Đề thi vào 10 môn Văn An Giang
Đề thi vào 10 môn Văn An Giang năm 2026
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm)
Đọc văn bản
Từ ngữ có thể chữa lành hoặc làm tổn thương
(1) Từ ngữ là thứ nhẹ nhất trên đời nhưng lại có sức nặng nhất trong lòng người. Một câu nói có thể nâng ai đó đứng dậy, cũng có thể khiến họ suy sụp cả ngày. Một lời khen đúng lúc làm người ta tự tin hơn, một lời chê vô tình có thể khắc lại thành vết thương dài lâu. Người trẻ thường không để ý sức mạnh của từ ngữ, bởi trong giao tiếp hằng ngày ta quen phản xạ nhanh, nói cho xong ý, nói để giải tỏa cảm xúc mà quên mất rằng người nghe đang đón nhận từng chữ bằng trái tim.
(2) Từ ngữ có thể chữa lành khi chúng mở ra sự an ủi, sự thông cảm, sự ghi nhận. Khi ta nói: "Mình hiểu bạn đã cố gắng nhiều lắm", ta trao cho họ cảm giác được nhìn thấy. Khi ta nói: "Không sao, ai cũng có ngày tệ cả", ta cho họ một nơi để dựa. Khi ta nói: "Mình ở đây nếu bạn cần", ta gieo vào lòng họ sự an toàn. Chỉ cần một vài câu nhẹ nhàng, không cần cao siêu, đã có thể giúp ai đó đứng vững hơn trong một ngày đầy thử thách.
(3) Nhưng từ ngữ cũng có thể làm tổn thương – đặc biệt là khi ta buột miệng nói trong lúc nóng giận, mệt mỏi hoặc chưa kịp suy nghĩ. Một câu vô tâm như "Có gì đâu mà làm quá vậy" có thể khiến người đang đau cảm thấy bị xem thường. Một câu "Bạn nhạy cảm quá" có thể khiến họ thu mình lại vì không được thấu hiểu. Một lời chỉ trích thẳng mà không tinh tế có thể khiến người ta nhớ mãi dù ta chỉ định nói cho nhanh.
(4) Điều đáng nói là: ta quên rất nhanh những câu mình nói, nhưng người khác có thể nhớ rất lâu – nhất là những câu chứa sự chê bai, phủ nhận hoặc đả kích. Từ ngữ không tan biến ngay khi ta thốt ra; chúng ở lại trong lòng người nghe, đôi khi rất lâu sau cuộc trò chuyện.
(5) Giao tiếp tử tế không có nghĩa là nói những lời ngọt ngào mọi lúc. Nó chỉ đơn giản yêu cầu rằng ta ý thức được sức mạnh của lời nói và chọn cách nói sao cho giữ được lòng người. Ta có thể nói thật, nói thẳng, nói rõ ràng – nhưng không nhất thiết phải nói theo cách làm người ta đau. Một câu được nói bằng sự tôn trọng và ý tốt sẽ đi vào lòng, còn một câu được nói bằng sự vội vàng sẽ đi vào vết thương.
(6) Khi ta hiểu rằng từ ngữ có sức mạnh như dao hay như thuốc, ta bắt đầu nói chậm lại một chút. Ta chọn từ cẩn thận hơn, không phải để làm đẹp lời nói, mà để làm nhẹ trái tim của cả người nói lẫn người nghe. Và khi giao tiếp trở thành một hành động tử tế, các mối quan hệ xung quanh ta trở nên mềm hơn, an toàn hơn và bền lâu hơn.
(7) Từ ngữ là cây cầu hoặc là bức tường – và ta là người quyết định nó sẽ trở thành gì.
(Nguyễn Anh biên soạn, Hiểu để yêu thương, NXB Tri Thức, 2026, trang 64,65)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,75 điểm) Theo văn bản, từ ngữ có thể chữa lành khi nào?
Câu 2. (0,75 điểm) Chỉ ra một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Khi ta hiểu rằng từ ngữ có sức mạnh như dao hay như thuốc, ta bắt đầu nói chậm lại một chút.
Câu 3. (1,0 điểm) Lí giải về vai trò của lí lẽ và bằng chứng trong việc làm sáng tỏ luận điểm ở đoạn (3) và đoạn (4).
Câu 4. (1,0 điểm) Em nhận xét như thế nào về ý kiến của tác giả: Giao tiếp tử tế không có nghĩa là nói những lời ngọt ngào mọi lúc?
Câu 5. (1,5 điểm) Điểm gặp gỡ của hai ngữ liệu sau đã định hướng cho em lựa chọn từ ngữ trong giao tiếp như thế nào?
Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
(Ca dao Việt Nam)
- Từ ngữ là cây cầu hoặc là bức tường - và ta là người quyết định nó sẽ trở thành gì.
(Hiểu để yêu thương – Nguyễn Anh biên soạn)
II. VIẾT (5,0 điểm)
Đọc bài thơ:
BỨC TRANH XUÂN
Cứ mải mê với bao nhiêu màu sắc
Tôi như con thuyền trôi dọc sông hoa
Gió như hát, nắng vàng rơi lác rác
Bướm và ong chơi vũ điệu la đà.
Trời lồng lộng tinh khôi màu mây mới
Như cho em sắc lụa nần nà xanh
Chợ quê Tết gọi chúng mình vào hội
Hoa chen hoa, em đi bên anh.
Nghe thánh thót tiếng họa mi góc núi
Ồ, giọng vàng sơn cước cũng về đây
Chim và hoa. Sắc và màu nắn nót
Vẽ bức tranh lộng lẫy giữa xuân này.
(Tạ Hữu Yên, in trong Tuyển thơ Tạ Hữu Yên, NXB Hội Nhà văn, 2011, trang 62)
Em hãy viết bài văn nghị luận phân tích nội dung chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của bài thơ trên.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc đoạn (2), xác định điều kiện hoặc hoàn cảnh khiến từ ngữ mang ý nghĩa chữa lành
Lời giải chi tiết:
Theo văn bản, từ ngữ có thể chữa lành khi chúng mở ra sự an ủi, sự thông cảm và sự ghi nhận.
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc câu văn, tìm dấu hiệu của biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, nhân hóa…)
Lời giải chi tiết:
Biện pháp tu từ so sánh: So sánh sức mạnh của "từ ngữ" với "dao" "thuốc".
Câu 3.
Phương pháp:
Xác định luận điểm của hai đoạn, sau đó chỉ ra lí lẽ (giải thích, nhận định) và bằng chứng (ví dụ cụ thể) đã giúp làm sáng tỏ luận điểm như thế nào.
Lời giải chi tiết:
- Luận điểm: Từ ngữ có thể làm tổn thương người khác và để lại vết thương lâu dài.
- Lí lẽ: Từ ngữ có thể làm tổn thương người khác, đặc biệt khi được nói ra trong lúc nóng giận, thiếu suy nghĩ; người nói thì quên nhanh nhưng người nghe thì nhớ mãi.
- Bằng chứng: Các câu nói dẫn chứng rất thực tế như "Có gì đâu mà làm quá vậy", "Bạn nhạy cảm quá"….
- Tác dụng:
+ Lí lẽ tạo nên tính logic, giúp người đọc nhận ra sự vô tâm mang tính phổ biến trong đời sống.
+ Bằng chứng mang tính cụ thể giúp người đọc soi chiếu vào chính mình, tăng sức thuyết phục.
=> Sự kết hợp giữa lí lẽ và bằng chứng giúp lập luận trở nên cụ thể, sinh động, thuyết phục và dễ tạo sự đồng cảm nơi người đọc.
Câu 4.
Phương pháp:
Nêu quan điểm đồng tình/không đồng tình (thường là đồng tình), giải thích ý kiến: giao tiếp tử tế là nói chân thành, tôn trọng, phù hợp chứ không phải chỉ nói lời dễ nghe
Lời giải chi tiết:
Em đồng tình với ý kiến.
Bởi lẽ, giao tiếp tử tế không phải là nói những điều dễ nghe để làm hài lòng người khác, mà là biết lựa chọn cách diễn đạt phù hợp, chân thành và tôn trọng đối phương. Trong nhiều trường hợp, chúng ta vẫn cần góp ý, phê bình hoặc nói lên sự thật, nhưng cần thể hiện bằng thái độ lịch sự, thiện chí. Điều đó vừa giúp người nghe tiếp nhận vấn đề tích cực hơn, vừa góp phần xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp.
Câu 5.
Phương pháp:
Chỉ ra điểm chung của hai ngữ liệu: đều nhấn mạnh sức mạnh của lời nói và sự cần thiết của việc lựa chọn từ ngữ phù hợp.
Lời giải chi tiết:
- Điểm gặp gỡ của hai ngữ liệu: Cả hai ngữ liệu đều gặp nhau ở việc khẳng định vai trò quan trọng của lời nói trong giao tiếp và nhắc nhở con người phải biết lựa chọn từ ngữ phù hợp.
- Định hướng lựa chọn từ ngữ trong giao tiếp cho bản thân:
+ Ý thức trước khi nói: Nhận thức rõ lời nói ra, cần suy nghĩ kỹ trước khi nói. Luôn hướng tới mục đích kết nối, thấu hiểu thay vì chia rẽ.
+ Chọn lọc từ ngữ phù hợp với ngữ cảnh và đối tượng giao tiếp.
+ Nói lời thẳng thắn nhưng đi kèm sự thấu cảm; không dùng lời hoa mỹ giả tạo nhưng cũng không dùng sự "thẳng tính" làm cái cớ để làm đau người khác.
II. VIẾT
Phương pháp:
Giới thiệu bài thơ, phân tích nội dung chủ đề (vẻ đẹp mùa xuân, tình yêu thiên nhiên, quê hương) kết hợp làm rõ nghệ thuật (hình ảnh, từ ngữ, biện pháp tu từ, giọng điệu). Kết bài khẳng định giá trị bài thơ và nêu cảm nhận bản thân.
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân đoạn
a. Chủ đề
- Chủ đề bài thơ: Ca ngợi vẻ đẹp tươi mới, rực rỡ của thiên nhiên và con người trong mùa xuân. Thể hiện niềm vui, sự say mê, tình yêu cuộc sống của tác giả trước cảnh sắc quê hương
- Biểu hiện chủ đề:
+ Nhan đề: "Bức tranh xuân": Gợi hình ảnh một bức tranh đầy màu sắc về mùa xuân. Cho thấy cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên, cuộc sống trong những ngày xuân.
+ Kết cấu bài thơ: Bài thơ được triển khai theo sự dịch chuyển không gian từ xa đến gần, từ bao quát đến cụ thể:
Khổ 1: Cái nhìn bao quát, say sưa trước cảnh sắc thiên nhiên vào xuân.
Khổ 2: Không gian mở rộng lên bầu trời cao và thu hẹp vào không khí lễ hội, con người.
Khổ 3: Điểm xuyết âm thanh đặc trưng và lời đúc kết, hoàn thiện "bức tranh".
+ Nội dung xoay quanh bức tranh thiên mùa xuân đẹp đẽ, rực rỡ sắc màu; Sự hòa quyện giữa sắc xuân đất trời và không khí tươi vui của lòng người và cuối cùng là âm thanh mùa xuân đã hoàn chỉnh bức tranh.
+ …
b. Đặc sắc nghệ thuật
- Thể thơ, nhịp thơ nhẹ nhàng, giàu cảm xúc.
- Hình ảnh thơ tươi sáng, giàu sức gợi.
- Hệ thống từ ngữ, từ láy giàu chất họa và chất nhạc: Các từ láy mô phỏng âm thanh, trạng thái: lắc rắc, là đà, lồng lộng, nõn nà, thánh thót, … giúp cảnh vật hiện lên đa chiều, vừa có hình, vừa có tiếng.
- Sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ:
+ So sánh: "Như áo em sắc lụa nõn nà xanh".
+ Nhân hóa: "gió như hát", "bướm và ong chơi vũ điệu".
+ ..
- Giọng thơ vui tươi, tha thiết, giàu chất trữ tình.
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Đề thi vào 10 môn Văn An Giang năm 2025
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm)
Đọc bài thơ:
NHỚ DỪA
Ta thèm chút nắng quê hương
Màu xanh mịn, lá dừa vương trên đầu
Ta thèm mà chẳng thấy đâu
Dừa ơi ta muốn ôm sâu vào người
Muốn hôn màu lá xanh tươi
Phải chăng dừa đấy là người thương yêu.
Con sông nước chảy sớm chiều
Bóng hàng dừa đứng, xiêu xiêu mấy hàng
Nhớ như dòng nước chảy ngang
Đôi bờ nước xoáy xốn xang cả lòng
Xa nhau đã tám năm ròng
Ngóng trông ngày ngắn, ngóng trông đêm dài.
Tám năm ta nhớ không sai
Bao ngày mưa nắng, bao ngày, dừa ơi
Dù cho nắng cháy lưng trời
Dù cho mưa gió dập vùi từng cơn
Mưa rồi, màu lá xanh rờn hơn xưa
Nhớ thương nào biết sớm trưa
Hồn ta thắm mãi bóng dừa trong xanh
Sớm mai nắng biếc trên cành
Đến đêm trời cũng màu xanh lá dừa.
(Lê Anh Xuân, in trong Thơ Lê Anh Xuân, NXB Văn học, 1981, tr.37,38)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,75 điểm) Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2. (0,75 điểm) Chỉ ra ba từ được nhà thơ sử dụng để miêu tả màu xanh của lá dừa
Câu 3. (1,0 điểm) Điệp từ “ngóng trông" trong câu thơ Ngóng trông ngày ngắn, ngóng trông đêm dài có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện tình cảm của nhà thơ đối với quê hương đất nước?
Câu 4. (1,0 điểm) Hình tượng cây dừa quê hương được miêu tã như thế nào qua các dòng thơ in đậm?
Câu 5. (1,5 điểm) Từ mạch cảm xúc của tác giả thể hiện trong bài thơ, em suy nghĩ gì về vai trò của quê hương trong trái tim mỗi con người? (trình bày khoảng 4 - 6 dòng).
II. VIẾT (5,0 điểm)
Bên cạnh học tập và rèn luyện, việc giải trí luôn là nhu cầu rất cần thiết. Tuy nhiên, hiện nay còn nhiều học sinh chưa biết cách giải trí phù hợp.
Viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) bàn về việc giải trí lành mạnh và đề xuất một số giải pháp để lựa chọn hình thức giải trí phù hợp cho học sinh.
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Đếm số tiếng ở mỗi dòng thơ và quan sát cách gieo vần, nhịp thơ
Lời giải chi tiết:
Thể thơ lục bát
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ các câu thơ nói về lá dừa, tìm những từ ngữ trực tiếp miêu tả sắc xanh
Lời giải chi tiết:
3 từ miêu tả màu xanh của lá dừa: xanh mịn, xanh tươi, xanh rờn
Câu 3.
Phương pháp:
Xác định từ được lặp lại và phân tích tác dụng nhấn mạnh cảm xúc. Làm rõ nỗi nhớ, sự mong chờ da diết, sâu nặng của tác giả đối với quê hương.
Lời giải chi tiết:
Tác dụng:
- Việc lặp lại từ “ngóng trông” giúp nhấn mạnh nỗi nhớ da diết, sự mong ngóng khắc khoải từng ngày, từng đêm của nhà thơ dành cho quê hương.
- Nó làm tăng tính nhạc điệu cho câu thơ, đồng thời bộc lộ tình cảm chân thành, tha thiết của người con xa quê luôn hướng về nơi chôn nhau cắt rốn.
Câu 4.
Phương pháp:
Đọc các dòng thơ in đậm, chú ý từ ngữ miêu tả hình dáng, màu sắc, sức sống của cây dừa. Nhận xét vẻ đẹp và ý nghĩa biểu tượng của hình tượng dừa quê hương.
Lời giải chi tiết:
Cây dừa hiện lên với hình ảnh: dù mưa dập, gió vùi, nắng cháy thì nước dừa ngọt the hơn, lá xanh rờn hơn xưa
Câu 5.
Phương pháp:
Từ cảm xúc nhớ thương quê hương của tác giả, nêu suy nghĩ về vai trò của quê hương: nơi nuôi dưỡng tâm hồn, lưu giữ kỉ niệm, tạo động lực và điểm tựa tinh thần. Liên hệ nhận thức hoặc trách nhiệm của bản thân với quê hương.
Lời giải chi tiết:
Vai trò quê hương:
- Quê hương là cội nguồn yêu thương, là nơi nuôi dưỡng tuổi thơ và chắp cánh cho mỗi người bước vào đời.
- Quê hương không chỉ là ký ức mà còn là điểm tựa tinh thần, giúp ta vững vàng vượt qua khó khăn và luôn biết hướng về nguồn cội.
- …
II. VIẾT
Phương pháp:
Giới thiệu vấn đề
Giải thích giải trí lành mạnh, biểu hiện của giải trí chưa phù hợp và thực trạng hiện nay.
Phân tích lợi ích của giải trí đúng cách, hậu quả của giải trí thiếu kiểm soát; nêu nguyên nhân.
Đề xuất giải pháp
Phản đề, liên hệ bản thân và khẳng định lại vấn đề
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề:
2. Thân bài
* Giải thích:
- Giải trí: Là những hoạt động giúp con người thư giãn, nghỉ ngơi sau những giờ học và làm việc căng thẳng.
- Giải trí lành mạnh: Là những hoạt động vui chơi bổ ích, vừa giúp giải tỏa căng thẳng, vừa không ảnh hưởng đến sức khỏe, đạo đức và học tập.
* Vai trò của việc giải trí lành mạnh
- Giúp thư giãn đầu óc, tái tạo năng lượng.
- Giúp rèn luyện thể chất, nâng cao sức khỏe.
- Tạo cơ hội giao lưu, học hỏi kỹ năng sống.
- Làm cho cuộc sống thêm phong phú, vui tươi, giảm stress.
- Góp phần cân bằng giữa học tập và vui chơi, tránh xa các tệ nạn xã hội.
* Thực trạng: Nhiều học sinh chưa biết lựa chọn hình thức giải trí phù hợp. Một số em sa đà vào trò chơi điện tử, mạng xã hội, phim ảnh độc hại. Tình trạng nghiện game, nghiện mạng dẫn đến học tập sa sút, sức khỏe giảm sút.
* Nguyên nhân: Thiếu sự định hướng từ gia đình, nhà trường. Ảnh hưởng của công nghệ số, mạng xã hội. Thiếu sân chơi lành mạnh, bổ ích.
* Giải pháp:
- Mỗi học sinh nên lựa chọn các hình thức giải trí phù hợp: đọc sách, chơi thể thao, vẽ tranh, nghe nhạc, tham gia câu lạc bộ, các trò chơi dân gian.
- Biết phân bổ thời gian hợp lý giữa học tập và giải trí.
- Bên cạnh đó gia đình cũng cần quan tâm, định hướng cho con em cách giải trí lành mạnh. Tạo điều kiện cho con tham gia các hoạt động vui chơi, ngoại khóa.
- Nhà trường cũng cần tổ chức các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ thể thao, văn nghệ, kỹ năng sống. Xây dựng sân chơi, không gian vui chơi an toàn, lành mạnh cho học sinh.
HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp
* Bài học nhận thức hành động
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận
Đề thi vào 10 môn Văn An Giang năm 2023
Đề bài
I. ĐỌC HIỀU
Đọc kĩ văn bản và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Khóa 1935 - 1936, có một giáo sư, khoảng 40 tuổi, đâu như từ trường Thành Chung, Lạng Sơn đổi về dạy lớp tôi dạy môn văn. Lần đầu gặp, tôi thấy ở người thầy giáo mới này một vẻ gì đó rất nho nhã, rất đáng yêu và dĩ nhiên đáng kính. Đó là thầy Hoàng Ngọc Phách”,
Đến khi tôi lập gia đình, một điều không ngờ hóa ra ông trời run rủi thế nào mà vợ tôi lại là chị con bác của thầy Hoàng Ngọc Phách.
Một ngày Tết, ở thị xã Bắc Ninh, tôi và vợ đến chúc tết họ hàng nội ngoại thì người thầy rất kính yêu của mình lại chạy ngay ra cửa đón chào, gọi tôi bằng bác, một điều “thưa bác", hai điều "thưa bác” khiến lúc đầu tôi rất lúng túng, ngượng nghịu chưa biết như thế nào. Còn vợ tôi thì cứ thản nhiên gọi thầy giáo của tôi bằng "cậu" và tự xưng là “chị”, mặc dù vợ tôi kém “cậu em” đến trên 20 tuổi. Thế mới biết, cách xưng hô ở ngôn
ngữ của ta thật là khó vì nỗi quá chi li khe khắt, quá phức tạp trong quan hệ họ hàng, xã hội.
Tôi tự trấn tĩnh và nói với thầy:
- Năm mới, con đến chúc thầy và gia đình có nhiều sức khỏe và thành đạt trong mọi việc của đời sống ạ!
Khi trở về nhà, vợ tôi phàn nàn:
- Sao mình lại xưng “con” với cậu ấy? Cậu ấy là em mình chứ.
Tôi cười, đáp:
- Anh phải tôn trọng cái điều có trước. Trước khi làm chồng em, anh đã là học trò của ông Phách từ lâu rồi. Người thầy giáo ấy đã có công lớn đào tạo được ra anh hôm nay đấy em ạ!
(Theo hồi tưởng của nhà thơ Hoàng Cầm, trích Thầy tôi, NXB Trẻ, 2004)
Câu 1. Cho biết phương thức biểu đạt chính của văn bản? (0,5 điểm)
Câu 2. Xác định từ loại (danh từ, động từ, tính từ) trong các từ sau: thầy giáo, chạy, khó, học trò. (0,5 điểm)
Câu 3. Với vai họ hàng, người thầy Hoàng Ngọc Phách gọi nhân vật “tôi” (học trò của mình) bằng gì? (0,5 điểm)
Câu 4. Nội dung chính của văn bản? (0,5 điểm)
Câu 5. Tìm các từ thuộc một trường từ vựng và đặt tên cho trường từ vựng đó. (1.0 điểm)
Câu 6. Em suy nghĩ như thế nào về lời đáp của nhân vật “tôi” với vợ: “Anh phải tôn trọng cải điều có trước. Trước khi làm chồng em, anh đã là học trò của ông Phách từ lâu rồi. Người thầy giáo ấy đã có công lớn đào tạo được ra anh hôm nay đấy em ạ! (1,0 điểm)
II. LÀM VĂN
Cảm nhận về tâm trạng nhân vật ông Hai (trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân), từ lúc ông nghe tin làng mình theo giặc và khi tin ấy được cải chính.
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: tự sự.
Câu 2:
Phương pháp:
Căn cứ bài từ loại.
Cách giải:
Danh từ: thầy giáo, học trò.
Động từ: chạy.
Tính từ: khó.
Câu 3:
Phương pháp:
Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Trong vai họ hàng thầy đã gọi nhân vật tôi là: bác.
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Nội dung chính của văn bản: Sự phức tạp trong lối xưng hô và truyền thống tôn sư trọng đạo.
Câu 5:
Phương pháp:
Căn cứ bài trường từ vựng.
Cách giải:
Trường từ vựng xưng hô trong gia đình: vợ, bác, cậu, mình, chị, con.
Câu 6:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Câu nói của người chồng cho thấy anh là người tôn sư trọng đạo, trân trọng và tôn quý những gì thầy đã giảng dạy cho mình. Qua đó còn thấy được nhân vật tôi là người sống “biết trước biết sau”, trân trọng, biết ơn công lao người đã dìu dắt mình.
I. LÀM VĂN
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
– Giới thiệu tác giả Kim Lân và truyện ngắn Làng: Truyện ngắn “Làng” của Kim Lân đã ca ngợi về tinh thần cách mạng và lòng yêu nước đó của người dân Việt Nam, cụ thể là nói về một người nông dân có tình cảm gắn bó với làng, với quê hương và đất nước sâu sắc.
- Giới thiệu nội dung cần phân tích.
2. Thân bài:
a. Khái quát về nhân vật ông Hai:
– Truyện kể về ông Hai, một người yêu làng và gắn bó với làng, lúc nào ông cũng khoe về làng của mình
– Ông cứ kể say sưa trong niềm nhớ thương về làng mà không cần biết người nghe có chú ý hay không.
b. Tình cảm của ông Hai đối với làng chợ Dầu:
– Ông tự hào về làng mình từ cơ sở vật chất cho tới cái sinh phần của tổng đốc làng ông, vinh dự vì làng có bề dày lịch sử. Sau cách mạng ông khoe về tinh thần cách mạng của làng ông, ngay cả cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập, ông khoe những hố, ụ và hào.
c. Diễn biến tâm lý của nhân vật ông Hai khi nghe tin làng theo Tây:
– Khi ông nghe tin làng mình theo Tây, “cổ họng ông nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân”, ông lặng đi tưởng như không thở được
– Ông hỏi đi hỏi lại nhiều lần rồi lẳng lặng bỏ đi trong nỗi đau đớn và nhục nhã khi biết làng mình theo giặc
– Khi về nhà, ông nằm vật ra giường, đêm đó trằn trọc không ngủ được.
+ Ông nhìn đám trẻ ngây thơ mà bị mang tiếng Việt gian rồi khóc.
+ Ông điểm lại mọi người trong làng nhưng thấy ai cũng có tinh thần cả nên ông vẫn không tin lại có ai làm điều nhục nhã ấy.
+ Tâm trạng ông bị ám ảnh, day dứt và mặc cảm với thân phận là người của làng Việt gian bán nước.
+ Bên tai ông đầy rẫy tiếng chửi bọn Việt gian, ông chẳng làm được gì, chưa thể đối mặt với điều đó, ông chỉ biết cúi gằm mặt mà đi
+ Khi mụ chủ nhà muốn đuổi gia đình ông đi bởi ông là người làng Chợ Dầu, ông thoáng nghĩ về lại làng nhưng ông đã gạt phăng đi, ông dứt khoát “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”
d. Niềm sung sướng và vui mừng khi biết làng không phải Việt gian:
– Ông đi từ đầu làng tới cuối làng để khoe tin làng mình không theo giặc, ông tìm gặp ông Thứ để thanh minh về làng mình, khoe cả việc nhà ông bị đốt cháy một cách sung sướng, hả hê, bởi đó là minh chứng rõ nhất cho việc làng ông không phải Việt gian bán nước.
3. Kết bài:
– Khẳng định giá trị nghệ thuật và nội dung của truyện ngắn: tác giả đã cho người đọc hình dung được một thời kì chống Pháp sôi nổi của nhân dân, tinh thần trung kiên với Cách mạng và một lòng theo Bác, kháng chiến đến cùng
– Qua diễn biến tâm trạng của ông Hai ta thấy được tình yêu làng sâu sắc và tình yêu nước thiết tha gắn với tinh thần kháng chiến của ông.
Đề thi vào 10 môn Văn An Giang năm 2022
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3 điểm)
[1] Ở một ngôi làng nọ, có người đàn ông trung niên sống với đứa con trai. Một hôm trời đẹp, người cha rủ con trai đi vào rừng dạo chơi. Cậu con trai vô cùng hào hứng đi cùng bố. Hai cha con đi đến đoạn đường uốn lượn thì dừng lại. Trong một phút trầm lặng ngắn ngủi, người cha hỏi còn: “Con trai! Ngoài tiếng chim đang hót ra, con còn nghe được tiếng gì khác không?”
Cậu bé sau một hồi lắng nghe liền trả lời cha: “Cha ơi, con còn nghe được cả tiếng xe ngựa nữa ạ!”
Người cha nói tiếp: “Đúng rồi! Đó là một chiếc xe ngựa trống, không chở gì cả.” Cậu con trai ngạc nhiên hỏi lại: “Chúng ta còn chưa nhìn thấy nó, sao cha lại biết đó là chiếc xe ngựa trống rỗng?”
Người cha đáp: “Từ âm thanh con có thể dễ dàng nhận ra đó là một chiếc xe trống không. Xe ngựa càng trống rỗng thì âm thanh sẽ càng to. Về sau này, cậu con trai trưởng thành, là một người thông minh, giỏi giang và thành đạt. Mỗi lần cậu chứng kiến một ai đó dùng lời lẽ ba hoa, thô lỗ để nói chuyện, tự cho là mình đúng, tự cao tự đại, hạ thấp người khác thì cậu đều nhớ đến lời nói của cha vẫn như đang văng vẳng bên tại mình: “Xe ngựa càng trống rỗng thì âm thanh sẽ càng to”
[2] Người có thể dùng tâm thái bình tĩnh, khiêm nhường để nói chuyện với người khác thì sẽ tránh được việc cãi vã, hiềm khích giữa đôi bên. Người như vậy cũng sẽ càng học được cách lắng nghe, thấu cảm với người khác, mà lại không cường điệu, khoa trương chính mình!
Cho nên, sông sâu tĩnh lặng, lúa chín củi đầu luôn là phương châm tu dưỡng đạo đức, quan hệ ứng xử cần thiết trong cuộc sống của mỗi người.
(Theo Báo Giáo dục và Thời đại Online, Người càng hiểu biết càng khiêm nhường, 03/8/2016)
Trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của phần [1] văn bản.
Câu 2. Xét về thành phần câu, cụm từ: “Cha ơi” trong câu: “Cha ơi, con còn nghe được cả tiếng xe ngựa nữa ạ!” thuộc thành phần biệt lập gì?
Câu 3. Xác định tên và chỉ ra phần phụ trước, phần trung tâm và phần phụ sau của câu: một chiếc xe trống không.
Câu 4. Em hiểu như thế nào về nội dung ý nghĩa hai cụm từ: “sông sâu tĩnh lặng, lúa chín cúi đầu”?
Câu 5. Nếu thay từ “cúi” bằng từ “gục” trong cụm từ: “lúa chín cúi đầu” thì ý nghĩa cụm từ có thay đổi không? Vì sao?
Câu 6. Hãy nêu bài học ý nghĩa nhất đối với em rút ra từ văn bản trên.
II. LÀM VĂN (5.0 điểm) Cảm nhận của em về bức tranh thiên nhiên và con người lao động qua các khổ thơ sau trích từ bài Đoàn thuyền đánh cá.
Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa máy cao với biên bằng,
Ra đấu dặm xa dò bụng biển.
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tư buổi nào.
Sao mờ, kéo lưới kip trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng.
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông,
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.
Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cả huy hoàng muôn dặm phơi.
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1:
|
Xác định phương thức biểu đạt chính của phần [1] văn bản. |
Phương pháp: Căn cứ bài các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: tự sự
Câu 2:
|
Xét về thành phần câu, cụm từ: “Cha ơi” trong câu: “Cha ơi, con còn nghe được cả tiếng xe ngựa nữa ạ!” thuộc thành phần biệt lập gì? |
Phương pháp: Căn cứ bài các thành phần biệt lập.
Cách giải:
Thành phần biệt lập gọi đáp.
Câu 3:
|
Xác định tên và chỉ ra phần phụ trước, phần trung tâm và phần phụ sau của câu: một chiếc xe trống không. |
Phương pháp: Căn cứ bài về cụm từ.
Cách giải:
Phụ trước: một
Trung tâm: chiếc xe
Phụ sau: trống không
Câu 4:
|
Em hiểu như thế nào về nội dung ý nghĩa hai cụm từ: “sông sâu tĩnh lặng, lúa chín cúi đầu”? |
Phương pháp: Phân tích.
Cách giải:
Ý nghĩa: Câu nói khuyên chúng ta trong cuộc sống cần biết khiêm tốn. Sự khiêm nhường, khiêm tốn giúp con người có được thành công
Câu 5:
|
Nếu thay từ “cúi” bằng từ “gục” trong cụm từ: “lúa chín cúi đầu” thì ý nghĩa cụm từ có thay đổi không? Vì sao? |
Phương pháp: Phân tích, lí giải.
Cách giải:
Có thay đổi vì từ “cúi” mang tâm thế chủ động khiêm nhường, còn từ “gục” thể hiện sự bất lực, chịu thua, đầu hàng trước hoàn cảnh của chủ thể, khác hoàn toàn với ý nghĩa ban đầu của cụm từ “Lúa chín cúi đầu”
Câu 6:
|
Hãy nêu bài học ý nghĩa nhất đối với em rút ra từ văn bản trên. |
Phương pháp: Phân tích.
Cách giải:
Bài học ý nghĩa nhất đối với em qua văn bản trên là phải biết sống khiêm nhường, tu dưỡng đạo đức, bình tĩnh để có cách ứng xử khéo léo, thể hiện sự tôn trọng đối với người khác.
II. LÀM VĂN:
|
Cảm nhận của em về bức tranh thiên nhiên và con người lao động qua các khổ thơ sau trích từ bài Đoàn thuyền đánh cá. Mặt trời xuống biển như hòn lửa. Sóng đã cài then, đêm sập cửa. Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa máy cao với biên bằng, Ra đấu dặm xa dò bụng biển. Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Ta hát bài ca gọi cá vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tư buổi nào.
Sao mờ, kéo lưới kip trời sáng, Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng. Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông, Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.
Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới, Mắt cả huy hoàng muôn dặm phơi. |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Huy Cận, tác phẩm Đoàn thuyền đánh cá.
- Giới thiệu về bức tranh thiên nhiên và con người lao động trong 5 khổ được trích.
2. Thân bài
a. Bức tranh thiên nhiên
* Được xây dựng trên nền của một buổi hoàng hôn tuyệt đẹp.
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa”
- Hình ảnh so sánh độc đáo trong câu 1:
+ Điểm nhìn nghệ thuật: nhìn từ con thuyền đang ra khơi.
+ Thời gian: hoàng hôn => sự vận động của thời gian.
+ Quang cảnh hùng vĩ của bầu trời lúc chiều tà -> vẻ đpẹ kì vĩ, tráng lệ của cảnh hoàng hôn trên biển.
- Biện pháp tu từ nhân hóa :
+ Được sáng tạo từ chi tiết thực : những con sóng cài ngang như chiếc then cửa của vũ trụ. Bóng đêm “sập cửa” gợi khoảnh khắc ánh ngày vụt tắt và màn đêm bất ngờ buông xuống bao trùm tất cả.
+ Gợi không gian vũ trụ rộng lớn, mênh mông, kì vĩ mà vẫn gần gũi, ấm áp như ngôi nhà của con người.
* Hình ảnh đoàn thuyền được tái hiện chân thực, sinh động hơn:
- Không gian vũ trụ bao la được mở ra nhiều chiều:
+ Cao: bầu trời. mặt trăng.
+ Rộng: mặt biển.
+ Sâu: lòng biển.
- Để thấy đoàn thuyền đánh cá hoàn toàn tương xứng với không gian ấy:
+ Khi sóng biển cồn lên, cánh buồm như chạm vào cả mây trời.
+ Khi buông lưới con thuyền như dò thấu tận đáy đại dương.
+ Hệ thống động từ: “lái”, “lướt”… -> tư thế làm chủ của đoàn thuyền…
+ Hệ thống hình ảnh: “lái gió”, “buồm trăng”, “mây cao”, “biển bằng” -> con thuyền như mang sinh lực của
đất trời để đánh cá trên biển.
- “Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao”
+ Không phải con người gõ thuyền gọi cá mà là trăng cao gõ, vì vậy bức tranh không chỉ có màu sắc, hình ảnh mà còn có âm thanh rộn rã
- “Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông”
+ Khi mẻ lưới được kéo lên, những con cá quẫy dưới ánh sáng của rạng đông lóe lên màu sắc độc đáo: từ “bạc”, “vàng” vừa gợi màu sắc ánh sáng, vừa gợi sự quý giá, giàu có của biển cả ban tặng cho con người cần cù, dũng cảm
- “Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”
+ Hai câu thơ mở ra một tương lai thật kì vĩ, chói lọi, Huy Cận đã rất tinh tế khi miêu tả sự vận hành của vũ trụ. Mặt trời nhô lên trên sóng nước màu xanh lam, tỏa ánh nắng rực rỡ, khiến cảnh biển bừng sáng, con thuyền trở về với khoang cá tươi, ... Đó là một khung cảnh huy hoàng giữa bầu trời hoàng hôn thiên nhiên và thành quả lao động của con người
b. Con người lao động
* Hình ảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi :
- “Lại” :
+ Chỉ một sự kiện lặp đi lặp lại.
+ Chỉ sự trái chiều vì khi vũ tru đã kết thúc một ngày dài để lắng vào yên nghỉ thì đoàn thuyền đánh cá lại bắt đầu một cuộc lao động mới.
=> Gợi một nhịp sống thanh bình của quê hương, đất nước. Sau bao năm tháng chiến tranh con ngườ Việt Nam mới có một cuộc sống lao động bình yên.
- “Câu hát căng buồm cùng gió khơi” :
+ Kết hợp hai hình ảnh: “câu hát” – “gió khơi” -> cụ thể hóa sứ mạnh đưa con thuyền ra khơi.
+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “câu hát căng buồm” -> tái hiện vẻ đẹp tâm hồn, niềm vui lao động của người dân chài.
=> Đoàn thuyền ra khơi trong niềm vui lao động.
- Gợi hình tượng người lao động trên biển:
+ Tầm vóc lớn lao sánh cùng vũ trụ.
+ Làm chủ cả vũ trụ.
- “Ta hát bài ca gọi cá vào”
+ Tiếng hát căng tràn mặt biển, gọi cá vào. Đó là khúc ca lao động khỏe khoắn, mạnh mẽ, gợi lên sự thân thiết, niềm vui, tình yêu lao động và sức mạnh, khát khao chinh phục biển cả.
- “Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
+ Hình ảnh con người nổi bật trên nền trời đang sáng dần, ửng hồng: Những đôi tay kéo lưới thoăn thoắt gợi lên sự khỏe khoắn, rắn ròi, bắp tay cuồn cuộn của người dân chài khi kéo về mẻ cá nặng.
- “Câu hát căng buồm với gió khơi”
+ Câu hát theo suốt cuộc hành trình của người dân chài. Lúc ra đi là tiếng hát lạc quan, tin tưởng khi trở về con thuyền sẽ đầy ắp cá tươi, còn khi về là khúc ca vui sướng, tự hào trước thành quả lao động sau một đêm vất vả.
+ Cấu trúc lặp khiến tiếng hát vang lên như một điệp khúc ngân nga, nhấn mạnh niềm vui lao động làm giàu quê hương của những con người kiên cường, mạnh mẽ, tràn đầy sinh lực
- “Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”
+ Đoàn thuyền được đặt sánh ngang với hình ảnh mặt trời. Huy Cận đã lấy một sự vật bé nhỏ, bình dị để ngầm so sánh với hình vĩ đại của thiên nhiên. Những người dân chài ấy trở về trong tư thế sánh ngang với vũ trụ, thậm chí trong cuộc chạy đua với tự nhiên ấy họ đã chiến thắng. Con người hiện lên thật mạnh mẽ, chiến thắng và làm chủ thiên nhiên
c. Mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người
- “Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào”
+ Gợi lên sự giao hào, thân thiết, ưu ái con người với biển quê hương rất ân tình, thể hiện sự biết ơn, trân trọng của con người với biển cả hùng vĩ. Biển được ví như người mẹ với người dân chài, thể hiện tình yêu, lòng biết ơn, trân trọng và gắn bó như ruột thịt
- “Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng”: tạo sự vận hành vũ trụ, con người mong muốn chía sẻ niềm vui với ánh bình minh, cuộc sống mở ra khung cảnh mới mẻ, đầy sức sống
3. Kết bài
- Nội dung:
+ Tái hiện thành công vẻ đẹp thể hiện khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, đẹp đẽ, lãng mạn của biển cả và những người lao động mới.
+ Khám phá, ngợi ca: Sự giàu có, hào phóng của thiên nhiên, đất nước và tầm vóc lớn lao của nhân dân lao động trong công cuộc xây dựng đất nước.
- Nghệ thuật:
+ Ngòi bút tràn đầy cảm hứng vũ trụ, sự chan hòa giữa con người và thiên nhiên.
+ Hình ảnh phong phú.
+ Âm hưởng lạc quan phơi phới.
Đề thi vào 10 môn Văn An Giang năm 2021
Đề bài
PHẦN I (3.0 điểm) Đọc kĩ văn bản và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Tôi yêu chuyện cổ nước tôi
Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa
Thương người rồi mới thương ta
Yêu nhau dù mấy cách xa cũng tìm
Ở hiền thì lại gặp hiền
Người ngay thì gặp người tiên độ trì
Thị thơm thì giấu người thơm
Chăm làm thì được áo cơm cửa nhà
Đẽo cày theo ý người ta
Sẽ thành khúc gỗ chẳng ra việc gì
Tôi nghe chuyện cổ thầm thì
Lời cha ông dạy cũng vì đời sau.
(Trích Chuyện cổ nước mình, Lâm Thị Mỹ Dạ, Tuyển tập, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2011, trang 203)
Câu 1. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ gì? (0,5 điểm)
Câu 2. Em hãy giải thích nghĩa của từ thơm1 và thơm2 trong câu: Thị thơm thị giấu người thơm. (1,0 điểm)
Câu 3. Cho biết tên hai truyện cổ mà tác giả gợi lên từ hai câu: Thị thơm thì giấu người thơm và Đẽo cày theo ý người ta. (0,5 điểm)
Câu 4. Em hiểu như thế nào về nội dung của hai câu thơ: (1,0 điểm)
Tôi yêu chuyện cổ nước tôi
Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm) Em hãy viết đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ về ý nghĩa giáo dục của các câu chuyện cổ tích, ngụ ngôn Việt Nam để thấy được đó là: Lời cha ông dạy cũng vì đời sau.
Câu 2. (5,0 điểm) Cảm nhận của em về bức chân dung Thúy Vân và Thúy Kiều được Nguyễn Du khắc họa qua đoạn trích sau từ Truyện Kiều:
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân.
Mai cốt cách thuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoàn trang,
Mây thua nước tóc thuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn:
Làn thu thủy nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hại.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm
Cung thương làu bạc ngữ ân,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
(Ngữ văn 9, Tập một, NXBGD 2005, trang 81)
Lời giải chi tiết
Phần I.
Câu 1.
|
Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ gì? |
Phương pháp: căn cứ các thể thơ đã học.
Cách giải:
Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2.
|
Em hãy giải thích nghĩa của từ thơm1 và thơm2 trong câu: Thị thơm thị giấu người thơm. |
Phương pháp: căn cứ bài Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của tư.
Cách giải:
Nghĩa của từ thơm (1) là mùi hương tỏa ta từ quả thị.
Nghĩa của từ thơm (2) ý nói đến con người nết na, đẹp người, đẹp nết.
Câu 3.
|
Cho biết tên hai truyện cổ mà tác giả gợi lên từ hai câu: Thị thơm thì giấu người thơm và Đẽo cày theo ý người ta. |
Phương pháp: căn cứ nội dung bài học.
Cách giải:
Hai câu chuyện được gợi ra từ câu thơ là truyện cổ tích Tấm Cám và truyện Đẽo cày giữa đường.
Câu 4.
|
Em hiểu như thế nào về nội dung của hai câu thơ: Tôi yêu chuyện cổ nước tôi Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa |
Phương pháp: phân tích.
Cách giải:
Học sinh có thể trình bày theo ý hiểu của mình về nội dung hai câu thơ và lý giải:
Gợi ý:
- Truyện cổ mang giá trị truyền thống.
- Thể hiện truyền thống, tình người.
- Là những bài học được đúc kết từ ngàn đời với những triết lý sâu xa.
Phần II.
Câu 1.
|
Em hãy viết đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ về ý nghĩa giáo dục của các câu chuyện cổ tích, ngụ ngôn Việt Nam để thấy được đó là: Lời cha ông dạy cũng vì đời sau. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở đoạn
- Giới thiệu khái khái vấn đề nghị luận
2. Thân đoạn
a. Truyện cổ tích
* Khái niệm:
- Truyện cổ tích là một thể loại văn học được tự sự dân gian sáng tác có xu thế hư cấu, bao gồm cổ tích thần kỳ, cổ tích thế sự, cổ tích phiêu lưu và cổ tích loài vật. Đây là loại truyện ngắn, chủ yếu kể về các nhân vật dân gian hư cấu, như tiên, yêu tinh, thần tiên, quỷ, người lùn, người khổng lồ, người cá, hay thần giữ của, và thường là có phép thuật, hay bùa mê.
- Truyện cổ tích có thể được phân biệt với truyện dân gian thần thoại khác như truyền thuyết (thường liên quan đến niềm tin vào tính xác thực của các sự kiện được mô tả) cũng như các câu chuyện về bài học đạo đức, bao gồm truyện ngụ ngôn về động vật.
* Ý nghĩa giáo dục của các câu chuyện cổ tích:
- Giúp trẻ được hòa nhập vào nhân vật, giúp các bạn hiểu hơn về cội nguồn dân tộc.
VD: Những câu truyện cổ tích đều được dân gian sáng tác và bắt nguồn từ long tự hào dân tộc.
- Truyện cổ tích ra đời nhằm hướng người đọc đến những cái đẹp hoàn mỹ, ở hiền chắc chắn sẽ gặp lành, thể hiện ước mơ và khát vọng về một cuộc sống tươi đẹp của nhân dân ta.
- Gửi gắ thông điệp tình thương giữa người với người. Sau khi nghe truyện, các bạn sẽ thấy trân trọng tình cảm gia đình hơn, tình yêu thương của cha mẹ, lòng hiếu thảo đối với ông bà.
=> Qua đó, câu chuyện sẽ là những điều để học hỏi phẩm chất tốt đẹp hình thành cảm xúc và lòng nhân ái như lời dạy của cha ông.
b. Truyện ngụ ngôn
* Khái niệm:
Là truyện kể dân gian bằng văn xuôi hay bằng thơ, mượn chuyện về loài vật, đồ vật, cây cỏ... làm ẩn dụ, hoặc chính chuyện con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện đời, chuyện người, nhằm nêu lên bài học luân lí.
* Dẫn chứng:
- Câu chuyện bó đũa: là bài học đáng quý về tình đoàn kết, một lần nữa khẳng định giá trị to lớn của tình đoàn kết trong cuộc sống. Ngoài ra cũng lên án mạnh mẽ những kẻ sống ích kỉ chỉ nghĩ đến bản thân
- Chuyện Đẽo cày giữa đường: sống cần có lập trường, ...
3. Kết đoạn
- Rút ra bài học hành động và nhận thức.
- Liên hệ bản thân.
Câu 2.
|
Cảm nhận của em về bức chân dung Thúy Vân và Thúy Kiều được Nguyễn Du khắc họa qua đoạn trích sau từ Truyện Kiều: Đầu lòng hai ả tố nga, Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân. Mai cốt cách thuyết tinh thần, Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười. Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang. Hoa cười ngọc thốt đoàn trang, Mây thua nước tóc thuyết nhường màu da. Kiều càng sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn: Làn thu thủy nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh. Một hai nghiêng nước nghiêng thành, Sắc đành đòi một tài đành họa hại. Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm Cung thương làu bạc ngữ ân, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương (Ngữ văn 9, Tập một, NXBGD 2005, trang 81) |
Phương pháp: phân tích, cảm nhận, tổng hợp.
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
- Tác giả: Nguyễn Du (1765– 1820), quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là một nhà thơ vĩ đại của nền văn học Việt Nam.
- Truyện Kiều là một kiệt tác của nền văn học Việt Nam, tác phẩm còn có tên gọi khác là “Đoạn trường tân thanh”, được viết dựa trên cốt truyện của “Kim Vân Kiều truyện” nhưng sự sáng tạo về nội dung và nghệ thuật là rất lớn. Tác phẩm thấm nhuần tinh thần nhận đạo cao dẹp và có giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc.
- Tác giả đã khắc họa thành công hình tượng nhân vật của mình đặc biệt là nhân vật Thúy Kiều nổi bật với tài và sắc trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”.
2. Phân tích, cảm nhận
Phân tích 12 câu thơ tả Kiều để thấy được những đặc sắc nội dung và nghệ thuật:
a. Vẻ đẹp của Thủy Vân:
- Ban đầu, Nguyễn Du gợi tả vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều từ hình ảnh thiên nhiên: mai, tuyết. Bút pháp ước lệ gợi ấn tượng về vẻ đẹp với cốt cách như mai, thanh tao, và cốt cách trong trắng, tinh khôi như tuyết
- Bốn câu thơ miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân :thanh cao, duyên dáng, trong trắng
+ Câu thơ “Vân xem trang trọng khác vời” khái quát được vẻ đẹp cao sang, quý phái của nàng.
+ Vẻ đẹp của Vân sánh với những thứ đẹp nhất từ tự nhiên như hoa, mây trăng, tuyết, ngọc
+ Chân dung của Thúy Vân dệp từ khuôn mặt, nụ cười, mái tóc, làn da, với phong thái điềm đạm (các chi tiết so sánh, ẩn dụ thú vị trong thơ)
→ Vẻ đẹp của Vân hơn mọi chuẩn mực của tự nhiên, khiến tự nhiên cúi đầu chịu ‘thua”, “nhường”, ắt hẳn cuộc đời nàng sẽ được an ổn, không sóng gió
b. Vẻ đẹp ngoại hình của Kiều:
- Nguyễn Du đã đặt Thúy Vân lên đầu, tả nàng trước, mặc dù nàng là em:
+ Vẻ đẹp của Thúy Vân: Dịu dàng, ôn nhu, khuôn mặt tròn trịa, đầy đặn, mắt phượng mày ngài
-> vô cùng đoan trang xinh đẹp, thiên nhiên cũng khuất phục trước vẻ đẹp của nàng "thua, nhường".
=> Tả Vân trước tả Kiều để làm nổi bật vẻ đẹp cùng tài năng của Kiều (nghệ thuật đòn bẩy, so sánh): "càng, lại".
+ Vẻ đẹp của Kiều ở đôi mắt "làn thu thủy": trong veo, êm dịu, đượm buồn như nước hồ mùa thu
+ Vẻ đẹp ở đôi mày "nét xuân sơn": như nét bút vẽ núi mùa xuân trong bức tranh thủy mặc.
=> Nghệ thuật lấy điểm tả diện: chỉ đặc tả đôi mắt, đôi mày nhưng hiện lên một khuôn mặt của một trang giai nhân tuyệt mỹ.
- Nhan sắc của Kiều: đẹp như hoa, yểu điệu như liễu nhưng vẻ đẹp vượt trên vẻ đẹp thông thường
-> khiến trời đất "ghen", "hờn", thiên nhiên đố kị.
=> Báo hiệu cuộc đời chông gai của Kiều.
- Sắc đẹp của Kiều ví như sắc đẹp của người con gái khiến cho quân vương say đắm mà mất đi quốc gia. -> Kiều mang vẻ đẹp của một giai nhân tuyệt mỹ, thế nhưng vẻ đẹp ấy khiến trời đất ghen tị dự báo cuộc đời lênh đênh của nàng sau này.
c. Tài năng của Kiều: Nhan sắc của Kiều xinh đẹp là vậy nhưng tài năng của nàng còn tuyệt vời hơn
- Tất cả tài năng của nàng đều được thiên phú, nàng am hiểu cả cầm - kỳ - thi - họa
-> người con gái lý tưởng trong xã hội phong kiến "pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm".
- Nàng am hiểu mọi thứ nhưng nổi bật nhất là thi ca, cầm chương nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương"
-> sáng tác khúc đàn bạc mệnh (khúc nhạc khiến ai cũng phải thương tâm, đau lòng).
=> Dự báo cuộc đời, vận mệnh bi kịch của nàng như khúc đàn Bạc mệnh.
d. Nghệ thuật:
- Vẻ đẹp cùng tài năng của Kiều đã ở mức tuyệt mỹ, khiến cho trời đất cũng phải ghen tị, đố kỵ -> báo hiệu cuộc đời khổ ải sau của nàng.
– Nghệ thuật lấy điểm tả diện, đòn bẩy, ước lệ được Nguyễn Du vận dụng để miêu tả vẻ đẹp tuyệt mỹ của Kiều.
3. Tổng kết vấn đề
Nêu cảm nhận về nhân vật Thúy Kiều:
- Nhân vật Kiều là nhân vật điển hình cho hình tượng người phụ nữ xưa
-> Ca ngợi phẩm giá của người phụ nữ.
– Lên án, tố cáo một xã hội bất công, thối nát đẩy con người vào tình cảnh éo le.
Đề thi vào 10 môn Văn An Giang năm 2020
Đề bài
I. PHẦN ĐỌC HIỂU: (3,0 điểm)
Đọc kĩ văn bản và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Việt Nam đã trải qua những ngày khó khăn. Trong khoảng thời gian hai tuần qua, số ca nhiễm đã tăng vọt lên gấp 4 lần. Nỗ lực và niềm tự hào khi dừng ở con số 16 bệnh nhân trước đó đã không còn, dịch Covid-19 đã có mặt ở hầu hết các thành phố lớn. Mọi người đều lo sợ và chuẩn bị tinh thần cho một bức tranh xấu có thể xảy ra.
Trong hoàn cảnh khó khăn và thời điểm tưởng chừng như xám xịt ấy, người ta lại thấy những điều cảm động và ấm áp của lòng nhân ái. Đó là hình ảnh doanh nghiệp hay cô ca sĩ nọ quyên góp một số tiền lớn cho đất nước chống địa dịch. Đó là hình ảnh những thùng mì tôm, những chai nước suối được trao đi vào khu cách ly. Đó là hình ảnh những chiếc máy ATM phát gạo miễn phí cho người khó khăn. Đó là hình ảnh những em nhỏ đóng góp tất cả tiền mừng tuổi của mình để quyên tặng khẩu trang cho người chưa có. Đó là chuyến bay đi thẳng vào tâm dịch ở Vũ Hán – Trung Quốc, Daegu – Hàn Quốc, London – Vương quốc Anh, … để đón những người chung dòng máu với chúng ta trở về. Và hơn cả, đó là hình ảnh những vị bác sĩ, y tá, điều dưỡng in hằn vết đồ bảo hộ, mồ hôi ướt sũng, kính nhòe đi, cả ngày không dám đi vệ sinh, kiên cường giúp bệnh nhân chống chọi với dịch bệnh.
Những chiến sĩ áo trắng ấy hiện lên đầy xúc động trong những câu thơ của bác sĩ Võ Ngọc Anh Thơ, Phó Trưởng khoa Bệnh Nhiệt đới – Bệnh viện Chợ Rẫy:
Thương lắm đồng nghiệp tôi miệt mài trong tâm dịch
Chẳng kịp tội thân mình, chẳng kịp nghĩ xa xôi
Thương lắm những giọt mồ hôi trong lớp áo
Ai đã thử rồi… đã biết khổ cùng nhau
Ngày Tết đã trôi mau, nỗi đau thì còn đó
Cuộc chiến vẫn xoay vòng, mong mỗi sự bình an
Người người còn lầm than… sao lo riêng thân mình được nữa
Hôn con rồi đi với trái tim rực lửa
Mai chị có về sau trận chiến vinh quang?
(Theo Youmed.vn, Dược sĩ Tạ Hoàn Thiện Quân, Bầu ơi thương lấy bí cùng)
Câu 1: Các từ khó khăn, kiên cường, xám xịt, chống chọi, từ nào là từ ghép, từ nào là từ láy? (1 điểm)
Câu 2: Tìm các từ thuộc một trường từ vựng và đặt tên cho trường từ vựng đó trong câu: “Và hơn cả, đó là hình ảnh những vị bác sĩ, y tá, điều dưỡng in hằn vết đồ bảo hộ, mồ hôi ướt sũng, kính nhòe đi, cả ngày không dám đi vệ sinh, kiên cường giúp bệnh nhân chống chọi với dịch bệnh”. (0.5 điểm)
Câu 3: Theo tác giả, trong những điều cảm động và ấm áp của lòng nhân ái, cao hơn hết là hình ảnh gì? (0.5 điểm)
Câu 4: Em hiểu như thế nào về nội dung hai câu thơ cuối: (1 điểm)
Hôn con rồi đi với trái tim rực lửa
Mai chị có về sau trận chiến vinh quang?
II. PHẦN LÀM VĂN: (7,0 điểm)
Câu 1: (2,0 điểm)
Từ nội dung của văn bản Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về những chiến sĩ áo trắng đã dũng cảm đi xung phong tuyến đầu trong cuộc chiến chống đại dịch Covid 19 vừa qua.
Câu 2: (5,0 điểm)
Phân tích diễn biến tâm lí qua hành động của bé Thu (từ lúc ông Sáu nghỉ phép về nhà đến lúc ông từ giá gia đình, bà con trở lại đơn vị) trong tác phẩm Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng.
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1:
|
Các từ khó khăn, kiên cường, xám xịt, chống chọi, từ nào là từ ghép, từ nào là từ láy? |
Phương pháp: Căn cứ vào bài học “Từ ghép, từ láy”
Cách giải:
- Từ ghép: kiên cường
- Từ láy: khó khăn, xám xịt, chống chọi.
Câu 2:
|
Tìm các từ thuộc một trường từ vựng và đặt tên cho trường từ vựng đó trong câu: “Và hơn cả, đó là hình ảnh những vị bác sĩ, y tá, điều dưỡng in hằn vết đồ bảo hộ, mồ hôi ướt sũng, kính nhòe đi, cả ngày không dám đi vệ sinh, kiên cường giúp bệnh nhân chống chọi với dịch bệnh”. |
Phương pháp: Căn cứ nội dung đoạn trích và tìm ý
Cách giải:
- Trường từ vựng chỉ con người: bác sĩ, y tá, điều dưỡng, bệnh nhân, …
Câu 3:
|
Theo tác giả, trong những điều cảm động và ấm áp của lòng nhân ái, cao hơn hết là hình ảnh gì? |
Phương pháp: Căn cứ vào nội dung đoạn trích và tìm ý
Cách giải:
Những điều cảm động và ấm áp của lòng nhân ái, cao hơn hết đó là hình ảnh những vị bác sĩ, ý tá, điều dưỡng in hằn vết đồ bảo hộ, mồ hôi ướt sũng, kíng nhòe đi, cả ngày không dám đi vệ sinh, kiên cường giúp bệnh nhân chống chọi với dịch bệnh.
Câu 4:
|
Em hiểu như thế nào về nội dung hai câu thơ cuối: Hôn con rồi đi với trái tim rực lửa Mai chị có về sau trận chiến vinh quang? |
Phương pháp: Căn cứ vào nội dung đoạn trích và tìm ý
Cách giải:
Hôn con rồi đi với trái tim rực lửa
Mai chị có về sau trận chiến vinh quang?
Nội dung:
Hình ảnh người mẹ - người bác sĩ từ biệt người con của mình lên đường chống chọi với dịch bệnh. Dẫu họ biết sẽ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, gian khổ, thậm chí là “không thể trở về”. Nhưng họ vẫn lên đường, vì họ biết rằng Tổ quốc đang cần họ, người bệnh đang cần họ, họ thấy mình cần phải có trách nhiệm với đất nước, với nhân dân.
Phần II
Câu 1.
|
Từ nội dung của văn bản Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về những chiến sĩ áo trắng đã dũng cảm đi xung phong tuyến đầu trong cuộc chiến chống đại dịch Covid 19 vừa qua. |
Phương pháp: phân tích, lí giải
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: những chiến sĩ áo trắng đã dũng cảm đi xung phong tuyến đầu trong cuộc chiến chống đại dịch Covid 19 vừa qua.
2. Giải thích vấn đề
- Các chiến sĩ áo trắng: chính là những vị bác sĩ, y tá, điều dưỡng kiên cường giúp bệnh nhân chống chọi với dịch bệnh trong cơn đại dịch vừa qua. Việc làm ấy đã khiến tất thảy mọi người ngưỡng mộ, biết ơn về sự hi sinh và nhiệt huyết trong công việc.
=> Những việc làm của những con người vĩ đại ấy chính là hiện thân của nghĩa cử cao đẹp của toàn nhân loại trước đại dịch của loài người.
3. Phân tích, bàn luận vấn đề
- Hành động cao đẹp của các chiến sĩ áo trắng trong đại dịch:
+ Các y bác sĩ, cán bộ nhân viên y tế gác lại cuộc sống thường nhật và túc trực ở bệnh viện.
+ Họ phải tạm rời xa gia đình, người thân yêu để chiến đấu với đại dịch.
+ Nhiều y bác sĩ không thể có một "nụ hôn" với đứa con thơ hay ở bên cạnh chăm sóc cha mẹ già đang trọng bệnh.
=> Nguy hiểm là vậy, gian khó là vậy nhưng những “chiến sĩ mặc áo trắng” của dân tộc Việt Nam anh hùng, những chiến sĩ ở tuyến đầu của trận chiến chống đại dịch vẫn luôn nêu cao ý trí, bản lĩnh, kiên cường, ngày đêm động viên, chăm sóc, bảo vệ tính mạng của bệnh nhân và đồng bào cả nước, có cả những người mang quốc tịch nước ngoài…
- Ý nghĩa của những hành động cao đẹp của các y bác sĩ:
+ Các y bác sĩ đang cùng chung tay giúp cho cộng đồng hạn chế và tránh sự lây lan của dịch bệnh.
+ Các y bác sĩ không tiếc thanh xuân, tuổi trẻ, không sợ dịch bệnh mà hy sinh hạnh phúc cá nhân, làm công việc hiểm nguy với tử thần.
=> Trong hoàn cảnh khó khăn, các y bác sĩ đã quên cả thân mình, gác lại hạnh phúc cá nhân để đem lại những điều đẹp đẽ nhất cho xã hội.
- Phê phán những người không chịu thay đổi để thích nghi, vẫn thích tiệc tùng, thích giao lưu và làm cho công cuộc chống dịch trở nên khó khăn, khiến các chiến sĩ áo trăng vất vả hơn trong bệnh viện.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Biến ơn và yêu kính những chiến sĩ đang giúp cho xã hội tốt đẹp hơn đặc biệt là những chiến sĩ áo trắng trong dịch bệnh vừa qua.
+ Rèn luyện ý chí, bản lĩnh… để vượt qua gian truân, thử thách và có thể giúp ích cho đất nước khi đất nước gọi tên.
4. Liên hệ bản thân và tổng kết
Câu 2.
|
Phân tích diễn biến tâm lí qua hành động của bé Thu (từ lúc ông Sáu nghỉ phép về nhà đến lúc ông từ giá gia đình, bà con trở lại đơn vị) trong tác phẩm Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng. |
Phương pháp: phân tích, cảm nhận, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Quang Sáng và truyện ngắn Chiếc lược ngà: Tác phẩm được sáng tác vào năm 1966 khi miền Bắc đang trong thời kỳ hòa bình còn miền Nam vẫn đang trong ách thống trị của đế quốc Mỹ. Nhiều người con đất Bắc phải lên đường vào Nam để tham gia cuộc kháng chiến ác liệt.
- Dẫn dắt vấn đề: Phân tích nhân vật bé Thu để thấy được tình cảm cha con sâu nặng không chiến tranh nào có thể tàn phá.
2. Phân tích, cảm nhận
* Khái quát cảnh ngộ của bé Thu: Ba đi chiến đấu từ khi bé còn rất nhỏ, nên hình ảnh người ba trong bé vô cùng ít ỏi. Gia đình chỉ cho bé xem hình ba mà thôi. Chính điều này đã gây ra những bi kịch giằng xé khi ba cô bé trở về thăm nhà mấy ngày sau tám năm xa cách.
1. Bé Thu là đứa bé bướng bỉnh, ương ngạnh
- Trong cuộc gặp gỡ đầu tiên, khi nghe tiếng ông Sáu ở bến xuồng, Thu “giật mình tròn mắt nhìn”. Nó ngơ ngác lạ lùng nhìn rồi bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên “má, má”.
- Trong 3 ngày ông Sáu nghỉ phép bé Thu bướng bỉnh không nhận cha:
+ Thu xa lánh ông Sáu trong khi ông Sáu luôn tìm cách vỗ về, Thu nhất quyết không chịu gọi tiếng ba
+ Má dọa đánh, Thu buộc phải gọi ông Sáu vô ăn cơm, nhờ ông chắt nước cơm nhưng lại nói trổng
+ Bị dồn vào thế bí nó nhăn nhó muốn khóc nhưng tự lấy rá chắt nước cơm chứ không chịu gọi ba
+ Thu hất tung cái trứng cá ra mâm, cơm văng tung tóe, bị ba đánh đòn nhưng cô không khóc mà chạy sang nhà ngoại
→ Bé Thu “cứng đầu” ương ngạnh nhưng giàu tình yêu thương cha
2. Bé Thu có tình yêu thương cha tha thiết, mãnh liệt
- Trước lúc ông Sáu lên đường
+ Tình cha con trở lại vào khoảnh khắc ly biệt ngắn ngủi đem lại cho người đọc xúc động nghẹn ngào
+ Trước khi ông Sáu vào chiến khu, bé Thu được bà giải thích vết thẹo trên má ông Sáu, con bé lăn lọn suốt đêm không ngủ được, nó ân hận rồi căm thù giặc và thương ba nó vô hạn
- Cuộc chia tay cảm động giữa ông Sáu và bé Thu
+ Bé Thu chia tay ba nhưng tâm trạng khác trước, nó không bướng bỉnh nhăn mày cau có nữa
+ Tiếng gọi ba cất lên trong sâu thẳm tâm hồn bé bỏng của con bé, sự khao khát tình cha con bị kìm nén bỗng bật lên, tiếng gọi suốt 8 năm chờ đợi
+ “Nó vừa kêu vừa chạy xô tới dang hai chân ôm lấy cổ ba nó”. Nó hôn khắp người ông Sáu và hôn cả vết sẹo dài trên má ông
+ Hai tay Thu ôm chặt cổ ba, chân quắp chặt lấy ba không muốn ông Sáu rời đi
→ Bé Thu có tình yêu thương cha mãnh liệt, vô bờ
3. Tổng kết vấn đề
- Tác giả thành công trong nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật đặc biệt tâm lý nhân vật trẻ em rất tinh tế, điều này thể hiện tấm lòng yêu thương của nhà văn với con người.
- Bé Thu là nhân vật được khắc họa với nhiều biến chuyển về tâm lý, ở em là đứa trẻ hồn nhiên, bướng bỉnh và giàu tình yêu thương vô bờ bến dành cho cha.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
