Đề thi học kì 2 Ngữ Văn 12
Đề thi học kì 2 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
TỆ THAM NHŨNG TRONG BỘ MÁY CAI TRỊ
(Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc)
(1) Ngân sách Nam Kì chẳng hạn, năm 1911 là 5.561.680 đồng (12.791.000 phrăng); năm 1912 là 7.321.817 đồng (16.840.000 phrăng). Năm 1922, ngân sách đó lên tới 12.821.325 đồng (96.169.000 phrăng). Một con tính đơn giản cho chúng ta thấy giữa hai năm 1911 và 1922, trong ngân sách của thuộc địa này có một sự chênh lệch là 83.369.000 phrăng. Số tiền đó chạy vào đâu? Tất nhiên là vào các khoản chi về nhân sự, vì các khoản này ngốn gần hết 100% tổng số thu.
Hết hành vi điên rồ này đến hành vi điên rồ khác đã phung phí đồng tiền mà người dân An Nam khốn khổ đã phải đổ mồ hôi nước mắt mới kiếm được. Chúng tôi chưa biết đích xác số tiền chi tiêu cho vua An Nam sang ngao du bên Pháp, chỉ biết rằng, để đợi ngày lành cho con Rồng tre xuống tàu, người ta đã phải bồi thường cho tàu Poóc-tốt-xơ trong bốn ngày chờ đợi, mỗi ngày 100.000
phrăng (tức là 400.000 phrăng tất cả). Tiền tàu hết 400.000 phrăng. Tiền chiêu đãi hết 240.000 phrăng (chưa kể tiền lương trả cho bọn mật vụ để theo dõi người An Nam ở Pháp), 77.600 phrăng trả tiền ăn ở tại Mác-xây cho lính khố xanh dùng để “bồng súng chào” Cụ lớn và Hoàng thượng.
Vì nói đến Mác-xây, nên nhân tiện cũng thử xem cuộc triển lãm thuộc địa ở đây đã tốn phí bao nhiêu. Trước hết, ngoài bọn có thế lực ở chính quốc ra, người ta còn cho mời ba chục viên chức cao cấp ở các thuộc địa về; bọn này phè phỡn ở
đường phố Cannơbie mà vẫn được lĩnh phụ cấp cả ở triển lãm lẫn ở thuộc địa. Riêng Đông Dương phải bỏ ra 12 triệu cho cuộc triển lãm này. Và các bạn có biết người ta đã chi tiêu số tiền đó như thế nào không? Một ví dụ: việc dựng lại cái mô hình nổi tiếng của các cung điện Ăngco đã tốn 3.000 mét khối gỗ, giá 400 hoặc 500 phrăng một mét khối. Tức là: từ 1 triệu 200 nghìn đến 1 triệu 500 nghìn phrăng!
Còn nhiều ví dụ khác về sự phung phí nữa. Trong việc đi lại của quan toàn quyền, xe hơi và xe luých vẫn chưa đủ, còn phải có một toa xe lửa đặc biệt nữa kia; việc sửa sang toa xe đó tốn cho ngân khố 125.250 phrăng.
Trong vòng mười một tháng hoạt động, nha kinh tế đã làm hao phí công quỹ Đông Dương một số tiền 464.000 phrăng.
Tại trường thuộc địa, nơi “chế tạo” ra những nhà khai hoá tương lai, 44 giáo
sư đủ các loại được đài thọ để dạy từ 30 đến 35 học viên. Lại phải tốn hàng nghìn phrăng nữa.
Công việc thanh tra thường xuyên các công trình phòng thủ thuộc địa hằng năm tốn cho ngân sách 785.168 phrăng. Thế nhưng các ngài thanh tra thì không bao giờ rời khỏi Pari và đối với các thuộc địa thì các ngài cũng không hiểu biết gì hơn là hiểu biết ông trăng già!
Nếu chúng ta đến các thuộc địa khác, thì ở đâu chúng ta cũng thấy một tình trạng tệ lậu như vậy. Để đón tiếp một phái đoàn “kinh tế” không chính thức, ngân khố Mác-ti-ních “nhẹ bỗng đi mất 400.000 phrăng. Trong vòng 10 năm, ngân sách Marốc từ 17 triệu lên 290 triệu phrăng, mặc dầu người ta đã giảm 30% các khoản chi tiêu cho lợi ích địa phương, tức là những khoản chi tiêu có thể có lợi cho nhân dân bản xứ!
(2) Một cựu nghị sĩ đi thăm thuộc địa về, đã phải kêu lên: “So với bọn viên chức thuộc địa thì những tên cướp đường còn là những người lương thiện!”. Mặc dù đồng lương rất hậu (một nhân viên Pháp mới bổ dụng, dù có dốt đặc đi nữa, lương ít nhất cũng 200 đồng = 2.000 phrăng mỗi tháng), nhưng các ngài viên chức ấy vẫn không bao giờ thoả mãn, họ muốn kiếm chác nhiều hơn, bằng đủ cách.
Học bổng thì cấp cho các cậu ấm con các quan công sứ, hoặc các quan cai trị
tại chức mà lương được coi như quá thấp (từ 4 vạn đến 10 vạn phrăng).
Có thể nói một số phiên họp của hội đồng quản hạt chỉ là để bàn việc cướp giật công quỹ một cách có phương pháp. Riêng một ông chủ tịch nào đó của hội đồng đã được lãnh thầu những công việc trị giá hai triệu phrăng rồi. Ông đồng lí sự vụ nọ, đại diện của chính phủ trong hội đồng, đã xin tăng lương mình lên gấp
đôi và đã được chấp thuận.
Kho bạc có vơi đi chút ít thì đã có những quý quan làm cho nó đầy lại một cách nhanh chóng. Với quyền hành sẵn có, họ sức cho dân bản xứ biết nhà nước cần một khoản tiền bao nhiêu đó, rồi họ phân bổ cho các làng phải đóng góp. Và các làng lo vội vàng tuân lệnh để khỏi bị trừng phạt ngay lập tức.
Khi một viên khâm sứ cần thanh toán một khoản tiền gì đó thì ngài phát hành các bằng sắc để bán. Người ta kể lại ở một tỉnh nọ, một vụ kinh doanh kiểu ấy đã thu được tới 10.620 phrăng. Mà những vụ như thế không phải hiếm.
Một trong những quan khâm sứ của chúng ta, vì tiêu hết trước hạn mấy tháng tất cả kinh phí cho chiếc xà-lúp đã bắt công quỹ hoàn lại cho ngài các khoản chi phí về một cuộc lễ tiết nào đó không ai biết rõ, nhưng nói rằng nhà vua đã được mời ngự trên xà-lúp. Các tay chào hàng cho văn minh và dân chủ quả thật thông thạo về cái ngón xoay xở kiểu D.
(3) Một cựu toàn quyền Đông Dương, một hôm đã thú nhận rằng thuộc địa này đầy rẫy những viên chức ăn hại ngân sách mà thường chẳng được tích sự gì cả.
Một người thực dân viết: quá nửa số viên chức ấy, từ các quan đầu tỉnh đến các quan chức khác, đều không đủ tư cách cần thiết của những con người được giao phó những quyền hạn rộng rãi và ghê gớm như thế.
Tất cả bọn chúng chỉ có mỗi cái tài là phung phí công quỹ, còn người An Nam
khốn khổ thì cứ nai lưng đóng góp, đóng góp mãi. Họ đóng góp không những để trả lương cho những viên chức giữ những chức vụ vô dụng, mà còn để trả lương cho cả những viên chức không có chức vụ gì cả! Năm 19..., 250.000 phrăng đã tan biến đi như thế.
Một chiến hạm đã được dành riêng cho sự đi lại của một cụ lớn. Việc sửa sang chiếc chiến hạm đã tốn 250.000 phrăng, ấy là chưa kể những khoản “chi phí linh tinh” mà Đông Dương phải đài thọ cho mỗi chuyến đi là trên 80.000 phrăng.
Quan toàn quyền chưa vừa ý với những lâu đài tráng lệ mà ngài ở tại Sài Gòn và Hà Nội, còn phải cần thêm cho ngài một biệt thự ở bãi biển nữa. Ngân sách Đông Dương lại phải “è lưng ra gánh”
Năm 19... một tay nước ngoài tai to mặt lớn nào đó ghé qua Sài Gòn, đã được viên thống đốc đón tiếp một cách đế vương. Bốn ngày liền ăn chơi phè phỡn thả cửa, yến tiệc, rượu chè lu bù, rốt cuộc xứ Nam Kì tội nghiệp phải tính sổ trả 75.000 phrǎng.
Các quan cai trị đều là những ông vua con. Họ muốn xung quanh mình cái gì cũng xa hoa tráng lệ, và nói rằng, có thế mới nâng cao được uy tín của họ đối với người bản xứ.
Một viên công sứ nọ đã lập cả một đội kỵ mã cận vệ và không bao giờ hắn
đi đâu mà không có đội ấy theo hầu. Ở tất cả các toà sứ đều có từ 6 đến 11 con ngựa và 5, 6 cỗ xe sang trọng đủ kiểu: độc mã, song mã, tứ mã, v.v.. Ngoài những phương; tiện đi lại đã quá thừa ấy, còn thêm những xe hơi mĩ lệ, tổn cho công quỹ hàng vạn đồng. Một viên quan cai trị nọ còn có cả một tàu ngựa đua.
Tiền nhà cửa, bàn ghế, điện nước của các vị đó đều do công quỹ dài thọ cả. Ngoài ra, những người đánh xe, lái xe, giữ ngựa, làm vườn, tóm lại, tất cả những kẻ hậu người hạ của họ cũng đều do nhà nước trả tiền công.
Thậm chí những cuộc giải trí về văn chương của những người tốt số ấy cũng lại do nhà nước trang trải. Một viên quan cai trị đã ghi vào ngân sách 900 đồng tiền sưởi ấm, và 1.700 đồng mua báo chí! Một vị khác đã dùng mánh lới kế toán khoản vật liệu tu bổ toà sứ, hoặc những khoản tương tự như thế để bắt ngân sách để biến tiền mua sắm áo khoác ngoài, đàn dương cầm, đồ trang sức thành những nhà nước phải chịu.
(Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 38, NXB Khoa học xã hội, 2000)
(1) La Cannebière: Tên một đường phố đông đúc ở Mác-xây.
(2) Nguyên văn: “Un Tartempion de marqué étranger”, “Tartempion” là một danh từ riêng đặt ra dùng để chỉ một anh chàng cha căng chú kiết nào đó.
Câu 1. Luận đề của văn bản có được thể hiện ở nhan đề không? Nhận xét mức độ phù hợp giữa nội dung của văn bản với nhan đề. (0.5 điểm)
Câu 2. Tóm lược nội dung từng phần của văn bản (theo số thứ tự) và nêu mối quan hệ giữa các phần. (0.5 điểm)
Câu 3. Nhận xét cách triển khai luận điểm 1 (sử dụng bằng chứng và thao tác lập luận). Từ đó cho thấy mục đích và vai trò của luận điểm đối với luận đề. (1.0 điểm)
Câu 4. Những căn cứ nào làm cơ sở để tác giả khẳng định bọn viên chức trong bộ máy cai trị là một đội quân bất lương, bất tài? Dẫn ra một số câu văn, yếu tố
thể hiện rõ tính khẳng định, phủ định trong lập luận của tác giả. (1.0 điểm)
Câu 5. Nhận xét cách lập luận và sử dụng ngôn ngữ trong luận điểm số 3 và ngôn ngữ, giọng điệu trong toàn văn bản Tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị. (1.0 điểm)
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1. Xác định mục đích của văn bản đọc hiểu trên. Từ đó cho biết: Vấn đề tác giả nêu lên trong văn bản có ý nghĩa như thế nào đối với xã hội ngày nay? (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ) (2.0 điểm)
Câu 2.
Đọc ngữ liệu sau và viết bài luận (600 chữ) thể hiện suy nghĩ của em về hiện tượng nghèo nhưng phải “sang chảnh” trong thanh niên hiện nay.
Nghèo nhưng phải “sang chảnh”
“Nghèo nhưng phải sang chảnh”, cụm từ nghe có vẻ mâu thuẫn nhưng thực chất đây là một lối sống khá phổ biến hiện nay của giới trẻ. “Nghèo sang chảnh
hay còn được hiểu là lối sống chạy theo vật chất, chi tiêu và đòi hỏi những thứ quá khả năng của bản thân.
Nhiều người trẻ hiện đại cho biết họ sẵn sàng mua những món đồ hiệu đắt
tiền, mĩ phẩm cao cấp, điện thoại đồ xa xỉ. trong khi những thứ đồ đó vượt qua
thu nhập hàng tháng. Đối với họ, việc đó “đáng” đánh đổi để có được những lời
tán thưởng, sự ghen tị của người ngoài hay đơn giản chỉ là vỏ bọc bên ngoài.
Chuyển lên sinh sống và học tập tại Hà Nội từ năm lớp 11, T.M.Q (26 tuổi,
sống tại quận Hoàng Mai, Hà Nội) từng có những tháng ngày “hết mình” trước
khi trở thành một con người điềm đạm như hiện tại. Rời xa vòng tay gia đình
trong độ tuổi còn “nông nổi”, chàng trai trẻ đã không thể tránh khỏi vòng xoáy
“đua đòi” từ bạn bè.
“Khi học hết cấp 3 và bước chân vào cánh cổng đại học, mình đã “hưởng thụ cuộc sống một cách “hết mình”. Những gì mà mình làm hồi đó là các buổi cà phê sang chảnh rồi bữa ăn tiền triệu và cả nhiều món đồ hiệu để bằng bạn bằng bè.
Trong khi đó, gia đình đang phải cố gắng từng ngày để tiết kiệm cho mình học
trên đây. Thú thật là lúc đó chúng cũng đã đem lại cho mình sự thoả mãn, nhưng chỉ thoáng qua, không có ý nghĩa gì cả”– Q chia sẻ.
Biến cố đến với Q trong một lần trót hứa với bạn bè sẽ “làm một bữa ra trò vào ngày sinh nhật của mình. Để có tiền mời bạn bè đi “ăn chơi”, Quang đã vay lãi bên ngoài. Buổi đi chơi đó đã khiến Q có một khoản nợ bằng tiền học và sinh hoạt cả năm của anh tại Hà Nội. Khi rơi vào hoàn cảnh éo le, những người bạn “chí cốt” đó lại bỗng “mất tích”, Q phải cầu cứu sự giúp đỡ từ gia đình.
“Mình chợt nhận ra rằng bản thân đã “giàu có” ở tuổi 26, nhưng là giàu kinh nghiệm và bài học rút ra từ chính những vấp ngã. Giàu bởi ý thức được việc phải tiết kiệm, quản lí tài chính cá nhân một cách hiệu quả và tối ưu, không lãng phí.
Nếu cứ mải chạy theo sự phù phiếm, cái giá phải trả đã có thể không chỉ là tiến bạc”. − Q bày tỏ.
(tuoitrethudo.com.vn)
Đáp án
Câu 1.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, rút ra nội dung chính
Vận dụng kiến thức về luận đề của văn bản để rút ra nội dung của luận đề
Suy ra qua nhan đề, độc giả có xác định được nội dung của văn bản hay không (nhan đề có phù hợp với nội dung của văn bản hay không)
Lời giải chi tiết:
- Luận đề của văn bản: tập trung làm sáng tỏ luận đề tệ tham nhũng trong bộ
máy cai trị của thực dân Pháp ở thuộc địa (Việt Nam).
nob
- Luận đề được thể hiện ở nhan đề: Tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị (nội
dung và đối tượng bàn luận)
- Nhan đề phù hợp với nội dung của văn bản, qua nhan đề, độc giả xác định
được nội dung cụ thể của văn bản.
Câu 2
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chia văn bản theo từng phần và nêu nội dung chính
Từ đó suy ra mối quan hệ giữa các phần
Lời giải chi tiết:
– Nội dung từng phần của văn bản
+ Phần/Đoạn 1: Sự lãng phí, tham nhũng cho việc ăn chơi, hưởng thụ quan
chức thuộc bộ máy cai trị.
+ Phần/Đoạn 2: Bọn viên chức thuộc địa là những kẻ bất lương.
+ Phần/Đoạn 3: Những viên chức của bộ máy cai trị là những kẻ ăn hại ngân sách.
– Mối quan hệ giữa các phần/đoạn
+ Đi từ khái quát đến cụ thể: Đoạn 1 khái quát sự lãng phí, tham nhũng của
bộ máy cai trị đầu não; Đoạn 2, 3 làm rõ sự lãng phí, tham nhũng ở bọn viên chức thuộc bộ máy cai trị.
+ Nội dung ở 3 luận điểm làm sáng tỏ luận đề: Tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị.
Câu 3
Phương pháp giải:
Chú ý đến các con số cụ thể trong luận điểm 1
Chỉ ra các luận cứ và thao tác lập luận chính của luận điểm
Dựa vào câu 1 (nội dung của luận đề) để rút ra mục đích và vai trò của luận điểm với luận đề
Lời giải chi tiết:
– Đi thẳng vào vấn đề bằng hàng loạt con số cụ thể. Con số ấy là cơ sở để tác
giả khẳng định: việc ăn chơi, hưởng thụ quan chức thuộc bộ máy cai trị đã tiêu
tốn rất nhiều tiền của ngân sách.
- Triển khai luận điểm bằng 5 luận cứ: chi cho nhân sự, vua An Nam sang
ngao du bên Pháp, ba chục viên chức cao cấp ở các thuộc địa ăn chơi, việc đi lại
của quan toàn quyền, chi cho các giáo sư ở trường học và công việc thanh tra.
Sử dụng bằng chứng là các con số; thao tác lập luận chính: chứng minh, so
sánh và tổng hợp.
- Mục đích của luận điểm: chứng minh, làm rõ biểu hiện của tham nhũng
lãng phí trong bộ máy cai trị của thực dân Pháp tại thuộc địa (Việt Nam) – Luận
điểm này là bộ phận quan trọng làm sáng tỏ luận đề (Tệ tham nhũng trong bộ
máy cai trị).
Câu 4
Phương pháp giải:
Tìm kiếm thông tin trong văn bản
Vận dụng kiến thức về tính khẳng định, phủ định trong văn bản
Lời giải chi tiết:
- Những căn cứ để tác giả khẳng định một đội quân bất lương, bất tài:
+ Bất lương: Chúng kiếm chác nhiều hơn, bằng đủ cách; cấp học bổng cho các cậu ấm con các quan công sứ; họp hội đồng quản hạt chỉ là để bàn việc cướp giật công quỹ; làm đầy công quỹ bằng nhiều cách bất lương (phân bổ cho các làng phải đóng góp để làm đầy công quỹ, phát hành các bằng sắc để bán).
+ Bất tài: Không đủ tư cách cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, phụ trách, chỉ có tài phung phí công quỹ.
+ Bằng chứng là những con số xác thực về việc sử dụng lãng phí đồng tiền (phrăng)
- Câu văn thể hiện rõ tính phủ định, khẳng định:
+ Các quan cai trị đều là những ông vua con; Tất cả bọn chúng chỉ có mỗi cái tài là phung phí công quỹ.
+ Không đủ tư cách cần thiết của những con người được giao phó những quyền
hạn rộng rãi và ghê gớm như thế.
+ Thế nhưng các ngài thanh tra thì không bao giờ rời khỏi Pa-ri và đối với các thuộc địa thì các ngài cũng không hiểu biết gì hơn là hiểu biết ông trăng già!
+ Một cựu toàn quyền Đông Dương, một hôm đã thú nhận rằng thuộc địa này
đầy rẫy những viên chức ăn hại ngân sách mà thường chẳng được tích sự gì cả.
Câu 5
Phương pháp giải:
Đọc kĩ luận điểm số 3, phân tích việc tác giả thành ngữ “gậy ông đập lưng ông” và việc sử dụng các cụm từ gần nghĩa để vạch trần tệ tham nhũng
Nhận xét các tác giả sử dụng các thao tác lập luận
Chú ý phân tích lối nói ngược, phủ định và câu cảm thán để suy ra nhận xét về ngôn ngữ, giọng điệu trong toàn văn bản
Lời giải chi tiết:
- Nhận xét cách lập luận và sử dụng ngôn ngữ trong luận điểm số 3:
+ Dùng “gậy ông đập lưng ông” để vạch mặt tệ nạn tham nhũng, phủ nhận vai
trò của bọn cai trị tại thuộc địa: “Một cựu toàn quyền Đông Dương, một hôm đã thú nhận rằng thuộc địa này đầy rẫy những viên chức ăn hại ngân sách mà thường chẳng được tích sự gì cả”.
+ Sử dụng một loạt các cụm từ gần nghĩa để vạch tệ tham nhũng: tốn cho công
quỹ; do công quỹ đài thọ cả; do nhà nước trang trải; bắt ngân sách nhà nước phải chịu
+ Sử dụng linh hoạt, hiệu quả các thao tác lập luận: chứng minh, so sánh, đối
lập, bình luận, tổng hợp,...
- Ngôn ngữ, giọng điệu trong toàn văn bản: mỉa mai, châm biếm, đả kích sâu
cay bằng lối nói ngược, phủ định, câu cảm (Hết hành vi điên rồ này đến hành vi điên rồ khác; để “bồng súng chào” Cụ lớn và Hoàng thượng; các ngài cũng không hiểu biết gì hơn là hiểu biết ông trăng già!; So với bọn viên chức thuộc địa thì những tên cướp đường còn là những người lương thiện!”; có mỗi cái tài là phung phí công quỹ,...).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, rút ra nội dung văn bản từ đó xác định mục đích
Liên hệ đến thực tế xã hội ngày nay
Vận dụng kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn nghị luận đề một vấn đề đời sống
Lời giải chi tiết:
Văn bản đảm bảo dung lượng 200 chữ và hướng vào những nội dung chính sau đây
- Mục đích của văn bản:
+ Tố cáo sự bất nhân, tham lam – căn bệnh tham nhũng, lãng phí của bọn quan chức cai trị ở thuộc địa.
+ Phơi bày nỗi thống khổ của người dân thuộc địa, bị bóc lột, bị ăn cướp khiến
đời sống của họ vô cùng cực khổ.
→ Quân cai trị thực chất là ăn cướp, vơ vét của cải.
→ Người dân bị mất nước là thân phận nô lệ, phải đè lưng làm để nuôi lũ ăn cướp.
Vấn đề tác giả nêu lên trong văn bản có ý nghĩa đối với xã hội ngày nay:
+ Phê phán sự lãng phí, hưởng thụ xa hoa ở một số đối tượng trong xã hội
+ Đánh thức người đọc: Hãy quan tâm đến cảnh ngộ, số phận của người dân lao
động ở những vùng khó khăn.
Câu 2.
Phương pháp giải:
Xác định hình thức và nội dung đề bài yêu cầu
Vận dụng kiến thức viết bài văn nghị luận về một vấn đề đời sống
Lời giải chi tiết:
|
Đọc ngữ liệu sau và viết bài luận (600 chữ) thể hiện suy nghĩ của em về hiện tượng nghèo nhưng phải “sang chảnh” trong thanh niên hiện nay. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
– Giới thiệu vấn đề nghị luận. - Nếu khái quát: Tính cấp thiết vấn đề đối với tuổi trẻ. |
|
Thân bài |
2,75 |
* Làm rõ cách hiểu lối sống: nghèo nhưng phải “sang chảnh”. * Biểu hiện lối sống nghèo nhưng phải “sang chảnh” trong giới trẻ: – Các dạng biểu hiện lối sống nghèo nhưng phải “sang chảnh” với những ví dụ cụ thể. - Phân tích nguyên nhân, tác hại (qua các góc nhìn). * Quan niệm, chính kiến của bản thân (đồng tình/phản đối). – Nhận thức cá nhân về hiện tượng sống nghèo nhưng phải “sang chảnh” trong giới trẻ. – Thái độ trước hiện tượng sống nghèo nhưng phải “sang chảnh” trong giới trẻ. * Đề xuất một số giải pháp để khắc phục lối sống nghèo nhưng phải “sang chảnh” trong giới trẻ. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề – Hành động của cá nhân thể hiện lối sống văn minh, phù hợp với hoàn cảnh gia đình, với môi trường hoạt động cụ thể. |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
– Sử dụng các thao tác phân tích so sánh, chứng minh, bình luận - Dẫn chứng đa dạng, phong phú phù hợp với lí lẽ, luận điểm - Kết nối được nội dung từ hai văn bản “Tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị” “Nghèo nhưng phải “sang chảnh” ” (trong lập luận hoặc đưa dẫn chứng). |
Đề thi học kì 2 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
MẸ VÀ CHIẾC BÚT
(Nhật kí Mã Yến)
Thứ sáu, ngày 22/9/2000
Trời quang.
Chiều nay tan học, chúng tôi về nhà ăn cơm. Ăn tối xong, mẹ bảo hai chị em tôi lên nương trồng mạch ba góc để vác những bó đã cắt về nhà. Lúc này, tôi gần như không cất nổi bước, nhưng mẹ nói nhất định phải đi. Mẹ đã cắt bao nhiêu là lúa, chúng tôi chỉ có việc chuyển về mà còn không giúp mẹ ư, nhất là bây giờ bố lại đi vắng, tìm việc ở mãi tận Nội Mông?
Mẹ vì cái ăn, cái mặc của chúng tôi mà phải lam lũ vất vả, nếu không mẹ chẳng phải cắt lúa mạch làm gì. Mẹ bảo chúng tôi đi làm là phải lắm, và chúng tôi cũng đi thôi. Nếu không thì không xứng công sức của mẹ! Mẹ đã kiệt sức kiếm
miếng ăn cho chúng tôi, khi nhà chẳng còn gì, mẹ còn vắt kiệt sức hơn nữa, chẳng biết sống sung sướng là gì. Mẹ không muốn chúng tôi sau này phải khổ sở. Không có ăn thì khổ lắm! Vì vậy còn phải học thật tốt, để không phải khổ như bố mẹ.
Thứ sáu, 24/11/2000
Trước trưa hôm nay, bố và mẹ đến trường thăm hai chị em chúng tôi. Còn mang theo một ít gạo và bảo chúng tôi nộp cho thầy giáo chủ nhiệm.
Chuông báo tới giờ học đã vang lên. Chúng tôi lên lớp. Khi tan học, vào buổi chiều, tôi và em trai chạy luôn ra phố. Khi chúng tôi xuống phố thì bố và mẹ đã
chuẩn bị đi thăm ông bà ngoại. Bố mẹ nghe nói bà ngoại ốm, cho nên muốn đi thăm bà. Bố mẹ đưa cho tôi một đồng để mua táo, để ăn với bánh bao.
Ngày hôm nay tôi cảm thấy rất buồn. Bạn muốn biết tại sao tôi buồn chứ? Bởi vì buổi sáng tới thăm, bố mẹ nói với tôi: “Khi con về nhà thì hãy cho bò ăn.... Tôi đã từ chối. Lúc về đến nhà, tôi vẫn cho bò ăn. Vì phải cho bò ăn, nên cả hai tay tôi đều bị cứa nứt hết, trông rất đáng sợ. Vậy là, tôi suy nghĩ: tôi chỉ cho bò ăn có một lần, hai tay tôi đã nứt nẻ ra thế này. Còn mẹ, mẹ ngày nào cũng cho bò ăn, thế cho nên tay mẹ mới sưng phồng ra như vậy. Tất cả những gì mẹ làm, thực ra chỉ vì tương lai của các em tôi, của tôi.
Càng nghĩ, tôi càng xúc động, đến mức phát khóc, không nói được nên lời. Bố mẹ hãy về nhanh lên, con cần tình thương yêu của bố mẹ. Con biết sai rồi, được
chưa? Hãy về nhanh lên, con nhớ bố mẹ! Về nhanh lên, bố mẹ ơi!
Thứ bảy, 28/7/2001
Trời quang.
Chiều nay, chừng ba bốn giờ gì đó, mẹ ốm đến nỗi không dậy được. Tôi và em trai phải đi tìm thuốc để chữa cho mẹ. Chúng tôi xoa bụng cho mẹ bằng thuốc cao.
Chúng tôi còn chưa xoa xong thì anh Mã Nghĩa Vũ, con trai của bác là anh ruột bố tôi đã đến. Ông anh 20 tuổi này vừa mới tốt nghiệp trường kĩ thuật nhưng không kiếm được việc làm. Anh khẳng định rằng muốn có một công việc tốt trong một cơ quan thì phải chạy chọt bằng tiền bạc.
Anh vào nhà ngồi lên giường, có vẻ như đang phiền muộn. Mẹ hỏi: “Cháu đã tìm được việc làm chưa?” Anh họ nói: “Tìm được việc thì dễ nhưng phải lo lót.
Nếu cháu có hai nghìn đồng, cháu có thể vào làm trong một công ty ngay. Vấn đề là chỉ cần có tiền. Nhưng nhà cháu làm gì có tiền. Mấy ngày nữa cháu sẽ đi kiếm bất cứ việc gì để làm. Khi cháu đã có tiền rồi thì tìm được một công việc tốt cũng không khó”.
Tôi ngồi trên ghế, nhìn thấy nước mắt như sắp trào ra khỏi mắt anh. Khi tôi nhìn
mái đầu đã có tóc trắng và khuôn mặt đau khổ của anh, lòng tôi như tan nát. Vì sao con cháu của gia đình có hai đời là quân nhân mà không có việc để làm? Ngày hôm nay, người cháu của một quân nhân đã tốt nghiệp, nhưng không có tiền, không tìm được việc. Xem ra ông trời có mắt mà như mù, chỉ giúp những kẻ độc ác, không hề để ý tới sự sống chết của người lương thiện. Sao lại bất công đến như vậy!
Tôi không biết anh họ phải đi đến tận đâu. Tôi mong sao anh sớm kiếm được một công việc tốt, chỉ thế là tôi đã mừng cho anh ấy.
Thứ hai, 30/7/2001
Chiều nay, khi tôi muốn viết nhật kí thì tìm không thấy bút. Tôi hỏi hai đứa em thì chúng cũng đều nói không thấy. Tôi đến chỗ ngồi viết nhật kí chiều hôm qua tìm cũng không thấy. Tôi bèn hỏi mẹ xem có thấy bút không. Mẹ nói rằng hôm qua thấy tôi để sách bút trên giường sợ rơi mất, mẹ đã cất vào trong ngăn kéo. Nhưng khi tìm ở đó vẫn không thấy, lòng tôi gần như tan nát.
Hẳn các bạn sẽ bật cười: “Một cái bút có gì là ghê gớm! Làm sao chỉ vì một cây bút mà mi đã xót xa đến như vậy?”. Các bạn chưa thấy hết nỗi khổ mà tôi phải chịu để có được cái bút này. Trong suốt cả hai học kì tôi đã không tiêu đồng tiền nào mới mua được nó! Các bạn khác trong lớp đều có đến hai, ba cái bút, tôi thì một cái cũng không có, nên tôi phải chắt bóp mãi mới mua được nó.
Nỗi khổ sở mãi mới có được bút của tôi cũng xuất phát từ chính nỗi khổ của nhà tôi. Số tiền mẹ cho tôi là để mua bánh ăn. Nhưng suốt ngày tôi chỉ ăn cơm hẩm. Tôi quyết nhịn đói, không ăn bánh, để tiết kiệm tiền mua được nó. Vì chiếc bút máy đó, tôi đã khổ sở biết bao nhiêu!
Sau đó, tôi được một cái bút khác. Tôi được tặng vào dịp Tết thiếu nhi 1/6. Vì tôi là “học sinh ba tốt”. Từ đó, tôi không thiếu bút nữa.
Nhưng chiếc bút thân thiết kia mới là chiếc bút để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc nhất. Qua nó, tôi hiểu thế nào là cuộc sống khổ ải, thế nào là cuộc sống hạnh phúc.
Mỗi lần thấy nó, tôi như thấy bóng dáng của mẹ. Như là mẹ vẫn động viên tôi chăm chỉ học tập để có thể thi vào trường nữ sinh trung học. Nhưng tôi đã làm mẹ phải thất vọng. Tôi thật vô dụng. Ở trường tôi đã sống một cuộc sống không xứng đáng.
Ngay trường nữ sinh trung học cũng không vào được. Sống như vậy còn có ích gì?
Có điều tôi vẫn còn lòng tin. Tôi nhất định phải thành công. Tôi sẽ tìm được một công việc lí tưởng, thoả lòng tôi mong đợi.
Ngọc Quỳnh dịch, Trác Phong hiệu đính.
(Nhật kí Mã Yến, NXB Hội Nhà văn, 2010)
*Mã Yến là cô bé 12 tuổi sống tại thôn Trương Gia Thụ, nam Ninh Hạ, Trung Quốc. Cuốn nhật kí của cô bé đã khiến hàng vạn người đọc cảm động vì một mong ước giản dị là được tiếp tục đi học.
*Một phóng viên nước ngoài đến Ninh Hạ tìm hiểu cuộc sống của người dân, cán bộ xã dẫn đi vòng quanh, xem qua loa và nói những lời hoa mĩ về mức sống khá giả tưởng tượng của nhân dân. Bà mẹ mù chữ của Mã Yến không thể chịu đựng được nữa. Bà vùng lên chạy về lấy cuốn nhật kí của cô bé ra dúi vào tay người phóng viên: “Sự thật không phải thế. Tôi không biết nó viết gì vì không đọc được nhưng trẻ con thì bao giờ cũng nói thật, hãy đọc rồi sẽ biết.”
Câu 1. Đọc chú thích, văn bản và cho biết: Văn bản nhật kí trên phản ánh hiện thực nào? Yếu tố nào làm nên tính xác thực, phi hư cấu của văn bản? (0.5 điểm)
Câu 2. Xác định những sự việc xảy ra trong gia đình Mã Yến. Từ đó, cho biết cô bé Yến tự trách mình về điều gì nhiều nhất? (0.5 điểm)
Câu 3. Đọc nhật kí ngày thứ bảy, 28/7/2001 của Mã Yến và trả lời các câu hỏi a, b. (1.0 điểm)
a) Xác định và đánh giá chủ quan của chủ thể và nhận xét bút pháp viết nhật kí của Mã Yến.
b) Thông qua cái nhìn của cá nhân, Mã Yến đã bao quát những vấn đề nào của cộng đồng?
Câu 4. Nêu cảm nhận của em về chủ thể của nhật kí trên. Điều gì ở Mã Yến khiến em suy nghĩ nhiều nhất? (1.0 điểm)
Câu 5. Nhận xét giá trị thẩm mĩ, ý nghĩa xã hội của những trang nhật kí trên.
(1.0 điểm)
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1. Đánh giá khả năng tác động của văn bản đối với người đọc và tiến bộ xã hội. (Trả lời bằng đoạn văn 200 chữ ) (2.0 điểm)
Câu 2.
Viết văn bản nghị luận (600 chữ) so sánh, đánh giá làm rõ nét tương đồng và khác biệt về nội, ý nghĩa trong 2 đoạn nhật kí sau. Từ đó cho biết những trang nhật kí đó đã tác động tới em như thế nào?
Thứ sáu, 24/11/2000
Trước trưa hôm nay, bố và mẹ đến trường thăm hai chị em mang theo một ít gạo và bảo chúng tôi nộp cho thầy giáo chủ nhiệm.
Chuông báo tới giờ học đã vang lên. Chúng tôi lên lớp. Khi tan học, vào buổi chiều, tôi và em trai chạy luôn ra phố. Khi chúng tôi xuống phố thì bố và mẹ đã chuẩn bị đi thăm ông bà ngoại. Bố mẹ nghe nói bà ngoại ốm, cho nên muốn đi thăm bà. Bố mẹ đưa cho tôi một đồng để mua táo, để ăn với bánh bao,
Ngày hôm nay tôi cảm thấy rất buồn. Bạn muốn biết tại sao tôi buồn chứ? Bởi vì buổi sáng tới thăm, bố mẹ nói với tôi: “Khi con về nhà thì hãy cho bò ăn”... Tôi đã từ chối. Lúc về đến nhà, tôi vẫn cho bò ăn. Vì phải cho bò ăn, nên cả hai tay tôi đều bị cứa nứt hết, trông rất đáng sợ. Vậy là, tôi suy nghĩ: tôi chỉ cho bò ăn có một lần, hai tay tôi đã nứt nẻ ra thế này. Còn mẹ, mẹ ngày nào cũng cho bò ăn, thế cho nên tay mẹ mới sưng phồng ra như vậy. Tất cả những gì mẹ làm, thực ra chỉ vì tương lai của các em tôi, của tôi.
Càng nghĩ, tôi càng xúc động, đến mức phát khóc, không nói được nên lời. Bố mẹ hãy về nhanh lên, con cần tình thương yêu của bố mẹ. Con biết sai rồi, được chưa? Hãy về nhanh lên, con nhớ bố mẹ! Về nhanh lên, bố mẹ ơi!
Thứ ba, 13/11/2001
Tôi không biết tối qua mẹ tôi ngủ ở đâu, chẳng biết mẹ ngủ yên trên nền đất ẩm hay ở nơi phiến đá ven đường. Tôi chỉ chắc một điều là chắc chắn mẹ không
được một đêm ngon giấc. Lúc này là mùa đông, khí trời giá buốt, nhất là lúc nửa đêm. Nhiệt độ xuống dưới 0 độ C. Thế mà mẹ lại còn bị đau dạ dày...
Tôi không biết đi kiếm rau phát thái khó khăn đến chừng nào. Có lần tôi đã đi kiếm rau phát thái cùng với bố. Lúc đó là vào dịp hè, khoảng 1 giờ đêm, máy kéo hết sạch dầu. Chúng tôi xuống xe, chúng tôi đành chấp nhận ngủ lại trên một cánh đồng.
(...) Tôi nhớ ra bài học từ hồi còn ở tiểu học: “Chú bé đếm sao. Ngày xưa có
một chú bé, vào ban đêm, dựa vào người của bà để đếm những vì sao. Bà của chú nói rằng những ngôi sao đếm không hết được đâu. Nhưng chúng bé đáp lại rằng “Một khi có lòng tin thì ta cũng sẽ đếm được hết”
(Nhật kí Mã Yến, NXB Hội Nhà văn, 2010)
Đoạn 2:
Thứ tư, 8/7/1942
Từ sáng chủ nhật, dường như các sự việc dồn dập xảy ra như nhiều năm dồn lại. Nhiều chuyện đã xảy đến – toàn thế giới đã bị đảo lộn. Nhưng tôi vẫn còn sống, đấy là điều quan trọng hơn cả.
Buổi xế trưa chủ nhật, chúng tôi nghe bọn Đức sắp bắt Bố đi. Chúng tôi hiểu đó là thế nào – là đưa đến trại tập trung. Chị Margot nói: “Mẹ dò hỏi ông Van Daan về chỗ ẩn nấp của nhà mình”. Ông Van Daan cùng làm một chỗ với bố và ông là một người bạn tốt của Bố. Sau đó, chị Margot nói với mình rằng đã có sự nhầm lẫn – bọn Đức gọi chị chứ không phải Bố. Chúng sao có thể bắt một cô gái 16 tuổi ra khỏi gia đình kia chứ. Và chị không đi.
Một nơi ẩn nấp – chúng tôi sẽ trốn ở đâu? Trong thành phố? Ở thôn quê? Khi nào? Ở đâu? Bằng cách nào? Những câu hỏi đó nằm trong đầu óc của mình nhưng mình không thể hỏi họ. Margot và mình bắt đầu sắp xếp hành lí. Mình xếp những thứ vật dụng khùng điên nhất. Cuốn nhật kí đầu tiên, sau đó những chiếc khăn tay, những cuốn sách giáo khoa, một cái lược và vài bức thư cũ. Kỉ vật đối với mình quan trọng hơn cả áo quần. Miep và chồng của chị – tên Jan – đến giúp và chia sẻ công việc. Họ giúp chúng tôi mang túi áo quần. Miep và Jan làm việc cùng công ty của
bố, họ đều là bạn thân của gia đình. Đêm nay, đêm cuối cùng ngủ trên giường của mình và Mẹ đánh thức mình dậy lúc 5 giờ 30 phút. Chúng tôi mặc rất nhiều quần áo. Không một người Do Thái nào dám rời khỏi nhà với một cái va-linh
Đúng 7 giờ 30 chúng tôi ra khỏi nhà. Mình giã biệt con mèo Moontje. Người hàng xóm sẽ chăm sóc con mèo. Chúng tôi vội vàng rời khỏi nhà – Chúng tôi muốn đến nơi ẩn trốn một cách an toàn. Đó là điều quan trọng nhất.
Thứ năm, 9/7/1942
Chỗ ẩn nấp nằm trong tòa nhà văn phòng của Bố. Ở tầng trệt là kho hàng và kề bên đó là lối vào văn phòng, văn phòng nằm các tầng trên. Có hai văn phòng - phòng phía trước thì lớn và sáng, phía sau thì nhỏ và tối. Không có nhiều người làm trong văn phòng của bố, chỉ có ông Kugler và ông Kleiman và Miep và một người thư kí 23 tuổi có tên gọi là Bep – Voskuijl. Ông Vosluijl là bố của Bep, làm việc trong kho hàng với hai người giúp việc. Họ không biết bất cứ việc gì của chúng tôi. Từ văn phòng của Kugler ở phía sau, bạn đi lên bốn tầng lầu và bạn đến văn phòng riêng, phòng này rất trang nhã, trang trí lịch sự. Bên trên tầng ba là “gian nhà bí mật”. Có vài gác mái để chứa đồ phía bên trái, và phía bên phải là cửa vào nơi chúng tôi ẩn nấp. Thật đáng ngạc nhiên khi có rất nhiều phòng phía sau cái cửa nhỏ màu xám. Margot và tôi được chia một phòng nhỏ, phòng ngủ của Bố và Mẹ cũng là phòng khách của chúng tôi. Tầng trên nữa là một căn phòng lớn đầy ánh sáng, đó là nhà bếp và phòng ngủ của ông bà Van Daan. Có một phòng nhỏ dành cho Peter, con trai của họ, và có một gác mái khác đấy chính là nơi ở phụ đáng yêu của chúng tôi.
(Nhật kí Anne Frank, NXB Thế giới, 2016)
Đáp án
Câu 1.
Phương pháp giải:
Dựa vào chú thích để nêu hiện thực mà nhật kí phản ánh
Vận dụng kiến thức về tính chất phi hư cấu của thể loại nhật kí
Lời giải chi tiết:
- Nhật kí phản ánh hiện thực: Cuộc sống nghèo khổ của gia đình Mã Yến
- Tính xác thực, phi hư cấu của văn bản:
+ Văn bản là suy nghĩ của Mã Yến trong 4 ngày: Thứ Sáu, ngày 22/9/2000; Thứ sáu 24/11/2000; Thứ bảy, ngày 28/7/2001; Thứ hai, ngày 30/7/2001
+ Thông tin về cuốn nhật kí đến tay phóng viên: Bà vùng lên chạy về lấy cuốn nhật kí của cô bé ra dúi vào tay người phóng viên: “Sự thật không phải thế. Tôi không biết nó viết gì vì không đọc được những trẻ con thì bao giờ cũng nói thật, hãy đọc rồi sẽ biết”
Câu 2
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý những sự việc nổi bật
Tìm kiếm thông tin trong văn bản để suy ra điều cô bé tự trách mình nhiều nhất (Chú ý đoạn Thứ hai, 30/7/2001)
Lời giải chi tiết:
- Những sự việc sảy ra trong gia đình Mã Yến:
+ Mẹ bảo hai chị em tôi lên nương trồng mạch ba góc để vác những bó đã cắt về nhà
+ Bà ngoại ốm, bố mẹ nói với tôi: “Khi con về nhà thì hãy cho bò ăn”
+ Mẹ ốm, anh Mã Nghĩa Vũ, con trai của bác đến
+ Mã Yến tìm chiếc bút của mình
- Điều khiến cô bé tự trách mình nhiều nhất: chưa đỗ vào trường nữ sinh trung học
Câu 3
Phương pháp giải:
a. Tìm kiếm thông tin trong văn bản (chú ý đoạn Vì sao… như vậy)
Nhật xét thuật kể của tác giả (miêu tả kết hợp với biểu cảm)
b. Rút ra nội dung bao quát của toàn văn bản, từ đó suy ra vấn đề của cộng đồng
Lời giải chi tiết:
a. Đánh giá chủ quan của chủ thể: Vì sao con cháu của gia đình có hai đời là quân nhân mà không có việc để làm? Ngày hôm nay, người cháu của một quân nhân đã tốt nghiệp, nhưng không có tiền, không tìm được việc. Xem ra ông trời có mắt mà như mù, chỉ giúp những kẻ độc ác, không hề để ý tới sự sống chết của người lương thiện. Sao lại bất công đến như vậy!
- Thuật kể nhiều chi tiết, miêu tả kĩ trạng thái đau khổ của người anh họ; sau thuật kể là suy nghĩ và cảm xúc của chủ thể (cảm thông, cảm nhận sự đau khổ bất lực của người anh họ: Tôi ngồi trên ghế, nhìn thấy nước mắt như sắp trào ra khỏi mắt anh. Khi tôi nhìn mái đầu đã có tóc trắng và khuôn mặt đau khổ của anh, lòng tôi như tan nát → kết hợp miêu tả để biểu cảm)
b. Vấn đề của cộng đồng: Phản ánh được những bất công phi lí tồn tại ở xã hội Trung Quốc những năm 2000 (người anh họ không xin được việc vì không có tiền lo lót)
Câu 4
Phương pháp giải:
Dựa vào nội dung văn bản, những suy nghĩ, cảm xúc của chủ thể và vấn đề được phản ánh để nêu góc nhìn, cảm xúc cá nhân
Lời giải chi tiết:
- Học sinh thể hiện góc nhìn, cảm xúc cá nhân
- Gợi ý: Bán sát văn bản và suy nghĩ, cảm xúc của chủ thể:
+ Cô bé giàu cảm xúc, yêu thương
+ Cô bé giàu nghị lực sống, luôn nỗ lực vươn lên
+ Suy nghĩ lớn hơn lứa tuổi về trách nhiệm, tình cảm của cá nhân mình, về bất công tồn tại trong xã hội
Câu 5
Phương pháp giải:
Nhận xét về lối sống được thể hiện và hiện thực được phản ánh trong văn bản
Từ đó suy ra ý nghĩa tác động của văn bản
Lời giải chi tiết:
- Thể hiện lối sống đẹp: Yêu thương, cảm thông với người cùng cảnh ngộ, giàu ước mơ, khát vọng
- Ý nghĩa xã hội: Nói lên sự thật về cuộc sống nghèo khổ của nông dân ở thời hiện đại (năm 2000 – điểm giao của thế kỉ XX – XXI)
- Lay động trái tim những người nhân hậu, kêu gọi mọi người hãy quan tâm đến số phận nghèo khổ trong xã hội; khiến những người giàu có suy nghĩ và dùng đồng tiền của mình hữu ích hơn
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp giải:
Dựa vào nội dung và ý nghĩa của văn bản, học sinh nêu bài học bản thân rút ra được
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn phân tích văn bản văn học
Lời giải chi tiết:
Đoạn văn đảm bảo đủ dung lượng, nội dung hướng vào các ý chính sau:
- Tác động của nhật kí Mã Yến (đoạn trích đọc hiểu) tới cá nhân: Học sinh nêu bài học bản thân rút ra được
- Học sinh có thể tìm thêm thông tin về Nhật kí Mã Yến để thấy sức lan tỏa, sự tác động tích cực của cuốn nhật kí này (Mẹ Mã Yến được đi học, Mã Yến được sang Pháp học hành và giúp đỡ nhiều học sinh nghèo ở quê hương mình)
Câu 2.
Phương pháp giải:
Xác định hình thức và nội dung đề bài yêu cầu
Vận dụng kiến thức viết bài văn nghị luận so sánh hai tác phẩm văn học
Lời giải chi tiết:
|
Viết văn bản nghị luận (600 chữ) so sánh, đánh giá làm rõ nét tương đồng và khác biệt về nội, ý nghĩa trong 2 đoạn nhật kí sau. Từ đó cho biết những trang nhật kí đó đã tác động tới em như thế nào? |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
– Giới thiệu vấn đề nghị luận. - Nêu luận đề: nét khác biệt, điểm tương đồng và thành công riêng của mỗi tác giả |
|
Thân bài |
3,0 |
* Nét tương đồng: - Tác giả là hai cô bé ở lứa tuổi ngang nhau, đều đối mặt với hoàn cảnh khó khăn - Nội dung và ý nghĩa xã hội của hai đoạn nhật kí: + Thể hiện chủ thể sống giàu tình cảm, nghị lực trong hoàn cảnh tăm tối + Trạng thái lo lắng cho hoàn cảnh sống của gia đình, người thân (Học sinh đưa dẫn chứng) * Nét khác biệt: - Nhật kí Anne Frank: Phản ánh hiện thực rộng lớn hơn; sự tác động của biến động xã hội tới cá nhân và gia đình sâu sắc hơn |
|
Kết bài |
0,5 |
Tác động của hai nhật kí tới bản thân (cảm xúc suy nghĩ; có thể so sánh với hoàn cảnh sống của bản thân để có những điều chỉnh về tình cảm và hành động sống) |
Đề thi học kì 2 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
10.4.72
(Nghi Lộc – Nghệ An)
[…] D. tập trung nghe chiến thắng của miền Nam, ta đã chiếm hoàn toàn cảng Cửa Việt – Và vùng đồng bằng Sông Cửu Long đang ào ào khí thế nổi dậy của hàng chục vạn đồng bào. Lúc ấy, mình ao ước được đến thẳng chiến trường, đến giữa chiến trường mà tận mắt thấy cảnh tượng hào hùng ấy. Hay ít ra, được đến gần, rất gần chiến trường được đến Quảng Bình chẳng hạn - ở đó địch đang bắn phá mình dân cư cũng phải sơ tán về Hà Nội – và cũng ở đó đang thắng lớn có ngày bắn rơi mười mấy bay, có chiếc B.52… “cầu được, ước thấy” – Vừa ao ước thế, vừa buồn vì mình đang ngồi ở đây, dưới trời mưa thanh thản, rồi sắp lên tàu Mỏ Trạng, Yên Thế diễn tập. Nhưng ra ga, thì lính òa lên phấn khởi, đầu tàu hướng về Hà Nội – “Đi” rồi! Thế là nhất định vào trong ấy. Vội vàng viết thư – Tàu qua Cửa Nam những cánh thư trắng bay ào ạt xuống đường gửi hộ nhé, gửi hộ nhé – Báo cho những người thân chúng tôi rằng, chúng tôi đã xa Hà Nội lúc ấy là 12 giờ trưa 9.4.72.
Biết bao nhiêu lần hành quân, nhưng chẳng lần nào xúc động như chuyến tàu này cả - Chuyến tàu đi đúng con đường dành cho nó – Vào Nam. Ở đó, chiến trường đang cần đến những cánh tay khỏe mạnh đang thò ra cửa sổ toa tàu mà vẫy gọi khách qua đường – Phải, lúc mà một anh bộ đội gặp được người nhà trên sân ga hay dọc theo đường sắt – Thì đó không phải chỉ một mình anh xúc động và vui sướng. Mà đó là niềm vui và nỗi xúc động của tất cả đoàn tàu. Con đi mẹ nhé! Đi nhé! Đi nhé! Những cô gái cũng hết cả rụt rè cũng giơ cả hai tay lên vẫy, vẫy mãi… rồi tinh nghịch lấy ngón tay nhỏ xíu chỏ lên đầu nhắc anh bộ đội hãy giữ gìn cuộc sống của mình. Ừ, chết làm sao được cơ chứ, đùa một chút cho vui. Ai cũng bị lây cái không khí rạo rực khí thế lên đường ấy, cả những em bé vừa đứng vững dấu mặt sau những hàng rào xi măng mà vẫy. Y cứ xuýt xoa mãi vì ngồi bên cửa sổ, nó nghe rành rọt tiếng một đứa bé chỉ 5,6 tuổi ở ga Phủ Lý. Các chú đánh xong giặc Mỹ mà về nhé! – Đấy tiếng nói của trẻ thơ, là ước muốn day dứt của hàng triệu, hàng triệu người trên trái đất.
Ta đi theo tiếng gọi của miền Nam, và cả sự thôi thúc của miền Bắc đang khôi phục – Một nhà ga Ninh Bình vừa dựng bên núi đá, một dòng sông Đáy xanh lững lờ trôi vào bài thơ trữ tình ngọt lịm của Tố Hữu, một chùa Non Nước còn âm vang chiến công của tổ ba người Giáp Văn Khương… Tất cả đang giục giã anh chiến sĩ, hãy đi đi, hãy đi – và chiến thắng.
( Nguồn Nguyễn Văn Thạc, Mãi mãi tuổi hai mươi, NXB Thanh niên, 2005, Tr189 -190)
Câu 1. Sự kiện gì được đề cập đến trong văn bản?
Câu 2. Tìm câu văn có sử dụng ngôn ngữ thân mật và câu văn có sử dụng ngôn ngữ trang trọng
Câu 3. Trong văn bản, hình ảnh những người lính trẻ với trái tim đầy nhiệt huyết, khí thế rạo rực trong buổi lên đường gợi cho em tình cảm, cảm xúc gì về họ?
Câu 4. Phân tích tác dụng của yếu tố phi hư cấu trong văn bản trên.
Câu 5. Ta đi theo tiếng gọi của miền Nam, và cả sự thôi thúc của miền Bắc đang khôi phục. Câu văn trên cho em nhận thức gì về hiện thực đất nước và lẽ sống của những người lính trong hoàn cảnh lúc bấy giờ?
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ so sánh cảm xúc tâm trạng của chủ thể trần thuật (người kể chuyện) qua hai đoạn trích sau:
(1)… 23/4/1968
[…] Một ngày mệt nhọc vô cùng. Ba ca thương nặng vào một lúc. Suốt một ngày bên bàn mổ đầu óc căng thẳng vì những vết thương, tiếng khóc xé ruột xé lòng của chú Công (cha Hường) và những tin buồn dồn dập. Dường như đã bị bắt sống trên đường đi công tác. Cậu bé sôi nổi nhiệt tình ấy không hiểu có chịu nổi những đòn tra tấn của quân thù hay không. Thương Đường vô tận. Lá thư viết gửi Đường vậy là chưa đến nơi. Người cầm thư đã chết còn người nhận thư thì bị bắt!!!
(Nguồn Nhật kí Đặng Thùy Trâm, NXB Hội nhà văn, 2005, Tr41)
(2) 10.4.72
[…] D. tập trung nghe chiến thắng của miền Nam, ta đã chiếm hoàn toàn cảng Cửa Việt – Và vùng đồng bằng Sông Cửu Long đang ào ào khí thế nổi dậy của hàng chục vạn đồng bào. Lúc ấy, mình ao ước được đến thẳng chiến trường, đến giữa chiến trường mà tận mắt thấy cảnh tượng hào hùng ấy. Hay ít ra, được đến gần, rất gần chiến trường được đến Quảng Bình chẳng hạn - ở đó địch đang bắn phá mình dân cư cũng phải sơ tán về Hà Nội – và cũng ở đó đang thắng lớn có ngày bắn rơi mười mấy bay, có chiếc B.52… “cầu được, ước thấy” – Vừa ao ước thế, vừa buồn vì mình đang ngồi ở đây, dưới trời mưa thanh thản, rồi sắp lên tàu Mỏ Trạng, Yên Thế diễn tập. Nhưng ra ga, thì lính òa lên phấn khởi, đầu tàu hướng về Hà Nội – “Đi” rồi! Thế là nhất định vào trong ấy.
(Nguồn Nguyễn Văn Thạc, Mãi mãi tuổi hai mươi, NXB Thanh niên, 2005,tr189)
Câu 2. Từ nội dung phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết bài nghị luận xã hội tối thiểu 500 chữ bàn về: Tuổi trẻ ngày nay cần phải làm gì để thể hiện ý thức, trách nhiệm đối với đất nước
Đáp án
Câu 1.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Sự kiện chiến thắng của miền Nam, quân ta đã chiếm hoàn toàn cảng Cửa Việt
Câu 2
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức về ngôn ngữ thân mật và ngôn ngữ trang trọng
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
- Ngôn ngữ thân mật: Ừ, chết làm sao được cơ chứ, đùa một chút cho vui
- Ngôn ngữ trang trọng: D. tập trung nghe chiến thắng của miền Nam, ta đã chiếm hoàn toàn cảng Cửa Việt – Và vùng đồng bằng Sông Cửu Long đang ào ào khí thế nổi dậy của hàng chục vạn đồng bào.
Câu 3.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý hình ảnh khắc họa người lính trẻ trong buổi lên đường
Nêu suy nghĩ, tình cảm của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Người lính trẻ trong buổi lên đường được khắc họa: “chẳng lần nào xúc động như chuyến tàu này cả”, “Thì đó không phải chỉ một mình anh xúc động và vui sướng. Mà đó là niềm vui và nỗi xúc động của tất cả đoàn tàu.”, “Ai cũng bị lây cái không khí rạo rực khí thế lên đường ấy”
- Tình cảm, cảm xúc về họ:
+ Yêu mến, xúc động, tự hào
Câu 4
Phương pháp giải:
Liệt kê yếu tố phi hư cấu trong văn bản và phân tích tác dụng
Lời giải chi tiết:
- Yếu tố phi hư cấu trong văn bản:
+ 10.4.72
(Nghi Lộc – Nghệ An)
D. tập trung nghe chiến thắng của miền Nam, ta đã chiếm hoàn toàn cảng Cửa Việt – Và vùng đồng bằng Sông Cửu Long đang ào ào khí thế nổi dậy của hàng chục vạn đồng bào.
+ Báo cho những người thân chúng tôi rằng, chúng tôi đã xa Hà Nội lúc ấy là 12 giờ trưa 9.4.72.
+ Một nhà ga Ninh Bình vừa dựng bên núi đá, một dòng sông Đáy xanh lững lờ trôi vào bài thơ trữ tình ngọt lịm của Tố Hữu, một chùa Non Nước còn âm vang chiến công của tổ ba người Giáp Văn Khương…
- Ý nghĩa của việc sử dụng tính phi hư cấu:
+ Câu chuyện trở nên chân thực, gần gũi
+ Bảo đảm tính xác thực trong việc ghi chép những sự kiện, nhân vật của tác giả
Câu 5
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Liên hệ với hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ (miền Nam đang trong quá trình đấu tranh thoát khỏi ách thống trị của kẻ thù, đồng thời miền Bắc đang trong quá trình xây dựng sau khi kết thúc chiến tranh)
Lời giải chi tiết:
Câu nói tuyên bố mục đích và động lực của việc tham gia cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc
Nhấn mạnh tầm quan trọng của tình yêu quê hương, lòng trung thành với Tổ quốc và tinh thần đoàn kết dân tộc trong bối cảnh khó khăn và thử thách
Nó cũng gợi lên hình ảnh về sự hi sinh và cống hiến của những người lính nói riêng và toàn thể nhân dân Việt Nam nói chung trong công cuộc đấu tranh giành độc lập cho đất nước
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các chi tiết xây dựng nhân vật để phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật và phong cách sáng tác
Lời giải chi tiết:
* Giống nhau:
+ Đều sáng tác trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, qua góc nhìn của thế hệ thanh niên
+ Đều thể hiện tinh thần nhiệt huyết, tinh thần sôi sục của tuổi trẻ muốn cống hiến cho đất nước
+ Hai tác phẩm đều là biểu tượng của tinh thần yêu nước, sự hy sinh và lòng kiên cường của thế hệ trẻ Việt Nam trong chiến tranh
* Khác nhau
- "Nhật ký Đặng Thùy Trâm":
+ "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" được viết trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam, khi tác giả Đặng Thùy Trâm là một bác sĩ trẻ, đối mặt với những khó khăn và hiểm nguy nơi chiến trường. Tâm trạng của tác giả trong đoạn văn được thể hiện qua từng trang nhật ký, đầy lòng quyết tâm, hy sinh và tinh thần lạc quan dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt.
+ Đoạn văn sử dụng giọng văn trang trọng, mang đậm tinh thần chiến đấu và cống hiến. Đặng Thùy Trâm kể về công việc, những khó khăn hàng ngày tại chiến trường.
+ Thể hiện lòng xót xa, nỗi đồng cảm của nữ y sĩ Đặng Thùy Trâm đến những người lính trực tiếp tham gia cuộc chiến
- “Mãi mãi tuổi hai mươi”
+ Giọng điệu, tình cảm bao trùm toàn bộ văn bản là giọng điệu hân hoan, háo hức, bâng khuâng, trăn trở của một người lính trẻ.
- Giọng điệu này được tạo nên bởi:
+ Lời độc thoại nội tâm với rất nhiều những trăn trở, tự vấn
+ Hình thức câu văn nghi vấn và cảm thán xuất hiện với một tần suất dày đặc trong suốt văn bản
+ Điểm nhìn trần thuật bên trong, cho phép soi tỏ những suy tư, thậm chí cảm giác thoáng qua của người trần thuật.
Câu 2.
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức và nội dung bài văn
Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn
Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận: trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trước đất nước dân tộc.
2. Thân đoạn
a. Giải thích
- Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trước đất nước dân tộc: trách nhiệm giữ gìn nền độc lập, tích cực xây dựng nước nhà ngày càng vững mạnh. Bên cạnh đó còn là ý thức học tập, rèn luyện bản thân, cống hiến, giúp ích cho nước nhà.
b. Phân tích
- Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trước đất nước dân tộc:
+ Nỗ lực học tập, trau dồi bản thân, rèn luyện đạo đức, sống có ước mơ, hoài bão, mục tiêu và cố gắng vươn lên.
+ Tích cực tham gia vào các hoạt động công ích, các hoạt động tình nguyện, sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ người khác.
+ Sống có tinh thần tập thể, đi theo cái hay, cái đúng, bỏ qua cái tôi vì lợi ích chung của cộng đồng.
- Ý nghĩa của trách nhiệm:
+ Trách nhiệm của công dân đối với tổ quốc là nền tảng của đoàn kết, khi tất cả con người đoàn kết lại với nhau thì đất nước ngày càng vững mạnh hơn.
+ Sự cống hiến sẽ giúp con người đẩy xa cái tôi cá nhân, sự ích kỉ, nhỏ nhen của mình để từ đó hướng tới những điều tốt đẹp hơn.
+ Người sống có trách nhiệm với tổ quốc sẽ là người có tình yêu thương, tính tự giác cao, từ đó làm cho cuộc sống của mình ngày càng phát triển theo hướng tốt hơn.
c. Liên hệ bản thân
+ Là một học sinh trước hết chúng ta cần học tập thật tốt, nghe lời ông bà cha mẹ, lễ phép với thầy cô. Có nhận thức đúng đắn về việc giữ gìn và bảo vệ tổ quốc. Luôn biết yêu thương và giúp đỡ những người xung quanh,…
3. Kết đoạn
+ Khái quát lại vấn đề nghị luận: trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trước đất nước dân tộc và rút ra bài học cho bản thân.
Đề thi học kì 2 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 4
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4 điểm)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
KHÁT VỌNG (*)
(Nguyễn Khoa Điềm)
Ta lớn lên khao khát những chân trời
Những mảnh đất chân mình chưa bén được
Những biển khơi chứa mặt trời đỏ rực
Những ngàn sao trôi miết giữa màu xanh
Ôi có cách gì ta được ngắm những bình minh
Buổi vũ trụ chớp bùng nên sự sống
Và ánh sáng trên chiếc xe vàng chuyển động
Bỗng một ngày ấm áp kể ta nghe
Về những con ngươi của thiên thể xa xôi
Muốn bầu bạn với con người Trái đất
Ôi phút đó ta vùng lên ngây ngất
Muốn ôm choàng hết tất cả trời mây
Trái tim ta nặng trĩu những mê say
Sẽ gieo xuống làm âm vang mặt đất...
***
Nhưng em ơi, cái điều trông đợi nhất
Vẫn những gì có thể có hôm nay
Từ hôm nay, trên mảnh đất ta đây
Ta nắm nó như sợi mây vững chãi
Rồi rút dần từ cánh rừng vĩ đại
Của cuộc đời hằng nuôi dưỡng chúng ta
Và diệu kỳ thay! Ta bỗng loá bất ngờ
Ta đã thấy cuộc đời vô hạn
Giữa đất đai, nhân dân, bè bạn
Ta tìm ra ánh sáng của Con Người
Những Con Người làm sông núi sáng tươi...
(Nguyễn Khoa Điềm, Mặt đường khát vọng, NXB Giải phóng, 1974)
*Nhan đề do nhóm biên soạn đặt
Câu 1. Xác định thể thơ và nhân vật trữ tình trong trích đoạn Khát vọng?(0.5đ)
Câu 2. Đặt tên cho 2 phần trong trích đoạn trên. (0.5đ)
Câu 3. Phân tích một số hình ảnh, từ ngữ và thủ pháp nghệ thuật thể hiện khát vọng, cảm xúc của nhân vật trữ tình ở phần 1. (1.0 đ)
Câu 4. Em hiểu như thế nào về 2 dòng thơ: Trái tim ta nặng trĩu những mê say/ Sẽ gieo xuống làm âm vang mặt đất?(1.0đ)
Câu 5. Tác giả muốn nói với độc giả điều gì trong phần 2 của đoạn trích Khát vọng? (1.0đ)
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1. Viết đoạn 200 chữ (2.0đ)
Phân tích cách bộc lộ cảm xúc, sự say mê, dâng hiến cho cuộc đời của nhân vật trữ tình trong đoạn trích. Điều đó có ý nghĩa gì, tác động như thế nào tới em? (chú ý cách xưng hô của nhân vật trữ tình)
Câu 2. Viết văn bản 600 chữ (4.0đ)
Đọc đoạn văn bản sau làm cơ sở để bàn luận về mối liên hệ giữa lòng kiên nhẫn và sự trau dồi tài năng của mỗi con người.
Tôi đã bắt đầu nghiên cứu về lòng kiên nhẫn trong nhiều năm, nhưng cách đây vài tháng tôi mới bắt đầu xem xét đến mối liên hệ giữa lòng kiên nhẫn và sự trau dồi tài năng. Eric Hoffer phát biểu về mối quan hệ này: “Điều cốt lõi của một tài năng thật sự là người đó phải nhận thức được rằng bất kỳ thành tựu dù lớn hay bé cũng luôn gắn liền với những khó khăn nhất định. Và chính nhờ sự kiên trì theo đuổi mục tiêu đến cùng mà họ vượt qua tất cả trở ngại và đạt được thành công cuối cùng. Do đó tài năng là một dạng của sự kiên trì. George Louis Leclerc de Buffon cũng nhận xét tương tự: “Bản thân thiên tài không là gì cả, thiên tài là người dồi dào khả năng kiên nhẫn”. Những nhà tư tưởng này nhắc cho chúng ta nhớ rằng tài năng phải được trau dồi thường xuyên. Cũng giống như viên ngọc muốn sáng đẹp cần qua quá trình mài giũa, tài năng thiên phú, “sơ khai” còn cách tài năng đích thực rất xa. Mọi tiềm năng của chúng ta đều đòi hỏi sự nỗ lực trong một thời gian dài trước khi trở thành tài năng thật sự. Điều này chỉ có thể đạt được khi chúng ta kiên trì thực hiện mục tiêu của mình, dù có mất bao lâu đi chăng nữa.
(Trích Sức mạnh lòng kiên nhẫn, M.J.M.J.Ryan, NXB Trẻ, 2011)
Đáp án
Đáp án đề 4
Câu 1.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý số từ trong câu, số câu trong bài
Lời giải chi tiết:
Thể thơ tự do
Nhân vật trữ tình: con người đầy sức trẻ, yêu đời và khát khao được dâng hiến, cống hiến cho đất nước
Câu 2
Phương pháp giải:
Chia văn bản thành 2 phần
Đọc kĩ 2 phần và rút ra nội dung chính
Lời giải chi tiết:
- Phần 1(14 câu đầu): Khát vọng khám phá vũ trụ của tâm hồn yêu đời
- Phần 2 (11 câu thơ cuối): Dựng xây đất nước bằng trí tuệ của con người.
Câu 3
Phương pháp giải:
Đọc kĩ phần 1
Lựa chọn những hình ảnh, từ ngữ, thủ pháp thể hiện cảm xúc của nhân vật trữ tình
Lời giải chi tiết:
- Hình ảnh: biển khơi chứa mặt trời đỏ rực; ngàn sao trôi miết giữa màu xanh; chiếc xe vàng chuyển động.
– Từ ngữ: Ta lớn lên khao khát; Ôi có cách gì ta được ngắm; Ôi phút đó; ngây ngất; Muốn ôm choàng hết tất cả trời mây/Trái tim tay nặng trĩu những mê say.
- Điệp từ, điệp cấu trúc câu: Những mảnh đất; Những biển khơi; Những ngàn sao; ẩn dụ: ánh sáng trên chiếc xe vàng chuyển động.
→ Hình ảnh, từ ngữ, sắc màu rực rỡ gợi không gian, vũ trụ bao la, rộng lớn, lộng lẫy đầy hấp dẫn, cuốn hút.
→ Dùng cảm thán, hàng loạt tính từ, những từ cùng trường nghĩa để thể hiện trực tiếp cảm xúc ngây ngất, say mê hân hoan trước cuộc đời... khát vọng được khám phá, chinh phục, sở hữu sự sống và vũ trụ...
Câu 4
Phương pháp giải:
Chú ý những chi tiết, hình ảnh nổi bật trong 2 dòng thơ
Lời giải chi tiết:
– Tâm hồn thi sĩ thăng hoa, đắm mình trong cảm xúc say mê, ngây ngất với vũ trụ, đất trời, bởi Trái tim ta nặng trĩu những mê say → một cái “ta” rất đỗi tự hào và tin yêu cuộc đời.
- Thể hiện quan điểm: có tình yêu sự sống, tình yêu với cuộc đời, con người sẽ làm nên những điều kỳ diệu. Chỉ có say mê mới khiến mặt đất âm vang.
→ Câu thơ đẹp, chứa chan cảm xúc, niềm tin yêu vào cuộc đời, ẩn chứa những khái quát, triết lí sâu xa...
Câu 5
Phương pháp giải:
Đọc kĩ phần 2 và rút ra nội dung chính
Từ đó rút ra điều tác giả muốn nói với độc giả
Lời giải chi tiết:
- Bộc bạch trực tiếp suy nghĩ rất thực tế: cái điều trông đợi nhất; có thể có hôm nay; Từ hôm nay, trên mảnh đất ta đây → Khát vọng hãy bắt đầu từ việc dựng xây đất nước băng những hành động cụ thể của ngày hôm nay, trên mảnh đất đã nuôi dưỡng ta, nơi ta đang sinh sống
- Hãy dùng trí tuệ của mình để tìm ra ánh sáng của Con Người; làm sông núi sáng tươi+ Dùng hàng loạt động từ (nắm nó, rút dần, tìm ra, làm) khẳng định hãy bắt đầu từ sáng tạo, khơi dậy khát khao, trí tuệ tiềm ẩn ở con người → Hãy bắt đầu với yếu tố con người. Bởi chỉ có Con Người mới có thể làm sống núi sáng tươi...
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về dung lượng và vấn đề nghị luận
Chú ý các tính từ bộc lộ cảm xúc của tác giả. Từ đó nêu tác động đến bản thân
Lời giải chi tiết:
Đoạn đủ dung lượng và nội dung hướng vào các ý sau:
- Mạch cảm xúc đi từ khát vọng lãng mạn khám phá vũ trụ của tâm hồn yêu đời say đắm đến khẳng định: Dựng xây đất nước bằng trí tuệ của con người từ hôm nay
- Nhân vật trữ tình xưng “ta”, “chúng ta” 10 lần trong văn bản Khát vọng (ở khắp các khổ thơ cửa đoạn trích). Đó là cái ta rộng lớn, cái ta đại diện cho thế hệ trẻ mang khát vọng, hoài bão dùng trí tuệ sức lực của mình để xây dựng đất nước → Cái ta ấy sẽ tác động tới bạn đọc, cuốn người đọc vào mạch cảm xúc say mê trào dâng của tác giả
- Tác động tới cá nhân: HS tự thể hiện góc nhìn của cá nhân
Câu 2
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức, dung lượng và vấn đề nghị luận
Vận dụng kĩ năng viết bài nghị luận về một vấn đề đời sống
Lời giải chi tiết:
|
Phần chính |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài (0,5đ) |
- Giới thiệu vấn đề: mối liên hệ giữa lòng kiên nhẫn và sự trau dồi tài năng - Nêu khái quát: Tính cấp thiết của vấn đề đối với tuổi trẻ |
|
Thân bài (2,75đ) |
*Nêu cách hiểu về kiên nhẫn và sự trau dồi tài năng - Kiên nhẫn là sự kiên trì theo đuổi mục tiêu đến cùng, vượt qua tất cả trở ngại và đạt được thành công cuối cùng - Rèn luyện, bồi dưỡng (một tố chất, một hoạt động, kĩ năng) làm cho bản thân ngày càng tốt hơn *Bàn luận về mối liên hệ giữa lòng kiên nhẫn và sự trau dồi tài năng - Kiên nhẫn và sự trau dồi tài năng có mỗi liên hệ mật thiết với nhau (phân tích, lí giải và đưa dẫn chững) - Ví dụ về: + Gương kiên nhẫn về sự trau dồi tài năng dẫn đến thành công + Những người thiếu kiên nhẫn và trau dồi không thành công → Phân tích nguyên nhân dẫn đến 2 trường hợp trên * Quan điểm của cá nhân và đề xuất cách thực hiện trau dồi trài năng của cá nhân |
|
Kết bài (0,25đ) |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề - Hành động/ dự định của cá nhân (để không lãng phí thời gian) |
|
Yêu cầu khác (0,5đ) |
-Sử dụng các thao tác phân tích, đối chiếu chứng minh, bình luận - Dẫn chứng phù hợp với lí lẽ, luận điểm |
Đề thi học kì 2 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 5
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
TIẾNG VỌNG CỦA CUỘC SỐNG (*)
(Nhật ký Anne Frank– Đặng Kim Trâm dịch)
Thứ Bảy, 3 tháng 10 năm 1942
Kitty (1) thân yêu,
Hôm qua lại có một cuộc ầm ĩ. Mẹ làm om sòm kinh khủng và nói với ba những gì mẹ nghĩ về mình. Rồi mẹ khóc lóc, dĩ nhiên là mình cũng khóc, và rồi dù sao mình cũng bị đau đầu khủng khiếp. Cuối cùng mình nói với ba rằng mình yêu ba hơn mẹ nhiều, ba đáp rồi mình sẽ thấy qua đi. Nhưng mình không tin. Mình chỉ bắt mình phải giữ bình tĩnh đối với mẹ. Ba muốn thỉnh thoảng mình nên tự nguyện giúp mẹ những khi mẹ không được khỏe hay bị đau đầu, nhưng mình sẽ không tự nguyện đâu. Mình đang học môn Tiếng Pháp rất chăm và bây giờ đang đọc cuốn Người đẹp vùng Nivernaise.
Thứ Sáu, 9 tháng 10 năm 1942
Kitty thân yêu,
Hôm nay mình chỉ có toàn tin không vui và chán nản dành cho cậu. Hàng chục bạn bè Do Thái của bọn mình bị đưa đi. Bọn Gestapol (2) đối xử với những người đó không chút lịch sự. Họ bị chất lên những chiếc xe tải chở súc vật và gửi đến Westerbork, trại tập trung khủng khiếp, chỉ có một phòng tắm chung duy nhất. Do Thái khổng lồ ở Drente. Westerbork có vẻ rất cho hàng trăm con người và gần như không có đủ nhà tiêu cho mọi người. Phòng ngủ không hề phân biệt. Đàn ông, đàn bà, trẻ con ngủ chung lẫn với nhau. Vì thế, chẳng còn gì là luân thường đạo lý nữa, rất nhiều phụ nữ, thậm chí cả những cô gái từng ở đó một thời gian hiện giờ đang có thai. Không ai có thể trốn thoát được, hầu hết mọi người trong trại đều bị nhận diện ngay bởi cái đầu cạo trọc, một số người thì bởi những dấu Do Thái đóng trên người.
Nếu ở Hà Lan mà mọi chuyện đã tồi tệ thế này thì điều gì sẽ xảy ra ở những vùng đất xa xôi man rợ mà họ bị gửi tới? Bọn mình đoán là hầu hết những người đó đã bị giết. Đài Anh nói rằng họ bị đầu độc bằng hơi.
Có lẽ đó là một cách chết nhanh chóng nhất. Mình thấy rầu rĩ khủng khiếp. Mình không thể nào quay đi trong khi nghe Miep kể lại những chuyện khủng khiếp ấy. Một ví dụ gần đây nhất. Một bà cụ tội nghiệp người Do Thái ngôi ngay trên bậu cửa nhà chị, bọn Gestapo bảo bà ngồi đó chờ, bọn chúng đi lấy xe đến để đưa bà đi. Bà cụ già sợ chết khiếp vì tiếng súng bắn vào máy bay Anh trên đầu và vì ánh đèn pha sáng chói. Nhưng Miep không dám đưa bà vào nhà, không một ai dám liều mạng như vậy. Bọn Gestapo đánh đập không hề thương tiếc. Elli cũng vô cùng im lặng – bạn trai của chị ấy cũng đã bị đưa sang Đức. Chị sợ rằng những phi công bay qua trên nhà chúng mình có thể ném bom xuống đầu Dirk, những quả bom thường nặng hàng tấn. Mình thấy những câu đùa kiểu như “Anh ấy có vẻ không nhận được một tấn đấu” hay “Chỉ một quả là đử” thật là thiếu tế nhị. Dĩ nhiên Dirk không phải là người duy nhất phải đi ngày nào bọn con trai cũng ra đi, hàng đoàn tàu đầy ắp bọn họ. Nếu trên đường họ dừng lại ở một nhà ga nhỏ nào đó, đôi khi một vài người bọn họ có thể thoát ra mà không bị nhìn thấy và thoát được, nhưng có lẽ ít người làm được điều đó. Tuy nhiên đây vẫn chưa chấm dứt những tin buồn mình phải nói với cậu. Cậu đã bao giờ nghe nói đến việc bị giữ làm con tin chưa? Đó là phát minh mới nhất để trừng phạt những kẻ phá hoại.
Cậu có hình dung ra điều gì kinh khủng như thế không?
Những công dân nổi tiếng - những người vô tội bị quăng vào tù để chờ số phận của mình. Nếu không tìm ra kẻ phá hoại thì bọn Gestapo chỉ cần đặt khoảng năm con tin đứng dựa vào tường, đơn giản vậy thôi. Báo chí vẫn thường thông báo vệ những cái chết đó là “tai nạn chết người. Bọn Đức, tử tế làm sao! Nghĩ đến việc mình cũng từng là một người Đức! Không, Hitler đã tước bỏ quốc tịch của bọn mình từ lâu rồi. Thực tế, người Đức và người Do Thái là những kẻ thù lớn nhất trên đời.
Bạn của cậu – Anne
(Nhật ký Anne Frank, NXB Văn học, 2018)
* Tên do nhóm biên soạn đặt
1. Kitty là cuốn nhật kí, người bạn của Anne (cô bé coi cuốn nhật kí là bạn tâm tình)
2. Gestapo: Cơ quan mật vụ của Đức Quốc xã.
*Anne Frank sinh ngày 12 tháng 6 năm 1929ở Frankfurt, Đức. Vào năm bốn tuổi rưỡi cô cùng với gia đình chuyển đến Amsterdam, chạy trốn sự đàn áp người Do Thái của Đức Quốc xã. Cô trốn tránh Đức Quốc xã trong 2 năm trước khi bị phát hiện và chuyển đến trại tập trung Bergen–Belsen, nơi cô qua đời vào năm 1945.
Câu 1. Xác định một số đặc trưng nổi bật của nhật ký trong văn bản đọc hiểu Tiếng vọng của cuộc sống. (0.5đ)
Câu 2. Xác định 2 câu bình luận của tác giả Anne Frank về hiện thực cuộc sống đang diễn ra? (0.5đ)
Câu 3. Anna đã phản ánh những sự việc nào trong lịch sử đã tác động khủng khiếp tới cuộc sống của con người? Tác giả suy nghĩ, đánh giá như thế nào về sự việc đó? Nhận xét của em về tác giả – cô bé Anne Frank? (1.đ)
Câu 4. Những dòng nhật ký: “Trại tập trung khủng khiếp, chỉ có một phòng tắm chung duy nhất Do Thái khổng lồ ở Drente. Westerbork có vẻ rất cho hàng trăm con người và gần như không có đủ nhà tiêu cho mọi người. Phòng ngủ không hề phân biệt. Đàn ông, đàn bà, trẻ con ngủ chung lẫn với nhau. Vì thế, chẳng còn gì là luân thường đạo lý nữa, rất nhiều phụ nữ, thậm chí cả những cô gái từng ở đó một thời gian hiện giờ đang có thai. có ý nghĩa như thế nào? Nhận xét về bút
pháp, hiệu quả của nó và tác giả – cô bé Anne Frank (13 tuổi)? (1.0đ)
Câu 5. Em có suy nghĩ và cảm xúc gì sau khi đọc trích đoạn trên từ nhật ký của Anne Frank? Chi tiết nào trong văn bản để lại ấn tượng đặc biệt đối với em, vì sao? (1đ)
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1. Viết đoạn 200 chữ (2.0đ)
Viết đoạn nghị luận nhận xét về: Cái nhìn chủ quan trong việc bao quát những vấn đề của cộng đồng ở một giai đoạn lịch sử nhất định và những khao khát của Anne Frank – cô bé 13 tuổi trong nhật ký – Tiếng vọng của cuộc sống (văn bản
đọc hiểu ở phần I).
Câu 2. Viết văn bản 600 chữ (4.0đ)
“Cha mẹ có thể đưa ra lời khuyên tốt nhất hoặc đưa chúng ta vào con đường đi đúng đắn, nhưng sự hình thành cuối cùng của tính cách một người nằm trong tay của chính họ.”
(Nhật Ký Anne Frank – NXB Văn học, 2018)
Hãy viết bài luận (600 chữ) thể hiện suy nghĩ của em về ý kiến trên.
Đáp án
Đáp án đề 5
Câu 1.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức về đặc trưng của thể loại nhật ký
Lời giải chi tiết:
- Trước mỗi nội dung đều có ghi ngày tháng: văn bản ghi lại cảm xúc, suy nghĩ của một cá nhân gắn với thời gian cụ thể; chủ thể trần thuật xưng “mình”
- Hiện thực được phản ánh – tính phi hư cấu trong văn bản: Những câu chuyện thường ngày của Anne Frank, những suy nghĩ của cô về mẹ, trong đó có những nhận xét rất đúng đắn, nghiêm túc về chủ nghĩa phát xít Hitler, những bất công mà cô, gia đình cô, và cả dân tộc Do Thái của cô phải gánh chịu.
- Những riêng tư, những tâm sự thầm kín, ý nghĩ thành thực về mẹ: Hôm qua lại có một cuộc ầm ĩ. Mẹ làm om sòm kinh khủng và nói với ba những gì mẹ nghĩ về mình. Rồi mẹ khóc lóc, dĩ nhiên là mình cũng khóc, và rồi dù sao mình cũng bị đau đầu khủng khiếp.
Câu 2 (0,5 điểm)
Phương pháp giải:
Tìm kiếm thông tin trong văn bản
Lời giải chi tiết:
- Vì thế, chẳng còn gì là luân thường đạo lý nữa, rất nhiều phụ nữ, thậm chí cả
những cô gái từng ở đó một thời gian hiện giờ đang có thai.
- Nhưng Miep không dám đưa bà vào nhà, không một ai dám liều mạng như vậy. Bọn Gestapo đánh đập không hề thương tiếc. Elli cũng vô cùng im lặng – bạn trai của chị ấy cũng đã bị đưa sang Đức.
Câu 3 (1đ)
Phương pháp giải:
Tìm kiếm thông tin trong văn bản
Dựa vào những sự kiện, suy nghĩ, đánh giá của tác giả để đưa ra nhận xét của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Những sự việc nào trong lịch sử tác động khủng khiếp tới cuộc sống của con người: Người Do Thái bị Gestapo đưa đi và bị đối xử vô cùng tàn nhẫn; người Do Thái đều bị nhận diện ngay bởi cái đầu cạo trọc, một số người thì bởi những dấu Do Thái đóng trên người; Bị đầu độc bằng hơi, bị bắt đưa sang Đức...
- Tác giả suy nghĩ, đánh giá:
+ Chẳng còn gì là luân thường đạo lý nữa
+ Nếu ở Hà Lan mà mọi chuyện đã tồi tệ thế này thì điều gì sẽ xảy ra ở những vùng đất xa xôi man rợ mà họ bị gửi tới?
+ Thực tế, người Đức và người Do Thái là những kẻ thù lớn nhất trên đời.
- Nhận xét về tác giả – cô bé Anne Frank mới 13 tuổi đã trải qua biến cố dữ dội nên sớm có suy nghĩ như người lớn, phải quan tâm tới thời cuộc, sống trong thiếu thốn nhưng rất mạnh mẽ, biết chia sẻ.
Câu 4 (1 điểm)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ, rút ra nội dung và ý nghĩa của đoạn
Vận dụng kiến thức về bút pháp và tác dụng
Lời giải chi tiết:
- Ý nghĩa: phản ánh hiện thực tàn khốc trong lịch sử, con người sống trong bất công, phi nhân đạo khủng khiếp:
– Bút pháp: kết hợp trần thuật kể, tả, bình luận vừa phản ánh hiện thực vừa làm nổi bật những bất công phi lý và thể hiện sự đánh giá của người viết về hiện thực đó; Những từ ngữ vì thế, thậm chí tác động sâu sắc tới nhận thức cảm xúc của độc giả.
– Cô bé Anne Frank (13 tuổi) hiểu biết sâu sắc về quyền con người và những bất công phi lý, vô nhân đạo đang diễn ra ở trại tập trung khủng khiếp cho người Do Thái khổng lồ ở Drente ở Hà Lan (những năm 1940 – thế kỷ XX).
Câu 5 (1đ)
Phương pháp giải:
Từ nội dung và ý nghĩa của đoạn trích, nêu suy nghĩ và cảm xúc của bản thân
Lời giải chi tiết:
– HS tự làm có thể tham khảo gợi ý sau:
– Thể hiện suy nghĩ và cảm xúc của cá nhân bao quát về:
+ Các sự việc được phản ánh trong nhật ký.
+ Về tác giả Anne Frank – cô bé 13 tuổi.
+ Về một sự việc nổi bật (cần phát hiện được chi tiết, sự việc tiêu biểu của văn bản và thể hiện 2 lí do tạo nên ấn tượng đặc biệt).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về dung lượng và nội dung đoạn văn
Vận dụng kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một vấn đề rút ra từ văn bản đọc hiểu
Lời giải chi tiết:
- Đoạn đủ dung lượng 200 chữ và hướng vào nội dung sau:
- Bao quát được nhiều sự kiện lớn tác động tới cộng đồng (HS tự đưa dẫn chứng).
- Thể hiện khát vọng: về cuộc sống bình yên, bình đẳng và nhân văn (con người có quyền được đối xử văn minh và không phải sống trong lo sợ).
Câu 2.
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức, dung lượng và vấn đề nghị luận
Vận dụng kĩ năng viết bài nghị luận về một tư tưởng đạo lý
Lời giải chi tiết:
|
Phần chính |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài (0,5đ) |
- Giới thiệu luận đề (nêu ngắn gọn luận đề và yêu cầu); trích dẫn từ nhật ký Anne Frank và đôi nét về giá trị của cuốn nhật ký. - Nêu khái quát ý kiến cá nhân về: sự hình thành cuối cùng của tính cách một người nằm trong tay của chính họ. |
|
Thân bài (2,75đ) |
* Làm rõ nội dung, vấn đề thể hiện trong trích đoạn trích: - Không phủ nhận vai trò định hướng của cha mẹ. - Khẳng định tính chủ động, tính quyết định của mỗi cá nhân trong cuộc đời mình. * Bàn luận vấn đề qua thực tiễn: - Vai trò giáo dục định hướng của cha mẹ đối với mỗi người: + Cha mẹ định hướng con cái có bước đi ban đầu vững chắc, có thể tiết kiệm được thời gian “dò đường”. + Có những định hướng của cha mẹ chưa phù hợp với con (do chưa hiểu hết năng lực, cá tính của con). + Có người tự chối sự định hướng của cha mẹ và dẫn đến những sai lầm không thể sửa chữa. – Việc tự chịu trách nhiệm, tính quyết định của mỗi cá nhân đối với bản thân mình. + Tham khảo định hướng của người thân. + Chủ kiến của cá nhân sẽ quyết định cuộc đời mỗi người. - Quan điểm của cá nhân (đồng tình/không đồng tình): xây dựng ít nhất 2 luận cứ để bảo vệ chính kiến của mình (dùng nhận định, lí lẽ và dẫn chứng để thể hiện). |
|
Kết bài (0,25đ) |
Nhận thức, hành động của cá nhân về việc tu dưỡng bản thân, lựa chọn lối sống và hướng phấn đấu trong tương lai. |
|
Yêu cầu khác (0,5đ) |
– Sử dụng các thao tác phân tích so sánh, chứng minh, bình luận. - Dẫn chứng đa dạng, phong phú phù hợp với lí lẽ, luận điểm. |
Đề thi học kì 2 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 6
Đề thi
PHẦN I: ĐỌC – HIỂU
Đọc văn bản sau:
GIỤC GIÃ
(Trích)
- Xuân Diệu -
Mau với chứ, vội vàng lên với chứ!
Em, em ơi, tình non đã già rồi,
Con chim hồng, trái tim nhỏ của tôi,
Mau với chứ! thời gian không đứng đợi.
Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới:
Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa.
Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ,
Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết.
Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt;
Những vườn xưa, nay đoạn tuyệt dấu hài;
Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai;
Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn.
…
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối,
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.
Em vui đi, răng nở ánh trăng rằm,
Anh hút nhuỵ của mỗi giờ tình tự.
Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ!
Em, em ơi! Tình non sắp già rồi.
(Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh – Hoài Chân, NXB Văn học tr. 131-132)
Thực hiện yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ trong văn bản.
Câu 2. Chỉ ra những câu thơ thể hiện lời giục giã, sự hối thúc gấp gáp trong tâm trạng của chủ thể trữ tình ở chín câu thơ đầu của văn bản.
Câu 3. Trình bày ý nghĩa của yếu tố tượng trưng trong 2 câu thơ sau:
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối,
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.
Câu 4. Nêu sự vận động cảm xúc của chủ thể trữ tình “anh” trong văn bản .
Câu 5. Từ thông điệp của văn bản, anh/chị có suy nghĩ gì về cách sử dụng thời gian của giới trẻ ngày nay? (trình bày trong khoảng 5 đến 7 dòng)
PHẦN II: LÀM VĂN
Câu 1.
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích cảm xúc của chủ thể trữ tình “anh” trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2.
“Tuổi trẻ được phép sai lầm nhưng không được phép sai phạm”. Từ góc nhìn tích cực của người trẻ, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn luận về vấn đề quyền được sai và sửa sai của tuổi trẻ.
-----------Hết----------
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về các thể thơ hiện đại.
- Dựa vào các dấu hiệu nhận biết: Số chữ trong dòng thơ, cách gieo vần, nhịp điệu
Cách giải:
Dấu hiệu để xác định thể thơ trong văn bản: Số chữ trong các dòng thơ không bằng nhau là dấu hiệu để xác định thể thơ tự do trong văn bản.
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kĩ 9 câu thơ đầu
- Tìm các từ ngữ mang sắc thái thúc giục
Cách giải:
Những câu thơ thể hiện lời giục giã, sự hối thúc gấp gáp trong tâm trạng của chủ thể trữ tình ở chín câu thơ đầu của văn bản:
- “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ!”
- “Mau với chứ, thời gian không đứng đợi”
- “Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai”
Câu 3:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về yếu tố tượng trưng, siêu thực trong thơ
- Phân tích ý nghĩa của các chi tiết ấy
Cách giải:
- Yếu tố tượng trưng:
+ “một phút huy hoàng rồi chợt tối”: Sự tỏa sáng, sống hết mình, cháy hết mình dù trong khoảnh khắc ngắn ngủi
+ “buồn le lói suốt trăm năm”: lối sống mờ nhạt, tầm thường, vô nghĩa
- Ý nghĩa:
+ Thể hiện quan điểm sống tích cực và khát khao hướng đến một cuộc đời đầy ý nghĩa của nhà thơ Xuân Diệu. Kêu gọi mọi người, đặc biệt là những người trẻ phải biết trân trọng cuộc sống, sống trọn vẹn từng phút từng giây, không sống một cuộc đời mờ nhạt tầm thường vô nghĩa.
+ Giúp cho sự diễn đạt trở nên gợi hình gợi cảm, tạo dấu ấn riêng của thi sĩ.
Câu 4:
Phương pháp:
Xác định diễn biến cảm xúc theo trình tự bài thơ
Cách giải:
- Sự vận động cảm xúc của chủ thể trữ tình “anh” trong đoạn thơ:
+ Vội vàng, cuống quýt lo sợ thời gian trôi qua nhanh không thể nắm bắt.
+ Tiếc nuối hụt hẫng trước sự tàn phai của thời gian.
+ Khát khao sống tận hưởng và tận hiến.
Câu 5:
Phương pháp:
- Liên hệ thực tế giới trẻ
- Rút ra thông điệp phù hợp
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Giới trẻ ngày nay có nhiều cơ hội nhưng cũng dễ lãng phí thời gian vào mạng xã hội, giải trí vô bổ. Bên cạnh những bạn sống tích cực, biết học tập và phát triển bản thân, vẫn còn không ít người sống thụ động, thiếu mục tiêu. Thời gian là hữu hạn, nếu không biết trân trọng sẽ dễ đánh mất những cơ hội quý giá của tuổi trẻ. Vì vậy, mỗi người cần biết sử dụng thời gian hợp lí, sống có kế hoạch, dám trải nghiệm và nỗ lực hết mình. Chỉ khi đó, tuổi trẻ mới thực sự có ý nghĩa.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Cảm xúc của chủ thể trữ tình “anh” bắt nguồn từ nhận thức về sự trôi chảy của thời gian và lòng ham sống, yêu đời mãnh liệt:
- Đó là sự vội vàng cuống quýt thông qua những lời lẽ chứa đầy sự hối thúc, gấp gáp .
- Lo sợ thời gian trôi qua nhanh sẽ cuốn theo những điều tốt đẹp.
- Tiếc nuối, hụt hẫng trước sự tàn phá của thời gian.
- Gửi gắm thông điệp ý nghĩa: Hãy sống hết mình cho hôm nay, trân trọng từng khoảnh khắc trôi qua trong hiện tại, biết tận hưởng cho mình và tận hiến cho tổ quốc.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Cảm xúc của chủ thể trữ tình “anh” trong đoạn thơ được khơi nguồn từ nhận thức sâu sắc về sự trôi chảy không ngừng của thời gian cùng với lòng ham sống, yêu đời mãnh liệt. Trước hết, đó là sự vội vàng, cuống quýt được thể hiện qua những lời lẽ dồn dập, gấp gáp như lời giục giã “mau với chứ”, “vội vàng lên”, cho thấy tâm trạng khẩn trương trước bước đi không ngừng của thời gian. Từ đó, “anh” bộc lộ nỗi lo sợ khi thời gian trôi qua quá nhanh sẽ cuốn theo những điều tươi đẹp của cuộc sống, đặc biệt là tình yêu và tuổi trẻ. Không dừng lại ở đó, cảm xúc còn chuyển thành nỗi tiếc nuối, hụt hẫng khi nhận ra quy luật phai tàn là điều không thể tránh khỏi. Chính sự ý thức rõ ràng về sự hữu hạn của đời người đã thôi thúc “anh” khao khát được sống trọn vẹn từng khoảnh khắc. Qua đó, đoạn thơ gửi gắm một thông điệp sâu sắc: con người cần biết trân trọng hiện tại, sống hết mình cho hôm nay, không để thời gian trôi qua một cách vô nghĩa; đồng thời phải biết tận hưởng những giá trị của cuộc sống và sẵn sàng cống hiến để cuộc đời trở nên ý nghĩa hơn.
Câu 2:
Phương pháp:
* Mở bài: Dẫn dắt giới thiệu vấn đề nghị luận, nêu quan điểm của người viết.
* Thân bài:
- Giải thích
+ Tuổi trẻ là khoảng thời gian tươi đẹp nhất trong cuộc đời mỗi con người, là tuổi có nhiều ước mơ, hoài bão, khát vọng. Nhưng tuổi trẻ cũng thường là những người ít có kinh nghiệm và trải nghiệm nên việc mắc sai lầm là điều có thể xảy ra.
+ Sai lầm: Là những thất bại, những điều không như mong đợi trong quá trình thử nghiệm. Sai lầm khác với tội lỗi.
+ “Quyền được sai và sửa sai của tuổi trẻ” được hiểu theo hướng tích cực là khuyến khích người trẻ dám trải nghiệm và dấn thân , cho dù có thất bại.
- Bàn luận:
+ Vì sao tuổi trẻ lại có quyền được sai ? Vì còn trẻ nên sẽ có cơ hội làm lại, được sửa sai. Chỉ khi trải qua va vấp và trải nghiệm thì mới có bài học để trưởng thành.
+ Sai lầm không phải là điểm dừng mà là bước đệm để thành công, mỗi bạn trẻ hãy tự tin bước vào hành trình khám phá của mình.
+ Tuổi trẻ có quyền được trải nghiệm, quyền được sai, được thất bại nhưng không được để những sai lầm đó lặp lại. Phải dũng cảm đứng lên sau mỗi lần vấp ngã, biết rút kinh nghiệm cho bản thân.
…
- Mở rộng vấn đề, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác.
* Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận.
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất của đời người, nơi con người mang trong mình nhiều ước mơ, hoài bão và khát vọng vươn lên. Tuy nhiên, do còn thiếu kinh nghiệm và trải nghiệm, người trẻ khó tránh khỏi những sai lầm. Vì vậy, ý kiến “Tuổi trẻ được phép sai lầm nhưng không được phép sai phạm” đã gợi ra một cách nhìn đúng đắn và tích cực về hành trình trưởng thành của mỗi người.
Trước hết, cần hiểu rằng tuổi trẻ là giai đoạn con người đang trên con đường khám phá bản thân và thế giới. Sai lầm là những thất bại, những điều không như mong muốn trong quá trình thử nghiệm và dấn thân, khác với sai phạm là những hành vi vi phạm chuẩn mực đạo đức hoặc pháp luật. Do đó, quyền được sai và sửa sai của tuổi trẻ chính là sự khuyến khích người trẻ dám nghĩ, dám làm, dám trải nghiệm để trưởng thành, kể cả khi phải đối diện với thất bại.
Tuổi trẻ có quyền được sai bởi khi còn trẻ, con người có nhiều cơ hội để làm lại và sửa chữa. Chính những va vấp sẽ giúp mỗi người nhận ra hạn chế của bản thân, từ đó tích lũy kinh nghiệm và hoàn thiện mình. Thực tế cho thấy nhiều người thành công đã từng trải qua không ít thất bại. Steve Jobs từng bị chính công ty mình sáng lập sa thải nhưng sau đó đã quay trở lại và đưa công ty phát triển mạnh mẽ. Jack Ma cũng từng nhiều lần thất bại trong học tập và xin việc trước khi đạt được thành công lớn. Những tấm gương ấy chứng minh rằng sai lầm không phải là dấu chấm hết mà có thể trở thành bước đệm quan trọng trên con đường đi tới thành công.
Tuy nhiên, tuổi trẻ không được phép lặp lại sai lầm hay buông thả bản thân. Điều quan trọng không phải là việc mắc sai lầm mà là cách mỗi người đối diện với sai lầm đó. Người trẻ cần dũng cảm nhận lỗi, rút ra bài học và không ngừng nỗ lực để hoàn thiện bản thân. Nếu không biết sửa sai, những sai lầm nhỏ có thể dẫn đến hậu quả lớn hơn. Đặc biệt, cần phân biệt rõ ranh giới giữa sai lầm và sai phạm. Sai phạm là những hành vi đi ngược lại chuẩn mực đạo đức và pháp luật, gây ảnh hưởng tiêu cực đến bản thân và xã hội, vì vậy tuyệt đối không thể chấp nhận.
Bên cạnh đó, cũng cần phê phán một bộ phận bạn trẻ hiện nay sống thiếu trách nhiệm, lấy lý do tuổi trẻ để biện minh cho những hành động sai trái. Có người lãng phí thời gian vào những việc vô bổ, thậm chí sa vào tệ nạn xã hội mà không ý thức được hậu quả lâu dài. Đây không còn là những sai lầm trong quá trình trưởng thành mà đã trở thành những sai phạm đáng bị lên án.
Tóm lại, tuổi trẻ có quyền được sai để học hỏi và trưởng thành nhưng không được phép sai phạm làm tổn hại đến bản thân và xã hội. Mỗi người cần biết trân trọng quãng thời gian tuổi trẻ, dám trải nghiệm, dám đứng lên sau thất bại và không ngừng hoàn thiện mình. Khi biết sai và sửa sai đúng cách, tuổi trẻ sẽ trở thành nền tảng vững chắc cho một tương lai tốt đẹp.
Đề thi học kì 2 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 7
Đề thi
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau:
(1) Đó là mùa của những tiếng chim reo
Trời xanh biếc, nắng tràn lên khắp ngả
Đất thành cây, mật trào lên vị quả
Bước chân người bỗng mở những đường đi
(2) Đó là mùa không thể giấu che
Cả vạn vật đều phơi trần dưới nắng
Biển xanh thẳm, cánh buồm lồng lộng trắng
Từ những miền cay đắng hóa thành thơ.
(3) Đó là mùa của những ước mơ
Những dục vọng muôn đời không kể xiết
Gió bão hòa, mưa thành sông thành bể
Một thoáng nhìn có thể hóa tình yêu
(4) Đó là mùa của những buổi chiều
Cánh diều giấy nghiêng vòm trời cao vút
Tiếng dế thức suốt đêm dài oi bức
Tiếng cuốc dồn thúc giục nắng đang trưa
(5) Mùa hạ của tôi, mùa hạ đã đi chưa
Ôi tuổi trẻ bao khát khao còn, hết
Mà mặt đất màu xanh là vẫn biển
Quả ngọt ngào thắm thiết vẫn màu hoa.
(Mùa hạ, Thơ Xuân Quỳnh, Xuân Quỳnh, NXB Văn học, 2016, tr. 34)
* Chú thích: Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ nữ tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Thơ Xuân Quỳnh đậm vẻ đẹp nữ tính, thể hiện tiếng nói của một tâm hồn trắc ẩn, chân thực, hồn hậu, luôn khát khao về hạnh phúc đời thường. Bài thơ Mùa hạ được nữ nghệ sĩ viết khi tuổi thanh xuân đã qua.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của đoạn trích.
Câu 2: Chỉ ra hình ảnh miêu tả bức tranh thiên nhiên, cảnh vật mùa hạ được nhắc đến trong đoạn (2).
Câu 3: Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong khổ thơ (1).
Câu 4: Thông điệp có ý nghĩa nhất với em sau khi đọc đoạn trích là gì? Vì sao?
Câu 5: Đoạn trích đã tái hiện bức tranh thiên nhiên mùa hè rực rỡ, cũng như mùa của tuổi trẻ, của đam mê khát vọng. Từ đó, em trình bày suy nghĩ về những điều đẹp đẽ mà tuổi trẻ Việt Nam làm cho tổ quốc. (trình bày khoảng 5 - 7 dòng).
II. PHẦN VIẾT
Câu 1: Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh mùa hè qua cảm nhận của nhân vật trữ tình tôi trong đoạn thơ sau:
(1) Đó là mùa của những tiếng chim reo
Trời xanh biếc, nắng tràn lên khắp ngả
Đất thành cây, mật trào lên vị quả
Bước chân người bỗng mở những đường đi.
Câu 2: Cố nhạc sĩ Trần Lập từ viết: Chặng đường nào trải bước trên hoa hồng/ Bàn chân cũng thấm đau vì những mũi gai. Với tư duy của một người trẻ, em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về cách ứng xử đúng khi đối diện với khó khăn.
------ HẾT ------
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về các thể thơ hiện đại.
- Dựa vào các dấu hiệu nhận biết: Số chữ trong dòng thơ, cách gieo vần, nhịp điệu
Cách giải:
Số chữ trong các dòng không bằng nhau là dấu hiệu để xác định thể thơ tự do của đoạn trích.
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kĩ đoạn (2)
- Xác định từ ngữ, hình ảnh miêu tả thiên nhiên trong đoạn thơ.
Cách giải:
Từ ngữ, hình ảnh miêu tả bức tranh thiên nhiên mùa hạ được nhắc đến trong đoạn (2) là: “Cả vạn vật đều phơi trần dưới nắng”, “Biển xanh thẳm”, “cánh buồm lồng lộng trắng”.
Câu 3:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ liệt kê
- Phân tích ít nhất 2 tác dụng (nội dung, nghệ thuật, biểu cảm)
Cách giải:
- Biện pháp tu từ: liệt kê “tiếng chim reo”, “trời xanh biếc”, “nắng tràn khắp ngả”, “đất thành cây”, “mật trào lên vị quả”.
- Tác dụng:
+Về nghệ thuật: tăng tính biểu cảm, hấp dẫn, sinh động cho câu thơ
+Về nội dung: Nhấn mạnh mùa hè đến tươi đẹp với âm thanh rộn rã, màu sắc rực rỡ, tràn ngập hương vị ngọt ngào và căng tràn nhựa sống.
Câu 4:
Phương pháp:
- Căn cứ vào nội dung văn bản
- Rút ra thông điệp từ nội dung đoạn thơ.
Cách giải:
- Mùa hạ - mùa của tuổi trẻ, của đam mê và khát vọng lớn lao, cần cháy hết mình cho tuổi trẻ.
- Sự sống đích thực bất diệt khi con người biết cháy hết mình với những khát vọng của tuổi trẻ.
- Sống có ý nghĩa thì mùa hạ vẫn mãi bên ta…
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
Những điều đẹp đẽ mà tuổi trẻ Việt Nam làm cho tổ quốc:
- Chiến đấu chống giặc ngoại xâm bảo vệ nền độc lập dân tộc.
- Nỗ lực học tập, trau dồi bản thân, rèn luyện đạo đức, sống có ước mơ, hoài bão, mục tiêu và cố gắng vươn lên.
- Tích cực tham gia vào các hoạt động công ích, các hoạt động tình nguyện, sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ người khác.
- Sống có tinh thần tập thể, đi theo cái hay, cái đúng, bỏ qua cái tôi vì lợi ích chung của cộng đồng.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Tuổi trẻ Việt Nam đã và đang làm nên nhiều điều đẹp đẽ cho Tổ quốc. Trong lịch sử, biết bao thế hệ thanh niên đã anh dũng chiến đấu, hi sinh để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Trong thời bình, tuổi trẻ tiếp tục khẳng định mình bằng sự nỗ lực học tập, sáng tạo và cống hiến trong lao động. Nhiều bạn trẻ tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện, giúp đỡ cộng đồng, lan tỏa yêu thương. Không chỉ vậy, họ còn mang trong mình khát vọng vươn lên, xây dựng đất nước ngày càng phát triển. Chính những đóng góp ấy đã làm nên một thế hệ trẻ sống đẹp, sống có ích.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Bức tranh thiên nhiên mùa hạ tươi sáng, căng tràn sức sống mang đặc trưng của làng quê qua các hình ảnh: tiếng chim reo, Trời xanh biếc, nắng tràn lên khắp ngả, Đất thành cây, mật trào lên vị quả,
- Mùa hạ còn là mùa mà những chặng đường mới được mở ra. Hình ảnh hoán dụ bước chân người gợi liên tưởng đến những bước chân tuổi trẻ mạnh mẽ, nhiệt huyết tiến lên khám phá và mở ra những con đường mới.
=> Đoạn thơ cũng là tiếng nói của tuổi trẻ lạc quan và khát vọng cống hiến.
- Sắp xếp hệ thống ý hợp lý theo đặc điểm của kiểu đoạn văn.
- Nghệ thuật thể hiện bức tranh thiên nhiên:
+ Gieo vần chân
+ Cách ngắt nhịp linh hoạt tạo tính nhạc cho thơ.
+ Ngôn ngữ chọn lọc, hình ảnh tươi sáng. Kết hợp các biện pháp nghệ thuật: liệt kê, hoán dụ…
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Đoạn thơ trong bài “Mùa hạ” của Xuân Quỳnh đã khắc họa một bức tranh thiên nhiên mùa hạ tươi sáng, căng tràn sức sống, mang đậm vẻ đẹp của làng quê Việt Nam. Trước hết, mùa hè hiện lên qua những hình ảnh giàu sức gợi như “tiếng chim reo”, “trời xanh biếc”, “nắng tràn lên khắp ngả”, “đất thành cây, mật trào lên vị quả”. Những hình ảnh ấy được sắp xếp theo phép liệt kê, vừa tạo nên nhịp điệu dồn dập, vừa làm nổi bật sự sinh sôi, phát triển mạnh mẽ của vạn vật. Không chỉ dừng lại ở bức tranh thiên nhiên, mùa hạ còn gợi mở những hành trình mới của con người. Hình ảnh “bước chân người bỗng mở những đường đi” mang ý nghĩa hoán dụ, gợi liên tưởng đến những bước chân tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, sẵn sàng khám phá và chinh phục những chân trời mới. Qua đó, đoạn thơ thể hiện tiếng nói lạc quan, tin yêu vào cuộc sống và khát vọng cống hiến của con người. Bên cạnh nội dung giàu ý nghĩa, đoạn thơ còn hấp dẫn bởi nghệ thuật đặc sắc như gieo vần chân, nhịp thơ linh hoạt, ngôn ngữ chọn lọc, hình ảnh tươi sáng kết hợp các biện pháp tu từ như liệt kê, hoán dụ. Tất cả đã góp phần làm nên một đoạn thơ giàu sức sống và cảm xúc.
Câu 2:
Phương pháp:
Gợi ý:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Triển khai vấn đề nghị luận:
- Giải thích: Khó khăn là những trắc trở, chông gai, những rào cản không mong muốn mà ta gặp phải trong cuộc sống.
- Bàn luận:
+ Người trẻ cần có nhận thức rõ ràng khó khăn là một phần tất yếu trong cuộc sống và nên cần có những cách xử lí phù hợp.
+ Giữ vững tinh thần trước mọi khó khăn, quyết tâm, nỗ lực vượt qua; biết rút ra những bài học kinh nghiệm sau mỗi lần gặp khó khăn; xem khó khăn như là thử thách, một bài học để bản thân được tôi luyện.
+ Biết chia sẻ những cảm xúc tiêu cực với người khác, cân bằng cảm xúc cá nhân khi phải đối diện với khó khăn; luôn giữ tinh thần lạc quan, nhìn nhận vấn đề tích cực để không bị nhấn chìm trong sự bi quan, tiêu cực…
- Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện,...
* Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Trong ca khúc “Đường đến ngày vinh quang”, cố nhạc sĩ Trần Lập đã viết những lời thấm thía: “Chặng đường nào trải bước trên hoa hồng, bàn chân cũng thấm đau vì những mũi gai”. Hình ảnh ẩn dụ ấy đã vẽ nên một chân lý giản dị mà sâu sắc: cuộc đời không bao giờ là con đường trải đầy hoa, thành công luôn phải trả giá bằng những tổn thương, thử thách. Đối với người trẻ, những người đang ở độ tuổi đẹp nhất để khám phá và chinh phục thế giới, việc xác định cho mình một cách ứng xử đúng đắn khi đối diện với khó khăn chính là hành trang quan trọng nhất để vững bước vào đời.
Trước hết, cần hiểu khó khăn là những trắc trở, chông gai, những rào cản không mong muốn mà bất kỳ ai cũng phải đối mặt trong hành trình sống. Nó có thể là thất bại trong học tập, áp lực từ kỳ vọng của gia đình, sự cô đơn trong các mối quan hệ, hay những biến cố bất ngờ của số phận. Người trẻ cần có nhận thức rõ ràng rằng khó khăn không phải là ngoại lệ mà là một phần tất yếu của cuộc sống. Không ai sinh ra đã được trải bước trên hoa hồng mãi mãi, và hành trình trưởng thành nào cũng có những mũi gai sẵn sàng làm xước chân ta. Chỉ khi hiểu được điều đó, chúng ta mới không rơi vào trạng thái bất ngờ, hụt hẫng hay oán trách khi đối diện với nghịch cảnh.
Từ nhận thức đúng đắn ấy, mỗi người trẻ cần xây dựng cho mình những cách ứng xử phù hợp. Điều quan trọng nhất là giữ vững tinh thần, quyết tâm và nỗ lực không ngừng để vượt qua. Thay vì gục ngã trước khó khăn, hãy coi đó là phép thử để tôi luyện bản thân. Hình ảnh thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký dù bị liệt cả hai tay vẫn kiên trì luyện viết bằng chân, trở thành nhà giáo ưu tú, là minh chứng rõ nét cho ý chí vượt khó. Hay câu chuyện của Nick Vujicic, người sinh ra không có tứ chi nhưng với nghị lực phi thường, anh đã trở thành diễn giả truyền cảm hứng cho hàng triệu người trên thế giới. Những tấm gương ấy cho thấy, sau mỗi lần vấp ngã, biết đứng dậy và rút ra bài học, khó khăn sẽ trở thành chất liệu quý giá để tôi luyện nên một bản lĩnh vững vàng.
Bên cạnh nghị lực cá nhân, người trẻ cũng cần biết cân bằng cảm xúc khi đối diện với khó khăn. Những cảm xúc tiêu cực như buồn chán, lo lắng, thất vọng là điều khó tránh khỏi, nhưng không được để chúng nhấn chìm mình. Hãy học cách chia sẻ với người thân, bạn bè, bởi có những điều khi được sẻ chia sẽ vơi đi một nửa gánh nặng. Luôn giữ tinh thần lạc quan, nhìn nhận vấn đề theo hướng tích cực để không bị bi quan làm mờ mắt. Nhà văn J.K. Rowling từng chia sẻ rằng chính những ngày tháng nghèo khó, thất bại đã cho bà nền tảng để viết nên bộ truyện Harry Potter vĩ đại. Bà đã nhìn nhận thất bại như một người thầy, xem thử thách như cơ hội để hoàn thiện bản thân. Đó mới là cách ứng xử thông thái.
Tất nhiên, trong xã hội vẫn tồn tại những quan điểm trái chiều. Có người cho rằng nên tránh xa khó khăn để giữ an toàn, có người lại bi quan, phó mặc cho số phận khi gặp trở ngại. Những cách ứng xử này tuy có thể giúp ta tạm thời thoát khỏi áp lực nhưng về lâu dài sẽ khiến bản thân trở nên yếu đuối, thiếu bản lĩnh và đánh mất cơ hội phát triển. Bởi lẽ, khó khăn như ngọn lửa thử vàng, chỉ có dám đối diện mới thực sự trưởng thành.
Là một người trẻ đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời, tôi nhận thức sâu sắc rằng khó khăn không phải là kẻ thù mà là một món quà có giá trị. Cách ứng xử đúng đắn nhất khi đối diện với nó chính là bình tĩnh đón nhận, kiên trì vượt qua và không ngừng học hỏi. Bởi chỉ có dấn thân và bước qua những mũi gai, đôi chân của người trẻ mới thực sự chai sạn, đủ vững vàng để chinh phục những chặng đường dài phía trước và tận hưởng hương sắc của những đóa hoa hồng thành công.
Đề thi học kì 2 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 8
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
Mẹ quê mãi mãi mẹ quê
Con đường nho nhỏ đi về thân quen
Cả đời nào biết bon chen
Hiền như cục đất nhuộm đen màu phèn
Miếng ăn dành để luân phiên
Sợ mùa thất bát lại phiền cháu con
Quanh năm lam lũ héo hon
Quên thời con gái môi son áo hồng
Kể từ cất bước theo chồng
Mùi bùn đã ngấm, nâu sồng đã thân
Thế mà đã mấy chục năm
Tóc giờ bạc trắng lưng còng còng hơn
Gió chiều thổi nhẹ từng cơn
Long lanh ánh mắt mẹ buồn xa xăm
Lắng nghe giọng hát xa gần
Mẹ già chuối chín… vạn lần nhớ thương!
(Theo Nguyễn Minh Quang, Mẹ quê, in trong Hạnh ngộ 5, NXB Văn nghệ TP.HCM, 2008)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2. Trong văn bản trên, ngoại hình và phẩm chất của mẹ quê được khắc họa qua những chi tiết nào?
Câu 3. Phân tích hiệu quả của việc sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong câu thơ: “Hiền như cục đất nhuộm đen màu phèn”.
Câu 4. Trình bày chủ đề của văn bản trên.
Câu 5. Nhận xét về cách quan sát, cảm nhận con người và cuộc sống cũng như vẻ đẹp tài năng – tâm hồn của tác giả Nguyễn Minh Quang được thể hiện trong văn bản trên.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh mẹ quê qua cảm nhận của nhân vật trữ tình trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm)
Sự kì vọng tạo ra áp lực hay động lực?
Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề trên.
-------------------------------------------- HẾT ---------------------------------------
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ vào các dấu hiệu hình thức để nhận biết thể thơ
Cách giải:
Hình thức được tạo dựng và duy trì bằng các cặp câu thơ (gồm một câu thơ sáu chữ và một câu thơ tám chữ) lần lượt nối tiếp nhau là dấu hiệu để xác định thể thơ lục bát của văn bản.
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để tìm những chi tiết phù hợp
Cách giải:
Trong văn bản trên, hình tượng mẹ quê được khắc họa qua những chi tiết sau:
- Ngoại hình: “nhuộm đen màu phèn”, “Tóc giờ bạc trắng lưng còng còng hơn”, “quanh năm lam lũ héo hon”, “long lanh ánh mắt”.
- Phẩm chất: “hiền như cục đất”, “miếng ăn dành để luân phiên”, “mùi bùn đã ngấm, nâu sồng đã thân”.
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ so sánh
Cách giải:
Hiệu quả của việc sử dụng biện pháp tu từ so sánh (ví Mẹ quê “hiền” như “cục đất”) trong câu thơ “Hiền như cục đất nhuộm đen màu phèn”:
- Khiến cho lời thơ sinh động, tăng sức gợi hình – gợi cảm, làm giàu giá trị biểu đạt - biểu cảm cho sự diễn đạt.
- Giúp người đọc hình dung cụ thể, cảm nhận rõ nét về nỗi vất vả, nhọc nhằn của công việc đồng áng được khắc họa trong văn bản; cũng như khắc họa sinh động tính cách hiền lành, giản dị, cam chịu của người mẹ thân thương ở quê nhà
- Từ đó thể hiện tấm lòng hiếu thảo, tình yêu thương tha thiết, thái độ trân trọng cùng nỗi xót xa, trăn trở của chủ thể trữ tình về sự hi sinh vĩ đại của mẹ, ý thức sâu sắc về trách nhiệm của người con trong việc đền đáp công ơn sinh dưỡng của mẹ.
Câu 4:
Phương pháp:
Căn cứ vào nhan đề và nội dung văn bản để xác định vấn đề trọng tâm
Cách giải:
Ghi lại những cảm nhận chân thực, sinh động về sự hy sinh thầm lặng nhưng vĩ đại của người mẹ trong gia đình thôn quê, bài thơ Mẹ quê (Nguyễn Minh Quang) đã thể hiện rõ nét tình yêu thương, thái độ trân trọng, tấm lòng biết ơn của người con dành cho mẹ; qua đó tác giả trực tiếp bày tỏ thái độ ca ngợi, tri ân đức hi sinh của mẹ, đề cao tình mẫu tử thiêng liêng, cao đẹp.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
Có thể theo hướng:
- Nguyễn Minh Quang có cách quan sát, cảm nhận con người và cuộc sống chân thực, sinh động, tỉ mỉ.
- Nguyễn Minh Quang cũng là nhà thơ có khả năng sử dụng tiếng Việt nhuần nhuyễn, khéo léo khai thác chất liệu văn học dân gian Việt Nam và có thái độ trân trọng, tôn quý đối với ngôn ngữ và văn học dân tộc…
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Nguyễn Minh Quang thể hiện một cách quan sát và cảm nhận con người, cuộc sống chân thực, sinh động và hết sức tỉ mỉ. Qua những chi tiết giản dị như mái tóc bạc, lưng còng hay miếng ăn dành dụm, hình ảnh người mẹ quê hiện lên gần gũi mà giàu sức gợi, thấm đẫm hơi thở đời sống nông thôn. Không chỉ vậy, nhà thơ còn cho thấy tài năng sử dụng tiếng Việt nhuần nhuyễn, với lời thơ mộc mạc mà giàu cảm xúc, kết hợp khéo léo thể thơ lục bát và các hình ảnh mang đậm chất liệu văn học dân gian. Điều đó góp phần tạo nên giọng điệu tha thiết, sâu lắng, đồng thời thể hiện thái độ trân trọng, tôn quý đối với ngôn ngữ và văn học dân tộc, cũng như tình cảm yêu thương, biết ơn sâu sắc dành cho người mẹ quê.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Hình ảnh mẹ quê gắn liền với lối sống giản dị, dân dã, thanh bạch (“con đường nho nhỏ đi về thân quen”, “cả đời nào biết bon chen”, “mùi bùn đã ngấm, nâu sồng đã thân”).
- Hình ảnh mẹ quê mang vẻ đẹp gần gũi, thân thương với những phẩm chất tốt đẹp, đáng quý tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam: cần kiệm (“cả đời nào biết bon chen”), hiền lành (“hiền như cục đất…”), nhân hậu, giàu tình thương yêu và đức hi sinh cao đẹp (“Miếng ăn dành để luân phiên/ Sợ mùa thất bát lại phiền cháu con”), tảo tần, đảm đang (“quanh năm lam lũ héo hon”).
- Hình ảnh mẹ quê phản ánh rõ nét sự bào mòn khắc nghiệt của thời gian (“Thế mà đã mấy chục năm/ Tóc giờ bạc trắng lưng còng còng hơn”) cùng cuộc sống vất vả, cực nhọc đè nặng lên vai người phụ nữ trong gia đình (“quên thời con gái môi son áo hồng”), là minh chứng điển hình cho vẻ đẹp mộc mạc, bình dị của người phụ nữ Việt Nam, khơi gợi nên thái độ trân trọng, kính yêu của mỗi người dành cho sự hi sinh vĩ đại của những người mẹ trong gia đình.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Hình ảnh mẹ quê trong bài thơ hiện lên thật giản dị mà xúc động qua cảm nhận của nhân vật trữ tình. Trước hết, mẹ gắn liền với lối sống dân dã, thanh bạch của làng quê, hiện diện trong “con đường nho nhỏ đi về thân quen”, trong một cuộc đời “cả đời nào biết bon chen”, quen thuộc với “mùi bùn đã ngấm, nâu sồng đã thân”. Không chỉ vậy, mẹ còn mang vẻ đẹp gần gũi, thân thương với những phẩm chất tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam: cần kiệm, hiền lành “hiền như cục đất”, giàu tình thương và đức hi sinh khi luôn “miếng ăn dành để luân phiên”, sợ con cháu thiếu thốn. Cuộc đời mẹ là chuỗi ngày “quanh năm lam lũ héo hon”, tảo tần, đảm đang mà không một lời than vãn. Đặc biệt, hình ảnh mẹ còn gợi lên nỗi xót xa trước sự khắc nghiệt của thời gian và cuộc sống: “tóc giờ bạc trắng, lưng còng”, “quên thời con gái môi son áo hồng”. Tất cả đã làm nổi bật vẻ đẹp mộc mạc mà cao quý của người mẹ quê – một biểu tượng cho sự hi sinh thầm lặng nhưng vĩ đại. Qua đó, đoạn thơ khơi dậy trong lòng người đọc niềm kính yêu, biết ơn sâu sắc đối với những người mẹ đã dành trọn đời vì gia đình.
Câu 2:
Phương pháp:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
* Thân bài:
- Giải thích: Sự kì vọng là thuật ngữ chỉ việc con người đặt nhiều niềm tin, hi vọng, mong mỏi vào một đối tượng hay sự việc nào đó có ý nghĩa quan trọng đối với họ; áp lực là sự cưỡng ép được con người cảm nhận rõ rệt; động lực là cái thúc đẩy, làm cho con người phát triển theo chiều hướng tích cực, tiến bộ; vấn đề này đề cập đến tác dụng của sự kì vọng đối với con người khi được nhìn nhận dưới góc độ đa chiều.
- Bàn luận:
+ Sự kì vọng có thể tạo ra áp lực cho con người trên nhiều phương diện với nhiều mức độ khác nhau; con người cần nhận thức và kiểm soát sự kì vọng của bản thân vào một điều gì đó vì nó có thể gây ra nhiều vấn đề tiêu cực.
+ Sự kì vọng có thể tạo ra động lực cho con người, thúc đẩy con người phấn đấu để vượt qua khó khăn, thử thách để thực hiện nhiều mục tiêu; con người cần đặt kì vọng đúng mức, đúng chỗ để nó phát huy tác dụng tích cực.
- Mở rộng vấn đề, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác.
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Trong hành trình trưởng thành, mỗi người trẻ đều mang theo những kì vọng từ gia đình, xã hội và chính bản thân mình. Tuy nhiên, sự kì vọng ấy không chỉ mang lại những điều tích cực mà đôi khi còn trở thành gánh nặng. Vì vậy, vấn đề đặt ra là sự kì vọng tạo ra áp lực hay động lực đối với con người.
Sự kì vọng là việc con người đặt niềm tin, hi vọng, mong mỏi vào một đối tượng hay mục tiêu có ý nghĩa quan trọng. Áp lực là trạng thái căng thẳng, bị đè nặng về tâm lí, còn động lực là yếu tố thúc đẩy con người nỗ lực và phát triển theo hướng tích cực. Từ đó có thể thấy, kì vọng mang tính hai mặt, vừa có thể tạo ra áp lực, vừa có thể trở thành động lực tùy thuộc vào cách con người tiếp nhận.
Trong thực tế, kì vọng có thể tạo ra áp lực lớn đối với người trẻ. Nhiều học sinh phải gánh trên vai mong muốn của cha mẹ về thành tích học tập, thi cử, nghề nghiệp. Khi những mong muốn ấy vượt quá khả năng, các em dễ rơi vào trạng thái lo lắng, căng thẳng, thậm chí mất phương hướng. Đã có không ít trường hợp học sinh vì sợ làm gia đình thất vọng mà thu mình lại, mất đi sự tự tin. Điều này cho thấy nếu không được kiểm soát, kì vọng sẽ trở thành rào cản đối với sự phát triển.
Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác, kì vọng lại có thể trở thành động lực mạnh mẽ. Khi được đặt đúng mức, nó giúp con người xác định mục tiêu rõ ràng và có ý chí vươn lên. Nhiều bạn trẻ xuất thân từ hoàn cảnh khó khăn đã nỗ lực học tập, rèn luyện để đạt được thành công, không phụ lòng tin yêu của gia đình. Chính niềm tin và kì vọng tích cực đã tiếp thêm sức mạnh để họ vượt qua thử thách, hoàn thiện bản thân.
Bên cạnh đó, cần hiểu rằng không nên phủ nhận hoàn toàn vai trò của kì vọng. Nếu không có kì vọng, con người dễ sống thiếu mục tiêu và động lực phấn đấu. Điều quan trọng là mỗi người cần biết điều chỉnh kì vọng sao cho phù hợp với năng lực và hoàn cảnh của mình. Người trẻ cần học cách thấu hiểu bản thân, đặt ra mục tiêu vừa sức, đồng thời gia đình cũng cần quan tâm, định hướng thay vì áp đặt.
Tóm lại, sự kì vọng vừa có thể là áp lực, vừa có thể là động lực. Khi được nhìn nhận đúng đắn và điều chỉnh hợp lí, kì vọng sẽ trở thành nguồn sức mạnh giúp người trẻ vững vàng hơn trên con đường trưởng thành và chinh phục tương lai.
Đề thi học kì 2 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 9
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc đoạn trích
DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH
(Trích)
Nguyễn Minh Châu
(Tóm tắt: “Dấu chân người lính” là tiểu thuyết kể về cuộc chiến vô cùng ác liệt của quân đội ta với kẻ thù ở thung lũng Khe Sanh, Quảng Trị. Tác phẩm gồm 03 phần: Hành quân – Chiến dịch bao vây – Đất giải phóng, nhằm tái hiện lại hành trình chiến đấu từ những ngày bắt đầu chuẩn bị đến chặng đường hành quân và cuối cùng là cuộc tấn công giành chiến thắng. Trong hành trình ấy là những câu chuyện về cuộc sống chiến đấu và đời sống tâm hồn của chính ủy Kinh, chiến sĩ cần vụ Khuê, trinh sát Lượng, lính thông tin Lữ,... Đoạn trích dưới đây thuộc chương 12, kể về Nết – chị của Khuê, một nữ thanh niên xung phong, được điều đến làm công việc của y tá trạm phẫu thuật ở Tây Nam Khe Sanh)
Nết đã đi làm đường trong đội thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước hai năm, hai năm làm cấp dưỡng nữa, cô đã đi gần suốt dãy Trường Sơn mà vẫn không sao sửa chữa được cái bệnh nhớ nhà. [...]
Làm sao nói hết mọi điều đáng nói về một cái bếp lửa trên chon von Trường Sơn? Những cái bếp bằng đất vắt nặn nên bởi bàn tay khéo léo, khói chỉ lan lờ mờ trong cỏ như sương ban mai rồi tan dần, lửa thì đậu lại. Ngọn lửa được ấp ủ trong lòng người con gái đồng bằng. Những chiến sĩ hành quân trên Trường Sơn chợt trông thấy một ảnh lửa hồng, một mái nhà, cái bờ giậu bằng cây sắn có rặng mồng tơi leo, đàn gà lợn trong chuồng, bên đường một mái tóc cặp buông lơi, một kiểu chít khăn mỏ quạ, một nước da con gái đang sốt rét, một ánh mắt đằm thắm vồn vã: "Các anh người quê ở đâu ta?". Có biết bao nhiêu là nỗi nhớ đồng bằng gửi vào trong một câu hỏi ấy? Có đêm khuya khoắt ngồi trước khuôn bếp, Nết lắng nghe thấy đủ các thứ tiếng động của rừng: tiếng suối chảy, tiếng gà rừng gáy, tiếng con tắc kè và tiếng chim "bắt cô trói cột". Mỗi lúc như vậy, nỗi nhớ nhà và nhớ vùng xuôi cử cồn cào trong gan ruột, Nết nghe rõ tiếng cá chép đớp mồi bên bờ ao ấu, cùng tiếng mẹ khỏa nước rửa chân ngoài cầu ao... Suốt những năm ở nhà cùng với mẹ, chẳng mấy khi Nết trông thấy mẹ mặc một cái quần chùng, hai ống quần ướt sũng bao giờ cũng vo quả gối, đôi bắp chân đen thui khẳng khiu bao giờ cũng in một ngấn bùn trắng. Mỗi buổi trưa hè đi làm ngoài đồng trở về, bước chân bao giờ cũng lật đật, mẹ vứt xóc cua đồng trước thềm nhà và liền nằm úp sấp bụng trên cái thềm đất, vừa cười ngượng nghịu vừa vẫy Nết lại. Nết chạy tới nhẹ nhàng giậm bàn chân trên dọc sống lưng mẹ, giận dữ rầy la mẹ sau các kỳ sinh nở không biết kiêng cữ. Và những lúc như vậy, mẹ chỉ nín lặng nhẫn nhục rên khe khẽ và đưa mắt nhìn lũ con cãi cọ tranh nhau đuổi theo những con cua đồng "- U ơi!". Ngày hôm đó, Nết đã cầm chặt lá thư ngắn ngủi của Khuê trong những ngón tay cứng đờ như không còn biết cảm giác, cô kêu lên một tiếng rên rỉ đầy đau khổ và phẫn nộ. Nết nhớ ngày ở nhà, cô thường giả vờ xắn ống tay áo dọa đùa thằng em bé nhất: "Hiên ra đây chị gội đầu nào?". Thằng bé sợ nhất là bị bế đi gội đầu liền khóc thét om cả nhà và lần nào Nết cũng bị mẹ mắng: "Cái con quỷ này lớn xác chỉ khỏe trêu em!".
Các mẩu kỷ niệm vui buồn vụn vặt gần như chẳng có ý nghĩa gì hết ở trong cái gia đình nghèo và lam lũ, Nết cứ theo bộ đội đi một bước lại nhớ thêm một chuyện. Không biết bao nhiêu chuyện vui buồn nho nhỏ trong gia đình. Mỗi mẩu chuyện là một lưỡi dao cắt vào gan ruột. "Nết ơi, tao lạy mày, mày khóc đi một cái!". - Không bao giờ tao chịu khóc đâu Dự ạ, lúc xong việc ở đây rồi thì tao sẽ khóc. Nhưng bây giờ anh chị em trong đội đang vội vàng chuẩn bị đón thương binh về, mỗi người xé ra làm hai ba mà chưa làm hết việc, lẽ nào ngồi khóc? Làm sao sinh ra người con gái giàu nước mắt vậy, nhưng Nết không rỏ một giọt nước mắt nào cho mẹ và em ở nhà đã chết vì bom Mỹ. Hãy nghiến răng lại mà làm việc đừng quản ngày đêm. Hãy nghiến răng lại mà chiến đấu và làm việc để trả thù cho những người thân đã mất!
(Trích Nguyễn Minh Châu, Tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí Minh,
NXB Văn học, 2007, tr.538-540)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định dấu hiệu hình thức cho biết ngôi kể được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 2. Chỉ ra 02 chi tiết miêu tả hình ảnh bếp lửa ở đoạn trích.
Câu 3. Tác giả đã sử dụng cách kể chuyện đan xen giữa những sự kiện diễn ra ở hiện tại và trong dòng hồi ức của nhân vật Nết. Nhận xét về tác dụng của cách kể chuyện này.
Câu 4. Phân tích hiệu quả của việc sử dụng ngôn ngữ thân mật trong các câu văn sau: Nết nhớ ngày ở nhà, cô thường giả vờ xắn ống tay áo dọa đùa thằng em bé nhất: "Hiên ra đây chị gội đầu nào?". Thằng bé sợ nhất là bị bế đi gội đầu liền khóc thét om cả nhà và lần nào Nết cũng bị mẹ mắng "Cái con quỳ này lớn xác chỉ khỏe trêu em!"
Câu 5. Câu nói của Nết Không bao giờ tao chịu khóc đầu Dự a, lúc xong việc ở đây rồi thì tao sẽ khóc gợi cho anh chị những suy nghĩ gì về cách mỗi người đối diện với nghịch cảnh trong cuộc sống (trình bày trong khoảng 10 dòng)?
II. VIẾT
Câu 1: (VDC) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp tâm hồn của những con người trên tuyến đường Trường Sơn được thể hiện trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2.
Bộ phim hoạt hình “Inside Out” ("Những mảnh ghép cảm xúc") đã phản ánh một vấn đề quen thuộc bằng ý tưởng độc đáo: mô phỏng thế giới nội tâm của cô bé Riley, nơi các cảm xúc đã được nhân hóa thành sáu nhân vật (Niềm Vui, Nỗi Buồn, Sợ Hãi, Giận Dữ, Chán Ghét, Lo Âu) cùng nhau điều khiển tâm trí cô. Bộ phim là hành trình Riley lắng nghe và chấp nhận những tiếng nói của cảm xúc trong tâm hồn mình.
Từ gợi dẫn trên, kết hợp với hiểu biết của bản thân, hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về thông điệp: Lắng nghe để thấu hiểu cảm xúc của chính mình.
---HẾT--
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về ngôi kể
- Nhận diện qua các dấu hiệu: đại từ xưng hô, vị trí người kể
Cách giải:
- Đoạn trích sử dụng ngôi kể thứ ba.
- Dấu hiệu hình thức nhận biết ngôi kể thứ ba: người kể chuyện ẩn danh, không trực tiếp xuất hiện trong văn bản như một nhân vật, không tham gia vào mạch vận động của cốt truyện, chỉ được nhận biết qua lời kể.
Câu 2:
Phương pháp:
- Xác định chi tiết miêu tả trong văn bản.
- Tìm những câu văn có hình ảnh cụ thể, gợi tả bếp lửa.
Cách giải:
Hai chi tiết miêu tả hình ảnh bếp lửa ở đoạn trích:
- Những cái bếp bằng đất vắt nặn nên bởi bàn tay của Nết đầy khéo léo;
- Khói chỉ lan lờ mờ trong cỏ như sương ban mai rồi tan dần, lửa thì đậu lại.
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về cách kể chuyện.
Cách giải:
Tác giả đã sử dụng cách kể chuyện đan xen giữa những sự kiện diễn ra ở hiện tại và trong dòng hồi ức của nhân vật Nết. Cách kể chuyện này để lại nhiều tác dụng:
- Khắc họa rõ nét hình ảnh, tâm hồn, tạo chiều sâu tâm lí nhân vật
- Tạo sự gắn kết giữa quá khứ và hiện tại, giúp cho mạch truyện liền mạch hơn
- Làm nổi bật những nỗi đau, những mất mát mà chiến tranh gây ra cho con người
Câu 4:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và giá trị biểu cảm của lời thoại.
- Phân tích các yếu tố: xưng hô, từ ngữ, giọng điệu.
Cách giải:
- Cách xưng hô “chị - em”, “cái con quỷ”: đậm chất dân dã, đời thường, thể hiện sự gắn kết trong gia đình - Câu đùa “Hiên ra đây chị gội đầu nào?”: mang sắc thái hài hước, tạo không khí vui vẻ
- Sử dụng từ “bế” thay vì “bắt”; “khóc thét om cả nhà”: cách diễn đạt mang tính khẩu ngữ, tái hiện sinh động cảnh sinh hoạt gia đình
- Câu “Cái con quỷ này lớn xác chỉ khoẻ trêu em!”: không chỉ là lời mắng yêu mà còn thể hiện tình yêu thương của mẹ dành cho các con
- Hiệu quả biểu cảm và khắc hoạ nhân vật:
+ Nhân vật Nết hiện lên với hình ảnh là một cô chị tinh nghịch, còn cậu em thì nhõng nhẽo, đáng yêu
+ Lời nói và hành động được miêu tả tự nhiên, giúp người đọc dễ dàng hình dung bối cảnh gia đình.
=> Việc sử dụng ngôn ngữ thân mật trong câu văn giúp tạo nên một bức tranh gia đình chân thực, ấm áp, làm nổi bật sự hồn nhiên, nghịch ngợm của trẻ con và tình cảm yêu thương giữa các thành viên.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Câu nói của Nết thể hiện ý chí mạnh mẽ, tinh thần kiên cường trước nghịch cảnh.
- Thay vì yếu đuối, than khóc, Nết chọn cách hoàn thành công việc trước khi bộc lộ cảm xúc => gợi lên bài học về cách con người đối diện với khó khăn trong cuộc sống.
- Mỗi người có một cách phản ứng khác nhau: có người bi quan, buông xuôi, có người mạnh mẽ vươn lên.
- Như Nết, ta cần hiểu rằng khóc lóc không giải quyết vấn đề, mà hành động mới quan trọng.
- Cuộc sống luôn có những thử thách, nhưng thái độ trước khó khăn quyết định sự thành công.
- Học cách kiên cường giúp ta mạnh mẽ hơn và truyền cảm hứng cho những người xung quanh.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Câu nói của Nết thể hiện ý chí mạnh mẽ và tinh thần kiên cường trước nghịch cảnh. Dù phải chịu đựng nỗi đau mất mát, cô không cho phép mình yếu đuối hay gục ngã mà lựa chọn hoàn thành nhiệm vụ trước khi bộc lộ cảm xúc. Điều đó gợi ra một bài học sâu sắc về cách con người đối diện với khó khăn trong cuộc sống. Mỗi người có một cách phản ứng khác nhau: có người bi quan, buông xuôi, nhưng cũng có người mạnh mẽ vươn lên như Nết. Thực tế cho thấy, khóc lóc không thể giải quyết vấn đề, chỉ có hành động và sự nỗ lực mới giúp ta vượt qua thử thách. Cuộc sống luôn đặt ra những khó khăn, nhưng chính thái độ của mỗi người mới quyết định kết quả cuối cùng. Vì vậy, học cách kiên cường không chỉ giúp ta trưởng thành hơn mà còn lan tỏa nguồn động lực tích cực đến những người xung quanh.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
1. Mở đoạn
- Giới thiệu về giả tác, tác phẩm.
- Khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của những con người trên tuyến đường Trường Sơn.
2. Thân đoạn
a. Vẻ đẹp của những con người trên tuyến đường Trường Sơn:
- Lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm:
+ Họ sẵn sàng hy sinh, gác lại tình cảm cá nhân để cống hiến cho Tổ quốc.
+ Họ đối mặt với muôn vàn gian khổ nhưng vẫn kiên cường không lùi bước
- Tình đồng chí, đồng đội sâu sắc: Tình bạn đẹp giữa Nết và Dự: quan tâm, động viên.
- Sự kiên cường, bản lĩnh trong gian khổ: Nết cắn răng chịu đựng mất mát, không cho phép mình khóc khi nhiệm vụ còn dang dở.
- Nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ luôn da diết khắc khoải. Tình yêu gia đình chính là động lực để nhân vật Nết không ngừng cố gắng, vượt qua mọi khó khăn.
b. Những nét nghệ thuật đặc sắc:
+ Xây dựng nhân vật sinh động, có chiều sâu tâm lý.
+ Sử dụng đối thoại tự nhiên, mang tính đặc trưng của chiến trường.
+ Lối kể chuyện đan xen giữa hiện thực và quá khứ vừa tạo chiều sâu tâm lí cho nhân vật vừa khắc họa rõ nét nỗi đau mà chiến tranh gây ra cho con người.
3. Kết đoạn: Khẳng định lại vẻ đẹp tâm hồn của những con người trên tuyến đường Trường Sơn. Niềm biết ơn, trân trọng sự hi sinh của thế hệ đi trước.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Đoạn trích trong tiểu thuyết “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu đã khắc họa sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn của những con người trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm tháng kháng chiến ác liệt. Trước hết, họ mang trong mình lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm cao cả, sẵn sàng gác lại tình cảm riêng tư, chấp nhận hy sinh để cống hiến cho Tổ quốc, dù phải đối mặt với muôn vàn gian khổ vẫn không hề lùi bước. Bên cạnh đó là tình đồng chí, đồng đội sâu sắc, thể hiện qua mối quan hệ giữa Nết và Dự, họ luôn quan tâm, động viên nhau vượt qua khó khăn. Nổi bật hơn cả là sự kiên cường, bản lĩnh của nhân vật Nết: dù đau đớn trước mất mát, cô vẫn kìm nén nước mắt, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Đồng thời, trong trái tim họ luôn thường trực nỗi nhớ gia đình da diết, tình yêu quê hương, nhớ mẹ trở thành nguồn động lực giúp họ bền bỉ chiến đấu. Thành công của đoạn trích còn đến từ nghệ thuật xây dựng nhân vật sinh động, giàu chiều sâu tâm lí; ngôn ngữ đối thoại tự nhiên; đặc biệt là lối kể chuyện đan xen hiện tại và hồi ức, làm nổi bật nỗi đau chiến tranh. Qua đó, ta càng thêm trân trọng, biết ơn những con người đã hi sinh vì độc lập dân tộc.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài:
- Giới thiệu vấn đề nghị luận: Lắng nghe để thấu hiểu cảm xúc của chính mình.
2. Thân bài.
a. Giải thích
- Lắng nghe: quan sát và cảm nhận những biến chuyển trong tâm trạng của bản thân.
- Thấu hiểu cảm xúc: Là khả năng nhận diện và chấp nhận cảm xúc của mình mà không phủ nhận hoặc dồn nén.
=> Lắng nghe để thấu hiểu cảm xúc là quá trình chú ý, nhận diện và hiểu rõ những cảm xúc mà chúng ta đang trải qua trong mỗi tình huống hoặc khoảnh khắc của cuộc sống.
b. Bàn luận vai trò của việc lắng nghe để thấu hiểu cảm xúc của chính mình
- Giúp con người thấu hiểu chính mình: Lắng nghe cảm xúc giúp chúng ta nhận diện chính xác những gì mình đang cảm thấy.
- Cải thiện sức khỏe về tinh thần, phát triển những cảm xúc tích cực:
+ Khi không lắng nghe cảm xúc, những cảm xúc tiêu cực có thể tích tụ và gây căng thẳng, lo âu hoặc trầm cảm. Việc nhận diện và thấu hiểu cảm xúc giúp ta giải tỏa chúng một cách hợp lý, từ đó giảm thiểu mức độ căng thẳng.
+ Lắng nghe cảm xúc không chỉ giúp nhận diện cảm giác tiêu cực mà còn giúp ta nuôi dưỡng và phát triển cảm xúc tích cực, như sự biết ơn, lòng kiên nhẫn và sự hài lòng. Khi bạn hiểu rõ và chấp nhận cảm xúc của mình, bạn có thể dễ dàng tìm ra cách để nuôi dưỡng niềm vui và sự hài lòng trong cuộc sống.
- Khả năng đối mặt với khó khăn và thử thách trong cuộc sống:
+ Cảm xúc có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quyết định mà chúng ta đưa ra. Nếu không lắng nghe cảm xúc, chúng ta dễ bị cảm xúc chi phối, đưa ra những quyết định sai lầm hoặc thiếu sáng suốt.
+ Biết lắng nghe cảm xúc, ta sẽ biết cách xử lý những tình huống khó khăn một cách tỉnh táo và hợp lý. Khi đối diện với thử thách trong cuộc sống, việc lắng nghe cảm xúc giúp chúng ta không bị cuốn vào cảm giác lo âu hay sợ hãi, mà thay vào đó là một cái nhìn sáng suốt, bình tĩnh. Việc này giúp bạn xử lý tình huống một cách lý trí, đưa ra những quyết định đúng đắn hơn.
HS lấy dẫn chứng minh họa phù hợp.
c. Bàn luận mở rộng:
- Hiện nay việc lắng nghe cảm xúc đối với một số người còn gặp nhiều khó khăn do: Nhiều người không muốn đối diện với cảm giác đau buồn, sợ hãi hoặc giận dữ, dẫn đến việc tránh né cảm xúc.
- Một số phương pháp để thực hành lắng nghe cảm xúc:
+ Dành thời gian cho bản thân để tự suy ngẫm về những điều đang diễn ra trong cuộc sống và cách chúng tác động đến cảm xúc của mình.
+ Các phương pháp như thiền, tập yoga giúp tăng cường khả năng tự nhận thức và lắng nghe cảm xúc.
+ Tìm kiếm sự giúp đỡ từ chuyên gia nếu cần.
- Bên cạnh đó cũng cần hiểu rằng lắng nghe cảm xúc không có nghĩa là nuông chiều cảm xúc một cách thái quá mà cần có sự cân bằng giữa cảm xúc và lí trí.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Trong cuộc sống hiện đại đầy áp lực, con người không chỉ cần hiểu thế giới xung quanh mà còn cần học cách lắng nghe chính mình. Bộ phim Inside Out đã gợi mở một thông điệp ý nghĩa: lắng nghe để thấu hiểu cảm xúc của bản thân là chìa khóa giúp mỗi người trưởng thành và sống cân bằng hơn. Đây không chỉ là một kĩ năng tâm lí cần thiết mà còn là nền tảng cho một đời sống tinh thần lành mạnh.
Lắng nghe cảm xúc là quá trình mỗi người quan sát, nhận biết những biến chuyển trong tâm trạng của mình. Thấu hiểu cảm xúc là khả năng nhận diện và chấp nhận những cảm xúc ấy, dù tích cực hay tiêu cực, mà không phủ nhận hay dồn nén. Như vậy, lắng nghe để thấu hiểu cảm xúc chính là hành trình quay vào bên trong, để hiểu rõ những gì ta đang trải qua trong từng khoảnh khắc của cuộc sống
Việc lắng nghe cảm xúc có vai trò vô cùng quan trọng. Trước hết, nó giúp con người hiểu chính mình. Khi biết mình đang buồn, lo lắng hay tức giận vì điều gì, ta sẽ không còn mơ hồ hay bối rối trước những phản ứng của bản thân. Bên cạnh đó, lắng nghe cảm xúc còn góp phần cải thiện sức khỏe tinh thần. Nếu không nhận diện và giải tỏa, những cảm xúc tiêu cực có thể tích tụ, gây căng thẳng kéo dài, thậm chí dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng hơn. Ngược lại, khi hiểu và chấp nhận cảm xúc, ta có thể điều chỉnh chúng một cách hợp lí, từ đó nuôi dưỡng những trạng thái tích cực như sự bình yên, biết ơn và hài lòng. Thực tế cho thấy, nhiều người thành công không phải vì họ không có cảm xúc tiêu cực, mà vì họ biết cách quản lí cảm xúc của mình.
Không chỉ vậy, việc lắng nghe cảm xúc còn giúp con người đối diện với khó khăn một cách tỉnh táo. Cảm xúc có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyết định của mỗi người. Nếu không hiểu rõ bản thân, ta dễ bị chi phối bởi lo âu, sợ hãi và đưa ra những lựa chọn thiếu sáng suốt. Ngược lại, khi biết lắng nghe cảm xúc, ta có thể bình tĩnh phân tích tình huống, từ đó hành động hợp lí hơn. Chẳng hạn, một học sinh trước kì thi quan trọng nếu nhận ra mình đang lo lắng, em có thể tìm cách ôn tập, nghỉ ngơi hợp lí thay vì hoảng loạn. Chính sự thấu hiểu bản thân sẽ giúp con người vững vàng hơn trước thử thách.
Tuy nhiên, trong thực tế, không phải ai cũng biết lắng nghe cảm xúc của mình. Nhiều người có xu hướng né tránh những cảm xúc tiêu cực vì sợ phải đối diện với chúng. Một số khác lại để cảm xúc chi phối hoàn toàn hành động, dẫn đến những quyết định bốc đồng. Vì vậy, cần có những phương pháp phù hợp để rèn luyện khả năng này. Mỗi người nên dành thời gian suy ngẫm về bản thân, có thể viết nhật kí để ghi lại cảm xúc. Bên cạnh đó, các hoạt động như thiền, yoga cũng giúp tăng khả năng tự nhận thức. Khi cần thiết, việc tìm đến sự hỗ trợ từ chuyên gia tâm lí cũng là một lựa chọn tích cực. Tuy nhiên, cần hiểu rằng lắng nghe cảm xúc không đồng nghĩa với việc nuông chiều chúng; điều quan trọng là biết cân bằng giữa cảm xúc và lí trí.
Tóm lại, lắng nghe để thấu hiểu cảm xúc của chính mình là một kĩ năng quan trọng giúp con người sống sâu sắc và trưởng thành hơn. Khi biết lắng nghe bản thân, ta không chỉ làm chủ cuộc sống của mình mà còn xây dựng được một tâm hồn bình an, vững vàng trước mọi biến động.
Đề thi học kì 2 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 10
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau:
Tóm lược: Truyện kể về Lữ, một chiến sĩ thông tin vô tuyến điện, bị thương và rơi xuống khe sâu sau trận chiến. Khi tỉnh lại, anh hoang mang, mất cảm giác về thời gian và không gian, nhưng rồi ý chí sống sót trỗi dậy. Anh kiểm tra chiếc đài vẫn hoạt động tốt, dù bản thân kiệt sức và đau đớn.
Từ lúc đó Lữ chẳng còn biết gì hết. Anh ngất đi gần hai tiếng đồng hồ. Trên mặt đất địch đã rút hết bằng trực thăng. Lữ cựa quậy được. Anh hồi tỉnh lại dần dần. Từ dưới đáy cái khe sâu hun hút tối mù mịt, Lữ nghe bên tai có tiếng kêu “vo vo” như đàn ong đang rời tổ, có lúc lại nghe “tuýt tuýt” như có người nào đang đánh tín hiệu ngay trên đầu mình, có lúc lại nghe như có tiếng người nói, có lúc nghe như tiếng chim. Anh đã mất hết cảm giác về thời gian và không gian, cả cái cảm giác rõ rệt về sự tồn tại của bản thân mình nữa. “Mình chết rồi ư?”. Anh chợt nhận ra, mình vẫn còn sống bắt đầu từ cái ý nghĩ ấy. Mình chết thế nào được! Không có lý một thằng bao giờ cũng yêu đời và mang bao nhiêu hoài bão như mình lại có thể chết giữa một mùa xuân mới bắt đầu hai mươi tuổi? Anh chợt nhớ một lần ở nhà anh nằm mê thấy mình chết, giữa cõi chết, giữa cái chốn “âm ty” rất xa lạ ấy anh đạp vỡ một cái phích nước sôi để trên chiếc bàn kê cuối giường ngủ.
(...) Tất cả những ý nghĩ đến với anh, những hồi ức gia đình xa xôi đó xác định là anh vẫn còn sống. Lữ mừng đến muốn trào nước mắt khi anh nhận ra cái vật đang đè trĩu ngay trên ngực mình vẫn là chiếc đài. Bây giờ là mấy giờ? Ban ngày hay ban đêm? Lữ cố nhấc thử bàn tay đặt giữa cái núm đèn báo. Ngón tay cứng như gỗ mãi mới ấn được. Chiếc đèn báo điện do Đàm chữa hộ vẫn còn tốt. Hình ảnh Đàm hiện ra trước mắt Lữ như một pho tượng tạc bằng đá. Trong vùng ánh sáng tròn tròn xanh xanh màu lá cây chỉ bằng miệng chén, Lữ quan sát chung quanh thấy những đám rêu trơn nhẫy, một tảng đá nằm dưới chân và hình như chỗ nào cũng có cây cối cành lá xanh tốt. Thế giới chung quanh hiện tại của anh đây! Anh mở đài. Nghe tiếng kêu rẹt rẹt, máy vẫn bắt được tốt nhưng không gian im lặng như tờ. Lại nghe tiếng kêu của con chim ban nãy, y như con chim đang kêu nhỏ nhẻ ở trong cái đầu nóng bừng của anh. Và anh thấy khát nước, khát đến cháy cổ! Anh cố nhấc mình lên để bò đi nhưng khắp mình mẩy chỗ nào cũng đau ê ẩm. Anh cố nhớ lại tất cả diễn biến chi tiết cuộc chiến đấu vừa qua thật rành rọt, bằng tất cả nghị lực của trí nhớ và xác định hoàn cảnh hiện tại của mình: mình mẩy thâm tím, có lẽ do cuộc chiến đấu giáp lá cà vừa qua hoặc va vào đá khi lăn xuống khe. Đài thì vẫn tốt, không hề hư hỏng. Trên mặt đất có lẽ địch đã cuốn đi hết vì không nghe tiếng súng. Cái bờ dốc cây cối тọc rất rậm rạp. Anh cố gắng leo lên mấy lần nhưng kiệt sức lại ngã xuống, mồ hôi vã ra. Chiếc dây da đeo máy thít chặt hai bên vai đau đến không thở được. Chính lúc đó anh càng nhận thức được tất cả nỗi sung sướng của một chiến sĩ thông tin vô tuyến điện. Thế là cuối cùng anh vẫn bảo vệ được máy. Anh vẫn bảo vệ được “tiếng nói” của anh.
(Trích tiểu thuyết Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu,
in trong Nguyễn Minh Châu tác phẩm chọn lọc, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009, tr.338-339)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện trong đoạn trích.
Câu 2. Theo đoạn trích, Lữ đã cảm nhận thế giới xung quanh ngay khi vừa tỉnh lại dưới đáy cái khe sâu bằng những giác quan nào?
Câu 3. Phân tích hiệu quả của việc sử dụng biện pháp liệt kê trong câu văn: Trong vùng ánh sáng tròn tròn xanh xanh màu lá cây chỉ bằng miệng chén, Lữ quan sát chung quanh thấy những đám rêu trơn nhẫy, một tảng đá nằm dưới chân và hình như chỗ nào cũng có cây cối cành lá xanh tốt.
Câu 4. Nhận xét về phẩm chất của nhân vật Lữ được thể hiện qua chi tiết: Lữ mừng đến muốn trào nước mắt khi anh nhận ra cái vật đang đè trĩu ngay trên ngực mình vẫn là chiếc đài.
Câu 5. Từ nội dung văn bản, anh/chị hãy trình bày suy nghĩ về tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống hiện đại (trình bày trong khoảng 5 - 7 dòng).
II. VIẾT
Câu 1.
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích diễn biến tâm lí của nhân vật Lữ trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2.
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về niềm hạnh phúc của tuổi trẻ khi được cống hiến cho đất nước.
----------- Hết ----------
Đáp án
ĐÁP ÁN
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về ngôi kể
- Căn cứ vào cách xưng hô, điểm nhìn trong đoạn trích.
Cách giải:
Ngôi kể của người kể chuyện trong đoạn trích: ngôi thứ ba.
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kỹ đoạn văn
- Xác định các từ ngữ chỉ giác quan
Cách giải:
Theo đoạn trích, Lữ đã cảm nhận thế giới xung quanh ngay khi vừa tỉnh lại dưới đáy cái khe sâu bằng những giác quan: thị giác, thính giác, xúc giác.
Câu 3:
Phương pháp:
- Xác định biện pháp liệt kê
- Phân tích hiệu quả nghệ thuật
Cách giải:
- Liệt kê: những đám rêu trơn nhẫy; một tảng đá nằm dưới chân; cây cối cành lá xanh tốt.
- Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu, giúp câu văn trở nên sống động, gợi hình, gợi cảm…
+ Làm nổi bật, gây ấn tượng về đặc điểm địa hình xung quanh nhân vật Lữ.
+ Thể hiện thái độ trân trọng, cảm phục của tác giả trước bản lĩnh của người chiến sĩ trong hoàn cảnh khó khăn.
Câu 4:
Phương pháp:
- Đặt chi tiết trong mạch truyện
- Phân tích ý nghĩa của chiếc đài với nhân vật và nhiệm vụ của người chiến sĩ thông tin.
Cách giải:
- Phẩm chất của nhân vật Lữ được thể hiện qua chi tiết Lữ mừng đến muốn trào nước mắt khi anh nhận ra cái vật đang đè trĩu ngay trên ngực mình vẫn là chiếc đài: ý thức trách nhiệm, tình yêu đối với công việc, tình yêu Tổ quốc.
- Nhận xét: Nhân vật Lữ hội tụ nhiều phẩm chất tốt đẹp, đại diện cho vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng kiên trung, bản lĩnh.
Câu 5:
Phương pháp:
- Đoạn trích tái hiện câu chuyện về nhân vật Lữ sau khi rơi xuống khe sâu, hồi tỉnh và niềm hạnh phúc khi bảo vệ được chiếc đài.
- Học sinh trình bày được suy nghĩ của bản thân về tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống hiện đại; có lí giải hợp lí, thuyết phục.
Gợi ý: Tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống hiện đại giúp con người nhận thức đúng về bổn phận, công việc của mình, sống chủ động, dám đương đầu với khó khăn, được yêu quý, tôn trọng…
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Qua nhân vật Lữ trong đoạn trích, người chiến sĩ dù bị thương nặng, rơi xuống khe sâu vẫn hạnh phúc vì bảo vệ được chiếc đài, em nhận thấy tinh thần trách nhiệm có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống hiện đại. Tinh thần trách nhiệm giúp mỗi người hiểu rõ bổn phận của mình, từ đó sống chủ động, dám đương đầu với khó khăn thay vì lảng tránh. Khi có trách nhiệm, chúng ta sẽ cố gắng hoàn thành tốt công việc được giao, nhờ đó nhận được sự yêu quý và tôn trọng từ mọi người. Vì vậy, mỗi học sinh cần rèn luyện tinh thần trách nhiệm ngay từ những việc nhỏ như học tập đầy đủ, giữ lời hứa và hoàn thành nhiệm vụ được giao.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
1. Phân tích được diễn biến tâm lí của nhân vật Lữ qua những bằng chứng dẫn từ văn bản đọc hiểu.
- Trạng thái hoang mang, mất phương hướng khi vừa tỉnh lại: nghe thấy những âm thanh mơ hồ, mất hết cảm giác về thời gian và không gian, cả cái cảm giác rõ rệt về sự tồn tại của bản thân mình nữa.
- Trạng thái hồi tỉnh, sự trỗi dậy khát vọng sống: dòng độc thoại nội tâm, ý nghĩ không chấp nhận cái chết, hồi ức gia đình giúp nhân vật vượt qua được nghịch cảnh.
- Trạng thái tỉnh táo, hạnh phúc: cố gắng xác định hoàn cảnh hiện tại, leo lên mấy lần nhưng kiệt sức lại ngã xuống, cảm giác sung sướng khi vẫn bảo vệ được máy.
2. Đánh giá.
Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật Lữ chân thực, tinh tế, thể hiện qua ngôn ngữ, hành động, tâm trạng… góp phần tái hiện chiều sâu vẻ đẹp tâm hồn nhân vật và tài năng của nhà văn.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Trong đoạn trích, diễn biến tâm lí của nhân vật Lữ được nhà văn Nguyễn Minh Châu khắc họa chân thực, tinh tế qua ba trạng thái nối tiếp. Trước hết, khi vừa tỉnh lại dưới đáy khe sâu, Lữ rơi vào trạng thái hoang mang, mất phương hướng. Anh nghe thấy những âm thanh mơ hồ như tiếng ong, tiếng chim, tiếng người lẫn lộn, mất hết cảm giác về thời gian, không gian và cả sự tồn tại của bản thân, thậm chí tự hỏi “Mình chết rồi ư?”. Sau đó, khát vọng sống trỗi dậy mạnh mẽ qua dòng độc thoại nội tâm đầy phản kháng: “Không có lý một thằng bao giờ cũng yêu đời… lại có thể chết…”. Hồi ức về gia đình, về giấc mơ đạp vỡ phích nước ở “âm ty” chính là cột mốc giúp anh khẳng định mình vẫn còn sống, vượt qua nghịch cảnh. Cuối cùng, Lữ trở nên tỉnh táo và hạnh phúc. Anh cố gắng xác định hoàn cảnh, kiểm tra đài, leo lên dốc nhiều lần dù kiệt sức rồi lại ngã xuống. Đỉnh điểm là cảm giác sung sướng đến muốn trào nước mắt khi nhận ra chiếc đài vẫn tốt, anh đã bảo vệ được “tiếng nói” của mình. Bằng ngôn ngữ, hành động và dòng nội tâm sống động, nhà văn đã khắc họa thành công vẻ đẹp tâm hồn kiên cường, giàu trách nhiệm của người chiến sĩ thông tin, đồng thời thể hiện tài năng miêu tả tâm lí xuất sắc.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghị luận.
2. Thân bài:
* Giải thích được vấn đề nghị luận.
- Hạnh phúc là trạng thái cảm xúc tích cực khi con người cảm thấy thỏa mãn về mặt tinh thần, đạt được mục tiêu hoặc ý nghĩa trong cuộc sống.
- Cống hiến là tự nguyện đem tài năng, sức lực, trí tuệ phục vụ lợi ích chung, vì lí tưởng cao đẹp.
-> Được cống hiến hết mình cho đất nước là cách tuổi trẻ tạo ra hạnh phúc thực sự, ý nghĩa.
* Phân tích, chứng minh được vấn đề nghị luận.
- Phân tích, chứng minh được vì sao tuổi trẻ cảm thấy hạnh phúc khi được cống hiến cho đất nước:
+ Tuổi trẻ là chủ nhân, tương lai của đất nước, có sức trẻ, trí tuệ, nhiệt huyết và khát vọng khẳng định bản thân nên hạnh phúc khi được cống hiến.
+ Cống hiến giúp tuổi trẻ góp phần vào sự vươn mình, phát triển của đất nước, tiếp nối truyền thống các thế hệ trước nên mang lại niềm tự hào và hạnh phúc bền vững.
- Phân tích, chứng minh được ý nghĩa của vấn đề nghị luận:
+ Cống hiến cho đất nước giúp người trẻ rèn luyện bản lĩnh, tự tin, trưởng thành, từ đó khẳng định được chính mình, đạt được thành công.
+ Cống hiến cho đất nước không chỉ tạo ra hạnh phúc cá nhân, mà còn lan tỏa lý tưởng sống đẹp trong cộng đồng.
* Mở rộng, nâng cao vấn đề nghị luận và rút ra bài học.
- Mở rộng, nâng cao vấn đề nghị luận: Cống hiến không đồng nghĩa với đánh đổi tất cả mà cần nhận thức đúng giới hạn của bản thân và có định hướng phát triển rõ ràng…
- Rút ra bài học: Để những cống hiến cho đất nước thực sự mang lại hạnh phúc, tuổi trẻ cần hiểu rõ nhiệm vụ cá nhân, luôn chủ động, sáng tạo, có ý thức trách nhiệm cao…trong học tập, lao động.
3. Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận.
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Trong đoạn trích “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu, nhân vật Lữ dù bị thương nặng, rơi xuống khe sâu nhưng lại vỡ òa hạnh phúc khi bảo vệ được chiếc đài, thứ được coi là “tiếng nói” của anh. Chi tiết ấy đã gợi lên một chân lý giản dị mà sâu sắc: tuổi trẻ thực sự hạnh phúc khi được cống hiến hết mình cho đất nước.
Trước hết, cần hiểu rõ những khái niệm cơ bản. Hạnh phúc là trạng thái cảm xúc tích cực khi con người cảm thấy thỏa mãn về mặt tinh thần, đạt được mục tiêu hoặc ý nghĩa trong cuộc sống. Cống hiến là tự nguyện đem tài năng, sức lực, trí tuệ phục vụ lợi ích chung, vì lí tưởng cao đẹp. Như vậy, được cống hiến hết mình cho đất nước chính là cách tuổi trẻ tạo ra hạnh phúc thực sự, bền vững và giàu ý nghĩa.
Vì sao tuổi trẻ lại cảm thấy hạnh phúc khi được cống hiến? Trước hết, tuổi trẻ là chủ nhân, là tương lai của đất nước. Họ có sức trẻ dồi dào, trí tuệ sáng tạo, nhiệt huyết sôi nổi và khát vọng khẳng định bản thân. Được cống hiến chính là cơ hội để họ chứng tỏ năng lực, thỏa mãn những hoài bão lớn lao. Hơn nữa, cống hiến giúp tuổi trẻ góp phần vào sự phát triển của đất nước, tiếp nối truyền thống vẻ vang của cha ông. Thực tế cho thấy, nhiều bạn trẻ đã tình nguyện lên vùng cao, đến những nơi khó khăn nhất để cống hiến. Hình ảnh những cô giáo trẻ như cô giáo Hà Ánh Phượng, người đã mang con chữ đến với học sinh vùng cao Phù Yên, Sơn La, hay những y bác sĩ trẻ trong đội hình thanh niên tình nguyện chống dịch Covid 19, họ đã tìm thấy niềm hạnh phúc đích thực khi được góp sức mình cho cộng đồng. Cảm giác được làm chủ, được góp một phần công sức vào sự vươn mình của dân tộc mang lại niềm tự hào và hạnh phúc vô cùng bền vững, khác hẳn những niềm vui tầm thường, nhất thời.
Không chỉ vậy, cống hiến còn mang lại những ý nghĩa sâu sắc đối với mỗi người trẻ. Khi dấn thân vào những công việc chung, họ phải đối mặt với khó khăn, thử thách, từ đó rèn luyện bản lĩnh, sự tự tin và trưởng thành. Những trải nghiệm quý giá ấy giúp họ khẳng định được chính mình, đạt được thành công trong cuộc sống. Hơn thế, tinh thần cống hiến còn lan tỏa lý tưởng sống đẹp trong cộng đồng, tạo nên một thế hệ trẻ giàu khát vọng, biết sống vì người khác, vì Tổ quốc.
Tuy nhiên, cống hiến không đồng nghĩa với việc đánh đổi tất cả. Mỗi người trẻ cần nhận thức đúng giới hạn của bản thân, có định hướng phát triển rõ ràng, cân bằng giữa trách nhiệm với đất nước và hạnh phúc cá nhân. Để những cống hiến thực sự mang lại hạnh phúc, tuổi trẻ cần hiểu rõ nhiệm vụ của mình, luôn chủ động, sáng tạo và có ý thức trách nhiệm cao trong học tập, lao động và cuộc sống hàng ngày.
Tóm lại, được cống hiến cho đất nước là niềm hạnh phúc lớn lao và chân chính của tuổi trẻ. Mỗi người trẻ hôm nay hãy sống hết mình với khát vọng, góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, bởi như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP12
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
