Đề thi vào 10 môn Văn Bắc Ninh
Đề thi vào 10 môn Văn Bắc Ninh năm 2026
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
Tỉnh Bắc Ninh đón nhận Bằng UNESCO và khai mạc Festival “Về miền di sản Bắc Ninh – 2026”
(BNP) - Tối 27/3, tại Quảng trường 3/2, tỉnh Bắc Ninh tổ chức trọng thể Lễ đón nhận Bằng của UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp; công bố Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc là Di sản Văn hóa Thế giới, đồng thời khai mạc Festival “Về miền Di sản Bắc Ninh 2026”.
[...] Ngày 09/12/2025, tại kỳ họp lần thứ 20 của Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Đây không chỉ là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam, mà còn là sự khẳng định trách nhiệm của chúng ta trong việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy các di sản quý báu của nhân loại.

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch trao Bằng của UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách Di sản văn hoá phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp
Phát biểu khai mạc buổi lễ, đồng chí Phạm Hoàng Sơn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: Bắc Ninh - Kinh Bắc là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hiến với hệ thống di sản phong phú, trong đó tranh dân gian Đông Hồ là biểu tượng độc đáo, kết tinh giá trị thẩm mỹ và tri thức dân gian. Việc được UNESCO ghi danh không chỉ ghi nhận giá trị di sản mà còn đặt ra trách nhiệm cấp thiết trong bảo tồn, phục hồi và phát huy trước những thách thức hiện nay.
[...] Lễ đón nhận Bằng của UNESCO và khai mạc Festival không chỉ là dịp khẳng định vị thế của Bắc Ninh trên bản đồ di sản văn hóa thế giới, thu hút đầu tư, phát triển du lịch và các ngành công nghiệp văn hóa. Đồng thời, sự kiện góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về trách nhiệm gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong bối cảnh hội nhập, qua đó tạo động lực quan trọng để Bắc Ninh phát triển bền vững, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống.
(https://bacninh.gov.vn/news/-/details/37632/tinh-bac-ninh-on-nhan-bang-cua-unesco-va-khai-mac-festival-ve-mien-di-san-bac-ninh-2026-97533142)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Văn bản cung cấp thông tin về sự kiện nào?
Câu 2. Chỉ ra thời gian, địa điểm tổ chức sự kiện trên.
Câu 3. Phân tích tác dụng của việc sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản.
Câu 4. Theo em, vì sao Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp?
Câu 5. Bằng những hiểu biết của bản thân, kết hợp với thông tin trong văn bản, nêu cảm nhận của em về mảnh đất và con người Bắc Ninh.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) đề xuất giải pháp đưa văn hóa Bắc Ninh đến với bạn bè trong và ngoài nước.
Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nội dung chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của đoạn trích sau:
Những ngày mới
(Trích) – Thạch Lam
Những bông lúa vàng mới cắt xong đều xếp rải rác từng hàng trên bờ ruộng, trong đám cỏ xanh mà dày. Mỗi khi gặt được vài lượm lúa, người thợ hái¹ ôm sát bó lúa thơm vào người đem ra xếp vào chỗ lúa trước. Rồi họ lại trở vào ruộng đứng theo hàng với những người bạn gặt. Tiếng hái² đưa vào gốc lúa soàn soạt như tiếng trâu bò ăn cỏ.
Chăm chú vào công việc làm, Tân không để ý gì đến cảnh vật xung quanh. Chàng cũng không thấy mệt nữa, tuy ánh nắng chiều trên lưng nóng rát, và mồ hôi từng giọt rỏ trên trán xuống. Tân chú ý đưa cái hái cho nhanh nhẹn; mỗi lần bông lúa rung động chạm vào mặt, vào người, mùi lúa chín thơm lại phảng phất lẫn với mùi rạ ướt mới cắt. Mùi thơm đó làm chàng say sưa như men rượu. Tân lại cố hết sức gặt, chỉ lo không theo kịp hàng những người thợ hái.
Buổi sáng, khi Tân ngỏ ý muốn cầm hái xuống gặt, bọn thợ hái chàng mượn đã mấy hôm nay đều trông chàng mà cười. Một cô gái trong bọn, cặp mắt đen nhìn dưới vành khăn vuông che kín đầu, nói đùa: - Ông để mặc chúng tôi, bộ ông thế kia thì gặt được độ ba nẹn³ lúa. Mọi người vui vẻ cười làm Tân cũng cười theo. Người già nhất trong bọn, một cụ râu tóc đã bạc, nhưng da sém đen và khỏe mạnh lẳng lặng đem một cây hái ra mài trên bờ ruộng. Khi mọi người sửa soạn xong, ông cụ đưa cho Tân cây hái, lưỡi sáng loáng, nói: - Lưỡi sắc thế này thì cắt cứ ngọt như cắt cỏ. Cắt được mấy lượm lúa, Tân thấy cánh tay mỏi rã rời. Chàng tưởng không thể nào gặt được nữa. Tuy vậy, cố hết sức, chàng cũng theo kịp bọn thợ gặt. Nhưng được vài bước, Tân lại phải dừng lại để thở. Chàng nhận thấy cô gái ban nãy, tuy tay hái thoăn thoắt nhưng vẫn để ý nhìn chàng. Còn ông cụ già cứ điềm đạm gặt; bên cạnh ông ta những bông lúa đã xếp thành đống.
Tân lại cúi xuống làm việc. Dần dần, cánh tay mềm dẻo, Tân đã thấy dễ chịu. Chàng luôn đưa lưỡi hái, vui vẻ mỗi khi thấy những bông lúa chắc, vàng ngã vào sát người. Tân thấy tâm hồn khoan khoái như không bận một ý nghĩ gì. [...] Trích lược: Tân trò chuyện thân mật với những người thợ hái trong giờ nghỉ.
Tân nằm trên thảm cỏ, nhìn lên. Qua khe lá lung lay, chàng thấy trời xanh trong và mát. Mùi cỏ và mùi lúa thơm bốc lên xung quanh. Tân cảm thấy cái sung sướng của một người làm xong công việc. Chàng thấy vui vẻ: một mối cảm tình nảy nở giữa tâm hồn Tân với những người thợ gặt giản dị và mộc mạc chung quanh chàng.
Họ làm việc xong cũng vui vẻ, sung sướng, tuy những lúa gặt không phải của họ. Tân cũng vậy. Chàng biết rằng những bó lúa kia đem bán đi thì có lẽ không đủ tiền trả công người làm. Song những bông lúa ấy đối với Tân quý lắm và như có một ý nghĩa thiêng liêng; đấy là kết quả của cả một năm làm lụng khó nhọc và vất vả. [...]
Chú thích:
¹ Thợ hái: người gặt lúa thuê.
² Hái: đồ dùng có lưỡi cong để gặt lúa, cắt cỏ.
³ Nẹn: bó nhỏ.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1. Sự kiện: Lễ đón nhận Bằng của UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp và khai mạc Festival “Về miền di sản Bắc Ninh - 2026”.
Câu 2.
- Thời gian: tối 27/3
- Địa điểm: Quảng trường 3/2, tỉnh Bắc Ninh
Câu 3.
- Phương tiện phi ngôn ngữ: hình ảnh minh họa trong văn bản (ảnh lễ đón nhận bằng UNESCO).
- Tác dụng:
+ Giúp thông tin trở nên trực quan, sinh động, hấp dẫn hơn.
+ Tăng độ chân thực, tính thuyết phục của văn bản.
+ Giúp người đọc hình dung rõ hơn về sự kiện, tạo ấn tượng về ý nghĩa và quy mô của lễ đón nhận.
Câu 4. Vì:
- Đây là biểu tượng độc đáo, kết tinh giá trị thẩm mỹ và tri thức dân gian.
- Hiện nay nghề có nguy cơ mai một, suy giảm, cần được bảo tồn, phục hồi và phát huy nên cần được bảo vệ khẩn cấp.
Câu 5. Cảm nhận về mảnh đất và con người Bắc Ninh:
- Bắc Ninh là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa, lưu giữ nhiều giá trị văn hóa lâu đời.
- Có nhiều di sản văn hóa quý giá: dân ca quan họ, tranh dân gian Đông Hồ, di tích lịch sử…
- Con người Bắc Ninh cần cù, sáng tạo, giàu tình nghĩa, có ý thức giữ gìn và bảo vệ di sản quê hương.
- …
=> Thêm yêu mến, trân trọng mảnh đất và con người Bắc Ninh; thấy cần có ý thức giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống.
II. VIẾT
Câu 1.
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân đoạn
a. Giải thích
- Văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử.
- Đưa văn hóa Bắc Ninh đến với bạn bè trong và ngoài nước là lan tỏa, quảng bá những giá trị văn hóa đặc sắc của địa phương để nhiều người biết đến, yêu mến và gìn giữ.
b. Bàn luận
- Một số nét văn hoá đặc sắc: Dân ca Quan họ Bắc Ninh, tranh dân gian Đông Hồ, hội Lim, …; hệ thống di tích lịch sử: chùa Dâu, chùa Bút Tháp, …
- Ý nghĩa của việc đưa văn hoá Bắc Ninh đến với bạn bè trong và ngoài nước: Giúp nhiều người biết đến vùng đất giàu truyền thống văn hóa, lịch sử; Khơi dậy niềm tự hào quê hương; Thúc đẩy phát triển du lịch, kinh tế,…
- Đề xuất giải pháp:
+ Đẩy mạnh quảng bá trên mạng xã hội, nền tảng số bằng nhiều ngôn ngữ.
+ Tổ chức các lễ hội, festival văn hóa, chương trình giao lưu nghệ thuật, biểu diễn quan họ, triển lãm
+ Gắn quảng bá văn hóa với phát triển du lịch trải nghiệm
+ Đưa giáo dục văn hóa truyền thống vào trường học để thế hệ trẻ hiểu và lan tỏa giá trị quê hương.
+ Khuyến khích người dân, đặc biệt giới trẻ, trở thành “đại sứ văn hóa”
HS lấy dẫn chứng phù hợp
- Mở rộng: Phê phán những người thờ ơ, thiếu ý thức giữ gìn và quảng bá văn hóa Bắc Ninh, không quan tâm đến các giá trị truyền thống.
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận
Câu 2.
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân bài
a. Khái quát nội dung văn bản.
b. Nội dung chủ đề
* Chủ đề của văn bản: Ca ngợi vẻ đẹp, niềm vui của lao động chân tay và sự thức tỉnh, gắn kết trong tâm hồn của người trí thức trẻ đối với cuộc sống và những người lao động bình dị.
* Biểu hiện của nội dung chủ đề được thể hiện trong văn bản:
- Ca ngợi bức tranh lao động đồng quê.
- Ca ngợi vẻ đẹp của người lao động và giá trị của thành quả lao động
+ Hình tượng nhân vật Tân: Nhận ra vẻ đẹp và ý nghĩa của lao động: bỡ ngỡ, mệt mỏi => thích nghi => cảm nhận được niềm vui và sự khoan khoái của lao động.
=> Nhân vật Tân đại diện cho quá trình khám phá giá trị của lao động và sự hòa nhập với cuộc sống bình dị.
+ Những người lao động khác (người thợ gặt, cô gái, cụ già) hiện lên bình dị, gần gũi.
+ Giá trị của thành quả lao động: Thành quả lao động mang ý nghĩa thiêng liêng, đáng trân trọng.
- Tình đoàn kết, đồng cảm giữa con người với con người: Đoạn trích làm nổi bật tình cảm chân thành giữa Tân và những người thợ gặt mộc mạc, xóa nhòa đi khoảng cách để cùng chia sẻ niềm vui giản dị của ngày mùa.
* Đặc sắc nghệ thuật:
- Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế: Sự chuyển biến tâm lý diễn ra tự nhiên từ ngượng ngùng, tới cố gắng hòa nhập và cuối cùng cảm giác khoan khoái, sự tự nhận thức về giá trị lao động
- Ngôn ngữ trong sáng, tinh tế.
- Giọng văn nhẹ nhàng, giàu chất trữ tình.
- ...
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận
Đề thi vào 10 môn Văn Bắc Ninh năm 2025
Đề bài
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
Mẹ yêu con nhự dòng sông biết hát
Cho những ngôi sao biết soi mặt đất cười
Một tiếng gà sang canh mẹ lo con thức giấc
Một buổi xa nhà mẹ nhớ con khôn nguôi
Mẹ thương con như đường kim mũi chỉ
Theo bàn tay mẹ nối ấm lành
Còn một kẻ thù chân con chưa thể nghỉ
Bởi mẹ đêm dài chưa trọn giấc năm canh
Nếu lòng con là một khoảng trời xanh
Thì ngôi sao sáng nhất là tình yêu của mẹ
Ngôi sao sáng giữa đêm dài lặng lẽ
Như nỗi nhớ thương mẹ gửi về con
Từ buổi đi xa nay con hiểu ra rồi
Qua giá buốt mới thấy mùa xuân đẹp
Qua nhỏ nhắn của một lòng nôi hẹp
Mẹ đã cho con thành người lính dạn dày
(Trích Nghĩ về mẹ, Lâm Thị Mỹ Dạ, in trong Trăm năm còn gió heo may, NXB Hội nhà văn, 2024, tr.34)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2. Chỉ ra những hình ảnh thiên nhiên có trong đoạn thơ:
Mẹ yêu con như dòng sông biết hát
Cho những ngôi sao biết soi mặt đất cười
Một tiếng gà sang canh mẹ lo con thức giấc
Một buổi xa nhà mẹ nhớ con khôn nguôi
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp điệp được sử dụng trong các dòng thơ sau:
Thì ngôi sao sáng nhất là tình yêu của mẹ
Ngôi sao sáng giữa đêm dài lặng lẽ
Như nỗi nhớ thương mẹ gửi về con
Câu 4. Nhận xét tình cảm, cảm xúc của nhân vật con dành cho mẹ được thể hiện trong hai dòng thơ:
Qua nhỏ nhắn của một lòng nôi hẹp
Mẹ đã cho con thành người lính dạn dày
Câu 5. Từ văn bản, em hãy rút ra thông điệp có ý nghĩa với bản thân.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá một số nét đặc sắc nghệ thuật của văn bản phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm)
Hiện nay, một số học sinh đang lãng phí thời gian.
Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vấn đề trên và đề xuất giải pháp.
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc số tiếng trong các dòng thơ, cách ngắt nhịp và gieo vần để xác định thể thơ; chú ý số chữ mỗi dòng không cố định
Lời giải chi tiết:
Thể thơ của văn bản: tự do.
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn thơ, xác định những sự vật thuộc thiên nhiên được tác giả sử dụng để miêu tả, biểu đạt cảm xúc.
Lời giải chi tiết:
Những hình ảnh thiên nhiên xuất hiện trong đoạn thơ: “dòng sông”, “ngôi sao”, “mặt đất”.
Câu 3.
Phương pháp:
Xác định phép điệp trong đoạn thơ, chỉ ra từ ngữ được lặp lại và phân tích tác dụng về nội dung, nghệ thuật, cảm xúc.
Lời giải chi tiết:
- Các dòng thơ được điệp lại cụm từ “ngôi sao sáng” (2 lần).
- Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu, làm cho đoạn thơ giàu nhạc tính. + Nhấn mạnh tình yêu thương, nỗi nhớ thương của mẹ dành cho người lính đi chiến đấu nơi phương xa.
+ Thể hiện sự trân trọng, biết ơn của người lính với người mẹ ở nơi quê nhà.
Câu 4.
Phương pháp:
Đọc hai dòng thơ, xác định cảm xúc của nhân vật trữ tình qua từ ngữ, hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng.
Lời giải chi tiết:
- Tình cảm, cảm xúc của nhân vật con dành cho mẹ trong hai câu thơ: trân trọng, biết ơn sự bao bọc, chở che, tình yêu thương vô bờ bến của mẹ, giúp người con lớn khôn, trưởng thành, trở thành “người lính dạn dày” đi chiến đấu bảo vệ quê hương.
=> Tình cảm, cảm xúc rất tự nhiên, chân thành, xuất phát từ những suy nghĩ chín chắn của người lính đã trưởng thành.
Câu 5.
Phương pháp:
Khái quát nội dung văn bản, rút ra thông điệp phù hợp gắn với nhận thức và hành động của bản thân.
Lời giải chi tiết:
- Tham khảo một số gợi ý sau:
+ Trân trọng, biết ơn sự hi sinh của mẹ dành cho mình.
+ Luôn quan tâm, yêu thương và hiếu thảo với mẹ khi còn có thể.
+ ...
II. VIẾT
Câu 1.
Phương pháp:
Xác định yêu cầu nghị luận về đặc sắc nghệ thuật của văn bản; phân tích các yếu tố như thể thơ, hình ảnh, biện pháp tu từ, giọng điệu gắn với nội dung biểu đạt.
Lời giải chi tiết:
- Mở đoạn: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề cần phân tích: Một số nét đặc sắc nghệ thuật trong bài thơ “Nghĩ về mẹ” của Lâm Thị Mỹ Dạ.
- Thân đoạn:
+ Thể thơ tự do, với cách ngắt nhịp, gieo vần linh hoạt đã góp phần diễn tả tình cảm yêu thương, biết ơn của người lính với sự hi sinh, tình yêu thương vô bờ bến của người mẹ.
+ Sử dụng thành công các biện pháp tu từ như so sánh (Mẹ yêu con như dòng sông biết hát, Mẹ thương con như đường kim mũi chỉ, Ngôi sao sáng giữa đêm dài lặng lẽ/ Như nỗi nhớ thương mẹ gửi về con) kết hợp với biện pháp tu từ điệp ngữ (ngôi sao sáng, một buổi xa nhà) góp phần tô đậm những phẩm chất đáng quý của người mẹ - tình yêu thương, đức hi sinh cao cả.
+ Hình ảnh thơ độc đáo, mang tính biểu tượng sâu sắc (ngôi sao sáng, giá buốt, lòng nôi hẹp,...) góp phần thể hiện chân thực, tự nhiên tình yêu, ự biết ơn của người lính dành cho người mẹ ở nơi quê nhà. Dường như người lính đều thấu hiểu nỗi nhớ, tình yêu thương vô hạn của mẹ dành cho mình trên mỗi bước đường, lấy đó làm động lực để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.
- Kết đoạn: Khẳng định những đặc sắc nghệ thuật góp phần thể hiện chủ đề, tư tưởng của bài thơ: Ca ngợi vẻ đẹp của những người mẹ Việt Nam anh hùng.
Câu 2.
Phương pháp:
Xác định đúng vấn đề nghị luận về hiện tượng lãng phí thời gian của học sinh; triển khai theo bố cục: giải thích => thực trạng, nguyên nhân, hậu quả => giải pháp => bài học nhận thức, hành động.
Lời giải chi tiết:
* Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận: Hiện tượng một số học sinh đang lãng phí thời gian.
* Thân bài:
- Giải thích: Lãng phí thời gian là việc sử dụng thời gian không hiệu quả, dành thời gian cho các hoạt động vô bổ, không mang lại lợi ích cho cá nhân hay cộng đồng, xã hội.
- Bàn luận: Nêu ý kiến của bản thân về vấn đề nghị luận và sử dụng lí lẽ, dẫn chứng để phân tích, chứng minh:
+ Thực trạng của việc lãng phí thời gian ở một số học sinh hiện nay: dành hàng giờ để ngủ nướng, ngồi chơi game, lướt tiktok, xem tivi,... thay vì đọc sách, học bài; thường xuyên trì hoãn công việc, nhiệm vụ của bản thân để dành thời gian cho những sở thích, thú vui “vô bổ”...
+ Nguyên nhân:
+) Do nhận thức chưa đúng đắn: một số HS luôn có suy nghĩ thời gian còn nhiều, cần phải tận hưởng, vui chơi để không lãng phí tuổi trẻ.
+) Do một số HS còn thiếu kỉ luật với bản thân; thiếu kĩ năng quản lí, sử dụng thời gian.
+)...
+ Hậu quả: không phát triển được bản thân, không nắm bắt được cơ hội trong cuộc sống, bị lệ thuộc vào các thiết bị điện tử dẫn đến nghiện game, nghiện mạng xã hội,...
+ Giải pháp:
+) HS cần nâng cao nhận thức của bản thân về giá trị, ý nghĩa của thời gian trong cuộc sống. Cần phải hiểu thời gian là vàng, một đi không trở lại. Vì vậy, cần sử dụng thời gian hợp lí, tránh lãng phí thời gian vào những việc vô bổ.
+) Biết lập kế hoạch, quản lí thời gian một cách hiệu quả, cân bằng giữa việc học tập, phát triển bản thân với việc vui chơi, giải trí.
+) Hạn chế sử dụng mạng xã hội và các thiết bị điện tử.
+)...
+ Mở rộng, liên hệ
+) Ý kiến trái chiều: Nhiều người cho rằng thời gian của người trẻ còn rất dài, cần có thêm trải nghiệm để người trẻ thay đổi cách sử dụng thời gian. --> Đây là một quan niệm không hoàn toàn đúng. Bởi lẽ, quỹ thời gian trong một ngày của mỗi người là như nhau, việc lãng phí thời gian khi còn trẻ có thể khiến người trẻ đánh mất nhiều cơ hội, thậm chí ảnh hưởng tới cả tương lai về sau.
+) Liên hệ, rút ra bài học: Luôn chủ động lên thời khóa biểu, có kế hoạch rõ ràng trong một ngày/ một tuần; dành thời gian vào những công việc có ý nghĩa như: đọc sách, tham gia các hoạt động xã hội, rèn luyện kĩ năng sống,...
* Kết bài: Khẳng định vấn đề.
Đề thi vào 10 môn Văn Bắc Ninh năm 2023
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU. Đọc khổ thơ:
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bắc
Muốn làm đỏa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
(Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr.59)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Khổ thơ trên trích trong tác phẩm nào? Tác giả là ai? Nêu hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm.
Câu 2. Trong khổ thơ, khi trở về miền Nam tác giả ước muốn được làm những gì có ý nghĩa?
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ trong những câu thơ trên.
Câu 4. Nêu ngắn gọn về tâm trạng của tác giả trong khổ thơ.
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. Hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng) chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của tình yêu thương trong cuộc sống.
Câu 2. Cảm nhận của em về đoạn trích sau:
... anh lấy vỏ đạn hai mươi li của Mĩ, dập mỏng làm thành một cây cưa nhỏ, cưa khúc ngà thành từng miếng nhỏ. Những lúc rỗi, anh của từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc. Chẳng hiểu sao tôi thích ngồi nhìn anh làm và cảm thấy vui vui khi thấy bụi ngà rơi mỗi lúc một nhiều. Một ngày, anh cưa được một vài răng. Không bao lâu sau, cây lược được hoàn thành. Cây lược dài độ hơn một tấc, bề ngang độ ba phân rưỡi, cây lược cho con gái, cây lược dùng để chải mái tóc dài, cây lược chỉ có một hàng răng thưa. Trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba". Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm
trạng của anh. Những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi hối hận đánh con, nhớ con, anh lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt. Có cây lược, anh càng mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện không may xảy ra. Một ngày cuối năm năm mươi tám – năm đó ta chưa võ trang – trong một trận càn lớn của quân Mĩ – ngụy, anh Sáu bị hi sinh. Anh bị viên đạn của máy bay Mĩ bắn vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ cỏ tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu. Tôi không đủ lời lẽ để tả lại cái nhìn ấy, chỉ biết rằng, cho đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi cứ nhớ lại đôi mắt của anh.
- Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu.
Tôi cúi xuống gần anh và nói. Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi.
(Trích Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr.200)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ bài Viếng lăng Bác.
Cách giải:
- Khổ thơ trên được trích trong tác phẩm Viếng lăng Bác của Viễn Phương.
- Hoàn cảnh sáng tác: Năm 1976, sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vừa được khánh thành, Viễn Phương là một trong số những chiến sĩ, đồng bào miền Nam sớm được ra viếng Bác. Bài thơ ghi lại những ấn tượng, cảm xúc, suy ngẫm của nhà thơ trong cuộc viếng lăng.
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Trong khổ thơ, khi trở về miền nam tác giả ước muốn được làm con chim hót quanh lăng Bác, làm đóa hoa tỏa hương đâu đây, làm cây tre trung hiếu chốn này.
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
- Biện pháp tu từ: Điệp ngữ (muốn làm)
- Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu cho khổ thơ, khiến khổ thơ thêm phần da diết.
+ Nhấn mạnh ước nguyện của tác giả. Ước muốn được hòa nhập vào những sự vật quanh Bác, mãi được ở bên Bác.
+ Từ đó, thể hiện tấm lòng thủy chung, lòng kính yêu vô hạn của tác giả nói riêng và nhân dân nói chung với Bác.
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Tâm trạng của tác giả trong khổ thơ:
- Lưu luyến, nhớ thương khi nghĩ về phút giây từ biệt.
- Ước muốn hóa thân để ở lại bên Người.
=> Ước muốn góp cuộc đời mình để canh giấc ngủ cho người, bày tỏ lòng biết ơn với vị cha già dân tộc, làm nên vẻ đẹp bất khuất, hiên ngang của tâm hồn Việt Nam. kính yêu vô hạn của tác giả nói riêng và nhân dân nói chung với Bác.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề.
- Dẫn dắt, nêu vấn đề cần nghị luận: ý nghĩa của tình yêu thương.
2. Giải thích và bình luận
- Tình yêu thương là cái gốc của nhân loại, là sợi dây vô hình gắn kết con người với con người, thể hiện trong nhiều mối quan hệ: cha mẹ - con cái, vợ - chồng, anh - em, ông bà - cháu, tình bạn, tình yêu đôi lứa, tình cảm giữa người với người dù không cùng màu da, sắc tộc, ...
- Ý nghĩa của tình yêu thương:
+ Cho ta chỗ dựa tinh thần để niềm vui được nhân lên, nỗi buổn được giải tỏa; cho ta sự giúp đỡ khi cần.
+ Nhờ được yêu thương giúp ta có đủ dũng khí để vượt qua những điều tưởng như không thể.
+ Tình yêu thương giúp con người biết cảm thông, thấu hiểu, vị tha; để con người có thêm nhiều cơ hội hiểu nhau, sống tốt đẹp, thân ái với nhau hơn.
- Tình yêu thương có thể cảm hóa cái xấu, cái ác; xóa bỏ những ngăn cách, hận thù, làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp, nhân văn. (Thí sinh lấy dẫn chứng trong văn học và thực tế.)
- Tình yêu thương phải thật lòng, phải xuất phát từ trái tim.
- Phê phán những biểu hiện sống thờ ơ, vô cảm, thiếu ý thức về tình yêu thương, không biết trân trọng những điều ý nghĩa có được từtình yêu thương.
4. Tổng kết:
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
- Tác giả: Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932, quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia bộ đội, hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Từ sau 1954, tập kết ra miền Bắc, Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn. Những năm chống Mỹ, ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác văn học. Tác phẩm của ông thuộc nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như trong thời bình.
- Tác phẩm: Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” được viết năm 1966, khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ và được đưa vào tập truyện cùng tên.
- Tác phẩm là bài ca về tình phụ tử thiêng liêng, đặc biệt là ở đoạn trích từ: “Tôi vẫn còn nhớ buổi chiều hôm đó… Anh mới nhắm mắt xuôi tay”. Đoạn trích thể hiện vẻ đẹp của tình phụ tử thiêng liêng, sâu sắc của ông Sáu đối với bé Thu trong những ngày ở chiến khu.
2. Phân tích
a. Giới thiệu khái quát cảnh ngộ gia đình ông Sáu và tình yêu thương ông Sáu dành cho con
- Đất nước có chiến tranh, công Sáu phải đi công tác khi con gái chưa đầy một tuổi, khi con lớn lên, ông Sáu không một lần được gặp con, được yêu thương chăm sóc cho con.
- Sau tám năm vào sinh ra tử, khi được về thăm nhà, nỗi khao khát được gặp con, được ôm con vào lòng khiến ông không kìm nén được cảm xúc. Tuy nhiên, vì vết thẹo trên mặt, vết thương do chiến tranh gây ra nên đứa con gái hồn nhiên, ngây thơ của ông nhất định không chịu nhận cha. Đến lúc con gái nhận ra thì là lúc ông phải trở lại chiến trường. Niềm hạnh phúc mà ông hằng mong chờ đã tới nhưng quá ngắn ngủi vì đến giờ biệt li. Ông chỉ kịp rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên tóc con, lặng lẽ ra đi không hẹn ngày về mang theo một ước nguyện của con là cây lược nhỏ.
b. Cảm nhận về vẻ đẹp nội dung của đoạn trích – vẻ đẹp của tình phụ tử thiêng liêng
- Luôn ghi nhớ như in lời con dặn vội vàng lúc chia tay “Ba về, ba mua cho con một cây lược nghe ba!”. Điều đó thúc giục ông đến việc làm cây lược ấy. “Lúc rảnh rỗi anh ngồi cưa từng chiếc răng lược cho đến khi hoàn thành, những đêm nhớ con anh lấy cây lược ra ngắm nghía”.
- Chiếc lược trở thành một vật quý giá, nó làm vơi đi nỗi ân hận và chứa đựng bao nhiêu tình cảm nhớ nhung, yêu mến của người cha đối với đứa con trong xa cách. Chiếc lược ngà trở thành một kỉ vật thiêng liêng, nuôi dưỡng tinh thần chiến đấu cho người chiến sĩ trong những ngày tháng gian khổ.
- Bị thương nặng, chỉ đến khi gửi lại chiếc lược ngà lại cho bạn với lời nhắn nhủ sẽ trao tận tay bé Thu, ông mới yên lòng nhắm mắt.
- Ông Sáu hi sinh khi chưa kịp gửi món quà cho con gái. Đây là tình huống rất cảm động. Những mất mát do chiến tranh gây ra là không bù đắp nổi. Tuy không một lời trăng trối nhưng hành động cuối cùng của ông Sáu càng cho ta thấy tình cảm của ông dành cho con thật sâu nặng. Người đồng chí của ông – người kể chuyện đã thay ông làm việc đó. Chiếc lược ngà đã trở thành biểu tượng của tình cha con đời đời bất diệt.
c.Nghệ thuật trần thuật
- Đoạn văn là lời kể của một người đồng chí của ông – bác Ba, người đã chứng kiến toàn bộ quá trình ông làm cây lược tặng con gái và thấu hiểu những suy nghĩ, cảm xúc của ông. Đoạn văn vì thế trở nên vừa khách quan vừa chân thành, giàu tình cảm.
- Ngôn ngữ văn xuôi giàu tình cảm, khả năng miêu tả tâm lí tinh tế, chính xác, bắt nguồn từ một tâm hồn nhạy cảm và tấm lòng yêu thương, trân trọng con người.
3. Đánh giá chung: Cảm nhận khái quát về đoạn văn, liên hệ bản thân.
Đề thi vào 10 môn Văn Bắc Ninh năm 2022
Đề bài
Câu 1. (4 điểm)
(1) Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm.
(2) Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
(Ngữ văn 9, Tập một)
Thực hiện các yêu cầu:
a. Đoạn thơ trên trích trong tác phẩm nào? Tác giả là ai?
b. Trong khổ thơ (1), những người lính lái xe đã định nghĩa như thế nào về gia đình?
c. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ hoán dụ trong câu thơ: Chỉ cần trong xe có một trái tim.
d. Từ nội dung đoạn trích, anh/chị hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 150 chữ) bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của lòng dũng cảm.
Câu 2. (6,0 điểm) Cảm nhận của anh/chị về nhân vật ông Hai trong đoạn trích sau:
Ông lão ôm thằng con út lên lòng, vỗ nhè nhẹ vào lưng nó, khẽ hỏi:
- Húc kia! Thầy hỏi con nhé, con là con ai?
- Là con thầy mấy lị con u.
- Thế nhà con ở đâu?
- Nhà ta ở làng Chợ Dầu.
- À, thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ ai?
Thằng bé giơ tay lên, mạnh bạo và rành rọt:
- Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!
Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má. Ông nói thủ thi:
- Ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhi.
Mấy hôm nay rũ rủ ở xó nhà, những lúc buồn khổ quá chẳng biết nói cùng ai, ông lão lại thủ thỉ với con như vậy. Ông nói như để ngỏ lòng mình, như để mình lại minh oan cho mình nữa.
Anh em đồng chí biết cho bố con ông.
Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông.
Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sại. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. Mỗi lần nói ra được đôi câu như vậy nỗi khổ trong lòng ông cũng với đi được đôi phần.
(Trích Làng, Kim Lân, Ngữ văn 9, Tập một, NXBGD, 2018)
Lời giải chi tiết
Câu 1.
|
a. Đoạn thơ trên trích trong tác phẩm nào? Tác giả là ai? |
Phương pháp: Căn cứ bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính.
Cách giải:
- Tác phẩm: Bài thơ về tiểu đội xe không kính.
- Tác giả: Phạm Tiến Duật.
|
b. Trong khổ thơ (1), những người lính lái xe đã định nghĩa như thế nào về gia đình? |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc, tìm ý.
Cách giải:
Những người lính định nghĩa về gia đình là: chung bát đĩa nghĩa là gia đình.
|
c. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ hoán dụ trong câu thơ: Chỉ cần trong xe có một trái tim. |
Phương pháp: Căn cứ bài hoán dụ, phân tích.
Cách giải:
- Biện pháp tu từ: hoán dụ - trái tim.
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh tất cả con người với sức lực, tâm huyết dành trọn cho đất nước.
+ Đồng thời cũng là hình ảnh biểu tượng cho tinh thần trách nhiệm, ý chí chiến đấu.
|
d. Từ nội dung đoạn trích, anh/chị hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 150 chữ) bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của lòng dũng cảm. |
Phương pháp: Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
* Yêu cầu hình thức: Viết đúng một đoạn văn khoảng 150 chữ.
* Yêu cầu về nội dung:
* Xác định đúng vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của lòng dũng cảm.
- Giải thích: Lòng dũng cảm là việc con người dám đương đầu với nguy hiểm, khó khăn thử thách gặp phải trong cuộc sống, dám nghĩ, dám làm không hèn nhát.
- Ý nghĩa của lòng dũng cảm:
+ Lòng dũng cảm giúp con người dễ dàng vượt qua những khó khăn thử thách để đạt được thành công.
+ Lòng dũng cảm giúp ta có thể giúp đỡ những người yếu thế.
+ Lòng dũng cảm là phẩm chất cần thiết tạo nên giá trị con người.
+ Lòng giúp cảm giúp con người có chính kiến hơn, dám đứng lên đấu tranh chống lại những điều tiêu cực trong xã hội, góp phần tạo nên một xã hội đáng sống.
+ …
- Bàn luận:
+ Chúng ta cần phải rèn luyện lòng dũng cảm cho chính bản thân mình.
+ Phê phán những người hèn nhát, bạc nhược, không dám nói lên tiếng nói của mình hoặc để mặc cái ác, cái xấu diễn ra mà không dám lên tiếng.
+ Tránh sự nhầm lẫn giữa lòng dũng cảm và sự liều lĩnh, mù quáng.
II. LÀM VĂN:
|
Cảm nhận của anh/chị về nhân vật ông Hai trong đoạn trích sau: Ông lão ôm thằng con út lên lòng, vỗ nhè nhẹ vào lưng nó, khẽ hỏi: - Húc kia! Thầy hỏi con nhé, con là con ai? - Là con thầy mấy lị con u. - Thế nhà con ở đâu? - Nhà ta ở làng Chợ Dầu. - À, thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ ai? Thằng bé giơ tay lên, mạnh bạo và rành rọt: - Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm! Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má. Ông nói thủ thi: - Ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhi. Mấy hôm nay rũ rủ ở xó nhà, những lúc buồn khổ quá chẳng biết nói cùng ai, ông lão lại thủ thỉ với con như vậy. Ông nói như để ngỏ lòng mình, như để mình lại minh oan cho mình nữa. Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông. Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sại. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. Mỗi lần nói ra được đôi câu như vậy nỗi khổ trong lòng ông cũng với đi được đôi phần. |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu đoạn văn cần phân tích.
2. Thân bài
* Hoàn cảnh: Ông Hai nghe tin làng theo giặc. Ông đau đơn, khôn khổ.
* Phân tích đoạn trích.
- Với tâm trạng đau khổ, ông Hai đã tâm sự với đứa con út như để minh oan cho mình. Câu hỏi: “Thế nhà con ở đâu?” cùng câu trả lời của đứa con: “Nhà ta ở Chợ Dầu” đã khẳng định tình yêu làng Dầu luôn ăn sâu trong lòng ông. Và phải chăng ông muốn nhắc cho đứa con ghi nhớ về quê hương, nguồn gốc của mình.
- Ông lại hỏi “Thế con ủng hộ ai?” và tự khẳng định lại “Ủng hộ cụ Hồ con nhỉ?” Chi tiết này khẳng định ông tin tưởng và biết ơn kháng chiến cụ Hồ đã đem lại cuộc sống ấm no, tự do. Tình cảm đó rất thiêng liêng, bền vững và sâu nặng.
- Một lần nữa ông thủ thỉ với con “Cụ Hồ trên đầu trển cổ xét soi cho bố con ông”. Người nông dân chất phác ấy đã bộc lộ rõ niềm tin tưởng vào sự công bằng của cách mạng, của kháng chiến với những người tốt như mình. Tấm lòng tin tưởng trung thành của ông bền vững “Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”
- Đoạn văn đối thoại nhưng thực chất lại mang tính chất độc thoại. Ông nói với con như để ngỏ lòng mình, để vơi bớt những buồn đau, dằn vặt …trong lòng.
- Đoạn văn ngắn nhưng diễn tả rất cảm động nỗi lòng sâu xa, bền chặt, chân thành của ông Hai - một người nông dân - với quê hương, đất nước, với cách mạng, kháng chiến.
3. Kết bài
Đề thi vào 10 môn Văn Bắc Ninh năm 2021
Đề bài
Câu 1. Đọc đoạn trích sau:
Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh. Những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi hối hận đánh con, nhớ con, anh lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt. Có cây lược, anh càng mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện không may xảy ra. Một ngày cuối năm năm mươi tám - năm đó ta chưa võ trang - trong một trận càn lớn của quân Mĩ - ngụy, anh Sáu bị hi sinh. Anh bị viên đạn của máy bay Mĩ bắn vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu. Tôi không đủ lời lẽ để tả lại cái nhìn ấy, chỉ biết rằng, cho đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi cử nhớ lại đôi mắt của anh.
- Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu.
Tôi cúi xuống gần anh và khẽ nói. Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi.
(Ngữ văn 9, Tập 1)
Thực hiện các yêu cầu:
a) Đoạn văn trên được trích trong tác phẩm nào? Tác giả là ai?
b) Xét theo cấu tạo ngữ pháp, câu: “Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu" thuộc kiểu câu gì?
c) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu: “Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi."
d) Qua đoạn trích, anh/chị hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 10 - 12 câu) bày tỏ suy nghĩ về vai trò của người cha đối với con trong cuộc đời.
Câu 2. Cảm nhận của anh(chị) về hai khổ thơ sau:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
[...]
Câu hát căng buồn với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
Lời giải chi tiết
Câu 1
|
a) Đoạn văn trên được trích trong tác phẩm nào? Tác giả là ai? b) Xét theo cấu tạo ngữ pháp, câu: “Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu" thuộc kiểu câu gì? c) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu: “Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi." d) Qua đoạn trích, anh/chị hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 10 - 12 câu) bày tỏ suy nghĩ về vai trò của người cha đối với con trong cuộc đời. |
Phương pháp:
a. Căn cứ bài Chiếc lược ngà
b. Căn cứ cấu tạo câu phân theo ngữ pháp.
c. Căn cứ bài Nói giảm nói tránh
d. Phân tích, tổng hợp
Cách giải:
a. Đoạn văn trên được trích từ tác phẩm Chiếc lược ngà của tác giả Nguyễn Quang Sáng.
b. Xét về mặt cấu tạo ngữ pháp, câu "Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu" thuộc câu trần thuật đơn
c. Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu “Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi”: Biện pháp nói giảm, nói tránh.
Tác dụng: Khiến câu văn có lối diễn đạt uyển chuyển, tế nhị tránh gây cảm giác quá đau buồn, nặng nề về hiện thực.
d.
+ Mở đoạn:
Nêu vấn đề cần bàn luận – Vai trò của người cha đối với con
+ Thân đoạn:
- Người cha đối với con đóng một vai trò quan trọng, không thể thiếu.
- Người cha cho con cuộc sống, là người sinh thành và cũng là người mang con đến cuộc sống này.
- Cha là người luôn yêu thương con vô điều kiện. Cho dù cha không phải là người hoàn hảo nhất nhưng luôn yêu con theo cách hoàn hảo nhất. Tình yêu đó bồi đắp, nuôi lớn đứa trẻ khiến đưa trẻ vững tâm mạnh mẽ bước tiếp trên con đường tương lai phía trước.
- Cha là người thầy đầu tiên của con. Tất cả những tri thức của cuộc sống đối với một đứa trẻ đều được học trước tiên từ cha mình. Cha dạy dỗ, bảo ban, uốn nắn con từng bước nên người.
- Cha chính là tấm gương để con nhìn vào, noi theo. Đối với mỗi đứa trẻ, có lẽ cha chính là một thần tượng đẹp nhất vĩ đại nhất mà sau này những đứa con sẽ nhìn vào đó để phấn đấu.
- Tình cảm của người cha đôi khi không dịu dàng, thể hiện rõ như mẹ nhưng luôn luôn thường trực và vô cùng rộng lớn.
(Học sinh tự lấy dẫn chứng phù hợp về hình ảnh người cha và vai trò với con trong cuộc sống)
+ Kết đoạn: Khái quát vấn đề bàn luận, nêu cảm xúc của em.
Câu 2
|
Cảm nhận của anh(chị) về hai khổ thơ sau:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa. Sóng đã cài then, đêm sập cửa. Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi. [...] Câu hát căng buồn với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới, Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài - Giới thiệu về tác giả Huy Cận và tác phẩm "Đoàn thuyền đánh cá":
+ Huy Cận (1919 – 2005), tên đầy đủ là Cù Huy Cận, quê ở làng An Phú, huyện Vụ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.
+ Huy Cận đã nổi tiếng trong phong trào thơ mới với tập thơ “Lửa thiêng” (1940). Ông tham gia cách mạng từ trước năm 1945 và sau cách mạng tháng Tám từng giữ nhiều trọng trách trong chính quyền cách mạng, đồng thời là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam.
+ Huy Cận được nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996. + Giữa năm 1958, Huy Cận có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi thực tế này, hồn thơ Huy Cận mới thực sự nảy nở trở lại, dồi dào trong cảm hứng về thiên nhiên đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới.
+ Bài “Đoàn thuyền đánh cá” được sáng tác trong thời gian ấy và in trong tập thơ “Trời mỗi ngày lại sáng” (1958)
Giới thiệu luận đề: Cảm nhận về khổ thơ đầu tiên và khổ thơ cuối cùng trong tác phẩm “Đoàn thuyền đánh cá".
2. Thân bài
a. Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi (khổ thơ đầu tiên)
Từ điểm nhìn trên con thuyền đang tiến ra phía biển, tác giả đã có cảm nhận độc đáo về hình ảnh mặt trời:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đếm sập cửa
Biện pháp so sánh và nhân hóa đặc sắc, Huy Cận đã miêu tả rất thực sự chuyển đổi thời khắc giữa ngày và đêm khiến cảnh biển lúc hoàng hôn hiện lên kì vĩ, tráng lệ như thần thoại: “mặt trời xuống biển như hòn lửa”, đồng thời lại gợi sự gần gũi như một ngôi nhà thân quen: Vũ trụ như một ngôi nhà thân quen, “sóng cải then – đêm sập cửa” gợi sự bình yên đối với người dân chài.
- Màn đêm mở ra đã khép lại không gian của một ngày. Giữa lúc vũ trụ, đất trời như chuyển sang trạng thái nghỉ ngơi thì con người ngược lại – bắt đầu hoạt động:
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi
- Câu thơ gợi hình dung cả một đoàn thuyền chứ không phải một con thuyền đơn độc. Từ “lại” diễn tả công việc lao động thường ngày.
Tác giả tả được cả khí thế của đoàn thuyền ra khơi qua hình ảnh “câu hát căng buồm cùng gió khơi”. Đó là một ẩn dụ độc đáo, biến cái ảo thành cái thực: Khí thế phơi phới, mạnh mẽ của đoàn thuyền và niềm vui, sức mạnh của người lao động trên biển, làm chủ cuộc đời đang chinh phục biển khơi.
b. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về (khổ cuối)
Câu hát căng buồm cùng gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhỏ màu mới Mắt cả huy hoàng muôn dặm phơi.
- Đây là lúc bài ca lao động ngân vang hào hùng nhất: Cảnh đoàn thuyền trở về thắng lợi trong ánh bình minh rực rỡ, tráng lệ.
Hình ảnh câu hát tiếp tục mở đầu cho khổ thơ:
“Câu hát căng buồm cùng gió khơi”.
Câu hát theo suốt cuộc hành trình của người dân chài. Lúc ra đi là tiếng hát lạc quan, tin tưởng khi trở về con thuyền sẽ đầy ắp cá tươi, còn khi về là khúc ca vui sướng, tự hào trước thành quả lao động sau một đêm vất vả.
- Cấu trúc lặp khiến tiếng hát vang lên như một điệp khúc ngân nga, nhấn mạnh niềm vui lao động làm giàu quê hương của những con người kiên cường, mạnh mẽ, tràn đầy sinh lực.
- Hình ảnh mặt trời cũng được lặp lại. Nếu khổ đầu là mặt trời của hoàng hôn thì giờ là mặt trời của bình minh. Bình minh báo hiệu một ngày mới, báo hiệu sự sống đang sinh sôi, nảy nở, báo hiệu khởi đầu của những niềm vui, niềm hạnh phúc mà người dân chài có được sau chuyến hành trình vất vả, cực nhọc.
Đặc biệt, khổ cuối có một hình ảnh độc đáo, hùng tráng và lãng mạn:
“Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”.
Đoàn thuyền được đặt sánh ngang với hình ảnh mặt trời. Huy Cận đã lấy một sự vật bé nhỏ, bình dị để ngầm so sánh với hình ảnh vĩ đại của thiên nhiên. Đoàn thuyền là hình ảnh hoán dụ độc đáo, ý chỉ con người. Mặt trời luôn mạnh mẽ, tràn đầy sức sống - như con người sau một đêm trên biển vẫn hăng say, tràn đầy sinh lực. Những người dân chài ấy trở về trong tư thế sánh ngang với vũ trụ, thậm chí trong cuộc chạy đua với tự nhiên ấy họ đã chiến thắng. Con người hiện lên thật mạnh mẽ, chiến thắng và làm chủ thiên nhiên.
- Hai câu kết: Mở ra một cảnh tượng thật kì vĩ, chói lọi. Có thể nói Huy Cận đã rất tinh tế khi miêu tả sự vận hành của vũ trụ. Mặt trời từ từ nhô lên trên sóng nước xanh lam, chiếu tỏa ánh sáng rực rỡ, khiến cảnh biển bừng sáng. Con thuyền trở về với từng khoang đầy ắp cá tươi. Mắt cá phản chiếu ánh mặt trời như muôn vàn mặt trời li ti... Đó thật sự là một cảnh tượng huy hoàng giữa bầu trời và mặt biển, giữa thiên nhiên và thành quả lao động của con người.
c. Đánh giá:
“Đoàn thuyền đánh cá” là một bài thơ ca ngợi cuộc sống mới, con người mới. Bài thơ tràn ngập niềm vui phơi phới, niềm say sưa và những ước mơ bay bổng của con người muốn chinh phục thiên nhiên bằng công việc lao động của mình. Đây cũng là bài ca ca ngợi vẻ đẹp lộng lẫy, hùng vĩ và nên thơ của thiên nhiên đất nước qua cái nhìn và tâm trạng hứng khởi của nhà thơ. Bài thơ vừa cổ kính vừa mới mẻ trong hình ảnh, ngôn ngữ, âm điệu vui tươi khỏe khoắn, phơi phới bay bổng. Điều đó đã tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm.
3. Kết bài
- Khẳng định lại vẻ đẹp lao động cũng như vẻ đẹp thiên nhiên được thể hiện trong hai đoạn trích.
- Nêu cảm nhận của bản thân.
Đề thi vào 10 môn Văn Bắc Ninh năm 2020
Đề bài
Câu 1. (3,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Quê hương anh nước mặn, đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng, đầu sát bên đầu,
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí!
(Ngữ văn 9, Tập một)
a) Đoạn thơ trên trích trong tác phẩm nào? Tác giả là ai?
b) Trong đoạn thơ trên, quê hương của những người lính được miêu tả qua các từ ngữ, hình ảnh nào?
c) Nêu ngắn gọn những có sở hình thành tình đồng chí trong đoạn thơ trên.
d) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ hoán dụ và điệp từ được sử dụng trong câu thơ: Súng bên súng, đầu sát bên đầu.
Câu 2. (2,0 điểm)
Anh (Chị) hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ về sự cần thiết phải có tính tự lập đối với giới trẻ trong cuộc sống.
Câu 3. (5,0 điểm)
Cảm nhận của anh (chị) về nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích sau:
Anh hạ giọng, nửa tâm sự, nửa đọc lại một điều rõ ràng đã ngẫm nghĩ nhiều:
-Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này chúa không nghĩ như vậy nữa. Và, khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất. Con người thì ai mà chả “thèm” hở bác? Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc? Đấy, cháu tự nói với cháu thế đấy. Bác lái xe đi, về Lai Châu cứ đến đât dừng lại một lát. Không vào giờ “ốp” là cháu chạy xuống chơi, lâu thành lệ. Cháu bỗng dưng tự hỏi: Cái nhớ xe, nhớ người ấy thật ra là cái gì vậy? Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô hội thì xoàng. Cháu ở liền trong trạm hàng tháng. Bác lái xe bao lần dừng, bóp còi toe toe, cháu gan lì nhất định không xuống. Ấy thế là một hôm, bác lái phải thân hành lên trạm cháu. Cháu nói: “Đấy, bác cũng chẳng “thèm” người là gì?”
Anh xoay sang người con gái đang một mắt đọc cuốn sách, một mắt lắng nghe, chân cô đung đưa khe khẽ, nói:
-Và cô cũng thấy đấy, lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà. Mỗi người viết một vẽ.
(Trích Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, Tập một)
Lời giải chi tiết
Câu 1
|
a) Đoạn thơ trên trích trong tác phẩm nào? Tác giả là ai? b) Trong đoạn thơ trên, quê hương của những người lính được miêu tả qua các từ ngữ, hình ảnh nào? c) Nêu ngắn gọn những có sở hình thành tình đồng chí trong đoạn thơ trên. d) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ hoán dụ và điệp từ được sử dụng trong câu thơ: Súng bên súng, đầu sát bên đầu. |
a.
Phương pháp:Căn cứ vào bài học Đồng chí
Cách giải:
Đoạn thơ trích trong tác phẩm “Đồng chí”. Tác giả: Chính Hữu.
b.
Phương pháp:Căn cứ đoạn trích
Cách giải:
Quê hương của những người lính được miêu tả qua những từ ngữ: nước mặn, đồng chua; đất cày lên sỏi đá.
c.
Phương pháp:Phân tích
Cách giải:
Cơ sở hình thành tình đồng chí:
- chung hoàn cảnh xuất thân.
- cùng chung lí tưởng, lòng yêu nước.
- cùng chung nhiệm vụ, chung cuộc đời người lính.
d.
Phương pháp:Căn cứ biện pháp tu từ, phân tích
Cách giải:
Hoán dụ: đầu sát bên đầu – từ “đầu” hoán dụ, chỉ những người lính.
Điệp từ: súng, đầu.
Tác dụng:
- Nhấn mạnh tinh thần kề vai sát cánh cùng chiến đấu dũng cảm của những người lính.
- Khẳng định tinh thần đồng chí và ca ngợi tình đồng chí cao đẹp.
- Tạo âm điệu tha thiết cho câu thơ.
Câu 2
|
Anh (Chị) hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ về sự cần thiết phải có tính tự lập đối với giới trẻ trong cuộc sống. |
Phương pháp:phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1.Giới thiệu vấn đề: sự cần thiết phải có tính tự lập đối với giới trẻ trong cuộc sống.
2.Giải thích vấn đề
- Tự lập là tự xây dựng lấy cuộc sống cho mình, không ỷ lại, nhờ vả người khác.
=> Tính tự lập là điều cần thiết đối với mỗi người, nhất là đối với giới trẻ trong cuộc sống.
3.Phân tích, bàn luận vấn đề
- Vai trò của tính tự lập:
+ Tự lập giúp con người chủ động trong mọi hoàn cảnh: chủ động học tập, chủ động làm việc
+ Tính tự lập giúp con người nhận diện một cách toàn diện những vấn đề diễn ra trong cuộc sống
+ Tự lập giúp con người tự tin vào khả năng của bản thân.
+ Người sống tự lập sẽ được mọi người tin tưởng và quý mến.
+ Tự lập giúp con người khẳng định giá trị của bản thân.
- Biểu hiện của người sống tự lập:
+ Dám bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình.
+ Chủ động thực hiện công việc và nhiệm vụ của mình mà không cần ai thúc giục.
+ Dám theo đuổi ước mơ, dám sống cuộc đời mình muốn.
- Phê phán những kẻ sống ỷ lại vào người khác
4. Liên hệ bản thân và Tổng kết
Câu 3
|
Cảm nhận của anh (chị) về nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích sau: Anh hạ giọng, nửa tâm sự, nửa đọc lại một điều rõ ràng đã ngẫm nghĩ nhiều: -Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này chúa không nghĩ như vậy nữa. Và, khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất. Con người thì ai mà chả “thèm” hở bác? Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc? Đấy, cháu tự nói với cháu thế đấy. Bác lái xe đi, về Lai Châu cứ đến đât dừng lại một lát. Không vào giờ “ốp” là cháu chạy xuống chơi, lâu thành lệ. Cháu bỗng dưng tự hỏi: Cái nhớ xe, nhớ người ấy thật ra là cái gì vậy? Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô hội thì xoàng. Cháu ở liền trong trạm hàng tháng. Bác lái xe bao lần dừng, bóp còi toe toe, cháu gan lì nhất định không xuống. Ấy thế là một hôm, bác lái phải thân hành lên trạm cháu. Cháu nói: “Đấy, bác cũng chẳng “thèm” người là gì?” Anh xoay sang người con gái đang một mắt đọc cuốn sách, một mắt lắng nghe, chân cô đung đưa khe khẽ, nói: -Và cô cũng thấy đấy, lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà. Mỗi người viết một vẽ. (Trích Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, Tập một) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Thành Long.
- Giới thiệu tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa.
- Tác phẩm ca ngợi những con người dũng cảm, tuyệt đẹp đang cống hiến một cách thầm lặng, cao cả mà anh thanh niên là nhân vật chính “trong cái lặng im của Sa Pa…, Sa Pa mà chỉ nghe tên người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước”.
2. Thân bài
a. Giới thiệu khái quát:
Truyện ngắn tập trung vào cuộc gặp gỡ tình cờ giữa ông họa sĩ, cô kĩ sư với anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn của Sa Pa qua lời giới thiệu của bác lái xe.
Đoạn văn ngắn đã khái quát được vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn của anh thanh niên.
b. Nhân vật anh thanh niên:
* Hoàn cảnh sống và làm việc:
- Một mình trên đỉnh núi cao, quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa. Công việc của anh là “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự báo vào việc báo trước thời tiết hàng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”. Công việc đơn điệu đòi hỏi phải thật tỉ mỉ, chính xác, có ý thức tự giác.
- Nhưng cái gian khổ nhất phải vượt qua sự cô đơn, vắng vẻ, quanh năm suốt tháng một mình trên đỉnh núi cao không một bóng người.
* Những nét đẹp của nhân vật thể hiện qua đoạn trích:
- Có lý tưởng cống hiến: đi bội không được anh tình nguyện làm việc ở Sa Pa.
- Suy nghĩ đẹp về công việc:
+ Vì công việc mà anh phải sống một mình trên núi cao nhưng anh vẫn gắn bó với công việc của mình bởi “khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được”. Anh yêu công việc tới mức trong khi mọi người còn ái ngại cho cuộc sống ở độ cao 2.600m của anh thì anh lại ước ao được làm việc ở độ cao trên 3.000m “như vậy mới gọi là lý tưởng”.
+ Công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, chính xác cao: hằng ngày lặp lại tới 4 lần các thao tác “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết” và khó khăn nhất là lúc 1 giờ sáng “nửa đêm thức dậy xách đèn ra vườn, mưa tuyết, giá lạnh…” nhưng anh vẫn coi công việc là niềm vui “Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi cháu buồn đến chết mất”.
+ Ý thức được giá trị công việc mà mình đang làm: dự vào việc báo trước thời tiết nên “việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia”.
=> Những suy nghĩ ấy chỉ có ở những con người yêu lao động, yêu công việc của mình dù nó thật khó khăn, đơn điệu và buồn tẻ. Công việc là niềm vui, là cuộc sống của anh.
- Suy nghĩ đẹp về cuộc sống:
+ Tự mình tìm lời giải đáp cho những câu hỏi quan trọng “Mình sinh ra là gì, mình đẻ ra ở đâu, mình vì ai mà làm việc?” những câu hỏi cho anh biết giá trị của bản thân và ý nghĩa của cuộc sống.
+ Suy nghĩ đúng đắn về giá trị của hạnh phúc: Hạnh phúc không phải là khi cuộc sống đầy đủ về vật chất mà là khi ta làm được những điều có ích. Một lần do phát hiện kịp thời một đám mây khô mà anh đã góp phần vào chiến thắng của không quân ta, bắn rơi được máy bay Mỹ trên cầu Hàm Rồng, anh thấy mình “thật hạnh phúc”.
=> Qua lời kể hồn nhiên, chân thành của người thanh niên, tác giả Nguyễn Thành Long đã giúp người đọc cảm nhận được những suy nghĩ đẹp và đúng đắn của anh thanh niên cũng như của những người lao động ở Sa Pa.
- Làm phong phú cuộc sống của mình: Anh thường xuyên đọc sách. Vì sách chính là người bạn để anh “trò chuyện”. Nhờ có sách mà anh chống chọi được với sự vắng lặng quanh năm. Nhờ có sách mà anh tiếp tục học hành, mở mang kiến thức.
=> Những tình cảnh cao đẹp trên đã tạo nên những phẩm chất đáng quý ở anh thanh niên - một con người lao động với XHCN.
3. Kết bài:
- Truyện Lặng lẽ Sa Pa ngợi ca ngợi những con người lao động như anh thanh niên làm công tác khí tượng và cái thế giới những con người như anh.
- Qua câu chuyện về anh thanh niên, tác phẩm cũng gợi tả những con người đang dành cả thanh xuân để cống hiên, phục vụ kháng chiến với nhiều phẩm chất cao đẹp.
Đề thi vào 10 môn Văn Bắc Ninh năm 2019
Đề bài
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3 điểm)
Đọc đoạn văn bản sau:
Những cái xảy ra hàng ngày: máy bay rít, bom nổ. Nổ trên cao điểm, cách cái hang này khoảng 300 mét. Đất dưới chân chúng tôi rung. Mấy cái khăn mặt mắc ở đây cũng rung. Tất cả, cứ như lên cơn sốt. Khói lên, và cửa hang bị che lấp. Không thấy mây và bầu trời đâu nữa.
Chị Thao cầm cái thước trên tay tôi, nuốt nốt miếng bích quy ngon lành: “Định ở nhà. Lần này nó bỏ ít, hai đứa đi cũng đủ” rồi kéo tay Nho, vác xẻng lên vai và đi ra cửa.
Tôi không cãi chị. Quyền hạn phân công là ở chị. Thời gian bắt đầu căng lên. Trí não tôi cũng không thua. Những gì đã qua, những gì sắp tới… không đáng kể nữa. Có gì lí thú đâu nếu các bạn tôi không quay về?...
(Ngữ văn 9, tập 2)
Câu 1. Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Của tác giả nào?
Câu 2. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn văn?
Câu 3. Nêu ngắn gọn nội dung chính của đoạn văn trên?
Câu 4. Tìm câu rút gọn trong những câu văn sau và cho biết hiệu quả của việc sử dụng câu rút gọn đó: Những cái xảy ra hàng ngày: máy bay rít, bom nổ. Nổ trên cao điểm, cách cái hang này khoảng 300 mét. Đất dưới chân chúng tôi rung. Mấy cái khăn mặt mắc ở đây cũng rung.
II. PHẦN LÀM VĂN (7 điểm)
Câu 1. (2 điểm)
Hạnh phúc của trẻ thơ là được đến trường, được học tập, được sống trong tình yêu thương, dìu dắt của thầy cô giáo.
Anh (chị) hãy viết đoạn văn (khoảng 200 từ) bày tỏ suy nghĩ của mình về vai trò của người thầy trong cuộc sống của mỗi người.
Câu 2. (5 điểm)
Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong tám câu thơ cuối của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích.
Buồn trông cửa biển chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Buồn trông gió cuốn mặt dềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1.
|
Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Của tác giả nào? |
Phương pháp: căn cứ bài Những ngôi sao xa xôi
Cách giải:
- Đoạn văn trên trích trong Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê.
Câu 2.
|
Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn văn? |
Phương pháp: căn cứ các phương thức biểu đạt đã học
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính là tự sự.
Câu 3.
| Nêu ngắn gọn nội dung chính của đoạn văn trên? |
Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích
Cách giải:
Nội dung chính của đoạn trên: Sự nguy hiểm của công việc phá bom và tinh thần đồng đội của những nữ thanh niên xung phong.
Câu 4.
|
Tìm câu rút gọn trong những câu văn sau và cho biết hiệu quả của việc sử dụng câu rút gọn đó: Những cái xảy ra hàng ngày: máy bay rít, bom nổ. Nổ trên cao điểm, cách cái hang này khoảng 300 mét. Đất dưới chân chúng tôi rung. Mấy cái khăn mặt mắc ở đây cũng rung. |
Phương pháp: căn cứ bài Câu rút gọn
Cách giải:
- Câu rút gọn là: Nổ trên cao điểm, cách cái hang này khoảng 300 mét.
- Tác dụng:
+ Giúp câu văn trở nên ngắn gọn, thông tin nhanh chóng.
+ Diễn tả sự nguy hiểm của công việc phá bom.
Phần II
Câu 1.
|
Hạnh phúc của trẻ thơ là được đến trường, được học tập, được sống trong tình yêu thương, dìu dắt của thầy cô giáo. Anh (chị) hãy viết đoạn văn (khoảng 200 từ) bày tỏ suy nghĩ của mình về vai trò của người thầy trong cuộc sống của mỗi người. |
Phương pháp: phân tích, lý giải, tổng hợp
Cách giải:
Đoạn văn nghị luận cần trình bày được một số ý sau:
1. Giới thiệu vấn đề
2. Giải thích vấn đề
- Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó.
- Người thầy là những người dìu dắt, truyền cho ta tri thức, uốn nắn ta về nhân cách và dạy cho ta những bài học cuộc sống.
=> Câu nói khẳng định vai trò của thầy cô với thế hệ trẻ.
3. Bàn luận vấn đề
* Vai trò của thầy cô:
- Truyền thụ, dìu dắt, định hướng,…
- Giúp ta trưởng thành, trở thành người có ích cho xã hội.
*Cần phải biết ơn thầy cô
* Phản đề:
- Nếu không có người thầy thì mỗi người như mò kim đáy bể.
- Thật đáng buồn cho những kẻ sống mà không biết tôn trọng người thầy.
4. Liên hệ bản thân: Bài học nhận thức và hành động.
- Bản thân mỗi chúng ta phải có ý thức học hỏi mọi lúc mọi nơi và biết trọng thầy mới được làm thầy. Tôn trọng và biết ơn những người đã truyền thụ cho mình, dù là bài học nhỏ nhất.
- Bản thân em luôn tôn trọng những người thầy và nỗ lực học tập, kính thầy yêu bạn để trưởng thành…
Câu 2.
|
Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong tám câu thơ cuối của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích. Buồn trông cửa biển chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh Buồn trông gió cuốn mặt dềnh Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi |
Phương pháp: phân tích, lý giải, tổng hợp
Cách giải:
1. Yêu cầu về hình thức:
- Phân tích và làm rõ được nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích.
- Văn phong rõ ràng rành mạch, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
2. Yêu cầu về nội dung:
a. Mở bài: Giới thiệu tác giả tác phẩm, dẫn vào yêu cầu của đề.
b. Thân bài:
* Khái quát:
- Thế nào là tả cảnh ngụ tình? Tả cảnh ngụ tình là mượn bức tranh thiên nhiên để gửi gắm tâm trạng, cảnh không đơn thuần là bức tranh thiên nhiên mà còn là tâm trạng của nhân vật trữ tình.
- Tám câu thơ cuối của bài là một minh chứng cho bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình hay nhất trong “Truyện Kiều”.
* Cụ thể:
- Đây còn là một bức tranh tứ bình, được tác giả sử dụng nghệ thuật ẩn dụ kết hợp với điệp ngữ “buồn trông” tạo một âm điệu trầm buồn. Tám câu cuối này đã vẽ ra bốn cảnh và mỗi cảnh đều nhuốm một màu tâm trạng: “Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”
- Bức tranh vẽ cảnh “cửa bể chiều hôm” thật rộng lớn, mênh mông, bát ngát. Trên nền của bức tranh ấy, Kiều nhận thấy ở phía ngoài khơi xa thấp thoáng hình ảnh “thuyền ai” lẻ loi, đơn chiếc đã gợi ra trong lòng Kiều một tâm trạng buồn, xa nhà, nhớ gia đình, nhớ quê hương da diết.
Kiều nhìn ra xa rồi lại nhìn lại gần trong một khoảng không gian hẹp. Kiều nhìn dòng nước đang chảy và cánh hoa trôi lững lờ để rồi Kiều lại lo cho thân phận của mình:
“Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu”
- Cảnh trong hai câu thơ trên là cảnh hoa trôi mặt nước. Kiều nhìn hoa mà không thấy đẹp, thấy tươi vì những bông hoa đó đã bị bứt ra khỏi cành, khỏi cây, khỏi sự sống và giờ đây đang trôi nổi, phiêu dạt trên mặt nước. Kiếp người tựa kiếp hoa, tránh sao được dập vùi tan nát.
Kiều nhìn ra xa rồi lại nhìn gần, nhìn ra bốn phía xung quanh nơi lầu Ngưng Bích với một cái nhìn bao quát hơn:
“Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”
Tác giả đã sử dụng từ láy “rầu rầu”, “xanh xanh” để miêu tả cảnh trong hai câu thơ này. Từ “rầu rầu” vốn là một từ gợi tả tâm trạng của con người. Nhưng ở đây tác giả lại dùng để miêu tả màu sắc. Đó là sắc cỏ tàn tạ, héo úa được trải dài trong một khoảng không gian vô tận nối liền từ “mặt đất” tới “chân mây”. Kiều buốn chán, tủi thân về cuộc sống lạnh lung, vô định của mình
Ở cảnh cuối cùng của đoạn trích, thiên nhiên nổi lên thật dữ dội, như đang bủa vây lấy Kiều:
“Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”
Việc sử dụng từ láy “ầm ầm” đã diễn tả cảnh sóng gió giông bão. Không còn là gió thổi, gió lướt mà là “gió cuốn mặt duềnh” thật hung bạo, dữ dằn. Cũng không còn là sóng xô, sóng vỗ mà là sóng kêu “ầm ầm” dữ dội. Âm thanh tiếng sóng như đe dọa, thét gào, đang dồn đuổi, bủa vây lấy Kiều.
* Đánh giá:
- Như vậy, ở tám câu thơ cuối của đoạn trích, có thể khẳng định đó là một bức tranh tứ bình đầy ấn tượng với cách biểu hiện “tình trong cảnh ấy và cảnh trog tình này”, đồng thời thể hiện được tâm trạng “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
- Thành công nổi bật của Nguyễn Du trong tám câu thơ này là bút pháp tả cảnh ngụ tình thật rõ nét.
c. Kết bài: Liên hệ, mở rộng.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
