Đề thi vào 10 môn Văn Bắc Kạn
Đề thi vào 10 môn Văn Bắc Kạn năm 2025
Đề bài
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
Đất nước
có thể đó là một chú dế mèn
gọi mùa thu về chập chờn ngoài cửa lớp
là trái bồ kết để em gội tóc
thơm hoài trong hơi thở buổi tự tình
có thể là một sáng bình minh
chú gà gáy chùng chình trong gió sớm
đường đi học có cu cườm và bướm
cũng bay theo ấm áp mặt trời lên
đất nước là cây cỏ không tên
những Vô Danh đối đầu cùng giông bão
chân lấm tay bùn làm ra lúa gạo
là đêm trăng bên cái giếng đầu làng
em khua gầu làm vỡ ánh trăng tan
năm ấy tôi mới vừa mười bảy tuổi
sáng đầu thu trước sân nhà rụng đầy hoa bưởi
tôi đưa tay hứng lấy mối tình đầu.
(Trích Định nghĩa về Đất Nước, Lê Minh Quốc, in trong tập Tôi vẽ mặt tôi, Nxb Văn hóa - Thông tin, 1994)
Câu 1. Xác định thể thơ được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 2. Theo tác giả đất nước có thể là những gì?
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ được sử dụng trong hai dòng thơ sau: đất nước là cây cỏ không tên/những Vô Danh đối đầu cùng giông bão.
Câu 4. Tác giả đã bộc lộ tình cảm gì đối với đất nước qua đoạn trích?
Câu 5. Thông điệp có ý nghĩa nhất đối với bản thân em sau khi đọc đoạn trích là gì?
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích nét đặc sắc trong cách định nghĩa về đất nước của tác giả trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về giải pháp khắc phục lối sống vô cảm của một bộ phận giới trẻ hiện nay.
Lời giải chi tiết
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) |
Câu 1. (0,5 điểm) |
Thể thơ tự do |
|
Câu 2. (0,5 điểm) |
Theo tác giả, đất nước có thể là: một chú dế mèn, trái bồ kết, sáng bình minh, cây cỏ không tên, đêm trăng bên cái giếng đầu làng |
|
|
Câu 3. (1,0 điểm) |
- BPTT ẩn dụ: “cây cỏ không tên”, “những Vô Danh đối đầu cùng giông bão” - Tác dụng: + Gợi hình ảnh những con người bình dị, vô danh và ca ngợi sự hi sinh thầm lặng của họ vì đất nước. + Khẳng định đất nước được làm nên từ bao đóng góp không tên tuổi. + Thể hiện niềm tự hào và lòng biết ơn sâu sắc với nhân dân |
|
|
Câu 4. (1,0 điểm) |
Tình cảm yêu mến, tự hào và biết ơn sâu sắc đối với đất nước. |
|
|
Câu 5. (1,0 điểm) |
Gợi ý: - Đất Nước là những gì gần gũi, thân thuộc - Đất Nước là sự cống hiến thầm lặng của những con người có tên và không tên. - Niềm tự hào về Đất Nước trong quá khứ và hiện tại. - Niềm tin vào một Đất Nước vẫn trường tồn và tươi đẹp hơn trong tương lai. |
|
|
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) |
Câu 1. (2,0 điểm) |
1. Mở đoạn – Giới thiệu khái quát về đoạn trích: Trích từ bài thơ "Định nghĩa về Đất Nước" của Lê Minh Quốc. 2. Thân đoạn - Tác giả không định nghĩa đất nước bằng những khái niệm to lớn, mà bằng hình ảnh thân quen, gần gũi như: chiếc chổi đót, chăn bông, quả bầu, bát cơm, giếng nước, hoa bưởi... -> đất nước gắn bó với đời sống hằng ngày, với từng kỷ niệm, từng con người cụ thể. - “những Vô Danh đối đầu cùng giông bão”: đất nước còn được tác giả định nghĩa qua sự hi sinh thầm lặng của những con người vô danh -> tôn vinh công lao, sự đóng góp âm thầm mà vĩ đại của nhân dân. - Giá trị nghệ thuật: + Giọng thơ trầm lắng, tha thiết. + Sử dụng nhiều hình ảnh ẩn dụ, liệt kê, gần gũi với đời sống thường ngày. + Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi. 3. Kết đoạn - Khẳng định lại vấn đề: Đó là cách định nghĩa gần gũi, xúc động và sâu sắc về đất nước. |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
1. Mở bài - Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: giải pháp khắc phục lối sống vô cảm của một bộ phận giới trẻ hiện nay 2. Thân bài a. Giải thích - Vô cảm là thái độ lạnh lùng, thờ ơ, vô cảm, không quan tâm đến mọi người, mọi vật xung quanh. Bên cạnh đó, vô cảm còn là sự không rung cảm trước nỗi đau khổ, bất hạnh của người khác, của đồng loại. Người sống vô cảm là người ích kỉ, hẹp hòi, lạnh lùng, chúng ta không nên sống theo lối sống này. b. Thực trạng - Chỉ quan tâm đến bản thân, thờ ơ với mọi người và mọi việc xung quanh. - Khó đồng cảm, dửng dưng trước nỗi đau người khác, thường không sẵn sàng giúp đỡ. - Sống tách biệt tập thể, khi gặp khó khăn dễ rơi vào cô lập. - Dẫn chứng: HS đưa ra dẫn chứng phù hợp c. Nguyên nhân - Do cách sống vị kỷ của mỗi con người, thờ ơ với tất cả mọi thứ xung quanh. - Do nhịp sống, guồng quay hối hả, đầy tốc độ của xã hội thời hiện đại. - Tính chất của cuộc sống mang tính chất “đô thị hóa”, văn hóa làng xã ngày một mai một dần, cái khái niệm gọi là “tắt lửa tối đèn” cũng mất dần đi. d. Tác hại của việc sống vô cảm: - Làm mai một các giá trị đạo đức như tình yêu thương, lòng nhân ái, sự sẻ chia. - Gây rạn nứt các mối quan hệ trong gia đình, bạn bè, xã hội. - Tạo nên xã hội lạnh lùng, vô tâm, thiếu sự kết nối giữa con người với nhau. - Kìm hãm sự phát triển nhân cách, khiến con người trở nên ích kỷ, thờ ơ với mọi thứ xung quanh. e. Giải pháp - Nhà trường và gia đình cần chú trọng dạy trẻ biết yêu thương, sẻ chia, đồng cảm với người khác thông qua các môn học, hoạt động trải nghiệm, câu chuyện thực tế. - Khuyến khích giới trẻ tham gia các chương trình từ thiện, hiến máu, bảo vệ môi trường, giúp đỡ người khó khăn… để học cách quan tâm và sống vì cộng đồng. - Gia đình, nhà trường và xã hội cần tạo ra một môi trường đầy tình yêu thương, tôn trọng và gắn kết, từ đó nuôi dưỡng cảm xúc tốt đẹp trong giới trẻ. - Hướng dẫn giới trẻ tiếp cận thông tin nhân văn, tích cực trên mạng, tránh xa các nội dung độc hại, bạo lực gây chai sạn cảm xúc. - Tôn vinh những tấm gương biết hy sinh, yêu thương, giúp đỡ người khác để lan tỏa cảm hứng sống tử tế trong cộng đồng. - Phản đề: Trong xã hội vẫn còn rất nhiều người có tấm lòng nhân hậu, sống tình nghĩa, biết yêu thương chia sẻ, giúp đỡ mọi người. 3. Kết bài - Khẳng định lại vấn đề - Liên hệ bản thân |
Đề thi vào 10 môn Văn Bắc Kạn năm 2022
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) Đọc văn bản:
Năm tháng qua đi, bạn sẽ nhận ra rằng ước mơ không bao giờ biến mất. Kể cả những ước mơ rồ dại nhất trong lứa tuổi học trò - lứa tuổi bất ổn định nhất. Nếu bạn không theo đuổi nó, chắc chắn nó sẽ trở lại một lúc nào đó, day dứt trong bạn, thậm chí dằn vặt bạn mỗi ngày.
Nếu vậy, sao bạn không nghĩ đến điều này ngay từ bây giờ?
Sống một cuộc đời cũng giống như vẽ một bức tranh vậy. Nếu bạn nghĩ thật lâu về điềumình muốn vẽ, nếu bạn dự tính được càng nhiều màu sắc mình muốn thể hiện, nếu bạn càng chắc chắn về chất liệu mà bạn sử dụng, thì bức tranh trong thực tế cùng giống với hình dung của bạn. Bằng không có thể nó sẽ là những màu mà người khác thích, là bức tranh mà người khác ưng ý, chứ không phải bạn.
Đừng để ai đánh cắp ước mơ của bạn. Hãy tìm ra ước mơ cháy bỏng nhất của mình, nó đang nằm ở nơi sâu thẳm trong tim bạn đó, như một ngọn núi lửa đợi chờ được đánh thức.
(Theo Phạm Lữ Ân, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, NXB Hội Nhà văn, 2012)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Chỉ ra phép liên kết câu trong phần trích sau: Đừng để ai đánh cắp ước mơ của bạn. Hãy tìm ra ước mơ cháy bỏng nhất của mình.
Câu 2. Theo tác giả, nếu không theo đuổi ước mơ thì bạn sẽ cảm thấy như thế nào?
Câu 3. Xác định và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Hãy tìm ra ước mơ cháy bỏng nhất của mình, nó đang nằm ở nơi sâu thẳm trong tim bạn đó, như một ngọn núi lửa đợi chờ được đánh thức.
Câu 4. Ý kiến Năm tháng qua đi, bạn sẽ nhận ra rằng ước mơ không bao giờ biến mất gợi cho em suy nghĩ gì?
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. Từ nội dung văn bản ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vai trò của ước mơ đối với mỗi người.
Câu 2. Cảm nhận của em về tấm lòng thành kính, niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ và mọi người đối với Bác Hồ được thể hiện trong đoạn thơ sau:
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đoả hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
(Trích Viếng lăng Bác, Viễn Phương, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục, 2018)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1:
|
Chỉ ra phép liên kết câu trong phần trích sau: Đừng để ai đánh cắp ước mơ của bạn. Hãy tìm ra ước mơ cháy bỏng nhất của mình. |
Phương pháp: Căn cứ bài các liên kết câu.
Cách giải:
Phép liên kết là: phép lặp: ước mơ.
Câu 2:
|
Theo tác giả, nếu không theo đuổi ước mơ thì bạn sẽ cảm thấy như thế nào? |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Nếu không theo đuổi ước mơ bạn sẽ bị day dứt, dằn vặt mỗi ngày.
Câu 3:
|
Xác định và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Hãy tìm ra ước mơ cháy bỏng nhất của mình, nó đang nằm ở nơi sâu thẳm trong tim bạn đó, như một ngọn núi lửa đợi chờ được đánh thức. |
Phương pháp: Căn cứ bài so sánh, phân tích.
Cách giải:
Biện pháp tu từ: so sánh. Ước mơ so sánh với “núi lửa”
Tác dụng:
+ Giúp diễn đạt thêm sinh động.
+ Hình ảnh ước mơ được so sánh với núi lửa đang chờ đợi được đánh thức cho thấy trong mỗi chúng ta ai cũng có ước mơ và ước mơ ấy đang ngủ yên chỉ chờ đợi chúng ta đánh thức thì nó sẽ bùng cháy.
Câu 4:
|
Ý kiến Năm tháng qua đi, bạn sẽ nhận ra rằng ước mơ không bao giờ biến mất gợi cho em suy nghĩ gì? |
Phương pháp: Phân tích.
Cách giải:
Ý kiến “Năm tháng qua đi, bạn sẽ nhận ra rằng ước mơ không bao giờ biến mất” đây là nhận định đúng. Bởi chúng ta ai cũng có ước mơ, nhưng có thể do cuộc sống xô đẩy mà không thực hiện được ước mơ đó, nhưng ước mơ đó vẫn luôn tồn tại trong sâu thẳm mỗi chúng ta. Nó tạm lùi lại phía sau và chờ đợi đến một ngày chúng ta sẵn sàng, nó sẽ xuất hiện và biến thành hiện thực.
II. LÀM VĂN:
Câu 1:
|
Từ nội dung văn bản ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vai trò của ước mơ đối với mỗi người. |
Phương pháp: Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: Vai trò của ước mơ đối với mỗi người.
2. Bàn luận
- Ước mơ là những dự định, khao khát, mong muốn mà chúng ta muốn đạt được.
- Vai trò của ước mơ đối với mỗi người:
+ Ước mơ giúp ta có động lực vượt qua mọi khó khăn.
+ Ước mơ giúp ta thêm kiên định về những lựa chọn của chính mình.
+ Ước mơ giúp cuộc sống có ý nghĩa hơn, mỗi ngày cũng trở nên đáng sống.
+ Người dám ước mơ thì mới có thể đạt được thành công.
+…
- Phê phán những người sống mà không có mục đích, không có mơ ước.
- Là một học sinh ngồi trên ghế nhà trường chúng ta cần phải có ước mơ mục đích sống cho riêng mình. Để đạt được ước mơ chúng ta cần ra sức rèn luyện học tập, tu dưỡng đạo đức để chuẩn bị những tư trang cần thiết cho con đường đi tới ước mơ của mình.
Câu 2:
|
Cảm nhận của em về tấm lòng thành kính, niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ và mọi người đối với Bác Hồ được thể hiện trong đoạn thơ sau: Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim!
Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đoả hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. (Trích Viếng lăng Bác, Viễn Phương, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục, 2018) |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
I. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Viễn Phương, tác phẩm Viếng lăng Bác
- Giới thiệu về khái quát nội dung của đoạn thơ: Hai khổ thơ nói tới cảm xúc của tác giả khi ở trong lăng và cảm xúc của ông khi sắp phải ra về.
II. Thân bài:
1. Cảm xúc trong lăng (khổ thơ đầu trong đoạn trích).
- Hai câu đầu: Lòng biết ơn thành kính đã chuyển thành nỗi xúc động nghẹn ngào khi tác giả nhìn thấy Bác:
+ Nói giảm, nói tránh: “giấc ngủ bình yên” – Bác như còn sống mãi, chỉ là vừa chợp mắt sau bao đêm không ngủ vì nước, vì dân.
+ Ẩn dụ “vầng trăng sáng dịu hiền” gợi nhiều liên tưởng:
1- không gian trang nghiêm, ánh sáng dịu nhẹ, trong trẻo nơi Bác nằm;
2- những vần thơ tràn đầy trăng của Bác;
3- tâm hồn cao đẹp, sáng trong của Bác.
- Hai câu sau:
+ Ẩn dụ “trời xanh” cho thấy: Bác vẫn còn mãi với non sông như trời xanh luôn vĩnh hằng, bất biến; Người đã hóa thân vào thiên nhiên, đất nước.
+ Động từ “nhói”: diễn tả trực tiếp nỗi đau đớn, nghẹn ngào, tiếc thương của tác giả cũng như triệu triệu người Việt Nam trước sự thật Bác không còn nữa.
+ Kết cấu “Vẫn biết… mà sao”: diễn tả sự mâu thuẫn giữa lí trí và cảm xúc của tác giả khi đứng trước linh cữu Bác. (Dù vẫn tin là Bác còn sống mãi với non sông nhưng không thể không đau xót trước sự ra đi của Người).
2. Tâm trạng, mong ước khi sắp phải ra về (khổ thơ thứ 2 trong đoạn trích)
- Câu đầu: như một lời giã biệt;
+ Cụm từ “thương trào nước mắt” diễn tả trực tiếp cảm xúc luyến tiếc, bịn rịn, không muốn xa nơi Bác an nghỉ.
- Ba câu sau: điệp ngữ “muốn làm” nhấn mạnh ước nguyện của tác giả:
+ Muốn làm con chim: cất tiếng hót quanh lăng.
+ Muốn làm đóa hoa: tỏa hương nơi Bác yên nghỉ.
+ Muốn làm cây tre trung hiếu: giữ giấc ngủ bình yên cho Người.
-> Ước muốn được hòa nhập vào những sự vật quanh Bác, mãi được ở bên Bác -> Tấm lòng thủy chung, lòng kính yêu vô hạn của tác giả nói riêng và nhân dân nói chung với Bác.
- Hình ảnh cây tre khép lại bài thơ tạo ra kết cấu đầu cuối tương ứng cho bài, gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc, làm đậm nét thêm vẻ đẹp của cây tre, đồng thời giúp cho dòng cảm xúc được lắng đọng, trọn vẹn.
III. Kết bài
- Nội dung: Đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung đã thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của tác giả và mọi người dân đối với Bác khi vào lăng viếng Người.
- Nghệ thuật: Bài thơ có giọng điệu trang trọng và tha thiết, nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp, gợi cảm xúc, ngôn ngữ thơ bình dị.
Đề thi vào 10 môn Văn Bắc Kạn năm 2021
Đề bài
PHẦN I (3.0 điểm) Đọc văn bản sau:
TAY TRONG TAY
Một ngày hè, tôi ngồi trên bãi biển và ngắm nhìn hai đứa trẻ đang chơi trên cát. Chúng say sưa xây một lâu đài có đủ ổng, tháp, hào và có cả khách tham quan. Khu công trình gần hoàn thành thì một cơn sóng lớn ập đến phá tan tất cả. Giờ thì chỉ còn một đống cát ướt mà thôi. Tôi tưởng bạn trẻ sẽ khóc vì sóng đã phá tan những gì chúng kỳ công xây dựng. Nhưng không? Chúng lại cùng chạy ra xa con nước, cười giòn, tay nắm tay và xây chung một lâu đài mới. Chúng đã dạy tôi một bài học quan trọng. Tất cả mọi thứ trong cuộc sống dù quý giá đến đâu thì cũng không khác gì những tòa lâu đài trên cát. Chỉ có tình yêu, tình bạn là vững bền. Trước sau gì thì cơn sóng cũng sẽ đến và mang đi tất cả những gì chúng ta cố công xây đắp. Nhưng bao giờ thì những cơn sóng sẽ đến? Không ai biết trước được! Chỉ biết rằng với những ai có được bàn tay của người khác để nắm chặt, để cùng chia sẻ những thành công, thất bại thì mới có thể cười vang và vượt qua khó khăn.
(Theo Songdep xitrum.viet - Sống đẹp tập II, NXB Giáo dục, tr. 17)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Câu 2. Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: "Chúng lại cùng chạy ra xa con nước, cười giòn, tay nắm tay và xây dựng một lâu đài mới".
Câu 3. Em hiểu như thế nào về ý nghĩa nhan đề văn bản Tay trong tay?
Câu 4. Thông điệp nào của văn bản có ý nghĩa nhất đối với em?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm) Từ nội khung được gọi ra trong phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 7 - 10 câu) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của sự đồng cảm và sẻ chia trong cuộc sống.
Câu 2 (5,0 điểm)
Vắng lặng đến phát sợ. Cây còn lại xơ xác. Đất nông, Khói đen vật vờ từng cụm trong không trung, che đi những gì từ xa. Các anh cao xạ có nhìn thấy chúng tôi không? Chắc có, các anh ấy có những cái ống nhòm có thể thu cả trái đất vào tầm mắt. Tôi đến gần quả bom, cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới.
Quả bom nằm lạnh lùng trên một bụi cây khô, một đầu vùi xuống đất. Đầu này có vẽ hai vòng tròn màu vàng...
ôi dùng xẻng nhỏ đào đất dưới quả bom. Đất rắn. Những hòn sỏi theo tay tôi bay ra hai bên. Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người, cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí? Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành. Hoặc là nóng từ bên trong quả bom. Hoặc là mặt trời nung nóng.
Chị Thao thổi còi. Như thế là đã hai mươi phút qua. Tôi cẩn thận bỏ gói thuốc mìn xuống cái lỗ đã đào, châm ngòi. Dây mìn dài, cong, mềm. Tôi khỏa đất rồi chạy lại chỗ ẩn nấp của mình.
Hồi còi thứ hai của chị Thao. Tôi nép người vào bức tường đất, nhìn đồng hồ. Không có gió. Tim tôi cũng đập không rõ. Dường như vật duy nhất vẫn bình tĩnh, phớt lờ mọi biến động chung là chiếc kim đồng hồ. Nó chạy, sinh động và nhẹ nhàng, đè lên những con số vĩnh cửu. Còn đằng kia, lửa đang chui bên trong cái dây mìn, chui vào ruột quả bom...
Quen rồi. Một ngày chúng tôi phá bom đến năm lần. Ngày nào ít: ba lần. Tôi có nghĩ tới cái chết. Nhưng một cái chết mờ nhạt, không cụ thể. Còn cái chính: liệu mìn có nổ, bom có nổ không? Không thì làm cách nào để châm mìn lần thứ hai? Tôi nghĩ thế, nghĩ thêm: đứng cẩn thận, mảnh bom ghim vào cánh tay thì khá phiền. Và mồ hôi thấm vào môi tôi, mằn mặn, cát lạo xạo trong miệng.
Nhưng quả bom nổ. Một thứ tiếng kì quái, đến vàng óc. Ngực tôi nhói, mắt cay mãi mới mở ra được. Mùi thuốc bom buồn nôn. Ba tiếng nổ nữa tiếp theo. Đất rơi lộp bộp, tan đi âm thầm trong những bụi cây. Mảnh bom xé không khí, lao và rít vô hình trên đầu.
(Trích Những ngôi sao xa xôi, Lê Minh Khuê, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục, 2010, tr.117, 118)
Cảm nhận về nhân vật Phương Định trong đoạn trích trên. Từ đó nhận xét về vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ
Lời giải chi tiết
Phần I.
Câu 1.
|
Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. |
Phương pháp: căn cứ các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: Tự sự.
Câu 2.
|
Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: "Chúng lại cùng chạy ra xa con nước, cười giòn, tay nắm tay và xây dựng một lâu đài mới". |
Phương pháp: căn cứ các biện pháp tu từ đã học.
Cách giải:
Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Liệt kê.
Câu 3.
|
Em hiểu như thế nào về ý nghĩa nhan đề văn bản Tay trong tay? |
Phương pháp: phân tích, lí giải.
Cách giải:
Học sinh có thể trình bày theo quan điểm của mình, có lý giải.
Gợi ý:
Nhan đề “Tay trong tay” là một thành ngữ chỉ sự thân thiết, gắn bó, chia sẻ, đồng cảm vượt để cùng nhau vượt qua khó khăn thử thách.
Câu 4.
|
Thông điệp nào của văn bản có ý nghĩa nhất đối với em? |
Phương pháp: phân tích.
Cách giải:
Học sinh trình bày thông điệp ý nghĩa nhất với bản thân, giải thích tại sao.
Gợi ý:
- Thông điệp ý nghĩa nhất với em là thông điệp được nêu ra ở cuối bài: “Với những ai có được bàn tay của người khác ... thì mới có thể vượt qua khó khăn thử thách”.
- Giải thích: Thông điệp cho thấy tầm quan trọng của sự đồng cảm, chia sẻ và thấu hiểu giữa con người với con người. Nó tạo nên động lực to lớn giúp con người vượt qua tất cả mọi gian nan, thử thách của cuộc đời.
Phần II.
Câu 1.
|
Từ nội khung được gọi ra trong phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 7 - 10 câu) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của sự đồng cảm và sẻ chia trong cuộc sống. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
I. Mở đoạn:
Giới thiệu vấn đề nghị luận: Ý nghĩa sự đồng cảm và chia sẻ
II. Thân đoạn:
1. Giải thích đồng cảm và chia sẻ:
a. Đồng cảm là gì?
- Là chung một cảm nghĩ, một tấm lòng
- Là sự đồng cảm, luôn thấu hiểu và quan tâm đến người khác
b. Chia sẻ là gì?
- Là san sẻ những gì mình có với người khác
- Cùng vui cùng buồn với người khác, khi họ gặp khó khăn, gian khổ
- Giúp đỡ họ khi họ không có khả năng thực hiện
2. Bàn luận
a) Sự đồng cảm và chia sẻ được thể hiện qua các mối quan hệ:
- Giữa con người với con người
- Giữa các thành viên trong gia đình với nhau
- Giữa học đường, tập thể, xã hội, toàn cầu...
b) Những biểu hiện của đồng cảm và chia sẻ:
- Về vật chất: chúng ta có thể quyên góp, ủng hộ bằng nhiều cách để giúp đỡ những người gặp hoạn nạn, khó khăn.
- Về tinh thần: chúng ta biết lắng nghe, mở lòng để thấu hiểu họ, thể hiện tình cảm, sự thấu hiếu đối với những người gặp khó khăn
c) Ý nghĩa của sự đồng cảm và chia sẻ:
- Đối với người nhận: những người gặp khó khăn sẽ rất vui, họ cảm thấy được an ủi, được quan tâm và chia sẻ
- Đối với người ủng hộ: những người ủng hộ sẽ được an lòng, cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản và sống tốt hon.
- Đồng cảm và chia sẻ đều mang lại lợi ích cho cả hai bên, giúp cho tinh thần của học trở nên thư thái và được yêu thương hơn.
III. Kết đoạn:
Nêu cảm nghĩ của em về đồng cảm và chia sẻ.
- Đồng cảm và chia sẻ là một hành động tốt trong xã hội bây giờ.
- Chúng ta hãy đồng cảm và chia sẻ để giúp những người xung quanh.
Câu 2.
|
Cảm nhận về nhân vật Phương Định trong đoạn trích trên. Từ đó nhận xét về vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài
- Giới thiệu vài nét về tác giả Lê Minh Khuê và truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi.
+ Lê Minh Khuê (1949) là nữ nhà văn gốc Thanh Hóa thuộc thế hệ những nhà văn bắt đầu sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mĩ.
+ Những ngôi sao xa xôi là tác phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê nhà văn nữ chuyên viết về cuộc sống chiến đấu của tuổi trẻ nơi tuyến đường Trường Sơn trong những năm chống Mĩ.
- Giới thiệu khái quát về đoạn trích và nhân vật Phương Định.
2. Thân bài
* Khái quát về tác phẩm Những ngôi sao xa xôi
- Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm được sáng tác vào những năm 1970 trong thời kì kháng chiến chống Mỹ vô cùng gian khổ, ác liệt.
- Nội dung tác phẩm kể về 3 cô thanh niên xung phong có nhiệm vụ phá bom trong thời kì chúng Mỹ, dù công việc rất khó khăn và nguy hiểm nhưng họ vẫn lạc quan, yêu đời và có tinh thần trách nhiệm cao.
* Giới thiệu nội dung đoạn trích và nêu cảm nhận chung về nhân vật Phương Định:
Khung cảnh và công việc phá bom của Phương Định cùng hai nữ đồng đội ở một cao điểm trên đường mòn Trường Sơn đã được nhà văn tái hiện một cách chân thực và sinh động qua đoạn trích trên. Nhân vật Phương Định trong đoạn trích đã để lạ ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc bởi lòng quả cảm, không sợ hi sinh.
a. Phân tích và cảm nhận về nhân vật Phương Định
- Lý tưởng sống cao đẹp và tinh thần dũng cảm
+Vừa rời khỏi ghế nhà trường trung học phổ thông, cô đã không ngại gian khó, nguy hiểm xung phong ra mặt trận, nghe theo tiếng gọi của con tim, đi theo tiếng gọi của Tổ Quốc.
- Hoàn cảnh sống và công việc
+ Vào chiến trường đã được 3 năm, thuộc tổ trinh sát mặt đường, hàng ngày phải đo khối lượng đất đá lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần phải phá bom.
+ Thời gian làm việc: Cô và đồng đội phải "chạy trên cao điểm cả ban ngày". => Công việc luôn ẩn chứa hiểm nguy, có thể lấy đi tính mạng con người bất cứ lúc nào.
-> Phẩm chất của thế hệ trẻ trong thời kháng chiến chống Mỹ: dũng cảm, gan dạ, kiên cường.
- Thái độ, tinh thần lạc quan của Phương Định:
+ Cuộc sống nơi chiến trường luôn đối mặt với thử thách, nguy hiểm và cái chết đã tôi luyện ở Phương Định lòng quả cảm, không sợ hi sinh. Tâm lí Phương Định trong một lần phá bom được miêu tả rất cụ thể, tinh tế đến từng cảm giác, ý nghĩ dù chỉ thoáng qua trong giây lát.
+ Mặc dù đây là công việc hằng ngày, như cô kể: “Quen rồi. Một ngày chúng tôi phá bom đến năm lần. Ngày nào ít: ba lần” nhưng mỗi lần phá bom vẫn là một thử thách. Khung cảnh và không khí chưa đầy sự căng thăng: “Văng lặng đến phát sợ. Cây còn lại xơ xác. Đất nóng. Khói đen vật vở từng cụm trong không trung, che đi những gì từ xa.” nhưng Phương Định vẫn có nét tâm lí rất con gái, cảm giác: “Có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình”. Để rồi sự dũng cảm ở cô như được kích thích bởi lòng tự trọng: “Tôi đến gần quả bom,... tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đường hoàng mà bước tới”.
+Ở bên quả bom, cận kề với cái chết im lìm và bất ngờ, từng cảm giác của con người cũng trở nên sắc nhọn: “Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người, cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành”. Cô bỏ gói thuốc mìn xuống cái lỗ đã đào, sau đó châm ngòi, chạy lại chỗ ẩn nấp... bom nổ, tiếng kỳ quái đến vàng óc...
+ Cô kể: “Ngực tôi nhói, mắt cay mãi mới mở ra được. Mùi thuốc bom buồn nôn. Ba tiếng nổ nữa tiếp theo. Đất rơi lộp bộp, tan đi âm thầm trong những bụi cây. Mảnh bom xe không khí, lao và rít vô hình trên đầu.”
+Công việc phá bom đầy hiểm nguy và phải luôn đối mặt với thần chất nhưng cô luôn cố gắng để hoàn thành tốt nhiệm vụ.
- Phương Định có nghĩ đến cái chết nhưng là một cái chết mờ nhạt, không cụ thể”, còn cái chính vẫn là: “liệu mìn có nổ, bom có nổ không?”. Đây là một trách nhiệm rất cao trong công việc, là lòng dũng cảm vô song.
- Ngoài đoạn trích này, nhà văn còn có những chi tiết khác về Phương Định : một cô gái Hà Nội đẹp, có tâm hồn giàu yêu thương, nhiều mơ mộng, lạc quan, yêu đời và tinh thần đồng đội thắm thiết.
-> Có thể nói, xây dựng nhân vật Phương Định, Lê Minh Khuê đã chọn được những phương thức trần thuật hợp lí khi nhà văn đặt điểm nhìn vào nhân vật chính của mình để nhân vật tự kể chuyện. Nhờ vậy, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật – tâm lí Phương Định đạt đến độ tinh tế nhất. Ngôn ngữ trần thuật qua nhân vật chính làm cho tác phẩm có giọng điệu, ngôn ngữ tự nhiên gần với khẩu ngữ, trẻ trung, nữ tính...
b. Vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ
- Ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam trong lao động và trong chiến đấu.
- Vẻ đẹp của các nhân vật đều mang màu sắc lí tưởng, họ là hình ảnh của con người Việt Nam mang vẻ đẹp của thời kì lịch sử gian khổ hào hùng và lãng mạn của dân tộc.
- Sự dũng cảm, cương quyết, luôn luôn đối đầu với hiểm nguy và gian khó . Dám hy sinh tuổi trẻ của mình cho sự nghiệp giải phóng và xây dựng dân tộc.
- Họ là những tấm gương điểm tựa để thế hệ trẻ hôm nay phấn đấu góp một phần sức lực của mình cho đất nước.
->Chính họ là những người đã viết nên những trang sử hào hùng về thời kì cả đất nước đứng lên.
Cảm nhận về đặc sắc nghệ thuật
- Nghệ thuật xây dựng hình tượng, miêu tả tâm lí và tính cách nhân vật sâu sắc
- Ngôn ngữ trần thuật phù hợp, ngôn ngữ nhân vật trẻ trung, tự nhiên, giàu nữ tính
- Ngôi kể thứ nhất, nhân vật tự kể khiến câu chuyện hiện lên chân thực, chi tiết, tỉ mỉ; đồng thời dễ dàng bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc của mình.
3. Kết bài
- Nêu đánh giá, cảm nhận của em về nhân vật Phương Định.
Đề thi vào 10 môn Văn Bắc Kạn năm 2020
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau:
Không có gì tự đến đâu con
Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa
Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa
Mùa bội thu trải một nắng hai sương.
Không có gì tự đến, dẫu bình thường
Phải bằng cả đôi tay và nghị lực.
Như con chim suốt ngày chọn hạt
Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kỳ.
(Không có gì tự đến đâu con - Nguyễn Đăng Tấn)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong đoạn thơ.
Câu 3 (1,0 điểm). Em hiểu như thế nào về câu thơ: Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa?
Câu 4 (1,0 điểm). Em có cảm nhận gì về nỗi lòng của cha mẹ được gửi gắm qua đoạn thơ?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm).
Câu 1 (2,0 điểm). Từ nội dung đoạn thơ phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 đến 10 câu) trình bày suy nghĩ của em về nghị lực của con người trong cuộc sống.
Câu 2 (5,0 điểm).
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.
Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao...
(Trích Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải, Ngữ văn 9, tập hai)
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1:
|
Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ. |
Phương pháp: căn cứ các PTBĐ đã học
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính:
Câu 2:
|
Chỉ ra biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong đoạn thơ. |
Phương pháp: căn cứ bài So sánh
Cách giải:
Biện pháp so sánh: “Như con chim suốt ngày chọn hạt”
Câu 3:
|
Em hiểu như thế nào về câu thơ: Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa? |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Câu thơ được hiểu là: Quả xanh muốn ngọt được phải trải qua một quá trình tích tụ nhựa cây. Cũng như vậy, muốn có thành quả tốt đẹp, con người cũng phải cố gắng vun trồng.
Câu 4:
|
Em có cảm nhận gì về nỗi lòng của cha mẹ được gửi gắm qua đoạn thơ? |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Cảm nhận nỗi lòng cha mẹ qua đoạn thơ:
- Cha mẹ muốn nói với các con rằng ở cuộc đời, bất kể điều gì tốt đẹp đến cũng phải có quá trình tích lũy của nó. Cũng như vậy, cha mẹ muốn gửi đến con cái của mình lời khuyên muốn đạt được thành tựu ngay từ bây giờ phải không ngừng nỗ lực, cố gắng.
- Đoạn thơ thể hiện tình yêu của cha mẹ dành cho con.
Phần II
Câu 1
|
Từ nội dung đoạn thơ phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 đến 10 câu) trình bày suy nghĩ của em về nghị lực của con người trong cuộc sống. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: nghị lực của con người trong cuộc sống.
2. Giải thích vấn đề
- Nghị lực là sức mạnh tinh thần tạo cho con người sự kiên quyết trong hành động, không lùi bước trước khó khăn, thử thách.
=> Nghị lực là điều vô cùng cần thiết trong cuộc sống của mỗi người.
3. Phân tích, bàn luận vấn đề
- Vai trò của nghị lực:
+ Giúp con người vượt qua những gian lao, thử thách trong cuộc sống.
+ Thay đổi được hoàn cảnh, số phận, giúp con người lạc quan hơn.
+ Người có nghị lực sẽ có được thành công và được mọi người quý mến.
- Biểu hiện của người có nghị lực:
+ Luôn dũng cảm đối mặt với mọi vấn đề.
+ Dám chịu trách nhiệm trước những việc làm của mình.
+ Truyền cảm hứng sống cho người khác.
- HS lấy dẫn chứng minh họa phù hợp.
- Phê phán những người thiếu ý chí, nghị lực, gặp việc khó luôn nản lòng, bỏ cuộc.
4.Liên hệ bản thân và Tổng kết
Câu 2
|
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau: Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng. Mùa xuân người cầm súng Lộc giắt đầy trên lưng Mùa xuân người ra đồng Lộc trải dài nương mạ Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao... (Trích Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải, Ngữ văn 9, tập hai) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
Tác giả:
- Là một nhà thơ cách mạng, sự nghiệp thơ văn của ông gắn với 2 cuộc kháng chiến của dân tộc.
- Thanh Hải để lại một số lượng tác phẩm không nhiều nhưng vẫn tạo được dấu ấn riêng nhờ vẻ đẹp bình dị, trong sáng, ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu, cảm xúc chân thành, đằm thắm.
Tác phẩm:
- Bài thơ được viết vào tháng 11 năm 1980 – thời điểm Thanh Hải ốm nặng và chỉ mấy tuần lễ sau ông qua đời.
- Được sáng tác trong hoàn cảnh đặc biệt nhưng bao trùm bài thơ lại là tình yêu, là sự gắn bó thiết tha với quê hương, đất nước, là cả một khát vọng sống đẹp của tác giả.
2. Phân tích
2.1/ Cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân thiên nhiên:
- Bài thơ được mở ra bằng khung cảnh thiên nhiên tươi sáng và tràn đầy sức sống:
“Mọc giữa dòng sông xanh
…
Hót chi mà vang trời”
+ Cấu trúc đảo ngữ ở câu thơ 1, 2 gợi sức sống mạnh mẽ đến bất ngờ, khiến bông hoa như có cội rễ, tràn đầy sức xuân, sắc xuân.
+ Các hình ảnh “dòng sông”, “bông hoa”, “bầu trời”, “chim chiền chiện” thật bình dị và gợi cảm, đã tái hiện một không gian cao rộng của mùa xuân với những hình ảnh đặc trưng của xứ Huế.
+ Màu sắc: “sông xanh”, “hoa tím biếc” rất hài hòa, tươi sáng. Dòng sông xanh đã trở thành cái nền cho sắc tím của hoa, làm nổi bật vẻ đẹp sống động của mùa xuân.
+ Âm thanh: tiếng chim chiền chiện: là tín hiệu của một buổi sớm mùa xuân trong trẻo, mát lành; gợi không gian cao rộng của bầu trời tươi sáng, ấm áp; gợi liên tưởng đến những không gian đầy ắp màu xanh của một khu vườn quê với những vòm cây xanh mát hay một cánh đồng rộng lớn, bình yên.
=> Chỉ bằng vài nét phác, tác giả đã vẽ ra được khung cảnh mùa xuân tuyệt đẹp, đủ đầy hình ảnh, âm thanh, màu sắc, ứ đầy sức sống và đậm đà nét Huế.
- Đối diện với vẻ đẹp ấy là cảm xúc say sưa, tươi vui của nhà thơ đang hòa mình vào đất trời:
“Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng”
+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: có thể là giọt mưa xuân long lanh, có thể là âm thanh tiếng chim đang hót giữa đất trời. Ta không chỉ nghe thấy mà con nhìn thấy cả giọt âm thanh trong vắt.
+ Đại từ “tôi” + hành động “tôi hứng” thế hiện sự chiếm lĩnh, giao hòa của tác giả với mùa xuân. Câu thơ biểu hiện niềm say sưa, ngây ngất của tác giả trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời.
2.2/ Cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân đất nước:
- Nhà thơ khám phá, ca ngợi vẻ đẹp của mùa xuân đất nước:
“Mùa xuân …
... xôn xao”
+ Hệ thống điệp từ “mùa xuân”, “lộc”: gợi quang cảnh mùa xuân tươi đẹp, tràn đầy sức sống của chồi non lộc biếc; gợi những thành quả trong công cuộc xây dựng đất nước.
+ Hình ảnh “người cầm súng” “người ra đồng”: được liệt kê để vẽ lên hình ảnh đất nước tưng bừng, nhộn nhịp với hàng vạn con người đang góp sức mình cho mùa xuân của dân tộc.
Hình ảnh “người cầm súng”: phản ánh hiện thực gian khổ của chiến tranh. Lộc trên lưng vừa là hình ảnh cành lá ngụy trang vừa là mùa xuân mà họ mang lại cho đất nước.
Hình ảnh “người ra đồng”: không khí lao động ở hậu phương. “Lộc trải dài nương mạ”: mang đến những cánh đồng xanh tươi, những vụ mùa no ấm, mang lại sự sống.
+ Điệp từ “tất cả” + lặp cấu trúc ngữ pháp + các từ láy “hối hả” “xôn xao” diễn tả nhịp sống sôi động, tưng bừng, tràn đầy niềm vui, hạnh phúc.
=> Nhận xét: Được sáng tác trong hoàn cảnh đặc biệt, chỉ khoảng một tháng sau Thanh Hải qua đời nhưng bao trùm bài thơ lại là tình yêu, là sự gắn bó thiết tha với quê hương, đất nước.
3. Tổng kết
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
