Đề thi vào 10 môn Văn Bạc Liêu
Đề thi vào 10 môn Văn Bạc Liêu năm 2025
Đề thi
Phần I: ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
|
(1) Mẹ ngồi xuống đi không phải tàu to thuyền lớn chi dăm cây nứa làm bè cũng chẳng sông to suối nhỏ ao nhà mình thôi con mời mẹ rong chơi...
(2) Mẹ cười giãn nếp nhăn hàm răng trầu lóng lánh mẹ ngồi cho vững nhé tay con làm chèo...
(3) Ao nhà mình thôi bè nhỏ những vòng sóng cũng nhỏ mở ra khoảng trời đáy nước mắt mẹ đăm đắm cười...
(4) Ngày xưa ơi của mẹ là chiếc thuyền câu be bé vùng chiêm trũng quê mình góc cầu ao nhỏ đàn cá chơi trốn tìm quanh vạt bèo tây bến sông chiều kín nước |
mẹ xoã tóc thành mây bay trên khoảng trời con gái…
(5) Ngày xưa của mẹ là chùa Thầy, chùa Hương mùa xuân trẩy hội thuyền ra thuyền vào tấp nập lời chào A Di Đà Phật!
(6) Rồi một lần thuyền đưa mẹ về Tây Trúc con khăn trắng áo xô khóc mẹ đầm đìa ...
(7) Mẹ ngồi cho chắc nhé ao nhà mình thôi Ơ kìa mẹ đâu rồi!
(8) Quờ tay không chạm mẹ mưa nhòa mắt con... (Mơ, Nguyễn Kiến Thọ, dẫn theo http://vannghequandoi.com.vn, Thứ Hai, 19/07/2021 00:42) |
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (1.0 điểm) Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2. (1.0 điểm) Chỉ ra những dòng thơ thể hiện sự ân cần của con đối với mẹ trong các khổ thơ (1) và (2)
Câu 3. (1.0 điểm) Liệt kê bốn hình ảnh gắn liền với ngày xưa của mẹ trong khổ thơ (4)
Câu 4. (1.0 điểm) Trình bày tác dụng của phép điệp ao nhà mình tôi.
Câu 5. (1.0 điểm) Nhận xét tâm trạng của con qua hai khổ thơ (7) và (8)
Câu 6. (1.0 điểm) Từ nội dung văn bản, nêu bài học ý nghĩa nhất đối với bản thân. Lí giải.
Phần II. VIẾT (4.0 điểm)
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về sự bất đồng quan điểm sống giữa cha mẹ với con cái trong gia đình; từ đó đề xuất hướng giải quyết.
Đáp án
I. TRẮC NGHIỆM
Câu 1.
Phương pháp:
Căn cứ các thể thơ đã học, phân tích và xác định đúng thể thơ
Cách giải:
Thể thơ của văn bản: tự do.
Câu 2.
Phương pháp:
Căn cứ khổ thơ 1,2 xác định các câu thơ.
Cách giải:
Các câu thơ thể hiện sự ân cần của con với mẹ là: Mẹ ngồi xuống đi; Con mời mẹ rong chơi; Mẹ ngồi cho vững nhé; Tay con làm chèo; Mẹ ngồi cho chắc nhé
Câu 3.
Phương pháp:
Căn cứ khổ thơ thứ tư, phân tích và xác định hình ảnh phù hợp
Cách giải:
Hình ảnh gắn liền với ngày xưa của mẹ gồm: chiếc thuyền câu, vùng chiêm trũng, góc cầu ao nhỏ, bến sông chiều kín nước.
Câu 4.
Phương pháp:
Căn cứ nội dung bài điệp ngữ, phân tích tác dụng
Cách giải:
Điệp ngữ: ao nhà mình thôi
Tác dụng:
+ Biện pháp điệp ngữ giúp tạo nhịp điệu cho cả bài thơ.
+ Biện pháp điệp ngữ cho thấy ao nhà mình là nơi mẹ sinh ra, gắn bó với biết bao kỉ niệm, gắn với những niềm vui, nỗi buồn trong cả cuộc đời mẹ. Nhấn mạnh không gian nhỏ bé, thân thuộc, gần gũi – nơi gắn bó giữa mẹ và con. Gợi lên sự bình dị, mộc mạc nhưng chứa chan tình cảm, là không gian của kỷ niệm và tình mẫu tử thiêng liêng.
+ Qua đó thể hiện cảm xúc chân thành, tình yêu thương của con với mẹ.
Câu 5.
Phương pháp:
Căn cứ nội dung bài đọc hiểu, các từ ngữ, hình ảnh trong bài, phân tích và xác định tâm trạng người con trong khổ 7,8
Cách giải:
Tâm trạng của người con: Đó là sự bất ngờ, hụt hẫng (ơ kìa mẹ đâu rồi), người con không thể tin nổi rằng mẹ đã không còn ở đây. Sang đến khổ thơ thứ 8 là nỗi đau đớn, xót xa đến tận cùng khi nhận thức thực tế mẹ đã không con, những giọt nước mắt làm “nhoà mắt con” chính là minh chứng rõ ràng nhất cho nỗi đau đớn đó.
Câu 6.
Phương pháp:
Căn cứ nội dung bài thơ, đưa ra bài học và có lí giải phù hợp.
Cách giải:
HS đưa ra bài học có ý nghĩa với bản thân và có lí giải phù hợp với chuẩn mực đạo đức, xã hội.
Gợi ý:
Bài học về: Trân trọng những giây phút được bên mẹ; Luôn yêu thương kính trọng mẹ; …
II. LÀM VĂN
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức đã học về viết bài văn nghị luận.
- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng.
Cách giải:
Bài làm có thể triển khai theo nhiều cách, sau đây là gợi ý của Tuyensinh247.com
1.Mở bài: Giới thiệu vấn đề: Sự bất đồng quan điểm sống giữa cha mẹ và con cái trong gia đình
2. Thân bài:
a. Giải thích:
- Quan điểm sống: Là cách nhìn nhận, đánh giá và lựa chọn cách sống, cách ứng xử trong cuộc sống.
- Bất đồng quan điểm: Là sự khác biệt, mâu thuẫn trong suy nghĩ, nhận thức, hành động giữa hai hay nhiều người.
=> Bất đồng quan điểm sống giữa cha mẹ và con cái: Là việc cha mẹ và con cái có những suy nghĩ, định hướng, lối sống khác nhau; từ đó nảy sinh tranh cãi, mâu thuẫn, thậm chí là xung đột.
b. Giải quyết vấn đề
- Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự bất đồng giữa cha mẹ và con cái:
+ Khác biệt thế hệ: Cha mẹ trưởng thành trong hoàn cảnh, điều kiện sống khác (khó khăn, truyền thống), nên thường bảo thủ, ưu tiên sự an toàn, ổn định. Con cái sinh ra và lớn lên trong thời đại mới (hiện đại, hội nhập), tiếp thu tư tưởng tự do, độc lập, sáng tạo.
+ Sự thay đổi nhanh chóng của xã hội: Tư duy, công nghệ, văn hóa thay đổi liên tục khiến khoảng cách giữa các thế hệ ngày càng xa.
+ Thiếu sự thấu hiểu, chia sẻ: Cha mẹ áp đặt, con cái chống đối. Cả hai phía đều cho rằng bản thân mình luôn đúng và từ chối việc lắng nghe cảm xúc của người khác. Việc này dẫn đến hiểu lầm và căng thẳng.
+...
- Sự bất đồng giữa cha mẹ và con cái có thể dẫn đến nhiều hậu quả:
+ Gây mâu thuẫn, căng thẳng trong gia đình.
+ Khoảng cách giữa cha mẹ và con cái ngày càng lớn, dễ dẫn đến lạnh nhạt, xa cách.Làm suy giảm sự gắn bó, yêu thương trong gia đình.
+ Tác động tiêu cực đến tâm lý con cái: cảm thấy bị cô lập, không được hiểu, mất định hướng.
- Giải pháp:
Về phía cha mẹ:
+ Cần lắng nghe và tôn trọng suy nghĩ, cảm xúc của con.
+ Cập nhật kiến thức, mở rộng tư duy để hiểu con hơn.
+ Tránh áp đặt con cái theo ý muốn của bản thân, thay vào đó là định hướng, khích lệ.
Về phía con cái:
+ Cần hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh, tư duy của cha mẹ.
+ Biết cách trình bày ý kiến một cách hợp lý, thuyết phục.
+ Giữ thái độ lễ phép, cầu thị, tránh phản kháng tiêu cực.
Ngoài ra, các thành viên trong gia đình cần có những buổi trao đổi thẳng thắn để thấu hiểu nhau hơn. Tạo nên những chuyến du lịch để gắn kết tình cảm giữa các thành viên trong gia đình.
HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp.
- Liên hệ bản thân
3. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề.
Đề thi vào 10 môn Văn Bạc Liêu năm 2023
Đề bài
Phần I: Đọc ngữ liệu và trả lời các câu hỏi sau:
Việc tử tế không phải là những gì to tát, phi thường mà đôi khi chỉ là một hành động nhỏ bé nhưng vô cùng giá trị như câu chuyện được lan truyền trên mạng xã hội của cậu bé Đạt “thông cống” khi trời mưa, câu chuyện của nữ sinh nhặt được của rơi trả người đánh mất, cụ bà 80 tuổi với kinh nghiệm 20 năm vá đường không công, sư thầy nhận nuôi hàng trăm trẻ mồ côi… Hay đơn giản, việc tử tế chỉ là hành động thể hiện thái độ sống tích cực, hành động kính trên nhường dưới, có trước có sau, dắt cụ bà qua đường, nhặt rác nơi công cộng…
Việc tử tế không phải một ngày, cũng không phải một tháng, một năm mà là toàn bộ thời gian chúng ta đang sống. Vì vậy, hãy tiếp tục lan tỏa những việc làm tử tế mỗi ngày để góp phần xây dựng một cuộc sống tốt đẹp và nhân văn hơn.
(Theo Quang Vũ – Trải lòng về việc tử tế - Nguồn: kenh14.vn đăng ngày 6/6/2020)
Câu 1.
a. Xác định các phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
b. Theo tác giả, những câu chuyện tử tế “vô cùng giá trị … được lan truyền trên mạng xã hội” là những câu chuyện nào?
c. Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu sau: Hay đơn giản, việc tử tế chỉ là hành động thể hiện thái độ sống tích cực, hành động kính trên nhường dưới, có trước có sau, dắt cụ bà qua đường, nhặt rác nơi công cộng…
Cậu 2. Nêu nội dung chính của ngữ liệu trên.
Câu 3. Em có đồng tình với tác giả rằng: “Việc tử tế không phải một ngày, cũng không phải một tháng, một năm mà là toàn bộ thời gian chúng ta đang sống.”? Vì sao?
Phần II.
Câu 1. Từ ngữ liệu phần đọc hiểu, em hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của những việc tử tế.
Câu 2. Cảm nhận về đoạn thơ sau:
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái.
(Trích Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Phạm Tiến Duật, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr.131)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ các phương thức biểu đạt đã học, bài đọc hiểu, phân tích
Cách giải:
a.
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
b.
Theo tác giả, những câu chuyện nhỏ bé nhưng vô cùng giá trị được lan truyền trên mạng xã hội là:
- Câu chuyện về cậu bé Đạt thông cống khi trời mưa.
- Câu chuyện nữ sinh nhặt được của rơi trả lại người mất.
- Ông lão nông dân 70 tuổi với công việc 20 năm vá đường không công.
- Sư thầy nhận nuôi hàng trăm trẻ mồ côi.
….
c.
- Biện pháp nghệ thuật: Liệt kê
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh những hành động đơn giản, diễn ra hàng ngày nhưng lại thể hiện sự tử tế.
+ Từ đó kêu gọi mọi người hãy làm việc tử tế từ những điều nhỏ bé nhất.
Câu 2:
Phương pháp:
Căn cứ đọc hiểu, phân tích.
Cách giải:
Nội dung: Việc tử tế không chỉ là những hành động to tát mà còn bắt nguồn từ những hành động nhỏ bé, bởi vậy hãy lan tỏa sự tử tế để cuộc sống tốt đẹp hơn.
Câu 3:
Phương pháp:
Căn cứ đọc hiểu, phân tích, lí giải.
Cách giải:
Đồng ý vì làm việc tử tế không phải chỉ làm một lần, hai lần mà phải là cả cuộc đời, bằng những việc làm và hành động vô cùng đơn giản. Như vậy chúng ta mới có thể trưởng thành mỗi ngày, cảm thấy sống có ý nghĩa hơn và xã hội cũng sẽ ngày càng lan tỏa nhiều hơn những tấm gương người tốt việc tốt.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
Phương pháp:
Phân tích, giải thích, bình luận,…
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: ý nghĩa của những việc tử tế
2. Giải thích
- Việc tử tế: tấm lòng lương thiện, phẩm chất tốt đẹp của con người, luôn hướng đến mọi người, sẵn sàng giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn, sẵn sàng sẻ chia với người khác.
3. Bàn luận
- Ý nghĩa của việc sống tử tế:
+ Làm việc tử tế sẽ giúp con người cũng như xã hội ngày càng phát triển đẹp đẽ, vững mạnh hơn.
+ Làm việc tử tế giúp đỡ những người xung quanh ta vượt qua khó khăn, cảm nhận được tình yêu thương từ những người xung quanh, từ đó có niềm tin hơn với cộc sống.
+ Làm việc tử tế cũng giúp bản thân sống một cuộc đời hạnh phúc, thanh thản.
+ Làm việc tử tế sẽ là tấm gương tốt để mọi người noi theo, từ đó xây dựng một xã hội tử tế, văn minh.
Học sinh tự lấy dẫn chứng phù hợp: VD: Chương trình nấu ăn cho em – Đen.
- Trong xã hội vẫn có không ít người có tính ích kỉ, nhỏ nhen, chỉ biết đến bản thân mình mà không cần suy nghĩ cho người khác, lại có những người vô cảm mặc kệ nỗi đau của đồng loại,…
4. Tổng kết vấn đề.
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích, bình luận,…
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu chung về tác giả Phạm Tiến Duật và bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”.
- Giới thiệu 2 khổ thơ đầu:
+ Chân dung chiếc xe không kính.
+ Chân dung người lính lái xe.
2. Thân bài:
2.1 Hình ảnh tiểu đội xe không kính:
- Được giới thiệu rất độc đáo: “Không có kính không phải vì xe không có kính”:
+ Là lời giải thích của người lính về chiếc xe không kính.
+ Chứa đựng tâm trạng xót tiết, xuýt xoa, lại có chút phân bua, thanh minh. Tâm trạng này dễ hiểu vì với người lính lái xe chiếc xe là niềm tự hào, là phương tiện để góp sức cho chiến tuyến, góp phần làm nên chiến thắng chung.
- Miêu tả chân thực và sinh động: Không kính
-> Gợi: Sự khốc liệt của chiến trường; sự gian khổ khi lái xe; sự gan góc, kiên cường của người lính lái xe.
- Giúp người lính lái xe phát hiện ra chất thơ giữa đời thường:
+ Giúp người lính chan hòa với thiên nhiên.
+ Giúp họ nối kết tình đồng đội.
+ Tìm được những phút giây vui vẻ, hồn nhiên nhất.
=> Là một hình ảnh rất thực, không hiếm trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ. Là hình ảnh đặc sắc, độc đáo trong thơ Phạm Tiến Duật nói riêng và thơ ca kháng chiến chống Mĩ nói chung. Nó vừa là biểu tượng cho sự tàn phá của chiến tranh, lại vừa là hình ảnh đẹp đẽ, nên thơ ngay trong cuộc chiến ác liệt.
2.2. Hình ảnh người lính lái xe Trường Sơn:
* Được khắc họa trên nền của cuộc chiến tranh ác liệt:
- “Bom giật, bom rung”, “bom rơi”
- Những chiếc xe không kính:
+ Gợi vùng đất chìm trong khói lửa chiến tranh, mưa bom, bão đạn không một chút bình yên.
+ Gợi những hiểm nguy, mất mát, hy sinh của cuộc đời người lính.
* Vẻ đẹp của người lính lái xe Trường Sơn:
- Phong thái ung dung, hiên ngang, dũng cảm:
+ Đảo ngữ: tô đậm sự ung dung, bình thản, điềm tĩnh đến kì lạ.
+ Điệp từ “nhìn”, thủ pháp liệt kê và lối miêu tả nhìn thẳng, không né tránh gian khổ, hy sinh, sẵn sàng đối mặt với gian nan, thử thách.
- Tâm hồn lãng mạn: Cảm nhận thiên nhiên như một người bạn nồng hậu, phóng khoáng: sao trời, cánh chim.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề.
Đề thi vào 10 môn Văn Bạc Liêu năm 2022
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
(1) Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 31 (SEA Games 31) đang đi đến những ngày thi đấu cuối cùng. Những ngày qua, trên các sân vận động, nhà thi đấu ở 12 tỉnh, thành phố luôn rộn vang âm thanh cổ vũ, lời động viên. Hơn bao giờ hết, hai tiếng “Việt Nam” thân thương được ngân lên nhiều nhất. Nhờ sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, những giọt mồ hôi của vận động viên thấm đẫm sàn đài và sự ủng hộ nhiệt thành của nhân dân mà cả đất nước được sống trong bầu không khi thể thao cuồng nhiệt, sôi động.
(2) Thể thao luôn là nhịp cầu kết nối con người với con người, quốc gia, dân tộc với quốc gia, dân tộc. Việt Nam đã chờ đợi gần 20 năm để lại được tổ chức Đại hội Thể thao Đông Nam Á - SEA Games 31. Những lá quốc kỳ của các quốc gia trong khu vực ASEAN đang tiếp tục tung bay trên bầu trời Hà Nội và một số địa phương lân cận. Thông qua SEA Games 31, bạn bè quốc tế sẽ thêm hiểu hơn về đất nước, con người, sự hiếu khách, thân thiện, tinh thần thể thao nhiệt huyết, hết mình, Fair-play của các vận động viên và nhân dân Việt Nam.
(Trích Baotintuc.vn, ngày 21/5/2022)
Câu 1: (3,0 điểm)
a. Chỉ ra và gọi tên phép liên kết hình thức trong đoạn in đậm. (1,0 điểm)
b. Chỉ ra và gọi tên thành phần biệt lập trong câu văn sau: “Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 31 (SEA Games 31) đang đi đến những ngày thi đấu cuối cùng”. (1,0 điểm)
c. Tìm từ Hán Việt được sử dụng trong câu văn: “Những lá quốc kỳ của các quốc gia đang tiếp tục tung bay trên bầu trời Hà Nội và một số địa phương lân cận”. (1,0 điểm)
Câu 2: (2,0 điểm) Nêu nội dung chính của đoạn (1).
Câu 3: (2,0 điểm) Em có đồng ý với quan điểm được nêu trong câu văn: “Thể thao luôn là nhịp cầu kết nối con người với con người, quốc gia, dân tộc với quốc gia, dân tộc” không? Vì sao?
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. Từ ngữ liệu phần Đọc hiểu, em hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ.
Câu 2. Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến,
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
(Trích Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải, SGK Ngữ văn 9, tập hai, tr.56)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1:
|
a. Chỉ ra và gọi tên phép liên kết hình thức trong đoạn in đậm. (1,0 điểm) b. Chỉ ra và gọi tên thành phần biệt lập trong câu văn sau: “Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 31 (SEA Games 31) đang đi đến những ngày thi đấu cuối cùng”. (1,0 điểm) c. Tìm từ Hán Việt được sử dụng trong câu văn: “Những lá quốc kỳ của các quốc gia đang tiếp tục tung bay trên bầu trời Hà Nội và một số địa phương lân cận”. (1,0 điểm) |
Phương pháp: Căn cứ bài phép liên kết, thành phần phụ, từ Hán Việt.
Cách giải:
a. Phép nối: “Hơn bao giờ hết”
b. Thành phần phụ chú: (SEA game 31)
c. Từ Hán Việt: quốc kỳ, quốc gia, địa phương.
Câu 2:
|
Nêu nội dung chính của đoạn (1). |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, phân tích.
Cách giải:
Nội dung là: Sea Game 31 đã diễn ra thành công trong sự hân hoan và cổ vũ nhiệt tình của tất cả mọi người.
Câu 3:
|
Em có đồng ý với quan điểm được nêu trong câu văn: “Thể thao luôn là nhịp cầu kết nối con người với con người, quốc gia, dân tộc với quốc gia, dân tộc” không? Vì sao? |
Phương pháp: Phân tích, lí giải.
Cách giải:
HS đưa ra quan điểm cá nhân và lí giải phù hợp.
Gợi ý:
- Đồng ý với quan điểm: “Thể thao luôn là nhịp cầu kết nối con người với con người, quốc gia, dân tộc với quốc gia, dân tộc”.
- Vì: Trong thể thao tất cả mọi người đều cùng hòa chung một bầu không khí nóng bỏng và cuồng nhiệt của mỗi trận đấu. Không phân biệt quốc gia, chủng tộc, mọi người đều chung một niềm vui, chung một sự hồi hộp, hào hứng. Và chính tại đấy con người giữa các quốc gia được gắn kết với nhau.
II. LÀM VĂN:
Câu 1.
|
Từ ngữ liệu phần Đọc hiểu, em hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ. |
Phương pháp: Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
a. Yêu cầu hình thức: Viết đúng một đoạn văn khoảng 200 chữ
b. Yêu cầu nội dung:
* Xác định đúng vấn đề nghị luận: Lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ.
- Giải thích: Lòng nhiệt huyết là thái độ hăng say, hăng hái, say mê khi làm một công việc nào đó.
- Lòng nhiệt huyết là yếu tố cần thiết ở tuổi trẻ hiện nay. Người có lòng nhiệt huyết sẽ có thái độ làm việc nghiêm túc, chỉn chu. Từ đó đưa đến hiệu quả công việc cao.
- Ý nghĩa của lòng nhiệt huyết:
+ Lòng nhiệt huyết đưa chúng ta tới gần hơn với ước mơ, khát vọng của bản thân.
+ Lòng nhiệt huyết giúp chúng ta có thể vượt qua những khó khăn thử thách.
+ Lòng nhiệt huyết là bước đệm để hoàn thiện bản thân tốt hơn.
- Liên hệ mở rộng:
+ Luôn giữ vững ngọn lửa nhiệt huyết trong bản thân.
+ Mang sự nhiệt huyết để cống hiến cho cộng đồng, xã hội.
Câu 2.
|
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau: Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến,
Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc. (Trích Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải, SGK Ngữ văn 9, tập hai, tr.56) |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu chung về tác giả Thanh Hải và tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ.
- Giới thiệu 2 khổ thơ cần phân tích: Nguyện ước chân thành, tha thiết của tác giả.
2. Thân bài
- Mùa xuân đất nước đã khơi dậy trong lòng nhà thơ những khát vọng sống cao quý:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một nhành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến”
+ Điệp từ “ta làm”, lặp cấu trúc, liệt kê -> giúp tác giả bày tỏ ước nguyện được hiến dâng cuộc đời mình cho quê hương, xứ sở.
+ Các hình ảnh “con chim hót” “một cành hoa” “nốt nhạc trầm”: giản dị, tự nhiên mà đẹp, thể hiện ước nguyện khiêm nhường mà đáng quý.
+ Có sự ứng đối với các hình ảnh ở đầu bài thơ -> lí tưởng cống hiến cho đời là một lẽ tự nhiên, tất yếu; gợi liên tưởng đến mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa con người – đất nước.
Tấm lòng thiết tha được hòa nhập, được cống hiến cho cuộc đời, cho đất nước.
Khát vọng sống đẹp được nâng lên thành lí tưởng sống cao cả”
“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”
+ “Mùa xuân nho nhỏ”: ẩn dụ cho những gì đẹp nhất, tinh túy nhất của cuộc đời con người để góp phần làm nên mùa xuân của đất nước. Là cách nói khiêm nhường, giản dị, gợi một tâm hồn đẹp, một lối sống đẹp, một nhân cách đẹp “lặng lẽ dâng cho đời”.
+ Điệp từ “dù là” + hình ảnh tương phản “tuổi hai mươi” – “khi tóc bạc” khẳng định sự tồn tại bền vững của những khát vọng và lí tưởng sống ấy. Cả cuộc đời mình ông vẫn muốn chắt chiu những gì tốt đẹp nhất để hiến dâng cho đời.
=> Khổ thơ là lời tổng kết của nhà thơ về cuộc đời mình. Cho đến tận cuối đời ông vẫn khát khao cống hiến cho đất nước.
3. Kết bài:
- Nội dung: Bày tỏ lẽ sống đẹp đẽ, cao cả, đó là sẵn sàng dâng hiến cuộc đời mình cho đất nước, quê hương.
- Nghệ thuật:
+ Thể thơ 5 chữ, giàu nhịp điệu.
+ Ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, trong sáng.
+ Cảm xúc chân thành, tha thiết.
Đề thi vào 10 môn Văn Bạc Liêu năm 2020
Đề bài
I. PHẦN ĐỌC HIỂU: (7,0 điểm)
Đọc ngữ liệu và trả lời các câu hỏi sau:
Trên đường đời bạn cũng có lúc vấp ngã. Tôi cũng vậy. Ngay cả người tài giỏi, khôn ngoan nhất cũng có lúc vấp ngã. Vấp ngã là điều bình thường, chỉ có những người không bao giờ đứng dậy sau vấp ngã mới là người thực sự thất bại. Điều chúng ta cần ghi nhớ là, cuộc sống không phải là một cuộc thi đỗ - trượt... Cuộc sống là một quá trình thử nghiệm các biện pháp khác nhau cho đến khi tìm ra một cách thích hợp. Những người đạt được thành công phần lớn là người biết đứng dậy từ những sai lầm ngớ ngẩn của mình bởi họ coi thất bại, vấp ngã chỉ là tạm thời và là kinh nghiệm bổ ích. Tất cả những người thành đạt mà tôi biết đều có lúc phạm sai lầm. Thường thì họ nói rằng sai lầm đóng vai trò quan trọng đối với thành công của họ. Khi vấp ngã, họ không bỏ cuộc. Thay vì thế, họ xác định các vấn đề của mình là gì, cố gắng cải thiện tình hình và tìm kiếm giải pháp sáng tạo hơn để giải quyết. Nếu thất bại năm lần, họ cố gắng đứng dậy năm lần, mỗi lần một cố gắng hơn, Winston Churchill đã nắm bắt được cốt lõi của quá trình này khi ông nói: “Sự thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không đánh mất nhiệt huyết và quyết tâm vươn lên”.
(Trích Cuộc sống không giới hạn, Nick Vujicic, chương VII, trang 236)
Câu 1: (3,0 điểm)
a. Xác định phương thức biểu đạt chính. (1,0 điểm)
b. Cho biết cách trích dẫn ở phần in đậm? (1,0 điểm)
c. Chỉ ra phép liên kết hình thức được sử dụng trong hai câu văn sau: "Khi vấp ngã, họ không bỏ cuộc. Thay vì thế, họ xác định các vấn đề của mình là gì, cố gắng cải thiện tình hình và tìm kiếm giải pháp sáng tạo hơn để giải quyết."(1,0 điểm)
Câu 2: (2,0 điểm)
Em hiểu thế nào về câu văn: “Vấp ngã là điều bình thường, chỉ có những người không bao giờ đứng dậy sau vấp ngã mới là người thực sự thất bại”?
Câu 3: (2,0 điểm)
Em có đồng ý với quan điểm của Winston Churchill: "Sự thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không đánh mất nhiệt huyết và quyết tâm vươn lên."? Vì sao?
II. PHẦN LÀM VĂN: (13,0 điểm)
Câu 1: (5,0 điểm)
Từ ngữ liệu phần đọc hiểu, em hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về ý nghĩa của việc đứng dậy sau vấp ngã đối với tuổi trẻ trong cuộc sống.
Câu 2: (8,0 điểm)
Cảm nhận của em về đoạn thơ:
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa do bụng biên,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Cá nhụ cá chim cùng cả đé,
Cả song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe.
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.
(Trích Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận, Ngữ văn 9, tập 1, NXBGD 2018, tr.140)
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1:
|
a. Xác định phương thức biểu đạt chính. b. Cho biết cách trích dẫn ở phần in đậm? c. Chỉ ra phép liên kết hình thức được sử dụng trong hai câu văn sau: "Khi vấp ngã, họ không bỏ cuộc. Thay vì thế, họ xác định các vấn đề của mình là gì, cố gắng cải thiện tình hình và tìm kiếm giải pháp sáng tạo hơn để giải quyết." |
Phương pháp: căn cứ bài nội dung bài về phương thức biểu đạt, phép liên kết và cách dẫn trực tiếp, gián tiếp
Cách giải:
1. Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
2. Dẫn theo cách trực tiếp.
3. Phép liên kết: phép thế (“thế” được thế cho cụm từ “họ không bỏ cuộc”.)
Câu 2:
|
Em hiểu thế nào về câu văn: “Vấp ngã là điều bình thường, chỉ có những người không bao giờ đứng dậy sau vấp ngã mới là người thực sự thất bại”? |
Phương pháp: phân tích, lí giải
Cách giải:
Câu văn “Vấp ngã là điều bình thường, chỉ có những người không bao giờ đứng dậy sau vấp ngã mới là người thực sự thất bại” có thể được hiểu là:
+ Vấp ngã là điều ai cũng sẽ gặp và phải trải qua trong cuộc sống
+ Quan trọng nhất là sau vấp ngã chúng ta học được bài học kinh nghiệm và giữ vững ý chí để vượt qua vấp ngã, thất bại. Người không dám đối mặt với vấp ngã mới là người thất bại thực sự.
Câu 3:
|
Em có đồng ý với quan điểm của Winston Churchill: "Sự thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không đánh mất nhiệt huyết và quyết tâm vươn lên."? Vì sao? |
Phương pháp: phân tích, lí giải
Cách giải:
Học sinh trả lời theo quan điểm cá nhân của mình.
Gợi ý: Đồng tình với ý kiến. Vì:
+ Thành công không tự nhiên mà đến mà nó phải là một quá trình học hỏi. Trong quá trình đó chắc chắn có những bài học đến từ thất bại. Thất bại cho người ta thấy được điểm mạnh, điểm yếu của bản thân mỗi người để từ đó ta trau dồi kiến thức, hoàn thiện bản thân.
+ Thành công còn đến từ việc con người giữ vững quyết tâm và ý chí của mình sau những thất bại. Thất bại đôi khi làm người ta nản lòng nhưng nếu chỉ sống mãi trong những giây phút chán nản đó bạn sẽ không thể có được gì. Mạnh mẽ và quyết tâm bước tiếp với sự nhiệt huyết, say mê sẽ dẫn bạn đến với điều bạn muốn.
Phần II
Câu 1
|
Từ ngữ liệu phần đọc hiểu, em hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về ý nghĩa của việc đứng dậy sau vấp ngã đối với tuổi trẻ trong cuộc sống. |
Phương pháp: phân tích, lí giải
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: Ý nghĩa của việc đứng dậy sau vấp ngã đối với tuổi trẻ trong cuộc sống.
2. Giải thích vấn đề
- Vấp ngã có nghĩa là gặp phải hoàn cảnh khó khăn, trở ngại khiến ta không thể đạt đến mục đích trong công việc và trong cuộc sống. Ở đây, vấp ngã có thể hiểu thất bại, khiến ta bị tổn thương, gây cho ta sự đau đớn. Vấp ngã hay thất bại có thể do hoàn cảnh, cũng có thể do chính bạn.
- Đứng dậy sau vấp ngã là vượt qua những tổn thương, đau đớn của việc vấp ngã đem lại và giữ vững ý chí, quyết tâm để tiếp tục thực hiện điều ta mơ ước.
=> Việc đứng dậy sau vấp ngã có vai trò và ý nghĩa to lớn với mỗi người, nhất là đối với tuổi trẻ trong cuộc sống.
3.Phân tích, bàn luận vấn đề
- Ý nghĩa của việc đứng dậy sau vấp ngã đối với tuổi trẻ trong cuộc sống:
+ Thể hiện ý chí, bản lĩnh của con người.
+ Củng cố niềm tin vào cuộc sống, tương lai tốt đẹp.
+ Có khả năng truyền cảm hứng đến những người xung quanh.
- Vấp ngã là một phần tất yếu của cuộc sống. Không ai sống một đời mà không trải qua những tổn thương, thất bại. Điều quan trọng nhất là những tổn thương hay thất bại đó luôn dạy cho chúng ta những bài học cuộc sống để ta biết sống một cách có ý nghĩa.
- Khi vấp ngã bạn hãy dành thời gian cho chính mình, lắng nghe cảm xúc và lí trí của mình sau thất bại xem thực sự mình cảm thấy thế nào và muốn gì? ; Dành thời gian để nhìn nhận lại chặng đường đã đi qua và rút ra những bài học.
- Phê phán những kẻ yếu đuối, chỉ một vấp ngã đã bị đánh gục, không thể đứng lên chinh phục cuộc sống, chinh phục những đỉnh cao khác.
4.Liên hệ bản thân và tổng kết
Câu 2
|
Cảm nhận của em về đoạn thơ: Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng, Ra đậu dặm xa do bụng biên, Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Cá nhụ cá chim cùng cả đé, Cả song lấp lánh đuốc đen hồng, Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe. Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long. (Trích Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận, Ngữ văn 9, tập 1, NXBGD 2018, tr.140) |
Phương pháp: phân tích, cảm nhận, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
- Huy Cận (1919 – 2005), tên đầy đủ là Cù Huy Cận, quê ở làng Ân Phú, huyện Vụ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam.
- Giữa năm 1958, Huy Cận có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi thực tế này, hồn thơ Huy Cận mới thực sự nảy nở trở lại, dồi dào trong cảm hứng về thiên nhiên đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới.
- Bài “Đoàn thuyền đánh cá” được sáng tác trong thời gian ấy và in trong tập thơ “Trời mỗi ngày lại sáng” (1958).
- Hai khổ thơ cho thấy cảnh đoàn thuyền trên biển bao la, hùng vĩ.
2. Phân tích, cảm nhận
* Cảnh biển rộng mênh mông, khoáng đạt, trên đó có con thuyền lướt đi trên sóng:
- Một con thuyền đặc biệt có gió là người cầm lái, trăng là cánh buồm -> câu thơ gợi lên sự nhịp nhàng, hòa quyện giữa đoàn thuyền đánh cá và biển trời.
- Con thuyền băng băng lướt sóng ra khơi để dò bụng biển. Công việc đánh cá được dàn đan như một thế trận hào hùng -> gợi lên sự khéo léo như nghệ sĩ của những người dân chài và tâm hồn phóng khoáng, dũng cảm chinh phục biển cả.
Như vậy, tầm vóc của con người và đoàn thuyền đã được nâng lên, hòa nhập vào kích thước của thiên nhiên vũ trụ. Không còn cái cảm giác nhỏ bé khi con người đối diện với trời rộng sông dài như trong thơ Huy Cận trước cách mạng. Hình ảnh thơ thật lãng mạn, bay bổng và tâm hồn con người cũng thật vui vẻ, phơi phới. Công việc lao động nặng nhọc của người đánh cá đã trở thành bài ca đầy niềm vui, nhịp nhàng cùng thiên nhiên.
* Sự giàu đẹp, trù phú và nên thơ của biển cả
- Tác giả liệt kê sự giàu có của biển cả bằng cách kể tên các loài cá và tập trung miêu tả màu sắc của chúng trong đêm trăng. Đó đều là những loài cá quý ở vùng biển nước ta, mang lại những giá trị kinh tế lớn.
- Biển không chỉ giàu mà còn rất đẹp: Đêm buông xuống, trăng bắt đầu lên, không gian bao la sóng nước, ánh trăng huyền ảo, thơ mộng và thanh thoát lan tỏa trên mặt biển. Hình ảnh ẩn dụ độc đáo: “Cá song lấp lánh đuốc đen hồng” gợi liên tưởng đến những con cá đang lao đi trong luồng nước dưới ánh trăng lấp lánh. Nhưng đẹp đẽ nhất là “cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe”: Ánh trăng in xuống mặt nước, những con cá quẫy đuôi như quấy ánh trăng tan ra, hòa trộn vào làn nước.
- Tác giả sử dụng một loạt những từ ngữ chỉ màu sắc: lấp lánh, đen hồng, vàng chóe. Tất cả tạo nên một bức tranh sơn mài nên thơ và đầy chất lãng mạn. Phải thật tinh tế mới có được những phát hiện tuyệt vời ấy.
- “Đêm thở sao lùa nước Hạ Long” là hình ảnh nhân hóa đẹp. Tiếng thở của biển đêm chính là ánh sao lùa sóng nước, hòa với tiếng gõ thuyền trong nhịp điệu hối thúc của đêm dần tàn. Đây là một hình ảnh lạ, một sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ Huy Cận khiến cho cảnh thiên nhiên thêm sinh động. Tất cả hòa vào nhau, làm nên một bức tranh hòa nhịp kì diệu giữa thiên nhiên và con người lao động.
3. Tổng kết vấn đề
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
