Đề thi học kì 2 Văn 10
Đề thi học kì 2 Văn 10 Chân trời sáng tạo - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
GIÓ LẠNH ĐẦU MÙA
Buổi sáng hôm nay, mùa đông đột nhiên đến, không báo cho biết trước. Vừa mới ngày hôm qua giời hãy còn nắng ấm và hanh, cái nắng về cuối tháng Mười làm nứt nẻ đất ruộng và làm giòn khô những chiếc lá rơi. Sơn và chị chơi cỏ gà ở ngoài cánh đồng còn thấy nóng bức, chảy mồ hôi.
Thế mà qua một đêm mưa rào, trời bỗng đổi ra gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến làm cho người ta tưởng đang ở mùa đông rét mướt. Sơn tung chăn tỉnh dậy, nhưng không bước xuống giường ngay như mọi khi, còn ngồi thu tay vào trong học, bên cạnh đứa em bé vẫn nắm tay ngủ kĩ. Chị Sơn và mẹ Sơn đã trở dậy, đang ngồi quạt lò để pha nước chè uống. Sơn nhận thấy mọi người đã mặc áo rét cả rồi.
Nhìn ra ngoài sân, Sơn thấy đất khô trắng, luôn luôn cơn gió vi vu làm bốc lên những màn bụi nhỏ, thổi lăn những cái lá khô lạo xạo. Trời không u ám toàn một màu trắng đục. Những cây lan trong chậu, lá rung động và hình như sắt lại vì rét.
Sơn cũng thấy lạnh, vội vơ lấy cái chăn trùm lên đầu rồi cất tiếng gọi chị. Mẹ Sơn nghe thấy, đặt chén nước chè xuống, bảo chị Lan:
- Con vào buồng lấy thúng áo ra mẹ mặc co em đi
Rồi quay lại bảo Sơn:
- Con sang đây mà ngồi cho ấm. Bước khéo để cho em ngủ
Sơn kéo chăn lên đắp cho em, rồi co ro đứng dậy sang phản bên này, ngồi xếp bằng bên khay nước. Mẹ Sơn rót cho một chén. Sơn cầm lấy chén chè nóng ấp vào mặt, vào má cho ấm, rồi để mắt vào miệng chén cho hơi bốc lên. Bà Sơn thường vẫn bảo làm thế chóng tỉnh mắt.
Người vú già sù sù cái áo bông cánh rách, xách siêu nước từ dưới nhà lên, vừa suýt xoa vừa nói:
- Rét quá! Múc nước cóng cả tay
Vú giơ tay hơ trên hỏa lò. Mẹ Sơn hỏi:
- Năm nay rét sớm hơn mọi năm vú nhỉ?
Người vú già ra vẻ nhớ lại, đáp:
- Cũng chả bằng cái năm mợ đi cân gạo bên sông. Gớm, mới rét làm sao! Sáng tôi dậy, bà sai đi chợ, cứ run lên cầm cập.
Sơn cũng nhớ cái rét năm ấy rõ rệt lắm, như mới đây thôi. Buổi sớm hôm ấy, mẹ Sơn cũng ngồi uống nước chè như sáng hôm nay và cũng lấy áo rét ra mặc.
Chị Lan tự trong buồng đi ra, khệ nệ ôm cái thùng quần áo đặt lên đầu phản. Mẹ Sơn lật cái vỉ buồm, lục đống quần áo rét. Sơn nhận ra cũng như cái áo dạ khâu chỉ đỏ. Sơn cầm giơ những chiếc áo lên, thấy mát lạnh cả tay. Từ bộ quần áo thoảng ra hơi mốc của vải gấp lâu trong hòm, làm Sơn nhớ lại những buổi đầu mùa rét từ bao giờ, lâu lắm, ngày Sơn còn nhỏ.
Mẹ Sơn giơ lên một cái áo bông cánh đã cũ nhưng còn lành lặn, nói:
- Đây là áo của cô Duyên đây.
Duyên là đứa em gái bé của Sơn, chết từ năm lên bốn tuổi. Mẹ Sơn nhắc đến làm Sơn nhớ em, cảm động và thương em quá. Vú già là người đã nuôi Duyên từ lúc mới đẻ, với lấy cái áo lật đi lật lại ngắm nghía, tay mân mê các đường chỉ:
- Giá bây giờ em nó có còn cũng chả mặc được
Mẹ Sơn yên lặng không nói gì. Nhưng đến lúc vời Sơn lại gần để mặc áo, Sơn thấy mẹ hơi rơm rớm nước mắt.
Sơn đã mặc xong áo ấm áp: cả cái áo dạ chỉ đỏ lẫn áo vệ sinh, ngoài lại mặc phủ cái áo vải thâm dài. Sơn đứng trên giường trước mặt mẹ, đã quay đi quay lại ba bốn lần để mẹ Sơn ngắm áo. Sau cùng, mẹ Sơn vuốt các tà áo cho phẳng phiu rồi đẩy Sơn ra, bảo:
- Thôi, con đi chơi.
Sơn xúng xính rủ chị ra chợ chơi. Nhà Sơn ở quay lưng vào chợ, cạnh một dãy nhà lá của những người nghèo khổ mà Sơn quen biết lũ trẻ con các gia đình ấy chắc bây giờ đương đợi mình ở cuối chợ để đánh khăng, đánh đáo.
Không phải ngày phiên nên chợ vắng không. Mấy cái quán chơ vơ lộng gió, rác bẩn rải rác lẫn với lá rụng của cây đề. Gió thổi mạnh làm Sơn thấy lạnh và cay mắt. Nhưng chân trời trong hơn mọi hôm, những làng ở xa, Sơn thấy rõ như gần. Mặt đất rắn lại và nứt nẻ những đường nho nhỏ, kêu vang lên tanh tách dưới nhịp guốc của hai chị em.
Đến cuối chợ đã thấy lũ trẻ đang quây quần chơi nghịch. Chúng nó thấy chị em Sơn đến đều lộ vẻ vui mừng, nhưng chúng vẫn đứng xa, không dám vồ vập. Chúng như biết cái phận nghèo hèn của chúng vậy, tuy Sơn và chị vẫn thân mật chơi đùa với, chứ không kiêu kỳ và khinh khỉnh như các em họ của Sơn. Sơn nhận thấy chúng ăn mặc không khác ngày thường, vẫn những bộ quần áo nâu bạc đã rách vá nhiều chỗ. Nhưng hôm nay, môi chúng nó tím lại và qua những chỗ áo rách, da thịt thâm đi. Mỗi cơn gió đến, chúng nó lại run lên, hàm răng đập vào nhau.
Thằng Xuân đến mó vào chiếc áo của Sơn, nó chưa thấy cái áo như thế bao giờ. Sơn lật vạt áo thâm, chìa áo vệ sinh và áo dạ cho cả bọn xem. Một đứa tặc lưỡi nói:
- Cái áo này mặc thì nóng lắm. Chắc mua phải đến một đồng bạc chứ không ít chúng mày nhỉ?
Đứa khác nói:
- Ngày trước thầy tao cũng có một cái áo như thế, về sau bán cho ông lý mất
Con Túc ngây ngô giương mắt lên hỏi Sơn:
- Cái này cậu mua tận Hà Nội phải không?
Sơn ưỡn ngực đáp:
- Ở Hà Nội, chứ ở đây làm gì có. Mẹ tôi còn hẹn mua cho tôi một cái áo len nhiều tiền hơn nữa kia.
Chị Lan bỗng giơ tay vẫy con bé, từ nãy vẫn đứng dựa vào cột quán, gọi:
- Sao không lại đây, Hiên? Lại đây chơi với tôi.
Hiên là đứa con gái bên hàng xóm, bạn chơi với Lan và Duyên. Sơn thấy chị gọi nó không lại, bước tới gần, trông thấy con bé co ro đứng bên cột quán, chỉ có manh áo rách tả tơi, hở cả lưng và tay. Chị Lan cũng đến hỏi:
- Sao áo mày rách thế, Hiên? Áo lành đâu không mặc?
Con bé bịu rịu nói:
- Hết áo rồi, chỉ còn cái này
- Sao không bảo u mày may cho?
Sơn bấy giờ mới chợt nhớ ra là mẹ cái Hiên rất nghèo, chỉ có nghề đi mò cua bắt ốc thì còn lấy đâu ra tiền mà sắm áo cho con nữa. Sơn thấy động lòng thương cũng như ban sáng Sơn đã nhớ thương đến em Duyên ngày trước vẫn chơi cùng Hiên, đùa nghịch ở vườn nhà. Một ý nghĩ tốt bỗng thoáng qua trong trí, Sơn lại gần chị thì thầm:
- Hay là chúng ta đem cho nó cái áo bông cũ, chị ạ.
- Ừ, phải đấy, để chị về lấy.
Với lòng ngây thơ của tuổi trẻ, chị Lam hăm hở chạy về lấy áo. Sơn đứng lặng yên đợi, trong lòng tự nhiên thấy ấm áp vui vui.
Nhưng cái vui của Sơn không được bao lâu. Bữa cơm về tới nhà, Sơn không thấy mẹ đâu cả, hỏi vú già:
- Mợ tôi đâu hả vú?
- Chị Lan và cậu cứ ăn cơm trước đi. Mợ còn đi ăn cỗ đến trưa mới về.
Rồi vú già nhìn rõ vào mặt Sơn, hỏi:
- Có phải cậu đem cho con Hiên cái áo bông cũ phải không?
Sơn ngạc nhiên đáp:
- Phải. Nhưng sao vú biết?
- Con Sinh nó nói với tôi đấy. (Sinh là đứa em họ của Sơn, vẫn hay nói hỗn với vú già nên vú ấy ghét). Nó lại còn bảo hễ mẹ về nó sẽ sang mách mợ cho cậu phải đòn.
Sơn lo quá, sắp ăn, bỏ đũa đứng dậy, van:
- Thế bây giờ phải làm thế nào hả vú? Mợ tôi biết thì chết.
- Ai bảo cậu dại dột đem cho nó áo? Bây giờ cậu sang bảo cái Hiên trả lại thì không việc gì.
Sơn vội vàng đi ra chợ tìm Hiên nhưng không thấy con bé ở đó, đến nhà cũng không thấy ai, mẹ nó cũng không có nhà. Hai chị em lo sợ, đi ra cánh đồng tìm cũng không gặp. Đến buổi chiều, Sơn và chị chưa đòi được áo. Lan trách em:
- Sao em lại nghĩ đem cho nó cái áo ấy, có phải bây giờ mợ mắng chết không.
- Ai bảo chị về lấy? Nếu chị không về lấy thì em biết đâu?
Chị Lan đấu dịu:
- Thôi, bây giờ phải về nhà vậy chứ biết làm thế nào.
- Nhưng mà em sợ lắm.
Chị Lan thở dài, nắm chặt lấy tay em, an ủi:
- Đằng nào cũng phải về cơ mà. May ra có lẽ mợ không mắng đâu.
Hai chị em lo lắng dắt nhau lẻn về nhà. Đến cửa, Sơn nghe thấy riếng mẹ nói ở trong với tiếng một người đàn bà khác nữa, nghe quen quen. Lan dắt tay Sơn khép nép bước vào; hai chị em ngạc nhiên đứng sững ra khi nghe thấy mẹ con Hiên đang ngồi ở cái ghế con trên đất trước mặt mẹ, tay cầm cái áo bông cũ.
Thấy hai con về, mẹ Sơn ngửng lên nhìn rồi nghiêm nghị bảo:
- Kìa, hai cô cậu đã về kia. Thế áo bông của tôi đâu mà tự tiện đem cho đấy?
Sơn sợ hãi, cúi đầu lặng im, nép vào sau lưng chị. Bác Hiên vừa cười vừa nói:
- Tôi về thấy cháu nó mặc cái áo bông tôi hỏi ngay. Nó bảo của cậu Sơn cho nó. Tôi biết cậu ở đây đùa, nên tôi phải vội vàng đem lại đây trả mợ. Thôi, bây giờ, xin phép mợ tôi về.
Mẹ Sơn hỏi:
- Con Hiên nó không có áo à?
- Bẩm nhà cháu độ này khổ lắm, chẳng để dành ra được đồng nào may áo cho con cả. Thành thử vẫn cái áo từ năm ngoái nó mặc mãi.
Mẹ Sơn với cái âu đồng lấy tiền đưa cho bác Hiên:
- Đây, tôi cho mượn năm hào cầm về mà may áo cho con.
Khi bác Hiên bước ra khỏi cửa, mẹ Sơn vẫy hai con lại gần, rồi âu yếm ôm vào lòng mà bảo:
- Hai con tôi quý quá, dám tự do lấy áo đem cho người ta mà không sợ mẹ mắng ư?
(Trích Gió lạnh đầu mùa, Thạch Lam, NXB Hội nhà văn, 2015)
Câu 1: Chọn đáp án thể hiện đầy đủ nhất cốt truyện của tác phẩm Gió lạnh đầu mùa?
A. Sơn tỉnh dậy, lấy áo mặc, ra chợ chơi gặp lũ trẻ con nhà nghèo, thương bạn, cho bạn áo. Đến khi về đến nhà, Sơn sợ mẹ mắng.
B. Sơn nhận thấy sự thay đổi của thời tiết và những sinh hoạt gia đình. Bằng lòng thương cảm đầy trắc ẩn, Sơn cho bạn cái áo cũ. Về nhà, Sơn sợ mẹ mắng.
C. Sơn nhận ra sự thay đổi của thời tiết và những sinh hoạt gia đình. Gặp lũ bạn con nhà nghèo không có áo mặc, Sơn động lòng trắc ẩn mang áo cho bạn. Về đến nhà, Sơn lo sợ mẹ mắng nhưng hai bà mẹ đã rất chia sẻ và thông cảm cho nhau. Mẹ âu yếm trước hành động của hai chị em Sơn.
D. Sơn cho bạn áo, về nhà sợ mẹ mắng.
Câu 2: Tình huống của câu chuyện là gì?
A. Sơn nhận thấy sự thay đổi của thời tiết.
B. Sơn và mọi người trong nhà nhớ đến em Duyên.
C. Chị em Sơn ra xóm chợ chơi với mấy đứa trẻ con nhà nghèo
D. Cho áo và trả áo
Câu 3: Tìm những tính từ có trong câu văn Vừa mới ngày hôm qua giời hãy còn nắng ấm và hanh, cái nắng về cuối tháng Mười làm nứt nẻ đất ruộng và làm giòn khô những chiếc lá rơi
A. Giời, nắng
B. Đồng ruộng, những chiếc lá
C. Ấm và hanh, nứt nẻ, giòn khô
D. Ấm và hanh, nứt nẻ, giòn khô, rơi.
Câu 4: Câu văn … đất khô trắng, luôn luôn cơn gió vi vu làm bốc lên những màn bụi nhỏ, thổi lăn những cái lá khô lạo xạo. Trời không u ám toàn một màu trắng đục. Những cây lan trong chậu, lá rung động và hình như lại vì rét cho thấy thời tiết mùa đông như thế nào?
A. Lạnh và ẩm ướt
B. Nóng và khô
C. Rét, hanh khô
D. Nồm và khô
Câu 5: Từ sắt lại có nghĩa là gì?
A. Màu nâu đồng như sắt
B. Trở nên có vẻ cứng rắn và tựa như đanh lại
C. Khô lại
D. Cứng hơn
Câu 6: Truyện kể theo ngôi kể nào và đặt điểm nhìn vào nhân vật nào?
A. Ngôi thứ nhất, nhân vật Sơn
B. Ngôi thứ nhất, nhân vật vú già
C. Ngôi thứ ba, nhân vật Hiên
D. Ngôi thứ ba, nhân vật Sơn
Câu 7: Tại sao Sơn lại mang cho Hiên áo?
A. Vì thương Hiên
B. Vì Sơn muốn làm được việc tốt
C. Vì Sơn muốn được mẹ khen
D. Sơn thấy động lòng thương đến em Duyên ngày trước vẫn chơi cùng Hiên, đùa nghịch ở vườn nhà
Câu 8: Biện pháp nghệ thuật nổi bật nào được sử dụng trong truyện ngắn Gió lạnh đầu mùa?
A. Sự kết hợp miêu tả và biểu cảm tinh tế
B. Thủ pháp đối lập
C. Nghệ thuật miêu tả tâm lý đặc sắc
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 9 (1.0đ): Không gian nghệ thuật trong truyện được xây dựng như thế nào?
Câu 10 (1.0đ): Em học được gì từ hành động cho áo của Sơn?
II. VIẾT (4đ)
Lựa chọn một trong hai đề sau:
Đề 1: Suy nghĩ của anh/ chị về vai trò của lòng nhân ái trong cuộc sống hiện nay.
Đề 2: Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề về lòng nhân ái giống như “Gió lạnh đầu mùa” (Thạch Lam)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án

|
Câu 1: Chọn đáp án thể hiện đầy đủ nhất cốt truyện của tác phẩm Gió lạnh đầu mùa? A. Sơn tỉnh dậy, lấy áo mặc, ra chợ chơi gặp lũ trẻ con nhà nghèo, thương bạn, cho bạn áo. Đến khi về đến nhà, Sơn sợ mẹ mắng. B. Sơn nhận thấy sự thay đổi của thời tiết và những sinh hoạt gia đình. Bằng lòng thương cảm đầy trắc ẩn, Sơn cho bạn cái áo cũ. Về nhà, Sơn sợ mẹ mắng. C. Sơn nhận ra sự thay đổi của thời tiết và những sinh hoạt gia đình. Gặp lũ bạn con nhà nghèo không có áo mặc, Sơn động lòng trắc ẩn mang áo cho bạn. Về đến nhà, Sơn lo sợ mẹ mắng nhưng hai bà mẹ đã rất chia sẻ và thông cảm cho nhau. Mẹ âu yếm trước hành động của hai chị em Sơn. D. Sơn cho bạn áo, về nhà sợ mẹ mắng. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Cốt truyện của Gió lạnh đầu mùa: Sơn nhận ra sự thay đổi của thời tiết và những sinh hoạt gia đình. Gặp lũ bạn con nhà nghèo không có áo mặc, Sơn động lòng trắc ẩn mang áo cho bạn. Về đến nhà, Sơn lo sợ mẹ mắng nhưng hai bà mẹ đã rất chia sẻ và thông cảm cho nhau. Mẹ âu yếm trước hành động của hai chị em Sơn.
→ Đáp án C
|
Câu 2: Tình huống của câu chuyện là gì? A. Sơn nhận thấy sự thay đổi của thời tiết. B. Sơn và mọi người trong nhà nhớ đến em Duyên. C. Chị em Sơn ra xóm chợ chơi với mấy đứa trẻ con nhà nghèo D. Cho áo và trả áo |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và suy ra tình huống truyện (tình huống chứa đựng những mâu thuẫn)
Lời giải chi tiết:
Tình huống truyện: Nói về việc cho áo của chị em Sơn và trả áo
→ Đáp án D
|
Câu 3: Tìm những tính từ có trong câu văn Vừa mới ngày hôm qua giời hãy còn nắng ấm và hanh, cái nắng về cuối tháng Mười làm nứt nẻ đất ruộng và làm giòn khô những chiếc lá rơi A. Giời, nắng B. Đồng ruộng, những chiếc lá C. Ấm và hanh, nứt nẻ, giòn khô D. Ấm và hanh, nứt nẻ, giòn khô, rơi. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu văn và chỉ ra tính từ
Lời giải chi tiết:
Các tính từ trong câu văn: Ấm và hanh, nứt nẻ, giòn khô
→ Đáp án C
|
Câu 4: Câu văn … đất khô trắng, luôn luôn cơn gió vi vu làm bốc lên những màn bụi nhỏ, thổi lăn những cái lá khô lạo xạo. Trời không u ám toàn một màu trắng đục. Những cây lan trong chậu, lá rung động và hình như lại vì rét cho thấy thời tiết mùa đông như thế nào? A. Lạnh và ẩm ướt B. Nóng và khô C. Rét, hanh khô D. Nồm và khô |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu văn, chú ý những chi tiết miêu tả mùa đông
Lời giải chi tiết:
Câu văn cho thấy thời tiết mùa đông rất rét, hanh khô
→ Đáp án C
|
Câu 5: Từ sắt lại có nghĩa là gì? A. Màu nâu đồng như sắt B. Trở nên có vẻ cứng rắn và tựa như đanh lại C. Khô lại D. Cứng hơn |
Phương pháp giải:
Dựa vào từ điển và văn bản
Lời giải chi tiết:
Sắt lại: Trở nên có vẻ cứng rắn và tựa như đanh lại
→ Đáp án B
|
Câu 6: Truyện kể theo ngôi kể nào và đặt điểm nhìn vào nhân vật nào? A. Ngôi thứ nhất, nhân vật Sơn B. Ngôi thứ nhất, nhân vật vú già C. Ngôi thứ ba, nhân vật Hiên D. Ngôi thứ ba, nhân vật Sơn |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, nêu kết luận về ngôi kể và điểm nhìn
Lời giải chi tiết:
Truyện kể theo ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mình) và qua điểm nhìn của nhân vật Sơn
→ Đáp án D
|
Câu 7: Tại sao Sơn lại mang cho Hiên áo? A. Vì thương Hiên B. Vì Sơn muốn làm được việc tốt C. Vì Sơn muốn được mẹ khen D. Sơn thấy động lòng thương đến em Duyên ngày trước vẫn chơi cùng Hiên, đùa nghịch ở vườn nhà |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và giải thích lý do
Lời giải chi tiết:
Sơn mang cho Hiên áo vì Sơn thấy động lòng thương đến em Duyên ngày trước vẫn chơi cùng Hiên, đùa nghịch ở vườn nhà
→ Đáp án D
|
Câu 8: Biện pháp nghệ thuật nổi bật nào được sử dụng trong truyện ngắn Gió lạnh đầu mùa? A. Sự kết hợp miêu tả và biểu cảm tinh tế B. Thủ pháp đối lập C. Nghệ thuật miêu tả tâm lý đặc sắc D. Tất cả các đáp án trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, dựa vào kiến thức về biện pháp nghệ thuật để đưa ra câu trả lời
Lời giải chi tiết:
Biện pháp nghệ thuật nổi bật:
+ Sự kết hợp miêu tả và biểu cảm tinh tế
+ Thủ pháp đối lập
+ Nghệ thuật miêu tả tâm lý đặc sắc
→ Đây cũng chính là phong cách sáng tác đặc trưng của Thạch Lam
→ Đáp án D
Câu 9 (1.0đ): Không gian nghệ thuật trong truyện được xây dựng như thế nào?
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản và chú ý không gian nghệ thuật trong truyện
Lời giải chi tiết
Gió lạnh đầu mùa là một truyện ngắn xây dựng được không gian rất riêng.
Câu chuyện có một mã nền riêng (Mã nền là một thế giới được tạo nên từ một cặp đối lập cơ bản) đó là “lạnh- ấm”. Chính cặp đối lập này đã thiết lập toàn bộ mô hình cấu trúc không gian của truyện. Ở đó có sự “lạnh- ấm” của thời tiết, có sự đối lập rõ rệt giữa thời tiết của ngày hôm qua với ngày hôm nay.
Đó cũng là sự đối lập hoàn cảnh giàu – nghèo giữa chị em Sơn với những đứa trẻ nghèo xóm chợ.
Sự đối lập lớn nhất trong truyện chính là giữa cái “lạnh” của thời tiết với cái “ấm” của lòng người – sự đối lập giữa trong và ngoài.
Cũng trên cái nền “lạnh -ấm” ấy còn một cặp đối lập nữa đó là “già –trẻ”. Thế hệ trẻ là Sơn, Lan, Hiên, những đứa trẻ nghèo xóm chợ đã gạt bỏ sự khác biệt về hoàn cảnh để đến gần nhau hơn, xích lại gần nhau trong tình người ấm áp. Còn người lớn thì lại khác, mẹ Hiên vẫn luôn ý thức được thân phận và hoàn cảnh của mình nên đã tự trọng đem trả lại áo cho mẹ Sơn. Người lớn không dễ gì xóa nhòa được khoảng cách “giàu- nghèo”, không dễ gì quên được thân phận của mình.
Câu 10 (1.0đ): Em học được gì từ hành động cho áo của Sơn?
Phương pháp
Chú ý hành động cho áo của nhân vật Sơn
Rút ra bài học cho bản thân
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
- Biết rung cảm trước những hoàn cảnh khó khăn xung quanh mình
- Biết giúp đỡ, sẻ chia với những người có hoàn cảnh khó khăn
- Không kiêu kì, khinh bạc khi mình có điều kiện vật chất hơn người khác…
II. VIẾT (4đ)
Lựa chọn một trong hai đề sau:
Đề 1: Suy nghĩ của anh/ chị về vai trò của lòng nhân ái trong cuộc sống hiện nay.
Đề 2: Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề về lòng nhân ái giống như “Gió lạnh đầu mùa” (Thạch Lam)
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
Đề 1: Vai trò của lòng nhân ái
1. Yêu cầu chung: HS kết hợp được kiến thức và kĩ năng để viết bài văn nghị luận xã hội. Bài viết phải có bố cục 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài) đầy đủ rõ ràng; đúng kiểu bài nghị luận; diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
2. Yêu cầu cụ thể:
a.Mở bài: Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Vai trò của lòng nhân ái
b. Thân bài
- Giải thích: Lòng nhân ái là tình yêu thương giữa con người với con người, là sự đồng cảm, sẻ chia, thấu hiểu và giúp đỡ người khác khi người ấy gặp khó khăn, hoạn nạn. Lòng nhân ái hiểu rộng ra còn có nghĩa là tinh thần đoàn kết.
- Vai trò của lòng nhân ái: Lòng nhân ái có vai trò gì trong cuộc sống?
+ Giúp con người dễ dàng vượt qua mọi khó khăn trở ngại
+ Giúp con người không cô đơn, sát lại gần nhau hơn
+ Thể hiện lối sống tử tế, nhân văn của mỗi con người
+ Có sức mạnh cảm hóa con người, giúp mọi người tin yêu lẫn nhau
- Mở rộng vấn đề:
+ Phê phán những trường hợp thờ ơ vô cảm trước những nỗi đau khổ của con người
+ Phê phán những trường hợp lợi dụng lòng nhân ái hoặc lợi dụng hoàn cảnh khổ đau của người khác để trục lợi bản thân
- Liên hệ bản thân
+ Có những hành động thiết thực thể hiện lòng nhân ái: biết giúp đỡ mọi người xung quanh, biết yêu thương chia sẻ với những hoàn cảnh khó khăn
c. Kết bài: Khái quát lại vấn đề nghị luận và liên hệ.
Đề 2:
Một số tác phẩm viết về lòng nhân ái như: Đời thừa (Nam Cao), Chiếc lá cuối cùng (O. Henry), Hai đứa trẻ ( Thạch Lam)
a. Mở bài:
- Giới thiệu chủ đề lòng nhân ái và tác giả của tác phẩm cần phân tích
- Nêu nội dung khái quát cần phân tích và đánh giá: những đặc sắc về hình thức nghệ thuật của truyện và những đánh giá về nội dung, chủ đề của tác phẩm
b. Thân bài:
- Xác định đề tài, chủ đề của truyện: đề tài tình yêu thương, chủ đề lòng nhân ái
- Phân tích, đánh giá chủ đề của truyện được thể hiện trong những sự kiện và tình tiết nào đáng chú ý?
- Đánh giá những đặc sắc về hình thức nghệ thuật của truyện
c. Kết bài:
- Khẳng định những giá trị của chủ đề lòng nhân ái và đặc sắc của tác phẩm
- Bài học nhận thức và hành động để trở thành một người tử tế
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Chân trời sáng tạo - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
MỘT BỮA NO
Bà lão ấy hờ con suốt một đêm. Bao giờ cũng vậy cứ hết đường đất làm ăn là bà lại hờ con. Làm như chính tự con bà nên bây giờ bà phải đói. Mà cũng đúng như thế thật. Chồng bà chết từ khi nó mới lọt lòng ra. Bà thắt lưng buộc bụng, nuôi nó từ tấm tấm, ti tỉ giở đi. Cũng mong để khi mình già, tuổi yếu mà nhờ. Thế mà chưa cho mẹ nhờ được một li, nó đã lăn cổ ra nó chết. Công bà thành công toi.
[...]
Nuôi cháu bảy năm trời, mãi cho đến khi nó đã mười hai, bà cho nó đi làm con nuôi người ta lấy mười đồng. Thì cải mả cho bố nó đã mất tám đồng rồi. Còn hai đồng bà dùng làm vốn đi buôn, kiếm mỗi ngày dăm ba xu lãi nuôi thân. Có chạy xạc cả gấu váy, hết chợ gần đến chợ xa, thì mới kiếm nổi mỗi ngày mấy đồng xu. Sung sướng gì đâu! Ấy thế mà ông trời ông ấy cũng chưa chịu để yên. Năm ngoái đấy, ông ấy còn bắt bà ốm một trận thập tử nhất sinh. Có đồng nào hết sạch. Rồi chết thì không chết nhưng bà lại bị mòn thêm rất nhiều sức lực. Chân tay bà đã bắt đầu run rẩy. Người bà thỉnh thoảng tự nhiên bủn rủn. Đang ngồi mà đứng lên, hai mắt cũng hoa ra. Đêm nằm, xương cốt đau như giần. Đi đã thấy mỏi chân. Như vậy thì còn buôn bán làm sao được? Nghĩ đến nắng gió bà đã sợ.
Tuy vậy mà bà vẫn phải ăn. Chao ôi! Nếu người ta không phải ăn thì đời sẽ giản dị biết bao? Thức ăn không bao giờ tự nhiên chạy vào mồm. Có làm thì mới có. Nhưng bây giờ yếu đuối rồi, bà không còn kham được những việc nặng nề, cũng không còn chịu đựng được nắng sương. Bà phải kiếm việc nhà, việc ở trong nhà. Ở làng này, chỉ có việc bế em, như một con bé mười một, mười hai tuổi. Mới đầu còn có nhiều người muốn thuê. Ai cũng nghĩ rằng: những bà già tính cẩn thận và chẳng bao nhiêu, bữa lưng bữa vực thế nào cũng đủ no; mà đã không no các cụ cũng chỉ lặng im, không ấm ức như những đồ trẻ nhãi, hơi một tí cũng đem chuyện nhà chủ đi kể với đủ mọi người hàng xóm... Nhưng thuê bà được ít lâu, tự nhiên người ta chán. Người ta nhận ra rằng: thuê một đứa trẻ con lại có phần thích hơn. Trẻ con cạo trọc đầu. Những lúc tức lên, có muốn cốc nó dăm ba cái thì cứ cốc. Chẳng ai kêu: ác! Nhưng bà lão đầu đã bạc. Người ta tức bà đến gần sặc tiết ra đằng mũi cũng không thể giúi đầu bà xuống mà cốc. Cũng không thể chửi. Mắng một câu, đã đủ mang tiếng là con người tệ. Mà bà thì lẩm cẩm, chậm chạp, lì rì. Bà rờ như thể xẩm rờ. Tay bà, đưa bát cơm lên miệng cũng run run. Cơm vương vãi. Tương mắm rớt ra mâm, rớt xuống yếm bà, rớt cả vào đầu tóc, mặt mũi, quần áo đứa bé nằm ở lòng bà. Rồi hơi trái gió, trở trời, bà lại đau mình. Suốt đêm bà thở dài với rên rẩm kêu trời. Có khi bà lại khóc lóc, hờ con. Nghe rợn cả người. Như vậy thì chịu làm sao được? Ấy thế là người ta lại phải tìm cớ tổng bà đi.
[…] Hơn ba tháng, bà lão chỉ ăn toàn bánh đúc. Mới đầu, còn được ngày ba tấm. Sau cùng thì một tấm cũng không có nữa. Tiền hết cả. Mỗi sáng, bà ra chợ xin người này một miếng, người kia một miếng. Ai lấy đâu mà ngày nào cũng cho như vậy? Lòng thương cũng có hạn. Mấy hôm nay bà nhịn đói. Bởi thế bà lại đem con ra hờ. Bà hờ thê thảm lắm. Bà hờ suốt đêm. Bà khóc đến gần mòn hết ra thành nước mắt. Đến gần sáng, bà không còn sức mà khóc nữa. Bà nằm ẹp bụng xuống chiếu, nghĩ ngợi. Có người nói: những lúc đói, trí người ta sáng suốt. Có lẽ đúng như thế thật. Bởi vì bà lão bỗng tìm ra một kế. Bà ra đi.
Cứ đi được một quãng ngắn, bà lại phải ngồi xuống nghi. Nghỉ một lúc lâu, trống ngực bà mới hết đánh, tai bà bớt lùng bùng, mắt bà bớt tối tăm, người tàm tạm thôi quay quắt. Bà nghỉ tất cả năm sáu quãng. Thành thử đến tận non trưa, bà mới tới nhà mình định tới: ấy là nhà bà phó Thụ, nuôi cái đĩ. Bà quen gọi như vậy, ngay từ khi nó còn nhỏ; cái đi tức là đứa con của anh con trai đã cướp công bà để về với đất, yên thân mà mặc tất cả những gì còn lại. Anh con trai chẳng còn phải khổ sở như bà ngày nay.
[...] Bây giờ dám gọi sao? Chó thính tai mà lại rất mau chân. Chúng xộc cả ra thì khốn. Ấy thế là bà lão đành ngồi đợi dịp. Cải đi bế em ra ngõ chơi chẳng hạn... Hay là có người nào trong nhà đi đâu ... Hay là có người đàn ông khoẻ mạnh nào đến nhà bà phó Thụ, để cho bà đi ghẹ...
Bà ngồi rỗi, tưởng tượng ra đủ mọi cái may mắn tương tự thế. Chỉ còn mỗi một cái bà chưa nghĩ đến: ấy là lúc chính bà phó Thụ ra, hoặc đi đâu về. Thì chính bà phó Thụ đi chợ về. Mới thoạt trông thấy bà lão, bà tưởng là một con mẹ ăn mày. Bà hơi cau mặt:
- Ai kia? Ai ngồi làm gì kia? Chó nó ra, nó lôi mỡ ra cho đấy. Sao mà bạo thế?
Bà lão quay lại mỉm cười móm mém:
- Bẩm bà đi chợ về....
Bà phó Thụ mở to đôi mắt đỏ ngầu, nhìn kĩ hơn một chút. Bà nhận ra bà cái đĩ ở. Tức thì mặt bà nguỷu xuống. Bà lão này còn muốn quấy quả gì nữa đây? Để vòi tiền thêm chăng? Bà lão nên một tiếng và chống tay lên đầu gối, bẩy rẩy đứng lên. Bà phó hỏi:
- Bà đi đâu thế?
Bà lão lại rên tiếng nữa để mở đầu câu nói (bà rên cũng như một vài người khác bạ lúc nào cũng thở dài. Cái ấy thành thói quen).
- Bẩm bà, con lên chơi với cháu. Lâu lắm, cháu không được về, con nhớ cháu quả!
- Úi dào ôi! Vẽ cái con chuột chết! Nó phải làm chứ có rỗi đâu mà bà chơi với nó? Nhà tôi không có cơm cho nó ăn để nó cứ nồng nỗng nó chơi. Bà muốn chơi với nó thì đem ngay nó về nhà, tìm cơm cho nó ăn, bà cháu chơi với nhau vài ba tháng cho thật chán đi, rồi hãy bảo nó lên. Tôi không giữ. Bà tưởng nó đã làm giàu làm có cho tôi rồi đấy, hẳn?
Bà cần phải nói ráo riết ngay để chặn họng, không cho bà lão mở mồm vòi vĩnh. Bà lão bị những lời tàn nhẫn ấy hắt vào mặt quả nhiên không còn nói sao được nữa. Bà củi đầu, như một con mẹ ăn cắp lúa, bị tuần sương tóm được. Bà phó chiếp chiếp mồm luôn mấy cái, rồi vác mặt lên trời mà bảo:
- Chơi với bời! Cái lúc nó mới đến, trông như con giun chết, cạy gỉ mũi còn chưa sạch thì không thấy chơi với bời. Người ta nuôi mãi, bây giờ mới trơn lông đỏ da một tỉ, đã phải đến mà giở quẻ. Tưởng báu ngọc lắm đấy! Tưởng người ta đã phải giữ khu khu lấy đấy... Úi chào! Có phải mả tổ nhà người ta đâu mà người ta giữ? Muốn bắt nó về, cho nhà nào nó nuôi làm bà cô tổ nhà nó thì cứ bắt. Ai người ta thiết? Cứ trả lại tiền người ta..
Bà lão rưng rưng nước mắt. Khôn nạn, bà có ý quăt quéo thế đâu? Bà lão mếu máo:
- Bẩm bà, bà dạy thể thật oan cho con quả. Trời để con sống bằng này tuổi đầu, con còn dám lừa lọc hay sao? Thật có trời trên kia làm chứng, nếu con quả định đến đây để dỗ dành cháu về để đem cho người khác thì trời cứ vật chết con đi! Con chi xin bà cho được trông thấy cháu, bà cháu chơi với nhau một lúc. Cũng chẳng còn mấy chốc nữa mà con chết, con cũng tưởng đi chơi dối già một bận...
- Nó không được rỗi mà chơi với bà. Chẳng chơi bời gì cả! Bà đã trót lên thì vào đây, tôi cho một bữa cơm. Bận sau thì đừng vẽ con khi nữa. Nhà tôi không có thói phép cho chúng nó như thế được. Con tôi đi học tận Hà Nội, dễ tôi cũng phải nay ra chơi, mai ra chơi với nó đẩy! Đã đi ở mà còn không biết phận... Chơi với bời! ...
Môi bà lại chiệp chiệp và xìa ra...
Cái đĩ vừa trông thấy bà, mừng rối rít. Nó cười rồi nó khóc chẳng biết vì sao cả. Nhưng đôi mắt khoằm khoặm của bà phó Thụ dội nước vào lòng nó. Nó tự nhiên ngượng nghịu. Nó không dám xoắn xuýt bà nó nữa. Nó cúi đầu, khẽ hỏi:
- Bà đi đâu đấy?
- Bà đến xin bà phó một bữa cơm ăn đây! Bà đói lắm.
Câu nói rất thật thà ấy, bà lão dùng giọng đùa mà nói. Như thế người ta gọi là nửa đùa nửa thật. Một cách lấp liếm cái ý định của mình bằng cách nói toạc nó ra. Cái đã bế em, dắt bà ra đầu chái, để không bị ai nhìn nữa...
- Da bà xấu quá! Sao bà gầy thể?
- Chỉ đói đẩy thôi, cháu ạ. Chẳng sao hết.
- Lớp này bà ở cho nhà ai?
- Chẳng ở với nhà ai.
Thế lại đi buôn à?
Vốn đâu mà đi buôn? Với lại có vốn cũng không đi được. Người nhọc lắm.
Thế thì lấy gì làm ăn?
- Chỉ nhịn thôi chứ lấy gì mà ăn!
Bà cháu mới kịp trao đổi với nhau từng ấy câu thì bà phó đã the thẻ hỏi:
Nó bế em đi đâu rồi?
Ấy là dấu hiệu bà sắp gọi. Cái đĩ vội đặt em xuống đất, bảo:
- Bà giữ nó hộ con một tí.
Nó cởi dải yếm lấy ra một cái túi rút con con. Trong túi xóc xách mấy đồng trinh. Nó rút ra, đếm lấy hai xu, giúi cho bà...
- Con biểu bà để bà ăn bánh đúc. Bà về đi!
Tiếng bà phó giục:
- Cái đĩ đi đâu rồi? Đem em về đây, rồi quét nhà, dọn cơm.
- Vâng!
Nó tất tưởi bế em chạy về. Bà lão hãi chó, lẽo đẽo đi theo cháu. Bà phó trông thấy mà
lộn ruột. Bà xa xả:
- Bà đừng theo đít nó thế. Bà cứ ngồi một chỗ rồi mà ăn cơm, Khiếp thật thôi!
Vơơơng!...
Bà lão “vâng” thành một tiếng rên. Bà vào nhà, ngồi xón vén vào một xó ngay xuống đất. Bà phó cất lấy con. Cái đi lụt cụt chạy xuống nhà dưới. Một lát sau, tiếng đũa bát bắt đầu lạch cạch... Bà phó bảo:
Bà xuống dưới này mà ăn cơm.
Bà bế con ra. Bà lão theo sau. Tiếng khung cửi đã ngừng. Mấy cô dệt cửi đều là con gái hoặc con nuôi bà phó Thụ, đang tới tấp, cô xới cơm, cô bỏ rau, cô sẻ mắm, chung quanh cái mâm gỗ đặt ngay trên mặt đất. Cả nhà quây quần vào, chỉ ngồi có một mâm. Bà lão chẳng đợi ai phải bảo, ngồi ngay xuống cạnh cháu, tay run run so đũa. Trông bà so đũa mà ngửa mắt! Bà phó muốn giật xoét lấy làm thật nhanh cho đỡ bực. Nhưng bà nhịn được. Bà chỉ chép miệng và lừ lừ đôi mắt, tỏ ý khó chịu. Cái đi hiểu nên chỉ nhìn xuống đất. Nó giận bà nó lắm.
Nó đã bảo bà nó về đi mà bà nó không chịu về…
Bà phó chẳng nói nửa lời, bê lấy bát cơm ăn. Mặt bà vẫn hằm hằm. Lũ con gái, con nuôi, con ở, biết hiệu, vội vàng cũng làm theo. Chậm một tí, bà chửi cho phải biết! Có khi bà hắt cả bát cơm vào mặt. Bà lão nhìn vòng quanh một lượt, rồi cũng cất bát cơm lên:
- Mời bà phó...
Nhưng bà vừa mới hả mồm ra thì bà phó đã cau mặt quát:
- Thôi, bà ăn đi! Đừng mời!
Bà lão vội vàng ăn ngay. Nhưng họ ăn nhanh quả. Mọi người đều lặng lẽ, cắm củi, mải mốt. Đôi đũa này lên lại có đôi khác xuống. Liên tiếp luôn như vậy. Cứ tăm tắp tăm tắp. Tay bà lão lờ rờ, không biết lợi dụng lúc nào để gắp rau vào bát mắm. Lập cập quá, bà đánh rơi cả mắm ra ngoài bát. Bà phó lại cau mặt, gắt:
- Sẻ riêng cho bà ấy một bát mắm, để ra cạnh mâm cho bà ấy!
Một cô vội làm ngay. Từ đấy, bà lão dễ xoay xở hơn một chút. Nhưng bà mới ăn chưa hết hai lượt cơm thì bà phó đã quăng bát đũa xuống đất. Chỉ một thoáng sau, mọi người khác cũng thôi. Họ thôi gần đều một lượt. In như bà mẹ ra hiệu cho họ vậy. Thật ra thì lệ mỗi người chỉ được ăn có ba vực cơm thôi. Mà phải ăn nhanh để còn làm. Nhưng bà lão nhà nghèo, đã quen sống vô tổ chức, làm gì hiểu trong những nhà thừa thóc, thừa tiền, lại có sự hạn chế miệng ăn như vậy? Bà đoán rằng họ khảnh ăn. No dồn, đói góp. Người đói mãi, vớ được một bữa, tất bằng nào cũng chưa thấm tháp. Nhưng người no mãi, người ta có cần ăn nhiều lắm đâu. Vậy thì bà cứ ăn. Ăn đến kì no. Đã ăn rình thì ăn ít cũng là ăn. Đằng nào cũng mang tiếng rồi thì dại gì mà chịu đói? Bà ăn nữa thật. Cái đĩ ngượng quá, duỗi cổ ra, trợn mắt, nuốt vội mấy miếng cơm còn lại như một con gà con nuốt nhái. Rồi nó buông bát đĩa.
Bà bảo cháu:
- Ăn nữa đi, con ạ. Nồi còn cơm đấy. Đưa bát bà xới cho.
Nó chưa kịp trả lời thì bà phó đã mắng át đi:
- Mặc nó! Nó không ăn nữa! Bà ăn bằng nào cho đủ thì cứ ăn!
À! Bây giờ thì bà lão hiểu. Người ta đứng lên tất cả rồi. Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn với bà phó Thụ ngồi lại để lườm với nguýt. Nhưng bà lão còn thấy đói. Còn cơm mà thôi ăn thì khi tiếc. Vả đã đi ăn chực thì còn danh giá gì mà làm khách. Bà cứ ăn như không biết gì.
Đến khi bà đã tạm no, thì cơm vừa hết. Chỉ còn một ít bám dưới đáy và chung quanh nồi. Bà vẫn tiếc. Bà kéo cái nồi vào lòng, nhìn, và bảo con bé cháu:
- Còn có mấy hột để nó khô đi mất. Tao vét cho mày ăn nốt đi kẻo hoài, đĩ nhé?
- Khô mặc kệ nó! Bà có ăn được hết thì ăn đi, đừng bảo nó. Nó không ăn vào đâu được nữa. Ăn cho nó nứt bụng ra thì ăn làm gì?
Bà phó vội gắt gỏng bảo thế. Ừ, thì bà ăn nốt vậy! Bà cạo cái nồi sồn sột. Bà trộn mắm.
Bà rấm nốt. Ái chà! Bây giờ thì bà no. Bà bỗng nhận ra rằng bà no quá. Bụng bà tưng tức. Bà nới thắt lưng ra một chút cho dễ thở. Bà tựa lưng vào vách để thở cho thoả thích. Mồ hôi bà toát ra đầm đìa. Bà nhọc lắm. Ruột gan bà xộn xạo. Bà muốn lăn kềnh ra nghỉ, nhưng sợ người ta cười, cố gượng. Ôi chao! Già yếu thì khổ thật. Đói cũng khổ mà no cũng khổ. Chưa ăn thì người rời rã. Ăn rồi thì có phần còn nhọc hơn chưa ăn. Ôi chao!
Xế chiều hôm ấy, bà lão mới ra về được. Bà bảo: về muộn cho đỡ nắng. Thật ra thì bà tức bụng, không đi nổi. Mà bà uống nhiều nước quá. Uống bằng nào cũng không đã khát. Bà chỉ càng thêm tức bụng. Đêm hôm ấy, bà lăn lóc rất lâu không ngủ được. Bà vần cái bụng, bà quay vào lại quay ra. Bụng bà kêu ong óc như một cái lọ nước. Nó thẳng căng. Bà thở ì ạch.
Vào khoảng nửa đêm, bà thấy hơi đau bụng. Cơn đau cứ rõ thêm, cứ tăng dần. Chỉ một lúc sau, bà đã thấy đau quắn quéo, đau cuống cuồng. Rồi bà thổ. Rồi bà tả. Ôi chao! Ăn thật thì không bõ mửa. Bà tối tăm mặt mũi. Đến khi bệnh tả dứt thì bà lại sinh chứng đi lị. Ruột bà đau quằn quặn. Ăn một ti gì cũng đau không chịu được. Luôn nửa tháng trời như vậy. Rồi bà chết. Bà phó Thụ, nghe tin ấy, bảo: “Bà chết no”. Và bà dùng ngay cái chết ấy làm một bài học dạy lũ con gái, con nuôi:
- Chúng mày xem đấy. Người ta đói đến đâu cũng không thể chết nhưng no một bữa là đủ chết. Chúng mày cứ liệu mà ăn tộ vào! ...
(Trích Tuyển tập Nam Cao, NXB Thời đại, 2010)
Câu 1: Truyện ngắn “Một bữa no” viết về đề tài gì?
A. Người nông dân.
B. Người trí thức.
C. Người phụ nữ.
D. Cái đói.
Câu 2: Nhân vật bà cụ trong truyện rơi vào tình cảnh như thế nào?
A. Chồng con chết, sống một mình cô đơn.
B. Nghèo, cô đơn sống một mình.
C. Nghèo, chồng chết, đứa con duy nhất cũng chết, phải một mình nuôi đứa cháu gái, cuối cùng cũng bán đứa cháu duy nhất cho bà phó Thụ mà vẫn không hết nghèo, số phận khổ đau khiến bà gạt đi cả lòng tự trọng để chết bằng “một bữa no”
D. Cái chết đau đớn, vật vã – chết no
Câu 3: Truyện được kể theo ngôi thứ mấy? Điểm nhìn được đặt vào nhân vật nào?
A. Ngôi kể thứ ba, điểm nhìn được đặt vào nhân vật bà lão
B. Ngôi kể thứ nhất, điểm nhìn được đặt vào nhân vật bà lão
C. Ngôi kể thứ ba, điểm nhìn có sự kết hợp giữa người kể chuyện và nhân vật bà lão
D. Ngôi kể thứ nhất, điểm nhìn có sự kết hợp giữa người kể chuyện và nhân vật bà lão.
Câu 4: Từ “hờ” trong câu Bà lão ấy hờ con suốt một đêm nghĩa là gì?
A. Giả vờ với con
B. Nhớ thương con
C. Oán giận con
D. Khóc và kể lể bằng giọng thảm thiết (thường là khóc người chết)
Câu 5: No dồn đói góp được nhắc tới trong câu chuyện là
A. Tục ngữ
B. Thành ngữ
C. Ca dao
D. Danh ngôn
Câu 6: No dồn đói góp nghĩa là gì?
A. Tình trạng ăn uống, tiêu pha không có chừng mực hoặc thất thường, lúc thì quá đầy đủ, thừa thãi, lúc lại thiếu thốn mọi thứ
B. Dồn những bữa no, bữa đói lại
C. Thiếu thốn nhiều
D. Ham ăn, ham uống
Câu 7: Qua nhân vật bà lão trong câu chuyện, Nam Cao muốn phản ánh điều gì về người nông dân?
A. Người nông dân vốn là những người nghèo nhưng hay sĩ diện
B. Đời sống khổ sở của người nông dân, phải nhịn đói cho qua ngày rồi chết trong một bữa no
C. Người nông dân vốn là những người lương thiện, nhưng sự hà khắc của chế độ phong kiến cùng với sự bóc lột của bọn thực dân đã đẩy họ vào con đường tha hóa, bần tiện
D. Người nông dân sống cuộc đời nghèo khổ cuối cùng được sung sướng cho dù chết vì no
Câu 8: Giọng văn của Nam Cao được thể hiện trong câu chuyện:
A. Chua xót, mỉa mai
B. Hả hê, sung sướng
C. Giễu cợt, trào phúng
D. Ngậm ngùi, xót thương
Câu 9 (1.0đ): Văn Nam Cao có một đặc điểm nổi bật về mặt nghệ thuật đó là ông thường sử dụng ngôn ngữ nửa trực tiếp ( sự kết hợp giữa ngôn ngữ tác giả, người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật) nhằm bộc lộ thế giới nội tâm, ý thức của nhân vật, cho phép người đọc thâm nhập sâu vào ý nghĩ thầm kín của nhân vật. Em hãy tìm những câu văn theo hình thức ngôn ngữ nửa trực tiếp trong tác phẩm “Một bữa no” và cho biết tác dụng của hình thức ngôn ngữ ấy
Câu 10 (1.0đ): Đặt địa vị em là cái Đĩ – đứa cháu gái duy nhất của bà lão trong câu chuyện, em nghĩ như thế nào về người bà của mình? Viết đoạn văn (khoảng 2/3 trang giấy) bày tỏ suy nghĩ đó của em.
II. VIẾT (4đ)
Viết nào văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của truyện ngắn Một bữa no (Nam Cao)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án

|
Câu 1: Truyện ngắn “Một bữa no” viết về đề tài gì? A. Người nông dân. B. Người trí thức. C. Người phụ nữ. D. Cái đói. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và rút ra đề tài
Lời giải chi tiết:
Truyện ngắn “Một bữa no” viết về đề tài Người nông dân với nhân vật chính là bà lão
→ Đáp án A
|
Câu 2: Nhân vật bà cụ trong truyện rơi vào tình cảnh như thế nào? A. Chồng con chết, sống một mình cô đơn. B. Nghèo, cô đơn sống một mình. C. Nghèo, chồng chết, đứa con duy nhất cũng chết, phải một mình nuôi đứa cháu gái, cuối cùng cũng bán đứa cháu duy nhất cho bà phó Thụ mà vẫn không hết nghèo, số phận khổ đau khiến bà gạt đi cả lòng tự trọng để chết bằng “một bữa no” D. Cái chết đau đớn, vật vã – chết no |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Hoàn cảnh của bà lão: Nghèo, chồng chết, đứa con duy nhất cũng chết, phải một mình nuôi đứa cháu gái, cuối cùng cũng bán đứa cháu duy nhất cho bà phó Thụ mà vẫn không hết nghèo, số phận khổ đau khiến bà gạt đi cả lòng tự trọng để chết bằng “một bữa no”
→ Đáp án C
|
Câu 3: Truyện được kể theo ngôi thứ mấy? Điểm nhìn được đặt vào nhân vật nào? A. Ngôi kể thứ ba, điểm nhìn được đặt vào nhân vật bà lão B. Ngôi kể thứ nhất, điểm nhìn được đặt vào nhân vật bà lão C. Ngôi kể thứ ba, điểm nhìn có sự kết hợp giữa người kể chuyện và nhân vật bà lão D. Ngôi kể thứ nhất, điểm nhìn có sự kết hợp giữa người kể chuyện và nhân vật bà lão. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, nhớ lại kiến thức về ngôi kể và trả lời câu hỏi
Lời giải chi tiết:
Truyện được kể theo ngôi thứ ba, điểm nhìn có sự kết hợp giữa người kể chuyện và nhân vật bà lão
→ Đáp án C
|
Câu 4: Từ “hờ” trong câu Bà lão ấy hờ con suốt một đêm nghĩa là gì? A. Giả vờ với con B. Nhớ thương con C. Oán giận con D. Khóc và kể lể bằng giọng thảm thiết (thường là khóc người chết) |
Phương pháp giải:
Dựa vào nghĩa của từ trong từ điển và ngữ cảnh thực tế trong bài
Lời giải chi tiết:
Từ “hờ” trong câu trên có nghĩa là: Khóc và kể lể bằng giọng thảm thiết ( thường là khóc người chết)
Trong câu chuyện, bà lão cho rằng chính vì con nên mình mới phải đói nên mỗi lần hết đường đất làm ăn bà lại “hờ” con
→ Đáp án D
|
Câu 5: No dồn đói góp được nhắc tới trong câu chuyện là: A. Tục ngữ B. Thành ngữ C. Ca dao D. Danh ngôn |
Phương pháp giải:
Nhớ lại định nghĩa về tục ngữ, thành ngữ, ca dao và danh ngôn
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
No dồn đói góp là thành ngữ (là cụm từ có cấu tạo cố định, biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh
→ Đáp án B
|
Câu 6: No dồn đói góp nghĩa là gì? A. Tình trạng ăn uống, tiêu pha không có chừng mực hoặc thất thường, lúc thì quá đầy đủ, thừa thãi, lúc lại thiếu thốn mọi thứ B. Dồn những bữa no, bữa đói lại C. Thiếu thốn nhiều D. Ham ăn, ham uống |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào ngữ cảnh thực tế trong câu chuyện để đưa ra nghĩa của câu thành ngữ trên
Lời giải chi tiết:
No dồn đói góp: Tình trạng ăn uống, tiêu pha không có chừng mực hoặc thất thường, lúc thì quá đầy đủ, thừa thãi, lúc lại thiếu thốn mọi thứ. Sự trái ngược ấy thể hiện qua hai cặp đối lập no><đói và dồn><góp
→ Đáp án A
|
Câu 7: Qua nhân vật bà lão trong câu chuyện, Nam Cao muốn phản ánh điều gì về người nông dân? A. Người nông dân vốn là những người nghèo nhưng hay sĩ diện B. Đời sống khổ sở của người nông dân, phải nhịn đói cho qua ngày rồi chết trong một bữa no C. Người nông dân vốn là những người lương thiện, nhưng sự hà khắc của chế độ phong kiến cùng với sự bóc lột của bọn thực dân đã đẩy họ vào con đường tha hóa, bần tiện D. Người nông dân sống cuộc đời nghèo khổ cuối cùng được sung sướng cho dù chết vì no |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và rút ra hiện thực tác giả muốn phản ánh
Lời giải chi tiết:
Qua nhân vật bà lão, Nam Cao đã cho thấy rằng, người nông dân vốn là những người lương thiện, nhưng sự hà khắc của chế độ phong kiến cùng với sự bóc lột của bọn thực dân đã đẩy họ vào con đường tha hóa, bần tiện.
Đây cũng chính là mô – típ nhân vật xuất hiện phổ biến trong các tác phẩm của Nam Cao như: Chí Phèo, Đời thừa,…
→ Đáp án C
|
Câu 8: Giọng văn của Nam Cao được thể hiện trong câu chuyện: A. Chua xót, mỉa mai B. Hả hê, sung sướng C. Giễu cợt, trào phúng D. Ngậm ngùi, xót thương |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Giọng văn của Nam Cao: chua xót, mỉa mai
Chua xót cho số phận của bà lão và tác giả dùng giọng mỉa mai cho thói đời bạc bẽo
→ Đáp án A
Câu 9 (1.0đ): Văn Nam Cao có một đặc điểm nổi bật về mặt nghệ thuật đó là ông thường sử dụng ngôn ngữ nửa trực tiếp ( sự kết hợp giữa ngôn ngữ tác giả, người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật) nhằm bộc lộ thế giới nội tâm, ý thức của nhân vật, cho phép người đọc thâm nhập sâu vào ý nghĩ thầm kín của nhân vật. Em hãy tìm những câu văn theo hình thức ngôn ngữ nửa trực tiếp trong tác phẩm “Một bữa no” và cho biết tác dụng của hình thức ngôn ngữ ấy
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về kiểu ngôn ngữ nửa trực tiếp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
*Những câu văn thể hiện hình thức ngôn ngữ nửa trực tiếp trong tác phẩm
- Theo lệ, mỗi người chỉ được ăn có ba vực cơm, mà phải ăn nhanh để còn làm. Nhưng bà lão nhà nghèo, đã quen sống vô tổ chức, sẽ không hiểu trong những nhà thừa thóc, thừa tiền, lại có sự hạn chế miệng ăn như vậy. Bà đoán họ khảnh ăn. No dồn, đói góp. Người đói mãi, vớ được một bữa, tất bằng nào cũng chưa thấm tháp. Nhưng người no mãi, người ta có cần ăn nhiều lắm đâu. Vậy thì bà cứ ăn. Ăn đến kì no. Đã ăn rình thì ăn ít cũng là ăn. Đằng nào cũng mang tiếng rồi thì dại gì mà chịu đói? Bà ăn nữa thật…
- Bà phó vội gắt gỏng bảo thế. Ừ, thì bà ăn nốt thật! Bà cạo cái nồi sồn sột. Bà trộn mắm. Bà rấm nốt. Ái chà! Bây giờ thì bà no. Bà bỗng nhận ra rằng bà no quá. Bụng bà tưng tức. Bà nới thắt lưng ra một chút cho dễ thở. Bà tựa lưng vào vách để thở cho thỏa thích. Mồ hôi bà toát ra đầm đìa. Bà nhọc lắm. Ruột gan bà xộn xạo. Bà muốn lăn kềnh ra nghỉ, nhưng sợ người ta cười, cố gượng. Ôi chao! Già yếu thì khổ thật. Đói cũng khổ mà no cũng khổ. Chưa ăn thì người rời rã. Ăn rồi thì có phần còn nhọc hơn chưa ăn. Ôi chao!...
* Tác dụng
- Diễn tả được đời sống nội tâm của nhân vật bà lão
- Thể hiện quan niệm, cách nhìn nhận đánh giá của nhà văn Nam Cao
Câu 10 (1.0đ): Đặt địa vị em là cái Đĩ – đứa cháu gái duy nhất của bà lão trong câu chuyện, em nghĩ như thế nào về người bà của mình? Viết đoạn văn (khoảng 2/3 trang giấy) bày tỏ suy nghĩ đó của em.
Phương pháp
Dựa vào sự tượng tượng và kĩ năng viết đoạn văn của bản thân
Lời giải chi tiết
Đây là câu hỏi mở, HS có quyền đưa ra những ý kiến của mình
- Đồng tình, thương hại vì dù sao bà cũng là bà nội, là người bà duy nhất đang khốn khổ lâm vào bước đường cùng,…
- Không đồng tình vì bà làm mất thể diện, làm bà phó Thụ sẽ ghét mình hơn…
II. VIẾT (4đ)
Viết nào văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của truyện ngắn Một bữa no (Nam Cao)
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
Mở bài
- Giới thiệu tác phẩm “Một bữa no” ( Nam Cao)
- Nêu nội dung khái quát cần phân tích và đánh giá: những đặc sắc về hình thức nghệ thuật của truyện và những đánh giá về nội dung, chủ đề của tác phẩm
Thân bài
- Xác định đề tài, chủ đề của truyện: đề tài người nông dân, chủ đề người nông dân vốn là những người lương thiện, nhưng sự hà khắc của chế độ phong kiến cùng với sự bóc lột của bọn thực dân đã đẩy họ vào con đường tha hóa, bần tiện
- Phân tích đánh giá chủ đề của truyện được thể hiện trong những sự kiện và tình tiết nào đáng chú ý?
- Đánh giá những đặc sắc về hình thức nghệ thuật của truyện: sử dụng tình huống truyện nào? (hoàn cảnh éo le của bà lão, bà lão đến xin ăn nhà chủ cái Đĩ – đứa cháu nội), hình thức ngôn ngữ nửa trực tiếp, ngôn ngữ giản dị, ngòi bút đi sâu vào thế giới nội tâm, ngôi kể thứ ba đặt điểm nhìn vào bà lão…
Kết bài
- Khẳng định những giá trị của truyện trong đề tài về người nông dân của Nam Cao nói riêng và trong văn học Việt Nam nói chung
- Bài học nhận thức: bài học về ứng xử, bài học về lòng nhân ái…
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Chân trời sáng tạo - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
MỘT BÀI THƠ CỦA NGUYỄN TRÃI: BA TIÊU
(Xuân Diệu)
Trong 254 bài thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, có một bài thơ chỉ cần 4 câu thôi mà tôi trải qua 24 năm, mới dám tự bảo mình rằng gọi là hiểu. Đó là bài “Ba tiêu”.
“Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm
Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín,
Gió nơi đâu gượng mở xem”
Người đời trước viết trên lụa: tàu lá chuối non kia màu xanh ngọc thạch, còn cuộn lại như lụa cuốn, như bức thư quý báu trang nhã viết trên lụa bạch, đó là một bức thư tình e ấp, vậy mời trang phong lưu là gió, hãy mở thư xem…
Câu thứ hai: Đầy buồng lạ mầu thâu đêm, ai có ngờ lại là câu khó hơn cả, mà cũng “diệu” hơn cả. Bản Trần Văn Giáp phiên âm là mầu và chú thích: - “Cứ theo chữ Nôm viết ở nguyên bản, cho nên phiên âm là Mầu, nhưng đáng lẽ là mùi mới đúng. Mùi thâu đêm là mùi hương suốt đêm, chú như vậy, thì “buồng lạ” tức là buồn chuối chín thơm ngào ngạt. Bản Đào Duy Anh chú: - “Buồng lạ”: chỉ buồng chuối, so với các quả cây khác thì cũng lạ. Mầu thâu đêm: “chuối chín thơm ngát suốt cả đêm”. Hai lời chú thích đều hiểu buồng là buồng chuối. Và tôi cũng hiểu như thế, chứ không có cách nào khác.
Tuy nhiên, những năm gần đây, tôi suy nghĩ lại, và bỗng nhận thấy một điều, nhưng tôi thấy không tiện nói ra. Vì không tiện nói ra, cho nên tôi không dám dây dưa đưa dẫn hai câu đầu. Bởi, nếu giới thiệu cả 4 câu, thì tôi bắt buộc phải góp ý kiến rằng: đây là bài thơ chồng lên nhau, chứ không phải là một bài, bởi hai câu đầu nói tới “buồng lạ”, buồng chuối, hai câu sau thì nói tới lá chuối non. Mà khi cây chuối đã trổ ra buồng, thậm chí buồng chuối chín, thì nó không còn có thể ra lá non, thậm chí lá non cuốn lại được nữa. Như vậy phải là hai cây chuối khác nhau ở trong bài thơ, như vậy là hai bài thơ chắp vào nhau trong 4 câu, chứ không phải một bài tứ tuyệt, nhất quán, nguyên khôi. Như vậy thì Ức Trai làm thơ như thế hay sao?
[...] Đến hôm nay, tôi rất cảm ơn người bạn của tôi, anh ấy bảo với tôi: Trong thơ chữ Hán của Ức Trai, có bài Lãnh noãn tịch, có câu thơ: “Hồng lâu dạ vĩnh giác xuân tư” nghĩa là: “Lầu hồng đêm thâu cảm thấy có một mùa xuân riêng mình”, tức là thơ chữ Hán cũng với một tứ với thơ chữ Nôm “Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm” đó. Tôi bỗng “ồ” lên một tiếng và thấy mình bừng sáng hiểu vào sự huyền diệu của cả bài thơ. Tôi không cần phải “phát hiện” hai bài thơ nào mâu thuẫn nhau hết, mà đây chính là một bài thơ nguyên khôi, nhất quán của Nguyễn Trãi làm, tại vì tôi chưa hiểu nổi, nên mới thắc mắc. Trước hết trong câu mở đầu: “Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm”. Ta hẵng để ý: tại sao Nguyễn Trãi không viết “lại tốt thêm”? Lại tốt thêm thì có vẻ dung tục, không đủ trân trọng đối với chủ từ của câu chẳng qua theo đà, theo thế, theo thời, mà thêm tốt, còn “tốt lại thêm” tức là: Vốn cái tốt đã là bản chất rồi. Nay từ lúc bén hơi xuân thì tốt thêm.
Hóa ra cái thần của bài thơ không ở hai câu 3,4, một hình tượng, mà ở câu 2, một xúc cảm: “Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm”. Đầy phòng, đầy buồng khuê, là một sự “lạ”, mầu đây, theo ý tôi, là nhiệm mầu, mầu nhiệm thâu đêm, đồng thời và cũng cần hiểu mầu như ở trong “đất mầu”. Ôi! Nếu là thơ Ức Trai nói về sự rung động đầu tiên của giai nhân vào buổi đương thời thì việc ấy có giảm gì uy tín của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi? Bao nhiêu nhà thơ lớn trước Nguyễn Trãi ở Á Đông, ở trên thế giới đã nói và nói một cách trang nhã, sao lại muốn rằng Nguyễn Trãi đừng nói, dù là nói một cách trang nhã? Sự thật là Nguyễn Trãi đã nói rồi, câu thơ chữ Hán dạ vĩnh giác xuân tư, “đêm thâu cảm thấy một xuân riêng” bênh vực cho câu thơ chữ Nôm “đầy buồng lạ mầu thâu đêm”, và chữ “lạ” với chữ “mầu” làm cho câu thơ chữ Nôm còn dào dạt ngạt ngào hơn câu thơ chữ Hán, đến nỗi đầy cả một buồng. Hơn năm trăm năm sau, hàng cháu chắt của nhà thơ Ức Trai là nhà thơ Hàn Mặc Tử (1912-1940) cũng có một tứ thơ gần với Ức Trai, và đã gộp cả chữ “lạ” trong thơ chữ Nôm và chữ “xuân” trong thơ chữ Hán của Ức Trai: “Chàng ơi, chàng ơi, sự lạ đêm qua – Mùa xuân tới, mà không ai biết cả”.
Nếu hiểu “buồng” là buồng chuối như tôi đã hiểu, và như hai nhà phiên âm Trần Văn Giáp và Đào Duy Anh đã hiểu, thì bài thơ lại tách ra làm hai bài mâu thuẫn nhau một cách vô lý – điều mà nhà thơ Ức Trai quyết không làm.
Và khi đã hiểu được chữ “diệu” của bài thơ, khi đã hiểu đây là mùa xuân riêng xuất hiện, thì hai câu cuối đến dính liền một cách thoải mái vào hai câu trên. Hiểu là một ngôi thứ ba, một “nhà văn” nào đó nói hộ tâm sự cho giai nhân, và mời hộ gió mở bức thư lá chuối non thì cũng được, tuy nhiên,… đã là thư tình thì chính người viết, người cuộn người gửi lấy bằng cách này hay cách khác cho đối tượng của mình đọc, cho nên tôi muốn hiểu cả bài tứ tuyệt là một ngôi thứ nhất, phía sau cây ba tiêu là một giai nhân tự nói lấy cho mình, đầy phòng ngào ngạt thâu đêm, chẳng lẽ lại người nào cũng ngoài phòng nói điều ấy, phải là người ở trong phòng tự nói:
Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm
Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín
Bức thư tình của lá: em còn e ấp cuộn lại, còn kín, một cái ghen tuông phóng nhụy, ngôi thứ hai là “gió”, là đối tượng anh, người mà ta mong mỏi đang ở nơi đâu? Gượng đây không phải là ngượng gạo, mà là gượng nhẹ, khẽ khàng: Gió nơi đâu gượng mở xem
Từ lúc Quốc âm thi tập được phát hiện lại (1956) đến nay, bài thơ như Ba tiêu của Nguyễn Trãi đã trải 24 năm mới chịu gửi cái bí mật thân tình cho bạn đọc
(trích “Kỉ niệm sáu trăm năm ngày sinh Nguyễn Trãi”)
Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại nào?
A. Văn bản truyện, kể về một người bạn
B. Văn bản nghị luận xã hội, bàn về cách đánh giá một tác phẩm thơ
C. Văn bản nghị luận văn học, đánh giá giá trị tác phẩm thơ
D. Văn bản kí, ghi lại hành trình nhận thức của tác giả
Câu 2: Nội dung của luận điểm 2 là gì?
A. Giá trị bài ở 2 câu kết
B. Sự huyền diệu của bài thơ
C. Câu thơ “diệu” hơn cả
D. Thần của bài thơ: xúc cảm
Câu 3: Dòng nào sau đây nói lên nội dung của luận điểm 4?
A. Giá trị bài ở 2 câu kết
B. Thần của bài thơ: xúc cảm
C. Câu thơ “diệu” hơn cả
D. Sự huyền diệu của bài thơ
Câu 4: Thái độ của tác giả đối với ý kiến: Bản Đào Duy Anh chú: - “Buồng lạ”: chỉ buồng chuối, so với các quả cây khác thì cũng lạ. Mầu thâu đêm: “chuối chín thơm ngát suốt cả đêm” như thế nào?
A. Phủ nhận hoàn toàn
B. Ban đầu phủ nhận nhưng sau lại đồng tình
C. Không quan tâm mà chỉ điểm đến như lời dẫn
D. Ban đầu đồng ý nhưng sau lại không đồng tình
Câu 5: Theo tác giả, Bản Đào Duy Anh chú: - “Buồng lạ”: chỉ buồng chuối, so với các quả cây khác thì cũng lạ chi phối cách hiểu bài thơ như thế nào?
A. Là hai bài thơ chồng lên nhau, chứ không phải một bài
B. Bởi hai câu thơ đầu nói tới “buồng lạ”, buồng chuối, hai câu sau thì nói tới lá chuối non
C. Như vậy phải là hai cây chuối khác nhau ở trong bài thơ, như vậy là hai bài thơ chắp vào nhau trong 4 câu
D. Tất cả các ý trên
Câu 6: Dòng nào nói lên mục đích của luận điểm số 2 (từ Câu thứ hai đến như thế hay sao)?
A. Khẳng định bài thơ đang nói tới hai cây chuối khác nhau
B. Phân tích một cách hiểu chưa hợp lý về câu thơ số 2 trong bài Ba tiêu
C. Phân tích ý nghĩa của thơ số 2 trong bài Ba tiêu
D. Chữ “mầu” trong câu thơ thứ 2 phải hiểu là “mùi” mới đúng
Câu 7: Vì sao, tác giả “thấy mình bừng sáng hiểu vào sự huyền diệu của cả bài thơ”?
A. Tôi không cần phải “phát hiện” hai bài thơ nào mâu thuẫn nhau hết
B. Ba tiêu chính là một bài thơ nguyên khôi, nhất quán, của Nguyễn Trãi làm
C. Trước đây tại vì tôi chưa hiểu nổi, nên mới thắc mắc
D. Tất cả các ý trên
Câu 8: Lập luận: Ta hẵng để ý: tại sao Nguyễn Trãi không viết “lại tốt thêm”? Lại tốt thêm thì có vẻ dung tục, không đủ trân trọng… nhằm mục đích gì?
A. Có thể dùng “lại tốt thêm” thay thế cho “tốt lại thêm”
B. “tốt lại thêm” biểu đạt ý tuyệt vời nhất
C. Cách hiểu chính xác về “tốt lại thêm”
D. Có thể dùng từ khác thay thế cho “tốt lại thêm”
Câu 9: Xác định, phân tích vai trò của một số yếu tố biểu cảm trong văn bản Một bài thơ của Nguyễn Trãi: “Ba tiêu” – Xuân Diệu (1đ)
Câu 10: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: Gượng đây không phải là gượng gạo, mà gượng nhẹ, khẽ khàng: Gió nơi đâu gượng mở xem không? Vì sao?(1đ)
II. VIẾT (4đ)
Đọc bài thơ Chốn quê – Nguyễn Khuyến sau đây và viết bài luận phân tích, đánh giá nội dung của bài thơ và tình cảm của nhà thơ dành cho người nông dân ở quê hương mình (dài từ 1,5 -2 trang giấy thi)
CHỐN QUÊ (LÀM RUỘNG)
(Nguyễn Khuyến)
Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.
Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.
Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,
Bao giờ cho biết khỏi đường lo?
(thơ Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 2016)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án

|
Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại nào? A. Văn bản truyện, kể về một người bạn B. Văn bản nghị luận xã hội, bàn về cách đánh giá một tác phẩm thơ C. Văn bản nghị luận văn học, đánh giá giá trị tác phẩm thơ D. Văn bản kí, ghi lại hành trình nhận thức của tác giả |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và đưa ra kết luận về thể loại văn bản
Lời giải chi tiết:
Văn bản nghị luận văn học, đánh giá giá trị tác phẩm thơ
→ Đáp án C
|
Câu 2: Nội dung của luận điểm 2 là gì? A. Giá trị bài ở 2 câu kết B. Sự huyền diệu của bài thơ C. Câu thơ “diệu” hơn cả D. Thần của bài thơ: xúc cảm |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn 2
Lời giải chi tiết:
Nội dung của luận điểm 2: Câu thứ hai: Đầy buồng lạ mầu thâu đêm, ai có ngờ lại là câu khó hơn cả, mà cũng “diệu” hơn cả.
→ Đáp án C
|
Câu 3: Dòng nào sau đây nói lên nội dung của luận điểm 4? A. Giá trị bài ở 2 câu kết B. Thần của bài thơ: xúc cảm C. Câu thơ “diệu” hơn cả D. Sự huyền diệu của bài thơ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn 4
Lời giải chi tiết:
Nội dung luận điểm 4: Thần của bài thơ: xúc cảm
→ Đáp án B
|
Câu 4: Thái độ của tác giả đối với ý kiến: Bản Đào Duy Anh chú: - “Buồng lạ”: chỉ buồng chuối, so với các quả cây khác thì cũng lạ. Mầu thâu đêm: “chuối chín thơm ngát suốt cả đêm” như thế nào? A. Phủ nhận hoàn toàn B. Ban đầu phủ nhận nhưng sau lại đồng tình C. Không quan tâm mà chỉ điểm đến như lời dẫn D. Ban đầu đồng ý nhưng sau lại không đồng tình |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ ý kiến, đoạn 2 và 3
Suy ra thái độ của tác giả
Lời giải chi tiết:
Thái độ của tác giả: Ban đầu đồng ý nhưng sau lại không đồng tình:
+ Ban đầu đồng ý: Và tôi cũng hiểu như thế, chứ không có cách nào khác
+ Không đồng tình: Tuy nhiên, những năm gần đây, tôi suy nghĩ lại, và tôi bỗng nhận thấy một điều, nhưng tôi thấy không tiện nói ra.
→ Đáp án D
|
Câu 5: Theo tác giả, Bản Đào Duy Anh chú: - “Buồng lạ”: chỉ buồng chuối, so với các quả cây khác thì cũng lạ chi phối cách hiểu bài thơ như thế nào? A. Là hai bài thơ chồng lên nhau, chứ không phải một bài B. Bởi hai câu thơ đầu nói tới “buồng lạ”, buồng chuối, hai câu sau thì nói tới lá chuối non C. Như vậy phải là hai cây chuối khác nhau ở trong bài thơ, như vậy là hai bài thơ chắp vào nhau trong 4 câu D. Tất cả các ý trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 2
Lời giải chi tiết:
Theo tác giả, Bản Đào Duy Anh chú: - “Buồng lạ”: chỉ buồng chuối, so với các quả cây khác thì cũng lạ:
+ Là hai bài thơ chồng lên nhau, chứ không phải một bài
+ Bởi hai câu thơ đầu nói tới “buồng lạ”, buồng chuối, hai câu sau thì nói tới lá chuối non
+ Như vậy phải là hai cây chuối khác nhau ở trong bài thơ, như vậy là hai bài thơ chắp vào nhau trong 4 câu
→ Đáp án D
|
Câu 6: Dòng nào nói lên mục đích của luận điểm số 2 (từ Câu thứ hai đến như thế hay sao)? A. Khẳng định bài thơ đang nói tới hai cây chuối khác nhau B. Phân tích một cách hiểu chưa hợp lý về câu thơ số 2 trong bài Ba tiêu C. Phân tích ý nghĩa của thơ số 2 trong bài Ba tiêu D. Chữ “mầu” trong câu thơ thứ 2 phải hiểu là “mùi” mới đúng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 2
Lời giải chi tiết:
Mục đích của luận điểm 2: Phân tích một cách hiểu chưa hợp lý về câu thơ số 2 trong bài Ba tiêu
→ Đáp án B
|
Câu 7: Vì sao, tác giả “thấy mình bừng sáng hiểu vào sự huyền diệu của cả bài thơ”? A. Tôi không cần phải “phát hiện” hai bài thơ nào mâu thuẫn nhau hết B. Ba tiêu chính là một bài thơ nguyên khôi, nhất quán, của Nguyễn Trãi làm C. Trước đây tại vì tôi chưa hiểu nổi, nên mới thắc mắc D. Tất cả các ý trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 4
Lời giải chi tiết:
Tác giả “thấy mình bừng sáng hiểu vào sự huyền diệu của cả bài thơ”, vì:
+ Tôi không cần phải “phát hiện” hai bài thơ nào mâu thuẫn nhau hết
+ Ba tiêu chính là một bài thơ nguyên khôi, nhất quán, của Nguyễn Trãi làm
+ Trước đây tại vì tôi chưa hiểu nổi, nên mới thắc mắc
→ Đáp án D
|
Câu 8: Lập luận: Ta hẵng để ý: tại sao Nguyễn Trãi không viết “lại tốt thêm”? Lại tốt thêm thì có vẻ dung tục, không đủ trân trọng… nhằm mục đích gì? A. Có thể dùng “lại tốt thêm” thay thế cho “tốt lại thêm” B. “tốt lại thêm” biểu đạt ý tuyệt vời nhất C. Cách hiểu chính xác về “tốt lại thêm” D. Có thể dùng từ khác thay thế cho “tốt lại thêm” |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ lập luận và đoạn văn 4
Lời giải chi tiết:
Lập luận: Ta hẵng để ý: tại sao Nguyễn Trãi không viết “lại tốt thêm”? Lại tốt thêm thì có vẻ dung tục, không đủ trân trọng… nhằm mục đích:
Khẳng định cách diễn đạt “tốt lại thêm” biểu đạt ý tuyệt vời nhất
→ Đáp án B
Câu 9: Xác định, phân tích vai trò của một số yếu tố biểu cảm trong văn bản Một bài thơ của Nguyễn Trãi: “Ba tiêu” – Xuân Diệu (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và chỉ ra một số yếu tố biểu cảm
Phân tích vai trò của các yếu tố đó
Lời giải chi tiết:
- Câu văn có yếu tố biểu cảm:
+ Tôi bỗng “ồ” lên một tiếng và thấy mình bừng sáng hiểu vào sự huyền diệu của cả bài thơ. Tôi không cần phải “phát hiện” hai bài thơ nào mâu thuẫn nhau hết, mà đây chính là một bài thơ nguyên khối, nhất quán, của Nguyễn Trãi.
+ “đầy buồng lạ mầu thâu đêm”, và chữ “lạ” với chữ “mầu” làm cho câu thơ chữ Nôm còn dào dạt ngạt ngào hơn câu thơ chữ Hán, đến nỗi đầy cả một buồng.
+ Từ lúc Quốc âm thi tập được phát hiện lại (1956) đến nay, bài thơ như Ba tiêu của Nguyễn Trãi đã trải 24 năm mới chịu gửi cái bí mật thân tình cho bạn đọc.
- Xuân Diệu không bộc lộ trực tiếp cảm xúc hân hoan, say mê của mình khi khám phá giá trị và hiểu trọn vẹn bài thơ Ba tiêu
→ Cảm xúc ấy lan tỏa tác động vào xúc cảm của người đọc…
Câu 10: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: Gượng đây không phải là gượng gạo, mà gượng nhẹ, khẽ khàng: Gió nơi đâu gượng mở xem không? Vì sao?(1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhận định, đưa ra ý kiến bản thân và có lý giải hợp lý
Lời giải chi tiết:
- Học sinh tự thực hiện theo lựa chọn cá nhân
- Gợi ý tham khảo:
+ Gắn từ “gượng” vào chỉnh thể bài thơ để thấy cách hiểu hợp lí
+ Phân tích các hiểu chưa hợp lí (nêu rõ lý do)
→ Suy luận để khẳng định ý kiến cá nhân
PHẦN II. VIẾT
Đọc bài thơ Chốn quê – Nguyễn Khuyến sau đây và viết bài luận phân tích, đánh giá nội dung của bài thơ và tình cảm của nhà thơ dành cho người nông dân ở quê hương mình (dài từ 1,5 -2 trang giấy thi)
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài luận phân tích, đánh giá nội dung, tình cảm tác giả dành cho quê hương mình qua bài thơ Chốn quê – Nguyễn Khuyến |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0.25 |
- Giới thiệu tác phẩm, tác giả - Đánh giá khái quát của người viết về tác phẩm |
|
Thân bài |
3 |
Gồm các ý chính (từ 2 luận điểm trở lên) - Phân tích đánh giá về nội dung: phản ánh hiện thực cuộc sống thiếu thốn vất vả của người dân quê (Câu chứa luận điểm + lí lẽ + dẫn chứng phù hợp) +Mất mùa liên miên, thuế cao, nhiều công nợ + Cuộc sống thiếu hụt… - Phân tích tình cảm – tấm lòng của nhà thơ đối với nông dân… + Thấu hiểu, cảm thông + Thương cảm, lo lắng… |
|
Kết bài |
0.25 |
- Khẳng định giá trị của tác phẩm - Sự tác động của bài thơ tới cảm xúc, suy nghĩ bản thân… |
|
Yêu cầu khác |
0.5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận văn học) - Phân tích, suy luận, bình luận phù hợp với nội dung của bài thơ, phù hợp với văn hóa dân tộc… - Tránh suy diễn vô căn cứ |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Chân trời sáng tạo - Đề số 4
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
MỘT BÀI THƠ CỦA NGUYỄN TRÃI: BA TIÊU
(Xuân Diệu)
Trong 254 bài thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, có một bài thơ chỉ cần 4 câu thôi mà tôi trải qua 24 năm, mới dám tự bảo mình rằng gọi là hiểu. Đó là bài “Ba tiêu”.
“Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm
Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín,
Gió nơi đâu gượng mở xem”
Người đời trước viết trên lụa: tàu lá chuối non kia màu xanh ngọc thạch, còn cuộn lại như lụa cuốn, như bức thư quý báu trang nhã viết trên lụa bạch, đó là một bức thư tình e ấp, vậy mời trang phong lưu là gió, hãy mở thư xem…
Câu thứ hai: Đầy buồng lạ mầu thâu đêm, ai có ngờ lại là câu khó hơn cả, mà cũng “diệu” hơn cả. Bản Trần Văn Giáp phiên âm là mầu và chú thích: - “Cứ theo chữ Nôm viết ở nguyên bản, cho nên phiên âm là Mầu, nhưng đáng lẽ là mùi mới đúng. Mùi thâu đêm là mùi hương suốt đêm, chú như vậy, thì “buồng lạ” tức là buồn chuối chín thơm ngào ngạt. Bản Đào Duy Anh chú: - “Buồng lạ”: chỉ buồng chuối, so với các quả cây khác thì cũng lạ. Mầu thâu đêm: “chuối chín thơm ngát suốt cả đêm”. Hai lời chú thích đều hiểu buồng là buồng chuối. Và tôi cũng hiểu như thế, chứ không có cách nào khác.
Tuy nhiên, những năm gần đây, tôi suy nghĩ lại, và bỗng nhận thấy một điều, nhưng tôi thấy không tiện nói ra. Vì không tiện nói ra, cho nên tôi không dám dây dưa đưa dẫn hai câu đầu. Bởi, nếu giới thiệu cả 4 câu, thì tôi bắt buộc phải góp ý kiến rằng: đây là bài thơ chồng lên nhau, chứ không phải là một bài, bởi hai câu đầu nói tới “buồng lạ”, buồng chuối, hai câu sau thì nói tới lá chuối non. Mà khi cây chuối đã trổ ra buồng, thậm chí buồng chuối chín, thì nó không còn có thể ra lá non, thậm chí lá non cuốn lại được nữa. Như vậy phải là hai cây chuối khác nhau ở trong bài thơ, như vậy là hai bài thơ chắp vào nhau trong 4 câu, chứ không phải một bài tứ tuyệt, nhất quán, nguyên khôi. Như vậy thì Ức Trai làm thơ như thế hay sao?
[...] Đến hôm nay, tôi rất cảm ơn người bạn của tôi, anh ấy bảo với tôi: Trong thơ chữ Hán của Ức Trai, có bài Lãnh noãn tịch, có câu thơ: “Hồng lâu dạ vĩnh giác xuân tư” nghĩa là: “Lầu hồng đêm thâu cảm thấy có một mùa xuân riêng mình”, tức là thơ chữ Hán cũng với một tứ với thơ chữ Nôm “Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm” đó. Tôi bỗng “ồ” lên một tiếng và thấy mình bừng sáng hiểu vào sự huyền diệu của cả bài thơ. Tôi không cần phải “phát hiện” hai bài thơ nào mâu thuẫn nhau hết, mà đây chính là một bài thơ nguyên khôi, nhất quán của Nguyễn Trãi làm, tại vì tôi chưa hiểu nổi, nên mới thắc mắc. Trước hết trong câu mở đầu: “Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm”. Ta hẵng để ý: tại sao Nguyễn Trãi không viết “lại tốt thêm”? Lại tốt thêm thì có vẻ dung tục, không đủ trân trọng đối với chủ từ của câu chẳng qua theo đà, theo thế, theo thời, mà thêm tốt, còn “tốt lại thêm” tức là: Vốn cái tốt đã là bản chất rồi. Nay từ lúc bén hơi xuân thì tốt thêm.
Hóa ra cái thần của bài thơ không ở hai câu 3,4, một hình tượng, mà ở câu 2, một xúc cảm: “Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm”. Đầy phòng, đầy buồng khuê, là một sự “lạ”, mầu đây, theo ý tôi, là nhiệm mầu, mầu nhiệm thâu đêm, đồng thời và cũng cần hiểu mầu như ở trong “đất mầu”. Ôi! Nếu là thơ Ức Trai nói về sự rung động đầu tiên của giai nhân vào buổi đương thời thì việc ấy có giảm gì uy tín của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi? Bao nhiêu nhà thơ lớn trước Nguyễn Trãi ở Á Đông, ở trên thế giới đã nói và nói một cách trang nhã, sao lại muốn rằng Nguyễn Trãi đừng nói, dù là nói một cách trang nhã? Sự thật là Nguyễn Trãi đã nói rồi, câu thơ chữ Hán dạ vĩnh giác xuân tư, “đêm thâu cảm thấy một xuân riêng” bênh vực cho câu thơ chữ Nôm “đầy buồng lạ mầu thâu đêm”, và chữ “lạ” với chữ “mầu” làm cho câu thơ chữ Nôm còn dào dạt ngạt ngào hơn câu thơ chữ Hán, đến nỗi đầy cả một buồng. Hơn năm trăm năm sau, hàng cháu chắt của nhà thơ Ức Trai là nhà thơ Hàn Mặc Tử (1912-1940) cũng có một tứ thơ gần với Ức Trai, và đã gộp cả chữ “lạ” trong thơ chữ Nôm và chữ “xuân” trong thơ chữ Hán của Ức Trai: “Chàng ơi, chàng ơi, sự lạ đêm qua – Mùa xuân tới, mà không ai biết cả”.
Nếu hiểu “buồng” là buồng chuối như tôi đã hiểu, và như hai nhà phiên âm Trần Văn Giáp và Đào Duy Anh đã hiểu, thì bài thơ lại tách ra làm hai bài mâu thuẫn nhau một cách vô lý – điều mà nhà thơ Ức Trai quyết không làm.
Và khi đã hiểu được chữ “diệu” của bài thơ, khi đã hiểu đây là mùa xuân riêng xuất hiện, thì hai câu cuối đến dính liền một cách thoải mái vào hai câu trên. Hiểu là một ngôi thứ ba, một “nhà văn” nào đó nói hộ tâm sự cho giai nhân, và mời hộ gió mở bức thư lá chuối non thì cũng được, tuy nhiên,… đã là thư tình thì chính người viết, người cuộn người gửi lấy bằng cách này hay cách khác cho đối tượng của mình đọc, cho nên tôi muốn hiểu cả bài tứ tuyệt là một ngôi thứ nhất, phía sau cây ba tiêu là một giai nhân tự nói lấy cho mình, đầy phòng ngào ngạt thâu đêm, chẳng lẽ lại người nào cũng ngoài phòng nói điều ấy, phải là người ở trong phòng tự nói:
Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm
Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín
Bức thư tình của lá: em còn e ấp cuộn lại, còn kín, một cái ghen tuông phóng nhụy, ngôi thứ hai là “gió”, là đối tượng anh, người mà ta mong mỏi đang ở nơi đâu? Gượng đây không phải là ngượng gạo, mà là gượng nhẹ, khẽ khàng: Gió nơi đâu gượng mở xem
Từ lúc Quốc âm thi tập được phát hiện lại (1956) đến nay, bài thơ như Ba tiêu của Nguyễn Trãi đã trải 24 năm mới chịu gửi cái bí mật thân tình cho bạn đọc
(trích “Kỉ niệm sáu trăm năm ngày sinh Nguyễn Trãi”)
Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại nào?
A. Văn bản truyện, kể về một người bạn
B. Văn bản nghị luận xã hội, bàn về cách đánh giá một tác phẩm thơ
C. Văn bản nghị luận văn học, đánh giá giá trị tác phẩm thơ
D. Văn bản kí, ghi lại hành trình nhận thức của tác giả
Câu 2: Nội dung của luận điểm 2 là gì?
A. Giá trị bài ở 2 câu kết
B. Sự huyền diệu của bài thơ
C. Câu thơ “diệu” hơn cả
D. Thần của bài thơ: xúc cảm
Câu 3: Dòng nào sau đây nói lên nội dung của luận điểm 4?
A. Giá trị bài ở 2 câu kết
B. Thần của bài thơ: xúc cảm
C. Câu thơ “diệu” hơn cả
D. Sự huyền diệu của bài thơ
Câu 4: Dẫn chứng “Chàng ơi, chàng ơi, sự lạ đêm qua – Mùa xuân tới, mà không ai biết cả” để làm sáng tỏ cho luận điểm nào sau đây?
A. Câu thơ “diệu” hơn cả
B. Sự huyền diệu của bài thơ
C. Thần của bài thơ: xúc cảm
D. Vẻ đẹp của toàn bài thơ
Câu 5: Dòng nào nói lên mục đích của luận điểm số 5 của văn bản?
A. Làm rõ bài thơ là một thể thống nhất – lời giai nhân tự nói cho mình
B. Người đọc hiểu đúng về chữ “gượng”
C. Làm rõ đối tượng tâm tình: anh, người mà ta mong mỏi đang ở nơi đâu?
D. Phủ nhận ý: ngôi thứ ba, một “nhà văn” nào đó nói hộ tâm sự cho giai nhân
Câu 6: Dòng nào nói lên đặc điểm dẫn chứng/ bằng chứng trong văn bản trên?
A. Dẫn chứng trực tiếp
B. Dẫn chứng gián tiếp
C. Dẫn chứng thuộc bài thơ Ba tiêu, bài thơ khác và chú giải
D. Dẫn chứng phong phú, đa dạng (thơ và văn xuôi)
Câu 7: Văn bản Một bài thơ của Nguyễn Trãi: “Ba tiêu” phân tích sâu sắc nhất ý nghĩa của câu thơ nào trong bài thơ tứ tuyệt đó?
A. Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm
B. Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm
C. Tình như một bức phong còn kín
D. Gió nơi đâu gượng mở xem
Câu 8: Dòng không nói lên mục đích của văn bản Một bài thơ của Nguyễn Trãi: “Ba tiêu”?
A. Một bài tứ tuyệt, nhất quán, nguyên khôi
B. Cái thần của bài thơ không ở hai câu 3,4, một hình tượng mà ở câu 2, một xúc cảm: “Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm”
C. Bài thơ như Ba tiêu của Nguyễn Trãi đã trải 24 năm mới chịu gửi cái bí mật thân tình cho bạn đọc
D. Yếu tố biểu cảm thể hiện cảm xúc của tác giả
Câu 9: Xác định, phân tích vai trò của một số yếu tố biểu cảm trong văn bản Một bài thơ của Nguyễn Trãi: “Ba tiêu” – Xuân Diệu (1đ)
Câu 10: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: Gượng đây không phải là gượng gạo, mà gượng nhẹ, khẽ khàng: Gió nơi đâu gượng mở xem không? Vì sao?(1đ)
II. VIẾT (4đ)
Đọc bài thơ Chốn quê – Nguyễn Khuyến sau đây và viết bài luận phân tích, đánh giá nội dung của bài thơ và tình cảm của nhà thơ dành cho người nông dân ở quê hương mình (dài từ 1,5 -2 trang giấy thi)
CHỐN QUÊ (LÀM RUỘNG)
(Nguyễn Khuyến)
Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.
Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.
Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,
Bao giờ cho biết khỏi đường lo?
(thơ Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 2016)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án

|
Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại nào? A. Văn bản truyện, kể về một người bạn B. Văn bản nghị luận xã hội, bàn về cách đánh giá một tác phẩm thơ C. Văn bản nghị luận văn học, đánh giá giá trị tác phẩm thơ D. Văn bản kí, ghi lại hành trình nhận thức của tác giả |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và đưa ra kết luận về thể loại văn bản
Lời giải chi tiết:
Văn bản nghị luận văn học, đánh giá giá trị tác phẩm thơ
→ Đáp án C
|
Câu 2: Nội dung của luận điểm 2 là gì? A. Giá trị bài ở 2 câu kết B. Sự huyền diệu của bài thơ C. Câu thơ “diệu” hơn cả D. Thần của bài thơ: xúc cảm |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn 2
Lời giải chi tiết:
Nội dung của luận điểm 2: Câu thứ hai: Đầy buồng lạ mầu thâu đêm, ai có ngờ lại là câu khó hơn cả, mà cũng “diệu” hơn cả.
→ Đáp án C
|
Câu 3: Dòng nào sau đây nói lên nội dung của luận điểm 4? A. Giá trị bài ở 2 câu kết B. Thần của bài thơ: xúc cảm C. Câu thơ “diệu” hơn cả D. Sự huyền diệu của bài thơ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn 4
Lời giải chi tiết:
Nội dung luận điểm 4: Thần của bài thơ: xúc cảm
→ Đáp án B
|
Câu 4: Dẫn chứng “Chàng ơi, chàng ơi, sự lạ đêm qua – Mùa xuân tới, mà không ai biết cả” để làm sáng tỏ cho luận điểm nào sau đây? A. Câu thơ “diệu” hơn cả B. Sự huyền diệu của bài thơ C. Thần của bài thơ: xúc cảm D. Vẻ đẹp của toàn bài thơ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 5
Lời giải chi tiết:
Dẫn chứng “Chàng ơi, chàng ơi, sự lạ đêm qua – Mùa xuân tới, mà không ai biết cả” để làm sáng tỏ cho luận điểm: Thần của bài thơ: xúc cảm
→ Đáp án C
|
Câu 5: Dòng nào nói lên mục đích của luận điểm số 5 của văn bản? A. Làm rõ bài thơ là một thể thống nhất – lời giai nhân tự nói cho mình B. Người đọc hiểu đúng về chữ “gượng” C. Làm rõ đối tượng tâm tình: anh, người mà ta mong mỏi đang ở nơi đâu? D. Phủ nhận ý: ngôi thứ ba, một “nhà văn” nào đó nói hộ tâm sự cho giai nhân |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 5 và suy ra mục đích của luận điểm
Lời giải chi tiết:
Mục đích của luận điểm số 5 của văn bản: Làm rõ bài thơ là một thể thống nhất – lời giai nhân tự nói cho mình
→ Đáp án A
|
Câu 6: Dòng nào nói lên đặc điểm dẫn chứng/ bằng chứng trong văn bản trên? A. Dẫn chứng trực tiếp B. Dẫn chứng gián tiếp C. Dẫn chứng thuộc bài thơ Ba tiêu, bài thơ khác và chú giải D. Dẫn chứng phong phú, đa dạng (thơ và văn xuôi) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và chú ý những dẫn chứng/ bằng chứng trong văn bản
Lời giải chi tiết:
Dẫn chứng thuộc bài thơ Ba tiêu, bài thơ khác và chú giải
→ Đáp án C
|
Câu 7: Văn bản Một bài thơ của Nguyễn Trãi: “Ba tiêu” phân tích sâu sắc nhất ý nghĩa của câu thơ nào trong bài thơ tứ tuyệt đó? A. Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm B. Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm C. Tình như một bức phong còn kín D. Gió nơi đâu gượng mở xem |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và chú ý câu thơ được phân tích kĩ nhất
Lời giải chi tiết:
Văn bản Một bài thơ của Nguyễn Trãi: “Ba tiêu” phân tích sâu sắc nhất ý nghĩa của câu thơ Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm (được phân tích trong đoạn 2, đoạn 3 và đoạn 5)
→ Đáp án B
|
Câu 8: Dòng không nói lên mục đích của văn bản Một bài thơ của Nguyễn Trãi: “Ba tiêu”? A. Một bài tứ tuyệt, nhất quán, nguyên khôi B. Cái thần của bài thơ không ở hai câu 3,4, một hình tượng mà ở câu 2, một xúc cảm: “Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm” C. Bài thơ như Ba tiêu của Nguyễn Trãi đã trải 24 năm mới chịu gửi cái bí mật thân tình cho bạn đọc D. Yếu tố biểu cảm thể hiện cảm xúc của tác giả |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ các đề bài và các đáp án
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Mục đích của văn bản Một bài thơ của Nguyễn Trãi: “Ba tiêu”:
- Một bài tứ tuyệt, nhất quán, nguyên khôi
- Cái thần của bài thơ không ở hai câu 3,4, một hình tượng mà ở câu 2, một xúc cảm: “Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm”
- Bài thơ như Ba tiêu của Nguyễn Trãi đã trải 24 năm mới chịu gửi cái bí mật thân tình cho bạn đọc
→ Đáp án D
Câu 9: Xác định, phân tích vai trò của một số yếu tố biểu cảm trong văn bản Một bài thơ của Nguyễn Trãi: “Ba tiêu” – Xuân Diệu (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và chỉ ra một số yếu tố biểu cảm
Phân tích vai trò của các yếu tố đó
Lời giải chi tiết:
- Câu văn có yếu tố biểu cảm:
+ Tôi bỗng “ồ” lên một tiếng và thấy mình bừng sáng hiểu vào sự huyền diệu của cả bài thơ. Tôi không cần phải “phát hiện” hai bài thơ nào mâu thuẫn nhau hết, mà đây chính là một bài thơ nguyên khối, nhất quán, của Nguyễn Trãi.
+ “đầy buồng lạ mầu thâu đêm”, và chữ “lạ” với chữ “mầu” làm cho câu thơ chữ Nôm còn dào dạt ngạt ngào hơn câu thơ chữ Hán, đến nỗi đầy cả một buồng.
+ Từ lúc Quốc âm thi tập được phát hiện lại (1956) đến nay, bài thơ như Ba tiêu của Nguyễn Trãi đã trải 24 năm mới chịu gửi cái bí mật thân tình cho bạn đọc.
- Xuân Diệu không bộc lộ trực tiếp cảm xúc hân hoan, say mê của mình khi khám phá giá trị và hiểu trọn vẹn bài thơ Ba tiêu
→ Cảm xúc ấy lan tỏa tác động vào xúc cảm của người đọc…
Câu 10: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: Gượng đây không phải là gượng gạo, mà gượng nhẹ, khẽ khàng: Gió nơi đâu gượng mở xem không? Vì sao?(1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhận định, đưa ra ý kiến bản thân và có lý giải hợp lý
Lời giải chi tiết:
- Học sinh tự thực hiện theo lựa chọn cá nhân
- Gợi ý tham khảo:
+ Gắn từ “gượng” vào chỉnh thể bài thơ để thấy cách hiểu hợp lí
+ Phân tích các hiểu chưa hợp lí (nêu rõ lý do)
→ Suy luận để khẳng định ý kiến cá nhân
PHẦN II. VIẾT
Đọc bài thơ Chốn quê – Nguyễn Khuyến sau đây và viết bài luận phân tích, đánh giá nội dung của bài thơ và tình cảm của nhà thơ dành cho người nông dân ở quê hương mình (dài từ 1,5 -2 trang giấy thi)
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài luận phân tích, đánh giá nội dung, tình cảm tác giả dành cho quê hương mình qua bài thơ Chốn quê – Nguyễn Khuyến |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0.25 |
- Giới thiệu tác phẩm, tác giả - Đánh giá khái quát của người viết về tác phẩm |
|
Thân bài |
3 |
Gồm các ý chính (từ 2 luận điểm trở lên) - Phân tích đánh giá về nội dung: phản ánh hiện thực cuộc sống thiếu thốn vất vả của người dân quê (Câu chứa luận điểm + lí lẽ + dẫn chứng phù hợp) +Mất mùa liên miên, thuế cao, nhiều công nợ + Cuộc sống thiếu hụt… - Phân tích tình cảm – tấm lòng của nhà thơ đối với nông dân… + Thấu hiểu, cảm thông + Thương cảm, lo lắng… |
|
Kết bài |
0.25 |
- Khẳng định giá trị của tác phẩm - Sự tác động của bài thơ tới cảm xúc, suy nghĩ bản thân… |
|
Yêu cầu khác |
0.5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận văn học) - Phân tích, suy luận, bình luận phù hợp với nội dung của bài thơ, phù hợp với văn hóa dân tộc… - Tránh suy diễn vô căn cứ |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Chân trời sáng tạo - Đề số 5
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
DƯỚI BÓNG HOÀNG LAN: TRUYỆN NGẮN GỢI NGHĨ
(Vũ Hà Minh)
Về truyện ngắn Dưới bóng hoàng lan (DBHL), nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại đã viết: “Trong tập Sợi Tóc, có tất cả 5 truyện, thị trừ truyện DBHL không có gì đặc sắc, còn những truyện Tối Ba Mươi, Cô Hàng Xén, Tình Xưa, Sợi Tóc, đều là những truyện vào hạng những đoản thiên tiểu thuyết đáng kể là hay nhất trong văn chương Việt Nam”.
Với lời bình trên, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan có lẽ là một trong những độc giả đầu tiên đương thời với nhà văn Thạch Lam thừa nhận tài năng của tác giả hàng đầu ấy của văn xuôi Việt Nam. Thế nhưng không hiểu vì sao lại có lồng trong đó một phủ nhận: trừ truyện Dưới bóng hoàng lan không có gì đặc sắc?
Dưới bóng hoàng lan là truyện ngăn không có cốt truyện. Nó không kể một câu chuyện. Nó sâu xa gợi nghĩ. Thời gian đọng lại, không gian tĩnh, nhưng hé lộ kín đáo bi kịch đời người mà độc giả phải đọc kỹ mới cảm được.
“Thanh lách cánh cửa gỗ để khép, nhẹ nhàng bước vào”, câu ấy, mở đầu DBHL đã đáng kể là một trong những câu mở truyện ngắn bậc thầy. Ngắn và gọn, đơn giản, thật thế, mà kỳ thực khó lòng viết ra nổi. Một câu như không, song chắc chắn nhà văn đã phải rất kỳ công. Bởi khó hàng đầu của một truyện ngắn là câu không là do câu đầu truyện quyết định.
Với dạng truyện không cốt truyện thì câu mở truyện lại càng trọng hơn, càng đòi hỏi công phu và thực tài của nhà văn hơn. Trong câu mở của DBHL, từng từ một được lựa không chỉ theo nghĩa mà còn bằng âm để tạo nên cả nhịp điệu cả tiếng động cho câu. Câu mở như thế đưa người đọc vào ngay cái thần của truyện là nỗi nao nao mơ hồ, bâng khuâng và âm thầm.
Truyện ngắn kiệm lời, chỉ gợi ý, khiến người đọc phải tự ngẫm ra. Thanh nghẹn họng; mãi chàng mới cất được tiếng gọi khẽ: Bà ơi. Một nỗi đau buồn thoáng nhanh trong câu ấy, tác giả không lộ rõ ra, Thanh là chàng trai mồ côi cha mẹ một bà một cháu quấn quýt nhau. Thanh ra tỉnh làm rồi đi về hàng năm, các ngày nghỉ. Lần trở về này đã cách kỳ trước hai năm. Có phải đời sống thị thành đã nhiều lúc khiến Thanh quên bằng người bà tóc bạc phơ đang sống những ngày cuối cùng trong đời mỏi mắt trông chờ anh? Đáp lại tiếng gọi Bà ơi, một cái bóng lẹ làng từ trong vụt ra, rơi xuống mặt bàn. Thanh định thần nhìn: con mèo của bà chàng... Thanh mỉm cười lại gần vuốt ve con mèo: “Bà mày đâu?”
Chốn Thanh về mọi thứ đều già cỗi và không đổi. Thời gian như quay ngược lại, không gian đứng lặng. Phong cảnh vẫn y nguyên, gian nhà vẫn tịch mịch và bà chàng vẫn tóc bạc phơ và hiền từ. Trong cảnh bình yên và thong thả của chốn xưa, một hình ảnh tươi mát hiện lên. Cô thiếu nữ xinh xắn trong tà áo trắng, mái tóc đen lánh buông trên cổ nhỏ, bên cạnh mái tóc bạc trắng của bà chàng.
Cuộc đời các nhân vật của DBHL dường như hoàn toàn êm ả trôi xuôi. Tuy nhiên vẫn có cái gì đó bất an mà truyện buộc ta phải nghĩ tới. Những tình huống hiền lành này sẽ kéo dài được bao lâu? Liệu Thanh có thể cứ đều đều hàng năm trở về nơi bình yên và thong thả này? Rồi đây Thanh và cô Nga láng giềng sẽ gắn bó lâu dài hay chỉ là gặp lại nhau vậy thôi rồi ngày mai chàng lại ra đi? Đã phải là tình yêu chưa khi cô Nga nói khe khẽ: Những ngày em đến đây hái hoa, em nhớ anh quá. Văn Thạch Lam đặc biệt hay ở những lời thân thương vô cùng giản dị như thế của con người. Thanh chẳng biết nói gì; chàng vít một cành lan xuống giữ trong tay để Nga tìm hoa, rồi nhẹ nhàng buông ra cho cành lại cong lên. Và trong đêm khuya khi sắp chia tay: Không lưỡng lự, Thanh cầm lấy tay Nga, để yên trong tay mình, Nga cũng đứng lên yên lặng. Lâu lâu, Nga rút tay khẽ nói: Thôi, em về. Thanh đi trở vào rất thong thả. Có cái gì dịu ngọt chăng tơ ở đâu đây, khiến chàng vương phải. Chàng đến trường kỷ ngồi ở bên đèn.
Câu cuối này ngấm vào lòng người bởi nỗi buồn vô hạn và không lời của nó. Người đọc đương thời với Thạch Lam có thể chỉ cảm thấy thương và buồn cho mới tình chưa kịp ngỏ lời, mối tình quá đỗi mong manh, mơ hồ, thoang thoảng như hương hoàng lan trong bóng vườn xưa. Buồn và lãng mạn, văn hay, thật vậy, nhưng chỉ thế thôi, chẳng có chuyện gì, nên người ta dễ cho rằng DBHL không có gì đặc sắc.
Tuy nhiên một nhà văn lớn như Thạch Lam không bao giờ lại cất công viết một cái gì vô thưởng vô phạt. Chắc chắn ông viết DBHL bởi ông cảm thấy một cái gì đó, một cái gì đó không thấy được và không hiểu được nhưng rõ ràng là đang ập tới, đã cận kề những tháng ngày dường như là cực kỳ tĩnh lặng của buổi đương thời cuộc đời ông. Vì vậy nỗi buồn của DBHL thực ra là nỗi đau thương, một nỗi đau thương âm thầm, một niềm tiên cảm về cuộc đời tác giả và cả hoàn cảnh của đất nước nữa những năm tháng sau đó. Thật sự là nỗi đau buồn, dù rằng không thể nhận thấy. Tới cổng, Thanh còn đứng lại nhìn cây hoàng lan và các cây khác trong vườn. Bác Nhân nhanh nhảu cầm đỡ va ly cho chàng. Thanh dặn khẽ: Bảo tôi có lời chào cô Nga nhé. Mối tình không ngỏ lời, không tiễn đưa, không gặp được nhau lần cuối. Tất cả đều trở thành những mảnh trời xanh tan tác. Thanh cúi nhìn bóng chàng lay động trong lòng bể với mảnh trời xanh tan tác. Không lẽ đây không phải là lời dự báo, không phải là điềm báo trước?
Đi sâu vào sở trường của mình là miêu tả những tâm trạng đời người đơn lẻ, nhưng nhờ vậy mà ngòi bút Thạch Lam vô hình trung đã thể hiện được một phần tâm trạng của cả một thời. Bóng hoàng lan đây là bóng mát cuối cùng của thời quá khứ. Một chốn bình yên và thong thả cho người bộ hành trẻ tuổi trên dọc đường đời. Nhưng là một chốn bình yên không bao giờ còn có lại, chí ít là với riêng cuộc đời nhà văn.
(https://by.com.vn/Rzr7K)
Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại nào? Chỉ ra dấu hiệu nhận biết
A. Văn bản truyện, kể về một người bạn
B. Văn bản nghị luận xã hội, bàn về cách đánh giá một tác phẩm thơ
C. Văn bản nghị luận văn học, đánh giá giá trị tác phẩm thơ
D. Văn bản kí, ghi lại hành trình nhận thức của tác giả
Câu 2: Đâu không phải nội dung của văn bản “Dưới bóng hoàng lan: truyện ngắn gợi nghĩ”?
A. Không có cốt truyện
B. Êm ả trôi xuôi nhưng bất an
C. Đau thương âm thầm
D. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
Câu 3: Dòng nào sau đây nói lên cách mở đầu đặc biệt của văn bản “Dưới bóng hoàng lan: truyện ngắn gợi nghĩ”?
A. Dẫn ý kiến của nhà phê bình để kết nối vào luận đề
B. Kể chuyện về nhà phê bình để bàn luận
C. Vào luận đề bằng thủ pháp đối lập
D. Vào luận đề bằng cách nêu ý kiến
Câu 4: Đoạn văn bản từ “Thanh lách cánh cửa… đến do câu đầu truyện quyết định” chứa những yếu tố nào thuộc văn bản nghị luận?
A. Dẫn chứng + lí lẽ
B. Lí lẽ + luận điểm
C. Dẫn chứng + nêu luận điểm + lí lẽ
D. Dẫn chứng
Câu 5: Văn bản “Dưới bóng hoàng lan: truyện ngắn gợi nghĩ” đã gợi nghĩ về điều nào sau đây?
A. Một nỗi đau buồn thoáng nhanh
B. Cuộc đời nhân vật êm ả trôi xuôi nhưng bất an
C. Một cái gì đó không thấy được nhưng rõ ràng là đang ập tới, đã cận kề
D. Tất cả các ý trên
Câu 6: Đoạn văn bản từ “Truyện ngắn kiệm lời… đến mỏi mắt trông chờ anh?” có vai trò như thế nào đối với toàn văn bản?
A. Làm sáng lên luận điểm: Truyện ngắn kiệm lời, chỉ gợi ý
B. Đoạn có vai trò quan trọng nhất trong văn bản làm sáng lên luạn đề: “truyện ngắn gợi nghĩ”
C. Làm sáng lên luận điểm: Một nỗi đau buồn thoáng nhanh
D. Là lí lẽ làm sáng tỏ ý: Chốn Thanh về mọi thứ đều già cỗi và không đổi
Câu 7: Dẫn chứng: “Thanh cúi nhìn bóng chàng lay động trong lòng bể với mảnh trời xanh tan tác” để làm sáng tỏ luận điểm nào sau đây?
A. Cuộc đời các nhân vật của DBHL dường như hoàn toàn êm ả trôi xuôi
B. Truyện không có cốt truyện
C. Nỗi buồn của DBHL thực ra là nỗi đau thương, một nỗi đau thương âm thầm
D. Bóng hoàng lan là bóng mát cuối cùng
Câu 8: “Những tình huống hiền lành này sẽ kéo dài được bao lâu? Liệu Thanh có thể cứ đều đều hàng năm trở về nơi bình yên và thong thả này?” là:
A. Câu chứa luận điểm
B. Lý lẽ
C. Dẫn chứng
D. Nêu luận đề
Câu 9: Em thích nhất nhận định nào về tác phẩm Dưới bóng hoàng lan? Vì sao? (0.5đ)
Câu 10:Có thể thay đổi trật tự các luận điểm chính trong văn bản “Dưới bóng hoàng lan: truyện ngắn gợi nghĩ” không? Vì sao?(0.5đ)
Câu 11: Văn bản “Dưới bóng hoàng lan: truyện ngắn gợi nghĩ giúp em nhận thức thêm điều gì về bối cảnh văn hóa, xã hội thời Thạch Lam sống? (1đ)
II. VIẾT (4đ)
1. Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)
|
Văn bản 1 Tiếp cận cấu trúc bề mặt tác phẩm:… Người bình thơ cũng có thể bình một câu, vài ba câu, một đoạn, một khổ thơ bất kỳ nào đó trên văn bản bài thơ, miễn là số lượng từ bình cần bảo đảm đủ yêu cầu của một tác phẩm bình thơ trong quan hệ tương ứng hợp lý với bài thơ. Thí dụ, đơn vị tác phẩm thơ nhỏ nhất là một câu thơ (Tôi đứng về phe nước mắt – Dương Tường) thì không thể chỉ dùng một câu văn ngắn thông thường để bình. Một câu có thể là một tác phẩm thơ ở dạng đặc biệt, nhưng khó chấp nhận một tác phẩm bình chỉ vẻn vẹn một câu văn với ngữ pháp và độ dài thông thường. (http://by.com.vn/ZdDwH) |
Văn bản 2 Tiếp cận trực tiếp ý nghĩa tác phẩm: Đây là phần tiếp cận chính, quan trọng nhất. Nếu hai cách tiếp cận vừa nêu nghiêng về mặt cơ học, hoặc chỉ chú ý về một khía cạnh nhất định, thì cách tiếp cận thứ ba này đi thẳng vào bản chất nghệ thuật của tác phẩm. Ý nghĩa tác phẩm có thể là tạm phân ra ba loại: ý nghĩa về nội dung, cảm hứng, tư tưởng, vấn đề; ý nghĩa nghệ thuật (tứ thơ, ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ, giọng điệu thơ, câu thơ…); ý nghĩa tổng hợp cả nội dung và nghệ thuật nói trên. Tứ thơ và tinh thần bài thơ là hai yếu tố cần xem trọng đầu tiên. (http://by.com.vn/ZdDwH) |
a. Xác định điểm chung của 2 đoạn văn bản trên
b. Khi đánh giá, phân tích một tác phẩm văn học, ta cần tiếp cận cấu trúc bề mặt tác phẩm hay tiếp cận trực tiếp ý nghĩa tác phẩm? Vì sao?
2. Viết bài luận đánh giá một tác phẩm văn học mà em yêu thích (thuộc thể loại đã học trong chương trình Ngữ Văn 10) theo 1 trong 2 hướng tiếp cận đã nêu trong 2 đoạn văn bản trên. Bài có đô dài từ 1,5 đến 2 trang giấy thi (3đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1(0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3(0.5đ) |
Câu 4(0.5đ) |
Câu 5(0.5đ) |
Câu 6(0.5đ) |
Câu 7(0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
C |
D |
A |
C |
D |
B |
C |
B |
|
Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại nào? Chỉ ra dấu hiệu nhận biết A. Văn bản truyện, kể về một người bạn B. Văn bản nghị luận xã hội, bàn về cách đánh giá một tác phẩm thơ C. Văn bản nghị luận văn học, đánh giá giá trị tác phẩm thơ D. Văn bản kí, ghi lại hành trình nhận thức của tác giả |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và nhớ lại kiến thức về thể loại
Lời giải chi tiết:
Văn bản trên thuộc thể loại nghị luận văn học
Dấu hiệu nhận biết: văn bản đánh giá một khía cạnh thuộc tác phẩm truyện
→ Đáp án C
|
Câu 2: Đâu không phải nội dung của văn bản “Dưới bóng hoàng lan: truyện ngắn gợi nghĩ”? A. Không có cốt truyện B. Êm ả trôi xuôi nhưng bất an C. Đau thương âm thầm D. Nghệ thuật xây dựng nhân vật |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Nội dung của văn bản:
- Không có cốt truyện
- Êm ả trôi xuôi nhưng bất an
- Thể hiện sự đau thương âm thầm
→ Đáp án D
|
Câu 3: Dòng nào sau đây nói lên cách mở đầu đặc biệt của văn bản “Dưới bóng hoàng lan: truyện ngắn gợi nghĩ”? A. Dẫn ý kiến của nhà phê bình để kết nối vào luận đề B. Kể chuyện về nhà phê bình để bàn luận C. Vào luận đề bằng thủ pháp đối lập D. Vào luận đề bằng cách nêu ý kiến |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ phần mở đầu
Rút ra đặc điểm của cách mở đầu ấy
Lời giải chi tiết:
Cách mở đầu của văn bản: “… nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại đã viết…”→ dẫn ý kiến của nhà phê bình để kết nối vào luận đề
→ Đáp án A
|
Câu 4: Đoạn văn bản từ “Thanh lách cánh cửa… đến do câu đầu truyện quyết định” chứa những yếu tố nào thuộc văn bản nghị luận? A. Dẫn chứng + lí lẽ B. Lí lẽ + luận điểm C. Dẫn chứng + nêu luận điểm + lí lẽ D. Dẫn chứng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Đoạn văn chứa yếu tố:
- Dẫn chứng: “Thanh lách cánh cửa gỗ… vào”
- Nêu luận điểm: mở đầu DBHL đã đáng kể là một trong những câu mở truyện ngắn bậc thầy
- Lý lẽ: Ngắn và gọn… quyết định
→ Đáp án C
|
Câu 5: Văn bản “Dưới bóng hoàng lan: truyện ngắn gợi nghĩ” đã gợi nghĩ về điều nào sau đây? A. Một nỗi đau buồn thoáng nhanh B. Cuộc đời nhân vật êm ả trôi xuôi nhưng bất an C. Một cái gì đó không thấy được nhưng rõ ràng là đang ập tới, đã cận kề D. Tất cả các ý trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và các đáp án
Lời giải chi tiết:
Văn bản đã gợi nghĩ về:
- Một nỗi đau buồn thoáng nhanh
- Cuộc đời nhân vật êm ả trôi xuôi nhưng bất an
- Một cái gì đó không thấy được nhưng rõ ràng là đang ập tới, đã cận kề
→ Đáp án D
|
Câu 6: Đoạn văn bản từ “Truyện ngắn kiệm lời… đến mỏi mắt trông chờ anh?” có vai trò như thế nào đối với toàn văn bản? A. Làm sáng lên luận điểm: Truyện ngắn kiệm lời, chỉ gợi ý B. Đoạn có vai trò quan trọng nhất trong văn bản làm sáng lên luạn đề: “truyện ngắn gợi nghĩ” C. Làm sáng lên luận điểm: Một nỗi đau buồn thoáng nhanh D. Là lí lẽ làm sáng tỏ ý: Chốn Thanh về mọi thứ đều già cỗi và không đổi |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn và toàn văn bản
Liên hệ vai trò của đoạn văn với toàn văn bản
Lời giải chi tiết:
Đoạn văn có vai trò quan trọng nhất trong văn bản, làm sáng lên luận đề “truyện ngắn gợi nghĩ”
→ Đáp án B
|
Câu 7: Dẫn chứng: “Thanh cúi nhìn bóng chàng lay động trong lòng bể với mảnh trời xanh tan tác” để làm sáng tỏ luận điểm nào sau đây? A. Cuộc đời các nhân vật của DBHL dường như hoàn toàn êm ả trôi xuôi B. Truyện không có cốt truyện C. Nỗi buồn của DBHL thực ra là nỗi đau thương, một nỗi đau thương âm thầm D. Bóng hoàng lan là bóng mát cuối cùng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ dẫn chứng và văn bản
Lời giải chi tiết:
Dẫn chứng làm sáng rõ luận điểm: Nỗi buồn của DBHL thực ra là nỗi đau thương, một nỗi đau thương âm thầm
→ Đáp án C
|
Câu 8: “Những tình huống hiền lành này sẽ kéo dài được bao lâu? Liệu Thanh có thể cứ đều đều hàng năm trở về nơi bình yên và thong thả này?” là: A. Câu chứa luận điểm B. Lý lẽ C. Dẫn chứng D. Nêu luận đề |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu văn và liên hệ với tổng thể toàn văn bản
Lời giải chi tiết:
Câu văn trên là lý lẽ chứng minh cho luận điểm: Cuộc đời các nhân vật của DBHL dường như hoàn toàn êm ả trôi xuôi
→ Đáp án B
Câu 9: Em thích nhất nhận định nào về tác phẩm Dưới bóng hoàng lan? Vì sao? (0.5đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và xác định nhận định mình thích nhất
Giải thích lí do
Lời giải chi tiết:
- Xác định và lựa chọn đúng câu chứa luận điểm/ quan điểm/ bình luận sắc nét về một khía cạnh/ phương diện cụ thể của tác phẩm Dưới bóng hoàng lan
- Nêu rõ ls do yêu thích (2 lý do trở nên; lí do phải có căn cứ, bám sát một dẫn chứng trong văn bản)
Câu 10: Có thể thay đổi trật tự các luận điểm chính trong văn bản “Dưới bóng hoàng lan: truyện ngắn gợi nghĩ” không? Vì sao?(0.5đ)
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Không thể thay đổi được
- Vì các luận điểm đi từ khái quát đến cụ thể, đi từ mở đầu vào chiều sâu nội dung của tác phẩm “Dưới bóng hoàng lan” – Thạch Lam
Câu 11: Văn bản “Dưới bóng hoàng lan: truyện ngắn gợi nghĩ giúp em nhận thức thêm điều gì về bối cảnh văn hóa, xã hội thời Thạch Lam sống? (1đ)
Phương pháp giải
Dựa vào nhận thức về bản thân
Lời giải chi tiết
- Gợi ý:
+ Xã hội, đất nước chứa một nỗi đau thương âm thầm,… cuộc sống của con người buồn, chứa âu lo
+ Có điều bất ổn đang ập tới, đã cận kề
II. VIẾT (4đ)
1. Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)
|
Văn bản 1 Tiếp cận cấu trúc bề mặt tác phẩm:… Người bình thơ cũng có thể bình một câu, vài ba câu, một đoạn, một khổ thơ bất kỳ nào đó trên văn bản bài thơ, miễn là số lượng từ bình cần bảo đảm đủ yêu cầu của một tác phẩm bình thơ trong quan hệ tương ứng hợp lý với bài thơ. Thí dụ, đơn vị tác phẩm thơ nhỏ nhất là một câu thơ (Tôi đứng về phe nước mắt – Dương Tường) thì không thể chỉ dùng một câu văn ngắn thông thường để bình. Một câu có thể là một tác phẩm thơ ở dạng đặc biệt, nhưng khó chấp nhận một tác phẩm bình chỉ vẻn vẹn một câu văn với ngữ pháp và độ dài thông thường. (http://by.com.vn/ZdDwH) |
Văn bản 2 Tiếp cận trực tiếp ý nghĩa tác phẩm: Đây là phần tiếp cận chính, quan trọng nhất. Nếu hai cách tiếp cận vừa nêu nghiêng về mặt cơ học, hoặc chỉ chú ý về một khía cạnh nhất định, thì cách tiếp cận thứ ba này đi thẳng vào bản chất nghệ thuật của tác phẩm. Ý nghĩa tác phẩm có thể là tạm phân ra ba loại: ý nghĩa về nội dung, cảm hứng, tư tưởng, vấn đề; ý nghĩa nghệ thuật (tứ thơ, ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ, giọng điệu thơ, câu thơ…); ý nghĩa tổng hợp cả nội dung và nghệ thuật nói trên. Tứ thơ và tinh thần bài thơ là hai yếu tố cần xem trọng đầu tiên. (http://by.com.vn/ZdDwH) |
a. Xác định điểm chung của 2 đoạn văn bản trên
Phương pháp giải
Đọc kĩ hai văn bản và suy ra điểm chung
Lời giải chi tiết
Điểm chung của văn bản: Cùng bàn về cách tiếp cận tác phẩm văn học
b. Khi đánh giá, phân tích một tác phẩm văn học, ta cần tiếp cận cấu trúc bề mặt tác phẩm hay tiếp cận trực tiếp ý nghĩa tác phẩm? Vì sao?
Phương pháp giải
Đọc kĩ hai văn bản, đưa ra ý kiến của bản thân và giải thích lý do
Lời giải chi tiết
Cần tiếp cận cả cấu trúc bề mặt tác phẩm và tiếp cận ý nghĩa tác phẩm
Bởi cấu trúc bề mặt tác phẩm là cơ sở để tiếp ý nghĩa tác phẩm (nếu không tiếp cận cấu trúc bề mặt tác phẩm mà tiếp cận trực tiếp ý nghĩa tác phẩm sẽ sa vào tình trạng suy diễn… khó thuyết phục người đọc)
2. Viết bài luận đánh giá một tác phẩm văn học mà em yêu thích (thuộc thể loại đã học trong chương trình Ngữ Văn 10) theo 1 trong 2 hướng tiếp cận đã nêu trong 2 đoạn văn bản trên. Bài có đô dài từ 1,5 đến 2 trang giấy thi (3đ)
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài luận đánh giá một tác phẩm văn học mà em yêu thích theo 2 hướng tiếp cận: cấu trúc bề mặt tác phẩm và ý nghĩa tác phẩm |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0.25 |
- Giới thiệu tác phẩm, tác giả - Giới thiệu luận đề: tiếp cận tác phẩm theo cấu trúc bề mặt tác phẩm và ý nghĩa tác phẩm |
|
Thân bài |
2 |
Gồm các ý chính (từ 2 luận điểm trở lên) - Phân tích đánh giá cấu trúc bề mặt tác phẩm + Giá trị nội dung tác phẩm (Câu chứa luận điểm+ lí lẽ + dẫn chứng phù hợp) +Giá trị hình thức nghệ thuật của tác phẩm như cấu trúc, nghệ thuật đặc sắc, ngôn ngữ, hình ảnh… (Câu chứa luận điểm + lí lẽ + dẫn chứng phù hợp) - Phân tích đánh giá ý nghĩa tác phẩm (ý nghĩa bộ phận/ ý nghĩa toàn tác phẩm) |
|
Kết bài |
0.5 |
- Khẳng định giá trị của tác phẩm - Sự tác động của văn bản tới bản thân, xã hội |
|
Yêu cầu khác |
0.25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận văn học) - Phân tích, suy luận, bình luận phù hợp với nội dung của bài thơ, phù hợp với văn hóa dân tộc… - Tránh suy diễn vô căn cứ |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Chân trời sáng tạo - Đề số 6
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
Thuật hứng 24
Công danh đã được hợp (1) về nhàn,
Lành dữ âu chi (2) thế nghị (3) khen.
Ao cạn vớt bèo cấy muống,
Đìa thanh (4) phát cỏ ương sen.
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc (5),
Thuyền chở yên hà (6) nặng vạy (7) then.
Bui có một lòng trung lẫn (9) hiếu,
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen. (10)
(Thuật hứng 24 – Nguyễn Trãi, Trích Luận đề về Nguyễn Trãi, NXB Thanh niên, 2003, tr.87)
(1) Hợp: Tiếng cổ có nghĩa là đáng, nên
(2) Âu chi: Lo chi
(3) Nghị: dị nghị ở đây hiểu là chê
(4) Đìa thanh: đìa là vũng nước ngoài đồng. Thanh là trong
(5) Đầy qua nóc: đầy quá nóc nhà, nóc kho
(6) Yên hà: khói, ráng
(7) Vạy: oằn, cong. Nặng vạy then: chở nặng làm thang thuyền oằn xuống
(8) Bui: tiếng cổ, nghĩa là chỉ có
(9) Lẫn: (hoặc lễn, miễn): tiếng cổ nghĩa là với hoặc và
(10) Mài chăng khuyết… mài cũng không mòn, nhuộm cũng không đen: Ý nói lòng trung hiếu bền vững
Câu 1: Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?
A. Thơ tự do
B. Thơ thất ngôn xen lục ngôn
C. Thơ thất ngôn
D. Thơ thất ngôn bát cú
Câu 2: Cặp từ trái nghĩa trong câu thơ thứ hai Lành dữ âu chi thế nghị khen là cặp từ nào?
A. Khen - chê
B. Lành - khen
C. Lành – dữ
D. Lành – dữ và khen - chê
Câu 3: Trong 2 câu thực: Ao cạn vớt bèo cấy muống – Đìa thanh phát cỏ ương sen, tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?
A. Đối
B. Nhân hóa
C. Ẩn dụ
D. Liệt kê
Câu 4: Trong hai câu luận: Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc – Thuyền chở yên hà nặng vạy then, tác giả đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật gì?
A. Nhân hóa và so sánh
B. So sánh và ẩn dụ
C. Đối và phóng đại
D. Nhân hóa và đối
Câu 5: Hai câu thơ kết cho ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn gì ở nhà thơ Nguyễn Trãi?
A. Tấm lòng trung hiếu (lòng yêu nước, thương dân), kiên trì với lí tưởng yêu nước thương dân…
B. Tâm hồn thanh cao, lối sống thanh nhàn, hòa hợp với tự nhiên
C. Bất mãn với cuộc sống nghèo khổ ở chốn nông thôn, chán ghét thực tại
D. Tâm hồn yêu thiên nhiên, muốn sống cuộc đời ẩn dật, thanh cao chốn làng quê
Câu 6: Trong bài thơ có mấy câu thơ lục ngôn?
A. 1 câu
B. 2 câu
C. 3 câu
D. 4 câu
Câu 7: Từ “phong nguyệt” trong câu thơ Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc được hiểu là gì?
A. Có nghĩa là gió trăng
B. Có nghĩa là mây gió
C. Có nghĩa là gió lớn
D. Có nghĩa là trăng sáng
Câu 8: Hình ảnh hai câu thơ: Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc – Thuyền chở yên hà nặng vạy then cho thấy điều gì trong con người Nguyễn Trãi?
A. Một con người gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết
B. Một con người nghệ sĩ có tâm hồn lãng mạn, phóng khoáng
C. Một người nông dân gắn bó với cuộc sống giản dị nơi làng quê
D. Vừa là một con người gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết, vừa là một người nghệ sĩ có tâm hồn lãng mạn, phóng khoáng
Câu 9: Nêu suy nghĩ của em về 2 câu thơ đầu của bài thơ:(1đ)
Công danh đã được hợp về nhàn,
Lành dữ âu chi thế nghị khen.
Câu 10: Em có đồng tình với quan niệm của Nguyễn Trãi: Công danh đã được hợp về nhàn không? Vì sao?(1đ)
II. VIẾT (4đ)
Bài thơ Thuật hứng 24 của Nguyễn Trãi gợi anh/chị nghĩ đến phẩm chất quan trọng nào của con người? Hãy viết bài văn bàn về ý nghĩa của phẩm chất đó
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1(0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3(0.5đ) |
Câu 4(0.5đ) |
Câu 5(0.5đ) |
Câu 6(0.5đ) |
Câu 7(0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
C |
C |
D |
C |
A |
C |
A |
D |
|
Câu 1: Văn bản trên được viết theo thể thơ nào? A. Thơ tự do B. Thơ thất ngôn xen lục ngôn C. Thơ thất ngôn D. Thơ thất ngôn bát cú |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về thể thơ
Lời giải chi tiết:
Văn bản được viết theo thể thơ thất ngôn xem lục ngôn
→ Đáp án C
|
Câu 2: Cặp từ trái nghĩa trong câu thơ thứ hai Lành dữ âu chi thế nghị khen là cặp từ nào? A. Khen - chê B. Lành - khen C. Lành – dữ D. Lành – dữ và khen - chê |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu thơ và chỉ ra cặp từ trái nghĩa
Lời giải chi tiết:
Cặp từ trái nghĩa trong câu là lành - dữ
→ Đáp án C
|
Câu 3: Trong 2 câu thực: Ao cạn vớt bèo cấy muống – Đìa thanh phát cỏ ương sen, tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? A. Đối B. Nhân hóa C. Ẩn dụ D. Liệt kê |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nghệ thuật
Đọc kĩ 2 câu thực
Lời giải chi tiết:
Trong hai câu trên, tác giả đã sử dụng phép liệt kê "ao cạn, vớt bèo, cấy muốn, phát cỏ, ương sen"
Tác dụng:
Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm, tạo nhịp điệu cho câu thơ
Nhấn mạnh về cuộc sống bình dị, nông nhàn của tác giả
Tình yêu thiên nhiên, sự gắn bó với cuộc sống bình dị
→ Đáp án D
|
Câu 4: Trong hai câu luận: Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc – Thuyền chở yên hà nặng vạy then, tác giả đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật gì? A. Nhân hóa và so sánh B. So sánh và ẩn dụ C. Đối và phóng đại D. Nhân hóa và đối |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai câu thơ
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nghệ thuật
Lời giải chi tiết:
Hai câu thơ trên tác giả sử dụng biện pháp đối và phóng đại
→ Đáp án C
|
Câu 5: Hai câu thơ kết cho ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn gì ở nhà thơ Nguyễn Trãi? A. Tấm lòng trung hiếu (lòng yêu nước, thương dân), kiên trì với lí tưởng yêu nước thương dân… B. Tâm hồn thanh cao, lối sống thanh nhàn, hòa hợp với tự nhiên C. Bất mãn với cuộc sống nghèo khổ ở chốn nông thôn, chán ghét thực tại D. Tâm hồn yêu thiên nhiên, muốn sống cuộc đời ẩn dật, thanh cao chốn làng quê |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai câu thơ cuối và phân tích vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ
Lời giải chi tiết:
Vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi thể hiện qua cặp câu kết: tấm lòng trung hiếu/ lòng yêu nước, thương dân/ kiên trì với lí tưởng yêu nước thương dân…
→ Đáp án A
|
Câu 6: Trong bài thơ có mấy câu thơ lục ngôn? A. 1 câu B. 2 câu C. 3 câu D. 4 câu |
Phương pháp giải:
Nhớ lại khái niệm câu thơ lục ngôn
Rà soát lại bài thơ
Lời giải chi tiết:
Trong bài thơ có 3 câu thơ lục ngôn (6 chữ)
→ Đáp án C
|
Câu 7: Từ “phong nguyệt” trong câu thơ Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc được hiểu là gì? A. Có nghĩa là gió trăng B. Có nghĩa là mây gió C. Có nghĩa là gió lớn D. Có nghĩa là trăng sáng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu thơ và áp dụng nghĩa đúng của từ phong nguyệt
Lời giải chi tiết:
Từ “phong nguyệt” trong câu thơ trên có nghĩa là: gió trăng
→ Đáp án A
|
Câu 8: Hình ảnh hai câu thơ: Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc – Thuyền chở yên hà nặng vạy then cho thấy điều gì trong con người Nguyễn Trãi? A. Một con người gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết B. Một con người nghệ sĩ có tâm hồn lãng mạn, phóng khoáng C. Một người nông dân gắn bó với cuộc sống giản dị nơi làng quê D. Vừa là một con người gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết, vừa là một người nghệ sĩ có tâm hồn lãng mạn, phóng khoáng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ và phân tích hai câu thơ
Chú ý những hình ảnh tiêu biểu
Lời giải chi tiết:
Hai câu thơ cho thấy tác giả Vừa là một con người gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết, vừa là một người nghệ sĩ có tâm hồn lãng mạn, phóng khoáng
→ Đáp án D
Câu 9: Nêu suy nghĩ của em về 2 câu thơ đầu của bài thơ:(1đ)
Công danh đã được hợp về nhàn,
Lành dữ âu chi thế nghị khen.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai câu thơ đầu
Chú ý những chi tiết nổi bật
Lời giải chi tiết:
Hai câu thơ đầu bài Thuật hứng 24 đã thể hiện quan niệm sống của tác giả Nguyễn Trãi: Khi đã có công danh đầy đủ, khi đã cống hiến cho đất nước, nhân dân, có thể tìm đến cuộc sống nhàn, tận hưởng cuộc sống, không cần chú ý đến việc đó là lành hay dữ, không cần chú ý đến miệng lưỡi của thế gian khen hay chê. Đây là một quan niệm thường thấy của các nhà nho với ảnh hưởng của triết lí nhàn dật. Qua đó, ta thấy phần nào tâm hồn thanh cao, nhân cách cao cả của nhà thơ khi cáo quan về ở ẩn tại quê nhà
Câu 10: Em có đồng tình với quan niệm của Nguyễn Trãi: Công danh đã được hợp về nhàn không? Vì sao?(1đ)
Phương pháp giải:
Nêu quan điểm của bản thân và lý giải hợp lý
Lời giải chi tiết:
Học sinh có thể đồng tình hoặc không đồng tình với quan điểm sống của Nguyễn Trãi, miễn là giải thích hợp lí. Có thể triển khai theo hướng như sau:
- Đồng tình vì khi đã đạt được công danh, hoàn thành sự nghiệp, ước mơ, lí tưởng, cống hiến được nhiều cho xã hội, con người cũng cần được nghỉ ngơi, được tận hưởng cuộc sống. Đây là một nhu cầu chính đáng mà có nhiều nhà nho đã theo đuổi như Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ.
- Không đồng tình vì: Cuộc sống con người là luôn luôn cố gắng, không dừng lại, không bằng lòng với chính mình, luôn cống hiến hết mình cho xã hội; cho phép mình nghỉ ngơi sẽ khiến ta lạc hậu, đánh mất giá trị của bản thân. Việc chỉ tìm đến cuộc sống tận hưởng cho bản thân hoàn toàn không hề phù hợp với thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước bởi đó là lối sống ích kỉ, không góp phần phát triển và xây dựng đất nước trong thời hiện tại…
II. VIẾT (4đ)
Bài thơ Thuật hứng 24 của Nguyễn Trãi gợi anh/chị nghĩ đến phẩm chất quan trọng nào của con người? Hãy viết bài văn bàn về ý nghĩa của phẩm chất đó
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
*Yêu cầu chung: HS kết hợp được kiến thức và kĩ năng để viết bài văn nghị luận xã hội. Bài viết phải có bố cục 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài) đầy đủ, rõ ràng; đúng kiểu bài nghị luận; diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
*Yêu cầu cụ thể
1. Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề cần nghị luận: bàn về một phẩm chất quan trọng của con người được gợi ra từ bài thơ Thuật hứng 24: lòng yêu nước, nhân cách thanh cao, kiên trì với lý tưởng…
2. Thân bài:
- Giải thích ngắn gọn khái niệm về phẩm chất đó
- Lý giải ngắn gọn vì sao đó là một phẩm chất quan trọng không thể thiếu của con người
- Phân tích các biểu hiện và ý nghĩa của phẩm chất đó
- Nêu phản đề và rút ra bài học, ý thức trách nhiệm của bản thân (bài học nhận thức và hành động…)
3. Kết bài
- Khái quát lại vấn đề cần nghị luận, liên hệ
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Chân trời sáng tạo - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
Thuật hứng 24
Công danh đã được hợp (1) về nhàn,
Lành dữ âu chi (2) thế nghị (3) khen.
Ao cạn vớt bèo cấy muống,
Đìa thanh (4) phát cỏ ương sen.
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc (5),
Thuyền chở yên hà (6) nặng vạy (7) then.
Bui có một lòng trung lẫn (9) hiếu,
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen. (10)
(Thuật hứng 24 – Nguyễn Trãi, Trích Luận đề về Nguyễn Trãi, NXB Thanh niên, 2003, tr.87)
(1) Hợp: Tiếng cổ có nghĩa là đáng, nên
(2) Âu chi: Lo chi
(3) Nghị: dị nghị ở đây hiểu là chê
(4) Đìa thanh: đìa là vũng nước ngoài đồng. Thanh là trong
(5) Đầy qua nóc: đầy quá nóc nhà, nóc kho
(6) Yên hà: khói, ráng
(7) Vạy: oằn, cong. Nặng vạy then: chở nặng làm thang thuyền oằn xuống
(8) Bui: tiếng cổ, nghĩa là chỉ có
(9) Lẫn: (hoặc lễn, miễn): tiếng cổ nghĩa là với hoặc và
(10) Mài chăng khuyết… mài cũng không mòn, nhuộm cũng không đen: Ý nói lòng trung hiếu bền vững
Câu 1: Bài thơ viết theo thể thơ nào?
A. Thất ngôn bát cú
B. Thất ngôn tứ tuyệt
C. Thất ngôn bát cú Đường luật.
D. Lục bát
Câu 2: Ý nào dưới đây đúng khi nói về nghĩa của câu thơ thứ nhất?
A. Hoàn cảnh hiện tại của Nguyễn Trãi thích hợp với việc về nhàn.
B. Nguyễn Trãi vẫn rất khao khát đối với việc lập công danh nhưng thời thế không cho phép, bắt buộc ông phải về nhàn.
C. Đối với Nguyễn Trãi, nếu không còn công danh thì lựa chọn tốt nhất là lui về nhàn.
D. Đối với Nguyễn Trãi, công danh chỉ là tạm bợ, thú nhàn là điều ông luôn hướng tới.
Câu 3: Phép đối được sử dụng trong những câu thơ nào?
A. Hai câu đề
B. Hai câu thực, hai câu luận
C. Hai câu luận, hai câu kết
D. Hai câu kết
Câu 4: Nhận xét: “Dường như tác giả đã thu nhận tất cả vẻ đẹp thiên nhiên vào làm tài sản riêng của mình, đúng như mơ ước “Túi thơ chứa hết mọi giang san” Phù hợp với nội dung những câu thơ nào dưới đây?
A. Hai câu đề
B. Hai câu thực
C. Hai câu luận
D. Hai câu kết
Câu 5: Hai câu thực và hai câu luận có nội dung biểu đạt là gì?
A. Nói về cuộc sống lao động bình dị và khẳng định cuộc sống tinh thần phong phú của Nguyễn Trãi khi về nhàn.
B. Nói về cuộc sống lao động vất vả nhưng đầy đủ vật chất của Nguyễn Trãi khi về nhàn.
C. Nói về cuộc sống lao động thiếu thốn trong hiện tại, đối lập với cuộc sống giàu sang ngày còn làm quan của Nguyễn Trãi.
D. Nói về những công việc lao động lặp lại nhàm chán và ước mơ của Nguyễn Trãi về một cuộc sống phóng túng.
Câu 6: “Về nhàn rồi thì việc tốt xấu đến cũng không sợ người đời khen hay chê nữa” suy nghĩ trên được thể hiện trong câu thơ nào?
A. Lành dữ âu chi thế ngợi khen.
B. Công danh đã được hợp về nhàn,
C. Mài chăng khuyết, nhuộm răng đen
D. Bui có một lòng trung liễn hiếu,
Câu 7: Ý nào sau đây đúng khi nói về nội dung của câu thơ cuối?
A. Thể hiện lòng hiếu thảo của Nguyễn Trãi đối với cha mẹ.
B. Thể hiện lòng trung thành của Nguyễn Trãi đối với vua.
C. Thể hiện tấm lòng phục tùng vua bất kể đúng sai của Nguyễn Trãi.
D. Thể hiện lòng trung với nước, hiếu với dân của Nguyễn Trãi.
Câu 8: Nêu nội dung chính của bài thơ trên. (0.5đ)
Câu 9: Nêu những yếu tố của văn học dân gian trong bài thơ. (1đ)
Câu 10: Bài thơ trên thể hiện vẻ đẹp gì trong tâm hồn của Nguyễn Trãi. (1đ)
II. VIẾT (4đ)
Bài thơ Thuật hứng 24 của Nguyễn Trãi gợi anh/chị nghĩ đến phẩm chất quan trọng nào của con người? Hãy viết bài văn bàn về ý nghĩa của phẩm chất đó
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1(0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3(0.5đ) |
Câu 4(0.5đ) |
Câu 5(0.5đ) |
Câu 6(0.5đ) |
Câu 7(0.5đ) |
|
C |
A |
B |
C |
A |
A |
D |
|
Câu 1. Bài thơ viết theo thể thơ nào? A. Thất ngôn bát cú B. Thất ngôn tứ tuyệt C. Thất ngôn bát cú Đường luật. D. Lục bát |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về thể thơ
Lời giải chi tiết:
Văn bản được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật
→ Đáp án C
|
Câu 2. Ý nào dưới đây đúng khi nói về nghĩa của câu thơ thứ nhất? A. Hoàn cảnh hiện tại của Nguyễn Trãi thích hợp với việc về nhàn. B. Nguyễn Trãi vẫn rất khao khát đối với việc lập công danh nhưng thời thế không cho phép, bắt buộc ông phải về nhàn. C. Đối với Nguyễn Trãi, nếu không còn công danh thì lựa chọn tốt nhất là lui về nhàn. D. Đối với Nguyễn Trãi, công danh chỉ là tạm bợ, thú nhàn là điều ông luôn hướng tới. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu thơ thứ nhất và đưa ra phân tích
Lời giải chi tiết:
Câu thơ: “Công danh đã được hợp về nhàn” ý muốn nói hoàn cảnh của Nguyễn Trãi thích hợp với việc về nhàn.
→ Đáp án A
|
Câu 3. Phép đối được sử dụng trong những câu thơ nào? A. Hai câu đề B. Hai câu thực, hai câu luận C. Hai câu luận, hai câu kết D. Hai câu kết |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về phép đối
Đọc kĩ bài thơ
Lời giải chi tiết:
Phép đối được sử dụng trong hai câu thực và hai câu luận
→ Đáp án B
|
Câu 4. Nhận xét: “Dường như tác giả đã thu nhận tất cả vẻ đẹp thiên nhiên vào làm tài sản riêng của mình, đúng như mơ ước “Túi thơ chứa hết mọi giang san” Phù hợp với nội dung những câu thơ nào dưới đây? A. Hai câu đề B. Hai câu thực C. Hai câu luận D. Hai câu kết |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhận xét và bài thơ
Lời giải chi tiết:
Lời nhận xét phù hợp với nội dung câu thơ: “Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc/ Thuyền chở yên hà nặng vạy then.”
→ Đáp án C
|
Câu 5. Hai câu thực và hai câu luận có nội dung biểu đạt là gì? A. Nói về cuộc sống lao động bình dị và khẳng định cuộc sống tinh thần phong phú của Nguyễn Trãi khi về nhàn. B. Nói về cuộc sống lao động vất vả nhưng đầy đủ vật chất của Nguyễn Trãi khi về nhàn. C. Nói về cuộc sống lao động thiếu thốn trong hiện tại, đối lập với cuộc sống giàu sang ngày còn làm quan của Nguyễn Trãi. D. Nói về những công việc lao động lặp lại nhàm chán và ước mơ của Nguyễn Trãi về một cuộc sống phóng túng. Nội dung hai câu luận: Nói về cuộc sống lao động bình dị và khẳng định cuộc sống tinh thần phong phú của Nguyễn Trãi khi về nhàn. → Đáp án A |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai câu thơ cuối và phân tích vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ
Lời giải chi tiết:
Vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi thể hiện qua cặp câu kết: tấm lòng trung hiếu/ lòng yêu nước, thương dân/ kiên trì với lí tưởng yêu nước thương dân…
→ Đáp án A
|
Câu 6. “Về nhàn rồi thì việc tốt xấu đến cũng không sợ người đời khen hay chê nữa” suy nghĩ trên được thể hiện trong câu thơ nào? A. Lành dữ âu chi thế ngợi khen. B. Công danh đã được hợp về nhàn, C. Mài chăng khuyết, nhuộm răng đen D. Bui có một lòng trung liễn hiếu, |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ ý kiến và bài thơ
Lời giải chi tiết:
Suy nghĩ “Về nhàn rồi thì việc tốt xấu đến cũng không sợ người đời khen hay chê nữa” được thể hiện trong câu thơ: Lành dữ âu chi thế ngợi khen.
→ Đáp án A
|
Câu 7. Ý nào sau đây đúng khi nói về nội dung của câu thơ cuối? A. Thể hiện lòng hiếu thảo của Nguyễn Trãi đối với cha mẹ. B. Thể hiện lòng trung thành của Nguyễn Trãi đối với vua. C. Thể hiện tấm lòng phục tùng vua bất kể đúng sai của Nguyễn Trãi. D. Thể hiện lòng trung với nước, hiếu với dân của Nguyễn Trãi. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu thơ cuối và lựa chọn đáp án phù hợp
Lời giải chi tiết:
Nội dung của câu thơ cuối: Thể hiện lòng trung với nước, hiếu với dân của Nguyễn Trãi.
→ Đáp án D
Câu 8: Nêu nội dung chính của bài thơ trên.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ và xác định nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Bài thơ thể hiện sự lựa chọn của Nguyễn Trãi khi lui về ở ẩn, trở về với cuộc sống hòa mình vào thiên nhiên, với công việc đồng ruộng và rời xa chốn quan trường đầy toan tính.
Tuy vậy, ẩn sâu trong tâm hồn ông vẫn là tấm lòng luôn hướng về dân về nước. Bài thơ ca ngợi tâm hồn thanh cao, trái tim yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi.
Câu 9: Nêu những yếu tố của văn học dân gian trong bài thơ.
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về văn học dân gian
Lời giải chi tiết:
Những yếu tố của văn học dân gian trong bài thơ:
- Viết về lối sống nhàn, gần gũi với thú vui của người xưa trong ca dao
- Tâm thế an nhàn, ung dung, tự tại của Nguyễn Trãi có nét tương đồng với tâm thế của người bình dân trong ca dao, dân ca.
- Sử dụng hình ảnh, ngôn ngữ dân gian tự nhiên, gần gũi.
→ Những yếu tố tượng trưng, ước lệ của thơ trung đại đã được thay thế bằng những chất liệu gần gũi, ngôn ngữ dân tộc được sử dụng tinh tế, gợi cảm.
Câu 10: Bài thơ trên thể hiện vẻ đẹp gì trong tâm hồn của Nguyễn Trãi.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ và phân tích vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ
Lời giải chi tiết:
Qua bài thơ, người đọc có thể nhận thấy vẻ đẹp thanh cao của một con người trọng khí tiết trong Nguyễn Trãi.
Bài thơ khiến người đọc thêm yêu mến nhân cách và tấm lòng ông dành trọn cho nhân dân, đất nước.
II. VIẾT (4đ)
Bài thơ Thuật hứng 24 của Nguyễn Trãi gợi anh/chị nghĩ đến phẩm chất quan trọng nào của con người? Hãy viết bài văn bàn về ý nghĩa của phẩm chất đó
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
*Yêu cầu chung: HS kết hợp được kiến thức và kĩ năng để viết bài văn nghị luận xã hội. Bài viết phải có bố cục 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài) đầy đủ, rõ ràng; đúng kiểu bài nghị luận; diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
*Yêu cầu cụ thể
1. Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề cần nghị luận: bàn về một phẩm chất quan trọng của con người được gợi ra từ bài thơ Thuật hứng 24: lòng yêu nước, nhân cách thanh cao, kiên trì với lý tưởng…
2. Thân bài:
- Giải thích ngắn gọn khái niệm về phẩm chất đó
- Lý giải ngắn gọn vì sao đó là một phẩm chất quan trọng không thể thiếu của con người
- Phân tích các biểu hiện và ý nghĩa của phẩm chất đó
- Nêu phản đề và rút ra bài học, ý thức trách nhiệm của bản thân (bài học nhận thức và hành động…)
3. Kết bài
- Khái quát lại vấn đề cần nghị luận, liên hệ
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Chân trời sáng tạo - Đề số 8
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
Sống mòn – Nam Cao
Chương VI
“... Trong khi ở nhà quê cũng vậy, làm đến chết người, cũng chỉ vì mỗi ngày mấy bữa cơm, ngoài ra, chẳng hề có một cái lạc thú gì khác nữa... Cuộc đời như thế kéo dài đã mấy năm rồi. Nó còn kéo dài ra năm năm, mười năm, hai mươi năm... biết đến bao giờ? Thứ hoảng hốt rằng đời y rất có thể cứ thể này mãi mãi, suốt đời... Thứ mở to đôi mắt, sợ hãi, nhận ra rằng bao nhiêu năm nay y đã sống như mơ ngủ vậy. Ôi chao! Còn cách gì có thể thay đổi được đời y? Y không đánh bạc, không mua vé số, không có vốn để đi buôn, cái đời công chức, có lẽ chẳng hơn cải đời y được bao nhiêu, mà lại có phần bỏ buộc hơn, chán nản hơn...
Y có sáu đứa em thì ba đứa sẽ phải cưới vợ, ba đứa phải gả chồng, rồi lại phải giúp cho chúng có nghề nghiệp, có cơ sở làm ăn. Y là con cả. Y đã được học nhiều. Cái bổn phận của y cố nhiên là phải to tát lắm. Y có rất nhiều gánh nặng. Càng nhìn xa, y càng thấy đời y càng ngày càng thắt chặt vào, càng chật chội thêm. Y chỉ có thể khổ hơn thế, không có thể sướng ra. Hết việc nọ đến việc kia, toàn những việc phải tiêu. Y đúng như một con ngựa còm, cứ vừa mới ý ạch qua cái dốc này thì lại đến ngay dốc khác. Tương lai sầm tối. Thử vụt đã lại đã biến thành con người thực tế hơn. Y không còn dám nghĩ gì đến những thú vui, những hy vọng cao xa. Y chỉ còn dám nghĩ đến cơm áo hằng ngày của vợ con... Số tiền gửi về nhà quê, số tiền để dành sẽ hụt đi. Vợ con y sẽ khổ thêm. Mà biết đến bao giờ y mới sạch công nợ, có được một số vốn con con để đỡ lo một chút? Vả lại ở nhà quê, vợ, các con y, bố mẹ y chả ăn uống khổ sở hàng đời người rồi hay sao, còn có bao giờ được no xôi chán chè lấy hai bữa, lấy vài tháng còn có bao giờ họ biết mùi thịt cá luôn, hay cũng chỉ cơm hầm cá hiu thôi? Vậy thì y được như hiện nay cũng là đủ lắm rồi. Tại sao y lại muốn sung sướng một mình trong khi cả nhà còn đói khổ? Y nhớ đến một lần y ở Hà Nội về quê. Hồi ấy vợ chồng y mới ăn riêng... Bởi vậy lúc ăn cơm, khi thấy bà, bố mẹ và các em ngồi một mâm, y thấy ngường ngượng mà lại buồn buồn. Khó chịu như là ở mâm y lại có một đĩa cá kho, còn mâm kia chỉ toàn là rau. Y cau mặt khẽ trách Liên. Liên chưa kịp trả lời thì bà mẹ y nhận thấy, đã cười và đáp hộ Liên:
- Dào ôi! Nhà chẳng có đâu. Chúng tôi ở nhà thì đên cơm cũng chẳng có mà ăn, còn có tiền đâu mà sắm thức ăn? Mọi khi nó cũng chỉ có rau không. Đây là hôm nay, cụ Bá thấy nói con rể cụ về, sợ con rể cụ xưa nay chỉ ở tỉnh thành, chịu kham khô không quen nên bảo vợ mày đem về cho mày một đĩa cả kho đấy chứ! Nó chẳng mua đâu mà mắng nó.
Y chép miệng:
- Hù! Khéo vẽ!... Ăn thế nào mà chẳng được.
Rồi y bảo lấy một đĩa nữa, xé đĩa cả ra, bỏ sang mâm kia một nửa cho bà và các em ăn với. Nhưng mọi người nhao nhao phản đối. Bà mẹ gắt lên:
- Thôi! Để đấy mà ăn. Chúng nó thì đến ăn cơm với tương cũng còn nhẵn cả nồi đấy, lạ là phải thức ăn ngon! Có thức ăn ngon cho bọn chúng nó ăn thì đến mười nồi cơm cũng chẳng xuể
- Thì mẹ cứ để cho chúng nó ăn, mẹ cũng xơi nhân thể.
Nhưng bà cụ đã vội và nốt bát cơm, buông đũa đứng lên.
- Thôi, tôi ăn xong rồi. Mỗi người có vài vực cơm, nhiều nhặn gì mà phải cá?
Thứ hơi phật ý. Y tưởng như bà và mẹ mia mai. Nhưng nghĩ cho kỹ, thì có lẽ các cụ chỉ nhường nhịn đó thôi. Các cụ sợ nếu các cụ nhận ăn một lần thì lân sau, có món ăn gì Thứ cũng lại chia cho. Nhà quả đông người. Nếu muốn mua thức ăn cho chồng mà vợ Thứ cứ phải mua cho đủ mọi người ăn thì y lấy đâu ra tiền mà mua như vậy? Huống chi đĩa cá kho lại là của ông bố vợ Thứ cho y. Ông cho y thì để y ăn, người khác ăn vào, mang tiếng... Y nhớ đến những bữa ăn hàng, y tiêu tốn đến hàng đồng và thấy lòng ân hận... Y chẳng còn biết gì ngon. Và nếu không trông thấy mặt Liên buồn buồn, hai mắt nhìn xuống như có ý tủi thân, thì có lẽ đã chẳng chạm đũa vào đĩa cá... Buổi chiều hôm ấy, y còn được dịp nghĩ ngợi nhiều hơn.
Vừa mới chập tối, bà y đã đi nằm. Bà mẹ, đang ngồi nói chuyện với y ở đầu hè, đột nhiên cũng đứng lên:
- Kìa! Nó đã dọn cơm kia kìa! Đi mà ăn cơm!
Bà chực lảng vào buồng, Thứ hỏi:
- Nhà chưa ăn kia à?
- Chưa, lát nữa mới ăn.
Bà mẹ y vừa nói vừa tủm tỉm cười. Mấy đứa em y ngồi gần đấy cũng tủm tỉm cười. Y chợt đoán ra.
- Ở nhà không ăn.
Bà mẹ đáp, sau một thoảng ngập ngừng:
- Không. Chúng nó ăn khỏe, ăn dồn cả vào một bữa cho đỡ lách ca lách cách. Đằng nào cũng chỉ có bằng ấy gạo; chia ra hai bữa thì cũng thế.
Thứ thấy lòng sầm tối lại. Vợ y đặt trước y một cái mâm con, trên lỏng chỏng có một bát cơm lồng, một đôi đũa, một cái bát con và đĩa cả kho trưa còn thừa lại. Cơm là cơm nguội. Mọi ngày Liên cũng chỉ ăn một bữa thôi. Nhưng biết chồng từ bé đến nay, chưa phải ăn một ngày một bữa bao giờ, bữa trưa y đã lấy thừa ra một suất cơm. Lúc xới cơm, y đã xới ba lượt đầy, lồng lại, cất đi. Đó là bữa tối cho Thứ... Thứ thấy vô lý quả. Trong hai vợ chồng nếu có người nào cần phải ăn hơn thì người đó phải là Liên: Liên đã phải luật quật suốt ngày, lại phải lo đủ sữa để nuôi con. Vả lại, ngoài Liên ra, lại còn bà Thử, già ngoài bảy mươi tuổi rồi mà vẫn đang còn nằm nhịn đói kia. Lại còn mẹ y, cũng luật quật suốt ngày và cũng có con thơ. Lại còn cha y, bữa trưa ăn ba lượt cơm như mọi người thì mới đầy được một góc dạ dày. Lại còn các em y, chưa đảng phải chịu những cay cực của đời và tạng phủ đang cần được tẩm bổ nhiều để đủ sức lớn lên; chúng gầy guộc, ngơ ngác, nhút nhát, buồn rầu, có lẽ chỉ vì phải nhịn đói, phải vất vả, phải mắng chửi suốt ngày, ngay từ cải lúc mà đáng lẽ chúng phải được ăn no rồi chạy nhẩy nhởn nhơ, mặt trong trẻo và lòng vô tư lự. Thứ đang độ trẻ trung. Y không phải lao lực như bất cứ ai trong nhà. Y lại cũng được no mãi rồi, bây giờ có đói một vài bữa cũng không sao, mà có lẽ cũng là sự công bình. Ấy thế mà tại sao y lại cứ cần phải ăn, phải no một mình như vậy? Thứ suy rộng ra và chua chát nhận ra rằng cái sự buồn cười ấy lại là một sự rất thường, chẳng riêng gì trong một nhà y, mà có lẽ chung cho khắp mọi nơi. Bao giờ và ở đâu đâu thì cũng thế thôi. Thằng nào đã chịu khổ quen rồi thì cứ thế mà chịu mãi đi! Mà thường thường những kẻ ăn nhiễu nhất, hưởng nhiều nhất thì lại chính là những kẻ không cần ăn một ti nào hoặc không đáng hưởng một ly nào cả. Anh chẳng cần nhích chân, nhích tay làm một việc gì ư? Phần anh tất cả những cái gì ngon lành, béo bổ ở trên đời ... Vô lý quá!... Thử nhìn qua bát cơm lồng để cho y. Chẳng còn được bao nhiêu mà bõ chia cho mọi người ăn. Y nghĩ xem những người nào đáng ăn hơn. Y chạy vào, mời bà dậy xơi cơm. Bà cụ không ăn và khi Thứ cố nãi thì bà cụ kêu đầy. Ông bố, bà mẹ thì cố nhiên không đời nào chịu ăn rồi. Những đứa em lớn, dù có đói cho chết, cũng chẳng dám ăn. Và lại cũng không thông. Y đành gọi hai đứa em bé nhất. Bà mẹ đã vội vàng gạt ngay đi.
…-Khốn, nhưng rồi chúng quen đi thì chết đấy! Cử bắt chúng nó nhịn cho quen chứ!
- Úi chào!...
Y cố bắt các em ăn. Nhưng cũng chẳng đứa nào chịu ngồi ăn... Y ngồi thần mặt, buông đũa, quên cả đường ăn. Y chợt nhận ra bà y, mẹ y, vợ y, các em y thật là khổ không kém gì mình phải khổ. Quả thực lúc ấy, y muốn được nhịn đi cho bà, cho mẹ, hay vợ, hay các em, hay ngay cả con ở nữa, ăn thay. Nhưng mà không thể nhường cho ai. Y cũng không thể ngồi ăn, không hiểu sao y thấy thèn thẹn, không muốn cho ai đoán được rằng y thương bà, thương mẹ, thương vợ, thương các em quá đến nỗi không ăn được. Y đành một mình lui thủi ngồi ăn.
Nhưng y vừa ăn, vừa nghĩ ngợi gần xa thế nào mà nước mắt ứa ra. Miếng cơm nghẹn lại, y phải duỗi cổ ra để nuốt đi. Và thiếu một chút nữa là y đã òa lên khóc...
(https://www.cakhotranluan.com/Truyen-ngan-Nam-Cao/tac-pham-song-mon-chuong-6.html)
Câu 1: Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ mấy?
A. Ngôi thứ nhất
B. Ngôi thứ hai
C. Ngôi thứ ba
D. Có sự thay đổi về ngôi kể, kết hợp cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba
Câu 2: Trong đoạn trích, Thứ cho rằng mình không có cơ hội để thay đổi cuộc đời vì:
A. Y không đánh bạc, không mua vé số, không có vốn để đi buôn, cái đời công chức, có lẽ chẳng hơn cái đời y được bao nhiêu, mà lại có phần bó buộc hơn, chán nản hơn.
B. Y không thể vứt bỏ lòng tự trọng và lương thiện của bản thân.
C. Y không có tài năng kinh doanh giống như người khác.
D. Nhà y giàu nên không cần thay đổi gì.
Câu 3: Cảm xúc của Thứ khi chứng kiến bữa cơm của gia đình: bà, bố mẹ và các em ăn riêng một mâm toàn rau, Thứ ăn riêng một mâm có cả cá kho được miêu tả bằng các từ ngữ nào?
A. Bình thường
B. Ngường ngượng, buồn rầu, khó chịu
C. Đau đớn, xấu hổ
D. Xót xa, tủi hổ
Câu 4: Trong những câu văn sau, tác giả sử dụng hình thức ngôn ngữ nào?
Bà mẹ, đang ngồi nói chuyện với y ở đầu hè, đột nhiên cũng đứng lên:
- Kìa! Nó đã dọn cơm kia kìa! Đi mà ăn cơm!
Bà chực lảng vào buồng, Thứ hỏi:
- Nhà chưa ăn kia à?
- Chưa, lát nữa mới ăn
A. Độc thoại
B. Độc thoại nội tâm
C. Đối thoại
D. Kết hợp cả 3 hình thức ngôn ngữ trên
Câu 5: Trong truyện, bà mẹ Thứ cùng cả nhà chỉ ăn một bữa trưa và nhịn bữa tối vì?
A.Vì nhà nghèo quá, lại đông con nên không có tiền mua gạo.
B. Vì nhường cho Thứ được ăn no.
C. Vì ăn no buổi trưa rồi nên không muốn ăn nữa.
D. Vì cả nhà “ăn khỏe, ăn dồn cả vào một bữa cho đỡ lách ca lách cách. Đằng nào cũng chỉ có bằng ấy gạo; chia ra hai bữa thì cũng thế” và vì các em của Thứ đông quá, nên nếu cho ăn bữa tối thì “Khốn, nhưng rồi chúng quen đi thì chết đấy! Cứ bắt chúng nó nhịn cho quen chứ!”.
Câu 6: Nội dung đoạn trích xoay quanh những suy nghĩ của nhân vật ông Giáo Thứ về tình cảnh của bản thân và gia đình. Theo em, câu chuyện có đề tài viết về đề tài nào?
A. Đề tài về người nông dân.
B. Đề tài về người trí thức tiểu tư sản.
C. Đề tài về người công nhân
D. Đề tài về người lao động nghèo
Câu 7: Nhân vật Thứ được xây dựng chủ yếu thông qua các yếu tố nào?
A. Diện mạo, lai lịch.
B. Cử chỉ, hành động.
C. Nội tâm.
D. Lời nhận xét của các nhân vật khác.
Câu 8: Khi xây dựng nhân vật ông giáo Thứ, nhà văn Nam Cao muốn:
A. Thể hiện cuộc đời đầy bi kịch của tầng lớp trí thức tiểu tư sản lúc bấy giờ, những người trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm, có hoài bão, tâm huyết và tài năng, muốn xây dựng một sự nghiệp tinh thần cao quý nhưng lại bị gánh nặng cơm áo và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm cho “chết mòn”, phải sống như một kẻ vô ích, một người thừa trong xã hội.
B. Thể hiện cái nhìn phát hiện về người trí thức tiểu tư sản với khát vọng, một lẽ sống lớn, có ích, có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người.
C. Thông qua câu chuyện để kịch liệt phê phán sâu sắc xã hội phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người.
D. Tất cả các phương án trên đều đúng.
Câu 9: Em có suy nghĩ và đánh giá gì về nhân vật ông giáo Thứ trong đoạn trích? (1đ)
Câu 10:Em hãy kể tên những tác phẩm em đã học có đề tài viết về người trí thức tiểu tư sản. (1đ)
II. VIẾT (4đ)
Lựa chọn 1 trong 2 đề sau:
Đề 1: Viết bài văn nghị luận xã hội trình bày suy nghĩ của em về sức mạnh của sự lương thiện
Đề 2: Phân tích, đánh giá về nhân vật ông giáo Thứ trong đoạn trích trên
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1(0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3(0.5đ) |
Câu 4(0.5đ) |
Câu 5(0.5đ) |
Câu 6(0.5đ) |
Câu 7(0.5đ) |
Câu 8(0.5đ) |
|
C |
A |
B |
C |
D |
B |
C |
D |
|
Câu 1: Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ mấy? A. Ngôi thứ nhất B. Ngôi thứ hai C. Ngôi thứ ba D. Có sự thay đổi về ngôi kể, kết hợp cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ ba (người kể toàn tri, giấu mình)
→ Đáp án C
|
Câu 2: Trong đoạn trích, Thứ cho rằng mình không có cơ hội để thay đổi cuộc đời vì: A. Y không đánh bạc, không mua vé số, không có vốn để đi buôn, cái đời công chức, có lẽ chẳng hơn cái đời y được bao nhiêu, mà lại có phần bó buộc hơn, chán nản hơn. B. Y không thể vứt bỏ lòng tự trọng và lương thiện của bản thân. C. Y không có tài năng kinh doanh giống như người khác. D. Nhà y giàu nên không cần thay đổi gì. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản (chú ý đoạn văn đầu tiên)
Lời giải chi tiết:
Trong đoạn trích, Thứ cho rằng mình không có cơ hội để thay đổi cuộc đời vì:
Y không đánh bạc, không mua vé số, không có vốn để đi buôn, cái đời công chức, có lẽ chẳng hơn cái đời y được bao nhiêu, mà lại có phần bó buộc hơn, chán nản hơn…
→ Đáp án A
|
Câu 3: Cảm xúc của Thứ khi chứng kiến bữa cơm của gia đình: bà, bố mẹ và các em ăn riêng một mâm toàn rau, Thứ ăn riêng một mâm có cả cá kho được miêu tả bằng các từ ngữ nào? A. Bình thường B. Ngường ngượng, buồn rầu, khó chịu C. Đau đớn, xấu hổ D. Xót xa, tủi hổ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý những từ ngữ miêu tả cảm giác của nhân vật Thứ
Lời giải chi tiết:
Cảm xúc của Thứ khi chứng kiến bữa cơm của gia đình: bà, bố mẹ và các em ăn riêng một mâm toàn rau, Thứ ăn riêng một mâm có cả cá kho được miêu tả bằng các từ ngữ: Ngường ngượng, buồn rầu, khó chịu
+ “Thứ thấy lòng sầm tối lại…”
+ “Thứ thấy vô lý quá…”
…..
→ Đáp án B
|
Câu 4: Trong những câu văn sau, tác giả sử dụng hình thức ngôn ngữ nào? Bà mẹ, đang ngồi nói chuyện với y ở đầu hè, đột nhiên cũng đứng lên: - Kìa! Nó đã dọn cơm kia kìa! Đi mà ăn cơm! Bà chực lảng vào buồng, Thứ hỏi: - Nhà chưa ăn kia à? - Chưa, lát nữa mới ăn A. Độc thoại B. Độc thoại nội tâm C. Đối thoại D. Kết hợp cả 3 hình thức ngôn ngữ trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ các câu văn, nhớ lại kiến thức về các hình thức ngôn ngữ
Lời giải chi tiết:
Các câu văn trên sử dụng hình thức đối thoại (giữa hai nhân vật Thứ và bà mẹ)
→ Đáp án C
|
Câu 5: Trong truyện, bà mẹ Thứ cùng cả nhà chỉ ăn một bữa trưa và nhịn bữa tối vì? A.Vì nhà nghèo quá, lại đông con nên không có tiền mua gạo. B. Vì nhường cho Thứ được ăn no. C. Vì ăn no buổi trưa rồi nên không muốn ăn nữa. D. Vì cả nhà “ăn khỏe, ăn dồn cả vào một bữa cho đỡ lách ca lách cách. Đằng nào cũng chỉ có bằng ấy gạo; chia ra hai bữa thì cũng thế” và vì các em của Thứ đông quá, nên nếu cho ăn bữa tối thì “Khốn, nhưng rồi chúng quen đi thì chết đấy! Cứ bắt chúng nó nhịn cho quen chứ!”. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý đến câu trả lời của bà mẹ
Lời giải chi tiết:
Trong truyện, bà mẹ Thứ cùng cả nhà chỉ ăn một bữa trưa và nhịn bữa tối vì:
- “Không. Chúng nó ăn khỏe, ăn dồn cả vào một bữa cho đỡ lách ca lách cách… thì cũng thế”
- “Khốn, nhưng rồi chúng quen đi thì chết đấy! Cứ bắt chúng nó nhịn cho quen chứ!”
→ Đáp án D
|
Câu 6: Nội dung đoạn trích xoay quanh những suy nghĩ của nhân vật ông Giáo Thứ về tình cảnh của bản thân và gia đình. Theo em, câu chuyện có đề tài viết về đề tài nào? A. Đề tài về người nông dân. B. Đề tài về người trí thức tiểu tư sản. C. Đề tài về người công nhân D. Đề tài về người lao động nghèo |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích, tham khảo nội dung đoạn trích được gợi ý ở đề bài
Lời giải chi tiết:
Đề tài: Viết về người trí thức tiểu tư sản (nhân vật Thứ - một nhà văn)
→ Đáp án B
|
Câu 7: Nhân vật Thứ được xây dựng chủ yếu thông qua các yếu tố nào? A. Diện mạo, lai lịch. B. Cử chỉ, hành động. C. Nội tâm. D. Lời nhận xét của các nhân vật khác. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích, chú ý những chi tiết miêu tả nhân vật Thứ
Lời giải chi tiết:
Nhân vật Thứ được xây dựng chủ yếu thông qua yếu tố: nội tâm (đan xen trong lời đối thoại với các nhân vật khác là hàng loạt lời độc thoại nội tâm của nhân vật này)
→ Đáp án C
|
Câu 8: Khi xây dựng nhân vật ông giáo Thứ, nhà văn Nam Cao muốn: A. Thể hiện cuộc đời đầy bi kịch của tầng lớp trí thức tiểu tư sản lúc bấy giờ, những người trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm, có hoài bão, tâm huyết và tài năng, muốn xây dựng một sự nghiệp tinh thần cao quý nhưng lại bị gánh nặng cơm áo và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm cho “chết mòn”, phải sống như một kẻ vô ích, một người thừa trong xã hội. B. Thể hiện cái nhìn phát hiện về người trí thức tiểu tư sản với khát vọng, một lẽ sống lớn, có ích, có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người. C. Thông qua câu chuyện để kịch liệt phê phán sâu sắc xã hội phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người. D. Tất cả các phương án trên đều đúng. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, dựa vào kiến thức của bản thân về nhà văn Nam Cao
Lời giải chi tiết:
Khi xây dựng nhân vật ông giáo Thứ, nhà văn Nam Cao muốn:
- Thể hiện cuộc đời đầy bi kịch của tầng lớp trí thức tiểu tư sản lúc bấy giờ, những người trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm, có hoài bão, tâm huyết và tài năng, muốn xây dựng một sự nghiệp tinh thần cao quý nhưng lại bị gánh nặng cơm áo và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm cho “chết mòn”, phải sống như một kẻ vô ích, một người thừa trong xã hội.
- Thể hiện cái nhìn phát hiện về người trí thức tiểu tư sản với khát vọng, một lẽ sống lớn, có ích, có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người.
- Thông qua câu chuyện để kịch liệt phê phán sâu sắc xã hội phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người.
→ Đáp án D
Câu 9: Em có suy nghĩ và đánh giá gì về nhân vật ông giáo Thứ trong đoạn trích? (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích, chú ý những chi tiết miêu tả nhân vật thứ và đưa ra suy nghĩ của bản thân
Lời giải chi tiết:
Ông giáo Thứ trong đoạn trích là một người có đời sống nội tâm sâu sắc với những day dứt và giằng xé giữa một bên là khát vọng về một cuộc sống có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống, một bên là gánh nặng cơm áo gạo tiền.
Dù nhiều lúc Thứ có những suy nghĩ ích kỉ nhưng xét đến cùng, đây vẫn là một con người lương thiện với tấm lòng vị tha, bao dung, luôn muốn giúp đỡ người khác và sống trách nhiệm với gia đình. Đây chính là đại diện tiêu biểu cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản lúc bấy giờ với những đau khổ, những khát vọng và cả những phẩm chất tốt đẹp
Câu 10:Em hãy kể tên những tác phẩm em đã học có đề tài viết về người trí thức tiểu tư sản. (1đ)
Phương pháp giải:
Vận dụng những kiến thức của bản thân
Lời giải chi tiết:
Đời thừa, Trăng sáng (Nam Cao)
II. VIẾT (4đ)
Lựa chọn 1 trong 2 đề sau:
Đề 1: Viết bài văn nghị luận xã hội trình bày suy nghĩ của em về sức mạnh của sự lương thiện
Đề 2: Phân tích, đánh giá về nhân vật ông giáo Thứ trong đoạn trích trên
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
*Yêu cầu chung: HS kết hợp được kiến thức và kĩ năng để viết bài văn nghị luận xã hội. Bài viết phải có bố cục 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài) đầy đủ, rõ ràng; đúng kiểu bài nghị luận; diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
*Yêu cầu cụ thể
1. Mở bài: Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận: Sức mạnh của sự lương thiện.
Lưu ý: học sinh tự lựa chọn cách dẫn mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của bản thân mình.
2. Thân bài:
Giải thích
Lương thiện được hiểu là không làm điều gì trái pháp luật và đạo đức. Lương thiện là không tham lam, ích kỉ; là biết giữ mình, biết kìm nén dục vọng. Như vậy, lương thiện là một phẩm chất, một phạm trù thuộc về đạo đức mà con người cần phải tự rèn luyện, phải giữ gìn suốt cả cuộc đời.
Phân tích các biểu hiện sông lương thiện
Người lương thiện là những người có tấm lòng thật thà, bao dung với mọi người. Lương thiện làm cho con người biết đồng cảm, yêu thương, giúp đỡ những người xung quanh, quan tâm, chia sẻ, chăm sóc những số phận bất hạnh hơn mình...
Ý nghĩa và sức mạnh của lương thiện
Học sinh tự lấy dẫn chứng về tác dụng, ý nghĩa của những việc làm lương thiện để minh họa cho bài làm văn của mình.
- Sống lương thiện giúp ta được sống an nhiên và hạnh phúc, thanh thản cho tâm hồn.
- Lương thiện có thể giúp ta thay đổi số mệnh, đem đến cho con người may mắn, phúc đức (Nêu dẫn chứng về câu chuyện Hạnh phúc lan tỏa - sự giúp đỡ của những người xa lạ với nhau cuối cùng lại đem lại hạnh phúc cho chính người khởi đầu).
- Tấm lòng lương thiện của mỗi người còn có sức mạnh lan tỏa, cảm hóa, thay đổi người khác theo chiều hướng tích cực. (Nêu dẫn chứng: Những người khốn khổ của V. Huy gô – khi Giăng Van Giăng được vị linh mục cảm hóa, từ một tên tù vượt ngục thành một ông thị trưởng hết lòng giúp đỡ người nghèo). Chỉ có tấm lòng lương thiện mới có thể thay đổi cuộc sống, thay đổi tương lai hay số phận của con người. Xã hội nhân văn, tốt đẹp hơn vì có những người sống lương thiện.
Phản đề
- Tuy nhiên, trong cuộc sống, không phải ai cũng nhận thấy sức mạnh từ sự lương thiện. Nhiều người quan niệm sống lương thiện làm cho bản thân bị thiệt thòi, thua thiệt so với người khác. Họ cổ vũ cho lối sống lạnh lùng, ích kỉ để bản thân trở nên mạnh mẽ. Họ coi lương thiện là vẻ ngoài phù phiếm, hời hợt. Trong khi đó, về bản chất, lương thiện chân chính lại xuất phát từ nội tâm, từ sâu xa trong lòng mỗi người; là sự bao dung, sự tử tế, chính trực... khi đối đãi với người khác.
- Thậm chí nhiều kẻ còn đánh mất đi sự lương thiện của bản thân, gây hậu quả nghiêm trọng đến người khác. Những kẻ đó càng đáng lên án, phê phán và phải bị trừng trị thích đáng.
Kết bài: Khái quát lại vấn đề nghị luận: sức mạnh của sự lương thiện, liên hệ bản thân.
Đề 2:
1. Mở bài: Giới thiệu khái quát về nhân vật ông giáo Thứ trong tác phẩm Sống mòn và vấn đề cần phân tích.
2. Thân bài:
Nêu khái quát về nhà văn Nam Cao và phong cách sáng tác của Nam Cao
Nam Cao là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của trào lưu hiện thực phê phán thời kỳ 1940 – 1945. Chỉ với 15 năm cầm bút, ông đã để lại cho đời một văn nghiệp đồ sộ với 2 tiểu thuyết, 50 truyện ngắn và nhiều tập bút ký có giá trị.
Sở trường của Nam Cao là những câu chuyện miêu tả tâm lý con người, ít có biến cố nhưng giàu chất triết lý, có sức ám ảnh, gợi mở. Đề tài chính trong tác phẩm của ông trước cách mạng tháng Tám thường là người nông dân nghèo và tầng lớp trí thức nghèo (mà Sống mòn là tác phẩm tiêu biểu).
Nêu khái quát về bối cảnh lịch sử - xã hội của tiểu thuyết Sống mòn và tóm tắt ngắn gọn về nội dung tác phẩm
Tác phẩm “Sống mòn” được nhà văn Nam Cao viết vào năm 1944, lúc đầu tác phẩm này có tên là Chết mòn, sau đó được Nhà xuất bản Văn nghệ ra mắt lần đầu vào năm 1956 và đổi lại là tên “Sống mòn” cho đến tận bây giờ.
Phân tích nhân vật Giáo Thứ trong đoạn trích:
- Tóm tắt về cuộc đời và lai lịch của nhân vật:
Giáo Thứ – nhân vật chính trong truyện xuất thân là một thanh niên được học hành tử tế, có hoài bão, có chí hướng cống hiến cho đời. Sau khi lấy được bằng Thành chung, Thứ vào Sài Gòn bắt đầu con đường mưu sinh. Sau 3 năm vật lộn nơi đất khách quê người, sống vất vả giữa nghèo khó và bệnh tật, Thứ phải bỏ về quê và chịu cảnh thất nghiệp. Thứ được anh họ mời về giảng dạy tại một trường tư. Ban đầu, Thứ dốc hết lòng với nghề giáo nhưng bất mãn vì chỉ được trả đồng lương còm cõi, lại còn bị bớt xén khẩu phần ăn hàng ngày. Khó chịu, chán nản, có những lúc Thứ muốn phản kháng nhưng lại tự vấn bản thân vì xấu hổ và ân hận... Chẳng biết từ khi nào, vì điều gì, những ước mơ thuở thiếu thời của y đã bị thui chột.
Thứ bị cái nghèo, cái nhỏ nhen đẩy đến cảnh sống mòn. Đến kỳ nghỉ hè, Thứ những mong tâm hồn được nghỉ ngơi nhưng lại phải đối mặt với những chuyện khó chịu ngay tại thôn quê và trong chính gia đình mình. Trở lại Hà Nội, Thứ gặp chuyện bất ngờ khi trường học phải đóng cửa. Thứ buộc lòng phải trở về quê, anh chua chát nghĩ lại cuộc đời phải chết khi chưa kịp sống. Lúc này, anh chấp nhận với tình cảnh khốn khổ sẽ đến ngay với mình. Tuy nhiên
khi nghĩ về tình thế chiến tranh đang xảy ra, đột nhiên trong đầu anh chợt có một niềm tin len lỏi rằng mọi thứ trong tương lai sẽ tốt đẹp và rộng mở hơn.
- Phân tích nội tâm và những suy nghĩ của nhân vật giáo Thứ trong đoạn trích:
+ Trong truyện, nhân vật giáo Thứ cũng được đặt trong những xung đột, được thể hiện trên nhiều bình diện. Từ đó tính cách và bản chất của các nhân vật được hình thành, phát triển.
+ Nhân vật giáo Thứ không được khắc hoạ nhiều ở phương diện bên ngoài với diện mạo mà chủ yếu được khắc họa bằng thế giới bên trong với nội tâm đầy những mâu thuẫn...
- Thứ đã bỏ lại quê hương và người vợ trẻ để lên Hà Thành dạy học trong chính ngôi trường của người anh họ với mong ước, hoài bão một cuộc sống tươi đẹp hơn. Thế nhưng, thực tế lại vô cùng khắc nghiệt, cuộc sống chẳng dễ dàng gì với người giáo khổ trường tư, Thứ bị đè nén trong gánh nặng cơm áo gạo tiền - một cuộc sống bế tắc, ngột ngạt không hy vọng.
- Thứ vẫn đang hy vọng vào 1 tương lai tươi sáng hơn, nhưng rồi chợt nhận ra cuộc sống của mình chỉ là tạm bợ. Thứ nhìn nhận rõ rằng mình không có cơ hội để thay đổi cuộc sống nghèo khó trước mắt,
- Thứ thấy cái gánh nặng của gia đình đè lên đôi vai của mình, thấy cái trọng trách nặng nề của một kẻ được cho là học hành cao nhất nhà.
- Thứ không còn dám hy vọng, không dám sống cho bản thân, không dám chuyển nhà vì cho rằng nếu làm thế là mình ích kỉ, sống sung sướng trên sự đau khổ và cơ cực của vợ con.
- Thứ nhớ về kí ức với bữa cơm cùng gia đình. Bữa cơm của người nghèo cả ngày chỉ có một bữa với toàn là rau. Chỉ có Thứ được ăn cơm 2 bữa với cá kho do bố vợ cho. Thứ thấy được sự khổ cực của gia đình, của vợ con, của bố mẹ và những đứa em đang tuổi lớn. Thứ cay đắng nhận ra sự bất công ấy vẫn đang diễn ra hàng ngày mà chẳng bao giờ có thể thay đổi.
- Thứ cay đắng và chua chát khi nhận ra rằng, dù anh có nhường cơm của mình cho mọi người thì cũng chả ai dám ăn. Kết thúc đoạn trích là cảnh Thứ ngồi ăn cơm một mình mà “Y ngồi thần mặt, buông đũa, quên cả đường ăn. Y chợt nhận ra bà y, mẹ y, vợ y, các em y thật là khổ... Miếng cơm nghẹn lại, y phải duỗi cổ ra để nuốt đi. Và thiếu một chút nữa là y đã òa lên khóc...”. Miếng cơm nghẹn lại hay cũng chính là sự bất lực và bế tắc của Thứ trước cuộc sống nghèo khổ của bản thân và gia đình.
Nêu nhận xét, đánh giá về nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả
- Về nội dung: Nhà văn Nam Cao đã thành công khi miêu tả sâu sắc tấn bi kịch tinh thần của Thứ, cũng là của những người trí thức nghèo trong xã hội đương thời trước 1945, những “giáo khổ trường tư” là những người trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm, có hoài bão, tâm huyết và tài năng, muốn xây dựng một sự nghiệp tinh thần cao quý nhưng lại bị gánh nặng cơm áo và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm cho “chết mòn”, phải sống như một kẻ vô ích, một người thừa trong xã hội. Nhà văn kịch liệt phê phán sâu sắc xã hội phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người. Đồng thời nói lên khát vọng, một lẽ sống lớn, có ích, có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người.
- Về nghệ thuật: Đoạn trích trên là tiêu biểu cho nghệ thuật miêu tả tâm lý của nhà văn Nam Cao ở đề tài trí thức tiểu tư sản khi đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật ông giáo Thứ với những mâu thuẫn giằng xé giữa một bên là nhu cầu tối thiểu của bản thân và một bên là gánh nặng và trách nhiệm với gia đình. Nam Cao đã chân thực đến tàn nhẫn, bóc tách từng lớp lang sâu kín ở lòng người. Cũng như cuộc đời, đôi khi ở đó sự ích kỷ tầm thường chiến thắng, nhưng trong phần lớn trường hợp, nhân vật Thứ - với bản chất trung thực và khả năng tự kiểm điểm mình sâu sắc - vẫn hướng tới những điều trong lành, tốt đẹp.
- Trong đoạn trích, từ câu chuyện về bữa ăn của gia đình, chúng ta thấy ẩn chứa sâu bên trong Thứ vẫn là một con người lương thiện, sống trách nhiệm với gia đình, với vợ con, dù có những giây phút tự thưởng cho mình một bữa ăn ngon hay một châu xem xinê thì chúng ta cũng có thể hiểu đó là những yêu cầu rất chính đáng của một con người đã vất vả lao động.
- Ngôn ngữ truyện bình dị gần gũi với cuộc sống của người đọc. Về ngôi kể, truyện được kể bằng tâm sự của nhân vật tôi là Thứ nên trở nên chân thực, giúp người đọc có điều kiện đi sâu tìm hiểu thế giới nội tâm với những suy nghĩ và biến đổi tinh vi của nhân vật
- So sánh liên hệ với các tác phẩm cùng giai đoạn và cùng đề tài: Trăng sáng, Đời thừa...
3. Kết bài:
- Nêu khái quát thành công của tác giả qua việc xây dựng nhân vật.
- Từ nhân vật Thứ, liên hệ và nêu cảm nghĩ của em về thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm qua tác phẩm.
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Chân trời sáng tạo - Đề số 9
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
CHƯƠNG 1:
TIỂU THUYẾT DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH – NGUYỄN MINH CHÂU
Chuyến đi công tác, nửa năm sau Kinh mới trở ra... đến một chặng cuối cùng bên con đường số 9, lúc đã sắp về đến căn cứ hậu phương thì thình lình địch đồ quân xuống con đường đi. Một buổi sáng, những chiếc trực thăng sơn màu kẽm, bụng phình to như những con cả lóc chửa bay rùng rùng từ phía Đông Nam lên. Một chiếc trực thăng chở một trung đội lính Mỹ, có ba cánh quạt... Lượng nằm ngửa, gió quạt thốc vạt áo trùm kín cả đâu cả mặt. Anh nhổm dậy, gió xô ngã. Lại ngồi dậy. Anh quỳ lom khom để ngó chúng. Bông Lượng thấy ngọn lửa chớp nhoàng một cái trước mặt: Bọn chúng bắn dọn bãi rồi!
- Anh Kinh ơi, cho tôi bắn trực thăng nhé! - Lượng hét to át cả tiếng hai mươi ly nổ chung quanh.
Kinh phán đoán: Tụi thám báo mặt đất đã phát hiện được đoàn của mình nhưng chúng vẫn còn gờm không dám nổ súng nên phải gọi trực thăng đến chụp bắt.
Kinh không do dự, liền hạ lệnh cho bắn.
- Ngon xơi quá! - Lượng reo lên.
Bọn địch láo nháo xúm quanh một cái thành cửa sổ, đang thả đạn cối xuống. Lượng kề súng vào vai xiết cò lia trọn một băng hạ ngay chiếc trực thăng đầu tiên. Cuộc chiến đã bắt đầu. Bọn chúng có đến một đại đội. Bên ta, chin người của một đoàn đi công tác được chia thành ba tổ chiến đấu.
Kinh hạ lệnh cho đoàn phó nắm hai tổ. Đại bộ phận vừa mở đường rút về phía dãy núi đá cách đẩy độ hơn năm trăm thước. Kinh trực tiếp nắm một tổ trong đó có Lượng, ở lại yểm hộ cho anh em rút. Lượng cùng một chiến sĩ và đoàn trưởng Kinh, ba người chiếm một cái gò đất giữa bãi tranh...
Tàn tro trộn lẫn mồ hôi chảy ròng ròng trên trán, trong hai hố mắt, trên ngực Lượng. Chung quanh cái gò đất, nắng và lửa chảy, cùng với tàn tranh bay đen trời. Xác những tên Mỹ nằm co quắp khắp nơi. Ngay trước mặt Kinh, bên kia gốc cây, ba bốn thằng chết năm ngửa tênh hênh. Nắng như giội xuống những khuôn mặt chúng. Bấy giờ, cối và đại liên lại nổ ầm ầm vào chân gò. Kinh bế đồng chi chiến sĩ đã bị thương nặng vào giấu sau một bụi cây, mắt vẫn nhìn về phía trước:
- Này Lượng!
Có tôi,
- Nghe đây. Đợt này nhất định chúng sẽ kéo lên rất đông. Cậu có nghe được tôi nói không? Bây giờ cậu để tất cả lựu đạn lại cho tôi... Anh em đăng sau đã rút xong. Cậu hãy lui ra sau dùng tiểu liên yểm hộ cho tôi, và cũng thương binh về….
Lượng hiểu ý định người chỉ huy.
- Tôi phải là người rút sau cùng - Lượng trả lời kiên quyết - Anh là đoàn trưởng, phải rút về trước đi, anh Kinh!
Quân Mỹ tiếp tục xô vào. Ngay hai loạt tiểu liên đầu tiên, hai người đã quật ngã hai tên hăng hải chạy trước. Tất cả chùn lại. Nhưng một quả đạn cối bỗng nổ tung đất đá và tàn tro vọt lên. Kinh bật lên một tiếng chửi, một nửa khuôn mặt Kinh tự nhiên tê dại đi. Lượng bồi thêm một chùm đạn vào đảm quân Mỹ đang nằm bẹp sau các xác chết rồi chạy vội về phía Kinh. Anh thấy hố mắt trái của Kinh như tụt sâu xuống. Một dòng máu từ bên trong cái hố mắt rỏ thành giọt lăn qua vành má lẩm đầy bụi tro xuống cằm. Khoảng túi áo ngực và cả bảng súng Kinh đang cầm tay cũng đọng những vết máu lẫn với tàn tro.
Kinh ngồi bệt giữa đất cho Lượng quấn vòng băng cá nhân trùm kín đầu. Kinh dặn Lượng cách vừa đánh vừa rút. Kinh đã bị choáng nhưng vẫn còn khỏe lắm. Ông cúi xuống xốc đồng chí bị thương lên lưng, bước từng bước chắc chắn và chậm chạp về phía sau, thỉnh thoảng dừng lại kẹp súng vào nách bắn yểm hộ cho Lượng.
Cuộc chiến đấu tiếp theo dưới chân lèn đá, bọn chúng bỏ xác lại từng đống... Chúng vừa rút lui, Kinh liền cho mọi người xuống bãi tranh để tìm Lượng. Tìm khắp nơi không thấy. Cũng không thấy xác. Kinh quyết định cho đoàn ở lại thêm một ngày nữa để tìm, và dò la tin tức thì biết Lượng đã bị địch bắt. Cơ sở trong vùng cho biết quân địch chết và bị thương gần ba chục tên, Lượng bị thương ngất đi, đã bị chúng bắt đem lên trực thăng chở về thị trấn Khe Sanh.
Sau khi đoàn công tác về đến hậu phương một thời gian rất lâu, Kinh vẫn chưa hề bảo tin tức gì cho gia đình của Lượng. Nhưng Kinh nghĩ chắc chắn Lượng không còn nữa! Khoảng ba năm sau, Kinh từ trên cơ quan Tổng cục Chính trị về nhận chính ủy trung đoàn 5. Kinh về hôm trước thì sáng hôm sau, Nhẫn, trung đoàn trưởng, đề nghị ông xuống một đại đội để theo dõi tình hình kiểm tra vũ khí, nhân tiện làm quen với anh em cán bộ và chiến sĩ dưới đơn vị...
Kinh xuống đại đội trinh sát một cách thực là tình cờ. Ông vừa bước chân vào đến sân thì đã thấy Lượng đang ngồi chồm hỗm trước một đống vũ khí: Súng trường, tiểu liên bảng tiểu liên cực nhanh của Mỹ, lựu đạn, thuốc nổ, các thứ được bày biện thứ tự trên những tấm ván nằm. Lượng mặc bộ quân phục còn nguyên nếp hồ. Vẫn cái thân hình cao lớn và chắc nịch, vẫn con mắt có một vệt đỏ bên khóe, vẫn những cử chỉ và tiếng nói cứng cỏi như ngày trước... “Hắn nom già đi nhiều quả. Như một người ngoài ba mươi”, Kinh nhận xét. Phải sau một lát, Kinh mới nhận ra được nhưng vẫn còn nghi hoặc.
- Gì mà gắt om lên vậy hả ông? - Kinh bước tới bên cải bậc thềm lát đá, mỉm cười hỏi.
Lượng ngẩng đầu lên ngắm con người vừa mới đến, nhìn chòng chọc vào con mắt bên trái rồi ném cuốn sổ tay xuống thềm:
- Chao ôi, anh Kinh!
Khi Lượng kẹp đôi cánh tay rắn chắc như chiếc đòn gánh vào sau lưng ông đến đau nghe âm điếng, Kinh mới thực sự tin rằng Lượng hãy còn sống.
Lượng buông Kinh ra rồi vội vàng lôi ngay vào trong nhà:
- Anh đi đâu mà tìm tới đây được hả?
- Mình mới về làm chính ủy ở đây, mới về chiều hôm qua - Con mắt trải của Kinh hình như có ngẩn nước mắt - Kể đi, làm sao cậu lại còn sống được? Hồi ấy chúng mình cứ xắn là đoàn quần đi tìm xác cậu suốt một ngày ở cái bãi tranh. Sau cùng mình biết cậu bị bắt, và mình đoán không khéo chúng nó đã “làm thịt” cậu rồi!
- Chính tôi cũng nghĩ thế. Nhưng những người như chúng ta dễ gì chúng giết chết được! Chao ôi, quả đất thật là tròn nhỉ? Ai sắp đặt mà khéo thật. Tôi với anh lại về với nhau ở trung đoàn này. Gia đình vợ con anh hồi này thế nào?
Kinh kể vắn tắt những công việc trong gia đình cùng tình hình con cái cho Lượng nghe,
... Kinh đi quanh quẩn một vòng chung quanh cái thôn đại đội của Lượng đang đóng quân. Tất cả đều hết sức yên tĩnh trong một buổi sớm mùa hạ. Những tốp máy bay phản lực của địch đi bắn phá hậu phương chưa bay qua vùng trời trong trẻo. Ngoài bãi dâu, một con vịt đủng đỉnh dẫn lũ con vừa mới nở đi kiếm ăn, con nào cũng vàng rộm như những nắm bông nhuộm phẩm. Tiếng mấy cậu anh nuôi khảo chuyện lao xao với những người con gái ngoài bờ giếng. Dọc lối đi lát gạch ngoài cổng làng, người ta đang phơi thóc .…...
(Dẫn từ https://sachtruyen.net/doc-sach/dau-chan-nguoi-linh.77f91.0002)
Câu 1: Nội dung của văn bản trên?
A. Kể về câu chuyện của Kinh và Lượng, hai chiến sĩ đã sát cánh chiến đấu bên nhau trong chiến tranh, tình cờ gặp lại nhau
B. Kể về chuyện Kinh và Lượng chiến đấu với giặc Mỹ
C. Kể về chuyện ngày hòa bình, hai chiến sĩ Kinh và Lượng gặp lại nhau
D. Kể về cuộc trò chuyện giữa Kinh và Lượng
Câu 2: Chi tiết nào KHÔNG thể hiện sự khốc liệt của chiến tranh?
A. Xác những tên Mỹ nằm co quắp khắp nơi. Ngay trước mặt Kinh, bên kia gốc cây, ba bốn thằng chết nằm ngửa tênh hênh.
B. Bấy giờ, cối và đại liên lại nổ ầm ầm vào chân giò.
C. Anh thấy hố mắt trái của Kinh như tụt sâu xuống. Một dòng máu từ bên trong cái hố mắt rỏ thành giọt lăn qua vành má lấm đầy bụi tro xuống cằm. Khoảng túi áo ngực và cả báng súng Kinh đang cầm tay cũng đọng những vết máu lẫn với tàn tro.
D. Ngoài bãi dâu, một con vịt đủng đỉnh lẫn lũ con vừa mới nở đi kiếm ăn, con nào cũng vàng rộm như những nắm bông nhuộm phẩm. Tiếng mấy cậu anh nuôi kháo chuyện lao xao với những người con gái ngoài bờ giếng. Dọc lối đi lát gạch ngoài cổng làng, người ta đang phơi thóc.
Câu 3: Khi được cấp trên là Kinh đề nghị: Nghe đây. Đợt này nhất định chúng sẽ kéo lên rất đông. Cậu có nghe được tôi nói không? Bây giờ cậu để tất cả lựu đạn lại cho tôi… Anh em đằng sau đã rút xong. Cậu hãy lui ra sau dùng để tiểu liên yểm hộ cho tôi, và cõng thương binh về …, Lượng đã hành động như thế nào?
A. Lượng tuân theo lệnh chỉ huy rút lui về phía sau
B. Lượng từ chối và đề nghị cả 2 người cùng ở lại để chiến đấu
C. Lượng bỏ chạy vì biết không cầm cự được
D. Lượng kiên quyết từ chối và đề nghị mình là người rút sau cùng, chỉ huy phải rút về nước
Câu 4: Hành động trên của nhân vật Lượng thể hiện điều gì?
A. Tình đồng đội sâu sắc, nghĩa tình cao đẹp giữa những người lính
B. Sự dũng cảm, sẵn sàng hy sinh bản thân vì đồng đội
C. Tinh thần trách nhiệm cao, ý thức giác ngộ của 1 chiến sĩ hiểu được sự quan trọng về vị trí của người chỉ huy với cuộc chiến
D. Tất cả các ý kiến trên
Câu 5: Trong câu văn sau, tác giả đã dùng biện pháp nghệ thuật nào: Kinh về hôm trước thì sáng hôm sau, Nhẫn, trung đoàn trưởng, đề nghị ông xuống một đại đội để theo dõi tình hình kiểm tra vũ khí, nhân tiện làm quen với anh em cán bộ và chiến sĩ dưới đơn vị…?
A. So sánh
B. Ẩn dụ
C. Chêm xen
D. Hoán dụ
Câu 6: Nhân vật Kinh được miêu tả trong đoạn trích là người như thế nào?
A. Một người chỉ huy dạn dày kinh nghiệm, có sức phán đoán cao, dũng cảm, trách nhiệm và xông xáo, có tình đồng chí đồng đội sâu sắc.
B. Một chỉ huy còn non nớt những hết sức dũng cảm và có trách nhiệm.
C. Một người lính dũng cảm, có tinh thần đồng đội sâu sắc.
D. Một người lính dạn dày kinh nghiệm, dũng cảm.
Câu 7: Mục đích của tác giả khi viết tác phẩm là gì?
A. Ca ngợi vẻ đẹp và phẩm chất tốt đẹp của người lính trong chiến tranh.
B. Phê phán bộ mặt tàn ác của kẻ thù, lên án chiến tranh.
C. Thể hiện khát vọng hòa bình.
D. Tất cả các phương án trên.
Câu 8: Hình tượng người lính trong tác phẩm được tác giả xây dựng thông qua những yếu tố nào?
A. Ngôn ngữ, cử chỉ, hành động.
B. Ngôn ngữ và thế giới nội tâm.
C. Ngôn ngữ và hành động.
D. Ngôn ngữ và cử chỉ.
Câu 9: Không gian nghệ thuật trong đoạn trích được miêu tả bao gồm những không gian nào? Dụng ý của nhà văn khi miêu tả các không gian đó? (1đ)
Câu 10: Em hãy kể tên một vài tác phẩm mà em biết có cùng đề tài viết về người lính (1đ)
II. VIẾT (4đ)
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương đất nước
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1(0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3(0.5đ) |
Câu 4(0.5đ) |
Câu 5(0.5đ) |
Câu 6(0.5đ) |
Câu 7(0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
A |
D |
D |
D |
C |
A |
D |
A |
|
Câu 1: Nội dung của văn bản trên? A. Kể về câu chuyện của Kinh và Lượng, hai chiến sĩ đã sát cánh chiến đấu bên nhau trong chiến tranh, tình cờ gặp lại nhau B. Kể về chuyện Kinh và Lượng chiến đấu với giặc Mỹ C. Kể về chuyện ngày hòa bình, hai chiến sĩ Kinh và Lượng gặp lại nhau D. Kể về cuộc trò chuyện giữa Kinh và Lượng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Nội dung của văn bản: Kể về câu chuyện của Kinh và Lượng, hai chiến sĩ đã sát cánh chiến đấu bên nhau trong chiến tranh, tình cờ gặp lại nhau
→ Đáp án A
|
Câu 2: Chi tiết nào KHÔNG thể hiện sự khốc liệt của chiến tranh? A. Xác những tên Mỹ nằm co quắp khắp nơi. Ngay trước mặt Kinh, bên kia gốc cây, ba bốn thằng chết nằm ngửa tênh hênh. B. Bấy giờ, cối và đại liên lại nổ ầm ầm vào chân giò. C. Anh thấy hố mắt trái của Kinh như tụt sâu xuống. Một dòng máu từ bên trong cái hố mắt rỏ thành giọt lăn qua vành má lấm đầy bụi tro xuống cằm. Khoảng túi áo ngực và cả báng súng Kinh đang cầm tay cũng đọng những vết máu lẫn với tàn tro. D. Ngoài bãi dâu, một con vịt đủng đỉnh lẫn lũ con vừa mới nở đi kiếm ăn, con nào cũng vàng rộm như những nắm bông nhuộm phẩm. Tiếng mấy cậu anh nuôi kháo chuyện lao xao với những người con gái ngoài bờ giếng. Dọc lối đi lát gạch ngoài cổng làng, người ta đang phơi thóc. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ các đáp án và đưa ra câu trả lời
Lời giải chi tiết:
Chi tiết không thể hiện sự khốc liệt của chiến tranh: Ngoài bãi dâu, một con vịt đủng đỉnh lẫn lũ con vừa mới nở đi kiếm ăn, con nào cũng vàng rộm như những nắm bông nhuộm phẩm. Tiếng mấy cậu anh nuôi kháo chuyện lao xao với những người con gái ngoài bờ giếng. Dọc lối đi lát gạch ngoài cổng làng, người ta đang phơi thóc.
→ Chi tiết nói về sự yên bình và những thanh âm quen thuộc của cuộc sống làng quê
→ Đáp án D
|
Câu 3: Khi được cấp trên là Kinh đề nghị: Nghe đây. Đợt này nhất định chúng sẽ kéo lên rất đông. Cậu có nghe được tôi nói không? Bây giờ cậu để tất cả lựu đạn lại cho tôi… Anh em đằng sau đã rút xong. Cậu hãy lui ra sau dùng để tiểu liên yểm hộ cho tôi, và cõng thương binh về …, Lượng đã hành động như thế nào? A. Lượng tuân theo lệnh chỉ huy rút lui về phía sau B. Lượng từ chối và đề nghị cả 2 người cùng ở lại để chiến đấu C. Lượng bỏ chạy vì biết không cầm cự được D. Lượng kiên quyết từ chối và đề nghị mình là người rút sau cùng, chỉ huy phải rút về nước |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và chú ý đoạn văn được nhắc đến trong đề bài
Lời giải chi tiết:
Khi được cấp trên là Kinh đề nghị, Lượng đã kiên quyết từ chối và đề nghị mình là người rút sau cùng, chỉ huy phải rút về nước
→ Đáp án D
|
Câu 4: Hành động trên của nhân vật Lượng thể hiện điều gì? A. Tình đồng đội sâu sắc, nghĩa tình cao đẹp giữa những người lính B. Sự dũng cảm, sẵn sàng hy sinh bản thân vì đồng đội C. Tinh thần trách nhiệm cao, ý thức giác ngộ của 1 chiến sĩ hiểu được sự quan trọng về vị trí của người chỉ huy với cuộc chiến D. Tất cả các ý kiến trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và chú ý đoạn văn có chứa hành động của nhân vật Lượng
Lời giải chi tiết:
Hành động của nhân vật Lượng thể hiện
- Tình đồng đội sâu sắc, nghĩa tình cao đẹp giữa những người lính
- Sự dũng cảm, sẵn sàng hy sinh bản thân vì đồng đội
- Tinh thần trách nhiệm cao, ý thức giác ngộ của 1 chiến sĩ hiểu được sự quan trọng về vị trí của người chỉ huy với cuộc chiến
→ Đáp án D
|
Câu 5: Trong câu văn sau, tác giả đã dùng biện pháp nghệ thuật nào: Kinh về hôm trước thì sáng hôm sau, Nhẫn, trung đoàn trưởng, đề nghị ông xuống một đại đội để theo dõi tình hình kiểm tra vũ khí, nhân tiện làm quen với anh em cán bộ và chiến sĩ dưới đơn vị…? A. So sánh B. Ẩn dụ C. Chêm xen D. Hoán dụ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu văn và nhớ lại kiến thức về biện pháp nghệ thuật
Lời giải chi tiết:
Câu văn trên tác giả sử dụng biện pháp Chêm xen “Kinh về hôm trước thì sáng hôm sau” để bổ xung thông tin cho câu văn.
→ Đáp án C
|
Câu 6: Nhân vật Kinh được miêu tả trong đoạn trích là người như thế nào? A. Một người chỉ huy dạn dày kinh nghiệm, có sức phán đoán cao, dũng cảm, trách nhiệm và xông xáo, có tình đồng chí đồng đội sâu sắc. B. Một chỉ huy còn non nớt những hết sức dũng cảm và có trách nhiệm. C. Một người lính dũng cảm, có tinh thần đồng đội sâu sắc. D. Một người lính dạn dày kinh nghiệm, dũng cảm. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích và chú ý thông tin về nhân vật Kinh
Lời giải chi tiết:
Nhân vật Kinh được miêu tả là một người chỉ huy dạn dày kinh nghiệm, có sức phán đoán cao, dũng cảm, trách nhiệm và xông xáo, có tình đồng chí đồng đội sâu sắc.
→ Đáp án A
|
Câu 7: Mục đích của tác giả khi viết tác phẩm là gì? A. Ca ngợi vẻ đẹp và phẩm chất tốt đẹp của người lính trong chiến tranh. B. Phê phán bộ mặt tàn ác của kẻ thù, lên án chiến tranh. C. Thể hiện khát vọng hòa bình. D. Tất cả các phương án trên. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và suy ra mục đích của tác giả khi viết tác phẩm
Lời giải chi tiết:
Mục đích của tác giả khi viết tác phẩm:
- Ca ngợi vẻ đẹp và phẩm chất tốt đẹp của người lính trong chiến tranh.
- Phê phán bộ mặt tàn ác của kẻ thù, lên án chiến tranh.
- Thể hiện khát vọng hòa bình.
→ Đáp án D
|
Câu 8: Hình tượng người lính trong tác phẩm được tác giả xây dựng thông qua những yếu tố nào? A. Ngôn ngữ, cử chỉ, hành động. B. Ngôn ngữ và thế giới nội tâm. C. Ngôn ngữ và hành động. D. Ngôn ngữ và cử chỉ. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ tác phẩm, chú ý những chi tiết miêu tả người lính
Lời giải chi tiết:
Hình tượng người lính trong tác phẩm được tác giả xây dựng thông qua những yếu tố ngôn ngữ, cử chỉ, hành động
→ Đáp án A
Câu 9: Không gian nghệ thuật trong đoạn trích được miêu tả bao gồm những không gian nào? Dụng ý của nhà văn khi miêu tả các không gian đó? (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về không gian nghệ thuật
Phân tích dụng ý của nhà văn
Lời giải chi tiết:
Có 2 không gian nghệ thuật được nhà văn khắc họa trong đoạn trích:
Không gian chiến trường ác liệt với:
- “Những chiếc trực thăng sơn màu kẽm, bụng phình to như những con cá lóc chửa bay rùng rùng từ phía Đông Nam lên. Một chiếc trực thăng chở một trung đội lính Mỹ, có ba cánh quạt. Cánh quạt trực thăng quay tít khiến lá tranh đổ ngả rạp.”
- “Chung quanh cái gò đất, nắng và lửa cháy, cùng với tàn tranh bay đen trời. Xác những tên Mỹ nằm co quắp khắp nơi. Ngay trước mặt Kinh, bên kia gốc cây, ba bốn thằng chết nằm ngửa tênh hênh. Nắng như giội xuống những khuôn mặt chúng. Bấy giờ, cối và đại liên lại nổ ầm ầm vào chân gò”
Không gian của cuộc sống thanh bình nơi làng quê:
- “Tất cả đều hết sức yên tĩnh trong một buổi sớm mùa hạ. Những tốp máy bay phản lực của địch đi bắn phá hậu phương chưa bay qua vùng trời trong trẻo. Ngoài bãi dâu, một con vịt đủng đỉnh dẫn lũ con vừa mới nở đi kiếm ăn, con nào cũng vàng rộm như những nắm bông nhuộm phẩm. Tiếng mấy cậu anh nuôi kháo chuyện lao xao với những người con gái ngoài bờ giếng. Dọc lối đi lát gạch ngoài cổng làng, người ta đang phơi thóc”
- Khi miêu tả 2 không gian đối lập như thế, nhà văn có dụng ý:
+ Khắc họa sự khốc liệt, tàn bạo của chiến tranh
+ Thể hiện khao khát, trân trọng và ước mơ về 1 cuộc sống hòa bình
Câu 10: Em hãy kể tên một vài tác phẩm mà em biết có cùng đề tài viết về người lính (1đ)
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức của bản thân
Lời giải chi tiết:
Một số tác phẩm có cùng đề tài viết về người lính:
- Đồng chí – Chính Hữu
- Nhớ - Hồng Nguyên
- Tây Tiến – Quang Dũng
- Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Đình Thi
II. VIẾT (4đ)
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương đất nước
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
*Yêu cầu chung: HS kết hợp được kiến thức và kĩ năng để viết bài văn nghị luận xã hội. Bài viết phải có bố cục 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài) đầy đủ, rõ ràng; đúng kiểu bài nghị luận; diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
*Yêu cầu cụ thể
1. Mở bài: Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận: trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương đất nước
2. Thân bài:
a. Giải thích:
- “Trách nhiệm của giới trẻ”: trách nhiệm giữ gìn nền độc lập, tích cực xây dựng nước nhà ngày càng vững mạnh. Bên cạnh đó còn là ý thức học tập, rèn luyện bản thân, cống hiến, giúp ích cho nước nhà.
b. Phân tích các biểu hiện và ý nghĩa của trách nhiệm:
- Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trước đất nước dân tộc:
+ Cần phải cống hiến nhiều hơn để phát triển nước nhà vững mạnh, có thể chống lại mọi kẻ thù. Cần nỗ lực học tập, trau dồi bản thân, rèn luyện đạo đức, sống có ước mơ, hoài bão, mục tiêu và cố gắng vươn lên
+ Tích cực than gia vào các hoạt động công ích, các hoạt động tình nguyện, sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ người khác
+ Sống có tinh thần tập thể, đi theo cái hay, cái đúng, bỏ qua cái tôi vì lợi ích chung của cộng đồng. Yêu thương, giúp đỡ đồng bào, đoàn kết không chỉ giúp cho chúng ta được yêu thương, trân trọng trong mắt mọi người mà nó còn thể hiện sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.
- Ý nghĩa của trách nhiệm:
+ Trách nhiệm của công dân đối với tổ quốc là nền tảng của đoàn kết, khi tất cả con người đoàn kết lại với nhau thì đất nước ngày càng vững mạnh hơn.
+ Sự cống hiến sẽ giúp con người đẩy xa cái tôi cá nhân, sự ích kỉ, nhỏ nhen của mình từ đó hướng tới những điều tốt đẹp hơn
+ Người sống có trách nhiệm với Tổ quốc sẽ là người có tình yêu thương, tính tự giác cao, từ đó làm cho cuộc sống của mình ngày càng phát triển theo hướng tốt hơn.
- Liên hệ bản thân
+ Là một học sinh trước hết chúng ta cần học tập thật tốt, nghe lời ông bà cha mẹ, lễ phép với thầy cô. Có nhận thức đúng đắn về việc giữ gìn và bảo vệ tổ quốc. Luôn biết yêu thương và giúp đỡ những người xung quanh…
- Phản đề
+ Bên cạnh đó vẫn còn có nhiều người chưa có nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của mình đối với quê hương đất nước, chỉ biết đến bản thân mình, coi việc chung là việc của người khác… những người này đáng bị phê phán.
3. Kết bài
- Khái quát lại vấn đề cần nghị luận, liên hệ
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Chân trời sáng tạo - Đề số 10
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
MÙA HÈ RỚT (1)
(Olga – Berggoltz (2) – Bằng Việt dịch)
Dịch nghĩa
Có thời gian thiên nhiên tỏa ánh sáng đặc biệt,
Mặt trời không khói sáng, mức oi nồng dễ chịu nhất.
Thời gian đó gọi là chớm thu
Và thật tuyệt vời sánh với chính mùa xuân.
Đã có lúc khẽ khàng vương lên khuôn mặt
Màng nhện mỏng manh giăng bay phơ phất…
Đàn chim di trú muộn hót vang thế!
Những luống hoa bừng nở và lộng lẫy thế!
Những trận mưa rào đã ngừng từ lâu,
Cánh đồng màu tối và thầm lặng đã cho đi tất cả…
Ta hạnh phúc nhiều hơn bởi cách nhìn,
Và hờn ghen ít hơn và đắng cay hơn.
Ôi, sự sáng láng của chớm thu hào phóng nhất,
Ta hân hoan tiếp nhận ngươi… Như muôn sự vật,
Tình yêu của ta ơi, đâu rồi, chúng ta cùn hú, mi ở đâu?
Mà những cánh rừng lặng thinh, còn những vì sao nghiêm nghị hơn…
Ngươi thấy đấy – đã đến lúc mưa sao qua đi,
Và, dường như thời gian vĩnh viễn chia cắt…
… Còn chỉ giờ đây ta mới hiểu, cần làm thế nào
Để yêu thương, gìn giữ, lượng thứ và vĩnh biệt (chia ly).
Dịch thơ
Có một mùa trong ánh sáng diệu kì
Cái nóng êm ru, màu trời không chói,
Mùa hè rớt – cho những người yếu đuối,
Cứ ngỡ ngàng như mới bắt đầu xuân!
Trên má, mơ hồ tơ nhện bay giăng,
Khe khẽ như không, nhẹ nhàng, phơ phất,
Lanh lảnh bầy chim bay đi muộn nhất,
Hoa cuối mùa sặc sỡ đến lo âu!
Những trận mưa rào đã tắt từ lâu,
Tất cả thấm trong cánh đồng lặng sẫm…
Hạnh phúc – hiếm hơn khóe nhìn say đắm
Ghen tuông – dù chua chát cũng thưa hơn!
Ôi cái mùa đại lượng rất thân thương,
Ta tiếp nhận, vì ngươi sâu sắc quá!
Nhưng ta nhớ, trời ơi, ta vẫn nhớ,
Tình yêu đâu?... Rừng lặng, bóng sao im.
Sao ơi sao, sao sắp rụng vào đêm,
Ta biết lắm, thời gian đang vĩnh biệt…
Nhưng chỉ mãi bây giờ, ta mới biết
Yêu thương ngậm ngùi, tha thứ, chia tay…!
Chú thích:
(1): Nhan đề của Bằng Việt dịch từ nguyên bản thơ tiếng Nga
(2): Olga – Berggoltz: là nữ nhà thơ, nhà văn Liên Xô
Câu 1: Dòng nào nói đúng về đặc điểm hình thức chính của bản dịch thơ?
A. Thơ tự do, chia khổ không đều, gieo vần liền
B. Thơ tự do: 8 tiếng, không có quy luật nhất định (vần điệu tự do)
C. Thơ hỗn hợp, dòng, khổ dài ngắn khác nhau
D. Thơ tự do, các khổ dài, không có vần
Câu 2: Đối tượng trữ tình của bài thơ?
A. Mùa hè rớt – chớm thu sang.
B. Lòng người trước thiên nhiên.
C. Cảnh sắc thiên nhiên phút chớm thu.
D. Suy ngẫm về lẽ đời.
Câu 3: Bài thơ có phương thức biểu đạt nào?
A. Biểu cảm, miêu tả, tự sự
B. Tự sự, miêu tả
C. Nghị luận
D. Biểu cảm
Câu 4: Đối chiếu với bản dịch nghĩa, cho biết câu thơ nào ở khổ đầu dịch chưa sát nghĩa?
A. Có một mùa trong ánh sáng diệu kì
B. Cái nóng êm ru, màu trời không chói
C. Mùa hè rớt – cho những người yếu đuối
D. Cứ ngỡ ngàng như vừa mới bắt đầu xuân
Câu 5: Vẻ đẹp nào của đất trời Mùa hè rớt khiến thi sĩ ngỡ ngàng như mới bắt đầu xuân?
A. Có ánh sáng diệu kì
B. Cái nóng êm ru
C. Màu trời không chói
D. Tất cả các ý trên
Câu 6: Từ ngữ nào diễn tả cảm xúc của thi sĩ trước ánh sáng diệu kì của đất trời?
A. Mơ hồ.
B. Ngỡ ngàng.
C. Nhẹ nhàng.
D. Phơ phất.
Câu 7: Cảnh vật trong khổ thơ thứ 2 mang dáng vẻ, đặc điểm nào?
A. Thoắt ẩn thoắt hiện.
B. Mông lung mơ hồ.
C. Mong manh, nhẹ nhàng.
D. Như thực như hư.
Câu 8: Dòng nào sau đây nói lên đặc điểm bức tranh thiên nhiên chớm thu?
A. Màu sắc, âm thanh, ánh sáng, hình ảnh sống động, tươi sáng.
B. Màu sắc, âm thanh, ánh sáng, hình ảnh tĩnh lại.
C. Âm thanh, ánh sáng, hình ảnh tĩnh lặng.
D. Màu sắc, âm thanh, ánh sáng, hình ảnh dịu dàng, man mác.
Câu 9: Đối chiếu 2 bản dịch thơ (khổ cuối) của Mùa hè rớt – Olga – Berggoltz với bản dịch nghĩa và phân tích nét đặc sắc, sự sáng tạo ở mỗi bản dịch? (1đ)
Bản dịch nghĩa (khổ thơ cuối)
Ngươi thấy đấy – đã đến lúc mưa sao qua đi,
Và, dường như, thồi gian vĩnh viễn chia cắt…
… Còn chỉ giờ đây ta mới hiểu, cần làm thế nào
Để yêu thương, gìn giữ, lượng thứ và vĩnh biệt (chia ly)
Bản dịch 1 – Bằng Việt (khổ thơ cuối)
Sao ơi sao, sao sắp rụng vào đêm,
Ta biết lắm, thời gian đang vĩnh biệt…
Những chỉ mãi bây giờ, ta mới biết
Yêu thương, ngậm ngùi, tha thứ, chia tay…!
Bản dịch 2 – Tạ Phương (khổ thơ cuối)
Kìa, vệt sao băng rực rỡ vút trên đầu
Như số phận, đã điểm rồi, phút chót..
… Chỉ đến bây giờ, bây giờ, ta mới biết
Cách yêu, thương, tha thứ, chia tay…
Câu 10: Em thích nhất khổ thơ nào? Hãy thể hiện niềm yêu thích đó bằng việc viết hoặc vẽ về chúng (đoạn văn khoảng 7 – 10 dòng) (1đ)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Đọc hai bài thơ sau và tự lập tiêu chí để phát hiện 2-3 nét tương đồng của chúng với “Mùa hè rớt” của thi sĩ Olga – Berggoltz (1đ)
|
Tiếng thu – Lưu Trọng Lư Em không nghe mùa thu Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực Hình ảnh kẻ chinh phu Trong lòng người cô phụ
Em không nghe rừng thu Lá thu kêu xào xạc Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô… |
Thu vịnh – Nguyễn Khuyến Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Nước biển trông như tầng khói phủ, Song thưa để mặc bóng trăng vào. Mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái, Một tiếng trên không ngỗng nước nào? Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. |
Câu 2: Viết bài luận đánh giá sức hấp dẫn của bài thơ “Mùa hè rớt” của thi sĩ Olga – Berggoltz (dài từ 1,5 – 2 trang) (3đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1(0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3(0.5đ) |
Câu 4(0.5đ) |
Câu 5(0.5đ) |
Câu 6(0.5đ) |
Câu 7(0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
B |
A |
A |
C |
D |
B |
C |
A |
|
Câu 1: Dòng nào nói đúng về đặc điểm hình thức chính của bản dịch thơ? A. Thơ tự do, chia khổ không đều, gieo vần liền B. Thơ tự do: 8 tiếng, không có quy luật nhất định (vần điệu tự do) C. Thơ hỗn hợp, dòng, khổ dài ngắn khác nhau D. Thơ tự do, các khổ dài, không có vần |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bản dịch thơ
Nhớ lại kiến thức về thể thơ
Lời giải chi tiết:
Đặc điểm hình thức chính của bản dịch thơ: Thơ tự do: 8 tiếng, không có quy luật nhất định (vần điệu tự do)
→ Đáp án B
|
Câu 2: Đối tượng trữ tình của bài thơ? A. Mùa hè rớt – chớm thu sang. B. Lòng người trước thiên nhiên. C. Cảnh sắc thiên nhiên phút chớm thu. D. Suy ngẫm về lẽ đời. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý những hình ảnh được lặp lại nhiều lần
Lời giải chi tiết:
Đối tượng trữ tình của bài thơ: Mùa hè rớt – chớm thu sang
→ Đáp án A
|
Câu 3: Bài thơ có phương thức biểu đạt nào? A. Biểu cảm, miêu tả, tự sự B. Tự sự, miêu tả C. Nghị luận D. Biểu cảm |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Nhớ lại kiến thức về phương thức biểu đạt
Lời giải chi tiết:
Phương thức biểu đạt của bài thơ: biểu cảm, miêu tả, tự sự
→ Đáp án A
|
Câu 4: Đối chiếu với bản dịch nghĩa, cho biết câu thơ nào ở khổ đầu dịch chưa sát nghĩa? A. Có một mùa trong ánh sáng diệu kì B. Cái nóng êm ru, màu trời không chói C. Mùa hè rớt – cho những người yếu đuối D. Cứ ngỡ ngàng như vừa mới bắt đầu xuân |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bản dịch thơ và dịch nghĩa
Lời giải chi tiết:
Câu thơ chưa dịch sát nghĩa: Mùa hè rớt – cho những người yếu đuối
→ Đáp án C
|
Câu 5: Vẻ đẹp nào của đất trời Mùa hè rớt khiến thi sĩ ngỡ ngàng như mới bắt đầu xuân? A. Có ánh sáng diệu kì B. Cái nóng êm ru C. Màu trời không chói D. Tất cả các ý trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn đầu bản dịch thơ
Lời giải chi tiết:
Vẻ đẹp của đất trời Mùa hè rớt khiến thi sĩ ngỡ ngàng như mới bắt đầu xuân:
- Có ánh sáng diệu kì
- Cái nóng êm ru
- Màu trời không chói
→ Đáp án D
|
Câu 6: Từ ngữ nào diễn tả cảm xúc của thi sĩ trước ánh sáng diệu kì của đất trời? A. Mơ hồ. B. Ngỡ ngàng. C. Nhẹ nhàng. D. Phơ phất. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn đầu bản dịch thơ
Lời giải chi tiết:
Từ ngữ diễn tả cảm xúc của thi sĩ: Ngỡ ngàng (Cứ ngỡ ngàng như mới bắt đầu xuân)
→ Đáp án B
|
Câu 7: Cảnh vật trong khổ thơ thứ 2 mang dáng vẻ, đặc điểm nào? A. Thoắt ẩn thoắt hiện. B. Mông lung mơ hồ. C. Mong manh, nhẹ nhàng. D. Như thực như hư. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ khổ thơ thứ hai
Lời giải chi tiết:
Cảnh vật trong khổ thơ thứ 2 mang dáng vẻ, đặc điểm: Mong manh, nhẹ nhàng:
- Tơ nhện bay
- Khe khẽ như không, nhẹ nhàng, phơ phất
→ Đáp án C
|
Câu 8: Dòng nào sau đây nói lên đặc điểm bức tranh thiên nhiên chớm thu? A. Màu sắc, âm thanh, ánh sáng, hình ảnh sống động, tươi sáng. B. Màu sắc, âm thanh, ánh sáng, hình ảnh tĩnh lại. C. Âm thanh, ánh sáng, hình ảnh tĩnh lặng. D. Màu sắc, âm thanh, ánh sáng, hình ảnh dịu dàng, man mác. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bản dịch thơ
Lời giải chi tiết:
Đặc điểm bức tranh thiên nhiên chớm thu được thể hiện qua: Màu sắc, âm thanh, ánh sáng, hình ảnh sống động, tươi sáng
→ Đáp án A
Câu 9: Đối chiếu 2 bản dịch thơ (khổ cuối) của Mùa hè rớt – Olga – Berggoltz với bản dịch nghĩa và phân tích nét đặc sắc, sự sáng tạo ở mỗi bản dịch? (1đ)
Bản dịch nghĩa (khổ thơ cuối)
Ngươi thấy đấy – đã đến lúc mưa sao qua đi,
Và, dường như, thồi gian vĩnh viễn chia cắt…
… Còn chỉ giờ đây ta mới hiểu, cần làm thế nào
Để yêu thương, gìn giữ, lượng thứ và vĩnh biệt (chia ly)
Bản dịch 1 – Bằng Việt (khổ thơ cuối)
Sao ơi sao, sao sắp rụng vào đêm,
Ta biết lắm, thời gian đang vĩnh biệt…
Những chỉ mãi bây giờ, ta mới biết
Yêu thương, ngậm ngùi, tha thứ, chia tay…!
Bản dịch 2 – Tạ Phương (khổ thơ cuối)
Kìa, vệt sao băng rực rỡ vút trên đầu
Như số phận, đã điểm rồi, phút chót..
… Chỉ đến bây giờ, bây giờ, ta mới biết
Cách yêu, thương, tha thứ, chia tay…
Phương pháp giải:
Đọc kĩ 2 bản dịch
Chú ý những chi tiết đặc sắc và sự sáng tạo ở mỗi bản dịch
Lời giải chi tiết:
- Ở 2 câu đầu khổ:
+ Bản dịch thơ 1: Thể hiện rõ sự tha thiết của nhân vật trữ tình trước thời điểm kết thúc của mùa hè rớt ở thời khắc các vì sao biến mất (rụng)… và mang theo nỗi buồn ly biệt.
+ Bản dịch thơ 2: Thể hiện rõ sự ngỡ ngàng của nhân vật trữ tình trước phút chót (vút) của vệt sao băng rực rỡ… đó là quy luật
- Ở 2 câu cuối khổ:
+ Bản dịch thơ 1: chỉ ở thời điểm mùa hè rớt kết thúc ta mới biết, mới hiểu sâu sắc các trạng thái cung bậc tình cảm yêu thương, ngậm ngùi, tha thứ, chia tay…! Trong “ngậm ngùi” như chứa đựng của sự chấp nhận buồn tủi…
+ Bản dịch thơ 2 khác bản dịch thơ 1 ở 1 chữ “cách”: chữ này sát với bản dịch nghĩa hơn. Tức là ta đã biết những trạng thái, cung bậc tình cảm “yêu, thương, tha thứ, chia tay” từ lâu nhưng chỉ ở thời điểm mùa hè rớt kết thúc ta mới biết “cách” thể hiện, đón nhận các trạng thái cung bậc tình cảm “yêu, thương, tha thứ, chia tay…”
Câu 10: Em thích nhất khổ thơ nào? Hãy thể hiện niềm yêu thích đó bằng việc viết hoặc vẽ về chúng (đoạn văn khoảng 7 – 10 dòng) (1đ)
Phương pháp giải:
Dựa vào lựa chọn của bản thân
Lời giải chi tiết:
- HS tự lựa chọn theo ý bản thân và thể hiện theo sở trường của cá nhân (hoặc không theo sở trường để khám phá năng lực của bản thân)
- Sản phẩm thể hiện cần truyền tải được nội dung cốt lõi của khổ thơ và cảm xúc của người thể hiện
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Đọc hai bài thơ sau và tự lập tiêu chí để phát hiện 2-3 nét tương đồng của chúng với “Mùa hè rớt” của thi sĩ Olga – Berggoltz (1đ)
|
Tiếng thu – Lưu Trọng Lư Em không nghe mùa thu Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực Hình ảnh kẻ chinh phu Trong lòng người cô phụ
Em không nghe rừng thu Lá thu kêu xào xạc Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô… |
Thu vịnh – Nguyễn Khuyến Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Nước biển trông như tầng khói phủ, Song thưa để mặc bóng trăng vào. Mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái, Một tiếng trên không ngỗng nước nào? Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai bài thơ
Lời giải chi tiết:
- Về đề tài: Cả 3 tác phẩm cùng làm cảm xúc của thi sĩ trước mùa thu (Mùa hè rớt của thi sĩ Olga – Berggoltz: Đất trời ở thời điểm chớm thu; Tiếng thu – Lưu Trọng Lư, Thu vịnh – Nguyễn Khuyến: Đất trời, rừng mùa thu)
- Về cảnh vật: Đều mang dáng vẻ dịu dàng
- Về cảm xúc: Đều là rung động tinh tế, man mác buồn của lòng người trước mùa thu
Câu 2: Viết bài luận đánh giá sức hấp dẫn của bài thơ “Mùa hè rớt” của thi sĩ Olga – Berggoltz (dài từ 1,5 – 2 trang) (3đ)
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
|
Đánh giá sức hấp dẫn của bài thơ “Mùa hè rớt” |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0.25 |
- Giới thiệu ngắn về tác phẩm thơ được đánh giá (nhan đề, tác giả) - Nêu nhận xét, đánh giá chung của người viết về tác phẩm thơ đó (ấn tượng chung hoặc cụ thể về một phương diện) |
|
Thân bài |
2.0 |
- HS có thể xây dựng các luận điểm theo nhận thức, đánh giá của cá nhân, chú ý bám sát vào văn bản thơ và đặc trưng thể loại - Tham khảo gợi ý sau: 1. Nêu nội dung tác phẩm thơ (6-8 dòng) 2. Đánh giá: về bức tranh thiên nhiên diệu kì của “Mùa hè rớt” - Câu nêu ý kiến - Dẫn chứng - Phân tích, bình luận… 3. Đánh giá 2: Về rung động tinh tế của nhân vật trữ tình 4. Khái quát sự tác động của tác phẩm thơ với cá nhân, bạn đọc ở hiện tại, tương lai (cảm xúc, giá trị thẩm mỹ…) Lưu ý: - Có thể dẫn thêm ý kiến đánh giá của nhà phê bình - Có thể so sánh với một tác phẩm thơ có điểm tương đồng |
|
Kết bài |
0.5 |
- Khẳng định giá trị cơ bản của tác phẩm thơ đã triển khai ở thân bài - Tác động của tác phẩm tới cảm xúc của cá nhân |
|
Yêu cầu khác |
0.25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại: nghị luận văn học - Diễn đạt rõ ý; lập luận logic; suy luận, bình luận phù hợp với văn hóa dân tộc… |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Chân trời sáng tạo - Đề số 11
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Hs đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi kế tiếp
CHO NGƯỜI KHÁC NIỀM TỰ HÀO
(Dale Carnegie)
Trong quyển Những kỷ niệm đời tôi với Maeterlinck (Souvenirs, My Life with Maeterlinck), Georgette Leblanc kể về sự chuyển hóa kỳ diệu của một “nàng lọ lem” người Bỉ như sau:
“Một cô phục vụ ở khách sạn lân cận mang thức ăn đến cho tôi. Người ta gọi cô là “Marie rửa bát” vì cô bắt đầu nghề nghiệp của mình bằng công việc bị nhiều người coi thường này. Đã vậy, cô còn xấu xí, mắt lác, chân vòng kiềng. Nhìn chung, dưới mắt người đời, cô là một cô bé lọ lem đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Một hôm, khi cô mang đĩa mì ống tới cho tôi, tôi nói: “Marie này, ở cô có rất nhiều điểm đáng yêu, cô có biết không?”. Marie đứng lặng trong giây lát, gần như ngưng thở. Sau đó cô đặt cái đĩa lên bàn và nói: “Thưa bà, cháu chưa nghĩ đến điều đó bao giờ”. Cô không nói thêm điều gì nữa mà chỉ lặng lẽ lui ra.
Từ ngày đó, những thay đổi kỳ lạ bắt đầu xuất hiện ở cô gái thầm lặng ấy. Tin rằng mình có nhiều điều tốt đẹp mà mọi người chưa biết, cô bắt đầu chăm sóc gương mặt và dáng hình mình một cách kỹ lưỡng. Và rồi bao vẻ thanh xuân bị vùi lấp bấy nay bỗng trỗi dậy trong cô. Hai tháng sau, cô báo tin sẽ kết hôn với người cháu của ông bếp trưởng. Cô nói: “Cháu sẽ trở thành một quý bà!” rồi cô cảm ơn tôi. Tôi vô cùng cảm động khi nghĩ rằng chỉ với một câu nói ngắn ngủi ấy, tôi đã giúp cô thay đổi cả cuộc đời.”
Georgette Leblanc đã cho “Marie rửa bát” niềm tin và động lực để vươn lên. Và Marie đã lấy niềm tin và động lực ấy làm điểm tựa để thay đổi cuộc đời mình.
Trong đời thường, cho người khác một thanh danh là quan trọng; nhưng phê bình một người mà vẫn giữ được danh dự cho người ấy còn quan trọng hơn gấp nhiều lần. Chuyện kể rằng, một buổi sáng, nha sĩ Martin Fitzhugh ở Dublin, Ireland, bị một bệnh nhân than phiền cái bình kim loại đựng nước súc miệng không được sạch sẽ lắm. Thực ra, người bệnh dùng cái cốc bằng giấy chứ không phải cái bình, nhưng rõ ràng để một vật kém vệ sinh trong phòng khám là điều không nên chút nào. Sau giờ làm việc, nha sĩ Fitzhugh viết một bức thư ngắn cho Bridgit, người giúp việc thường đến văn phòng ông hai lần mỗi tuần để dọn dẹp.
Ông viết như sau:
Chị Bridgit thân mến!
Tôi ít khi gặp chị. Nên tôi nghĩ mình phải tranh thủ để cảm ơn chị về công việc dọn dẹp rất tốt mà chị đã làm. Nhân tiện, tôi xin đề nghị thế này: Hiện tại, hai giờ dọn dẹp, mỗi tuần hai lần là quá ít, xin chị cứ tùy ý đến làm việc thêm một giờ nữa vào bất cứ lúc nào chị cảm thấy thuận tiện để làm những việc như lau chùi các bình, lọ, cốc... Dĩ nhiên, tôi sẽ trả thêm tiền ngoài giờ cho chị.
“Ngày hôm sau, khi tôi bước vào phòng làm việc”, ông Fitzhugh kể, “bàn ghế
láng bóng, còn ở phòng răng, mọi thứ – kể cả bình nước – đều sạch sẽ, sáng choang và nằm ngay ngắn đúng vị trí của chúng.
Cố gắng này vượt xa những biểu hiện thông thường của chị. Mà chị cũng chẳng
làm thêm một giờ nào hết. Chị muốn tỏ ra xứng đáng với sự tin cậy, lời khen ngợi của tôi”.
Ruth Hopkins, cô giáo dạy lớp bốn ở Brooklyn, New York, phải đương đầu với một khó khăn lớn. Năm học này lớp của cô sẽ có Tommy, cậu học trò được xem là bất trị nổi tiếng nhất trường. Thầy giáo lớp ba của cậu luôn than phiền về cậu. Cậu không chỉ nghịch ngợm theo kiểu thông thường mà còn đánh nhau, trêu chọc bạn gái, ngang ngược với thầy cô. Mọi giáo viên đều nói rằng càng lớn cậu càng tệ hơn. Ưu điểm duy nhất của cậu là khả năng tiếp thu nhanh và làm bài tập ở lớp rất nhanh.
Cô Hopkins quyết định đương đầu với “vấn đề Tommy” ngay lập tức. Sau khi
chào các học sinh mới, cô khen từng em một: “Rose à! Chiếc áo của em rất xinh”, “Alicia này! Cô nghe nói em vẽ rất đẹp”. Khi đến bên cạnh Tommy, cô nhìn thẳng vào mắt cậu và nói: “Tommy! Cô biết em là một người có tài lãnh đạo. Cô sẽ nhờ em giúp cô làm cho lớp này thành lớp giỏi nhất khối lớp bốn năm nay, được không?”. Cô nhấn mạnh điều này trong những ngày đầu tiên bằng cách khen ngợi Tommy trong mọi việc cậu làm và rằng điều này chứng minh cậu là một học trò giỏi như thế nào. Có lời khen và danh dự này, cậu bé chín tuổi ấy quyết tâm gìn giữ. Và quả thật, cậu đã không làm cô giáo và mọi người thất vọng vào cuối năm học đó. Gần như bất cứ người nào trên đời cũng đều như vậy chứ không chỉ là những cậu bé hay cô bé. Một cách đơn giản để đánh thức những đức tính tốt đẹp trong con người mình là tin rằng mình có ít nhất một đức tính tốt nào đó. Như thế, dù trên thực tế chúng ta chưa có nó thì sau đó, chúng ta sẽ hành xử như chúng ta đã có đức tính đó vậy.
“Nếu muốn khuyến khích một điều gì ở ai đó, bạn hãy làm như điều ấy chính là
đặc điểm vượt trội của người đó. Họ nhất định sẽ nỗ lực phi thường để trở nên như thế” – Dale Carnegie. “Trong cách đối nhân xử thế, nếu ta đối xử với một người như thế nào thì anh ta sẽ trở thành người như thế ấy” – Johann Wolfgang von Goethe
(Đắc nhân tâm -Dale Carnegie. NXB văn hóa Thông tin 2012)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Vì sao?
Câu 2: Vì sao Marie đứng lặng trong giây lát, gần như ngưng thở khi nghe Georgette Leblanc nói về mình?
Câu 3: Câu chuyện về nha sĩ Fitzhugh viết một bức thư ngắn gửi chị giúp việc Bridgit đã chứng minh điều gì?
Câu 4: Nhận định sau đây có thể vận dụng vào mọi hoàn cảnh, với mọi đối tượng trong cuộc sống được không? Vì sao? Hãy xây dựng một tình huống giả định, hoặc lấy một ví dụ để phản biện
“Trong cách đối nhân xử thế, nếu ta đối xử với một người như thế nào thì anh ta sẽ trở thành người như thế ấy” – Johann Wolfgang von Goethe
Câu 5: Em “vi phạm” nguyên tắc nào trong văn bản Cho người khác niềm tự hào chưa? Sau bài học này, em rút ra kinh nghiệm nào cho mình trong cách nhìn nhận, đánh giá và ứng xử với mọi người xung quanh?
II. Viết (4đ)
Câu 1: Quan sát hình ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b
a. Hãy đặt tên cho từng bức ảnh
b. Có thể dùng hình ảnh nào để minh họa cho một nội dung/ nhận định trong văn bản ở phần đọc hiểu trên?


Câu 2: Theo dõi cuộc trao đổi của đôi bạn sau giờ sinh hoạt lớp với nội dung tổng kết khen thưởng tháng sau đây

Em hãy viết bài luận thể hiện quan điểm của mình về ý kiến của hai người bạn trên (dài từ 1,5 – 2 trang giấy thi/ vở)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại dấu hiệu nhận biết các kiểu văn bản
Lời giải chi tiết:
Văn bản nghị luận:
+ Vì bàn về một vấn đề cụ thể
+ Vì dùng ý kiến, lí lẽ và dẫn chứng thuyết phục người đọc
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Vì sao Marie đứng lặng trong giây lát, gần như ngưng thở khi nghe Georgette Leblanc nói về mình? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Vì cô ấy có ngoại hình không đẹp, làm công việc bị coi thường
- Vì cô ấy chưa nghĩ đến điều đó bao giờ
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Câu chuyện về nha sĩ Fitzhugh viết một bức thư ngắn gửi chị giúp việc Bridgit đã chứng minh điều gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bức thư
Lời giải chi tiết:
Phê bình bằng cách khích lệ, thể hiện niềm tin họ sẽ tỏ ra xứng đáng với sự tin cậy, lời khích lệ
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Nhận định sau đây có thể vận dụng vào mọi hoàn cảnh, với mọi đối tượng trong cuộc sống được không? Vì sao? Hãy xây dựng một tình huống giả định, hoặc lấy một ví dụ để phản biện “Trong cách đối nhân xử thế, nếu ta đối xử với một người như thế nào thì anh ta sẽ trở thành người như thế ấy” – Johann Wolfgang von Goethe |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhận định
Suy nghĩ và áp dụng vào các hoàn cảnh, thực tế cuộc sống
Lời giải chi tiết:
- Không thể
- Bởi vì có những người quá chây ì, không bao giờ nỗ lực, không bao giờ quan tâm đến sự tiến bộ của mình và mọi người nên họ rất khó nhận ra sự tôn trọng, khích lệ hay coi thường trong đối thoại, đối xử… Và cũng có thể họ không quan tâm đến thái độ của mọi người đối với mình nữa
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Em “vi phạm” nguyên tắc nào trong văn bản Cho người khác niềm tự hào chưa? Sau bài học này, em rút ra kinh nghiệm nào cho mình trong cách nhìn nhận, đánh giá và ứng xử với mọi người xung quanh? |
Phương pháp giải:
Học sinh liên hệ bản thân
Lời giải chi tiết:
- HS tự “ngoái lại” thời gian trước đây để đối chiếu một số ứng xử, đánh giá của mình với người thân, bạn bè với 3 nhận định từ văn bản để có câu trả lời (cần khớp với nhận định của văn bản)
- Rút kinh nghiệm: từ những “vi phạm” nguyên tắc nếu mình có; từ những nhận định đắt giá của văn bản
II. VIẾT (4đ)
Câu 1 (1 điểm)
|
a. Hãy đặt tên cho từng bức ảnh b. Có thể dùng hình ảnh nào để minh họa cho một nội dung/ nhận định trong văn bản ở phần đọc hiểu trên? |
Phương pháp giải:
a. HS quan sát kĩ 2 bức ảnh, rút ra nội dung chính và đặt tên
b. HS dựa vào quan điểm cá nhân
Lời giải chi tiết:
a. HS tự đặt tên (cần sát với đặc điểm, biểu hiện, hình ảnh)
b. HS dựa vào ý kiến cá nhân (cần có phân tích hợp lí, suy luận logic, bởi có những điều khi quan sát ta thấy chúng không hề liên quan đến nhau, hoặc không chứa đựng ý nghĩa gì… cho đến khi nghe phân tích, suy luận ta lại phát hiện ra)
- Gợi ý: Bức ảnh 1 phù hợp minh họa cho luận điểm 1 (bao vẻ thanh xuân bị vùi lấp bấy lâu nay bỗng trỗi dậy)
Câu 2 (3 điểm)
|
Em hãy viết bài luận thể hiện quan điểm của mình về ý kiến của hai người bạn trên (dài từ 1,5 – 2 trang giấy thi/ vở) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Em hãy viết bài luận thể hiện quan điểm của mình về ý kiến của hai người bạn trên (dài từ 1,5 – 2 trang giấy thi/ vở) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Nêu luận đề: quan điểm cá nhân về ý kiến 2 người bạn về khích lệ và chỉ thẳng lỗi - Thái độ/ quan điểm cá nhân: sơ bộ/ khái quát (không đồng ý hoàn toàn/ cần bàn về hoàn cảnh vận dụng…) |
|
Thân bài |
2,0 |
Gồm các ý chính (từ 3 luận điểm trở lên) - Phân tích, đánh giá ý kiến của bạn A (gắn với từng hoàn cảnh, đối tượng cụ thể): Ý kiến, lí lẽ, dẫn chứng - Ý kiến cá nhân: khách quan, không cực đoan (lí lẽ, dẫn chứng để thuyết phục 2 người bạn…) |
|
Kết bài |
0,25 |
- Khẳng định ý kiến cá nhân - Rút ra nhận thức, hành động của cá nhân… |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Phân tích, suy luận logic, phù hợp với văn hóa dân tộc,… - Tránh áp đặt cứng nhắc, cực đoan |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Chân trời sáng tạo - Đề số 12
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Hs đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi kế tiếp
CHĂM SÓC KHU VƯỜN RIÊNG CỦA BẠN
(Karen Casey)
[...] Cách chúng ta đối nhân xử thế cho biết ta phải làm gì đối với bản thân. Và khi thôi chú tâm vào cuộc sống của người khác, chúng ta có thể hoàn thành nhiệm vụ duy nhất được giao phó: kiểm soát cách cư xử của mình. Nhưng làm như thế nào? Đơn giản thôi! Chúng ta phải học và sau đó luyện tập vài cách
ứng xử mới.
Chăm lo cuộc sống của bạn, không phải của ai khác.
Chúng ta có thể lớn lên trong môi trường mà ở đó, cha mẹ chúng ta thường chỉ trích bạn bè, người thân hay hàng xóm chỉ vì sự khác biệt trong quan điểm hay hành động. Bị ám ảnh bởi việc quan sát hành vi của bạn bè, người thân hay thậm chí là của một người hoàn toàn xa lạ và khao khát thay đổi hoặc kiểm soát được những hành vi ấy là một chất xúc tác cực mạnh dẫn đến rối loạn trong tư duy của chúng ta. Điều tai hại này xảy ra song song với ý nghĩ sai lầm rằng chúng ta có thể thay đổi bất kỳ ai, ngoại trừ bản thân. Chúng ta có thể lãng phí nhiều năm trời cố gắng thay đổi người bạn đời hay một số bạn bè khác để rồi thật nhẹ nhõm khi cuối cùng cũng biết rằng, chuyện của người khác chẳng liên quan gì đến ta, không lý do gì ta phải bận tâm kiểm soát hay nhận xét họ. Chịu trách nhiệm về bản thân mình thôi là đủ rồi.
Cần phải nhắc lại rằng: chúng ta không chịu trách nhiệm về người khác, cũng không liên quan gì đến hành vi, suy nghĩ, mơ ước, khó khăn, thành công hay thất bại của họ!
Thậm chí con cái chúng ta cũng có hành trình riêng của chúng và cái gọi là sự kiểm soát của cha đối với con cái thật ra chỉ là ảo tưởng. Chúng ta có thể đưa ra ví dụ, có thể đề nghị một khuôn mẫu cư xử nào đó, có thể đặt ra các quy tắc đạo
đức, thậm chí yêu cầu con cái sống theo những nội quy nhất định khi ở trong nhà, nhưng cuối cùng, chính chúng mới là người quyết định mình muốn trở thành người như thế nào, muốn làm cái gì...Tôi muốn nói rằng: Hãy ăn mừng vì sự thật là chúng ta không chịu trách nhiệm với bất kỳ ai, ngoại trừ bản thân. Điều này giải thoát chúng ta khỏi một gánh nặng và một trách nhiệm chẳng đem lại lợi lộc hay phúc lành gì cho ta cả. Hãy làm chủ mọi hành động và suy nghĩ của mình. sẵn sàng từ bỏ quá khứ trong lúc thưởng thức hiện tại. Chừng đó đã đủ khiến chúng ta bận rộn. Hãy thực hiện những việc này, chúng chính là lý do để chúng ta có mặt ở đây. Chỉ khi nào chúng ta sống với cuộc đời của mình và giải quyết những chuyện của riêng mình, để yên cho những người khác làm điều tương tự, thì ta mới tìm thấy được bình yên.
Để người khác được là chính họ
Rất nhiều khoảng thời gian quý báu đã bị lãng phí một cách vô ích trong những nỗ lực bắt người khác trở thành mẫu người như ta muốn hoặc làm điều mà ta nghĩ là tốt nhất cho họ (hay cho chúng ta). Nhưng rồi những cố gắng ấy chỉ đem đến thất bại hết lần này đến lần khác. Đây không những là một sai lầm mà còn là sự phí phạm cuộc sống quý giá mà ta được ban tặng. Đã đến lúc phải bỏ qua tất cả. Lần đầu tiên tôi được giới thiệu về khái niệm “bỏ qua” là khi tham gia một nhóm hoạt động xã hội của chương trình Twelve Step và phải mất khá nhiều thời gian tôi mới nắm được ý nghĩa của nó. Chẳng phải nhiệm vụ của tôi là dẫn dắt những người thân yêu để họ có được quyết định và hành động sáng suốt sao?
Và nếu có thể, chẳng phải tôi nên kiểm soát họ? Tôi luôn nghĩ rằng không làm như thế đồng nghĩa với sự ích kỷ và thiếu quan tâm. Thật may mắn vì cuối cùng tôi đã nghiệm ra là người thân, bạn bè, hàng xóm và thậm chí những người xa lạ
đi ngang ta trên đường, phải được là chính họ chứ không phải là con người mà
mong muốn. Phải phạm sai lầm thì họ mới rút ra được bài học và tìm được lý
do vui mừng với thành công của bản thân.
Có rất nhiều lý do để từ bỏ việc điều khiển người khác. Nhưng quan trọng nhất là vì chúng ta sẽ không bao giờ thành công trong việc đó và không thể tìm được cảm giác thanh thản nếu cứ mãi chú tâm vào cuộc sống của người khác. Để được bình yên, chúng ta phải tôn trọng sự chọn lựa của người khác và chỉ quan
tâm đến những trong cuộc sống của riêng mình.
Từ bỏ vị trí trung tâm trong cuộc sống của người khác.
Bởi không ai có thể yên ổn ngự trị ở trung tâm cuộc sống của chúng ta nên ta cũng không cần phí phạm thời gian quý báu nhằm tự biến mình thành tâm điểm
trong cuộc sống người khác. Có vẻ như điều này chạm đến tự ái của bạn, nhưng
đã đến lúc phải chấp nhận sự thật. Điều này không có nghĩa là chúng ta phải cách ly người khác hay tống khứ họ ra khỏi cuộc đời mình trước khi bị họ “bỏ rơi”, hay chúng ta phải lờ đi suy nghĩ và hành động của mọi người để tránh phụ thuộc thái quá vào họ. Đứng ngoài quan sát có thể là một lựa chọn đúng đắn và sáng suốt hơn.
Điều cốt yếu là phải xác định được vai trò của ta trong mọi mối quan hệ, biết khi nào trách nhiệm của ta kết thúc và trách nhiệm của người khác bắt đầu. Khi
bị chi phối vì những hành động, ước mơ hay biến cố của người khác, chúng ta sẽ tự trói cảm xúc của mình và cản trở sự tiến bộ mà ta xứng đáng đạt được... Chúng ta muốn mọi người xung quanh phải chia sẻ hết suy nghĩ của họ với mình, muốn họ không ngừng chú ý đến ta, muốn mỗi kế hoạch của họ đều phải có ta trong đó. Nhưng như thế không thể gọi là quan hệ, mà đúng hơn, là sự lệ thuộc; là một sợi dây liên kết tồi tệ. Một mối quan hệ thật sự đem đến sự thanh thản phải là sự tác lẫn nhau. Nó cho phép ta kết nối với mọi người trong khi vẫn chăm lo và tôn trọng cuộc sống riêng của mình, đồng thời cho phép những người bạn đồng hành của ta được làm điều tương tự [...].
(Khi ta thay đổi thế giới sẽ đổi thay, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2020)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Vì sao?
Câu 2: Câu: “Thậm chí con cái chúng ta cũng có hành trình riêng của chúng và cái gọi là sự kiểm soát của cha đối với con cái thật ra chỉ là ảo tưởng” thuộc yếu tố nào của văn bản nghị luận? Nhằm mục đích gì?
Câu 3: Câu: “Đây không phải là một sai lầm mà còn là sự phí phạm cuộc sống quý giá mà ta được ban tặng” nhằm thuyết phục người đọc thực hiện điều gì?
Câu 4: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: “Để được bình yên, chúng ta phải tôn trọng sự chọn lựa của người khác và chỉ quan tâm đến những điều trong cuộc sống của riêng mình” không? Vì sao?
Câu 5: Tác giả bàn về vấn đề gì trong đoạn văn bản sau đây? Em có đồng ý với nhận định của tác giả không? Vì sao?
Chúng ta có thể lớn lên trong môi trường mà ở đó, cha mẹ chúng ta thường chỉ trích bạn bè, người thân hay hàng xóm chỉ vì sự khác biệt trong quan điểm hay hành động. Bị ám ảnh bởi việc quan sát hành vi của bạn bè, người thân hay thậm chí là của một người hoàn toàn xa lạ và khao khát thay đổi hoặc kiểm soát được những hành vi ấy là một chất xúc tác cực mạnh dẫn đến rối loạn trong tư duy của chúng ta.
II. Viết (4đ)
Câu 1: Cho 3 mô hình sau đây thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với bạn bè, em hãy
a. Đặt tên cho từng mô hình
b. Em lựa chọn mô hình nào, mối quan hệ nào? Nêu 2 lí do

Câu 2: Viết bài luận thể hiện suy nghĩ của em về mối quan hệ cá nhân với bạn bè mà em đã lựa chọn ở câu hỏi số 1 (từ 1,5 đến 2 trang giấy)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại dấu hiệu nhận biết các thể loại
Lời giải chi tiết:
Văn bản nghị luận:
+Vì bàn về một vấn đề cụ thể
+Vì dùng ý kiến, lí lẽ và dẫn chứng thuyết phục người đọc
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Câu: “Thậm chí con cái chúng ta cũng có hành trình riêng của chúng và cái gọi là sự kiểm soát của cha đối với con cái thật ra chỉ là ảo tưởng” thuộc yếu tố nào của văn bản nghị luận? Nhằm mục đích gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu văn
Nhớ lại các yếu tố của văn bản nghị luận
Lời giải chi tiết:
Là lí lẽ, nhằm làm sáng tỏ luận đề: không ai có thể kiểm soát được người khác
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Câu: “Đây không phải là một sai lầm mà còn là sự phí phạm cuộc sống quý giá mà ta được ban tặng” nhằm thuyết phục người đọc thực hiện điều gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu văn
Lời giải chi tiết:
Thuyết phục người đọc: Để người khác được là chính họ
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: “Để được bình yên, chúng ta phải tôn trọng sự chọn lựa của người khác và chỉ quan tâm đến những điều trong cuộc sống của riêng mình” không? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đưa ra quan điểm của bản thân và lí giải hợp lí
Lời giải chi tiết:
Gợi ý: câu trên chứa đựng 2 vế, cần phải nghiên cứu kĩ vế thứ 2 (bởi con người đặt trong mối quan hệ thân sơ, không thể bỏ qua tất cả, chỉ sống cho riêng mình và có lúc mình rất cần sự trợ giúp của người thân và bạn bè
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Tác giả bàn về vấn đề gì trong đoạn văn bản sau đây? Em có đồng ý với nhận định của tác giả không? Vì sao? Chúng ta có thể lớn lên trong môi trường mà ở đó, cha mẹ chúng ta thường chỉ trích bạn bè, người thân hay hàng xóm chỉ vì sự khác biệt trong quan điểm hay hành động. Bị ám ảnh bởi việc quan sát hành vi của bạn bè, người thân hay thậm chí là của một người hoàn toàn xa lạ và khao khát thay đổi hoặc kiểm soát được những hành vi ấy là một chất xúc tác cực mạnh dẫn đến rối loạn trong tư duy của chúng ta. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Đưa ra quan điểm của bản thân và lí giải hợp lí
Lời giải chi tiết:
- Bàn về vấn đề: môi trường sống và nhân cách con người
- Quan điểm của tác giả: môi trường sống sẽ chi phối, tác động sâu sắc đến nhân cách con người
- HS tự lựa chọn và phân tích rõ quan điểm cá nhân (căn cứ vào thực tế, vào ví dụ cụ thể mà mình đã trải qua, chứng kiến)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Cho 3 mô hình sau đây thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với bạn bè, em hãy a. Đặt tên cho từng mô hình b. Em lựa chọn mô hình nào, mối quan hệ nào? Nêu 2 lí do |
Phương pháp giải:
a. Quan sát kĩ các mô hình và đặt tên
b. HS đưa ra ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
a. HS tự đặt tên theo ý kiến cá nhân (gợi ý: 1. Phụ thuộc; 2. Chi phối; 3. Độc lập)
b. Lựa chọn mô hình, mối quan hệ mà mình cho là các bên được phát triển độc lập và có tương hỗ nhau khi cần thiết; nêu 2 lí do: cần phải hướng đến sự phát triển của 2 đối tượng trong mối quan hệ đó
Câu 2 (3 điểm)
|
Viết bài luận thể hiện suy nghĩ của em về mối quan hệ cá nhân với bạn bè mà em đã lựa chọn ở câu hỏi số 1 (từ 1,5 đến 2 trang giấy) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài luận thể hiện suy nghĩ của em về mối quan hệ cá nhân với bạn bè mà em đã lựa chọn ở câu hỏi số 1 (từ 1,5 đến 2 trang giấy) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Nêu luận đề: mối quan hệ cá nhân với bạn bè - Sự lựa chọn của cá nhân: mối quan hệ cá nhân với bạn bè theo hướng cụ thể… |
|
Thân bài |
2,0 |
Gồm các ý chính (từ 3 luận điểm trở lên) - Nêu ngắn gọn cách hiểu về mối quan hệ cá nhân với bạn bè và một số biểu hiện tiêu biểu (có ví dụ) - Lựa chọn của cá nhân: 1.Phụ thuộc/2. Chi phối/3.Độc lập +Phân tích biểu hiện của mối quan hệ đã lựa chọn +Phân tích ưu điểm và hạn chế + Lí giải sự phù hợp với cá nhân mình - Ý kiến cá nhân: vai trò tình bạn đối với mỗi người và bản thân mình Lưu ý: dùng các yếu tố biểu cảm |
|
Kết bài |
0,25 |
- Khẳng định ý kiến cá nhân về mối quan hệ với bạn bè - Rút ra nhận thức, hành động của cá nhân… |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Phân tích, suy luận logic, phù hợp với văn hóa dân tộc,… - Tránh áp đặt cứng nhắc, cực đoan |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Chân trời sáng tạo - Đề số 13
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Hs đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi kế tiếp
MỘT CƠN GIẬN
(Thạch Lam)
[…] Cũng một buổi chiều mùa đông như hôm nay, tôi ở tòa báo ra về, trong lòng chán nản và buồn bực. Có những ngày mà tự nhiên không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu, và hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì. Tôi đang ở vào một ngày như thế mà chiều trời hôm ấy lại ảm đạm và rét mướt càng khiến cho cảm giác đó rõ rệt hơn.
Tôi đi vài bước trên con đường phố vắng người. Một cái xe tay dằng xa đi lại, anh phu xe co ro vì rét, hai tay giấu dưới manh áo tơi tàn. Theo lệ như mọi khi, tôi mặc cả:
- Xe đi không? Bốn xu về gần nhà bò Yên Phụ.
- Thầy cho sáu xu.
- Không, bốn xu là đúng giá rồi. [...]
Tôi lại càng ghét và quay lại gắt:
- Có đi hay không thì thôi! Đừng có theo sau người ta mà lải nhải.
Thấy tôi gắt, người phu xe đứng lại, không dám theo nữa. Nhưng để tôi đi một quãng xa, anh ta ới gọi:
- Lại đây đi mà.
Rồi anh ta hạ càng xe xuống, cứ đứng yên chỗ ấy đợi chứ không kéo lại phía tôi. Cái cử chỉ ấy làm tôi sinh ghét thêm, đã toan không đi, nhưng lúc ấy không có cái xe nào khác. Tôi giận dữ bước mạnh lên xe, vừa mắng:
- Anh thật là lắm chuyện, không đi ngay lại còn vẽ.
Anh xe cãi lại:
- Từ đây về đấy thầy cho được bốn đồng xu thật rẻ quá!
- Thì ai bảo anh đi? Không có tôi đã gọi xe khác.
Người phu xe khẽ thở dài, yên lặng nhấc xe lên. Lúc bấy giờ tôi mới ngả mình ra phía sau, nhưng thấy cái đệm cứng như gỗ đập vào lưng, tôi cúi xuống bên nhìn cái tay xe.... Sự tồi tàn của cái xe làm tôi càng ghét anh xe nữa.
- Xe khổ thế này mà anh lại còn đòi cao giá.
- Xe thế mà thầy chê thì còn thế nào nữa!
Sau cùng, giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt:
- Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa.
Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ thấy tức người xe ấy đến cực điểm, vì hắn dám cãi lại tôi mà không sợ.
Xe đi khỏi nhà máy nước thì gặp một người đội xếp tây đi xe đạp lại, theo sau một người đội xếp ta. Tôi nhận thấy anh xe kéo tôi có ý luống cuống và sợ hãi. Có lẽ vì thế mà người cảnh sát để ý, đi giáp vào cái xe kéo để xem dấu hiệu.
- Ê! Đứng lại!
Người kéo xe dừng chân... Anh ta quay lại tôi hớt hải van xin:
- Lạy thầy... thầy nói giúp con... thầy làm ơn...
Dưới ánh đèn tôi thấy mặt anh xe tái mét. Những vết rạn in sâu xuống trên mặt già nua hốc hác, chân tay người khốn nạn ấy run bật lên và tôi thấy cái rung động chuyển cả vào chiếc thân xe. Người cảnh sát tây đến, nói bằng tiếng ta hơi sõi:
- Mày chết nhé! Mày sẽ bị phạt!
Người phu xe ấp úng nói thì ông ta khoát tay bảo im, rồi quay lại tôi hỏi, lần này bằng tiếng Pháp.
- Người này kéo ông từ trong phố ra hay ông đi khứ hồi?
Tôi liếc mắt nhìn anh kéo xe. Tôi thấy hai mắt anh ta long lanh nhìn tôi, như khẩn cầu van xin yên lặng. Tôi biết lời nói của tôi sẽ làm anh ta bị bắt hay không. Tôi được biết rằng nếu người khách nói là đi khứ hồi từ ngoại ô, thì người xe không việc gì. Nhưng lúc ấy, lời van xin của anh xe kia không làm cho tôi động lòng, mà lại làm cho tôi ghét anh thêm. Tôi trả lời người đội xếp:
- Tôi đi từ phố hàng Bún.
- Vậy phiền ông xuống xe.
Rồi anh ta nhìn anh phu xe, cười một cách tinh quái:
- Allez! Đi về bót!
Khi anh phu xe run sợ và hai người cảnh sát đã khuất đầu phố, tôi mới quay đi thong thả trên bờ hè. Cơn giận của tôi đã hết rồi. Sự hối hận dần thấm thía vào lòng tôi, tôi thấy một cái chán nản bực tức rung động trong người.
Tôi rùng mình nghĩ đến số phận của anh xe khốn nạn. Ba đồng bạc phạt! Anh ta phải vay cai xe để nộp phạt; nhưng ba đồng bạc nợ ấy, bao giờ anh ta trả xong, sau những ngày nhịn đói, bị cai xe hành hạ, đánh đập vì thù hằn?
Những ngày hôm sau thực là những ngày khổ cho tôi. Lòng hối hận không để tôi yên. Hình như có một cái gì nặng nề đè nén trên ngực làm cho tôi khó thở, và lúc nào hình ảnh anh phu xe cũng hiển hiện ra trước mắt. Tôi nhất định đem tiền đến cho người xe kia để chuộc tội lỗi của mình...
Lần ấy là lần đầu tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở như thế. Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới như những người trong một cơn mê. Người phu xe Dư ở trong ấy. Tôi cúi mình bước vào, chỉ thấy tối như bưng lấy mắt và thấy hơi ẩm lạnh thấm vào tận trong mình. Có tiếng người đàn bà khẽ hỏi:
- Bẩm thầy muốn gì?
Khi mắt mắt đã quen tối, tôi nhận thấy người đàn bà vừa hỏi, một bà già ở mép một chiếc giường tre mục nát kê ở sát tường. Sau lưng bà này, một người đàn bà nữa ngồi ôm trong lòng một vật gì hơi động đậy. Cả hai cùng ngước mắt lên nhìn tôi một cách ngạc nhiên và đầu họ chạm vào mái nhà thấp, đây những mảng giẻ rách nát vắt trên xà.
- Bác Dư có nhà không?
- Bẩm, chú nó đi về quê vắng từ hôm nọ.
Một vẻ sợ hãi thoáng qua trên mặt đủ tỏ cho tôi biết họ không nói thật, tôi giảng giải:
- Không, cụ cứ nói thật cho tôi biết. Tôi đến để giúp bác ta chứ không có ý gì khác.
Bà cụ nhìn tôi nghĩ ngợi một lát rồi nói:
- Thế thầy đã biết việc chú nó bị bắt xe hôm nọ?
Tôi gật đầu ra hiệu cho bà cụ cứ nói:
- Hôm ấy cai nó phải đem tiền lên nộp phạt để chuộc xe về. Chú nó đã xin khất với cai để rồi trả dân số tiền đó. Nhưng nó nhất định không nghe, bắt phải trả một nửa ngay. Khốn nạn, thì lấy đâu ra mà trả. Thế là bị nó lột quần áo đánh một trận thừa sống thiếu chết thầy ạ. Khi về đây lê đi không được nữa. Thế mà nó còn bắt mai phải trả ngay.
- Thế bây giờ bác ta đâu?
Bà cụ trả lời:
- Đi ngay từ hôm ấy, mà không biết đi đâu. Đã ba hôm nay chúng tôi dò mà không thấy. Chắc là sợ cai không dám về nữa, dù có về mà không có tiền cũng chết với nó. Thật cũng là cái vạ, nghe đâu chú nó nói hôm ấy tại người khách đi xe không biết nói với người đội xếp thế nào mới bị bắt, chứ không cũng chẳng việc gì.
Bà cụ chép miệng, chỉ người đàn bà ngồi sau:
- Tội cho vợ con chú đây, ốm đã mấy ngày hôm nay không có thuốc. Đứa cháu không biết có qua khỏi được không?
Tôi đứng lại gần xem. Trên cánh tay người mẹ, chỉ còn là một dúm thịt con đã nhăn nheo: đứa bé há hốc miệng thở ra, mặt xám nhợt. Người mẹ thỉnh thoảng lấy cái lông gà dúng vào chén mật ong để bên cạnh, phết lên lưỡi của đứa bé.
- Cháu nó sài đã hơn một tháng nay. Hôm nọ đã đỡ. Mấy hôm nay vì không có tiền mua thuốc lại tăng. Ông lang bảo cháu khó qua khỏi được.
Người mẹ nói xong nấc lên một tiếng rồi nức nở khóc. Bà cụ già lê nhích lại gần, cúi xuống khe khẽ kéo lại những cái tã rách như xơ mướp.
Cái cảnh đau thương ấy làm tôi rơm rớm nước mắt. Một cảm giác nghẹn ngào đưa lên chẹn lấy cổ. Tôi lấy tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bước ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực [...].
Ra đến bên đường, tôi nghe thấy trong căn nhà lụp xụp đưa ra tiếng khóc của hai người đàn bà... Đứa bé con đã chết.
(Nguồn: Tuyển Tập Thạch Lam. XXB văn học, 2018)
Thạch Lam (1910 -1942), tên thật là Nguyễn Tường Lân, là một nhà văn Việt Nam thuộc nhóm Tự Lực văn đoàn. Ông là em ruột của hai nhà văn khác cũng trong nhóm Tự Lực văn đoàn là Nhất Linh và Hoàng Đạo. Ngoài bút danh Thạch Lam, ông còn có các bút danh là Việt Sinh, Thiện Sỹ.
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Cảm hứng chủ đạo của văn bản Một cơn giận – Thạch Lam là gì?
Câu 2: Vì sao người kéo xe liên tục bị nhân vật tôi mắng mỏ thậm tệ?
Câu 3: Suy nghĩ của nhân vật “tôi” ở dòng sau diễn ra vào thời điểm nào? Nó có tác dụng gì trong khắc họa nhân vật?
Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá.
Câu 4: Văn bản đã gửi đến người đọc tư tưởng, thông điệp nào? Hình thức nghệ thuật nào của văn bản chuyển tải điều đó
Câu 5: Em rút được kinh nghiệm gì trong việc giải tỏa cơn giận của bản thân? Theo em, nhân vật “tôi” cần làm gì để giảm tội lỗi của mình?
II. Viết (4đ)
Chọn vấn đề em cho là cần thiết nhất đối với thanh niên hiện nay trong những ô chữ sau và viết bài luận về vấn đề đó (Dùng yếu tố thuyết minh hoặc miêu tả, tự sự để hỗ trợ nghị luận. Bài dài từ 1,5 – 2 trang)

-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Cảm hứng chủ đạo của văn bản Một cơn giận – Thạch Lam là gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và tiêu đề
Lời giải chi tiết:
Đề tài của văn bản Một cơn giận - Thạch Lam: Tâm lý
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Vì sao người kéo xe liên tục bị nhân vật tôi mắng mỏ thậm tệ? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Người kéo xe liên tục bị nhân vật tôi mắng mỏ thậm tệ vì: Khách hàng bực bội trong người, mắng lây sang người khác
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Suy nghĩ của nhân vật “tôi” ở dòng sau diễn ra vào thời điểm nào? Nó có tác dụng gì trong khắc họa nhân vật? Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu văn và đối chiếu vào văn bản phía trên
Phân tích tác dụng
Lời giải chi tiết:
Suy nghĩ của nhân vật “tôi” ở dòng trên diễn ra vào thời điểm: Trước khi người kéo xe bị đội sếp tây phạt
Tác dụng: thể hiện sự nhẫn tâm của “tôi”
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Văn bản đã gửi đến người đọc tư tưởng, thông điệp nào? Hình thức nghệ thuật nào của văn bản chuyển tải điều đó |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Rút ra tư tưởng và thông điệp từ văn bản
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
- Tư tưởng nhân văn: xót thương người nghèo khổ; phê phán ứng xử nhẫn tâm…
-Thông điệp: thận trọng trong ứng xử; sống rộng lượng nhân ái hơn; không phải lỗi ầm nào cũng có thể sửa chữa được; là con người cần biết chịu trách nhiệm với lỗi lầm của bản thân
- Hình thức nghệ thuật: suy nghĩ của nhân vật “tôi”; lời thoại của 2 người phụ nữ
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Em rút được kinh nghiệm gì trong việc giải tỏa cơn giận của bản thân? Theo em, nhân vật “tôi” cần làm gì để giảm tội lỗi của mình? |
Phương pháp giải:
Hs tự đúc rút từ nhận thức của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Vế 1: HS tự làm theo nhận thức cá nhân
- Vế 2: HS đề xuất phương án cụ thể (phương án thể hiện tấm lòng và tầm nhìn)
- Tham khảo gợi ý: Tìm gặp anh phu xe và xin lỗi; Giúp đỡ anh phu xe, vợ anh ta: có kể sinh nhai ổn định hơn
II. VIẾT (4đ)
|
Chọn vấn đề em cho là cần thiết nhất đối với thanh niên hiện nay trong những ô chữ sau và viết bài luận về vấn đề đó (Dùng yếu tố thuyết minh hoặc miêu tả, tự sự để hỗ trợ nghị luận. Bài dài từ 1,5 – 2 trang) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Chọn vấn đề em cho là cần thiết nhất đối với thanh niên hiện nay trong những ô chữ sau và viết bài luận về vấn đề đó |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Nêu, giới thiệu luận đề - Sự quan tâm của cá nhân, số đông tới luận đề |
|
Thân bài |
2,5 |
- Làm rõ cách hiểu về luận đề, vai trò của luận đề trong đời sống hiện nay - Biểu hiện của vấn đề/ luận đề trong xã hội (tính hai mặt) - Tác động của luận đề đối với mỗi con người và xã hội - Các giải pháp… Lưu ý: Dùng truyện Một cơn giận làm bằng chứng (yếu tố tự sự) |
|
Kết bài |
0,5 |
Nhận thức và hành động của bản thân |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Thể hiện rõ quan điểm cá nhân (đồng tình/phản bác) - Dẫn chứng đa dạng phù hợp với lí lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Chân trời sáng tạo - Đề số 14
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Hs đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi kế tiếp
ĐÓ LÀ MÙA CỦA NHỮNG TIẾNG CHIM REO
(1)Trời xanh biếc, nắng tràn lên khắp ngả
Đất thành cây, mật trào lên vị quả
Bước chân người bỗng mở những đường đi
(2) Đó là mùa không thể giấu che
Cả vạn vật đều phơi trần dưới nắng
Biển xanh thẳm, cánh buồm lồng lộng trắng
Từ những miền cay đắng hóa thành thơ.
(3) Đó là mùa của những ước mơ
Những dục vọng muôn đời không kể xiết
Gió bão hòa, mưa thành sông thành bể
Một thoáng nhìn có thể hóa tình yêu
(4) Đó là mùa của những buổi chiều
Cánh diều giấy nghiêng vòm trời cao vút
Tiếng dế thức suốt đêm dài oi bức
Tiếng cuốc dồn thúc giục nắng đang trưa
(5) Mùa hạ của tôi, mùa hạ đã đi chưa
Ôi tuổi trẻ bao khát khao còn, hết
Mà mặt đất màu xanh là vẫn biển
Quả ngọt ngào thắm thiết vẫn màu hoa.
(Mùa hạ – Xuân Quỳnh, Thơ Xuân Quỳnh, NXB Văn học, 2016, tr. 34)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2: Khổ (4) bài thơ miêu tả những âm thanh nào?
Câu 3: Thông điệp nào trong bài thơ có ý nghĩa nhất đối với anh/chị? Vì sao?
Câu 4: Câu thơ Bước chân người bỗng mở những đường đi gợi lên trong anh/chị suy nghĩ gì về sức mạnh của con người trong cuộc sống?
Câu 5: Nét độc đáo của Xuân Quỳnh trong bài thơ là từ mùa hạ của thiên nhiên đã liên hệ đến mùa hạ của đời người. Anh/chị hãy viết đoạn văn khoảng 5– 7 dòng làm sáng rõ nét độc đáo ấy.
II. Viết (4đ)
Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.
Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khoảng rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó.
Cuộc đời của gia đình bác Lê cứ như thế mà lặng lẽ qua, ngày no rồi lại ngày đói. Tuy vậy, cũng có những ngày vui vẻ. Những ngày nắng ấm trong năm, hay những buổi chiều mùa hạ, mẹ con bác Lê cùng nhau ngồi chơi ở trước cửa nhà. Các người hàng xóm cũng làm như thế. Các bà mẹ ngồi rủ rỉ với nhau những câu chuyện kín đáo, các trẻ con nô đùa dưới quán chợ, còn các bà già thì ngồi rũ tóc tìm chấy ngoài bóng nắng. Bác Lê đem thằng Hi, con Phún ra gọt tóc cho chúng nó bằng một cái mảnh chai sắc. Thằng cả ngồi đan lại cái lờ, còn những đứa khác chơi quanh gần đấy. Trong ngày hè nóng nực, con bác Lê đứa nào cũng lở đầu - bác ta bảo là một cái bệnh gia truyền từ đời ông tam đại - nên bác lấy phẩm xanh bôi cho chúng nó. Trông mẹ con bác lại giống mẹ con đàn gà, mà những con gà con người ta bôi xanh lên đầu cho khỏi lẫn. Người phố chợ vẫn thường nói đùa bác Lê về đàn con đông đúc ấy. Bác Đối, kéo xe, người vui tính nhất xóm, không lần nào đi qua nhà bác Lê mà không bảo:
- Bác phải nhớ thỉnh thoảng đếm lại con không quên mất.
Bác Lê bao giờ cũng trả lời một câu:
- Mất bớt đi cho nó đỡ tội!
Nhưng mọi người biết bác Lê quí con lắm. Tuy bác hết sức công bằng, người ta cũng thấy bác yêu thằng Hi hơn cả, nó là con thứ chín, và ốm yếu xanh xao nhất nhà. Bác thường bế nó lên lòng, hôn hít, rồi khoe với hàng xóm: nội cả nhà chỉ có nó là giống thầy cháu như đúc. Rồi bác ôm con ngồi lặng yên một lát, như để nhớ lại chuyện gì đã lâu lắm.
(Trích Nhà mẹ Lê - Thạch Lam, Nhà xuất bản Đời nay, 1937)
Anh chị hãy viết bài văn phân tích, đánh giá về hình ảnh mẹ Lê trong đoạn trích trên.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định thể thơ
Lời giải chi tiết:
Bài thơ trên được viết theo thể thơ: Tự do
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Khổ (4) bài thơ miêu tả những âm thanh nào? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định những âm thanh được miêu tả trong khổ 4.
Lời giải chi tiết:
Khổ (4) bài thơ miêu tả những âm thanh: Tiếng dế và tiếng cuốc.
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Thông điệp nào trong bài thơ có ý nghĩa nhất đối với anh/chị? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Hs trình bày thông điệp ý nghĩa nhất với bản thân. Gợi ý:
- Sự sống là vĩnh hằng bất diệt khi biết cháy hết mình với những khát vọng của tuổi trẻ.
- Sống có ý nghĩa thì mùa hạ vẫn mãi bên ta….
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Câu thơ Bước chân người bỗng mở những đường đi gợi lên trong anh/chị suy nghĩ gì về sức mạnh của con người trong cuộc sống? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Câu thơ Bước chân người bỗng mở những đường đi gợi lên suy nghĩ về sức mạnh của con người làm nên những điều mới mẻ, lớn lao, mở ra những con đường mới...
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Nét độc đáo của Xuân Quỳnh trong bài thơ là từ mùa hạ của thiên nhiên đã liên hệ đến mùa hạ của đời người. Anh/chị hãy viết đoạn văn khoảng 5– 7 dòng làm sáng rõ nét độc đáo ấy. |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
– Hs làm sáng rõ được ý: Từ mùa hạ rực rỡ của thiên nhiên liên hệ tuổi trẻ của đời người nhiều khát khao, ước mơ, hoài bão.
– Hs trình bày trong một đoạn văn, có thể triển khai theo các kiểu đoạn văn diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp, móc xích, song hành.
II. VIẾT (4đ)
|
Anh chị hãy viết bài văn phân tích, đánh giá về hình ảnh mẹ Lê trong đoạn trích trên. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài Nghị luận phân tích “ Tình cảm của tác giả đối với làng quê và mảnh đất quê hương” |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
-Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Dưới đây là một vài gợi ý: - Khái quát về gia cảnh nhà mẹ Lê. - Cảm nhận về mẹ Lê: +Mẹ Lê là một người phụ nữ cực khổ, lao động vất vả( Nhà đông con, nghèo đói, phải đi làm thuê làm mướn) + Mẹ Lê là người mẹ giàu tình thương con, chịu thương chịu khó. - Đánh giá chung: + Sự thiêng liêng cao cả của tình mẫu tử. +Tình cảm nhân đạo sâu sắc của tác giả: Yêu thương, xót xa, ái ngại cho cảnh ngộ nghèo khổ nhà bác Lê. |
|
Kết bài |
0,5 |
Khẳng định lại vấn đề |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Chân trời sáng tạo - Đề số 15
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Hs đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi kế tiếp
CHI PHÍ CHÌM CỦA HẠNH PHÚC
(Mark Manson)
Nếu từng học môn gì liên quan đến kinh tế, chắc bạn biết câu nói “There’s no
such thing as a free lunch” (tạm dịch: “Không có bữa trưa nào miễn phí cả”). Mọi thứ trên đời đều có giá của nó, dù đôi lúc nó không hiện hữu một cách rõ rệt. Để đạt được một mục tiêu, bạn phải từ bỏ một điều gì khác. Trong thời đại xã hội ám ảnh với hạnh phúc cá nhân, chúng ta muốn theo đuổi điều ngược lại. Chúng ta muốn hạnh phúc mà không mất gì cả. Chúng ta muốn phần thưởng mà không có rủi ro, muốn có thành tựu mà không cần cố gắng. Trớ trêu thay, chính việc không sẵn lòng chịu khổ lại khiến chúng ta đau khổ nhiều hơn..[...].
Chấp nhận những điều chưa hoàn hảo của mình
Nhiều người xem “hoàn hảo” là một danh sách bao gồm: có nhà, có xe, dựng
vợ gả chồng và có 2-3 đứa con. Khi “tích” đủ các yếu tố này, bạn có thể sống hạnh phúc đến già. Tuy nhiên cuộc sống không đơn giản như vậy. Những vấn đề bạn gặp phải không biến mất – chúng thay đổi và trở nên phức tạp hơn. Sự hoàn hảo bạn đạt được ngày hôm nay có thể trở nên vô nghĩa vào những ngày sau. Vì vậy, khi hiểu được rằng cuộc sống là sự tiến bộ hơn qua từng ngày thay vì đạt đến sự hoàn hảo, bạn có thể thoải mái hưởng thụ nó.
Sự hoàn hảo là một lý tưởng mà bạn chỉ có thể tiếp cận chứ không bao giờ đạt tới. Dù ý niệm của bạn về “hoàn hảo” có là gì đi chăng nữa, nó cũng không bao giờ tồn tại trên thực tế. Bạn không thể quyết định sự hoàn hảo, mà chỉ biết
ái gì là tốt hơn hay tệ hơn so với hiện tại (mà cuối cùng chưa chắc bạn đã đúng). Khi từ bỏ việc theo đuổi sự hoàn hảo, bạn giảm bớt sự căng thẳng và khó chịu khi không đạt được các chuẩn mực vô hình mà người khác đề ra. Nhưng việc đó không hề dễ dàng, bởi nó khiến bạn phải sống với những điều mình không thích. Bạn muốn giành quyền kiểm soát mọi việc. Và trong một thế giới lý tưởng, mọi mong muốn của bạn đều được đáp ứng.
Nhưng đời là như vậy – nó không bao giờ đi đúng theo con đường bạn vạch
Chúng ta đều sẽ sai về một thứ gì đó, theo một cách nào đó. Trớ trêu thay,
việc chấp nhận sự thật này mới khiến bạn hạnh phúc và bao dung hơn với những khuyết điểm của mình lẫn người khác. Đó mới là bài học chúng ta nên rút ra trong đời [...].
Gán ý nghĩa sâu sắc hơn cho những việc bạn làm
Câu này có một cách biểu đạt khác là, hãy chọn những gì tạo động lực cho
bạn. Thử nhìn lại những giá trị bạn đang theo đuổi, xem động lực phía sau chúng là gì. Nó hời hợt và bề mặt, hay nó sâu sắc hơn và đến từ bên trong?
Một ví dụ phổ biến là tiền bạc. Nếu bạn làm mọi thứ chỉ vì tiền, bạn sẽ có cảm
xúc bất ổn và những hành vi hời hợt không đáng có. Nhưng nếu động lực kiếm
tiền của bạn là để mang lại cuộc sống tốt hơn cho gia đình, thì mọi việc sẽ khác.
Nó sẽ dẫn lối giúp bạn vượt qua căng thẳng, nỗi sợ và những điều phức tạp khác mà một động lực hời hợt không thể làm được. Sự công nhận của người khác cũng là ví dụ tương tự. Nếu bạn làm mọi việc chỉ để được ai khác chấp thuận, thì sớm hay muộn bạn cũng sẽ đánh mất chính mình. Nhưng trong trường hợp bạn là họa sĩ, bạn sẽ muốn các tác phẩm của mình truyền cảm hứng cho mọi người. Động lực của bạn vẫn đến từ người khác, nhưng nó sâu sắc hơn và giúp bạn vượt qua khó khăn để kiên trì với sự nghiệp của mình.
Vậy làm sao để tìm thấy những mục đích sâu sắc trong cuộc sống? Câu trả lời là tập trung vào sự phát triển và đóng góp của bạn. Bạn phát triển khi tìm được cách cải thiện bản thân, và đóng góp khi tìm được cách giúp người khác phát triển. Cố gắng tích hợp hai điều này trong động lực của ban.... Thử tìm cách tích
trúng cả 2 đích”
Đừng ngại thất bại và cảm giác xấu hổ
Khi bạn sống và hành động đúng với giá trị bản thân, bạn sẽ không tránh khỏi
xung đột với những người có hệ giá trị khác bạn. Họ sẽ không thích bạn, thậm chí bình phẩm khó nghe. Và bạn gần như không thể tránh khỏi họ trong bất cứ điều gì bạn làm […]. Trong mọi hoàn cảnh, thất bại là cần thiết để tiến bộ. Và mọi sự tiến bộ dù là của bản thân, của người khác hay của những giá trị bạn theo đuổi – đều thúc đẩy hạnh phúc. Không có thất bại, bạn sẽ không thể học hỏi và tiến bộ, nên cũng không thể tìm thấy hạnh phúc.”
Vì vậy, bạn nên học cách “đắm mình trong nỗi đau. Bởi bạn sẽ bị đời vùi dập
nhiều lần, và bạn không thể tránh khỏi nó. Quan trọng là bạn biết cách đứng lên
sau mỗi lần vấp ngã.
(https://www.taodan.com.vn)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Vì sao?
Câu 2: Có thể đảo trật tự các luận điểm ở văn bản Chi phí chìm của hạnh phúc không? Vì sao?
Câu 3: Câu: “Sự hoàn hảo là một lý tưởng mà bạn chỉ có thể tiếp cận chứ không bao giờ đạt tới. Dù ý niệm của bạn về “hoàn hảo” có là gì đi chăng nữa, nó cũng không bao giờ tồn tại trên thực tế” thuộc yếu tố nào của văn bản? Nhằm mục đích gì?
Câu 4: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: “Không có thất bại, bạn sẽ không thể học hỏi và tiến bộ, nên cũng không thể tìm thấy hạnh phúc”? Vì sao?
Câu 5: Trong các yếu tố để đạt được hạnh phúc như tác giả đã đưa ra, em tâm đắc nhất với yếu tố nào? Em rút ra kinh nghiệm nào cho bản thân để có một tâm hồn luôn cảm thấy hạnh phúc?
II. Viết (4đ)
Câu 1: Quan sát hình ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b
a. Hãy đặt tên cho từng bức ảnh
b. Có thể dùng hình ảnh nào để minh họa cho một nội dung/ nhận định trong văn bản ở phần đọc hiểu trên?


Câu 2: Em hãy lựa chọn một số từ ngữ sau cùng với những điều mà em đọc trong văn bản “Chi phí chìm của hạnh phúc”, kết nối ý tưởng để tạo thành một vấn đề nghị luận mà em cảm thấy quan tâm nhất. Viết bài luận về vấn đề đó trong 1,5-2 trang giấy thi

-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại dấu hiệu nhận biết các kiểu văn bản
Lời giải chi tiết:
Văn bản nghị luận:
+ Vì bàn về một vấn đề cụ thể
+ Vì dùng ý kiến, lí lẽ và dẫn chứng thuyết phục người đọc
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Có thể đảo trật tự các luận điểm ở văn bản Chi phí chìm của hạnh phúc không? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đưa ra quan điểm của bản thân và lý giải hợp lý
Lời giải chi tiết:
Có thể đảo trật tự vì các luận điểm đó không tuân theo logic nhất định
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Câu: “Sự hoàn hảo là một lý tưởng mà bạn chỉ có thể tiếp cận chứ không bao giờ đạt tới. Dù ý niệm của bạn về “hoàn hảo” có là gì đi chăng nữa, nó cũng không bao giờ tồn tại trên thực tế” thuộc yếu tố nào của văn bản? Nhằm mục đích gì? |
Phương pháp giải:
Nhớ lại các yếu tố của một văn bản nghị luận
Lời giải chi tiết:
Là lí lẽ, làm sáng tỏ luận điểm “chấp nhận những điều không hoàn hảo về mình”
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: “Không có thất bại, bạn sẽ không thể học hỏi và tiến bộ, nên cũng không thể tìm thấy hạnh phúc”? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Dựa vào phần phân tích ở trên
Đưa ra quan điểm cá nhân
Lời giải chi tiết:
Học sinh có thể đồng tình, không đồng tình hoặc nửa đồng tình, nữa không đồng tình miễn sao đưa ra lí do giải thích hợp lý, thuyết phục
- Có thể tham khảo gợi ý sau đây: Đồng tình với ý kiến của tác giả “Không có thất bại, bạn sẽ không thể học hỏi và tiến bộ, nên cũng không thể tìm thấy hạnh phúc”
+ Trong cuộc sống, bên cạnh những thành công đã đạt được, con người có thể gặp những thất bại
+ Thất bại không có nghĩa là mất tất cả; qua mỗi thất bại con người sẽ học được nhiều bài học để tiến bộ hơn mỗi ngày. Đó cũng là cách để con người tìm thấy hạnh phúc
+ Có thể nêu ra các dẫn chứng để làm thuyết phục hơn ý kiến của bản thân
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Trong các yếu tố để đạt được hạnh phúc như tác giả đã đưa ra, em tâm đắc nhất với yếu tố nào? Em rút ra kinh nghiệm nào cho bản thân để có một tâm hồn luôn cảm thấy hạnh phúc? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đưa ra quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
HS có thể chọn 1 trong 3 yếu tố sau mà tác giả đã đưa ra trong bài khiến mình tâm đắc nhất:
1. Chấp nhận những điều chưa hoàn hảo của mình
2. Gán ý nghĩa sâu sắc hơn cho những việc bạn làm
3. Đừng ngại thất bại và cảm giác xấu hổ
Sau khi lựa chọn xong, cần đưa ra lý do giải thích vì sao yếu tố đó lại khiến mình tâm đắc nhất và rút ra những kinh nghiệm cho bản thân. Để việc giải thích được thuyết phục, cần lưu ý
1. Dùng lý lẽ, lập luận và dẫn chứng
2. Nói rõ sự tác động sâu sắc tới nhận thức và cảm xúc của bản thân
II. VIẾT (4đ)
Câu 1 (1 điểm)
|
a. Hãy đặt tên cho từng bức ảnh b. Có thể dùng hình ảnh nào để minh họa cho một nội dung/ nhận định trong văn bản ở phần đọc hiểu trên? |
Phương pháp giải:
a. HS quan sát kĩ 2 bức ảnh, rút ra nội dung chính và đặt tên
b. HS dựa vào quan điểm cá nhân
Lời giải chi tiết:
a. HS tự đặt tên (cần sát với đặc điểm, biểu hiện và hình ảnh)
b. HS lựa chọn theo quan điểm cá nhân (cần có phân tích, suy luận hợp lí)
Gợi ý: bức ảnh số 2 phù hợp minh họa cho luận điểm: biết đứng lên sau thất bại để vươn tới thành công
Câu 2 (3 điểm)
|
Em hãy lựa chọn một số từ ngữ sau cùng với những điều mà em đọc trong văn bản “Chi phí chìm của hạnh phúc”, kết nối ý tưởng để tạo thành một vấn đề nghị luận mà em cảm thấy quan tâm nhất. Viết bài luận về vấn đề đó trong 1,5-2 trang giấy thi |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Em hãy lựa chọn một số từ ngữ sau cùng với những điều mà em đọc trong văn bản “Chi phí chìm của hạnh phúc”, kết nối ý tưởng để tạo thành một vấn đề nghị luận mà em cảm thấy quan tâm nhất. Viết bài luận về vấn đề đó trong 1,5-2 trang giấy thi |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Nêu luận đề - Nêu thái độ, quan điểm cá nhân (khái quát) trước luận đề |
|
Thân bài |
2,0 |
- Bàn luận về vấn đề, gồm các ý chính (từ 2-4 luận điểm) +Luận điểm 1: lập luận, lí lẽ, dẫn chứng… +Luận điểm 2: lập luận, lí lẽ, dẫn chứng… +Luận điểm 3: lập luận, lí lẽ, dẫn chứng… |
|
Kết bài |
0,25 |
- Khẳng định ý kiến cá nhân - Rút ra nhận thức, hành động bản thân |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại nghị luận - Lí lẽ, lập luận phân tích logic thuyết phục dẫn chứng minh họa phù hợp |
trithuchub.com
Đề cương ôn tập học kì 2 Văn 10 - Chân trời sáng tạo
A. NỘI DUNG ÔN TẬP
1. Phần đọc hiểu
a. Thơ
- Tình cảm, cảm xúc trong thơ là những rung động nội tâm, những cảm nhận của nhà thơ về cuộc sống. Tình cảm, cảm xúc trong thơ đánh thức những rung động tinh tế trong trái tim người đọc.
- Cảm hứng chủ đạo trong thơ: Cảm hứng là trạng thái tâm lí dạt dào cảm xúc và sự lôi cuốn, thôi thúc mãnh liệt đối với con người khi tiếp xúc với một hiện tượng sự vật hay thực hiện một công việc, một hành động nào đó. Cảm hứng chủ đạo trong thơ là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm thơ, tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm. Một tác phẩm thơ có thể có nhiều cảm hứng, nhưng chỉ có một cảm hứng chủ đạo vì đó là cảm hứng chính, bao trùm tác phẩm.
b. Văn nghị luận trung đại
- Văn nghị luận là loại văn bản chủ yếu sử dụng lí lẽ và bằng chứng nhằm thuyết phục người đọc, người nghe về một quan điểm, tư tưởng. Người viết nghị luận phải thể hiện được chính kiến, luận đề và các luận điểm nhất quán, lí lẽ và bằng chứng chặt chẽ, rõ ràng, thuyết phục, giúp người đọc, người nghe tán đồng, chia sẻ quan điểm, tư tưởng của mình. Sức mạnh của văn nghị luận là ở tính hệ thống của luận điểm, ở tính sắc bén, chặt chẽ của lập luận, ở bằng chứng xác thực, ở niềm tin vào chân lí, chính nghĩa; sự trung thực, chân thành trong tình cảm, cảm xúc của người viết, người nói.
- Văn nghị luận trung đại mang các đặc điểm của văn nghị luận nói chung nhưng cũng có một số khác biệt đáng lưu ý: tính quy phạm về thể văn, ngôn ngữ và thường có tính chất tổng hợp “bất phân” giữa văn với sử, với triết, giữa văn hình tượng với văn luận lí...
c. Truyện
- Câu chuyện là sự việc, chuỗi sự việc xảy ra trong đời sống, liên quan đến một hoặc một số người nào đó. Câu chuyện thường có khởi đầu, có diễn biến và kết thúc.
- Cốt truyện là câu chuyện được tổ chức một cách nghệ thuật với biến cố, tình huống, xung
đột làm cho câu chuyện trở nên có nghĩa.
- Thông điệp của tác phẩm văn học là điều mà tác giả muốn gửi đến người đọc hình tượng nghệ thuật. Đó là ý tưởng quan trọng nhất, là bài học, cách ứng xử mà văn bản văn học muốn truyền đến người đọc.
- Tư tưởng của tác phẩm văn học là nhận thức, quan niệm, thái độ, cách lí giải về các vấn đề đời sống và khát vọng của tác giả được thể hiện trong tác phẩm. Tư tưởng của tác phẩm được thể hiện sinh động qua nhiều yếu tố: đề tài, chủ đề, thế giới hình tượng.
- Đặc điểm, tính cách nhân vật là những nét riêng về ngoại hình, hành động, tình cảm, tâm lí, ngôn ngữ,... của nhân vật, giúp phân biệt với nhân vật khác. Khi đọc truyện, người đọc có thể nhận biết đặc điểm, tính cách, tư tưởng, tình cảm của một nhân vật qua lời của người kể chuyện, qua hành động, lời nói, ý nghĩ của nhân vật, hoặc qua nhận xét, đánh giá của nhân vật khác về nó.
- Người kể chuyện: một vai được tác giả tạo ra, đảm nhiệm việc kể lại câu chuyện trong văn bản truyện. Người kể chuyện có thể là nhân vật hoặc không, có thể dùng các điểm nhìn khác nhau.
- Điểm nhìn là vị trí của người kể chuyện trong tương quan với câu chuyện. Tuỳ trường hợp, câu chuyện có thể được kể theo điểm nhìn từ ngôi thứ ba hoặc ngôi thứ nhất, điểm nhìn của người kể chuyện hoặc điểm nhìn của nhân vật (xưng “tôi” hay không xưng “tôi”), điểm nhìn cố định hay dịch chuyển, thay đổi,...
d. Văn bản nghị luận
- Mục đích và quan điểm của người viết trong văn bản nghị luận
+Mỗi văn bản được viết ra đều nhằm một mục đích nhất định. Mục đích của văn bản nghị luận là thuyết phục người đọc về ý kiến, tư tưởng của người viết trước một vấn đề, hiện tượng trong đời sống.
+Quan điểm của người viết là cách người viết nhìn nhận, đánh giá vấn đề, hiện tượng cần bàn luận; thể hiện ý kiến khen, chê, đồng tình, phản đối trước vấn đề, hiện tượng ấy.
-Yếu tố biểu cảm trong văn bản nghị luận
+Yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận biểu hiện qua những từ ngữ, hình ảnh, những câu văn có sức truyền cảm, truyền tải tình cảm, cảm xúc của người viết. Nhằm tăng sức thuyết phục, văn nghị luận cần sử dụng yếu tố biểu cảm để tác động vào tình cảm của người đọc. Yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận cần chân thực, đảm bảo sự mạch lạc, chặt chẽ của bài nghị luận.
2. Phần tiếng Việt
a. Lỗi về trật tự từ trong câu và cách sửa
b. Từ Hán Việt
c. Biện pháp chêm xen
d. Biện pháp liệt kê
e. Lỗi về mạch lạc, liên kết trong văn bản
3. Phần làm văn
a. Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm trữ tình
b. Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay một quan niệm
c. Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm tự sự hoặc tác phẩm kịch
d. Viết bài luận về bản thân
B. BÀI TẬP
1. Phần đọc hiểu
Văn bản Chiếc lá đầu tiên
Câu 1: Nội dung của hai dòng thơ đầu là gì?
Câu 2: Tác dụng của biện pháp điệp từ trong khổ thơ thứ 4 là gì?
Câu 3: Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là gì?
Văn bản Tây Tiến
Câu 4: Từ láy “chơi vơi” giúp bạn cảm nhận như thế nào về nỗi nhớ của nhà thơ?
Câu 5: Hình ảnh người lính được hiện lên qua những từ ngữ nào trong khổ 3?
Câu 6: Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là gì?
Văn bản Bình ngô đại cáo
Câu 7: Tác giả nêu ra quan điểm nhân nghĩa ở đầu bài cáo nhằm mục đích gì?
Câu 8: Mục đích viết bài cáo là gì?
Văn bản Thư lại dụ Vương Thông
Câu 9: Tác giả nhắc đến những chuyện xưa nhằm mục đích gì?
Câu 10: Việc tác giả chọn hình thức nghị luận là một bức thư có tác dụng gì?
Văn bản Đất rừng phương Nam
Câu 11: Vì sao tía nuôi khuyên An “không nên giết ong”?
Câu 12: Việc liên hệ, so sánh những cách nuôi ong, lấy mật khác nhau có tác dụng gì?
Văn bản Giang
Câu 13: Những cuộc gặp gỡ cho thấy cách đối xử của con người với nhau, nhất là với những người lính trong hoàn cảnh chiến tranh như thế nào?
Câu 14: Chủ đề của tác phẩm là gì?
Văn bản Hịch tướng sĩ
Câu 15: Trần Quốc Tuấn nêu gương các trung thần nghĩa sĩ ngay trong phần đầu nhằm mục đích gì?
Câu 16: Hình ảnh, từ ngữ sau thể hiện thái độ gì của tác giả: "tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù."
Câu 17: Tác giả đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào để vạch trần bản chất tham lam, hống hách của giặc?
Văn bản Nam quốc sơn hà – bài thơ thần khẳng định chân lí độc lập của đất nước
Câu 18: Tác giả đã thể hiện quan điểm như thế nào khi bàn về bài thơ Nam quốc sơn hà?
Câu 19: Các luận điểm trong văn bản được sắp xếp theo trình tự nào?
Câu 20: Ở đoạn văn đầu tiên, tác giả đề cập đến sự phân biệt "đế" và "vương" trong xã hội phong kiến Trung Hoa nhằm mục đích gì?
2. Phần tiếng Việt
a. Lỗi về trật tự từ trong câu và cách sửa
Câu 1: Các cụm từ in đậm được đặt ở đầu câu trong đoạn văn có tác dụng gì?
Câu 2: Hiệu quả diễn đạt của trật tự từ trong câu văn sau là gì?
Chung quanh đang cười nói bô bô, nhiều anh em công nhân mỏ than vẫn còn nguyên vẹn cái tính tình con người nông dân Thái ở quanh bản, quanh châu Quỳnh Nhai đây.
(Nguyễn Tuân)
b. Từ Hán Việt
Câu 3: Điền từ Hán Việt phù hợp vào chỗ trống trong câu sau:
Anh ấy đã…….anh dũng trong cuộc chiến đấu với kẻ thù
Câu 4: “Trong công cuộc xây dựng và phát triển, công ty đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận”
Nghĩa của từ “Thành tựu” trong câu trên là gì?
c. Biện pháp chêm xen
Câu 5: Phân tích tác dụng của biện pháp chêm xen trong đoạn thơ sau:
Cô bé nhà bên (có ai ngờ)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)
(Giang Nam)
Phân tích tác dụng của biện pháp chêm xen trong đoạn thơ
Câu 6: Bộ phận chêm xen thường được tách biệt bằng?
Câu 7: Xác định bộ phận chêm xen trong đoạn văn sau
"Tố Hữu, lá cờ đầu trong dòng văn học cách mạng đã sáng tác bài thơ Việt Bắc. Bài thơ đã nói lên tình cảm quân dân thắm thiết trong những năm kháng chiến chống Pháp. Việt Bắc – mảnh đất nơi địa đầu Tổ quốc, đã nuôi dưỡng những người chiến sĩ cách mạng, nơi có những người dân hồn hậu và chất phác. Bài thơ đã để lại nhiều tình cảm về thiên nhiên và con người các tỉnh miền núi phía Bắc trong lòng người đọc."
d. Biện pháp liệt kê
Câu 8: Phân tích tác dụng của biện pháp liệt kê trong câu sau:
Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta là nơi đã sinh ra Hồ Chủ tịch- người anh hùng dân tộc và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, đất nước ta
Câu 9: Phép liệt kê được dùng trong:
e. Lỗi về mạch lạc, liên kết trong văn bản
Câu 10: Mạch lạc trong văn bản là gì?
3. Phần làm văn
a. Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm trữ tình
Đề 1: Viết bài văn phân tích bài thơ Nói với con
Đề 2: Viết bài văn phân tích bài thơ Nắng mới
b. Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay một quan niệm
Đề 1: Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen thức khuya
Đề 2: Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen trì hoãn
c. Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm tự sự hoặc tác phẩm kịch
Đề 1: Viết bài văn nghị luận về vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt
Đề 2: Viết bài văn nghị luận về vở kịch Vũ Như Tô
d. Viết bài luận về bản thân
Đề 1: Viết bài luận về bản thân để thuyết phục BTC của lễ hội hoặc BQL di tích chấp nhận mong muốn
Đề 2: Viết bài luận về bản thân thuyết phục trường đại học ở nước ngoài cấp học bổng du học
LỜI GIẢI CHI TIẾT
1. Phần đọc hiểu
|
Câu 1: Nội dung của hai dòng thơ đầu là gì? |
Phương pháp
- Đọc kĩ hai dòng thơ đầu.
- Nêu nội dung hai dòng thơ đầu.
Lời giải chi tiết
Hai dòng thơ đầu là dòng hồi tưởng của tác giải khi nhớ về quãng thời gian xưa với nhân vật “Em”. Hai câu thơ ấy như sự tiếc nuối, nỗi nhớ của tác giả về quá khứ tươi đẹp ngày ấy khi giờ đây “tất cả đã xa rồi”.
|
Câu 2: Tác dụng của biện pháp điệp từ trong khổ thơ thứ 4 là gì? |
Phương pháp
- Đọc kĩ khổ thơ 4.
- Xác định biện pháp tu từ và nêu tác dụng.
Lời giải chi tiết
Biện pháp điệp từ (Từ “nỗi nhớ” được lặp lại ba lần).
→ Tác dụng: nhấn mạnh những nỗi nhớ của chủ thể trữ tình.
|
Câu 3: Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là gì? |
Phương pháp
- Đọc kĩ toàn bộ bài thơ.
- Chú ý những từ ngữ, hình ảnh bộc lộ tình cảm, cảm xúc của chủ thể trữ tình.
Lời giải chi tiết
Cảm hứng chủ đạo của bài thơ: nỗi nhớ da diết về những kí ức của một thời học trò đã qua.
|
Câu 4: Từ láy “chơi vơi” giúp bạn cảm nhận như thế nào về nỗi nhớ của nhà thơ? |
Phương pháp
- Đọc kĩ hai câu thơ đầu.
- Phân tích tác dụng của việc sử dụng từ láy "chơi vơi".
Lời giải chi tiết
Từ láy “chơi vơi” gợi ra một nỗi nhớ thấp thỏm, khắc khoải.
|
Câu 5: Hình ảnh người lính được hiện lên qua những từ ngữ nào trong khổ 3? |
Phương pháp
- Đọc kĩ khổ 3.
- Tìm những từ ngữ miêu tả hình ảnh người lính.
Lời giải chi tiết
Hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên qua hình ảnh: không mọc tóc, xanh màu lá dữ oai hùm, mơ Hà Nội dáng kiều thơm,...
|
Câu 6: Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là gì? |
Phương pháp
- Đọc kĩ bài thơ
- Rút ra kết luận về cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
Lời giải chi tiết
Cảm hứng chủ đạo: cảm hứng lãng mạn, tinh thần bi tráng.
|
Câu 7: Tác giả nêu ra quan điểm nhân nghĩa ở đầu bài cáo nhằm mục đích gì? |
Phương pháp
- Đọc kĩ đoạn 1.
- Chú ý quan niệm về nhân nghĩa của Nguyễn Trãi.
- Hiểu được quan niệm về nhân nghĩa của Nguyễn Trãi.
Lời giải chi tiết
Việc Nguyễn Trãi nêu ra quan điểm nhân nghĩa ở đầu bài cáo nhằm đưa ra quan điểm của cá nhân về vấn đề “nhân nghĩa” dựa trên khái niệm gốc của Nho gia. Đồng thời, làm tiền đề cho toàn bài cáo, cho độc giả thấy được khởi nghĩa Lam Sơn là cuộc khởi nghĩa chính nghĩa, có mục đích rõ ràng và lấy dân làm gốc.
|
Câu 8: Mục đích viết bài cáo là gì? |
Phương pháp
- Đọc kĩ văn bản.
- Chú ý mục đích viết bài cáo.
Lời giải chi tiết
Mục đích viết của bài cáo: tuyên bố cho toàn thể nhân dân được biết về sự kiện trọng đại của dân tộc, đất nước: sự thắng lợi công cuộc kháng chiến chống giặc Minh.
|
Câu 9: Tác giả nhắc đến những chuyện xưa nhằm mục đích gì? |
Phương pháp
- Đọc kĩ đoạn 2.
- Chú ý chi tiết Nguyễn Trãi nhắc lại những chuyện xưa.
Lời giải chi tiết
Việc tác giả nhắc đến những chuyện xưa nhằm “ôn cố nhi tri tân” (ôn chuyện cũ mà hiểu ngày nay), cho Vương Thông hiểu được sự thất bại tất yếu của quân Minh trên đất Đại Việt.
|
Câu 10: Việc tác giả chọn hình thức nghị luận là một bức thư có tác dụng gì? |
Phương pháp
- Đọc kĩ văn bản.
- Nêu tác dụng của việc sử dụng hình thức là bức thư.
Lời giải chi tiết
Việc tác giả chọn cách nghị luận dưới hình thức một bức thư có tác dụng tác động được cả tư tưởng và tình cảm của đối phương. Từ đó gây được chuyển biến trong tư tưởng, tình cảm, thái độ của đối phương.
|
Câu 11: Vì sao tía nuôi khuyên An “không nên giết ong”? |
Phương pháp
Đọc kĩ đoạn văn đầu trang 67.
Lời giải chi tiết
Tía nuôi khuyên An "không nên giết ong" vì tía nuôi muốn các con ứng xử tốt với tự nhiên. Đồng thời ông cũng có cách khác để đuổi ong đi, nhằm tránh gây nguy hiểm cho An vì cậu chưa có cách xử lí hợp lí.
|
Câu 12: Việc liên hệ, so sánh những cách nuôi ong, lấy mật khác nhau có tác dụng gì? |
Phương pháp
Đọc kĩ đoạn văn cuối.
Lời giải chi tiết
Việc liên hệ, so sánh những cách nuôi ong, lấy mật khác nhau có tác dụng cho thấy không có nơi nào có kiểu tổ ong hình nhánh kèo như vùng U Minh.
|
Câu 13: Những cuộc gặp gỡ cho thấy cách đối xử của con người với nhau, nhất là với những người lính trong hoàn cảnh chiến tranh như thế nào? |
Phương pháp
- Đọc kĩ văn bản.
- Đánh dấu những phần xuất hiện cuộc gặp gỡ của các nhân vật.
- Nêu nhận xét về cách đối xử của các nhân vật với nhau.
Lời giải chi tiết
Những cuộc gặp gỡ cho thấy con người đối xử với nhau bằng chân tình, nhất là giữa những người lính trong hoàn cảnh chiến tranh, gặp được nhau càng mừng rỡ hơn bao giờ hết.
|
Câu 14: Chủ đề của tác phẩm là gì? |
Phương pháp
- Đọc kĩ văn bản.
- Rút ra kết luận về chủ đề của tác phẩm.
Lời giải chi tiết
Dựa vào vấn đề chính trong tác phẩm, có thể xác định chủ đề của tác phẩm là tình yêu của người lính.
|
Câu 15: Trần Quốc Tuấn nêu gương các trung thần nghĩa sĩ ngay trong phần đầu nhằm mục đích gì? |
Phương pháp
- Đọc kĩ phần đầu văn bản.
- Chú ý những tấm gương Trần Quốc Tuấn nêu lên.
- Rút ra ý nghĩa của việc nêu tấm gương.
Lời giải chi tiết
- Trong phần đầu của bài “Hịch tướng sĩ”, Trần Quốc Tuấn nêu lên những tấm gương trong Bắc sử nhằm mục đích:
+ Ca ngợi các trung thần nghĩa sĩ đã lưu danh sử sách, để lại tiếng thơm muôn đời.
+ Giáo dục lòng trung quân ái quốc của các tướng sĩ.
+ Khích lệ, động viên tướng sĩ, nêu cao tinh thần ái quốc, quyết tâm đánh thắng quân xâm lược.
|
Câu 16: Hình ảnh, từ ngữ sau thể hiện thái độ gì của tác giả: "tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù." |
Phương pháp
- Chú ý những hình ảnh, câu văn, từ ngữ.
- Rút ra nhận xét về thái độ của tác giả.
Lời giải chi tiết
Hình ảnh, từ ngữ trên thể hiện sự căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn.
|
Câu 17: Tác giả đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào để vạch trần bản chất tham lam, hống hách của giặc? |
Phương pháp
- Đọc kĩ văn bản.
- Chú ý những chi tiết tác giả vạch trần bộ mặt tham lam, hống hách của giặc
Lời giải chi tiết
Các hình ảnh:
- Sứ giặc đi lại nghênh ngang
- Uốn lưỡi cú diều sỉ mắng
- Đem thân dê chó bắt nạt
- Đòi ngọc lụa, thỏa lòng tham
- Thu bạc vàng, để vét của kho
→ Nghệ thuật ẩn dụ, nhân hóa vạch trần bản chất tham lam, tàn bạo, hống hách của giặc.
|
Câu 18: Tác giả đã thể hiện quan điểm như thế nào khi bàn về bài thơ Nam quốc sơn hà? |
Phương pháp
- Đọc toàn bộ văn bản.
- Rút ra kết luận về quan điểm của tác giả.
Lời giải chi tiết
Quan điểm của tác giả khi bàn về bài thơ Nam quốc sơn hà: tôn trọng, muốn khẳng định tính chân lí, thuyết phục của bài thơ.
|
Câu 19: Các luận điểm trong văn bản được sắp xếp theo trình tự nào? |
Phương pháp
- Đọc toàn bộ văn bản.
- Chú ý hệ thống luận điểm trong bài và cách sắp xếp.
Lời giải chi tiết
Các luận điểm trong văn bản được sắp xếp theo trình tự nội dung của các câu thơ trong bài thơ Nam quốc sơn hà.
|
Câu 20: Ở đoạn văn đầu tiên, tác giả đề cập đến sự phân biệt "đế" và "vương" trong xã hội phong kiến Trung Hoa nhằm mục đích gì? |
Phương pháp
- Đọc đoạn văn đầu.
- Chú ý hai từ "đế" và "vương".
Lời giải chi tiết
Ở đoạn văn đầu tiên, tác giả đề cập đến sự phân biệt "đế" và "vương" trong xã hội phong kiến Trung Hoa nhằm làm rõ chữ "đế" trong câu thơ "Nam quốc sơn hà Nam đế cư", giúp người đọc hiểu được ý thực tự chủ và sự khẳng định chủ quyền đất nước trong câu thơ đầu cũng như toàn bài thơ Nam quốc sơn hà.
2.Phần tiếng Việt
|
Câu 1: Các cụm từ in đậm được đặt ở đầu câu trong đoạn văn có tác dụng gì? “Một thời đại vừa chẵn mười năm Trong mười năm ấy, thơ mới đã tranh đấu gắt gao với thơ cũ, một bên giành quyền sống, một bên giữ quyền sống. Trong sự thắng lợi ấy, cũng có công những người tả xung hữu đột nơi chiến trường, nhưng trước hết là công những nhà thơ mới” |
Phương pháp
- Nhớ lại kiến thức về trật tự từ trong văn bản
- Nêu tác dụng của những từ in đậm
Lời giải chi tiết
Các từ in đậm có tác dụng liên kết câu.
|
Câu 2: Hiệu quả diễn đạt của trật tự từ trong câu văn sau là gì? Chung quanh đang cười nói bô bô, nhiều anh em công nhân mỏ than vẫn còn nguyên vẹn cái tính tình con người nông dân Thái ở quanh bản, quanh châu Quỳnh Nhai đây. (Nguyễn Tuân) |
Phương pháp
- Nhớ lại kiến thức về trật tự từ trong văn bản
- Nêu hiệu quả của cách diễn đạt
Lời giải chi tiết
Cách diễn đạt của trật tự từ trong câu trên: nhằm nhấn mạnh nét hồn nhiên của anh em công nhân ở mỏ than.
|
Câu 3: Điền từ Hán Việt phù hợp vào chỗ trống trong câu sau: Anh ấy đã…….anh dũng trong cuộc chiến đấu với kẻ thù |
Phương pháp
Dựa vào nghĩa của từ, nghĩa của câu.
Lời giải chi tiết
Từ phù hợp điền vào chỗ trống là hi sinh → tạo sắc thái trang trọng cho câu văn
|
Câu 4: “Trong công cuộc xây dựng và phát triển, công ty đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận” Nghĩa của từ “Thành tựu” trong câu trên là gì? |
Phương pháp
Phân tích nghĩa của từ.
Lời giải chi tiết
Nghĩa của từ “thành tựu” là cái đạt được có ý nghĩa lớn sau một quá trình hoạt động thành công.
|
Câu 5: Phân tích tác dụng của biện pháp chêm xen trong đoạn thơ sau: Cô bé nhà bên (có ai ngờ) Cũng vào du kích Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!) (Giang Nam) |
Phương pháp
Phân tích tác dụng của biện pháp chêm xen trong đoạn thơ
Lời giải chi tiết
Tác dụng của biện pháp chêm xen:
- (Có ai ngờ) Bổ xung thêm về thái độ bất ngờ của tác giả trước sự việc.
- (thương thương quá đi thôi!)Thể hiện tình cảm trìu mến của tác giả
|
Câu 6: Bộ phận chêm xen thường được tách biệt bằng? |
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về phép chêm xen
Lời giải chi tiết
Bộ phận chêm xen thường được tách biệt bằng các dấu phẩy, dấu gạch ngang, dấu ngoặc đơn.
|
Câu 7: Xác định bộ phận chêm xen trong đoạn văn sau "Tố Hữu, lá cờ đầu trong dòng văn học cách mạng đã sáng tác bài thơ Việt Bắc. Bài thơ đã nói lên tình cảm quân dân thắm thiết trong những năm kháng chiến chống Pháp. Việt Bắc – mảnh đất nơi địa đầu Tổ quốc, đã nuôi dưỡng những người chiến sĩ cách mạng, nơi có những người dân hồn hậu và chất phác. Bài thơ đã để lại nhiều tình cảm về thiên nhiên và con người các tỉnh miền núi phía Bắc trong lòng người đọc." |
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức và dấu hiệu nhận biết về phép chêm xen
Lời giải chi tiết
Các bộ phận chêm xen trong đoạn trên gồm:
-lá cờ đầu trong dòng văn học cách mạng đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.
-mảnh đất nơi địa đầu Tổ quốc, đã nuôi dưỡng những người chiến sĩ cách mạng
-nơi có những người dân hồn hậu và chất phác.
|
Câu 8: Phân tích tác dụng của biện pháp liệt kê trong câu sau: Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta là nơi đã sinh ra Hồ Chủ tịch- người anh hùng dân tộc và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, đất nước ta |
Phương pháp
Phân tích tác dụng của phép liệt kê.
Lời giải chi tiết
Tác dụng của phép liệt kê: Nhằm biểu hiện cảm xúc và suy nghĩ của tác giả về lòng biết ơn vô hạn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta với Bác Hồ vị cha già của dân tộc.
|
Câu 9: Phép liệt kê được dùng trong: |
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về phép liệt kê
Lời giải chi tiết
Phép liệt kê được dùng trong cả văn nói và văn vần
|
Câu 10: Mạch lạc trong văn bản là gì? |
Phương pháp
Nhớ lại khái niệm mạch lạc trong văn bản
Lời giải chi tiết
Mạch lạc trong văn bản là các câu, các ý, các phần, các đoạn trong văn bản đều phải hướng về một sự thống nhất, một ý hay một chủ đề nào đó.
3. Phần làm văn
a. Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm trữ tình
Đề 1: Viết bài văn phân tích bài thơ Nói với con
1. Mở bài
- Giới thiệu vài nét về tác giả và tác phẩm:
- Tác giả Y Phương: là nhà thơ dân tộc Tày. Thơ của ông đậm đà bản sắc dân tộc, chứa đựng nhiều nét đặc sắc của đời sống tinh thần đồng bào vùng núi.
- Bài thơ “Nói với con”: thể hiện tình yêu thương của cha mẹ dành cho con cái, niềm hi vọng các con tiếp nối và phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương.
2, Thân bài
a, Hình ảnh em bé lớn lên trong tình yêu thương của cha mẹ
-Hình ảnh đứa trẻ tập đi được miêu tả giản dị, mộc mạc: Chân phải bước tới cha/ Chân trái bước tới mẹ.
-Tiếng nói, tiếng cười: hình ảnh của một gia đình đầm ấm, hạnh phúc.
→tình yêu con của cha mẹ là vô hạn, chăm chút, dõi theo con từ những bước đi đầu đời.
b, Lời cha mẹ dạy con về những đức tính cần có trong cuộc sống
- Sống vui tươi, thân thiện, biết ơn:
+ Hồn nhiên, yêu đời, yêu lao động: cài nan hoa khi đan lờ bắt cá, luôn ca hát trong lao động.
+ Con người sống dựa vào tự nhiên, biết ơn tự nhiên: “Rừng cho hoa/ Con đường cho những tấm lòng”.
+ Con người không thể sống một mình: ngày cưới của cha mẹ là ngày “đầu tiên đẹp nhất trên đời”, và kết tinh đẹp nhất chính là đứa con.
→Giọng thơ xúc động, vui tươi, cha mẹ vừa nói với con vừa như nhớ lại những kỉ niệm của mình.
- Sống kiên cường, hiên ngang, không quản gian khó:
+ Mong con học được sự kiên cường của “người đồng mình”: vượt qua những nỗi đau để nuôi chí làm việc lớn.
+ Sống phải biết ơn những hi sinh của cha ông đời trước đã xây dựng quê hương, không chê quê hương nguồn cội, không quản gian khó: “Sống trên đá không chê đá gập ghềnh/ Sống trong thung không chê thung nghèo đói”.
+ Cha mẹ mong con có đủ sức mạnh thể chất và tinh thần như “người đồng mình”: “thô sơ da thịt”, “chẳng mấy ai nhỏ bé”; có thể “Lên thác xuống ghềnh”, “Không lo cực nhọc”.
- Sống có ích, xây dựng quê hương và luôn ghi nhớ truyền thống, nguồn cội: “tự đục đá kê cao quê hương”, “quê hương thì làm phong tục” đó là mối quan hệ mật thiết giữa con người với quê hương đất nước. Con người xây dựng nên quê hương, tạo ra phong tục tập quán rồi chính quê hương là nơi lưu giữ những phong tục ấy.
→Cha mẹ mong đứa con hãy “Sống như sông như suối”, luôn trôi chảy, luôn phát triển, nhưng những giá trị quan trọng của dân tộc thì không thể quên.
c, Lời dặn dò con về bản lĩnh làm người khi ra cuộc đời
+ Lời dặn dò cuối cùng cha mẹ muốn nói với đứa con: “tuy thô sơ da thịt” nhưng khi rời khỏi gia đình, tự lập trong cuộc sống thì “không bao giờ nhỏ bé được”. Con người không phải máy móc, chỉ là da thịt “thô sơ” có thể chịu tổn thương, có thể ốm đau bệnh tật, mệt mỏi, nhưng phải cố gắng sống hiên ngang, không “nhỏ bé” khuất phục cái xấu, cái bất công, không “nhỏ bé” chấp nhận chịu sống cúi đầu, như ông cha ta ngàn đời nay.
+ “Nghe con”: câu thơ cuối như tiếng lòng của cha mẹ, đầy yêu thương, hi vọng, lo lắng, mong con sẽ trưởng thành một người sống hạnh phúc, tự do, sống có ích.
d, nghệ thuật bài thơ
- Thể thơ tự do, giọng thơ thân tình, mộc mạc, trìu mến.
- Sử dụng những hình ảnh, ngôn ngữ đặc trưng của người dân miền núi
3, Kết bài
- Bài thơ chứa đựng tâm tư của cha mẹ, những lời nhắn nhủ dặn dò dành cho con. Qua những lời dạy còn thấy được lòng tự hào với sức sống của con người, với truyền thống tốt đẹp của quê hương.
- Bài thơ mang màu sắc tự do, mộc mạc của văn hóa dân tộc miền núi phía Bắc.
Đề 2: Viết bài văn phân tích bài thơ Nắng mới
1. Mở bài
-Giới thiệu được tác phẩm nắng mới và tác giả Lưu Trọng Lư,
-Nêu cảm nhận, nêu khái quát sơ qua cảm nhận của bản thân mình về tác phẩm nắng mới.
2. Thân bài
Phần thân bài thì cần phải đảm bảo được các nội dung cơ bản của một bài viết. Theo đó thì cần đảm bảo được các nội dung như sau:
- Phân tích lời đề từ " Tặng hương hồn thầy mẹ" và chủ đề tình cảm gia đình trong thơ của Lưu Trọng Lư.
- Phần tích tác phẩm:
a. Hình ảnh nắng mới khơi gợi nguồn cảm xúc về kí ức:
- Hình ảnh làng quê: "nắng mới", "gà trưa"→ đây là những hình ảnh quen thuộc gắn liền với làng quê Việt Nam.
- Từ "hắt" diễn tả ánh sáng xuyên qua song cửa.
→ gợi không gian hiu hắt, vắng lặng.
- Từ láy "xao xác", "não nùng" diễn tả âm thanh xao động. Tiếng gà nhấn mạnh sự vắng lặng của không gian, lấy động để tả tĩnh. Cách ngắt nhịp 2/2/3 thể hiện cảm xúc trầm buồn, nhớ thương.
- Kết hợp từ thông thường là "buồn rười rượi" nhưng tác giả đảo từ "rượi" lên trước từ "buồn" nhằm nhấn mạnh nỗi buồn tê tái, khôn nguôi.
- Từ láy "chập chờn" thể hiện những hình ảnh trong quá khứ dần hiện lên trong tâm trí của nhân vật trữ tình.
b. Kí ức về mẹ trong tâm tưởng của nhân vật "tôi":
- "Tôi nhớ me tôi thuở thiếu thời/ Lúc người còn sống, tôi lên mười": nhân vật trữ tình trực tiếp bày tỏ nỗi nhớ về mẹ.
- Câu thơ "Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội": khi nắng mới xuất hiện ngoài đồng nội, mẹ lại phơi áo → Kí ức về mẹ gắn liền với hình ảnh mẹ phơi áo trước giậu mỗi lần nắng mới.
→ Hình ảnh mẹ gắn liền với quê hương.
- "Hình dáng mẹ tôi chửa xoá mờ": khẳng định hình dáng mẹ vẫn luôn hằn sâu trong tâm trí.
- "Hãy còn mường tượng lúc vào ra": nhớ về bóng dáng mẹ đi lại trong nhà.
- Hai câu thơ "Nét cười đen nhánh sau tay áo, / Trong ánh trưa hè, trước giậu thưa" : nhân vật trữ tình nhớ về mẹ với nụ cười đen nhánh. Hình ảnh mẹ gắn liền với nắng buổi trưa, gắn liền với căn nhà. Mẹ mang dấu ấn của người phụ nữ Việt Nam xưa với hàm răng đen nhánh, vừa lấp lánh tỏa sáng vừa kín đáo, nhẹ nhàng.
→ Mẹ hiện lên trong tâm tưởng của nhà thơ với đầy đủ nét duyên dáng, hiền từ.
- Đánh giá về nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm nắng mới.
+ Về nội dung: tác phẩm nắng mới là một tác phẩm rất hay của nhà thơ Lưu Trọng Lư, nói về một chủ đề tình cảm gia đình giản dị, thân thuộc. Bài thơ này chính là một lời tâm sự của tác giả về tình yêu quê hương và thông qua đó bài tỏ nên nỗi lòng của mình một cách vô cùng tự nhiên. Tất cả đem lại một sự bình dị và mộc mạc trong thơ của Lưu Trọng Lư.
+ Về nghệ thuật thì Lưu Trọng Lư sử dụng những từ ngữ rất giản dị, mộc mạc nhưng lại giàu sức gợi. Sự kết hợp một cách xen kẽ giữa quá khứ và hiện tại càng thể hiện rõ nét hơn nữa nỗi nhớ của nhân vật trữ tình về quê hương về người mẹ của mình. Mặc dù sử dụng hình ảnh quen thuộc và gần gũi nhưng lại dễ khơi lên sự đồng cảm cho người đọc
- Liên hệ mở rộng với các tác phẩm khác như tác phẩm Bầm ơi của Tố Hữu.
3. Kết bài
Ở phần kết bài thì bản thân người viết phải khẳng định lại cảm nhận của bản thân về tác phẩm Nắng mới của Lưu Trọng Lư.
b. Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay một quan niệm
Đề 1: Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen thức khuya
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề bàn luận: Cần loại bỏ thói quen thức khuya
2. Thân bài
a. Biểu hiện
- Sự áp lực, căng thẳng để chuẩn bị cho kì thi sẽ khiến chúng ta có tâm lí muốn xả... "stress", muốn được vui chơi để cảm thấy thoải mái.
- Thức đến hai, ba giờ sáng để lướt mạng xã hội, để chơi game là một điều không tốt.
- Cố gắng học thêm nhiều kiến thức, giải thêm nhiều bài tập vào lúc đêm khuya.
b. Tác hại của việc thức khuya
- Sức khỏe sẽ không đảm bảo.
- Sáng hôm sau, chắc chắn nhiều bạn sẽ uể oải, không thể dậy sớm để đến lớp học.
- Thức khuya sẽ là cơ hội tốt để làn da của bạn... toàn mụn là mụn.
- Ảnh hưởng đến kết quả học tập của chúng ta.
c. Đưa ra giải pháp và lợi ích của việc dậy sớm
- Bạn chỉ cần đi ngủ sớm và dậy sớm
- Ngủ sớm, dậy sớm cũng sẽ giúp cho chúng ta có nhiều thời gian chuẩn bị cho buổi sáng đến lớp.
- Bạn cũng có thể nhân buổi sáng sớm để đọc sách hay học bài. Lúc này, đầu óc của chúng ta là minh mẫn nhất.
3. Kết bài
Thể hiện niềm tin của bản thân và niềm hy vọng sẽ loại bỏ được thói quen xấu đó.
Đề 2: Viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen trì hoãn
1. Mở bài
- Dẫn dắt vào đề: Thời gian để hiện thực hóa mục tiêu của mỗi người lại không giống nhau. Có sự khác nhau này không chỉ do định hướng, cách thức thực hiện của con người mà còn bị chi phối bởi thói quen trì hoãn công việc.
2. Thân bài
– Cắt nghĩa:
+ “Công việc” là những mục tiêu, dự định trước mắt mà chúng ta cần thực hiện.
+ “Trì hoãn” là kéo dài, làm gián đoạn tiến độ công việc.
→Thói quen trì hoãn công việc đang là một trong những thói quen chưa tốt của con người trong việc thực hiện những mục tiêu công việc.
– Cuộc sống có rất nhiều biến động, trong đó có nhiều điều bất thường có thể xảy ra ngoài ý muốn của con người.
→Những thay đổi đó có thể làm gián đoạn buộc con người phải trì hoãn công việc đang thực hiện để giải quyết những vấn đề trước mắt.
– Thói quen trì hoãn công việc lại là thói quen được lặp đi lặp lại nhiều lần ở con người.
– Thói quen trì hoãn có thể mang đến nhiều hậu quả tiêu cực đối với cuộc sống của con người, trước hết nó hình thành tâm lí ỷ lại, lười biếng.
– Trì hoãn công việc ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ và kết quả của công việc, trì hoãn khiến ta không hoàn thành nhiệm vụ đúng thời hạn
– Trì hoãn khiến cho con người bỏ lỡ những cơ hội, những điều kiện tốt để phát triển và khẳng định giá trị của bản thân.
– Thói quen trì hoãn công việc còn làm nảy sinh tính bê trễ, thiếu kỉ luật, trách nhiệm với bản thân cũng như với công việc được giao.
– Trì hoãn làm cho con người trở nên lười biếng, không phát huy được sự cố gắng, nỗ lực, kĩ năng giải quyết, xử lí mọi việc cũng bị giảm sút đáng kể.
3. Kết bài
- Trì hoãn là thói quen không tốt cần được nhận thức và thay đổi nếu như muốn phát triển và hoàn thiện bản thân, đừng tạo điều kiện cho sự lười biếng và những suy nghĩ thiếu quyết đoán phát triển, đừng để thói quen trì hoãn trở thành vật cản đường trong hành trình đến với thành công các bạn nhé!
c. Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm tự sự hoặc tác phẩm kịch
Đề 1: Viết bài văn nghị luận về vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt
1. Mở bài
- Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt trong "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" là một màn đối thoại góp phần phát triển cao trào của vở kịch mà còn có giá trị và ý nghĩa nhân văn lớn.
2. Thân bài
- Nhân vật Trương Ba là một hình tượng tiêu biểu đại diện cho vẻ đẹp của một tâm hồn thiện lương và trong sáng.
- Khi ông bị chết oan do Nam Tào gạch sai tên họ, được nhập vào xác hàng thịt để sống lại cuộc đời mới cũng là lúc bi kịch xảy ra:
+ Trương Ba trở nên vụng về, thô lỗ khi sống trong xác người hàng thịt
+ Trước sự thay đổi của Trương Ba → Người thân thất vọng, buồn bã, xa lánh ông.
+ Trương Ba đau khổ, day dứt khi phải sống trong cảnh ngộ bi hài mà bất hạnh ấy.
→ Mong muốn được tách ra khỏi xác người hàng thịt.
- Đối thoại với xác người hàng thịt:
+ Xác anh hàng thịt lên tiếng mỉa mai
+ Hồn Trương Ba cũng không chịu khuất phục những lời nói cay nghiệt và tàn nhẫn kia của anh hàng thịt → Đưa ra lý lẽ của mình.
+Xác anh hàng thịt đều mang nét châm chọc, chỉ trích linh hồn Trương Ba→ Trương Ba đau lòng, đuối lý, kẻ thua cuộc trong cuộc hội thoại.
- Đối thoại với Đế Thích:
+ Trương Ba muốn sống là mình toàn vẹn
+ Đế Thích khuyên Trương Ba suy nghĩ lại vì được sống vốn là điều đáng quý.
- Ý nghĩa giáo dục mang tri nhân văn của cuộc thoại:
+ Cuộc đấu tranh giữa linh hồn và thể xác là cuộc đấu tranh giữa tinh thần và vật chất, giữa đạo đức và tội lỗi, giữa phần " con" và phần " người" trong một bản thể
+ Con người muốn trở nên có giá trị, cần phải dung hoà cả hình thức và nội dung
+ Phê phán những lối sống chạy theo hình thức
3. Kết bài
- Bằng ngôn ngữ đối thoại giàu tính triết lý, tình huống kịch hấp dẫn, lôi cuốn người xem, Lưu Quang Vũ đã tạo nên một màn đối thoại đặc sắc, mang đến cho người đọc những suy ngẫm, dư âm khó phai.
Đề 2: Viết bài văn nghị luận về vở kịch Vũ Như Tô
1. Mở bài
- Giới thiệu những nét chính về tác giả Nguyễn Huy Tưởng: Ông là một tác giả có thiên hướng khai thác những đề tài lịch sử khi sáng tác và có những đóng góp to lớn cho thể loại tiểu thuyết và kịch
- Giới thiệu đoạn trích Vĩnh biệt Cửu trùng đài: Đoạn trích được trích trong hồi V của một vở kịch 5 hồi thành công của Nguyễn Huy Tưởng – Vũ Như Tô
2. Thân bài
a. Những mâu thuẫn xung đột cơ bản của vở kịch
- Mâu thuẫn thứ nhất:
+ Mâu thuẫn: nhân dân lao động khốn khổ lầm than >< bọn hôn quân bạo chúa và phe cánh của chúng sống xa hoa truỵ lạc.
Mâu thuẫn vốn có từ trước, đến khi Lê Tương Dực bắt Vũ Như Tô xây Cửu trùng đài thì nó biến thành xung đột căng thẳng, gay gắt.
- Mâu thuẫn thứ hai
+ Vũ Như Tô - Kiến trúc sư - nghệ sĩ: Tâm huyết, hoài bão, muốn đem lại cái đẹp cho muôn đời.
+ Mượn uy quyền, tiền bạc của vua để thực hiện hoài bão lớn lao ⇒ mục đích chân chính >< con đường thực hiện mục đích sai lầm ⇒ Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy muôn đời và lợi ích thiết thực của nhân dân
→ Đẩy Vũ Như Tô vào bi kịch không lối thoát
b. Nhân vật Vũ Như Tô
- Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài khát khao say mê sáng tạo cái đẹp:
+ Ông là người “ngàn năm chưa dễ có một”
+ Tài năng của ông được thể hiện: “chỉ vẩy bút là chim hoa đã hiện lên”, “sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể xây dựng lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ”
- Là một nghệ sĩ có nhân cách lớn, hoài bão lớn, có lí tưởng nghệ thuật cao cả.
+ Ban đầu, dù Lê Tương Dực dọa giết, Vũ như Tô vẫn kiên quyết từ chối xây Cửu trùng đài.
+ Mong muốn và hòa bão của ông chính là xây dựng cho đất nước một tòa lâu đài vĩ đại và bền vững → khát khao cống hiến tài năng cho đất nước
+ Khi đã xây Cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô dồn hết tâm sức
- Vũ Như Tô là người không hám lợi: vua ban thưởng ông đã đem chia hết cho thợ
- Tuy nhiên, lí tưởng, ước mơ của ông hoàn toàn thoát li khỏi hoàn cảnh lịch sử xã hội của đất nước, xa rời đời sống nhân dân
→ Tâm trạng bi kịch đầy căng thẳng: xây Cửu Trùng Đài là đúng hay sai?
→ Vũ Như Tô là một nhân vật bi kịch bởi đã mang trong mình không chỉ những say mê khát vọng lớn lao mà còn cả nhưng lại lầm lạc trong suy nghĩ và hành động.
→ Sự thức tỉnh của ông chỉ diễn ra vào phút cuối khi mà ông và Đan Thiềm bị bắt, Cửu Trùng Đài bị đập phá
c. Nhân vật Đan Thiềm
- Vũ Như Tô mê cái đẹp, Đan Thiềm mê cái tài ⇒ Đan Thiềm là tri kỉ, tri âm duy nhất ở triều đình của Vũ Như Tô
- Luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ Vũ Như Tô xây đài, bảo vệ đài.
- Là con người luôn tỉnh táo: Biết chắc Đài không thành, tìm cách bảo vệ an toàn tính mạng cho Vũ Như Tô, khuyên Vũ bỏ trốn.
- Sẵn sàng đổi mạng sống của mình cứu Vũ Như Tô, đau đớn khi không thể cứu được người tài.
→ Đan Thiềm là nhân vật sống chết hết mình vì cái tài, cái đẹp.
d. Sự giải quyết mâu thuẫn, xung đột
- Mâu thuẫn 1 : giải quyết dứt khoát bằng cảnh quân nổi loạn đốt Cửu Trùng Đài, giết vua …
- Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu và lợi ích thiết thực của nhân dân: chưa được giải quyết .
→ Vũ Như Tô có tội hay công, chúng ta không trả lời được, tác giả mới chỉ nêu vấn đề
e. Nghệ thuật
- Ngôn ngữ tập trung phát triển cao, hành động dồn dập đầy kịch tính.
- Ngôn ngữ cao đẹp có sự tổng kết cao, nhịp điệu lời thoại nhanh.
- Tính cách tâm trạng nhân vật bộc lộ rõ nét qua ngôn ngữ hành động.
- Các lớp kịch được chuyển tự nhiên, linh hoạt liền mạch.
3. Kết bài
- Khái quát lại những nét tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích
- Đoạn trích đặt ra vấn đề có ý nghĩa muôn thuở về cái đẹp, và mối quan hệ giữa nghệ sĩ và nhân dân, đồng thời tác giả bày tỏ niềm cảm thông, trân trọng đối với nghệ sĩ tài năng, giàu khát vọng nhưng lại rơi vào bi kịch.
d. Viết bài luận về bản thân
Đề 1: Viết bài luận về bản thân để thuyết phục BTC của lễ hội hoặc BQL di tích chấp nhận mong muốn
1. Mở bài
- Dẫn dắt và nêu vấn đề của bài viết: Mong muốn gia nhập Câu lạc bộ và khả năng đáp ứng tốt các yêu cầu của một tình nguyện viên trong việc tổ chức hoạt động của lễ hội hoặc giới thiệu di tích lịch sử, văn hoá của địa phương
2. Thân bài
- Lần lượt trình bày các luận điểm. Sử dụng lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ luận điểm.
- Người viết có thể sắp xếp các ý theo trật tự khác nhau để thuyết phục Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ chấp nhận nguyện vọng của bản thân. Ví dụ, có thể sắp xếp theo trật tự sau:
+ Giới thiệu khái quát về bản thân (tên, lớp, hiểu biết, mục đích tham gia Câu lạc bộ, ...).
+ Niềm yêu thích, sự sẵn sàng dành thời gian, tâm huyết,... của bản thân cho các hoạt động tình nguyện vì sự phát triển của cộng đồng địa phương.
+ Khả năng tham gia hỗ trợ (hoặc tổ chức) các hoạt động lễ hội hay giới thiệu di tích lịch sử, văn hoá của địa phương. Ví dụ: Viết bài giới thiệu, viết nội quy, hướng dẫn khách tham gia lễ hội/ di tích; biên tập, cập nhật thông tin về lễ hội/ di tích trên trang web của địa phương: tham gia tổ chức hoạt động tìm hiểu thực tế cho các đoàn khách, nhất là học sinh, sinh viên và người nước ngoài (nếu em giỏi ngoại ngữ) ...
+ Cam kết thực hiện tốt các yêu cầu của Câu lạc bộ và địa phương
3. Kết bài
- Khẳng định nguyện vọng, cam đoan về năng lực và trách nhiệm của bản thân trong việc tham gia Câu lạc bộ và thực hiện các hoạt động được phân công
- Cảm ơn Ban Chủ nhiệm về sự quan tâm đọc và xét duyệt.
Đề 2: Viết bài luận về bản thân thuyết phục trường đại học ở nước ngoài cấp học bổng du học
1. Mở bài
Chào mừng và nêu vấn đề chính của bài viết: thuyết phục trường đại học ở nước ngoài cấp học bổng du học
2. Thân bài
- Giới thiệu tổng quan về bản thân (tên, tuổi, lớp,...).
- Thể hiện lòng khao khát của bản thân:
+ Mong muốn theo học ngành…
- Đặc điểm nổi bật của bản thân để thuyết phục trường đại học quốc tế:
+ Sự thành thạo trong giao tiếp tiếng Anh.
+ Thành tích học tập xuất sắc.
+ Tinh thần năng động, tích cực tham gia hoạt động tình nguyện.
- Cam kết tuân thủ nghiêm túc các quy định và yêu cầu của trường đại học đối với du học sinh.
3. Kết bài
- Xác nhận nguyện vọng và cam kết về khả năng, trách nhiệm của bản thân khi học tập tại trường đại học.
- Bày tỏ lòng biết ơn đến trường đại học.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP10
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
