Đề thi vào 10 môn Văn Bến Tre
Đề thi vào 10 môn Văn Bến Tre năm 2025
Đề bài
Câu 1. (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
CƠM MÙI KHÓI BẾP
Bốn năm từ ngày lấy vợ, Tết này anh mới đưa được cả vợ và con về quê. Từ Sài Gòn về miền Trung không hắn quá xa, nhưng vì có đứa con nhỏ nên chuyện đi lại khó khăn. Mấy lần trước anh chỉ về một mình, dăm hôm lại trở vào. Lần này cả nhà mới được về quê, cho đứa con ăn Tết quê nội lần đầu.
Bà mẹ ngoài sáu mươi đon đả chạy ra tận ngõ đón. Lưng bà đã bắt đầu cong hình đòn gánh. Tay phải bà cắp bồng đứa cháu nội, tay trái vẫn chèo móc thêm một túi xách. Đặt xong đồ đạc vào góc nhà, bà bảo: “Chắc bây đói bụng rồi, để mẹ đi nấu cơm cho ăn". Cô con dâu còn mệt hơi xe đáp: “Chúng con ghẻ ăn trên thị xã rồi mới về đây". Nói xong cô quay sang chồng: “Bún nuốt chả trôi nữa là cơm". Bà hơi chạnh lòng: “Về tới xử mình rồi còn ăn chi dọc đường dọc sả cho tốn tiền. Thôi ra rửa rảy, để mẹ đi pha nước chanh cho bây uống. Chanh vườn nhà mình chứ không phải chanh Tàu đâu. Uống vô cái khỏe liền". Anh cười, bảo mẹ khách sáo quá, con cái chứ có phải ai xa lạ mà cung rước mời mọc. Bà móm mém: “Thì bây đi cả, nhà vắng vẻ mầy lâu. Thấy có người mừng quá. Ba năm là cả ngàn ngày chứ có ít ỏi chỉ”.
Hôm sau bà lọ mọ dậy từ lúc trời chưa hửng sáng, nhóm lửa rơm, bắc nồi cơm. Thằng cháu nội ba tuổi chạy xuống thấy khói bếp bốc ngùn ngùn, khiếp quá hét toáng lên: "Cháy nhà”. Anh chị đang ngủ giật mình vùng dậy. Anh bảo nhà đã có bếp gas, mẹ nấu gì thứ rơm đó nữa cho cực. Bà cười: “Tụi bây ăn cơm nồi cơm điện thành phố rồi, về quê mẹ nấu cơm lửa rơm cho thơm mùi đồng mùi rạ. Mà cơm nấu rơm mới có miếng cháy ăn giòn. Mấy hồi anh nhỏ, bữa ăn không có miếng cơm cháy là giãy nãy lên bướng bính chăng chịu ăn. Nhớ không”. Trời rạng tưng từng sảng, thấy khói bay lên lèn qua mái tranh, anh chợt bùi ngùi. Nhớ ngày xưa còn nhỏ, sáng sớm anh chạy xuống bếp nằm cuộn trong lòng mẹ ngủ nướng thêm một lúc. Thức giấc giờ nắp nồi ngửi mùi cơm. Rồi lấy đũa xới hết cơm lên để lột miếng cháy ở đáy ăn trước. Lớn lên vào Sài Gòn lập nghiệp, cưới vợ sinh con ở đấy, xa cái bếp quê dần thành quen. Với lại ở trong đó, đâu có mấy ai ăn sáng ở nhà. Cái bụng cũng “lười" và "yếu” đi, sáng phải bún hoặc cháo mới nuốt nổi. Giờ về thấy cơm, thèm thì thèm thật nhưng ăn chỉ vô. Cô con dâu bảo: "Mẹ bày ra nấu bữa sáng làm gì cho cực. Chúng con ra quản ăn miếng là rồi việc”. “Bây nói chỉ lạ. Ăn uống phải đàng hoàng chớ. Bữa sảng là quan trọng lắm. Không ai thương bằng cơm thương đâu con. Ăn cơm chắc bụng no lâu. Mấy cái thứ bún cháo nước õng ệu, chi nhoáng là đói lại liền à." - Bà vừa san cơm ra chén vừa nói. Ba chén cơm trắng, đĩa cá đồng kho nghệ. Anh háy mắt qua vợ, ý bảo ăn đi, ăn lấy lòng mẹ một miếng. Chị lại háy mắt qua anh lắc đầu, có mà sức Thánh Gióng mới nuốt trôi. Thằng cu con nhìn chằm chằm chén cơm. Cuối cùng chỉ có anh trệu trạo làm được ba miếng, như là ăn tượng trưng cho mỗi người một miếng. Tranh thủ lúc mẹ đi ra giếng, anh lùa cả ba chén cơm trắng vào lại nồi.
[...]
Chưa hết Tết, mới ngày mùng bốn anh lại phải đưa vợ con vào Sài Gòn. Bà mẹ dậy sớm làm gà, nấu cơm. Vẫn một mình bả cặm cụi với cái bếp. Bà xúc đầy cơm vào chiếc cà mèn. Gà luộc cho vào hộp đựng. “Bây đem lên xe mà ăn. Cơm dọc đường dọc sá không ngon đâu". Con cháu lên taxi rồi bà còn dặn theo: "Vào trong nhở ăn uống đàng hoàng nghe bây. Đừng bỏ bữa sáng Không ai thương bằng cơm thương".
Vào tới Sài Gòn cà mèn cơm vẫn còn một nửa. Vợ định đem đi đổ. Anh can, bảo để đấy, phơi khô cất giữ làm kỷ niệm.
Qua tháng ba nghe tin mẹ bệnh, anh tức tốc về nhà. Nằm trên giường, gặp con, câu đầu tiên bà hỏi: “Con ăn chi chưa. Mẹ không bắc cơm được. Thôi ra đầu chợ ăn tạm. Bữa nào khỏe mẹ nấu cơm cho ăn. Tội nghiệp".
Nhưng mẹ không khỏe nữa, yếu dần, được thêm hai bữa thì nhắm mắt.
Đưa mẹ ra đồng xong, về nhà nhìn chén cơm trắng đặt trên bàn thờ, anh thấy nhói lòng. Ân hận. Thế là hết cơ hội được ăn với mẹ một chén cơm sáng thật đầy, để nghe mẹ nói câu “Không ai thương bằng cơm thương”. Tiếc nuối. Thèm miếng cơm cháy mẹ nấu quá. Giòn và thơm, mùi hương đồng mùi nước quê, cả mùi khói bếp. Chỉ có mẹ mới nấu được miếng cơm cháy ngon như thế.
Hôm lên đường vào Sài Gòn, anh dậy sớm nấu chén cơm đặt lên bàn thờ mẹ. Anh tự mình vo gạo, tự mình nhóm bếp rơm. Loay hoay một hồi. Bếp nhà đầy khói. Và khói ...
(Theo Hoàng Công Danh, Chuyến tàu vé ngắn, NXB Trẻ, 2016, tr 49 - 54)
Thực hiện yêu cầu:
a. Câu chuyện trong đoạn trích được kể theo ngôi kể thứ mấy?
b. Theo đoạn trích, nhân vật người mẹ đã có những hành động và tâm trạng như thế nào khi đón các con về quê ăn Tết?
c. Phân tích cấu tạo ngữ pháp câu: Hôm lên đường vào Sài Gòn, anh dậy sớm nấu chén cơm đặt lên bàn thờ mẹ.
d. Theo em, mẹ là người như thế nào qua những câu văn sau:
Nằm trên giường, gặp con, câu đầu tiên bà hỏi: Con ăn chi chưa. Mẹ không bắc cơm được. Thôi ra đầu chợ ăn tạm. Bữa nào khỏe mẹ nấu cơm cho ăn. Tội nghiệp.
Câu 2. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (150 chữ) trình bày điều em cảm nhận được sau khi đọc đoạn trích:
Đưa mẹ ra đồng xong, về nhà nhìn chén cơm trắng đặt trên bàn thờ, anh thấy nhói lòng. Ân hận. Thế là hết cơ hội được ăn với mẹ một chén cơm sáng thật đầy, để nghe mẹ nói câu “Không ai thương bằng cơm thương". Tiếc nuối. Thèm miếng cơm cháy mẹ nấu quá. Giòn và thơm, mùi hương đồng mùi nước quê, cả mùi khói bếp. Chỉ có mẹ mới nấu được miếng cơm cháy ngon như thế.
Hôm lên đường vào Sài Gòn, anh dậy sớm nấu chén cơm đặt lên bàn thờ mẹ. Anh tự mình vo gạo, tự mình nhóm bếp rơm. Loay hoay một hồi. Bếp nhà đầy khói. Và khói…
(Đoạn trích Cơm mùi khói bếp của Hoàng Công Danh)
Câu 3. (4,0 điểm)
Dựa vào những gợi mở từ đoạn trích Cơm mùi khói bếp của Hoàng Công Danh, viết bài văn nghị luận (500 chữ) bày tỏ suy nghĩ của em về mẹ.
Lời giải chi tiết
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) |
Câu 1. |
Ngôi kể thứ 3 |
|
Câu 2. |
Khi đón các con về quê ăn Tết, người mẹ có nhiều hành động chăm sóc tận tình và tâm trạng đầy yêu thương, xúc động: - Hành động: + Chạy ra tận ngõ đón con cháu. + Tay cắp cháu, tay xách đồ. + Pha nước chanh, nấu cơm bằng rơm để "thơm mùi đồng mùi rạ". + Dậy sớm nấu ăn, chuẩn bị cà mèn cơm cho con đem đi đường. - Tâm trạng: + Vui mừng, xúc động khi con cháu về thăm ("nhà vắng vẻ mấy lâu"). + Hơi buồn và chạnh lòng khi con dâu chê cơm quê. |
|
|
Câu 3. |
Trạng ngữ chỉ thời gian: Hôm lên đường vào Sài Gòn Chủ ngữ: anh Vị ngữ: dậy sớm nấu chén cơm đặt lên bàn thờ mẹ |
|
|
Câu 4. |
Qua những câu văn này, mẹ hiện lên là một người mẹ giàu tình yêu thương, luôn nghĩ đến con cái dù bản thân đang yếu bệnh: + Khi gặp con, điều đầu tiên bà quan tâm không phải bản thân mà là: “Con ăn chi chưa?” + Dù đang bệnh không thể nấu cơm, bà vẫn áy náy, lo con phải ra ngoài ăn: “Thôi ra đầu chợ ăn tạm”. + Bà luôn hứa sẽ cố gắng khi khỏe hơn: “Bữa nào khỏe mẹ nấu cơm cho ăn.” + Từ “Tội nghiệp” bà nói về con nhưng cũng như tự trách mình, thể hiện tấm lòng yêu thương vô điều kiện của người mẹ. => Mẹ là người tần tảo, tận tụy, luôn hi sinh và dành trọn vẹn tình yêu thương cho con cái, ngay cả trong lúc ốm đau, cuối đời. |
|
|
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) |
Câu 1. (2,0 điểm) |
* Mở đoạn: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nêu cảm nhận chung về đoạn trích * Thân đoạn: - Cảm xúc ân hận, tiếc nuối của người con: + Ân hận: Nhận ra những cơ hội đã mất (không còn được ăn cơm cùng mẹ, nghe lời dặn dò "Không ai thương bằng cơm thương"). + Tiếc nuối: Nhớ về hương vị món ăn mẹ nấu ("miếng cơm cháy... giòn và thơm, mùi hương đồng mùi nước quê, cả mùi khói bếp") - một hương vị đặc trưng, không thể tìm thấy ở nơi khác, gắn liền với tình yêu thương của mẹ. - Tình mẫu tử thiêng liêng: + Hành động của người con sau này: "Anh dậy sớm nấu chén cơm đặt lên bàn thờ mẹ. Anh tự mình vo gạo, tự mình nhóm bếp rơm. Loay hoay một hồi. Bếp nhà đầy khói. Và khói..." + Hành động này thể hiện sự tiếp nối những điều mẹ đã làm, nhưng trong sự vụng về, khó khăn ("Loay hoay một hồi. Bếp nhà đầy khói. Và khói...") cho thấy sự thiếu vắng, không thể bù đắp được của tình mẹ. => Gợi ra thông điệp về sự trân trọng những điều giản dị, tình cảm gia đình khi còn có thể. - Đánh giá về nghệ thuật. * Kết đoạn: - Khẳng định giá trị tác phẩm và liên hệ bản thân |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
1. Mở bài: Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề nghị luận 2. Thân bài: Mẹ là người sinh thành, nuôi dưỡng, dạy dỗ con cái. * Mẹ có ý nghĩa vô cùng quan trọng với mỗi đứa con: - Mẹ là người hi sinh thầm lặng: + Mẹ đã trải qua 9 tháng 10 ngày mang nặng, với biết bao khó khăn, vất vả, lo lắng cho sự phát triển của con. + Luôn tần tảo sớm hôm vì con, gánh vác mọi vất vả mà không than phiền. + Nhiều lúc mẹ quên đi bản thân, chỉ mong con được đầy đủ, hạnh phúc. - Mẹ là người truyền cho ta tình yêu thương và bài học làm người: + Dạy chúng ta những bước đi chập chững, những tiếng nói đầu tiên, những lễ nghĩa cơ bản. + Dạy ta cách sống tử tế, biết yêu thương, sẻ chia. + Dạy ta biết đứng lên khi vấp ngã, kiên cường trước khó khăn. - Mẹ là chỗ dựa tinh thần vững chắc: + Mẹ luôn bao dung, tha thứ cho những lỗi lầm của con, dù con có gây ra lỗi lầm gì. + Mỗi khi buồn hay thất bại, mẹ là người đầu tiên ở bên an ủi, động viên. + Sự hiện diện và lời nói dịu dàng của mẹ có thể xoa dịu mọi tổn thương. HS lựa chọn các dẫn chứng phù hợp * Mở rộng: - Phê phán một bộ phận bạn trẻ vô tâm, thờ ơ với mẹ: + Có người coi thường tình cảm của mẹ, nói lời tổn thương, thậm chí bỏ mặc mẹ lúc đau yếu. + Có người chỉ khi mẹ mất mới nhận ra giá trị của mẹ * Bài học nhận thức, hành động: - Cần nhận thức rõ vai trò và tình cảm to lớn của mẹ. - Biết quan tâm, chia sẻ với mẹ từ những việc nhỏ: Hỏi han, giúp mẹ việc nhà, dành thời gian trò chuyện. Sống tốt, chăm học, cư xử lễ phép để mẹ yên lòng. - … 3. Kết bài: - Khẳng định vai trò và tình cảm sâu sắc dành cho mẹ. - Nêu thông điệp hoặc liên hệ bản thân |
Đề thi vào 10 môn Văn Bến Tre năm 2023
Đề bài
Câu 1. Đọc đoạn trích sau:
Như thế, mùa mắm còng đâu chỉ là mùa mắm còng. Nó đã trở thành mùa để nhớ quê nghèo, nhớ đồng đội, nhớ cậu Năm. Cậu biết vậy nên cứ tới mùa còng là làm mắm gửi lên thành phố cho tôi. Lần duy nhất đích thân cậu mang lên khi cậu về hưu cách đây ba năm nhưng cũng là lần buồn nhất: thằng con trai nhỏ bảy tuổi của tôi phán đối quyết liệt, không ăn mắm. Bảo nó là mắm ngon của ông Năm cực khổ mang tử quê lên, nó rằng nhắm mắt nhằm mũi gắp một đũa tí tẹo. Chưa kịp nuốt nó đã nôn ra mật xanh mật vàng. Bàn ăn lặng đi. Cậu tôi buông đũa, làm bộ cười khà khà nhưng mặt tái đi như bị hớp hồn. Lần đó cậu về, buồn, giận, thôi không gửi mắm codng, cũng không lên nữa.
Tôi tưởng cậu sống để vậy, chết mang theo, người du kích già sẽ không tha thứ đứa cháu trai kêu bằng ông sinh ra tại chốn thị thành không biết giá trị mắm còng. Nào ngờ, chỉ mươi hôm sau tờ lịch mách báo cho tôi mùa mắm còng tới, vợ tôi tới cơ quan làm việc thì nhận được cái giỏ đệm con con. Vừa mở ra đã nghe cái mùi khăng khẳng quen thuộc của mắm còng. Thật thần kì, cậu đã hết giận. Tháo bọc ni-lon xếp cạnh keo mắm còng ra còn thấy một gói chuối khô, loại chuối hồng phơi nắng tại nhà! Trong bọc chuối hằng có lá thư, nét chữ quen thuộc của cậu tôi xấu như gà bới:
"Mắm còng tạo gửi cho vợ chồng mày. Còn gói chuối hồng khô tạo gửi cho thằng Dân, nó không ăn được mắm thì ăn chuối cũng không sao. Hôm hổm, tao coi truyền hình thấy nó đàn tranh được giải thưởng tạo mừng, hết giận. Không ăn mắm còng nhưng đàn được bài "Khổng Minh toạ lầu" nhịp ngoại là tốt lắm, được cả xóm mình khen. Tạo nay già rồi, vợ chồng mày có dịp dắt nó về cho tao thăm. Cậu Năm".
Vợ tôi vừa đọc thư vừa khóc. Còn tôi thì chỉ biết xếp bức thư lại để tối về nhà đọc riêng một mình.
(Nguyễn Hồ, Mùa mắm còng, theo Tài liệu dạy học Ngữ văn địa phương trung học cơ sở tỉnh Bến Tre, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017)
Thực hiện các yêu cầu:
a) Đoạn trích được kể theo lời kể của ai, đó là người kể chuyện ngôi thứ mấy?
b) Phân tích cấu tạo ngữ pháp câu: Cậu tôi buông đũa, làm bộ cười khà khà nhưng mặt tái đi như bị hớp hồn.
c) Vì sao thằng Dân không ăn được mắm còng mà cậu Năm giận đến vậy?
d) Viết đoạn văn (tối đa 6 câu) trình bày cảm nhận về nhân vật cậu Năm sau khi đọc đoạn trích trên.
Câu 2. Phân tích tình bà cháu trong đoạn thơ sau và qua đó, trình bày suy nghĩ gì về tình cảm gia đình trong cuộc sống hiện nay:
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lại
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
Mày có viết thư chớ có kể này, kể nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng.
(Bằng Việt, Bếp lửa. Theo Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013)
Lời giải chi tiết
Câu 1:
a.
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
- Đoạn trích được kể theo lời của nhân vật người cháu gọi ông Năm là cậu (tôi).
- Người kể chuyện ngôi thứ nhất (người kể chuyện xưng tôi).
b.
Phương pháp:
Căn cứ cấu tạo câu.
Cách giải:
Cấu tạo ngữ pháp câu: Cậu tôi buông đũa, làm bộ cười khà khà nhưng mặt tái đi như bị hớp hồn.
- Phân tích:
CN1: Cậu tôi.
VN1: buông đũa, làm bộ cười khà khà.
CN2: mặt
VN2: tái đi như bị hớp hồn.
c.
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Học sinh trình bày theo suy nghĩ của bản thân mình, có lý giải phù hợp.
Gợi ý:
Thằng Dân không ăn mắm được mắm còng khiến cậu Năm giận bởi lẽ cậu cho rằng mắm còng mang hương vị của quê nghèo, của đồng đội. Mắm còng không đơn giản chỉ là một món ăn mà trong đó còn là toàn bộ tâm huyết, tình yêu thương của cậu Năm để vào trong đó, đồng thời nó còn là hương vị truyền thống của quê hương. Vì thế việc Dân không ăn được mắm còng nghĩa là không hiểu được giá trị của nó, không trân trọng những giá trị của nó.
d.
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Học sinh trình bày đúng hình thức một đoạn văn (tối đa 6 câu), đảm bảo nội dung cảm nhận về nhân vật cậu Năm.
Gợi ý:
- Cậu Năm là một người trọng tình, trọng nghĩa.
- Cậu Năm luôn gìn giữ những vẻ đẹp, những giá trị mang đậm dấu ấn của quê hương.
- Cậu Năm là một người giàu lòng yêu thương và lòng vị tha.
- Cậu Năm là một người yêu quê hương, tự hào về quê hương.
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu vài nét về tác giả Bằng Việt và bài thơ Bếp lửa.
- Hoàn cảnh bài thơ ra đời
- Nếu vấn đề nghị luận: Tình cảm của người bà trong đoạn trích. Từ đó, suy nghĩ về tình cảm của gia đình trong đời sống hiện nay.
2. Thân bài:
2.1. Phân tích tình cảm của người bà trong đoạn trích.
a. Tình cảm của người bà được thể hiện trong 8 năm kháng chiến.
– Kỉ niệm tuổi thơ là tám năm ròng cháu cùng bà nhóm ngọn lửa của sự sống và tình yêu.
– Từ ngọn lửa ấy, trong lòng tác giả sống dậy một hồi ức khắc khoải, hồi ức về tiếng chim tu hú. Bốn lần tiếng chim tu hú điệp lại gợi những âm sắc khác nhau.
+ Tiếng chim tu hú trên cánh đồng như giục lúa chín. “Tiếng chim tu hú gọi về những buổi sớm mai khi bà cháu dậy nhóm lửa trong không gian vắng lặng mênh mông của làng quê.
+ Tiếng chim tu hú tha thiết như giục giã, khắc khoải khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong, tiếng chim tu hú gợi cháu nhớ đến những câu chuyện của bà.
=>Tiếng tu hú như lời đồng vọng của đất trời trở thành điệp khúc chủ âm của hoài niệm.
– Trong khói bếp chập chờn, trong khắc khoải tiếng chim tu hú, hình ảnh bà hiện ra như một bà tiên.
“Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”
- Kháng chiến gian lao, chỉ có hai bà cháu côi cút, nương tựa vào nhau bởi mẹ cùng cha bận công tác ngoài chiến trường. Nhưng đối với cháu, đó vẫn là một quãng thời gian ngập tràn hạnh phúc bởi cháu vẫn được sống trong tình yêu thương trọn vẹn, trong sự cưu mang, bảo ban, chăm sóc của bà. Bằng một loạt những động từ: “kể”, “bảo”, “dạy”, “chăm” người đọc cảm nhận được công lao của bà đối với cháu. Bà đã thay cha mẹ chăm sóc, yêu thương cháu, thay thầy dạy dỗ, bảo ban cháu. Bà luôn ở bên cạnh cháu, nuôi dậy cháu nên người. Bà là kết tinh của “công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy”.
– Chỉ một khổ thơ với 11 dòng mà hai từ “bà” – “cháu” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần gợi lên hình ảnh bà cháu sóng đôi, quấn quýt, găn bó không rời.
b. Tình cảm của bà được thể hiện trong những năm giặc đốt làng.
“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh
Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên.”
– Hoàn cảnh đất nước có chiến tranh biết bao đau thương mất mát và trong đó có một kí ức người cháu không thể nào quên. Cuộc sống càng khó khăn, cảnh ngộ càng ngặt nghèo, nghị lực của bà càng bền vững, tấm lòng bà càng mênh mang:
+ Dù túp lều tranh nơi nương thân của 2 bà cháu đã không còn bởi sự tàn phá của quân thù nhưng bà vẫn “vững lòng”. Sự dũng cảm, kiên định ấy của bà đã thực sự trở thành chỗ dựa cho cháu.
+ Không chỉ có vậy, bà còn dặn cháu “đinh ninh”, lời dặn của bà nôm na, giản dị được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Tuy lời dặn ấy vi phạm phương châm hội thoại về chất nhưng trong đó chứa đựng biết bao tình cảm, tấm lòng, vẻ đẹp. Gian khổ thiếu thốn, nhọc nhằn, bà phải nén lại trong lòng, một mình chịu đựng để vững dạ người nơi tiền tuyến. Bà dã trở thành hậu phương vững chắc cho cha mẹ.
=> Hình ảnh bà lúc này không còn là của riêng cháu nữa mà bà là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam với tám chữ vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.
– Đối lập với ngọn lửa hung tàn, thiêu rụi sự sống của giặc là ngọn lửa hy vọng và niềm tin của bà.
c. Tình yêu thương của bà được thể hiện thông qua những suy ngẫm của cháu về cuộc đời bà.
– Giữa tro tàn, giữa đau thương bà lại nhóm lửa, bà vẫn nhóm lửa. Bếp lửa ân cần, ấm cúng,
“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”
- Từ hình ảnh tả thực “Bếp lửa bà nhen” mỗi sớm, tác giả đã khóe léo chuyển thành hình ảnh “ngọn lửa”– một ngọn lửa tỏa sáng câu thơ có sức truyền cảm mạnh mẽ. Đến đây, bếp lửa bà nhen không còn là bếp lửa thông thường trong mỗi gian bếp bởi nó chứa ngọn lửa của lòng bà, ngọn lửa của tình yêu thơng và đức tin trong sáng, mãnh liệt. Từ ngọn lửa của lòng bà đã nhóm lên trong cháu tình yêu thương, niềm tin vào một ngày mai chiến thắng.
=> Bà chính là người nhóm lửa và giữ lửa – ngọn lửa niềm tin và hy vọng.
2.1. Suy nghĩ về tình cảm gia đình trong đời sống hiện nay.
- Tình cảm gia đình góp phần nuôi dưỡng tâm hồn, hình thành nên nhân cách của một con người.
- Tình cảm gia đình là thứ tình cảm thiêng liêng nhất, gần gũi và quan trọng nhất đối với mỗi con người.
- Tình cảm gia đình chính là điểm tựa mỗi khi con người gặp phải những khó khăn trong cuộc sống.
- Tình cảm gia đình tạo động lực cho con người, thúc đẩy sự phấn đấu của con người.
=> Tình cảm gia đình là một thứ tình cảm thiêng liêng, bởi vậy mỗi cá nhân phải có trách nhiệm vun đắp, gìn giữ để làm cho tình cảm gia đình ngày càng tốt đẹp, là cơ sở để xây dựng xã hội phồn vinh, phát triển.
3. Kết bài:
Khái quát lại vấn đề nghị luận.
- Tình cảm của người bà trong đoạn trích.
- Khẳng định vai trò của tình cảm gia đình trong đời sống của con người hiện nay.
Đề thi vào 10 môn Văn Bến Tre năm 2022
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (5 điểm) Đọc đoạn trích:
Mấu chốt của thành đạt là ở đâu? Có người nói thành đạt là do gặp thời, có người lại cho là do hoàn cảnh bức bách, có người cho là do có điều kiện được học tập, có người lại cho là do có tài năng trời cho. Các ý kiến đó mỗi ý chỉ nói tới một nguyên nhân, mà lại đều là nguyên nhân khách quan, họ quên mất nguyên nhân chủ quan của con người.
Thật vậy, gặp thời tức là gặp may, có cơ hội, nhưng nếu chủ quan không chuẩn bị thì cơ hội cũng sẽ qua đi. Hoàn cảnh bức bách tức là hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục. Nhưng gặp hoàn cảnh ấy có người bi quan, thất vọng, chán nản, thối chí; có người lại gồng mình vượt qua. Điều kiện học tập cũng vậy, có người được cha mẹ tạo cho mọi điều kiện thuận lợi, nhưng lại mái chơi, ăn diện, kết quả học tập rất bình thường. Nói tới tài năng thì ai cũng có chút tài, nhưng đó chỉ mới là một khả năng tiềm tàng, nếu không tìm cách phát huy thì nó cũng bị thui chột. Rút cuộc mấu chốt của thành đạt là ở bản thân chủ quan mỗi người, ở tỉnh thần kiên trì phấn đấu, học tập không mệt mỏi, lại phải trau dồi đạo đức cho tốt đẹp. Không nên quên rằng, thành đạt tức là làm được một cái gì có ích cho mọi người, cho xã hội, được xã hội thừa nhận.
(Nguyên Hương. Trò chuyện với bạn trẻ Theo Ngữ văn 9, tập 1. NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr. 11, 12)
Thực hiện các yêu cầu sau:
a) Xác định chủ ngữ, vị ngữ trong câu: Không nên quên rằng, thành đạt tức là làm được một cái gì có ích cho mọi người, cho xã hội, được xã hội thừa nhận.
b) Xác định phép liên kết được sử dụng trong phần trích sau: Hoàn cảnh bức bách tức là hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục. Nhưng gặp hoàn cảnh ấy có người bi quan, thất vọng, chán nản, thối chí; có người lại gồng mình vượt qua.
c) Theo tác giả, khi gặp hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục, con người có những cách ứng xử nào?
d) Em hãy viết đoạn văn trình bày suy nghĩ về ý kiến: thành đạt tức là làm được một cái gì có ích cho mọi người, cho xã hội, được xã hội thừa nhận.
I. ĐỌC HIỂU (5 điểm) Viết bài văn nghị luận, phân tích đoạn thơ sau:
Viết bài văn nghị luận, phân tích đoạn thơ sau:
Cá nhụ cá chim cùng cá đé
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe.
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.
Ta hát bài ca gọi cả vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
Biển cho ta cả như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.
(Huy Cận, Đoàn thuyền thành cá, Theo Ngữ văn 9, tập I. NXB Giáo dục Việt Nam, 2018 - 140)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU:
|
a) Xác định chủ ngữ, vị ngữ trong câu: Không nên quên rằng, thành đạt tức là làm được một cái gì có ích cho mọi người, cho xã hội, được xã hội thừa nhận. |
Phương pháp: Căn cứ các thành phần chính của câu.
Cách giải:
Chủ ngữ: thành đạt.
Vị ngữ: tức là làm được một cái gì có ích cho mọi người, cho xã hội, được xã hội thừa nhận.
|
b) Xác định phép liên kết được sử dụng trong phần trích sau: Hoàn cảnh bức bách tức là hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục. Nhưng gặp hoàn cảnh ấy có người bi quan, thất vọng, chán nản, thối chí; có người lại gồng mình vượt qua. |
Phương pháp: Căn cứ bài Phép liên kết câu.
Cách giải:
- Phép liên kết là:
Phép nối: Nhưng.
Phép lặp: hoàn cảnh.
|
c) Theo tác giả, khi gặp hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục, con người có những cách ứng xử nào? |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Khi gặp hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục con người thường có hai cách ứng xử:
- Bi quan, thất vọng, chán nản, thối chí.
- Người lại gồng mình vượt qua.
|
d) Em hãy viết đoạn văn trình bày suy nghĩ về ý kiến : thành đạt tức là làm được một cái gì có ích cho mọi người, cho xã hội, được xã hội thừa nhận. |
Phương pháp: Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
* Yêu cầu hình thức: Viết đụng hình thức của một đoạn văn.
* Yêu cầu về nội dung:
* Xác định đúng vấn đề nghị luận: Thành đạt tức là làm được một cái gì có ích cho mọi người, cho xã hội, được xã hội thừa nhận.
- Giải thích: Thành đạt là việc đạt được mục tiêu, lý tưởng đề ra, có vị trí, địa vị trong xã hội.
-> Người có thành đạt là người đạt được mục tiêu trong đời sống, có địa vị riêng trong xã hội. Tuy nhiên thành đạt với bản thân chưa đủ, thành đạt thực sự của con người là phải đặt trong mối quan hệ giữa cá nhân, cộng đồng.
- Bàn luận:
+ Sự thành đạt của con người đến từ nhiều yếu tố: tài năng, phẩm chất, may mắn, kỹ năng. Con người đạt được những mục tiêu, có cho mình một vị trí thì đó là người thành công. Người thành đạt là người biết sử dụng tài năng của mình để giúp ích cho những người khác giúp cho họ phát triển, giúp cho xã hội đi lên đó mới thật sự là thành đạt.
+ Thành đạt thực sự là mang giá trị mình có để cống hiến, giúp ích cho đời.
+ Tiền tài qua thời gian có thể mất đi nhưng danh tiếng, những công trình bạn làm ra để lại cho đời thì sẽ còn mãi mãi, sẽ được mọi người đời đời ghi nhớ và biết ơn.
+…
HS lấy dẫn chứng minh họa phù hợp: Phạm Nhật Vượng, …
- Hành động:
+ Luôn nỗ lực để trở nên thành đạt.
+ Cần có sự liên kết giữa thành công đối với cá nhân và giúp ích công động.
* Tổng kết.
II. LÀM VĂN:
|
Viết bài văn nghị luận, phân tích đoạn thơ sau: Cá nhụ cá chim cùng cá đé Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe. Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.
Ta hát bài ca gọi cả vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Biển cho ta cả như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào. (Huy Cận, Đoàn thuyền thành cá, Theo Ngữ văn 9, tập I. NXB Giáo dục Việt Nam, 2018 - 140) |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm Đoàn thuyền đánh cá.
- Giới thiệu nội dung 2 khổ thơ cần phân tích.
2. Thân bài
* Sự giàu đẹp, trù phú và nên thơ của biển cả
Cá nhụ cá chim cùng cá đé
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Đêm thở sao lùa nước Hạ Long.
- Tác giả liệt kê sự giàu có của biển cả bằng cách kể tên các loài cá và tập trung miêu tả màu sắc chủ chúng trong đêm trăng. Đó đều là những loài cá quý ở vùng biển nước ta, mang lại những giá trị kinh tế lớn.
- Biển không chỉ giàu mà còn rất đẹp: Đêm buông xuống, trăng bắt đầu lên, không gian bao la sóng nước, ánh trăng huyền ảo, thơ mộng và thanh thoát lan tỏa trên mặt biển. Hình ảnh ẩn dụ độc đáo: “Cá song lấp lánh đuốc đen hồng” gợi liên tưởng đến những con cá đang lao đi trong luồng nước dưới ánh trăng lấp lánh. Nhưng đẹp đẽ nhất là “cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe”: Ánh trăng in xuống mặt nước, những con cá quẫy đuôi như quấy ánh trăng tan ra, hòa trộn vào làn nước.
- Tác giả sử dụng một loạt những từ ngữ chỉ màu sắc: lấp lánh, đen hồng, vàng chóe. Tất cả tạo nên một bức tranh sơn mài nên thơ và đầy chất lãng mạn. Phải thật tinh tế mới có được những phát hiện tuyệt vời ấy.
- “Đêm thở sao lùa nước Hạ Long” là hình ảnh nhân hóa đẹp. Đêm được miêu tả như một sinh vật đại Dương, nó thở. Tiếng thở của biển đêm chính là ánh sao lùa sóng nước, hòa với tiếng gõ thuyền trong nhịp điệu hối thúc của đêm dần tàn. Đây là một hình ảnh đảo ngược, sóng biển đu đưa lùa ánh sao trời đáy nước chứ không phải bóng sao lùa sóng nước. Đây là một hình ảnh lạ, một sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ Huy Cận khiến cho cảnh thiên nhiên thêm sinh động. Tất cả hòa vào nhau, làm nên một bức tranh hòa nhịp kì diệu giữa thiên nhiên và con người lao động.
* Biển ân nghĩa thủy chung, bao la như lòng mẹ
Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.
- Tiếng hát căng tràn mặt biển, gọi cá vào. Đó là khúc ca lao động khỏe khoắn, mạnh mẽ, gợi lên sự thân thiết, niềm vui, tình yêu lao động và sức mạnh, khát khao chinh phục biển cả của họ.
- Không phải con người gõ thuyền gọi cá mà là trăng cao gõ. Trong đêm trăng sáng, vầng trăng in xuống mặt nước, sóng xô bóng trăng dưới nước, gõ vào mạn thuyền tạo nên nhịp điệu cho bài ca lao động. Có thể nói đây là hình ảnh lãng mạn, đầy chất thơ, làm đẹp thêm cho công việc đánh cá. Thiên nhiên đã cùng con người hòa đồng trong lao động. Và như vậy, bức tranh không chỉ có màu sắc hình ảnh mà có cả âm thanh rộn rã.
- 2 câu sau: Gợi lên sự giao hòa, thân thiết, ưu ái con người với biển quê hương rất ân tình, thể hiện sự biết ơn, trân trọng của con người với biển cả hùng vĩ. Biển được ví như người mẹ với người dân chài, thể hiện tình yêu, lòng biết ơn, trận trọng và gắn bó như ruột thịt.
3. Kết bài: Tổng kết về nội dung và nghệ thuật.
Đề thi vào 10 môn Văn Bến Tre năm 2021
Đề bài
Câu 1. (5 điểm) Đọc đoạn trích:
Những ai tự hào với kết quả công việc của mình và luôn cố gắng tạo ra trải nghiệm ngày càng ý nghĩa hơn cho người thưởng thức là những người luôn thành công trong bất cứ hoàn cảnh nào. Ngay cả một nhân viên phục vụ ở tiệm bán thức ăn nhanh cũng có thể được xem là thành công khi anh ta dốc hết sức mình cho công việc: vừa nhận đơn đặt hàng qua điện thoại, vừa tươi cười với thực khách, vừa nhanh tay đóng gói thực phẩm khách mua về.
Bất cứ việc gì cũng đòi hỏi chúng ta phải thật sự chủ tâm, giống như những nghệ sĩ trên sân khấu. Nếu bạn làm vì niềm vui, sự phấn khởi, vì những thử thách mà công việc ấy mang đến cho bạn và lòng tự hào về những gì làm được, bạn sẽ không ngừng phát triển bản thân. Nếu làm việc chỉ vì danh tiếng, tư lợi bạn sẽ dậm chân tại chỗ. Suy cho cùng, sự khen tặng, ái mộ mọi người dành cho bạn rồi cũng tan biển đi khi cảm giác mới lạ trong họ không còn nữa. Còn nếu bạn muốn lặp lại những việc tương tự chi để nhận lấy những lời khen cũ rích thì bạn sẽ chẳng có động lực nội tại nào thúc đẩy bản thân tiến bước xa hơn.
(Trích 10 quy luật cuộc sống - Dan Sullivan Catherine Nomura, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2019, trang 49 - 50)
Thực hiện các yêu cầu:
a) Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
b) Theo đoạn trích, để thành công trong bất cứ hoàn cảnh, con người cần có thái độ như thế nào đối với công việc của mình?
c) Tìm thành phần chủ ngữ và vị ngữ trong câu: Còn nếu bạn muốn lặp lại những việc tương tự chỉ để nhận lấy những lời khen cũ rích thì bạn sẽ chẳng có động lực nội tại nào thúc đẩy bản thân tiến bước xa hơn.
d) Từ nội dung đoạn trích, em hãy viết đoạn văn (khoảng 120 chữ) trình bày suy nghĩ về tinh thần trách nhiệm trong công việc.
Câu 2. (5 điểm) Phân tích nhân vật ông Hai trong đoạn trích sau:
Ông lão ôm thằng con út lên lòng, nhè nhẹ vào làng nó, khẽ hỏi:
- Húc kia! Thầy hỏi con nhé, con là con ai?
- Là con thấy mấy lị con nu,
- Thế nhà con ở đâu?
- Nhà ta ở làng Chợ Dầu.
- Thế còn có thích về làng Chợ Dầu không?
Thằng bé nép đầu vào ngực bố trả lời khe khẽ:
- Có
Ông lão ôm khít thằng bé vào lòng, một lúc lâu ông lại hỏi:
- À, thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ ai?
Thằng bé giơ tay lên, mạnh bạo và rành rọt:
- Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!
Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má. Ông nói thủ thỉ:
- Ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhỉ.
Mấy hôm nay ru rú ở xó nhà, những lúc buồn khổ quả chẳng biết nói cùng ai, ông lão lại thủ thỉ với con như vậy. Ông nói như để ngỏ lòng mình, như để mình lại minh oan cho mình nữa. Anh em đồng cho biết cho bố con ông.
Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét xoi cho bố con ông.
Mỗi lần nói ra được đôi câu như vậy nỗi khổ trong lòng ông cũng vơi được đôi phần. Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai, Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai
Theo Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, trang 169,170)
Lời giải chi tiết
Câu 1.
|
a) Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. |
Phương pháp: căn cứ các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt của đoạn trích: Nghị luận.
|
b) Theo đoạn trích, để thành công trong bất cứ hoàn cảnh, con người cần có thái độ như thế nào đối với công việc của mình? |
Phương pháp: căn cứ đoạn trích.
Cách giải:
Theo đoạn trích, để thành công trong bất cứ hoàn cảnh nào cần thực sự chú tâm vào công việc mình làm. Làm việc bằng niềm vui, sự phấn khởi và lòng tự hào về những gì làm được.
|
c) Tìm thành phần chủ ngữ và vị ngữ trong câu: Còn nếu bạn muốn lặp lại những việc tương tự chỉ để nhận lấy những lời khen cũ rích thì bạn sẽ chẳng có động lực nội tại nào thúc đẩy bản thân tiến bước xa hơn. |
Phương pháp: căn cứ bài Câu ghép.
Cách giải:
Câu văn trên là câu ghép đực nối với nhau bằng cặp quan hệ từ Nếu … thì
- Chủ ngữ 1: Bạn
- Vị ngữ 1: muốn lặp lại những việc tương tự chỉ để nhận lấy những lời khen cũ rích
- Chủ ngữ 2: Bạn
- Vị ngữ 2: sẽ chẳng có động lực nội tại nào thúc đẩy bản thân tiến bước xa hơn.
|
d) Từ nội dung đoạn trích, em hãy viết đoạn văn (khoảng 120 chữ) trình bày suy nghĩ về tinh thần trách nhiệm trong công việc. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
Gợi ý:
I. Mở đoạn:
- Giới thiệu về tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống
II. Thân đoạn:
1. Giải thích:
Tinh thần trách nhiệm là ý thức thực hiện tốt nghĩa vụ, công việc của bản thân, không ỷ lại, dựa dẫm hay đùn đẩy trách nhiệm cho người khác.
2. Biểu hiện của tinh thần trách nhiệm:
- Đối với học sinh: trách nhiệm của chúng ta là học tập thực tốt, nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của nhà trường, có tính thần yêu nước, chăm lo học tập, …
- Có trách nhiệm với bản thân, với gia đình, những người xung quanh.
- Đối với một người công chức: thực hiện đúng nhiệm vụ của Đảng và nhà nước gia cho, hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao cho.
- Đối với công dân: thực hiện tốt quy định của nhà nước, của pháp luật, có trách nhiệm với gia đình và mọi người xung quanh.
3. Ý nghĩa của tinh tần trách nhiệm:
- Hoàn thành tốt công việc và nhiệm vụ.
- Được mọi người xung quanh quý mến và yêu quý.
- Được lòng tin của mọi người.
- Thành công trong công việc và cuộc sống.
4. Phản đề
- Những người có lối sống ích kỉ, không có tinh thần trách nhiệm,...
III. Kết đoạn: nêu cảm nghĩ của em về tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống.
- Tinh thần trách nhiệm là một đức tính tốt đẹp.
- Em sẽ học tập tốt để trở thành người có trách nhiệm.
Câu 2.
|
Phân tích nhân vật ông Hai trong đoạn trích |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài
- Giới thiệu khái quát về tác giả và tác phẩm.
- Nêu vấn đề nghị luận: phân tích nhân vật ông Hai trong cuộc trò chuyện với đứa con út: Trong truyện Làng của nhà văn Kim Lân, cuộc trò chuyện của ông Hai với đứa con út đã cho ta thấy tấm lòng của ông Hai đối với làng quê, với kháng chiến thật cảm động.
2. Thân bài:
a. Trước hết đoạn trích đã thể hiện tình yêu tha thiết của ông hai dành cho làng chợ Dầu:
- Mặc dù, về mại lí trí, ông đã quyết định “làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”, nhưng về mặt tình cảm, ông không thể chấp nhận sự thật ấy.
- Trái tim ông vẫn hướng về làng chợ Dầu, tự bản thân ông luôn coi mình là người dân làng chợ Dầu. Ông hỏi đứa con Út: “nhà con ở đâu?”, “Thế con có thích về làng chợ Dầu không?” nhưng chính là đang bộc bạch tình cảm của mình.
b. Bên cạnh đó, đoạn trích đã thể hiện tình cảm của ông Hai dành cho kháng chiến.
- Ông xúc động, “nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai bên má” khi thằng Húc, con ông, dù còn nhỏ tuổi đã biết “mạnh bạo và rành rọt” “Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm”. Ông nói thủ thỉ với nó “ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhi” nhưng cũng là để bộc bạch tình cảm của chính mình.
- Dù bị đẩy vào tình cảnh tủi nhục, bế tắc; ông vẫn tin tưởng vào kháng chiến, vào cụ Hồ: “anh em đồng chí biết cho bố con ông, Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”.
- Ông khẳng định tấm lòng trung thành tuyệt đối dành cho cách mạng, cho kháng chiến: “cái lòng bố con ông là thế, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết, có bao giờ dám đơn sai”, ông đặt lòng trung thành trên cả cái chết.
c. Nghệ thuật:
Để làm nổi bật tình cảm chân thành, mộc mạc và rất đỗi mãnh liệt của ông Hai dành cho làng, cho đất nước, tác giả đã thành công trong việc sử dụng hình thức đối thoại, độc thoại nội tâm, ngôn ngữ mang đậm cá tính nhân vật.
3. Kết bài
Khái quát lại về nhân vật ông Hai, nghệ thuật xây dựng nhân vât trong đoạn trích và nêu suy nghĩ, cảm nhận của bản thân về nhân vật.
Đề thi vào 10 môn Văn Bến Tre năm 2020
Đề bài
Câu 1 (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: a, b, c, d:
NGƯỜI ĂN XIN
Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.
Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay nóng hổi của ông:
– Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.
Ông nhìn tôi chăm chăm đôi môi nở nụ cười:
Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.
Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông.
(Ngữ văn 9, tập 2, NXBGD Việt Nam 2017, trang 22)
a. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
b. Tìm thành phần chủ ngữ, vị ngữ trong câu: Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt áo, quần tả tơi.
c. Theo em, anh thanh niên đã cho ông lão điều gì?
d. Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa rút ra từ văn bản trên.
Câu 2: (6,0 điểm)
Phân tích đoạn thơ sau, trích trong bài Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
(Trích Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải, Ngữ văn 9, tập 2, NXBGD Việt Nam 2017, trang 56)
Lời giải chi tiết
Câu 1
|
a. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. |
Phương pháp: Căn cứ vào các phương thức biểu đạt đã học
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: tự sự
|
b. Tìm thành phần chủ ngữ, vị ngữ trong câu: Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt áo, quần tả tơi. |
Phương pháp: Căn cứ vào bài học “Các thành phần chính của câu”
Cách giải:
Đôi mắt/ ông đỏ hoe, nước mắt ông/ giàn giụa, đôi môi/ tái nhợt, áo quần/ tả tơi
CN1 VN1 CN2 VN2 CN3 VN3 CN4 VN4
|
c. Theo em, anh thanh niên đã cho ông lão điều gì? |
Phương pháp: Căn cứ vào nội dung đoạn trích và tìm ý
Cách giải:
Anh thanh niên đã cho ông lão tình yêu thương, sự đồng cảm, sẻ chia đối với cảnh ngộ của người ăn xin.
|
d. Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa rút ra từ văn bản trên. |
Phương pháp: Phân tích, lí giải
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: Văn bản trên gợi lên sự đồng cảm, sẻ chia trong cuộc sống.
2. Giải thích vấn đề
- Đồng cảm, sẻ chia là thấu hiểu và quan tâm đến người khác, biết san sẻ và giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn.
=> Đồng cảm, sẻ chia là cơ sở khẳng định phẩm chất con người và làm cho xã hội trở nên tốt đẹp hơn.
3. Phân tích, bàn luận vấn đề
- Biểu hiện đồng cảm, sẻ chia:
- Về vật chất: chúng ta có thể quyên góp, ủng hộ bằng nhiều cách để giúp đỡ những người gặp hoạn nạn, khó khăn.
- Về tinh thần: chúng ta biết lắng nghe, mở lòng để thấu hiểu họ, thể hiện tình cảm, sự thấu hiếu đối với những người gặp khó khăn
- Về công sức: có thể góp sức xây dựng nên nơi cư trú hay xây dựng trường học cho những nơi khó khăn ….
=> Đồng cảm, sẻ chia đã trở thành chuẩn mực đạo đức của người Việt Nam.
- Ý nghĩa lòng biết ơn:
+ Đối với người nhận: những người gặp khó khăn sẽ rất vui, họ cảm thấy được an ủi, được quan tâm và chia sẻ
+ Đối với người ủng hộ: những người ủng hộ sẽ được an lòng, cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản và sống tốt hơn.
+ Đồng cảm và chia sẻ đều mang lại lợi ích cho cả hai bên, giúp cho tinh thần của học trở nên thư thái và được yêu thương hơn.
- Phê phán những người có lối sống ích kỉ, vô tâm.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Nhận thức: Đồng cảm, sẻ chia giúp con người thêm sức mạnh để vượt qua những thử thách, những nghịch cảnh của cuộc đời. Đó cũng là một trong những phẩm chất "người", kết tinh giá trị nhân văn cao quý ở con người.
+ Hành động: Phải học cách đồng cảm, sẻ chia và phân biệt đồng cảm, sẻ chia với sự thương hại, ban ơn... Ai cũng có thể đồng cảm, sẻ chia với những người quanh mình với điều kiện và khả năng có thể của mình.
4. Liên hệ bản thân và tổng kết
Câu 2
|
Phân tích đoạn thơ sau, trích trong bài Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải: Ta làm con chim hót (Trích Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải, Ngữ văn 9, tập 2, NXBGD Việt Nam 2017, trang 56) |
Phương pháp: Phân tích, cảm nhận, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
- Giới thiệu tác giả Thanh Hải và bài thơ Mùa xuân nho nhỏ:
+ Thanh Hải là nhà thơ hiện đại Việt Nam trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
+ "Mùa xuân nho nhỏ" là một trong những bài thơ hay viết về mùa xuân, về khát vọng cống hiến cho đời của nhà thơ.
- Khái quát nội dung khổ thơ 4 và 5: Hai khổ thơ 4 và 5 thể hiện rõ nhất ước vọng được hòa nhập hiến dâng cho cuộc đời, cho mùa xuân chung của dân tộc của tác giả.
2. Phân tích, cảm nhận
a. Khái quát về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ
- Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được tác giả sáng tác trong khi nằm trên giường bệnh, trước khi mất ít lâu, trong hoàn cảnh đất nước đã thống nhất, đang xây dựng cuộc sống mới nhưng còn vô vàn khó khăn gian khổ, thử thách.
- Nội dung chính: Bài thơ là tiếng lòng, những tâm sự, suy ngẫm, mong ước được dâng hiến một mùa xuân nho nhỏ của tác giả cho mùa xuân vĩ đại của đất nước.
b. Phân tích khổ thơ thứ 4: Khát vọng hòa nhập, tự nguyện mang niềm vui đến cho cuộc đời
Ta làm con chim hót,
Ta làm một cành hoa.
Ta nhập vào hoà ca,
Một nốt trầm xao xuyến
- Điệp từ “ta làm” cùng với nhịp thơ dồn dập diễn tả rõ nét khát vọng cống hiến của nhà thơ:
+ muốn làm con chim hót: góp tiếng hót cho cuộc đời
+ muốn làm một cành hoa: góp chút sắc hương cho cuộc sống
-> Ước mong giản dị, đơn sơ để tô điểm cho vườn hoa mùa xuân muôn hương muôn sắc của đất nước.
+ một nốt trầm -> không ồn ào, không cao điệu mà chỉ âm thầm, lặng lẽ “nhập” vào khúc ca, tiếng hát của nhân dân vui mừng đón xuân về.
- Đại từ “ta” dùng để khẳng định đó không chỉ là tâm niệm riêng của cá nhân nhà thơ mà còn là khát vọng chung của nhiều người.
-> Khát vọng sống hoà nhập vào cuộc sống của đất nước, cống hiến phần tốt đẹp, dù nhỏ bé, của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước, nguyện hi vinh cho sự phồn vinh của đất nước.
=> Đây là tâm niệm thiết tha của một nhà cách mạng, một nhà thơ đã gắn bó trọn đời với đất nước, quê hương với một khát vọng chân thành và tha thiết.
c. Phân tích khổ thơ thứ 5:
Ước nguyện cống hiến chân thành không kể tuổi tác
"Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời"
- Hình ảnh “mùa xuân nho nhỏ”: ẩn dụ cho cuộc đời mỗi con người, mỗi sự cống hiến -> Tác giả muốn góp chút công sức nhỏ bé của mình vào mùa xuân lớn của đất nước.
- Từ láy “lặng lẽ”, “nho nhỏ” là cách nói khiêm tốn, chân thành của nhân cách sống cao đẹp khi hướng tới việc góp vào lợi ích chung của dân tộc.
-> Lẽ sống cống hiến lặng lẽ, khiêm tốn của nhà thơ, âm thầm lặng lẽ hiến dâng, chẳng phô trương, không cần ai biết đến.
"Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc."
- Điệp ngữ “dù là”: thái độ tự tin trước những khó khăn trở ngại của đời người
- "tuổi hai mươi", "khi tóc bạc": âm thầm cống hiến bất kể khi tuổi trẻ hay lúc về già.
-> Lời hứa, lời tự nhủ với lương tâm sẽ phải kiên trì, thử thách với thời gian tuổi già, bệnh tật để mãi mãi làm một mùa xuân nho nhỏ trong mùa xuân rộng lớn của quê hương đất nước.
=> Với niềm yêu đời tha thiết, tác giả vượt lên trên hoàn cảnh về bệnh tật mong muốn da diết được sống có ích bằng tất cả sức trẻ của mình. Ý thức về trách nhiệm với quê hương, đất nước, khát vọng được sống, được cống hiến trở thành một ý thức bất diệt trong tâm hồn tác giả.
d. Đặc sắc nghệ thuật trong 2 khổ thơ:
- Sử dụng các từ láy, điệp từ hiệu quả
- Hình ảnh đẹp, giản dị
- Ngôn từ chính xác, tinh tế, gợi cảm
- So sánh và ẩn dụ sáng tạo
3. Tổng kết
- Khái quát những đặc sắc về nghệ thuật làm nên thành công của đoạn thơ: Thể thơ năm chữ, có nhạc điệu trong sáng, thiết tha gần gũi với dân ca, nhiều hình ảnh đẹp, giản dị, gợi cảm, nhiều so sánh và ẩn dụ sáng tạo.
- Liên hệ trình bày khát vọng cống hiến của thế hệ trẻ cho cuộc đời.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
