dung của văn bản. Chỉ ra sự mạch lạc trong văn bản Muốn não khoẻ, đừng để não “rảnh rang”. (0.5 điểm)
Câu 3. Những dữ liệu ở phần Hãy luôn “động não” là dữ liệu thứ cấp, hay sơ cấp? (1 điểm)
Câu 4. Tác giả thể hiện quan điểm, thái độ như thế nào về việc luôn “động não”? Em có đồng tình với tác giả không? Vì sao? (1 điểm)
Câu 5. Nhận xét cách đặt nhan đề Muốn não khỏe, đừng để não “rảnh rang” của tác giả Lam Yên. Đề xuất một nhan đề mới cho văn bản (1 điểm)
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1. Văn bản đã cung cấp cho em những thông tin quý giá nào? Em sẽ vận dụng những thông tin đó như thế nào vào cuộc sống của mình? (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2 điểm)
Câu 2. Hãy viết thư (thư điện tử, 600 chữ) trao đổi với người bạn có cùng mối quan tâm đến vấn đề/ cách rèn luyện trí não để thông minh hơn (thư có sử dụng dữ liệu thứ cấp và hình ảnh minh họa)
Đáp án
Câu 1.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, dựa vào nội dung và nhan đề để suy ra đề tài
Chú ý đoạn sapo, tiêu đề, số liệu, hình ảnh
Lời giải chi tiết:
- Đề tài: Y học
- Cách chọn lọc, sắp xếp các thông tin của văn bản:
+ Chọn lọc dữ liệu tiêu biểu để làm rõ hai thông tin chính: Cần phải luôn “động não”, những bài tập cho não
+ Đoạn sapo kích thích ham muốn muôn đời của con người: khắc phục hạn chế của tuổi tác, sự lão hóa
+ Có tiêu đề in đậm để bạn đọc dễ theo dõi
+ Dùng số liệu, hình ảnh tín hiệu phi ngôn ngữ để minh họa, hỗ trợ thông tin
Câu 2
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý tiêu đề, sapo để rút ra nội dung chính
Xem xét nhan đề, sapo, hình ảnh, câu, ý, phần có hướng đến một đối tượng, nội dung hay không
Lời giải chi tiết:
- Nội dung chính: Để tăng sức khỏe não bộ, hãy khiến mình luôn luôn phải “động não” và tập những bài tập cho não bộ
- Toàn bộ nhan đề, phần sapo, các hình ảnh, số liệu; các câu, các ý, các phần, các đoạn trong văn bản đều phải hướng về đối tượng duy nhất là não bộ, hướng đến mục đích để não bộ khỏe mạnh
Câu 3.
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
Lời giải chi tiết:
- Những dữ liệu ở phần Hãy luôn “động não” là dữ liệu thứ cấp
+ Theo nghiên cứu đăng trên tập san International Journal of Geriatric Psychiatry hồi giữa tháng 5, người trên 50 tuổi càng chơi các trò giải đố như ô chữ hay ô số Sudoku thì não họ càng hoạt động tốt hơn
+ Nghiên cứu do đại học Exter (Anh) thực hiện, với 19.100 người tham gia, bao gồm hai phần có kết quả: não của những người thích các trò chơi “động não” sẽ trẻ hơn 10 tuổi so với tuổi thật
- Là những dữ liệu đáng tin cậy, bởi được trích dẫn từ nguồn uy tín và có thông tin để kiểm tra, đối chứng
- Tác dụng của thông tin: làm sáng tỏ chủ đề đã nêu ở nhan đề của văn bản, khẳng định luôn “động não” sẽ khiến não trẻ và khỏe hơn
Câu 4
Phương pháp giải:
Tìm kiếm thông tin ở phần “hãy luôn động não” và đưa ra quan điểm cá nhân
Lời giải chi tiết:
- Tác giả thể hiện quan điểm, thái độ: Tin tưởng việc luôn “động não” sẽ làm cho não trẻ, khỏe hơn
- Em có đồng tình với tác giả không: Học sinh tự trả lời và lí giải thái độ, quan điểm của cá nhân bằng ít nhất hai lí do
Câu 5.
Phương pháp giải:
Chú ý đến mục đích của bài viết và nhu cầu người đọc, từ đó đưa ra nhận xét về cách đặt nhan đề
Dựa vào nội dung của văn bản, đặt tên khác cho văn bản
Lời giải chi tiết:
- Nhan đề Muốn não khỏe, đừng để não “rảnh rang” rất gần gũi, cuốn hút người đọc bởi đề cập đến mục đích của bài viết, nhu cầu của con người, bởi cách dùng yếu tố cầu khiến “đừng” và từ đặt trong ngoặc kép với ý nghĩa đặc biệt – “rảnh rang”
- Nhan đề Muốn não, đừng để não “rảnh rang” phù hợp với nội dung, mục đích của văn bản
- Có thể đặt nhan đề khác cho văn bản: Cần sát với nội dung, mục đích của văn bản và ngắn, cuốn hút người đọc (như: Tăng cường sức trẻ cho não bộ; Hãy để cho não bộ “bận rộn”; Càng hoạt động não bộ càng trẻ khỏe,…)
II. VIẾT
Câu 1
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, tóm tắt những thông tin chính và liên hệ với bản thân
Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một vấn đề đời sống
Lời giải chi tiết:
Đoạn đảm bảo dung lượng 200 chữ (20 dòng) và nội dung hướng vào các ý sau:
- Văn bản cung cấp thông tin: Học sinh trả lời theo năng lực tiếp nhận thông tin của bản thân
- Vận dụng những thông tin: Tham khảo gợi ý sau:
+ Đối với việc rèn luyện trí não của cá nhân
+ Đối với việc rèn luyện trí não của người thân (ông bà, bố mẹ,…)
Câu 2
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức và nội dung bài văn
Vận dụng kĩ năng viết thư trao đổi về một vấn đề đáng quan tâm
Lời giải chi tiết:
|
Phần chính |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài (0,5đ) |
- Địa điểm thời gian, danh tính người nhận thư. - Lời chào/lời hỏi thăm mở đầu. - Lí do của viết thư/cuộc trao đổi. |
|
Thân bài (2,75đ) |
* Nêu vấn đề cùng quan tâm: cách rèn luyện trí não để thông minh hơn Nhắc lại, gợi lại biểu hiện cho thấy bạn quan tâm đến vấn đề mình đang nói tới – cách rèn luyện trí não để thông minh hơn: * Trình bày rõ, ngắn gọn, mạch lạc vấn đề cần trao đổi: + Thông tin đã biết về cơ chế hoạt động để phát triển não (ngắn gọn). + Thông tin mới (dữ liệu thứ cấp đáng tin cậy) về cách rèn luyện phát triển não bộ thời 4.0; cách rèn luyện phù hợp với thanh niên,... + Khía cạnh cần trao đổi/nghiên cứu tiếp. * Đề xuất cách giải quyết vấn đề phát triển trí thông minh của cá nhân: - Thường xuyên trao đổi thông tin; đối chiếu so sánh thông tin;... – Hoạt động để phát triển trí não của cá nhân.... |
|
Kết bài (0,25đ) |
– Lời chúc, cảm ơn/hẹn ngày trao đổi, nhận thông tin. – Lời tạm biệt/hẹn gặp; danh tính người viết thư. |
|
Yêu cầu khác (0,5đ) |
– Nội dung: Thể hiện quan điểm của bản thân về cách rèn luyện để phát triển trí não của thanh niên, con người. - Bố cục cân đối, hài hoà. - Trong thư chú ý: Xưng hô phù hợp, thân tình. - Thể hiện rõ mối quan tâm, sự chờ đợi của cá nhân về thông tin từ phía người nhận thư |
Đề thi học kì 2 Văn 12 Cánh diều - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
ANH KHÔNG THẤY THỜI GIAN TRÔI
(Trương Đăng Dung)
Anh không thấy thời gian trôi
chỉ thấy những đám mây di chuyển
và những chiếc lá vàng không muốn lìa cây
gió rung, lá rơi còn vẫy vẫy.
Anh không thấy thời gian trôi
chỉ thấy những lá thư ngày một bạc màu
những cơn mưa rơi vào đêm vắng
dấu chân ta – năm tháng có còn đâu.
Anh không thấy thời gian trôi
chỉ thấy mùa thu vừa lạ vừa quen
những gương mặt những nụ cười mới gặp
chưa kịp thân đã thấy khác đi rồi.
Anh không thấy thời gian trôi
chỉ thấy lòng ngày một tha thiết với trời xanh,
sợi tóc rụng bàn tay nào giữ được
mỗi ban mai khắc khoải việc chưa thành.
Anh không thấy thời gian trôi
thời gian ở trong máu, không lời
ẩn mình trong khoé mắt, làn môi
trong dáng em đi nghiêng nghiêng như đang viết lên mặt đất
thành lời
về kiếp người ngắn ngủi.
(Trương Đăng Dung, Những kỷ niệm tưởng tượng, NXB Thế giới, 2011)
Câu 1. Xác định thể thơ và đề tài trong Anh không thấy thời gian trôi. (0.5đ)
Câu 2. Cảnh vật thiên nhiên biến chuyển như thế nào trong dòng thời gian? Tác giả dùng biện pháp tu từ nào để diễn tả điều đó? (0.5đ)
Câu 3. Thi sĩ cảm nhận sự biến đổi cảnh vật, thời gian bằng những giác quan nào? Điều đó chuyển tải được quan niệm nào về thời gian? (1.0đ)
Câu 4. Những dòng, hình ảnh thơ nào thể hiện sự bất lực của con người trước thời gian? Hãy phân tích cách biểu hiện cảm xúc, tâm trạng của thi sĩ Trương Đăng Dung trong những dòng/hình ảnh thơ đó.(1.0đ)
Câu 5. Thi sĩ Trương Đăng Dung đã thể hiện quan niệm, thái độ sống của mình như thế nào trước dòng chảy vô tận, nghiệt ngã của thời gian? Tác phẩm chứa đựng triết lý nhân sinh nào?(1.0đ)
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1. Viết đoạn 200 chữ (2.0đ)
Cảm nhận của em về chủ thể trữ tình trong bài thơ Anh không thấy thời gian trôi. (Trương Đăng Dung)
Câu 2. Viết văn bản 600 chữ (4.0đ)
Đọc ý kiến của tác giả Kim Woo Choong, nhà sáng lập tập đoàn Daewoo sau đây và bàn luận về việc sử dụng thời gian của giới trẻ hiện nay.
“Với mọi người, một ngày chỉ dài 24 giờ. Sự khác biệt nằm ở chỗ bạn sử dụng 24 giờ đó như thế nào. Quan trọng hơn, thời gian khi các bạn còn trẻ có giá trị hơn gấp 3 đến 4 lần lúc bạn về già. Cách các bạn sử dụng thời gian khi còn trẻ sẽ quyết định chất lượng và tiêu chuẩn phần đời còn lại của các bạn.
Chính trị gia kiêm triết gia La Mã Seneca từng đánh giá cao việc sử dụng thời gian. Ông ấy nói rằng cuộc đời đủ dài để làm được việc gì đó lớn lao. Nhưng nếu các bạn lãng phí cuộc đời vào việc chơi bời và lười biếng, không sống cho điều gì đó đáng giá thì sau này, các bạn sẽ nhận ra rằng mọi việc đã quá muộn. Ông ấy nói rằng, về bản chất, cuộc sống không hề ngắn ngủi mà chính chúng ta làm cho nó ngắn đi vì lãng phí thời gian. Ai đó có thể tích lũy được tài sản, nhưng nếu người đó không thận trọng với số tài sản ấy thì anh ta có thể đánh mất nó trong chớp mắt. Người khác có thể có ít nhưng nếu anh ta chăm chút cho nó thì anh ta có thể duy trì được lâu dài và thậm chí làm tăng giá trị của nó. Nguyên tắc tương tự cũng áp dụng với thời gian”
(“Thế giới quả là rộng lớn và có rất nhiều việc phải làm” của tác giả Kim Woo Choong, nhà sáng lập tập đoàn Daewoo)
Đáp án
Câu 1.
Phương pháp giải:
Dựa vào số từ trong câu, số câu trong bài để xác định thể thơ
Dựa vào tên bài thơ và nội dung để xác định đề tài
Lời giải chi tiết:
Thể thơ: Tự do
Đề tài: Thời gian
Câu 2
Phương pháp giải:
Tìm kiếm thông tin trong bài thơ
Vận dụng kiến thức về dấu hiệu nhận biết các biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết:
- Cảnh vật thiên nhiên biến chuyển: những đám mây di chuyển; những chiếc lá vàng không muốn lìa cây; gió rung, lá rơi còn vẫy vẫy; những cơn mưa rơi vào đêm vắng
- Nghệ thuật nhân hóa: không muốn, còn vẫy vẫy
Câu 3.
Phương pháp giải:
Tìm kiếm thông tin trong bài thơ và suy ra giác quan được nhắc đến
Dựa vào sự biến đổi cảnh vật vừa nêu trên để rút ra quan niệm về thời gian
Lời giải chi tiết:
- Thi sĩ cảm nhận sự biến đổi cảnh vật, thời gian bằng thị giác, tâm hồn nhạy cảm
- Chuyển tải quan niệm về thời gian: thời gian vận động, là dòng chảy bất tận, mọi sự vật, hiện tượng đều úa tàn, nhạt phai trong dòng chảy ấy
Câu 4
Phương pháp giải:
Tìm kiếm thông tin trong bài thơ
Chú ý các tính từ thể hiện cảm xúc, tâm trạng của nhà thơ
Lời giải chi tiết:
- Những dòng, hình ảnh thơ thể hiện sự bất lực của con người trước thời gian: gió rung, lá rơi còn vẫy vẫy/ sợi tóc rụng bàn tay nào giữ được
- Cách biểu hiện cảm xúc, tâm trạng của thi sĩ:
+ Dùng nghệ thuật nhân hóa trong miêu tả hành động vẫy vẫy của lá là để diễn tả trạng thái của lá, của con người: không thể chống đỡ trước cơn gió – quy luật của thời gian, của tạo hóa, nhưng không thể cứ thế mà rời đi… còn sức sống, còn thể hiện nỗi tha thiết với đời. Chỉ 2 chữ vẫy vẫy mà gợi bao liên tưởng bao suy tư trong người đọc về con người, cảnh vật trong sự vận động của tuyến tính của thời gian.
+ Bộc lộ trực tiếp sự bất lực trong dòng thơ sợi tóc rụng bàn tay nào giữ được. Sợi tóc rụng thật ám ảnh. Sợi tóc rụng chứa đựng cả sự bước đi của thời gian, sự già nua của con người... không thể gì ngăn cản được
→ bàn tay nào giữ được: phải đối diện, phải chấp nhận một quy luật, sự tàn phai, sự mất mát tất yếu. Nuối tiếc và xót xa, xót xa bởi bất lực. Con người không thể cưỡng lại được quy luật vận hành thời gian của vũ trụ, của tạo hóa.
Câu 5.
Phương pháp giải:
Chú ý những hình ảnh ẩn dụ thể hiện quan niệm, thái độ sống của tác giả
Phân tích một số hình ảnh tiêu biểu để thấy triết lý nhân sinh của tác giả
Lời giải chi tiết:
Tác giả thể hiện quan niệm, thái độ sống của mình vừa trực tiếp vừa qua những
hình ảnh ẩn dụ.
– Thể hiện quan niệm, thái độ sống: chỉ thấy lòng ngày một tha thiết với trời xanh/ mỗi ban mai khắc khoải việc chưa thành.
→ Thơ ông bày tỏ và nâng niu sự sống, đầy băn khoăn, tha thiết niềm yêu sống; ngày một tha thiết có nghĩa là niềm yêu sống sẽ tăng theo thời gian và càng thấy
thời gian nghiệt ngã thi sĩ sẽ càng yêu sống hơn, tha thiết với cuộc đời hơn
→ Mỗi ban mai khắc khoải việc chưa thành: nỗi niềm khiến thi sĩ bận lòng đến
khắc khoải không phải là níu kéo thời gian, tuổi trẻ mà là hoàn thành tâm nguyện của mình về một kế hoạch, một công trình nào đó... Một ngày trôi qua, một ban mai bừng sáng đều đang thúc dục thi sĩ làm việc và cống hiến...
- Trời xanh là biểu tượng là ẩn dụ cho cuộc đời tươi đẹp mà thi sĩ đang hướng tới. Thi sĩ bộc lộ trực tiếp niềm yêu đời, yêu cuộc sống của mình: chỉ thấy lòng ngày một tha thiết với trời xanh. Dòng thơ này nằm ở khổ thứ 4 của tác phẩm làm sáng lên tư tưởng của bài thơ, xua đi sự ảm đạm, buồn thương ẩn trong những dòng thơ viết về quy luật nghiệt ngã của thời gian.
→ Bài thơ có âm hưởng chung là buồn nhưng không bi lụy. Dòng chảy nghiệt ngã của thời gian, nỗi nuối tiếc thời gian là bức phông nền để tôn lên lẽ sống đẹp của thi sĩ: thời gian đời người ngắn ngủi, hãy yêu cuộc sống, hãy làm việc và cống hiến...
– Triết lý nhân sinh: thời gian luôn vận động trôi chảy; con người và vạn vật đều tàn phai, mất mát trước dòng chảy ấy...
II. VIẾT
Câu 1
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về dung lượng và nội dung đoạn văn
Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn cảm nhận về nhân vật trữ tình trong đoạn thơ
Lời giải chi tiết:
Đảm bảo dung lượng 200 chữ và hướng vào các nội dung sau:
- Chủ thể trữ tình có những đặc điểm nổi bật sau:
+ Là người nhạy cảm với bước đi của thời gian.
+ Buồn, nuối tiếc trước sự úa tàn, mất mát khi thời gian trôi qua
+ Yêu sự sống, tha thiết được sống được dâng hiến cho cuộc đời.
Câu 2
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức và nội dung bài văn
Vận dụng kĩ năng viết bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
Lời giải chi tiết:
|
Phần chính |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài (0,5đ) |
- Giới thiệu luận đề: việc sử dụng thời gian của giới trẻ hiện nay - Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ |
|
Thân bài (2,75đ) |
Nêu cách hiểu về thời gian và cách sử dụng thời gian – Khái niệm thời gian – Cách sử dụng thời gian * Tóm tắt quan điểm về thời gian, cách sử dụng thời gian của tác giả Kim Woo Choong - Thời gian khi các bạn còn trẻ có giá trị hơn gấp 3 đến 4 lần lúc bạn về già. Cách các bạn sử dụng thời gian khi còn trẻ sẽ quyết định chất lượng và tiêu chuẩn phần đời còn lại của các bạn – Cuộc đời đủ dài để làm được việc gì đó lớn lao. Nhưng nếu các bạn lãng phí cuộc đời vào việc chơi bời và lười biếng, không sống cho điều gì đó đáng giá thì sau này, các bạn sẽ nhận ra rằng mọi việc đã quá muộn * Các quan điểm/các cách sử dụng thời gian của giới trẻ - Quan điểm tiết kiệm thời gian/sử dụng thời gian hữu ích + Biểu hiện (bằng chứng khách quan) + Nguyên nhân, tác dụng (bản thân, xã hội) - Quan điểm không tiết kiệm thời gian/sử dụng thời gian tùy tiện + Biểu hiện (bằng chứng khách quan) + Nguyên nhân, hệ quả (bản thân và xã hội) n trên th → Phân tích nguyên nhân nên sử dụng phối hợp bằng chứng khách quan với ý kiến chủ quan) * Quan điểm của cá nhân về sử dụng thời gian – Nhận thức về thời gian (quy luật, sự trôi chảy của thời gian) – Cách sử dụng thời gian (dùng câu phủ định, khẳng định) Thời gian để học tập, nghiên cứu; trải nghiệm; giải trí lành mạnh |
|
Kết bài (0,25đ) |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề - Hành động/dự định của cá nhân (để không lãng phí thời gian) |
|
Yêu cầu khác (0,5đ) |
- Sử dụng các thao tác phân tích, đối chiếu chứng minh, bình luận khác - Dẫn chứng phù hợp với lí lẽ, luận điểm |
Đề thi học kì 2 Văn 12 Cánh diều - Đề số 4
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Đọc văn bản sau:
CHẠY TRỐN
(Bỉ vỏ – Nguyên Hồng)
Tóm tắt tiểu thuyết Bỉ vỏ: Bính là cô gái nghèo làng Sòi. Vì nhẹ dạ, yêu một gã Tham đạc điền và bị hắn bỏ rơi giữa lúc bụng mang dạ chửa. Cô bị cha mẹ hắt hủi, đay nghiến và đứa bé sinh ra phải đem bán đi vì sợ làng bắt vạ. Đau đớn, Bính trốn nhà đi Hải Phòng và rơi vào nhà chứa của mụ Tài sẽ cấu và được Năm Sài Gòn, trùm lưu manh ở Hải Phòng, chuộc ra khỏi nhà chứa và bắt đầu thành một “bỉ vỏ” – người đàn bà ăn cắp. Kết cục bi thảm đã đến một lần, Năm cướp được một đứa bé đeo vòng vàng trên tàu thủy. Bính hốt hoảng nhận ra đó chính là đứa con mà bao lâu Bính nhớ thương. Nhưng nó đã chết! Giữa lúc mật thám ập vào, Năm và Bính đều bị bắt.
Đoạn trích sau là chương 19 của tác phẩm
Cái toa cuối cùng của đoàn xe lửa chạy vào bóng một rặng tre lù mù, và Tám Bính buông xong tiếng kêu. Năm Sài Gòn đã bế xốc Bính lên chạy vùn vụt, lần lút trên con đường ngoằn ngoèo bên bờ ruộng. Vành trăng xanh nhợt giải xuống cảnh vật chung quanh ga Đặng Xá, đường Hà Nội – Nam Định, một làn ánh sáng lạnh lùng, làm gương mặt Tám Bính càng tái mét. Máu ở bàn tay Bính rỏ ròng ròng xuống vệ cỏ mỗi lúc một nhiều nhưng Bính mê man không biết đau đớn là gì hết.
Năm Sài Gòn thở không ra hơi, một tay cắp Bính ngang lưng, một tay cố gắng xách va li nặng trĩu. Gió rét qua ruộng lúa vang đến tại Năm những tiếng vu vu như có lẫn những lời nguyền rủa của người mất va li và của cả hành khách trên tàu.
Năm Sài Gòn mệt vã mồ hôi nhưng nét mặt vẫn lầm lầm không thay đổi.
Độ nửa giờ sau Năm rẽ quặt vào một lối nhỏ hơn, hai bên lởm chởm những đám dứa dại um tùm, thỉnh thoảng sát vào nhau soàn soạt. Rồi Năm dừng bước trước
một gian nhà lá, cạnh gốc đa cổ thụ. Cánh cửa liếp thoáng mở. Năm chui tọt vào, thở hồng hộc không đáp, buông vội cái va li xuống đất, rồi nhẹ đặt Tám Bính trên cái phản xép ở góc nhà. Đoạn, Năm nằm vật ra giường bên cạnh. Hai Sơn luống cuống vặn to ngọn đèn hoa kỳ giơ soi, hắn lại kêu lên:
- Chết... anh Năm ơi! Chị Tám sao thế này?
Bây giờ Tám Bính hơi tỉnh, đã biết đau, nhăn mặt rền tiếng:
– Anh Năm! Anh Năm!
Dứt lời, Bính lờ đờ hé mắt, nhưng chỉ thoáng cái lại nhắm nghiền, chân ruỗi căng ra với một sự buốt chói vô cùng ran khắp cảm giác, Hai Sơn dựt dựt vội đám lông cu ly và khua lấy ít mạng nhện, xé khăn mặt quấn chặt bàn tay Bính với hai vị thuốc cấp cứu.
Bính tỉnh hẳn, nằm thẳng, răng cắn chặt môi, cố im lặng để Hai Sơn dịt chỗ đau. Nhưng mạng nhện và lông cu ly thấm máu, ướt sũng, cứ chực rơi buột đi.
Hai Sơn bối rối:
- Anh Năm ơi! Nguy quá!
Bính rên rỉ khẽ gọi:
– Anh Năm! Anh Năm đâu rồi?
Năm nhọc đứt ruột nhưng cũng vùng dậy, chạy đến nâng cánh tay Bính cho Hai Sơn buộc thuốc. Lần này cả lượt vải ngoài cùng đầm đìa máu. Năm Sài Gòn vội đánh diêm đốt quyển lịch tầu, lấy tàn đắp vào chỗ đau. Bính xót xa nghiến răng nâng cánh tay lên, nức nở:
- Đến chết mất thôi! Giời ơi!
Bính ngước mắt ai oán trong Năm ngồi phía trên. Toàn thân Năm bỗng rung chuyển. Từ từ ở khóe mắt Năm nước mắt cũng chảy ra, long lanh. Năm khóc nhưng không có tiếng. Mỗi Năm càng mím chặt. Những giọt nước mắt nóng ấy theo nhau rớt đúng xuống bàn tay đương nhức nhối khiến sự đau đớn của Bính như biến mất với cả những gian nguy vừa qua.
Gần đến ga Đặng Xá, trên chuyến xe chạy suốt Hà Nội – Vinh, Bính vừa nhấc chiếc va li của một người khách ra ngoài đầu toa thì Năm Sài Gòn ở đâu chạy lại giằng lấy. Cùng lúc hai bóng người mật thám to béo vụt tới. Năm Sài Gòn liền nắm tay Bính, cả hai lao người xuống đường…
Thế rồi Bính tối tăm mặt mũi mà mê man cho đến khi Năm đặt Bính trên tấm phản đây.
Tám Bính rùng mình, tay phải bóp chặt cánh tay trái, nhăn hết cả nét mặt, Năm liền vỗ vỗ người Bính:
- Mình ơi! Mình cố cắn răng mà chịu đau, sáng sớm mai anh đón ngay ông lang cho.
Bính rít tiếng:
- Chờ không nhức buốt lắm mình ạ.
Năm Sài Gòn cũng nhăn mặt:
- Thôi mình cố chịu vậy! Nếu phải gánh nặng thì anh ghé vai đỡ hộ ngay cho
mình chứ không đời nào để mình như thế đâu!...
Nói xong, Năm đưa tay vuốt trán Bính, gạt những sợi tóc dán trên mi mắt ra vành tai, rồi đờ người nhìn Bính như một pho tượng đồng. Dưới cặp mắt đắm đuối tê tái của Năm, trước im lặng đanh lại của Năm, Bính dần thiêm thiếp.
Hơn hai giờ sau, mảng trời ngoài cánh đồng đằng cuối sân giữa hai gốc gạo sù sì, cành lá sòa ra hàng mấy thửa ruộng, bắt đầu mờ mờ sáng. Năm Sài Gòn ngước đầu trông, ngần ngại dặn Tám Bính:
- Thôi mình chịu khó nằm một mình ở nhà để anh đi đón thầy lang. Còn anh Hai Sơn thì đáp chuyến tàu Hà Nội sáu giờ kẻo lỡ việc.
Bánh gật đầu, nhưng chợt nghĩ ra, Bính liền gọi giật Năm lại:
– Thôi mình ạ! Đừng đi nữa!
[...]Bính vô cùng buồn bã, ý Bính muốn hỏi Năm: “Sao anh không theo đuổi một nghề khó nhọc nguy hiểm khác nhưng chân chính có phải hơn không?”.
(Nguyên Hồng – Bỉ vỏ, NXB Văn học 1985)
(*) Tên do nhóm biên soạn đặt
* Nguyên Hồng (1918–1982), tên khai sinh Nguyễn Nguyên Hồng, là một nhà văn, nhà thơ Việt Nam. Ông luôn hướng ngòi bút về những người nghèo khó gần gũi mà ông yêu thương với một sự cảm thông sâu sắc, với tâm hồn của một người từng trải.
Trả lời câu hỏi từ 1 đến 5
Câu 1. Đọc tóm tắt tiểu thuyết và văn bản Chạy trốn để xác định những đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại. (0.5đ)
Câu 2. Tóm tắt nội dung văn bản Chạy trốn và cho biết đoạn trích này có vị trí như thế nào đối với việc phản ánh số phận, cuộc đời của Tám Bính? (0.5đ)
Câu 3. Tình cảnh hiện tại của Tám Bính cơ cực như thế nào? Cô ấy có nhận thức được cảnh ngộ của mình không, điều này có ý nghĩa gì? (1.0đ)
Câu 4. Năm Sài Gòn dành cho Tám Bính tình cảm như thế nào? Phân tích đôi nét về tình cảm đó và nghệ thuật thể hiện của tác giả (chú ý điểm nhìn trần thuật). (1.0đ)
Câu 5. Xác định phong cách sáng tác và những căn cứ để xác định phong cách ấy. Từ đó, nêu thông điệp, cảm hứng của văn bản Chạy trốn? (1.0đ)
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1. Viết đoạn nghị luận (200 chữ) nhận xét về bút pháp thuật kể sự việc và miêu tả tâm lí nhân vật của tiểu thuyết qua văn bản Chạy trốn (Bỉ vỏ – Nguyên hồng).
Câu 2. Trường em/Địa phương nơi em sinh sống có tổ chức hoạt động thiện nguyện với chủ đề Mùa xuân yêu thương. Em hãy viết bài phát biểu (600 chữ) để đọc tại buổi lễ khai mạc hoạt động đó.
Đáp án
Câu 1.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, xác định những chi tiết chính và rút ra nội dung
Nhận xét về nhân vật và cốt truyện để rút ra đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại
Lời giải chi tiết:
– Nội dung phản ánh hiện thực trong phạm vi không gian thời gian rộng lớn:
cuộc đời của Tám Bính khi là cô gái trẻ đến khi vào tù; Không gian rộng lớn làng quê và Hải Phòng.
– Nhân vật: nhiều nhân vật thuộc gia đình làng quê, Tám Bính và xã hội– nơi diễn ra cuộc đời lang bạt của Tám Bính. Phản ánh trọn vẹn số phận của Tám Bính: mở đầu là sự lỡ dở (sinh đứa con không cha, kết thúc bi đát là vào tù).
– Cốt truyện với vô số sự kiện về cuộc đời Tám Bính: Tám Bính bỏ nhà đi, vào nhà chứa, Năm Sài Gòn cứu rồi Năm Sài Gòn đuổi Bính đi, cô lấy một viên mật thám để có tiền gửi về cứu bố mẹ, Tám Bính cứu Năm Sài Gòn cùng y đi trốn. Kết thúc chứng kiến con chết, bản thân bị bắt.
Câu 2
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, xác định những chi tiết chính và rút ra nội dung
Lời giải chi tiết:
- Đoạn trích Chạy trốn là một sự việc trong cuộc đời “bỉ vỏ” của Bính:
+ Bính cùng Năm Sài Gòn ăn cướp một chiếc va li trên tàu, rồi cả 2 lao xuống tàu chạy thoát. Bính bị thương nặng.
+ Năm Sài Gòn thương xót và hết lòng chăm sóc Tám Bính.
+ Cả 2 vào nhà một đàn em để lẩn trốn, Bính vô cùng đau đớn và muốn thoát khỏi cảnh sống này.
– Đoạn trích ở phần giữa tiểu thuyết có vai trò khắc họa một chặng đường đời của nhân vật tiểu thuyết: Tám Bính sống kiếp bỉ vỏ khốn khổ, mạo hiểm cùng Năm Sài Gòn.
Câu 3.
Phương pháp giải:
Tìm kiếm thông tin trong văn bản
Chú ý câu hỏi cuối văn bản: “Sao anh không theo đuổi một nghề khó nhọc nguy hiểm khác nhưng chân chính có phải hơn không?”.
Lời giải chi tiết:
– Tình cảnh hiện tại: HS tự lấy dẫn chứng cho phù hợp với 2 nội dung sau.
+ Khốn khổ, trộm cắp, sống chui lủi, luôn đối mặt với nguy hiểm.
+ Sức phụ nữ không thể chịu được cảnh sống đó.
– Tám Bính nhận thức được cảnh ngộ của mình: đau đớn, nguy hiểm, bất lương và muốn thoát khỏi tình cảnh này (Bính vô cùng buồn bã. Ý Bính muốn hỏi Năm:
“Sao anh không theo đuổi một nghề khó nhọc nguy hiểm khác nhưng chân chính có phải hơn không?”.
Câu 4
Phương pháp giải:
Tìm kiếm những chi tiết thể hiện tình cảm của Năm Sài Gòn dành cho Tám Bính
Nhận xét về điểm nhìn, nghệ thuật miêu tả và ngôn ngữ để suy ra nghệ thuật thể hiện của tác giả
Lời giải chi tiết:
- Năm Sài Gòn dành cho Tám Bính tình cảm: yêu thương hết lòng và chăm sóc vô cùng tận tình; biết dùng lời yêu thương để vỗ về an ủi, thể hiện tình cảm chân thành
+ Bính rên rỉ khẽ gọi: Anh Năm! Anh Năm đâu rồi? Năm nhọc đứt ruột nhưng cũng vùng dậy, chạy đến nâng cánh tay Bính cho Hai Sơn buộc thuốc.
+ Toàn thân Năm bông rung chuyển. Từ từ ở khóe mắt Năm nước mất cũng chảy ra, long lanh. Năm khóc nhưng không có tiếng. Mỗi Năm càng mím chặt. Những giọt nước mắt nóng ấy theo nhau rớt đúng xuống bàn tay đương nhức nhói khiến sự đau đớn của Bính như biến mất với cả những gian nguy vừa qua.
+ Thôi mình cố chịu vậy! Nếu phải gánh nặng thì anh ghé vai đỡ hộ ngay cho mình chứ không đời nào để mình như thế đâu!... Nói xong, Năm đưa tay vuốt trán Bính, gạt những sợi tóc dán trên mi mắt ra vành tai, rồi đờ người nhìn Bính
như một pho tượng đồng.
- Nghệ thuật thể hiện của tác giả
+ Sử dụng nhìn bên trong và bên ngoài để miêu tả hành động và diễn tả cảm xúc, diễn biến cảm xúc bên trong tâm hồn của nhân vật.
+ Kết hợp miêu tả hành động và đối thoại, lời nhân vật, lời người kể chuyện để thể hiện tình cảm của Năm Sài Gòn dành cho Tám Bính.
+ Ngôn ngữ: vừa chân thực vừa tinh tế (Toàn thân Năm bỗng rung chuyển. Từ
từ ở khóe mắt Năm nước mắt cũng chảy ra, long lanh. Năm khóc nhưng không có tiếng. Mỗi Năm càng mím chặt. Những giọt nước mắt nóng ấy theo nhau rớt đúng xuống bàn tay đương nhức nhối) → là những đoạn văn cảm động về tình người.
Câu 5.
Phương pháp giải:
Chú ý vào những chi tiết miêu tả chân thực, chi tiết trong tác phẩm để suy ra phong cách sáng tác
Dựa vào nội dung, đặc điểm nhân vật để suy ra thông điệp và cảm hứng của văn bản
Lời giải chi tiết:
- Phong cách sáng tác của tác phẩm: Phong cách hiện thực (HS tự lấy dẫn chứng
về việc miêu tả chân thực, chi tiết nỗi đau thể xác của Bính và tình cảnh sống khốn khổ của Bính và Năm Sài Gòn).
- Thông điệp: HS tự đúc rút theo quan điểm cá nhân (Có thể tham khảo gợi ý: Kiếp sống trộm cắp là bất lương, nguy hiểm, luôn sống trong trạng thái lo lắng; Sống chân chính, bình yên luôn là khát khao của phụ nữ nói riêng, con người nói chung).
- Cảm hứng: thương cảm (đồng thời thể hiện tư tưởng, cái nhìn nhân đạo, cảm
thông với kiếp sống của bỉ vỏ – người con gái ăn cắp của Tám Bính).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về dung lượng và nội dung đoạn văn
Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn phân tích một vấn đề trong tác phẩm văn học
Lời giải chi tiết:
Đoạn đủ dung lượng và hướng vào 2 nội dung chính:
- Bút pháp thuật kể sự việc: tiết tấu linh hoạt, lời văn giàu hình ảnh, sự việc
+ Tiết tấu nhanh với sự việc: Năm Sài Gòn thở không ra hơi, một tay cắp Bính
ngang lưng, một tay cố gắng xách va li nặng trĩu. Gió rét qua ruộng lúa vang đến tai Năm những tiếng vu vu như có lẫn những lời nguyền rủa của người mất va li và của cả hành khách trên tàu; Gần đến ga Đặng Xá, trên chuyến хе chạy suốt Hà Nội – Vinh, Bính vừa nhấc chiếc va li... Cùng lúc hai bóng người mật thám to béo vụt tới. Năm Sài Gòn liền nắm tay Bính, cả hai lao người xuống đường…
- Tiết tấu chậm, lắng đọng khi miêu tả tâm lý: Nói xong, Năm đưa tay vuốt trán
Bính, gạt những sợi tóc dán trên mi mắt ra vành tai, rồi đờ người nhìn Bính như một pho tượng đồng. Dưới cặp mắt đắm đuối tê tái của Năm, trước im lặng đanh lại của Năm, Bính dần thiêm thiếp...
– Miêu tả tâm lý: qua miêu tả của người kể chuyện (phối hợp 2 điểm nhìn bên trong, bên ngoài), khắc họa chân thực tỉ mỉ diễn biến cảm xúc của nhân vật Năm Sài Gòn (HS tự đưa dẫn chứng).
Câu 2.
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức và nội dung bài văn
Vận dụng kĩ năng viết bài phát biểu
Lời giải chi tiết:
Viết bài phát biểu (600 chữ) để đọc tại buổi lễ khai mạc Mùa xuân yêu thương
|
Phần chính |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài (0,5đ) |
- Kính thưa đại biểu tham dự (HS vận dụng phù hợp với thực tế) – Giới thiệu bản thân (1−2 dòng), nêu tên hoạt động: Mùa xuân yêu thương. |
|
Thân bài (2,75đ) |
– Nêu lí do, mục đích của hoạt động đối với HS, tuổi trẻ, xã hội; ý nghĩa của hoạt động. + Mục đích của hoạt động Mùa xuân yêu thương đối với HS, thanh niên, cộng đồng. + Ý nghĩa của hoạt động đối với xã hội. – Hành động cụ thể của mọi người trong Mùa xuân yêu thương + Đóng góp nhỏ để chia sẻ lớn. + Thăm hỏi, trao quà. - Hành động, việc làm cụ thể của cho mọi người (phù hợp với sở trường, khả năng và điều kiện thực tiễn). + Lựa chọn của cá nhân. + Cảm xúc, suy nghĩ của cá nhân khi được tham gia phong trào... → Kết hợp một số yếu tố bổ trợ hiệu quả: miêu tả, biểu cảm, hô gọi để tăng tính đối thoại, tương tác . |
|
Kết bài (0,25đ) |
- Thể hiện sự ủng hộ, niềm tin vào phong trào - Cổ vũ, kêu gọi các bạn ủng hộ tham gia phong trào |
|
Yêu cầu khác (0,5đ) |
- Bài viết có cảm xúc, thể hiện sự hiểu biết, nhiệt huyết về hoạt động - Kỹ thuật viết: lời hô gọi tạo sự tương tác, cổ vũ hành động |
Đề thi học kì 2 Văn 12 Cánh diều - Đề số 5
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Đọc văn bản sau:
VÃN CẢNH/CẢNH CHIỀU HÔM (*)
(Nhật kí trong tù – Hồ Chí Minh)
Phiên âm
Mai khôi hoa khai hoa hựu tạ,
Hoa khai hoa tạ lưỡng vô tình;
Hoa hương thấu nhập lung môn lý,
Hương tại lung nhân tố bất bình.
Dịch nghĩa
Hoa hồng nở hoa hồng lại tàn,
Hoa nở hoa tàn đều vô tình;
Hương thơm bay vào thấu trong ngục,
Tới kể với người trong ngục nỗi bất bình.
Dịch thơ (Nam Trân)
Hoa hồng nở hoa hồng lại rụng,
Hoa tàn, hoa nở cũng vô tình;
Hương hoa bay thấu vào trong ngục,
Kể với tù nhân nỗi bất bình
(Hồ Chí Minh toàn tập – tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, 2000)
(*) Bài thơ được sáng tác trong thời gian Bác bị giam trong nhà tù Tưởng Giới Thạch (thuộc tập Nhật kí trong tù), sau khi Bác đã: Quảng Tây giải khắp mười ba huyện, mười tám nhà giam đã trải qua. Đây là bài thơ thứ 114 trong tổng số 134 bài thơ trong tập Nhật kí trong tù. Vãn cảnh cũng là bài thơ hay nhất trong chùm các bài thơ viết về cảnh chiều hôm: Mộ, Bại, Hoàng hôn và Vãn cảnh.
Trả lời câu hỏi từ 1 đến 5
Câu 1. Xác định thể loại và luật (bằng trắc) của bài thơ Vãn cảnh chiều hôm. (0.5đ)
Câu 2. So sánh nhan đề ở nguyên tác với nhan đề ở bản dịch và cho biết chúng có khác biệt gì? (0.5đ)
Câu 3. Xác định hình tượng chính của bài thơ và ý nghĩa của hình tượng đó? Phân tích cảm xúc của nhà thơ trong câu thơ đầu? (1.0đ)
Câu 4. Mạch cảm xúc ở 2 câu cuối bài thơ vận động như thế nào? Bài thơ gợi tả như thế nào về một cuộc gặp gỡ, cảm xúc của nhân vật trữ tình? (1.0đ)
Câu 5. Đánh giá của em về giá trị nhận thức, giáo dục thẩm mĩ và triết lí nhân sinh thể hiện ở bài thơ? (1.0đ)
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1. Viết đoạn nghị luận về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong bài thơ Vãn cảnh chiều hôm.
Câu 2. Đọc văn bản sau và viết thư (600 chữ) trao đổi với bạn về những điều mình quan tâm (điều tâm đắc, điều mình chưa đồng tình) sau khi đọc Kiên nhẫn tạo nên sự xuất sắc của tác giả M.J.Ryan.
KIÊN NHẪN TẠO NÊN SỰ XUẤT SẮC
(M.J.Ryan)
Bạn chắc hẳn biết qua câu chuyện về nhà khoa học Thomas Edison, ông không
những phát minh ra bóng đèn mà còn sáng chế ra hàng loạt những máy móc khác như máy điện báo, máy điện tín tự động, đèn điện an toàn dùng trong hầm mỏ, đèn huỳnh quang, máy quay phim, máy chụp ảnh...Trong quá trình miệt mài thử nghiệm để tìm ra vật liệu làm dây tóc bóng đèn, ông đã đúc kết kinh nghiệm như sau: “Tôi đã trải qua 2000 lần thử nghiệm khác nhau mới tìm ra được kết quả cuối cùng, nhưng tôi không nghĩ rằng mình đã thất bại 2000 lần. Tôi không hề thất bại lần nào. Tôi đã thành công trong việc chứng minh rằng có gần 2000 chất liệu không thể dùng để chế tạo dây tóc bóng đèn. Và một khi đã loại bỏ dần những chất không phù hợp, tôi cuối cùng cũng tìm ra nó!”
Tôi đã bắt đầu nghiên cứu về lòng kiên nhẫn trong nhiều năm, nhưng cách đây vài tháng tôi mới bắt đầu xem xét đến mối liên hệ giữa lòng kiên nhẫn và sự trau dồi tài năng. Eric Hoffer phát biểu về mối quan hệ này: “Điều cốt lõi của một tài năng thật sự là người đó phải nhận thức được rằng bất kỳ thành tựu dù lớn hay bé cũng luôn gắn liền với những khó khăn nhất định. Và chính nhờ sự kiên trì theo đuổi mục tiêu đến cùng mà họ vượt qua tất cả trở ngại và đạt được thành công cuối cùng. Do đó tài năng là một dạng của sự kiên trì”. George Louis Leclerc de Bulfen cũng nhận xét tương tự: “Bản thân thiên tài không là gì cả, thiên tài là người dồi dào khả năng kiên nhẫn”. Những nhà tư tưởng này nhắc cho chúng ta nhớ rằng tài năng phải được trau dồi thường xuyên. Cũng giống như viên ngọc muốn sáng đẹp cần qua quá trình mài giũa, tài năng thiên phú, “sơ khai” còn cách tài năng đích thực rất xa. Vì vậy chúng ta phải làm việc và làm việc không ngừng để có thể có được phần thưởng đó. Mọi tiềm năng của chúng ta đều đòi hỏi sự nỗ lực trong một thời gian dài trước khi trở thành tài năng thật sự. Điều này chỉ có thể đạt được khi chúng ta kiên trì thực hiện mục tiêu của mình, dù có mất bao lâu đi chăng nữa. Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh điều này. Một nhà nghiên cứu của trường Đại học Florida đã khám phá ra rằng phải mất khoảng mười năm để có thể đạt đến mức độ tinh thông của một chuyên gia. Điều này quả thật đòi hỏi lòng kiên nhẫn cao độ!
Cách đây vài năm, tổ chức Gallup đã tiến hành một nghiên cứu trên quy mô lớn về sự xuất sắc. Nghiên cứu trên hai triệu người tình nguyện, họ đã khám phá ra rằng những người nổi trội hơn người khác là những người biết rõ những thế mạnh của mình và tập trung phát triển thế mạnh đó. Không lo lắng về những điểm yếu của bản thân, thay vào đó, họ biết kết hợp những thế mạnh của mình lại với nhau theo một cách nào đó và tối ưu hóa chúng (Cũng theo kết quả nghiên cứu này, có đến 33 triệu khả năng kết hợp của những thế mạnh này, có nghĩa là kết hợp của bạn chỉ là một trong con số 33 triệu. Do đó với sức mạnh của tính kiên định, bạn có thể trở thành một thiên tài với sự kết hợp độc đáo của riêng bạn.)
Rượu ủ càng lâu càng thơm nồng. Cũng như vậy, bằng lòng kiên nhẫn, ta sẽ có đủ tự tin để phát huy hết tiềm năng của bản thân, để ta có thể tự hào là đang cống hiến những điều tốt đẹp nhất của mình cho thế giới.
(Trích Sức mạnh lòng kiên nhẫn, M.J.Ryan, NXB Trẻ, 2011, trang 38–40).
Tác giả: M.J.Ryan là một trong những tác giả của bộ sách nổi tiếng Random Acts of Kindness được phát hành hơn một triệu bản trên toàn thế giới. Bà cũng là tác giả của rất nhiều tác phẩm nổi tiếng như Attitudes of Gratitude, A Grateful Heart, The Giving Heart.
Đáp án
Câu 1.
Phương pháp giải:
Chú ý số từ trong câu, số câu trong bài
Vận dụng kiến thức về luật bằng, trắc trong thơ để xác định luật của bài thơ
Lời giải chi tiết:
– Thơ: tứ tuyệt (Đường luật).
– Luật: bằng (Chữ thứ hai của câu thứ nhất thanh bằng thì bài thơ thuộc luật bằng và là luật trắc nếu mang thanh trắc).
Câu 2
Phương pháp giải:
Chú ý từ được thêm vào
Lời giải chi tiết:
– Bài thơ gốc (chữ Hán) có tiêu đề là “Vãn cảnh”, được dịch là “Cảnh chiều hôm”
– Khác biệt: thêm vào chữ “chiều hôm”.
Câu 3.
Phương pháp giải:
Chú ý hình ảnh được lặp đi lặp lại nhiều lần, phân tích câu thơ chứa hình ảnh ấy để suy ra ý nghĩa của hình tượng đó
Đọc phần dịch nghĩa và dịch thơ của câu thơ đầu, suy ra nội dung chính, chú ý các từ chỉ cảm xúc
Lời giải chi tiết:
- Hoa hồng: tượng trưng cho cái đẹp, sắc đẹp, hương thơm và là đối tượng của
cảm xúc thẩm mỹ.
- Phân tích 2 ý để thấy được cảm xúc của nhà thơ trong câu thơ đầu:
+ Câu thơ mở đầu: “Mai khôi hoa khai hoa hựu tạ”: chỉ nói về quy luật hoa nở rồi hoa tàn không một lời bộc lộ cảm xúc.
+ Cảm xúc ẩn kín trong câu chữ, bao nhiêu thương cảm, xót xa về quy luật bất biến, không ai cưỡng lại được của tạo hóa → ngắm nhìn cái đẹp và chứng kiến cái đẹp bị lụi tàn.
Câu 4
Phương pháp giải:
Đọc kĩ phần phiên âm, dịch thơ, dịch nghĩa của hai câu thơ cuối
Chú ý từ ngữ thể hiện cảm xúc (bất bình)
Lời giải chi tiết:
- Mạch cảm xúc ở 2 câu cuối bài thơ vận động theo một hướng khác hẳn: hương
hoa bay vào nhà giam, hướng đến tù nhân mà kể nỗi “bất bình”.
- Từ ngữ thể hiện cảm xúc của nhân vật trữ tình: bất bình. Cái bất bình của hoa là sự bất bình đối với tạo hóa vô tình trước cái đẹp. Chỉ có một tâm hồn nghệ sĩ
nhạy cảm, tinh tế với cái đẹp mới có thể đồng cảm và sẻ chia với nỗi bất bình ấy. Chỉ có người Tù nhân – Chiến sĩ – Nhà thơ như Bác mới thấu hiểu được cái bất bình ấy, đó chính là cái mới mẻ, độc đáo của bài thơ.
– Bài thơ là sự gặp gỡ kỳ diệu giữa người nghệ sĩ và cái đẹp. Đồng cảm với bông hồng hương sắc, nhà thơ dường như cũng bất bình trước sự vô tình của tạo hoá trước số phận mong manh của cái đẹp. Nhà thơ đã rung động sâu sắc và đã đem nỗi niềm của bông hoa, của cái đẹp vào trong thơ để cho sự tồn tại của cái đẹp trên đời không trở nên vô nghĩa.
Câu 5.
Phương pháp giải:
Dựa vào nội dung bài thơ, nhan đề và các hình ảnh nổi bật
Lời giải chi tiết:
- Giá trị nhận thức: quy luật nghiệt ngã của tạo hóa: tạo hóa vô tình.
- Giáo dục và thẩm mĩ: yêu cái đẹp, không vô tình trước cuộc đời (cái đẹp, sự lụi tàn của cái đẹp)
- Triết lí nhân sinh: chính tạo hóa tạo ra cái đẹp nhưng rồi tạo hóa cũng lại hủy
diệt cái đẹp, không ai cưỡng lại được quy luật đó.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về dung lượng và nội dung đoạn văn
Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn phân tích vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trong bài thơ
Lời giải chi tiết:
Đoạn đủ dung lượng, nội dung hướng vào các ý sau:
- Tâm hồn thi sĩ:
+ Nhạy cảm trước dòng chảy, quy luật khắc nghiệt của thời gian.
+ Xót thương cho cái đẹp bị tàn phai.
- Trí tuệ sâu sắc: Qua một bông hoa lúc nở, lúc tàn mà gợi lên trong lòng người đọc bao nỗi niềm về lẽ sống, về tình yêu với cái đẹp trên trời.
- Bản lĩnh kiên cường: trong bất cứ hoàn cảnh nào người cũng mở rộng tâm hồn
giao hòa cùng thiên nhiên và cảm nhận cuộc sống như nó vốn có.
Câu 2
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức và nội dung bài văn
Vận dụng kĩ năng viết thư về vấn đề đáng quan tâm
Lời giải chi tiết:
|
Phần chính |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài (0,5đ) |
- Địa điểm thời gian, tên người nhận thư; Lời chào/ lời hỏi thăm mở đầu. - Lí do của viết thư/cuộc trao đổi: những điều tâm đắc sau khi đọc văn bản Kiên nhẫn tạo nên sự xuất sắc của tác giả M.J.Ryan. |
|
Thân bài (2,75đ) |
* Trình bày ngắn gọn, mạch lạc nội dung trong văn bản Kiên nhẫn tạo nên sự xuất sắc của tác giả M.J.Ryan: - Kể chuyện về nhà khoa học Thomas Edison. – Tài năng phải được trau dồi thường xuyên. – Yếu tố tạo nên sự xuất sắc. – Yếu tố làm nên sự tự hào. * Thể hiện quan điểm cá nhân về vấn đề tâm đắc: – Nêu nội dung tâm đắc. – Phân tích lí làm rõ lí do tâm đắc (nhận thấy điều mới mẻ/hiểu sâu hơn điều còn mơ hồ). * Thể hiện quan điểm cá nhân về vấn đề chưa đồng tình: – Nêu nội dung chưa đồng tình. – Phân tích lí làm rõ lí do chưa đồng tình (Phân tích chưa sâu; chưa có sức thuyết phục; dẫn chứng chưa phù hợp lí lẽ...). *Nêu vấn đề cần trao đổi với bạn, cần có thêm ý kiến của bạn; chờ tin bạn (qua câu hỏi). → Kết hợp một số yếu tố bổ trợ hiệu quả: miêu tả, biểu cảm, hồ gọi để tăng tính đối thoại, tương tác song phương... |
|
Kết bài (0,25đ) |
– Lời chúc, cảm ơn/hẹn ngày trao đổi, nhận thông tin. – Lời tạm biệt/hẹn gặp; danh tính người viết thư. |
|
Yêu cầu khác (0,5đ) |
- Bố cục cân đối, hài hòa. – Trong thư chú ý: Xưng hô phù hợp, thân tình. – Thể hiện rõ mối quan tâm, sự chờ đợi của cá nhân về thông tin từ phía người nhận thư. |
Đề thi học kì 2 Văn 12 Cánh diều - Đề số 6
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Đọc bài thơ sau:
(1) Xa quê mấy chục năm trời
Mà ta chẳng hết là Người nhà quê
(2) Vẫn thèm tiếng sáo triền đê
Tiếng gà cục tác trưa hè nắng thơm
Thèm cay nồng khói rạ rơm
Bụi tro lấm đượm bát cơm ngày mùa
(3) Thèm câu nhắn sớm gọi trưa
Ríu ran lối xóm lời thưa tiếng chào
Nồi khoai quánh mật ngọt ngào
Bát chè vối nóng qua rào mời nhau
(4) Giờ về thành thị chênh chao
Nhoè cay khói bụi, ồn ào phố đông
Vẫn nghe lành lạnh trong lòng
Vẫn mơ xanh những cánh đồng mờ xa...
(5) Bao năm xa, vẫn là ta
Vẫn nguyên gốc gác con nhà thôn quê.
(“Người nhà quê” – Hạnh Ly, in trong Lỡ chân qua phố, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2011)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2. Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh nói về thôn quê trong đoạn thơ thứ (2) của bài thơ?
Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong các dòng thơ in đậm?
Câu 4. Nêu cảm hứng chủ đạo của bài thơ?
Câu 5. Từ bài thơ trên, anh/chị rút ra được bài học gì về cách ứng xử của bản thân đối với quê hương của mình?
II. VIẾT
Câu 1.
Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh thôn quê qua cảm nhận của nhân vật trữ tình “ta” trong bài thơ đã cho ở phần Đọc hiểu.
Câu 2.
“Đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố” (Đặng Thùy Trâm).
Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về vấn đề con người không được cúi đầu trước khó khăn, thất bại trong cuộc sống.
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Xác định thể thơ dựa trên số chữ trong dòng, cách hiệp vần và ngắt nhịp.
- Vận dụng kiến thức về các thể thơ
Cách giải:
Bài thơ được viết theo thể lục bát.
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kỹ đoạn thơ thứ (2), gạch chân các từ ngữ chỉ sự vật, âm thanh, hình ảnh gắn liền với cuộc sống làng quê Việt Nam.
Cách giải:
Những từ ngữ, hình ảnh nói về thôn quê trong đoạn thơ thứ (2) của bài thơ là: tiếng sáo triền đê; tiếng gà cục tác; khói rạ rơm; bát cơm ngày mùa.
Câu 3:
Phương pháp:
Nhận diện biện pháp tu từ và phân tích tác dụng
Cách giải:
- Biện pháp tu từ: điệp cấu trúc.
- Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu cho bài thơ.
+ Cho thấy được tình yêu mến, gắn bó của tác giả đối với quê hương; nhấn mạnh nỗi mong ước, khát khao được tận hưởng những điều tốt đẹp của chốn quê xưa.
Câu 4:
Phương pháp:
- Xác định cảm hứng chủ đạo (dòng cảm xúc xuyên suốt bài thơ).
- Cần đọc tổng thể các khổ thơ để thấy mạch cảm xúc của tác giả.
Cách giải:
Cảm hứng chủ đạo của bài thơ: bao trùm bài thơ là tình yêu, nỗi nhớ thương quê nhà, nỗi khao khát được sống lại với những điều bình dị mà tươi đẹp, nghĩa tình của chốn quê xưa.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Mỗi người cần luôn trân trọng, yêu mến quê hương của mình.
- Luôn cố gắng, nỗ lực để cống hiến cho quê hương, xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp.
- …
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Từ bài thơ “Người nhà quê”, tôi rút ra bài học sâu sắc về cách ứng xử với quê hương: đó là sự trân trọng và gìn giữ cội nguồn. Quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn mà còn là không gian nuôi dưỡng tâm hồn với những giá trị bình dị, chân thật. Dù cuộc sống có xô bồ, hiện đại đến đâu, mỗi người cũng cần giữ trong lòng những kỷ niệm, tình cảm và nét đẹp văn hóa của quê nhà. Quan trọng hơn, khi có điều kiện, chúng ta phải biết đóng góp sức lực, trí tuệ để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Bài thơ nhắc nhở tôi rằng: dù đi xa đến đâu, ta vẫn là “người nhà quê” với những gì thân thương nhất, và đó là điểm tựa vững bền trong hành trang cuộc đời.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Đó là một miền quê bình yên với những âm thanh đặc trưng quen thuộc của tiếng sáo diều vi vút trên triền đê, của tiếng gà cục tác những trưa hè. Những âm thanh bình dị ấy, khi ở gần ta có thể không để ý, nhưng khi đi xa đã tạo thành một ám ảnh, gây nên một nỗi nhớ da diết.
- Đó là một miền quê nghèo khó với khói rạ rơm đun bếp, với bát cơm ngày mùa lấm bụi tro. Sự nghèo khó nhọc nhằn một thuở đã khiến cho mùi khói bếp và mùi cơm ngày mùa như ăn sâu vào tiềm thức của những người con xa quê.
- Đó là một miền quê mà con người sống với nhau tình nghĩa, ấm áp với những câu “nhắn sớm gọi trưa”, những lời chào ríu ran lối xóm, với nồi khoai mật và bát chè vối nóng để mọi người í ới mời nhau qua hàng rào, để rồi cùng quây quần bên nhau trong đậm đà tình nghĩa xóm làng…
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Hình ảnh thôn quê qua cảm nhận của nhân vật trữ tình trong bài thơ “Người nhà quê” của Hạnh Ly hiện lên vừa bình dị, thân thuộc vừa thấm đẫm tình nghĩa. Đó không chỉ là khung cảnh mà còn là cả một không gian văn hóa, tình cảm được cảm nhận bằng tất cả các giác quan. Trước hết, thôn quê hiện ra qua những hình ảnh và âm thanh đặc trưng, gắn bó sâu sắc với tuổi thơ: “tiếng sáo triền đê”, “tiếng gà cục tác trưa hè”, hay mùi “khói rạ rơm” và vị “bát cơm ngày mùa”. Đó là những thứ tưởng chừng giản đơn nhưng lại trở thành “nỗi thèm” da diết trong lòng người xa xứ. Hơn thế, nhân vật trữ tình còn cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của tình người nơi thôn quê qua “câu nhắn sớm gọi trưa”, lối xóm “ríu ran” những lời thưa chào, qua nồi khoai, bát chè vội vàng mà ấm áp được “mời nhau” qua hàng rào. Vẻ đẹp ấy chính là sợi dây kết nối cộng đồng, tạo nên hương vị ngọt ngào, đậm đà của làng quê Việt Nam. Có thể thấy, qua cảm nhận của chủ thể trữ tình, bức tranh thôn quê không chỉ có màu sắc, âm thanh, hương vị mà còn ẩn chứa một chiều sâu tâm hồn, nơi lưu giữ những giá trị tinh thần bền chặt, khiến con người dù đi xa vẫn không nguôi nhớ về.
Câu 2:
Phương pháp:
* Mở bài: giới thiệu vấn đề nghị luận và trích dẫn ý kiến.
*Thân bài:Triển khai vấn đề nghị luận:
- Giải thích:
+ Cúi đầu: đầu hàng, lùi bước, chấp nhận thất bại.
+ Cuộc đời con người có thể sẽ gặp phải những khó khăn, gian nan, thử thách nhưng con người không được đầu hàng, lùi bước.
- Bàn luận:
+ Cuộc sống không bao giờ bình lặng mà luôn có vô vàn những khó khăn, thử thách, có thành công – thất bại, hạnh phúc – khổ đau…
+ Để vượt qua được khó khăn, thử thách không phải là điều dễ dàng, nó đòi hỏi ta phải biết chấp nhận giông tố, vì một khi ta biết chấp nhận nó, ta sẽ biết cách vượt qua nó bằng chính nghị lực, bản lĩnh, kỹ năng, tri thức của mình.
+ Thực tế cuộc sống có biết bao tấm gương về những con người có nghị lực, bản lĩnh, vượt lên số phận, vượt lên hoàn cảnh.
- Ý nghĩa (Tại sao không được cúi đầu trước giông tố?)
+ Gian nan, thử thách chính là môi trường tôi luyện con người. Vượt qua khó khăn thử thách, con người trưởng thành hơn, có nghị lực và vững vàng hơn về mọi mặt.
+ Vượt qua thử thách, chúng ta có cơ hội đến được với ước mơ của chính mình, được hoàn thiện bản thân.
+ Vượt qua thử thách tạo được mối quan hệ tốt, tạo niềm tin với mọi người xung quanh, giúp cho xã hội phát triển, đất nước tiến bộ...
- Dẫn chứng :
- Phản đề: Bên cạnh những con người khi gặp khó khăn thì luôn cố gắng nỗ lực, biết vượt khó thì vẫn còn một số bộ phận khi gặp giông tố hay nản lòng, không chịu suy nghĩ, nhanh bỏ cuộc dễ đầu hàng số phận...cần phê phán lên án.
- Bài học và liên hệ bản thân
* Kết bài: Khẳng định ý kiến và quan điểm cá nhân.
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Cuộc sống không bao giờ là một con đường trải đầy hoa hồng, bởi lẽ thành công và thất bại, hạnh phúc và khổ đau luôn đan xen như hai mặt của một tổng thể. Trong những tháng năm chiến tranh ác liệt, nữ anh hùng liệt sĩ Đặng Thùy Trâm đã ghi lại dòng nhật ký đầy khí phách: “Đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố”. Câu nói ấy không chỉ là lời tự nhủ của một người con gái Hà Nội kiên trung mà còn trở thành bài học sâu sắc cho mỗi chúng ta về thái độ sống trước những khó khăn, thử thách của cuộc đời.
Trước hết, cần hiểu rõ ý nghĩa của câu nói. “Giông tố” là hình ảnh ẩn dụ chỉ những khó khăn, gian nan, thử thách, những nghịch cảnh mà con người gặp phải trong hành trình sống. “Cúi đầu” là hành động đầu hàng, buông xuôi, chấp nhận thất bại mà không cố gắng vươn lên. Như vậy, câu nói khẳng định một quan điểm sống tích cực và mạnh mẽ: cuộc đời vốn dĩ không bằng phẳng, khó khăn là điều tất yếu, nhưng con người không được phép gục ngã hay đầu hàng trước hoàn cảnh; thay vào đó, phải giữ vững bản lĩnh, ý chí để vượt qua.
Thực tế cho thấy, cuộc sống chưa bao giờ là một hành trình trải đầy hoa hồng. Mỗi người khi sinh ra đều phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thử thách. Có người gặp bất hạnh về thể chất, có người vấp ngã trong học tập hay sự nghiệp, lại có người phải trải qua những mất mát về tinh thần. Đó chính là những “giông tố” mà không ai có thể tránh khỏi. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là giông tố có đến hay không, mà là thái độ của chúng ta trước những cơn giông ấy. Không cúi đầu trước giông tố trước hết là không đầu hàng, không buông xuôi trước khó khăn. Điều này đòi hỏi con người phải có nghị lực phi thường, bản lĩnh vững vàng và niềm tin mãnh liệt vào bản thân. Khi đối diện với thử thách, nếu ta biết chấp nhận nó như một phần tất yếu của cuộc sống, ta sẽ tìm ra cách để vượt qua bằng chính năng lực, tri thức và ý chí của mình. Những cơn giông tố vì thế không phải là rào cản mà trở thành bệ phóng để ta trưởng thành hơn.
Tại sao con người không được cúi đầu trước giông tố? Bởi lẽ, gian nan, thử thách chính là môi trường tôi luyện con người. Không có thất bại nào là vô nghĩa, bởi từ những lần vấp ngã, ta rút ra bài học quý giá, trở nên kiên cường và bản lĩnh hơn. Như câu nói nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Bá Học: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Hơn nữa, vượt qua thử thách là con đường duy nhất để chạm tới ước mơ và hoàn thiện bản thân. Cuộc đời không tặng quà cho những kẻ hèn nhát. Những ai dám đương đầu với giông tố sẽ có cơ hội gặt hái thành công, đạt được những giá trị đích thực của cuộc sống. Không chỉ dừng lại ở ý nghĩa cá nhân, tinh thần không khuất phục trước khó khăn còn có sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng. Một người dám vượt qua nghịch cảnh sẽ truyền cảm hứng cho những người xung quanh, góp phần tạo nên một xã hội vững mạnh, tràn đầy nghị lực và niềm tin.
Lịch sử và cuộc sống quanh ta có biết bao tấm gương sáng về những con người không cúi đầu trước giông tố. Điển hình là nhà giáo Nguyễn Ngọc Ký, từ nhỏ đã bị liệt cả hai tay, nhưng với ý chí phi thường, ông đã kiên trì luyện viết bằng chân, vượt qua bao ánh mắt thương hại để trở thành người thầy giáo mẫu mực, được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú. Hay như nhà bác học Stephen Hawking, bị mắc căn bệnh xơ cứng teo cơ khiến toàn thân tê liệt, chỉ có thể ngồi trên xe lăn và giao tiếp qua máy tính, nhưng ông vẫn không ngừng nghiên cứu, cống hiến cho nhân loại những phát minh vĩ đại về vũ trụ học. Gần gũi hơn, trong chương trình “Điều ước thứ bảy”, có biết bao bạn nhỏ như em Nguyễn Viết Hiếu ở Quảng Nam dù bị bỏng nặng khắp cơ thể vẫn kiên trì đến trường, nuôi dưỡng ước mơ trở thành bác sĩ để chữa bệnh cho những người có hoàn cảnh như mình. Tất cả họ đều là minh chứng sống động cho tinh thần không cúi đầu trước giông tố.
Tuy nhiên, trong xã hội vẫn còn không ít người khi gặp khó khăn đã nhanh chóng nản chí, buông xuôi. Họ sợ hãi trước thất bại, không dám đối diện với thử thách, thậm chí có những hành vi tiêu cực như bỏ học, trầm cảm hay tìm đến cái chết để giải thoát. Một bộ phận giới trẻ ngày nay quen sống trong sự bao bọc của gia đình, thiếu kỹ năng sống, khi chỉ vấp ngã một lần trong thi cử hay tình cảm đã tuyệt vọng, buông xuôi. Đây là những biểu hiện đáng buồn, cần được nhìn nhận và phê phán.
Từ những phân tích trên, mỗi người cần nhận thức rằng khó khăn là một phần tất yếu của cuộc sống. Thay vì sợ hãi hay tìm cách trốn tránh, chúng ta cần chuẩn bị tâm thế sẵn sàng đón nhận và vượt qua. Ngay từ hôm nay, hãy rèn luyện bản lĩnh, trau dồi tri thức và kỹ năng sống. Khi vấp ngã, đừng hổ thẹn mà hãy coi đó là cơ hội để đứng dậy mạnh mẽ hơn. Với bản thân tôi, câu nói của Đặng Thùy Trâm như một lời nhắc nhở về tinh thần kiên cường. Trong học tập cũng như cuộc sống, tôi luôn ý thức rằng thất bại không phải là dấu chấm hết, mà là bài học quý giá trên con đường trưởng thành. Chỉ khi không cúi đầu trước giông tố, tôi mới có thể viết tiếp hành trình của chính mình.
“Đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố” – câu nói của người nữ anh hùng năm nào vẫn còn vẹn nguyên giá trị đến hôm nay. Giông tố có thể đến bất cứ lúc nào, nhưng quan trọng hơn cả là thái độ của chúng ta trước những cơn giông ấy. Hãy luôn nhớ rằng, vấp ngã không đáng sợ, đáng sợ nhất là không dám đứng dậy. Và chỉ khi không cúi đầu, con người mới có thể vững bước trên hành trình chinh phục ước mơ, sống một cuộc đời thực sự ý nghĩa và đáng tự hào.
Đề thi học kì 2 Văn 12 Cánh diều - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Đọc bài thơ sau:
NHỮNG BÔNG HOA TRÊN TUYẾN LỬA
Đỗ Trung Quân
(1)Ở giữa rừng đâu có gương soi
Làm sao em thấy được vết bầm trên má
Chuyển tải thương về mấy lần trượt ngã
Vì mùa mưa nào đã chịu dứt ở đây
(2)Anh bộ đội thương binh vừa tỉnh lại sáng nay
Đã hỏi thăm em người cáng thương đêm trước
"Cô ấy ngã mấy lần tôi đếm được
Mà sao không khóc mới lạ lùng!".
(3)Tôi hiểu rồi em ở tấm lòng
Nước mắt chỉ dành cho người ngã xuống
Nên dù té đau, gai rừng tê chân buốt
Đâu để vết thương anh rỉ máu hai lần.
(4)Em là người thanh niên xung phong
Không có súng, chỉ có đôi vai cáng thương, tải đạn
Giữa tầm đạn thù, tấm lòng dũng cảm
Em vượt đường dài tiếp thêm lửa chiến công.
(5)Tôi thấy rồi em ơi, giữa cuộc hành quân
Niềm kiêu hãnh trong mắt em kì lạ
Trên chiếc áo bạc màu trăm miếng vá
Cô gái Việt Nam đẹp đến lạ thường.
(6) Ôi! Những bông hoa nở giữa chiến trường,
Nở rực rỡ cả hương lẫn sắc.
Nhìn vết bầm trên má em mà tôi muốn khóc
Sao em cười đôn hậu quá em ơi!
Những bông hoa trên tuyến lửa, Đỗ Trung Quân, nguồn https://scov.gov.vn/vanhocnghethuat
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Nhân vật em trong bài thơ là ai?
Câu 2. Chỉ ra hai hình ảnh mà tác giả đã thấy ở cô gái thanh niên xung phong giữa cuộc hành quân trong khổ thơ thứ (5).
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật ẩn dụ trong câu thơ sau:
Ôi! Những bông hoa nở giữa chiến trường,
Nở rực rỡ cả hương lẫn sắc.
Câu 4. Anh/Chị hãy nhận xét thái độ, tình cảm của tác giả đối với cô gái thanh niên xung phong được thể hiện trong hai câu thơ cuối:
Nhìn vết bầm trên má em mà tôi muốn khóc
Sao em cười đôn hậu quá em ơi!
Câu 5. Bài thơ Những bông hoa trên tuyến lửa gợi anh/chị suy nghĩ gì đến hiện thực chiến đấu của những người nữ thanh niên xung phong trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1.
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp của cô gái thanh niên xung phong trong đoạn thơ sau:
Em là người thanh niên xung phong
Không có súng, chỉ có đôi vai cáng thương, tải đạn
Giữa tầm đạn thù, tấm lòng dũng cảm
Em vượt đường dài tiếp thêm lửa chiến công.
(Trích Những bông hoa trên tuyến lửa, Đỗ Trung Quân)
*Chú thích: Đỗ Trung Quân sinh năm 1955 tại Sài Gòn. Các tác phẩm của Đỗ Trung Quân thể hiện ngòi bút tinh tế, giàu xúc cảm, suy tư và nội dung được thiết kế tỉ mẩn, chặt chẽ, sâu sắc. Trong các sáng tác, nhà thơ còn chắp vá những thủ pháp nghệ thuật tài tình để tạo nên sự sinh động, cuốn hút cho từng vần thơ.
Câu 2.
Theo đuổi ước mơ là con đường dẫn chúng ta đến thành công.
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/chị về việc theo đuổi ước mơ của tuổi trẻ.
----Hết----
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về nhân vật trữ tình trong thơ.
- Xác định đối tượng được nhắc tới qua các đại từ xưng hô và bối cảnh
Cách giải:
Nhân vật "em" trong bài thơ là cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ cáng thương, tải đạn trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mỹ.
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kĩ khổ thơ (5).
- Xác định trực tiếp các hình ảnh mà tác giả nhìn thấy về nhân vật "em".
Cách giải:
Hai hình ảnh mà tác giả thấy ở cô gái thanh niên xung phong trong khổ thơ thứ (5) là: niềm kiêu hãnh trong mắt em và chiếc áo bạc màu trăm miếng vá.
Câu 3:
Phương pháp:
- Nhận diện biện pháp tu từ ẩn dụ
- Phân tích tác dụng
Cách giải:
- Biện pháp nghệ thuật ẩn dụ trong câu thơ: “Ôi! Những bông hoa nở giữa chiến trường, / Nở rực rỡ cả hương lẫn sắc.”
- Tác dụng:
+ Gợi vẻ đẹp phơi phới của tuổi trẻ, vẻ đẹp tâm hồn, lòng dũng cảm, vẻ đẹp của tình yêu Tổ quốc của những cô thanh niên xung phong.
+ Sự ngợi ca, yêu mến, khâm phục của tác giả với những cô gái trẻ trung, xinh đẹp mà dũng cảm, phi thường.
+ Câu thơ giàu sức gợi hình, biểu cảm, sinh động.
Câu 4:
Phương pháp:
- Đọc – hiểu hai câu thơ cuối.
- Phân tích các yếu tố biểu cảm trực tiếp, từ đó nhận xét thái độ, tình cảm của chủ thể trữ tình
Cách giải:
- Thương yêu, xót xa, cảm phục trước những gian khổ, hi sinh của những cô gái thanh niên xung phong.
- Ngợi ca, trân trọng, tự hào về vẻ đẹp nhân hậu, về phẩm chất kiên cường bất khuất của những cô gái thanh niên xung phong.
Câu 5:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức lịch sử - xã hội về lực lượng thanh niên xung phong trong kháng chiến chống Mỹ.
- Liên hệ từ hình ảnh thơ đến hiện thực đời sống, rút ra suy nghĩ về sự hy sinh, cống hiến.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Bài thơ gợi lên hiện thực khốc liệt của những nữ thanh niên xung phong trên tuyến lửa Trường Sơn: họ ngày đêm đối mặt với bom đạn, mưa rừng, thương tích và cái chết. Công việc cáng thương, tải đạn, mở đường đầy gian nan, hy sinh. Dù vậy, họ vẫn kiên cường, dũng cảm, sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc. Đó là hiện thực hào hùng mà cũng đau thương, để lại lòng biết ơn sâu sắc trong mỗi người hôm nay.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
1. Hai câu đầu: vẻ đẹp giản dị, khiêm nhường, nghị lực vượt gian khó
+ Bút pháp tự sự; nghệ thuật đối: “không có súng” với “chỉ có đôi vai cáng thương, tải đạn”; hình ảnh hoán dụ “đôi vai cáng thương, tải đạn”; nhịp thơ ngắn dài ngắt quãng.
+ Vẻ đẹp mộc mạc, giản dị đời thường nhưng rất đỗi kiêu hùng, ngời sáng nghị lực kiên cường của người chiến sĩ cách mạng.
2. Hai câu sau: vẻ đẹp của lòng dũng cảm, tinh thần yêu nước
+ Nghệ thuật đối: hiện thực chiến tranh (Giữa tầm đạn thù) với tinh thần quả cảm (tấm lòng dũng cảm); ẩn dụ lửa: ngọn lửa nhiệt huyết, lòng yêu nước cháy bỏng.
+ Tấm lòng yêu nước, xông pha nơi bom đạn, sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc, góp sức vào chiến thắng của dân tộc.
3. Nhận xét: vẻ đẹp cô thanh niên xung phong đại diện cho thế hệ trẻ yêu nước, dù chịu nhiều gian khổ, mất mát, hy sinh nhưng họ đã tự nguyện chấp nhận, gánh vác trách nhiệm lịch sử lớn lao của thế hệ mình vì độc lập tự do của dân tộc.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Trong đoạn thơ, nhà thơ Đỗ Trung Quân đã khắc họa thành công vẻ đẹp của người nữ thanh niên xung phong. Trước hết, hai câu đầu cho thấy vẻ đẹp giản dị, khiêm nhường và nghị lực phi thường. Bằng bút pháp tự sự kết hợp nghệ thuật đối lập giữa “không có súng” và “chỉ có đôi vai cáng thương, tải đạn”, nhà thơ nhấn mạnh sự khác biệt của người nữ chiến sĩ. Họ không trực tiếp cầm súng chiến đấu nhưng lại gánh vác nhiệm vụ nặng nhọc không kém. Hình ảnh hoán dụ “đôi vai” vừa gợi sự nhỏ bé, tần tảo vừa thể hiện sức mạnh tiềm tàng, phi thường. Nhịp thơ ngắn dài ngắt quãng như chính nhịp bước chân trên những cung đường gian khó. Tất cả làm nổi bật vẻ đẹp mộc mạc, đời thường mà kiêu hùng, ngời sáng nghị lực của người chiến sĩ cách mạng. Hai câu sau tiếp tục tôn vinh vẻ đẹp của lòng dũng cảm và tinh thần yêu nước. Nghệ thuật đối giữa “giữa tầm đạn thù” là hiện thực chiến tranh khốc liệt với “tấm lòng dũng cảm” là phẩm chất cao quý bên trong đã tạo nên một bức tranh tương phản đầy xúc động. Hình ảnh ẩn dụ “lửa chiến công” gợi ngọn lửa nhiệt huyết, lòng yêu nước cháy bỏng mà cô gái tiếp thêm cho cuộc kháng chiến. Có thể thấy, cô gái thanh niên xung phong chính là đại diện tiêu biểu cho thế hệ trẻ yêu nước thời chống Mỹ. Dù phải chịu muôn vàn gian khổ, mất mát, hy sinh, họ vẫn tự nguyện gánh vác trách nhiệm lịch sử lớn lao của dân tộc, hiến dâng tuổi xuân cho độc lập, tự do của Tổ quốc.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm cá nhân về vấn đề.
2. Thân bài
2.1. Giải thích vấn đề nghị luận
+ Ước mơ: là những dự định, khát khao mà mỗi chúng ta mong muốn đạt được trong thời gian ngắn hoặc dài; là động lực để mỗi chúng ta vạch ra phương hướng đường đi để dẫn tới ước mơ.
+ Theo đuổi ước mơ: là nỗ lực, phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thử thách, bỏ sức lực, trí tuệ để có thể biến ước mơ thành hiện thực.
2.2. Thể hiện quan điểm của người viết theo một số ý sau:
+ Ước mơ có vai trò quan trọng với mỗi người, giúp chúng ta sống cuộc đời có ý nghĩa, cống hiến cho xã hội;
+ Việc theo đuổi ước mơ sẽ giúp ta đạt được mục tiêu đã đặt ra, giúp ta có cơ hội để thể hiện và khẳng định bản thân mình;
+ Nhờ theo đuổi ước mơ mà con người biết sống có kế hoạch, biết vạch sẵn ra những bước đi để biến ước mơ thành hiện thực, giảm bớt sự buồn tẻ, đơn điệu trong cuộc sống;…
2.3. Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện…
3. Kết bài
Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Tuổi trẻ là mùa xuân của đời người, là khoảng thời gian đẹp nhất để nuôi dưỡng những khát khao, hoài bão lớn lao. Bàn về hành trình chinh phục những ước mơ ấy, có ý kiến cho rằng: “Theo đuổi ước mơ là con đường dẫn chúng ta đến thành công”. Đây quả là một nhận định đúng đắn và sâu sắc, bởi lẽ ước mơ chính là ngọn lửa soi đường, còn sự theo đuổi không mệt mỏi chính là chiếc chìa khóa vàng mở cánh cửa thành công.
Trước hết, cần hiểu rõ thế nào là ước mơ và thế nào là theo đuổi ước mơ. Ước mơ là những dự định, những khát khao cháy bỏng mà mỗi người mong muốn đạt được trong tương lai, có thể là ngắn hạn hoặc dài hạn. Nó giống như ngọn hải đăng giữa đại dương mênh mông, là động lực để chúng ta vạch ra phương hướng, lộ trình cho cuộc đời mình. Theo đuổi ước mơ là cả một quá trình nỗ lực, phấn đấu không ngừng nghỉ, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, dồn hết sức lực và trí tuệ để biến những điều viển vông, xa vời thành hiện thực.
Tại sao theo đuổi ước mơ lại là con đường dẫn đến thành công? Trước hết, ước mơ có vai trò vô cùng quan trọng với mỗi người. Một cuộc đời không có ước mơ giống như con tàu lênh đênh trên biển mà không có la bàn, sẽ sớm chìm nghỉm trong sự nhàm chán, vô vị. Ước mơ giúp chúng ta sống một cuộc đời có ý nghĩa, biết mình sống vì điều gì, cống hiến cho xã hội ra sao. Thứ hai, việc theo đuổi ước mơ sẽ giúp ta đạt được những mục tiêu đã đề ra. Trên hành trình ấy, mỗi bước tiến dù nhỏ cũng đưa ta đến gần hơn với thành công. Đồng thời, quá trình vượt qua thử thách để biến ước mơ thành hiện thực chính là cơ hội để ta thể hiện, khẳng định bản thân, bộc lộ những tố chất, năng lực tiềm ẩn mà đôi khi chính mình cũng không ngờ tới. Thứ ba, nhờ có ước mơ và khát khao theo đuổi nó, con người biết sống có kế hoạch hơn. Họ sẽ vạch ra những bước đi cụ thể, phân bổ thời gian, sức lực hợp lý để từng ngày hoàn thiện mình. Cuộc sống từ đó trở nên thú vị, sôi nổi thay vì buồn tẻ, đơn điệu. Chẳng cần đi đâu xa, chúng ta có thể thấy hình ảnh của những tấm gương như thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký, dù bị liệt cả hai tay vẫn nuôi ước mơ cầm bút, bằng nghị lực phi thường ông đã trở thành nhà giáo ưu tú, viết nên những dòng chữ đẹp đẽ bằng chân. Hay như nhà bác học Thomas Edison, ông đã thất bại hàng nghìn lần trước khi phát minh ra bóng đèn sợi đốt, nhưng chính việc kiên trì theo đuổi ước mơ mang ánh sáng đến nhân loại đã đưa tên tuổi ông vào lịch sử.
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện. Không phải cứ lao vào theo đuổi bất cứ ước mơ nào cũng dẫn đến thành công. Nếu ước mơ đó quá viển vông, xa rời thực tế, không phù hợp với năng lực bản thân và điều kiện hoàn cảnh, thì hành trình theo đuổi sẽ chỉ là lãng phí thời gian và công sức. Bên cạnh đó, con đường đến với ước mơ chưa bao giờ trải đầy hoa hồng. Nó đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ và cả những thất bại, mất mát. Nhiều người đã bỏ cuộc giữa chừng vì không đủ bản lĩnh để vượt qua thử thách, hoặc để những lời gièm pha, nghi ngờ của người đời làm lung lay ý chí.
Tóm lại, việc theo đuổi ước mơ thực sự là con đường dẫn lối đến thành công, miễn là chúng ta có một ước mơ chính đáng, một kế hoạch hành động cụ thể và một trái tim đủ mạnh mẽ để vượt qua sóng gió. Là một học sinh, tôi nhận thức sâu sắc rằng tuổi trẻ không thể sống mà thiếu đi những khát vọng. Ngay từ hôm nay, tôi sẽ nuôi dưỡng cho mình một ước mơ đẹp, xây dựng lộ trình học tập và rèn luyện nghiêm túc, bởi tôi tin rằng mỗi bước chân trên hành trình chinh phục ước mơ sẽ là một bước tôi tiến gần hơn đến phiên bản tốt nhất của chính mình, và đến với thành công.
Đề thi học kì 2 Văn 12 Cánh diều - Đề số 8
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Đọc bài thơ:
GỬI MẸ
(Bình Nguyên Trang)
Tha thứ cho con, mẹ
Con đã quên lời mẹ ân cần
Con nhầm tưởng mình đã biết dại khôn
Con nhầm tưởng mình không là đứa trẻ
Trăm năm thèm tiếng vỗ về
Mẹ đừng im lặng thế
Mẹ đừng xa xót thế
Sao mẹ không mắng con
Con đã đánh mất quyền được làm đứa trẻ
Quyền được sợ chiếc roi tre mẹ giắt ở mái nhà
Con nào có gì sau năm tháng đi xa
Chỉ đôi tay đã bầm nhiều vết cứa
Chỉ đôi mắt dửng dưng tàn tro bếp lửa
Tiếng thở dài trong mỗi bước chân qua
Con không giàu hơn sau năm tháng xa nhà
Nước mắt cũng nghèo đi
Niềm tin cũng nghèo đi
Và hạnh phúc là cánh diều ảo ảnh
Mẹ ơi, con thèm được khóc
Thèm được mẹ dỗ dành
Mẹ cầm lấy chiếc roi tre đi mẹ
May ra con còn nước mắt
Con chưa lớn đó chính là sự thật
Tha thứ cho con, mẹ
Con đã mang trái tim mẹ trong lồng ngực con đi
Và thương tổn
Con biết làm gì bây giờ
Khi máu chảy đã lạnh lùng sắc đỏ
Mẹ đừng im lặng thế
Mẹ đừng xa xót thế
Mẹ cầm lấy chiếc roi tre đi mẹ...
(11-3-1998)
(https://www.thivien.net/Bình Nguyên Trang)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định nhân vật trữ tình trong bài thơ.
Câu 2. Người con trong bài thơ nhận ra mình đã nhầm tưởng điều gì?
Câu 3. Trình bày hiệu quả của biện pháp tu từ điệp cấu trúc trong đoạn thơ sau:
Mẹ đừng im lặng thế
Mẹ đừng xa xót thế
Mẹ cầm lấy chiếc roi tre đi mẹ…
Câu 4. Anh/chị hiểu nội dung các dòng thơ sau như thế nào?
Mẹ ơi, con thèm được khóc
Thèm được mẹ dỗ dành
Mẹ cầm lấy chiếc roi tre đi mẹ
Câu 5. Hai ngữ liệu sau đây có sự tương đồng nào về ý nghĩa?
- Mẹ cầm lấy chiếc roi tre đi mẹ
May ra con còn nước mắt
Con chưa lớn đó chính là sự thật
(Gửi mẹ - Bình Nguyên Trang)
- Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con
(Con cò - Chế Lan Viên)
II. VIẾT
Câu 1.
Anh/Chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích sự vận động cảm xúc của nhân vật trữ tình trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2.
Chia sẻ thành tích và cuộc sống cá nhân lên mạng xã hội là một trong những cách các bạn trẻ dùng để truyền động lực cho người khác. Tuy nhiên cũng có những lo ngại việc này sẽ khiến họ rơi vào cạm bẫy của thế giới ảo.
Từ góc nhìn của bản thân, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề trên.
......................................HẾT......................................
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Đọc kĩ văn bản để xác định nhân vật trữ tình
- Dựa vào đại từ xưng hô chủ đạo trong bài thơ để xác định.
Cách giải:
Nhân vật trữ tình trong bài thơ: Người con
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kĩ khổ thơ đầu, tìm cụm từ “con nhầm tưởng” để phát hiện trực tiếp nội dung sự nhầm tưởng.
Cách giải:
Người con trong bài thơ nhận ra mình đã nhầm tưởng: mình đã biết dại khôn; mình đã không còn là đứa trẻ.
Câu 3:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ điệp cấu trúc
- Chỉ ra biểu hiện và phân tích tác dụng
Cách giải:
- Biện pháp tu từ điệp cấu trúc: Mẹ đừng…/ Mẹ đừng…/Mẹ…
- Hiệu quả:
+ Tạo âm hưởng tha thiết, khẩn cầu, day dứt.
+ Nhấn mạnh sự sợ hãi, lo lắng của người con trước thái độ im lặng, xa xót của mẹ
+ Thể hiện khát khao của người con về sự quan tâm, chỉ dạy của mẹ.
Câu 4:
Phương pháp:
- Đặt các chi tiết trong mạch cảm xúc chung của bài thơ (sự hối hận, khát khao trở về tuổi thơ).
- Phân tích ý nghĩa của đoạn thơ
Cách giải:
- Những dòng thơ thể hiện niềm khao khát được trở về với mẹ, “thèm được khóc”, “thèm được dỗ dành”, muốn được mẹ vỗ về, an ủi, muốn nhận được sự quan tâm dạy dỗ của mẹ.
- Đoạn thơ là lời nhắn gửi dù lớn bao nhiêu, dù đi bao xa, mẹ vẫn là điểm tựa bình yên, là bến bờ nương náu an lành nhất của mỗi người.
Câu 5:
Phương pháp:
- Xác định ý nghĩa cốt lõi của từng ngữ liệu, sau đó tìm điểm giao thoa.
Cách giải:
Điểm tương đồng:
- Thể hiện nhận thức của người con: con dù lớn đến đâu cũng vẫn luôn nhỏ bé trong mắt mẹ, vẫn cần được mẹ quan tâm, dạy bảo, vẫn nhận tình yêu thương của mẹ.
- Ý nghĩa thiêng liêng của tình mẫu tử: mẹ luôn là điểm tựa, là nơi chốn bình yên của con.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
1. Phân tích được sự vận động cảm xúc của nhân vật trữ tình qua các dẫn chứng lấy từ văn bản đọc hiểu
+ Nỗi ân hận và tự trách (Tha thứ cho con, mẹ/ Con đã quên.../Con nhầm tưởng...
+ Nỗi cô đơn, trống trải khi xa mẹ, khi những năm tháng trưởng thành phải đánh đổi bằng những mất mát, xót xa (Con nào có gì sau năm tháng đi xa...Con không có gì...)
+ Khát khao được trở về, được mẹ yêu thương (Mẹ ơi, con thèm được khóc/
Thèm được mẹ dỗ dành...)
+ Day dứt và cầu xin tha thứ (“Tha thứ cho con, mẹ…/ Mẹ đừng im lặng thế…”
2. Đánh giá về cảm xúc của nhân vật trữ tình
+ Cảm xúc chân thành, tha thiết, gửi gắm thông điệp tính nhân văn: dù đi đâu, trưởng thành thế nào con vẫn cần có mẹ, cần một vòng tay để được yêu thương, che chở; giọng thơ tâm tình, hình ảnh thơ giản dị, giàu sức gợi..
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Bài thơ “Gửi mẹ” của Bình Nguyên Trang là một dòng chảy cảm xúc đầy ám ảnh của người con khi đối diện với lỗi lầm và nỗi nhớ mẹ da diết. Sự vận động cảm xúc ấy diễn ra theo chiều hướng từ hối hận, tự trách đến khát khao được trở về với vòng tay mẹ, rồi kết thúc bằng sự cầu xin tha thứ day dứt. Mở đầu, người con bộc lộ sự ân hận tột cùng khi nhận ra mình đã “quên lời mẹ ân cần”, đã “nhầm tưởng” mình khôn lớn để rồi bỏ đi xa. Tiếp đến, qua những hình ảnh “đôi tay bầm vết cứa”, “đôi mắt dửng dưng”, “nước mắt nghèo đi”, cảm xúc chuyển sang nỗi cô đơn, trống vắng và sự bạc bẽo của những tháng ngày trưởng thành giả tạo. Đỉnh điểm của sự vận động là khát khao cháy bỏng được trở về làm đứa trẻ: “thèm được khóc”, “thèm được mẹ dỗ dành”. Người con thậm chí van xin mẹ “cầm lấy chiếc roi tre” để mắng mỏ, bởi với anh lúc này, được mẹ phạt còn hạnh phúc hơn sự im lặng của mẹ. Cuối cùng, cảm xúc lắng đọng trong lời cầu xin tha thứ nghẹn ngào: “Tha thứ cho con, mẹ”. Như vậy, mạch cảm xúc trong bài thơ đã đi từ sai lầm, nhận thức, khát khao đến sám hối, vẽ nên một bức chân dung tâm hồn đầy chân thực và xúc động về tình mẫu tử.
Câu 2:
Phương pháp:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
* Thân bài:
1. Giải thích được vấn đề nghị luận
+ “Đăng tải thành tích và cuộc sống cá nhân”: chia sẻ điểm số, công việc, hình ảnh, phong cách sống, thành tựu học tập – nghề nghiệp, vlog, cuộc sống thường ngày.
+ “Truyền động lực”: lan tỏa năng lượng tích cực, cổ vũ người khác cố gắng.
+ “Cạm bẫy của thế giới ảo”: ảo tưởng về giá trị bản thân, sống vì sự công nhận, áp lực so sánh, lệch lạc trong nhận thức về thành công – hạnh phúc.
=> Vấn đề cần nghị luận: Tác động tích cực và tiêu cực của việc đăng tải thành tích và cuộc sống cá nhân lên mạng xã hội.
2. Phân tích, chứng minh được vấn đề nghị luận
- Tác động tích cực của việc chia sẻ thành tích cá nhân.
+ Xây dựng hình ảnh đẹp của cá nhân mình, tạo ấn tượng tốt trong mắt mọi người, có cơ hội tìm kiếm công việc và phát triển bản thân; ghi dấu quá trình trưởng thành và tạo mục tiêu mới cho mình.
+ Lan tỏa cảm hứng và truyền động động lực cho người khác, giúp người khác có động lực để cố gắng; những câu chuyện thật giúp cộng đồng hiểu nhau và hỗ trợ nhau
+ Tạo bức tranh lạc quan trên không gian mạng và cho xã hội.
- Chia sẻ thành công
+ Dễ dẫn đến khoe khoang, chạy theo hình thức, cuộc sống bị chi phối và lệ thuộc hoàn toàn vào lời khen chê trên mạng; đánh mất sự riêng tư, dễ lộ thông tin cá nhân.
+ Áp lực so sánh và tự ti, cảm giác mình thất bại, kém cỏi.
+ Biến thành “flex” trá hình: Thành tích bị phóng đại, mất đi tính chân thật; tạo “tiêu chuẩn giả” trên mạng.
- Cần làm gì để việc đăng tải thành tích cá nhân có ý nghĩa tích cực với bản thân và cộng đồng:
+ Chia sẻ thành tích có chọn lọc, chân thực, hướng tới giá trị tốt đẹp
+ Giữ thái độ tỉnh táo với mạng xã hội
+ Phát triển bản ngã vững vàng, biết lắng nghe, biết thay đổi tích cực.
3. Mở rộng, phản biện:
+ Không phải việc đăng tải thành tích nào cũng tiêu cực. Vấn đề nằm ở cách người trẻ sử dụng mạng xã hội: tỉnh táo hay chạy theo hào nhoáng?
+ Từ vấn đề cần nghị luận giúp con người có những nhận thức, hành động đúng đắn: nhận thức đúng về bản chất, giá trị của bản thân; có những hành động phù hợp, đúng mực góp phần tạo những giá trị chân chính cho bản thân và cho cộng đồng.
* Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận.
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Ngày nay, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của giới trẻ. Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, chúng ta có thể dễ dàng đăng tải những thành tích, khoảnh khắc đời thường lên Facebook, Instagram hay TikTok. Nhiều người cho rằng việc làm ấy giúp lan tỏa năng lượng tích cực và truyền động lực cho người khác. Thế nhưng, cũng không ít ý kiến lo ngại rằng đây chính là “cạm bẫy” khiến giới trẻ đánh mất chính mình trong thế giới ảo. Vậy đâu là cách nhìn đúng đắn trước vấn đề này?
Trước hết, cần hiểu rõ những khái niệm xoay quanh vấn đề. “Đăng tải thành tích và cuộc sống cá nhân” là hành động chia sẻ những điều như điểm số, thành tựu học tập, công việc, hình ảnh, vlog hay phong cách sống lên mạng xã hội. Khi làm vậy, nhiều người mong muốn “truyền động lực” tức là lan tỏa năng lượng tích cực, cổ vũ người khác cố gắng vươn lên. Tuy nhiên, mặt trái của nó chính là “cạm bẫy của thế giới ảo” khiến người trẻ dễ rơi vào ảo tưởng về giá trị bản thân, sống chỉ để được công nhận, chịu áp lực so sánh và có những nhận thức lệch lạc về thành công,hạnh phúc.
Không thể phủ nhận rằng việc chia sẻ thành tích mang lại nhiều tác động tích cực. Thứ nhất, nó giúp xây dựng hình ảnh cá nhân tốt đẹp, tạo ấn tượng với mọi người, từ đó mở ra cơ hội việc làm và phát triển bản thân. Thứ hai, những câu chuyện thật về sự nỗ lực có thể tiếp thêm động lực mạnh mẽ cho người khác. Chẳng hạn, Nguyễn Ngọc Mỹ Tâm là một nữ sinh từng đỗ thủ khoa nhiều trường đại học, em đã chia sẻ hành trình học tập đầy gian nan của mình, và câu chuyện ấy đã tiếp lửa cho hàng nghìn bạn trẻ khác. Thứ ba, những hình ảnh đẹp, lạc quan trên mạng xã hội góp phần tạo nên một cộng đồng hỗ trợ và thấu hiểu lẫn nhau.
Tuy nhiên, không thể chủ quan trước những “cạm bẫy” tiềm ẩn. Khi việc chia sẻ trở nên thái quá, nó dễ biến thành khoe khoang, chạy theo hình thức. Nhiều bạn trẻ hiện nay rơi vào “hội chứng ảo” khi cuộc sống bị chi phối hoàn toàn bởi lượt thích và bình luận. Điển hình là trào lưu “flex” thành tích một cách phi thực tế. Đã có không ít trường hợp dàn dựng cuộc sống xa hoa, sang chảnh chỉ để câu view, câu like, hậu quả là đánh mất chính mình và sự riêng tư. Không chỉ vậy, việc nhìn ngắm những “thành tích ảo” của người khác còn tạo ra áp lực so sánh khổng lồ, khiến nhiều người cảm thấy tự ti, thất bại, kém cỏi. Dần dần, những “tiêu chuẩn giả” trên mạng làm lệch lạc nhận thức của giới trẻ về thế nào mới là thành công, thế nào mới là hạnh phúc.
Vậy cần làm gì để việc đăng tải thành tích thực sự có ý nghĩa? Theo em, mỗi người cần chia sẻ một cách có chọn lọc, chân thực và hướng đến những giá trị tốt đẹp. Quan trọng nhất là phải giữ thái độ tỉnh táo, không để mạng xã hội chi phối cảm xúc. Đồng thời, hãy xây dựng một bản ngã vững vàng, biết lắng nghe và thay đổi tích cực, bởi giá trị của một con người không đến từ những con số ảo mà đến từ những gì ta thực sự làm được trong đời.
Tất nhiên, không phải mọi việc đăng tải thành tích đều tiêu cực. Vấn đề cốt lõi nằm ở cách mỗi người sử dụng mạng xã hội: tỉnh táo hay chạy theo hào nhoáng? Từ góc nhìn này, mỗi học sinh chúng ta cần nhận thức đúng về bản chất và giá trị thật của bản thân, từ đó có những hành động phù hợp, góp phần tạo nên những giá trị chân chính cho chính mình và cộng đồng.
Tóm lại, việc đăng tải thành tích và cuộc sống cá nhân trên mạng xã hội giống như một con dao hai lưỡi. Nếu biết sử dụng tỉnh táo và chân thật, nó sẽ là cánh tay nối dài để lan tỏa yêu thương và cảm hứng. Ngược lại, nó có thể trở thành chiếc bẫy ngọt ngào, đưa ta vào thế giới ảo mộng và đánh mất chính mình. Hãy là người dùng mạng thông thái, để mạng xã hội thực sự là công cụ phục vụ cuộc sống, bởi hạnh phúc đích thực không nằm ở những con số ảo, mà nằm ở những giá trị thật ta tạo ra và yêu thương mỗi ngày.
Đề thi học kì 2 Văn 12 Cánh diều - Đề số 9
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
BÀI CA TRƯỜNG SƠN
(1) Trường Sơn! Đường ta qua chưa một dấu chân người
Chú nai vàng nghiêng đôi tai ngơ ngác
Dừng ở lưng đèo nghe suối hát
Ngắt đóa hoa rừng gài lên mũ, ta đi!
(2) Trường Sơn! Đèo vút cao vượt trên mây gió
Đạp nát đá tai mèo bằng sức pháo ngàn cân
Đi ta đi những trai làng Phù Đổng
- Gì vui hơn đường ra trận mùa xuân!
(3) Ôi những vì sao thức cùng ta đêm đêm không mỏi
Như mắt em mang trọn niềm tin yêu chờ đợi
Như hải đăng vời vợi ngàn trùng
Giục lòng ta vượt Trường Sơn đi luyện chí anh hùng.
(Trích Bài ca Trường Sơn, Gia Dũng, in trong Thơ Việt Nam 1945-2000, NXB Bản đồ, 2001, tr.270)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2. Chỉ ra những hình ảnh thiên nhiên Trường Sơn được khắc họa trong khổ thơ (1).
Câu 3. Nêu nội dung của hai câu thơ sau:
Đi ta đi những trai làng Phù Đổng
- Gì vui hơn đường ra trận mùa xuân!
Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp so sánh được sử dụng trong khổ thơ (3).
Câu 5. Hình ảnh những trai làng Phù Đổng trong văn bản gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về trách nhiệm của thanh niên trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc (trình bày khoảng 5-7 dòng).
II. VIẾT
Câu 1.
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) cảm nhận hình tượng người lính Trường Sơn được thể hiện trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2.
Từ kết quả đọc hiểu văn bản Bài ca Trường Sơn và những hiểu biết về thực tiễn cuộc sống, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) với chủ đề: tuổi trẻ và tinh thần lạc quan trong cuộc sống.
-----------------------HẾT-----------------------
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về các thể thơ
- Căn cứ vào các đặc điểm: số chữ mỗi dòng, gieo vần, ngắt nhịp,...
Cách giải:
Thể thơ: Tự do
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kỹ khổ thơ (1).
- Xác định các từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng thuộc về thiên nhiên
Cách giải:
Các hình ảnh chỉ thiên nhiên Trường Sơn được khắc hoạ trong khổ thơ (1): chú nai vàng, lưng đèo, suối, đóa hoa rừng.
Câu 3:
Phương pháp:
- Phân tích tâm trạng, cảm xúc: niềm vui, sự lạc quan, tự hào.
- Liên hệ bối cảnh: chiến tranh chống Mỹ, đường Trường Sơn.
Cách giải:
- Câu thơ thể hiện tâm trạng vui vẻ, lạc quan của người lính Trường Sơn trên con đường ra trận cứu nước.
- Qua hai câu thơ ta thấy niềm tự hào của tác giả dành cho người lính Trường Sơn.
Câu 4:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về các biện pháp tu từ
- Phân tích tác dụng
Cách giải:
- Biện pháp tu từ so sánh: những vì sao được ví với mắt em, hải đăng.
- Tác dụng:
+ Giúp cho việc diễn đạt thêm gợi hình, gợi cảm, sinh động, hấp dẫn;
+ Nhấn mạnh tình yêu lứa đôi, tình yêu quê hương đã tiếp thêm niềm tin, động lực cho người chiến sĩ trên con đường ra trận;
+ Bày tỏ sự cảm phục, yêu mến của tác giả đối với bộ đội Trường Sơn.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý: Từ những hình ảnh những trai làng Phù Đổng trong văn bản gợi cho học sinh suy nghĩ gì về trách nhiệm của thanh niên trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Có thể theo hướng sau:
- Hình ảnh những trai làng Phù Đổng trong văn bản trên tiêu biểu cho thế hệ thanh niên ra trận cứu nước trong chiến tranh. Họ dũng cảm, kiên cường, giàu lí tưởng và luôn lạc quan hướng về tương lai phía trước.
- Thế hệ trẻ ngày nay sống trong hoà bình, đặc biệt khi bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc cần tiên phong trong học tập, lao động, đổi mới, sáng tạo để góp phần phát triển văn hoá, kinh tế, xã hội…của đất nước sáng ngang với thế giới.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Hình ảnh “những trai làng Phù Đổng” là biểu tượng của thanh niên yêu nước, dũng cảm, sẵn sàng ra trận khi Tổ quốc cần. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, thanh niên hôm nay cũng mang tinh thần ấy nhưng trên mặt trận mới: đó là trách nhiệm tiên phong trong học tập, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, bảo vệ chủ quyền số và hội nhập quốc tế. Sống có lý tưởng, không ngừng vươn lên, biến khát vọng thành hành động cụ thể để góp phần xây dựng đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
1. Phân tích được những đặc điểm của người lính Trường Sơn qua những bằng chứng dẫn từ văn bản đọc hiểu
+ Tinh thần tiên phong, dũng cảm, kiên cường, bền bỉ trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên, của chiến tranh.
+ Tâm hồn lãng mạn, lạc quan, yêu đời trên đường ra trận.
+ Lý tưởng cao đẹp, khát vọng sống có ý nghĩa, tình yêu đôi lứa là động lực chiến đấu và chiến thắng.
2. Đánh giá được hình ảnh người lính Trường Sơn
- Người lính Trường Sơn trong văn bản tiêu biểu cho phẩm chất của người lính Việt Nam trong công cuộc chống Mĩ cứu nước,được cảm nhận qua lòng tự hào, ngợi ca, ngưỡng mộ của nhân vật trữ tình.
- Hình tượng người lính được khắc họa thông qua: thể thơ tự do, nhịp điệu linh hoạt, ngôn ngữ giàu hình ảnh, biện pháp tu từ đặc sắc như: phép điệp, so sánh, ẩn dụ.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Trong đoạn trích "Bài ca Trường Sơn" của nhà thơ Gia Dũng, hình tượng người lính Trường Sơn hiện lên với những phẩm chất thật cao đẹp và đáng tự hào. Trước hết, họ là những con người tiên phong, dũng cảm và kiên cường. Họ băng qua rừng già "chưa một dấu chân người", vượt "đèo vút cao trên mây gió", "đạp nát đá tai mèo bằng sức pháo ngàn cân". Những hình ảnh mạnh mẽ ấy đã khắc họa rõ nét ý chí bền bỉ, không lùi bước trước thiên nhiên khắc nghiệt và bom đạn chiến tranh. Không chỉ có tinh thần thép, người lính Trường Sơn còn mang một tâm hồn lãng mạn, lạc quan và yêu đời. Họ vẫn ung dung ngắt "đóa hoa rừng gài lên mũ" trên đường ra trận và tự hào cất lên câu thơ đầy phấn khởi: "Gì vui hơn đường ra trận mùa xuân". Hơn thế nữa, lý tưởng chiến đấu của họ còn được nâng đỡ bởi tình yêu đôi lứa thiêng liêng. Những vì sao đêm đêm thức cùng người lính như "mắt em" mang trọn niềm tin yêu, như "hải đăng" vời vợi giục lòng "vượt Trường Sơn đi luyện chí anh hùng". Có thể thấy, bằng thể thơ tự do với nhịp điệu linh hoạt, ngôn ngữ giàu hình ảnh cùng các biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ đặc sắc, nhà thơ Gia Dũng đã khắc họa thành công hình tượng người lính vừa kiên trung, anh dũng vừa hào hoa, lãng mạn. Đó thực sự là niềm tự hào và sự ngợi ca sâu sắc mà tác giả dành cho thế hệ trẻ đã làm nên huyền thoại Trường Sơn bất tử.
Câu 2:
Phương pháp:
l. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận xã hội
- Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghị luận.
- Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận.
2. Giải thích được vấn đề nghị luận
- Tuổi trẻ là giai đoạn tươi đẹp nhất trong cuộc đời con người, thường được hiểu là quãng thời gian từ khi bước vào tuổi trưởng thành cho đến khoảng ba mươi tuổi. Đây là thời kỳ con người có sức khỏe dồi dào, trí tuệ phát triển, tâm hồn tràn đầy nhiệt huyết, ước mơ và khát vọng vươn lên.
- Lạc quan là thái độ sống tích cực, luôn hướng tới những điều tốt đẹp trong cuộc sống
3. Phân tích, chứng minh được vấn đề nghị luận
+ Tinh thần lạc quan đem lại sức mạnh để người trẻ thêm tự tin vào chính mình, mạnh mẽ đối mặt với những khó khăn của cuộc đời.
+ Thái độ sống lạc quan sẽ giúp người trẻ có cách nhìn sáng suốt, hành động đúng đắn, tích cực, mang lại nhiều cơ hội, đạt được thành công trong cuộc sống.
+ Tinh thần lạc quan của tuổi trẻ sẽ tạo động lực để xây dựng xã hội văn minh, hạnh phúc hơn.
4. Mở rộng nâng cao vấn đề nghị luận và rút ra bài học
- Mở rộng nâng cao vấn đề:
+ Phê phán những người có lối sống tiêu cực, thường xuyên bi quan, chán nản, tuyệt vọng.
+ Đối thoại với những ý kiến trái chiều.
- Rút ra bài học: Cần nhận thức được ý nghĩa của tinh thần lạc quan trong cuộc sống. Để có được sự lạc quan, chúng ta cần biết quý trọng những gì đang có; nuôi dưỡng những suy nghĩ tích cực; luôn hướng tới tương lai;…
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Tuổi trẻ là mùa xuân của đời người, là khoảng thời gian tươi đẹp nhất với biết bao hoài bão và khát vọng. Trên hành trình chinh phục ước mơ, bên cạnh tri thức và kỹ năng, tuổi trẻ cần có một hành trang tinh thần vô giá, đó là tinh thần lạc quan. Vậy lạc quan là gì và vì sao nó lại quan trọng với tuổi trẻ đến vậy?
Trước hết, cần hiểu rõ những khái niệm cốt lõi của vấn đề. Tuổi trẻ là giai đoạn đẹp nhất trong cuộc đời mỗi con người, thường được hiểu là quãng thời gian từ khi bước vào tuổi trưởng thành cho đến khoảng ba mươi tuổi. Đây là thời kỳ con người có sức khỏe dồi dào, trí tuệ phát triển và tâm hồn tràn đầy nhiệt huyết, ước mơ cùng khát vọng vươn lên. Còn lạc quan là thái độ sống tích cực, luôn hướng tới những điều tốt đẹp trong cuộc sống, ngay cả khi đối diện với khó khăn hay thất bại. Khi tuổi trẻ kết hợp với tinh thần lạc quan, đó sẽ là một sức mạnh vô biên.
Tinh thần lạc quan đem lại cho tuổi trẻ rất nhiều lợi ích thiết thực. Trước hết, lạc quan tiếp thêm sức mạnh để người trẻ tự tin vào chính mình, mạnh mẽ đối mặt với những khó khăn, thử thách của cuộc đời. Khi gặp thất bại trong học tập hay thi cử, thay vì gục ngã, người lạc quan sẽ nhìn nhận đó là bài học quý giá để trưởng thành. Hơn nữa, thái độ sống lạc quan còn giúp tuổi trẻ có cái nhìn sáng suốt, từ đó có những hành động đúng đắn và tích cực, mở ra nhiều cơ hội và dẫn đến thành công. Rất nhiều doanh nhân trẻ thành đạt đã từng trải qua thất bại nhưng chính sự lạc quan đã giúp họ đứng dậy và gặt hái thành quả. Không chỉ dừng lại ở lợi ích cá nhân, tinh thần lạc quan của tuổi trẻ còn tạo động lực mạnh mẽ để xây dựng một xã hội văn minh, hạnh phúc và tiến bộ hơn. Một thế hệ trẻ lạc quan, năng động sẽ là nguồn cơn của những đổi thay tích cực cho cộng đồng. Chẳng hạn, ca sĩ Sơn Tùng M.TP từng trải qua những ngày tháng khó khăn khi bị nghi ngờ về tài năng, thậm chí bị tẩy chay trong một cuộc thi âm nhạc. Thế nhưng, bằng niềm tin vào bản thân và thái độ lạc quan, không ngừng sáng tạo, anh đã vươn lên trở thành một trong những nghệ sĩ trẻ thành công nhất Việt Nam, truyền cảm hứng cho hàng triệu bạn trẻ dám theo đuổi đam mê.
Tuy nhiên, bên cạnh những tấm gương sáng, vẫn còn một bộ phận giới trẻ có lối sống tiêu cực, thường xuyên bi quan, chán nản và dễ dàng tuyệt vọng trước những khó khăn dù rất nhỏ. Lối sống ấy không chỉ làm hỏng tương lai của chính họ mà còn ảnh hưởng xấu đến những người xung quanh. Một số ý kiến cho rằng lạc quan chỉ là sự viển vông, không thực tế. Nhưng thực chất, lạc quan chân chính không phải là ảo tưởng hay chủ quan, mà là dám nhìn thẳng vào khó khăn và vẫn tin tưởng vào khả năng vượt qua của bản thân.
Như vậy, mỗi người trẻ cần nhận thức sâu sắc ý nghĩa của tinh thần lạc quan trong cuộc sống. Để có được sự lạc quan, chúng ta hãy học cách quý trọng những gì đang có, nuôi dưỡng những suy nghĩ tích cực mỗi ngày và luôn hướng về tương lai với một trái tim đầy hy vọng. Tuổi trẻ chỉ đến một lần, hãy sống với tinh thần lạc quan để biến những thử thách thành cơ hội và viết nên những câu chuyện thành công của riêng mình.
Đề thi học kì 2 Văn 12 Cánh diều - Đề số 10
Đề thi
PHẦN I: ĐỌC - HIỂU
Đọc văn bản sau:
Cảm nghĩ trước tượng đài
Bùi Việt Phương
Vội vã bỏ những chân trời xa ngái
Tôi lặng im đứng trước tượng đài
Nơi đây hóa một miền tinh khôi nhất
Chỉ mây trắng tìm thấy tuổi hai mươi
Người lính nào khoác súng lên vai
Cũng nhớ lúc thõng tay khua liềm, gặt lúa
Con tép, quả cà, quạt mo, cối đá
Giờ này xa lắm
Đo bằng đòn gánh mẹ sải bước đê quai
Nghe nói làng mình
Đã vót nhọn thân tre đánh giặc
Chỉ một tiếng gà, sừng sững hậu phương
Chỉ một giờ sau súng nổ khắp chiến trường
Mỗi hòn đá, cái cây thành cột mốc
Người ngã xuống rồi hòn đất có tên
Cao điểm này dũng cảm
Cao điểm kia anh hùng
Mẹ thương anh, vẫn chưa tìm thấy mộ
Mẹ thắp hương, khấn xuôi theo ngọn gió
Khấn rằng:
Ai cũng là da thịt
Ai cũng có quê hương
Nhưng đã hi sinh
Đều hóa đá xây thành trì đất nước...
(Cảm nghĩ trước tượng đài - Bùi Việt Phương, Tạp chí Văn nghệ Quân đội,
http://vannghequandoi.com.vn, truy cập ngày 24/10/2024)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2. Những chi tiết, hình ảnh nào trong bài thơ gợi về cảnh làng quê yên bình, thân thuộc?
Câu 3. Trình bày hiệu quả của việc sử dụng biện pháp tu từ điệp cấu trúc trong đoạn sau:
Mỗi hòn đá, cái cây thành cột mốc
Người ngã xuống rồi hòn đất có tên
Cao điểm này dũng cảm
Cao điểm kia anh hùng
Câu 4. Nêu sự vận động cảm xúc của nhân vật trữ tình trong đoạn trích.
Câu 5. Từ tâm trạng của nhân vật trữ tình khi đứng trước tượng đài các anh hùng liệt sĩ, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của những bức tượng đài trên quê hương.
PHẦN 2: VIẾT
Câu 1. Từ nội dung ở phần Đọc hiểu, em hãy viết đoạn văn nghị luận 200 chữ về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với nền hòa bình độc lập của dân tộc.
Câu 2. Anh (chị) hãy viết bài văn khoảng 600 chữ phân tích truyện ngắn HẠ ĐỎ của Nguyễn Nhật Ánh.
Mùa hè năm đó là mùa hè quê ngoại. Cuối năm lớp chín, tôi học bù đầu, người xanh như tàu lá. Ngày nào mẹ tôi cũng mua bí đỏ về nấu canh cho tôi ăn. Mẹ bảo bí đỏ bổ óc, ăn vào học bài sẽ mau thuộc. Trước nay, tôi vốn thích món này. Bí đỏ nấu với đậu phộng thêm vài cọng rau om, ngon hết biết. Nhưng ngày nào cũng phải buộc ăn món đó, tôi đâm ngán. Hơn nữa, dù dạ dày tôi bấy giờ tuyền một màu đỏ, trí nhớ tôi vẫn chẳng khá lên chút nào. Tôi học trước quên sau, học sau quên trước. Vì vậy tôi phải học gấp đôi những đứa khác.
Tối, tôi thức khuya lơ khuya lắc. Sáng, tôi dậy từ lúc trời còn tờ mờ. Mắt tôi lúc nào cũng đỏ kè. Ba tôi bảo:
- Nhất định đầu thằng Chương bị hở một chỗ nào đó. Chữ nghĩa đổ vô bao nhiêu rớt ra bấy nhiêu. Thế nào sang năm cũng phải hàn lại.
Mẹ tôi khác ba tôi. Mẹ không phải là đàn ông. Mẹ không nỡ bông phèng trước thân hình còm nhom của tôi. Mẹ xích lại gần tôi, đưa tay nắn nắn khớp xương đang lồi ra trên vai tôi, bùi ngùi nói :
- Mày học hành cách sao mà càng ngày mày càng giống con mắm vậy Chương ơi !
Giọng mẹ tôi như một lời than. Tôi mỉm cười trấn an mẹ:
- Mẹ đừng lo! Qua kỳ thi này, con lại mập lên cho mẹ coi!
Không hiểu mẹ có tin lời tôi không mà tôi thấy mắt mẹ rưng rưng. Thấy mẹ buồn, tôi cũng buồn lây. Nhưng tôi chẳng biết cách nào an ủi mẹ. Tôi đành phải nín thở nuốt trọn một tô canh bí đỏ cho mẹ vui lòng.
Dù sao, công của tôi không phải là công cốc. Những ngày thức khuya dậy sớm đã không phản bội lại tôi. Kỳ thi cuối năm, tôi xếp hạng khá cao.
Ba tôi hào hứng thông báo:
- Sang năm ba sẽ mua cho con một chiếc xe đạp.
Mẹ tôi chẳng hứa hẹn gì. Mẹ chỉ “thưởng” tôi một cái cốc trên trán:
- Cha mày! Từ nay lo mà ăn ngủ cho lại sức nghe chưa!
Ba tôi vui. Mẹ tôi vui. Nhưng tôi mới là người vui nhất. Tôi đàng hoàng chia tay với những tô canh bí đỏ mà không sợ mẹ tôi thở dài. Dù sao thì cũng cảm ơn mày, cơn ác mộng của tao, nhưng bây giờ xin tạm biệt nhé! Tôi cúi đầu nói thầm với trái bí cuối cùng đang nằm lăn lóc trong góc bếp trước khi cung tay cốc cho nó một phát.
(Trích Hạ đỏ, Nguyễn Nhật Ánh, Nxb Trẻ, 2019)
*Chú thích: Nguyễn Nhật Ánh (1955), quê ở Thăng Bình, Quảng Nam, là một trong những gương mặt quen thuộc với bạn đọc các thế hệ, đặc biệt là tuổi mới lớn. Truyện của ông thường nhẹ nhàng, trong sáng để lại trong lòng độc giả nhiều dư vị và cảm xúc.
Đáp án
PHẦN I: ĐỌC - HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về các thể thơ
- Căn cứ vào các đặc điểm hình thức: số chữ mỗi dòng, gieo vần, ngắt nhịp
Cách giải:
Bài thơ được viết theo thể tự do
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kĩ văn bản
- Tìm các từ ngữ, hình ảnh phù hợp
Cách giải:
Những chi tiết, hình ảnh trong bài thơ gợi về cảnh làng quê yên bình, thân thuộc: khua liềm, gặt lúa, con tép, quả cà, quạt mo, cối đá, đòn gánh, đê quai, thân tre, tiếng gà.
Câu 3:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ điệp ngữ
- Chỉ ra biểu hiện và phân tích tác dụng
Cách giải:
Hiệu quả của việc sử dụng biện pháp tu từ điệp cấu trúc: Cao điểm này dũng cảm/Cao điểm kia anh hùng.
- Tạo ý nghĩa nhấn mạnh những hình ảnh người anh hùng in dáng hình vào đất nước, nơi đâu cũng in dấu khí phách anh hùng.
- Tạo nhịp điệu, tăng tính nhạc cho đoạn thơ.
- Thể hiện cảm xúc yêu mến, tự hào của tác giả trước những tấm gương anh hùng dân tộc.
Câu 4:
Phương pháp:
- Căn cứ vào toàn bộ nội dung bài thơ
- Xác định mạch cảm xúc giữa các khổ thơ
Cách giải:
- Từ hình ảnh bức tượng đài ở hiện tại mang vẻ đẹp thuần khiết, tinh khôi, tác giả nhớ về xuất thân bình dị và sự hoá thân vào dáng hình đất nước của những người lính.
- Tác giả xót xa trở về hiện thực khi chứng kiến nỗi đau thương mất mát của người mẹ mỏi mòn tìm con.
- Niềm tự hào, lòng biết ơn sâu sắc trước sự hi hinh của những người lính đã hóa thành những “thành trì đất nước”.
Câu 5:
Phương pháp:
* Từ tâm trạng của nhân vật trữ tình khi đứng trước tượng đài các anh hùng liệt sĩ: xúc động, tự hào trước sự hi sinh của những người lính để bảo vệ quê hương đất nước...
* Bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của những bức tượng đài trên quê hương:
- Là biểu tượng của sự hi sinh thân mình vì đất nước của những người lính
- Là minh chứng cho tinh thần quyết tử vì quê hương và sự bất tử của người lính.
- Thể hiện tấm lòng yêu mến, biết ơn của thế hệ sau đối với những hi sinh to lớn của các bậc cha anh đi trước.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
PHẦN 2: VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
- Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận
- Thân đoạn:
+ Nhận thức: Thấu hiểu giá trị của hòa bình, độc lập không phải tự nhiên có, mà được đánh đổi bằng xương máu, tuổi xuân và cả những nỗi đau chiến tranh
+ Hành động:
_Tích cực học tập, rèn luyện sức khỏe, sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ quân sự; cảnh giác trước các luận điệu xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch.
_Ứng dụng khoa học công nghệ để phát triển kinh tế, đưa Việt Nam sánh vai các cường quốc; đó chính là cách trả ơn thiết thực nhất.
_Biết ơn, bảo tồn các di tích lịch sử, tượng đài
_Thăm hỏi gia đình thương binh, liệt sĩ; phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng; sống có lý tưởng, có hoài bão.
- Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề nghị luận
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Thế hệ trẻ hôm nay may mắn được sống trong hòa bình, độc lập, nhưng đó không phải điều tự nhiên có được mà được đánh đổi bằng xương máu, tuổi xuân và cả những nỗi đau chiến tranh dai dẳng. Chính vì vậy, trách nhiệm của tuổi trẻ đối với nền hòa bình, độc lập dân tộc là vô cùng thiêng liêng. Trước hết, mỗi người cần tích cực học tập, rèn luyện sức khỏe, sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ quân sự khi Tổ quốc cần, đồng thời luôn cảnh giác trước các luận điệu xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch trên không gian mạng và trong đời sống. Hơn thế, để trả ơn cha anh một cách thiết thực nhất, thế hệ trẻ phải mạnh dạn ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo nhằm phát triển kinh tế, đưa Việt Nam sánh vai các cường quốc. Bên cạnh đó, lòng biết ơn còn thể hiện qua những việc làm cụ thể: bảo tồn các di tích lịch sử, tượng đài, thường xuyên thăm hỏi gia đình thương binh, liệt sĩ, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng. Quan trọng hơn cả, mỗi bạn trẻ cần sống có lý tưởng, có hoài bão, biết cống hiến để xứng đáng với sự hy sinh cao cả của các bậc cha anh. Có như vậy, hòa bình và độc lập mới thực sự bền vững.
Câu 2:
Phương pháp:
*Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Nhật Ánh và phong cách sáng tác đặc trưng.
- Giới thiệu truyện ngắn Hạ đỏ và vấn đề trung tâm: tình cảm gia đình bình dị, sự hi sinh thầm lặng của cha mẹ trong hành trình học tập của con.
* Thân bài:
- Tình huống và nội dung truyện: Cậu học sinh Chương ôn thi cuối cấp trong trạng thái kiệt sức, người mẹ mỗi ngày nấu canh bí đỏ với niềm tin giản dị "bí đỏ bổ óc". Tình huống quen thuộc, gần gũi tạo sự đồng cảm tức thì với người đọc.
- Nhân vật người mẹ: Tình yêu thương thể hiện qua hành động mộc mạc, không lời hoa mỹ. Dẫn chứng: nắn xương vai con, mắt rưng rưng, "thưởng" con bằng cái cốc trên trán. Người mẹ Nam Bộ hiện lên chân thực, ấm áp.
- Nhân vật người cha và cậu bé Chương: Cha bông phèng che giấu lo lắng, vui mừng hồn nhiên khi con đỗ. Chương hóm hỉnh, ngây thơ, biết trân trọng công sức bản thân và tình thương của mẹ.
- Nghệ thuật đặc sắc:
+ Ngôi kể thứ nhất tạo sự gần gũi, chân thực.
+ Ngôn ngữ đời thường giàu màu sắc Nam Bộ.
+ Chi tiết kết truyện độc đáo: Chương "cốc" vào trái bí vừa hài hước vừa chứa đựng ý nghĩa sâu sắc về sự trưởng thành và lòng biết ơn.
* Kết bài: Khái quát giá trị tác phẩm: Hạ đỏ nhắc nhở người đọc trân trọng những điều bình dị nhất trong cuộc sống, đặc biệt là tình thương gia đình luôn âm thầm nâng đỡ ta trên mọi chặng đường.
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Nhật Ánh được biết đến như một nhà văn có tài năng đặc biệt trong việc chạm đến trái tim bạn đọc bằng những câu chuyện giản dị, trong sáng mà đầy dư vị. Truyện ngắn Hạ đỏ là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua câu chuyện nhỏ về mùa ôn thi của cậu học sinh tên Chương, tác giả đã khéo léo gửi gắm thông điệp sâu sắc về tình cảm gia đình và sự hi sinh thầm lặng của cha mẹ trên hành trình trưởng thành của con.
Câu chuyện được mở ra bằng một tình huống quen thuộc, gần gũi với bất kỳ học sinh nào: Chương đang trong giai đoạn ôn thi căng thẳng cuối năm lớp chín. Cậu học ngày học đêm đến mức "người xanh như tàu lá", mắt lúc nào cũng đỏ kè, thức khuya dậy sớm mà trí nhớ vẫn cứ "học trước quên sau, học sau quên trước". Chính cái khung cảnh chân thực, không tô vẽ ấy đã tạo nên sức hút ngay từ những dòng đầu tiên, khiến người đọc như thấy chính mình trong đó. Nguyễn Nhật Ánh không để gian khổ hiện lên theo kiểu bi thương nặng nề mà để nó trôi qua tự nhiên, nhẹ nhàng qua giọng kể hóm hỉnh của nhân vật, tạo nên nét đặc trưng khó lẫn trong văn ông.
Nổi bật nhất trong truyện là nhân vật người mẹ, người được tác giả khắc họa bằng những nét bút tinh tế, giản dị mà xúc động. Mẹ không nói những lời yêu thương hoa mỹ, mẹ chỉ âm thầm mỗi ngày nấu một tô canh bí đỏ vì tin vào câu "bí đỏ bổ óc" theo kinh nghiệm dân gian. Hành động tưởng chừng nhỏ bé ấy lại chứa đựng cả một trời thương yêu. Khi thấy con ngày càng còm nhom, mẹ không la mắng, không than vãn dài dòng mà chỉ lặng lẽ "đưa tay nắn nắn khớp xương đang lồi ra trên vai", giọng "bùi ngùi" như một lời than. Chi tiết ấy đơn sơ mà thấm thía, diễn tả trọn vẹn nỗi lòng của người mẹ thương con đến xót ruột nhưng không biết làm gì hơn ngoài việc nhìn con và lo. Mắt mẹ "rưng rưng" khi nghe con trấn an cũng là một chi tiết đắt giá, bởi giọt nước mắt không rơi ấy đau hơn cả tiếng khóc. Và đến khi con thi đỗ, phần thưởng của mẹ không phải quà cáp hay lời khen ngợi mà là một cái cốc nhẹ lên trán kèm câu mắng yêu: "Cha mày! Từ nay lo mà ăn ngủ cho lại sức nghe chưa!" Câu nói vừa buồn cười vừa ấm lòng ấy chính là ngôn ngữ yêu thương đặc trưng của người mẹ Nam Bộ trong trang văn Nguyễn Nhật Ánh.
Bên cạnh người mẹ, nhân vật người cha cũng được khắc họa sinh động theo cách riêng. Ông không bộc lộ lo lắng trực tiếp mà chọn cách bông phèng: "Nhất định đầu thằng Chương bị hở một chỗ nào đó. Chữ nghĩa đổ vô bao nhiêu rớt ra bấy nhiêu." Câu nói hài hước ấy thực ra là cái vỏ bọc che giấu nỗi lo của người cha trước thân hình hao gầy của con. Sự đối lập giữa cách thể hiện tình cảm của cha và mẹ làm cho bức tranh gia đình trong truyện thêm phần sinh động, chân thực và đáng yêu.
Điều làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của Hạ đỏ chính là nghệ thuật kể chuyện tài tình của Nguyễn Nhật Ánh. Ngôi kể thứ nhất tạo ra sự gần gũi, chân thực, giúp người đọc dễ dàng đặt mình vào vị trí của nhân vật. Ngôn ngữ đời thường giàu màu sắc Nam Bộ như "bú đầu", "ngán", "bấy giờ tuyền một màu đỏ" làm cho câu chuyện trở nên sinh động, tự nhiên. Đặc biệt, chi tiết kết thúc truyện vừa bất ngờ vừa đầy ý nghĩa: Chương cúi đầu nói thầm với trái bí cuối cùng nằm lăn lóc trong góc bếp rồi "cung tay cốc cho nó một phát". Hành động hồn nhiên, tinh nghịch ấy không chỉ tạo nên tiếng cười nhẹ nhàng mà còn gói trọn cả hành trình vất vả vừa qua, cả sự biết ơn thầm kín của một cậu bé đối với tình yêu thương của mẹ được gửi gắm trong từng tô canh bí đỏ mỗi ngày.
Truyện ngắn Hạ đỏ tuy ngắn gọn nhưng để lại dư vị lâu bền trong lòng người đọc. Nguyễn Nhật Ánh đã chứng minh rằng văn chương không cần đến những câu chuyện lớn lao, kỳ vĩ mới chạm được đến trái tim con người. Đôi khi chỉ cần một tô canh bí đỏ, một cái cốc nhẹ lên trán, một ánh mắt rưng rưng của mẹ cũng đủ để nhắc nhở chúng ta trân trọng hơn những điều bình dị nhất trong cuộc sống, đặc biệt là tình thương gia đình luôn âm thầm nâng đỡ ta trên mọi chặng đường.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP12
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
