Đề thi vào 10 môn Văn Bình Định
Đề thi vào 10 môn Văn Bình Định năm 2025
Đề bài
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
(1) ...Quê hương tôi có cây bầu, cây nhị
Tiếng đàn kêu tích tịch tình tang ...
Có cô Tấm náu mình trong quả thị
Có người em may túi đúng ba gang.
(2) Quê hương tôi có bà Trưng, bà Triệu
Cưỡi đầu voi, dấy nghĩa trả thù chung.
Ông Lê Lợi đã trường kỳ kháng chiến
Hưng Đạo Vương đã mở hội Diên Hồng.
(3) Quê hương tôi có múa xoè, hát đúm
Có hội xuân liên tiếp những đêm chèo.
Có Nguyễn Trãi, có Bình Ngô đại cáo
Có Nguyễn Du và có một truyện Kiều.
[ ... ]
(4) Cánh đồng nào cũng chôn vàng giấu bạc
Bờ biển nào cũng chói ngọc ngời châu.
Có thanh quế ngửi qua là khỏi bệnh
Có cây lim đóng cả một thân tầu.
(Nguyễn Bính, trích Bài thơ quê hương, in trong tập Thơ Nguyễn Bính, NXB Thanh Niên, 2008, tr.167-169)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định chủ đề trong đoạn trích.
Câu 2. (0,5 điểm) Hãy kể tên của những truyện cổ tích Việt Nam được gợi ra trong khô thơ (1).
Câu 3. (1,0 điểm) Xác định và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ có trong khổ thơ (3).
Câu 4. (1,0 điểm) Trình bày cách hiểu của em về hai câu thơ:
“Cánh đồng nào cũng chôn vàng, giấu bạc
Bờ biển nào cũng chói ngọc ngời châu.”
Câu 5. (1,0 điểm) Qua đoạn trích trên, em hãy rút ra thông điệp có ý nghĩa nhất đối với bản
thân. Lí giải vì sao em chọn thông điệp ấy?
II. PHẦN VIỄT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Kết nối với phần Đọc hiểu, viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp của quê hương qua hai khổ thơ:
(2) Quê hương tôi có bà Trưng, bà Triệu
Cưỡi đầu voi, dấy nghĩa trả thù chung.
Ông Lê Lợi đã trường kỳ kháng chiến
Hưng Đạo Vương đã mở hội Diên Hồng.
(3) Quê hương tôi có múa xoè, hát đúm
Có hội xuân liên tiếp những đêm chèo.
Có Nguyễn Trãi, có Bình Ngô đại cáo
Có Nguyễn Du và có một truyện Kiều.
Câu 2. (4,0 điểm) Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ sâu sắc của bản thân về việc giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống dân tộc trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa của đất nước ta hiện nay.
Lời giải chi tiết
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) |
Câu 1. (0,5 điểm) |
Chủ đề: Ca ngợi vẻ đẹp bình dị, truyền thống văn hoá, lịch sử của quê hương. Thể hiện tình yêu tha thiết và niềm tự hào về quê hương đất nước |
|
Câu 2. (0,5 điểm) |
Truyện cổ tích: Thạch Sanh, Tấm Cám, Cây khế. |
|
|
Câu 3. (1,0 điểm) |
- BPTT điệp ngữ: “có” - Tác dụng: + Nhấn mạnh sự phong phú, đa dạng về văn hoá, lịch sử của quê hương + Tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, da diết, thể hiện niềm tự hào sâu sắc về quê hương + Thể hiện niềm tự hào của tác giả đối với văn hoá, lịch sử quê hương |
|
|
Câu 4. (1,0 điểm) |
HS dựa vào câu thơ, đưa ra cách hiểu phù hợp Gợi ý: Hai câu ca ngợi quê hương trù phú, giàu đẹp. “Vàng, bạc, ngọc, châu” tượng trưng cho những giá trị quý báu về thiên nhiên và văn hóa. Qua đó, thể hiện tình yêu và niềm tự hào sâu sắc của tác giả với quê hương. |
|
|
Câu 5. (1,0 điểm) |
HS dựa vào văn bản, rút ra thông điệp phù hợp và có lí giải Gợi ý: + Hãy yêu mến, tự hào về quê hương, đất nước của mình. + Trân trọng những nét đẹp văn hóa truyền thống của quê hương. + Có những hành động cụ thể để giữ gìn, phát triển những nét đẹp văn hóa truyền thống của quê hương. - Lí giải: Vì quê hương không chỉ là nơi sinh ra và lớn lên, mà còn là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, hun đúc lòng yêu nước và ý chí vươn lên trong mỗi người |
|
|
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) |
Câu 1. (2,0 điểm) |
1. Mở đoạn Giới thiệu tác giả, bài thơ và nêu cảm xúc chung về vẻ đẹp của quê hương trong đoạn thơ. 2. Thân đoạn - Vẻ đẹp lịch sử – anh hùng: khắc họa một bức tranh quê hương tươi đẹp, tự hào, nơi lưu giữ những chiến công hiển hách của các anh hùng dân tộc như bà Trưng, bà Triệu, Lê Lợi, Hưng Đạo vương…. - Vẻ đẹp văn hoá – tinh thần: khắc họa những giá trị văn hóa đặc sắc như múa xoè, hát đúm, các hội xuân, đêm chèo, và những tác phẩm văn học nổi tiếng như “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, qua đó thể hiện vẻ đẹp đa dạng và phong phú của văn hóa dân tộc. - Vẻ đẹp trí tuệ – nhân văn: Điệp ngữ “có”… nhắc đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, “Bình Ngô đại cáo”, “Truyện Kiều” là thể hiện sự tự hào về tinh hoa văn chương dân tộc. -> Quê hương là nơi sản sinh ra những danh nhân và kiệt tác để đời. - Nghệ thuật: + Hệ thống hình ảnh đặc sắc + Mạch thơ uyển chuyển, tự nhiên + Ngôn từ giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh + Biện pháp tu từ (điệp ngữ, ẩn dụ, liệt kê, so sánh…) 3. Kết đoạn Khẳng định vẻ đẹp toàn diện của quê hương qua hai khổ thơ. |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề NL. 2. Thân bài a. Giải thích - Giá trị truyền thống dân tộc: Là những nét đẹp văn hóa, đạo lý, phong tục tập quán, tư tưởng, tinh thần… được hun đúc và lưu truyền từ đời này sang đời khác như lòng yêu nước, nhân ái, cần cù, lễ nghĩa, tôn sư trọng đạo, văn hóa ẩm thực, trang phục, tiếng nói, chữ viết... - Toàn cầu hóa: Là quá trình các quốc gia xích lại gần nhau hơn về kinh tế, văn hóa, khoa học – công nghệ… tạo nên một thế giới “phẳng”. - Hội nhập: Là việc đất nước tham gia sâu vào các tổ chức, hoạt động quốc tế trên nhiều lĩnh vực. → Trong quá trình hội nhập, giữ gìn và phát huy truyền thống dân tộc vừa là bảo vệ cốt lõi bản sắc văn hóa, vừa là khẳng định vị thế và bản lĩnh dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế. b. Ý nghĩa - Truyền thống là cội nguồn của dân tộc, tạo nên bản sắc riêng, không thể bị hòa tan trong dòng chảy toàn cầu hóa. - Là động lực tinh thần to lớn giúp con người giữ được bản lĩnh, lòng tự tôn và định hướng đúng đắn trong phát triển. - Phát huy giá trị truyền thống sẽ giúp đất nước vừa hiện đại, vừa không đánh mất gốc rễ văn hóa. - Là cách để quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới thông qua du lịch, ẩm thực, ngôn ngữ, nghệ thuật dân gian... - Dẫn chứng: HS lấy dẫn chứng phù hợp c. Thực trạng - Nhiều giá trị truyền thống được bảo tồn và tôn vinh: áo dài, chữ Quốc ngữ, ca trù, quan họ, Tết cổ truyền, nghi lễ dân gian, di sản vật thể và phi vật thể... - Tuy nhiên, cũng có hiện tượng lai căng, chạy theo trào lưu nước ngoài, coi nhẹ truyền thống (lối sống thực dụng, ăn mặc phản cảm, sính ngoại ngữ, thờ ơ với lễ hội dân tộc...). - Một số giá trị truyền thống đang bị mai một. d. Nguyên nhân - Tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa khiến nhiều người, đặc biệt là giới trẻ dễ bị cuốn theo các trào lưu, văn hóa nước ngoài. e. Giải pháp - Nâng cao nhận thức trong mỗi cá nhân, đặc biệt là giới trẻ, về vai trò và giá trị của truyền thống dân tộc. - Giáo dục văn hóa dân tộc trong nhà trường, gia đình và xã hội. - Kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, không bảo thủ cũng không lai căng. - Ứng dụng công nghệ để bảo tồn và truyền bá giá trị truyền thống (số hóa di sản, quảng bá văn hóa qua mạng xã hội...). - Nhà nước cần xây dựng chính sách và đầu tư phù hợp, hỗ trợ các nghệ nhân, làng nghề, các di sản văn hóa… (HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp) 3. Kết bài - Khẳng định lại vấn đề: Giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống là trách nhiệm và sứ mệnh cao cả của mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa. - Liên hệ: Hãy biết tự hào về cội nguồn dân tộc, từ đó sống có trách nhiệm và góp phần gìn giữ bản sắc Việt Nam giữa thế giới hiện đại. |
Đề thi vào 10 môn Văn Bình Định năm 2023
Đề bài
Phần I. Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Có nên xem thường những điều nhỏ bé trong cuộc sống? Nó chỉ là một chút không đáng quan tâm?
Không đâu bạn?
Một chút những viên đã nhỏ có thể tạo thành một ngọn núi lớn.
Một chút những bước chân có thể đạt đến hàng dặm.
Một chút hành động của tình yêu thương và lồng tử tế cho thế giới những nụ cười tươi tắn nhất.
Một chút lời an ủi có thể làm dịu bớt những đau đớn to tát.
Một chút ôm siết ăn cần có thể làm khô đi những giọt nước mắt.
Một chút ảnh sáng từ những ngọn nến có thể làm cho đêm tối không còn tối nữa.
Một chút ký ức, kỷ niệm có thể hữu ích cho nhiều năm sau.
Một chút giấc mơ có thể dẫn đường cho những công việc vĩ đại.
Một chút khát vọng chiến thắng có thể mang đến thành công.
Và một chút những điều nhỏ bé ấy, kì diệu thay có thể mang đến niềm hạnh phúc lớn nhất cho cuộc sống chúng ta.
(Một chút trong cuộc sống. Hồng Hạnh dịch Theo Cửa sổ tâm hồn, nhiều tác giả, NXB Trẻ 2013, tr.142-143)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Câu 2. Theo tác giả một chút những điều nhỏ bé có thể mang đến cho chúng ta điều gì?
Câu 3. Nêu tác dụng của phép điệp ngữ "Một chút" được sử dụng trong văn bản trên.
Câu 4. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 10-15 dòng) trình bày suy nghĩ về giá trị của những điều nhỏ bé kì diệu trong cuộc sống.
Phần II. Cảm nhận của em về vẻ đẹp của “người đồng mình" trong đoạn thơ sau:
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chỉ lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đôi
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đầu con...
...Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.
(Trích Nói với con - Y Phương, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.72-73)
Qua những lời người cha nói với con, em hãy nêu trách nhiệm của thế hệ trẻ với quê hương, đất nước.
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt: Nghị luận.
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc, tìm ý.
Cách giải:
Theo tác giả, một chút những điều nhỏ bé có thể mang đến niềm hạnh phúc lớn nhất cho cuộc sống chúng ta.
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Tác dụng của biện pháp điệp ngữ “Một chút” được sử dụng trong văn bản trên:
- Tạo nhịp điệu cho câu văn và tăng khả năng biểu đạt, biểu cảm cho văn bản.
- Nhấn mạnh vai trò của những điều nhỏ bé trong cuộc sống.
- Từ đó tác giả kêu gọi mọi người hãy trân trọng những điều nhỏ bé trong cuộc sống của chính mình.
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích, lí giải, tổng hợp.
Cách giải:
1. Nêu vấn đề: Ý nghĩa của những điều nhỏ bé.
2. Giải thích vấn đề
- Những điều nhỏ bé là những điều giản dị, luôn tồn tại trong cuộc sống của mỗi chúng ta hàng ngày.
=> Mọi thứ đều được tạo nên từ những điều nhỏ bé, và đôi khi những điều nhỏ chính là yếu tố làm nên ý nghĩa của cuộc sống.
3. Bàn luận vấn đề
- Biểu hiện của những điều nhỏ bé: Biết yêu thương động vật, cỏ cây; Thấy cảm động khi được ai đó lắng nghe, chia sẻ những câu chuyện hay…..
- Ý nghĩa của những điều nhỏ bé:
+ Những điều nhỏ bé từng ngày tạo dựng những điều lớn lao trong tương lai.
+ Những điều nhỏ bé mà đẹp đẽ sẽ giúp chúng ta có niềm tin và sống tốt hơn.
+ Những điều nhỏ bé giúp xã hội phát triển văn minh, con người sống chân thành và kết nối với nhau nhiều hơn.
- Làm thế nào để tạo dựng những điều nhỏ bé xung quanh mình:
+ Cần biết sống đẹp và văn minh, biết trau dồi những tình cảm đẹp đẽ.
+ Lan tỏa những điều nhỏ bé, giản dị đến những người thân, người bạn.
+ Yêu cuộc sống của mình và luôn muốn cống hiến cho xã hội.
…
4. Liên hệ bản thân
II. LÀM VĂN
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu chung về tác giả Y Phương, tác phẩm Nói với con.
- Giới thiệu vị trí và nội dung đoạn trích.
2. Thân bài
- Những phẩm chất cao quý của người đồng mình:
“Người đồng mình…
… chí lớn”
+ Dòng thơ đầu được lặp lại: “người đồng mình” là cách gọi thể hiện sự gần gũi, thân thương như trong một gia đình. “Thương lắm” – bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc với cuộc sống nhiều vất vả, gian khó của họ.
+ Từ ngữ giàu sức gợi: “cao” “xa” vừa gợi h/a miền núi cao vừa gợi điều kiện sống khó khăn, vất vả.
“Nỗi buồn” “chí lớn” thể hiện bản lĩnh vững vàng, ý chí kiên cường của người đồng mình.
è Lời thơ lẩn quất một nỗi buồn xen lẫn niềm tự hào về phẩm chất tốt đẹp của người miền núi.
- Tác giả khái quát lên vẻ đẹp truyền thống của người miền cao:
“Người đồng mình…
… làm phong tục”
+ Hình ảnh “người đồng mình”: vóc dáng, hình hài nhỏ bé, “thô sơ da thịt”, họ chỉ có đôi bàn tay lao động cần cù nhưng chẳng mấy ai nhỏ bé, yếu hèn. Họ dám đương đầu với gian lao, vất vả, họ lớn lao về ý chí, cao cả về tinh hồn.
+ Công lao vĩ đại của người đồng mình: “đục đá kê cao quê hương” – xây dựng quê hương, tạo nên ruộng đồng, dựng lên nhà cửa, bản làng, làm nên giá trị vật chất, tinh thần cho quê hương. “Làm phong tục” – tạo nên bao nền nếp, phong tục đẹp, làm nên bản sắc riêng của cộng đồng.
è Lời thơ tràn đầy niềm tự hào về vẻ đẹp của người đồng mình. Nhắn ngủ con phải biết kế thừa, phát huy những truyền thống đó.
- Từ đó, người cha khuyên con biết sống theo những truyền thống của người đồng mình:
“Dẫu làm sao…
… không lo cực nhọc”
+ Điệp từ “sống” khởi đầu 3 dòng thơ liên tiếp, tô đậm mong ước thiết tha, mãnh liệt của cha dành cho con.
+ Ẩn dụ “đá” “thung” chỉ không gian sống của người niềm cao, gợi lên những nhọc nhằn, gian khó, đói nghèo. Người cha mong con “không chê” tức là biết yêu thương, trân trọng quê hương mình.
+ So sánh “như sông” “như suối”: lối sống hồn nhiên, trong sáng, mạnh mẽ, phóng khoáng, vượt lên mọi gập ghềnh của cuộc đời.
+ Đối “lên thác xuống ghềnh”: cuộc sống không dễ dàng, bằng phẳng, cần dũng cảm đối mặt, không ngại ngần.
è Cha khuyên con tiếp nối tình cảm ân nghĩa, thủy chung với mảnh đất nơi mình sinh ra của người đồng mình và cả lòng can đảm, ý chí kiên cường của họ.
- Để rồi, bài thơ khép lại bằng lời dặn dò vừa ân cần, vừa nghiêm khắc của người cha:
“Con ơi…
… nghe con”
+ Hình ảnh “thô sơ da thịt” được nhắc lại để nhấn mạnh những khó khăn, thử thách mà con có thể gặp trên đường đời, bởi con còn non nớt, con chưa đủ hành trang mà đời thì gập ghềnh, gian khó.
+ Dẫu vậy, “không bao giờ nhỏ bé được” mà phải biết đương đầu với khó khăn, vượt qua thách thức, không được sống yếu hèn, hẹp hòi, ích kỉ. Phải sống sao cho xứng đáng với cha mẹ, với người đồng mình. Lời nhắn ngủ chứa đựng sự yêu thương, niềm tin tưởng mà người cha dành cho con.
=> Trách nhiệm của thế hệ trẻ:
- Chăm chỉ học tập, bồi dưỡng tri thức để sau này xây dựng đất nước.
- Bồi dưỡng về nhân cách, đạo đức để trở thành một công dân tốt.
- Có mục tiêu phấn đấu rõ ràng, sẵn sàng cống hiến, phục vụ cho sự phát triển chung của đất nước.
-…
3. Kết bài
- Nội dung:
+ Thể hiện tình cảm sâu nặng mà người cha dành cho con. Cha chăm nom con từng bước đi, nâng niu con từng tiếng cười, giọng nói và dạy dỗ con biết vững bước trên đường đời, biết sống sao cho xứng đáng với gia đình, quê hương.
+ Bộc lộ tình yêu quê hương xứ sở và niềm tự hào về người dồng mình của tác giả.
- Nghệ thuật: Từ ngữ, hình ảnh giản dị, giàu sức gợi, in đậm lối tư duy trong sáng, hồn nhiên, sinh động của người miền núi. Giọng điệu khi ân cần, tha thiết; khi mạnh mẽ, nghiêm khắc.
Đề thi vào 10 môn Văn Bình Định năm 2022
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
[…] Giống như mỗi ngày đều có thể nhìn thấy mặt trời, vào những ngày trời quang nắng đẹp, chúng ta cảm thấy ấm áp và dễ chịu, nó như một thử đương nhiên nên có, hưởng thụ sự tốt đẹp nó mang lại đã trở thành thói quen của chúng ta. Nhưng nếu một ngày, có người nói với chúng ta mặt trời sẽ không mọc nữa, chúng ta cảm thấy thế nào? Tôi nghĩ, phần lớn mọi người đều cảm thấy sợ hãi và luống cuống giống như tôi.
Bố mẹ chúng ta cũng giống như mặt trời, luôn lặng lẽ ở sau lưng chúng ta, cho chúng ta chỗ dựa, nhưng nếu một ngày bố mẹ không còn ở đấy nữa, cảm giác an toàn quen thuộc cũng lập tức biến mất, bấy giờ muốn tìm lại, sợ rằng đã quá muộn.
Vậy nên đừng tìm lí do.... dù bận rộn đến mấy, mệt mỏi thể nào, hãy dành cho bố mẹ chúng ta một cái ôm, hỏi hạn vài câu, đấy chẳng phải chuyện khó khăn. Chỉ là chúng ta có nghĩ đến điều này hay không mà thôi.
(Trích Có một ngày, bố mẹ sẽ già đi - Nhiều tác giả, Losedow dịch, NXB Thế giới, 2022, tr. 246, 247)
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2: Theo tác giả mỗi ngày khi nhìn thấy ảnh mặt trời, lúc đó mỗi chúng ta sẽ cảm thấy thế nào?
Câu 3: Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ được sử dụng: “Bố mẹ chúng ta cũng giống như mặt trời...
Câu 4: Từ lời khuyên: “Vậy nên đừng tìm lí do .... dù bận rộn đến mấy, mệt mỏi thế nào, hãy dành cho bố mẹ chúng ta một cải âm, hỏi hạn vài câu, đẩy chẳng phải chuyện khó khăn", hãy viết một đoạn văn (khoảng 10-15 dòng) trình bày suy nghĩ của em về sự quan tâm và tình cảm mà con cái dành cho bố mẹ.
II. LÀM VĂN (5.0 điểm) Cảm nhận của em về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên sau:
Cảm nhận của em về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên sau:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hát chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.
(Trích Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.55, 56)
Bỗng nhận ra hương ổi
Phủ vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về...
(Trích Sang thu - Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr. 70)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1:
|
Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. |
Phương pháp: Căn cứ bài các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
Câu 2:
|
Theo tác giả mỗi ngày khi nhìn thấy ảnh mặt trời, lúc đó mỗi chúng ta sẽ cảm thấy thế nào? |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Mỗi khi nhìn thấy ánh mặt trời, chúng ta sẽ cảm thấy ấm áp và dễ chịu.
Câu 3:
|
Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ được sử dụng: “Bố mẹ chúng ta cũng giống như mặt trời... |
Phương pháp: Căn cứ bài so sánh, phân tích.
Cách giải:
- Biện pháp tu từ so sánh: Bố mẹ được ví với “mặt trời”.
- Tác dụng:
+ Sử dụng hình ảnh so sánh giúp câu văn trở nên giàu hình ảnh, sinh động.
+ Không chỉ vậy, sử dụng hình ảnh so sánh còn nhấn mạnh bố mẹ chính là cội nguồn của sự sống, đem ta đến thế giới này, bảo vệ và nuôi dưỡng chúng ta khôn lớn, trưởng thành.
Câu 4:
|
Từ lời khuyên: “Vậy nên đừng tìm lí do .... dù bận rộn đến mấy, mệt mỏi thế nào, hãy dành cho bố mẹ chúng ta một cải âm, hỏi hạn vài câu, đẩy chẳng phải chuyện khó khăn", hãy viết một đoạn văn (khoảng 10-15 dòng) trình bày suy nghĩ của em về sự quan tâm và tình cảm mà con cái dành cho bố mẹ. |
Phương pháp: Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
* Yêu cầu về mặt hình thức: Viết đúng một đoạn văn từ 10 đến 14 dòng.
* Yêu cầu nội dung:
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: Sự quan tâm và tình cảm mà con cái dành cho bố mẹ.
- Giải thích: Sự quan tâm và tình cảm mà con cái dành cho bố mẹ là những tình cảm chân thành là sự yêu thương, lo lắng mà con cái hướng tới cha mẹ mình.
- Sự quan tâm và tình cảm của con cai dành cho cha mẹ là điều cần thiết trong mỗi gia đình. Vì sao chúng ta phải quan tâm đến bố mẹ?
+ Cha mẹ là người yêu thương và có công ơn dưỡng dục với chúng ta vì thế việc quan tâm, yêu thương cha mẹ là bổn phận của mỗi người con.
+ Quan tâm đến cha mẹ là cách để rút ngắn khoảng cách thế hệ, gắn kết gia đình với nhau, tăng tính bền chặt trong mối quan hệ tình thân.
+ Quan tâm cha mẹ khiến con người trở nên trưởng thành hơn, biết yêu thương và trân trọng yêu thương.
- Sự quan tâm đến bố mẹ là những việc rất nhỏ bé, đơn giản: lời hỏi han, giúp đỡ việc nhà,…
- Mở rộng, liên hệ:
+ Phê phán những người con đối xử với cha mẹ một cách vô tâm, lạnh nhạt.
+ Luôn cố gắng bồi đắp tình yêu thương đối với cha mẹ mình.
II. LÀM VĂN:
|
Cảm nhận của em về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên sau: Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc Ơi con chim chiền chiện Hát chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng. (Trích Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.55, 56) Bỗng nhận ra hương ổi Phủ vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về... (Trích Sang thu - Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr. 70) |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài: Giới thiệu chung về bức tranh thiên nhiên mùa xuân và mùa thu trong hai tác phẩm.
2. Thân bài: Cảm nhận từng bức tranh
2.1. Bức tranh mùa xuân xứ Huế của Thanh Hải
- Bài thơ được mở ra bằng khung cảnh thiên nhiên tươi sáng và tràn đầy sức sống.
+ Cấu trúc đảo ngữ ở câu thơ 1,2 gợi sức sống mạnh mẽ đến bất ngờ, khiến bông hoa như có cội rễ, tràn đầy sức xuân, sắc xuân.
+ Các hình ảnh “dòng sông” “bông hoa” “bầu trời” “chim chiền chiện” thật bình dị và gợi cảm, đã tái hiện một không gian cao rộng của mùa xuân với những hình ảnh đặc trưng của xứ Huế.
+ Màu sắc: “sông xanh” “hoa tím biếc” rất hài hòa, tươi sáng. Dòng sông xanh đã trở thành cái nền cho sắc tím của hoa, làm nổi bật vẻ đẹp sống động của mùa xuân.
+ Âm thanh: tiếng chim chiền chiện: là tín hiệu của một buổi sớm mùa xuân trong trẻo, mát lành; gợi không gian cao rộng của bầu trời tươi sáng, ấm áp; gợi liên tưởng đến những không đầy ắp màu xanh của một khu vườn quê với những vòm cây xanh mát hay một cánh đồng rộng lớn, bình yên.
=> Chỉ bằng vài nét phác, tác giả đã vẽ ra được khung cảnh mùa xuân tuyệt đẹp, đủ đầy hình ảnh, âm thanh, màu sắc, ứ đầy sức sống và đậm đà nét Huế.
2.2. Bức tranh mùa thu đồng bằng Bắc Bộ của Hữu Thỉnh
- Bài thơ được mở ra bằng những tín hiệu rất riêng, báo mùa thu về:
+ “Hương ổi”: đi liền với từ “bỗng” gợi cảm giác đột ngột, ngỡ ngàng; “phả” – làn hương ngọt ngào, sánh đậm, mùi ổi chín như được cô lại, phả vào gió thu. “Hương ổi” gợi không gian thơ thân thuộc, yêu dấu của làng quê đất Việt với những khu vườn, lối ngõ sum xuê hoa trái, làm nên hương sắc mỗi mùa; gợi hương vị riêng của mùa thu trong thơ Hữu Thỉnh.
+ “Gió se” là ngọn gió heo may mùa thu dịu nhẹ, thoáng chút se lạnh lúc thu về, giúp ta cảm nhận rõ hơn cái ngọt lành của hương ổi.
+ “Sương chùng chình” – nghệ thuật nhân hóa, gợi dáng vẻ, tâm trạng của làn sương thu. Làn sương lãng đãng như cố ý chậm lại, lưu luyến mùa hè, chưa muốn bước hẳn sang thu.
Hệ thống hình ảnh độc đáo đã diễn tả một cách tài tình cái không khí se lạnh đầu thu và cả cái nhịp điệu chầm chậm của mùa thu về với đất trời.
Đối diện với những tín hiệu báo thu là cái ngỡ ngàng của lòng người:
+ “Hình như” là lối nói giả định, không chắc chắn, phù hợp với những biểu hiện mơ hồ lúc giao mùa – những biểu hiện ấy không chỉ được cảm nhận bằng các giác quan mà còn phải cảm nhận bằng cả một tâm hồn tinh tế.
+ Âm điệu: là tiếng reo vui, ngỡ ngàng lúc thu sang.
=> Khổ thơ là những cảm nhận mới mẻ, tinh tế của tác giả lúc mùa sang. Ẩn sau những đổi thay của thiên nhiên đất trời lúc sang thu là niềm vui, niềm hạnh phúc của thi nhân.
2.3 Nhận xét
- Mỗi tác giả có những cảm nhận hết sức tinh tế về thiên nhiên và họ đã tìm ra những nét đặc sắc, riêng biệt trong mỗi mùa.
- Tuy nhiên, mỗi tác giả lại có những sắc thái khác nhau:
+ Thiên nhiên của Thanh Hải là xứ Huệ mộng mơ với bông hoa tím biếc, với dòng sông xanh, … đâu đâu cũng ngập đầy sức sống.
+ Thiên nhiên của Hữu Thỉnh lại là những cảm xúc bâng khuâng, ngỡ ngàng khi mùa thu sang, với hương ổi nồng nàn, với cái gió se se, với làn sương mong mảnh. Tuy thu chưa thực sự rõ nét nhưng với sự tinh tế của mình Hữu Thỉnh đã giật mình nhật ra “Hình như thu đã về”.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề.
Đề thi vào 10 môn Văn Bình Định năm 2021
Đề bài
PHẦN I (3.0 điểm) Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Không có gì tự đến đâu con
Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa
Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa
Mùa bội thu trải một nắng hai sương
Không có gì tự đến, dẫu bình thường
Phải bằng cả đôi tay và nghị lực
Như con chim suốt ngày chọn hạt
Năm thắng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kỳ...
Trích Không có gì tự đến đâu con - Nguyễn Đăng Tấn, Tuyển tập thơ Lời ru vầng trăng, NXB Lao động, năm 2000, trang 42)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ.
Câu 2. Em hiểu như thế nào về những câu thơ
Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa
Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa
Mùa bội thu trải một nắng hai sương.
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Như con chim suốt ngày chọn hạt.
Câu 4. Viết một đoạn văn trình bày cảm nhận của em về nỗi lòng của cha mẹ được gửi gắm qua đoạn thơ (khoảng 10-15 dòng).
Phần II. (6,0 điểm)
Cháu ở đây có nhiệm vụ đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết hằng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu. Đây là máy móc của cháu. Cái thùng đo mưa này, ở đâu bác cũng trông thấy, mưa xong đổ nước ra cái cốc li phân mà đo. Cái này là máy nhật quang ký, ánh sáng mặt trời xuyên qua cái kính này, đốt các mảnh giấy này, cứ theo mức độ, hình dáng vết cháy vết cháy mà định nắng. Đây là máy vin, nhìn khoảng cách giữa các răng cưa mà đoán gió. Ban đêm không nhìn mây, cháu nhìn gió lay lá, hay nhìn trời, thấy sao nào khuất, sao nào sáng, có thể nói được mây, tính được gió. Cái máy nằm dưới sâu kia là máy đo chấn động vỏ quả đất. Cháu lấy những con số, mỗi ngày báo về “nhà” bằng máy bộ đàm: bốn giờ, mười một giờ, bảy giờ tối, lại một giờ sáng. Bản báo ấy trong ngành gọi là “ốp”. Công việc nói chung dễ, chỉ cần chính xác. Gian khổ nhất là lần ghi và báo về lúc một giờ sáng. Rét, bác ạ. Ở đây có cả mưa tuyết đấy. Nửa đêm đang nằm trong chăn, nghe chuông đồng hồ chỉ muốn đưa tay tắt đi. Chui ra khỏi chăn, ngọn đèn bão vặn to đến cỡ nào vẫn thấy là không đủ sáng. Xách đèn ra vườn, gió tuyết và lặng im ở bên ngoài như chỉ chực mình ra là ào ào xô tới. Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ: nó như bị chặt ra từng khúc, mà gió thì giống những nhát chổi muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tung… Những lúc im lặng lạnh cóng mà lại hừng hực như cháy. Xong việc, trở vào, không thể nào ngủ lại được.
(...) Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này cháu không nghĩ như vậy nữa. Vả, khi ta việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất. Còn người thì ai mà chả “thèm” hở bác? Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc? Đấy, cháu tự nói với cháu thế đấy. Bác lái xe đi, về Lai Châu cứ đến đây dừng lại một lát. Không vào giờ “ốp” là cháu chạy xuống chơi, lâu thành lệ. Cháu bỗng dưng tự hỏi: Cái nhớ xe, nhớ người ấy thật ra là cái gì vậy? Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô hội thì xoàng. Cháu ở liền trong trạm hằng tháng. Bác lái xe bao lần dừng, bóp còi toe toe, mặc, cháu gan lì nhất định không xuống. Ấy thế là một hôm, bác lái phải thân hành lên trạm cháu. Cháu nói: “Đấy, bác cũng chẳng “thèm” người là gì?”
(Trích Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, tập 1, NXB GD Việt Nam, 2018, tr. 183,185)
Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong phần trích trên. Từ đó liên hệ với hình ảnh của thế hệ trẻ trong thực tế đời sống để thấy được vẻ đẹp của sức trẻ Việt Nam.
Lời giải chi tiết
Phần I.
Câu 1.
|
Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ. |
Phương pháp: căn cứ các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ: Biểu cảm
Câu 2.
|
Em hiểu như thế nào về những câu thơ Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa Mùa bội thu trải một nắng hai sương. |
Phương pháp: phân tích, lí giải.
Cách giải:
Học sinh tự trình bày theo cảm nhận và ý hiểu của mình, có lý giải.
Gợi ý:
- Quả, hoa, mùa bội thu: Đều là thành quả mà con người mong muốn đạt được
- Tháng ngày tích nhựa, nắng lửa, một nắng hai sương: Thể hiện cho những gian nan, thử thách, những khó khăn, gian khổ mà con người phải đối diện
=> Thành công không tự đến. Muốn có được thành công, thì phải có sự kiên kiên trì, trải qua những gian nan thử thách, bỏ công sức mới có được.
Câu 3.
|
Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Như con chim suốt ngày chọn hạt. |
Phương pháp: căn cứ bài So sánh, phân tích.
Cách giải:
Biện pháp tu từ: So sánh.
Tác dụng: Nhấn mạnh sự kiên trì, cố gắng. Để có được thành quả con người không những chăm chỉ mà cần phải kiên trì, không bỏ cuộc.
Câu 4.
|
Viết một đoạn văn trình bày cảm nhận của em về nỗi lòng của cha mẹ được gửi gắm qua đoạn thơ (khoảng 10-15 dòng). |
Phương pháp: phân tích, lí giải.
Cách giải:
Học sinh trình bày theo cảm nhận của mình, có lý giải.
Gợi ý:
Nỗi lòng của cha mẹ được gửi gắm qua bài thơ, cha mẹ mong con:
- Phải sống nghị lực, không được khuất phục trước khó khăn và bố mẹ đã dậy con một chân lí đúng đắn đó chính là " không có gì tự đến đâu con ".
- Nếu muốn thành công thì con phải trải qua nhiều gian khổ và phải tự biết hoàn thiện, rèn luyện bản thân hằng ngày. Cha mẹ mong muốn con nên người, sống thật tốt.
Phần II.
|
Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong phần trích trên. Từ đó liên hệ với hình ảnh của thế hệ trẻ trong thực tế đời sống để thấy được vẻ đẹp của sức trẻ Việt Nam. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
I. Mở bài: giới thiệu tác giả và tác phẩm Lặng lẽ Sapa.
- Giới thiệu vài nét về nhà văn Nguyễn Thành Long.
- Giới thiệu tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa. Trong đó có đoạn trích được dẫn ở đề bài mang lại cho người đọc nhiều cảm nhận về nhân vật anh thanh niên.
- Liên hệ với hình ảnh thế hệ trẻ trong thực tế đời sống để thấy được vẻ đẹp của sức trẻ Việt Nam.
II. Thân bài:
Phần 1: Phân tích nhân vật anh thanh niên trong hai đoạn trích
a. Công việc và hoàn cảnh sống của anh thanh niên:
- Công việc: “làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu” - công việc đòi hỏi độ chính xác cao.
+ Công việc của anh là đo mưa, đo nắng, đo chấn động, …. => Dù công việc khó khăn nhưng anh vẫn vượt lên và vui tươi sống.
- Hoàn cảnh sống: Sống một mình trên đỉnh núi Yên Sơn với độ cao hơn 2600 mét và ở cái độ cao ấy, suốt bốn mùa chỉ toàn “cây cỏ và mây mùa lạnh lẽo”
→ Hoàn cảnh sống khắc nghiệt, thiếu thốn, công việc đầy những khó khăn
=> Những phẩm chất tốt đẹp của anh thanh niên:
+ Có trách nhiệm, yêu lao động và luôn hoàn thành công việc, nhiệm vụ được giao
+ Sống một mình giữa đỉnh núi cao, không có ai theo dõi, quản lí nhưng anh thanh niên vẫn luôn hoàn thành công việc đúng giờ theo quy định
Đoạn 2: Vẻ đẹp của anh thanh niên
- Một người yêu mến công việc dù làm việc một mình trên đỉnh núi Yên Sơn trong khung cảnh vắng vẻ nhưng anh không cảm thấy lẻ loi vì công việc mang lại cho anh niềm vui và nhận thức về ý nghĩa của công việc làm. Cho nên với anh: ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được?
- Một người có lòng yêu mến con người. Sống đơn độc nên anh rất khao khát được gặp gỡ và trò chuyện với mọi người. Chính anh đã khẳng định với bác tài xế xe khách: Còn người thì ai mà chả “thèm” hở bác?.
- Một người ham học hỏi, rất quan tâm đến đời sống nội tâm. Sống một mình trên đỉnh núi, anh không cảm thấy cô đơn vì lúc nào bên cạnh anh cũng có sách. Ngoài giờ làm việc, ngoài lúc phải chăm sóc vườn hoa, đàn gà, anh dành thời gian để đọc sách. Khi cô kĩ sư, ông họa sĩ… đến phòng ở của anh và quyển sách anh đang đọc dở vẫn còn để mở trên bàn. Chính anh cũng đã khẳng định với cô kĩ sư: Và cô cũng thấy đấy, lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà. Mỗi người viết một vẻ. Cái cách đọc sách của anh tinh tế, nghiêm túc và đúng đắn biết bao.
- Một người sống có lý tưởng, có trách nhiệm. Anh ý thức một cách rất rõ ràng: Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc? Nhận thức đó cho thấy anh trẻ nhưng không hời hợt. Anh sống một mình nhưng không cô đơn vì lúc nào trong tư tưởng của anh mục đích sống, lẽ sống vẫn luôn luôn tồn tại và nhắc nhở. Làm một công việc đơn độc, phải dậy vào lúc nửa đêm, phải ra ngoài trời lúc mưa bão, lạnh lẽo, anh có thể nằm ở trong nhà, lấy số liệu cũ mà gọi bộ đàm về để báo cáo. Nhưng anh không làm điều đó. Vì anh có trách nhiệm và anh hiểu rõ việc anh làm ở đây có liên quan, có ảnh hưởng đến cuộc sống lao động và chiến đấu của rất nhiều người lúc bấy giờ. Việc phái đoàn không quân – phòng không đến thăm và khen ngợi anh đã cho thấy rõ điều đó.
- Nhân vật anh thanh niên được xây dựng bằng một nghệ thuật đặc sắc. Nó được miêu tả và thể hiện qua cuộc gặp gỡ đặc biệt với ông họa sĩ già và cô kĩ sư trẻ; được bộc lộ qua lời đối thoại của nhân vật; nhân vật không có tên riêng, không có ngoại hình cụ thể mà chỉ có tên gọi theo kiểu chung, phiếm chỉ.
- Vì thế, hình ảnh người thanh niên thể hiện vẻ đẹp của người thanh niên Việt Nam nói chung trong giai đoạn chống Mĩ: giản dị, chân thành và giàu lý tưởng; góp phần thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm, thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong chiến đấu; thể hiện cảm hứng của Nguyễn Thành Long khi sáng tác: “SaPa không chỉ là một sự yên tĩnh. Bên dưới sự yên tĩnh ấy, người ta làm việc”, hy sinh, yêu thương và mơ ước. Hình ảnh này gợi cho người đọc đến hình ảnh của thế hệ trẻ Việt Nam trong giai đoạn chống Mĩ nói riêng và theo dòng chảy thời gian nói chung.
b. Liên hệ với hình ảnh thế hệ trẻ trong thực tế đời sống để thấy được vẻ đẹp của sức trẻ Việt Nam
- Nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn của Nguyễn Thành Long đã để lại trong lòng người đọc những tình cảm thật tốt đẹp. Hình ảnh của anh đã và đang động viên thế hệ trẻ hôm nay tiếp tục noi gương để đi theo bước chân dũng cảm, cao đẹp của cha anh ngày trước.
- Thế hệ trẻ cần trau dồi, học tập tốt để cống hiến sức mình cho quê hương, đất nước. Cuộc sống lao động giản dị nhưng cao đẹp ấy sẽ góp phần tạo nên vẻ đẹp tâm hồn trong mỗi con người.
- Phê phán những người sống không có trách nhiệm, ích kỉ, chỉ vì lợi ích của bản thân.
III. Kết bài:
- Nêu cảm nghĩ của em về nhân vật anh thanh niên trong truyện lặng lẽ Sapa và qua đoạn trích:
+ Một người yêu công việc, yêu đất nước
+ Một con người lạc quan và có những suy nghĩ sâu sắc.
- Bài học rút ra, liên hệ bản thân.
Đề thi vào 10 môn Văn Bình Định năm 2020
Đề bài
Phần I. (4.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Trong cuộc đời đầy truân chuyên của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với văn hóa nhiều nước, nhiều vùng trên thế giới, cả ở phương Đông và phương Tây. Trên những con tàu vượt trùng dương, Người đã ghé lại nhiều hải cảng, đã thăm các nước châu Phi, châu Á, châu Mĩ. Người đã từng sống dài ngày ở Pháp, ở Anh. Người nói và viết thạo nhiều thứ tiếng ngoại quốc: Pháp, Anh, Hoa, Nga… và Người đã làm nhiều nghề. Có thể nói ít có vị lãnh tụ nào lại am hiểu nhiều về các dân tộc và nhân dân thế giới, văn hóa thế giới sâu sắc như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đến đâu Người cũng học hỏi, tìm hiểu văn hóa, nghệ thuật đến một mức khá uyên thâm. Người cũng chịu ảnh hưởng của tất cả các nền văn hóa, đã tiếp thu mọi cái đẹp và cái hay đồng thời với việc phê phán những tiêu cực của chủ nghĩa tư bản. Nhưng điều kì lạ là tất cả những ảnh hưởng quốc tế đó đã nhào nặn với cái gốc văn hóa dân tộc không gì lay chuyển được ở Người, để trở thành một nhân cách rất Việt Nam, một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng cũng đồng thời rất mới, rất hiện đại.”
Câu 1: Đoạn trích trên nằm trong văn bản nào, của tác giá nào?
Câu 2: Ở phần trích trên, tác giả cho biết vốn tri thức văn hóa nhân loại của Chủ tịch Hồ Chí Minh sâu rộng như thế nào?
Câu 3: Chỉ ra và nêu tác dụng 02 biện pháp tu từ được sử dụng trong các cầu văn: “Trên những con tàu vượt trùng dương, Người đã ghé lại nhiều hải cảng, đã thăm các nước châu Phi, châu Á, châu Mi. Người đã từng sống dài ngày ở Pháp, ở Anh. Người nói và viết thạo nhiều thứ tiếng ngoại quốc: Pháp, Anh, Hoa, Nga, và Người đã làm nhiều nghề”.
Câu 4: Viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về việc học tập và làm theo Bác qua đoạn trích trên (khoảng 10-15 dòng)
Phần II. (6.0 điểm)
Cảm nhận về vẻ đẹp người lính lái xe qua ba khổ thơ cuối bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Từ đó liên hệ với lí tưởng sống của tuổi trẻ trong thời đại ngày nay.
.. Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua của kính vỡ rồi.
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm.
Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1
|
Đoạn trích trên nằm trong văn bản nào, của tác giá nào? |
Phương pháp: Căn cứ bài Phong cách Hồ Chí Minh
Cách giải:
Đoạn trích trên nằm trong văn bản: “Phong cách Hồ Chí Minh” của tác giả Lê Anh Trà.
Câu 2
|
Ở phần trích trên, tác giả cho biết vốn tri thức văn hóa nhân loại của Chủ tịch Hồ Chí Minh sâu rộng như thế nào? |
Phương pháp: Căn cứ nội dung đoạn trích
Cách giải
Vốn tri thức nhân loại của Hồ Chí Minh sâu rộng:
Người nói và viết thạo nhiều thứ tiếng ngoại quốc: Pháp, Anh, Hoa, Nga… và Người đã làm nhiều nghề.
Học hỏi, tìm hiểu văn hóa, nghệ thuật đến một mức khá uyên thâm.
Câu 3
|
Chỉ ra và nêu tác dụng 02 biện pháp tu từ được sử dụng trong các cầu văn: “Trên những con tàu vượt trùng dương, Người đã ghé lại nhiều hải cảng, đã thăm các nước châu Phi, châu Á, châu Mi. Người đã từng sống dài ngày ở Pháp, ở Anh. Người nói và viết thạo nhiều thứ tiếng ngoại quốc: Pháp, Anh, Hoa, Nga, và Người đã làm nhiều nghề”. |
Phương pháp: Căn cứ các biện pháp tu từ
Cách giải:
Biện pháp tu từ:
- Liệt kê: châu Phi, châu Á, châu Mĩ, …; Pháp, Anh, Hoa, Nga, …
- Điệp: Người….
Tác dụng:
- Nhấn mạnh cho người đọc thấy Bác đã đi đến khắp nơi năm châu bốn bể, đã tìm hiểu mọi nền văn hóa trên thế giới, tiếp thu và chắt lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại, mặt khác còn cho người đọc thấy đượcđược vốn hiểu biết văn hóa sâu rộng của Bác.
- Tạo nhịp điệu nhịp nhàng cho câu văn.
Câu 4
|
Viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về việc học tập và làm theo Bác qua đoạn trích trên (khoảng 10-15 dòng) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
* Giới thiệu vấn đề
Qua đoạn trích trên, chúng ta học được rất nhiều điều ở Bác – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, đó là: sự chăm chỉ, chịu khó, tinh thần vượt khó vượt khổ, quyết tâm vượt lên trên tất cả mọi thử thách để đạt được mục đích sống và lí tưởng của mình. Đặc biệt, đặt vào trong bối cảnh đất nước hiện nay, với thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước, đoạn trích lại có giá trị hơn bao giờ hết.
* Bàn luận.
- Mỗi chúng ta, cần phải
+ Biết phấn đấu và nỗ lực không ngừng để ngày càng hoàn thiện bản thân, trởi thành người công dân sống có ích và cống hiến cho xã hội, cho đât nước.
+ Không ngừng học tập để trau dồi kiến thức và kĩ năng cho chính mình.
- Trong tình hình hiện nay để phong trào muốn "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh" của sinh viên và học sinh có hiệu quả đòi hỏi phải có sự kết hợp của nhiều nhân tố: sự giáo dục và việc tự tu dưỡng, rèn luyện của sinh viên; sự nêu gương của mọi người trong xã hội, của bố mẹ trong gia đình, của cán bộ, đảng viên, của các thầy, cô giáo, các cán bộ quản lý giáo dục và sự hướng dẫn của dư luận xã hội và pháp luật.
- Bên cạnh đó, cũng có một bộ phận không nhỏ trong giới trẻ hiện nay đi ngược lại với việc học tập và làm theo Bác: ham ăn chơi, hưởng thụ, đua đòi, sống không có mục đích, lí tưởng.
* Liên hệ bản thân và Tổng kết
Phần II
|
Cảm nhận về vẻ đẹp người lính lái xe qua ba khổ thơ cuối bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Từ đó liên hệ với lí tưởng sống của tuổi trẻ trong thời đại ngày nay. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
2. Phân tích
Khổ thơ 5+6 - tình đồng chí, đồng đội của những người lính trẻ:
- Sự khốc liệt của chiến tranh đã tạo nên những “Tiểu đội xe không kính”. Con đường giải phóng miền Nam là con đường đi tới chính nghĩa nên họ càng đi, càng có thêm nhiều bạn “Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới”
- Lúc này, những chính chiếc xe không kính lại thật thuận tiện để họ trao nhau tình thân: “Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi” => Đó là cái bắt tay động viên, cái bắt tay truyền cho nhau cả tâm hồn, tình cảm. Cái bắt tay thoải mái, tự nhiên, ấm lòng.
- Tình cảm ấy thắm thiết, ruột thịt như anh em trong một gia đình.
“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”
Một cách định nghĩa về gia đình rất mới, rất rộng, rất lính, thật tếu táo mà cũng đầy sâu sắc: chung bát, chung đũa, chung nắm cơm, bếp lửa, chung hoàn cảnh khó khăn, chung một con đường, chung một lí tưởng, chung sự sống và cái chết. Đó là gia đình.
- Hai câu thơ cuối, với sự đối lập về ý thơ đã khẳng định sức mạnh tinh thần của người lính
“Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm”
+ Bữa ăn vội vã, giấc ngủ tạm bợ bên đường, đời lính thật gian khổ, đầy chông chênh, nguy hiểm.
+ Tuy nhiên điệp từ “lại đi” và hình ảnh ẩn dụ “trời xanh” đã khẳng định ý chí chiến đấu, nghị lực vững vàng, niềm tin và tinh thần phơi phới lạc quan của người lính. Sức mạnh tinh thần đó là sự tổng hợp của phẩm chất anh hùng cách mạng, tinh thần lạc quan và tình đồng đội tiếp thêm sức mạnh để họ vượt qua mọi gian lao, để rồi “lại đi, lại đi trời xanh thêm”, đoàn xe không ngừng vươn tới trên con đường giải phóng miền Nam.
Ý chí chiến đấu vì giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
“Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim”
- Với biện pháp liệt kê, điệp ngữ “không có” nhấn mạnh sự trần trụi, biến dạng của những chiếc xe. Càng vào sâu trong chiến trường, chiếc xe càng trở nên méo mó, biến dạng. Một lần nữa, thông qua hình ảnh những chiếc xe, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã gián tiếp miêu tả sự ác liệt của chiến trường.
- Điều kì lạ là những chiếc xe không kính, không đèn, không mui ấy vẫn băng băng ra chiến trường. Ở đây có sự đối lập giữa vẻ bên ngoài và khả năng của chiếc xe, giữa điều kiện vật chất và sức mạnh tinh thần của người lính lái xe. Để cân bằng ba cái không có ở trên chỉ cần một cái có đó trái tim người lính. đến đây, ta càng thấy được sự ngang tàng, hóm hỉnh nhưng cũng thật sâu sắc trong thơ Phạm Tiến Duật, những chiếc xe dường như không chỉ chạy bằng nhiên liệu mà thật độc đáo khi có một trái tim cầm lái, Trái tim là 1 hình ảnh hoán dụ nhưng đồng thời cũng là hình ản ẩn dụ, nó hội tụ vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ lái xe giàu nhiệt huyết, sắt son tình yêu tổ quốc, sục sôi căm thù giặc và ý chí quyết tâm chiến đáu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
=> Hình ảnh trái tim kết thúc bài thơ đã trở thành nhãn tự của cả bài, tỏa sáng vẻ đẹp của người lính lái xe Trường Sơn nói riêng và của cả thế hệ trẻ Việt Nam thời kháng chiến chống Mĩ cứu nước:
“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai”
Liên hệ:
- Phải sống có mục đích, lí tưởng rõ ràng, cao đẹp. Đó là lí tưởng phục vụ cho đất nước, dân tộc.
- Cần nỗ lực, quyết tâm để thực hiện lí tưởng của bản thân.
3. Tổng kết
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
