Đề thi học kì 2 Ngữ Văn 12 - Chân trời sáng tạo
Đề thi học kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
Những tấm áo xưa con nhớ lắm
Mũi chỉ đường kim tay mẹ dịu dàng
Tuổi thơ đâu những trưa hè xanh thẳm
Tuổi thơ nằm trong áo nhỏ yêu thương
Con lớn thêm áo cũng lớn thêm
Mỗi bận mùa đông đi, trời bớt lạnh
Mưa xuân rơi, hoa cải vàng sắc nắng
Mẹ dành tiền may áo mới cho con […]
Ngày tháng thoi đưa, con đã ca hơn mẹ
Chẳng hồn nhiên khi lòng con biết nghĩ
Áo dài hơn, tuổi mẹ cũng nhiều hơn
Dẫu vá vai, màu bạc, chỉ sờn
Nhưng trong áo ấm đường khâu mẹ vá
Yêu mẹ nhiều nên áo cũ con thương
(trích Áo – Lưu Quang Vũ)
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của đoạn trích (0.75 điểm)
Câu 2. Xác định nhân vật trữ tình trong đoạn trích trên (0.75 điểm)
Câu 3. Phân tích tác dụng của phép điệp trong các dòng thơ: (0.75 điểm)
Tuổi thơ đâu những trưa hè xanh thẳm
Tuổi thơ nằm trong áo nhỏ yêu thương
Câu 4. Nêu ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh tấm áo trong bài thơ (0.75 điểm)
Câu 5. Bài học sâu sắc nhất mà anh/ chị rút ra từ văn bản (1 điểm)
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1. Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày ý kiến của anh/ chị về ý nghĩa của việc tự nhận thức bản thân (2 điểm)
Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn thơ sau:
Mẹ đào hầm từ thuở tóc còn xanh
nay mẹ đã phơ phơ bạc đầu
mẹ vẫn đào hầm dưới tầm đại bác
bao đêm rồi tiếng cuốc vọng năm canh
Đất nước mình hai mươi năm chiến tranh
tiếng cuốc năm canh nặng tình đất nước
che chở mỗi bước chân con bước
(trích “Đất quê ta mênh mông” – Bùi Minh Quốc)
Những tấm áo xưa con nhớ lắm
Mũi chỉ đường kim tay mẹ dịu dàng
Tuổi thơ đâu những trưa hè xanh thẳm
Tuổi thơ nằm trong áo nhỏ yêu thương
Con lớn thêm áo cũng lớn thêm
Mỗi bận mùa đông đi, trời bớt lạnh
Mưa xuân rơi, hoa cải vàng sắc nắng
Mẹ dành tiền may áo mới cho con
(trích Áo – Lưu Quang Vũ)
Đáp án
Câu 1.
Phương pháp giải:
Chú ý số từ trong câu, số câu trong đoạn
Lời giải chi tiết:
Số câu, số chữ trong một dòng thơ không theo quy luật nhất định
→ thể thơ tự do
Câu 2
Phương pháp giải:
Tìm kiếm thông tin trong đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Nhân vật trữ tình trong đoạn trích trên là người con
Câu 3
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về phép điệp
Chú ý hình ảnh “trưa hè xanh thẳm” và “áo nhỏ yêu thương”
Lời giải chi tiết:
Nhấn mạnh vai trò của tuổi thơ với mỗi con người. Tuổi thơ là cái nôi nuôi ta lớn lên. Tuổi thơ có một vai trò vô cùng to lớn. Đó là lời gợi nhắc tác giả về một tuổi thơ êm đềm và yêu thương. Đó cũng là lời nhắc nhở rằng tuổi thơ qua đi thì không quay lại được. Đồng thời, hãy biết trân trọng tuổi thơ.
Câu 4
Phương pháp giải:
Chú ý phân tích những chi tiết tiêu biểu
Lời giải chi tiết:
+ Hình ảnh những tấm áo biểu tượng cho tình yêu, sự quan tâm, chăm sóc, hi sinh,... của người mẹ dành cho người con
+ Hình ảnh những tấm áo biểu tượng cho sự tự ý thức, niềm hạnh phúc, trân quý,... của người con đối với tấm lòng, tâm tình của người mẹ dành cho mình
+ Hình ảnh những tấm áo biểu tượng cho tình yêu của người mẹ theo suốt hành trình sinh ra, lớn lên của người con. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, mẹ vẫn luôn dành tình cảm, những điều tốt đẹp nhất cho con. Thời gian, hoàn cảnh có thể thay đổi nhưng tình mẹ thì chẳng bao giờ đổi thay
Câu 5
Phương pháp giải:
Từ nội dung văn bản và những phân tích ở trên, rút ra bài học của bản thân
Lời giải chi tiết:
Hình ảnh những chiếc áo biểu tượng cho tình mẫu tử thiêng liêng. Nó có sự lay động sâu thẳm đến nhận thức, tình cảm của mỗi người tiếp nhận.
→ Trân trọng tuổi thơ, trân trọng những phút giây quý giá bên cạnh mẹ
II. VIẾT
Câu 1
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về dung lượng và vấn đề nghị luận
Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một vấn đề đời sống
Lời giải chi tiết:
Đoạn đảm bảo dung lượng 200 chữ (20 dòng) và nội dung hướng vào các ý sau:
- Giải thích: Tự nhận rõ bản thân là khả năng hiểu rõ chính xác bản thân mình, biết mình cần gì, muốn gì, đâu là điểm mạnh và điểm yếu của mình, hiểu rõ ước mơ, khát vọng, mục đích hướng đến, môi trường sống và làm việc phù hợp, nhận thức được cảm xúc và những động lực thúc đẩy bạn trong cuộc đời.
- Phân tích:
+ Người thấu hiểu mình, luôn có giải pháp hữu hiệu khắc phục hạn chế của bản thân mình, phát huy điểm mạnh, đặt mình đúng vị trí, hiểu mình hiểu người nên thường dễ thành công và sống cuộc đời có ý nghĩa.
+ Người không thấu hiểu bản thân mình sẽ sống mù quáng, thường hay đố kị với người khác, đánh mất cơ hội, mơ ước hão huyền, đặt mục tiêu sai lầm nên rất dễ thất bại.
- Liên hệ (bài học bản thân):
+ Trước hết, chúng ta phải tôn trọng bản thân mình, không ngừng nỗ lực học tập và hoàn thiện bản thân.
+ Biết sống vì người khác
Câu 2
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức, dung lượng và vấn đề nghị luận
Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận về một đoạn thơ
Lời giải chi tiết:
- Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 600 chữ).
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh những tấm áo trong đoạn thơ.
− HS lựa chọn ý chính cần trình bày. Gợi ý:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Hình ảnh thơ là tín hiệu thẩm mĩ đặc thù, mang trong mình ý nghĩa biểu tượng phong phú. Hình ảnh những tấm áo trong đoạn thơ trích từ “Áo” của Lưu Quang Vũ là một dạng tín hiệu thẩm mĩ như thế, chứa đựng những ý nghĩa biểu tượng vừa thân thuộc vừa mới lạ.
* Thân bài: Có thể triển khai như sau:
+ Hình ảnh những tấm áo biểu tượng cho tình yêu, sự quan tâm, chăm sóc, hi sinh,... của người mẹ dành cho người con: Mũi chỉ đường kim tay mẹ dịu dàng; Mẹ dành tiền may áo mới cho con.
+ Hình ảnh những tấm áo biểu tượng cho sự tự ý thức, niềm hạnh phúc, trân quý,... của người con đối với tấm lòng, tâm tình của người mẹ dành cho mình: Những tấm áo xưa con nhớ lắm, Tuổi nhỏ nằm trong áo nhỏ yêu thương.
+ Hình ảnh những tấm áo biểu tượng cho tình yêu của người mẹ theo suốt hành trình sinh ra, lớn lên của người con. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, mẹ vẫn luôn dành tình cảm, những điều tốt đẹp nhất cho con. Thời gian, hoàn cảnh có thể thay đổi nhưng tình mẹ thì chẳng bao giờ đổi thay: Con lớn thêm áo cũng lớn thêm/ Mỗi bận mùa đông đi, trời bớt lạnh/ Mưa xuân rơi, hoa cải vàng sắc nắng/ Mẹ dành tiền may áo mới cho con.
* Kết bài:
+ Hình ảnh những chiếc áo biểu tượng cho tình mẫu tử thiêng liêng. Nó có sự lay động sâu thẳm đến nhận thức, tình cảm của mỗi người tiếp nhận.
+ Hình ảnh những chiếc áo là hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng được xây dựng qua biện pháp nghệ thuật điệp, nhân hoá; được miêu tả, cụ thể qua những từ ngữ gần gũi, bình dị.
* Sắp xếp được hệ thống ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của bài văn.
Đề thi học kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
AI KÊU GỌI KÌM HÃM TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
(Ngọc Diệp)
Đội ngũ đảng sau hệ thống Chat GPT cho biết, cần có một cơ quan giám sát để chống lại rủi ro của những AI “siêu thông minh”
Trong một ghi chú ngắn đăng trên trang web của công ty, những người đồng sáng lập, ông Greg Brockman và ông Ilia Sutskever cùng giám đốc điều hành, ông Sam Altman, đã nhấn mạnh sự cần thiết của một cơ quan quản lí quốc tế chuyên “kiểm tra hệ thống, giám sát việc tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn và đặt ra các hạn chế về mức độ triển khai và mức độ bảo mật” nhằm giảm các “rủi ro” mà các hệ thống AI có thể gây ra.
“Có thể hình dung rằng trong vòng 10 năm tới, các hệ thống AI sẽ vượt qua trình độ kĩ năng chuyên gia trong hầu hết các lĩnh vực và thực hiện nhiều hoạt động hiệu quả bằng những tập đoàn lớn nhất hiện nay. Xét về mặt tích cực và tiêu cực, siêu trí tuệ sẽ mạnh hơn các công nghệ khác mà nhân loại từng đối mặt trong quá khứ. Chúng ta có thể có một tương lai thịnh vượng hơn nhiều; nhưng chúng ta phải quản lý rủi ro để đạt được điều đó. Với khả năng xảy ra rủi ro hiện hữu, chúng ta cần phải hành động, họ viết.
Bộ ba kêu gọi “sự phối hợp giữa các công ty làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu Al, nhằm đảm bảo các mô hình trí tuệ nhân tạo phối hợp trơn tru với xã hội, đồng thời ưu tiên sự an toàn. Chẳng hạn, sự phối hợp đó có thể thông qua một dự án do chính phủ lãnh đạo, hoặc qua một thoả thuận tập thể nhằm hạn chế sự phát triển về khả năng của AI.

Các nhà nghiên cứu đã cảnh báo về những rủi ro tiềm ẩn của siêu trí tuệ trong nhiều thập kỉ, nhưng khi sự phát triển của AI tăng tốc đến chóng mặt, những rủi ro đó đã trở nên cụ thể hơn. Trung tâm An toàn AI (CAIS) có trụ sở tại Mĩ, hoạt động nhằm “giảm thiểu rủi ro ở quy mô xã hội”, mô tả 8 loại rủi ro “thảm hoạ” mà AI có thể gây ra.
Trong khi một số người lo lắng về việc một AI mạnh mẽ sẽ huỷ diệt hoàn toàn nhân loại, dù vô tình hay cố ý, CAIS cảnh báo những tác hại khác nguy hiểm hơn. Một thế giới mà các hệ thống AI được phép lao động nhiều hơn bao giờ hết có thể dẫn đến việc loài người “mất khả năng tự quản và trở nên hoàn toàn phụ thuộc vào máy móc”; hoặc một nhóm nhỏ những người kiểm soát các hệ thống mạnh mẽ có thể “biến AI thành một lực lượng tập trung hoá”, tạo một hệ thống
đẳng cấp vĩnh cửu giữa kẻ trị vì và kẻ bị trị.
Các nhà lãnh đạo của OpenAI cho biết những rủi ro đó có nghĩa là “mọi người trên khắp thế giới nên cùng xác định các giới hạn cho các hệ thống AI nhưng họ cũng thừa nhận rằng họ “chưa biết cách thiết kế một cơ chế như vậy.
Tuy nhiên, họ tin rằng việc tiếp tục phát triển các hệ thống mạnh mẽ đáng để
chúng ta mạo hiểm.
"Chúng tôi tin rằng, nó sẽ dẫn đến một thế giới tốt đẹp hơn nhiều so với những gì chúng ta có thể hình dung bây giờ”, họ viết. Mặt khác, họ cũng cảnh báo rằng việc tạm dừng phát triển cũng có thể nguy hiểm. “Bởi những mặt tích cực là rất lớn, chi phí để xây dựng A1 giảm đi mỗi năm, số lượng người tham gia xây dựng nó đang tăng lên và nó vốn dĩ đã là một phần của con đường công nghệ mà chúng ta đang theo đuổi. Để ngăn chặn nó sẽ cần một chế độ giám sát toàn cầu và thậm chí điều đó cũng không đảm bảo sẽ triệt để. Vì vậy, chúng ta phải làm AI cho đúng.”
(tienphong.vn)
Câu 1. Tóm tắt nội dung của văn bản. Từ có chỉ ra sự mạch lạc của văn bản. (0.5 điểm)
Câu 2. Nhan đề của văn bản có phù hợp với nội dung bài viết không? Hãy đề xuất nhan đề khác cho văn bản và lí giải cách đặt nhan đề ấy. (0.5 điểm)
Câu 3. Xác định các dữ liệu quan trọng trong văn bản và cho biết chúng thuộc dữ cấp hay thứ cấp? Chúng có vai trò gì trong văn bản? (1.0 điểm)
Câu 4. Vì sao phải kêu gọi kìm hãm trí tuệ nhân tạo? Nếu không kìm hãm sẽ xảy ra điều gì? (1.0 điểm)
Câu 5. Văn bản đưa đến cho em những hiểu biết mới mẻ nào về AI? Thái độ của tác giả trước vấn đề của AI như thế nào? (1.0 điểm)
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1. Nêu những hậu quả AI đã gây ra cho con người. Trước mắt, chúng ta có thể làm gì để giảm thiểu rủi ro do AI gây ra? (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm)
Câu 2. Hãy viết thư (điện tử 600 chữ ) trao đổi với người bạn có cùng mối quan
tâm về tốc độ phát triển và sự rủi ro từ AI (thư có sử dụng dữ liệu thứ cấp và
hình ảnh minh hoạ). Bài viết dài tối thiểu 1,5 trang.
Đáp án
Câu 1.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý những thông tin quan trọng
Nhận xét các thông tin ấy có xoay quanh một chủ đề, một mục đích không?
Lời giải chi tiết:
- Các nhà nghiên cứu đã cảnh báo về những rủi ro tiềm ẩn của siêu trí tuệ trong nhiều thập kỉ, nhưng khi sự phát triển của AI tăng tốc đến chóng mặt, những rủi ro đó đã trở nên cụ thể hơn. Cần có một cơ quan giám sát để chống lại rủi ro của những AI “siêu thông minh” bởi trong vòng 10 năm tới, các hệ thống AI sẽ vượt qua trình độ kĩ năng chuyên gia trong hầu hết các lĩnh vực. Trung tâm An toàn AI (CAIS) có trụ sở tại Mĩ, hoạt động nhằm “giảm thiểu rủi ro ở quy mô xã hội”, mô tả 8 loại rủi ro “thảm hoạ” mà AI có thể gây ra.
– Sự mạch lạc của văn bản: Tất cả các thông của văn bản đều xoay quanh mục đích hãy cùng nhau hạn chế những rủi ro tiềm ẩn của siêu trí tuệ đối với con người.
Câu 2
Phương pháp giải:
Rút ra nội dung chính của văn bản, từ đó đưa ra nhận xét nhan đề văn bản có phù hợp với nội dung bài viết không?
Dựa vào nội dung, mục đích của văn bản để đề xuất nhan đề
Lời giải chi tiết:
Nhan đề: AI kêu gọi kìm hãm trí tuệ nhân tạo phù hợp với nội dung, mục đích của văn bản; nhan đề ngắn gọn này cũng mang tính cảnh báo con người trước sự
Phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo.
- Đề xuất nhan đề mới: Học sinh tự làm từ góc nhìn và quan điểm cá nhân (gợi ý: nhan đề ngắn gọn xoáy vào mục đích/nội dung của văn bản hoặc khía cạnh quan trọng nhất trong văn bản như rủi ro từ trí tuệ nhân tạo; Trí tuệ nhân tạo đang vượt sự kiểm soát của con người; Nguy cơ từ trí tuệ nhân tạo,...).
Câu 3
Phương pháp giải:
Vận dụng kĩ năng tóm tắt dữ liệu trong văn bản thông tin
Dựa vào nguồn của dữ liệu để suy ra thông tin là dữ liệu sơ cấp hay thứ cấp, suy ra vai trò của dữ liệu ấy
Lời giải chi tiết:
- Dữ liệu quan trọng
+ Open AI cho biết “siêu trí tuệ” sẽ mạnh hơn mọi công nghệ khác mà nhân loại từng đối mặt trong quá khứ.
+ Trung tâm An toàn AI (CAIS) có trụ sở tại Mĩ, hoạt động nhằm “giảm thiểu rủi ro ở quy mô xã hội”, mô tả 8 loại rủi ro hoạ” mà AI có thể gây ra.
+ Trung tâm An toàn AI (CAIS) có trụ sở tại Mĩ, hoạt động nhằm “giảm thiểu rủi ro ở quy mô xã hội”, mô tả 8 loại rủi ro “thảm hoạ” mà AI có thể gây ra.
→ thuộc dữ liệu thứ cấp đáng tin cậy (các tổ chức uy tín nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo trên thế giới.)
- Chúng có vai trò quan trọng trong văn bản:
+ Chứng minh tầm quan trọng, cấp thiết của vấn đề.
+ Con người cần cảnh giác cao độ trước tốc độ phát triển của AI.
Câu 4
Phương pháp giải:
Tìm kiếm thông tin trong văn bản
Lời giải chi tiết:
- Phải kêu gọi kìm hãm trí tuệ nhân tạo vì:
+ Hệ thống AI được phép lao động nhiều hơn bao giờ hết có thể dẫn đến việc loài người “mất khả năng tự quản và trở nên hoàn toàn phụ thuộc vào máy móc”.
+ AI thành một lực lượng tập trung hoá, tạo một hệ thống đẳng cấp vĩnh cửu
giữa kẻ trị vì và kẻ bị trị.
+ Có thể hình dung rằng trong vòng 10 năm tới, các hệ thống AI sẽ vượt qua trình độ kĩ năng chuyên gia trong hầu hết các lĩnh vực.
→ AI phát triển quá nhanh, ngoài sự kiểm soát của con người, nó có thể gây ra
những hậu quả mà con người không thể khắc phục.
- Nếu không kìm hãm
+ Con người sẽ bị phụ thuộc AI
+ Con người mất kiểm soát, không thể khắc phục hậu quả.
Câu 5
Phương pháp giải:
Dựa vào những thông tin bản thân tiếp nhận được
Tìm kiếm những đoạn thể hiện sự lo lắng của tác giả trước vấn đề của AI
Lời giải chi tiết:
- Học sinh tự xác định thông tin từ sự tiếp nhận của cá nhân (bám sát các thông tin chính của văn bản).
- Thực sự lo lắng:
+ Thừa nhận rằng họ “chưa biết cách thiết kế một cơ chế như vậy”; “mọi người trên khắp thế giới nên cùng xác định các giới hạn cho các hệ thống AI”.
+ Mặt khác, họ cũng cảnh báo rằng việc tạm dừng phát triển cũng có thể nguy hiểm.
+ Để ngăn chặn nó sẽ cần một chế độ giám sát toàn cầu và thậm chí điều đó
cũng không đảm bảo sẽ triệt để.
II. VIẾT
Câu 1
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về dung lượng và vấn đề nghị luận
Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một vấn đề đời sống
Lời giải chi tiết:
Đoạn đảm bảo dung lượng 200 chữ (20 dòng) và nội dung hướng vào các ý sau:
– Hậu quả AI đã gây ra cho con người:
+ Xuất hiện tội phạm xuyên biên giới, cảnh sát của quốc gia không thể can thiệp, giải quyết triệt để (học sinh đưa ví dụ).
+ Tệ nạn cờ bạc online, lừa đảo huy động vốn.
+ Lừa đảo người già, người kém hiểu biết về AI.
– Giảm thiểu rủi ro do AI.
+ Có hiểu biết về AI.
+ Cập nhật thông tin về lừa đảo qua mạng xã hội.
+ Cảnh báo, hướng dẫn người già, trẻ em trong sử dụng mạng xã hội, thanh toán
trực tuyến, truy cập vào đường link lạ.
Câu 2
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức, dung lượng và vấn đề nghị luận
Vận dụng kĩ năng viết thư điện tử về một vấn đề đáng quan tâm
Lời giải chi tiết:
|
Phần chính |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài (0,5đ) |
- Địa điểm thời gian, danh tính người nhận thư. - Lời chào/lời hỏi thăm mở đầu. - Lí do của viết thư/cuộc trao đổi. |
|
Thân bài (2,75đ) |
* Nêu vấn đề cùng quan tâm: tốc độ phát triển và sự rủi ro từ AI - Nhắc lại, gợi lại biểu hiện cho thấy bạn quan tâm đến vấn đề mình đang nói tới – tốc độ phát triển và sự rủi ro từ AI - Trình bày rõ, ngắn gọn, mạch lạc vấn đề cần trao đổi + Thông tin đã biết về tốc độ phát triển và khả năng phi thường của AI + Thông tin mới (dữ liệu thứ cấp đáng tin cậy) về tốc độ phát triển và sự rủi ro từ AI + Khía cạnh cần trao đổi/nghiên cứu (ứng dụng từ AI; giải pháp để giảm thiểu rủi ro ở AI) - Đề xuất cách giả quyết vấn đề: cùng trao đổi thông tin; đối chiếu so sánh thông tin. |
|
Kết bài (0,25đ) |
- Lời chúc, cảm ơn/hẹn ngày trao đổi, nhận thông tin. - Lời tạm biệt/hẹn gặp; danh tính người viết thư. |
|
Yêu cầu khác (0,5đ) |
- Nội dung: Thể hiện quan điểm của bản thân về tốc độ phát triển của AI luôn tỷ lệ thuận với những rủi ro. - Bố cục cân đối, hài hoà. - Trong thư chú ý : Xưng hô phù hợp, thân tình. - Thể hiện rõ mối quan tâm, sự chờ đợi của cá nhân về thông tin từ phía người nhận thư. |
Đề thi học kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
NỖI NHỚ MIỀN TRUNG
(Thuận Hữu)
Con đường nhỏ vắt ngang triền cát
Vạt cỏ cháy khô hàng dương gầy xơ xác
Đường về nhà em trưa nắng cát mù tung
Ơi gió Lào thổi rát miền Trung
Mười năm trước
Nón che nghiêng đi về trên cát
Bụi xương rồng ngơ ngác bước em qua
Giờ đường cũ xương rồng khô héo cả
Hỏi người làng: – em đã lấy chồng xa
Em bỏ lại miền Trung đầy bão gió
Bỏ cả vùng quê vật vã dưới nắng hè
Trên cát bỏng mình anh đi như chạy
Ở đâu rồi một bóng nón nghiêng che?
Ở đâu, ở đâu một mái tóc thề
Như dòng sông chảy qua triền cát hạ
Gió Lào trưa nay cát bay cồn cào quá
Đường vắng nắng chang trắng loá chân trời
Nóng bỏng quê nghèo nỗi nhớ em ơi!
Có thể nơi xa tìm thấy niềm vui
Em sẽ quên đi gió Lào cát trắng
Nhưng miền Trung, miền Trung vẫn tảo tần thầm lặng
Nhớ thương em nỗi nhớ chẳng đâu bằng
Mẹ gọi em về khắc khoải những mùa trăng.
(Thuận Hữu, Biển gọi, NXB Đà Nẵng, 2000)
Câu 1. Xác định thể thơ và nhân vật trữ tình của bài thơ. (0.5đ)
Câu 2. Nhân vật trữ tình bộc lộ cảm xúc ở hoàn cảnh nào? (0.5đ)
Câu 3. Người “em” xuất hiện như thế nào trong cảm xúc của nhà thơ? Tác giả muốn gửi gắm điều gì tới người “em”? Phân tích một số hình ảnh, biện pháp tu từ làm rõ điều đó (1.0đ)
Câu 4. Hãy phân tích một số hình ảnh, từ ngữ, biện pháp tu từ tiêu biểu để làm nổi bật đặc điểm quê hương, con người miền Trung trong dòng cảm xúc của nhân vật trữ tình. (1.0đ)
Câu 5. Nhan đề Nỗi nhớ miền Trung có phù hợp với tác phẩm không? Nhận xét cách thể hiện nỗi nhớ của nhà thơ, bức thông điệp của tác phẩm. (1.0đ)
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1. Viết đoạn nghị luận để làm nổi bật một điểm tương đồng, một điểm khác biệt trong hai đoạn thơ sau:
(1) Miền Trung
Mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt
Lúa con gái mà gầy còm úa đỏ
Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ
Không ai gieo mọc trắng mặt người
Miền Trung
Eo đất này thắt đáy lưng ong
Cho tình người đọng mật
Em gắng về
Đừng để mẹ già mong
(Miền Trung– Hoàng Trần Cương)
(2) Em bỏ lại miền Trung đầy bão gió
Bỏ cả vùng quê vật vã dưới nắng hè
Trên cát bỏng mình anh đi như chạy
Ở đâu rồi một bóng nón nghiêng che?
Ở đâu, ở đâu một mái tóc thề
Như dòng sông chảy qua triền cát hạ
Gió Lào trưa nay cát bay cồn cào quá
Đường vắng nắng chang trắng loá chân trời
Nóng bỏng quê nghèo nỗi nhớ em ơi...
Nhưng miền Trung, miền Trung vẫn tảo tần thầm lặng
Nhớ thương em nỗi nhớ chẳng đầu bằng
Mẹ gọi em về khắc khoải những mùa trăng.
(Nỗi nhớ miền Trung– Thuận Hữu)
Câu 2. Đọc thông tin sau và viết bài luận (600 chữ) bàn luận thể hiện suy nghĩ của anh/chị về việc tự bảo vệ mình trước những thông tin xấu và những lừa đảo trên mạng internet.
Vô tư “biếu” thông tin cá nhân cho tội phạm
Ở Việt Nam hiện đang có hơn 77,93 triệu người sử dụng internet, chiếm hơn 79% dân số, xếp thứ 12 trên toàn thế giới về tỷ lệ người sử dụng internet. Tuy nhiên, khi người dân chuyển từ không gian thực lên không gian mạng ảo và thực hiện nhiều giao dịch điện tử thì các loại hình tội phạm cũng di chuyển theo.
Theo số liệu của Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông, trong 6 tháng đầu năm, tình hình lừa đảo trực tuyến tại Việt Nam tăng gần 65% so với cùng kỳ năm 2022.

Đáp án
Đáp án đề 3
Câu 1. (0,5đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý số từ trong câu, số câu trong bài
Lời giải chi tiết:
- Thể thơ tự do
- Nhân vật trữ tình: người con của vùng đất miền Trung (yêu tha thiết con người và vùng quê nghèo khó của mình)
Câu 2 (0,5 điểm)
Phương pháp giải:
Tìm kiếm thông in trong bài thơ (chú ý khổ 2,3)
Lời giải chi tiết:
- Nhân vật trữ tình bộc lộ tâm trạng khi trở về quê miền Trung, nhớ về kí ức của 10 năm trước, khi biết tin “em” đi lấy chồng xa
- Dòng thơ gợi hoàn cảnh: Hỏi người làng: - Em đã lấy chồng xa/ Em bỏ lại miền Trung đầy bão gió
Câu 3 (1đ)
Phương pháp giải:
Chú ý phân tích hình ảnh “nón che nghiêng đi trên cát, bóng nón nghiêng che, mái tóc thề”
Chú ý phân tích câu thơ: “Em bỏ lại miền Trung đầy bão gió/ Bỏ cả vùng quê vật vã dưới nắng hè” và “Nhớ thương em nỗi nhớ chẳng đâu bằng”
Lời giải chi tiết:
- Người “em” xuất hiện
+ Nón che nghiêng đi về trên cát; Ở đâu rồi một bóng nón nghiêng che? Ở đâu , ở đâu một mái tóc thề
→Hình ảnh giàu sức gợi (bóng nón nghiêng che; mái tóc thề), gợi bóng dáng, sự tươi trẻ, e ấp trong em, gợi cái nắng bỏng, khắc nghiệt của miền Trung.
→Câu hỏi tu từ: Ở đâu rồi; ở đâu diễn tả nỗi nhớ, nhớ khắc khoải của nhân vật trữ tình về những ngày xưa, về người em với mái tóc thề và vành nón nghiêng che
- Tác giả muốn gửi gắm đến người “Em”:
+ Trách em đã bỏ quê nghèo mà đi (Em bỏ lại miền Trung đầy bão gió/ Bỏ cả vùng quê vật vã dưới nắng hè; Em sẽ quên đi gió Lào cát trắng)
+ Quê miền Trung luôn thương nhớ em bằng nỗi nhớ thương sâu nặng (Nhớ thương em nỗi nhớ chẳng đâu bằng)
Câu 4 (1 điểm)
Phương pháp giải:
Tìm kiếm các chi tiết miêu tả không gian và con người miền Trung
Lời giải chi tiết:
- Quê hương miền Trung với không gian cụ thể
+ Con đường nhỏ vắt ngang triền cát
+ Vạt cỏ cháy khô hàng dương gầy xơ xác
+ Miền Trung đầy bão gió; vùng quê vật vã dưới nắng hè; gió Lào thổi rát miền Trung
→Ngôn ngữ thơ giàu chi tiết, hình ảnh của hiện thực, với các điệp ngữ “gió, cát, nắng” gợi khung cảnh miền Trung với khắc nghiệt chỉ có nắng, gió và cát
- Con người miền Trung
+ Nhưng miền Trung, miền Trung vẫn tảo tần thầm lặng
+ Nhớ thương em nỗi nhớ chẳng đâu bằng
+Mẹ gọi em về khắc khoải những mùa trăng.
+ Nghệ thuật tương phản (thiên nhiên>
Câu 5 (1đ)
Phương pháp giải:
Rút ra nội dung, chú ý các cảm xúc được tác giả thể hiện trong tác phẩm
Chú ý lời hô gọi và các câu thơ bộc lộ nỗi nhớ
Lời giải chi tiết:
- Nhan đề Nỗi nhớ miền Trung phù hợp với nội dung và cảm xúc thể hiện trong tác phẩm: cả bài thơ là nỗi nhớ da diết về con người cảnh sắc miền Trung. Những dấu ấn đặc biệt của con người, vùng đất miền Trung trở đi, trở lại trong tác phẩm...
- Cách thể hiện nỗi nhớ.
+ Lời hô gọi: Ơi gió Lào thổi rát miền Trung; Nóng bỏng quê nghèo nỗi nhớ em ơi!
+ Bộc lộ trực tiếp nỗi nhớ: Gió Lào trưa nay cát bay cồn cào quá.
+ Anh chạy mải miết kiếm tìm bóng dáng em: Trên cát bỏng mình anh đi như chạy/Ở đâu rồi một bóng nón nghiêng che?
+Tinh tế trong thể hiện nỗi nhớ, tình cảm sâu nặng ở cuối tác phẩm: Nhớ thương em nỗi nhớ chẳng đâu bằng/Mẹ gọi em về khắc khoải những mùa trăng.
- Bức thông điệp: Hãy gắn bó với quê hương dẫu quê hương còn gian khổ, đói nghèo.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về dung lượng và vấn đề nghị luận
Chỉ ra nét tương đồng về chủ đề, nội dung và thông điệp
Chỉ ra nét khác biệt về cách thể hiện nỗi nhớ và việc dùng các thủ pháp nghệ thuật
Lời giải chi tiết:
- Nét tương đồng.
+ Miền Trung khắc nghiệt, cằn cỗi nghèo.
+ Con người miền Trung tần tảo, nặng nghĩa tình.
+ Nhân vật trữ tình, người con miền Trung, yêu tha thiết và tự hào quê hương mình.
+ Bộc lộ tâm tình với nhân vật “em”: mong em về bên người mẹ đang mong chờ.
- Nét khác biệt:
+ Nỗi nhớ miền Trung – Thuận Hữu: Tha thiết và trách cứ người “em”, bộc lộ nỗi nhớ trực tiếp; Miền Trung – Hoàng Trần Cương: Tha thiết mời “em” về thăm quê miền Trung.
+ Có thể chỉ ra nét khác biệt trong việc dùng các thủ pháp nghệ thuật của 2 tác giả.
Câu 2.
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức, dung lượng và vấn đề nghị luận
Vận dụng kĩ năng viết bài nghị luận về một vấn đề đời sống
Lời giải chi tiết:
|
Phần chính |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài (0,5đ) |
– Giới thiệu luận đề: việc tự bảo vệ mình trước những thông tin xấu và những lừa đảo trên mạng internet. - Nêu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ |
|
Thân bài (2,75đ) |
*Nêu cách hiểu về thông tin xấu và những lừa đảo trên mạng internet. – Nhận diện tin xấu - Biểu hiện đa dạng của thông tin xấu và những lừa đảo trên mạng internet. * Bàn luận về các góc nhìn, cách sử dụng thông tin trên mạng internet. - Nhìn nhận mặt tích cực của thông tin trên mạng internet – Nhìn nhận mặt trái của thông tin trên mạng internet (tin xấu và lừa đảo): ví dụ cụ thể → phân tích nguyên nhân và tác hại (cả tin vì mục đích kiếm tiền, làm giàu nhanh) * Đề xuất cách tự bảo vệ mình trước những thông tin xấu và những lừa đảo trên mạng internet: HS đề xuất các giải pháp cụ thể – Tham khảo gợi ý: Hiểu biết các tính năng, cách sử dụng các tính năng của một số ứng dụng thanh toán, trò chơi; Không tham gia các lời mời gọi làm giàu, có thưởng...; Cập nhật các trò lừa đảo mới... Dành thời gian học tập, nghiên cứu, giảm thời gian lướt mạng... |
|
Kết bài (0,25đ) |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề - Hành động/ dự định của cá nhân (để không lãng phí thời gian) |
|
Yêu cầu khác (0,5đ) |
- Sử dụng các thao tác phân tích, đối chiếu chứng minh, bình luận - Dẫn chứng phù hợp với lí lẽ, luận điểm |
Đề thi học kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 4
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4 điểm)
Đọc văn bản sau:
CHÍNH SÁCH NGU DÂN
(Bản án chế độ thực dân Pháp – Nguyễn Ái Quốc)
Để có thể đánh lừa dư luận bên Pháp và bóc lột dân bản xứ một cách êm thấm, bọn cá mập của nền văn minh không những đầu độc nhân dân An Nam bằng rượu và thuốc phiện, mà còn thi hành một chính sách ngu dân triệt để.
Sắc lệnh đó viết: “Việc lưu hành báo chí bất cứ bằng thứ tiếng gì, đều có thể bị
cấm do nghị định của quan toàn quyền”. “Báo tiếng Việt không được xuất bản, nếu không được phép của quan toàn quyền. Giấy phép chỉ cấp với điều kiện là các bài báo phải được quan thống đốc duyệt trước. Giấy phép ấy có thể rút lúc nào cũng được”. “Mọi cuộc trưng bày hoặc phổ biến những bài hát, biếm hoạ hoặc tranh ảnh làm thương tổn đến sự tôn kính đối với các nhà cầm quyền đều bị trừng trị”.
Đấy, bạn thấy bà kiểm duyệt ở thuộc địa cầm kéo khéo đến mức nào! Với biện pháp đó, chính quyền Đông Dương có thể im được tất cả mọi vụ nhơ nhớp và tha hồ mà lạm quyền. Trong một cuộc bầu cử hội đồng thành phố Sài Gòn, viên thống đốc cấm ba ông chủ nhiệm báo tiếng Việt không được đăng lên báo của họ bản sắc lệnh quy định thể lệ bầu cử hội đồng thành phố ở Nam Kỳ. Họ là ứng cử viên, thế mà báo của họ bị cấm tuyệt không được đăng một cái gì dính dáng, dù xa hay gần, đến chương trình của họ! Vì người An Nam không có quyền hội họp quá số 20 người, nên ứng cử viên phải gặp 3.000 cử tri lần lượt từng người một. Cũng trong lúc ấy, ông thống đốc còn thông tri cho các tờ báo tiếng Việt khác biết là sở kiểm duyệt sẽ thẳng tay cắt những bài báo, cột báo, đầu đề hoặc bất cứ một lời bóng gió nào nói đến các cuộc bầu cử thuộc địa hoặc thành phố.
Bàn tay bỉ ổi của kiểm duyệt không dừng lại ở các xuất bản phẩm tiếng Việt mà còn rờ mó cả vào thư từ riêng và các tờ báo tiếng Pháp không chịu ca tụng đức độ của các “Cụ lớn” thuộc địa: Sở bưu điện và sở mật thám Nam Kỳ (giám đốc sở này là con rể ông Anbe Xarô) đã nhận được lệnh không để lọt – bất cứ với lý do gì – những thư từ, bài vở, v.v. gửi cho báo Le Paria xuất bản ở Pari hoặc của tờ báo ấy gửi về. Một người Mangát nguyên là lính tính nguyện tham gia đại chiến trong quân đội Pháp và có vợ người Pháp, đã bị trục xuất khỏi tổ quốc Anh, và bị kết án 5 năm đầy biệt xứ, chỉ vì đã viết bài cho báo Le Paria và vài tờ báo khác ở Pháp, để tố cáo những sự nhũng lạm của bọn quan cai trị Pháp ở xứ sở Anh.
Nhân dân Đông Dương khẩn khoản đòi mở trường học vì trường học thiếu một
cách nghiêm trọng. Mỗi năm, vào kỳ khai giảng, nhiều phụ huynh phải đi gõ cửa, chạy chọt mọi nơi thần thế, có khi chịu trả gấp đôi tiền nội trú, nhưng vẫn không tìm được chỗ cho con học. Và hàng ngàn trẻ em đành chịu ngu dốt vì nạn thiếu trường. Tôi còn nhớ một người anh em họ tôi muốn được vào một trong những "thiên đàng trường học” kia, đã phải chạy chọt đủ kiểu, gửi hết đơn này đến đơn khác cho quan khâm sứ, cho quan công sứ, cho quan đốc trường quốc học và quan đốc trường tiểu học. Tất nhiên, chẳng ai thèm trả lời anh. Một hôm, anh đánh bạo mang đơn đến xin quan đốc, một người Pháp, phụ trách cái trường mà tôi đã được đặc ẩn vào học trước đó ít lâu. “Quan đốc” thấy anh cả gan như thế, nổi khùng quát tháo. “Ai cho phép mày đến đây?” rồi xé vụn lá đơn trước những cặp mắt ngơ ngác của cả lớp học. Người ta bảo ngân sách không cho phép chính phủ mở trường mới. Không hẳn thế đâu. Trong số 12 triệu đồng của ngân sách Nam Kỳ, thì 10 triệu đã tìm đường chui sâu vào túi các ngài viên chức rồi.
Ngoài ra, chính phủ thuộc địa lại tìm đủ mọi cách để ngăn cản không cho thanh niên An Nam sang du học bên Pháp, vì sợ nhiễm phải chủ nghĩa cộng sản. Điều 500 (bis) trong nghị định ngày 20 tháng 6 năm 1921 về học chính ở Đông Dương quy định:
“Người bản xứ nào, vô luận là dân thuộc địa Pháp hoặc dân do Pháp bảo hộ muốn sang chính quốc du học đều phải được quan toàn quyền cho phép. Quan toàn quyền sẽ quyết định, sau khi hỏi ý kiến quan thủ hiến kỳ và quan giám đốc nha học chính. Học bạ ấy phải được quan toàn quyền chứng thực. [....]
“Làm cho dân ngu để dễ trị”, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất.
(Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2. NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, 2011)
Câu 1. Xác định thể loại và thời kỳ sáng tác văn bản Chính sách ngu dân.
Câu 2. Văn bản Chính sách ngu dân gồm những luận điểm chính nào? Hãy gọi lên các luận điểm đó.
Câu 3. Nhận xét cách triển khai luận điểm 1 (sử dụng bằng chứng, lí lẽ và thao tác lập luận). Từ đó cho thấy mục đích và vai trò của luận điểm đối với luận đề.
Câu 4. Vì sao thực dân Pháp mở ít trường học và ngăn cản thanh niên An Nam sang du học bên Pháp? Thái độ của tác giả đối với vấn đề này?
Câu 5. Xác định mục đích của văn bản đọc hiểu trên. Từ đó cho biết giá trị nhận thức của văn bản và ý nghĩa của văn bản đối với xã hội ngày nay?
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1. Viết đoạn nghị luận (200 chữ) nhận xét, đánh giá về nghệ thuật lập luận (chú ý dẫn chứng và giọng điệu, câu khẳng định, phủ định) của tác giả Nguyễn Ái Quốc trong văn bản Chính sách ngu dân ở trên.
Câu 2. Viết bài nghị luận (600 chữ) so sánh, đánh giá làm nổi bật nét tương đồng và khác biệt ở 2 bài thơ Dặn con – Huy Cận và Dặn con – Trần Nhuận Minh.
DẶN CON
(Huy Cận, Hạt lại gieo, NXB Văn học, 1984)
|
Con lớn lên, con ơi Yêu đời và yêu người Yêu tình yêu say đắm Nghìn năm mặn muối đời;
Yêu tạo vật thiên nhiên Yêu tổ tiên đất nước Yêu mộng đẹp nối liền Tuổi trẻ, già sau trước.
Lòng con rồi tha thiết - Cha đoán chẳng sai đâu! Cứ lòng cha cha biết Yêu người đến khổ đau |
Nhưng con ơi, cha dặn Trong trái tim vô hạn Dành riêng chỗ, con nghe Cho ngói ngời tình bạn
Lớn lên con sẽ rõ Tình đó chẳng có nhiều Lại càng nên chăm chút Cho đời thêm phì nhiêu.
Cha làm thơ dặn con Mà cũng là tặng bạn Ôi tình nghĩa vẹn tròn Chẳng bao giờ nứt rạn. |
DẶN CON
(Trần Nhuận Minh – www.thivien.net)
|
Chẳng ai muốn làm người hành khất Tội trời đày ở nhân gian Con không được cười giễu họ Dù họ hôi hám úa tàn
Nhà mình sát đường, họ đến Có cho thì có là bao Con không bao giờ được hỏi Quê hương họ ở nơi nào |
Con chó nhà mình rất hư Cứ thấy ăn mày là cắn Con phải răn dạy nó đi Nếu không thì con đem bán
Mình tạm gọi là no ấm Ai biết cơ trời vần xoay Lòng tốt gửi vào thiên hạ Biết đâu nuôi bố sau này… |
Đáp án
Câu 1.
Phương pháp giải:
Chú ý các lý lẽ, lập luận của tác giả
Liên hệ với lịch sử
Lời giải chi tiết:
- Thể loại: văn bản nghị luận.
- Thời kỳ sáng tác: trong khoảng những năm 1921–1925, khi tác giả đang hoạt động tại Pháp (viết bằng tiếng Pháp) và được xuất bản đầu tiên năm 1925 tại Paris (Thủ đô nước Pháp).
Câu 2
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và xác định các luận điểm chính
Lời giải chi tiết:
- Gồm 3 luận điểm chính.
- Tên gọi 3 luận điểm chính.
+ Kiểm duyệt báo chí tại bản xứ.
+ Mở ít trường học.
+ Ngăn cản thanh niên An Nam sang du học bên Pháp
Câu 3
Phương pháp giải:
Dựa vào câu trả lời của câu 2 để xác định luận điểm 1
Rút ra kết luận về thao tác lập luận chính
Rút ra mục đích, vai trò của luận điểm đối với toàn văn bản
Lời giải chi tiết:
– Sử dụng bằng chứng xác thực là lời dẫn trực tiếp (trong ngoặc kép) cụ thể (HS tự đưa dẫn chứng); con số, chuyện về người lính tình nguyện Mangát bị tù 5 năm vì dám nói lên sự thật → bằng chứng ở đầu và cuối luận điểm
– Dùng lí lẽ: Với biện pháp đó, chính quyền Đông Dương có thể im được tất cả mọi vụ nhơ nhớp và tha hồ mà lạm quyền → để phân tích sự áp chế của thực dân Pháp với thuộc địa thể hiện trắng trợn ngay ở chính sách
- Thao tác lập luận chính: phân tích, chứng minh
- Mục đích, vai trò của luận điểm:
+ Bóc trần bộ mặt của thực dân Pháp trong lĩnh vực báo chí, truyền thông nhằm che đậy sự thật, điều khiển mọi việc theo ý muốn của họ, tuyệt đối không có dân chủ, tự do.
+ Là luận điểm chính, có dung lượng lớn nhất văn bản chứng minh cho một chính sách ngu dân của thực dân Pháp ở thuộc địa (Việt Nam)
Câu 4
Phương pháp giải:
Tìm kiếm thông tin trong văn bản
Chú ý cách tác giả miêu tả tình cảnh của nhân dân ta và cách ứng xử của thực dân Pháp để rút ra thái độ của tác giả
Lời giải chi tiết:
– Thực dân Pháp mở ít trường học, ngăn cản thanh niên An Nam du học vì:
+ Để dân thuộc địa ít học, ít hiểu biết cho dễ bề cai trị; vì kinh phí mở trường đã bị quan chức thực dân ở thuộc địa nham nhũng gần hết.
+ Ngăn cản thanh niên An Nam du học: vì không muốn dân An Nam có tri thức; để bưng bít thông tin ở thuộc địa để người dân tiến bộ Pháp không biết sự thật là thực dân Pháp đang bóc lột, đàn áp người dân ở thuộc địa...
– Tác giả vô cùng căm phẫn khi kể câu chuyện người anh em họ xin học cho con:
+ Miêu tả tình cảnh khổ sở, nhục nhã vì bị xúc phạm: chạy chọt đủ kiểu, gửi hết đơn này đến đơn khác cho quan khâm sứ, cho quan công sứ, cho quan đốc trường học mà chẳng ai thèm trả lời.
+ Miêu tả ứng xử thô bỉ, vô nhân đạo của quan đốc trường tiểu học: “Ai cho phép mày đến đây?” rồi xé vụn lá đơn trước những cặp mắt ngơ ngác của cả lớp học.
Câu 5
Phương pháp giải:
Dựa vào nội dung văn bản và thực tế lịch sử nước ta giai đoạn đó
Rút ra ý nghĩa hiện thực của văn bản, từ đó suy ra kết luận của em về giá trị của văn bản và ý nghĩa đối với xã hội ngày nay
Lời giải chi tiết:
- Mục đích của văn bản:
+ Tố cáo chính sách ngu dân của thực dân Pháp ở thuộc địa (Việt Nam).
+ Phơi bày nỗi thống khổ của người dân thuộc địa: sống dưới sự áp chế, không có quyền tự do, quyền học tập... sẽ phải sống triển miền trong mu muội và sự áp bức.
- Vấn đề tác giả nêu lên trong văn bản có ý nghĩa đối với xã hội ngày nay:
+ Độc giả nhận thức bộ mặt của bọn thực dân, nỗi thống khổ của người dân mất nước.
+ Đánh thức người đọc: khao khát được học là khao khát cao đẹp của của con
người; muốn không bị lừa gạt, bóc lột cần phải có tri thức; con người dễ bị cai trị nhất là những người thất học.
II. VIẾT
Câu 1
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức và nội dung đoạn văn
Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn phân tích nhận xét, đánh giá nghệ thuật văn bản nghị luận
Lời giải chi tiết:
Đoạn đủ dung lượng, hướng vào nội dung sau:
- Dẫn chứng xác thực (dẫn trực tiếp); bằng chứng xác thực từ thực tế (số liệu, tên tuổi của người được nêu).
- Ngôn ngữ, giọng điệu mỉa mai thâm thúy, châm biếm sâu cay (bóc lột dân bản xứ một cách êm thấm, bọn cá mập của nền văn minh; làm thương tổn đến sự tôn kính đối với các nhà cầm quyền; còn rờ mó cả vào thư từ riêng; “thiên đàng trường học”...)
- Câu khẳng định, phủ định:
+ Phủ định: Không hẳn thế đâu.
+ “Làm cho dân ngu để dễ trị”, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các
thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất.
- Mục đích, ý nghĩa của văn bản (xem đáp án câu 5).
Câu 2
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức, dung lượng và vấn đề nghị luận
Vận dụng kĩ năng viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ
Lời giải chi tiết:
|
Phần chính |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài (0,5đ) |
- Giới thiệu vấn đề (điểm chung giữa 2 tác phẩm đề yêu cầu so sánh); 2 tác phẩm và tác giả cần so sánh. - Nêu bình diện cần so sánh, vị trí của chúng đối với tác phẩm/ dư luận. |
|
Thân bài (2,75đ) |
* Điểm tương đồng: - Thể loại, hình thức của 2 tác phẩm: tác phẩm thơ để dặn con; câu từ giản dị sâu sắc, chân thành (không dùng thủ pháp nghệ thuật cầu kỳ, xa lạ). – Về đề tài, nội dung, nhan đề, khát vọng mong muốn, tình cảm của người cha dành cho con: có chung đề tài, nhan đề và thể hiện nỗi lòng, tình cảm tha thiết trìu mến. * Điểm khác biệt: - Lời cha dặn: + Dặn con – Huy Cận: con hãy là người sống giàu tình yêu (yêu đời, người, yêu thiên nhiên đất nước, đặc biệt là xây đắp tình bè bạn và phải yêu đến tận cùng, đừng hời hợt – Yêu người đến khổ đau) + Dặn con – Trần Nhuận Minh: dặn con yêu thương qua ứng xử cụ thể với người ăn mày, chú ý đến lòng tự trọng của người bất hạnh, sa cơ (Con không bao giờ được hỏi/Quê hương họ ở nơi nào); Dặn con quy luật cuộc đời (Ai biết cơ trời vần xoay...) - Mạch cảm xúc, hình ảnh, các thủ pháp nghệ thuật: + Dặn con – Huy Cận: điệp từ, câu cảm. + Dặn con – Trần Nhuận Minh: như một câu chuyện, lời tâm tình. + Mạch cảm xúc: HS tự làm. * Ấn tượng của cá nhân về hình thức, nội dung nổi bật của từng tác phẩm (HS tự trình bày) |
|
Kết bài (0,25đ) |
- Khẳng định thành công của 2 tác phẩm về giá trị giáo dục và nhận thức, ý nghĩa... - Đánh giá sự đóng góp của 2 tác giả đối với nền văn học nước nhà. |
|
Yêu cầu khác (0,5đ) |
– Sử dụng thao tác lập luận so sánh, phân tích, chứng minh, tổng hợp. - Thể hiện rõ sự đánh giá của cá nhân về nhân vật được so sánh. |
Đề thi học kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 5
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4 điểm)
Đọc văn bản sau:
TRỜI SAO ĐÊM SẼ BIẾN MẤT DO Ô NHIỄM ÁNH SÁNG
(Phương Anh dịch)
Việc sử dụng ngày càng nhiều diode phát sáng (đèn LED) đang khiến chúng ta dần không nhìn thấy dải Ngân hà nữa, đồng thời ảnh hưởng đến sức khỏe con người và đời sống hoang dã.
Bầu trời đêm giờ đây không còn màu đen với vô vàn vì sao lung linh, mà le lói vài chấm sáng trên nền trời mùa hè xám đậm. Dải Ngân hà đã từng trải dài lấp lánh nay cũng biến mất. Mùa hè đến tiết lộ một lời nguyền nữa của cuộc sống
hiện đại: ô nhiễm ánh sáng. Theo nghiên cứu mới, đèn LED và các loại đèn khác được dùng ngày càng nhiều đang làm sáng bầu trời ban đêm với tốc độ đáng kể. Ánh sáng tràn lan từ đèn treo ngoài trời, đèn đường, đèn quảng cáo, đèn sân vận động đang làm mờ ánh sao đêm. Vào năm 2016, các nhà thiên văn học cho biết 1/3 nhân loại không còn nhìn thấy dải Ngân hà. Kể từ đó, tình trạng ô nhiễm ánh sáng đã xấu đi rất nhiều. Ước tính với tốc độ hiện giờ, trong 20 năm nữa ta sẽ không còn nhìn thấy phần lớn các chùm sao chính nữa. Nỗi mất mát này là vô cùng lớn cả về mặt khoa học lẫn văn hóa.
Nghiên cứu của các nhà khoa học tại Trung tâm Khoa học Địa chất Đức cho thấy ô nhiễm ánh sáng hiện đang khiến bầu trời đêm sáng lên với tốc độ 10% mỗi năm. Điều này sẽ xóa sổ tầm nhìn về hầu hết các ngôi sao trong vòng một thế hệ. Vài thế hệ trước đây, mọi người thường xuyên được chiêm ngưỡng hình ảnh lấp lánh của vũ trụ. Còn lúc này, sao trời đã trở nên hiếm thấy. Hiện chỉ những người giàu nhất và một số người nghèo nhất thế giới mới có thể thấy sao, còn những người khác thì gần như không có cơ hội này.
Ngoài tác động về văn hóa và thiên văn, ô nhiễm ánh sáng còn gây ảnh hưởng sinh thái nghiêm trọng. Rùa biển và chim di cư được ánh trăng dẫn đường, ô nhiễm ánh sáng khiến chúng lạc lối. Các loài côn trùng, thức ăn chính của chim
và các động vật khác, thì bị ánh sáng nhân tạo thu hút và chết ngay khi chạm phải nguồn sáng.
Không chỉ vậy, ô nhiễm ánh sáng còn ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Đèn
LED phát ra ánh sáng xanh và gần như không có ánh đỏ hay cận hồng ngoại, khiến ta thiếu hai loại ánh sáng này. Khi chiếu lên cơ thể người, ánh đỏ kích thích các cơ quan trọng trong điều hòa đồng hồ sinh học và giấc ngủ. Theo các nhà khoa học, việc ánh sáng nhân tạo như đèn huỳnh quang và sau này là đèn LED thiếu một phần của phổ quang học có thể là nguyên nhân gây ra làn sóng béo phì hiện nay và làm tăng số ca tiểu đường.
Tuy nhiên, công chúng vẫn chưa nhìn nhận ô nhiễm ánh sáng là một mối nguy, giống như ít người biết về hệ quả tiêu cực khi hút thuốc vào những năm 80. Song, chỉ một số thay đổi đơn giản cũng có thể cải thiện đáng kể tình hình. Ví dụ, mỗi gia đình nên để đèn treo ngoài trời hướng xuống dưới, có tấm ngăn côn trùng, sáng vừa đủ, có ánh đỏ và cam chứ không chỉ xanh trắng.
Ngoài ra, chính quyền một số nước đang xem xét các đề xuất cắt giảm ô nhiễm ánh sáng. Trong đó, một ủy ban đặc biệt của Quốc hội Anh đã đề nghị thành lập một bộ chuyên trách về bầu trời đêm, lập ra các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về độ sáng và hướng chiếu sáng, có thể sẽ mang lại hiệu quả lớn.
Việc thay đổi bộ mặt của hành tinh và làm cho đèn LED trở nên thân thiện hơn đòi hỏi nhiều nỗ lực, song là điều cần thiết vì nó có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của con người.
(https://tiasang.com.vn)
Câu 1. Xác định đề tài, thể loại của văn bản trên?
Câu 2. Nhan đề của văn bản có phù hợp với nội dung bài viết không? Nhan đề đó có ý nghĩa như thế nào?
Câu 3. Xác định các dữ liệu quan trọng trong văn bản và cho biết chúng thuộc dữ liệu sơ cấp hay thứ cấp? Chúng có vai trò gì trong văn bản?
Câu 4. Vì sao ánh sáng đèn LED lại tác động xấu tới thiên văn, ô nhiễm ánh sáng sinh thái? Vì sao đèn LED được sử dụng ngày càng nhiều, tác giả cảnh báo điều gì?
Câu 5. Em có đồng ý với việc mỗi quốc gia sẽ thành lập một Bộ chuyên trách về bầu trời đêm, lập ra các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về độ sáng và hướng chiếu sáng của ủy ban đặc biệt của Quốc hội Anh không? Vì sao?
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1.
“Chỉ có học thực mới có năng lực thực; chỉ có năng lực thực mới có thể làm thực; chỉ có làm thực mới có thể tạo ra giá trị thực; chỉ có tạo ra giá trị thực mới có thể sống thực, mới có thể có cuộc đời tự do. Tất cả, bắt đầu từ thực học!”
(Trích Giản Tư Trung, Đúng việc, NXB Tri thức, 2023)
Viết đoạn văn nghị luận (200 chữ) bày tỏ quan điểm của em về ý kiến trên.
Câu 2. Viết văn bản nghị luận (600 chữ) so sánh, đánh giá làm rõ nét tương đồng và khác biệt về nội dung và bút pháp trong 2 đoạn nhật ký sau. Từ đó cho biết những trang nhật ký đó đã tác động tới bạn như thế nào?
Đoạn 1:
3.5.70
Tình hình Phổ Cường trở lại căng thẳng, mình vừa đi khỏi là xe tăng ùa lên, máy bay địch chụp quân ngay những nơi mình hay ở. Thuỷ, Liên, Hưng, Lợi đều đã bị bắt... Em của mình có sao không? Nỗi lo âu làm mình mệt mỏi, bải hoải toàn cơ thể. Ôi, có cách nào bảo vệ được em, chị sẽ làm tất cả dù phải trả một giá đắt như thế nào. Kim sang, ngồi nhìn đôi mắt Kim chớp lia lịa và những giọt nước mắt chực trào ra khỏi mi mắt, mình hiểu lòng cô gái ấy. Cũng như chị, dù em có lo âu đến cháy ruột cháy lòng cũng đành bó tay hồi hộp theo dõi từng bước đi của quân thù đang giày xéo quê hương và đe dọa người thân yêu của mình.
5.5.70
Cuộc chiến tranh lan rộng trên dải đất Đông Dương. Thằng chó đều Ních-xơn đã liều lĩnh điên cuồng mở rộng thêm cuộc chiến. Chúng ta sẽ phải đương đầu với một khó khăn ghê gớm hơn nữa đây. Nhưng tạo đã thể cùng các đồng chí của tao rồi, dù có chết cũng quyết đánh cho đến cùng... Ôi! Căm thù đến bầm gan tím ruột. Tại sao cũng là con người mà lại có những con người độc ác tàn tệ muốn lấy máu đồng bào để làm nước tưới cho gốc cây vàng của nó như vậy?
(Nhật ký Đặng Thùy Trâm, NXB Hội Nhà Văn, 2005)
Đoạn 2:
20.11.1971 6
Cuộc sống tuyệt vời biết bao, trong thực tế và trên trang sách. Nhưng cuộc sống cũng bi thảm biết bao. Cái đẹp còn trộn lẫn niềm sầu muộn. Cái nên thơ còn lóng lánh giọt nước mắt ở đời. Bao giờ để niềm vui về cùng hạnh phúc, để những đôi bạn bình yên dạo trong rừng bạch đàn, có ánh nắng xanh dịu và những đàn chim câu trắng muốt điểm sáng của rừng?
Phải đấy, rừng không nên thơ như ta tưởng. Và để ngày mai tuyệt diệu ấy, hôm nay, có bao người cầm súng, có bao người gửi gắm vào thiên nhiên xanh tươi, vào cánh rừng gai góc âm u tất cả thời thanh xuân của mình. Ai đấy, khi nắm tay người bạn thân yêu của mình, khi cánh buồm xanh đi về, cánh cửa trời rộng mở, chớ quên dưới chân mình là cát sỏi, là hòn đất đượm mồ hôi, thấm máu của bao thế hệ, mà cuộc sống của họ đã xa xôi...
(Nguyễn Văn Thạc, Mãi mãi tuổi hai mươi, NXB Thanh niên, 2003)
Đáp án
Câu 1.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, rút ra nội dung chính
Chú ý các đặc điểm của thể loại (lí lẽ, dẫn chứng)
Lời giải chi tiết:
- Đề tài: môi trường (ánh sáng)
- Thể loại: văn bản thông tin
Câu 2
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, rút ra nội dung chính, từ đó suy ra kết luận về nhan đề văn bản có phù hợp với nội dung bài viết không và phân tích ý nghĩa (cảnh báo điều gì)
Lời giải chi tiết:
- Nhan đề: 20 năm nữa, trời sao đêm sẽ biến mất do ô nhiễm ánh sáng phù hợp với nội dung của văn bản.
- Nhan đề đó có ý nghĩa: mang tính cảnh báo đối với người đọc về sự ô nhiễm
ánh sáng đối với môi trường, con người.
Câu 3
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về dữ liệu sơ cấp và thứ cấp
Lời giải chi tiết:
- Dữ liệu quan trọng
+ Thực trạng ánh sáng tràn lan (ngày càng tăng) từ đèn treo ngoài trời, đèn đường, đèn quảng cáo, đèn sân vận động đang làm mờ ánh sao đêm (Nghiên cứu của các nhà khoa học tại Trung tâm Khoa học địa chất Đức cho thấy ô nhiễm ánh sáng hiện đang khiến bầu trời đêm sáng lên với tốc độ 10% mỗi năm).
+ Ô nhiễm ánh sáng còn ảnh hưởng tới sức khỏe con người (Đèn LED phát ra ánh sáng xanh và gần như không có ánh đỏ hay cận hồng ngoại, khiến ta thiếu hai loại ánh sáng này. Khi chiếu lên cơ thể người, ánh đỏ kích thích các cơ chế như phân giải lượng đường cao trong máu hoặc tăng sản xuất melatonin, chất quan trọng trong điều hòa đồng hồ sinh học và giấc ngủ).
+ Một số nước đang xem xét các đề xuất cắt giảm ô nhiễm ánh sáng.
- Hầu hết là dữ liệu thứ cấp
- Các dữ liệu có vai trò quan trọng trong văn bản: làm rõ thực trạng và những số liệu nghiên cứu về tác hại của anh sáng đền LED đối với môi trường và sức khỏe con người, là cơ sở để tác giả trình bày tiếp các những dự án về ánh của các nước trong nghiên ánh sáng đèn LED.
Câu 4
Phương pháp giải:
Tìm kiếm thông tin trong văn bản
Lời giải chi tiết:
- Ánh sáng đèn LED lại tác động xấu tới thiên văn, ô nhiễm hệ sinh thái vì:
+ Rùa biển và chim di cư được ánh trăng dẫn đường, ô nhiễm ánh sáng khiến chúng lạc lối. Các loài côn trùng - thức ăn chính của chim và các động vật khác, thì bị ánh sáng nhân tạo thu hút và chết ngay khi chạm phải nguồn sáng.
+ Ô nhiễm ánh sáng hiện đang khiến bầu trời đêm sáng lên với tốc độ 10% mỗi năm. Điều này sẽ xóa sổ tầm nhìn về hầu hết các ngôi sao trong vòng một thế hệ. Vài thế hệ trước đây, mọi người thường xuyên được chiêm ngưỡng hình ảnh lấp lánh của vũ trụ. Còn lúc này, sao trời đã trở nên hiếm thấy.
- Đèn LED được sử dụng ngày càng nhiều vì tạo ra ánh theo ý muốn của con người; khiến cho không gian đêm trở nên lung linh, tuyệt đẹp...
- Cảnh báo của tác giả: HS tự trả lời (đưa dẫn chứng từ văn bản).
Câu 5
Phương pháp giải:
HS tự trả lời theo nhận thức và quan điểm cá nhân
Lời giải chi tiết:
– HS tự trả lời theo nhận thức và quan điểm cá nhân.
- Yêu cầu: có 2 lí do trở lên để bảo vệ quan điểm của cá nhân (các lí do ấy cần dựa vào những căn cứ khoa học của văn bản) và sát với thực tiễn của địa phương, quốc gia.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức và nội dung đoạn văn
Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn bày tỏ quan điểm về một ý kiến
Lời giải chi tiết:
Đoạn đủ dung lượng, nội dung thể hiện rõ quan điểm cá nhân về học thực:
– Làm rõ cách hiểu về ý kiến được trích dẫn (ngắn gọn): học thực mới tạo ra giá trị (cần đối lập với học vì cha mẹ, học vì điểm...).
– Đồng ý/không đồng ý: cần có 2 lí do trở lên để bảo vệ ý kiến của mình.(diễn đạt mạch lạc, thuyết phục).
Câu 2
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức, dung lượng và vấn đề nghị luận
Vận dụng kĩ năng viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm ký
Lời giải chi tiết:
|
Phần chính |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài (0,5đ) |
- Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm cần so sánh, đánh giá. - Nêu luận đề: nét khác biệt và điểm tương đồng và thành công riêng của mỗi tác giả. |
|
Thân bài (3,0đ) |
* Nét tương đồng: - Hoàn cảnh ra đời trong kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam. – Tác giả: đều rất trẻ và đã hy sinh ở chiến trường. – Nội dung và ý nghĩa xã hội của 2 đoạn nhật ký: + Phản ánh hiện thực khách quan, thời đại: cuộc kháng chiến có nhiều hy sinh mất mát. + Thể hiện chủ thể yêu nước và sống giàu tình cảm, trách nhiệm. * Khác biệt: - Nhật ký Đặng Thùy Trâm giàu sự việc, bộc lộ trực tiếp lòng yêu nước và căm thù giặc. - Nhật ký Nguyễn Văn Thạc ít sự kiện, giàu cảm xúc, văn phong mượt mà, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc. |
|
Kết bài (0,5đ) |
Nêu những tác động của 2 nhật ký trên tới bản thân (cảm xúc, suy nghĩ). |
Đề thi học kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 6
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích
SỐNG MÃI VỚI THỦ ĐÔ
Tóm tắt bối cảnh: Sống mãi với Thủ đô là tiểu thuyết lịch sử viết về 60 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Hà Nội năm 1946, ca ngợi tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh của quân và dân Thủ đô. Phần đầu tác phẩm tái hiện không khí căng thẳng của Hà Nội trước và trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến. Nhân vật Trần Văn, một giáo viên trẻ, quyết định ở lại Hà Nội tham gia đội tự vệ chiến đấu. Đoạn văn bản sau kể về cuộc đối thoại giữa Trần Văn và Loan, một học sinh tỉnh lẻ, trước khi Loan tập trung về tổ tác chiến.
- Loan đi nhé. Loan có thấy vui không?
- Em vui lắm.
- Loan cố vẽ cho xong cái bản đồ. Bình thường thì đây không phải là việc của một người học sinh. Nhưng lúc này việc gì đến tay thì ta làm nấy. Chúng ta sẽ không ngần ngại một việc gì.
- Em không ngần ngại gì cả. Mấy hôm trước, em còn lo cho việc học của em, nhưng từ lúc đến đây, thì em yên trí lắm rồi. Em cũng cần nói rõ là em muốn cầm súng giết giặc, chứ không muốn làm cái công việc tuyên truyền viết lách. Nhưng lúc này, em vui vẻ nhận làm công việc này.
Trần Văn chìa tay nắm chặt bàn tay lạnh giá của Loan:
- Chúng ta sẽ còn gặp nhau nhiều. Loan khoẻ mạnh luôn nhé.
Loan quyến luyến không muốn chia tay. Anh muốn nói lên lòng biết ơn của mình đối với Trần Văn. Đến đây, không những Loan có một công tác nhất định, mà còn được yên tâm về mặt sinh kế. Thế là Loan được ở lại để góp phần của một người tỉnh nhỏ vào việc bảo vệ cái thủ đô mà chỉ riêng cái tên cũng làm anh rung động. Nhưng anh vẫn thấy bịn rịn khi phải xa Trần Văn. Cuộc chia tay lúc này có một cái gì đột ngột, choáng váng đối với Loan. Anh vẫn cần có những người thân giúp đỡ trong bước đầu bỡ ngỡ.
- Loan nghĩ gì thế? - Trần Văn hỏi - Từ lúc đến đây, Loan thấy thế nào?
- Em thấy mọi người đều sốt sắng. Tất cả Hà Nội chuẩn bị đánh giặc. Một em bé đánh giày cũng xin ở lại. Một người không lương thiện như Long đen mà còn biết nghĩ, huống chi mình. Em có cảm tưởng rằng rồi đây, dân tộc mình sẽ trong sạch ra, mạnh mẽ thêm lên.
- Tôi cũng tin như vậy.
- Nhưng Long đen giận bỏ đi thì làm thế nào? Có thể nguy hiểm được.
- Trên thì vẫn chưa thật tin anh ta. Mà cũng đúng thôi, những người như thế thì làm sao bỗng chốc mà tin ngay được. Nhưng đây là lúc cái lương tâm của một con người đang được thức dậy.
Phải có một lòng yêu chân thành mới làm cho những đống tro ấy cháy lại. Sự lạnh lẽo của tình cảm không bao giờ cứu vớt được một con người. Tôi sẽ gặp lại anh ta. Họ còn đáng quý hơn rất nhiều người lạnh nhạt với thời cuộc, những người chẳng nghĩ gì ngoài cái thân của họ.
Trần Văn cười một cái mỉa mai. Anh muốn ám chỉ vợ chồng Trinh. Câu nói khinh bạc của Trinh sáng ngày ở nhà ga vẫn còn làm cho anh bực tức. Anh nhún vai:
- Cái giá trị của con người đang được định lại hết, Loan ạ. Rồi đây, ai là người thiết tha với thủ đô, ai là người chỉ có cái vỏ thủ đô, sẽ rõ cả ra. Nhưng đấy là chuyện khác. Còn chúng ta thì công việc đã rõ ràng rồi. Chúng ta ở lại. Giờ quyết liệt đã đến. Chúng ta sắp đi vào một con đường mà sống chết chỉ là một. Không biết Loan nghĩ thế nào, chứ riêng tôi, tôi không băn khoăn rằng tôi sẽ sống hay chết trong cuộc chiến đấu này. Điều quan trọng là chúng mình có mặt. Sống, chúng ta sẽ được trông thấy thủ đô ngàn năm không còn bóng giặc. Chết, chúng ta sẽ có cái tự hào của một thế hệ đã hi sinh lần cuối cùng cho tự do của Tổ quốc. Chúng ta là những người nô lệ cuối cùng đồng thời cũng là những người tự do đầu tiên. Tôi thấy rất rõ. Sống tức là có mặt ở những nơi cần đến chúng ta. Tôi đã nhiều lúc vắng mặt rồi. Rất buồn cho những kẻ đứng ngoài.
(Nguyễn Huy Tưởng*, Sống mãi với Thủ đô, NXB Văn học, 2016, Chương 9, tr 63-64)
*Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960) quê ở làng Dục Tú, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Dục Tú, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội). Ông là nhà văn, nhà viết kịch chuyên khai thác đề tài lịch sử. Các tác phẩm tiêu biểu của ông: Đêm hội Long Trì (tiểu thuyết lịch sử, 1942), Vũ Như Tô (kịch lịch sử, 1943), An Tư (tiểu thuyết lịch sử, 1944)... Tiểu thuyết “Sống mãi với Thủ đô” được viết sau khi hòa bình lập lại (năm 1954), khi nhà văn Nguyễn Huy Tưởng theo đoàn quân kháng chiến trở về Hà Nội. Tác phẩm được xuất bản lần đầu năm 1961.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.
Câu 2. Trong khi vui vẻ nhận làm công việc tuyên truyền, nhân vật Loan vẫn mong muốn làm gì?
Câu 3. Nêu hiệu quả của việc sử dụng các từ trái nghĩa trong câu văn sau: Chúng ta là những người nô lệ cuối cùng đồng thời cũng là những người tự do đầu tiên.
Câu 4. Anh/chị hiểu như thế nào về nghĩa của câu Sống tức là có mặt ở những nơi cần đến chúng ta trong văn bản?
Câu 5. Hai ngữ liệu sau đây có sự tương đồng nào về ý nghĩa?
- Sự lạnh lẽo của tình cảm không bao giờ cứu vớt được một con người.
(Sống mãi với Thủ đô, Nguyễn Huy Tưởng)
- Có gì đẹp trên đời hơn thế
Người yêu người, sống để yêu nhau
(Bài ca mùa xuân 1961, Tố Hữu)
II. VIẾT
Câu 1
Anh/Chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Trần Văn trong văn bản được dẫn ở phần Đọc hiểu.
Câu 2
Có ý kiến cho rằng: Trưởng thành là khi biết sống có trách nhiệm.
Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về ý kiến trên.
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về các loại ngôi kể trong tác phẩm.
- Căn cứ vào đại từ xưng hô, điểm nhìn trần thuật để xác định.
Cách giải:
Ngôi kể được sử dụng trong văn bản: ngôi kể thứ ba.
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kỹ đoạn đối thoại của nhân vật Loan trong văn bản
- Tìm kiếm chi tiết thể hiện mong muốn của nhân vật.
Cách giải:
Loan mong muốn được cầm súng giết giặc.
Câu 3:
Phương pháp:
- Xác định các cặp từ trái nghĩa
- Phân tích tác dụng của chúng trong việc diễn đạt nội dung, tư tưởng của câu văn, đặc biệt là việc thể hiện quan niệm của nhân vật và dụng ý nghệ thuật của tác giả.
Cách giải:
- Các từ trái nghĩa: nô lệ - tự do; cuối cùng - đầu tiên.
- Hiệu quả:
+ Nhấn mạnh niềm tin của nhân vật Trần Văn vào ý nghĩa lớn lao của sự hi sinh của những người yêu nước: đổi lấy độc lập tự do cho dân tộc, tạo ra bước ngoặt lịch sử, mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước.
+ Tác giả ngợi ca vẻ đẹp của nhân vật Trần Văn cũng như những thanh niên yêu nước lúc bấy giờ, những con người có lí tưởng sống cao đẹp.
+ Làm tăng tính gợi hình, gợi cảm, sinh động, hấp dẫn cho đoạn văn.
Câu 4:
Phương pháp:
- Giải thích nghĩa của câu nói.
- Liên hệ đến quan niệm về lẽ sống, trách nhiệm của con người với đất nước và cộng đồng.
Cách giải:
- Câu nói khẳng định: sống là phải biết gánh vác trách nhiệm, sẵn sàng cống hiến cho đất nước. Có mặt ở nơi Tổ quốc cần chính là lựa chọn mang lại ý nghĩa cho cuộc sống.
- Câu nói khuyên mỗi người cần biết sống cống hiến, luôn sẵn sàng khi Tổ quốc kêu gọi.
Câu 5:
Phương pháp:
- Xác định nội dung chính của từng ngữ liệu
- Tìm điểm chung về tư tưởng, giá trị mà cả hai cùng đề cao.
Cách giải:
Hai ngữ liệu cùng khẳng định tình cảm, tình yêu thương mang lại những giá trị tốt đẹp cho con người, cuộc đời, đồng thời đề cao lối sống nhân ái, gắn bó, biết đồng cảm, sẻ chia...
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Là người có quan niệm sống cao đẹp: Tình yêu thương có sức mạnh cảm hoá con người; sống có ý nghĩa là được có mặt ở những nơi Tổ quốc cần.
- Là người có tinh thần chiến đấu vì Tổ quốc: ý thức rõ trách nhiệm của thế hệ mình trước vận mệnh dân tộc, luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Thủ đô.
- Là người có niềm tin vào con người và tương lai của dân tộc.
- Nghệ thuật khắc hoạ nhân vật: Ngôi kể thứ ba, điểm nhìn linh hoạt tạo tính khách quan; đối thoại sinh động giúp nhân vật bộc lộ trực tiếp quan niệm, lí tưởng; ngôn ngữ giàu chất triết lí và cảm xúc…
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Trong đoạn trích “Sống mãi với Thủ đô”, nhân vật Trần Văn hiện lên là một thanh niên trí thức Hà Nội với vẻ đẹp của lẽ sống cao cả và tinh thần trách nhiệm sâu sắc. Trước hết, anh là người có một niềm tin mãnh liệt vào con người và tương lai của dân tộc. Trần Văn tin rằng “lúc này cái lương tâm của một con người đang được thức dậy”, ngay cả những kẻ “không lương thiện” cũng có thể thay đổi, bởi “phải có một lòng yêu chân thành mới làm cho những đống tro ấy cháy lại”. Niềm tin ấy được đặt trên nền tảng của một quan niệm nhân văn sâu sắc, đề cao sức mạnh cảm hóa của tình yêu thương. Hơn thế, Trần Văn còn là hiện thân của lý tưởng sống “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Anh ý thức sâu sắc về bước ngoặt lịch sử khi khẳng định “chúng ta là những người nô lệ cuối cùng đồng thời cũng là những người tự do đầu tiên”. Quan niệm “Sống tức là có mặt ở những nơi cần đến chúng ta” đã nâng tầm ý nghĩa của sự sống, đó là sự hiện diện có trách nhiệm, sẵn sàng dấn thân. Không băn khoăn giữa sự sống và cái chết, anh chỉ biết rằng mình phải “có mặt” trong cuộc chiến đấu này. Với những phẩm chất cao quý ấy, Trần Văn xứng đáng là đại diện tiêu biểu cho thế hệ thanh niên Hà Nội “quyết tử” trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, để lại trong lòng người đọc sự cảm phục và ngưỡng mộ.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghị luận
2. Thân bài:
* Giải thích được vấn đề nghị luận
Trưởng thành là phát triển hoàn chỉnh, đầy đủ về mọi mặt; trách nhiệm là nghĩa vụ, bổn phận phải thực hiện. Ý kiến đã nhấn mạnh tinh thần trách nhiệm là thước đo đánh dấu sự trưởng thành của con người.
* Phân tích, chứng minh được vấn đề nghị luận
- Sống có trách nhiệm, con người sẽ nhìn nhận mọi vấn đề của cuộc sống một cách đa diện, sâu sắc.
- Sống có trách nhiệm, con người sẽ hành động nhằm xây dựng uy tín cá nhân và phục vụ lợi ích cộng đồng.
- Sống có trách nhiệm, con người sẽ tự chủ, tự tin, tự hoàn thiện bản thân mỗi ngày để thực hiện đầy đủ bổn phận, nghĩa vụ của mình.
* Mở rộng, nâng cao được vấn đề nghị luận và rút ra bài học
- Cần ý thức được vai trò quan trọng của lối sống có trách nhiệm đối với sự trưởng thành của mỗi người, từ đó biết sống trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội.
- Sự trưởng thành của con người có nhiều biểu hiện, bên cạnh tinh thần trách nhiệm, mỗi người cần trau dồi tri thức, tôi luyện bản lĩnh, khả năng tự lập, biết yêu thương, sẻ chia…
3. Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Hành trình trưởng thành của mỗi người không chỉ được đo đếm bằng số tuổi hay sự thay đổi về ngoại hình, mà còn bằng chiều sâu của nhân cách và sự chín chắn trong tâm hồn. Chính vì vậy, có ý kiến đã khẳng định: “Trưởng thành là khi biết sống có trách nhiệm”. Đó là một nhận định đúng đắn, sâu sắc, khái quát được một trong những phẩm chất quan trọng nhất tạo nên giá trị đích thực của một con người.
Vậy “trưởng thành” là gì? Đó là quá trình phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và đặc biệt là tâm hồn, là khi con người đủ bản lĩnh, chín chắn để đối diện với cuộc sống. “Trách nhiệm” là nghĩa vụ, bổn phận mà mỗi người phải thực hiện, là sự nhận thức và hành động đúng đắn trước những điều mình đã làm, trước những mối quan hệ và cộng đồng. Như vậy, ý kiến đã chỉ ra một tiêu chí vàng để nhận diện sự trưởng thành: đó chính là ý thức và hành động dám gánh vác, dám đương đầu với những nghĩa vụ của bản thân.
Trước hết, sống có trách nhiệm giúp con người hoàn thiện bản thân. Khi ý thức được trách nhiệm với chính mình, mỗi người sẽ biết xây dựng những kế hoạch học tập, rèn luyện sức khỏe, nuôi dưỡng tâm hồn. Thay vì sống thả trôi, buông thả, người có trách nhiệm luôn đặt ra mục tiêu và nỗ lực để đạt được, không ngừng tự sửa sai và tiến bộ. Họ hiểu rằng, sự lười biếng hay ỷ lại hôm nay chính là rào cản cho sự phát triển của ngày mai. Chính tinh thần tự chịu trách nhiệm về cuộc đời mình là nền tảng vững chắc nhất cho sự trưởng thành.
Hơn thế, sống có trách nhiệm còn là thước đo giá trị của một con người trong các mối quan hệ xã hội. Một người trưởng thành thực sự sẽ biết lo lắng, chăm sóc cho gia đình, biết giữ lời hứa với bạn bè, và biết đóng góp cho cộng đồng. Họ hiểu rằng, hạnh phúc không chỉ đến từ việc nhận mà còn từ việc cho đi và thực hiện bổn phận. Khi mỗi cá nhân đều có ý thức với công việc, với tập thể, với xã hội, những giá trị tốt đẹp sẽ được nhân lên, tạo dựng một môi trường sống văn minh, tiến bộ. Trái lại, lối sống vô trách nhiệm, chỉ biết đến quyền lợi cá nhân, thờ ơ với những người xung quanh chính là biểu hiện của sự non nớt, ấu trĩ về mặt tinh thần, khiến con người trở nên ích kỷ và nhỏ nhen.
Đặc biệt, trong bối cảnh xã hội hiện đại với muôn vàn thử thách, tinh thần trách nhiệm càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Đó là khi thanh niên biết sống có lý tưởng, cống hiến sức trẻ cho sự phát triển của đất nước; là khi mỗi người dân có ý thức bảo vệ môi trường sống, tuân thủ pháp luật, gìn giữ những giá trị văn hóa tốt đẹp. Những tấm gương như các y bác sĩ xông pha nơi tuyến đầu chống dịch, hay những người trẻ dấn thân khởi nghiệp, làm giàu chính đáng, tạo công ăn việc làm cho xã hội, đều là những minh chứng sáng ngời cho sự trưởng thành gắn liền với trách nhiệm.
Tất nhiên, trưởng thành là một quá trình phức tạp và có nhiều biểu hiện khác nhau như sự bao dung, thấu hiểu, khả năng kiểm soát cảm xúc. Tuy nhiên, trách nhiệm vẫn là nền tảng, là cốt lõi, là yếu tố quyết định để phân định ranh giới giữa người trưởng thành với kẻ chưa chín chắn. Ngược lại với lối sống ấy, vẫn tồn tại một bộ phận giới trẻ sống ích kỷ, vô tâm, đổ lỗi cho hoàn cảnh, sống dựa dẫm và thờ ơ với nỗi đau của đồng loại. Những con người ấy, dù có tuổi đời cao, vẫn mãi là những đứa trẻ lớn không thành.
Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của lối sống có trách nhiệm, mỗi người cần bắt đầu từ những điều nhỏ nhất: có trách nhiệm với lời nói, việc làm của mình, với kết quả học tập và công việc, với gia đình và bạn bè. Hãy rèn luyện tinh thần tự lập, biết suy nghĩ trước sau và dũng cảm nhận lỗi khi sai phạm. Bởi lẽ, hành trình trưởng thành không có điểm dừng, và mỗi lần ta đứng ra gánh vác một trách nhiệm, ta lại lớn thêm lên trong tâm hồn và nhân cách.
Tóm lại, trưởng thành thực sự không phải là một cái mốc thời gian, mà là một hành trình của sự chín chắn. Sống có trách nhiệm chính là chiếc chìa khóa vàng mở ra cánh cửa của sự trưởng thành đích thực. Đó không chỉ là điều cần thiết để xây dựng một cuộc đời ý nghĩa, mà còn là sứ mệnh của mỗi người trên hành trình hoàn thiện bản thân và góp phần làm cho thế giới này tốt đẹp hơn.
Đề thi học kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản:
NHỮNG THÁCH THỨC CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐỐI VỚI BẢO TỒN VĂN HÓA
[1] Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu, một dòng chảy lớn cuốn theo các luồng tư tưởng, sản phẩm, phong cách sống và hệ giá trị từ khắp nơi trên thế giới. Nó mang lại cho nhân loại nhiều cơ hội phát triển vượt bậc, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, công nghệ và giao lưu quốc tế. Nhưng đồng thời, toàn cầu hóa cũng đặt ra những thách thức lớn lao, đặc biệt với các quốc gia đang tìm cách gìn giữ bản sắc văn hóa trong thế giới phẳng. Và với một dân tộc có chiều sâu văn hóa như Việt Nam, với một thế hệ trẻ đang sống trong guồng quay hội nhập, những thách thức ấy trở nên phức tạp, đa tầng và nhiều
chiều hơn bao giờ hết.
[2] Thách thức đầu tiên, và cũng là sâu sắc nhất, chính là sự xâm nhập mạnh mẽ của các giá trị ngoại lai, làm lu mờ bản sắc dân tộc. Trong kỷ nguyên kỹ thuật số, văn hóa không còn bị giới hạn bởi biên giới quốc gia. Chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh kết nối internet, người trẻ có thể tiếp cận ngay lập tức với âm nhạc US-UK, phim ảnh Hàn Quốc, thời trang Nhật Bản, ẩm thực Trung Hoa, lối sống phương Tây... Những sản phẩm ấy thường được sản xuất chuyên nghiệp, truyền thông mạnh mẽ, bắt kịp thị hiếu và thị trường, nên dễ dàng chinh phục giới trẻ. Trong khi đó, các sản phẩm văn hóa nội địa – nhất là những giá trị truyền thống – lại chưa có hình thức thể hiện hấp dẫn, chưa có chiến lược lan tỏa hiện đại, nên nhanh chóng bị lép vế.
[3] Không hiếm bạn trẻ thuộc làu các bộ truyện tranh Nhật Bản, các dòng nhạc quốc tế, những show truyền hình Hàn Quốc, nhưng lại không thể hát trọn vẹn một bài dân ca của quê hương, không nhận diện được các biểu tượng văn hóa Việt, hoặc không nhớ rõ Tết Nguyên đán có những phong tục gì. Trong sự "thất thế" ấy, văn hóa truyền thống đang bị đẩy lùi ra sau, chỉ còn tồn tại trong các lễ hội theo mùa, những tiết học giáo dục công dân, hoặc trong các bảo tàng và di tích – nơi mà giới trẻ thường ít lui tới.
[4] Thách thức thứ hai đến từ chính những chuyển động của truyền thông và mạng xã hội. Trong thời đại số, ai nắm được kênh truyền thông, người đó kiểm soát được thị hiếu và xu hướng. Mỗi ngày, thanh niên tiếp nhận hàng trăm video giải trí, tin tức, trào lưu từ khắp thế giới. Họ bị cuốn theo những xu hướng “viral”, đôi khi rất nhất thời và vô thưởng vô phạt, đôi khi lại có tác động định hướng mạnh mẽ tới lối sống, thị hiếu và hệ giá trị. Nếu văn hóa dân tộc không được đưa vào “dòng chảy chủ lưu” của mạng xã hội, không trở thành nội dung phổ biến trong hệ sinh thái số, thì nguy cơ bị quên lãng, bị thay thế là điều không thể tránh khỏi.
[5]Thách thức thứ ba, và cũng là điều chúng ta cần đặc biệt lưu tâm, đó là sự đứt gãy trong truyền thừa các giá trị truyền thống giữa các thế hệ. Trong quá khứ, văn hóa dân tộc được duy trì thông qua đời sống làng xã, qua những câu chuyện ông bà kể lại, qua những lễ hội được tổ chức thường xuyên trong cộng đồng. Nhưng ngày nay, nhịp sống đô thị hóa, cơ cấu gia đình thu hẹp, thời gian dành cho văn hóa cộng đồng ngày càng ít đi. Thanh niên sống trong môi trường học tập và làm việc gấp gáp, chịu ảnh hưởng mạnh từ cá nhân hóa, từ thế giới ảo, nên ít có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với các “người mang văn hóa” – tức là các nghệ nhân, thầy giáo, già làng, nhà nghiên cứu – những người nắm giữ tinh hoa truyền thống. [...]
(Trích Thế hệ mang sứ mệnh “vừa giữ lửa vừa thắp sáng”, Bùi Hoài Sơn, https://special.nhandan.vn)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Vấn đề chính được bàn luận trong văn bản trên là gì?
Câu 2. Chỉ ra sự khác nhau giữa các sản phẩm của giá trị ngoại lai và sản phẩm của giá trị truyền thống trong việc tác động đến giới trẻ ở đoạn [2].
Câu 3. Phân tích sự phù hợp giữa vấn đề nghị luận với hệ thống luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản.
Câu 4. Nhận xét hiệu quả của cách nói tăng tính khẳng định trong những câu văn sau: Thách thức thứ ba, và cũng là điều chúng ta cần đặc biệt lưu tâm, đó là sự đứt gãy trong truyền thừa các giá trị truyền thống giữa các thế hệ. Trong quá khứ, văn hóa dân tộc được duy trì thông qua đời sống làng xã, qua những câu chuyện ông bà kể lại, qua những lễ hội được tổ chức thường xuyên trong cộng đồng. Nhưng ngày nay, nhịp sống đô thị hóa, cơ cấu gia đình thu hẹp, thời gian dành cho văn hóa cộng đồng ngày càng ít đi.
Câu 5. Nếu được bổ sung “thách thức thứ tư” cho bài viết trên, anh/chị sẽ trình bày điều gì? Vì sao?
II. VIẾT
Câu 1.
Với tư cách là một người trẻ trong kỉ nguyên số, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày những giải pháp cho “thách thức thứ ba” – “sự đứt gãy trong truyền thừa các giá trị truyền thống giữa các thế hệ” mà tác giả Bùi Hoài Sơn đã nêu trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ sau:
NHỮNG ĐỨA TRẺ CHƠI TRƯỚC CỬA ĐỀN
Ông từ giữ đền ơi xin ông đấy
Chấp với bọn trẻ ranh rửng mỡ làm gì
Thế là ông cười rồi ông nhỉ
Cho chúng nó chơi đừng đuổi chúng đi
Này thằng Tâm con nhà bố Tầm
Trước cửa đền không được giồng cây chuối
Lại còn hét như giặc cái
Con bé cái Nhân con bà Nhẫn kia
Những mắt cười vê tít lại cứ như sợi chỉ
Gạch sân đền ấm lên ửng má
Tiếng trẻ con non màu lá mạ
Vệt mồ hôi tươi mưởi³ quệt ngang mày.
Thật tuyệt vời thằng cháu ông Đương
Ngón tay cái rất to cho được vào lỗ mũi
Ra đây nhảy dây, ra đây trốn đuổi
Chúng như là hạt mẩy dưới hoàng hôn
Hoa mẫu đơn cũng tưng bừng í ới
Khói hương bài thơm tỉ tê lân la
Cây vun tán lên đơm xôi đóng oản
Gió liu riu cho thấm tháp chan hoà
Chợt ngẫm thấy trẻ con là giỏi nhất
Làm được buổi chiều rất giống ban mai
Thánh cũng hân hoan. Đố ai biết được
Ngài ở trong kia hay ở ngoài này.
(Trích Bóng ai gió tạt, Thi Hoàng⁴, NXB Hải Phòng, 2001, tr.33-34)
1 Đền: nơi thờ thần thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh.
2 Ông từ: chỉ những người chịu trách nhiệm trông coi, đèn hương ở đình, đền, miếu.
3 Tươi mưởi: từ láy chỉ trạng thái tươi tắn, căng tràn sức sống toát lên vẻ khỏe khoắn và rạng rỡ.
4 Nhà thơ Thi Hoàng sinh năm 1943 tại Hải Phòng. Thơ ông nổi bật với những ý tưởng lạ, những cách tân độc đáo về ngôn ngữ thơ. Ông được trao tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007.
-------HẾT-------
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về kiểu văn bản nghị luận
- Vấn đề chính thường nằm ở nhan đề, câu chủ đề của đoạn mở đầu hoặc đoạn kết luận.
Cách giải:
Vấn đề chính được bàn luận:
Những thách thức của toàn cầu hoá đối với bảo tồn văn hóa.
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kỹ đoạn [2], tìm câu văn trực tiếp so sánh hai loại sản phẩm.
- Xác định các chi tiết miêu tả đặc điểm của từng loại.
Cách giải:
Sự khác nhau giữa các sản phẩm của giá trị ngoại lai và sản phẩm của giá trị truyền
thống trong đoạn [2]:
- Những sản phẩm của giá trị ngoại lai “thường được sản xuất chuyên nghiệp, truyền
thông mạnh mẽ, bắt kịp thị hiếu và thị trường, nên dễ dàng chinh phục giới trẻ”.
- Các sản phẩm giá trị nội địa “lại chưa có hình thức thể hiện hấp dẫn, chưa có chiến
lược lan tỏa hiện đại”.
Câu 3:
Phương pháp:
- Xác định vấn đề nghị luận và hệ thống luận điểm
- Phân tích từng luận điểm: lí lẽ và bằng chứng
- Nhận xét sự liên kết, logic giữa chúng với vấn đề chính.
Cách giải:
Sự phù hợp giữa vấn đề nghị luận với hệ thống luận điểm, lí lẽ và bằng chứng:
- Hệ thống luận điểm: Tác giả triển khai ba luận điểm sáng rõ, chặt chẽ, làm rõ vấn đề
được bàn luận - những thách thức của toàn cầu hoá với việc giữ gìn bản sắc dân tộc.
+ Luận điểm 1: Sự xâm nhập mạnh mẽ của các giá trị ngoại lai khiến văn hoá nội địa
lép vế.
+ Luận điểm 2: Sự chi phối của truyền thông và mạng xã hội khiến văn hoá dân tộc
không được đưa vào “dòng chảy chủ lưu” của mạng xã hội có nguy cơ bị quên lãng.
+ Luận điểm 3: Nhịp sống đô thị hoá, cơ cấu gia đình thu hẹp, thời gian dành cho văn
hoá cộng đồng ít đi, khiến sự kết nối giữa con người với cộng đồng và truyền thống trở
nên mờ nhạt.
- Hệ thống lí lẽ: các lí lẽ được triển khai một cách logic theo trình tự nguyên nhân - kết quả; từ đó nhấn mạnh tính cấp thiết của việc giữ gìn bản sắc dân tộc giữa bối cảnh toàn cầu hoá.
- Hệ thống bằng chứng: những bằng chứng đưa vào cụ thể, gần gũi, tạo nên cơ sở thực tế rõ ràng cho những thách thức của toàn cầu hoá với việc giữ gìn bản sắc dân tộc:
+ Âm nhạc US-UK, phim Hàn Quốc, truyện tranh Nhật Bản...
+ Thực trạng bạn trẻ không thuộc dân ca, không nhớ phong tục Tết.
Như vậy, sự phù hợp giữa vấn đề được bàn luận và hệ thống luận điểm, lí lẽ, bằng chứng tạo nên sức thuyết phục cao cho văn bản.
Câu 4:
Phương pháp:
- Xác định các yếu tố ngôn ngữ tạo tính khẳng định: từ ngữ, giọng điệu.
- Phân tích hiệu quả của từng yếu tố đối với nội dung và cảm xúc người đọc.
Cách giải:
Cách nói gia tăng tính khẳng định:
+ Từ/cụm từ gia tăng tính khẳng định: “cần đặc biệt lưu tâm”...
+ Phép điệp ngữ, liệt kê: “qua đời sống làng xã, qua những câu chuyện ông bà kể lại, qua những lễ hội”...
- Nhận xét hiệu quả:
+ Nhấn mạnh vai trò quan trọng của luận điểm trong lập luận của văn bản.
+ Nhấn mạnh sức sống và sự tiếp nối bền vững của văn hoá truyền thống.
+ Tạo giọng điệu chắc chắn, quả quyết, gia tăng sức thuyết phục cho lập luận.
Câu 5:
Phương pháp:
- Dựa vào logic của văn bản: các thách thức đã nêu xoay quanh yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong
- Đề xuất thách thức về ngôn ngữ, giáo dục, hoặc tâm lý tiếp nhận của giới trẻ.
- Giải thích lý do dựa trên thực tế xã hội và nội dung văn bản.
Cách giải:
Toàn cầu hoá dẫn đến nguy cơ mai một ngôn ngữ dân tộc và phương ngữ. Bởi vì toàn cầu hoá thúc đẩy việc sử dụng các ngôn ngữ mang tính quốc tế trong giao tiếp, giáo dục, khoa học, kinh tế.... Theo đó, ngôn ngữ dân tộc, nhất là dân tộc thiểu số và phương ngữ địa phương không còn được sử dụng rộng rãi. Khi ngôn ngữ suy giảm, các giá trị văn hoá, tri thức dân gian và cách tư duy gắn với ngôn ngữ đó cũng có nguy cơ biến mất, bởi ngôn ngữ là phương tiện lưu giữ và truyền tải văn hoá.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
* Đưa ra những giải pháp
- Giải pháp 1: Kết nối với thế hệ đi trước - những “người mang văn hoá” để tìm tòi, học hỏi và thấu hiểu vẻ đẹp của những giá trị truyền thống.
- Giải pháp 2: Thực hành các trải nghiệm văn hoá để tìm hiểu và trân trọng những giá trị truyền thống (tham quan các di tích lịch sử, lễ hội truyền thống, trải nghiệm các phong tục truyền thống...).
- Giải pháp 3: Sáng tạo nội dung về văn hoá truyền thống trên không gian số (qua các video ngắn, podcast, blog...) để đưa các giá trị truyền thống trở thành chất liệu sáng tạo các sản phẩm văn hoá hiện đại, dễ tiếp cận và lan toả tới giới trẻ...).
...
* Phân tích bàn luận các giải pháp đã nêu (lí lẽ, bằng chứng)
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Để giải quyết thách thức về sự đứt gãy trong truyền thừa giá trị văn hóa giữa các thế hệ, mỗi người trẻ cần chủ động thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, chúng ta hãy chủ động kết nối với thế hệ đi trước, những người mang văn hóa như ông bà, nghệ nhân, già làng. Không chỉ lắng nghe qua lời kể, việc trực tiếp học hát dân ca, học làm bánh chưng hay tìm hiểu về các nghi lễ truyền thống sẽ giúp lớp trẻ thấu hiểu và thêm yêu vẻ đẹp cội nguồn. Bên cạnh đó, việc thực hành các trải nghiệm văn hóa đóng vai trò vô cùng quan trọng. Thay vì chỉ xem qua màn hình điện thoại, hãy tham gia các lễ hội truyền thống, đi tham quan di tích lịch sử, tự tay gói bánh hay viết câu đối. Những trải nghiệm chân thực ấy sẽ biến những giá trị trừu tượng thành ký ức sống động, từ đó nuôi dưỡng lòng trân trọng. Đặc biệt, trong kỷ nguyên số, chúng ta cần sáng tạo nội dung về văn hóa truyền thống trên không gian mạng. Những video ngắn trên TikTok, podcast kể chuyện, hay blog ẩm thực ngày Tết nếu được đầu tư công phu, hấp dẫn sẽ đưa văn hóa dân tộc vào dòng chảy chủ lưu, tiếp cận hàng triệu bạn trẻ. Khi truyền thống được kể bằng ngôn ngữ hiện đại, nó không còn là thứ xa xôi, khô khan mà trở nên gần gũi, thời thượng. Như vậy, chỉ cần có ý thức và hành động đúng đắn, thế hệ trẻ hoàn toàn có thể trở thành cầu nối vững chắc, vừa giữ lửa vừa thắp sáng những giá trị văn hóa quý báu của dân tộc.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghị luận.
2. Thân bài:
* Phân tích nội dung của bài thơ
- Dưới lăng kính đạo đức, đền là nơi linh thiêng không được phép chơi đùa, chơi đùa sẽ làm mất đi sự tôn nghiêm ở nơi đây. Nhưng dưới lăng kính thẩm mĩ, sự chơi đùa của những đứa trẻ sẽ thể hiện cái đẹp và bản chất, ý nghĩa của sự sống, sức sống; sự hồn nhiên, tinh nghịch của trẻ nhỏ khiến ngôi đền linh thiêng được trẻ hóa.
- Sự thuần khiết của tuổi thơ làm nên phép nhiệm màu ngay giữa đời thực, thậm chí, chúng chính là những vị Thánh “ở ngoài này”, ở trong cõi tục.
- Bài thơ thể hiện tình cảm yêu mến, nâng niu; cái nhìn bao dung, độ lượng của nhân vật trữ tình đối với sự thuần khiết, trong sáng và rực rỡ của thế giới tuổi thơ.
* Phân tích nghệ thuật của bài thơ
- Thể thơ tự do.
- Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố biểu cảm với tự sự và miêu tả.
- Giọng thơ sôi nổi, tươi sáng, hóm hỉnh.
- Lời thơ giàu chất khẩu ngữ nhưng vẫn tinh tế và giàu sức gợi.
* Đánh giá chung
Nhận xét về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.
3. Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Trong làng thơ Việt Nam hiện đại, Thi Hoàng được biết đến như một nghệ sĩ tài hoa với những cách tân độc đáo về ngôn ngữ và tư duy thơ. Bài thơ “Những đứa trẻ chơi trước cửa đền” trích từ tập “Bóng ai gió tạt” là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách ấy. Bằng việc tạo dựng một tình huống đầy nghịch lý, nhà thơ đã mở ra một cuộc đối thoại thú vị giữa cõi linh thiêng và thế giới trẻ thơ, từ đó ngợi ca vẻ đẹp thuần khiết, sức sống mãnh liệt và khẳng định một triết lý nhân văn sâu sắc: trẻ thơ chính là những vị thánh giữa đời thường.
Về phương diện nội dung, bài thơ đã phá vỡ những khuôn mẫu đạo đức cứng nhắc để nhìn nhận thế giới bằng con mắt thẩm mỹ đầy tinh tế. Dưới lăng kính đạo đức thông thường, đền là nơi thờ tự linh thiêng, đòi hỏi sự tôn nghiêm và thành kính. Sự chơi đùa, giỡn hớt của trẻ con trước cửa đền dễ bị coi là hành động bất kính, làm mất đi sự trang nghiêm vốn có. Thế nhưng, qua cái nhìn của Thi Hoàng, tất cả đã thay đổi. Nhà thơ đã nhìn thấy ở những đứa trẻ một vẻ đẹp khác, một sự linh thiêng khác. Sự hồn nhiên, tinh nghịch của chúng không làm ô uế ngôi đền mà ngược lại, còn khiến nơi ấy trở nên ấm áp, gần gũi và trẻ trung hơn. Câu thơ “Gạch sân đền ấm lên ửng má” là một phát hiện tuyệt vời. Hơi ấm từ những cơ thể nhỏ bé, tràn đầy sức sống đã lan tỏa, thổi hồn vào những viên gạch vô tri, tạo nên một bức tranh giao hòa diệu kỳ giữa cõi tâm linh và cõi thực. Ở đó, sự thuần khiết của tuổi thơ làm nên một phép nhiệm màu: “Thánh cũng hân hoan. Đố ai biết được Ngài ở trong kia hay ở ngoài này”. Câu hỏi tu từ cuối bài đã xóa nhòa ranh giới giữa thần thánh và con người, giữa cõi thiêng và cõi tục. Phải chăng những đứa trẻ đang chơi đùa hồn nhiên kia mới chính là những vị thánh đích thực, bởi chúng mang đến niềm vui, sự sống và tình yêu thương vô điều kiện. Toàn bộ bài thơ vì thế tràn ngập tình cảm yêu mến, nâng niu và cái nhìn bao dung, độ lượng của nhân vật trữ tình trước thế giới tuổi thơ rực rỡ và trong sáng.
Để chuyển tải những ý tưởng độc đáo ấy, Thi Hoàng đã sử dụng những phương tiện nghệ thuật vô cùng đắc địa. Trước hết, thể thơ tự do giúp nhà thơ thoát khỏi mọi khuôn mẫu, cho phép câu thơ dài ngắn linh hoạt, lúc hối hả như tiếng cười đùa của trẻ nhỏ, lúc chậm rãi, suy tư như một lời triết luận. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các yếu tố tự sự, miêu tả và biểu cảm đã tạo nên một bức tranh vừa sinh động, vừa giàu chiều sâu cảm xúc. Giọng thơ sôi nổi, tươi sáng, pha chút hóm hỉnh qua những lời thoại “rửng mỡ”, “giồng cây chuối” khiến người đọc không khỏi bật cười trước sự tinh nghịch của trẻ thơ. Đặc biệt, ngôn ngữ thơ giàu chất khẩu ngữ, mộc mạc, giản dị nhưng lại vô cùng tinh tế và giàu sức gợi. Hình ảnh “mắt cười vê tít lại như sợi chỉ”, “tiếng trẻ con non màu lá mạ” là những sáng tạo độc đáo, thể hiện khả năng quan sát và cảm nhận thế giới qua lăng kính vừa thực vừa mộng của một tâm hồn thi sĩ.
Tóm lại, “Những đứa trẻ chơi trước cửa đền” không chỉ đơn thuần là bài thơ về tuổi thơ mà còn là một bài ca về sự sống và cái đẹp. Thi Hoàng đã dám đặt cái hồn nhiên, nhỏ bé bên cạnh cái thiêng liêng, cao cả để rồi khẳng định: vẻ đẹp của sự thuần khiết, của niềm vui sống mãnh liệt cũng đáng được tôn thờ chẳng kém gì các đấng tối cao. Bài thơ để lại trong lòng người đọc một dư vị ngọt ngào, một niềm tin vào những điều tốt đẹp ngay trên cõi tục này.
Đề thi học kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 8
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau:
Xung đột tại Trung Đông: Đại sứ quán Việt Nam tại Israel kích hoạt cơ chế bảo hộ công dân 24/7.
Ngày 2-3, Đại biện Đại sứ quán Việt Nam tại Israel Nghiêm Xuân Hải Đăng cho biết ngay từ khi xung đột Trung Đông bùng phát, Israel đã kích hoạt toàn bộ cơ chế phòng thủ và quản trị mặt trận nội địa ở cấp cao nhất; Chính phủ Israel ban bố tình trạng khẩn cấp trên phạm vi toàn quốc và áp dụng chế độ “hoạt động thiết yếu”.
Theo đó, toàn bộ hệ thống giáo dục trực tiếp được đóng cửa; các hoạt động tụ tập đông người bị cấm hoặc hạn chế nghiêm ngặt; các cơ sở làm việc không thiết yếu tạm dừng hoạt động hoặc chuyển sang làm việc từ xa. Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF), thông qua Bộ Tư lệnh Mặt trận Nội địa, duy trì hướng dẫn bắt buộc người dân phải vào hầm trú ẩn và phòng an toàn đạt chuẩn ngay khi còi báo động vang lên và chỉ rời khỏi khi có thông báo “an toàn”.
Đại biện Nghiêm Xuân Hải Đăng nhấn mạnh dù đời sống sinh hoạt của người dân bị ảnh hưởng rõ rệt do các đợt báo động và hạn chế đi lại, song không xảy ra tình trạng mất điện, nước, mạng internet cũng như không có hiện tượng khan hiếm lương thực, thực phẩm; các cửa hàng thiết yếu và chuỗi siêu thị vẫn duy trì hoạt động. Không phận Israel, trong đó có cả Sân bay quốc tế Ben Gurion, đã được tuyên bố đóng cửa; nhiều chuyến bay quốc tế bị tạm ngừng hoặc hủy.
Về tình hình an ninh, kể từ khi xung đột nổ ra, Iran đã triển khai nhiều đợt tấn công bằng tên lửa đạn đạo và thiết bị bay không người lái (UAV) đáp trả nhằm vào lãnh thổ Israel. Phía Israel ghi nhận hàng trăm quả tên lửa và UAV được phóng về phía nước này qua nhiều đợt, tập trung chủ yếu vào khu vực miền Trung. Đến nay, Israel ghi nhận 15 trường hợp tử vong và khoảng 500 người bị thương liên quan đến các cuộc tấn công, phần lớn do mảnh vỡ, sóng xung kích và tai nạn khi di chuyển khẩn cấp vào khu vực trú ẩn.
Liên quan đến cộng đồng người Việt Nam tại Israel, Đại biện Nghiêm Xuân Hải Đăng cho biết đến thời điểm hiện nay, Đại sứ quán chưa ghi nhận trường hợp công dân Việt Nam nào bị thương vong trong các đợt tấn công tên lửa gần đây. Israel đã bước vào “nhịp sống chiến tranh” nhưng vẫn duy trì được trật tự và khả năng vận hành các dịch vụ thiết yếu. Cộng đồng người Việt chịu tác động rõ rệt từ tình trạng báo động liên tục, đặc biệt là các đợt báo động ban đêm, cùng với việc hạn chế di chuyển và gián đoạn sinh hoạt.
Phần lớn bà con đang cư trú tại khu vực miền Bắc và miền Trung Israel; tâm lý chung là lo lắng song vẫn chấp hành nghiêm hướng dẫn, hạn chế di chuyển, luôn ở gần các khu vực được bảo vệ và thực hiện tránh, trú ngay khi có báo động.
Về công tác bảo hộ công dân, Đại biện Đại sứ quán Việt Nam tại Israel cho biết ngay từ thời điểm giao tranh xảy ra, Đại sứ quán đã xác định việc nắm bắt tình hình cộng đồng người Việt Nam tại Israel và công tác bảo hộ công dân là trọng tâm, đồng thời bảo đảm an toàn cho toàn bộ cán bộ, nhân viên cơ quan đại diện và thân nhân.
Cụ thể, Đại sứ quán đã kích hoạt cơ chế ứng phó khẩn cấp, duy trì trực 24/7; cập nhật tình hình theo giờ và thường xuyên gửi khuyến cáo an toàn tới cộng đồng qua các kênh chính thức. Công tác rà soát, lập danh sách công dân theo khu vực cư trú được triển khai liên tục; bà con được đề nghị duy trì liên lạc chặt chẽ với Đại sứ quán và chủ động thông báo khi thay đổi nơi ở hoặc phát sinh tình huống khẩn cấp. Đại sứ quán đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu tuân thủ tuyệt đối hướng dẫn của cơ quan chức năng Israel, ở gần không gian bảo vệ đạt chuẩn, chuẩn bị nhu yếu phẩm thiết yếu và hạn chế tối đa việc di chuyển không cần thiết.
Bên cạnh đó, Đại sứ quán duy trì liên hệ thường xuyên, chặt chẽ với các hội, nhóm cộng đồng người Việt tại Israel; chủ động cập nhật, cung cấp thông tin kịp thời để bà con yên tâm công tác và làm việc. Cơ quan đại diện cũng tổ chức các cuộc họp đánh giá tình hình xung đột, xây dựng và cập nhật các kịch bản triển khai công tác bảo hộ công dân tương ứng với từng cấp độ diễn biến có thể xảy ra.
(Báo Quân đội, Thứ hai, 02/03/2026 - 22:30, https://www.qdnd.vn/quoc-te/tin-tuc/xung-dot-tai-trung-dong-dai-su-quan-viet-nam-tai-israel-kich-hoat-co-che-bao-ho-cong-dan-24-7-1028390)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để nhận biết phần sapo của văn bản.
Câu 2. Theo tác giả, cơ quan nào của Việt Nam đã kích hoạt cơ chế bảo hộ công dân 24/7 tại Israel?
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Theo đó, toàn bộ hệ thống giáo dục trực tiếp được đóng cửa; các hoạt động tụ tập đông người bị cấm hoặc hạn chế nghiêm ngặt; các cơ sở làm việc không thiết yếu tạm dừng hoạt động hoặc chuyển sang làm việc từ xa.
Câu 4. Nhận xét thái độ, tình cảm của tác giả thể hiện trong văn bản.
Câu 5. Từ nội dung thông tin đề cập trong văn bản, anh/chị có suy nghĩ gì về giá trị của hoà bình trong cuộc sống ngày hôm nay?
II. VIẾT
Câu 1
Trước một thế giới không ngừng biến động và đổi thay từng ngày, tuổi trẻ sẽ chọn đứng ngoài cuộc hay dấn thân để kiến tạo tương lai?
Từ ý kiến trên, anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về lối sống có trách nhiệm của tuổi trẻ trong thời đại mới.
Câu 2
Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích vẻ đẹp của hình tượng người lính Trường Sơn trong bài thơ:
NHỮNG NGƯỜI TÓC ĐÃ TRẮNG
Anh chửa dừng chân, dầu trắng tóc
Vẫn không trang sách đợi hiên nhàn
Anh vẫn đêm đêm đường pháo sáng
Hiểm nghèo từng bước vượt gian nan.
Những dốc, lại khe, và những dốc
Đường mòn võng mắc mấu cây thừa
Lại ăn cơm vắt và rau dại
Hốc núi nhom tra nước ống bơ.
Giữa lá rừng xanh càng trắng tóc
Khúc hành quân từ bước hoa niên
Chen lẫn tiếng cười khinh nỗi nhọc
Bước trên sấm đất dậy bom rền
Bóng anh trắng vách Trường Sơn dựng
Nhấp nhô hết xuống lại trườn lên.
1968
(Trích Mây đầu ô, Quang Dũng[1], NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1986)
[1] Quang Dũng (1921-1988) quê ở huyện Đan Phượng, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), là một nghệ sĩ đa tài, một nhà thơ với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa – đặc biệt khi viết về người lính. Bài thơ Những người tóc đã trắng được sáng tác năm 1968, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt, in trong tập Mây đầu ô (1986).
----------------------HẾT-------------------
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về các yếu tố hình thức trong văn bản thông tin
- Quan sát hình thức văn bản để xác định sa-pô
Cách giải:
Dấu hiệu để nhận biết phần sapo: phần Sapo là đoạn văn ngắn in đậm ngay sau nhan đề, dung lượng ngắn, có nhiệm vụ tóm tắt nội dung chính của văn bản, giúp người đọc nhanh chóng nắm được thông tin trọng tâm.
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kĩ nội dung văn bản
- Xác định từ khóa “kích hoạt cơ chế bảo hộ công dân 24/7”, tìm câu văn chứa thông tin đó.
Cách giải:
Theo tác giả, cơ quan kích hoạt cơ chế bảo hộ công dân 24/7 là Đại sứ quán Việt Nam tại Israel.
Câu 3:
Phương pháp:
- Nhận diện biện pháp tu từ liệt kê
- Phân tích tác dụng
Cách giải:
* Biện pháp tu từ liệt kê:
- “toàn bộ hệ thống giáo dục trực tiếp được đóng cửa”
- “các hoạt động tụ tập đông người bị cấm hoặc hạn chế nghiêm ngặt”
- “các cơ sở làm việc không thiết yếu tạm dừng hoạt động hoặc chuyển sang làm việc từ xa”.
* Tác dụng:
- Tăng tính chính xác, đầy đủ và khách quan – phù hợp đặc trưng văn bản thông tin.
- Làm rõ những biện pháp cụ thể, toàn diện mà Israel đã triển khai, đồng thời tác giả thể hiện thái độ khách quan, nghiêm túc trước tình hình khẩn cấp tại Israel. Người viết không bộc lộ cảm xúc cá nhân mà nhấn mạnh mức độ nghiêm trọng và khẩn cấp của sự việc, phù hợp với đặc trưng của văn bản thông tin báo chí. Giúp người đọc dễ hình dung quy mô ảnh hưởng đến đời sống xã hội.
Câu 4:
Phương pháp:
- Đọc kỹ văn bản, chú ý cách lựa chọn thông tin, từ ngữ, cách đặt nhan đề, cách dẫn lời nhân vật.
Phân biệt: văn bản thông tin yêu cầu khách quan, nhưng vẫn có thể bộc lộ thái độ qua cách nhấn mạnh, qua lời dẫn, qua lựa chọn chi tiết.
Cách giải:
- Thái độ, tình cảm của tác giả:
+ Khách quan, nghiêm túc khi phản ánh tình hình xung đột, đồng thời bày tỏ sự quan tâm, lo lắng và tinh thần trách nhiệm đối với sự an toàn của cộng đồng người Việt Nam tại Israel.
+ Nhận xét: Thể hiện sự trân trọng đối với công tác bảo hộ công dân của Đại sứ quán Việt Nam tại Israel.
Câu 5:
Phương pháp:
- Nội dung thông tin đề cập trong văn bản: Đại sứ quán Việt Nam tại Israel kích hoạt cơ chế bảo hộ công dân 24/7 trong bối cảnh xung đột thể hiện trách nhiệm cao của nhà nước ta, đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân.
- Suy nghĩ về giá trị của hòa bình:
+ Hòa bình là thành quả thiêng liêng, mang lại cuộc sống yên ổn, hạnh phúc và cơ hội phát triển cho mỗi con người, phát triển đất nước...
+ Thế hệ hôm nay cần trân trọng, có trách nhiệm giữ gìn hòa bình bằng cách: sống tốt, cống hiến, đoàn kết, không để chiến tranh, khói lửa trở lại, để những hy sinh ấy không trở nên vô nghĩa.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Từ thông tin Đại sứ quán Việt Nam tại Israel phải kích hoạt cơ chế bảo hộ công dân 24/7 trong bối cảnh xung đột, tôi càng thấm thía giá trị thiêng liêng của hòa bình. Hòa bình không phải điều hiển nhiên mà là thành quả quý giá, mang lại cuộc sống yên ổn, cơ hội học tập, lao động và phát triển cho mỗi người cũng như cho cả đất nước. Khi chiến tranh nổ ra, ngay cả những dịch vụ thiết yếu cũng bị đảo lộn, sinh mạng bị đe dọa, và những người con xa xứ phải nhờ đến sự bảo hộ của quốc gia. Chính vì thế, thế hệ hôm nay cần trân trọng và có trách nhiệm giữ gìn hòa bình bằng những hành động cụ thể: sống tốt, học tập nghiêm túc, lao động sáng tạo, đoàn kết xây dựng đất nước vững mạnh, không để chiến tranh, khói lửa có cơ hội trở lại. Chỉ có như vậy, những hy sinh của cha anh mới không trở nên vô nghĩa.
II. VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Ý kiến trên khẳng định: trong một thế giới luôn vận động và thay đổi, tuổi trẻ cần lựa chọn lối sống tích cực, chủ động dấn thân, không ngừng nỗ lực và cống hiến để tạo nên giá trị cho bản thân và góp phần xây dựng tương lai của đất nước.
+ Sống có trách nhiệm giúp người trẻ hoàn thiện nhân cách, phát triển năng lực và bản lĩnh.
+ Góp phần tạo ra giá trị cho xã hội, thúc đẩy sự phát triển của đất nước.
+ Thể hiện tinh thần dấn thân, dám chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình, chủ động trước những thay đổi của thời đại.
=> Trách nhiệm không xa vời, bắt đầu từ thái độ nghiêm túc trong học tập, lao động, ứng xử.
- Dẫn chứng tiêu biểu.
- Phê phán: Một số bạn trẻ sống thờ ơ, sống dễ dãi, thiếu mục tiêu, ngại khó, thiếu tỉnh táo trước thông tin sai lệch, ngại dấn thân vì sợ thất bại. → Khi đó, tuổi trẻ sẽ bỏ lỡ cơ hội trưởng thành và phụ niềm tin xã hội.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Tuổi trẻ cần xác định lý tưởng sống đúng đắn, không ngừng học tập và rèn luyện.
+ Chủ động cống hiến, dám nghĩ – dám làm – dám chịu trách nhiệm để đóng góp cho cộng đồng, mang lại niềm tin cho thời đại mới.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Trước thế giới không ngừng biến động, lối sống có trách nhiệm chính là sự lựa chọn đúng đắn nhất của tuổi trẻ hôm nay. Sống có trách nhiệm trước hết giúp người trẻ hoàn thiện nhân cách, phát triển năng lực và bản lĩnh; đồng thời góp phần tạo ra những giá trị thiết thực cho xã hội, thúc đẩy đất nước phát triển. Lối sống ấy thể hiện tinh thần dấn thân, dám chịu trách nhiệm trước lựa chọn của mình và chủ động thích nghi trước những thay đổi của thời đại. Trách nhiệm không phải điều gì xa vời, nó bắt đầu từ thái độ nghiêm túc trong học tập, sự tận tâm trong lao động và cách ứng xử văn minh trong cuộc sống hàng ngày. Những tấm gương thanh niên tình nguyện mùa dịch, những bạn trẻ khởi nghiệp thành công, những kỹ sư, bác sĩ trẻ cống hiến hết mình… đã minh chứng rõ nét cho tinh thần đó. Phê phán thay cho một bộ phận bạn trẻ sống thờ ơ, dễ dãi, thiếu mục tiêu, ngại khó, thậm chí thiếu tỉnh táo trước thông tin sai lệch, bởi lẽ đó là lối sống bỏ lỡ cơ hội trưởng thành và phụ niềm tin của xã hội. Tuổi trẻ hôm nay cần xác định lý tưởng sống đúng đắn, không ngừng học tập, rèn luyện, chủ động cống hiến với tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để xứng đáng là những người kiến tạo tương lai.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân bài:
* Khái quát về tác giả, tác phẩm.
Hình tượng người lính là hình tượng trung tâm trong nền văn học kháng chiến. Trong bài thơ Những người tóc đã trắng, hình tượng người lính được khắc họa qua bút pháp tả thực, lãng mạn đậm chất hồn hậu, tài hoa của nhà thơ Quang Dũng.
* Phân tích, chứng minh vẻ đẹp hình tượng người lính Trường Sơn:
- Kiên cường, nghị lực vượt lên gian khổ (Khổ 1 và 2)
+ Xuất thân: Vốn là những học sinh, sinh viên, xếp bút vở theo tiếng gọi Tổ quốc “Vẫn không trang sách đợi hiên nhàn”.
+ Chặng đường hành quân gian lao được miêu tả chi tiết bằng bút pháp tả thực: Người lính tiếp tục hành quân, dù đã trắng tóc. Trắng tóc vì thời gian, vì những khắc nghiệt thiên nhiên, của cuộc sống gian khổ, thiếu thốn, nguy hiểm: con đường pháo sáng; Những dốc, lại khe, và những dốc; Lại ăn cơm vắt và rau dại/ Hốc núi nhom tra nước ống bơ. Càng khó khăn, gian khổ, càng tô đậm tinh thần, nghị lực vượt khó của người lính cụ Hồ, họ vẫn can trường, sẵn sàng “từng bước vượt gian nan” để tiến về phía trước.
- Lạc quan, yêu đời và kiêu dũng (Khổ 3)
+ Lạc quan, yêu đời: Vẻ khác lạ của người lính qua phép đối “Giữa lá rừng xanh càng trắng tóc”; Niềm tin, yêu đời bộc lộ qua khúc hành quân và tiếng cười vui “Khúc hành quân…khinh nỗi nhọc”.
+ Vẻ đẹp sử thi, kiêu dũng của người lính qua hình ảnh sấm đất dậy bom rền và bóng người nổi bật trên thiên nhiên hùng vĩ “Bóng anh trắng vách Trường Sơn dựng”. Con người gắn với thiên nhiên, nổi bật giữa thiên nhiên trong tư thế làm chủ và vươn tới “Nhấp nhô hết xuống lại trườn lên”.
* Đánh giá
- Nghệ thuật: Thể thơ bảy chữ, nhịp 4/3 mang âm hưởng của khúc quân hành. Ngôn ngữ, hình ảnh thơ giản dị, mộc mạc mà trong sáng, vừa đậm hơi thở cuộc sống vừa lãng mạn đầy cuốn hút.
- Hình ảnh người lính Trường Sơn được khắc họa ấn tượng, đậm nét, nổi bật ngoại hình và phẩm chất, khí phách hiên ngang. Qua đó bộc lộ tình cảm thương mến, cảm phục, tự hào của nhà thơ về những con người quyết tử cho tổ quốc quyết sinh.
3. Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hình tượng người lính đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận của thơ ca. Mỗi nhà thơ có một cách riêng để khắc họa chân dung những người con ưu tú của dân tộc. Nếu Chính Hữu ghi dấu với hình tượng người lính xuất thân từ nông dân trong “Đồng chí”, nếu Phạm Tiến Duật mang đến một thế hệ trẻ ngang tàng, tếu táo trên tuyến đường Trường Sơn, thì Quang Dũng, một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ phóng khoáng, lãng mạn và tài hoa, lại góp thêm một vẻ đẹp đặc biệt qua bài thơ “Những người tóc đã trắng”.
Bài thơ được sáng tác năm 1968, giữa lúc cuộc chiến tranh chống Mỹ diễn ra ác liệt nhất, bài thơ đã khắc họa thành công vẻ đẹp kiên cường, lạc quan và đậm chất sử thi của người lính Trường Sơn, những người đã đến với chiến trường khi mái tóc chẳng còn xanh.
Trước hết, người lính trong bài thơ hiện lên với vẻ đẹp kiên cường, nghị lực phi thường vượt lên mọi gian khổ, được thể hiện rõ nét ở hai khổ thơ đầu. Điều đặc biệt là họ không còn là những chàng trai mười tám, đôi mươi. Họ là những người “tóc đã trắng”, màu tóc ấy có thể do thời gian, có thể bởi những năm tháng sương gió Trường Sơn, song dẫu mái đầu đã điểm bạc thì bước chân vẫn chưa một lần dừng lại. “Vẫn không trang sách đợi hiên nhàn”, câu thơ như một lời khẳng định đầy kiêu hãnh. Đáng lẽ họ có thể ngồi lại bên những trang sách, hưởng chút thanh nhàn nơi mái nhà yên ả, nhưng tiếng gọi của Tổ quốc đã khiến họ gác bút nghiêng lên đường. Và con đường ấy hiện lên qua những chi tiết thật chân thực, khắc nghiệt. Những dốc, lại khe, và những dốc, phép điệp cùng cách ngắt nhịp linh hoạt đã tái hiện sự trùng điệp, gập ghềnh đến vô tận của núi rừng Trường Sơn. Trên con đường in dấu chân người lính ấy, pháo sáng rực trời, hiểm nguy rình rập từng bước. Cuộc sống nơi rừng già chẳng có gì ngoài cơm vắt, rau dại, và những hốc núi lạnh lẽo nơi họ nhóm lên bên ống bơ đựng nước. Thiếu thốn, gian lao, vất vả, tất cả dồn nén lại, tưởng chừng có thể quật ngã bất cứ ai. Thế nhưng, giữa bối cảnh ấy, người lính vẫn “từng bước vượt gian nan”. Chữ “vượt” như một khắc họa đậm nét ý chí, bản lĩnh. Họ không chỉ đi, không chỉ bước, mà là vượt, vượt qua dốc cao, vượt qua khe sâu, vượt qua đói khát, vượt qua cả những đêm dài pháo sáng. Càng hiểm nguy, càng thiếu thốn, phẩm chất kiên trung của người lính càng tỏa sáng, khiến cho người đọc không khỏi bồi hồi xúc động và cảm phục.
Không chỉ kiên cường, người lính Trường Sơn trong thơ Quang Dũng còn mang vẻ đẹp lạc quan, yêu đời và một tư thế kiêu dũng đậm chất sử thi, được bộc lộ tập trung ở khổ thơ cuối. Câu thơ “Giữa lá rừng xanh càng trắng tóc” sử dụng thủ pháp đối lập tài tình. Màu xanh bạt ngàn của đại ngàn Trường Sơn càng tô đậm mái tóc trắng của người lính, càng làm nổi bật sự hy sinh thầm lặng, sự trải qua năm tháng. Nhưng trên hết, trong câu thơ không hề có một chút bi lụy, buồn thương. Bởi lẽ, phía sau mái tóc bạc ấy là “khúc hành quân từ bước hoa niên”. Một chữ “từ” thôi cũng đủ gợi nhắc về một thời tuổi trẻ rực rỡ, về những năm tháng thanh xuân đã đi qua. Và giữa đại ngàn mênh mông, giữa những khúc hành quân mệt nhoài, chợt vang lên “tiếng cười khinh nỗi nhọc”. Tiếng cười ấy mới oai phong, kiêu hãnh làm sao. Đó không phải tiếng cười gượng gạo, mà là tiếng cười của những con người đã chọn cách coi thường gian khó, của một thứ lạc quan chiến sĩ mãnh liệt. Họ cười để vượt lên tất cả, cười như một cách khẳng định sự sống giữa chết chóc. Đặc biệt, hai câu thơ “Bước trên sấm đất dậy bom rền / Bóng anh trắng vách Trường Sơn dựng” đã nâng hình tượng người lính lên một tầm vóc kỳ vĩ. Bom đạn dữ dội đến nỗi lòng đất rền vang như sấm dậy, thế nhưng người lính vẫn bước, vẫn đi tới. Hình bóng người lính in trên vách núi dưới ánh pháo sáng, cái bóng ấy bỗng chốc trở nên sừng sững, lớn lao, dựng đứng như một tượng đài bằng đá giữa núi rừng Trường Sơn. Những bước chân “nhấp nhô hết xuống lại trườn lên” không chỉ tả thực dáng đi trên địa hình gập ghềnh mà còn gợi lên khí thế trường kỳ, bền bỉ, tiếp nối không ngừng. Tất cả tạo nên một bức tranh hào hùng về người lính, về một dân tộc đang đứng lên.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ bảy chữ với nhịp 4/3 mạnh mẽ, tạo nên âm hưởng như một khúc quân hành vừa hùng tráng vừa tha thiết. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc, thấm đẫm hơi thở của đời sống chiến trường với những “cơm vắt”, “rau dại”, “ống bơ”, thế nhưng vẫn rất đỗi lãng mạn, bay bổng qua những hình ảnh như “bóng anh trắng vách Trường Sơn dựng”. Bút pháp tả thực kết hợp nhuần nhuyễn với cảm hứng lãng mạn đã khắc họa thành công những gì vừa chân thật gần gũi, vừa kỳ vĩ lớn lao. Qua đó, nhà thơ gửi gắm tình cảm thương mến, cảm phục và tự hào vô bờ bến về những con người quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.
Có thể nói, “Những người tóc đã trắng” là một bài thơ nhỏ nhưng chứa đựng một bức chân dung lớn. Quang Dũng đã khắc họa thành công vẻ đẹp của người lính Trường Sơn, những con người đã chọn dâng hiến cả thanh xuân lẫn mái tóc bạc cho non sông. Họ là một thế hệ ra đi không chỉ bằng sức trẻ mà còn bằng cả những hy sinh thầm lặng. Từ những vần thơ ấy, mỗi chúng ta hôm nay càng thêm trân quý hòa bình, càng thêm yêu và tự hào về những người con đã làm nên lịch sử.
Đề thi học kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 9
Đề thi
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG – LỄ HỘI ĐỀN HÙNG
Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng bắt nguồn từ thời đại Hùng Vương dựng nước và được tổ chức hàng năm từ ngày mùng 6 đến ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch tại Khu Di tích Đền Hùng. Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng đã trở thành lễ hội mang tính văn hóa tâm linh lớn nhất nước ta; hàng năm đến ngày Giỗ Tổ và tổ chức Lễ Hội, con cháu trên mọi miền tổ quốc hành hương về với tấm lòng thành kính dâng lên tổ tiên, tỏ lòng biết ơn công lao dựng nước của các vua Hùng và các bậc tiền nhân của dân tộc. Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng đã trở thành động lực tinh thần của dân tộc Việt Nam.
Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng chủ yếu gồm hai phần: Phần Lễ và phần Hội. Phần Lễ được tiến hành với nghi thức trang nghiêm, trọng thể tại đền thượng; Phần Hội được diễn ra với nhiều hoạt động văn hóa phong phú mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc dưới chân núi Hùng.
Trong phần Lễ: Nghi thức dâng hoa của các đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ, các tỉnh thành được tổ chức long trọng trên đền Thượng. Từ chiều mồng 9, các làng rước kiệu dâng lễ bánh giày, bánh chưng đã tập trung đông đủ dưới cổng Công Quán. Sáng sớm hôm sau, các đoàn đại biểu xếp hàng chỉnh tề đi sau cỗ kiệu rước lễ vật lần lượt đi lên đền trong tiếng nhạc của phường bát âm và đội múa sinh tiền. Tới trước cửa đền Thượng (Kính thiên lĩnh điện), đoàn đại biểu dừng lại kính cẩn dâng lễ vào Thượng cung. Đồng chí lãnh đạo Tỉnh thay mặt cho nhân dân cả nước kính cẩn đọc diễn văn Lễ Tổ. Toàn bộ nội dung hành lễ được truyền tải trên hệ thống phát thanh, truyền hình để đồng bào cả nước theo dõi lễ hội. Trong thời gian tiến hành nghi lễ, toàn bộ diễn trường tạm ngừng các hoạt động để đảm bảo tính linh thiêng và nghiêm trang của Lễ Hội.
Phần Hội: Diễn ra tưng bừng náo nhiệt xung quanh khu vực núi Hùng. Hội Đền Hùng ngày nay có thêm nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa phong phú hấp dẫn. Trong khu vực Hội, nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm, văn hóa phẩm, các quán bán hàng dịch vụ ăn uống, các trại văn hóa của 13 huyện, thành, thị, các hoạt động biểu diễn văn nghệ, thi thể thao,... tạo ra nhiều màu sắc sinh động, náo nhiệt cho bức tranh ngày hội. Các hoạt động văn hóa truyền thống, các trò chơi dân gian được tổ chức tại lễ hội như đấu vật, bắn nỏ, rước kiệu, hội thi gói, nấu bánh chưng, giã bánh giày, thi kéo lửa thổi cơm, trò diễn “Bách nghệ khôi hài” và Trò Trám của làng Tứ Xã, rước lúa thần... Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp như Chèo, kịch nói, hát quan họ, hát Xoan hội diễn văn nghệ quần chúng... phục vụ đồng bào về dự hội. Trên khu vực Công quán luôn âm vang tiếng trống đồng, tiếng giã đuống rộn ràng của các nghệ nhân dân gian người dân tộc Mường ở Thanh Sơn ra phục vụ Lễ hội.
Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng đã hình thành từ rất sớm và sự tồn tại của nó luôn gắn chặt với quá trình phát triển của lịch sử dân tộc. Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” và đạo lý “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, các Vua Hùng cùng các vợ, con, các tướng lĩnh, các nhân vật liên quan thời kỳ Hùng Vương luôn được nhân dân ở các làng, xã trên phạm vi cả nước tôn thờ. Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng hàng năm là hành hương mang ý nghĩa tâm linh đã trở thành nếp nghĩ, nét văn hóa truyền thống không thể thiếu của người Việt; đó là truyền thống văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.
( Theo https://www.dulichphutho.gov.vn/MTE5dg.html)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1. Xác định nội dung thông tin của văn bản trên?
Câu 2. Theo tác giả, Giỗ Tổ Hùng Vương –Lễ hội Đền Hùng thể hiện truyền thống và đạo lý gì của dân tộc?
Câu 3. Nêu mục đích và thái độ của người viết được thể hiện qua văn bản.
Câu 4. Thông tin trong văn bản được triển khai theo trình tự nào? Nêu hiệu quả của việc triển khai thông tin theo trình tự đó?
Câu 5. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, việc duy trì những lễ hội như Giỗ Tổ Hùng Vương –Lễ hội Đền Hùng có còn cần thiết không? Vì sao?
II. PHẦN VIẾT
Học sinh chọn một trong hai câu sau:
Câu 1: Anh/ chị hãy viết bài văn thuyết minh về một hiện tượng trong tự nhiên.
Câu 2: Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật (bài thơ, bộ phim, bài hát, bức tranh, pho tượng) mà anh/ chị yêu thích.
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Căn cứ vào nhan đề và nội dung toàn bộ văn bản
Cách giải:
Nội dung thông tin của văn bản: Nguồn gốc, lịch sử ra đời và các nghi lễ, các hoạt động biểu diễn trong Lễ hội Đền Hùng.
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kỹ đoạn cuối văn bản.
- Xác định câu văn trực tiếp nêu truyền thống, đạo lý.
Cách giải:
Theo tác giả, Giỗ Tổ Hùng Vương –Lễ hội Đền Hùng thể hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” và đạo lí “ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của dân tộc.
Câu 3:
Phương pháp:
- Xác định mục đích của văn bản
- Xác định thái độ qua từ ngữ được dùng trong văn bản
Cách giải:
- Mục đích: Cung cấp cho người đọc những thông tin về trình tự các nghi lễ của ngày Giỗ Tổ Hùng Vương – lễ hội đền Hùng.
- Thái độ của người viết:
+ Tưởng nhớ công lao dựng nước của các vua Hùng.
+ Trân trọng, tự hào những giá trị văn hóa tốt đẹp, truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc thông qua lễ Lễ hội Đền Hùng.
Câu 4:
Phương pháp:
- Xác định các từ chỉ thời gian, trình tự
- Vận dụng kiến thức về trình tự triển khai thông tin
Cách giải:
- Thông tin được triển khai theo trình tự thời gian: từ nguồn gốc lịch sử, thời gian, địa điểm cho đến các nghi lễ, các hoạt động diễn ra trong ngày Giỗ Tổ Hùng Vương- Lễ hội Đền Hùng.
- Thông tin được trình bày đầy đủ, ngắn gọn, sinh động, chân thực giúp người đọc hình dung dễ dàng và cụ thể về các sự kiện diễn ra trong ngày Giỗ Tổ Hùng Vương- Lễ hội Đền Hùng.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Khẳng định việc duy trì những lễ hội như Giỗ Tổ Hùng Vương- Lễ hội Đền Hùng là rất cần thiết.
- Lý giải:
+ Giúp các thế hệ sau tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn công lao dựng nước của các vua Hùng
+ Từ đó có ý thức trân trọng cuộc sống hiện tại, sống có trách nhiệm, cố gắng học tập, lao động xây dựng phát triển đất nước.
+ Góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị tinh thần tốt đẹp đã được hình thành và lưu truyền từ xưa đến nay thông qua các lễ hội, tạo nên bản sắc, tinh hoa văn hóa dân tộc.
+ Duy trì các lễ hội truyền thống cũng là thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xu hướng hội nhập “hòa nhập chứ không hòa tan”.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, việc duy trì những lễ hội như Giỗ Tổ Hùng Vương, Lễ hội Đền Hùng là vô cùng cần thiết. Bởi lễ hội không chỉ giúp các thế hệ sau tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với công lao dựng nước của các vua Hùng, mà còn khơi dậy ý thức trân trọng cuộc sống hiện tại, sống có trách nhiệm và ra sức học tập, lao động để xây dựng, phát triển đất nước. Đồng thời, việc duy trì lễ hội góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị tinh thần tốt đẹp đã được hình thành và lưu truyền từ bao đời nay, tạo nên bản sắc, tinh hoa văn hóa riêng của dân tộc Việt Nam. Hơn nữa, trong xu thế hội nhập, duy trì các lễ hội truyền thống cũng chính là thực hiện chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta: hòa nhập nhưng không hòa tan, giữ vững bản sắc giữa dòng chảy văn hóa quốc tế.
II. PHẦN VIẾT
Đề 1:
Phương pháp:
* Giới thiệu sự vật, hiện tượng trong tự nhiên được thuyết minh.
Nêu thông tin khái quát về sự vật, hiện tượng đó.
* Triển khai vấn đề nghị luận:
- Chọn lọc, sắp xếp và triển khai các ý đã tìm được theo một trình tự sau:
+ Làm rõ hiện tượng tự nhiên được thuyết minh là hiện tượng gì?
+ Cung cấp thông tin về hiện tượng được thuyết minh theo trình tự phù hợp với đối tượng thuyết minh.
(Trình tự không gian, cấu trúc nguyên nhân – hệ quả - giải pháp, theo diễn biến trong thời gian)
+ Việc nhận thức đầy đủ về hiện tượng được thuyết minh có ý nghĩa như thế nào với mỗi người?
- Cần xác định yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận nào có thể đưa vào vị trí thích hợp để làm tăng hiệu quả biểu đạt và sức hấp dẫn của bài viết.
* Khái quát ý nghĩa của sự vật, hiện tượng được thuyết minh; gợi mở những ý tưởng có thể tiếp nối.
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong thế giới tự nhiên bao la, có những hiện tượng khiến con người không khỏi trầm trồ trước vẻ đẹp của tạo hóa. Một trong số đó chính là cầu vồng. Sau mỗi cơn mưa, nếu đứng ở đúng vị trí, ta sẽ thấy một dải lụa bảy màu hiện ra trên bầu trời, đẹp như một bức tranh sơn dầu của một họa sĩ tài ba. Cầu vồng không chỉ là một hiện tượng vật lý thú vị mà còn là nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ca, nghệ thuật và đời sống tinh thần của con người.
Trước hết, cầu vồng là một hiện tượng quang học. Nó xảy ra khi ánh sáng mặt trời gặp những giọt nước mưa còn lơ lửng trong không khí. Ánh sáng trắng của mặt trời bị khúc xạ, phản xạ và tán sắc qua các giọt nước, phân tách thành bảy dải màu liên tục: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Đây chính là quy luật khoa học mà nhà bác học Newton đã phát hiện ra từ thế kỷ XVII. Màu đỏ nằm ở rìa ngoài cùng, còn màu tím ở rìa trong cùng.
Cầu vồng thường xuất hiện vào lúc sáng sớm hoặc chiều muộn, khi mặt trời ở độ cao thấp. Nơi dễ bắt gặp nhất là sau những cơn mưa rào mùa hạ, hoặc gần thác nước, vòi phun nước, bất cứ nơi nào có nhiều hạt nước nhỏ trong không khí. Về hình dạng, cầu vồng lý tưởng là một vòng tròn hoàn chỉnh. Tuy nhiên, do bị đường chân trời che khuất, chúng ta thường chỉ nhìn thấy một nửa hình vòng cung bắc ngang bầu trời. Có đôi khi ta còn bắt gặp cầu vồng đôi, nghĩa là hai chiếc cầu vồng cùng lúc. Cầu vồng chính rực rỡ hơn, còn cầu vồng phụ mờ hơn và có thứ tự màu sắc ngược lại, nằm bên ngoài cầu vồng chính.
Không chỉ dừng lại ở một hiện tượng khoa học, cầu vồng còn mang nhiều ý nghĩa sâu sắc. Trong đời sống văn hóa, nhiều dân tộc trên thế giới coi cầu vồng là chiếc cầu nối giữa trời và đất, là biểu tượng của hòa bình và hy vọng. Trẻ nhỏ thường thích thú, reo hò khi nhìn thấy cầu vồng sau trận mưa. Người lớn cũng tìm thấy sự thanh bình trong khoảnh khắc kỳ diệu ấy. Trong thơ ca, cầu vồng xuất hiện như một hình ảnh lãng mạn, gợi lên những điều tốt đẹp và trong sáng.
Việc tìm hiểu về cầu vồng mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho mỗi người. Trước hết, nó giúp chúng ta hiểu hơn về thế giới tự nhiên xung quanh, thấy được rằng thiên nhiên không chỉ đẹp mà còn vận hành theo những quy luật lý thú. Hiểu về cầu vồng cũng là biết cách quan sát, biết trân trọng những khoảnh khắc đẹp đẽ vụt qua trong cuộc sống thường nhật. Hơn hết, cầu vồng sau mưa như một lời nhắn nhủ đầy ý nghĩa: sau những khó khăn, bão giông, nhất định sẽ có những điều tốt đẹp đến. Đó là bài học về niềm tin và sự kiên nhẫn mà thiên nhiên đã ban tặng.
Như vậy, cầu vồng không đơn thuần chỉ là một hiện tượng vật lý khô khan. Nó là bức tranh thiên nhiên kỳ diệu, là nguồn cảm hứng vô tận, và cũng là biểu tượng đẹp đẽ của hy vọng. Mỗi khi sau cơn mưa bỗng thấy ánh nắng le lói và một dải cầu vồng hiện ra, hãy trân trọng khoảnh khắc ấy. Bởi lẽ, thiên nhiên luôn dành cho con người những món quà bất ngờ, chỉ cần chúng ta biết mở rộng đôi mắt và trái tim để đón nhận. Và hơn thế, cầu vồng còn nhắc nhở chúng ta rằng, sau tất cả những vất vả, lo toan, cuộc sống vẫn luôn rực rỡ sắc màu.
Đề 2:
Phương pháp:
* Nêu được các thông tin cơ bản về tác phẩm ( tác giả, tên tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, sự đón nhận của công chúng...)
* Triển khai vấn đề nghị luận:
- Khái quát về tác phẩm:
+ Với tác phẩm văn học, cần nêu được đề tài, chủ đề và ấn tượng ban đầu về tác phẩm.
+ Với tác phẩm điện ảnh ( bộ phim) cần tóm tắt được cốt truyện theo kịch bản;
+ Với ca khúc, cần nêu được đề tài, chủ đề và ấn tượng ban đầu về tiết tấu, giai điệu, ca từ của ca khúc;
+ Với tác phẩm thuộc nghệ thuật tạo hình ( hội họa, điêu khắc) diễn tả bằng lời văn về hình tượng đã được thể hiện bằng chất liệu riêng của tác phẩm tạo hình ( bức tranh, pho tượng ).
- Phân tích từng khía cạnh nổi bật của tác phẩm (Điểm đặc sắc của tác phẩm về nội dung và hình thức) với lí lẽ và bằng chứng rõ ràng, đầy đủ.
- Rút ra được thông điệp và ý nghĩa của thông điệp toát ra từ tác phẩm nghệ thuật)
* Đánh giá chung về tác phẩm:
- Thành công và những hạn chế của tác phẩm nghệ thuật theo quan điểm nhìn nhận của người viết.
- Nêu hướng tiếp cận phù hợp đối với tác phẩm.
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Trong dòng chảy của nền thơ ca cách mạng Việt Nam, có những bài thơ đã vượt qua giới hạn của thời gian để trở thành biểu tượng bất hủ về tình cảm con người. Một trong số đó là bài thơ "Đồng chí" của nhà thơ Chính Hữu. Được sáng tác vào năm 1948, trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bài thơ đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của đông đảo công chúng bởi những vần thơ chân thành, giản dị nhưng thấm đượm tình đồng đội thiêng liêng. Cho đến hôm nay, “Đồng chí” vẫn được xem là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất viết về người lính trong thời kỳ kháng chiến.
Trước hết, cần khái quát về tác phẩm. “Đồng chí” được Chính Hữu viết tại Chiến khu Việt Bắc, dựa trên những trải nghiệm thực tế của ông khi chiến đấu trong hàng ngũ của Trung đoàn Thủ đô. Không gian của bài thơ là những chặng đường hành quân, là những khu rừng hoang, giá lạnh, nơi những người lính cùng nhau kề vai sát cánh. Nhà thơ đã mở đầu bằng những câu thơ giản dị như một lời kể: “Quê hương anh nước mặn đồng chua / Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”. Chủ đề của bài thơ ca ngợi tình đồng chí, đồng đội, thứ tình cảm được hình thành từ những con người xa lạ, có chung cảnh ngộ và lý tưởng. Ấn tượng ban đầu khi đọc bài thơ là một cảm giác gần gũi, ấm áp. Người đọc như thấy hiện ra trước mắt hình ảnh những anh Vệ quốc quân với dáng vẻ lam lũ, nghèo khó nhưng trái tim tràn đầy nhiệt huyết.
Về nội dung, bài thơ "Đồng chí" có ba khổ, mỗi khổ thể hiện một khía cạnh khác nhau của tình đồng chí. Khổ thơ đầu giải thích cơ sở hình thành tình cảm cao đẹp ấy. Những người lính xuất thân từ những vùng quê nghèo khác nhau: "nước mặn đồng chua", "đất cày lên sỏi đá". Họ xa lạ, chẳng hề quen biết từ trước. Thế nhưng, họ đã gặp nhau trong đội ngũ, cùng chung lý tưởng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Chính sự tương đồng về cảnh ngộ và mục đích đã biến những con người xa lạ trở nên gắn bó, thân thiết. Câu thơ "Súng bên súng, đầu sát bên đầu" đã diễn tả một cách hình ảnh và cảm động sự đồng lòng, đồng chí hướng của họ.
Khổ thơ thứ hai đi sâu vào biểu hiện cụ thể của tình đồng chí. Đó là sự sẻ chia những khó khăn, thiếu thốn trong cuộc sống chiến đấu. Họ chia cho nhau những bát cơm, những chiếc chăn trong những đêm rừng giá lạnh. Họ cùng nhau chịu đựng những cơn sốt rét rừng, những bàn chân giày vò bởi những chặng đường hành quân dài bất tận. Những câu thơ "Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh / Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi" không chỉ tả thực mà còn gợi lên sự cảm thông sâu sắc. Đặc biệt, hình ảnh "Áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá" đã khắc họa chân thực sự nghèo khổ, thiếu thốn của người lính. Nhưng giữa cảnh vật chất thiếu thốn ấy, tình cảm con người lại thật ấm áp. Miệng cười buốt giá, tay nắm lấy bàn tay, những chi tiết nhỏ nhưng rất đỗi xúc động, cho thấy tình đồng chí là sức mạnh tinh thần giúp họ vượt qua mọi khắc nghiệt.
Khổ thơ cuối là đỉnh cao của bài thơ, kết tinh trong hình tượng thơ đặc sắc: "Đêm nay rừng hoang sương muối / Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới / Đầu súng trăng treo". Ba câu thơ vừa hiện thực vừa lãng mạn. Khung cảnh hiện thực là đêm rừng hoang vắng, lạnh lẽo, sương muối phủ đầy, người lính phục kích chờ giặc. Nhưng giữa không gian tĩnh mịch và khắc nghiệt ấy, họ "đứng cạnh bên nhau". Hai chữ "cạnh bên" thật gần gũi, ấm áp. Và trên cao kia, vầng trăng như treo trên đầu súng. Hình ảnh "đầu súng trăng treo" vừa thực, bởi đúng là lúc đó, súng hướng lên trời, trăng như treo trên đầu súng, vừa mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Súng tượng trưng cho chiến tranh, gian khổ, cho nhiệm vụ chiến đấu. Trăng tượng trưng cho hòa bình, mơ mộng, cho vẻ đẹp lãng mạn của cuộc sống. Giữa chiến tranh và hòa bình, giữa hiện thực và lãng mạn, người lính vẫn hướng về nhau, vẫn giữ trong tim một niềm tin tươi sáng. Đó chính là vẻ đẹp toát ra từ tình đồng chí.
Về hình thức nghệ thuật, Chính Hữu đã sử dụng thể thơ tự do, câu ngắn câu dài linh hoạt, phù hợp với cảm xúc. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người lính nông dân. Ông cũng khéo léo sử dụng các biện pháp nghệ thuật như điệp ngữ "anh với tôi", hình ảnh đối lập, ẩn dụ. Chính những yếu tố đó đã tạo nên giọng điệu thơ vừa chân thành, tha thiết vừa hào hùng, lãng mạn.
Từ bài thơ "Đồng chí", một thông điệp sâu sắc được gửi gắm: tình đồng chí, đồng đội là sức mạnh vô song, là điểm tựa tinh thần giúp con người vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Trong thực tế lịch sử, đã có biết bao câu chuyện cảm động về tình đồng đội trong chiến tranh. Chẳng hạn như câu chuyện về các chiến sĩ Trường Sơn chia nhau từng ngụm nước, từng miếng cơm trong những ngày khốc liệt. Hay như hình ảnh những người lính đợi nhau trên đỉnh Điện Biên sau chiến dịch. Ở thời bình hôm nay, thông điệp ấy vẫn còn nguyên giá trị. Tình bạn, tình đồng nghiệp, sự sẻ chia và nâng đỡ lẫn nhau vẫn là điều quý giá trong cuộc sống. Khi học tập, khi gặp khó khăn, nếu có bạn bè cùng chung tay, chúng ta sẽ vững vàng hơn.
Đánh giá chung về tác phẩm, có thể thấy "Đồng chí" thành công rực rỡ về cả nội dung và nghệ thuật. Bài thơ đã khắc họa chân thực, cảm động và hào hùng hình tượng người lính cách mạng trong những ngày đầu kháng chiến. Một điểm hạn chế nhỏ có thể kể đến là bài thơ khá ngắn, có thể khiến người đọc chưa thỏa mãn khi muốn tìm hiểu sâu hơn về từng số phận. Tuy nhiên, đó cũng chính là điểm mạnh, bởi sự cô đọng đã làm tăng sức gợi và sức lan tỏa. Hướng tiếp cận phù hợp với tác phẩm này là tiếp cận từ góc nhìn lịch sử và đời sống dân gian. Người đọc nên đặt bài thơ trong bối cảnh những năm kháng chiến chống Pháp để hiểu được nguồn gốc và biểu hiện của tình đồng chí. Đồng thời, hãy liên hệ với đời sống hôm nay để thấy những giá trị vượt thời gian của tác phẩm.
Tóm lại, "Đồng chí" của Chính Hữu là một bài thơ hay, một bức tượng đài nghệ thuật về tình cảm người lính. Đọc bài thơ, ta thêm yêu mến và khâm phục thế hệ cha anh đã hy sinh cả tuổi thanh xuân, tình cảm riêng tư cho độc lập tự do của Tổ quốc. Và cũng từ đó, mỗi người trẻ chúng ta hôm nay càng trân trọng hơn những giá trị của hòa bình, sống có trách nhiệm hơn với bản thân, gia đình và xã hội.
Đề thi học kì 2 Văn 12 Chân trời sáng tạo - Đề số 10
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản:
Nhân tính là những đặc trưng văn hóa để phân biệt con người với “con khác”, phân biệt giống người với những giống loài khác; khiến con người trở nên khác với muông thú, cỏ cây và máy móc. Đó phải là nhân quyền, nhân bản, nhân văn; là những giá trị có tính phổ quát và trường tồn, được nhân loại tiến bộ cùng chia sẻ như là “tự do, bình đẳng, bác ái” hay “chân, thiện, mỹ”, chứ không bị giới hạn hay chi phối bởi những góc nhìn của quốc gia, chủng tộc, tôn giáo hay thời đại.
Để hình thành nhân tính thì phải có cái “đầu sáng”, trái “tim nóng” và cái “bụng rộng”. “Đầu sáng” là cái đầu có khả năng minh định được ai là ai, cái gì là cái gì, và mình là ai; minh định được đúng-sai, phải-trái, chân-giả, thiện-ác, chính-tà... “Tim nóng” là trái tim có hồn, biết rung cảm trước cái đẹp, nhất là cái đẹp vô hình, cái đẹp không nhìn thấy, không sờ thấy, mà chỉ có thể cảm thấy mà thôi; biết thổn thức trước nỗi đau của đồng loại; biết phẫn nộ trước cái ác; đầy tình yêu thương và giàu lòng trắc ẩn… “Bụng rộng” là sự bao dung, vị tha; chỉ có “bụng rộng” thì ta mới bớt hẹp hòi, bon chen, đố kỵ; chỉ có bụng rộng thì ta mới có thể chứa được cả sự hẹp hòi của người khác…
Nói cách khác, con người là một sinh vật có nhân tính, và nếu không có nhân tính thì không phải là con người, mà chỉ là con vật mang hình hài của con người.
(Theo Giản Tư Trung, Sư phạm khai phóng, Nxb Tri thức, Tp.HCM, 2023)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Vấn đề được đề cập đến trong văn bản trên là gì.
Câu 2. Theo tác giả để hình thành nhân tính cần có những yếu tố nào.
Câu 3. Trình bày hiệu quả của biện pháp tu từ liệt kê trong câu: “Đầu sáng” là cái đầu có khả năng minh định được ai là ai, cái gì là cái gì, và mình là ai; minh định được đúng-sai, phải-trái, chân-giả, thiện-ác, chính-tà…
Câu 4. Anh/chị hiểu như thế nào về câu: Chỉ có bụng rộng thì ta mới có thể chứa được cả sự hẹp hòi của người khác.
Câu 5. Thông điệp nào từ văn bản trên có ý nghĩa nhất đối với anh/chị (Trình bày tối đa khoảng 5-7 dòng)
II. VIẾT
Câu 1:
Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu suy nghĩ của anh/chị về điều cần làm để có một “trái tim nóng”.
Câu 2: Đọc hai văn bản sau và thực hiện yêu cầu:
Văn bản 1:
BÍ ẨN CỦA LÀN NƯỚC
Tóm tắt bối cảnh: Câu chuyện kể về trận lũ kinh hoàng trong đêm Rằm tháng Bảy. Một loạt bom Mỹ phá bung đê, anh vội chạy về nhà để cứu vợ và đứa con trai vừa mới sinh. Trong lúc hoảng loạn, đứa con sơ sinh của họ bị tuột khỏi tay mẹ và rơi xuống dòng nước…
- Phận chị ấy đã vậy, thôi thì anh phải nén lòng lại, giữ sức khoẻ mà nuôi con. Ơn trời, anh còn kịp cứu được cháu. Chao ôi, vừa kịp khóc chào đời đã trải qua một cơn kinh hoàng hú vía. Anh coi con anh này. Cứ như không. Đã bú, đã ngủ rồi đây này. Ngoan chưa này… Ôi chao, nó tè dầm rồi này.
Chị nựng nịu, và từ từ giở bọc chăn chiên đang ủ kín con tôi. Chị thay tã cho nó. Tôi nhìn, chết lặng.
- Con tôi… - Tôi khóc, đỡ lấy bọc chăn, - Con tôi.
Từ bấy tới nay, thời gian trôi qua và triền nước trôi đi, tôi đã có tuổi và con gái tôi đã thành một thiếu nữ. Nó là đứa con của làn nước, mọi người đều nói thế bởi vì chuyện nó sa xuống dòng nước lụt rồi được cha nó cứu lên thì cả làng ai cũng biết. Nhưng điều bí mật kia thì không ai hay, kể cả con gái tôi cũng không thể biết. Chỉ có dòng sông biết.
Có ngày nào mà tôi không ra sông để ngắm dòng nước trôi. Vợ tôi, con tôi và người đàn bà vô danh nhìn tôi từ đáy nước. Thời gian, năm tháng cứ trôi, dòng sông và lịch sử, tất cả đổi thay nhưng mà niềm đau của đời tôi thì khôn nguôi bởi ấy là niềm đau không thể nói nên lời.
(Trích Bí ẩn làn nước, Bảo Ninh, Những truyện ngắn, NXB Trẻ, 2021, tr.21-24.)
Văn bản 2:
LỜI HỨA CỦA THỜI GIAN
Tóm tắt bối cảnh: Truyện kể về ông Miêng, một người lính sống sót duy nhất sau một trận chiến ác liệt năm 1972. Hoà bình lập lại, ông về sống tại khu đồi xưa là chiến trường, trồng cây, canh giấc cho những người đã ngã xuống. Bất hạnh liên tiếp bủa vây ông khi con bị dị dạng và chết, vợ bỏ đi. Bỗng một ngày có chàng trai đến tìm ông nhận là con…
- Ba ơi, má mất rồi...
- “Ba ơi”! Ông lẩm bẩm như người ngồi mê, nhắc lại tiếng gọi của chàng trai.
- Ba hãy thứ lỗi cho má - Giọng chàng trai đã khàn - Ba cho con về ở với ba. Ba đừng bỏ con.
Ông Miêng nhìn chàng trai. Nếu lúc này ông nói ra sự thật với chàng trai thì có nghĩa là ông đập tan mọi hy vọng và sự chờ đợi của nó. Và nghĩa là, ông không chấp nhận lời cầu xin của người đàn bà tội nghiệp trong cơn hấp hối. Và cũng chính lúc này, sự xuất hiện của chàng trai lại làm ông thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Nếu bây giờ chàng trai bỏ đi, ông sẽ gục ngã không thể nào đứng lên được bởi chính sự cô đơn mà bấy lâu nay ông cố vùng vẫy chống chọi. Khi chỉ có một mình ông, ông không nhìn thấy hết sự cô đơn. Nhưng khi có một con người khác đứng trước mặt ông, ông mới nhìn thấy toàn bộ sự cô đơn không lối ra của mình…Ông bước đến trước chàng trai. Chàng trai đỡ lấy ông. Ông thấy hơi người ấm rực từ chàng trai phả vào cơ thể ông đang run lên như một cơn sốt rét. Ông quờ tay ôm lấy chàng trai và kêu lên như một tiếng rên.
(Trích từ Tuyển tập truyện ngắn 75 gương mặt Văn nghệ, Nguyễn Quang Thiều, NXB Hội nhà văn, 2023, trang 556)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá nhân vật người cha và nhân vật ông Miêng trong hai văn bản trên.
----------------------Hết----------------------
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Đọc kĩ văn bản để xác định chủ đề (vấn đề trung tâm) của tác phẩm
Cách giải:
Văn bản đề cập đến vấn đề nhân tính của con người
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kỹ đoạn văn thứ hai.
- Xác định câu văn mang tính khái quát, liệt kê.
Cách giải:
Để hình thành nhân tính thì phải có cái “đầu sáng”, trái “tim nóng” và cái “bụng rộng”.
Câu 3:
Phương pháp:
- Nhận diện biện pháp liệt kê
- Phân tích tác dụng
Cách giải:
Hiệu quả của biện pháp tu từ liệt kê trong câu: “Đầu sáng” là cái đầu có khả năng minh định được ai là ai, cái gì là cái gì, và mình là ai; minh định được đúng-sai, phải-trái, chân-giả, thiện-ác, chính-tà….
+ Nhấn mạnh việc nhận biết và phân biệt rõ ràng các giá trị trong cuộc sống của một con người có tư duy sáng suốt.
+ Giúp cho câu văn sinh động, giàu hình ảnh, tăng hiệu quả diễn đạt.
Câu 4:
Phương pháp:
- Giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng của các hình ảnh: "bụng rộng", "chứa được", "sự hẹp hòi".
- Rút ra bài học về lẽ sống.
Cách giải:
-“Bụng rộng” là sự bao dung, vị tha; biết sống vì người khác; “Sự hẹp hòi” là sự ích kỷ, hẹp hòi, đố kỵ của người đời.
- Câu nói muốn nhấn mạnh: người có tấm lòng rộng lượng và bao dung mới có thể bỏ qua những lỗi lầm, sự ích kỷ và hẹp hòi của người khác.
=> Khuyên chúng ta hãy sống vị tha, bao dung bởi đó là nhân tính con người.
Câu 5:
Phương pháp:
- Thông điệp: Cần phải xây dựng nhân tính cho bản thân /biết sống bao dung, vị tha, yêu thương, giàu lòng trắc ẩn…
- Vì:
+ Nhân tính là yếu tố cần có để chúng ta trở thành một con người đúng nghĩa.
+ Khi xây dựng được nhân tính, chúng ta sẽ có được một cuộc sống nhân văn, hạnh phúc hơn…
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Thông điệp có ý nghĩa nhất với tôi từ văn bản là: mỗi người cần không ngừng xây dựng nhân tính cho bản thân bằng cách sống bao dung, vị tha, yêu thương và giàu lòng trắc ẩn. Bởi lẽ, nhân tính chính là yếu tố cốt lõi để chúng ta trở thành một con người đúng nghĩa, không chỉ mang hình hài con người mà còn có trái tim biết rung động trước cái đẹp, cái thiện. Khi xây dựng được nhân tính, tâm hồn ta sẽ an nhiên, các mối quan hệ trở nên tốt đẹp, từ đó có được một cuộc sống nhân văn và hạnh phúc hơn.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
1. Giải thích: Một trái tim nóng là biểu tượng của sự nhiệt huyết, sẵn sàng đồng cảm và chia sẻ với những người xung quanh.
2. Điều cần làm để có một “trái tim nóng”:
+ Sống yêu thương, quan tâm mọi người xung quanh.
+ Luôn lắng nghe, thấu hiểu, đồng cảm.
+ Thái độ sống tích cực, lạc quan.
+ Khích lệ, cổ vũ, ca ngợi những quan điểm, những hành động đẹp…
3. Phê phán thói ích kỉ, thờ ơ trước khó khăn, mất mát của người khác.
4. Rút ra bài học cho bản thân.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
“Trái tim nóng” là biểu tượng của sự nhiệt huyết, sẵn sàng đồng cảm và chia sẻ sâu sắc với những người xung quanh. Để có được trái tim ấy, trước hết mỗi người cần sống yêu thương, quan tâm đến mọi người bằng những hành động cụ thể, dù là nhỏ bé. Cùng với đó, chúng ta hãy luôn lắng nghe và thấu hiểu, bởi đồng cảm chính là nền tảng của mọi sự sẻ chia chân thành. Một thái độ sống tích cực, lạc quan cũng góp phần nuôi dưỡng “trái tim nóng”, giúp ta lan tỏa năng lượng tốt đẹp đến cộng đồng. Bên cạnh đó, việc khích lệ, cổ vũ và ca ngợi những quan điểm, hành động đẹp vừa tôn vinh cái thiện, vừa tiếp thêm động lực cho người khác. Trái lại, chúng ta cần lên án lối sống ích kỷ, thờ ơ, dửng dưng trước khó khăn, mất mát của đồng loại, bởi đó chính là biểu hiện đáng phê phán của “trái tim lạnh”. Từ những điều trên, mỗi học sinh lớp 12 chúng tôi nhận thức rằng mình có thể rèn luyện trái tim nóng mỗi ngày bằng cách biết lắng nghe bạn bè, san sẻ với cha mẹ và sẵn lòng giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn. Hãy để trái tim luôn ấm nóng, bởi đó là cách ta thực sự sống là Người, không chỉ mang hình hài mà còn chan chứa yêu thương và nhân tính.
Câu 2:
Phương pháp:
1.Mở bài. Giới thiệu hai tác giả, 2 tác phẩm và vấn đề nghị luận
2. Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận:
2.1 Thông tin chung về từng tác phẩm: đề tài, vị trí của tác phẩm trong đời sống văn học,...
2.2 Điểm tương đồng:
+ Về nội dung: Cả hai đều là những người cha chịu nhiều mất mát, đau thương trong chiến tranh; Đều phải đối mặt với những quyết định khó khăn liên quan đến con cái; Đều mang trong mình tình yêu thương sâu sắc dành cho con. (phân tích kết hợp chứng minh)
+ Về nghệ thuật: Điểm nhìn của người kể chuyện linh hoạt, nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế.
2.3 Điểm khác biệt:
+ Đoạn trích "Bí ẩn của làn nước": Người cha mất con trong một hoàn cảnh bất ngờ. Ông đau khổ, day dứt, quyết định giữ bí mật là một lựa chọn đầy trăn trở, xuất phát từ tình yêu thương con. Là người giàu tình cảm, sống nội tâm, chịu đựng nỗi đau một mình. Truyện được kể theo ngôi số 1, điểm nhìn hạn tri, cốt truyện bất ngờ, giọng điệu ngậm ngùi, xót xa…
+ Đoạn trích “Lời hứa của thời gian”: Ông Miêng trong chấp nhận một sự thật đau lòng, mở lòng đón nhận một người con không phải ruột thịt. Là người mạnh mẽ, lạc quan, biết hy sinh vì hạnh phúc của người khác. Với ngôi kể số 3, điểm nhìn trần thuật có sự thay đổi khi từ bên ngoài, khi đi sâu vào nội tâm, bộc lộ những đấu tranh day dứt của nhân vật.
2.4 Lí giải nguyên nhân của sự tương đồng và sự khác biệt:
+ Hoàn cảnh lịch sử.
+ Tâm thế, phong cách sáng tác của hai tác giả.
+ Bản chất của văn chương là sáng tạo.
Trình bày những nhận xét, đánh giá về ý nghĩa, đóng góp của mỗi tác phẩm.
3. Kết bài: Đánh giá lại vấn đề nghị luận
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Chiến tranh không chỉ để lại những vết thương trên cánh đồng, trên thành phố mà còn khắc sâu vào số phận con người những nỗi đau khó nguôi. Văn học Việt Nam sau chiến tranh đã ghi nhận nhiều hình tượng người cha mang trong mình nỗi đau dai dẳng và tình yêu thương vô bờ. Hai truyện ngắn "Bí ẩn của làn nước" của Bảo Ninh và "Lời hứa của thời gian" của Nguyễn Quang Thiều đã xây dựng thành công những nhân vật người cha với nhiều điểm tương đồng nhưng cũng có những nét khác biệt sâu sắc, góp phần tạo nên giá trị nhân văn đặc biệt.
Cả hai tác phẩm đều thuộc dòng văn học về đề tài chiến tranh và thân phận con người sau chiến tranh. "Bí ẩn của làn nước" của Bảo Ninh là một truyện ngắn giàu ám ảnh, nằm trong mạch cảm hứng về những mất mát không thể bù đắp. "Lời hứa của thời gian" của Nguyễn Quang Thiều cũng thuộc số những truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách giàu chất thơ và triết lý của ông.
Trước hết, hai nhân vật người cha trong hai tác phẩm có nhiều điểm gặp gỡ. Về nội dung, cả hai đều là những người lính từng trải qua chiến tranh khốc liệt, chịu nhiều mất mát, đau thương. Người cha trong "Bí ẩn của làn nước" bị cuốn trôi đứa con trai sơ sinh trong trận lũ đêm bom Mỹ phá đê. Ông Miêng trong "Lời hứa của thời gian" mất đứa con bị dị dạng, vợ bỏ đi. Cả hai đều phải đối mặt với những quyết định khó khăn liên quan đến con cái. Người cha trong Bảo Ninh phải lựa chọn giữa việc nói ra sự thật đau lòng hay giữ bí mật suốt đời để con gái được sống thanh thản. Ông Miêng phải đối diện với sự thật chàng trai đến nhận mình không phải con ruột, lựa chọn giữa khước từ hay dang tay đón nhận. Dù mỗi người có một hoàn cảnh riêng, cả hai đều mang trong mình tình yêu thương con sâu sắc, sẵn sàng hy sinh hạnh phúc cá nhân vì con. Về nghệ thuật, cả hai tác phẩm đều sử dụng điểm nhìn linh hoạt và nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế, đặc biệt là những giây phút giằng xé nội tâm.
Bên cạnh những điểm tương đồng, hai nhân vật còn có những nét khác biệt rõ nét. Trong "Bí ẩn của làn nước", người cha mất con trong hoàn cảnh bất ngờ, đầy bi kịch. Ông đau khổ, day dứt và quyết định giữ bí mật đến cuối đời – một lựa chọn đầy trăn trở nhưng xuất phát từ tình yêu thương con gái. Ông là người giàu tình cảm, sống nội tâm, chịu đựng nỗi đau một mình. Truyện được kể theo ngôi thứ nhất, điểm nhìn hạn tri, tạo nên cốt truyện bất ngờ với giọng điệu ngậm ngùi, xót xa. Ngược lại, ông Miêng trong "Lời hứa của thời gian" dù cũng chấp nhận sự thật đau lòng nhưng đã chủ động mở lòng đón nhận người con không phải ruột thịt. Ông là người mạnh mẽ, giàu lòng vị tha, biết hy sinh vì hạnh phúc của người khác. Truyện sử dụng ngôi kể thứ ba, điểm nhìn trần thuật thay đổi linh hoạt, khi từ bên ngoài, khi đi sâu vào nội tâm, bộc lộ những đấu tranh day dứt nhưng cuối cùng là sự lựa chọn tích cực.
Sự tương đồng và khác biệt giữa hai nhân vật bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Trước hết, cả hai đều chịu ảnh hưởng từ hoàn cảnh lịch sử đất nước sau chiến tranh với những mất mát, đổ vỡ. Tuy nhiên, tâm thế và phong cách sáng tác của hai nhà văn có sự khác biệt. Bảo Ninh thường khai thác nỗi đau chiến tranh âm ỉ, dai dẳng, không có lời giải như trong "Nỗi buồn chiến tranh", vì thế nhân vật của ông thường chìm đắm trong day dứt. Trong khi đó, Nguyễn Quang Thiều, dù cũng viết về chiến tranh, lại thiên về sự cứu rỗi, về lời hứa và hy vọng, nên nhân vật ông Miêng đã chọn cách dang tay đón nhận tình thương để chữa lành chính mình. Bản chất của văn chương là sáng tạo, mỗi nhà văn có cách tiếp cận riêng, tạo nên những giá trị đa dạng.
Cả hai tác phẩm đều có những đóng góp quan trọng. "Bí ẩn của làn nước" đem đến cho người đọc sự ám ảnh về bi kịch chiến tranh còn dai dẳng trong đời thường. "Lời hứa của thời gian" lại khẳng định sức mạnh của lòng vị tha và khả năng hàn gắn vết thương bằng tình yêu thương.
Tóm lại, nhân vật người cha trong "Bí ẩn của làn nước" và ông Miêng trong "Lời hứa của thời gian" tuy có những cách thể hiện khác nhau nhưng đều là những hình tượng đẹp về tình phụ tử và lòng hy sinh. Qua đó, mỗi người đọc có thêm sự trân trọng đối với những giá trị nhân văn cao cả, những vẻ đẹp thầm lặng mà con người Việt Nam đã gìn giữ giữa đổ nát, mất mát của chiến tranh.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP12
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
