Đề thi học kì 2 Văn 10
Đề cương ôn tập học kì 2 Văn 10 - Kết nối tri thức
A. NỘI DUNG ÔN TẬP
1. Phần đọc hiểu
a. Văn học trung đại Việt Nam
- Văn học trung đại Việt Nam hình thành, phát triển trong khoảng thời gian từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, trong thời kì phong kiến. Văn học trung đại Việt Nam gồm hai bộ phận: văn học viết bằng chữ Hán và văn học viết bằng chữ Nôm. Văn học trung đại Việt Nam có liên hệ mật thiết với nguồn mạch văn học dân gian; đồng thời tiếp thu một cách chọn lọc, sáng tạo tinh hoa của nhiều nền văn học trong khu vực, đặc biệt là văn học cổ điển Trung Hoa.
- Văn học trung đại Việt Nam luôn gắn bó sâu sắc với vận mệnh của quốc gia, dân tộc, thể hiện rõ tinh thần yêu nước và đề cao các giá trị nhân văn, nhân đạo. Tính quy phạm được xem là đặc trưng nổi bật nhất trong văn học trung đại
b. Truyện kể
- Người kể chuyện ngôi thứ nhất là người kể xưng “tôi” hoặc một hình thức tự xưng tương đương. Tuỳ theo mức độ tham gia vào mạch vận động cốt truyện, người kể chuyện ngôi thứ nhất có thể là nhân vật chính, nhân vật phụ, người chứng kiến, người kể lại câu chuyện được nghe từ người khác hay xuất hiện với vai trò tác giả “lộ diện”. Người kể chuyện ngôi thứ nhất thường là người kể chuyện hạn tri (không biết hết mọi chuyện), trừ trường hợp ở vai trò tác giả “lộ diện” vận dụng quyền năng “biết hết" của mình.
- Người kể chuyện ngôi thứ ba là người kể chuyện ẩn danh, không trực tiếp xuất hiện trong tác phẩm như một nhân vật, không tham gia vào mạch vận động của cốt truyện và chỉ được nhận biết qua lời kể. Người kể chuyện ngôi thứ ba có khả năng nắm bắt tất cả những gì diễn ra trong câu chuyện, kể cả những biểu hiện sâu kín trong nội tâm nhân vật, do vậy có khả năng trở thành người kể chuyện toàn tri (biết hết mọi chuyện), song người kể chuyện ngôi thứ ba có sử dụng quyền năng toàn tri hay không còn tuỳ thuộc vào nguyên tắc tổ chức truyện kể của từng tác phẩm.
c. Văn bản thông tin
- Văn bản thông tin là loại văn bản chủ yếu dùng để cung cấp thông tin. Trong đời sống, có nhiều loại văn bản thông tin khác nhau như: báo cáo, bản tin, thông báo, thư từ, diễn văn, tiểu luận,...
- Để đảm bảo tính chính xác, khách quan, văn bản thông tin thường dẫn tên người, địa điểm, thời gian, số liệu xác thực, có thể kiểm chứng được. Ngôn ngữ trong văn bản thông tin sáng rõ, đơn nghĩa. Việc sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ như hình ảnh, biểu đồ, sơ đồ,... góp phần giúp cho người đọc dễ tiếp nhận và ghi nhớ thông tin.
- Để tăng thêm hiệu quả tác động đối với người đọc, đôi khi văn bản thông tin lồng ghép thông tin với một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận. Tuy vậy, việc lồng ghép những yếu tố này phải đảm bảo không được làm mất đi tính chính xác, khách quan của văn bản thông tin.
- Bản tin là một loại văn bản thông tin. Nội dung của bản tin là các sự kiện cập nhật, có thể thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều người và tạo được sức tác động xã hội. Thông tin trong bản tin cần mang tính xác thực cao. Ngôn ngữ trong bản tin thường ngắn gọn, sáng rõ, đơn giản. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, để gây ấn tượng mạnh với công chúng, người viết có thể sử dụng các biện pháp tu từ như ẩn dụ, so sánh, điệp ngữ,...
- Các biểu đồ, sơ đồ giúp thông tin trong văn bản trở nên cụ thể, trực quan, đồng thời cho thấy mối quan hệ logic giữa các thông tin.
2. Phần tiếng Việt
a. Sử dụng từ Hán Việt
b. Biện pháp chêm xen, biện pháp liệt kê
c. Phương tiện phi ngôn ngữ
3. Phần làm văn
a. Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội
b. Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học
c. Viết một văn bản nội quy hoặc văn bản hướng dẫn nơi công cộng
d. Viết bài luận về bản thân
B. BÀI TẬP
1. Phần đọc hiểu
Văn bản Bình Ngô đại cáo
Câu 1: “Chủ quyền dân tộc” được thể hiện ở những phương diện cơ bản nào?
Câu 2: Chủ tướng Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn đã có suy nghĩ và hành động gì trước tội ác của giặc Minh?
Văn bản Bảo kính cảnh giới
Câu 3: Câu thơ mở đầu cho biết điều gì về cuộc sống và tâm trạng của nhân vật trữ tình?
Câu 4: Cuộc sống của con người được nhà thơ tái hiện qua những âm thanh, hình ảnh nào?
Văn bản Dục Thúy Sơn
Câu 5: Nét đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi thể hiện như thế nào qua bài thơ?
Văn bản Người cầm quyền khôi phục uy quyền
Câu 6: Hoàn cảnh của Phăng-tin được miêu tả như thế nào?
Câu 7: Ngôn ngữ của Giăng Van-giăng qua lời đối thoại với Gia - ve hiện lên như thế nào?
Văn bản Dưới bóng hoàng lan
Câu 8: Nhan đề Dưới bóng hoàng lan có ý nghĩa gì?
Văn bản Một chuyện đùa nho nhỏ
Câu 9: Người kể chuyện thấy đồng cảm với Na - đi - a về điều gì?
Câu 10: Khi chuyển về thời điểm "bây giờ", nhân vật "tôi" có tâm trạng gì?
Văn bản Sự sống và cái chết
Câu 11: Văn bản Sự sống và cái chết viết về đề tài gì?
Câu 12: Việc tác giả tưởng tượng ra một chuyến “du hành” vượt thời gian có ý nghĩa gì?
Câu 13: Văn bản đưa lại cho người đọc hiểu biết gì về mối quan hệ giữa “đấu tranh sinh tồn” và “tiến hóa”?
Văn bản Nghệ thuật truyền thống của người Việt
Câu 14: Tác dụng của yếu tố miêu tả được sử dụng trong văn bản là gì?
Câu 15: Cứ liệu được sử dụng để đưa ra nhận định về khiếu thẩm mĩ của người Việt là gì?
Văn bản Phục hồi tầng Ozone: Thành công hiếm hoi của nỗ lực toàn cầu
Câu 16: Hai nhà khoa học Mô-li-nơ và Rao-lân đã phát hiện sự thật gì về chất CFC?
Câu 17: Những nhân tố nào làm nên thành công của nỗ lực phục hồi tầng ozone?
Văn bản Về chính chúng ta
Câu 18: Biện pháp tu từ chính được sử dụng trong văn bản là gì?
Văn bản Con đường không chọn
Câu 19: “Con đường” và “lối rẽ” trong bài thơ ẩn dụ cho điều gì?
Văn bản Một đời như kẻ tìm đường
Câu 20: Tác dụng của việc sử dụng các yếu tố tự sự, biểu cảm trong bài viết là gì?
2. Phần tiếng Việt
a. Sử dụng từ Hán Việt
Câu 1: Điền từ Hán Việt phù hợp vào chỗ trống trong câu sau:
Anh ấy đã ….. anh dũng trong cuộc chiến đấu với kẻ thù
Câu 2: Điền từ Hán Việt phù hợp vào chỗ trống trong câu sau:
Chúng ta phải ……. vì độc lập tự do của Tổ Quốc
Câu 3: “Trong công cuộc xây dựng và phát triển, công ty đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận”
b. Biện pháp chêm xen, biện pháp liệt kê
Câu 4: Phân tích tác dụng của biện pháp chêm xen trong đoạn thơ sau:
c. Phương tiện phi ngôn ngữ
Câu 5: Tại sao không nên quá lạm dụng việc sử dụng hình ảnh, sơ đồ,… trong bài viết?
3. Phần làm văn
a. Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội
Đề 1: Viết bài văn nghị luận về văn hóa hội nhập
Đề 2: Viết bài văn nghị luận về bạo lực học đường
Đề 3: Viết bài văn nghị luận về chiến tranh
b. Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học
Đề 1: Viết bài văn phân tích tác phẩm Chữ người tử tù
Đề 2: Viết bài văn phân tích tác phẩm Chí Phèo
c. Viết một văn bản nội quy hoặc văn bản hướng dẫn nơi công cộng
Đề 1: Viết văn bản nội quy lớp học
Đề 2: Viết văn bản nội quy câu lạc bộ Guitar
d. Viết bài luận về bản thân
Đề 1: Viết bài luận về bản thân để thuyết phục BTC của lễ hội hoặc BQL di tích chấp nhận mong muốn
Đề 2: Viết bài luận về bản thân thuyết phục trường đại học ở nước ngoài cấp học bổng du học
C. LỜI GIẢI CHI TIẾT
1. Phần đọc hiểu
|
Câu 1: “Chủ quyền dân tộc” được thể hiện ở những phương diện cơ bản nào? |
Phương pháp giải
- Đọc kĩ tác phẩm.
- Chú ý những câu thơ nói về “chủ quyền dân tộc” và trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết
“Chủ quyền dân tộc” được thể hiện ở những phương diện cơ bản: văn hiến, lãnh thổ, phong tục: Xưng nền văn hiến, chia núi sông bờ cõi, có phong tục riêng, gây dựng nền độc lập, có những vị anh hùng ghi công vào sổ sách.
|
Câu 2: Chủ tướng Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn đã có suy nghĩ và hành động gì trước tội ác của giặc Minh? |
Phương pháp giải
- Đọc kĩ đoạn (3) của tác phẩm.
- Chú ý những câu thơ viết về suy nghĩ và hành động của chủ tướng Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết
Chủ tướng Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn có suy nghĩ và hành động trước tội ác của giặc Minh: Căm tức trước tội ác của giặc, đau lòng trước hoàn cảnh hiện tại của nhân dân ta; trằn trọc, băn khoăn nỗi nước nhà. Họ đã đứng lên hành động, đứng lên khởi nghĩa chống lại quân thù.
|
Câu 3: Câu thơ mở đầu cho biết điều gì về cuộc sống và tâm trạng của nhân vật trữ tình? |
Phương pháp giải
- Dựa vào phần khái quát về hoàn cảnh ra đời bài thơ để khái quát những thông tin về cuộc sống, tâm trạng nhân vật trữ tình mà câu thơ đem lại.
Lời giải chi tiết
Câu thơ đầu tiên: “Rồi hóng mát thuở ngày trường” cho thấy tâm trạng của nhân vật trữ tình là một tâm trạng thư thái, không lo âu sầu muộn, hòa mình vào thiên nhiên, “hóng mát” những ngày dài vô tận.
|
Câu 4: Cuộc sống của con người được nhà thơ tái hiện qua những âm thanh, hình ảnh nào? |
Phương pháp giải
- Đọc kĩ bài thơ Bảo kính cảnh giới.
- Chú ý những âm thanh, hình ảnh được sử dụng trong bài.
Lời giải chi tiết
Cuộc sống con người được nhà thơ tái hiện qua những hình ảnh, âm thanh:
- Đó là hình ảnh một làng chợ cá với những âm thanh “lao xao” của những con người lao động.
- Bức tranh cuộc sống con người còn được tái hiện bằng hình ảnh “lầu tịch dương” với âm thanh tiếng ve kêu rắn rỏi.
|
Câu 5: Nét đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi thể hiện như thế nào qua bài thơ? |
Phương pháp giải
- Đọc bài thơ Dục Thúy sơn.
- Nêu kết luận về vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi.
Lời giải chi tiết
Nét đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi là vẻ đẹp của một tâm hồn thơ mộng, tài hoa khi đã thành công miêu tả núi Dục Thúy là một thắng cảnh, đẹp kì lạ, hiếm có trên đất nước ta.
|
Câu 6: Hoàn cảnh của Phăng-tin được miêu tả như thế nào? |
Phương pháp giải
- Đọc văn bản Người cầm quyền khôi phục uy quyền.
- Chú ý đoạn văn đầu miêu tả hoàn cảnh của Phăng-tin để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết
Hoàn cảnh và tình trạng của Phăng-tin được miêu tả: Là một người phụ nữ ốm yếu, đang nằm trên giường bệnh.
|
Câu 7: Ngôn ngữ của Giăng Van-giăng qua lời đối thoại với Gia - ve hiện lên như thế nào? |
Phương pháp giải
- Đọc văn bản Người cầm quyền khôi phục uy quyền.
- Đọc kĩ đoạn đối thoại của Gia-ve và Giăng Van-giăng ở trang 41.
- Chú ý ngôn ngữ của Giăng Van-giăng trong cuộc đối thoại đó.
Lời giải chi tiết
Ngôn ngữ của Giăng Van-giăng chứa sự mềm mỏng, nhún nhường và mang theo sự cầu xin nhưng không làm mất đi sự điềm tĩnh.
|
Câu 8: Nhan đề Dưới bóng hoàng lan có ý nghĩa gì? |
Phương pháp giải
- Đọc kĩ văn bản Dưới bóng hoàng lan.
- Dựa vào nội dung văn bản để tìm ra ý nghĩa nhan đề.
Lời giải chi tiết
Nhan đề Dưới bóng hoàng lan có ý nghĩa như một thông báo đến người đọc về nội dung câu chuyện.
- Nhan đề mang nghĩa ẩn dụ, gợi sự tò mò của người đọc về nội dung câu chuyện liên quan đến cây hoàng lan.
- Cây hoàng lan như một nhân chứng, chứng kiến hết tất cả những kỉ niệm đẹp đẽ của Thanh từ hồi còn bé đến khi lớn lên, chứng kiến tình yêu trong sáng của Thanh và Nga.
- Nhan đề có ý nghĩa rất quan trọng với tác phẩm, nó cũng một phần khẳng định vai trò của cây hoàng lan trong toàn bộ diễn biến của tác phẩm.
|
Câu 9: Người kể chuyện thấy đồng cảm với Na - đi - a về điều gì? |
Phương pháp giải
- Đọc kĩ tác phẩm Một chuyện đùa nho nhỏ.
- Chú ý lời của người kể chuyện để chỉ ra sự đồng cảm của người kể chuyện với Na-đi-a.
Lời giải chi tiết
Người kể chuyện thấy đồng cảm với Na-đi-a về nỗi sợ của nàng mỗi khi nhắc đến trượt tuyết, nỗi sợ độ cao khi đứng trên quả đồi nhìn xuống giống như nhìn một vực sâu vô hạn vậy. Nó là cái cảm giác ghê sợ, sợ cái cảm giác bị lao xuống dốc không phanh.
|
Câu 10: Khi chuyển về thời điểm "bây giờ", nhân vật "tôi" có tâm trạng gì? |
Phương pháp giải
- Đọc kĩ tác phẩm Một chuyện đùa nho nhỏ.
- Chú ý chi tiết viết về tâm trạng của nhân vật “tôi” khi chuyển về thời điểm kể “bây giờ” trong đoạn cuối tác phẩm để chỉ ra đó là tâm trạng gì.
Lời giải chi tiết
Tâm trạng của nhân vật “tôi” khi chuyển về thời điểm kể “bây giờ” là tâm trạng của sự hoài niệm, một tâm trạng phức tạp. Na-đi-a đã có cuộc sống riêng, có hạnh phúc riêng và câu nói hồi xưa đã trở thành một kỉ niệm của nàng còn nhân vật “tôi” vẫn không biết vì sao hồi ấy lại nói những lời ấy với Na-đi-a, tại sao phải đùa như vậy.
|
Câu 11: Văn bản Sự sống và cái chết viết về đề tài gì? |
Phương pháp giải
- Đọc kĩ văn bản Sự sống và cái chết.
- Dựa vào nội dung văn bản để chỉ ra đề tài của văn bản.
Lời giải chi tiết
Đề tài của văn bản là viết về sự sống và cái chết của các loài sinh vật trên Trái Đất, lịch sử hình thành và sự đa dạng của các loài sinh vật.
|
Câu 12: Việc tác giả tưởng tượng ra một chuyến “du hành” vượt thời gian có ý nghĩa gì? |
Phương pháp giải
- Đọc kĩ đoạn (2) trong văn bản Sự sống và cái chết.
- Tập trung vào những chi tiết về chuyến “du hành” ngược thời gian để nêu ý nghĩa của nó.
Lời giải chi tiết
Ý nghĩa của chuyến “du hành” ngược thời gian là giúp người đọc hiểu rõ hơn về lịch sử hình thành sự sống, sự đa dạng của các loài sinh vật trên Trái Đất của hàng trăm triệu năm về trước.
|
Câu 13: Văn bản đưa lại cho người đọc hiểu biết gì về mối quan hệ giữa “đấu tranh sinh tồn” và “tiến hóa”? |
Phương pháp giải
- Đọc kĩ văn bản Sự sống và cái chết.
- Dựa vào những thông tin trong văn bản để chỉ ra mối quan hệ giữa “đấu tranh sinh tồn” và “tiến hóa”.
Lời giải chi tiết
Mối quan hệ giữa “đấu tranh sinh tồn” và “tiến hóa” là mối quan hệ qua lại, bổ sung cho nhau. Các loài sinh vật để có thể sống thì cần phải đấu tranh sinh tồn, để sinh tồn thì cần phải có sự tiến hóa, nâng cấp bản thân để tăng cường sức mạnh, để có thể đánh bại kẻ thù, để không bị chết và tuyệt chủng.
|
Câu 14: Tác dụng của yếu tố miêu tả được sử dụng trong văn bản là gì? |
Phương pháp giải
- Đọc kĩ văn bản Nghệ thuật truyền thống của người Việt.
- Dựa vào nội dung văn bản để chỉ ra những yếu tố miêu tả và nêu tác dụng.
Lời giải chi tiết
- Yếu tố miêu tả được sử dụng trong văn bản là
+ Miêu tả các công trình kiến trúc tiêu biểu ở Việt Nam, miêu tả các tác phẩm nghệ thuật điêu khắc nổi tiếng, …
+ Yếu tố miêu tả được sử dụng trong những đoạn văn nói về những nét văn hóa nghệ thuật lâu đời của Việt Nam, miêu tả một số tác phẩm được nhiều người biết đến làm minh chứng, dẫn chứng về nghệ thuật được nhắc đến.
|
Câu 15: Cứ liệu được sử dụng để đưa ra nhận định về khiếu thẩm mĩ của người Việt là gì? |
Phương pháp giải
- Đọc kĩ đoạn đầu của văn bản.
- Chú ý những câu văn sử dụng cứ liệu để nhận định về khiếu thẩm mĩ của người Việt.
Lời giải chi tiết
Những cứ liệu được sử dụng để đưa ra nhận định về khiếu thẩm mĩ của người Việt là câu nói của linh mục Ca-đi-e-rơ và những chi tiết về việc biến những đồ vật thông thường thành những đồ trang trí đẹp của người Việt.
|
Câu 16: Hai nhà khoa học Mô-li-nơ và Rao-lân đã phát hiện sự thật gì về chất CFC? |
Phương pháp giải
- Đọc kĩ đoạn văn viết về hợp chất CFC.
- Chỉ ra thông tin mà hai nhà khoa học đã tìm hiểu được về chất CFC.
Lời giải chi tiết
Sự thật về chất CFC là các phân tử khí CFC bị phân hủy dưới tia UV khi ở tầng khí quyển và mỗi nguyên tử Cl tự do sẽ “cướp lấy” một nguyên tử O, khiến O3 (khí ozone) trở thành O2 (khí oxygen).
|
Câu 17: Những nhân tố nào làm nên thành công của nỗ lực phục hồi tầng ozone? |
Phương pháp giải
- Đọc kĩ đoạn văn viết về sự thành công của nỗ lực phục hồi tầng ozone.
- Chú ý các chi tiết về những nhân tố góp sức trong quá trình phục hồi tầng ozone.
Lời giải chi tiết
Những nhân tố làm nên thành công của nỗ lực phục hồi tầng ozone không chỉ là những cá nhân cụ thể mà còn có sự góp sức của công chúng, sự đồng thuận quốc tế và hành động nhất quán toàn cầu.
|
Câu 18: Biện pháp tu từ chính được sử dụng trong văn bản là gì? |
Phương pháp giải
- Đọc kĩ văn bản Về chính chúng ta.
- Chỉ ra biện pháp tu từ chính được tác giả sử dụng.
Lời giải chi tiết
Biện pháp tu từ được sử dụng là biện pháp điệp từ “chúng ta”. Tác giả sử dụng biện pháp điệp từ xuyên suốt văn bản để nhấn mạnh đối tượng của vấn đề là chúng ta – con người, làm rõ hơn về các mối quan hệ giữa con người với thực tại, con người với thế giới và con người với tự nhiên.
|
Câu 19: “Con đường” và “lối rẽ” trong bài thơ ẩn dụ cho điều gì? |
Phương pháp giải
- Đọc kĩ bài thơ Con đường không chọn.
- Dựa vào nội dung bài thơ và ý nghĩa của ẩn dụ “con đường”, “lối rẽ” để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết
Những ẩn dụ “con đường” và “lối rẽ” gợi cho tôi nghĩ đến những khó khăn khi phải lựa chọn, sự phân vân và băn khoăn không biết nên chọn gì. “Con đường” là câu hỏi và “lối rẽ” là những lựa chọn được đưa ra.
|
Câu 20: Tác dụng của việc sử dụng các yếu tố tự sự, biểu cảm trong bài viết là gì? |
Phương pháp giải
- Đọc kĩ văn bản Một đời như kẻ tìm đường.
- Dựa vào kiến thức đã học về các yếu tố tự sự, miêu tả để phân tích tác dụng của chúng trong văn bản.
Lời giải chi tiết
Tác dụng của các yếu tố tự sự, biểu cảm là giúp cho bài viết thêm hấp dẫn hơn, giàu tính hình ảnh; người đọc có thể dễ dàng hòa vào suy nghĩ của người viết, cảm nhận được rõ hơn cảm xúc của người viết.
2. Phần tiếng Việt
|
Câu 1: Điền từ Hán Việt phù hợp vào chỗ trống trong câu sau: Anh ấy đã ….. anh dũng trong cuộc chiến đấu với kẻ thù |
Phương pháp giải
Dựa vào nghĩa của từ, nghĩa của câu.
Lời giải chi tiết
Từ phù hợp điền vào chỗ trống là hi sinh → tạo sắc thái trang trọng cho câu văn.
|
Câu 2: Điền từ Hán Việt phù hợp vào chỗ trống trong câu sau: Chúng ta phải ……. vì độc lập tự do của Tổ Quốc |
Phương pháp giải
Dựa vào nghĩa của từ, nghĩa của câu.
Lời giải chi tiết
Từ phù hợp điền vào chỗ trống là chiến đấu (dùng sức mạnh vật chất hay tinh thần chống lại một cách quyết liệt với quân thù, với khó khăn, trở ngại nói chung)
|
Câu 3: “Trong công cuộc xây dựng và phát triển, công ty đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận” Nghĩa của từ “thành tựu” trong câu trên là gì? |
Phương pháp giải
Phân tích nghĩa của từ.
Lời giải chi tiết
Nghĩa của từ “thành tựu” là cái đạt được có ý nghĩa lớn sau một quá trình hoạt động thành công.
|
Câu 4: Phân tích tác dụng của biện pháp chêm xen trong đoạn thơ sau: Cô bé nhà bên (có ai ngờ) Cũng vào du kích Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!) (Giang Nam) |
Phương pháp giải
Phân tích tác dụng của biện pháp chêm xen trong đoạn thơ
Lời giải chi tiết
Tác dụng của biện pháp chêm xen:
- (Có ai ngờ) Bổ xung thêm về thái độ bất ngờ của tác giả trước sự việc.
- (thương thương quá đi thôi!)Thể hiện tình cảm trìu mến của tác giả
|
Câu 5: Tại sao không nên quá lạm dụng việc sử dụng hình ảnh, sơ đồ,… trong bài viết? |
Phương pháp giải
Nhớ lại các yêu cầu khi sử dụng phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ
Lời giải chi tiết
Việc sử dụng quá nhiều phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ như hình ảnh, sơ đồ,... sẽ khiến người đọc không còn tập trung vào nội dung chính của bài viết, khiến bài viết bị rối. Vì vậy, khi sử dụng phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ cần sử dụng đúng thời điểm.
3. Phần làm văn
a. Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội
Đề 1: Viết bài văn nghị luận về văn hóa hội nhập
1. Mở bài
- Hội nhập quốc tế là một xu hướng diễn ra từng ngày từng giờ, không chỉ xuất hiện ở bề rộng mà còn đi vào chiều sâu, trong đó nổi bật là hội nhập văn hóa.
2. Thân bài
- Giải thích
+ Bối cảnh hội nhập, đặc biệt là hội nhập về văn hóa ra mở nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức: “nhiều điều rất khó hiểu, khó lường và cả những nguy cơ, nguy hiểm”.
- Thanh niên đang ứng xử trước quá trình hội nhập văn hóa như thế nào?
Các biểu hiện tích cực, thể hiện sự chủ động nắm bắt các cơ hội mà sự hội nhập tạo ra:
+ Đưa văn hóa ẩm thực Việt Nam ra nước ngoài: Lớp học BETOAJI dạy món ăn Việt Nam của nhóm bạn trẻ học tập và sinh sống tại Nhật Bản.
+ Ứng dụng công nghệ hiện đại để góp phần quảng bá văn hóa: giải pháp tổng thể Visual Museum nhằm tạo ra những bảo tàng ảo ở Việt Nam được nhóm bạn trẻ của Công ty AVR360 áp dụng tại Bảo tàng Quảng Ninh.
- Các biểu hiện tiêu cực do chưa có sự tiếp nhận đúng đắn các giá trị mà sự hội nhập đem đến:
+ Thần tượng các ngôi sao quốc tế một cách thái quá
+ Ăn theo các trào lưu đang “gây bão” toàn thế giới mà không xét đến thuần phong mĩ tục
- Làm thế nào để hình thành thái độ ứng xử phù hợp trong quá trình hội nhập?
+ Am hiểu tường tận nền văn hóa dân tộc mình để xây dựng phông kiến thức vững vàng và tư duy phản biện trước nền văn hóa dân tộc khác.
+ Trau dồi vốn ngoại ngữ để có thể tìm hiểu, khám phá nền văn hóa các dân tộc trên thế giới.
+ Tự tin thể hiện con người, bản sắc của đất nước mình trước bạn bè quốc tế để thực sự là một phần trong sự hội nhập.
- Mở rộng, lật ngược vấn đề về thái độ ứng xử của thế hệ trẻ trước sự hội nhập văn hóa
+ Sự hội nhập quốc tế không dừng lại ở sự giao lưu văn hóa mà còn bao gồm hội nhập về kinh tế, giáo dục,…với những cơ hội, thách thức riêng.
+ Tiếp thu văn hóa có chọn lọc không có nghĩa là nói “không” với giao lưu văn hóa, khép mình trước sự hội nhập.
3. Kết bài
- Hội nhập về văn hóa là một xu hướng tất yếu, tiềm ẩn những cơ hội và thách thức.
Đề 2: Viết bài văn nghị luận về bạo lực học đường
1. Mở bài
- Giới thiệu về vấn đề cần nghị luận: Bạo lực học đường
- Hiện nay tình trạng bạo lực học đường diễn ra ngày càng phức tạp và là mối quan tâm lớn của xã hội.
2. Thân bài
a. Hiện trạng
+ "Bạo lực học đường" là việc sử dụng những hành vi bạo lực, là cách ứng xử thô lỗ, thiếu đạo đức của học sinh trong trường học.
+ Bạo lực học đường diễn ra ngày càng nhiều ở các trường học.
→ Bạo lực học đường đang là vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện nay.
b. Nguyên nhân
- Chủ quan:
+ Suy nghĩ lệch lạc; ảnh hưởng từ các chương trình, trò chơi bạo lực.
+ Mong muốn thể hiện "sức mạnh", cá tính và cái tôi cá nhân.
- Khách quan: Sự "hời hợt" trong việc giáo dục, quản lí của gia đình và sự giám sát chưa sát sao của nhà trường.
c. Hậu quả
- Làm mất đi hình ảnh trong sáng, tốt đẹp nên có ở mỗi học sinh.
- Bạo lực học đường là một con dao hai lưỡi:
+ Gây ra những tổn thương nghiêm trọng về thể chất, tinh thần cho nạn nhân.
+ Ảnh hưởng đến quá trình hoàn thiện nhân cách, đạo đức, gây ra những suy nghĩ lệch lạc, sai trái ở những kẻ "đi bắt nạt"
d. Giải pháp:
+ Cố gắng học tập, tạo dựng những mối quan hệ bạn bè, thầy trò tốt đẹp
+ Gia đình và nhà trường cũng cần quan tâm và có những phương pháp giáo dục hiệu quả để các bạn học sinh có những nhận thức đúng đắn.
3. Kết bài
Rút ra bài học nhận thức.
Đề 3: Viết bài văn nghị luận về chiến tranh
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Thế giới đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh mới có được nền hòa bình như ngày hôm nay. Nhưng cho dù sống trong nền hòa bình thì những hậu quả của chiến tranh thì vẫn luôn tồn tại.
2. Thân bài
a. Giải thích
- Chiến tranh là gì? Có rất nhiều định nghĩa về hai từ chiến tranh. Nhưng hiểu một cách đơn giản: Chiến tranh là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, là hoạt động đấu tranh giữa các nước, các giai cấp, các lực lượng chính trị có lợi ích địa vị đối lập nhau nhằm đạt được lợi ích về kinh tế hay chính trị.
b. Nguyên nhân
- Có nhiều nguyên nhân dẫn đến chiến tranh nhưng chủ yếu là do xung đột về quyền lợi về kinh tế và chính trị.
c. Hậu quả
Chiến tranh gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng trên mọi phương diện.
*Con người:
- Để lại những thương vong về bên ngoài:
+ Hàng nghìn người đã ngã xuống vì chiến tranh, họ là những con người không tên không tuổi.
+ Có những con người may mắn sống sót nhưng vẫn để lại nhiều di chứng: các thương binh, các bệnh nhân chất độc màu da cam.
- Để lại những nỗi đau ở bên trong: những dư chấn thời hậu chiến: ám ảnh về cái chết, nỗi đau mất mát người thân, gia đình bị ly tán…
*Của cải, vật chất:
+ Ô nhiễm môi trường, thiên nhiên bị tàn phá nghiêm trọng.
+ Các công trình của văn minh nhân loại bị phá hủy.
+ Nền kinh tế trở nên kiệt quệ.
+ Trình độ văn hóa thấp, mất đi bản sắc văn hóa dân tộc.
* Mối quan hệ quốc tế:
+ Ngày một trở nên căng thẳng.
+ Ảnh hưởng đến nền hòa bình của toàn cầu.
d. Liên hệ mở rộng:
- Từ buổi đầu dựng nước, dân tộc Việt Nam đã phải đối mặt với rất nhiều cuộc chiến tranh xâm lược. Nhưng trong đó, phải kể đến cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước suốt một nghìn năm Bắc thuộc và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
3. Kết bài
- Có thể thấy, chiến tranh thực sự là một từ ám ảnh và đáng sợ với toàn nhân loại.
- Mỗi con người, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia hãy cùng đồng lòng chống lại chiến tranh, bảo vệ nền hòa bình của nhân loại.
b. Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học
Đề 1: Viết bài văn phân tích tác phẩm Chữ người tử tù
1. Mở bài
- Giới thiệu đôi nét về tác giả Nguyễn Tuân: Một cây bút tài hoa độc đáo, có vị trí quan trọng trong nền văn học hiện đại Việt Nam
- Khái quát chung về tác phẩm Một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách tài hoa nghệ sĩ của ông, được in trong tập Vang bóng một thời (1940)
2. Thân bài
a,Tình huống truyện
+ Không gian: nhà tù. Đây không phải là nơi dành cho những cuộc gặp gỡ.
+ Thời gian: những ngày cuối cùng trước khi ra pháp trường của Huấn Cao.
-Không gian và thời gian góp phần tạo nên kịch tính cho tình huống.
+Cuộc gặp gỡ khác thường của hai con người khác thường :
+ Cuộc hội ngộ diễn ra giữa chốn ngục tù căng thẳng
b. Nhân vật Huấn Cao
- Một người nghệ sĩ tài hoa
+ Người khắp vùng tỉnh Sơn khen Huấn Cao là người:
+ Có tài viết chữ “rất nhanh và rất đẹp”.
“Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm … có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật ở trên đời”.
-Một con người có khí phách hiên ngang bất khuất
+ Là thủ lĩnh của phong trào khởi nghĩa chống lại triều đình.
+ Ngay khi đặt chân vào nhà ngục: Thản nhiên rũ rệp trên thang gông:
khí phách, tiết tháo của nhà Nho
+ Khi được viên quản ngục biệt đãi: “Thản nhiên nhận rượu thịt” như “việc vẫn làm trong cái hứng bình sinh” phong thái tự do, ung dung, xem nhẹ cái chết.
+ Trả lời quản ngục bằng thái độ khinh miệt: “Ngươi hỏi ta muốn gì ...vào đây”.
Không khuất phục trước cường quyền. khí phách của một người anh hùng.
-Một nhân cách, một thiên lương cao cả
+ Tâm hồn trong sáng, cao đẹp: “Không vì vàng ngọc hay quyền thê mà ép mình viết câu đối bao giờ” → trọng nghĩa, khinh lợi, chỉ cho chữ những người tri kỷ.
+ Khi chưa biết tấm lòng của quản ngục: xem y là kẻ tiểu nhân
+ Khi biết tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” của quản ngục: Huấn Cao nhận lời cho chữ
→ Chỉ cho chữ những người biết trân trọng cái tài và quý cái đẹp.
+ Câu nói của Huấn Cao với quản ngục: “Thiếu chút nữa ... trong thiên hạ”
→ Sự trân trọng đối với những người có sở thích thanh cao, có nhân cách cao đẹp.
→ Huấn Cao là một anh hùng - nghệ sĩ, một thiên lương trong sáng.
c.Nhân vật quản ngục
-Tấm lòng biệt liên tài
+ Trong những ngày Huấn Cao trong ngục, quản ngục luôn bày tỏ thái độ nghiêm kính khiêm nhường
+Dũng cảm biệt đãi Huấn Cao
+ Cảm thấy tiếc nuối khi biết Huấn Cao sắp phải từ giữ cõi đời: “Bấy nhiêu ...vũ trụ”.
-Sự khát khao và trân trọng cái đẹp
+ Khát khao cái đẹp: mong ước của ông là “được treo ở nhà riêng một đôi câu đối” do chính tay Huấn Cao viết.
+ Lo lắng nếu như không xin được chữ ông Huấn trước khi bị hành hình thì “ân hận suốt đời mất”
d. Cảnh cho chữ
+ Thời gian: đêm trước khi Huấn Cao ra pháp trường chịu án chém, khi chỉ còn “vẳng có tiếng mõ trên vọng canh”
+ Địa điểm: trại giam tỉnh Sơn
+Không gian: buồng tối chật hẹp, ẩm ướt...
+ Đây là "cảnh tượng xưa nay chưa từng có" :
+ Thân phận và hành động của người cho chữ và nhận chữ đặc biệt
+ Xây dựng được các cặp phạm trù đối lập nhau
+ Chi tiết quản ngục cúi đầu vái lạy người tử tù Huấn Cao: sự thức tỉnh trước cái đẹp, quản ngục đã thoát ra những cái tầm thường, ràng buộc để vươn tới cái cao đẹp.
→Toàn bộ cảnh cho chữ là bài ca tôn vinh cái đẹp, cái thiện, cái thiên lương của con người trong hoàn cảnh tối tăm ngục tù bậc nhất.
3. Kết bài
-Khẳng định những nét nghệ thuật đặc sắc làm nên thành công của tác phẩm
-Chữ người tử tù là một văn phẩm xuất sắc đạt “gần đến sự toàn thiện, toàn mỹ” (Vũ Ngọc Phan
Đề 2: Viết bài văn phân tích tác phẩm Chí Phèo
1. Mở bài
- Vài nét tiêu biểu về tác giả Nam Cao: Ông được xem là đại diện xuất sắc nhất của văn học hiện thực ở chặng đường phát triển cuối cùng của khuynh hướng này
- Giới thiệu tác phẩm “Chí Phèo”: Truyện ngắn kết tinh thành công của Nam Cao trên đề tài nông thôn, nông dân và là một kiệt tác trong nền văn xuôi trước cách mạng
2. Thân bài
a. Làng Vũ Đại - không gian nghệ thuật của truyện ngắn
- Đây chính là không gian nghệ thuật của truyện bởi toàn bộ những chuyện của Chí Phèo đều diễn ra tại đây
- Mâu thuẫn giai cấp gây gắt, âm thầm mà quyết liệt, không khí tối tăm , ngột ngạt.
- Đời sống của người nông dân vô cùng khổ cực bị đẩy vào đường cùng không lối thoát, bị tha hóa.
→Không gian nghệ thuật làm cơ sở đi sâu khai thác hình tượng nhân vật, đồng thời thấy được giá trị hiện thực, nhân đạo của tác phẩm
b. Nhân vật Bá Kiến
- Tiếng cười Tào Tháo, mềm nắn rắn buông, dùng đầu bò trị đầu bò… →Xảo quyệt, gian hùng, thủ đoạn
- Nhân cách ti tiện bỉ ổi, dâm đãng, ghen tuông và độc ác
→Điển hình cho loại địa chủ cường hào ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng
c. Hình tượng nhân vật Chí Phèo
- Sự xuất hiện của nhân vật
+ Hắn vừa đi vừa chửi...: sự xuất hiện tự nhiên
+ Qua tiếng chửi, chân dung nhân vật hiện lên: Kẻ lưu manh cứ rượu vào là chửi nhưng đằng sau đó thấy Chí Phèo mong muốn được coi là người bình thường
- Lai lịch, cuộc đời Chí Phèo trước khi ở tù
+ Hoàn cảnh xuất thân: không cha, không mẹ, không nhà, không cửa, không một tấc đất cắm dúi cũng không có. Tuy vậy, Chí vẫn giữ những phẩm chất tốt đẹp như:
+ Là một con người lương thiện: đi ở hết nhà này đến nhà khác, cày thuê cuốc mướn để kiếm sống → làm ăn chân chính
+ Từng mơ ước giản dị về cuộc sống gia đình: có một ngôi nhà nho nhỏ, chồn cày thuê cuốc mướn… → Chí Phèo là một người lương thiện.
+ Có lòng tự trọng: Bà ba Bá Kiến gọi lên đấm lưng, bóp chân, Chí cảm thấy nhục → Là người có ý thức về nhân phẩm.
+ Chí Phèo có đủ điều kiện để sống cuộc sống yên bình như bao người khác, quãng đời lương thiện của Chí kéo dài trong khoảng 20 năm đầu
- Sự biến đổi của Chí Phèo sau khi ra tù
Sự kiện Chí Phèo bị bắt vào tù:
+ Vì Bá Kiến ghen với vợ hắn.
+ Chế độ nhà tù thực dân đã biến Chí trở thành lưu manh, có tính cách méo mó và quái dị.
- Hậu quả của những ngày ở tù:
+ Hình dạng: “Cái đầu trọc lốc, hàm răng cạo trắng hớn, cái mặt thì câng câng đầy những vết sứt sẹo, hai con mắt gườm gườm” → Chí Phèo đánh mất nhân hình.
+ Nhân tính: du côn, du đãng, triền miên trong cơn say, đập đầu, chửi bới, phá phách và làm công cụ cho Bá Kiến → Chí Phèo đã đánh mất nhân tính.
+ Quá trình tha hóa của Chí Phèo: Đến nhà Bá Kiến trả thù ⇒ Chí mắc mưu, trở thành tay sai cho Bá Kiến
+ Chí đã bị cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính, là điển hình cho hình ảnh người nông dân bị đè nén đến cùng cực
→Chí đã bị cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính
→ Cuộc gặp gỡ giữa Chí Phèo và Thị Nở
- Tình yêu thương của Thị Nở đã đánh thức bản chất lương thiện của Chí Phèo.
+ Về nhận thức: Nhận biết được mọi âm thanh trong cuộc sống.
+ Nhận ra bi kịch trong cuộc đời của mình và sợ cô đơn, cô độc
+ Về ý thức: Chí Phèo thèm lương thiện và muốn làm hòa với mọi người.
- Hình ảnh bát cháo hành là hình ảnh độc đáo, chân thật và giàu ý nghĩa: lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng Chí được ăn trong tình yêu thương và hạnh phúc.
→Chí Phèo đã hoàn toàn thức tỉnh
- Bi kịch bị cự tuyệt
+ Nguyên nhân: do bà cô Thị Nở không cho Thị lấy Chí Phèo. Thể hiện định kiến của xã hội
+ Diễn biến tâm trạng của Chí Phèo:
+ Lúc đầu: Chí ngạc nhiên trước thái độ của Thị Nở
+ Sau Chí hiểu ra mọi việc: Tuyệt vọng, Chí uống rượu rồi xách dao đên nhà Bá Kiến đâm chết Bá Kiến và tự sát.
- Ý nghĩa hành động đâm chết Bá Kiến và tự sát của Chí:
+ Đâm chết Bá Kiến là hành động lấy máu rửa thù của người nông dân thức tỉnh về quyền sống.
+ Cái chết của Chí Phèo là cái chết của con người trong bi kịch đau đớn trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống làm người
d. Đặc sắc nghệ thuật
- Xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình.
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo.
- Ngôn ngữ giản dị, diễn đạt độc đáo.
- Kết cấu truyện mới mẻ, tưởng như tự do nhưng lại rất chặt chẽ, lôgic.
- Cốt truyện và các tình tiết hấp dẫn, biến hóa giàu kịch tính.
3. Kết bài
-Khẳng định lại những nét tiêu biểu nhất về mặt nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Chí Phèo
-Với tác phẩm này, nam Cao đã tố cáo mạnh mẽ xã hội thực dân nửa phong kiến và đồng thời trân trọng, phát hiện và khẳng định bản chất tốt đẹp của con người ngay cả khi tưởng chừng học đã biến thành quỷ dữ
c. Viết một văn bản nội quy hoặc văn bản hướng dẫn nơi công cộng
Đề 1: Viết văn bản nội quy lớp học
- Tên trường, quốc hiệu, tiêu ngữ, ngày tháng năm.
- Nội quy lớp học gồm các nội dung như:
1) Kính trọng người lớn, lễ phép với thầy cô giáo, hòa nhã với bạn bè; không đánh nhau gây mất đoàn kết trong lớp học; không nói tục, chửi bậy.
2) Đi học đúng giờ (có mặt ở trường trước 15 phút khi buổi học bắt đầu), nghỉ học phải có lý do, phải có giấy xin phép được phụ huynh ký xác nhận.
3) Đến lớp học: phải học bài và làm bài tập đầy đủ; phải có đủ đồ dùng học tập; đầu tóc, quần áo gọn gàng nghiêm túc, mặc đồng phục theo đúng quy định của nhà trường; giữ gìn vệ sinh chung của lớp của trường; không xả rác, vứt rác bừa bãi; có ý thức giữ gìn bảo vệ của công.
4) Học sinh có mặt trong lớp sau khi kết thúc hiệu lệnh báo hiệu bắt đầu tiết học. Trường hợp lớp chưa có giáo viên thì phải giữ trật tự, lớp trưởng hoặc bí thư lên báo cáo với ban giám hiệu
5) Trong lớp trật tự chú ý nghe giảng, có ý thức tham gia xây dựng bài; không được nói chuyện riêng, làm việc riêng trong lớp. Chỉ được phát biểu hoặc trình bày ý kiến khi được giáo viên cho phép.
6) Tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa, hoạt động tập thể.
7) Tất cả học sinh phải có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các điều trong nội quy học sinh. Nếu vi phạm tùy theo mức độ sẽ bị xử lý theo quy định hiện hành của Bộ GD&ĐT và quy định xử lý học sinh vi phạm của trường.
- Chữ kí của hiệu trưởng.
Đề 2: Viết văn bản nội quy câu lạc bộ Guitar
NỘI QUY CÂU LẠC BỘ GUITAR
1. CLB hoạt động từ 3h30 đến 5h30 hai ngày thứ bảy, chủ nhật.
2. Đến sinh hoạt đúng giờ
3. Chuẩn bị kỹ càng dụng cụ và bàn tay trước giờ sinh hoạt CLB
4. Hòa đồng, thân thiện, có ý thức hỗ trợ mọi người
5. Hăng hái tham gia trong mọi hoạt động của CLB
6. Có ý thức đóng góp, xây dựng để CLB hoạt động ngày càng hiệu quả
7. Nghiêm cấm sử dụng rượu,bia, chất kích thích trong CLB
Nếu ai có thắc mắc hoặc vấn đề gì cần giải đáp, xin liên hệ tới SĐT: 09**89****
d. Viết bài luận về bản thân
Đề 1: Viết bài luận về bản thân để thuyết phục BTC của lễ hội hoặc BQL di tích chấp nhận mong muốn
1. Mở bài
- Dẫn dắt và nêu vấn đề của bài viết: Mong muốn gia nhập Câu lạc bộ và khả năng đáp ứng tốt các yêu cầu của một tình nguyện viên trong việc tổ chức hoạt động của lễ hội hoặc giới thiệu di tích lịch sử, văn hoá của địa phương
2. Thân bài
- Lần lượt trình bày các luận điểm. Sử dụng lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ luận điểm.
- Người viết có thể sắp xếp các ý theo trật tự khác nhau để thuyết phục Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ chấp nhận nguyện vọng của bản thân. Ví dụ, có thể sắp xếp theo trật tự sau:
+ Giới thiệu khái quát về bản thân (tên, lớp, hiểu biết, mục đích tham gia Câu lạc bộ, ...).
+ Niềm yêu thích, sự sẵn sàng dành thời gian, tâm huyết,... của bản thân cho các hoạt động tình nguyện vì sự phát triển của cộng đồng địa phương.
+ Khả năng tham gia hỗ trợ (hoặc tổ chức) các hoạt động lễ hội hay giới thiệu di tích lịch sử, văn hoá của địa phương. Ví dụ: Viết bài giới thiệu, viết nội quy, hướng dẫn khách tham gia lễ hội/ di tích; biên tập, cập nhật thông tin về lễ hội/ di tích trên trang web của địa phương: tham gia tổ chức hoạt động tìm hiểu thực tế cho các đoàn khách, nhất là học sinh, sinh viên và người nước ngoài (nếu em giỏi ngoại ngữ) ...
+ Cam kết thực hiện tốt các yêu cầu của Câu lạc bộ và địa phương
3. Kết bài
- Khẳng định nguyện vọng, cam đoan về năng lực và trách nhiệm của bản thân trong việc tham gia Câu lạc bộ và thực hiện các hoạt động được phân công
- Cảm ơn Ban Chủ nhiệm về sự quan tâm đọc và xét duyệt.
Đề 2: Viết bài luận về bản thân thuyết phục trường đại học ở nước ngoài cấp học bổng du học
1. Mở bài
Chào mừng và nêu vấn đề chính của bài viết: thuyết phục trường đại học ở nước ngoài cấp học bổng du học
2. Thân bài
- Giới thiệu tổng quan về bản thân (tên, tuổi, lớp,...).
- Thể hiện lòng khao khát của bản thân:
+ Mong muốn theo học ngành…
- Đặc điểm nổi bật của bản thân để thuyết phục trường đại học quốc tế:
+ Sự thành thạo trong giao tiếp tiếng Anh.
+ Thành tích học tập xuất sắc.
+ Tinh thần năng động, tích cực tham gia hoạt động tình nguyện.
- Cam kết tuân thủ nghiêm túc các quy định và yêu cầu của trường đại học đối với du học sinh.
3. Kết bài
- Xác nhận nguyện vọng và cam kết về khả năng, trách nhiệm của bản thân khi học tập tại trường đại học.
- Bày tỏ lòng biết ơn đến trường đại học.
Đề thi học kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Hs đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi kế tiếp:
THỰC VẬT VÀ CÁNH ĐỒNG VACCINE
(Yên Lam)
24/07/2021 17:05 GMT+7
Thực vật có thể trở thành nhà máy sản xuất vaccine ít tốn kém và dễ nhân rộng so với mô hình đắt đỏ và phức tạp hiện tại. Giới khoa học đã theo đuổi giấc mơ này trong nhiều năm qua, và quá trình nghiên cứu đã nóng trở lại từ khi có COVID – 19


Hình ảnh: Internet
Việc sản xuất vaccine thông thường rất phức tạp, tốn kém và chỉ có một vài nước mới đủ nhân lực, vật lực và công nghệ để sản xuất. Việc vận chuyển, phân phối vaccine đến những nơi có hạ tầng kém cũng đầy rào cản. “Nhiều nhà khoa học tin rằng giải pháp cho vấn đề này chính là sử dụng thực vật để tạo vaccine” – Tạp chí National Geographic ngày 8-7 viết.
Theo bài viết “Vaccine sau này có thể được trồng ở nông trại thuốc lá” trên National Geographic, công nghệ làm vaccine từ thực vật không mới; bằng chứng khả thi của việc này đã có từ khoảng 30 năm trước, khi các nhà khoa học dùng khoai tây, gạo, cải bó xôi, bắp và các loại cây khác để làm vaccine ngừa sốt xuất huyết, bại liệt, sốt rét và bệnh dịch hạch. Chỉ có điều, không có công trình nghiên cứu nào trong số này tiến xa đến khâu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn cuối. Theo chuyên gia nghiên cứu công nghệ sinh học Kathleen Hefferon, hiện là Giáo sư Vi sinh vật học tại Đại học Cornell, nguyên nhân có thể là do thiếu khung pháp lý cho dược phẩm có nguồn gốc thực vật hoặc sự nghi ngại trong việc đầu tư vào các công nghệ sinh học mới nổi.
Tình hình những năm gần đây đã khác. Nhiều trường đại học, start – up công nghệ sinh học và chính phủ đã phối hợp với nhau và rót tiền vào để mở rộng lĩnh vực này. Chính phủ Hàn Quốc đã đầu tư 13,5 tỉ USD cho nghiên cứu vaccine từ thực vật, và cơ sở chế tạo đầu tiên của nước này dự kiến sẽ mở cửa vào tháng 10 tới. Theo National Geographic, thị trường vaccine từ thực vật được dự báo sẽ tăng từ 40 triệu USD hiện nay lên 600 triệu USD trong vòng 7 năm tới.
Năm 2006, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ phê chuẩn một loại vaccine có nguồn gốc thực vật để ngừa bệnh Newcastle trên gia cầm. Tuy vẫn chưa có loại vaccine dựa trên thực vật nào được phê chuẩn để dùng cho người, nhiều dự án đang tiếp tục đầy triển vọng.
Tháng 12-2020, Kentucky BioProcessing, công ty công nghệ sinh học đóng tại Mỹ của Hãng thuốc lá BAT (Anh), loan báo vaccine dựa trên thực vật ngừa COVID – 19 của hãng này đã bước vào thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1. Cách đó 1 tháng, Công ty Icon Genetics (Nhật) cũng bắt đầu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 với vaccine có nguồn gốc thực vật để ngừa norovirus (virus dạ dày và ruột).
Tiến xa nhất là vaccine có nguồn gốc thực vật ngừa COVID – 19 của Công ty công nghệ sinh học Medicago (Canada), hiện đang thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3. Medicago cho biết vaccine ngừa COVID – 19 sử dụng công nghệ VLP (virus- like particle, phần tử giống virus nhưng không gây nhiễm bệnh), chứa VLP giống SARS – CoV – 2, kết hợp với tá chất của GSK để kích thích hệ miễn dịch. Vaccine ngừa cúm từ nguồn thực vật của hãng này cũng đã hoàn tất các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng và đang chờ phê chuẩn cuối cùng từ Chính phủ Canada, theo giám đốc y tế Công ty Brian Ward.
Hefferon cho rằng những thành công nói trên mở toang cánh cửa cho các bước tiến triển khác trong việc phát triển vaccine từ thực vật. “Ngành sản xuất vaccine từ thực vật phát triển chậm mà chắc. Chúng ta đã đạt đến giai đoạn mà việc tạo ra vaccine ngừa COVID – 19 hoàn toàn khả thi và có thể làm được nhanh chóng… có thể tạo ra hàng chục triệu liều vaccine trong vòng 6 tháng tới hay khoảng đó”. […]
(rg.link/0Dcpan-)
Câu 1: Văn bản cung cấp cho người đọc thông tin về lĩnh vực nào sau đây?
A. Vận dụng công nghệ để tạo vaccine
B. Nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine
C. Vận dụng công nghệ để cải tạo môi trường
D. Vận dụng hóa học, công nghệ để phát triển cây trồng
Câu 2: Nhan đề của văn bản cung cấp cho người đọc những thông tin nào?
A. Hiệu quả nghiên cứu
B. Thông tin chính của toàn văn bản
C. Chuyên ngành nghiên cứu
D. Phạm vi nghiên cứu
Câu 3: Văn bản Thực vật và cánh đồng Vaccine gồm mấy nội dung chính?
A. Bốn nội dung chính
B. Ba nội dunh chính
C. Sáu nội dung chính
D. Bảy nội dung chính
Câu 4: Tác giả sử dụng hình thức, yếu tố nào để người đọc dễ nắm bắt thông tin?
A. Các đoạn văn đứng độc lập
B. Sapo, số liệu, hình ảnh
C. Nhiều số liệu, tiêu đề in đậm
D. Hình ảnh đi kèm thông số khoa học
Câu 5: Đoạn sapo cung cấp cho người đọc những thông tin nào sau đây?
A. Nội dung tóm tắt của toàn văn bản
B. Một số nghiên cứu công nghệ vi sinh trọng điểm
C. Hiệu quả và khả năng nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine
D. Sự cần thiết của việc sử dụng thực vật để tạo ra vaccine
Câu 6: Dòng nào nói lên ưu thế của nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo ra vaccine?
A. Thực vật có thể trở thành nhà máy sản xuất vaccine ít tốn kém và dễ nhân rộng hơn so với mô hình đắt đỏ và phức tạp hiện tại
B. Giới khoa học đã theo đuổi giấc mơ này trong nhiều năm qua, và quá trình nghiên cứu đã nóng trở lại từ khi có COVID - 19
C. Nhiều trường đại học, start – up công nghệ sinh học và chính phủ đã phối hợp với nhau và rót tiền vào để mở rộng lĩnh vực này
D. Theo National Geographic, thị trường vaccine từ thực vật được dự báo sẽ tăng từ 40 triệu USD hiện nay lên 600 triệu USD trong vòng 7 năm tới
Câu 7: Vì sao nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine đã nóng trở lại từ khi có COVID – 19?
A. Thực vật có thể trở thành nhà máy sản xuất vaccine ít tốn kém
B. Vì giảm chi phí việc vận chuyển, phân phối vaccine đến nơi có hạ tầng kém
C. Vì vaccine chống lại dịch bệnh tốt nhất, vì thực vật có thể trở thành nhà máy sản xuất vaccine ít tốn kém nhất và giảm được chi phí vận chuyển
D. Nhiều trường đại học, star – up công nghệ sinh học và chính phủ đã phối hợp với nhau và rót tiền vào để mở rộng lĩnh vực này
Câu 8: Căn cứ vào thông tin nào để xác định năm của “tháng 10 tới” ở thông tin sau?
Chính phủ Hàn Quốc đã đầu tư 13,5 tỉ USD cho nghiên cứu vaccine từ thực vật, và cơ sở chế tạo đầu tiên của nước này dự kiến sẽ mở cửa vào tháng 10 tới
A. Thời điểm bài báo đăng
B. Quyết định của Chính phủ Hàn Quốc
C. Thời điểm Chính phủ Hàn Quốc quan tâm tới vaccine
D. Thời điểm các nhà khoa học Hàn Quốc bắt tay vào nghiên cứu vaccine
Câu 9: Văn bản Thực vật và cánh đồng vaccine truyền đi thông điệp nào? Em hãy vẽ sơ đồ thể hiện nội dung, mục đích của văn bản Thực vật và cánh đồng vaccine (1đ)
Câu 10: Hai bức ảnh trên minh họa cho nội dung nào trong quá trình nghiên cứu vaccine có nguồn gốc thực vật? Em hãy giới thiệu 2 ví dụ nghiên cứu về vaccine ở Việt Nam (1đ)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Đọc 2 ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)
Văn bản 1
Đầu năm 2020, khi nhận được dữ liệu đầu tiên về cấu trúc gene của virus đang gây dịch viêm phổi tại Vũ Hán, nhóm của Sarah Gilbert đã ngay lập tức nghĩ tới việc tạo ra vaccine. Bà cùng một nữ giáo sư khác ở Oxford, Teresa Lambe và cộng sự trong nhóm làm việc liên tục để thiết kế vaccine. Vaccine chống Covid-19 (được đặt tên là ChAdOxl nCoV-19) được thiết kế từ một virus gây ra cảm cúm trên tinh tinh đã được làm yếu, chứa đoạn mã gai của virus corona để “đóng giả” virus Sars-CoV-2 (mà chúng ta vẫn gọi tắt là Covid-19) giúp cơ thể tạo ra kháng thể tiêu diệt virus này.
Tại thời điểm đó, họ chưa có đủ thông tin rằng loại virus mới có thể lây lan nhanh ra sao, nhưng Sarah Gilbert lại nhìn thấy khả năng phát triển vaccine với tốc độ nhanh chóng và lên kế hoạch thử nghiệm lâm sàng. Nhưng kinh phí đâu ra để thử nghiệm lâm sàng, một việc vô cùng tốn kém và mất thời gian? Đây là vấn đề hóc búa được đặt ra. Sarah Gilbert đã tích cực thuyết phục các đề tài khác trợ giúp kinh phí, kêu gọi chính phủ tài trợ và cả nhóm đã vui mừng trước tin tức tốt lành rằng Chính phủ Anh sẽ hỗ trợ kinh phí (22 triệu bảng Anh) thử nghiệm và sản xuất loại vaccine này.
(https://by.com.vn/6601Y)
Văn bản 2
Cuối năm 2005, WHO khuyến cáo các nước cần chuyển sản xuất vắc-xin VNNB từ não chuột sang vắc-xin VNNB bất hoạt trên tế bào vero. Từ năm 2006, GS.TS. Huỳnh Thị Phương Liên đã bắt đầu nghiên cứu vắc-xin công nghệ mới VNNB thế hệ 2. Giáo sư và các cộng sự đã tự nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất vắc-xin VNNB bất hoạt trên tế bào vero trong năm 6 năm (2006-2011), thực hiện lâm sàng trên người 6 năm (2013- 2018), hoàn thành thử nghiệm trên người (1.140 đối tượng) đạt tính an toàn cao, dung nạp tốt trên người lớn và trẻ em 9-24 tháng tuổi. Công cuộc nghiên cứu thành công, đã hoàn thiện quy trình công nghệ, vắc-xin JECEVAX đạt chất lượng về tính an toàn, dung nạp tốt trên trẻ em và đáp ứng miễn dịch 99,6 - 100% không thua kém các vắc-xin cùng loại của các nhà sản xuất quốc tế như Intercell Áo, Nhật Bản (Thời gian nghiên cứu cũng trên 10 năm). Công trình nghiên cứu đã được nghiệm thu cấp Nhà nước tháng 1/2019. Việt Nam là nước thứ 4 có công nghệ vắc-xin VNNB bất hoạt sản xuất trên tế bào vero. Hiện đang hoàn thiện hồ sơ để xin cấp phép của Cục Dược, Bộ Y tế và triển vọng vào năm 2021 sẽ được sản xuất mở rộng để có vắc- xin phòng bệnh cho nhân dân.
(https://by.com.vn/XirTG)
a. Xác định điểm chung của 2 văn bản, mục đích của từng văn bản trên
b. Đặt tên cho từng văn bản
Câu 2: Viết bài luận thể hiện suy nghĩ của em về khả năng và những đóng góp của các nhà khoa học nữ của Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung đối với cộng đồng và nhân loại (3đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 1
Phần I. ĐỌC HIỂU

|
Câu 1: Văn bản cung cấp cho người đọc thông tin về lĩnh vực nào sau đây? A. Vận dụng công nghệ để tạo vaccine B. Nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine C. Vận dụng công nghệ để cải tạo môi trường D. Vận dụng hóa học, công nghệ để phát triển cây trồng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Văn bản cung cấp cho người đọc thông tin về lĩnh vực nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine
→ Đáp án B
|
Câu 2: Nhan đề của văn bản cung cấp cho người đọc những thông tin nào? A. Hiệu quả nghiên cứu B. Thông tin chính của toàn văn bản C. Chuyên ngành nghiên cứu D. Phạm vi nghiên cứu |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhan đề và rút ra kết luận về thông tin nhan đề cung cấp cho người đọc
Lời giải chi tiết:
Nhan đề của văn bản cung cấp cho người đọc những thông tin về chuyên ngành nghiên cứu vaccine (từ thực vật)
→ Đáp án C
|
Câu 3: Văn bản Thực vật và cánh đồng Vaccine gồm mấy nội dung chính? A. Bốn nội dung chính B. Ba nội dunh chính C. Sáu nội dung chính D. Bảy nội dung chính |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Văn bản Thực vật và cánh đồng Vaccine gồm bốn nội dung chính:
- Việc sản xuất vaccine thông thường rất phức tạp, tốn kém
- Công nghệ làm vaccine từ thực vật
- Loại vaccine có nguồn gốc thực vật tiến xa nhất
- Tiềm năng phát triển vaccine có nguồn gốc từ thực vật trong tương lai
→ Đáp án A
|
Câu 4: Tác giả sử dụng hình thức, yếu tố nào để người đọc dễ nắm bắt thông tin? A. Các đoạn văn đứng độc lập B. Sapo, số liệu, hình ảnh C. Nhiều số liệu, tiêu đề in đậm D. Hình ảnh đi kèm thông số khoa học |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Tác giả sử dụng sapo, số liệu, hình ảnh để người đọc dễ nắm bắt thông tin?
→ Đáp án B
|
Câu 5: Đoạn sapo cung cấp cho người đọc những thông tin nào sau đây? A. Nội dung tóm tắt của toàn văn bản B. Một số nghiên cứu công nghệ vi sinh trọng điểm C. Hiệu quả và khả năng nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine D. Sự cần thiết của việc sử dụng thực vật để tạo ra vaccine |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn sapo và rút ra kết luận về thông tin mà đoạn sapo cung cấp
Lời giải chi tiết:
Thông tin mà đoạn sapo cung cấp: Hiệu quả và khả năng nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine
→ Đáp án C
|
Câu 6: Dòng nào nói lên ưu thế của nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo ra vaccine? A. Thực vật có thể trở thành nhà máy sản xuất vaccine ít tốn kém và dễ nhân rộng hơn so với mô hình đắt đỏ và phức tạp hiện tại B. Giới khoa học đã theo đuổi giấc mơ này trong nhiều năm qua, và quá trình nghiên cứu đã nóng trở lại từ khi có COVID - 19 C. Nhiều trường đại học, start – up công nghệ sinh học và chính phủ đã phối hợp với nhau và rót tiền vào để mở rộng lĩnh vực này D. Theo National Geographic, thị trường vaccine từ thực vật được dự báo sẽ tăng từ 40 triệu USD hiện nay lên 600 triệu USD trong vòng 7 năm tới |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn sapo
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Ưu thế của nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo ra vaccine: Thực vật có thể trở thành nhà máy sản xuất vaccine ít tốn kém và dễ nhân rộng hơn so với mô hình đắt đỏ và phức tạp hiện tại
→ Đáp án A
|
Câu 7: Vì sao nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine đã nóng trở lại từ khi có COVID – 19? A. Thực vật có thể trở thành nhà máy sản xuất vaccine ít tốn kém B. Vì giảm chi phí việc vận chuyển, phân phối vaccine đến nơi có hạ tầng kém C. Vì vaccine chống lại dịch bệnh tốt nhất, vì thực vật có thể trở thành nhà máy sản xuất vaccine ít tốn kém nhất và giảm được chi phí vận chuyển D. Nhiều trường đại học, star – up công nghệ sinh học và chính phủ đã phối hợp với nhau và rót tiền vào để mở rộng lĩnh vực này |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ phần sapo và đoạn 1
Lời giải chi tiết:
Nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine đã nóng trở lại từ khi có COVID – 19 vì: Vì vaccine chống lại dịch bệnh tốt nhất, vì thực vật có thể trở thành nhà máy sản xuất vaccine ít tốn kém nhất và giảm được chi phí vận chuyển
→ Đáp án C
|
Câu 8: Căn cứ vào thông tin nào để xác định năm của “tháng 10 tới” ở thông tin sau? Chính phủ Hàn Quốc đã đầu tư 13,5 tỉ USD cho nghiên cứu vaccine từ thực vật, và cơ sở chế tạo đầu tiên của nước này dự kiến sẽ mở cửa vào tháng 10 tới A. Thời điểm bài báo đăng B. Quyết định của Chính phủ Hàn Quốc C. Thời điểm Chính phủ Hàn Quốc quan tâm tới vaccine D. Thời điểm các nhà khoa học Hàn Quốc bắt tay vào nghiên cứu vaccine |
Phương pháp giải:
Chú ý thời điểm bài báo đăng
Lời giải chi tiết:
Căn cứ vào thông tin thời điểm bài báo đăng (24/07/2021) để xác định tháng 10 tới là tháng 10 năm 2021
→ Đáp án A
Câu 9: Văn bản Thực vật và cánh đồng vaccine truyền đi thông điệp nào? Em hãy vẽ sơ đồ thể hiện nội dung, mục đích của văn bản Thực vật và cánh đồng vaccine (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Rút ra nội dung, mục đích của văn bản và vẽ sơ đồ
Lời giải chi tiết:
Thông điệp văn bản:
- Hãy nghiên cứu, sử dụng vaccine có nguồn gốc thực vật cho con người
- Vaccine có nguồn gốc thực vật ít tốn kém và dễ nhân rộng, tiện sử dụng cho các quốc gia kém phát triển
Câu 10: Hai bức ảnh trên minh họa cho nội dung nào trong quá trình nghiên cứu vaccine có nguồn gốc thực vật? Em hãy giới thiệu 2 ví dụ nghiên cứu về vaccine ở Việt Nam (1đ)
Phương pháp giải:
Quan sát kĩ hai bức ảnh
Dựa vào tìm hiểu và kiến thức của bản thân để giới thiệu ví dụ
Lời giải chi tiết:
- Hai bức ảnh: Giúp người đọc quan sát cụ thể một số quá trình nghiên cứu và sản xuất vaccine có nguồn gốc từ thực vật
- Ví dụ ở Việt Nam:
+ GS.TS. Huỳnh Thị Phương Liên: quy trình công nghệ sản xuất vaccine VNNB bất hoạt trên tế bào vero trong 6 năm
+ GS. TSKH. Nguyễn Thu Vân, Chủ nhiệm Ban Chủ nhiệm Chương trình sản phẩm quốc gia vaccine sử dụng cho người, nguyên giám đốc Công ty TNHH một thành viên Vaccine và sinh phẩm số 1 (VABIOTECH)
PHẦN II. VIẾT
Câu 1: Đọc 2 ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi a,b
a. Xác định điểm chung của 2 văn bản, mục đích của từng văn bản trên
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai văn bản và rút ra mục đích của từng văn bản
Lời giải chi tiết:
- Điểm chung: cùng viết về các nhà khoa học nữ nghiên cứu về vaccine
- Mục đích:
+ Văn bản 1: Thông tin về quá trình nghiên cứu đầy nỗ lực và khó khăn của nhà khoa học Sarah Gilbert và cộng sự để sản xuất vaccine phòng Covid -19
+ Văn bản 2: Thông tin về Giáo sư Huỳnh Thị Phương Liên và các cộng sự đã tự nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất vaccine VNNB bất hoạt trên tế bào vero, ngang với một số quốc gia trên thế giới (Áo, Nhật)
b. Đặt tên cho từng văn bản
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai văn bản và rút ra nội dung chính của từng văn bản
Lời giải chi tiết:
- HS tự đặt tên (bám sát vào nội dung văn bản, tên ngắn gọn)
- Tham khảo gợi ý sau:
+ Văn bản 1: Sarah Gilbert và vaccine phòng Covid – 19
+ Văn bản 2: Vaccine VNNB bất hoạt trên tế bào vero của Việt Nam
Câu 2: Viết bài văn
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài luận thể hiện suy nghĩ của em về khả năng và những đóng góp của các nhà khoa học nữ Việt Nam nói riêng, của thế giới nói chung đối với cộng đồng và nhân loại |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0.25 |
- Nêu luận đề - Nêu thái độ, quan điểm cá nhân |
|
Thân bài |
2.0 |
Gồm các ý chính (từ 2 luận điểm trở lên) - Sự tận tâm trong nghiên cứu (gắn với từng hoàn cảnh, đối tượng cụ thể): Ý kiến, lí lẽ, dẫn chứng - Vượt qua cản trở của giới, thực tiễn (gắn với từng hoàn cảnh, đối tượng cụ thể): Ý kiến, lí lẽ, dẫn chứng - Đánh giá những đóng góp của nhà khoa học nữ với cộng đồng, đất nước, nhân loại (lí lẽ, dẫn chứng, yếu tố biểu cảm) |
|
Kết bài |
0.5 |
- Khẳng định vai trò của các nhà khoa học: đi đầu trong lĩnh vực phát minh,… - Thái độ, tình cảm của người viết đối với các nhà khoa học nữ (yếu tố biểu cảm) |
|
Yêu cầu khác |
0.25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Suy luận logic, phù hợp với văn hóa dân tộc, nhân loại,… |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Hs đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi kế tiếp:
THỰC VẬT VÀ CÁNH ĐỒNG VACCINE
(Yên Lam)
24/07/2021 17:05 GMT+7
Thực vật có thể trở thành nhà máy sản xuất vaccine ít tốn kém và dễ nhân rộng so với mô hình đắt đỏ và phức tạp hiện tại. Giới khoa học đã theo đuổi giấc mơ này trong nhiều năm qua, và quá trình nghiên cứu đã nóng trở lại từ khi có COVID – 19


Hình ảnh: Internet
Việc sản xuất vaccine thông thường rất phức tạp, tốn kém và chỉ có một vài nước mới đủ nhân lực, vật lực và công nghệ để sản xuất. Việc vận chuyển, phân phối vaccine đến những nơi có hạ tầng kém cũng đầy rào cản. “Nhiều nhà khoa học tin rằng giải pháp cho vấn đề này chính là sử dụng thực vật để tạo vaccine” – Tạp chí National Geographic ngày 8-7 viết.
Theo bài viết “Vaccine sau này có thể được trồng ở nông trại thuốc lá” trên National Geographic, công nghệ làm vaccine từ thực vật không mới; bằng chứng khả thi của việc này đã có từ khoảng 30 năm trước, khi các nhà khoa học dùng khoai tây, gạo, cải bó xôi, bắp và các loại cây khác để làm vaccine ngừa sốt xuất huyết, bại liệt, sốt rét và bệnh dịch hạch. Chỉ có điều, không có công trình nghiên cứu nào trong số này tiến xa đến khâu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn cuối. Theo chuyên gia nghiên cứu công nghệ sinh học Kathleen Hefferon, hiện là Giáo sư Vi sinh vật học tại Đại học Cornell, nguyên nhân có thể là do thiếu khung pháp lý cho dược phẩm có nguồn gốc thực vật hoặc sự nghi ngại trong việc đầu tư vào các công nghệ sinh học mới nổi.
Tình hình những năm gần đây đã khác. Nhiều trường đại học, start – up công nghệ sinh học và chính phủ đã phối hợp với nhau và rót tiền vào để mở rộng lĩnh vực này. Chính phủ Hàn Quốc đã đầu tư 13,5 tỉ USD cho nghiên cứu vaccine từ thực vật, và cơ sở chế tạo đầu tiên của nước này dự kiến sẽ mở cửa vào tháng 10 tới. Theo National Geographic, thị trường vaccine từ thực vật được dự báo sẽ tăng từ 40 triệu USD hiện nay lên 600 triệu USD trong vòng 7 năm tới.
Năm 2006, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ phê chuẩn một loại vaccine có nguồn gốc thực vật để ngừa bệnh Newcastle trên gia cầm. Tuy vẫn chưa có loại vaccine dựa trên thực vật nào được phê chuẩn để dùng cho người, nhiều dự án đang tiếp tục đầy triển vọng.
Tháng 12-2020, Kentucky BioProcessing, công ty công nghệ sinh học đóng tại Mỹ của Hãng thuốc lá BAT (Anh), loan báo vaccine dựa trên thực vật ngừa COVID – 19 của hãng này đã bước vào thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1. Cách đó 1 tháng, Công ty Icon Genetics (Nhật) cũng bắt đầu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 với vaccine có nguồn gốc thực vật để ngừa norovirus (virus dạ dày và ruột).
Tiến xa nhất là vaccine có nguồn gốc thực vật ngừa COVID – 19 của Công ty công nghệ sinh học Medicago (Canada), hiện đang thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3. Medicago cho biết vaccine ngừa COVID – 19 sử dụng công nghệ VLP (virus- like particle, phần tử giống virus nhưng không gây nhiễm bệnh), chứa VLP giống SARS – CoV – 2, kết hợp với tá chất của GSK để kích thích hệ miễn dịch. Vaccine ngừa cúm từ nguồn thực vật của hãng này cũng đã hoàn tất các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng và đang chờ phê chuẩn cuối cùng từ Chính phủ Canada, theo giám đốc y tế Công ty Brian Ward.
Hefferon cho rằng những thành công nói trên mở toang cánh cửa cho các bước tiến triển khác trong việc phát triển vaccine từ thực vật. “Ngành sản xuất vaccine từ thực vật phát triển chậm mà chắc. Chúng ta đã đạt đến giai đoạn mà việc tạo ra vaccine ngừa COVID – 19 hoàn toàn khả thi và có thể làm được nhanh chóng… có thể tạo ra hàng chục triệu liều vaccine trong vòng 6 tháng tới hay khoảng đó”. […]
(rg.link/0Dcpan-)
Câu 1: Văn bản cung cấp cho người đọc thông tin về lĩnh vực nào sau đây?
A. Vận dụng công nghệ để tạo vaccine
B. Nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine
C. Vận dụng công nghệ để cải tạo môi trường
D. Vận dụng hóa học, công nghệ để phát triển cây trồng
Câu 2: Nhan đề của văn bản cung cấp cho người đọc những thông tin nào?
A. Hiệu quả nghiên cứu
B. Thông tin chính của toàn văn bản
C. Chuyên ngành nghiên cứu
D. Phạm vi nghiên cứu
Câu 3: Sử dụng thực vật để tạo vaccine có phải nghiên cứu mới không? Vì sao?
A. Không. Bởi vấn đề này đã có từ khoảng 30 năm trước, khi các nhà khoa học dùng khoai tây, gạo, cải bó xôi, bắp và các loại cây khác để làm vaccine ngừa một số bệnh
B. Không. Bởi đông y đã dùng cỏ cây chữa bệnh từ hàng ngàn năm trước
C. Không. Bởi các nhà khoa học dùng khoai tây, gạo, cải bó xôi, bắp và các loại cây khác để làm vaccine ngừa một số bệnh
D. Không. Bởi châu Á đã biết dùng thực phẩm để chữa bệnh từ thế kỉ 19
Câu 4: Vì sao nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine chưa được chú ý ngay từ khi mới xuất hiện?
A. Các nhà đầu tư chưa tin tưởng vào các công nghệ sinh học mới nổi
B. Có thể là do thiếu khung pháp lý cho dược phẩm có nguồn gốc thực vật hoặc sự nghi ngại trong việc đầu tư vào các công nghệ sinh học mới nổi
C. Nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine chưa đến khâu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn cuối
D. Kinh phí thử nghiệm quá cao, quá tốn kém
Câu 5: Dòng nào nói lên việc nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine ở hiện tại?
A. Chính phủ Hàn Quốc đã đầu tư 13,5 tỉ USD cho nghiên cứu vaccine từ thực vật, và cơ sở chế tạo đầu tiên của nước này dự kiến sẽ mở cửa vào tháng 10 tới
B. Công ty công nghệ sinh học Medicago (Canada), hiện đang thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3
C. Nhiều chính phủ, công ty trong lĩnh vực công nghệ sinh học đã rót vốn, phê chuẩn nghiên cứu và thực nghiệm lâm sàng sử dụng thực vật để tạo vaccine
D. Công ty công nghệ sinh học đóng tại Mỹ của Hãng thuốc lá BAT (Anh), loan báo vaccine dựa trên thực vật ngừa COVID – 19 của hãng này đã bước vào thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1
Câu 6: Vì sao tác giả dùng từ “loan báo” trong thông tin về Công ty công nghệ sinh học đóng tại Mỹ của Hãng thuốc lá BAT (Anh)?
A. Vì chưa có thông báo chính thức từ cơ quan, tổ chức chính thống
B. Vì không có mối quan hệ với Công ty công nghệ sinh học đóng tại Mỹ của hãng thuốc lá BAT (Anh)
C. Vì không tin tưởng luồng tin về Công ty công nghệ sinh học đóng tại Mỹ của Hãng thuốc lá BAT (Anh)
D. Vì chỉ thông tin từ tầm quốc gia mới có giá trị
Câu 7: Căn cứ nào để tác giả khẳng định: Công ty công nghệ sinh học Medicago (Canada) tiến xa nhất trong nghiên cứu vaccine có nguồn gốc thực vật?
A. Đang thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 và khả năng kết hợp các tá chất để miễn dịch, giai đoạn hoàn tất, phê duyệt để sử dụng vaccine có nguồn gốc thực vật
B. Công ty cho biết vaccine ngừa COVID – 19 sử dụng công nghệ VLP chứa VLP giống SARS – CoV-2, kết hợp với tá chất của GSK để kích thích hệ miễn dịch
C. Vaccine ngừa cúm từ nguồn thực vật của hãng này cũng đã hoàn tất các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng
D. Đang chờ phê chuẩn cuối cùng từ Chính phủ Canada, theo giám đốc y tế Công ty Brian Ward
Câu 8: Dòng nào nói lên mục đích của văn bản Thực vật và cánh đồng vaccine?
A. Cung cấp thông tin: về khả năng kết hợp các tá chất để miễn dịch trong nghiên cứu vaccine có nguồn gốc thực vật
B. Cung cấp thông tin: vaccine ngừa COVID – 19 sử dụng công nghệ VLP chứa VLP giống SARS – CoV- 2, kết hợp với tá chất của GSK để kích thích hệ miễn dịch.
C. Chính phủ Hàn Quốc đã đầu tư 13,5 tỉ USD cho nghiên cứu vaccine từ thực vật, và cơ sở chế tạo đầu tiên của nước này dự kiến sẽ mở cửa vào tháng 10 tới
D. Cung cấp thông tin về tình hình nghiên cứu vaccine có nguồn gốc thực vật trên thế giới
Câu 9: Văn bản Thực vật và cánh đồng vaccine truyền đi thông điệp nào? Em hãy vẽ sơ đồ thể hiện nội dung, mục đích của văn bản Thực vật và cánh đồng vaccine (1đ)
Câu 10: Hai bức ảnh trên minh họa cho nội dung nào trong quá trình nghiên cứu vaccine có nguồn gốc thực vật? Em hãy giới thiệu 2 ví dụ nghiên cứu về vaccine ở Việt Nam (1đ)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Đọc 2 ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)
|
Văn bản 1 Đầu năm 2020, khi nhận được dữ liệu đầu tiên về cấu trúc gene của virus đang gây dịch viêm phổi tại Vũ Hán, nhóm của Sarah Gilbert đã ngay lập tức nghĩ tới việc tạo ra vaccine. Bà cùng một nữ giáo sư khác ở Oxford, Teresa Lambe và cộng sự trong nhóm làm việc liên tục để thiết kế vaccine. Vaccine chống Covid-19 (được đặt tên là ChAdOxl nCoV-19) được thiết kế từ một virus gây ra cảm cúm trên tinh tinh đã được làm yếu, chứa đoạn mã gai của virus corona để “đóng giả” virus Sars-CoV-2 (mà chúng ta vẫn gọi tắt là Covid-19) giúp cơ thể tạo ra kháng thể tiêu diệt virus này. Tại thời điểm đó, họ chưa có đủ thông tin rằng loại virus mới có thể lây lan nhanh ra sao, nhưng Sarah Gilbert lại nhìn thấy khả năng phát triển vaccine với tốc độ nhanh chóng và lên kế hoạch thử nghiệm lâm sàng. Nhưng kinh phí đâu ra để thử nghiệm lâm sàng, một việc vô cùng tốn kém và mất thời gian? Đây là vấn đề hóc búa được đặt ra. Sarah Gilbert đã tích cực thuyết phục các đề tài khác trợ giúp kinh phí, kêu gọi chính phủ tài trợ và cả nhóm đã vui mừng trước tin tức tốt lành rằng Chính phủ Anh sẽ hỗ trợ kinh phí (22 triệu bảng Anh) thử nghiệm và sản xuất loại vaccine này. (https://by.com.vn/6601Y) |
Văn bản 2 Cuối năm 2005, WHO khuyến cáo các nước cần chuyển sản xuất vắc-xin VNNB từ não chuột sang vắc-xin VNNB bất hoạt trên tế bào vero. Từ năm 2006, GS.TS. Huỳnh Thị Phương Liên đã bắt đầu nghiên cứu vắc-xin công nghệ mới VNNB thế hệ 2. Giáo sư và các cộng sự đã tự nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất vắc-xin VNNB bất hoạt trên tế bào vero trong năm 6 năm (2006-2011), thực hiện lâm sàng trên người 6 năm (2013- 2018), hoàn thành thử nghiệm trên người (1.140 đối tượng) đạt tính an toàn cao, dung nạp tốt trên người lớn và trẻ em 9-24 tháng tuổi. Công cuộc nghiên cứu thành công, đã hoàn thiện quy trình công nghệ, vắc-xin JECEVAX đạt chất lượng về tính an toàn, dung nạp tốt trên trẻ em và đáp ứng miễn dịch 99,6 - 100% không thua kém các vắc-xin cùng loại của các nhà sản xuất quốc tế như Intercell Áo, Nhật Bản (Thời gian nghiên cứu cũng trên 10 năm). Công trình nghiên cứu đã được nghiệm thu cấp Nhà nước tháng 1/2019. Việt Nam là nước thứ 4 có công nghệ vắc-xin VNNB bất hoạt sản xuất trên tế bào vero. Hiện đang hoàn thiện hồ sơ để xin cấp phép của Cục Dược, Bộ Y tế và triển vọng vào năm 2021 sẽ được sản xuất mở rộng để có vắc- xin phòng bệnh cho nhân dân. (https://by.com.vn/XirTG) |
a. Xác định điểm chung của 2 văn bản, mục đích của từng văn bản trên
b. Đặt tên cho từng văn bản
Câu 2: Viết bài luận thể hiện suy nghĩ của em về khả năng và những đóng góp của các nhà khoa học nữ của Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung đối với cộng đồng và nhân loại (3đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 2
Phần I. ĐỌC HIỂU

|
Câu 1: Văn bản cung cấp cho người đọc thông tin về lĩnh vực nào sau đây? A. Vận dụng công nghệ để tạo vaccine B. Nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine C. Vận dụng công nghệ để cải tạo môi trường D. Vận dụng hóa học, công nghệ để phát triển cây trồng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Văn bản cung cấp cho người đọc thông tin về lĩnh vực nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine
→ Đáp án B
|
Câu 2: Nhan đề của văn bản cung cấp cho người đọc những thông tin nào? A. Hiệu quả nghiên cứu B. Thông tin chính của toàn văn bản C. Chuyên ngành nghiên cứu D. Phạm vi nghiên cứu |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhan đề và rút ra kết luận về thông tin nhan đề cung cấp cho người đọc
Lời giải chi tiết:
Nhan đề của văn bản cung cấp cho người đọc những thông tin về chuyên ngành nghiên cứu vaccine (từ thực vật)
→ Đáp án C
|
Câu 3: Sử dụng thực vật để tạo vaccine có phải nghiên cứu mới không? Vì sao? A. Không. Bởi vấn đề này đã có từ khoảng 30 năm trước, khi các nhà khoa học dùng khoai tây, gạo, cải bó xôi, bắp và các loại cây khác để làm vaccine ngừa một số bệnh B. Không. Bởi đông y đã dùng cỏ cây chữa bệnh từ hàng ngàn năm trước C. Không. Bởi các nhà khoa học dùng khoai tây, gạo, cải bó xôi, bắp và các loại cây khác để làm vaccine ngừa một số bệnh D. Không. Bởi châu Á đã biết dùng thực phẩm để chữa bệnh từ thế kỉ 19 |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 3
Lời giải chi tiết:
Theo bài viết “ Vaccine sau này có thể được trồng ở nông trại thuốc lá” trên National Geographic, công nghệ làm vaccine từ thực vật không mới; bằng chứng khả thi của việc này đã có từ khoảng 30 năm trước, khi các nhà khoa học dùng khoai tây, gạo, cải bó xôi, bắp và các loại cây khác để làm vaccine ngừa sốt xuất huyết, bại liệt, sốt rét và bệnh dịch hạch.
→ Đáp án A
|
Câu 4: Vì sao nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine chưa được chú ý ngay từ khi mới xuất hiện? A. Các nhà đầu tư chưa tin tưởng vào các công nghệ sinh học mới nổi B. Có thể là do thiếu khung pháp lý cho dược phẩm có nguồn gốc thực vật hoặc sự nghi ngại trong việc đầu tư vào các công nghệ sinh học mới nổi C. Nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine chưa đến khâu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn cuối D. Kinh phí thử nghiệm quá cao, quá tốn kém |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 3
Lời giải chi tiết:
Theo chuyên gia nghiên cứu công nghệ sinh học Kathleen Hefferon, hiện là Giáo sư Vi sinh vật học tại Đại học Cornell, nguyên nhân có thể là do thiếu khung pháp lý cho dược phẩm có nguồn gốc thực vật hoặc sự nghi ngại trong việc đầu tư vào các công nghệ sinh học mới nổi.
→ Đáp án B
|
Câu 5: Dòng nào nói lên việc nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine ở hiện tại? A. Chính phủ Hàn Quốc đã đầu tư 13,5 tỉ USD cho nghiên cứu vaccine từ thực vật, và cơ sở chế tạo đầu tiên của nước này dự kiến sẽ mở cửa vào tháng 10 tới B. Công ty công nghệ sinh học Medicago (Canada), hiện đang thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 C. Nhiều chính phủ, công ty trong lĩnh vực công nghệ sinh học đã rót vốn, phê chuẩn nghiên cứu và thực nghiệm lâm sàng sử dụng thực vật để tạo vaccine D. Công ty công nghệ sinh học đóng tại Mỹ của Hãng thuốc lá BAT (Anh), loan báo vaccine dựa trên thực vật ngừa COVID – 19 của hãng này đã bước vào thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đề bài và các đáp án
Lời giải chi tiết:
Đáp án nói lên việc nghiên cứu sử dụng thực vật để tạo vaccine ở hiện tại: Nhiều chính phủ, công ty trong lĩnh vực công nghệ sinh học đã rót vốn, phê chuẩn nghiên cứu và thực nghiệm lâm sàng sử dụng thực vật để tạo vaccine
→ Đáp án C
|
Câu 6: Vì sao tác giả dùng từ “loan báo” trong thông tin về Công ty công nghệ sinh học đóng tại Mỹ của Hãng thuốc lá BAT (Anh)? A. Vì chưa có thông báo chính thức từ cơ quan, tổ chức chính thống B. Vì không có mối quan hệ với Công ty công nghệ sinh học đóng tại Mỹ của hãng thuốc lá BAT (Anh) C. Vì không tin tưởng luồng tin về Công ty công nghệ sinh học đóng tại Mỹ của Hãng thuốc lá BAT (Anh) D. Vì chỉ thông tin từ tầm quốc gia mới có giá trị |
Phương pháp giải:
Phân tích nghĩa của từ “loan báo” và đặt vào ngữ cảnh của văn bản
Lời giải chi tiết:
Loan báo: truyền rộng thông tin cho mọi người biết
Tác giả dùng từ “loan báo” vì: chưa có thông báo chính thức từ cơ quan, tổ chức chính thống
→ Đáp án A
|
Câu 7: Căn cứ nào để tác giả khẳng định: Công ty công nghệ sinh học Medicago (Canada) tiến xa nhất trong nghiên cứu vaccine có nguồn gốc thực vật? A. Đang thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 và khả năng kết hợp các tá chất để miễn dịch, giai đoạn hoàn tất, phê duyệt để sử dụng vaccine có nguồn gốc thực vật B. Công ty cho biết vaccine ngừa COVID – 19 sử dụng công nghệ VLP chứa VLP giống SARS – CoV-2, kết hợp với tá chất của GSK để kích thích hệ miễn dịch C. Vaccine ngừa cúm từ nguồn thực vật của hãng này cũng đã hoàn tất các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng D. Đang chờ phê chuẩn cuối cùng từ Chính phủ Canada, theo giám đốc y tế Công ty Brian Ward |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 7
Lời giải chi tiết:
Công ty công nghệ sinh học Medicago (Canada) tiến xa nhất trong nghiên cứu vaccine có nguồn gốc thực vật vì: Đang thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 và khả năng kết hợp các tá chất để miễn dịch, giai đoạn hoàn tất, phê duyệt để sử dụng vaccine có nguồn gốc thực vật
→ Đáp án A
|
Câu 8: Dòng nào nói lên mục đích của văn bản Thực vật và cánh đồng vaccine? A. Cung cấp thông tin: về khả năng kết hợp các tá chất để miễn dịch trong nghiên cứu vaccine có nguồn gốc thực vật B. Cung cấp thông tin: vaccine ngừa COVID – 19 sử dụng công nghệ VLP chứa VLP giống SARS – CoV- 2, kết hợp với tá chất của GSK để kích thích hệ miễn dịch. C. Chính phủ Hàn Quốc đã đầu tư 13,5 tỉ USD cho nghiên cứu vaccine từ thực vật, và cơ sở chế tạo đầu tiên của nước này dự kiến sẽ mở cửa vào tháng 10 tới D. Cung cấp thông tin về tình hình nghiên cứu vaccine có nguồn gốc thực vật trên thế giới |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và rút ra mục đích của văn bản
Lời giải chi tiết:
Mục đích của văn bản: Cung cấp thông tin về tình hình nghiên cứu vaccine có nguồn gốc thực vật trên thế giới
→ Đáp án D
Câu 9: Văn bản Thực vật và cánh đồng vaccine truyền đi thông điệp nào? Em hãy vẽ sơ đồ thể hiện nội dung, mục đích của văn bản Thực vật và cánh đồng vaccine (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Rút ra nội dung, mục đích của văn bản và vẽ sơ đồ
Lời giải chi tiết:
Thông điệp văn bản:
- Hãy nghiên cứu, sử dụng vaccine có nguồn gốc thực vật cho con người
- Vaccine có nguồn gốc thực vật ít tốn kém và dễ nhân rộng, tiện sử dụng cho các quốc gia kém phát triển
Câu 10: Hai bức ảnh trên minh họa cho nội dung nào trong quá trình nghiên cứu vaccine có nguồn gốc thực vật? Em hãy giới thiệu 2 ví dụ nghiên cứu về vaccine ở Việt Nam (1đ)
Phương pháp giải:
Quan sát kĩ hai bức ảnh
Dựa vào tìm hiểu và kiến thức của bản thân để giới thiệu ví dụ
Lời giải chi tiết:
- Hai bức ảnh: Giúp người đọc quan sát cụ thể một số quá trình nghiên cứu và sản xuất vaccine có nguồn gốc từ thực vật
- Ví dụ ở Việt Nam:
+ GS.TS. Huỳnh Thị Phương Liên: quy trình công nghệ sản xuất vaccine VNNB bất hoạt trên tế bào vero trong 6 năm
+ GS. TSKH. Nguyễn Thu Vân, Chủ nhiệm Ban Chủ nhiệm Chương trình sản phẩm quốc gia vaccine sử dụng cho người, nguyên giám đốc Công ty TNHH một thành viên Vaccine và sinh phẩm số 1 (VABIOTECH)
PHẦN II. VIẾT
Câu 1: Đọc 2 ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi a,b
a. Xác định điểm chung của 2 văn bản, mục đích của từng văn bản trên
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai văn bản và rút ra mục đích của từng văn bản
Lời giải chi tiết:
- Điểm chung: cùng viết về các nhà khoa học nữ nghiên cứu về vaccine
- Mục đích:
+ Văn bản 1: Thông tin về quá trình nghiên cứu đầy nỗ lực và khó khăn của nhà khoa học Sarah Gilbert và cộng sự để sản xuất vaccine phòng Covid -19
+ Văn bản 2: Thông tin về Giáo sư Huỳnh Thị Phương Liên và các cộng sự đã tự nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất vaccine VNNB bất hoạt trên tế bào vero, ngang với một số quốc gia trên thế giới (Áo, Nhật)
b. Đặt tên cho từng văn bản
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai văn bản và rút ra nội dung chính của từng văn bản
Lời giải chi tiết:
- HS tự đặt tên (bám sát vào nội dung văn bản, tên ngắn gọn)
- Tham khảo gợi ý sau:
+ Văn bản 1: Sarah Gilbert và vaccine phòng Covid – 19
+ Văn bản 2: Vaccine VNNB bất hoạt trên tế bào vero của Việt Nam
Câu 2: Viết bài văn
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài luận thể hiện suy nghĩ của em về khả năng và những đóng góp của các nhà khoa học nữ Việt Nam nói riêng, của thế giới nói chung đối với cộng đồng và nhân loại |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0.25 |
- Nêu luận đề - Nêu thái độ, quan điểm cá nhân |
|
Thân bài |
2.0 |
Gồm các ý chính (từ 2 luận điểm trở lên) - Sự tận tâm trong nghiên cứu (gắn với từng hoàn cảnh, đối tượng cụ thể): Ý kiến, lí lẽ, dẫn chứng - Vượt qua cản trở của giới, thực tiễn (gắn với từng hoàn cảnh, đối tượng cụ thể): Ý kiến, lí lẽ, dẫn chứng - Đánh giá những đóng góp của nhà khoa học nữ với cộng đồng, đất nước, nhân loại (lí lẽ, dẫn chứng, yếu tố biểu cảm) |
|
Kết bài |
0.5 |
- Khẳng định vai trò của các nhà khoa học: đi đầu trong lĩnh vực phát minh,… - Thái độ, tình cảm của người viết đối với các nhà khoa học nữ (yếu tố biểu cảm) |
|
Yêu cầu khác |
0.25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Suy luận logic, phù hợp với văn hóa dân tộc, nhân loại,… |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Hs đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi kế tiếp:
CHỈNH SỬA GENE VẬT NUÔI, THỊT NÀY NUỐT CÓ XUÔI
(Lê My)
Mâm thịt của tương lại sẽ có gì? Trong những hướng nghiên cứu mà giới khoa học dày công theo đuổi bấy lâu nay, thịt lấy từ vật nuôi chỉnh sửa gene là giải pháp gây nhiều tranh cãi dù nó được trao cho một mục đích tốt đẹp: tăng phúc lợi động vật và tốt cho môi trường.
Mỗi năm, hàng triệu con gà bị tiêu hủy sống vì nhiễm virus cúm gia cầm. Vắc xin ngừa cúm gia cầm tuy đã có nhưng vẫn chưa thể bảo vệ hoàn toàn những đàn gà khỏe mạnh, chưa kể virus có thể đột biến và kháng vắc xin. Còn một nguy cơ đáng sợ hơn: virus cúm gia cầm có thể lây sang người và gây thêm ít nhất một đại dịch. Vì vậy, các nhà khoa học đang nghiên cứu một giải pháp lâu bền hơn: chỉnh sửa AND của gia cầm để ngăn virus bám vào tế bào và nhân bản, lợi gà mà cũng lợi người. […]
Thuận tự nhiên không?


“Chỉnh sửa gene” (gene editing) thường được gộp chung nhóm với “biến đổi gene” (gene modification, GM) – một công nghệ vốn đã gây ồn ào và chia rẽ từ những năm 1990. Ở Mỹ chẳng hạn, hầu hết đậu nành và ngô được canh tác là hàng GM để tối đa hóa sản lượng. Nhưng với liên minh châu Âu (EU), cây trồng lẫn vật nuôi GM hầu như không có “đất sống” vì những quy định nghiêm ngặt do lo ngại những ảnh hưởng ngoài ý muốn lên môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Giờ đây, một số nhóm vận động nói rằng chỉnh sửa gene cũng tiềm ẩn những rủi ro tương tự. Tổ chức Greenpeace đã lên tiếng cảnh báo hồi đầu năm 2021: Việc sử dụng các công nghệ chỉnh sửa gene “rất có thể sẽ biến cả thiên nhiên và bản thân chúng ta (thông qua thực phẩm chúng ta ăn) thành một màn thí nghiệm kỹ thuậ gene khổng lồ với những hệ quả chưa biết được và có khi chẳng thể nào đảo ngược”.
Trong kỹ thuật GM, gene từ sinh vật này sẽ được chuyển sang sinh vật khác theo ý đồ của người nghiên cứu. Ví dụ ở loại ngô “Bt” có khả năng tự kháng côn trùng nhờ được cấy vật chất di truyền của loài vi khuẩn Bacillus thuringiensis vào tế bào ở giai đoạn phôi.
Trong khi đó, chỉnh sửa gene hoạt động trong khuôn khổ gene của sinh vật, không vay mượn bên ngoài. Kỹ thuật mới này cho phép các nhà khoa học thêm, bớt hoặc thay đổi AND của sinh vật ở những vị trí họ mong muốn. “Ngôi sao” của chỉnh sửa gene là công cụ CRISPR được phát triển vào năm 2012 (hai “mẹ đẻ” của nó đã nhận giải Nobel hóa học năm 2020). Có thể xem CRISPR như một cây kéo ở cấp độ phân tử dùng để cắt tỉa AND.
[…] Tách bạch 2 công nghệ “chỉnh sửa” và “biến đổi” gene có vai trò quan trọng trong việc mở đường cho việc nghiên cứu chỉnh sửa gene vật nuôi. Quan điểm không xếp “vật nuôi chỉnh sửa gene” vào nhóm “sinh vật biến đổi gene” đồng nghĩa với việc gỡ bỏ các quy định vốn dành cho công nghệ GM khỏi các dự án về chỉnh sửa gene. Một số quốc gia như Mỹ, Úc và Nhật Bản đã chọn hướng tiếp cận tương đối “dễ chịu” này. Trong khi đó, theo luật của EU, các “sinh vật chỉnh sửa gene” được đối xử như các sinh vật GM truyền thống và phải tuân theo các quy định nghiêm ngặt hơn.
Khi còn trong cảnh “đồng sàng dị mộng” tiền Brexit năm 2019, Thủ tướng Boris Johnson đã hứa sẽ “giải phóng lĩnh vực sinh học phi thường của Vương quốc Anh khỏi các điều luật chống biến đổi gene” của EU. Hậu Brexit, tháng 9-2021 Chính phủ Anh tuyên bố sẽ soạn ra các điều luật mở đường cho một số hoạt động chỉnh sửa gene trong chăn nuôi
Ý tốt của một loài ăn thịt
Bộ trưởng Môi trường Anh George Eustice cho rằng chỉnh sửa gene làm giảm “mối bận tâm về mặt đạo đức hoặc sinh học” nhiều hơn kỹ thuật GM, và tăng “sự tôn trọng các quy luật của thiên nhiên”. Phe ủng hộ còn tin rằng việc chỉnh sửa gene có thể giải quyết một số vấn đề lớn trong việc tiêu thụ thịt và chăn nuôi hiện nay: thực phẩm lành mạnh hơn, nhu cầu sử dụng kháng sinh thấp hơn và phúc lợi động vật tốt hơn. Lại lấy lũ gà làm ví dụ. Một khi thế giới “chỉnh sửa” thành công những giống gà khỏe mạnh, người chăn nuôi sẽ vứt bớt những nỗi lo dịch bệnh triền miên và sẽ không cần “tắm” cả trại gà trong thuốc kháng sinh như hiện nay. Khi đó, người tiêu dùng sẽ có những quầy thịt “sạch” và an toàn hơn, không còn bận tâm về dư lượng thuốc kháng sinh trong thịt gà nữa. Ở một góc nhìn rộng hơn, chúng ta có thể hy vọng giải quyết được vấn đề kháng kháng sinh ở người và vật nuôi, và giảm các bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người. […]
(https://by.com.vn/5amQW)
Câu 1: Văn bản cung cấp cho người đọc thông tin về lĩnh vực nào sau đây?
A. Vận dụng công nghệ tạo ra vaccine
B. Công nghệ sinh học
C. Vận dụng công nghệ để cải tạo môi trường
D. Vận dụng hóa học, công nghệ để phát triển cây trồng
Câu 2: Nhan đề của văn bản cung cấp cho người đọc thông tin nào?
A. Hiệu quả nghiên cứu
B. Thông tin chính của toàn văn bản
C. Nội dung chính sẽ đề cập trong văn bản, thái độ trước nội dung đó
D. Phạm vi nghiên cứu
Câu 3: Tác giả sử dụng hình thức, yếu tố nào để người đọc dễ nắm bắt thông tin?
A. Các đoạn văn đứng độc lập
B. Sapo, số liệu, hình ảnh, tiêu đề, đoạn in đậm
C. Nhiều số liệu, biểu bảng
D. Hình ảnh đi kèm thông số khoa học
Câu 4: Đoạn sapo cung cấp cho người đọc thông tin nào sau đây?
A. Nội dung tóm tắt của toàn văn bản
B. Quá trình nghiên cứu vật nuôi chỉnh sửa gene
C. Các góc nhìn về thịt lấy từ vật nuôi chỉnh sửa gene
D. Sự cần thiết của việc chỉnh sửa gene trong nông nghiệp
Câu 5: Dòng nào nói lên cách đặt nhan đề của văn bản Chỉnh sửa gene vật nuôi, thịt này nuốt có xuôi?
A. Dạng câu hỏi, vừa chứa thông tin đề tài vừa thể hiện được dư luận về đề tài đó
B. Dạng câu hỏi thể hiện sự hoài nghi của dư luận về đề tài của văn bản
C. Câu hỏi thể hiện sự băn khoăn của tác giả về đề tài
D. Câu hỏi để gợi sự đối thoại, tương tác với độc giả
Câu 6: Dòng nào nói lên mục đích của đoạn văn bản từ “Mỗi năm, hàng triệu” đến “lợi gà mà cũng lợi người”?
A. Phản ánh hiện thực đã cạn kiệt nguồn vaccine phòng chống cho gia cầm
B. Nguyên nhân khiến các nhà khoa học đang nghiên cứu một giải pháp lâu bền hơn: chỉnh sửa ADN của gia cầm
C. Khẳng định: Vaccine ngừa cúm gia cầm chưa thể bảo vệ được đàn gà khỏe mạnh
D. Khẳng định: virus cúm gia cầm lây sang người và gây thêm một đại dịch
Câu 7: Chỉnh sửa AND của gia cầm có lợi ích gì?
A. Để tạo ra những con gà công nghiệp tạm gọi là “thừa cân”
B. Để người nuôi những giống gà khỏe mạnh bớt những nỗi lo dịch bệnh triền miên
C. Để ngăn virus bám vào tế bào và nhân bản, lợi gà mà cũng lợi người
D. Để phát triển công nghệ “Chỉnh sửa gene” (gene editing) và “biến đổi gene”
Câu 8: Dòng nào không nói lên nỗi lo của con người về “chỉnh sửa gene” và “biến đổi gene”?
A. Thuận tự nhiên không?
B. Lo ngại những ảnh hưởng ngoài ý muốn lên môi trường và sức khỏe cộng đồng
C. “rất có thể sẽ biến cả thiên nhiên và bản thân chúng ta thành một màn thí nghiệm kỹ thuật gene khổng lồ với những hệ quả chưa biết được
D. Nhưng với Mỹ, cây trồng lẫn vật nuôi GM hầu như không có “đất sống”
Câu 9: Phân tích vai trò, tác dụng của hai ảnh minh họa trong bài viết (1đ)
Câu 10: Phân tích thái độ, quan điểm, cách thể hiện của tác giả trong đoạn cuối văn bản – Ý tốt của một loài ăn thịt (1đ)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Em hãy trình bày thái độ và quan điểm của mình về công nghệ chỉnh sửa gene trên vật nuôi (đoạn văn dài 6-8 dòng) (1đ)
Câu 2: Chuyển thông tin ở văn bản đọc sang bản tin infographic trong khuôn khổ một trang giấy thi/ trang giấy A4 (3đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 3
Phần I. ĐỌC HIỂU

|
Câu 1: Văn bản cung cấp cho người đọc thông tin về lĩnh vực nào sau đây? A. Vận dụng công nghệ tạo ra vaccine B. Công nghệ sinh học C. Vận dụng công nghệ để cải tạo môi trường D. Vận dụng hóa học, công nghệ để phát triển cây trồng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Văn bản cung cấp cho người đọc thông tin về lĩnh vực Công nghệ sinh học (chỉnh sửa gene)
→ Đáp án B
|
Câu 2: Nhan đề của văn bản cung cấp cho người đọc thông tin nào? A. Hiệu quả nghiên cứu B. Thông tin chính của toàn văn bản C. Nội dung chính sẽ đề cập trong văn bản, thái độ trước nội dung đó D. Phạm vi nghiên cứu |
Phương pháp giải:
Chú ý nhan đề văn bản
Lời giải chi tiết:
Nhan đề của văn bản cung cấp cho người đọc thông tin về Nội dung chính sẽ đề cập trong văn bản, thái độ trước nội dung đó
+Nội dung chính: Chỉnh sửa gene vật nuôi
+ Thái độ trước nội dung đó: Băn khoăn
→ Đáp án C
|
Câu 3: Tác giả sử dụng hình thức, yếu tố nào để người đọc dễ nắm bắt thông tin? A. Các đoạn văn đứng độc lập B. Sapo, số liệu, hình ảnh, tiêu đề, đoạn in đậm C. Nhiều số liệu, biểu bảng D. Hình ảnh đi kèm thông số khoa học |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý hình thức và các yếu tố phi ngôn ngữ tác giả sử dụng
Lời giải chi tiết:
Hình thức: Sapo, tiêu đề đoạn in đậm
Yếu tố: Số liệu, hình ảnh
→ Đáp án B
|
Câu 4: Đoạn sapo cung cấp cho người đọc thông tin nào sau đây? A. Nội dung tóm tắt của toàn văn bản B. Quá trình nghiên cứu vật nuôi chỉnh sửa gene C. Các góc nhìn về thịt lấy từ vật nuôi chỉnh sửa gene D. Sự cần thiết của việc chỉnh sửa gene trong nông nghiệp |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn sapo
Lời giải chi tiết:
Đoạn sapo cung cấp cho người đọc thông tin: Các góc nhìn về thịt lấy từ vật nuôi chỉnh sửa gene
→ Đáp án C
|
Câu 5: Dòng nào nói lên cách đặt nhan đề của văn bản Chỉnh sửa gene vật nuôi, thịt này nuốt có xuôi? A. Dạng câu hỏi, vừa chứa thông tin đề tài vừa thể hiện được dư luận về đề tài đó B. Dạng câu hỏi thể hiện sự hoài nghi của dư luận về đề tài của văn bản C. Câu hỏi thể hiện sự băn khoăn của tác giả về đề tài D. Câu hỏi để gợi sự đối thoại, tương tác với độc giả |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhan đề và đưa ra kết luận
Lời giải chi tiết:
Cách đặt nhan đề của văn bản Chỉnh sửa gene vật nuôi, thịt này nuốt có xuôi?: Dạng câu hỏi, vừa chứa thông tin đề tài vừa thể hiện được dư luận về đề tài đó
→ Đáp án A
|
Câu 6: Dòng nào nói lên mục đích của đoạn văn bản từ “Mỗi năm, hàng triệu” đến “lợi gà mà cũng lợi người”? A. Phản ánh hiện thực đã cạn kiệt nguồn vaccine phòng chống cho gia cầm B. Nguyên nhân khiến các nhà khoa học đang nghiên cứu một giải pháp lâu bền hơn: chỉnh sửa ADN của gia cầm C. Khẳng định: Vaccine ngừa cúm gia cầm chưa thể bảo vệ được đàn gà khỏe mạnh D. Khẳng định: virus cúm gia cầm lây sang người và gây thêm một đại dịch |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn bản
Lời giải chi tiết:
Mục đích của đoạn văn bản từ “Mỗi năm, hàng triệu” đến “lợi gà mà cũng lợi người”: Nguyên nhân khiến các nhà khoa học đang nghiên cứu một giải pháp lâu bền hơn: chỉnh sửa ADN của gia cầm
→ Đáp án B
|
Câu 7: Chỉnh sửa AND của gia cầm có lợi ích gì? A. Để tạo ra những con gà công nghiệp tạm gọi là “thừa cân” B. Để người nuôi những giống gà khỏe mạnh bớt những nỗi lo dịch bệnh triền miên C. Để ngăn virus bám vào tế bào và nhân bản, lợi gà mà cũng lợi người D. Để phát triển công nghệ “Chỉnh sửa gene” (gene editing) và “biến đổi gene” |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 2 của văn bản
Lời giải chi tiết:
Chỉnh sửa AND của gia cầm có lợi ích: Để ngăn virus bám vào tế bào và nhân bản, lợi gà mà cũng lợi người
→ Đáp án C
|
Câu 8: Dòng nào không nói lên nỗi lo của con người về “chỉnh sửa gene” và “biến đổi gene”? A. Thuận tự nhiên không? B. Lo ngại những ảnh hưởng ngoài ý muốn lên môi trường và sức khỏe cộng đồng C. “rất có thể sẽ biến cả thiên nhiên và bản thân chúng ta thành một màn thí nghiệm kỹ thuật gene khổng lồ với những hệ quả chưa biết được” D. Nhưng với Mỹ, cây trồng lẫn vật nuôi GM hầu như không có “đất sống” |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đề bài và các đáp án
Lời giải chi tiết:
Dòng không nói lên nỗi lo của con người về “chỉnh sửa gene” và “biến đổi gene”: Nhưng với Mỹ, cây trồng lẫn vật nuôi GM hầu như không có “đất sống”
→ Đáp án D
Câu 9: Phân tích vai trò, tác dụng của hai ảnh minh họa trong bài viết (1đ)
Phương pháp giải:
Quan sát kĩ hai ảnh minh họa, nhớ lại nội dung chính của văn bản
Phân tích vai trò, tác dụng của hai ảnh minh họa
Lời giải chi tiết:
- Hình ảnh 1: minh họa nhà khoa học với thao tác chỉnh sửa gene trên cấu trúc của ADN – vấn đề trung tâm được nêu từ nhan đề và triển trong văn bản
- Hình ảnh 2: minh họa cho tác dụng của chỉnh sửa gene đối với vật nuôi – gà. Gà được bảo vệ trước virus cúm gia cầm (hình ảnh gà đeo khẩu trang, gà được bảo vệ với công nghệ chỉnh sửa gene; vô số virus cúm gia cầm với nhiều hình dạng và màu sắc khác nhau chứng tỏ độ phức tạp mà các vaccine phòng ngừa không đủ sức chống lại/ bảo vệ gia cầm)
→ Tác giả chọn hình ảnh minh họa làm rõ, nổi bật vấn đề trọng tâm của bài viết
Câu 10: Phân tích thái độ, quan điểm, cách thể hiện của tác giả trong đoạn cuối văn bản – Ý tốt của một loài ăn thịt (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn cuối văn bản (ý tốt của một loài ăn thịt)
Lời giải chi tiết:
- Tác giả ủng hộ, đồng tình với việc chỉnh sửa gene đối với vật nuôi – gà
- Thái độ hài hước, dí dỏm
- Cách thể hiện ấn tượng trong việc đặt tiêu đề đoạn và dùng từ:
+Ý tốt của một loài ăn thịt (loài người)
+ Từ ngữ: vứt bớt… không cần “tắm”; quầy thịt “sạch”…
PHẦN II. VIẾT
Câu 1: Em hãy trình bày thái độ và quan điểm của mình về công nghệ chỉnh sửa gene trên vật nuôi (đoạn văn dài 6-8 dòng) (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và trình bày thái độ, quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
- HS tự thể hiện quan điểm cá nhân
- Cần diễn đạt rõ ý, căn cứ từ tri thức văn bản đọc, sử dụng từ ngữ chuyên ngành phù hợp
Câu 2: Chuyển thông tin ở văn bản đọc sang bản tin infographic trong khuôn khổ một trang giấy thi/ trang giấy A4 (3đ)
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
- HS tự sáng tạo
- Bản tin infographic cần đạt những yêu cầu sau:
+ Thể hiện rõ, gọn, khoa học các nội dung chính
+ Sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ (hỗ trợ) hợp lý
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 4
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Hs đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi kế tiếp:
CHỈNH SỬA GENE VẬT NUÔI, THỊT NÀY NUỐT CÓ XUÔI
(Lê My)
Mâm thịt của tương lại sẽ có gì? Trong những hướng nghiên cứu mà giới khoa học dày công theo đuổi bấy lâu nay, thịt lấy từ vật nuôi chỉnh sửa gene là giải pháp gây nhiều tranh cãi dù nó được trao cho một mục đích tốt đẹp: tăng phúc lợi động vật và tốt cho môi trường.
Mỗi năm, hàng triệu con gà bị tiêu hủy sống vì nhiễm virus cúm gia cầm. Vắc xin ngừa cúm gia cầm tuy đã có nhưng vẫn chưa thể bảo vệ hoàn toàn những đàn gà khỏe mạnh, chưa kể virus có thể đột biến và kháng vắc xin. Còn một nguy cơ đáng sợ hơn: virus cúm gia cầm có thể lây sang người và gây thêm ít nhất một đại dịch. Vì vậy, các nhà khoa học đang nghiên cứu một giải pháp lâu bền hơn: chỉnh sửa AND của gia cầm để ngăn virus bám vào tế bào và nhân bản, lợi gà mà cũng lợi người. […]
Thuận tự nhiên không?


“Chỉnh sửa gene” (gene editing) thường được gộp chung nhóm với “biến đổi gene” (gene modification, GM) – một công nghệ vốn đã gây ồn ào và chia rẽ từ những năm 1990. Ở Mỹ chẳng hạn, hầu hết đậu nành và ngô được canh tác là hàng GM để tối đa hóa sản lượng. Nhưng với liên minh châu Âu (EU), cây trồng lẫn vật nuôi GM hầu như không có “đất sống” vì những quy định nghiêm ngặt do lo ngại những ảnh hưởng ngoài ý muốn lên môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Giờ đây, một số nhóm vận động nói rằng chỉnh sửa gene cũng tiềm ẩn những rủi ro tương tự. Tổ chức Greenpeace đã lên tiếng cảnh báo hồi đầu năm 2021: Việc sử dụng các công nghệ chỉnh sửa gene “rất có thể sẽ biến cả thiên nhiên và bản thân chúng ta (thông qua thực phẩm chúng ta ăn) thành một màn thí nghiệm kỹ thuậ gene khổng lồ với những hệ quả chưa biết được và có khi chẳng thể nào đảo ngược”.
Trong kỹ thuật GM, gene từ sinh vật này sẽ được chuyển sang sinh vật khác theo ý đồ của người nghiên cứu. Ví dụ ở loại ngô “Bt” có khả năng tự kháng côn trùng nhờ được cấy vật chất di truyền của loài vi khuẩn Bacillus thuringiensis vào tế bào ở giai đoạn phôi.
Trong khi đó, chỉnh sửa gene hoạt động trong khuôn khổ gene của sinh vật, không vay mượn bên ngoài. Kỹ thuật mới này cho phép các nhà khoa học thêm, bớt hoặc thay đổi AND của sinh vật ở những vị trí họ mong muốn. “Ngôi sao” của chỉnh sửa gene là công cụ CRISPR được phát triển vào năm 2012 (hai “mẹ đẻ” của nó đã nhận giải Nobel hóa học năm 2020). Có thể xem CRISPR như một cây kéo ở cấp độ phân tử dùng để cắt tỉa AND.
[…] Tách bạch 2 công nghệ “chỉnh sửa” và “biến đổi” gene có vai trò quan trọng trong việc mở đường cho việc nghiên cứu chỉnh sửa gene vật nuôi. Quan điểm không xếp “vật nuôi chỉnh sửa gene” vào nhóm “sinh vật biến đổi gene” đồng nghĩa với việc gỡ bỏ các quy định vốn dành cho công nghệ GM khỏi các dự án về chỉnh sửa gene. Một số quốc gia như Mỹ, Úc và Nhật Bản đã chọn hướng tiếp cận tương đối “dễ chịu” này. Trong khi đó, theo luật của EU, các “sinh vật chỉnh sửa gene” được đối xử như các sinh vật GM truyền thống và phải tuân theo các quy định nghiêm ngặt hơn.
Khi còn trong cảnh “đồng sàng dị mộng” tiền Brexit năm 2019, Thủ tướng Boris Johnson đã hứa sẽ “giải phóng lĩnh vực sinh học phi thường của Vương quốc Anh khỏi các điều luật chống biến đổi gene” của EU. Hậu Brexit, tháng 9-2021 Chính phủ Anh tuyên bố sẽ soạn ra các điều luật mở đường cho một số hoạt động chỉnh sửa gene trong chăn nuôi
Ý tốt của một loài ăn thịt
Bộ trưởng Môi trường Anh George Eustice cho rằng chỉnh sửa gene làm giảm “mối bận tâm về mặt đạo đức hoặc sinh học” nhiều hơn kỹ thuật GM, và tăng “sự tôn trọng các quy luật của thiên nhiên”. Phe ủng hộ còn tin rằng việc chỉnh sửa gene có thể giải quyết một số vấn đề lớn trong việc tiêu thụ thịt và chăn nuôi hiện nay: thực phẩm lành mạnh hơn, nhu cầu sử dụng kháng sinh thấp hơn và phúc lợi động vật tốt hơn. Lại lấy lũ gà làm ví dụ. Một khi thế giới “chỉnh sửa” thành công những giống gà khỏe mạnh, người chăn nuôi sẽ vứt bớt những nỗi lo dịch bệnh triền miên và sẽ không cần “tắm” cả trại gà trong thuốc kháng sinh như hiện nay. Khi đó, người tiêu dùng sẽ có những quầy thịt “sạch” và an toàn hơn, không còn bận tâm về dư lượng thuốc kháng sinh trong thịt gà nữa. Ở một góc nhìn rộng hơn, chúng ta có thể hy vọng giải quyết được vấn đề kháng kháng sinh ở người và vật nuôi, và giảm các bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người. […]
(https://by.com.vn/5amQW)
Câu 1: Văn bản cung cấp cho người đọc thông tin về lĩnh vực nào sau đây?
A. Vận dụng công nghệ tạo ra vaccine
B. Công nghệ sinh học
C. Vận dụng công nghệ để cải tạo môi trường
D. Vận dụng hóa học, công nghệ để phát triển cây trồng
Câu 2: Nhan đề của văn bản cung cấp cho người đọc thông tin nào?
A. Hiệu quả nghiên cứu
B. Thông tin chính của toàn văn bản
C. Nội dung chính sẽ đề cập trong văn bản, thái độ trước nội dung đó
D. Phạm vi nghiên cứu
Câu 3: Quan điểm của Mỹ và Liên minh Châu Âu (EU) khác nhau như thế nào về “chỉnh sửa gene” và “biến đổi gene”?
A. Ở Liên minh châu Âu (EU), đậu nành và ngô được canh tác là hàng GM để tối đa hóa sản lượng. Nhưng với Mỹ, cây trồng lẫn vật nuôi GM hầu như không có “đất sống”
B. Ở Mỹ đậu nành và ngô được canh tác là hàng GM để tối đa hóa sản lượng. Nhưng với liên minh châu Âu (EU) Mỹ, cây trồng lẫn vật nuôi GM hầu như không có “đất sống”
C. Mỹ chấp nhận “chỉnh sửa gene” cây trồng và vật nuôi nhưng Liên minh châu Âu (EU) chỉ chấp nhận trong vật nuôi
D. Mỹ chấp nhận “chỉnh sửa gene” trong vật nuôi nhưng Liên minh châu Âu (EU) chỉ chấp nhận trong cây trồng
Câu 4: Dòng nào nói lên kĩ thuật của chỉnh sửa gene (GM)?
A. Gene từ sinh vật này sẽ chuyển sang sinh vật khác theo ý đồ người nghiên cứu
B. Hoạt động trong khuôn khổ bộ gene của sinh vật, không vay mượn bên ngoài
C. Cho phép các nhà khoa học thêm, bớt hoặc thay đổi ADN của sinh vật ở những vị trí họ mong muốn
D. Cả A, B và C
Câu 5: Tác giả dùng phép tu từ nào để nói về kỹ thuật chỉnh sửa gene? Đó là những từ ngữ/ hình ảnh nào?
A. Ẩn dụ: ngôi sao, mẹ đẻ, cây kéo
B. Nhân hóa: mẹ đẻ
C. So sánh: đối xử như các sinh vật GM truyền thống
D. Tất cả các biện pháp tu từ trên
Câu 6: Một số quốc gia như Mỹ, Úc và Nhật Bản đã chọn hướng tiếp cận nào đối với công nghệ về “chỉnh sửa gene” và “biến đổi gene”?
A. Không xếp “vật nuôi chỉnh sửa gene” vào nhóm “sinh vật biến đổi gene”
B. Chờ chính phủ Anh soạn ra các điều luật mở đường cho một số hoạt động chỉnh sửa gene trong chăn nuôi
C. “giải phóng lĩnh vực sinh học phi thường của Vương quốc Anh khỏi các điều luật chống biến đổi gene” của EU.
D. Các “sinh vật chỉnh sửa gene” được đối xử như các sinh vật GM truyền thống
Câu 7: Tác giả dẫn quan điểm của các quốc gia về “chỉnh sửa gene” và “biến đổi gene” nhằm mục đích gì?
A. Để trả lời câu hỏi “chỉnh sửa gene” thuận tự nhiên không?
B. Để độc giả thấy các quốc gia có cái nhìn khác nhau về “chỉnh sửa gene”
C. Để khẳng định chính phủ Anh rất quan tâm tới vấn đề “chỉnh sửa gene”
D. Cho thấy quan điểm của Mỹ và EU khác nhau về “chỉnh sửa gene”
Câu 8: Nội dung nào có vai trò quan trọng việc làm rõ vấn đề đã đặt ra ở nhan đề của văn bản?
A. Sapo
B. Nội dung mở đầu văn bản
C. Nội dung Thuận tự nhiên không
D. Nội dung Ý tốt của một loài ăn thịt
Câu 9: Phân tích vai trò, tác dụng của hai ảnh minh họa trong bài viết (1đ)
Câu 10: Phân tích thái độ, quan điểm, cách thể hiện của tác giả trong đoạn cuối văn bản – Ý tốt của một loài ăn thịt (1đ)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Em hãy trình bày thái độ và quan điểm của mình về công nghệ chỉnh sửa gene trên vật nuôi (đoạn văn dài 6-8 dòng) (1đ)
Câu 2: Chuyển thông tin ở văn bản đọc sang bản tin infographic trong khuôn khổ một trang giấy thi/ trang giấy A4 (3đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU

|
Câu 1: Văn bản cung cấp cho người đọc thông tin về lĩnh vực nào sau đây? A. Vận dụng công nghệ tạo ra vaccine B. Công nghệ sinh học C. Vận dụng công nghệ để cải tạo môi trường D. Vận dụng hóa học, công nghệ để phát triển cây trồng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Văn bản cung cấp cho người đọc thông tin về lĩnh vực Công nghệ sinh học (chỉnh sửa gene)
→ Đáp án B
|
Câu 2: Nhan đề của văn bản cung cấp cho người đọc thông tin nào? A. Hiệu quả nghiên cứu B. Thông tin chính của toàn văn bản C. Nội dung chính sẽ đề cập trong văn bản, thái độ trước nội dung đó D. Phạm vi nghiên cứu |
Phương pháp giải:
Chú ý nhan đề văn bản
Lời giải chi tiết:
Nhan đề của văn bản cung cấp cho người đọc thông tin về Nội dung chính sẽ đề cập trong văn bản, thái độ trước nội dung đó
+Nội dung chính: Chỉnh sửa gene vật nuôi
+ Thái độ trước nội dung đó: Băn khoăn
→ Đáp án C
|
Câu 3: Quan điểm của Mỹ và Liên minh Châu Âu (EU) khác nhau như thế nào về “chỉnh sửa gene” và “biến đổi gene”? A. Ở Liên minh châu Âu (EU), đậu nành và ngô được canh tác là hàng GM để tối đa hóa sản lượng. Nhưng với Mỹ, cây trồng lẫn vật nuôi GM hầu như không có “đất sống” B. Ở Mỹ đậu nành và ngô được canh tác là hàng GM để tối đa hóa sản lượng. Nhưng với liên minh châu Âu (EU) Mỹ, cây trồng lẫn vật nuôi GM hầu như không có “đất sống” C. Mỹ chấp nhận “chỉnh sửa gene” cây trồng và vật nuôi nhưng Liên minh châu Âu (EU) chỉ chấp nhận trong vật nuôi D. Mỹ chấp nhận “chỉnh sửa gene” trong vật nuôi nhưng Liên minh châu Âu (EU) chỉ chấp nhận trong cây trồng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 3
Lời giải chi tiết:
Ở Mỹ chẳng hạn, hầu hết đậu nành và ngô được canh tác là hàng GM để tối đa hóa sản lượng. Nhưng với liên minh châu Âu (EU), cây trồng lẫn vật nuôi GM hầu như không có “đất sống” vì những quy định nghiêm ngặt do lo ngại những ảnh hưởng ngoài ý muốn lên môi trường và sức khỏe cộng đồng
→ Đáp án B
|
Câu 4: Dòng nào nói lên kĩ thuật của chỉnh sửa gene (GM)? A. Gene từ sinh vật này sẽ chuyển sang sinh vật khác theo ý đồ người nghiên cứu B. Hoạt động trong khuôn khổ bộ gene của sinh vật, không vay mượn bên ngoài C. Cho phép các nhà khoa học thêm, bớt hoặc thay đổi ADN của sinh vật ở những vị trí họ mong muốn D. Cả A, B và C |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Kĩ thuật của chỉnh sửa gene (GM):
- Gene từ sinh vật này sẽ chuyển sang sinh vật khác theo ý đồ người nghiên cứu
- Hoạt động trong khuôn khổ bộ gene của sinh vật, không vay mượn bên ngoài
- Cho phép các nhà khoa học thêm, bớt hoặc thay đổi ADN của sinh vật ở những vị trí họ mong muốn
→ Đáp án D
|
Câu 5: Tác giả dùng phép tu từ nào để nói về kỹ thuật chỉnh sửa gene? Đó là những từ ngữ/ hình ảnh nào? A. Ẩn dụ: ngôi sao, mẹ đẻ, cây kéo B. Nhân hóa: mẹ đẻ C. So sánh: đối xử như các sinh vật GM truyền thống D. Tất cả các biện pháp tu từ trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những phép tu từ được tác giả sử dụng
Lời giải chi tiết:
Phép tu từ được tác giả sử dụng: Ẩn dụ
- “Ngôi sao” của chỉnh sửa gene là công cụ CRISPR được phát hiện vào năm 2012 → yếu tố quan trọng, cần thiết, mang tính quyết định
- “hai “mẹ đẻ” của nó đã nhận giải Nobel hóa học năm 2020 → người sáng lập
- Có thể xem CRISPR như một cây kéo ở cấp độ phân tử dùng để cắt tỉa ADN → công dụng dùng để phân cắt
→ Đáp án A
|
Câu 6: Một số quốc gia như Mỹ, Úc và Nhật Bản đã chọn hướng tiếp cận nào đối với công nghệ về “chỉnh sửa gene” và “biến đổi gene”? A. Không xếp “vật nuôi chỉnh sửa gene” vào nhóm “sinh vật biến đổi gene” B. Chờ chính phủ Anh soạn ra các điều luật mở đường cho một số hoạt động chỉnh sửa gene trong chăn nuôi C. “giải phóng lĩnh vực sinh học phi thường của Vương quốc Anh khỏi các điều luật chống biến đổi gene” của EU. D. Các “sinh vật chỉnh sửa gene” được đối xử như các sinh vật GM truyền thống |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 5 phần Thuận tự nhiên không?
Lời giải chi tiết:
Một số quốc gia như Mỹ, Úc và Nhật Bản đã chọn hướng tiếp cận không xếp “vật nuôi chỉnh sửa gene” vào nhóm “sinh vật biến đổi gene
→ Đáp án A
|
Câu 7: Tác giả dẫn quan điểm của các quốc gia về “chỉnh sửa gene” và “biến đổi gene” nhằm mục đích gì? A. Để trả lời câu hỏi “chỉnh sửa gene” thuận tự nhiên không? B. Để độc giả thấy các quốc gia có cái nhìn khác nhau về “chỉnh sửa gene” C. Để khẳng định chính phủ Anh rất quan tâm tới vấn đề “chỉnh sửa gene” D. Cho thấy quan điểm của Mỹ và EU khác nhau về “chỉnh sửa gene” |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 5 phần Thuận tự nhiên không?
Phân tích mục đích của tác giả
Lời giải chi tiết:
Tác giả dẫn quan điểm của các quốc gia về “chỉnh sửa gene” và “biến đổi gene” nhằm mục đích cho độc giả thấy độc các quốc gia có cái nhìn khác nhau về “chỉnh sửa gene”, đem đến nhiều góc nhìn khác nhau, làm phong phú thêm cho bài viết
→ Đáp án B
|
Câu 8: Nội dung nào có vai trò quan trọng việc làm rõ vấn đề đã đặt ra ở nhan đề của văn bản? A. Sapo B. Nội dung mở đầu văn bản C. Nội dung Thuận tự nhiên không D. Nội dung Ý tốt của một loài ăn thịt |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Nội dung phần Thuận tự nhiên không có vai trò quan trọng việc làm rõ vấn đề đã đặt ra ở nhan đề của văn bản. Nội dung chính của văn bản tập trung chủ yếu ở phần này
→ Đáp án C
Câu 9: Phân tích vai trò, tác dụng của hai ảnh minh họa trong bài viết (1đ)
Phương pháp giải:
Quan sát kĩ hai ảnh minh họa, nhớ lại nội dung chính của văn bản
Phân tích vai trò, tác dụng của hai ảnh minh họa
Lời giải chi tiết:
- Hình ảnh 1: minh họa nhà khoa học với thao tác chỉnh sửa gene trên cấu trúc của ADN – vấn đề trung tâm được nêu từ nhan đề và triển trong văn bản
- Hình ảnh 2: minh họa cho tác dụng của chỉnh sửa gene đối với vật nuôi – gà. Gà được bảo vệ trước virus cúm gia cầm (hình ảnh gà đeo khẩu trang, gà được bảo vệ với công nghệ chỉnh sửa gene; vô số virus cúm gia cầm với nhiều hình dạng và màu sắc khác nhau chứng tỏ độ phức tạp mà các vaccine phòng ngừa không đủ sức chống lại/ bảo vệ gia cầm)
→ Tác giả chọn hình ảnh minh họa làm rõ, nổi bật vấn đề trọng tâm của bài viết
Câu 10: Phân tích thái độ, quan điểm, cách thể hiện của tác giả trong đoạn cuối văn bản – Ý tốt của một loài ăn thịt (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn cuối văn bản (ý tốt của một loài ăn thịt)
Lời giải chi tiết:
- Tác giả ủng hộ, đồng tình với việc chỉnh sửa gene đối với vật nuôi – gà
- Thái độ hài hước, dí dỏm
- Cách thể hiện ấn tượng trong việc đặt tiêu đề đoạn và dùng từ:
+Ý tốt của một loài ăn thịt (loài người)
+ Từ ngữ: vứt bớt… không cần “tắm”; quầy thịt “sạch”…
PHẦN II. VIẾT
Câu 1: Em hãy trình bày thái độ và quan điểm của mình về công nghệ chỉnh sửa gene trên vật nuôi (đoạn văn dài 6-8 dòng) (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và trình bày thái độ, quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
- HS tự thể hiện quan điểm cá nhân
- Cần diễn đạt rõ ý, căn cứ từ tri thức văn bản đọc, sử dụng từ ngữ chuyên ngành phù hợp
Câu 2: Chuyển thông tin ở văn bản đọc sang bản tin infographic trong khuôn khổ một trang giấy thi/ trang giấy A4 (3đ)
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
- HS tự sáng tạo
- Bản tin infographic cần đạt những yêu cầu sau:
+ Thể hiện rõ, gọn, khoa học các nội dung chính
+ Sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ (hỗ trợ) hợp lý
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 5
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Hs đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi kế tiếp:
Nét độc đáo của Lễ hội đua voi ở Tây Nguyên 2022
Nhắc đến Tây Nguyên, người ta thường nghĩ ngay đến mảnh đất đầy nắng và gió, những rẫy cà phê bạt ngàn, những con dốc khúc khuỷu hay những con voi siêu to khổng lồ thường chỉ thấy trong sở thú hoặc trên tivi. Vào mùa xuân, Tây Nguyên trông thật rực rỡ với ngàn hoa đua nhau khoe sắc, mùi thơm ngọt ngào của hoa cà phê và đặc biệt là những âm thanh tưng bừng sống động của các lễ hội truyền thống đầu xuân của những người dân tộc nơi đây. Với những người dân Tây Nguyên, voi không chỉ là một loài vật quý, mà nó còn là người bạn, người đồng hành và được coi là một thành viên thân thiết trong mỗi gia đình. Việc thuần hóa voi không chỉ nhằm mục đích chở người, lấy sức kéo, chở hàng hóa mà còn để chúng có thể hòa nhập được với lối sống bản làng và thân thiện với con người hơn. Tháng 3 âm lịch tới đây là thời điểm tổ chức lễ hội đua voi ở Tây Nguyên 2020 với rất nhiều hoạt động hấp dẫn, rất phù hợp cho những người thích đi phượt tới tham quan, tìm hiểu nền văn hóa du lịch của vùng đất cao nguyên này.

Lễ hội đua voi Tây Nguyên là lễ hội truyền thống rất quan trọng của những người dân nơi đây. Ảnh: ST
Hội đua voi Tây Nguyên tổ chức tháng mấy
Hội đua voi ở Tây Nguyên thường được tổ chức 2 năm một lần. Đây là dịp để quy tụ, tôn vinh trí tuệ, sức mạnh, sự khéo léo của những nhà thuần dưỡng voi người dân M’Nông. Lễ hội thường được tổ chức tại Buôn Đôn, Đắc Lắk – nơi được mệnh danh là thủ phủ của loài voi. Tháng 3 cũng là thời điểm các vụ mùa ở Tây Nguyên đã được thu hoạch xong, người dân có nhiều thời gian nghỉ ngơi để chuẩn bị cho vụ mùa mới sắp tới nên tổ chức lễ hội vào dịp này được coi như hình thức ăn mừng, cầu bình an để đem đến những may mắn, mùa màng bội thu trong năm mới. Đây cũng là thời gian rất thích hợp để đi du lịch tại khu vực Tây Nguyên vì thời tiết mát mẻ, không có mưa, nắng không quá gắt rất thuận tiện cho việc di chuyển đi lại, nhất là cho khách du lịch.

Tây Nguyên tháng 3 có khí hậu mát mẻ, đường xá đi lại thuận lợi rất thích hợp để đi du lịch.
Ảnh: ST
Nét đặc sắc của lễ hội đua voi
Những chú voi được tham gia thi đấu lễ hội đua voi là những chú voi khỏe mạnh, dẻo dai và thông minh. Mỗi mùa lễ hội chỉ có khoảng 20-30 chú voi được tham gia thi đấu, vì vậy công tác chăm sóc, chuẩn bị của những người huấn luyện cần cẩn thận và mất nhiều thời gian để người bạn của mình đủ tiêu chuẩn vào vòng trong. Gần ngày thi đấu, voi sẽ được nghỉ ngơi, tắm rửa, cho ăn những loại cỏ xanh tươi hoặc mía ngọt, huấn luyện một số bài thuần dưỡng để tham gia các hoạt động trong lễ hội. Các hoạt động trong lễ hội đua voi ở Buôn Đôn bao gồm: lễ cúng Nước, lễ cúng sức khỏe cho Voi, lễ ăn trâu mừng mùa (Lễ Đâm Trâu), lễ hội văn hóa các dân tộc huyện Buôn Đôn, thi Voi đá bóng, thi Voi chạy, thi Voi bơi, lễ cúng lúa mới (Lễ mừng mùa), lễ tắm Voi sau khi kết thúc các hoạt động của Voi tại lễ hội.
Vào ngày thi đấu, voi sẽ được già làng thực hiện lễ cúng sức khỏe cho voi với lễ vật bao gồm; ba chém rượu cần, một con heo và một bầu nước. Già làng sẽ đặt cơm thịt lên đầu, tưới rượu và máu để cầu phúc, cúng sức khỏe cho voi. Sau khi già làng thực hiện xong nghi lễ, tất cả mọi người trong lễ hội sẽ cùng nhau ca hát, nhảy múa trong tiếng nhạc cồng chiêng rộn ràng, sôi động say đắm lòng người để chính thức bắt đầu lễ hội đua voi.

Những con voi được thực hiện lễ cúng sức khỏe trước khi thi đấu. Ảnh: ST
Địa điểm được chọn làm nơi tổ chức ngày hội đua voi ở Tây Nguyên phải là một bãi đất trống có chiều dài từ 400 – 500m, chiều rộng khoảng vào chục mét để cho ít nhất 5-10 con voi có thể xếp hàng ngang. Trên lưng mỗi chú voi có 2 chàng quản tượng, mặc đồ truyền thống của dân tộc, có nhiệm vụ điều khiển voi tham gia các hoạt động của lễ hội. Quản tượng sẽ làm theo lệnh của nài voi, điều khiển các chú voi xếp nối nhau thành hàng và quỳ phục trước vạch xuất phát như một động tác chào ban giám khảo và khán giả để chuẩn bị thi đấu. Sau hiệu lệnh và một hồi tù và ngân lên, người điều khiển thúc voi tiến lên phía trước đồng thời tăng tốc thật nhanh để về đích sớm. Tiếng voi chạy rầm rập hòa cùng tiếng hò reo cổ vũ của khán giả tạo nên một không khí hân hoan náo nhiệt cả một vùng trời.

Những chú voi đang tăng tốc quyết liệt để giành chức vô địch. Ảnh: ST
Không chỉ thể hiện sức bền trên đường thẳng, những chú voi còn phải thể hiện linh hoạt khi đi trên những con đường dốc ngoằn ngoèo hoặc bơi qua những dòng sông lớn. Người điều khiển voi phải thể hiện được sự huấn luyện thuần thục và tài năng của mình khi hướng dẫn voi chạy đua về vạch đích. Người quản tượng ngồi trước có vai trò điều khiển cho voi chạy đúng hướng. Ví dụ nếu muốn voi chạy sang bên phải thì gõ vào tai phải và ngược lại. Người ngồi sau có nhiệm vụ đốc thúc voi tăng tốc bằng cách dùng chiếc búa gỗ quất vào mông voi. Nghe thì tưởng chừng đơn giản nhưng cả hai người điều khiển phải có sự phối hợp ăn ý, nhuần nhuyễn với nhau để có kết quả tốt nhất. Và muốn voi hiểu được ý của người quản trượng thì đó lại là một quá trình dài và khó khăn hơn. Phần thưởng cho những chú voi sau khi thi đấu là những bó mía tươi ngon lành ngọt lịm cùng những nải chuối chín vàng ươm tươi ngon. Riêng chú voi khỏe mạnh dẻo dai nhất dành được chức vô địch sẽ được trao vòng nguyệt quế cùng người quản trượng và được thưởng thêm rất nhiều món ăn ngon khoái khẩu khác dành riêng cho voi.
Bên cạnh chạy đua, những chú voi còn được tham gia các hoạt động như đá bóng, chở những khách du lịch đi tham quan buôn làng sau khi kết thúc lễ hội. Trong từng nhịp cồng chiêng sôi động, tiếng hò reo hân hoan của tất cả mọi người, những chú voi dường như cũng trở nên hào hứng và vui mừng hơn. Lễ hội độc dáo này thường thu hút hàng ngàn du khách cả trong và ngoài nước đến tham gia tại Buôn Đôn mỗi dịp diễn ra.

Voi thi đá bóng, một hình ảnh vô cùng đặc sắc chỉ có thể thấy tại lễ hội đua voi Tây Nguyên. Ảnh: ST
Các hoạt động hấp dẫn khác diễn ra tại lễ hội đua voi Tây Nguyên
Sau khi kết thúc lễ hội đua voi, du khách có thể dành thời gian tham quan Bản Đôn, thưởng thức các món ăn đặc sản Tây Nguyên thơm ngon lạ miệng nơi đây như gà nướng, cá lăng, gỏi cá, măng nướng xào vếch bò, rượu cần v…v. Tháng 3 còn là thời điểm diễn ra lễ hội đâm trâu, rất thích hợp cho những người gan dạ thích những điều độc đáo mới lạ, tuy nhiên cảnh báo trước là lễ hội này không phù hợp với những người yếu tim không thích máu. Nếu bạn thích có thể thuê các bộ đồ của người dân tộc, trực tiếp tham gia vào các hoạt động đời sống hàng ngày, cùng làm việc ăn uống để hiểu rõ hơn về lối sống và sinh hoạt của người dân nơi đây.
Cũng đừng quên tranh thủ thời gian đi khám phá các địa điểm du lịch Tây Nguyên vô cùng ấn tượng như thác Dray Nur hùng vĩ ở Buôn Mê Thuột, Vườn quốc gia Yok Đôn, khu Du lịch sinh thái Măng Đen. Chắn chắn chuyến du lịch này sẽ đem đến cho bạn những trải nghiệm ấn tượng và tuyệt vời khó phai.
(trích http://www.vntrip.vn/cam-nang/le-hoi-dua-voi-o-tay-nguyen-2020-95411- Thủy Monn 28/20/2022)
Câu 1: Nội dung của văn bản trên?
A. Lễ hội đua ngựa ở Tây Nguyên
B. Lễ hội đua ghe ngo ở Trà Vinh
C. Lễ hội đua bò ở Bảy Núi – An Giang
D. Nét độc đáo trong lễ hội đua voi ở Tây Nguyên
Câu 2: Lễ hội đua voi ở Tây Nguyên được tổ chức vào thời gian nào?
A. Tổ chức 2 năm 1 lần
B. Tổ chức vào tháng 3 hàng năm
C. Tổ chức vào tháng 11 hàng năm
D. Tổ chức vào tháng 5 hàng năm
Câu 3: Trong đoạn văn sau, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ gì?
Các hoạt động trong lễ hội đua voi ở Buôn Đôn bao gồm: lễ cúng Nước, lễ cúng sức khỏe cho Voi, lễ ăn trâu mừng mùa (Lễ Đâm Trâu), lễ hội văn hóa các dân tộc huyện Buôn Đôn, thi Voi đá bóng, thi Voi chạy, thi Voi bơi, lễ cúng lúa mới (Lễ mừng mùa), lễ tắm Voi sau khi kết thúc các hoạt động của Voi tại Lễ hội.
A. So sánh
B. Nhân hóa
C. Ẩn dụ
D. Liệt kê
Câu 4: Quan điểm của người viết được thể hiện trong văn bản là gì?
A. Phê phán những nét còn hạn chế trong lễ hội đua voi
B. Ca ngợi, tự hào trên cơ sở phát hiện những nét độc đáo trong lễ hội đua voi
C. Buồn bã khi lễ hội đua voi đang bị mai một
D. Không muốn duy trì lễ hội vì tốn kém
Câu 5: Nghĩa của từ “quản tượng” là gì?
A. Người trông nom và điều khiển ngựa
B. Người trông nom và điều khiển voi
C. Người trông nom và điều khiển bò
D. Người trông nom và điều khiển cừu
Câu 6: Dấu hiệu hình thức nào giúp người đọc nhận biết sapo của văn bản?
A. Chữ in nghiêng
B. Chữ in đậm
C. Kiểu chữ khác so với chữ ở phần nội dung chính
D. Chữ in nhỏ hơn so với chữ ở phần nội dung chính
Câu 7: Văn bản thông tin trên được trình bày bằng các phương tiện nào?
A. Chữ viết
B. Âm thanh
C. Hình ảnh
D. Chữ viết kết hợp với hình ảnh
Câu 8: Mục đích của văn bản thông tin trên là gì?
A. Cung cấp thông tin về những nét độc đáo cho lễ hội đua voi ở Tây Nguyên
B. Cung cấp thông tin về những điều cần phải khắc phục của lễ hội đua voi ở Tây Nguyên
C. Cung cấp thông tin về những điểm du lịch ở Tây Nguyên
D. Cung cấp thông tin về cách huấn luyện voi ở Tây Nguyên
Câu 9: Thông tin về sự kiện trong văn bản được trình bày theo trình tự nào? (1đ)
Câu 10: Ngoài lễ hội đua Voi, anh/chị còn biết đến lễ hội nào khác ở Tây Nguyên không? (1đ)
II. VIẾT (4đ)
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về vấn đề gìn giữ văn hóa truyền thống của dân tộc
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 5
Phần I. ĐỌC HIỂU

|
Câu 1: Nội dung của văn bản trên? A. Lễ hội đua ngựa ở Tây Nguyên B. Lễ hội đua ghe ngo ở Trà Vinh C. Lễ hội đua bò ở Bảy Núi – An Giang D. Nét độc đáo trong lễ hội đua voi ở Tây Nguyên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và nhan đề
Lời giải chi tiết:
Nội dung của văn bản trên: Nét độc đáo trong lễ hội đua voi ở Tây Nguyên
→ Đáp án D
|
Câu 2: Lễ hội đua voi ở Tây Nguyên được tổ chức vào thời gian nào? A. Tổ chức 2 năm 1 lần B. Tổ chức vào tháng 3 hàng năm C. Tổ chức vào tháng 11 hàng năm D. Tổ chức vào tháng 5 hàng năm |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 2
Lời giải chi tiết:
Lễ hội đua voi ở Tây Nguyên được tổ chức vào tháng 3 hàng năm
(Đáp án A là câu trả lời về tần suất tổ chức, không phải thời gian)
→ Đáp án B
|
Câu 3: Trong đoạn văn sau, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ gì? Các hoạt động trong lễ hội đua voi ở Buôn Đôn bao gồm: lễ cúng Nước, lễ cúng sức khỏe cho Voi, lễ ăn trâu mừng mùa (Lễ Đâm Trâu), lễ hội văn hóa các dân tộc huyện Buôn Đôn, thi Voi đá bóng, thi Voi chạy, thi Voi bơi, lễ cúng lúa mới (Lễ mừng mùa), lễ tắm Voi sau khi kết thúc các hoạt động của Voi tại Lễ hội. A. So sánh B. Nhân hóa C. Ẩn dụ D. Liệt kê |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn và vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết:
Đoạn văn sử dụng biện pháp liệt kê (dấu hiệu nhận biết: dấu phẩy) nhằm kể cho người đọc những hoạt động trong hội đua voi
→ Đáp án D
|
Câu 4: Quan điểm của người viết được thể hiện trong văn bản là gì? A. Phê phán những nét còn hạn chế trong lễ hội đua voi B. Ca ngợi, tự hào trên cơ sở phát hiện những nét độc đáo trong lễ hội đua voi C. Buồn bã khi lễ hội đua voi đang bị mai một D. Không muốn duy trì lễ hội vì tốn kém |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và suy ra quan điểm của người viết
Lời giải chi tiết:
Quan điểm của người viết: Ca ngợi, tự hào trên cơ sở phát hiện những nét độc đáo trong lễ hội đua voi
Tác giả trên cương vị một vị khách tham quan lần đầu tiên đang kể lại trải nghiệm của bản thân khi được tận mắt chứng kiến và tham gia những hoạt động thú vị và đặc sắc tại Tây Nguyên.
→ Đáp án B
|
Câu 5: Nghĩa của từ “quản tượng” là gì? A. Người trông nom và điều khiển ngựa B. Người trông nom và điều khiển voi C. Người trông nom và điều khiển bò D. Người trông nom và điều khiển cừu |
Phương pháp giải:
Phân tách từng chữ và suy ra nghĩa của từ
Lời giải chi tiết:
Quản: trông coi, điều khiển
Tượng: voi
→ quản tượng: Người trông nom và điều khiển voi
→ Đáp án B
|
Câu 6: Dấu hiệu hình thức nào giúp người đọc nhận biết sapo của văn bản? A. Chữ in nghiêng B. Chữ in đậm C. Kiểu chữ khác so với chữ ở phần nội dung chính D. Chữ in nhỏ hơn so với chữ ở phần nội dung chính |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và chú ý phần khác biệt
Lời giải chi tiết:
Đoạn sapo của văn bản được viết bằng kiểu chữ in nghiêng
→ Đáp án A
|
Câu 7: Văn bản thông tin trên được trình bày bằng các phương tiện nào? A. Chữ viết B. Âm thanh C. Hình ảnh D. Chữ viết kết hợp với hình ảnh |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và chú ý các phương tiện trình bày của tác giả
Lời giải chi tiết:
Văn bản thông tin trên được trình bày bằng các phương tiện: Chữ viết kết hợp với hình ảnh
→ Đáp án D
|
Câu 8: Mục đích của văn bản thông tin trên là gì? A. Cung cấp thông tin về những nét độc đáo cho lễ hội đua voi ở Tây Nguyên B. Cung cấp thông tin về những điều cần phải khắc phục của lễ hội đua voi ở Tây Nguyên C. Cung cấp thông tin về những điểm du lịch ở Tây Nguyên D. Cung cấp thông tin về cách huấn luyện voi ở Tây Nguyên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và rút ra mục đích của văn bản trên
Lời giải chi tiết:
Mục đích của văn bản: Cung cấp thông tin về những nét độc đáo cho lễ hội đua voi ở Tây Nguyên. Từ đó quảng cáo cho du lịch nơi đây
→ Đáp án A
Câu 9: Thông tin về sự kiện trong văn bản được trình bày theo trình tự nào? (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và chú ý những sự kiện chính
Lời giải chi tiết:
Thông tin trong văn bản được trình bày theo trình tự lo-gic đi từ thời gian diễn ra lễ hội đua voi cho đến diễn biến và các hoạt động cụ thể trong lễ hội và mở rộng thêm phần các hoạt động khác cũng diễn ra cùng lúc trong lễ hội
Câu 10: Ngoài lễ hội đua Voi, anh/chị còn biết đến lễ hội nào khác ở Tây Nguyên không? (1đ)
Phương pháp giải:
Tìm hiểu trên internet, sách báo và dựa vào hiểu biết của bản thân
Lời giải chi tiết:
Một số lễ hội khác ở Tây Nguyên:
+ Lễ hội đâm trâu
+ Lễ hội Cồng chiêng Tây Nguyên
+ Lễ hội mừng cơm mới
+ Lễ hội cà phê Tây Nguyên
+ Lễ bỏ mả
+ Lễ tạ ơn cha mẹ
PHẦN II. VIẾT
II. VIẾT (4đ)
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về vấn đề gìn giữ văn hóa truyền thống của dân tộc
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
*Yêu cầu chung: HS kết hợp được kiến thức và kĩ năng để viết bài văn nghị luận xã hội. Bài viết phải có bố cục 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài) đầy đủ, rõ ràng; đúng kiểu bài nghị luận; diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
*Yêu cầu cụ thể:
Mở bài: Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề cần nghị luận: gìn giữ văn hóa truyền thống của dân tộc
Thân bài:
Giải thích
Bản sắc văn hóa dân tộc: những nét văn hóa từ lâu đời của dân tộc được truyền từ đời này sang đời khác, đã trở thành những phong tục tập quán, những đặc trưng văn hóa của đất nước. Bản sắc văn hóa dân tộc là những giá trị tạo nên sự khác biệt của mỗi quốc gia, sự phong phú trong lối sống, sinh hoạt tập thể của con người và tạo nên sự đa dạng màu sắc về văn hóa cho các quốc gia
→ Việc giữ gìn văn hóa là trách nhiệm của mỗi công dân nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị tinh thần tốt đẹp đã được hình thành và lưu truyền từ xa xưa đến nay.
Bàn luận: Giữ gìn văn hóa là điều tốt đẹp và cần thiết
- Nếu chúng ta biết giữ gìn văn hóa:
+ Tâm hồn mỗi người sẽ trở nên giàu có, hướng thiện, vốn sống được tăng lên, hiểu rõ hơn về nguồn cội, quê hương và những tri thức mới lạ trên thế giới.
+Một xã hội giữ gìn được văn hóa sẽ là một xã hội văn minh
- Nếu chúng ta không biết giữ gìn văn hóa:
+ Tâm hồn mỗi người sẽ trở nên khô khan, vốn kiến thức về cuộc sống sẽ bị hạn hẹp, dẫn tới những nhanahj thức lệch lạc, không đúng đắn.
+ Một xã hội không giữ gìn được văn hóa, không giữ gìn được những điều tốt đẹp cha ông để lại sẽ là một xã hội mất đi căn bản và gốc rễ, không thể phát triển lâu bền.
Nêu phản đề
Hiện nay, nhiều người, nhất là những người trẻ đang dần quên mất những giá trị văn hóa tốt đẹp. Nhiều nền văn hóa khác nhau đã và đang du nhập vào Việt Nam: văn hóa châu Âu, văn hóa Hàn Quốc,… Nhiều bạn trẻ bị ảnh hưởng quá nặng nề, dẫn đến những hành động quá mức, thậm chí là lệch lạc, sai trái (sính ngoại, sống quá “thoáng”, đua đòi…)
Bài học nhận thức và hành động
- Việc tiếp thu những văn hóa mới lạ là điều cần thiết, nhưng hơn tất cả là phải giữ gìn và phát triển văn hóa dân tộc, không được để mất đi những giá trị tốt đẹp của cha ông để lại, nhất là trong bối cảnh hiện nay, có rất nhiều những mối đe dọa đang rình rập xung quanh chúng ta mọi lúc mọi nơi
- Đầu tiên cần phải chú ý đến việc rèn luyện ý thức của mỗi cá nhân. Mỗi người dân, từ người già đến trẻ nhỏ, đều cần ý thức được vai trò to lớn của bản sắc văn hóa dân tộc, từ đó, biết bảo vệ giữ gìn và phát huy để chúng không bị mai một đi theo thời gian
- Cần phải có sự vào cuộc của chính quyền, nhà nước từ trung ương đến địa phương. Nhà nước cần đầu tư trùng tu lại những sản phẩm văn hóa thuộc về vật chất cũng như bảo vệ những sản phẩm văn hóa thuộc về tinh thần
- Việc giữ gìn bản sắc văn hóa cũng đến từ những hành động vô cùng nhỏ bé: giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, mặc áo dài trong những ngày lễ lớn của đất nước…
Kết bài:
Khái quát lại vấn đề nghị luận đồng thời rút ra bài học và liên hệ bản thân
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 6
Đề thi
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng
Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng bắt nguồn từ thời đại Hùng Vương dựng nước và được tổ chức hàng năm từ ngày mồng 6 đến ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch tại Khu Di tích lịch sử Đền Hùng.
Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng đã trở thành lễ hội mang tính văn hóa tâm linh lớn nhất ở nước ta; hàng năm đến ngày Giỗ Tổ và tổ chức Lễ Hội, con cháu trên mọi miền Tổ quốc hành hương về với tấm lòng thành kính dâng lên Tổ tiên, tỏ lòng biết ơn công lao dựng nước của các vua Hùng và các bậc tiền nhân của dân tộc. Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng đã trở thành động lực tinh thần của dân tộc Việt Nam.

Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng chủ yếu gồm 2 phần: Phần Lễ và phần Hội. Phần lễ được tiến hành với nghi thức trang nghiêm, trọng thể tại đền Thượng; phần Hội được diễn ra với nhiều hoạt động văn hóa phong phú mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc dưới chân núi Hùng.

Trong phần Lễ: Nghi thức dâng hoa của các đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ, các tỉnh thành được tổ chức long trọng trên đền Thượng. Từ chiều mồng 9, các làng rước kiệu dâng lễ bánh giày, bánh chưng đã tập trung đông đủ dưới cổng Công Quán. Sáng sớm hôm sau, các đoàn đại biểu xếp hàng chỉnh tề đi sau cỗ kiệu rước lễ vật lần lượt đi lên đề trong tiếng nhạc của phường bát âm và đội múa sinh tiền. Tới trước cửa đền Thượng (Kính thiên lĩnh điện), đoàn đại biểu dừng lại kính cẩn dâng lễ vào Thượng cung. Đồng chí lãnh đạo tỉnh thay mặt cho nhân dân cả nước (năm chẵn là đồng chí nguyên thủ quốc gia hoặc lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) kính cẩn đọc diễn văn Lễ Tổ. Toàn bộ nội dung hành lễ được truyền tải trên hệ thống phát thanh, truyền hình để đồng bào cả nước theo dõi lễ hội. Trong thời gian tiến hành nghi lễ, toàn bộ diễn trường tạm ngừng các hoạt động để đảm bảo tính linh thiêng và nghiêm trang của Lễ Hội.
Phần Hội: Diễn ra tưng bừng náo nhiệt xung quanh khu vực núi Hùng. Hội Đền Hùng ngày nay có thêm nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa phong phú hấp dẫn. Trong khu vực hội, nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm, văn hóa phẩm, các quán bán hàng dịch vụ ăn uống, các trại văn hóa của 13 huyện, thành, thị, các hoạt động biểu diễn văn nghệ, thi đấu thể thao… tạo ra nhiều màu sắc sinh động, náo nhiệt cho bức tranh ngày hội. Các hoạt động văn hóa truyền thống, các trò chơi dân gian được tổ chức tại lễ hội như đấu vật, bắn nỏ, rước kiệu, hội thi gói, nấu bánh chưng, giã bánh giầy, thi kéo lửa thổi cơm, trò diễn “Bách nghệ khôi hài” và Trò Trám của làng Tứ Xã, rước lúa thần… Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp như chèo, kịch nói, hát quan họ, hát Xoan hội diễn văn nghệ trống đồng, tiếng giã đuống rộn ràng của các nghệ nhân dân gian người dân tộc Mường ở Thanh Sơn ra phục vụ Lễ hội.

Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng đã hình thành từ rất sớm và sự tồn tại của nó luôn gắn chặt với quá trình phát triển của lịch sử dân tộc. Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” và đạo lý “Ăn quả nhớ người trồng cây”, các vua Hùng cùng các vợ, con, các tướng lĩnh, các nhân vật liên quan thời kì Hùng Vương luôn được nhân dân ở các làng, xã trên phạm vi cả nước tôn thờ.
Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng hàng năm là hành hương mang ý nghĩa tâm linh đã trở thành nếp nghĩ, nét văn hóa truyền thống không thể thiếu của người Việt; đó là truyền thống văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.
(Trích https://dulichphutho.com.vn/vi/gioi-thieu-du-lich-phu-tho/le-hoi/gio-to-hung-vuong-le-hoi-den-hung-575.html)
Câu 1: Nội dung của văn bản trên viết về lễ hội nào của dân tộc ta?
A. Lễ hội Ok Om Bok
B. Lễ hội đua ghe ở Huế
C. Lễ hội Đống Đa ở đất võ Tây Sơn
D. Lễ hội Đền Hùng
Câu 2: Lễ hội ấy diễn ra ở đâu? Vào thời gian nào?
A. Lễ hội diễn ra ở Khu di tích lịch sử Đền Hùng – Phú Thọ vào tháng 3 âm lịch hàng năm
B. Lễ hội diễn ra vào lễ Quốc Khánh 2/9 hàng năm tại Thừa Thiên Huế
C. Lễ hội diễn ra vào ngày mùng 4 Tết âm lịch hàng năm tại Tây Sơn – Bình Định
D. Lễ hội diễn ra tại Khu danh thắng Tràng An – Ninh Bình vào tháng Giêng hàng năm
Câu 3: Lễ hội Đền Hùng bao gồm mấy phần? Đó là những phần nào?
A. Ba phần: phần Lễ, phần Hội và phần biểu diễn võ thuật
B. Hai phần: phần Lễ và phần Hội
C. Chỉ có phần hội
D. Tất cả các đáp án trên đều sai
Câu 4: Trong phần Lễ, nhân dân thường dâng lên vua Hùng lễ vật gì?
A. Bánh nướng, bánh dẻo
B. Bánh khúc
C. Bánh chưng, bánh dày
D. Bánh cốm
Câu 5: Trong câu văn sau: Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” và đạo lý “Ăn quả nhớ người trồng cây”, các Vua Hùng cùng các vợ, các tướng lĩnh, các nhân vật liên quan thời kì Hùng Vương luôn được nhân dân ở các làng, xã trên phạm vi cả nước tôn thờ tác giả đã sử dụng cách trích dẫn nào?
A. Trích dẫn gián tiếp
B. Trích dẫn trực tiếp
C. Trích dẫn theo ý
D. Trích dẫn chính xác
Câu 6: Trong đoạn văn sau, tác giả chủ yếu sử dụng biện pháp tu từ nào để làm sáng tỏ sự phong phú trong phần hội của lễ hội đền Hùng. Các hoạt động văn hóa truyền thống, các trò chơi dân gian được tổ chức tại lễ hội như đấu vật, bắn nỏ, rước kiệu, hội thi gói, nấu bánh chưng, giã bánh giầy, thi kéo lửa thổi cơm, trò diễn “Bách nghệ khôi hài” và Trò Trám của làng Tứ Xã, rước lúa thần… Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp như Chèo, kịch nói, hát quan họ, hát Xoan hội diễn văn nghệ quần chúng phục vụ đồng bào về dự hội
A. Nhân hóa
B. So sánh
C. Ẩn dụ
D. Liệt kê
Câu 7: Nhận định nào không đúng khi nói về lễ hội Hùng?
A. Giỗ tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng đã hình thành từ rất sớm và sự tồn tại của nó luôn gắn chặt với quá trình phát triển của lịch sử dân tộc
B. Giỗ tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng mới được tổ chức sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975 nhưng đã có giá trị vô cùng to lớn
C. Giỗ tổ Hùng Vương – Lễ hội đền Hùng hàng năm là hành hương mang ý nghĩa tâm linh đã trở thành nếp nghĩ, nét văn hóa truyền thống không thể thiếu của người Việt; đó là truyền thống văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam
D. Tất cả các nhận định trên đều đúng
Câu 8: Mục đích của lễ hội Đền Hùng là:
A. Thể hiện lòng đoàn kết của dân tộc
B. Thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc
C. Thể hiện tấm lòng thành kính dâng lên tổ tiên, tỏ lòng biết ơn công lao dựng nước của các vua Hùng và các bậc hiền nhân của dân tộc
D. Thể hiện truyền thống “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc
Câu 9: Khi thuật lại lễ hội Đền Hùng, người viết đã bày tỏ những cảm nhận như thế nào? (1đ)
Câu 10: Việc sử dụng kết hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và hình ảnh có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung của sự kiện?(1đ)
II. VIẾT (4đ)
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của anh chị về đạo lý Uống nước nhớ nguồn
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1(0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3(0.5đ) |
Câu 4(0.5đ) |
Câu 5(0.5đ) |
Câu 6(0.5đ) |
Câu 7(0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
D |
A |
B |
C |
B |
D |
B |
C |
|
Câu 1: Nội dung của văn bản trên viết về lễ hội nào của dân tộc ta? A. Lễ hội Ok Om Bok B. Lễ hội đua ghe ở Huế C. Lễ hội Đống Đa ở đất võ Tây Sơn D. Lễ hội Đền Hùng |
Phương pháp giải:
Chú ý nhan đề và đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Nội dung của văn bản: viết về lễ hội Đền Hùng
→ Đáp án D
|
Câu 2: Lễ hội ấy diễn ra ở đâu? Vào thời gian nào? A. Lễ hội diễn ra ở Khu di tích lịch sử Đền Hùng – Phú Thọ vào tháng 3 âm lịch hàng năm B. Lễ hội diễn ra vào lễ Quốc Khánh 2/9 hàng năm tại Thừa Thiên Huế C. Lễ hội diễn ra vào ngày mùng 4 Tết âm lịch hàng năm tại Tây Sơn – Bình Định D. Lễ hội diễn ra tại Khu danh thắng Tràng An – Ninh Bình vào tháng Giêng hàng năm |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn đầu văn bản
Lời giải chi tiết:
Lễ hội diễn ra ở Khu di tích lịch sử Đền Hùng – Phú Thọ vào tháng 3 âm lịch hàng năm
→ Đáp án A
|
Câu 3: Lễ hội Đền Hùng bao gồm mấy phần? Đó là những phần nào? A. Ba phần: phần Lễ, phần Hội và phần biểu diễn võ thuật B. Hai phần: phần Lễ và phần Hội C. Chỉ có phần hội D. Tất cả các đáp án trên đều sai |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn 2 của văn bản
Lời giải chi tiết:
Lễ hội có hai phần: phần Lễ và phần Hội
→ Đáp án B
|
Câu 4: Trong phần Lễ, nhân dân thường dâng lên vua Hùng lễ vật gì? A. Bánh nướng, bánh dẻo B. Bánh khúc C. Bánh chưng, bánh dày D. Bánh cốm |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ và tìm kiếm thông tin ở đoạn 3
Lời giải chi tiết:
Trong phần Lễ, nhân dân thường dâng lên vua Hùng bánh chưng, bánh dày
→ Đáp án C
|
Câu 5: Trong câu văn sau: Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” và đạo lý “Ăn quả nhớ người trồng cây”, các Vua Hùng cùng các vợ, các tướng lĩnh, các nhân vật liên quan thời kì Hùng Vương luôn được nhân dân ở các làng, xã trên phạm vi cả nước tôn thờ tác giả đã sử dụng cách trích dẫn nào? A. Trích dẫn gián tiếp B. Trích dẫn trực tiếp C. Trích dẫn theo ý D. Trích dẫn chính xác |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức phần trích dẫn trực tiếp gián tiếp
Lời giải chi tiết:
Câu văn trên là trích dẫn trực tiếp (nhắc lại nguyên vẹn lời nói hay ý nghĩa của người hoặc nhân vật; lời dẫn trực tiếp được đặt trong dấu ngoặc kép)
→ Đáp án B
|
Câu 6: Trong đoạn văn sau, tác giả chủ yếu sử dụng biện pháp tu từ nào để làm sáng tỏ sự phong phú trong phần hội của lễ hội đền Hùng. Các hoạt động văn hóa truyền thống, các trò chơi dân gian được tổ chức tại lễ hội như đấu vật, bắn nỏ, rước kiệu, hội thi gói, nấu bánh chưng, giã bánh giầy, thi kéo lửa thổi cơm, trò diễn “Bách nghệ khôi hài” và Trò Trám của làng Tứ Xã, rước lúa thần… Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp như Chèo, kịch nói, hát quan họ, hát Xoan hội diễn văn nghệ quần chúng phục vụ đồng bào về dự hội A. Nhân hóa B. So sánh C. Ẩn dụ D. Liệt kê |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức và cách nhận biết các biện pháp nghệ thuật
Lời giải chi tiết:
Đoạn văn trên tác giả sử dụng chủ yếu biện pháp liệt kê (kể ra các trò chơi, các hoạt động trong phần hội)
→ Đáp án D
|
Câu 7: Nhận định nào không đúng khi nói về lễ hội Hùng? A. Giỗ tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng đã hình thành từ rất sớm và sự tồn tại của nó luôn gắn chặt với quá trình phát triển của lịch sử dân tộc B. Giỗ tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng mới được tổ chức sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975 nhưng đã có giá trị vô cùng to lớn C. Giỗ tổ Hùng Vương – Lễ hội đền Hùng hàng năm là hành hương mang ý nghĩa tâm linh đã trở thành nếp nghĩ, nét văn hóa truyền thống không thể thiếu của người Việt; đó là truyền thống văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam D. Tất cả các nhận định trên đều đúng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Sử dụng phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Nhận định không đúng là
Giỗ tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng mới được tổ chức sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975 nhưng đã có giá trị vô cùng to lớn
→ Đáp án B
|
Câu 8: Mục đích của lễ hội Đền Hùng là: A. Thể hiện lòng đoàn kết của dân tộc B. Thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc C. Thể hiện tấm lòng thành kính dâng lên tổ tiên, tỏ lòng biết ơn công lao dựng nước của các vua Hùng và các bậc hiền nhân của dân tộc D. Thể hiện truyền thống “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn cuối văn bản
Lời giải chi tiết:
Mục đích của lễ hội Đền Hùng: Thể hiện tấm lòng thành kính dâng lên tổ tiên, tỏ lòng biết ơn công lao dựng nước của các vua Hùng và các bậc hiền nhân của dân tộc
→ Đáp án C
Câu 9: Khi thuật lại lễ hội Đền Hùng, người viết đã bày tỏ những cảm nhận như thế nào? (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đưa ra những dẫn chứng về cảm nhận của người viết
Lời giải chi tiết:
Người viết bày tỏ tình cảm:
- Tôn kính với với các bậc tiền nhân đã có công dựng nước là vua Hùng
- Tự hào về một lễ hội truyền thống có ý nghĩa tinh thần vô cùng sâu sắc với người Việt Nam
-Bày tỏ quan điểm muốn gìn giữ và phát huy lễ hội đền Hùng trong tương lai
Câu 10: Việc sử dụng kết hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và hình ảnh có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung của sự kiện?(1đ)
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về sự kết hợp giữa các phương tiện ngôn ngữ
Lời giải chi tiết:
Việc kết hợp giữa ngôn ngữ và hình ảnh giúp cho thông tin trở nên cụ thể, khách quan và chân thực, giúp người đọc hình dung dễ dàng hơn về diễn biến của sự kiện diễn ra trong lễ hội
II. VIẾT (4đ)
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của anh chị về đạo lý Uống nước nhớ nguồn
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
*Yêu cầu chung: HS kết hợp được kiến thức và kĩ năng để viết bài văn nghị luận xã hội. Bài viết phải có bố cục 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài) đầy đủ, rõ ràng; đúng kiểu bài nghị luận; diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
*Yêu cầu cụ thể
1. Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu về câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” và vấn đề nghị luận: Lòng biết ơn, khẳng định đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta
2. Thân bài:
- Giải thích câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”
+ “Uống nước” là thừa hưởng hoặc sử dụng thành quả lao động hay thành quả đấu tranh cách mạng của các thế hệ trước đã để lại.
+ “Nguồn” là nơi bắt đầu của nguồn nước, là từ dùng để thể hiện cho sự bắt nguồn của thành quả mà mình được hưởng. Nguồn trong câu tục ngữ này còn có thể hiểu là cội nguồn, là tổ tiên, thế hệ đi trước của con người → nhắc nhở con người phải có thái độ biết ơn khi được thừa hưởng những thành quả của thế hệ đi trước hay người khác để lại
- Phân tích các biểu hiện và ý nghĩa của lòng biết ơn
+ Trong cuộc sống, không có bất cứ một sự vật hay thành quả nào mà không có nguồn gốc, không do công sức của con người tạo nên (của cải do bàn tay lao động tạo nên, con cái do cha mẹ sinh ra và nuôi dưỡng, đất nước trở nên giàu đẹp là do cha ông đã giữ gìn và xây dựng)
→ Lòng biết ơn cũng là 1 phẩm chất tốt đẹp, là truyền thống cao quý của con người Việt Nam
- Biểu hiện: Người có lòng biết ơn là những người biết trân trọng những thành tựu của thế hệ trước để lại bằng những tình cảm tốt đẹp nhất. Họ sẽ có những hành động thiết thực để tưởng nhớ, khắc ghi công lao của ông cha như cố gắng học tập, lao động để có cuộc sống tốt đẹp và xây dựng đất nước phát triển văn minh hơn; gây dựng một tương lai tươi sáng cho thể hệ mai sau
- Ý nghĩa: Sống biết ơn khiến bản thân bồi đắp được một tâm hồn đẹp đẽ, sống thanh thản, an nhiên, tự tại, được mọi người yêu quý và kính phục. Mặt khác, khi tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” lan tỏa ra cộng đồng, sẽ tạo nên những thông điệp tích cực và truyền thống biết ơn giúp cho con người hiểu giá trị cuộc sống.
(Hs tự lấy dẫn chứng về tấm gương “Uống nước nhớ nguồn” để minh họa cho bài làm văn của mình)
- Phản biện: Bên cạnh những người biết “Uống nước nhớ nguồn”, vẫn còn nhiều người sống vô ơn, bỏ quên đi những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc. Hoặc coi những gì đất nước mình đang có và mình đang được thừa hưởng là những điều có sẵn mà không cần phải cố gắng xây dựng, bảo vệ,… nên sống ích kỉ, không biết trân trọng, giữ gìn. Đây là những suy nghĩ lệch lạc mà chúng ta cần phải phê phán và bài trừ.
- Bài học nhận thức và hành động
+ Cần tự hào với lịch sử anh hùng và truyền thống văn hóa vẻ vang của dân tộc, từ đó ra sức góp phần bảo vệ đất nước, tích cực học tập và lao động để xây dựng đất nước giàu đẹp hơn
+ Trong thời kì hội nhập, một mặt chúng ta tiếp thu tinh hoa văn hóa nước ngoài, mặt khác chúng ta cũng cần phải có ý thức gìn giữ bản sắc, tinh hoa của dân tộc Việt Nam
3. Kết bài
- Khái quát và khẳng định ý nghĩa của câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”
- Liên hệ, nêu bài học kinh nghiệm rút ra từ câu tục ngữ
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
Thuật hứng 24
Công danh đã được hợp (1) về nhàn,
Lành dữ âu chi (2) thế nghị (3) khen.
Ao cạn vớt bèo cấy muống,
Đìa thanh (4) phát cỏ ương sen.
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc (5),
Thuyền chở yên hà (6) nặng vạy (7) then.
Bui có một lòng trung lẫn (9) hiếu,
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen. (10)
(Thuật hứng 24 – Nguyễn Trãi, Trích Luận đề về Nguyễn Trãi, NXB Thanh niên, 2003, tr.87)
(1) Hợp: Tiếng cổ có nghĩa là đáng, nên
(2) Âu chi: Lo chi
(3) Nghị: dị nghị ở đây hiểu là chê
(4) Đìa thanh: đìa là vũng nước ngoài đồng. Thanh là trong
(5) Đầy qua nóc: đầy quá nóc nhà, nóc kho
(6) Yên hà: khói, ráng
(7) Vạy: oằn, cong. Nặng vạy then: chở nặng làm thang thuyền oằn xuống
(8) Bui: tiếng cổ, nghĩa là chỉ có
(9) Lẫn: (hoặc lễn, miễn): tiếng cổ nghĩa là với hoặc và
(10) Mài chăng khuyết… mài cũng không mòn, nhuộm cũng không đen: Ý nói lòng trung hiếu bền vững
Câu 1: Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?
A. Thơ tự do
B. Thơ thất ngôn xen lục ngôn
C. Thơ thất ngôn
D. Thơ thất ngôn bát cú
Câu 2: Cặp từ trái nghĩa trong câu thơ thứ hai Lành dữ âu chi thế nghị khen là cặp từ nào?
A. Khen - chê
B. Lành - khen
C. Lành – dữ
D. Lành – dữ và khen - chê
Câu 3: Trong 2 câu thực: Ao cạn vớt bèo cấy muống – Đìa thanh phát cỏ ương sen, tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?
A. Đối
B. Nhân hóa
C. Ẩn dụ
D. Liệt kê
Câu 4: Trong hai câu luận: Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc – Thuyền chở yên hà nặng vạy then, tác giả đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật gì?
A. Nhân hóa và so sánh
B. So sánh và ẩn dụ
C. Đối và phóng đại
D. Nhân hóa và đối
Câu 5: Hai câu thơ kết cho ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn gì ở nhà thơ Nguyễn Trãi?
A. Tấm lòng trung hiếu (lòng yêu nước, thương dân), kiên trì với lí tưởng yêu nước thương dân…
B. Tâm hồn thanh cao, lối sống thanh nhàn, hòa hợp với tự nhiên
C. Bất mãn với cuộc sống nghèo khổ ở chốn nông thôn, chán ghét thực tại
D. Tâm hồn yêu thiên nhiên, muốn sống cuộc đời ẩn dật, thanh cao chốn làng quê
Câu 6: Trong bài thơ có mấy câu thơ lục ngôn?
A. 1 câu
B. 2 câu
C. 3 câu
D. 4 câu
Câu 7: Từ “phong nguyệt” trong câu thơ Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc được hiểu là gì?
A. Có nghĩa là gió trăng
B. Có nghĩa là mây gió
C. Có nghĩa là gió lớn
D. Có nghĩa là trăng sáng
Câu 8: Hình ảnh hai câu thơ: Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc – Thuyền chở yên hà nặng vạy then cho thấy điều gì trong con người Nguyễn Trãi?
A. Một con người gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết
B. Một con người nghệ sĩ có tâm hồn lãng mạn, phóng khoáng
C. Một người nông dân gắn bó với cuộc sống giản dị nơi làng quê
D. Vừa là một con người gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết, vừa là một người nghệ sĩ có tâm hồn lãng mạn, phóng khoáng
Câu 9: Nêu suy nghĩ của em về 2 câu thơ đầu của bài thơ:(1đ)
Công danh đã được hợp về nhàn,
Lành dữ âu chi thế nghị khen.
Câu 10: Em có đồng tình với quan niệm của Nguyễn Trãi: Công danh đã được hợp về nhàn không? Vì sao?(1đ)
II. VIẾT (4đ)
Bài thơ Thuật hứng 24 của Nguyễn Trãi gợi anh/chị nghĩ đến phẩm chất quan trọng nào của con người? Hãy viết bài văn bàn về ý nghĩa của phẩm chất đó
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đán án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1(0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3(0.5đ) |
Câu 4(0.5đ) |
Câu 5(0.5đ) |
Câu 6(0.5đ) |
Câu 7(0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
C |
C |
D |
C |
A |
C |
A |
D |
|
Câu 1: Văn bản trên được viết theo thể thơ nào? A. Thơ tự do B. Thơ thất ngôn xen lục ngôn C. Thơ thất ngôn D. Thơ thất ngôn bát cú |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về thể thơ
Lời giải chi tiết:
Văn bản được viết theo thể thơ thất ngôn xem lục ngôn
→ Đáp án C
|
Câu 2: Cặp từ trái nghĩa trong câu thơ thứ hai Lành dữ âu chi thế nghị khen là cặp từ nào? A. Khen - chê B. Lành - khen C. Lành – dữ D. Lành – dữ và khen - chê |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu thơ và chỉ ra cặp từ trái nghĩa
Lời giải chi tiết:
Cặp từ trái nghĩa trong câu là lành - dữ
→ Đáp án C
|
Câu 3: Trong 2 câu thực: Ao cạn vớt bèo cấy muống – Đìa thanh phát cỏ ương sen, tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? A. Đối B. Nhân hóa C. Ẩn dụ D. Liệt kê |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nghệ thuật
Đọc kĩ 2 câu thực
Lời giải chi tiết:
Trong hai câu trên, tác giả đã sử dụng phép liệt kê "ao cạn, vớt bèo, cấy muốn, phát cỏ, ương sen"
Tác dụng:
Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm, tạo nhịp điệu cho câu thơ
Nhấn mạnh về cuộc sống bình dị, nông nhàn của tác giả
Tình yêu thiên nhiên, sự gắn bó với cuộc sống bình dị
→ Đáp án D
|
Câu 4: Trong hai câu luận: Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc – Thuyền chở yên hà nặng vạy then, tác giả đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật gì? A. Nhân hóa và so sánh B. So sánh và ẩn dụ C. Đối và phóng đại D. Nhân hóa và đối |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai câu thơ
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nghệ thuật
Lời giải chi tiết:
Hai câu thơ trên tác giả sử dụng biện pháp đối và phóng đại
→ Đáp án C
|
Câu 5: Hai câu thơ kết cho ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn gì ở nhà thơ Nguyễn Trãi? A. Tấm lòng trung hiếu (lòng yêu nước, thương dân), kiên trì với lí tưởng yêu nước thương dân… B. Tâm hồn thanh cao, lối sống thanh nhàn, hòa hợp với tự nhiên C. Bất mãn với cuộc sống nghèo khổ ở chốn nông thôn, chán ghét thực tại D. Tâm hồn yêu thiên nhiên, muốn sống cuộc đời ẩn dật, thanh cao chốn làng quê |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai câu thơ cuối và phân tích vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ
Lời giải chi tiết:
Vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi thể hiện qua cặp câu kết: tấm lòng trung hiếu/ lòng yêu nước, thương dân/ kiên trì với lí tưởng yêu nước thương dân…
→ Đáp án A
|
Câu 6: Trong bài thơ có mấy câu thơ lục ngôn? A. 1 câu B. 2 câu C. 3 câu D. 4 câu |
Phương pháp giải:
Nhớ lại khái niệm câu thơ lục ngôn
Rà soát lại bài thơ
Lời giải chi tiết:
Trong bài thơ có 3 câu thơ lục ngôn (6 chữ)
→ Đáp án C
|
Câu 7: Từ “phong nguyệt” trong câu thơ Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc được hiểu là gì? A. Có nghĩa là gió trăng B. Có nghĩa là mây gió C. Có nghĩa là gió lớn D. Có nghĩa là trăng sáng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu thơ và áp dụng nghĩa đúng của từ phong nguyệt
Lời giải chi tiết:
Từ “phong nguyệt” trong câu thơ trên có nghĩa là: gió trăng
→ Đáp án A
|
Câu 8: Hình ảnh hai câu thơ: Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc – Thuyền chở yên hà nặng vạy then cho thấy điều gì trong con người Nguyễn Trãi? A. Một con người gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết B. Một con người nghệ sĩ có tâm hồn lãng mạn, phóng khoáng C. Một người nông dân gắn bó với cuộc sống giản dị nơi làng quê D. Vừa là một con người gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết, vừa là một người nghệ sĩ có tâm hồn lãng mạn, phóng khoáng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ và phân tích hai câu thơ
Chú ý những hình ảnh tiêu biểu
Lời giải chi tiết:
Hai câu thơ cho thấy tác giả Vừa là một con người gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết, vừa là một người nghệ sĩ có tâm hồn lãng mạn, phóng khoáng
→ Đáp án D
Câu 9: Nêu suy nghĩ của em về 2 câu thơ đầu của bài thơ:(1đ)
Công danh đã được hợp về nhàn,
Lành dữ âu chi thế nghị khen.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai câu thơ đầu
Chú ý những chi tiết nổi bật
Lời giải chi tiết:
Hai câu thơ đầu bài Thuật hứng 24 đã thể hiện quan niệm sống của tác giả Nguyễn Trãi: Khi đã có công danh đầy đủ, khi đã cống hiến cho đất nước, nhân dân, có thể tìm đến cuộc sống nhàn, tận hưởng cuộc sống, không cần chú ý đến việc đó là lành hay dữ, không cần chú ý đến miệng lưỡi của thế gian khen hay chê. Đây là một quan niệm thường thấy của các nhà nho với ảnh hưởng của triết lí nhàn dật. Qua đó, ta thấy phần nào tâm hồn thanh cao, nhân cách cao cả của nhà thơ khi cáo quan về ở ẩn tại quê nhà
Câu 10: Em có đồng tình với quan niệm của Nguyễn Trãi: Công danh đã được hợp về nhàn không? Vì sao?(1đ)
Phương pháp giải:
Nêu quan điểm của bản thân và lý giải hợp lý
Lời giải chi tiết:
Học sinh có thể đồng tình hoặc không đồng tình với quan điểm sống của Nguyễn Trãi, miễn là giải thích hợp lí. Có thể triển khai theo hướng như sau:
- Đồng tình vì khi đã đạt được công danh, hoàn thành sự nghiệp, ước mơ, lí tưởng, cống hiến được nhiều cho xã hội, con người cũng cần được nghỉ ngơi, được tận hưởng cuộc sống. Đây là một nhu cầu chính đáng mà có nhiều nhà nho đã theo đuổi như Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ.
- Không đồng tình vì: Cuộc sống con người là luôn luôn cố gắng, không dừng lại, không bằng lòng với chính mình, luôn cống hiến hết mình cho xã hội; cho phép mình nghỉ ngơi sẽ khiến ta lạc hậu, đánh mất giá trị của bản thân. Việc chỉ tìm đến cuộc sống tận hưởng cho bản thân hoàn toàn không hề phù hợp với thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước bởi đó là lối sống ích kỉ, không góp phần phát triển và xây dựng đất nước trong thời hiện tại…
II. VIẾT (4đ)
Bài thơ Thuật hứng 24 của Nguyễn Trãi gợi anh/chị nghĩ đến phẩm chất quan trọng nào của con người? Hãy viết bài văn bàn về ý nghĩa của phẩm chất đó
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
*Yêu cầu chung: HS kết hợp được kiến thức và kĩ năng để viết bài văn nghị luận xã hội. Bài viết phải có bố cục 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài) đầy đủ, rõ ràng; đúng kiểu bài nghị luận; diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
*Yêu cầu cụ thể
1. Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề cần nghị luận: bàn về một phẩm chất quan trọng của con người được gợi ra từ bài thơ Thuật hứng 24: lòng yêu nước, nhân cách thanh cao, kiên trì với lý tưởng…
2. Thân bài:
- Giải thích ngắn gọn khái niệm về phẩm chất đó
- Lý giải ngắn gọn vì sao đó là một phẩm chất quan trọng không thể thiếu của con người
- Phân tích các biểu hiện và ý nghĩa của phẩm chất đó
- Nêu phản đề và rút ra bài học, ý thức trách nhiệm của bản thân (bài học nhận thức và hành động…)
3. Kết bài
- Khái quát lại vấn đề cần nghị luận, liên hệ
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 8
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
Thuật hứng 24
Công danh đã được hợp (1) về nhàn,
Lành dữ âu chi (2) thế nghị (3) khen.
Ao cạn vớt bèo cấy muống,
Đìa thanh (4) phát cỏ ương sen.
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc (5),
Thuyền chở yên hà (6) nặng vạy (7) then.
Bui có một lòng trung lẫn (9) hiếu,
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen. (10)
(Thuật hứng 24 – Nguyễn Trãi, Trích Luận đề về Nguyễn Trãi, NXB Thanh niên, 2003, tr.87)
(1) Hợp: Tiếng cổ có nghĩa là đáng, nên
(2) Âu chi: Lo chi
(3) Nghị: dị nghị ở đây hiểu là chê
(4) Đìa thanh: đìa là vũng nước ngoài đồng. Thanh là trong
(5) Đầy qua nóc: đầy quá nóc nhà, nóc kho
(6) Yên hà: khói, ráng
(7) Vạy: oằn, cong. Nặng vạy then: chở nặng làm thang thuyền oằn xuống
(8) Bui: tiếng cổ, nghĩa là chỉ có
(9) Lẫn: (hoặc lễn, miễn): tiếng cổ nghĩa là với hoặc và
(10) Mài chăng khuyết… mài cũng không mòn, nhuộm cũng không đen: Ý nói lòng trung hiếu bền vững
Câu 1: Bài thơ viết theo thể thơ nào?
A. Thất ngôn bát cú
B. Thất ngôn tứ tuyệt
C. Thất ngôn bát cú Đường luật.
D. Lục bát
Câu 2: Ý nào dưới đây đúng khi nói về nghĩa của câu thơ thứ nhất?
A. Hoàn cảnh hiện tại của Nguyễn Trãi thích hợp với việc về nhàn.
B. Nguyễn Trãi vẫn rất khao khát đối với việc lập công danh nhưng thời thế không cho phép, bắt buộc ông phải về nhàn.
C. Đối với Nguyễn Trãi, nếu không còn công danh thì lựa chọn tốt nhất là lui về nhàn.
D. Đối với Nguyễn Trãi, công danh chỉ là tạm bợ, thú nhàn là điều ông luôn hướng tới.
Câu 3: Phép đối được sử dụng trong những câu thơ nào?
A. Hai câu đề
B. Hai câu thực, hai câu luận
C. Hai câu luận, hai câu kết
D. Hai câu kết
Câu 4: Nhận xét: “Dường như tác giả đã thu nhận tất cả vẻ đẹp thiên nhiên vào làm tài sản riêng của mình, đúng như mơ ước “Túi thơ chứa hết mọi giang san” Phù hợp với nội dung những câu thơ nào dưới đây?
A. Hai câu đề
B. Hai câu thực
C. Hai câu luận
D. Hai câu kết
Câu 5: Hai câu thực và hai câu luận có nội dung biểu đạt là gì?
A. Nói về cuộc sống lao động bình dị và khẳng định cuộc sống tinh thần phong phú của Nguyễn Trãi khi về nhàn.
B. Nói về cuộc sống lao động vất vả nhưng đầy đủ vật chất của Nguyễn Trãi khi về nhàn.
C. Nói về cuộc sống lao động thiếu thốn trong hiện tại, đối lập với cuộc sống giàu sang ngày còn làm quan của Nguyễn Trãi.
D. Nói về những công việc lao động lặp lại nhàm chán và ước mơ của Nguyễn Trãi về một cuộc sống phóng túng.
Câu 6: “Về nhàn rồi thì việc tốt xấu đến cũng không sợ người đời khen hay chê nữa” suy nghĩ trên được thể hiện trong câu thơ nào?
A. Lành dữ âu chi thế ngợi khen.
B. Công danh đã được hợp về nhàn,
C. Mài chăng khuyết, nhuộm răng đen
D. Bui có một lòng trung liễn hiếu,
Câu 7: Ý nào sau đây đúng khi nói về nội dung của câu thơ cuối?
A. Thể hiện lòng hiếu thảo của Nguyễn Trãi đối với cha mẹ.
B. Thể hiện lòng trung thành của Nguyễn Trãi đối với vua.
C. Thể hiện tấm lòng phục tùng vua bất kể đúng sai của Nguyễn Trãi.
D. Thể hiện lòng trung với nước, hiếu với dân của Nguyễn Trãi.
Câu 8: Nêu nội dung chính của bài thơ trên. (0.5đ)
Câu 9: Nêu những yếu tố của văn học dân gian trong bài thơ. (1đ)
Câu 10: Bài thơ trên thể hiện vẻ đẹp gì trong tâm hồn của Nguyễn Trãi. (1đ)
II. VIẾT (4đ)
Bài thơ Thuật hứng 24 của Nguyễn Trãi gợi anh/chị nghĩ đến phẩm chất quan trọng nào của con người? Hãy viết bài văn bàn về ý nghĩa của phẩm chất đó
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1(0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3(0.5đ) |
Câu 4(0.5đ) |
Câu 5(0.5đ) |
Câu 6(0.5đ) |
Câu 7(0.5đ) |
|
C |
A |
B |
C |
A |
A |
D |
|
Câu 1. Bài thơ viết theo thể thơ nào? A. Thất ngôn bát cú B. Thất ngôn tứ tuyệt C. Thất ngôn bát cú Đường luật. D. Lục bát |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về thể thơ
Lời giải chi tiết:
Văn bản được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật
→ Đáp án C
|
Câu 2. Ý nào dưới đây đúng khi nói về nghĩa của câu thơ thứ nhất? A. Hoàn cảnh hiện tại của Nguyễn Trãi thích hợp với việc về nhàn. B. Nguyễn Trãi vẫn rất khao khát đối với việc lập công danh nhưng thời thế không cho phép, bắt buộc ông phải về nhàn. C. Đối với Nguyễn Trãi, nếu không còn công danh thì lựa chọn tốt nhất là lui về nhàn. D. Đối với Nguyễn Trãi, công danh chỉ là tạm bợ, thú nhàn là điều ông luôn hướng tới. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu thơ thứ nhất và đưa ra phân tích
Lời giải chi tiết:
Câu thơ: “Công danh đã được hợp về nhàn” ý muốn nói hoàn cảnh của Nguyễn Trãi thích hợp với việc về nhàn.
→ Đáp án A
|
Câu 3. Phép đối được sử dụng trong những câu thơ nào? A. Hai câu đề B. Hai câu thực, hai câu luận C. Hai câu luận, hai câu kết D. Hai câu kết |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về phép đối
Đọc kĩ bài thơ
Lời giải chi tiết:
Phép đối được sử dụng trong hai câu thực và hai câu luận
→ Đáp án B
|
Câu 4. Nhận xét: “Dường như tác giả đã thu nhận tất cả vẻ đẹp thiên nhiên vào làm tài sản riêng của mình, đúng như mơ ước “Túi thơ chứa hết mọi giang san” Phù hợp với nội dung những câu thơ nào dưới đây? A. Hai câu đề B. Hai câu thực C. Hai câu luận D. Hai câu kết |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhận xét và bài thơ
Lời giải chi tiết:
Lời nhận xét phù hợp với nội dung câu thơ: “Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc/ Thuyền chở yên hà nặng vạy then.”
→ Đáp án C
|
Câu 5. Hai câu thực và hai câu luận có nội dung biểu đạt là gì? A. Nói về cuộc sống lao động bình dị và khẳng định cuộc sống tinh thần phong phú của Nguyễn Trãi khi về nhàn. B. Nói về cuộc sống lao động vất vả nhưng đầy đủ vật chất của Nguyễn Trãi khi về nhàn. C. Nói về cuộc sống lao động thiếu thốn trong hiện tại, đối lập với cuộc sống giàu sang ngày còn làm quan của Nguyễn Trãi. D. Nói về những công việc lao động lặp lại nhàm chán và ước mơ của Nguyễn Trãi về một cuộc sống phóng túng. Nội dung hai câu luận: Nói về cuộc sống lao động bình dị và khẳng định cuộc sống tinh thần phong phú của Nguyễn Trãi khi về nhàn. → Đáp án A |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai câu thơ cuối và phân tích vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ
Lời giải chi tiết:
Vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi thể hiện qua cặp câu kết: tấm lòng trung hiếu/ lòng yêu nước, thương dân/ kiên trì với lí tưởng yêu nước thương dân…
→ Đáp án A
|
Câu 6. “Về nhàn rồi thì việc tốt xấu đến cũng không sợ người đời khen hay chê nữa” suy nghĩ trên được thể hiện trong câu thơ nào? A. Lành dữ âu chi thế ngợi khen. B. Công danh đã được hợp về nhàn, C. Mài chăng khuyết, nhuộm răng đen D. Bui có một lòng trung liễn hiếu, |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ ý kiến và bài thơ
Lời giải chi tiết:
Suy nghĩ “Về nhàn rồi thì việc tốt xấu đến cũng không sợ người đời khen hay chê nữa” được thể hiện trong câu thơ: Lành dữ âu chi thế ngợi khen.
→ Đáp án A
|
Câu 7. Ý nào sau đây đúng khi nói về nội dung của câu thơ cuối? A. Thể hiện lòng hiếu thảo của Nguyễn Trãi đối với cha mẹ. B. Thể hiện lòng trung thành của Nguyễn Trãi đối với vua. C. Thể hiện tấm lòng phục tùng vua bất kể đúng sai của Nguyễn Trãi. D. Thể hiện lòng trung với nước, hiếu với dân của Nguyễn Trãi. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu thơ cuối và lựa chọn đáp án phù hợp
Lời giải chi tiết:
Nội dung của câu thơ cuối: Thể hiện lòng trung với nước, hiếu với dân của Nguyễn Trãi.
→ Đáp án D
Câu 8: Nêu nội dung chính của bài thơ trên.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ và xác định nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Bài thơ thể hiện sự lựa chọn của Nguyễn Trãi khi lui về ở ẩn, trở về với cuộc sống hòa mình vào thiên nhiên, với công việc đồng ruộng và rời xa chốn quan trường đầy toan tính.
Tuy vậy, ẩn sâu trong tâm hồn ông vẫn là tấm lòng luôn hướng về dân về nước. Bài thơ ca ngợi tâm hồn thanh cao, trái tim yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi.
Câu 9: Nêu những yếu tố của văn học dân gian trong bài thơ.
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về văn học dân gian
Lời giải chi tiết:
Những yếu tố của văn học dân gian trong bài thơ:
- Viết về lối sống nhàn, gần gũi với thú vui của người xưa trong ca dao
- Tâm thế an nhàn, ung dung, tự tại của Nguyễn Trãi có nét tương đồng với tâm thế của người bình dân trong ca dao, dân ca.
- Sử dụng hình ảnh, ngôn ngữ dân gian tự nhiên, gần gũi.
→ Những yếu tố tượng trưng, ước lệ của thơ trung đại đã được thay thế bằng những chất liệu gần gũi, ngôn ngữ dân tộc được sử dụng tinh tế, gợi cảm.
Câu 10: Bài thơ trên thể hiện vẻ đẹp gì trong tâm hồn của Nguyễn Trãi.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ và phân tích vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ
Lời giải chi tiết:
Qua bài thơ, người đọc có thể nhận thấy vẻ đẹp thanh cao của một con người trọng khí tiết trong Nguyễn Trãi.
Bài thơ khiến người đọc thêm yêu mến nhân cách và tấm lòng ông dành trọn cho nhân dân, đất nước.
II. VIẾT (4đ)
Bài thơ Thuật hứng 24 của Nguyễn Trãi gợi anh/chị nghĩ đến phẩm chất quan trọng nào của con người? Hãy viết bài văn bàn về ý nghĩa của phẩm chất đó
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
*Yêu cầu chung: HS kết hợp được kiến thức và kĩ năng để viết bài văn nghị luận xã hội. Bài viết phải có bố cục 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài) đầy đủ, rõ ràng; đúng kiểu bài nghị luận; diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
*Yêu cầu cụ thể
1. Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề cần nghị luận: bàn về một phẩm chất quan trọng của con người được gợi ra từ bài thơ Thuật hứng 24: lòng yêu nước, nhân cách thanh cao, kiên trì với lý tưởng…
2. Thân bài:
- Giải thích ngắn gọn khái niệm về phẩm chất đó
- Lý giải ngắn gọn vì sao đó là một phẩm chất quan trọng không thể thiếu của con người
- Phân tích các biểu hiện và ý nghĩa của phẩm chất đó
- Nêu phản đề và rút ra bài học, ý thức trách nhiệm của bản thân (bài học nhận thức và hành động…)
3. Kết bài
- Khái quát lại vấn đề cần nghị luận, liên hệ
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 9
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
Sống mòn – Nam Cao
Chương VI
“... Trong khi ở nhà quê cũng vậy, làm đến chết người, cũng chỉ vì mỗi ngày mấy bữa cơm, ngoài ra, chẳng hề có một cái lạc thú gì khác nữa... Cuộc đời như thế kéo dài đã mấy năm rồi. Nó còn kéo dài ra năm năm, mười năm, hai mươi năm... biết đến bao giờ? Thứ hoảng hốt rằng đời y rất có thể cứ thể này mãi mãi, suốt đời... Thứ mở to đôi mắt, sợ hãi, nhận ra rằng bao nhiêu năm nay y đã sống như mơ ngủ vậy. Ôi chao! Còn cách gì có thể thay đổi được đời y? Y không đánh bạc, không mua vé số, không có vốn để đi buôn, cái đời công chức, có lẽ chẳng hơn cải đời y được bao nhiêu, mà lại có phần bỏ buộc hơn, chán nản hơn...
Y có sáu đứa em thì ba đứa sẽ phải cưới vợ, ba đứa phải gả chồng, rồi lại phải giúp cho chúng có nghề nghiệp, có cơ sở làm ăn. Y là con cả. Y đã được học nhiều. Cái bổn phận của y cố nhiên là phải to tát lắm. Y có rất nhiều gánh nặng. Càng nhìn xa, y càng thấy đời y càng ngày càng thắt chặt vào, càng chật chội thêm. Y chỉ có thể khổ hơn thế, không có thể sướng ra. Hết việc nọ đến việc kia, toàn những việc phải tiêu. Y đúng như một con ngựa còm, cứ vừa mới ý ạch qua cái dốc này thì lại đến ngay dốc khác. Tương lai sầm tối. Thử vụt đã lại đã biến thành con người thực tế hơn. Y không còn dám nghĩ gì đến những thú vui, những hy vọng cao xa. Y chỉ còn dám nghĩ đến cơm áo hằng ngày của vợ con... Số tiền gửi về nhà quê, số tiền để dành sẽ hụt đi. Vợ con y sẽ khổ thêm. Mà biết đến bao giờ y mới sạch công nợ, có được một số vốn con con để đỡ lo một chút? Vả lại ở nhà quê, vợ, các con y, bố mẹ y chả ăn uống khổ sở hàng đời người rồi hay sao, còn có bao giờ được no xôi chán chè lấy hai bữa, lấy vài tháng còn có bao giờ họ biết mùi thịt cá luôn, hay cũng chỉ cơm hầm cá hiu thôi? Vậy thì y được như hiện nay cũng là đủ lắm rồi. Tại sao y lại muốn sung sướng một mình trong khi cả nhà còn đói khổ? Y nhớ đến một lần y ở Hà Nội về quê. Hồi ấy vợ chồng y mới ăn riêng... Bởi vậy lúc ăn cơm, khi thấy bà, bố mẹ và các em ngồi một mâm, y thấy ngường ngượng mà lại buồn buồn. Khó chịu như là ở mâm y lại có một đĩa cá kho, còn mâm kia chỉ toàn là rau. Y cau mặt khẽ trách Liên. Liên chưa kịp trả lời thì bà mẹ y nhận thấy, đã cười và đáp hộ Liên:
- Dào ôi! Nhà chẳng có đâu. Chúng tôi ở nhà thì đên cơm cũng chẳng có mà ăn, còn có tiền đâu mà sắm thức ăn? Mọi khi nó cũng chỉ có rau không. Đây là hôm nay, cụ Bá thấy nói con rể cụ về, sợ con rể cụ xưa nay chỉ ở tỉnh thành, chịu kham khô không quen nên bảo vợ mày đem về cho mày một đĩa cả kho đấy chứ! Nó chẳng mua đâu mà mắng nó.
Y chép miệng:
- Hù! Khéo vẽ!... Ăn thế nào mà chẳng được.
Rồi y bảo lấy một đĩa nữa, xé đĩa cả ra, bỏ sang mâm kia một nửa cho bà và các em ăn với. Nhưng mọi người nhao nhao phản đối. Bà mẹ gắt lên:
- Thôi! Để đấy mà ăn. Chúng nó thì đến ăn cơm với tương cũng còn nhẵn cả nồi đấy, lạ là phải thức ăn ngon! Có thức ăn ngon cho bọn chúng nó ăn thì đến mười nồi cơm cũng chẳng xuể
- Thì mẹ cứ để cho chúng nó ăn, mẹ cũng xơi nhân thể.
Nhưng bà cụ đã vội và nốt bát cơm, buông đũa đứng lên.
- Thôi, tôi ăn xong rồi. Mỗi người có vài vực cơm, nhiều nhặn gì mà phải cá?
Thứ hơi phật ý. Y tưởng như bà và mẹ mia mai. Nhưng nghĩ cho kỹ, thì có lẽ các cụ chỉ nhường nhịn đó thôi. Các cụ sợ nếu các cụ nhận ăn một lần thì lân sau, có món ăn gì Thứ cũng lại chia cho. Nhà quả đông người. Nếu muốn mua thức ăn cho chồng mà vợ Thứ cứ phải mua cho đủ mọi người ăn thì y lấy đâu ra tiền mà mua như vậy? Huống chi đĩa cá kho lại là của ông bố vợ Thứ cho y. Ông cho y thì để y ăn, người khác ăn vào, mang tiếng... Y nhớ đến những bữa ăn hàng, y tiêu tốn đến hàng đồng và thấy lòng ân hận... Y chẳng còn biết gì ngon. Và nếu không trông thấy mặt Liên buồn buồn, hai mắt nhìn xuống như có ý tủi thân, thì có lẽ đã chẳng chạm đũa vào đĩa cá... Buổi chiều hôm ấy, y còn được dịp nghĩ ngợi nhiều hơn.
Vừa mới chập tối, bà y đã đi nằm. Bà mẹ, đang ngồi nói chuyện với y ở đầu hè, đột nhiên cũng đứng lên:
- Kìa! Nó đã dọn cơm kia kìa! Đi mà ăn cơm!
Bà chực lảng vào buồng, Thứ hỏi:
- Nhà chưa ăn kia à?
- Chưa, lát nữa mới ăn.
Bà mẹ y vừa nói vừa tủm tỉm cười. Mấy đứa em y ngồi gần đấy cũng tủm tỉm cười. Y chợt đoán ra.
- Ở nhà không ăn.
Bà mẹ đáp, sau một thoảng ngập ngừng:
- Không. Chúng nó ăn khỏe, ăn dồn cả vào một bữa cho đỡ lách ca lách cách. Đằng nào cũng chỉ có bằng ấy gạo; chia ra hai bữa thì cũng thế.
Thứ thấy lòng sầm tối lại. Vợ y đặt trước y một cái mâm con, trên lỏng chỏng có một bát cơm lồng, một đôi đũa, một cái bát con và đĩa cả kho trưa còn thừa lại. Cơm là cơm nguội. Mọi ngày Liên cũng chỉ ăn một bữa thôi. Nhưng biết chồng từ bé đến nay, chưa phải ăn một ngày một bữa bao giờ, bữa trưa y đã lấy thừa ra một suất cơm. Lúc xới cơm, y đã xới ba lượt đầy, lồng lại, cất đi. Đó là bữa tối cho Thứ... Thứ thấy vô lý quả. Trong hai vợ chồng nếu có người nào cần phải ăn hơn thì người đó phải là Liên: Liên đã phải luật quật suốt ngày, lại phải lo đủ sữa để nuôi con. Vả lại, ngoài Liên ra, lại còn bà Thử, già ngoài bảy mươi tuổi rồi mà vẫn đang còn nằm nhịn đói kia. Lại còn mẹ y, cũng luật quật suốt ngày và cũng có con thơ. Lại còn cha y, bữa trưa ăn ba lượt cơm như mọi người thì mới đầy được một góc dạ dày. Lại còn các em y, chưa đảng phải chịu những cay cực của đời và tạng phủ đang cần được tẩm bổ nhiều để đủ sức lớn lên; chúng gầy guộc, ngơ ngác, nhút nhát, buồn rầu, có lẽ chỉ vì phải nhịn đói, phải vất vả, phải mắng chửi suốt ngày, ngay từ cải lúc mà đáng lẽ chúng phải được ăn no rồi chạy nhẩy nhởn nhơ, mặt trong trẻo và lòng vô tư lự. Thứ đang độ trẻ trung. Y không phải lao lực như bất cứ ai trong nhà. Y lại cũng được no mãi rồi, bây giờ có đói một vài bữa cũng không sao, mà có lẽ cũng là sự công bình. Ấy thế mà tại sao y lại cứ cần phải ăn, phải no một mình như vậy? Thứ suy rộng ra và chua chát nhận ra rằng cái sự buồn cười ấy lại là một sự rất thường, chẳng riêng gì trong một nhà y, mà có lẽ chung cho khắp mọi nơi. Bao giờ và ở đâu đâu thì cũng thế thôi. Thằng nào đã chịu khổ quen rồi thì cứ thế mà chịu mãi đi! Mà thường thường những kẻ ăn nhiễu nhất, hưởng nhiều nhất thì lại chính là những kẻ không cần ăn một ti nào hoặc không đáng hưởng một ly nào cả. Anh chẳng cần nhích chân, nhích tay làm một việc gì ư? Phần anh tất cả những cái gì ngon lành, béo bổ ở trên đời ... Vô lý quá!... Thử nhìn qua bát cơm lồng để cho y. Chẳng còn được bao nhiêu mà bõ chia cho mọi người ăn. Y nghĩ xem những người nào đáng ăn hơn. Y chạy vào, mời bà dậy xơi cơm. Bà cụ không ăn và khi Thứ cố nãi thì bà cụ kêu đầy. Ông bố, bà mẹ thì cố nhiên không đời nào chịu ăn rồi. Những đứa em lớn, dù có đói cho chết, cũng chẳng dám ăn. Và lại cũng không thông. Y đành gọi hai đứa em bé nhất. Bà mẹ đã vội vàng gạt ngay đi.
…-Khốn, nhưng rồi chúng quen đi thì chết đấy! Cử bắt chúng nó nhịn cho quen chứ!
- Úi chào!...
Y cố bắt các em ăn. Nhưng cũng chẳng đứa nào chịu ngồi ăn... Y ngồi thần mặt, buông đũa, quên cả đường ăn. Y chợt nhận ra bà y, mẹ y, vợ y, các em y thật là khổ không kém gì mình phải khổ. Quả thực lúc ấy, y muốn được nhịn đi cho bà, cho mẹ, hay vợ, hay các em, hay ngay cả con ở nữa, ăn thay. Nhưng mà không thể nhường cho ai. Y cũng không thể ngồi ăn, không hiểu sao y thấy thèn thẹn, không muốn cho ai đoán được rằng y thương bà, thương mẹ, thương vợ, thương các em quá đến nỗi không ăn được. Y đành một mình lui thủi ngồi ăn.
Nhưng y vừa ăn, vừa nghĩ ngợi gần xa thế nào mà nước mắt ứa ra. Miếng cơm nghẹn lại, y phải duỗi cổ ra để nuốt đi. Và thiếu một chút nữa là y đã òa lên khóc...
(https://www.cakhotranluan.com/Truyen-ngan-Nam-Cao/tac-pham-song-mon-chuong-6.html)
Câu 1: Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ mấy?
A. Ngôi thứ nhất
B. Ngôi thứ hai
C. Ngôi thứ ba
D. Có sự thay đổi về ngôi kể, kết hợp cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba
Câu 2: Trong đoạn trích, Thứ cho rằng mình không có cơ hội để thay đổi cuộc đời vì:
A. Y không đánh bạc, không mua vé số, không có vốn để đi buôn, cái đời công chức, có lẽ chẳng hơn cái đời y được bao nhiêu, mà lại có phần bó buộc hơn, chán nản hơn.
B. Y không thể vứt bỏ lòng tự trọng và lương thiện của bản thân.
C. Y không có tài năng kinh doanh giống như người khác.
D. Nhà y giàu nên không cần thay đổi gì.
Câu 3: Cảm xúc của Thứ khi chứng kiến bữa cơm của gia đình: bà, bố mẹ và các em ăn riêng một mâm toàn rau, Thứ ăn riêng một mâm có cả cá kho được miêu tả bằng các từ ngữ nào?
A. Bình thường
B. Ngường ngượng, buồn rầu, khó chịu
C. Đau đớn, xấu hổ
D. Xót xa, tủi hổ
Câu 4: Trong những câu văn sau, tác giả sử dụng hình thức ngôn ngữ nào?
Bà mẹ, đang ngồi nói chuyện với y ở đầu hè, đột nhiên cũng đứng lên:
- Kìa! Nó đã dọn cơm kia kìa! Đi mà ăn cơm!
Bà chực lảng vào buồng, Thứ hỏi:
- Nhà chưa ăn kia à?
- Chưa, lát nữa mới ăn
A. Độc thoại
B. Độc thoại nội tâm
C. Đối thoại
D. Kết hợp cả 3 hình thức ngôn ngữ trên
Câu 5: Trong truyện, bà mẹ Thứ cùng cả nhà chỉ ăn một bữa trưa và nhịn bữa tối vì?
A.Vì nhà nghèo quá, lại đông con nên không có tiền mua gạo.
B. Vì nhường cho Thứ được ăn no.
C. Vì ăn no buổi trưa rồi nên không muốn ăn nữa.
D. Vì cả nhà “ăn khỏe, ăn dồn cả vào một bữa cho đỡ lách ca lách cách. Đằng nào cũng chỉ có bằng ấy gạo; chia ra hai bữa thì cũng thế” và vì các em của Thứ đông quá, nên nếu cho ăn bữa tối thì “Khốn, nhưng rồi chúng quen đi thì chết đấy! Cứ bắt chúng nó nhịn cho quen chứ!”.
Câu 6: Nội dung đoạn trích xoay quanh những suy nghĩ của nhân vật ông Giáo Thứ về tình cảnh của bản thân và gia đình. Theo em, câu chuyện có đề tài viết về đề tài nào?
A. Đề tài về người nông dân.
B. Đề tài về người trí thức tiểu tư sản.
C. Đề tài về người công nhân
D. Đề tài về người lao động nghèo
Câu 7: Nhân vật Thứ được xây dựng chủ yếu thông qua các yếu tố nào?
A. Diện mạo, lai lịch.
B. Cử chỉ, hành động.
C. Nội tâm.
D. Lời nhận xét của các nhân vật khác.
Câu 8: Khi xây dựng nhân vật ông giáo Thứ, nhà văn Nam Cao muốn:
A. Thể hiện cuộc đời đầy bi kịch của tầng lớp trí thức tiểu tư sản lúc bấy giờ, những người trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm, có hoài bão, tâm huyết và tài năng, muốn xây dựng một sự nghiệp tinh thần cao quý nhưng lại bị gánh nặng cơm áo và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm cho “chết mòn”, phải sống như một kẻ vô ích, một người thừa trong xã hội.
B. Thể hiện cái nhìn phát hiện về người trí thức tiểu tư sản với khát vọng, một lẽ sống lớn, có ích, có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người.
C. Thông qua câu chuyện để kịch liệt phê phán sâu sắc xã hội phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người.
D. Tất cả các phương án trên đều đúng.
Câu 9: Em có suy nghĩ và đánh giá gì về nhân vật ông giáo Thứ trong đoạn trích? (1đ)
Câu 10:Em hãy kể tên những tác phẩm em đã học có đề tài viết về người trí thức tiểu tư sản. (1đ)
II. VIẾT (4đ)
Lựa chọn 1 trong 2 đề sau:
Đề 1: Viết bài văn nghị luận xã hội trình bày suy nghĩ của em về sức mạnh của sự lương thiện
Đề 2: Phân tích, đánh giá về nhân vật ông giáo Thứ trong đoạn trích trên
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1(0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3(0.5đ) |
Câu 4(0.5đ) |
Câu 5(0.5đ) |
Câu 6(0.5đ) |
Câu 7(0.5đ) |
Câu 8(0.5đ) |
|
C |
A |
B |
C |
D |
B |
C |
D |
|
Câu 1: Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ mấy? A. Ngôi thứ nhất B. Ngôi thứ hai C. Ngôi thứ ba D. Có sự thay đổi về ngôi kể, kết hợp cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ ba (người kể toàn tri, giấu mình)
→ Đáp án C
|
Câu 2: Trong đoạn trích, Thứ cho rằng mình không có cơ hội để thay đổi cuộc đời vì: A. Y không đánh bạc, không mua vé số, không có vốn để đi buôn, cái đời công chức, có lẽ chẳng hơn cái đời y được bao nhiêu, mà lại có phần bó buộc hơn, chán nản hơn. B. Y không thể vứt bỏ lòng tự trọng và lương thiện của bản thân. C. Y không có tài năng kinh doanh giống như người khác. D. Nhà y giàu nên không cần thay đổi gì. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản (chú ý đoạn văn đầu tiên)
Lời giải chi tiết:
Trong đoạn trích, Thứ cho rằng mình không có cơ hội để thay đổi cuộc đời vì:
Y không đánh bạc, không mua vé số, không có vốn để đi buôn, cái đời công chức, có lẽ chẳng hơn cái đời y được bao nhiêu, mà lại có phần bó buộc hơn, chán nản hơn…
→ Đáp án A
|
Câu 3: Cảm xúc của Thứ khi chứng kiến bữa cơm của gia đình: bà, bố mẹ và các em ăn riêng một mâm toàn rau, Thứ ăn riêng một mâm có cả cá kho được miêu tả bằng các từ ngữ nào? A. Bình thường B. Ngường ngượng, buồn rầu, khó chịu C. Đau đớn, xấu hổ D. Xót xa, tủi hổ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý những từ ngữ miêu tả cảm giác của nhân vật Thứ
Lời giải chi tiết:
Cảm xúc của Thứ khi chứng kiến bữa cơm của gia đình: bà, bố mẹ và các em ăn riêng một mâm toàn rau, Thứ ăn riêng một mâm có cả cá kho được miêu tả bằng các từ ngữ: Ngường ngượng, buồn rầu, khó chịu
+ “Thứ thấy lòng sầm tối lại…”
+ “Thứ thấy vô lý quá…”
…..
→ Đáp án B
|
Câu 4: Trong những câu văn sau, tác giả sử dụng hình thức ngôn ngữ nào? Bà mẹ, đang ngồi nói chuyện với y ở đầu hè, đột nhiên cũng đứng lên: - Kìa! Nó đã dọn cơm kia kìa! Đi mà ăn cơm! Bà chực lảng vào buồng, Thứ hỏi: - Nhà chưa ăn kia à? - Chưa, lát nữa mới ăn A. Độc thoại B. Độc thoại nội tâm C. Đối thoại D. Kết hợp cả 3 hình thức ngôn ngữ trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ các câu văn, nhớ lại kiến thức về các hình thức ngôn ngữ
Lời giải chi tiết:
Các câu văn trên sử dụng hình thức đối thoại (giữa hai nhân vật Thứ và bà mẹ)
→ Đáp án C
|
Câu 5: Trong truyện, bà mẹ Thứ cùng cả nhà chỉ ăn một bữa trưa và nhịn bữa tối vì? A.Vì nhà nghèo quá, lại đông con nên không có tiền mua gạo. B. Vì nhường cho Thứ được ăn no. C. Vì ăn no buổi trưa rồi nên không muốn ăn nữa. D. Vì cả nhà “ăn khỏe, ăn dồn cả vào một bữa cho đỡ lách ca lách cách. Đằng nào cũng chỉ có bằng ấy gạo; chia ra hai bữa thì cũng thế” và vì các em của Thứ đông quá, nên nếu cho ăn bữa tối thì “Khốn, nhưng rồi chúng quen đi thì chết đấy! Cứ bắt chúng nó nhịn cho quen chứ!”. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý đến câu trả lời của bà mẹ
Lời giải chi tiết:
Trong truyện, bà mẹ Thứ cùng cả nhà chỉ ăn một bữa trưa và nhịn bữa tối vì:
- “Không. Chúng nó ăn khỏe, ăn dồn cả vào một bữa cho đỡ lách ca lách cách… thì cũng thế”
- “Khốn, nhưng rồi chúng quen đi thì chết đấy! Cứ bắt chúng nó nhịn cho quen chứ!”
→ Đáp án D
|
Câu 6: Nội dung đoạn trích xoay quanh những suy nghĩ của nhân vật ông Giáo Thứ về tình cảnh của bản thân và gia đình. Theo em, câu chuyện có đề tài viết về đề tài nào? A. Đề tài về người nông dân. B. Đề tài về người trí thức tiểu tư sản. C. Đề tài về người công nhân D. Đề tài về người lao động nghèo |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích, tham khảo nội dung đoạn trích được gợi ý ở đề bài
Lời giải chi tiết:
Đề tài: Viết về người trí thức tiểu tư sản (nhân vật Thứ - một nhà văn)
→ Đáp án B
|
Câu 7: Nhân vật Thứ được xây dựng chủ yếu thông qua các yếu tố nào? A. Diện mạo, lai lịch. B. Cử chỉ, hành động. C. Nội tâm. D. Lời nhận xét của các nhân vật khác. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích, chú ý những chi tiết miêu tả nhân vật Thứ
Lời giải chi tiết:
Nhân vật Thứ được xây dựng chủ yếu thông qua yếu tố: nội tâm (đan xen trong lời đối thoại với các nhân vật khác là hàng loạt lời độc thoại nội tâm của nhân vật này)
→ Đáp án C
|
Câu 8: Khi xây dựng nhân vật ông giáo Thứ, nhà văn Nam Cao muốn: A. Thể hiện cuộc đời đầy bi kịch của tầng lớp trí thức tiểu tư sản lúc bấy giờ, những người trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm, có hoài bão, tâm huyết và tài năng, muốn xây dựng một sự nghiệp tinh thần cao quý nhưng lại bị gánh nặng cơm áo và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm cho “chết mòn”, phải sống như một kẻ vô ích, một người thừa trong xã hội. B. Thể hiện cái nhìn phát hiện về người trí thức tiểu tư sản với khát vọng, một lẽ sống lớn, có ích, có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người. C. Thông qua câu chuyện để kịch liệt phê phán sâu sắc xã hội phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người. D. Tất cả các phương án trên đều đúng. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, dựa vào kiến thức của bản thân về nhà văn Nam Cao
Lời giải chi tiết:
Khi xây dựng nhân vật ông giáo Thứ, nhà văn Nam Cao muốn:
- Thể hiện cuộc đời đầy bi kịch của tầng lớp trí thức tiểu tư sản lúc bấy giờ, những người trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm, có hoài bão, tâm huyết và tài năng, muốn xây dựng một sự nghiệp tinh thần cao quý nhưng lại bị gánh nặng cơm áo và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm cho “chết mòn”, phải sống như một kẻ vô ích, một người thừa trong xã hội.
- Thể hiện cái nhìn phát hiện về người trí thức tiểu tư sản với khát vọng, một lẽ sống lớn, có ích, có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người.
- Thông qua câu chuyện để kịch liệt phê phán sâu sắc xã hội phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người.
→ Đáp án D
Câu 9: Em có suy nghĩ và đánh giá gì về nhân vật ông giáo Thứ trong đoạn trích? (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích, chú ý những chi tiết miêu tả nhân vật thứ và đưa ra suy nghĩ của bản thân
Lời giải chi tiết:
Ông giáo Thứ trong đoạn trích là một người có đời sống nội tâm sâu sắc với những day dứt và giằng xé giữa một bên là khát vọng về một cuộc sống có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống, một bên là gánh nặng cơm áo gạo tiền.
Dù nhiều lúc Thứ có những suy nghĩ ích kỉ nhưng xét đến cùng, đây vẫn là một con người lương thiện với tấm lòng vị tha, bao dung, luôn muốn giúp đỡ người khác và sống trách nhiệm với gia đình. Đây chính là đại diện tiêu biểu cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản lúc bấy giờ với những đau khổ, những khát vọng và cả những phẩm chất tốt đẹp
Câu 10:Em hãy kể tên những tác phẩm em đã học có đề tài viết về người trí thức tiểu tư sản. (1đ)
Phương pháp giải:
Vận dụng những kiến thức của bản thân
Lời giải chi tiết:
Đời thừa, Trăng sáng (Nam Cao)
II. VIẾT (4đ)
Lựa chọn 1 trong 2 đề sau:
Đề 1: Viết bài văn nghị luận xã hội trình bày suy nghĩ của em về sức mạnh của sự lương thiện
Đề 2: Phân tích, đánh giá về nhân vật ông giáo Thứ trong đoạn trích trên
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
*Yêu cầu chung: HS kết hợp được kiến thức và kĩ năng để viết bài văn nghị luận xã hội. Bài viết phải có bố cục 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài) đầy đủ, rõ ràng; đúng kiểu bài nghị luận; diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
*Yêu cầu cụ thể
1. Mở bài: Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận: Sức mạnh của sự lương thiện.
Lưu ý: học sinh tự lựa chọn cách dẫn mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của bản thân mình.
2. Thân bài:
Giải thích
Lương thiện được hiểu là không làm điều gì trái pháp luật và đạo đức. Lương thiện là không tham lam, ích kỉ; là biết giữ mình, biết kìm nén dục vọng. Như vậy, lương thiện là một phẩm chất, một phạm trù thuộc về đạo đức mà con người cần phải tự rèn luyện, phải giữ gìn suốt cả cuộc đời.
Phân tích các biểu hiện sông lương thiện
Người lương thiện là những người có tấm lòng thật thà, bao dung với mọi người. Lương thiện làm cho con người biết đồng cảm, yêu thương, giúp đỡ những người xung quanh, quan tâm, chia sẻ, chăm sóc những số phận bất hạnh hơn mình...
Ý nghĩa và sức mạnh của lương thiện
Học sinh tự lấy dẫn chứng về tác dụng, ý nghĩa của những việc làm lương thiện để minh họa cho bài làm văn của mình.
- Sống lương thiện giúp ta được sống an nhiên và hạnh phúc, thanh thản cho tâm hồn.
- Lương thiện có thể giúp ta thay đổi số mệnh, đem đến cho con người may mắn, phúc đức (Nêu dẫn chứng về câu chuyện Hạnh phúc lan tỏa - sự giúp đỡ của những người xa lạ với nhau cuối cùng lại đem lại hạnh phúc cho chính người khởi đầu).
- Tấm lòng lương thiện của mỗi người còn có sức mạnh lan tỏa, cảm hóa, thay đổi người khác theo chiều hướng tích cực. (Nêu dẫn chứng: Những người khốn khổ của V. Huy gô – khi Giăng Van Giăng được vị linh mục cảm hóa, từ một tên tù vượt ngục thành một ông thị trưởng hết lòng giúp đỡ người nghèo). Chỉ có tấm lòng lương thiện mới có thể thay đổi cuộc sống, thay đổi tương lai hay số phận của con người. Xã hội nhân văn, tốt đẹp hơn vì có những người sống lương thiện.
Phản đề
- Tuy nhiên, trong cuộc sống, không phải ai cũng nhận thấy sức mạnh từ sự lương thiện. Nhiều người quan niệm sống lương thiện làm cho bản thân bị thiệt thòi, thua thiệt so với người khác. Họ cổ vũ cho lối sống lạnh lùng, ích kỉ để bản thân trở nên mạnh mẽ. Họ coi lương thiện là vẻ ngoài phù phiếm, hời hợt. Trong khi đó, về bản chất, lương thiện chân chính lại xuất phát từ nội tâm, từ sâu xa trong lòng mỗi người; là sự bao dung, sự tử tế, chính trực... khi đối đãi với người khác.
- Thậm chí nhiều kẻ còn đánh mất đi sự lương thiện của bản thân, gây hậu quả nghiêm trọng đến người khác. Những kẻ đó càng đáng lên án, phê phán và phải bị trừng trị thích đáng.
Kết bài: Khái quát lại vấn đề nghị luận: sức mạnh của sự lương thiện, liên hệ bản thân.
Đề 2:
1. Mở bài: Giới thiệu khái quát về nhân vật ông giáo Thứ trong tác phẩm Sống mòn và vấn đề cần phân tích.
2. Thân bài:
Nêu khái quát về nhà văn Nam Cao và phong cách sáng tác của Nam Cao
Nam Cao là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của trào lưu hiện thực phê phán thời kỳ 1940 – 1945. Chỉ với 15 năm cầm bút, ông đã để lại cho đời một văn nghiệp đồ sộ với 2 tiểu thuyết, 50 truyện ngắn và nhiều tập bút ký có giá trị.
Sở trường của Nam Cao là những câu chuyện miêu tả tâm lý con người, ít có biến cố nhưng giàu chất triết lý, có sức ám ảnh, gợi mở. Đề tài chính trong tác phẩm của ông trước cách mạng tháng Tám thường là người nông dân nghèo và tầng lớp trí thức nghèo (mà Sống mòn là tác phẩm tiêu biểu).
Nêu khái quát về bối cảnh lịch sử - xã hội của tiểu thuyết Sống mòn và tóm tắt ngắn gọn về nội dung tác phẩm
Tác phẩm “Sống mòn” được nhà văn Nam Cao viết vào năm 1944, lúc đầu tác phẩm này có tên là Chết mòn, sau đó được Nhà xuất bản Văn nghệ ra mắt lần đầu vào năm 1956 và đổi lại là tên “Sống mòn” cho đến tận bây giờ.
Phân tích nhân vật Giáo Thứ trong đoạn trích:
- Tóm tắt về cuộc đời và lai lịch của nhân vật:
Giáo Thứ – nhân vật chính trong truyện xuất thân là một thanh niên được học hành tử tế, có hoài bão, có chí hướng cống hiến cho đời. Sau khi lấy được bằng Thành chung, Thứ vào Sài Gòn bắt đầu con đường mưu sinh. Sau 3 năm vật lộn nơi đất khách quê người, sống vất vả giữa nghèo khó và bệnh tật, Thứ phải bỏ về quê và chịu cảnh thất nghiệp. Thứ được anh họ mời về giảng dạy tại một trường tư. Ban đầu, Thứ dốc hết lòng với nghề giáo nhưng bất mãn vì chỉ được trả đồng lương còm cõi, lại còn bị bớt xén khẩu phần ăn hàng ngày. Khó chịu, chán nản, có những lúc Thứ muốn phản kháng nhưng lại tự vấn bản thân vì xấu hổ và ân hận... Chẳng biết từ khi nào, vì điều gì, những ước mơ thuở thiếu thời của y đã bị thui chột.
Thứ bị cái nghèo, cái nhỏ nhen đẩy đến cảnh sống mòn. Đến kỳ nghỉ hè, Thứ những mong tâm hồn được nghỉ ngơi nhưng lại phải đối mặt với những chuyện khó chịu ngay tại thôn quê và trong chính gia đình mình. Trở lại Hà Nội, Thứ gặp chuyện bất ngờ khi trường học phải đóng cửa. Thứ buộc lòng phải trở về quê, anh chua chát nghĩ lại cuộc đời phải chết khi chưa kịp sống. Lúc này, anh chấp nhận với tình cảnh khốn khổ sẽ đến ngay với mình. Tuy nhiên
khi nghĩ về tình thế chiến tranh đang xảy ra, đột nhiên trong đầu anh chợt có một niềm tin len lỏi rằng mọi thứ trong tương lai sẽ tốt đẹp và rộng mở hơn.
- Phân tích nội tâm và những suy nghĩ của nhân vật giáo Thứ trong đoạn trích:
+ Trong truyện, nhân vật giáo Thứ cũng được đặt trong những xung đột, được thể hiện trên nhiều bình diện. Từ đó tính cách và bản chất của các nhân vật được hình thành, phát triển.
+ Nhân vật giáo Thứ không được khắc hoạ nhiều ở phương diện bên ngoài với diện mạo mà chủ yếu được khắc họa bằng thế giới bên trong với nội tâm đầy những mâu thuẫn...
- Thứ đã bỏ lại quê hương và người vợ trẻ để lên Hà Thành dạy học trong chính ngôi trường của người anh họ với mong ước, hoài bão một cuộc sống tươi đẹp hơn. Thế nhưng, thực tế lại vô cùng khắc nghiệt, cuộc sống chẳng dễ dàng gì với người giáo khổ trường tư, Thứ bị đè nén trong gánh nặng cơm áo gạo tiền - một cuộc sống bế tắc, ngột ngạt không hy vọng.
- Thứ vẫn đang hy vọng vào 1 tương lai tươi sáng hơn, nhưng rồi chợt nhận ra cuộc sống của mình chỉ là tạm bợ. Thứ nhìn nhận rõ rằng mình không có cơ hội để thay đổi cuộc sống nghèo khó trước mắt,
- Thứ thấy cái gánh nặng của gia đình đè lên đôi vai của mình, thấy cái trọng trách nặng nề của một kẻ được cho là học hành cao nhất nhà.
- Thứ không còn dám hy vọng, không dám sống cho bản thân, không dám chuyển nhà vì cho rằng nếu làm thế là mình ích kỉ, sống sung sướng trên sự đau khổ và cơ cực của vợ con.
- Thứ nhớ về kí ức với bữa cơm cùng gia đình. Bữa cơm của người nghèo cả ngày chỉ có một bữa với toàn là rau. Chỉ có Thứ được ăn cơm 2 bữa với cá kho do bố vợ cho. Thứ thấy được sự khổ cực của gia đình, của vợ con, của bố mẹ và những đứa em đang tuổi lớn. Thứ cay đắng nhận ra sự bất công ấy vẫn đang diễn ra hàng ngày mà chẳng bao giờ có thể thay đổi.
- Thứ cay đắng và chua chát khi nhận ra rằng, dù anh có nhường cơm của mình cho mọi người thì cũng chả ai dám ăn. Kết thúc đoạn trích là cảnh Thứ ngồi ăn cơm một mình mà “Y ngồi thần mặt, buông đũa, quên cả đường ăn. Y chợt nhận ra bà y, mẹ y, vợ y, các em y thật là khổ... Miếng cơm nghẹn lại, y phải duỗi cổ ra để nuốt đi. Và thiếu một chút nữa là y đã òa lên khóc...”. Miếng cơm nghẹn lại hay cũng chính là sự bất lực và bế tắc của Thứ trước cuộc sống nghèo khổ của bản thân và gia đình.
Nêu nhận xét, đánh giá về nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả
- Về nội dung: Nhà văn Nam Cao đã thành công khi miêu tả sâu sắc tấn bi kịch tinh thần của Thứ, cũng là của những người trí thức nghèo trong xã hội đương thời trước 1945, những “giáo khổ trường tư” là những người trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm, có hoài bão, tâm huyết và tài năng, muốn xây dựng một sự nghiệp tinh thần cao quý nhưng lại bị gánh nặng cơm áo và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm cho “chết mòn”, phải sống như một kẻ vô ích, một người thừa trong xã hội. Nhà văn kịch liệt phê phán sâu sắc xã hội phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người. Đồng thời nói lên khát vọng, một lẽ sống lớn, có ích, có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người.
- Về nghệ thuật: Đoạn trích trên là tiêu biểu cho nghệ thuật miêu tả tâm lý của nhà văn Nam Cao ở đề tài trí thức tiểu tư sản khi đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật ông giáo Thứ với những mâu thuẫn giằng xé giữa một bên là nhu cầu tối thiểu của bản thân và một bên là gánh nặng và trách nhiệm với gia đình. Nam Cao đã chân thực đến tàn nhẫn, bóc tách từng lớp lang sâu kín ở lòng người. Cũng như cuộc đời, đôi khi ở đó sự ích kỷ tầm thường chiến thắng, nhưng trong phần lớn trường hợp, nhân vật Thứ - với bản chất trung thực và khả năng tự kiểm điểm mình sâu sắc - vẫn hướng tới những điều trong lành, tốt đẹp.
- Trong đoạn trích, từ câu chuyện về bữa ăn của gia đình, chúng ta thấy ẩn chứa sâu bên trong Thứ vẫn là một con người lương thiện, sống trách nhiệm với gia đình, với vợ con, dù có những giây phút tự thưởng cho mình một bữa ăn ngon hay một châu xem xinê thì chúng ta cũng có thể hiểu đó là những yêu cầu rất chính đáng của một con người đã vất vả lao động.
- Ngôn ngữ truyện bình dị gần gũi với cuộc sống của người đọc. Về ngôi kể, truyện được kể bằng tâm sự của nhân vật tôi là Thứ nên trở nên chân thực, giúp người đọc có điều kiện đi sâu tìm hiểu thế giới nội tâm với những suy nghĩ và biến đổi tinh vi của nhân vật
- So sánh liên hệ với các tác phẩm cùng giai đoạn và cùng đề tài: Trăng sáng, Đời thừa...
3. Kết bài:
- Nêu khái quát thành công của tác giả qua việc xây dựng nhân vật.
- Từ nhân vật Thứ, liên hệ và nêu cảm nghĩ của em về thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm qua tác phẩm.
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 10
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
CHƯƠNG 1:
TIỂU THUYẾT DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH – NGUYỄN MINH CHÂU
Chuyến đi công tác, nửa năm sau Kinh mới trở ra... đến một chặng cuối cùng bên con đường số 9, lúc đã sắp về đến căn cứ hậu phương thì thình lình địch đồ quân xuống con đường đi. Một buổi sáng, những chiếc trực thăng sơn màu kẽm, bụng phình to như những con cả lóc chửa bay rùng rùng từ phía Đông Nam lên. Một chiếc trực thăng chở một trung đội lính Mỹ, có ba cánh quạt... Lượng nằm ngửa, gió quạt thốc vạt áo trùm kín cả đâu cả mặt. Anh nhổm dậy, gió xô ngã. Lại ngồi dậy. Anh quỳ lom khom để ngó chúng. Bông Lượng thấy ngọn lửa chớp nhoàng một cái trước mặt: Bọn chúng bắn dọn bãi rồi!
- Anh Kinh ơi, cho tôi bắn trực thăng nhé! - Lượng hét to át cả tiếng hai mươi ly nổ chung quanh.
Kinh phán đoán: Tụi thám báo mặt đất đã phát hiện được đoàn của mình nhưng chúng vẫn còn gờm không dám nổ súng nên phải gọi trực thăng đến chụp bắt.
Kinh không do dự, liền hạ lệnh cho bắn.
- Ngon xơi quá! - Lượng reo lên.
Bọn địch láo nháo xúm quanh một cái thành cửa sổ, đang thả đạn cối xuống. Lượng kề súng vào vai xiết cò lia trọn một băng hạ ngay chiếc trực thăng đầu tiên. Cuộc chiến đã bắt đầu. Bọn chúng có đến một đại đội. Bên ta, chin người của một đoàn đi công tác được chia thành ba tổ chiến đấu.
Kinh hạ lệnh cho đoàn phó nắm hai tổ. Đại bộ phận vừa mở đường rút về phía dãy núi đá cách đẩy độ hơn năm trăm thước. Kinh trực tiếp nắm một tổ trong đó có Lượng, ở lại yểm hộ cho anh em rút. Lượng cùng một chiến sĩ và đoàn trưởng Kinh, ba người chiếm một cái gò đất giữa bãi tranh...
Tàn tro trộn lẫn mồ hôi chảy ròng ròng trên trán, trong hai hố mắt, trên ngực Lượng. Chung quanh cái gò đất, nắng và lửa chảy, cùng với tàn tranh bay đen trời. Xác những tên Mỹ nằm co quắp khắp nơi. Ngay trước mặt Kinh, bên kia gốc cây, ba bốn thằng chết năm ngửa tênh hênh. Nắng như giội xuống những khuôn mặt chúng. Bấy giờ, cối và đại liên lại nổ ầm ầm vào chân gò. Kinh bế đồng chi chiến sĩ đã bị thương nặng vào giấu sau một bụi cây, mắt vẫn nhìn về phía trước:
- Này Lượng!
Có tôi,
- Nghe đây. Đợt này nhất định chúng sẽ kéo lên rất đông. Cậu có nghe được tôi nói không? Bây giờ cậu để tất cả lựu đạn lại cho tôi... Anh em đăng sau đã rút xong. Cậu hãy lui ra sau dùng tiểu liên yểm hộ cho tôi, và cũng thương binh về….
Lượng hiểu ý định người chỉ huy.
- Tôi phải là người rút sau cùng - Lượng trả lời kiên quyết - Anh là đoàn trưởng, phải rút về trước đi, anh Kinh!
Quân Mỹ tiếp tục xô vào. Ngay hai loạt tiểu liên đầu tiên, hai người đã quật ngã hai tên hăng hải chạy trước. Tất cả chùn lại. Nhưng một quả đạn cối bỗng nổ tung đất đá và tàn tro vọt lên. Kinh bật lên một tiếng chửi, một nửa khuôn mặt Kinh tự nhiên tê dại đi. Lượng bồi thêm một chùm đạn vào đảm quân Mỹ đang nằm bẹp sau các xác chết rồi chạy vội về phía Kinh. Anh thấy hố mắt trái của Kinh như tụt sâu xuống. Một dòng máu từ bên trong cái hố mắt rỏ thành giọt lăn qua vành má lẩm đầy bụi tro xuống cằm. Khoảng túi áo ngực và cả bảng súng Kinh đang cầm tay cũng đọng những vết máu lẫn với tàn tro.
Kinh ngồi bệt giữa đất cho Lượng quấn vòng băng cá nhân trùm kín đầu. Kinh dặn Lượng cách vừa đánh vừa rút. Kinh đã bị choáng nhưng vẫn còn khỏe lắm. Ông cúi xuống xốc đồng chí bị thương lên lưng, bước từng bước chắc chắn và chậm chạp về phía sau, thỉnh thoảng dừng lại kẹp súng vào nách bắn yểm hộ cho Lượng.
Cuộc chiến đấu tiếp theo dưới chân lèn đá, bọn chúng bỏ xác lại từng đống... Chúng vừa rút lui, Kinh liền cho mọi người xuống bãi tranh để tìm Lượng. Tìm khắp nơi không thấy. Cũng không thấy xác. Kinh quyết định cho đoàn ở lại thêm một ngày nữa để tìm, và dò la tin tức thì biết Lượng đã bị địch bắt. Cơ sở trong vùng cho biết quân địch chết và bị thương gần ba chục tên, Lượng bị thương ngất đi, đã bị chúng bắt đem lên trực thăng chở về thị trấn Khe Sanh.
Sau khi đoàn công tác về đến hậu phương một thời gian rất lâu, Kinh vẫn chưa hề bảo tin tức gì cho gia đình của Lượng. Nhưng Kinh nghĩ chắc chắn Lượng không còn nữa! Khoảng ba năm sau, Kinh từ trên cơ quan Tổng cục Chính trị về nhận chính ủy trung đoàn 5. Kinh về hôm trước thì sáng hôm sau, Nhẫn, trung đoàn trưởng, đề nghị ông xuống một đại đội để theo dõi tình hình kiểm tra vũ khí, nhân tiện làm quen với anh em cán bộ và chiến sĩ dưới đơn vị...
Kinh xuống đại đội trinh sát một cách thực là tình cờ. Ông vừa bước chân vào đến sân thì đã thấy Lượng đang ngồi chồm hỗm trước một đống vũ khí: Súng trường, tiểu liên bảng tiểu liên cực nhanh của Mỹ, lựu đạn, thuốc nổ, các thứ được bày biện thứ tự trên những tấm ván nằm. Lượng mặc bộ quân phục còn nguyên nếp hồ. Vẫn cái thân hình cao lớn và chắc nịch, vẫn con mắt có một vệt đỏ bên khóe, vẫn những cử chỉ và tiếng nói cứng cỏi như ngày trước... “Hắn nom già đi nhiều quả. Như một người ngoài ba mươi”, Kinh nhận xét. Phải sau một lát, Kinh mới nhận ra được nhưng vẫn còn nghi hoặc.
- Gì mà gắt om lên vậy hả ông? - Kinh bước tới bên cải bậc thềm lát đá, mỉm cười hỏi.
Lượng ngẩng đầu lên ngắm con người vừa mới đến, nhìn chòng chọc vào con mắt bên trái rồi ném cuốn sổ tay xuống thềm:
- Chao ôi, anh Kinh!
Khi Lượng kẹp đôi cánh tay rắn chắc như chiếc đòn gánh vào sau lưng ông đến đau nghe âm điếng, Kinh mới thực sự tin rằng Lượng hãy còn sống.
Lượng buông Kinh ra rồi vội vàng lôi ngay vào trong nhà:
- Anh đi đâu mà tìm tới đây được hả?
- Mình mới về làm chính ủy ở đây, mới về chiều hôm qua - Con mắt trải của Kinh hình như có ngẩn nước mắt - Kể đi, làm sao cậu lại còn sống được? Hồi ấy chúng mình cứ xắn là đoàn quần đi tìm xác cậu suốt một ngày ở cái bãi tranh. Sau cùng mình biết cậu bị bắt, và mình đoán không khéo chúng nó đã “làm thịt” cậu rồi!
- Chính tôi cũng nghĩ thế. Nhưng những người như chúng ta dễ gì chúng giết chết được! Chao ôi, quả đất thật là tròn nhỉ? Ai sắp đặt mà khéo thật. Tôi với anh lại về với nhau ở trung đoàn này. Gia đình vợ con anh hồi này thế nào?
Kinh kể vắn tắt những công việc trong gia đình cùng tình hình con cái cho Lượng nghe,
... Kinh đi quanh quẩn một vòng chung quanh cái thôn đại đội của Lượng đang đóng quân. Tất cả đều hết sức yên tĩnh trong một buổi sớm mùa hạ. Những tốp máy bay phản lực của địch đi bắn phá hậu phương chưa bay qua vùng trời trong trẻo. Ngoài bãi dâu, một con vịt đủng đỉnh dẫn lũ con vừa mới nở đi kiếm ăn, con nào cũng vàng rộm như những nắm bông nhuộm phẩm. Tiếng mấy cậu anh nuôi khảo chuyện lao xao với những người con gái ngoài bờ giếng. Dọc lối đi lát gạch ngoài cổng làng, người ta đang phơi thóc .…...
(Dẫn từ https://sachtruyen.net/doc-sach/dau-chan-nguoi-linh.77f91.0002)
Câu 1: Nội dung của văn bản trên?
A. Kể về câu chuyện của Kinh và Lượng, hai chiến sĩ đã sát cánh chiến đấu bên nhau trong chiến tranh, tình cờ gặp lại nhau
B. Kể về chuyện Kinh và Lượng chiến đấu với giặc Mỹ
C. Kể về chuyện ngày hòa bình, hai chiến sĩ Kinh và Lượng gặp lại nhau
D. Kể về cuộc trò chuyện giữa Kinh và Lượng
Câu 2: Chi tiết nào KHÔNG thể hiện sự khốc liệt của chiến tranh?
A. Xác những tên Mỹ nằm co quắp khắp nơi. Ngay trước mặt Kinh, bên kia gốc cây, ba bốn thằng chết nằm ngửa tênh hênh.
B. Bấy giờ, cối và đại liên lại nổ ầm ầm vào chân giò.
C. Anh thấy hố mắt trái của Kinh như tụt sâu xuống. Một dòng máu từ bên trong cái hố mắt rỏ thành giọt lăn qua vành má lấm đầy bụi tro xuống cằm. Khoảng túi áo ngực và cả báng súng Kinh đang cầm tay cũng đọng những vết máu lẫn với tàn tro.
D. Ngoài bãi dâu, một con vịt đủng đỉnh lẫn lũ con vừa mới nở đi kiếm ăn, con nào cũng vàng rộm như những nắm bông nhuộm phẩm. Tiếng mấy cậu anh nuôi kháo chuyện lao xao với những người con gái ngoài bờ giếng. Dọc lối đi lát gạch ngoài cổng làng, người ta đang phơi thóc.
Câu 3: Khi được cấp trên là Kinh đề nghị: Nghe đây. Đợt này nhất định chúng sẽ kéo lên rất đông. Cậu có nghe được tôi nói không? Bây giờ cậu để tất cả lựu đạn lại cho tôi… Anh em đằng sau đã rút xong. Cậu hãy lui ra sau dùng để tiểu liên yểm hộ cho tôi, và cõng thương binh về …, Lượng đã hành động như thế nào?
A. Lượng tuân theo lệnh chỉ huy rút lui về phía sau
B. Lượng từ chối và đề nghị cả 2 người cùng ở lại để chiến đấu
C. Lượng bỏ chạy vì biết không cầm cự được
D. Lượng kiên quyết từ chối và đề nghị mình là người rút sau cùng, chỉ huy phải rút về nước
Câu 4: Hành động trên của nhân vật Lượng thể hiện điều gì?
A. Tình đồng đội sâu sắc, nghĩa tình cao đẹp giữa những người lính
B. Sự dũng cảm, sẵn sàng hy sinh bản thân vì đồng đội
C. Tinh thần trách nhiệm cao, ý thức giác ngộ của 1 chiến sĩ hiểu được sự quan trọng về vị trí của người chỉ huy với cuộc chiến
D. Tất cả các ý kiến trên
Câu 5: Trong câu văn sau, tác giả đã dùng biện pháp nghệ thuật nào: Kinh về hôm trước thì sáng hôm sau, Nhẫn, trung đoàn trưởng, đề nghị ông xuống một đại đội để theo dõi tình hình kiểm tra vũ khí, nhân tiện làm quen với anh em cán bộ và chiến sĩ dưới đơn vị…?
A. So sánh
B. Ẩn dụ
C. Chêm xen
D. Hoán dụ
Câu 6: Nhân vật Kinh được miêu tả trong đoạn trích là người như thế nào?
A. Một người chỉ huy dạn dày kinh nghiệm, có sức phán đoán cao, dũng cảm, trách nhiệm và xông xáo, có tình đồng chí đồng đội sâu sắc.
B. Một chỉ huy còn non nớt những hết sức dũng cảm và có trách nhiệm.
C. Một người lính dũng cảm, có tinh thần đồng đội sâu sắc.
D. Một người lính dạn dày kinh nghiệm, dũng cảm.
Câu 7: Mục đích của tác giả khi viết tác phẩm là gì?
A. Ca ngợi vẻ đẹp và phẩm chất tốt đẹp của người lính trong chiến tranh.
B. Phê phán bộ mặt tàn ác của kẻ thù, lên án chiến tranh.
C. Thể hiện khát vọng hòa bình.
D. Tất cả các phương án trên.
Câu 8: Hình tượng người lính trong tác phẩm được tác giả xây dựng thông qua những yếu tố nào?
A. Ngôn ngữ, cử chỉ, hành động.
B. Ngôn ngữ và thế giới nội tâm.
C. Ngôn ngữ và hành động.
D. Ngôn ngữ và cử chỉ.
Câu 9: Không gian nghệ thuật trong đoạn trích được miêu tả bao gồm những không gian nào? Dụng ý của nhà văn khi miêu tả các không gian đó? (1đ)
Câu 10: Em hãy kể tên một vài tác phẩm mà em biết có cùng đề tài viết về người lính (1đ)
II. VIẾT (4đ)
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương đất nước
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1(0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3(0.5đ) |
Câu 4(0.5đ) |
Câu 5(0.5đ) |
Câu 6(0.5đ) |
Câu 7(0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
A |
D |
D |
D |
C |
A |
D |
A |
|
Câu 1: Nội dung của văn bản trên? A. Kể về câu chuyện của Kinh và Lượng, hai chiến sĩ đã sát cánh chiến đấu bên nhau trong chiến tranh, tình cờ gặp lại nhau B. Kể về chuyện Kinh và Lượng chiến đấu với giặc Mỹ C. Kể về chuyện ngày hòa bình, hai chiến sĩ Kinh và Lượng gặp lại nhau D. Kể về cuộc trò chuyện giữa Kinh và Lượng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Nội dung của văn bản: Kể về câu chuyện của Kinh và Lượng, hai chiến sĩ đã sát cánh chiến đấu bên nhau trong chiến tranh, tình cờ gặp lại nhau
→ Đáp án A
|
Câu 2: Chi tiết nào KHÔNG thể hiện sự khốc liệt của chiến tranh? A. Xác những tên Mỹ nằm co quắp khắp nơi. Ngay trước mặt Kinh, bên kia gốc cây, ba bốn thằng chết nằm ngửa tênh hênh. B. Bấy giờ, cối và đại liên lại nổ ầm ầm vào chân giò. C. Anh thấy hố mắt trái của Kinh như tụt sâu xuống. Một dòng máu từ bên trong cái hố mắt rỏ thành giọt lăn qua vành má lấm đầy bụi tro xuống cằm. Khoảng túi áo ngực và cả báng súng Kinh đang cầm tay cũng đọng những vết máu lẫn với tàn tro. D. Ngoài bãi dâu, một con vịt đủng đỉnh lẫn lũ con vừa mới nở đi kiếm ăn, con nào cũng vàng rộm như những nắm bông nhuộm phẩm. Tiếng mấy cậu anh nuôi kháo chuyện lao xao với những người con gái ngoài bờ giếng. Dọc lối đi lát gạch ngoài cổng làng, người ta đang phơi thóc. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ các đáp án và đưa ra câu trả lời
Lời giải chi tiết:
Chi tiết không thể hiện sự khốc liệt của chiến tranh: Ngoài bãi dâu, một con vịt đủng đỉnh lẫn lũ con vừa mới nở đi kiếm ăn, con nào cũng vàng rộm như những nắm bông nhuộm phẩm. Tiếng mấy cậu anh nuôi kháo chuyện lao xao với những người con gái ngoài bờ giếng. Dọc lối đi lát gạch ngoài cổng làng, người ta đang phơi thóc.
→ Chi tiết nói về sự yên bình và những thanh âm quen thuộc của cuộc sống làng quê
→ Đáp án D
|
Câu 3: Khi được cấp trên là Kinh đề nghị: Nghe đây. Đợt này nhất định chúng sẽ kéo lên rất đông. Cậu có nghe được tôi nói không? Bây giờ cậu để tất cả lựu đạn lại cho tôi… Anh em đằng sau đã rút xong. Cậu hãy lui ra sau dùng để tiểu liên yểm hộ cho tôi, và cõng thương binh về …, Lượng đã hành động như thế nào? A. Lượng tuân theo lệnh chỉ huy rút lui về phía sau B. Lượng từ chối và đề nghị cả 2 người cùng ở lại để chiến đấu C. Lượng bỏ chạy vì biết không cầm cự được D. Lượng kiên quyết từ chối và đề nghị mình là người rút sau cùng, chỉ huy phải rút về nước |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và chú ý đoạn văn được nhắc đến trong đề bài
Lời giải chi tiết:
Khi được cấp trên là Kinh đề nghị, Lượng đã kiên quyết từ chối và đề nghị mình là người rút sau cùng, chỉ huy phải rút về nước
→ Đáp án D
|
Câu 4: Hành động trên của nhân vật Lượng thể hiện điều gì? A. Tình đồng đội sâu sắc, nghĩa tình cao đẹp giữa những người lính B. Sự dũng cảm, sẵn sàng hy sinh bản thân vì đồng đội C. Tinh thần trách nhiệm cao, ý thức giác ngộ của 1 chiến sĩ hiểu được sự quan trọng về vị trí của người chỉ huy với cuộc chiến D. Tất cả các ý kiến trên |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và chú ý đoạn văn có chứa hành động của nhân vật Lượng
Lời giải chi tiết:
Hành động của nhân vật Lượng thể hiện
- Tình đồng đội sâu sắc, nghĩa tình cao đẹp giữa những người lính
- Sự dũng cảm, sẵn sàng hy sinh bản thân vì đồng đội
- Tinh thần trách nhiệm cao, ý thức giác ngộ của 1 chiến sĩ hiểu được sự quan trọng về vị trí của người chỉ huy với cuộc chiến
→ Đáp án D
|
Câu 5: Trong câu văn sau, tác giả đã dùng biện pháp nghệ thuật nào: Kinh về hôm trước thì sáng hôm sau, Nhẫn, trung đoàn trưởng, đề nghị ông xuống một đại đội để theo dõi tình hình kiểm tra vũ khí, nhân tiện làm quen với anh em cán bộ và chiến sĩ dưới đơn vị…? A. So sánh B. Ẩn dụ C. Chêm xen D. Hoán dụ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu văn và nhớ lại kiến thức về biện pháp nghệ thuật
Lời giải chi tiết:
Câu văn trên tác giả sử dụng biện pháp Chêm xen “Kinh về hôm trước thì sáng hôm sau” để bổ xung thông tin cho câu văn.
→ Đáp án C
|
Câu 6: Nhân vật Kinh được miêu tả trong đoạn trích là người như thế nào? A. Một người chỉ huy dạn dày kinh nghiệm, có sức phán đoán cao, dũng cảm, trách nhiệm và xông xáo, có tình đồng chí đồng đội sâu sắc. B. Một chỉ huy còn non nớt những hết sức dũng cảm và có trách nhiệm. C. Một người lính dũng cảm, có tinh thần đồng đội sâu sắc. D. Một người lính dạn dày kinh nghiệm, dũng cảm. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích và chú ý thông tin về nhân vật Kinh
Lời giải chi tiết:
Nhân vật Kinh được miêu tả là một người chỉ huy dạn dày kinh nghiệm, có sức phán đoán cao, dũng cảm, trách nhiệm và xông xáo, có tình đồng chí đồng đội sâu sắc.
→ Đáp án A
|
Câu 7: Mục đích của tác giả khi viết tác phẩm là gì? A. Ca ngợi vẻ đẹp và phẩm chất tốt đẹp của người lính trong chiến tranh. B. Phê phán bộ mặt tàn ác của kẻ thù, lên án chiến tranh. C. Thể hiện khát vọng hòa bình. D. Tất cả các phương án trên. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và suy ra mục đích của tác giả khi viết tác phẩm
Lời giải chi tiết:
Mục đích của tác giả khi viết tác phẩm:
- Ca ngợi vẻ đẹp và phẩm chất tốt đẹp của người lính trong chiến tranh.
- Phê phán bộ mặt tàn ác của kẻ thù, lên án chiến tranh.
- Thể hiện khát vọng hòa bình.
→ Đáp án D
|
Câu 8: Hình tượng người lính trong tác phẩm được tác giả xây dựng thông qua những yếu tố nào? A. Ngôn ngữ, cử chỉ, hành động. B. Ngôn ngữ và thế giới nội tâm. C. Ngôn ngữ và hành động. D. Ngôn ngữ và cử chỉ. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ tác phẩm, chú ý những chi tiết miêu tả người lính
Lời giải chi tiết:
Hình tượng người lính trong tác phẩm được tác giả xây dựng thông qua những yếu tố ngôn ngữ, cử chỉ, hành động
→ Đáp án A
Câu 9: Không gian nghệ thuật trong đoạn trích được miêu tả bao gồm những không gian nào? Dụng ý của nhà văn khi miêu tả các không gian đó? (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về không gian nghệ thuật
Phân tích dụng ý của nhà văn
Lời giải chi tiết:
Có 2 không gian nghệ thuật được nhà văn khắc họa trong đoạn trích:
Không gian chiến trường ác liệt với:
- “Những chiếc trực thăng sơn màu kẽm, bụng phình to như những con cá lóc chửa bay rùng rùng từ phía Đông Nam lên. Một chiếc trực thăng chở một trung đội lính Mỹ, có ba cánh quạt. Cánh quạt trực thăng quay tít khiến lá tranh đổ ngả rạp.”
- “Chung quanh cái gò đất, nắng và lửa cháy, cùng với tàn tranh bay đen trời. Xác những tên Mỹ nằm co quắp khắp nơi. Ngay trước mặt Kinh, bên kia gốc cây, ba bốn thằng chết nằm ngửa tênh hênh. Nắng như giội xuống những khuôn mặt chúng. Bấy giờ, cối và đại liên lại nổ ầm ầm vào chân gò”
Không gian của cuộc sống thanh bình nơi làng quê:
- “Tất cả đều hết sức yên tĩnh trong một buổi sớm mùa hạ. Những tốp máy bay phản lực của địch đi bắn phá hậu phương chưa bay qua vùng trời trong trẻo. Ngoài bãi dâu, một con vịt đủng đỉnh dẫn lũ con vừa mới nở đi kiếm ăn, con nào cũng vàng rộm như những nắm bông nhuộm phẩm. Tiếng mấy cậu anh nuôi kháo chuyện lao xao với những người con gái ngoài bờ giếng. Dọc lối đi lát gạch ngoài cổng làng, người ta đang phơi thóc”
- Khi miêu tả 2 không gian đối lập như thế, nhà văn có dụng ý:
+ Khắc họa sự khốc liệt, tàn bạo của chiến tranh
+ Thể hiện khao khát, trân trọng và ước mơ về 1 cuộc sống hòa bình
Câu 10: Em hãy kể tên một vài tác phẩm mà em biết có cùng đề tài viết về người lính (1đ)
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức của bản thân
Lời giải chi tiết:
Một số tác phẩm có cùng đề tài viết về người lính:
- Đồng chí – Chính Hữu
- Nhớ - Hồng Nguyên
- Tây Tiến – Quang Dũng
- Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Đình Thi
II. VIẾT (4đ)
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương đất nước
Phương pháp giải:
Sử dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm của bản thân để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
*Yêu cầu chung: HS kết hợp được kiến thức và kĩ năng để viết bài văn nghị luận xã hội. Bài viết phải có bố cục 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài) đầy đủ, rõ ràng; đúng kiểu bài nghị luận; diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
*Yêu cầu cụ thể
1. Mở bài: Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận: trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương đất nước
2. Thân bài:
a. Giải thích:
- “Trách nhiệm của giới trẻ”: trách nhiệm giữ gìn nền độc lập, tích cực xây dựng nước nhà ngày càng vững mạnh. Bên cạnh đó còn là ý thức học tập, rèn luyện bản thân, cống hiến, giúp ích cho nước nhà.
b. Phân tích các biểu hiện và ý nghĩa của trách nhiệm:
- Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trước đất nước dân tộc:
+ Cần phải cống hiến nhiều hơn để phát triển nước nhà vững mạnh, có thể chống lại mọi kẻ thù. Cần nỗ lực học tập, trau dồi bản thân, rèn luyện đạo đức, sống có ước mơ, hoài bão, mục tiêu và cố gắng vươn lên
+ Tích cực than gia vào các hoạt động công ích, các hoạt động tình nguyện, sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ người khác
+ Sống có tinh thần tập thể, đi theo cái hay, cái đúng, bỏ qua cái tôi vì lợi ích chung của cộng đồng. Yêu thương, giúp đỡ đồng bào, đoàn kết không chỉ giúp cho chúng ta được yêu thương, trân trọng trong mắt mọi người mà nó còn thể hiện sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.
- Ý nghĩa của trách nhiệm:
+ Trách nhiệm của công dân đối với tổ quốc là nền tảng của đoàn kết, khi tất cả con người đoàn kết lại với nhau thì đất nước ngày càng vững mạnh hơn.
+ Sự cống hiến sẽ giúp con người đẩy xa cái tôi cá nhân, sự ích kỉ, nhỏ nhen của mình từ đó hướng tới những điều tốt đẹp hơn
+ Người sống có trách nhiệm với Tổ quốc sẽ là người có tình yêu thương, tính tự giác cao, từ đó làm cho cuộc sống của mình ngày càng phát triển theo hướng tốt hơn.
- Liên hệ bản thân
+ Là một học sinh trước hết chúng ta cần học tập thật tốt, nghe lời ông bà cha mẹ, lễ phép với thầy cô. Có nhận thức đúng đắn về việc giữ gìn và bảo vệ tổ quốc. Luôn biết yêu thương và giúp đỡ những người xung quanh…
- Phản đề
+ Bên cạnh đó vẫn còn có nhiều người chưa có nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của mình đối với quê hương đất nước, chỉ biết đến bản thân mình, coi việc chung là việc của người khác… những người này đáng bị phê phán.
3. Kết bài
- Khái quát lại vấn đề cần nghị luận, liên hệ
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 11
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Hs đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi kế tiếp
CHO NGƯỜI KHÁC NIỀM TỰ HÀO
(Dale Carnegie)
Trong quyển Những kỷ niệm đời tôi với Maeterlinck (Souvenirs, My Life with Maeterlinck), Georgette Leblanc kể về sự chuyển hóa kỳ diệu của một “nàng lọ lem” người Bỉ như sau:
“Một cô phục vụ ở khách sạn lân cận mang thức ăn đến cho tôi. Người ta gọi cô là “Marie rửa bát” vì cô bắt đầu nghề nghiệp của mình bằng công việc bị nhiều người coi thường này. Đã vậy, cô còn xấu xí, mắt lác, chân vòng kiềng. Nhìn chung, dưới mắt người đời, cô là một cô bé lọ lem đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Một hôm, khi cô mang đĩa mì ống tới cho tôi, tôi nói: “Marie này, ở cô có rất nhiều điểm đáng yêu, cô có biết không?”. Marie đứng lặng trong giây lát, gần như ngưng thở. Sau đó cô đặt cái đĩa lên bàn và nói: “Thưa bà, cháu chưa nghĩ đến điều đó bao giờ”. Cô không nói thêm điều gì nữa mà chỉ lặng lẽ lui ra.
Từ ngày đó, những thay đổi kỳ lạ bắt đầu xuất hiện ở cô gái thầm lặng ấy. Tin rằng mình có nhiều điều tốt đẹp mà mọi người chưa biết, cô bắt đầu chăm sóc gương mặt và dáng hình mình một cách kỹ lưỡng. Và rồi bao vẻ thanh xuân bị vùi lấp bấy nay bỗng trỗi dậy trong cô. Hai tháng sau, cô báo tin sẽ kết hôn với người cháu của ông bếp trưởng. Cô nói: “Cháu sẽ trở thành một quý bà!” rồi cô cảm ơn tôi. Tôi vô cùng cảm động khi nghĩ rằng chỉ với một câu nói ngắn ngủi ấy, tôi đã giúp cô thay đổi cả cuộc đời.”
Georgette Leblanc đã cho “Marie rửa bát” niềm tin và động lực để vươn lên. Và Marie đã lấy niềm tin và động lực ấy làm điểm tựa để thay đổi cuộc đời mình.
Trong đời thường, cho người khác một thanh danh là quan trọng; nhưng phê bình một người mà vẫn giữ được danh dự cho người ấy còn quan trọng hơn gấp nhiều lần. Chuyện kể rằng, một buổi sáng, nha sĩ Martin Fitzhugh ở Dublin, Ireland, bị một bệnh nhân than phiền cái bình kim loại đựng nước súc miệng không được sạch sẽ lắm. Thực ra, người bệnh dùng cái cốc bằng giấy chứ không phải cái bình, nhưng rõ ràng để một vật kém vệ sinh trong phòng khám là điều không nên chút nào. Sau giờ làm việc, nha sĩ Fitzhugh viết một bức thư ngắn cho Bridgit, người giúp việc thường đến văn phòng ông hai lần mỗi tuần để dọn dẹp.
Ông viết như sau:
Chị Bridgit thân mến!
Tôi ít khi gặp chị. Nên tôi nghĩ mình phải tranh thủ để cảm ơn chị về công việc dọn dẹp rất tốt mà chị đã làm. Nhân tiện, tôi xin đề nghị thế này: Hiện tại, hai giờ dọn dẹp, mỗi tuần hai lần là quá ít, xin chị cứ tùy ý đến làm việc thêm một giờ nữa vào bất cứ lúc nào chị cảm thấy thuận tiện để làm những việc như lau chùi các bình, lọ, cốc... Dĩ nhiên, tôi sẽ trả thêm tiền ngoài giờ cho chị.
“Ngày hôm sau, khi tôi bước vào phòng làm việc”, ông Fitzhugh kể, “bàn ghế
láng bóng, còn ở phòng răng, mọi thứ – kể cả bình nước – đều sạch sẽ, sáng choang và nằm ngay ngắn đúng vị trí của chúng.
Cố gắng này vượt xa những biểu hiện thông thường của chị. Mà chị cũng chẳng
làm thêm một giờ nào hết. Chị muốn tỏ ra xứng đáng với sự tin cậy, lời khen ngợi của tôi”.
Ruth Hopkins, cô giáo dạy lớp bốn ở Brooklyn, New York, phải đương đầu với một khó khăn lớn. Năm học này lớp của cô sẽ có Tommy, cậu học trò được xem là bất trị nổi tiếng nhất trường. Thầy giáo lớp ba của cậu luôn than phiền về cậu. Cậu không chỉ nghịch ngợm theo kiểu thông thường mà còn đánh nhau, trêu chọc bạn gái, ngang ngược với thầy cô. Mọi giáo viên đều nói rằng càng lớn cậu càng tệ hơn. Ưu điểm duy nhất của cậu là khả năng tiếp thu nhanh và làm bài tập ở lớp rất nhanh.
Cô Hopkins quyết định đương đầu với “vấn đề Tommy” ngay lập tức. Sau khi
chào các học sinh mới, cô khen từng em một: “Rose à! Chiếc áo của em rất xinh”, “Alicia này! Cô nghe nói em vẽ rất đẹp”. Khi đến bên cạnh Tommy, cô nhìn thẳng vào mắt cậu và nói: “Tommy! Cô biết em là một người có tài lãnh đạo. Cô sẽ nhờ em giúp cô làm cho lớp này thành lớp giỏi nhất khối lớp bốn năm nay, được không?”. Cô nhấn mạnh điều này trong những ngày đầu tiên bằng cách khen ngợi Tommy trong mọi việc cậu làm và rằng điều này chứng minh cậu là một học trò giỏi như thế nào. Có lời khen và danh dự này, cậu bé chín tuổi ấy quyết tâm gìn giữ. Và quả thật, cậu đã không làm cô giáo và mọi người thất vọng vào cuối năm học đó. Gần như bất cứ người nào trên đời cũng đều như vậy chứ không chỉ là những cậu bé hay cô bé. Một cách đơn giản để đánh thức những đức tính tốt đẹp trong con người mình là tin rằng mình có ít nhất một đức tính tốt nào đó. Như thế, dù trên thực tế chúng ta chưa có nó thì sau đó, chúng ta sẽ hành xử như chúng ta đã có đức tính đó vậy.
“Nếu muốn khuyến khích một điều gì ở ai đó, bạn hãy làm như điều ấy chính là
đặc điểm vượt trội của người đó. Họ nhất định sẽ nỗ lực phi thường để trở nên như thế” – Dale Carnegie. “Trong cách đối nhân xử thế, nếu ta đối xử với một người như thế nào thì anh ta sẽ trở thành người như thế ấy” – Johann Wolfgang von Goethe
(Đắc nhân tâm -Dale Carnegie. NXB văn hóa Thông tin 2012)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Vì sao?
Câu 2: Vì sao Marie đứng lặng trong giây lát, gần như ngưng thở khi nghe Georgette Leblanc nói về mình?
Câu 3: Câu chuyện về nha sĩ Fitzhugh viết một bức thư ngắn gửi chị giúp việc Bridgit đã chứng minh điều gì?
Câu 4: Nhận định sau đây có thể vận dụng vào mọi hoàn cảnh, với mọi đối tượng trong cuộc sống được không? Vì sao? Hãy xây dựng một tình huống giả định, hoặc lấy một ví dụ để phản biện
“Trong cách đối nhân xử thế, nếu ta đối xử với một người như thế nào thì anh ta sẽ trở thành người như thế ấy” – Johann Wolfgang von Goethe
Câu 5: Em “vi phạm” nguyên tắc nào trong văn bản Cho người khác niềm tự hào chưa? Sau bài học này, em rút ra kinh nghiệm nào cho mình trong cách nhìn nhận, đánh giá và ứng xử với mọi người xung quanh?
II. Viết (4đ)
Câu 1: Quan sát hình ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b
a. Hãy đặt tên cho từng bức ảnh
b. Có thể dùng hình ảnh nào để minh họa cho một nội dung/ nhận định trong văn bản ở phần đọc hiểu trên?


Câu 2: Theo dõi cuộc trao đổi của đôi bạn sau giờ sinh hoạt lớp với nội dung tổng kết khen thưởng tháng sau đây

Em hãy viết bài luận thể hiện quan điểm của mình về ý kiến của hai người bạn trên (dài từ 1,5 – 2 trang giấy thi/ vở)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại dấu hiệu nhận biết các kiểu văn bản
Lời giải chi tiết:
Văn bản nghị luận:
+ Vì bàn về một vấn đề cụ thể
+ Vì dùng ý kiến, lí lẽ và dẫn chứng thuyết phục người đọc
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Vì sao Marie đứng lặng trong giây lát, gần như ngưng thở khi nghe Georgette Leblanc nói về mình? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Vì cô ấy có ngoại hình không đẹp, làm công việc bị coi thường
- Vì cô ấy chưa nghĩ đến điều đó bao giờ
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Câu chuyện về nha sĩ Fitzhugh viết một bức thư ngắn gửi chị giúp việc Bridgit đã chứng minh điều gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bức thư
Lời giải chi tiết:
Phê bình bằng cách khích lệ, thể hiện niềm tin họ sẽ tỏ ra xứng đáng với sự tin cậy, lời khích lệ
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Nhận định sau đây có thể vận dụng vào mọi hoàn cảnh, với mọi đối tượng trong cuộc sống được không? Vì sao? Hãy xây dựng một tình huống giả định, hoặc lấy một ví dụ để phản biện “Trong cách đối nhân xử thế, nếu ta đối xử với một người như thế nào thì anh ta sẽ trở thành người như thế ấy” – Johann Wolfgang von Goethe |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhận định
Suy nghĩ và áp dụng vào các hoàn cảnh, thực tế cuộc sống
Lời giải chi tiết:
- Không thể
- Bởi vì có những người quá chây ì, không bao giờ nỗ lực, không bao giờ quan tâm đến sự tiến bộ của mình và mọi người nên họ rất khó nhận ra sự tôn trọng, khích lệ hay coi thường trong đối thoại, đối xử… Và cũng có thể họ không quan tâm đến thái độ của mọi người đối với mình nữa
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Em “vi phạm” nguyên tắc nào trong văn bản Cho người khác niềm tự hào chưa? Sau bài học này, em rút ra kinh nghiệm nào cho mình trong cách nhìn nhận, đánh giá và ứng xử với mọi người xung quanh? |
Phương pháp giải:
Học sinh liên hệ bản thân
Lời giải chi tiết:
- HS tự “ngoái lại” thời gian trước đây để đối chiếu một số ứng xử, đánh giá của mình với người thân, bạn bè với 3 nhận định từ văn bản để có câu trả lời (cần khớp với nhận định của văn bản)
- Rút kinh nghiệm: từ những “vi phạm” nguyên tắc nếu mình có; từ những nhận định đắt giá của văn bản
II. VIẾT (4đ)
Câu 1 (1 điểm)
|
a. Hãy đặt tên cho từng bức ảnh b. Có thể dùng hình ảnh nào để minh họa cho một nội dung/ nhận định trong văn bản ở phần đọc hiểu trên? |
Phương pháp giải:
a. HS quan sát kĩ 2 bức ảnh, rút ra nội dung chính và đặt tên
b. HS dựa vào quan điểm cá nhân
Lời giải chi tiết:
a. HS tự đặt tên (cần sát với đặc điểm, biểu hiện, hình ảnh)
b. HS dựa vào ý kiến cá nhân (cần có phân tích hợp lí, suy luận logic, bởi có những điều khi quan sát ta thấy chúng không hề liên quan đến nhau, hoặc không chứa đựng ý nghĩa gì… cho đến khi nghe phân tích, suy luận ta lại phát hiện ra)
- Gợi ý: Bức ảnh 1 phù hợp minh họa cho luận điểm 1 (bao vẻ thanh xuân bị vùi lấp bấy lâu nay bỗng trỗi dậy)
Câu 2 (3 điểm)
|
Em hãy viết bài luận thể hiện quan điểm của mình về ý kiến của hai người bạn trên (dài từ 1,5 – 2 trang giấy thi/ vở) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Em hãy viết bài luận thể hiện quan điểm của mình về ý kiến của hai người bạn trên (dài từ 1,5 – 2 trang giấy thi/ vở) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Nêu luận đề: quan điểm cá nhân về ý kiến 2 người bạn về khích lệ và chỉ thẳng lỗi - Thái độ/ quan điểm cá nhân: sơ bộ/ khái quát (không đồng ý hoàn toàn/ cần bàn về hoàn cảnh vận dụng…) |
|
Thân bài |
2,0 |
Gồm các ý chính (từ 3 luận điểm trở lên) - Phân tích, đánh giá ý kiến của bạn A (gắn với từng hoàn cảnh, đối tượng cụ thể): Ý kiến, lí lẽ, dẫn chứng - Ý kiến cá nhân: khách quan, không cực đoan (lí lẽ, dẫn chứng để thuyết phục 2 người bạn…) |
|
Kết bài |
0,25 |
- Khẳng định ý kiến cá nhân - Rút ra nhận thức, hành động của cá nhân… |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Phân tích, suy luận logic, phù hợp với văn hóa dân tộc,… - Tránh áp đặt cứng nhắc, cực đoan |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 12
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Hs đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi kế tiếp
CHĂM SÓC KHU VƯỜN RIÊNG CỦA BẠN
(Karen Casey)
[...] Cách chúng ta đối nhân xử thế cho biết ta phải làm gì đối với bản thân. Và khi thôi chú tâm vào cuộc sống của người khác, chúng ta có thể hoàn thành nhiệm vụ duy nhất được giao phó: kiểm soát cách cư xử của mình. Nhưng làm như thế nào? Đơn giản thôi! Chúng ta phải học và sau đó luyện tập vài cách
ứng xử mới.
Chăm lo cuộc sống của bạn, không phải của ai khác.
Chúng ta có thể lớn lên trong môi trường mà ở đó, cha mẹ chúng ta thường chỉ trích bạn bè, người thân hay hàng xóm chỉ vì sự khác biệt trong quan điểm hay hành động. Bị ám ảnh bởi việc quan sát hành vi của bạn bè, người thân hay thậm chí là của một người hoàn toàn xa lạ và khao khát thay đổi hoặc kiểm soát được những hành vi ấy là một chất xúc tác cực mạnh dẫn đến rối loạn trong tư duy của chúng ta. Điều tai hại này xảy ra song song với ý nghĩ sai lầm rằng chúng ta có thể thay đổi bất kỳ ai, ngoại trừ bản thân. Chúng ta có thể lãng phí nhiều năm trời cố gắng thay đổi người bạn đời hay một số bạn bè khác để rồi thật nhẹ nhõm khi cuối cùng cũng biết rằng, chuyện của người khác chẳng liên quan gì đến ta, không lý do gì ta phải bận tâm kiểm soát hay nhận xét họ. Chịu trách nhiệm về bản thân mình thôi là đủ rồi.
Cần phải nhắc lại rằng: chúng ta không chịu trách nhiệm về người khác, cũng không liên quan gì đến hành vi, suy nghĩ, mơ ước, khó khăn, thành công hay thất bại của họ!
Thậm chí con cái chúng ta cũng có hành trình riêng của chúng và cái gọi là sự kiểm soát của cha đối với con cái thật ra chỉ là ảo tưởng. Chúng ta có thể đưa ra ví dụ, có thể đề nghị một khuôn mẫu cư xử nào đó, có thể đặt ra các quy tắc đạo
đức, thậm chí yêu cầu con cái sống theo những nội quy nhất định khi ở trong nhà, nhưng cuối cùng, chính chúng mới là người quyết định mình muốn trở thành người như thế nào, muốn làm cái gì...Tôi muốn nói rằng: Hãy ăn mừng vì sự thật là chúng ta không chịu trách nhiệm với bất kỳ ai, ngoại trừ bản thân. Điều này giải thoát chúng ta khỏi một gánh nặng và một trách nhiệm chẳng đem lại lợi lộc hay phúc lành gì cho ta cả. Hãy làm chủ mọi hành động và suy nghĩ của mình. sẵn sàng từ bỏ quá khứ trong lúc thưởng thức hiện tại. Chừng đó đã đủ khiến chúng ta bận rộn. Hãy thực hiện những việc này, chúng chính là lý do để chúng ta có mặt ở đây. Chỉ khi nào chúng ta sống với cuộc đời của mình và giải quyết những chuyện của riêng mình, để yên cho những người khác làm điều tương tự, thì ta mới tìm thấy được bình yên.
Để người khác được là chính họ
Rất nhiều khoảng thời gian quý báu đã bị lãng phí một cách vô ích trong những nỗ lực bắt người khác trở thành mẫu người như ta muốn hoặc làm điều mà ta nghĩ là tốt nhất cho họ (hay cho chúng ta). Nhưng rồi những cố gắng ấy chỉ đem đến thất bại hết lần này đến lần khác. Đây không những là một sai lầm mà còn là sự phí phạm cuộc sống quý giá mà ta được ban tặng. Đã đến lúc phải bỏ qua tất cả. Lần đầu tiên tôi được giới thiệu về khái niệm “bỏ qua” là khi tham gia một nhóm hoạt động xã hội của chương trình Twelve Step và phải mất khá nhiều thời gian tôi mới nắm được ý nghĩa của nó. Chẳng phải nhiệm vụ của tôi là dẫn dắt những người thân yêu để họ có được quyết định và hành động sáng suốt sao?
Và nếu có thể, chẳng phải tôi nên kiểm soát họ? Tôi luôn nghĩ rằng không làm như thế đồng nghĩa với sự ích kỷ và thiếu quan tâm. Thật may mắn vì cuối cùng tôi đã nghiệm ra là người thân, bạn bè, hàng xóm và thậm chí những người xa lạ
đi ngang ta trên đường, phải được là chính họ chứ không phải là con người mà
mong muốn. Phải phạm sai lầm thì họ mới rút ra được bài học và tìm được lý
do vui mừng với thành công của bản thân.
Có rất nhiều lý do để từ bỏ việc điều khiển người khác. Nhưng quan trọng nhất là vì chúng ta sẽ không bao giờ thành công trong việc đó và không thể tìm được cảm giác thanh thản nếu cứ mãi chú tâm vào cuộc sống của người khác. Để được bình yên, chúng ta phải tôn trọng sự chọn lựa của người khác và chỉ quan
tâm đến những trong cuộc sống của riêng mình.
Từ bỏ vị trí trung tâm trong cuộc sống của người khác.
Bởi không ai có thể yên ổn ngự trị ở trung tâm cuộc sống của chúng ta nên ta cũng không cần phí phạm thời gian quý báu nhằm tự biến mình thành tâm điểm
trong cuộc sống người khác. Có vẻ như điều này chạm đến tự ái của bạn, nhưng
đã đến lúc phải chấp nhận sự thật. Điều này không có nghĩa là chúng ta phải cách ly người khác hay tống khứ họ ra khỏi cuộc đời mình trước khi bị họ “bỏ rơi”, hay chúng ta phải lờ đi suy nghĩ và hành động của mọi người để tránh phụ thuộc thái quá vào họ. Đứng ngoài quan sát có thể là một lựa chọn đúng đắn và sáng suốt hơn.
Điều cốt yếu là phải xác định được vai trò của ta trong mọi mối quan hệ, biết khi nào trách nhiệm của ta kết thúc và trách nhiệm của người khác bắt đầu. Khi
bị chi phối vì những hành động, ước mơ hay biến cố của người khác, chúng ta sẽ tự trói cảm xúc của mình và cản trở sự tiến bộ mà ta xứng đáng đạt được... Chúng ta muốn mọi người xung quanh phải chia sẻ hết suy nghĩ của họ với mình, muốn họ không ngừng chú ý đến ta, muốn mỗi kế hoạch của họ đều phải có ta trong đó. Nhưng như thế không thể gọi là quan hệ, mà đúng hơn, là sự lệ thuộc; là một sợi dây liên kết tồi tệ. Một mối quan hệ thật sự đem đến sự thanh thản phải là sự tác lẫn nhau. Nó cho phép ta kết nối với mọi người trong khi vẫn chăm lo và tôn trọng cuộc sống riêng của mình, đồng thời cho phép những người bạn đồng hành của ta được làm điều tương tự [...].
(Khi ta thay đổi thế giới sẽ đổi thay, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2020)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Vì sao?
Câu 2: Câu: “Thậm chí con cái chúng ta cũng có hành trình riêng của chúng và cái gọi là sự kiểm soát của cha đối với con cái thật ra chỉ là ảo tưởng” thuộc yếu tố nào của văn bản nghị luận? Nhằm mục đích gì?
Câu 3: Câu: “Đây không phải là một sai lầm mà còn là sự phí phạm cuộc sống quý giá mà ta được ban tặng” nhằm thuyết phục người đọc thực hiện điều gì?
Câu 4: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: “Để được bình yên, chúng ta phải tôn trọng sự chọn lựa của người khác và chỉ quan tâm đến những điều trong cuộc sống của riêng mình” không? Vì sao?
Câu 5: Tác giả bàn về vấn đề gì trong đoạn văn bản sau đây? Em có đồng ý với nhận định của tác giả không? Vì sao?
Chúng ta có thể lớn lên trong môi trường mà ở đó, cha mẹ chúng ta thường chỉ trích bạn bè, người thân hay hàng xóm chỉ vì sự khác biệt trong quan điểm hay hành động. Bị ám ảnh bởi việc quan sát hành vi của bạn bè, người thân hay thậm chí là của một người hoàn toàn xa lạ và khao khát thay đổi hoặc kiểm soát được những hành vi ấy là một chất xúc tác cực mạnh dẫn đến rối loạn trong tư duy của chúng ta.
II. Viết (4đ)
Câu 1: Cho 3 mô hình sau đây thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với bạn bè, em hãy
a. Đặt tên cho từng mô hình
b. Em lựa chọn mô hình nào, mối quan hệ nào? Nêu 2 lí do

Câu 2: Viết bài luận thể hiện suy nghĩ của em về mối quan hệ cá nhân với bạn bè mà em đã lựa chọn ở câu hỏi số 1 (từ 1,5 đến 2 trang giấy)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại dấu hiệu nhận biết các thể loại
Lời giải chi tiết:
Văn bản nghị luận:
+Vì bàn về một vấn đề cụ thể
+Vì dùng ý kiến, lí lẽ và dẫn chứng thuyết phục người đọc
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Câu: “Thậm chí con cái chúng ta cũng có hành trình riêng của chúng và cái gọi là sự kiểm soát của cha đối với con cái thật ra chỉ là ảo tưởng” thuộc yếu tố nào của văn bản nghị luận? Nhằm mục đích gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu văn
Nhớ lại các yếu tố của văn bản nghị luận
Lời giải chi tiết:
Là lí lẽ, nhằm làm sáng tỏ luận đề: không ai có thể kiểm soát được người khác
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Câu: “Đây không phải là một sai lầm mà còn là sự phí phạm cuộc sống quý giá mà ta được ban tặng” nhằm thuyết phục người đọc thực hiện điều gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu văn
Lời giải chi tiết:
Thuyết phục người đọc: Để người khác được là chính họ
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: “Để được bình yên, chúng ta phải tôn trọng sự chọn lựa của người khác và chỉ quan tâm đến những điều trong cuộc sống của riêng mình” không? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đưa ra quan điểm của bản thân và lí giải hợp lí
Lời giải chi tiết:
Gợi ý: câu trên chứa đựng 2 vế, cần phải nghiên cứu kĩ vế thứ 2 (bởi con người đặt trong mối quan hệ thân sơ, không thể bỏ qua tất cả, chỉ sống cho riêng mình và có lúc mình rất cần sự trợ giúp của người thân và bạn bè
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Tác giả bàn về vấn đề gì trong đoạn văn bản sau đây? Em có đồng ý với nhận định của tác giả không? Vì sao? Chúng ta có thể lớn lên trong môi trường mà ở đó, cha mẹ chúng ta thường chỉ trích bạn bè, người thân hay hàng xóm chỉ vì sự khác biệt trong quan điểm hay hành động. Bị ám ảnh bởi việc quan sát hành vi của bạn bè, người thân hay thậm chí là của một người hoàn toàn xa lạ và khao khát thay đổi hoặc kiểm soát được những hành vi ấy là một chất xúc tác cực mạnh dẫn đến rối loạn trong tư duy của chúng ta. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Đưa ra quan điểm của bản thân và lí giải hợp lí
Lời giải chi tiết:
- Bàn về vấn đề: môi trường sống và nhân cách con người
- Quan điểm của tác giả: môi trường sống sẽ chi phối, tác động sâu sắc đến nhân cách con người
- HS tự lựa chọn và phân tích rõ quan điểm cá nhân (căn cứ vào thực tế, vào ví dụ cụ thể mà mình đã trải qua, chứng kiến)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Cho 3 mô hình sau đây thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với bạn bè, em hãy a. Đặt tên cho từng mô hình b. Em lựa chọn mô hình nào, mối quan hệ nào? Nêu 2 lí do |
Phương pháp giải:
a. Quan sát kĩ các mô hình và đặt tên
b. HS đưa ra ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
a. HS tự đặt tên theo ý kiến cá nhân (gợi ý: 1. Phụ thuộc; 2. Chi phối; 3. Độc lập)
b. Lựa chọn mô hình, mối quan hệ mà mình cho là các bên được phát triển độc lập và có tương hỗ nhau khi cần thiết; nêu 2 lí do: cần phải hướng đến sự phát triển của 2 đối tượng trong mối quan hệ đó
Câu 2 (3 điểm)
|
Viết bài luận thể hiện suy nghĩ của em về mối quan hệ cá nhân với bạn bè mà em đã lựa chọn ở câu hỏi số 1 (từ 1,5 đến 2 trang giấy) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài luận thể hiện suy nghĩ của em về mối quan hệ cá nhân với bạn bè mà em đã lựa chọn ở câu hỏi số 1 (từ 1,5 đến 2 trang giấy) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Nêu luận đề: mối quan hệ cá nhân với bạn bè - Sự lựa chọn của cá nhân: mối quan hệ cá nhân với bạn bè theo hướng cụ thể… |
|
Thân bài |
2,0 |
Gồm các ý chính (từ 3 luận điểm trở lên) - Nêu ngắn gọn cách hiểu về mối quan hệ cá nhân với bạn bè và một số biểu hiện tiêu biểu (có ví dụ) - Lựa chọn của cá nhân: 1.Phụ thuộc/2. Chi phối/3.Độc lập +Phân tích biểu hiện của mối quan hệ đã lựa chọn +Phân tích ưu điểm và hạn chế + Lí giải sự phù hợp với cá nhân mình - Ý kiến cá nhân: vai trò tình bạn đối với mỗi người và bản thân mình Lưu ý: dùng các yếu tố biểu cảm |
|
Kết bài |
0,25 |
- Khẳng định ý kiến cá nhân về mối quan hệ với bạn bè - Rút ra nhận thức, hành động của cá nhân… |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Phân tích, suy luận logic, phù hợp với văn hóa dân tộc,… - Tránh áp đặt cứng nhắc, cực đoan |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 13
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Hs đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi kế tiếp
MỘT CƠN GIẬN
(Thạch Lam)
[…] Cũng một buổi chiều mùa đông như hôm nay, tôi ở tòa báo ra về, trong lòng chán nản và buồn bực. Có những ngày mà tự nhiên không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu, và hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì. Tôi đang ở vào một ngày như thế mà chiều trời hôm ấy lại ảm đạm và rét mướt càng khiến cho cảm giác đó rõ rệt hơn.
Tôi đi vài bước trên con đường phố vắng người. Một cái xe tay dằng xa đi lại, anh phu xe co ro vì rét, hai tay giấu dưới manh áo tơi tàn. Theo lệ như mọi khi, tôi mặc cả:
- Xe đi không? Bốn xu về gần nhà bò Yên Phụ.
- Thầy cho sáu xu.
- Không, bốn xu là đúng giá rồi. [...]
Tôi lại càng ghét và quay lại gắt:
- Có đi hay không thì thôi! Đừng có theo sau người ta mà lải nhải.
Thấy tôi gắt, người phu xe đứng lại, không dám theo nữa. Nhưng để tôi đi một quãng xa, anh ta ới gọi:
- Lại đây đi mà.
Rồi anh ta hạ càng xe xuống, cứ đứng yên chỗ ấy đợi chứ không kéo lại phía tôi. Cái cử chỉ ấy làm tôi sinh ghét thêm, đã toan không đi, nhưng lúc ấy không có cái xe nào khác. Tôi giận dữ bước mạnh lên xe, vừa mắng:
- Anh thật là lắm chuyện, không đi ngay lại còn vẽ.
Anh xe cãi lại:
- Từ đây về đấy thầy cho được bốn đồng xu thật rẻ quá!
- Thì ai bảo anh đi? Không có tôi đã gọi xe khác.
Người phu xe khẽ thở dài, yên lặng nhấc xe lên. Lúc bấy giờ tôi mới ngả mình ra phía sau, nhưng thấy cái đệm cứng như gỗ đập vào lưng, tôi cúi xuống bên nhìn cái tay xe.... Sự tồi tàn của cái xe làm tôi càng ghét anh xe nữa.
- Xe khổ thế này mà anh lại còn đòi cao giá.
- Xe thế mà thầy chê thì còn thế nào nữa!
Sau cùng, giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt:
- Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa.
Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ thấy tức người xe ấy đến cực điểm, vì hắn dám cãi lại tôi mà không sợ.
Xe đi khỏi nhà máy nước thì gặp một người đội xếp tây đi xe đạp lại, theo sau một người đội xếp ta. Tôi nhận thấy anh xe kéo tôi có ý luống cuống và sợ hãi. Có lẽ vì thế mà người cảnh sát để ý, đi giáp vào cái xe kéo để xem dấu hiệu.
- Ê! Đứng lại!
Người kéo xe dừng chân... Anh ta quay lại tôi hớt hải van xin:
- Lạy thầy... thầy nói giúp con... thầy làm ơn...
Dưới ánh đèn tôi thấy mặt anh xe tái mét. Những vết rạn in sâu xuống trên mặt già nua hốc hác, chân tay người khốn nạn ấy run bật lên và tôi thấy cái rung động chuyển cả vào chiếc thân xe. Người cảnh sát tây đến, nói bằng tiếng ta hơi sõi:
- Mày chết nhé! Mày sẽ bị phạt!
Người phu xe ấp úng nói thì ông ta khoát tay bảo im, rồi quay lại tôi hỏi, lần này bằng tiếng Pháp.
- Người này kéo ông từ trong phố ra hay ông đi khứ hồi?
Tôi liếc mắt nhìn anh kéo xe. Tôi thấy hai mắt anh ta long lanh nhìn tôi, như khẩn cầu van xin yên lặng. Tôi biết lời nói của tôi sẽ làm anh ta bị bắt hay không. Tôi được biết rằng nếu người khách nói là đi khứ hồi từ ngoại ô, thì người xe không việc gì. Nhưng lúc ấy, lời van xin của anh xe kia không làm cho tôi động lòng, mà lại làm cho tôi ghét anh thêm. Tôi trả lời người đội xếp:
- Tôi đi từ phố hàng Bún.
- Vậy phiền ông xuống xe.
Rồi anh ta nhìn anh phu xe, cười một cách tinh quái:
- Allez! Đi về bót!
Khi anh phu xe run sợ và hai người cảnh sát đã khuất đầu phố, tôi mới quay đi thong thả trên bờ hè. Cơn giận của tôi đã hết rồi. Sự hối hận dần thấm thía vào lòng tôi, tôi thấy một cái chán nản bực tức rung động trong người.
Tôi rùng mình nghĩ đến số phận của anh xe khốn nạn. Ba đồng bạc phạt! Anh ta phải vay cai xe để nộp phạt; nhưng ba đồng bạc nợ ấy, bao giờ anh ta trả xong, sau những ngày nhịn đói, bị cai xe hành hạ, đánh đập vì thù hằn?
Những ngày hôm sau thực là những ngày khổ cho tôi. Lòng hối hận không để tôi yên. Hình như có một cái gì nặng nề đè nén trên ngực làm cho tôi khó thở, và lúc nào hình ảnh anh phu xe cũng hiển hiện ra trước mắt. Tôi nhất định đem tiền đến cho người xe kia để chuộc tội lỗi của mình...
Lần ấy là lần đầu tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở như thế. Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới như những người trong một cơn mê. Người phu xe Dư ở trong ấy. Tôi cúi mình bước vào, chỉ thấy tối như bưng lấy mắt và thấy hơi ẩm lạnh thấm vào tận trong mình. Có tiếng người đàn bà khẽ hỏi:
- Bẩm thầy muốn gì?
Khi mắt mắt đã quen tối, tôi nhận thấy người đàn bà vừa hỏi, một bà già ở mép một chiếc giường tre mục nát kê ở sát tường. Sau lưng bà này, một người đàn bà nữa ngồi ôm trong lòng một vật gì hơi động đậy. Cả hai cùng ngước mắt lên nhìn tôi một cách ngạc nhiên và đầu họ chạm vào mái nhà thấp, đây những mảng giẻ rách nát vắt trên xà.
- Bác Dư có nhà không?
- Bẩm, chú nó đi về quê vắng từ hôm nọ.
Một vẻ sợ hãi thoáng qua trên mặt đủ tỏ cho tôi biết họ không nói thật, tôi giảng giải:
- Không, cụ cứ nói thật cho tôi biết. Tôi đến để giúp bác ta chứ không có ý gì khác.
Bà cụ nhìn tôi nghĩ ngợi một lát rồi nói:
- Thế thầy đã biết việc chú nó bị bắt xe hôm nọ?
Tôi gật đầu ra hiệu cho bà cụ cứ nói:
- Hôm ấy cai nó phải đem tiền lên nộp phạt để chuộc xe về. Chú nó đã xin khất với cai để rồi trả dân số tiền đó. Nhưng nó nhất định không nghe, bắt phải trả một nửa ngay. Khốn nạn, thì lấy đâu ra mà trả. Thế là bị nó lột quần áo đánh một trận thừa sống thiếu chết thầy ạ. Khi về đây lê đi không được nữa. Thế mà nó còn bắt mai phải trả ngay.
- Thế bây giờ bác ta đâu?
Bà cụ trả lời:
- Đi ngay từ hôm ấy, mà không biết đi đâu. Đã ba hôm nay chúng tôi dò mà không thấy. Chắc là sợ cai không dám về nữa, dù có về mà không có tiền cũng chết với nó. Thật cũng là cái vạ, nghe đâu chú nó nói hôm ấy tại người khách đi xe không biết nói với người đội xếp thế nào mới bị bắt, chứ không cũng chẳng việc gì.
Bà cụ chép miệng, chỉ người đàn bà ngồi sau:
- Tội cho vợ con chú đây, ốm đã mấy ngày hôm nay không có thuốc. Đứa cháu không biết có qua khỏi được không?
Tôi đứng lại gần xem. Trên cánh tay người mẹ, chỉ còn là một dúm thịt con đã nhăn nheo: đứa bé há hốc miệng thở ra, mặt xám nhợt. Người mẹ thỉnh thoảng lấy cái lông gà dúng vào chén mật ong để bên cạnh, phết lên lưỡi của đứa bé.
- Cháu nó sài đã hơn một tháng nay. Hôm nọ đã đỡ. Mấy hôm nay vì không có tiền mua thuốc lại tăng. Ông lang bảo cháu khó qua khỏi được.
Người mẹ nói xong nấc lên một tiếng rồi nức nở khóc. Bà cụ già lê nhích lại gần, cúi xuống khe khẽ kéo lại những cái tã rách như xơ mướp.
Cái cảnh đau thương ấy làm tôi rơm rớm nước mắt. Một cảm giác nghẹn ngào đưa lên chẹn lấy cổ. Tôi lấy tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bước ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực [...].
Ra đến bên đường, tôi nghe thấy trong căn nhà lụp xụp đưa ra tiếng khóc của hai người đàn bà... Đứa bé con đã chết.
(Nguồn: Tuyển Tập Thạch Lam. XXB văn học, 2018)
Thạch Lam (1910 -1942), tên thật là Nguyễn Tường Lân, là một nhà văn Việt Nam thuộc nhóm Tự Lực văn đoàn. Ông là em ruột của hai nhà văn khác cũng trong nhóm Tự Lực văn đoàn là Nhất Linh và Hoàng Đạo. Ngoài bút danh Thạch Lam, ông còn có các bút danh là Việt Sinh, Thiện Sỹ.
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Cảm hứng chủ đạo của văn bản Một cơn giận – Thạch Lam là gì?
Câu 2: Vì sao người kéo xe liên tục bị nhân vật tôi mắng mỏ thậm tệ?
Câu 3: Suy nghĩ của nhân vật “tôi” ở dòng sau diễn ra vào thời điểm nào? Nó có tác dụng gì trong khắc họa nhân vật?
Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá.
Câu 4: Văn bản đã gửi đến người đọc tư tưởng, thông điệp nào? Hình thức nghệ thuật nào của văn bản chuyển tải điều đó
Câu 5: Em rút được kinh nghiệm gì trong việc giải tỏa cơn giận của bản thân? Theo em, nhân vật “tôi” cần làm gì để giảm tội lỗi của mình?
II. Viết (4đ)
Chọn vấn đề em cho là cần thiết nhất đối với thanh niên hiện nay trong những ô chữ sau và viết bài luận về vấn đề đó (Dùng yếu tố thuyết minh hoặc miêu tả, tự sự để hỗ trợ nghị luận. Bài dài từ 1,5 – 2 trang)

-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Cảm hứng chủ đạo của văn bản Một cơn giận – Thạch Lam là gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và tiêu đề
Lời giải chi tiết:
Đề tài của văn bản Một cơn giận - Thạch Lam: Tâm lý
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Vì sao người kéo xe liên tục bị nhân vật tôi mắng mỏ thậm tệ? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Người kéo xe liên tục bị nhân vật tôi mắng mỏ thậm tệ vì: Khách hàng bực bội trong người, mắng lây sang người khác
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Suy nghĩ của nhân vật “tôi” ở dòng sau diễn ra vào thời điểm nào? Nó có tác dụng gì trong khắc họa nhân vật? Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu văn và đối chiếu vào văn bản phía trên
Phân tích tác dụng
Lời giải chi tiết:
Suy nghĩ của nhân vật “tôi” ở dòng trên diễn ra vào thời điểm: Trước khi người kéo xe bị đội sếp tây phạt
Tác dụng: thể hiện sự nhẫn tâm của “tôi”
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Văn bản đã gửi đến người đọc tư tưởng, thông điệp nào? Hình thức nghệ thuật nào của văn bản chuyển tải điều đó |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Rút ra tư tưởng và thông điệp từ văn bản
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
- Tư tưởng nhân văn: xót thương người nghèo khổ; phê phán ứng xử nhẫn tâm…
-Thông điệp: thận trọng trong ứng xử; sống rộng lượng nhân ái hơn; không phải lỗi ầm nào cũng có thể sửa chữa được; là con người cần biết chịu trách nhiệm với lỗi lầm của bản thân
- Hình thức nghệ thuật: suy nghĩ của nhân vật “tôi”; lời thoại của 2 người phụ nữ
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Em rút được kinh nghiệm gì trong việc giải tỏa cơn giận của bản thân? Theo em, nhân vật “tôi” cần làm gì để giảm tội lỗi của mình? |
Phương pháp giải:
Hs tự đúc rút từ nhận thức của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Vế 1: HS tự làm theo nhận thức cá nhân
- Vế 2: HS đề xuất phương án cụ thể (phương án thể hiện tấm lòng và tầm nhìn)
- Tham khảo gợi ý: Tìm gặp anh phu xe và xin lỗi; Giúp đỡ anh phu xe, vợ anh ta: có kể sinh nhai ổn định hơn
II. VIẾT (4đ)
|
Chọn vấn đề em cho là cần thiết nhất đối với thanh niên hiện nay trong những ô chữ sau và viết bài luận về vấn đề đó (Dùng yếu tố thuyết minh hoặc miêu tả, tự sự để hỗ trợ nghị luận. Bài dài từ 1,5 – 2 trang) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Chọn vấn đề em cho là cần thiết nhất đối với thanh niên hiện nay trong những ô chữ sau và viết bài luận về vấn đề đó |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Nêu, giới thiệu luận đề - Sự quan tâm của cá nhân, số đông tới luận đề |
|
Thân bài |
2,5 |
- Làm rõ cách hiểu về luận đề, vai trò của luận đề trong đời sống hiện nay - Biểu hiện của vấn đề/ luận đề trong xã hội (tính hai mặt) - Tác động của luận đề đối với mỗi con người và xã hội - Các giải pháp… Lưu ý: Dùng truyện Một cơn giận làm bằng chứng (yếu tố tự sự) |
|
Kết bài |
0,5 |
Nhận thức và hành động của bản thân |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Thể hiện rõ quan điểm cá nhân (đồng tình/phản bác) - Dẫn chứng đa dạng phù hợp với lí lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 14
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Hs đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi kế tiếp
CHI PHÍ CHÌM CỦA HẠNH PHÚC
(Mark Manson)
Nếu từng học môn gì liên quan đến kinh tế, chắc bạn biết câu nói “There’s no
such thing as a free lunch” (tạm dịch: “Không có bữa trưa nào miễn phí cả”). Mọi thứ trên đời đều có giá của nó, dù đôi lúc nó không hiện hữu một cách rõ rệt. Để đạt được một mục tiêu, bạn phải từ bỏ một điều gì khác. Trong thời đại xã hội ám ảnh với hạnh phúc cá nhân, chúng ta muốn theo đuổi điều ngược lại. Chúng ta muốn hạnh phúc mà không mất gì cả. Chúng ta muốn phần thưởng mà không có rủi ro, muốn có thành tựu mà không cần cố gắng. Trớ trêu thay, chính việc không sẵn lòng chịu khổ lại khiến chúng ta đau khổ nhiều hơn..[...].
Chấp nhận những điều chưa hoàn hảo của mình
Nhiều người xem “hoàn hảo” là một danh sách bao gồm: có nhà, có xe, dựng
vợ gả chồng và có 2-3 đứa con. Khi “tích” đủ các yếu tố này, bạn có thể sống hạnh phúc đến già. Tuy nhiên cuộc sống không đơn giản như vậy. Những vấn đề bạn gặp phải không biến mất – chúng thay đổi và trở nên phức tạp hơn. Sự hoàn hảo bạn đạt được ngày hôm nay có thể trở nên vô nghĩa vào những ngày sau. Vì vậy, khi hiểu được rằng cuộc sống là sự tiến bộ hơn qua từng ngày thay vì đạt đến sự hoàn hảo, bạn có thể thoải mái hưởng thụ nó.
Sự hoàn hảo là một lý tưởng mà bạn chỉ có thể tiếp cận chứ không bao giờ đạt tới. Dù ý niệm của bạn về “hoàn hảo” có là gì đi chăng nữa, nó cũng không bao giờ tồn tại trên thực tế. Bạn không thể quyết định sự hoàn hảo, mà chỉ biết
ái gì là tốt hơn hay tệ hơn so với hiện tại (mà cuối cùng chưa chắc bạn đã đúng). Khi từ bỏ việc theo đuổi sự hoàn hảo, bạn giảm bớt sự căng thẳng và khó chịu khi không đạt được các chuẩn mực vô hình mà người khác đề ra. Nhưng việc đó không hề dễ dàng, bởi nó khiến bạn phải sống với những điều mình không thích. Bạn muốn giành quyền kiểm soát mọi việc. Và trong một thế giới lý tưởng, mọi mong muốn của bạn đều được đáp ứng.
Nhưng đời là như vậy – nó không bao giờ đi đúng theo con đường bạn vạch
Chúng ta đều sẽ sai về một thứ gì đó, theo một cách nào đó. Trớ trêu thay,
việc chấp nhận sự thật này mới khiến bạn hạnh phúc và bao dung hơn với những khuyết điểm của mình lẫn người khác. Đó mới là bài học chúng ta nên rút ra trong đời [...].
Gán ý nghĩa sâu sắc hơn cho những việc bạn làm
Câu này có một cách biểu đạt khác là, hãy chọn những gì tạo động lực cho
bạn. Thử nhìn lại những giá trị bạn đang theo đuổi, xem động lực phía sau chúng là gì. Nó hời hợt và bề mặt, hay nó sâu sắc hơn và đến từ bên trong?
Một ví dụ phổ biến là tiền bạc. Nếu bạn làm mọi thứ chỉ vì tiền, bạn sẽ có cảm
xúc bất ổn và những hành vi hời hợt không đáng có. Nhưng nếu động lực kiếm
tiền của bạn là để mang lại cuộc sống tốt hơn cho gia đình, thì mọi việc sẽ khác.
Nó sẽ dẫn lối giúp bạn vượt qua căng thẳng, nỗi sợ và những điều phức tạp khác mà một động lực hời hợt không thể làm được. Sự công nhận của người khác cũng là ví dụ tương tự. Nếu bạn làm mọi việc chỉ để được ai khác chấp thuận, thì sớm hay muộn bạn cũng sẽ đánh mất chính mình. Nhưng trong trường hợp bạn là họa sĩ, bạn sẽ muốn các tác phẩm của mình truyền cảm hứng cho mọi người. Động lực của bạn vẫn đến từ người khác, nhưng nó sâu sắc hơn và giúp bạn vượt qua khó khăn để kiên trì với sự nghiệp của mình.
Vậy làm sao để tìm thấy những mục đích sâu sắc trong cuộc sống? Câu trả lời là tập trung vào sự phát triển và đóng góp của bạn. Bạn phát triển khi tìm được cách cải thiện bản thân, và đóng góp khi tìm được cách giúp người khác phát triển. Cố gắng tích hợp hai điều này trong động lực của ban.... Thử tìm cách tích
trúng cả 2 đích”
Đừng ngại thất bại và cảm giác xấu hổ
Khi bạn sống và hành động đúng với giá trị bản thân, bạn sẽ không tránh khỏi
xung đột với những người có hệ giá trị khác bạn. Họ sẽ không thích bạn, thậm chí bình phẩm khó nghe. Và bạn gần như không thể tránh khỏi họ trong bất cứ điều gì bạn làm […]. Trong mọi hoàn cảnh, thất bại là cần thiết để tiến bộ. Và mọi sự tiến bộ dù là của bản thân, của người khác hay của những giá trị bạn theo đuổi – đều thúc đẩy hạnh phúc. Không có thất bại, bạn sẽ không thể học hỏi và tiến bộ, nên cũng không thể tìm thấy hạnh phúc.”
Vì vậy, bạn nên học cách “đắm mình trong nỗi đau. Bởi bạn sẽ bị đời vùi dập
nhiều lần, và bạn không thể tránh khỏi nó. Quan trọng là bạn biết cách đứng lên
sau mỗi lần vấp ngã.
(https://www.taodan.com.vn)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Vì sao?
Câu 2: Có thể đảo trật tự các luận điểm ở văn bản Chi phí chìm của hạnh phúc không? Vì sao?
Câu 3: Câu: “Sự hoàn hảo là một lý tưởng mà bạn chỉ có thể tiếp cận chứ không bao giờ đạt tới. Dù ý niệm của bạn về “hoàn hảo” có là gì đi chăng nữa, nó cũng không bao giờ tồn tại trên thực tế” thuộc yếu tố nào của văn bản? Nhằm mục đích gì?
Câu 4: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: “Không có thất bại, bạn sẽ không thể học hỏi và tiến bộ, nên cũng không thể tìm thấy hạnh phúc”? Vì sao?
Câu 5: Trong các yếu tố để đạt được hạnh phúc như tác giả đã đưa ra, em tâm đắc nhất với yếu tố nào? Em rút ra kinh nghiệm nào cho bản thân để có một tâm hồn luôn cảm thấy hạnh phúc?
II. Viết (4đ)
Câu 1: Quan sát hình ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b
a. Hãy đặt tên cho từng bức ảnh
b. Có thể dùng hình ảnh nào để minh họa cho một nội dung/ nhận định trong văn bản ở phần đọc hiểu trên?


Câu 2: Em hãy lựa chọn một số từ ngữ sau cùng với những điều mà em đọc trong văn bản “Chi phí chìm của hạnh phúc”, kết nối ý tưởng để tạo thành một vấn đề nghị luận mà em cảm thấy quan tâm nhất. Viết bài luận về vấn đề đó trong 1,5-2 trang giấy thi

-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại dấu hiệu nhận biết các kiểu văn bản
Lời giải chi tiết:
Văn bản nghị luận:
+ Vì bàn về một vấn đề cụ thể
+ Vì dùng ý kiến, lí lẽ và dẫn chứng thuyết phục người đọc
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Có thể đảo trật tự các luận điểm ở văn bản Chi phí chìm của hạnh phúc không? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đưa ra quan điểm của bản thân và lý giải hợp lý
Lời giải chi tiết:
Có thể đảo trật tự vì các luận điểm đó không tuân theo logic nhất định
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Câu: “Sự hoàn hảo là một lý tưởng mà bạn chỉ có thể tiếp cận chứ không bao giờ đạt tới. Dù ý niệm của bạn về “hoàn hảo” có là gì đi chăng nữa, nó cũng không bao giờ tồn tại trên thực tế” thuộc yếu tố nào của văn bản? Nhằm mục đích gì? |
Phương pháp giải:
Nhớ lại các yếu tố của một văn bản nghị luận
Lời giải chi tiết:
Là lí lẽ, làm sáng tỏ luận điểm “chấp nhận những điều không hoàn hảo về mình”
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: “Không có thất bại, bạn sẽ không thể học hỏi và tiến bộ, nên cũng không thể tìm thấy hạnh phúc”? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Dựa vào phần phân tích ở trên
Đưa ra quan điểm cá nhân
Lời giải chi tiết:
Học sinh có thể đồng tình, không đồng tình hoặc nửa đồng tình, nữa không đồng tình miễn sao đưa ra lí do giải thích hợp lý, thuyết phục
- Có thể tham khảo gợi ý sau đây: Đồng tình với ý kiến của tác giả “Không có thất bại, bạn sẽ không thể học hỏi và tiến bộ, nên cũng không thể tìm thấy hạnh phúc”
+ Trong cuộc sống, bên cạnh những thành công đã đạt được, con người có thể gặp những thất bại
+ Thất bại không có nghĩa là mất tất cả; qua mỗi thất bại con người sẽ học được nhiều bài học để tiến bộ hơn mỗi ngày. Đó cũng là cách để con người tìm thấy hạnh phúc
+ Có thể nêu ra các dẫn chứng để làm thuyết phục hơn ý kiến của bản thân
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Trong các yếu tố để đạt được hạnh phúc như tác giả đã đưa ra, em tâm đắc nhất với yếu tố nào? Em rút ra kinh nghiệm nào cho bản thân để có một tâm hồn luôn cảm thấy hạnh phúc? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đưa ra quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
HS có thể chọn 1 trong 3 yếu tố sau mà tác giả đã đưa ra trong bài khiến mình tâm đắc nhất:
1. Chấp nhận những điều chưa hoàn hảo của mình
2. Gán ý nghĩa sâu sắc hơn cho những việc bạn làm
3. Đừng ngại thất bại và cảm giác xấu hổ
Sau khi lựa chọn xong, cần đưa ra lý do giải thích vì sao yếu tố đó lại khiến mình tâm đắc nhất và rút ra những kinh nghiệm cho bản thân. Để việc giải thích được thuyết phục, cần lưu ý
1. Dùng lý lẽ, lập luận và dẫn chứng
2. Nói rõ sự tác động sâu sắc tới nhận thức và cảm xúc của bản thân
II. VIẾT (4đ)
Câu 1 (1 điểm)
|
a. Hãy đặt tên cho từng bức ảnh b. Có thể dùng hình ảnh nào để minh họa cho một nội dung/ nhận định trong văn bản ở phần đọc hiểu trên? |
Phương pháp giải:
a. HS quan sát kĩ 2 bức ảnh, rút ra nội dung chính và đặt tên
b. HS dựa vào quan điểm cá nhân
Lời giải chi tiết:
a. HS tự đặt tên (cần sát với đặc điểm, biểu hiện và hình ảnh)
b. HS lựa chọn theo quan điểm cá nhân (cần có phân tích, suy luận hợp lí)
Gợi ý: bức ảnh số 2 phù hợp minh họa cho luận điểm: biết đứng lên sau thất bại để vươn tới thành công
Câu 2 (3 điểm)
|
Em hãy lựa chọn một số từ ngữ sau cùng với những điều mà em đọc trong văn bản “Chi phí chìm của hạnh phúc”, kết nối ý tưởng để tạo thành một vấn đề nghị luận mà em cảm thấy quan tâm nhất. Viết bài luận về vấn đề đó trong 1,5-2 trang giấy thi |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Em hãy lựa chọn một số từ ngữ sau cùng với những điều mà em đọc trong văn bản “Chi phí chìm của hạnh phúc”, kết nối ý tưởng để tạo thành một vấn đề nghị luận mà em cảm thấy quan tâm nhất. Viết bài luận về vấn đề đó trong 1,5-2 trang giấy thi |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Nêu luận đề - Nêu thái độ, quan điểm cá nhân (khái quát) trước luận đề |
|
Thân bài |
2,0 |
- Bàn luận về vấn đề, gồm các ý chính (từ 2-4 luận điểm) +Luận điểm 1: lập luận, lí lẽ, dẫn chứng… +Luận điểm 2: lập luận, lí lẽ, dẫn chứng… +Luận điểm 3: lập luận, lí lẽ, dẫn chứng… |
|
Kết bài |
0,25 |
- Khẳng định ý kiến cá nhân - Rút ra nhận thức, hành động bản thân |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại nghị luận - Lí lẽ, lập luận phân tích logic thuyết phục dẫn chứng minh họa phù hợp |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 10 Kết nối tri thức - Đề số 15
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Hs đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi kế tiếp
KẾT NỐI ẢO
(Jeanne Segal)
Được thúc đẩy bởi tốc độ Internet gia tăng và sự phát triển nhanh chóng của mạng xã hội, nhiều người trong số chúng ta “online " mỗi ngày để “kết nối” với người khác, cập nhật thông tin và giải trí. Chúng ta không chỉ dành vài phút mà hơn hàng giờ đồng hồ mỗi ngày và từng ngày trước các loại màn hình cả lớn lẫn bé.
Công nghệ vốn kỳ diệu và cuộc sống chúng ta chắc chắn tiện nghi hơn nhờ có
nó. Các thiết bị di động như máy tính bảng, điện thoại thông minh và máy tính
xách tay có thể tạo ra các mối quan hệ ảo có tính ổn định với gia đình, người bạn yêu mến, đồng nghiệp và những người mới quen ở những nơi xa xôi của một thị trấn, các thành phố xa xăm và các đất nước xa thật xa. Đồng thời,
điều bình thường là gặp hai người ngồi cùng bàn, im lặng tag nhau lên bức ảnh được đăng tải trên mạng xã hội thay vì trò chuyện “thực” và tận hưởng khoảnh khắc chỉ của hai người bạn với nhau. Và khi bạn nhìn thấy tình cảnh như thế, khó để không băn khoăn rằng liệu có phải tất cả những kết nối ảo thế này đang bị lạm dụng hay không.
Bằng cách kết nối quá sâu sắc nhưng ảo hàng giờ đồng hồ mỗi ngày, phải chăng chúng ta đang quên mất cách để kết nối với nhau ngoài đời thật? Có phải máy tính bảng và điện thoại khiến cuộc sống của chúng ta tốt đẹp hơn hay chúng vắt kiệt sức lực của ta và làm ta thêm căng thẳng? Liệu truyền thông xã hội thay thế sự giao tiếp không lời, cảm tính mà ta cần để tạo nên những kết nối có ý nghĩa với nhau? Có phải những kết nối ảo đang ảnh hưởng tới khả năng giao tiếp giữa
người với người theo những cách cho phép chúng ta cảm thấy được yêu và khiến người khác cảm thấy được yêu? [...]
Khi online, những đặc tính mang đậm bản sắc cá nhân do năm giác quan tạo nên bị mất đi, đồng thời cũng mất đi những cơ hội quan trọng cho giao tiếp không lời. Ở trạng thái offline trong đời thực, mắt, tai, da, mũi và lưỡi bạn có thể kết hợp theo cách đáng kinh ngạc. Một nhóm giác quan tạo điều kiện cho các mối quan hệ cực kỳ giàu cảm xúc và ý nghĩa.
Chúng ta cần những kinh nghiệm ngoài đời thực, san sẻ để gắn kết với giá trị của tình bạn. Chúng ta có thể nghe thấy sự thay đổi trong giọng nói của ai đó
vẫn trân trọng và quan tâm trò chuyện với ta. Chúng ta cần nhìn thấy cảm tình
- ánh mắt và trên gương mặt của họ. Chúng ta cần cảm nhận cánh tay bạn bè đặt lên vai hay choàng qua ta khi ta thấy lạnh lẽo và buồn chán. Chúng ta cần thấy được bạn bè ta cùng khóc cùng cười với ta. Những trải nghiệm không lời, thu hút ấy khiến ta thấy bản thân có giá trị. Và những điều này không thể xảy ra khi online.
Chúng ta có thể gặp gỡ và trò chuyện online, nhưng thật nguy hiểm khi đưa ra các quyết định quan trọng về các mối quan hệ của chúng ta trong một thế giới áo. Chúng ta cần phát hiện cảm giác ở bên nhau thế nào trong sự đa dạng của các thiết lập định sẵn. Chúng ta cũng cần nắm bắt được những ám hiệu nói cho ta biết bạn chúng ta cảm thấy sao khi ở bên ta lúc ta không có tâm trạng tốt nhất, hay khi họ không ở trạng thái ổn nhất. Quá trình thấu hiểu nhau mà bạn muốn thực hiện tốn kha khá thời gian đấy và những loại trải nghiệm này không hề sẵn có khi online. Những mối quan hệ khiến ta cảm thấy được yêu có thể bắt đầu trước một cái màn hình nhưng chỉ duy trì bền vững khi offline mà thôi.
(Jeanne Segal (2018). Cảm giác được yêu. NXB Hà Nội, tr. 109-130)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Vì sao?
Câu 2: Câu: “Chúng ta cần nhìn thấy cảm tình trong ánh mắt và trên gương mặt của họ. Chúng ta cần cảm nhận cánh tay bạn bè đặt lên vai hay choàng qua ta khi ta thấy lạnh lẽo và buồn chán” thuộc yếu tố nào của văn bản? Nhằm mục đích gì?
Câu 3: Vì sao tác giả cho rằng “Chúng ta có thể gặp gỡ và trò chuyện online, nhưng thật nguy hiểm khi đưa ra các quyết định quan trọng về các mối quan hệ của chúng ta trong một thế giới ảo”?
Câu 4: Phân tích cách viết và mục đích của đoạn văn bản sau. Từ đó nhận xét vai trò của đoạn đối với luận điểm
Chúng ta cần nhìn thấy cảm tình trong ánh mắt và trên gương mặt của họ. Chúng ta cần cảm nhận cánh tay bạn bè đặt lên vai hay choàng qua ta khi ta thấy lạnh lẽo và buồn chán. Chúng ta cần thấy được bạn bè ta cùng khóc cùng cười với ta
Câu 5: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: “các kết nối ảo” khiến “chúng ta đang quên mất cách kết nối với nhau ngoài đời thật” không? Vì sao?
II. Viết (4đ)
Câu 1: Quan sát hình ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b
a. Hãy đặt tên cho từng bức ảnh
b. Có thể dùng hình ảnh nào để minh họa cho một nội dung/ nhận định trong văn bản ở phần đọc hiểu trên? Vì sao?


Câu 2: Viết bài luận trả lời câu hỏi: Làm thế nào để ta có thể kết nối tích cực với mọi người trong giao tiếp?
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý các dấu hiệu về hình thức
Nhớ lại dấu hiệu nhận biết các kiểu văn bản
Lời giải chi tiết:
Văn bản nghị luận xã hội vì người viết dùng lí lẽ, dẫn chứng, lập luận nhằm xác lập cho người đọc, người nghe quan điểm của người viết về kết nối ảo
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Câu: “Chúng ta cần nhìn thấy cảm tình trong ánh mắt và trên gương mặt của họ. Chúng ta cần cảm nhận cánh tay bạn bè đặt lên vai hay choàng qua ta khi ta thấy lạnh lẽo và buồn chán” thuộc yếu tố nào của văn bản? Nhằm mục đích gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu văn
Nhớ lại các yếu tố của văn bản nghị luận
Lời giải chi tiết:
Là lí lẽ, nhằm làm sáng tỏ luận điểm “Chúng ta cần những kinh nghiệm ngoài đời thực, san sẻ để gắn kết với giá trị của tình bạn”
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Vì sao tác giả cho rằng “Chúng ta có thể gặp gỡ và trò chuyện online, nhưng thật nguy hiểm khi đưa ra các quyết định quan trọng về các mối quan hệ của chúng ta trong một thế giới ảo”? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Vì kết nối “online” không cho ta trải nghiệm những giao tiếp không lời
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Phân tích cách viết và mục đích của đoạn văn bản sau. Từ đó nhận xét vai trò của đoạn đối với luận điểm Chúng ta cần nhìn thấy cảm tình trong ánh mắt và trên gương mặt của họ. Chúng ta cần cảm nhận cánh tay bạn bè đặt lên vai hay choàng qua ta khi ta thấy lạnh lẽo và buồn chán. Chúng ta cần thấy được bạn bè ta cùng khóc cùng cười với ta |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Chú ý các biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng
Rút ra vai trò của đoạn đối với luận điểm
Lời giải chi tiết:
- Cách viết: dùng điệp ngữ (Chúng ta cần…)
- Mục đích: làm rõ các yếu tố làm cho các mối quan hệ cực kì giàu cảm xúc và ý nghĩa
- Vai trò của đoạn đối với luận điểm: làm rõ điều con người cần (điều chỉ có khi giao tiếp trực tiếp)… những điều khi online, những đặc tính mang đậm bản sắc cá nhân do năm giác quan tạo nên bị mất đi, đồng thời cũng mất đi những cơ hội quan trọng cho giao tiếp không lời
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: “các kết nối ảo” khiến “chúng ta đang quên mất cách kết nối với nhau ngoài đời thật” không? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Đưa ra quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
Vấn đề mà tác giả đặt ra trong đoạn ngữ liệu: Chúng ta cần những kinh nghiệm ngoài đời thực, san sẻ để gắn kết với giá trị của tình bạn
- HS có thể đưa ra quan điểm đồng tình, không đồng tình hoặc nửa đồng tình nửa không đồng tình miễn sao đưa ra lí do giải thích hợp lí, thuyết phục
- Để đưa ra lí do thuyết phục, HS cần biết cách trả lời từ nhận thức của bản thân, biết dùng những lí lẽ, lập luận, dẫn chứng. Có thể tham khảo các ý sau:
+Những kinh nghiệm ngoài đời thực cho ta những trải nghiệm thực tế về cảm xúc và tự thấu hiểu. Đó là yếu tố cơ bản để kiến tạo giá trị của tình bạn
+ Trong những hoàn cảnh khó khăn, những kết nối ngoài đời thực có thể tạo nên sức mạnh gắn kết mạnh mẽ, chữa lành những nỗi đau,…
- Có thể nêu ra các dẫn chứng để làm thuyết phục hơn ý kiến của bản thân
II. VIẾT (4đ)
Câu 1 (1 điểm)
|
a. Hãy đặt tên cho từng bức ảnh b. Có thể dùng hình ảnh nào để minh họa cho một nội dung/ nhận định trong văn bản ở phần đọc hiểu trên? |
Phương pháp giải:
a. HS quan sát kĩ 2 bức ảnh, rút ra nội dung chính và đặt tên
b. HS dựa vào quan điểm cá nhân
Lời giải chi tiết:
a. HS tự đặt tên (cần sát với đặc điểm, biểu hiện và hình ảnh)
b. HS lựa chọn theo quan điểm cá nhân và cần có phân tích, suy luận hợp lí
Gợi ý: bức ảnh số 1 phù hợp minh họa cho nhận định: Và khi bạn nhìn thấy tình cảnh như thế, khó để không băn khoăn rằng liệu có phải tất cả những kết nối ảo thế này đang bị lạm dụng hay không
Câu 2 (3 điểm)
|
Câu 2: Viết bài luận trả lời câu hỏi: Làm thế nào để ta có thể kết nối tích cực với mọi người trong giao tiếp? |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài luận trả lời câu hỏi: Làm thế nào để ta có thể kết nối tích cực với mọi người trong giao tiếp? |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Nêu luận đề: Vấn đề được kết nối bởi các từ ngữ đã nêu ở đề bài và xoay quanh từ khóa “Hạnh phúc” - Nêu tầm quan trọng của luận đề đối với cá nhân và xã hội |
|
Thân bài |
2,0 |
- Bàn luận về vấn đề, gồm các ý chính (từ 2-4 luận điểm) +Luận điểm 1: Cách hiểu, góc nhìn của cá nhân về vấn đề +Luận điểm 2: Cách hiểu, góc nhìn của cá nhân về vấn đề +Luận điểm 3: Tác động của vấn đề đến nhận thức, hành động (cá nhân, số đông) |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức và hành động cá nhân từ khi nhận thức rõ luận đề - Lời khuyên với mọi người (tế nhị, chân thành) |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại nghị luận - Lí lẽ, lập luận phân tích logic thuyết phục dẫn chứng minh họa phù hợp |
trithuchub.com
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP10
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
