Đề thi thử vào 10 môn Văn Hà Nội
Đề tham khảo thi vào 10 môn Văn Hà Nội năm 2025 - Đề số 1
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
GỌI CHO MẸ
(Tanya Alelasjitsuke)
|
Gọi cho mẹ, tuần một lần cũng được Gọi chơi thôi, hỏi thăm mẹ thế nào… Ở nhà mẹ, ngoài cửa, đông giá buốt Cửa nhà con, đang nhộn nhịp, xuân trào…
Về thăm nhé, mẹ luôn luôn mừng đón Mẹ biết con đang bận rộn bao điều… Mẹ biết lắm, nên chỉ cần chút ít Mẹ muốn con biết mẹ ngóng con nhiều…
Nếu con về, mẹ pha trà, nướng bánh, Mẹ nhớ con thuở bé thích ăn chi… |
Hiểu giùm mẹ, giờ mẹ hay tủi phận Lỡ con mình đã quên hẳn mình đi…
Về thăm nhé, mẹ không cần quà cáp, Mọi thứ đủ dùng… Mẫu tử tình sâu… Mẹ còn sống thì con còn được bé, Thấu điều này, phải tới những ngày sau…
Gọi cho mẹ, khi thu còn chưa hết, Những ngày đời, con ạ, rất mau qua… Mai từ sớm, lỡ đâu con muốn gọi, Tuyết ngập trời… mà chả thấy ai thưa |
(Hồng Thanh Quang dịch từ tiếng Nga – giaoducthoidai.vn)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể thơ của tác phẩm và luật bằng trắc của khổ thơ đầu.
Câu 2 (0.5 điểm): Xác định nhân vật trữ tình và cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
Câu 3 (1.0 điểm): Phân tích nét đặc sắc nghệ thuật trong 2 dòng thơ: “Ở nhà mẹ, ngoài cửa, đông giá buốt/ Cửa nhà con, đang nhộn nhịp, xuân trào...” và cho biết vì sao người mẹ nói: “Hiểu giùm mẹ, giờ mẹ hay tủi phận/ Lỡ con mình đã quên hẳn mình đi...”?
Câu 4 (1.0 điểm): Phân tích một số từ ngữ, biện pháp tu từ làm nổi bật hình ảnh người mẹ (cảnh ngỏ, cảm xúc, tâm trạng, mong muốn) trong bài thơ.
Câu 5 (1.0 điểm): Cảm nhận của em về người con trong bài thơ? Và cho biết cảm xúc của em trước hai dòng cuối bài: “Mai từ sớm, lỡ đâu con muốn gọi/Tuyết ngập trời... mà chả thấy ai thưa...”?
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn nghị luận (khoảng 150 chữ) phân tích giá trị của khổ thơ thứ 4 trong bài bài thơ Gọi cho mẹ. (ở phần đọc hiểu trên).
Câu 2 (4.0 điểm) Viết bài văn (400 - 500 chữ) thể hiện suy nghĩ của em về những điều được gợi ra ở khổ thơ cuối của bải thơ Gọi cho mẹ:
Gọi cho mẹ, khi thu còn chưa hết,
Những ngày đời, con ạ, rất mau qua...
Mai từ sớm, lỡ đâu con muốn gọi,
Tuyết ngập trởi... mà chả thấy ai thưa...
(Hồng Thanh Quang dịch từ tiếng Nga - giaoducthoidai.vn)
Đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Xác định thể thơ của tác phẩm và luật bằng trắc của khổ thơ đầu. |
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại (số tiếng, số câu, gieo vần, luật bằng trắc)
Yêu cầu luật bằng trắc của thơ 8 chữ: chữ thứ 8 có thanh trắc thì chữ thứ 3 trắc, chữ thứ 5 và 6 bằng; Chữ thứ 8 có thanh bằng thì chữ thứ 3 bằng, chữ thứ 5 và 6 trắc.
Lời giải chi tiết:
- Thể thơ: 8 chữ
- Về luật bằng trắc ở khổ thơ đầu:
Gọi cho mẹ, tuần một lần cũng được
Gọi chơi thôi, hỏi thăm mẹ thế nào…
Ở nhà mẹ, ngoài cửa, đông giá buốt
Cửa nhà con, đang nhộn nhịp, xuân trào…
=> Ba dòng thơ đầu khổ: chữ thứ 6 không tuân thủ luật bằng trắc của thể thơ 8 chữ (có thể coi đó là sáng tạo luật bằng trắc của nhà thơ)
=> Dòng thơ cuối khổ tuân thủ luật bằng trắc của thơ tám chữ
Câu 2.
|
Xác định nhân vật trữ tình và cảm hứng chủ đạo của bài thơ. |
Phương pháp:
Dựa vào đặc điểm nhân vật, nhân vật trữ tình trong thơ 8 chữ
Lời giải chi tiết:
- Nhân vật trữ tình: người mẹ nơi quê nhà
- Cảm hứng chủ đạo: thương cảm (người mẹ già nơi quê nhà đang ngóng chờ con)
Câu 3.
|
Phân tích nét đặc sắc nghệ thuật trong 2 dòng thơ: “Ở nhà mẹ, ngoài cửa, đông giá buốt/ Cửa nhà con, đang nhộn nhịp, xuân trào...” và cho biết vì sao người mẹ nói: “Hiểu giùm mẹ, giờ mẹ hay tủi phận/ Lỡ con mình đã quên hẳn mình đi...”? |
Phương pháp:
Đọc kĩ 2 dòng thơ, phân tích nét đặc sắc về nghệ thuật theo gợi ý:
- Thủ pháp nghệ thuật gì?
- Dấu câu có gì đặc biệt?
- Nội dung 2 dòng thơ bộc lộ cảm xúc gì?
Lời giải chi tiết:
- Sử dụng thủ pháp đối lập: xuân trào >< đông giá buốt => hình ảnh hàm xúc, giàu sức gợi để diễn tả hiện thực và cảm xúc của lòng người: buốt giá, xuân trào được hiểu cả nghĩa đen và nghĩa bóng, mùa đông lạnh lẽo, sự trống vắng của lòng người mẹ, ngôi nhà mẹ khi thiếu vắng bóng con; nhà con tưng bừng mùa xuân, đông vui, náo nhiệt.
- Dấu 3 chẩm lửng (...) gợi ra bao cảnh đông vui của mùa xuân nơi cửa nhà con chưa kể hết
- Hai dòng thơ không chỉ diễn tả nỗi khao khát cháy bỏng trong lòng mẹ mà còn gợi bao nỗi thương cảm về người mẹ già nhớ con nơi xa.
- Người mẹ nói: “Hiểu giùm mẹ, giờ mẹ hay tủi phận/ Lỡ con mình đã quên hẳn mình đi...” Vì mẹ biết mình đã già, luôn mong ngóng con, lo ngại sẽ làm phiền con... nhưng mẹ không thể nói vì lo lắng con quên mất mẹ...
Câu 4.
|
Phân tích một số từ ngữ, biện pháp tu từ làm nổi bật hình ảnh người mẹ (cảnh ngỏ, cảm xúc, tâm trạng, mong muốn) trong bài thơ. |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về các biện pháp tu từ, từ ngữ: điệp ngữ, điệp cấu trúc…
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ, từ ngữ:
+ Điệp ngữ, điệp cấu trúc câu: “Về thăm nhé, mẹ luôn luôn mừng đón/Về thăm nhé, mẹ không cần quà cáp; Gọi cho mẹ, tuần một lần cũng được/Gọi cho mẹ, khi thu còn chưa hết” đứng đầu các khổ thơ đã diễn tả nỗi mong ngóng cháy dạ, nỗi khát khao đến khắc khoải của người mẹ được con gọi điện, được con về thăm.
+ Từ ngữ: Một lần cũng được; Gọi chơi thôi, hỏi thăm; lỡ... ngày mau qua; chả thấy ai thưa => mang đến cho người đọc bao sự tưởng tượng, hình dung đau lòng: con quên mẹ, con chưa gọi chưa về... mà mẹ đã đi xa ...
- Người mẹ:
+ Cảnh ngộ: già nua nơi quê nhà đang mong ngóng con.
+ Tha thiết mong con gọi điện hoặc trở về thăm mẹ.
+ Người mẹ nhân hậu, thấu hiểu con, luôn sẵn sàng chăm sóc con mà không đòi hỏi gì.
+ Người mẹ lo lắng một ngày bị quên lãng và không nghe tiếng con gọi.
Câu 5.
|
Cảm nhận của em về người con trong bài thơ? Và cho biết cảm xúc của em trước hai dòng cuối bài: “Mai từ sớm, lỡ đâu con muốn gọi/Tuyết ngập trời... mà chả thấy ai thưa...”? |
Phương pháp:
Đọc kĩ bài thơ, chú ý các chi tiết về người con
Lời giải chi tiết:
- Về người con:
+ Đã lâu không gọi điện hỏi thăm, không về thăm mẹ.
+ Không hiểu nỗi lòng của mẹ, tưởng thời gian còn rất dài.
+ Để mẹ nhớ mong khắc khoải.
+ Đứa con còn non dại (Mẹ còn sống thì con còn được bé/Thấu điều này, phải tới những ngày sau...)
- Cảm xúc trước 2 câu thơ cuối: HS trả lời theo cảm xúc chân thành của cá nhân.
PHẦN II. LÀM VĂN (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn nghị luận (khoảng 150 chữ) phân tích giá trị của khổ thơ thứ 4 trong bài bài thơ Gọi cho mẹ. |
Phương pháp:
Dựa vào đặc điểm thơ 8 chữ
Phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật, cảm xúc mà khổ thơ thứ 4 muốn truyền tải theo các ý:
- Khát khao của người mẹ nhân hậu, giàu tình cảm và nỗi nhớ thương nhắn nhủ tới con mình: mẹ khao khát tình mẫu tử.
- Nhắn nhủ con quy luật ở đời: còn mẹ là con còn nhỏ dại và được yêu thương.
- Đặc điểm nghệ thuật: ngôn ngữ giản dị, sâu lắng; thấm đẫm triết lý; đối thoại mẹ con dịu dàng, trìu mến, tha thiết (về thăm nhé).
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo
Từ lâu, hình ảnh người mẹ đã là đề tài quen thuộc trong văn học nói chung và trong thơ ca nói riêng. Đã có rất nhiều tác phẩm viết về hình ảnh người mẹ thật sâu sắc, nhẹ nhàng, trầm ấm như Bà má Hậu Giang, Mẹ Tơm của Tố Hữu, hay là Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa của Nguyễn Du. Thế nhưng khi đến với bài thơ Tanya Alelasjitsuke của nhà văn Hồng Thanh Quang dịch lên, ta mới thêm thấm thía về hình bóng thân thương vẻ đẹp cao cả của người mẹ. Đó là bài thơ nói về tấm lòng người mẹ, biết bao trăn trở, suy tư, suy nghĩ của mẹ hướng về con khi mà con đã đi xa. Người mẹ chỉ ấp ủ, mong chờ một lần để con được về thăm, mẹ không cần gì những món quà to lớn, chỉ cần con được bình yên trở về. Đến khi nào mà mẹ còn sống trên cõi đời này thì những ngày ấy con vẫn là đứa con thơ bé của mẹ, mẹ chỉ ước mong con thấu hiểu những điều nhỏ bé nhưng ý nghĩa, thiêng liêng này. Đến khi con đã khôn lớn, trưởng thành, con vẫn phải luôn nhớ về mẹ. Người mẹ sẽ không thể đi tiếp cùng con đến hết cuộc đời, nhưng người mẹ là người dạy con cách vững vàng bước tiếp, có đọc mới thấm thía được những giá trị mà bài thơ mang đến cho ta. Mẹ đã vì con mà không ngại vất vả, khó nhọc, gian khổ, vậy nên bài thơ là lời nhắn nhủ đến mọi người rằng phải biết trân trọng mẹ khi còn có thể. Đồng thời cũng là lời phê phán và cảnh tỉnh cho những đứa con vô tâm, thờ ơ phải biết nhận thức được tình mẹ bao la, rộng lớn, thiêng liêng đến thế nào và bày tỏ tình yêu thương đối với đấng sinh thành - người mẹ.
Câu 2.
|
Viết bài văn (400 - 500 chữ) thể hiện suy nghĩ của em về những điều được gợi ra ở khổ thơ cuối của bải thơ Gọi cho mẹ: Gọi cho mẹ, khi thu còn chưa hết, Những ngày đời, con ạ, rất mau qua... Mai từ sớm, lỡ đâu con muốn gọi, Tuyết ngập trởi... mà chả thấy ai thưa... (Hồng Thanh Quang dịch từ tiếng Nga - giaoducthoidai.vn) |
Phương pháp:
Nêu vấn đề nghị luận/luận đề
Làm rõ nội dung trong khổ thơ
Bàn luận vấn đề trong thực tiễn
Nhận thức và hành động của cá nhân
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở bài
- Nêu vấn đề nghị luận/luận đề: Hãy gọi về thăm mẹ đi, thời gian trôi nhanh lắm/
- Nêm tầm quan trọng của vấn đề.
2. Thân bài
* Làm rõ nội dung trong khổ thơ:
- Thời gian trôi rất mau, hãy gọi về thăm mẹ đi.
- Lỡ mai có gọi cũng chỉ chả có ai thưa (chỉ còn tuyết lạnh).
-> Ý nghĩa của khổ thơ: Hãy quan đến mẹ, về thăm mẹ khi chưa muộn.
* Bàn luận vấn đề trong thực tiễn.
- Có người con thấu hiểu, luôn quan tâm đến mẹ.
- Có người chưa quan tâm đến mẹ.
=> Phân tích lý do, ý nghĩa của từng cách ứng xử với cha mẹ.
* Nhận thức và hành động của cá nhân.
- Trước đây.
- Trong hiện tại.
- Tương lai gần.
3. Kết bài
- Lời nhắn nhủ của cá nhân đến những người làm con
- Đề nghị những hành động cụ thể
Bài tham khảo
Khổ thơ cuối của bài thơ “Gọi cho mẹ” đã để lại trong lòng người đọc những cảm xúc sâu sắc về tình mẫu tử, sự trân trọng thời gian, và ý thức sống có trách nhiệm với gia đình. Qua lời thơ dung dị nhưng thấm thía, tác giả không chỉ gợi nhắc tình yêu thương dành cho mẹ mà còn gửi đến chúng ta một thông điệp về ý nghĩa của sự gắn bó trong những mối quan hệ thân thuộc.
Câu thơ mở đầu khơi gợi hình ảnh mùa thu – mùa của sự giao thoa, mang nét buồn man mác nhưng đầy ấm áp. Hình ảnh “thu còn chưa hết” không chỉ là ẩn dụ về thời gian, mà còn nhấn mạnh rằng cuộc đời mỗi người là hữu hạn. “Những ngày đời, con ạ, rất mau qua...” – lời nhắn nhủ giản dị nhưng chân thành của người mẹ tựa như một hồi chuông cảnh tỉnh: chúng ta không nên lãng phí thời gian quý báu để yêu thương, để chia sẻ.
Khổ thơ tiếp tục làm nổi bật nỗi lo lắng thầm kín của người mẹ: nếu ngày mai con muốn gọi, liệu mẹ có còn ở đó để nghe? Hình ảnh “tuyết ngập trời... mà chả thấy ai thưa” gợi lên một không gian lạnh lẽo, cô đơn, giống như sự vắng bóng của người thân yêu. Đây không chỉ là lời cảnh báo về sự vô thường của cuộc sống, mà còn là lời thúc giục mỗi người cần biết trân trọng những điều giản dị, gần gũi trong hiện tại.
Khổ thơ cuối, qua lời dịch đầy cảm xúc của Hồng Thanh Quang, đã chạm đến trái tim người đọc bằng sự chân thực và sâu sắc. Tình mẹ là thứ tình cảm vĩnh cửu và thiêng liêng, nhưng nhiều khi lại bị xem nhẹ trong vòng xoay hối hả của cuộc sống. Chúng ta có thể mải mê chạy theo thành công, danh vọng, nhưng đôi khi chỉ cần một cuộc gọi cho mẹ đã đủ làm ấm lòng người ở nhà.
Khép lại bài thơ, người đọc không khỏi tự vấn bản thân: liệu mình đã dành đủ thời gian để quan tâm đến mẹ chưa? Những lời nhắc nhở trong khổ thơ cuối không chỉ dành cho một ai, mà là dành cho tất cả. Đó là lời kêu gọi biết sống chậm lại, yêu thương nhiều hơn, và trân trọng từng khoảnh khắc bên gia đình.
Trong nhịp sống hiện đại, “Gọi cho mẹ” như một thông điệp giản đơn nhưng sâu sắc, nhắc nhở rằng chúng ta không nên đợi đến “tuyết ngập trời” mới nhận ra ý nghĩa của những điều bình dị trong cuộc sống. Hãy gọi cho mẹ, khi ta còn có thể.
Đề tham khảo thi vào 10 môn Văn Hà Nội năm 2025 - Đề số 2
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
BÀI THƠ QUÊ HƯƠNG
(Nguyễn Bính)
|
… Quê hương tôi có cây bầu cây nhị Tiếng “đàn kêu tích tịch tình tang…” Có cô Tấm nấu mình trong quả thị, Có người em may túi đúng ba gang.
Quê hương tôi có ca dao tục ngữ, Ông trăng tròn thường xuống mọi nhà chơi. Một đĩa muối cũng mặn tình chồng vợ, Một dây trầu cũng nhắc chuyện lứa đôi.
Con chim nhỏ cũng đau hồn nước mất “Cuốc cuốc” kêu rỏ máu những đêm vàng Chân ngựa đá cũng dính bùn trận mạc. Theo người đi cứu nước chống xâm lăng.
Quê hương tôi có bà Trưng, bà Triệu Cưỡi đầu voi, dấy nghĩa, trả thù chung. Ông Lê Lợi đã trường kỳ kháng chiến, Hưng Đạo vương đã mở hội Diên Hồng.
Quê hương tôi có bà múa xòe, hát đúm, Có hội xuân liên tiếp những đêm chèo. Có Nguyễn Trãi, có “Bình Ngô đại cáo”. Có Nguyễn Du và có một “Truyện Kiều”.
Quê hương tôi có Trường Sơn một dải, Có Hồng Hà lại có Cửu Long Giang Có Hà Nội có hồ Tây, hồ Kiếm. Chợ Đồng Xuân bày đủ mặt hàng. |
Quê hương tôi có sầu riêng, măng cụt Lòng bưởi đào, lòng gấc đỏ như son. Có gạo tám xoan thổi nồi đồng điếu, Cam xã Đoài ai bóc cũng thơm ngon.
Cánh đồng nào cũng chôn vàng giấu bạc, Bờ biển nào cũng chói ngọc ngời châu. Có thanh quế ngửi qua là khỏi bệnh, Có cây lim đóng cả một thân tàu.
Quê hương tôi có những người con gái “Một ngày hai bữa cơm đèn…” Cách sông cái cũng bắc cầu dải yếm, Cho chàng sang đính ước chuyện nhân duyên.
Trong bụng mẹ đã từng mê tiếng hát; Nên quê tôi ai cũng biết làm thơ. Những trẻ nhỏ nằm nôi hay đặt võng, Sớm hay chiều, đều mượn cánh cò đưa.
Khi có giặc những tre làng khắp nước, Đều xả thân làm ngọn mác, mũi chông, Những trai gái thôn Đông, xóm Bắc Thoắt vươn vai thành những anh hùng… |
(Hoàng Xuân, Nguyễn Bính – thơ và đời. NXB Văn học, 2003)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định đề tài, thể loại của văn bản Bài thơ quê hương của Nguyễn Bính.
Câu 2 (0.5 điểm): Nêu cảm hứng chủ đạo của bài thơ và cho biết cách thể hiện cảm hứng đó.
Câu 3 (1.0 điểm): Quê hương tôi được gợi tả như thế nào trong khổ thơ thứ 3,4? Phân tích một số hình ảnh, từ ngữ làm rõ hình ảnh quê hương tôi và cảm xúc của tác giả.
Câu 4 (1.0 điểm): Con người và quê hương tôi được hiện lên như thế nào? Nhận xét nghệ thuật thể hiện vẻ đẹp của con người, của quê hương?
Câu 5 (1.0 điểm): Bài thơ quê hương của Nguyễn Bính đã khơi gợi trong em những tình cảm nào dành cho quê hương, đất nước – nơi mình đã sinh ra và lớn lên?
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của em về Bài thơ quê hương của Nguyễn Bính.
Câu 2 (4.0 điểm)
Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng hòa những giá trị văn hóa bền vững tạo nên nét đặc sắc, độc đáo, riêng có về diện mạo, cốt cách, tâm hồn, lối sống… của một dân tộc, là “tấm thẻ căn cước” phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa nhân loại.
(tapchicongsan.org.vn)
Viết bài văn (khoảng 600 chữ) thể hiện quan điểm của em về ý kiến trên và đề xuất một số việc làm phù hợp với học sinh để góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc mình, tạo nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa nhân loại.
Đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Xác định đề tài, thể loại của văn bản Bài thơ quê hương của Nguyễn Bính. |
Phương pháp:
Đọc kĩ nội dung bài thơ, dựa vào đặc trưng thể loại thơ tám chữ
Lời giải chi tiết:
- Đề tài: Quê hương
- Thể loại: thơ 8 chữ
Câu 2.
|
Nêu cảm hứng chủ đạo của bài thơ và cho biết cách thể hiện cảm hứng đó. |
Phương pháp:
Đọc kĩ nội dung bài thơ, xác định các thủ pháp nghệ thuật thể hiện cảm hứng đó
Lời giải chi tiết:
- Cảm hứng chủ đạo của bài thơ: tự hào (về quê hương tôi)
- Cách thể hiện cảm hứng: qua điệp ngữ Quê hương tôi (đứng đầu các khổ thơ)
Câu 3.
|
Quê hương tôi được gợi tả như thế nào trong khổ thơ thứ 3,4? Phân tích một số hình ảnh, từ ngữ làm rõ hình ảnh quê hương tôi và cảm xúc của tác giả. |
Phương pháp:
Xác định điệp ngữ Quê hương tôi và phân tích đặc sắc nghệ thuật
Lời giải chi tiết:
- Quê hương tôi được gợi tả:
+ Quê hương tôi: đã từng trải qua những năm tháng đớn đau bởi mất nước.
+ Quê hương tôi dấn thân, kiên cường, bền bỉ trong hành trình cứu nước.
+ Quê hương tôi với bao anh hùng, ở bao thời đại đã làm rạng danh đất nước.
- Nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ: Con chim nhỏ cũng đau hồn nước mất; đêm vàng.
+ Từ ngữ: rỏ máu, trả thù chung.
+ Yếu tố, nhân vật lịch sử: bà Tưng, bà Triệu, Lê Lợi, Hưng Đạo vương, hội Diên Hồng.
=> Các nghệ thuật từ ngữ, yếu tố lịch sử đã tái hiện năm tháng đau thương mà anh dũng quật cường.
=> Thể hiện nỗi đau mất nước và niềm tự hào dân tộc (về những anh hùng, những sự kiện chói ngời trong sử sách)
Câu 4.
|
Con người và quê hương tôi được hiện lên như thế nào? Nhận xét nghệ thuật thể hiện vẻ đẹp của con người, của quê hương? |
Phương pháp:
Đọc kĩ nội dung bài thơ
Xác định các từ ngữ miêu tả hình ảnh con người và quê hương
Lời giải chi tiết:
- Con người:
+ Yêu say đắm những áng ca dao, tiếng đàn bầu (văn học truyền thống).
+ Sống nghĩa tình, thủy chung.
+ Yêu quê hương đất nước
- Vẻ đẹp quê hương:
+ Giàu truyền thống văn hóa với bản sắc riêng.
+ Địa lý phong phú, đa dạng, hùng vĩ
+ Sản vật phong phú gắn với từng vùng đất
=> Nhân hóa: Ông trăng tròn thường xuống mọi nhà chơi; Ẩn dụ: Cánh đồng nào cũng chôn vàng giấu bạc/ Bờ biển nào cũng chói ngọc ngời châu.
=> Vận dụng sáng tạo yếu tố văn hóa dân gian, những hình ảnh thơ giàu sức gợi, nghệ thuật ẩn dụ, nhân hóa để gợi tả, khắc họa không gian và con người của quê hương. Quê hương trù phú, tươi đẹp, con người bình dị, nghĩa tình, có đời sống tinh thần và truyền thống văn hóa riêng.
Câu 5.
|
Bài thơ Bài thơ quê hương của Nguyễn Bính đã khơi gợi trong em những tình cảm nào dành cho quê hương, đất nước – nơi mình đã sinh ra và lớn lên? |
Phương pháp:
Dựa theo nhận thức, cảm xúc của cá nhân
Lời giải chi tiết:
Gợi ý: Bài thơ gợi cho em tình yêu và lòng biết ơn quê hương
PHẦN II. LÀM VĂN (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của em về Bài thơ quê hương của Nguyễn Bính. |
Phương pháp:
Đoạn văn đủ dung lượng, hướng vào nội dung sau:
- Nội dung: Vẻ đẹp của con người, đất nước “tôi”; niềm tự hào về con người của quê hương.
- Nghệ thuật: Vận dụng sáng tạo yếu tố văn hóa dân gian, yếu tố lịch sử.
Lời giải chi tiết:
Nguyễn Bính, qua “Bài thơ quê hương,” đã khắc họa quê hương với vẻ đẹp giản dị và sâu lắng, mang đậm sắc thái văn hóa dân gian. Với hình ảnh thân thuộc như “cây bầu cây nhị,” “cô Tấm trong quả thị,” hay “người em may túi đúng ba gang,” ông tái hiện những câu chuyện cổ tích và ca dao đầy chất thơ. Qua đó, Nguyễn Bính thể hiện mạch nguồn dân tộc, nơi những bài học về sự khiêm nhường, lòng nhân hậu, và tinh thần chống cái ác được truyền qua các thế hệ. Bài thơ còn toát lên vẻ đẹp tình yêu và sự thủy chung qua những câu tục ngữ như “một đĩa muối cũng mặn tình chồng vợ.” Cùng với đó, hình ảnh những người con gái bắc cầu dải yếm hay những đứa trẻ lớn lên cùng tiếng hát ru thể hiện nét đẹp thanh bình của quê hương, hòa quyện giữa văn minh lúa nước và tâm hồn thơ mộng. Dẫu viết trong giai đoạn đổi thay sau vụ Nhân văn Giai phẩm, bài thơ vẫn giữ nguyên hồn Việt mộc mạc, phản ánh niềm tự hào và tình yêu quê hương bất tận trong tâm hồn Nguyễn Bính.
Câu 2.
|
Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng hòa những giá trị văn hóa bền vững tạo nên nét đặc sắc, độc đáo, riêng có về diện mạo, cốt cách, tâm hồn, lối sống… của một dân tộc, là “tấm thẻ căn cước” phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa nhân loại. (tapchicongsan.org.vn) Viết bài văn (khoảng 600 chữ) thể hiện quan điểm của em về ý kiến trên và đề xuất một số việc làm phù hợp với học sinh để góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc mình, tạo nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa nhân loại. |
Phương pháp:
Sử dụng các thao tác phân tích, chứng minh, bình luận
Dẫn chứng phong phú, phù hợp với lí lẽ, luận điểm
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở bài
- Nêu vấn đề nghị luận: giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc mình và tạo nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa nhân loại
- Tầm quan trọng của vấn đề
2. Thân bài
- Làm rõ cách hiểu về ý kiến:
+ Trích dẫn ý
+ Nội dung đoạn: Khẳng định vai trò của giá trị văn hóa dân tộc đối với văn hóa của nhân loại.
- Quan điểm/ ý kiến của cá nhân:
+ Đồng tình: làm rõ lí do/ chứng minh tính đúng đắn của ý kiến
+ Không đồng tình: phản biện để phủ nhận ý kiến (bằng lí lẽ, dẫn chứng cụ thể)
- Việc làm phù hợp với học sinh để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tạo nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa nhân loại.
3. Kết bài
- Khẳng định sức sống văn hóa dân tộc; vẻ đẹp của sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa nhân loại.
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho nền văn hóa nhân loại.
Bài tham khảo
Để có thể đưa đất nước Việt Nam giống như lời chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu” thì bên cạnh việc phát triển kinh tế, chúng ta cần phải biết giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
“Bản sắc văn hóa dân tộc” - một cụm từ nghe có vẻ trừu tượng nhưng thực ra nếu hiểu đơn giản thì đó chính là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần cốt lõi của một dân tộc. Văn hóa có thể hiện hữu bằng sản phẩm thuộc về vật chất như những món ăn của dân tộc, trang phục truyền thống, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử… Và cũng có thể vô hình qua những giá trị tinh thần: tiếng nói, truyền thống của dân tộc (yêu nước, hiếu học, thủy chung…), tác phẩm văn học, những nét đẹp trong phong tục tập quán… Quả thật, với hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam là một dân tộc đậm đà bản sắc văn hóa.
Bản sắc văn hóa có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Trước hết, bản sắc văn hóa chính là hồn cốt của dân tộc. Một dân tộc có giữ gìn được bản sắc văn hóa mới có thể giữ được đất nước. Vì thế mà suốt bốn nghìn năm Bắc thuộc, người phương Bắc luôn tìm cách đồng hóa nhân dân Đại Việt để biến nước ta thuộc quyền sở hữu của chúng. Cũng vì thế mà người Pháp đã gọi dân tộc ta là “An Nam mít” và chúng là “nước mẹ vĩ đại” sang khai thông văn hóa cho người dân của ta. Sau đó, văn hóa còn đem lại những lợi ích to lớn, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của đất nước. Những danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử chẳng phải là những địa điểm du lịch thu hút khách nước ngoài. Những món ăn đậm đà hương vị dân tộc nổi tiếng ở nước ngoài đã đem đến lòng tự hào, cùng lợi ích kinh tế to lớn… Cuối cùng, trong hàng trăm quốc gia trên thế giới, thì bản sắc văn hóa chính là cái riêng biệt, không thể trộn lẫn với bất kỳ nơi nào khác.
Với tầm quan trọng to lớn như vậy, cần phải có những biện pháp nào để giữ gìn bản sắc văn hóa. Có lẽ đầu tiên cần phải nói đến ý thức của mỗi cá nhân. Mỗi người dân, từ người già đến trẻ nhỏ, đều cần ý thức được vai trò to lớn của bản sắc văn hóa dân tộc. Từ đó, biết bảo vệ giữ gìn chúng không bị mai một đi theo thời gian. Ví dụ như, hiện nay có rất nhiều bạn trẻ theo đuổi những loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian như: ca trù, cải lương, chèo… Sau đó, cần phải có sự vào cuộc của chính quyền từ trung ương đến địa phương. Nhà nước cần đầu tư trùng tu lại những sản phẩm văn hóa thuộc về vật chất cũng như bảo vệ những sản phẩm văn hóa thuộc về tinh thần… Đôi khi, việc giữ gìn bản sắc văn hóa cũng đến từ những hành động vô cùng nhỏ bé: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, mặc áo dài trong những ngày lễ lớn của đất nước… Tuy hành động đó là nhỏ bé, nhưng lại vô cùng ý nghĩa.
Tóm lại, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là một việc làm quan trọng đối với mỗi quốc gia. Thế hệ trẻ hôm nay - những con người luôn dễ dàng tiếp thu với cái mới, hãy sống có ý thức bảo vệ những nét đẹp chân quý của đất nước.
Đề tham khảo thi vào 10 môn Văn Hà Nội năm 2025 - Đề số 3
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
TẠI SAO CẦN CÓ CẨM NANG TƯ DUY PHÂN TÍCH?
(Richard Paul – Linda Elder)
Phân tích và đánh giá được xem là những kỹ năng cốt yếu mà mọi sinh viên phải thông thạo. Và đó là những kỹ năng để lập luận tốt. Đây là hai kỹ năng cần có để học được các kiến thức quan trọng mà không tản mạn. Sinh viên thường được yêu cầu phân tích các bài thơ, các công thức toán học, các hệ thống sinh học, các chương trong sách giáo khoa, các khái niệm, ý niệm, các bài luận, tiểu thuyết và bài báo,… Song, liệu có bao nhiêu sinh viên có thể giải thích được một sự phân tích đòi hỏi điều gì? Có bao nhiêu bạn có được một quan niệm rõ ràng về tư duy phân tích? Ai trong số các bạn, những người đang học ở giảng đường đại học, có thể hoàn tất câu sau: “Bất kể kh́i nào tôi được yêu cầu phân tích cái gì đó, tôi sẽ sử dụng khung sau…”
Sự thật đau lòng là rất ít sinh viên được dạy cách phân tích. Vì thế, khi được yêu cầu phân tích điều gì đó mang tính khoa học, sử học, văn học hay toán học – chứ chưa nói đến những thứ thuộc về đạo đức học, chính trị học hay cá nhân – họ thiếu một khung sườn giúp học có sức mạng để làm việc đó. Họ lúng túng thực hiện nhiệm vụ của mình chỉ với cảm quan mơ hồ nhất về điều mà sự phân tích đòi hỏi. Họ không hiểu được một sự phân tích vững chắc có thể dẫn đến sự đánh giá vững chắc như thế nào. Dĩ nhiên, không chỉ có sinh viên là như thế. nhiều người trưởng thành cũng bối rối giống hệt như vậy về sự phân tích và đánh gái xét như những diễn trình trí tuệ.
Thế nhưng, bạn sẽ nghĩ gì về một thợ sửa xe ô tô khi họ nói rằng, “Tôi sẽ làm hết sức để sửa xe cho anh, nhưng nói thật là tôi chẳng hiểu gì về mấy bộ phận máy móc đâu”, hay bạn nghĩ gì về một nhà ngữ pháp nói rằng: “Xin lỗi nhé, lúc nào tôi cũng lẫn lộn chẳng tách bạch được các bộ phận của lời nói”. Rõ ràng, sinh viên không nên được yêu cầu thực hiện sự phân tích nếu họ không có một hình mẫu rõ ràng, và những nền tảng cần thiết, để làm điều đó. Tương tự, ta không nên yêu cầu sinh viên thực hiện sự đánh giá nếu họ không có tiêu chí nào để dựa vào đó đưa ra sự đánh giá của mình. Không nên lẫn lộn giữa phản ứng chủ quan với sự đánh giá khách quan.
Trong chừng mực, sinh viên nhập tâm các cấp độ tư duy sau đây:
Cấp độ 3: Tư duy ở mức cao nhất.
- Phản tư một cách rõ ràng – Kỹ năng ở cấp độ cao nhất
- Thường xuyên dùng các công cụ tư duy phản diện trong phân tích và đánh giá tư duy – Luôn công bằng.
Cấp độ 2: Tư duy ở cấp độ cao hơn
- Phản tư có chọn lọc – Cấp độ kỹ năng cao
- Thiếu từ vựng tư duy phản biện – Không phải lúc nào cũng công bằng, có thể rất giỏi ngụy biện.
Cấp độ 1: Tư duy ở cấp độ thấp
- Không phản tư – Cấp độ kỹ năng phối hợp ở mức thấp
- Thường xuyên dựa vào trực giác
- Phần lớn là vì lợi ích của mình/ tự lừa mình.
Họ sẽ đặt mình vào một vị trí tốt hơn để bắt đầu tư duy một cách lịch sử (trong các môn lịch sử), tư duy một cách toán học (trong các lớp toán), tư duy một cách khoa học (trong các lớp khoa học), và qua đó sẽ tư duy một cách có kỹ năng hơn (trong mọi môn học). Khi nhập tâm được mô hình này, sinh viên sẽ trở nên giỏi hơn vì họ sở đắc được một “hệ thống phân tích – hệ thống đẩy sức mạnh”.
Cẩm nang này đi đôi với cẩm nang tư duy phản biện. Nó phối hợp với mọi cẩm nang trong loạt sách cẩm nang tư duy phản biện. Nó minh họa tại sao tư duy được hiểu tốt nhất và được cải thiện nhiều.
(Richard Paul – Linda Elder, Cẩm nang tư duy phân tích, NXB Tổng hợp, TP. Hồ Chí Minh, 2015)
Câu 1 (1.0 điểm): Xác định luận đề, luận điểm của văn bản Tại sao cần có cẩm nang tư duy phân tích.
Câu 2 (1.0 điểm): Xác định câu chứa luận điểm. Nhận xét cách lập luận, và tác dụng của chúng ở luận điểm này.
Câu 3 (1.0 điểm): Nội dung của luận điểm 3 liên quan như thế nào với các luận điểm khác trong văn bản?
Câu 4 (1.0 điểm): Từ những vấn đề gợi ra ở văn bản trên, hãy nêu một vài ưu điểm và hạn chế của bản thân em trong việc vận dụng các độ tư duy của riêng mình.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) thể hiện suy nghĩ của em về vai trò của tư duy, tư duy phân tích trong tự học cách môn khoa học xã hội.
Câu 2 (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) phân tích truyện ngắn Anh Hai của tác giả Lý Thanh Thảo sau đây:
ANH HAI
(Lý Thanh Thảo)
- Ráng ăn thêm một cái, má thương. Ngoan đi cưng!
- Con nói là không ăn mà. Vứt đi! Vứt nó đi!
Thằng bé lắc đầu quấy quậy, gạt mạnh tay, chiếc bánh kem văng qua cửa xe rơi xuống đường, sát mép cống. Chiếc xe hơi láng bóng rồ máy chạy đi.
Hai đứa trẻ đang bới móc đống rác gần đó, thấy chiếc bánh nằm chỏng chơ, xô đến nhặt. Mắt hai đứa sáng rực lên, dán chặt vào chiếc bánh thơm ngon. Thấy bánh lấm láp, đứa con gái nuốt nước miếng bảo thằng con trai:
- Anh Hai thổi sạch rồi mình ăn.
Thằng anh phùng má thổi. Bụi đời đã dính, chẳng chịu đi cho. Đứa em suốt ruột cũng ghé miệng thổi tiếp. Chính cái miệng háu đói của nó làm bánh rơi tõm muống cái cống hôi hám, chìm hẳn.
- Ai biểu anh Hai thổi chi cho mạnh - Con bé nói rổi thút thít.
- Ừa. Tại anh! Nhưng kem còn dính tay nè. Cho em ba ngón, anh chỉ liếm hai ngón thôi!
(Lý Thanh Thảo, Truyện hay cực ngắn, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2003)
Đáp án
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Xác định luận đề, luận điểm của văn bản Tại sao cần có cẩm nang tư duy phân tích. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, xác định luận đề và luận điểm
Lời giải chi tiết:
- Luận đề: Cẩm nang tư duy phân tích
- Luận điểm 1: Vai trò của tư duy phân tích
- Luận điểm 2: Thực trạng tư duy phân tích ở sinh viên
- Luận điểm 3: Giải pháp vận dụng các cấp độ tư duy
Câu 2.
|
Xác định câu chứa luận điểm. Nhận xét cách lập luận, và tác dụng của chúng ở luận điểm này. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, dựa vào luận điểm đã xác định ở câu 1 và tìm câu chứa luận điểm
Lời giải chi tiết:
- Câu chứa luận điểm: “Phân tích và đánh giá được xem là những kỹ năng cốt yếu mà mọi sinh viên phải thông thạo”.
- Nhận xét: Đặt ra hàng loạt câu hỏi buộc độc giả phải tư duy và đối thoại cùng tác giả, cuốn họ vào luận đề/ vấn đề đang bàn luận.
Câu 3.
|
Nội dung của luận điểm 3 liên quan như thế nào với các luận điểm khác trong văn bản? |
Phương pháp:
Xác định luận điểm 3 và chỉ ra mối liên hệ giữa các luận điểm
Lời giải chi tiết:
- Nội dung luận điểm 3: đề xuất 3 cấp độ tư duy mà sinh viên, học sinh có thể vận dụng.
- Luận điểm 3 liên quan mật thiết với luận điểm 1,2 để giải quyết trọn vẹn vấn đề theo logic chặt chẽ: Nêu vấn đề – Thực trạng vấn đề – Cách giải quyết vấn đề.
Câu 4.
|
Từ những vấn đề gợi ra ở văn bản trên, hãy nêu một vài ưu điểm và hạn chế của bản thân em trong việc vận dụng các độ tư duy của riêng mình. |
Phương pháp:
Dựa vào văn bản trên, tự liên hệ bản thân
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
- Ưu điểm:
+ Có khả năng nghĩ ra nhiều ý tưởng mới mẻ, giúp bài viết và cách giải quyết vấn đề trở nên phong phú, độc đáo hơn
+ Khi gặp một vấn đề, em có thể suy nghĩ thấu đáo, chia nhỏ vấn đề để hiểu rõ từng phần trước khi đưa ra kết luận.
+ Biết cách áp dụng nhiều cách tư duy khác nhau, không bị rập khuôn mà có thể điều chỉnh phù hợp với từng tình huống.
- Nhược điểm:
+ Đôi khi thiếu sự logic, không tập trung vào trọng tâm chính của vấn đề.
+ Thiếu kiên nhẫn, muốn có kết quả nhanh nên đôi khi chưa đào sâu suy nghĩ.
+ Bị chi phối bởi cảm xúc, khó suy nghĩ khách quan, dẫn đến đánh giá chưa thật sự chính xác.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) thể hiện suy nghĩ của em về vai trò của tư duy, tư duy phân tích trong tự học cách môn khoa học xã hội. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, nêu suy nghĩ của em
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
Tư duy và tư duy phân tích đóng vai trò quan trọng trong quá trình tự học các môn khoa học xã hội: giúp bạn tiếp cận và hiểu biết sâu rộng về các khái niệm, lý thuyết và sự kiện trong các môn khoa học xã hội; giúp bạn phân loại, đánh giá và tách bạch thông tin quan trọng từ thông tin không quan trọng; giúp bạn xây dựng ý kiến cá nhân dựa trên sự phân tích và đánh giá cẩn thận về các vấn đề xã hội; giúp bạn phát triển kỹ năng nghiên cứu cần thiết để tìm hiểu sâu rộng về các chủ đề, thường thông qua việc đọc, thu thập dữ liệu và xử lý thông tin, khả năng nhìn nhận mọi vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau…
Câu 2.
|
Viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) phân tích truyện ngắn Anh Hai của tác giả Lý Thanh Thảo |
Phương pháp:
- Đọc kĩ nội dung truyện ngắn, dựa vào đặc trưng thể loại để phân tích
- Dàn ý:
+ Mở bài: giới thiệu tác phẩm và nêu ấn tượng nổi bật về tác phẩm
+ Thân bài: Tóm tắt văn bản và phân tích chi tiết nội dung, nghệ thuật
+ Kết bài: Nêu thông điệp của truyện và tác động của truyện tới nhận thức, cảm xúc cá nhân.
Lời giải chi tiết:
Dàn ý tham khảo:
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Ấn tượng nổi bật về tác phẩm
2. Thân bài
- Tóm tắt ngắn gọn văn bản
- Nêu chủ đề văn bản: tình anh em trong nghịch cảnh của đời sống.
- Phân tích chi tiết:
+ Đứa con nhà giàu: thằng bé lắc đầu quầy quậy, gạt mạnh tay, chiếc bánh kem văng qua cửa xe rơi xuống đường, sát mép cống.
+ Hai đứa trẻ đang bới móc đống rác gần đó, thấy chiếc bánh nằm chỏng chơ, xô đến nhặt. Mắt hai đứa sáng rực lên, dán chặt vòa chiếc bánh thơm ngon.
+ Hai anh em chai nhau liếm hai ngón thôi.
=> Mối quan hệ giữa anh và em được thể hiện rất tự nhiên và chân thật. Anh Hai thể hiện tình cảm lo lắng và quan tâm đặc biệt đối với em gái khi thấy em ăn kem và có vẻ không thoải mái.
=> Tính cách nhân vật: một người chăm sóc và quan tâm đến em gái. Trong khi đó, em gái có vẻ thích ứng và không ngần ngại khi đối mặt với khó khăn.
- Đặc sắc nghệ thuật:
+ Nghệ thuật tương phản
+ Truyện lồng trong truyện
+ Miêu tả sự hồn nhiên của người anh.
3. Kết bài
- Bức thông điệp của truyện
- Tác động của văn bản tới nhận thức, cảm xúc của cá nhân người viết.
Đề tham khảo thi vào 10 môn Văn Hà Nội năm 2025 - Đề số 4
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Trần Tuấn Khải)
Bài thơ Hai chữ nước nhà là lời của người cha (Nguyễn Phi Khanh) khuyên dặn người con (Nguyễn Trãi) phải biết sống quên mình vì nước nhà. Bài thơ gồm 25 khổ song thất lục bát và kết thúc bằng một dòng lục. Phần văn bản sau đây trích bảy khổ đầu của bài thơ.
|
Chốn Ải Bắc mây sầu ảm đạm Cõi trời Nam gió thảm đìu hiu Bốn bề hổ thét chim kêu Đoái nom phong cảnh như khêu bất bình
Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước Chút thân tàn lần bước dặm khơi Trông con tầm tã châu rơi Con ơi con nhớ lấy lời cha khuyên:
Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định Mấy ngàn nay suy thịnh đổi thay Trời Nam riêng một cõi này Anh hùng, hiệp nữ xưa nay kém gì!
Than vận nước gặp khi biến đổi Để quân Minh thừa hội xâm lăng Bốn phương khói lửa bừng bừng Xiết bao thảm hoạ xương rừng máu sông! |
Nơi đô thị thành tung quách vỡ Chốn dân gian bỏ vợ lìa con Làm cho xiêu tán hao mòn Lạ gì khác giống dễ còn thương đâu!
Thảm vong quốc kể sao cho xiết Trông cơ đồ nhường xé tâm can Ngậm ngùi khóc đất giời than Thương tâm nòi giống lầm than nỗi này!
Khói Nùng lĩnh như xây khối uất Sóng Long giang nhường vật cơn sầu Con ơi! càng nói càng đau… Lấy ai tế độ đàn sau đó mà? […]
|
(Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học, 1984)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể thơ của đoạn trích trên.
Câu 2 (0.5 điểm): Khổ đầu gợi tả cảnh tượng gì?
Câu 3 (1.0 điểm): Tình cảnh đất nước và nỗi lòng của người cha được gợi tả như thế nào? Hãy phân tích một số biện pháp nghệ thuật thể hiện điều đó.
Câu 4 (1.0 điểm): Người cha khuyên con điều gì? Hãy phân tích những câu thơ, từ ngữ đặc sắc thể hiện điều đó.
Câu 5 (1.0 điểm): Xác định chủ đề, cảm hứng, bức thông điệp của văn bản. Và cho biết thông điệp đó đã tác động tới cảm xúc, nhận thức của em như thế nào?
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích nét đặc sắc (cảm xúc, nghệ thuật) trong khổ thơ sau:
Thảm vong quốc kể sao cho xiết
Trông cơ đồ nhường xé tâm can
Ngậm ngùi khóc đất giời than
Thương tâm nòi giống lầm than nỗi này!
(Hai chữ nước nhà – Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học, 1984)
Câu 2 (4.0 điểm) Có ý kiến cho rằng: “Tự học có một vai trò hết sức quan trọng. Tự học giúp chúng ta tìm tòi được nhiều kiến thức hơn, hiểu sâu hơn, vững chắc hơn nhờ vào các kĩ năng như tự phân tích, tổng hợp tài liệu, đưa ra các phương án mới để giải quyết bài học một cách thông minh và có trình tự.”.
Em hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề tự học được nêu ở ý kiến trên.
Đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Xác định thể thơ của đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Thể thơ: song thất lục bát
Câu 2.
|
Khổ đầu gợi tả cảnh tượng gì? |
Phương pháp:
Đọc kĩ khổ thơ đầu
Lời giải chi tiết:
Khổ thơ đầu gợi ra cảnh tượng không gian đất nước u ám, buồn thảm với sắc màu xám xịt và âm thanh ghê rợn => Hiện thực tăm tối, bất an.
Câu 3.
|
Tình cảnh đất nước và nỗi lòng của người cha được gợi tả như thế nào? Hãy phân tích một số biện pháp nghệ thuật thể hiện điều đó. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích, chú ý các chi tiết thể hiện tình cảnh của đất nước và bộc lộ cảm xúc, nỗi lòng của người cha
Lời giải chi tiết:
- Tình cảnh đất nước: có giặc ngoại xâm
+ Nơi đô thị thành tung quách vỡ
Chốn dân gian bỏ vợ lìa con
+ Bốn phương khói lửa bừng bừng
Xiết bao thảm hoạ xương rừng máu sông!
=> Tác giả sử dụng một số từ ngữ thành tung quách vỡ, bỏ vợ lìa con gợi tả cảnh tượng cụ thể của đất nước có giặc ngoại xâm.
=> Cách cấu trúc từ ngữ thành tung quách vỡ và hiệp vần trắc (vỡ – vợ) ở 2 câu thất nhấn mạng, gây ám ảnh về sự tàn phá của chiến tranh, nỗi lầm than của người dân mất nước: bao thành quách từ ngàn đời bị phá huỷ, con người bơ vơ lưu lạc, gia đình vợ con sống trong cảnh ly tán; khắp đất nước chìm trong khói lửa và niềm căm uất.
- Nỗi lòng của người cha: người yêu nước, căm thù giặc.
+ Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước
Chút thân tàn lần bước dặm khơi
+ Thảm vong quốc kể sao cho xiết
Trông cơ đồ nhường xé tâm can
Ngậm ngùi khóc đất giời than
Thương tâm nòi giống lầm than nỗi này!
+ Khói Nùng lĩnh như xây khối uất
Sóng Long giang nhường vật cơn sầu
Con ơi! càng nói càng đau…
Lấy ai tế độ đàn sau đó mà?
=> Nghệ thuật ẩn dụ Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước; so sánh nhường xé tâm can diễn tả nỗi lòng của con người yêu nước, đang đau đớn tột cùng và đang bất lực khi nhìn cảnh đất nước bị tàn phá bởi quân xâm lược.
=> Dùng hàng loạt từ ngữ diễn tả cảm xúc, tâm trạng (ngậm ngùi, khối uất; vật cơn sầu, cho xiết, xé) và nghệ thuật nhân hoá (khóc đất giời than), so sánh (Khói Nùng lĩnh như xây khối uất/ Sóng Long giang nhường vật cơn sầu) diễn tả các trạng thái của tâm hồn không chỉ đau đớn đến vật vã mà còn uất hận bởi chưa thể giết giặc cứu nước.
Câu 4.
|
Người cha khuyên con điều gì? Hãy phân tích những câu thơ, từ ngữ đặc sắc thể hiện điều đó. |
Phương pháp:
Đọc kĩ nội dung đoạn thơ
Lời giải chi tiết:
- Khuyên con nhớ lời:
+ Đất nước ta nòi giống Lạc Hồng thời nào cũng có anh hùng, hiệp nữ.
+ Đất nước qua nhiều đổi thay suy thịnh nhưng vẫn giữ được đất nước (Trời Nam riêng một cõi này)
+ Đất nước hiện tại đang bị xâm lăng/ mất nước đau đớn vô cùng. Nỗi đau mất nước không kể xiết.
+ Người cha yêu nước, lo lắng cho vận mệnh đất nước (Con ơi! càng nói càng đau… Lấy ai tế độ đàn sau đó mà?)
=> Tác giả sử dụng yếu tố của truyền thuyết, lịch sử, câu cảm, câu hỏi tu từ vừa để khích lệ lòng yêu nước, truyền thống anh hùng, vừa để người con thấu cảnh đất nước lầm than mà nuôi ý chí cứu nước
Câu 5.
|
Xác định chủ đề, cảm hứng, bức thông điệp của văn bản. Và cho biết thông điệp đó đã tác động tới cảm xúc, nhận thức của em như thế nào? |
Phương pháp:
Từ nội dung, xác định chủ đề, cảm hứng chủ đạo và thông điệp phù hợp
Lời giải chi tiết:
- Chủ đề: diễn tả nỗi đau mất nước, căm thù giặc để ngợi cả lòng yêu nước.
- Cảm hứng: thương cảm, căm thù
- Bức thông điệp: Đất nước có giặc ngoại xâm, dân chúng lầm than sống trong ly tán; Căm thù quân cướp nước; Nuôi ý chí cứu nước…
- Tác động tới cảm xúc, nhận thức của em: xót xa, đau lòng khi nghĩ về cảnh quê hương bị xâm lược, người dân phải chịu cảnh ly tán, khổ cực => giúp em hiểu hơn về sự tàn khốc của chiến tranh và trân trọng giá trị của hòa bình hôm nay
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích nét đặc sắc (cảm xúc, nghệ thuật) trong khổ thơ sau: Thảm vong quốc kể sao cho xiết Trông cơ đồ nhường xé tâm can Ngậm ngùi khóc đất giời than Thương tâm nòi giống lầm than nỗi này! (Hai chữ nước nhà – Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học, 1984) |
Phương pháp:
Đoạn văn đủ dung lượng, đảm bảo các ý sau:
- Nội dung: nỗi đau đớn tột cùng trước thảm vong quốc
- Nghệ thuật: so sánh, nhân hoá, từ ngữ diễn tả tâm trạng…
Lời giải chi tiết:
Thảm vong quốc kể sao cho xiết
Trông cơ đồ nhường xé tâm can
Ngậm ngùi khóc đất giời than
Thương tâm nòi giống lầm than nỗi này!
Khổ thơ trên thể hiện nỗi đau đớn tột cùng của tác giả trước thảm cảnh mất nước, nhân dân lầm than. Mỗi câu thơ đều chất chứa nỗi xót xa, bi phẫn khi chứng kiến cảnh nước nhà rơi vào tay giặc. Hình ảnh “cơ đồ nhường xé tâm can” như một tiếng khóc xé lòng, diễn tả nỗi đau quặn thắt trước vận mệnh dân tộc. Nghệ thuật so sánh và nhân hóa được sử dụng tinh tế, làm tăng thêm tính bi thương của cảnh mất nước. Động từ “khóc”, “than”, “thương tâm” kết hợp với những hình ảnh giàu sức gợi khiến cảm xúc đau xót của tác giả trở nên mãnh liệt, chân thực. Toàn bộ khổ thơ vang lên như một lời ai oán, một tiếng thở dài đầy uất hận của một người yêu nước trước cảnh quốc phá gia vong, để lại trong lòng người đọc nỗi xúc động sâu sắc.
Câu 2.
|
Có ý kiến cho rằng: “Tự học có một vai trò hết sức quan trọng. Tự học giúp chúng ta tìm tòi được nhiều kiến thức hơn, hiểu sâu hơn, vững chắc hơn nhờ vào các kĩ năng như tự phân tích, tổng hợp tài liệu, đưa ra các phương án mới để giải quyết bài học một cách thông minh và có trình tự.”. Em hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề tự học được nêu ở ý kiến trên. |
Phương pháp:
1. Mở bài
- Nêu vấn đề: tự học và vai trò của tự học
- Giới thiệu ý kiến; tầm quan trọng của vấn đề
2. Thân bài
a. Giải thích ý kiến: Tự học là việc học tập, rèn luyện, tích luỹ kiến thức, kinh nghiệm của bản thân một cách chủ động, không thụ động phụ thuộc vào người khác.
b. Vai trò của tự học:
- Tự học giúp chúng ta chủ động tìm kiếm, tiếp cận với nguồn tri thức phong phú, đa dạng từ nhiều phương tiện khác nhau như sách vở, báo chí, intetnet,…
- Tự học giúp chúng ta nắm vững kiến thức một cách tường tận, sâu sắc, không chỉ dừng lại ở việc học thuộc lòng,…
- Tự học giúp chúng ta rèn luyện các kỹ năng như tự phân tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh,… từ đó giúp chúng ta giải quyết các vấn đề một cách thông minh và hiệu quả.
c. Bàn luận
- Ý kiến trên là hoàn toàn đúng đắn. Tự học là một phương pháp học tập hiệu quả, giúp chúng ta phát triển toàn diện về kiến thức, kĩ năng và nhân cách.
- Phản đề: một bộ phận học sinh không có ý thức và phương pháp tự học…
3. Kết bài
- Khẳng định lại vai trò của tự học
Lời giải chi tiết:
Trong thời đại tri thức bùng nổ như hiện nay, việc học không chỉ dừng lại trong phạm vi nhà trường mà còn là quá trình tự thân vận động của mỗi người. Có ý kiến cho rằng: “Tự học có một vai trò hết sức quan trọng. Tự học giúp chúng ta tìm tòi được nhiều kiến thức hơn, hiểu sâu hơn, vững chắc hơn nhờ vào các kỹ năng như tự phân tích, tổng hợp tài liệu, đưa ra các phương án mới để giải quyết bài học một cách thông minh và có trình tự.” Ý kiến này nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của tự học trong việc phát triển tri thức và rèn luyện tư duy độc lập, sáng tạo.
Tự học là quá trình học tập chủ động, tự giác của mỗi cá nhân nhằm tiếp thu kiến thức, rèn luyện kỹ năng mà không phụ thuộc hoàn toàn vào giáo viên hay sự hướng dẫn trực tiếp của người khác. Đây không chỉ là việc đọc sách, ghi chép mà còn bao gồm việc tư duy, đặt câu hỏi, tìm tòi, nghiên cứu và thực hành để nâng cao hiểu biết.
Tri thức của nhân loại ngày càng phong phú, đa dạng và không ngừng đổi mới. Tự học giúp mỗi người có thể tiếp cận được nguồn kiến thức từ nhiều phương tiện khác nhau như sách báo, internet, tài liệu khoa học... Không chỉ giới hạn trong phạm vi trường lớp, tự học giúp mở rộng kiến thức và hiểu biết sâu rộng hơn về nhiều lĩnh vực khác nhau.
Khi tự học, người học không chỉ tiếp nhận thông tin một cách thụ động mà còn chủ động suy ngẫm, phân tích và hệ thống hóa kiến thức. Nhờ đó, tri thức không chỉ dừng lại ở mức độ ghi nhớ mà còn được hiểu sâu, vận dụng linh hoạt vào thực tế.
Một trong những lợi ích lớn nhất của tự học là giúp rèn luyện khả năng phân tích, tổng hợp, đánh giá và so sánh thông tin. Người học có thể phát triển tư duy phản biện, sáng tạo, từ đó tìm ra cách giải quyết vấn đề một cách thông minh và khoa học. Điều này không chỉ giúp ích trong học tập mà còn có ý nghĩa lâu dài trong cuộc sống và công việc sau này.
Ý kiến trên là hoàn toàn đúng đắn bởi trong thực tế, rất nhiều tấm gương thành công nhờ tinh thần tự học. Bác Hồ – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam – đã tự học qua sách báo, tài liệu nước ngoài để tiếp thu tri thức, rèn luyện tư duy cách mạng. Những nhà khoa học vĩ đại như Albert Einstein, Thomas Edison cũng là những người có ý thức tự học rất cao, nhờ đó họ đã có những đóng góp to lớn cho nhân loại.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có ý thức tự học đúng đắn. Một bộ phận học sinh ngày nay vẫn còn ỷ lại vào thầy cô, học tập một cách thụ động, chỉ học để đối phó với kiểm tra mà không thực sự tìm hiểu sâu vấn đề. Điều này dẫn đến việc học không hiệu quả, dễ quên kiến thức và thiếu khả năng sáng tạo. Vì vậy, bên cạnh việc khẳng định vai trò của tự học, mỗi cá nhân cần tự rèn luyện phương pháp học tập khoa học, hiệu quả.
Tự học là một yếu tố quan trọng giúp con người phát triển toàn diện cả về tri thức, kỹ năng và tư duy. Những ai biết tự học sẽ luôn chủ động, sáng tạo và vững vàng trong cuộc sống. Vì vậy, mỗi người, đặc biệt là học sinh, cần rèn luyện tinh thần tự học để không ngừng phát triển bản thân và góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.
Đề tham khảo thi vào 10 môn Văn Hà Nội năm 2025 - Đề số 5
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
NỖI ĐAU THUỞ TRƯỚC
(Ba mươi năm đời ta có Đảng)
|
Thuở nô lệ, thân ta nước mất Cảnh cơ hàn, trời đất tối tăm Một đời đau suốt trăm năm Chim treo trên lửa, cá nằm dưới dao! Giặc cướp hết, non cao biển rộng Cướp cả tên nòi giống tổ tiên Lưỡi gươm cắt đất ngăn miền Non sông một khúc ruột liền chia ba Lũ bán nước lột da dân nước Tan mồ cha cũng rước voi giày Máu đà nhúng đỏ bàn tay Biết chi đau đớn cỏ cây đồng bào!
Ôi nhớ những năm nào thuở trước Xóm làng ta xơ xác héo hon Nửa đêm thuế thúc trống dồn Sân đình máu chảy, đường thôn lính đầy. Cha trốn ra Hòn Gay cuốc mỏ Anh chạy vào Đất Đỏ làm phu |
Bán thân đổi mấy đồng xu Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng! Con đói lả ôm lưng mẹ khóc Mẹ đợ con đấu thóc cầm hơi Kiếp người cơm vãi cơm rơi Biết đâu nẻo đất phương trời mà đi! […] Chín năm kháng chiến tháng thần Gậy tầm vông đánh tan quân bạo tàn! Một dân tộc hai bàn tay trắng Đồng tâm là chiến thắng thành công Dân ta gan dạ anh hùng: Trẻ làm đuốc sống, già xông lửa đồn Chân toạc máu, chân dồn đuổi giặc Tay chém thù, tay sắc như gươm! Củ khoai, củ sắn thay cơm Khoai bùi trong dạ, sắn thơm trong lòng Hớp ngụm nước suối trong đỡ khát Trồng trời cao mà mát tâm can! |
(Thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục, 2003)
(1) Nhan đề do nhóm biên soạn đặt
(2) Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành (1920 – 2002) quê gốc ở làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, là một nhà thơ tiêu biểu của thơ Cách mạng, đồng thời ông còn là một chính khách, một cán bộ Cách mạng lão thành
Câu 1 (1.0 điểm): Xác định thể thơ và nhân vật trữ tình của văn bản Nỗi đau thuở trước.
Câu 2 (1.0 điểm): Nỗi đau thuở trước đã tái hiện cảnh ngộ nào của đất nước?
Câu 3 (1.0 điểm): Đoạn thơ cuối có vai trò như thế nào đối với văn bản? Từ đó nhận xét mạch cảm xúc, chủ đề, bức thông điệp của văn bản Nỗi đau thuở trước.
Câu 4 (1.0 điểm): Đoạn trích Nỗi đau thuở trước gợi cho em suy nghĩ gì? Câu thơ/ hình ảnh nào trong đoạn trích để lại ấn tượng đậm nét tỏng em về điều đó?
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) để phân tích hiệu quả thẩm mỹ của phép đối/ tiểu đối được sử dụng ở một số câu thơ trong đoạn trích Nỗi đau thuở trước.
Câu 2 (4.0 điểm) Sau đây là 3 cách con người phản ứng trước thất bại, hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về cách phản ứng mà em cho là tích cực nhất.
|
Ba cách con người phản ứng trước thất bại (Adam Khoo, Làm chủ tư duy thay đổi vận mệnh, NXB Phụ nữ, 2010) |
|
|
Cách 1 |
Hành động – Thất bại – Đổ lỗi, bỏ cuộc |
|
Cách 2 |
Hành động – Thất bại – Cố gắng lần nữa |
|
Cách 3 |
Hành động – Thất bại – Bài học kinh nghiệm – Thay đổi chiến lược cho tới khi thành công |
Đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Xác định thể thơ và nhân vật trữ tình của văn bản Nỗi đau thuở trước. |
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Đọc kĩ đoạn trích và xác định chủ thể trữ tình
Lời giải chi tiết:
- Thể thơ: song thất lục bát
- Nhân vật trữ tình: người con yêu nước
Câu 2.
|
Nỗi đau thuở trước đã tái hiện cảnh ngộ nào của đất nước? |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, chú ý các từ ngữ, hình ảnh gợi lên cảnh ngộ của đất nước
Lời giải chi tiết:
Đoạn thơ tái hiện cảnh đất nước bị chia cắt, mạng sống người dân luôn bị đe doạ, giống nòi suy yếu.
Câu 3.
|
Đoạn thơ cuối có vai trò như thế nào đối với văn bản? Từ đó nhận xét mạch cảm xúc, chủ đề, bức thông điệp của văn bản Nỗi đau thuở trước. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn thơ, xác định vai trò của khổ cuối
Lời giải chi tiết:
- Đoạn cuối thể hiện rõ mạch cảm xúc của văn bản: nỗi căm giận quân xâm lược, đau đớn, xót thương cho cảnh đất nước lầm than là động lực là sức mạnh để làm nên cuộc kháng chiến (Gậy tầm vông đánh tan quân bạo tàn), để có được ngày tươi sáng (Trông trời cao mà mát tâm can).
- Mạch cảm xúc của văn bản: đi từ căm giận, đau xót (âm hưởng thơ trầm lắng) đến niềm vui của ngày kháng chiến thành công (âm hưởng thơ tươi sáng, sảng khoái).
- Chủ đề: qua việc tái hiện cảnh mất nước lầm than, tác giả thể hiện tình yêu nước sâu sắc, niềm tự hào về dân tộc anh dũng, quật cường.
- Bức thông điệp:
+ Đất nước bị xâm lăng, nô lệ, dân chúng phải sống cảnh lầm than
+ Con người, đất nước bị nô lệ, hãy đứng lên tự cứu mình, giải phóng đất nước
Câu 4.
|
Đoạn trích Nỗi đau thuở trước gợi cho em suy nghĩ gì? Câu thơ/ hình ảnh nào trong đoạn trích để lại ấn tượng đậm nét tỏng em về điều đó? |
Phương pháp:
Nêu suy nghĩ của em
Lời giải chi tiết:
- Đoạn trích gợi lên trong em nỗi xót xa trước những đau thương mà dân tộc ta đã trải qua dưới ách đô hộ, đồng thời khơi dậy niềm tự hào về tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam. Từ cảnh lầm than, đói khổ, bị giặc áp bức, nhân dân ta đã vùng lên, đoàn kết chiến đấu và giành lại độc lập bằng chính ý chí, lòng yêu nước và sự hy sinh to lớn.
- Câu thơ “Trẻ làm đuốc sống, già xông lửa đồn” gây ấn tượng mạnh mẽ nhất với em. Hình ảnh này vừa chân thực, vừa bi tráng, thể hiện tinh thần quật cường của toàn dân trong cuộc kháng chiến. Cả trẻ em lẫn người già đều sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, dùng chính thân mình để chiến đấu, như những ngọn đuốc thắp sáng con đường giành độc lập.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) để phân tích hiệu quả thẩm mỹ của phép đối/ tiểu đối được sử dụng ở một số câu thơ trong đoạn trích Nỗi đau thuở trước. |
Phương pháp:
- Xác định đúng những câu thơ sử dụng phép đối/ tiểu đối
- Phân tích hiệu quả thẩm mỹ của phép đối/ tiểu đối (ít nhất 2 câu tiêu biểu)
Lời giải chi tiết:
Trong đoạn trích Nỗi đau thuở trước, tác giả đã sử dụng phép đối và tiểu đối một cách tinh tế, góp phần làm nổi bật nội dung và gia tăng giá trị thẩm mỹ của bài thơ. Tiêu biểu là câu: “Chim treo trên lửa, cá nằm dưới dao!”. Hình ảnh đối lập giữa “chim – cá”, “trên – dưới”, “lửa – dao” đã khắc họa sinh động cảnh sống khổ đau, bị vây hãm của nhân dân Việt Nam thời nô lệ. Từ đó, câu thơ không chỉ gợi lên nỗi thống khổ tận cùng mà còn khiến người đọc cảm nhận sâu sắc sự tàn bạo của kẻ thù. Bên cạnh đó, câu “Trẻ làm đuốc sống, già xông lửa đồn” cũng sử dụng phép đối giữa “trẻ – già”, “đuốc sống – lửa đồn”, qua đó nhấn mạnh tinh thần quật cường của nhân dân trong kháng chiến. Nhờ những phép đối ấy, nhịp thơ trở nên dồn dập, mạnh mẽ, góp phần tô đậm tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh bất khuất của dân tộc.
Câu 2.
|
Sau đây là 3 cách con người phản ứng trước thất bại, hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về cách phản ứng mà em cho là tích cực nhất.
|
||||||||
Phương pháp:
I. Mở bài
- Nêu vấn đề/ luận đề: cách con người phản ứng trước thất bại
- Tầm quan trọng của vấn đề
II. Thân bài
a. Nêu vấn đề và giải thích: cách con người phản ứng tích cực trước thất bại
- Thất bại: làm một việc không có kết quả…
- Cách phản ứng tích cực của con người trước thất bại: thái độ, hành động của mỗi người khi không thành công.
b. Nêu cách phản ứng mà em cho là tích cực nhất
- Tóm tắt ngắn gọn cách phản ứng
- Phân tích ý nghĩa, hiệu quả của cách phản ứng tích cực đối với người đã nếm trải thất bại (trong hiện tại và tương lai)
+ Vì sao phản ứng như vậy?
+ Cách phản ứng ấy tạo ra hiệu ứng tiếp theo như thế nào?
+ Vì sao em chọn cách phản ứng đó?
- Đề xuất một số ứng xử hợp lý khác khi nếm trải thất bại
III. Kết bài
- Khẳng định vai trò của phản ứng tích cực trước thất bại đối với hành trình sống của mỗi người
- Nhận thức, hành động của cá nhân.
Lời giải chi tiết:
Trong cuộc sống, không ai có thể tránh khỏi thất bại. Điều quan trọng không phải là chúng ta thất bại bao nhiêu lần, mà là cách chúng ta phản ứng và đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. Theo Adam Khoo, có ba cách con người phản ứng trước thất bại: đổ lỗi và bỏ cuộc, cố gắng lần nữa, hoặc rút ra bài học kinh nghiệm và thay đổi chiến lược cho đến khi thành công. Trong ba cách này, cách thứ ba chính là phản ứng tích cực nhất, bởi nó không chỉ giúp con người vươn lên từ thất bại mà còn tạo tiền đề cho thành công bền vững.
Trước hết, việc rút ra bài học từ thất bại giúp con người phát triển tư duy phản biện và khả năng thích nghi. Khi đối diện với thất bại, thay vì bi quan hay lặp lại sai lầm, những người biết nhìn nhận vấn đề một cách khách quan sẽ tìm ra nguyên nhân, nhận diện điểm yếu và học hỏi từ những sai sót. Chính quá trình tự đánh giá này giúp họ nâng cao nhận thức, cải thiện kỹ năng và từng bước tiến gần hơn đến thành công.
Bên cạnh đó, thay đổi chiến lược sau mỗi lần thất bại là một yếu tố quan trọng giúp con người tiến bộ. Nếu chúng ta chỉ cố gắng lặp lại cách làm cũ mà không thay đổi phương pháp, kết quả có thể sẽ không khác biệt. Ngược lại, những người linh hoạt trong cách tiếp cận, biết điều chỉnh chiến lược dựa trên những bài học rút ra sẽ có nhiều cơ hội đạt được mục tiêu hơn. Họ không chỉ dựa vào may mắn mà còn tận dụng tri thức và kinh nghiệm để tối ưu hóa hành trình đi đến thành công.
Lịch sử đã chứng minh rằng những người thành công nhất chính là những người biết học hỏi từ thất bại và không ngừng thay đổi để thích nghi. Thomas Edison, nhà phát minh vĩ đại, đã từng thất bại hàng nghìn lần trước khi phát minh ra bóng đèn. Ông không coi những lần thất bại là điều vô ích mà xem đó là những bước tiến quan trọng giúp ông loại bỏ những phương pháp sai lầm. Nhờ vậy, ông đã tìm ra công thức thành công và để lại di sản to lớn cho nhân loại.
Không chỉ trong lĩnh vực khoa học, trong cuộc sống hàng ngày, nhiều người cũng đã vươn lên từ thất bại nhờ cách tiếp cận này. Những doanh nhân khởi nghiệp có thể gặp nhiều khó khăn, thậm chí phá sản, nhưng họ không ngừng học hỏi, cải tiến mô hình kinh doanh và cuối cùng đạt được thành công. Ngay cả trong học tập, một học sinh có thể không đạt điểm cao trong một kỳ thi, nhưng nếu biết nhìn nhận sai sót, thay đổi phương pháp học tập thì họ sẽ tiến bộ và đạt kết quả tốt hơn trong tương lai.
Tóm lại, cách phản ứng trước thất bại quyết định rất nhiều đến thành công của mỗi người. Việc rút ra bài học từ thất bại và thay đổi chiến lược không chỉ giúp chúng ta tiến bộ mà còn rèn luyện tinh thần kiên trì, sáng tạo và tự tin đối mặt với thử thách. Thất bại không phải là dấu chấm hết, mà chỉ là một nấc thang trong hành trình đi đến thành công. Vì vậy, mỗi người hãy học cách đón nhận thất bại một cách tích cực, bởi đó chính là chìa khóa giúp chúng ta trưởng thành và phát triển bền vững.
Đề tham khảo thi vào 10 môn Văn Hà Nội năm 2025 - Đề số 6
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
ĐỘNG LỰC PHẤN ĐẤU TỪ NHỮNG LỜI XÚC PHẠM
(Rocketfeller)
[...] Con à, chúng ta lớn lên trong một xã hội luôn theo đuối danh dự, và cha hiểu cảm giác một người quý trọng danh dự bị xúc phạm là như thế nào. Có điều trong nhiều trường hợp, cho dù con là ai, kể cả là Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Ký đi chăng nữa, thì cũng đều bất lực trước việc ngăn chặn những lời xúc phạm từ người khác. Vậy, chúng ta nên làm thế nào khi gặp phải tình huống như thế? Tức giận công kích, cổ gắng bảo vệ danh dự? Bao dung độ lượng và mỉm cười cho qua? Hay đáp trả bằng những cách khác?
Chắc hẳn con vẫn còn nhớ cha luôn trân trọng một bức ảnh chụp các bạn học cấp hai của mình. Trong bức ảnh đó không có cha, chỉ có những đứa trẻ xuất thân từ gia đình giàu có. Vào một buổi chiều của mấy chục năm về trước, thời tiết rất đẹp, giáo viên nói với bọn cha rằng có một vị nhiếp ảnh gia đến và muốn được chụp cảnh học sinh lên lớp. Trước đó, cha đã từng chụp ảnh song rất ít, bởi đối với một đứa trẻ nhà nghèo thì chụp ảnh là một điều xa xỉ. Ngay khi nhiếp ảnh gia xuất hiện, cha đã tưởng tượng ra cảnh mình đứng trước ống kính, cười tươi và tỏ ra tự nhiên hơn để trông đẹp trai một chút. Thậm chí, cha còn bắt đầu tưởng tượng ra cảnh mình trở về nhà và khoe với mẹ như báo tin vui: "Mẹ ơi, hôm nay con được chụp ảnh đấy! Chính nhiếp ảnh gia đã chụp cho chúng con, tuyệt lắm mẹ ạ!". Cha nhìn chăm chăm vào vị nhiếp ảnh gia đang cúi xuống căn góc chụp với ánh mắt hưng phấn, hy vọng ông ấy sớm đưa cha vào khung hình. Tuy nhiên, điều cha nhận được lại là nỗi thất vọng. Vị nhiếp ảnh gia đó có vẻ là một người theo chủ nghĩa duy mỹ, ông ấy đứng thẳng dậy, chỉ tay vào cha và nói với giáo viên: “Cô có thể bảo học sinh đó rời khỏi chỗ ngồi của mình được không? Cậu bé ăn mặc nhếch nhác quá.”. Là một học sinh nhỏ bé và nghe lời giáo viên, cha chẳng dám lên tiếng phản đối, chỉ đành lặng lẽ đứng dậy, tạo phông nền đẹp đẽ cho đám con nhà giàu ăn mặc chỉnh tề chụp ảnh. Khoảnh khắc ấy, cha cảm thấy mặt mình nóng bừng, thế nhưng cha không hề tức giận hay thương xót bản thân, càng không oán trách tại sao cha mẹ không cho mình ăn mặc tươm tất hơn; trên thực tế, họ đã cố gắng hết sức để cha có cơ hội nhận được một nền giáo dục tốt. Nhìn vị nhiếp ảnh gia đó liên tục chỉnh cảnh, cha siết chặt nắm đấm, long trọng thề với lòng mình: Một ngày nào đó, mình sẽ trở thành người giàu nhất thế giới!
Con ơi, trong mắt cha, ý nghĩa của từ “xúc phạm" đã thay đổi, nó không còn là con dao sắc bén tước đi danh dự của cha, mà là một động lực mạnh mẽ, khí thế dữ dội như dời non lấp biển, thôi thúc cha phấn đấu và theo đuổi mọi điều tốt đẹp. Dường như không ngoa khi nói rằng vị nhiếp anh gia đó đã truyền cảm hứng để một đứa trẻ nghèo khó trở thành người giàu nhất thế giới. Ai cũng có lúc được mọi người vỗ tay reo hò để bày tỏ sự công nhận dành cho những thành tựu hoặc phẩm chất, nhân cách, đạo đức của bản thân; đồng thời, ai cũng có lúc bị đả kích và xúc phạm. Ngoại trừ ác ý, cha nghĩ sở dĩ chúng ta bị lăng mạ là do bản thân không đủ năng lực, năng lực này có thể liên quan đến khía cạnh làm người hoặc làm việc, tóm lại là không được người khác tôn trọng. Vì vậy, cha muốn nói rằng bị xúc phạm không phải là một chuyện xấu. Nếu là người biết giữ bình tĩnh và suy ngẫm, có lữ con sẽ thấy rằng mỗi thái độ hoặc hành vi trước những lời xúc phạm cũng có thể phản ánh trình độ năng lực của con người ta.
Cha biết rằng bất kỳ sự xúc phạm nhẹ nào cũng đều có thể làm tổn thương danh dự. Tuy nhiên, danh dự không phải là món quà do Thượng đế ban tặng, cũng không phải do người khác đưa cho, mà là do chính con tạo nên. Danh dự là sản phẩm tinh thần mà con sở hữu, và danh dự của mỗi người đều chỉ thuộc về chính họ. Con cho rằng mình có danh dự, vậy tức là con có danh dự. Vì vậy, giả sử có ai đó làm tổn thương tình cảm, danh dự của con, con cũng không cần phải dao động. Nếu con kiên quyết giữ lấy danh dự của mình, không ai có thể làm tổn thương con cả.
Mến thương con - Cha
(Trích 38 lá thư Rockefeller gửi cho con trai, NXB Hồng Đức, 2023).
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định luận đề, các luận điểm trong văn bản trên.
Câu 2 (0.5 điểm): Văn bản đã đem tới cho độc giả những nhận thức nào về xã hội hiện đại?
Câu 3 (1.0 điểm): Phân tích cách trình bày vấn để khách quan (chỉ đưa thông tin) và cách trình bày ý kiến chủ quan (thể hiện tình cảm, quan điểm của người viết) trong luận điểm 2 (đoạn từ Chắc hẳn con vẫn còn nhớ ... đến người giàu nhất thế giới!). Cách triển khai ấy có tác dụng như thế nào?
Câu 4 (1.0 điểm): Xác định đoạn văn bản chứa nhiều biện pháp tu từ, phân tích tác dụng của chúng. Và cho biết đoạn đó thuộc thành phần nào trong văn bản nghị luận?
Câu 5 (1.0 điểm): Xác định thông điệp của văn bản trên. Vấn đề đặt ra trong văn bản có phù hợp với thời đại không, nó có ý nghĩa như thế nào đối với em, xã hội hiện nay, đặc biệt với những người trẻ?
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Quan sát 2 bức họa sau đây và cho biết chúng nói lên hiện tượng nào trong đời sống xã hội hiện đại? Hãy viết đoạn (150 chữ) bàn luận về hiện tượng đó và trình bày giải pháp khả thi để khắc phục những tồn tại của hiện tượng đó trong trường học.

Câu 2 (4.0 điểm)
Viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích vẻ đẹp thiên nhiên trong đoạn trích dưới đây:
KHI MÙA MƯA ĐẾN
(Trần Hoà Bình)
Sông đã phổng phao trời đẫm ướt
Nắng không kỳ hẹn mỗi khoang đò
Khi mùa mưa đến, mùa mưa đến
Trống gõ vô hồi lá chuối tơ
Gặp gỡ mùa mưa lòng trẻ lại
Làng ta tươi tốt một triền đê
Thở mãi không cùng hương đất bãi
Mưa như gót trẻ kéo nhau về
(Thơ 1980 – 1985, NXB Tác phẩm mới - Hội Nhà văn Việt Nam, 1985)
Đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về văn bản nghị luận
Lời giải chi tiết:
- Luận đề: Lời xúc phạm và sự tác động của nó.
- Các luận điểm.
+ Luận điểm 1: Giới thiệu luận đề/vấn đề và các ứng xử trước luận để/vấn để đó.
+ Luận điểm 2: Bị xúc phạm.
+ Luận điểm 3: Suy nghĩ, cảm xúc, ứng xử sau khi bị xúc phạm.
+ Luận điểm 4: Ứng xử cần có của mỗi người trước sự xúc phạm.
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Những nhận thức về xã hội hiện đại.
+ Một xã hội luôn theo đuổi danh dự, và có người quý trọng danh dự bị xúc phạm.
+ Một số người theo chủ nghĩa duy mỹ.
+ Bất lực trước việc ngăn chặn những lời xúc phạm từ người khác.
+ Ai cũng có lúc được mọi người vỗ tay reo hò để bày tỏ sự công nhận dành cho những thành tựu hoặc phẩm chất, nhân cách, đạo đức của bản thân; đồng thời, ai cũng có lúc bị đả kích và xúc phạm.
Câu 3.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng văn bản nghị luận
Lời giải chi tiết:
- Cách trình bày vấn đề khách quan (chỉ đưa thông tin): Kể câu chuyện về buổi chụp ảnh - bằng chứng của sự xúc phạm bằng lời nói: hành vi, lời nói của nhiếp ảnh (Cô có thể bảo học sinh đó rời khỏi chỗ ngồi của mình được không? Cậu bé ăn mặc nhếch nhác quá).
- Kể xen bình luận về sự tuân thủ của cậu bé học sinh - là tác giả để thể hiện thái độ, quan điểm của người viết về vị nhiếp ảnh:
+ Vị nhiếp ảnh gia đó có vẻ là một người theo chủ nghĩa duy mỹ, ông ấy đứng thẳng dậy, chỉ tay vào cha.
+ Là một học sinh nhỏ bé và nghe lời giáo viên, cha chẳng dám lên tiếng phản đối, chỉ đành lặng lẽ đứng dậy, tạo phông nền đẹp đẽ cho đám con nhà giàu ăn mặc chỉnh tề chụp ảnh.
+ Nhìn vị nhiếp ảnh gia đó liên tục chỉnh cảnh, cha siết chặt nắm đấm, long trọng thề với lòng mình ...
- Cách triển khai ấy có tác dụng: vừa đưa thông tin một cách khách quan vừa thể hiện tình cảm, quan điểm của người viết qua cách trình bày chủ quan => Khiến độc giả dễ lĩnh hội vấn để và việc phản ánh hiện thực thêm sâu sắc.
Câu 4.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về các biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết:
- Đoạn văn bản sử dụng nhiều biện pháp tu từ: ý nghĩa của từ “xúc phạm” đã thay đổi, nó không còn là con dao sắc bén tước đi danh dự của cha, mà là một động lực mạnh mẽ, khí thế dữ dội như dời non lấp biển, thôi thúc cha phấn đấu và theo đuổi mọi điều tốt đẹp.
- Các biện pháp tu từ và tác dụng của chúng.
+ Ẩn dụ: con dao sắc bén; So sánh: như dời non lấp biển.
+ Câu khẳng định, phủ định: không còn là; mà là một.
=>Dùng hình ảnh, sự tương phản (từ câu khẳng định, phủ định) để chuyển tải nội dung: cách ứng xử tích cực của mỗi người trước một hiện tượng đời sống là quan trọng nhất (xúc phạm không thể hạ gục, không thể khiến ta đau đớn tuyệt vọng mà sẽ thành động lực để người kiêu hãnh vươn lên).
- Chúng thuộc thành phần: lí lẽ trong văn bản nghị luận.
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung chính rút ra thông điệp phù hợp
Lời giải chi tiết:
- Thông điệp của văn bản:
+ Cách ứng xử tích cực của mỗi người trước một hiện tượng đời sống là quan trọng nhất (xúc phạm không hủy diệt được người kiêu hãnh; bị xúc phạm, bị coi thường sẽ thành động lực để người kiêu hãnh vươn lên).
+ Danh dự là sản phẩm tinh thần của mỗi người và danh dự của mỗi người đều chỉ thuộc về chính họ, do họ tạo dựng và bảo vệ nó.
+ Kiên quyết giữ lấy danh dự của mình, không ai có thể làm tổn thương được ta.
- Vấn đề đặt ra trong văn bản phù hợp với thời đại, có ý nghĩa xã hội nhất định: Xã hội hiện đại, con người luôn theo đuổi danh dự, quý trọng danh dự nhưng cũng có một số người thiếu thận trọng đã xúc phạm người khác bằng lời nói và làm tổn thương người khác hoặc gây ra mâu thuẫn, xung đột => văn bản trên đã khiến độc giả chú ý hơn hành xử, lời của mình (tránh hậu quả đáng tiếc xảy ra).
- Ý nghĩa đối với cá nhân: ứng xử tích cực khi bị xúc phạm; biết bảo vệ danh dự của mình...
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Quan sát 2 bức tranh, xác định ý nghĩa của bức tranh
Đoạn đủ dung lượng, hướng vào gợi ý sau:
- Nêu vấn đề: cãi vã, xúc phạm nhau bằng lời nói ở đời sống thực, mạng xã hội
- Bàn luận/các góc nhìn về hiện tượng: cãi vã, xúc phạm
+ Nguyên nhân từ phía người nói lời xúc phạm
+ Tác động tới người bị xúc phạm
+ Các phản ứng (tiêu cực/tích cực) và hậu quả
- Giải pháp khả thi và có sức thuyết phục (theo góc nhìn cá nhân)
Lời giải chi tiết:
Hai bức họa trên phản ánh hai hiện tượng tiêu cực phổ biến trong xã hội hiện đại: bạo lực ngôn từ trong giao tiếp trực tiếp và bạo lực mạng trên các nền tảng xã hội. Đây là những vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến tâm lý, tinh thần của con người, đặc biệt là giới trẻ. Bạo lực ngôn từ có thể gây tổn thương sâu sắc không kém gì bạo lực thể chất. Khi những lời nói mang tính xúc phạm, miệt thị, sỉ nhục được sử dụng thường xuyên, nạn nhân có thể rơi vào trạng thái trầm cảm, mất tự tin, thậm chí có những suy nghĩ tiêu cực về bản thân. Đặc biệt, trên mạng xã hội, tình trạng “ném đá hội đồng”, lan truyền tin giả, xúc phạm cá nhân ngày càng gia tăng do tính ẩn danh của Internet. Trong môi trường học đường, để giảm thiểu vấn đề này, cần giáo dục học sinh về văn hóa ứng xử, tôn trọng lẫn nhau, đồng thời có biện pháp xử lý nghiêm những hành vi bạo lực ngôn từ. Nhà trường nên tổ chức các buổi thảo luận, ngoại khóa về bạo lực lời nói, giúp học sinh nhận thức rõ tác hại của nó, từ đó xây dựng môi trường học đường lành mạnh và văn minh.
Câu 2.
Phương pháp:
I. Mở bài
- Khái quát về vẻ đẹp thiên nhiên trong bài thơ: cảnh sắc mùa mưa sinh động, tràn đầy sức sống và giàu cảm xúc.
II. Thân bài
a. Bức tranh thiên nhiên tươi mới, căng tràn sức sống
- “Sông đã phổng phao trời đẫm ướt” → Hình ảnh dòng sông đầy đặn, tràn trề sau mưa.
- “Nắng không kỳ hẹn mỗi khoang đò” → Sự thay đổi bất chợt của thời tiết, tạo nét chấm phá cho bức tranh thiên nhiên.
- Âm thanh rộn ràng của mùa mưa: “Trống gõ vô hồi lá chuối tơ” → Âm thanh sống động của mưa trên lá chuối, tạo cảm giác thiên nhiên cũng đang reo vui.
- Điệp từ “mùa mưa đến” → Nhấn mạnh sự hiện diện mạnh mẽ của mùa mưa.
- Sự giao hòa giữa thiên nhiên và con người
+ “Gặp gỡ mùa mưa lòng trẻ lại” → Mưa không chỉ làm xanh đất trời mà còn làm con người thêm trẻ trung, yêu đời.
+ “Làng ta tươi tốt một triền đê” → Mưa mang đến sức sống cho quê hương, cây cối xanh tươi, mùa màng trù phú.
- Hình ảnh đầy chất thơ và cảm xúc
+ “Thở mãi không cùng hương đất bãi” → Hương thơm của đất trời sau mưa làm con người cảm thấy khoan khoái, dễ chịu.
+ “Mưa như gót trẻ kéo nhau về” → So sánh độc đáo, nhân hóa cơn mưa thành những bước chân trẻ thơ, tạo sự gần gũi, thân thuộc.
III. Kết bài
- Khẳng định lại vẻ đẹp thiên nhiên trong đoạn thơ: không chỉ tươi đẹp, giàu sức sống mà còn gợi lên cảm xúc trong lòng người.
- Đánh giá nghệ thuật thơ của Trần Hoà Bình: hình ảnh giàu sức gợi, ngôn từ tinh tế, nhạc điệu nhẹ nhàng mà sâu lắng.
Lời giải chi tiết:
Thiên nhiên trong thơ ca luôn mang vẻ đẹp sinh động và giàu cảm xúc, đặc biệt là khi được thể hiện qua góc nhìn tinh tế của những tâm hồn nghệ sĩ. Đoạn thơ “Khi mùa mưa đến” của Trần Hoà Bình đã khắc họa bức tranh thiên nhiên tươi mới, tràn đầy sức sống trong mùa mưa, đồng thời gợi lên những cảm xúc sâu lắng về sự hòa hợp giữa con người và đất trời.
Bài thơ mở ra bằng hình ảnh con sông và bầu trời như được hồi sinh sau những cơn mưa:
“Sông đã phổng phao trời đẫm ướt
Nắng không kỳ hẹn mỗi khoang đò”
Hình ảnh “sông đã phổng phao” mang ý nghĩa ẩn dụ, thể hiện sự thay đổi của thiên nhiên khi mùa mưa đến. Cơn mưa khiến dòng sông trở nên căng tràn sức sống, tựa như một đứa trẻ đang lớn nhanh. Cùng với đó, bầu trời “đẫm ướt” như đang tràn đầy hơi thở của mùa mưa. Hình ảnh “nắng không kỳ hẹn mỗi khoang đò” gợi lên sự bất định của thời tiết, khi nắng và mưa có thể thay đổi thất thường, tạo nên sự đối lập giữa hai trạng thái của thiên nhiên.
Sự xuất hiện của mùa mưa được báo hiệu bằng những thanh âm và hình ảnh độc đáo:
“Khi mùa mưa đến, mùa mưa đến
Trống gõ vô hồi lá chuối tơ”
Điệp từ “mùa mưa đến” như một lời nhấn mạnh về sự hiện diện mạnh mẽ của cơn mưa trong không gian. Hình ảnh “trống gsõ vô hồi lá chuối tơ” gợi ra âm thanh của những giọt mưa rơi xuống lá chuối, tạo thành một bản nhạc tự nhiên đầy sôi động. Qua đó, thiên nhiên không chỉ được nhìn thấy mà còn được cảm nhận qua âm thanh, làm tăng thêm sức hấp dẫn của cảnh sắc mùa mưa.
Không chỉ thiên nhiên thay đổi, mà lòng người cũng trở nên rạo rực, tươi vui hơn:
“Gặp gỡ mùa mưa lòng trẻ lại
Làng ta tươi tốt một triền đê”
Mưa không chỉ tưới mát đất trời mà còn khơi gợi cảm xúc trong lòng người. “Lòng trẻ lại” là cảm giác hân hoan, vui tươi khi chứng kiến sự đổi thay của thiên nhiên. Bên cạnh đó, hình ảnh “làng ta tươi tốt một triền đê” thể hiện tác động tích cực của cơn mưa đối với cảnh vật. Nhờ mưa mà đồng ruộng trở nên trù phú, làng quê như khoác lên mình một màu xanh mướt đầy sức sống.
Khổ thơ cuối khép lại bài thơ bằng những hình ảnh gợi cảm, giàu sức liên tưởng:
“Thở mãi không cùng hương đất bãi
Mưa như gót trẻ kéo nhau về”
Hương thơm của đất bãi sau mưa khiến con người cảm thấy khoan khoái, thư thái đến mức “thở mãi không cùng”. Hình ảnh “mưa như gót trẻ kéo nhau về” là một so sánh thú vị, khi những hạt mưa được ví như bước chân của trẻ nhỏ chạy nhảy, nô đùa trên mặt đất. Điều này không chỉ làm tăng thêm tính sinh động mà còn thể hiện sự hòa hợp giữa thiên nhiên và con người.
Như vậy, đoạn thơ “Khi mùa mưa đến” của Trần Hoà Bình không chỉ đơn thuần miêu tả thiên nhiên mùa mưa mà còn truyền tải cảm xúc tươi mới, vui vẻ và sự gắn bó giữa con người với quê hương. Bằng những hình ảnh tinh tế, ngôn ngữ giàu nhạc điệu và cảm xúc sâu sắc, tác giả đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp, khiến người đọc cảm nhận được sự sống động và thi vị của mùa mưa quê hương.
Đề tham khảo thi vào 10 môn Văn Hà Nội năm 2025 - Đề số 7
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
EM BÉ TRONG MÙA CỦI KHÔ
(Bình Nguyên Trang)
Này em bé thả chân trần trên cỏ
Rong ruổi suốt ngày nhặt giấc mơ rơi
Ngôi nhà em đầy mùi hương và khói
Em kiếm củi gần sưởi ấm chiều mồ côi
Dải đồi ấy chỉ nhiều hoa và gió
Làm sao có cui khô cho em nhặt bây giờ
Chiều lạnh lắm thu đã vàng rồi đó
Em về đi, mẹ sắp trở cơn ho
Này em bé, căn nhà xơ xác thế
Làm sao cõng nắng mưa để qua mùa
Heo hút quá cho ta vào nữa nhé
Ta nhóm lửa giùm em đánh thức niềm vui
Những bó củi mỗi ngày mang về chợ
Em ủ ước mơ nhặt khắp nẻo trên đồi
Đường đầy gió, heo may gài băng giá
Chân chạy qua mùa đối diện ngày đông
Rồi ta thấy má em hồng mỗi buổi
Khi nhóm củi khô cho mẹ sưởi ấm lòng
Cái bóng nhỏ ngã trên đồi lộng gió
Biết có còn củi khô cho em không…
(Lối về, Bình Nguyên Trang, NXB Hội Nhà văn, 1995)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể thơ của bài thơ Em bé trong mùa củi khô.
Câu 2 (0.5 điểm): Nêu cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
Câu 3 (1.0 điểm): Em bé đi kiếm củi khô được khắc hoạ thông quan những hình ảnh nào? Cảm xúc của nhân vật trữ tình được thể hiện như thế náo trước tình cảnh đó?
Câu 4 (1.0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu thơ: “Làm sao cõng nắng mưa để qua mùa”.
Câu 5 (1.0 điểm): Xác định chủ đề và bức thông điệp của Em bé trong mùa củi khô.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) về vẻ đẹp của khổ thơ sau:
Rồi ta thấy má em hồng mỗi buổi
Khi nhóm củi khô cho mẹ sưởi ấm lòng
Cái bóng nhỏ ngã trên đồi lộng gió
Biết có còn củi khô cho em không…
(Lối về, Bình Nguyên Trang)
Câu 2 (4.0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về sự sẻ chia trong cuộc sống.
Đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Thể thơ 8 chữ
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, rút ra cảm xúc chủ đạo
Lời giải chi tiết:
Cảm thương, lo lắng, băn khoăn cho những thân phận em bé bất hạnh, tội nghiệp
Câu 3.
Phương pháp:
Đọc kĩ bài thơ, chú ý các từ ngữ, hình ảnh, chi tiết
Lời giải chi tiết:
- Em bé được khắc hoạ cụ thể qua hình ảnh:
+ Thả chân trần, rong ruổi suốt ngày, đồi lộng gió: tình cảnh đáng thương
+ Kiếm củi mỗi ngày, ủ ước mơ, chạy qua mùa, sưởi ấm lòng mẹ: giàu ước mơ, có trách nhiệm, không có tuổi thơ đúng nghĩa.
- Tình cảm, thái độ của nhân vật trữ tình:
+ Lo lắng, băn khoăn cho tình cảnh đáng thương, tội nghiệp của em bé (căn nhà xơ xác quá, bóng nhỏ ngã trên đồi lộng gió)
+ Thúc giục em về mau để tránh khỏi giá rét (Chiều lạnh lắm thu đã vàng rồi đó/ Em về đi, mẹ sắp trở cơn hoa/ Chân chạy qua mùa đối diện ngày đông)
+ Thương cảm, yêu mến và mong muốn được sẻ chia khó khăn với em, mang đến cho em niềm vui và sự hi vọng vào ngày mai tươi sáng
Câu 4.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ ẩn dụ
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ: ẩn dụ “nắng mưa”
- Tác dụng: gợi tả những khó khăn, tủi cực mà em bé đang phải gánh vác, quá sức so với lứa tuổi của em.
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra chủ đề, thông điệp phù hợp
Lời giải chi tiết:
- Chủ đề: Yêu thương, đồng cảm và sẻ chia với thân phận bất hạnh
- Thông điệp:
+ Trân trọng, cảm phục những em bé bất hạnh nhưng đầy nghị lực
+ Đồng cảm, chung tay giúp đỡ những em bé có hoàn cảnh bất hanhh
…
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc kĩ khổ thơ, rút ra nội dung chính
Phân tích đặc sắc nghệ thuật
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn
Nêu nội dung chính của đoạn thơ và dẫn dắt vào phân tích
2. Thân đoạn
- Hình ảnh em bé kiếm củi hiếu thảo trong hành động “nhóm củi” chăm sóc mẹ mỗi ngày, chăm chỉ, cần mẫn hàng ngày “trên đồi lộng gió”.
- Tình cảm, cảm xúc của tác giả: lo lắng, trăn trở trước tình cảnh/ thân phận của em; thấu hiểu nỗi niềm và tấm lòng của em với mẹ
- Nghệ thuật đặc sắc thể hiện:
+ Phép tương phản: bóng nhỏ – đồi lộng gió
+ Câu hỏi tu từ: biết có còn củi khô cho em không
+ Dấu chấm lửng kết thúc bài thơ
+ Câu kết bài thơ độc đáo với 3 thanh bằng cuối câu (cho em không)
+ Dấu ba chấm kèm câu hỏi tu từ: dư vị lắng sâu, lo lắng, buồn thương, cảm xúc nghẹn ngào, mong muốn được chung tay, sẻ gánh khó khăn, bất hạnh với em.
3. Kết đoạn
- Tổng kết lại giá trị của đoạn thơ
Câu 2.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về vấn đề để bàn luận
Vận dụng thao tác lập luận, kĩ năng viết bài
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài
- Nêu vấn đề nghị luận: ý nghĩa của sự sẻ chia trong cuộc sống.
- Nêu ý kiến cá nhân đối với vấn đề cần bàn luận
2. Thân bài
a. Giải thích
- Sẻ chia là hành động san sẻ, giúp đỡ nhau cả về vật chất lẫn tinh thần.
- Thể hiện sự quan tâm, đồng cảm và yêu thương giữa con người.
b. Biểu hiện của sự sẻ chia trong cuộc sống
- Giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn (quyên góp, từ thiện, hỗ trợ tài chính).
- Sẻ chia về tinh thần: động viên, an ủi những người đang gặp khó khăn.
- Hỗ trợ trong công việc, học tập, gia đình để cùng nhau phát triển.
c. Ý nghĩa của sự sẻ chia
- Giúp con người xích lại gần nhau, tạo nên một xã hội đầy tình yêu thương.
- Giảm bớt khó khăn, giúp đỡ người khác cũng chính là làm giàu giá trị tinh thần của bản thân.
- Góp phần xây dựng một cộng đồng văn minh, nhân ái.
d. Hệ quả của việc thiếu sự sẻ chia
- Xã hội lạnh lùng, con người trở nên ích kỷ, vô cảm.
- Cá nhân sống cô lập, thiếu sự hỗ trợ khi cần thiết.
e. Bài học và liên hệ bản thân
- Mỗi người cần học cách sẻ chia trong gia đình, trường học, xã hội.
- Những hành động nhỏ cũng có thể tạo ra tác động lớn, lan tỏa yêu thương.
3. Kết bài
- Khẳng định tầm quan trọng của sự sẻ chia trong cuộc sống.
- Kêu gọi mọi người cùng nhau thực hiện những hành động ý nghĩa để tạo ra một xã hội tốt đẹp hơn.
Đề tham khảo thi vào 10 môn Văn Hà Nội năm 2025 - Đề số 8
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
BÀI THƠ CHƯA ĐỀ TÊN
|
Cha cứ lần từng bước mà đi Chiếc gậy chống những tháng ngày khó nhọc Không khác được, không thể nào khác được Cha cứ lần từng bước mà đi
Con đỡ cha qua mấy bậc thềm hè Mà vất vả như chuyến bè vượt thác Chiếc gậy tre dỗ xuống hè khô khốc Cha cười rung khi tới được bên giường
Tiếng bầy chím ríu rít bên vườn Gà nhảy ổ, tiếng trâu ngoài ngõ xóm Ban mai dậy, cha ngồi âm thầm lắm Khát khao nghe tiếng người gọi ra đồng |
Cứ mỗi lần con trở về thăm Tấm quà nghèo không có gì hơn được Con kể cha nghe những vùng đất nước Con sông xanh và dãy núi dài
Những điều may con gặp trên đời Có an ủi cha ngày buồn lặng lẽ Cha nói ngô nghê lắm lời như trẻ Lòng con bơ vơ nhìn tóc vãn trên đầu Nửa người chết, nửa người cha sống mệt Khi cha ngủ con ngồi canh thức Vầng mắt già khép mở đến thơ ngây
Lòng con đau, luôn áo ước điều này Cha bước vui chân ra vườn xới cỏ Rồi quay vào uống một li rượu nhỏ Một lần thôi… Như mọi ông già. |
(Tập thơ Nguyệt cầm trong bão, Nguyễn Huy Dung, NXB Hội Nhà văn)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể thơ của bài thơ Bài thơ chưa đề tên.
Câu 2 (0.5 điểm): Xác định đề tài của bài thơ Bài thơ chưa đề tên.
Câu 3 (1.0 điểm): Người cha trong bài thơ được miêu tả như thế nào?
Câu 4 (1.0 điểm): Người con đã làm những điều gì, dành tình cảm như thế nào với cha của mình?
Câu 5 (1.0 điểm): Xác định cảm hứng chủ đạo, bức thông điệp của bài thơ.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) về vẻ đẹp của khổ thơ sau:
Lòng con đau, luôn áo ước điều này
Cha bước vui chân ra vườn xới cỏ
Rồi quay vào uống một li rượu nhỏ
Một lần thôi… Như mọi ông già.
(Tập thơ Nguyệt cầm trong bão, Nguyễn Huy Dung, NXB Hội Nhà văn)
Câu 2 (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến sau:
“Những người biết cách tạo ra giá trị nhất là những người cống hiến hết mình cho lĩnh vực mà họ thích nhất”
(38 lá thư Rockefeller gửi cho con trai, NXB Hồng Đức, 2023)
Đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Thể thơ: tự do
Câu 2.
Phương pháp:
Từ nội dung chính rút ra đề tài
Lời giải chi tiết:
Đề tài: tình cảm gia đình/ tình cảm cha con
Câu 3.
Phương pháp:
Đọc kĩ bài thơ, xác định các từ ngữ miêu tả hình ảnh người cha
Lời giải chi tiết:
Người cha trong bài thơ được miêu tả:
- Cha cứ lần từng bước mà đi; Chiếc gậy chống những tháng ngày khó nhọc; Nửa người chết, nửa người cha sống mệt => Người gắn liền với chiếc gậy với những bước đi khó nhọc
- Ban mai dậy, cha ngồi âm thầm/ Khát khao nghe tiếng người gọi ra đồng; Cha nói ngô nghê lắm lời như trẻ => Sức khoẻ của cha đã giảm sút nhiều, khi lặng lẽ, khi nói lời của con trẻ nhưng khát vọng và tình yêu cuộc sống vẫn tha thiết.
Câu 4.
Phương pháp:
Xác định các từ ngữ chỉ hành động của người con trong bài thơ
Lời giải chi tiết:
- Hành động của người con: đỡ cha qua mấy bậc thềm hè; kể cha nghe những vùng đất nước; an ủi cha ngày buồn lặng lẽ; Khi cha ngủ con ngồi canh thức => người con yêu thương cha hết mực
- Tình cảm của người con: khóc vì đau; Lòng con bơ vơ nhìn tóc vãn trên đầu; lòng con đau => đau xót vì cha đã già
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung chính rút ra cảm hứng chủ đạo, thông điệp phù hợp
Lời giải chi tiết:
- Cảm hứng chủ đạo: Trân trọng tình yêu của người con dành cho cha.
- Thông điệp:
+ Nhận thức rõ về quy luật cuộc đời: con lớn cha mẹ sẽ già và sẽ chia xa chúng ta.
+ Con thấu hiểu tình cảm, mong muốn của cha mẹ ở tuổi “xế chiều”
+ Các con hãy luôn ở bên chăm lo cho đời sống vật chất và tinh thần cho cha mẹ
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc kĩ nội dung khổ thơ
Xác định các từ ngữ, biện pháp nghệ thuật đặc sắc
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn
Giới thiệu ngắn gọn và khái quát nội dung chính của đoạn thơ
2. Thân đoạn
- Niềm mong ước người cha khoẻ mạnh, bình thường như bao người già khác,
- Đau xót trước tình cảnh của cha hiện tại, nuối tiếc kí ức quá khứ về cha.
- Đặc sắc nghệ thuật:
+ Tương phản: con đau – cha bước vui
+ Điệp từ “một”
+ Yếu tố tự sự: cha bước vui chân ra vườn … rồi quay vào… uống
+ Dấu ba chấm: dồn nén cảm xúc, về mơ ước không thể thành hiện thực về cha – được giống như mọi ông già
3. Kết đoạn
Tổng kết lại đoạn thơ
Câu 2.
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức của em về vấn đề và bàn luận
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài
- Nêu vấn đề nghị luận: Cách tạo ra giá trị đối với mỗi người
- Tầm quan trọng của vấn đề
2. Thân bài
a. Giải thích
- “Tạo ra giá trị”: là quá trình mỗi người tạo nên những đóng góp thiết thực, có ích cho bản thân và cộng đồng, cả về vật chất lẫn tinh thần.
- “Cống hiến hết mình”: là sự nỗ lực không ngừng, làm việc với tất cả đam mê, tâm huyết và trách nhiệm.
- “Lĩnh vực mà họ thích nhất”: chính là nơi mỗi người tìm thấy niềm vui, sự hứng khởi và động lực mạnh mẽ để theo đuổi lâu dài. → Ý kiến khẳng định: Khi con người được sống và làm việc đúng với đam mê, họ sẽ phát huy tối đa năng lực, từ đó tạo ra những giá trị lớn lao, bền vững.
b. Biểu hiện và ý nghĩa của vấn đề
- Khi làm việc bằng đam mê, con người dễ dàng vượt qua khó khăn, thử thách vì họ có động lực nội tại mạnh mẽ.
- Sự cống hiến hết mình giúp người đó không ngừng học hỏi, sáng tạo và cải tiến – những yếu tố quan trọng tạo nên giá trị vượt trội.
- Giá trị cá nhân tạo ra không chỉ dừng lại ở thành quả cụ thể mà còn truyền cảm hứng, ảnh hưởng tích cực đến người khác.
- Xã hội cũng phát triển hơn khi mỗi người đều được làm đúng việc mình yêu thích và nỗ lực hết mình trong lĩnh vực đó.
- Dẫn chứng: HS lấy dẫn chứng cụ thể
c. Phản đề
- Không phải ai cũng có cơ hội làm đúng lĩnh vực mình yêu thích, nhưng nếu có thái độ tích cực và tinh thần trách nhiệm, họ vẫn có thể tạo ra giá trị.
- Ngược lại, nếu chỉ làm việc vì lợi ích cá nhân, không đam mê, không cống hiến thì khó có thể phát triển lâu dài hay để lại dấu ấn.
3. Kết bài
- Khẳng định vấn đề
- Nhận thức về vấn đề
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
