Đề thi vào 10 môn Văn Cao Bằng
Đề thi vào 10 môn Văn Cao Bằng năm 2025
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
MÙA THU CHO CON
Nắng mùa thu như ươm vàng rót mật
Tiếng trống trường rộn rã bước chân vui
Niềm hân hoan trong ánh mắt rạng ngời
Con đến trường học bao điều mới lạ
Con hãy đi bằng đôi chân kiêu hãnh
Và con tim mang ánh lửa tự hào
Con hãy cháy hết mình cho hoài bão
Với niềm tin của tuổi trẻ tươi hồng.
Con hãy nhớ giữa bộn bề cuộc sống
Nhận và cho, biết chia sẻ cho đời
Sống bao dung nhân ái với mọi người
Mở tấm lòng, tình thương yêu sẽ tới. [...]
(Nguyễn Hạ Thu Sương, Văn học và tuổi trẻ, số tháng 9 năm 2023, NXB Giáo dục, 2023, tr.94)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (1,5 điểm) Xác định và nêu dấu hiệu nhận biết thể thơ của đoạn trích trên.
Câu 2. (1,0 điểm) Tìm lời khuyên của người mẹ đối với con trong khổ thơ thứ hai.
Câu 3. (1,0 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Nắng mùa thu như ươm vàng rót mật.
Câu 4. (0,5 điểm) Thông điệp nào trong đoạn trích có ý nghĩa nhất với em? Vì sao?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về khổ thơ thứ ba trong đoạn trích phần đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận bàn về ý nghĩa của các lễ hội truyền thống đối với văn hoa và du lịch ở địa phương em.
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Đếm số tiếng trong mỗi dòng thơ, quan sát cách ngắt nhịp và gieo vần.
Lời giải chi tiết:
- Thể thơ 8 chữ.
- Dấu hiệu: mỗi câu thơ đều có 8 chữ
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ khổ thơ thứ hai, chú ý các câu bắt đầu bằng từ "Con hãy...".
Lời giải chi tiết:
Lời khuyên của người mẹ đối với con trong khổ 2: hãy đi bằng đôi chân kiêu hãnh, con tim mang ánh lửa tự hào, hãy cháy hết mình hoài bão, niềm tin.
Câu 3.
Phương pháp:
Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ, phân tích tác dụng của biện pháp ấy trong việc làm nổi bật vẻ đẹp của mùa thu và tăng sức gợi hình, gợi cảm.
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp so sánh: Nắng mùa thu vàng ươm như rót mật
- Tác dụng:
+ Tạo cách diễn đạt sinh động, giàu hình ảnh.
+ Gợi tả được vẻ đẹp đặc trưng của nắng mùa thu: màu vàng ươm, dịu dàng, không chói chang gay gắt như nắng mùa hạ.
+ Thể hiện cách quan sát tinh tế, tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ
Câu 4.
Phương pháp:
Lựa chọn một thông điệp em tâm đắc nhất trong đoạn trích.
Lời giải chi tiết:
- Biết bao dung nhân ái, chia sẻ với mọi người
- Phải sống có ước mơ, hoài bão.
- …
II. VIẾT
Câu 1.
Phương pháp:
Xác định nội dung chính của khổ thơ thứ ba. Phân tích những lời nhắn nhủ về lối sống đẹp, làm rõ ý nghĩa của các phẩm chất được nhắc đến và nêu cảm nhận của bản thân.
Lời giải chi tiết:
- Mở đoạn: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề cần phân tích: Khổ thơ thứ ba trong phần trích dẫn là những lời dạy bảo, khuyên nhủ sâu sắc của người mẹ dành cho con.
- Thân đoạn:
+ “Con hãy nhớ giữa bộn bề cuộc sống” --> Cấu trúc “con hãy ...” được lặp lại nhấn mạnh những lời dặn dò trực tiếp, thể hiện sự quan tâm, yêu thương của người mẹ dành cho con. Mẹ như muốn khắc ghi trong con những lẽ sống cao đẹp giữa cuộc sống phức tạp, “bộn bề” bao lo âu, áp lực.
+ Nghệ thuật liệt kê: “nhận và cho, biết chia sẻ, sống bao dung, nhân ái, mở tấm lòng” --> truyền tải thông điệp về lối sống đẹp: sống là biết cho đi, sống là phải yêu thương, mang những điều tốt đẹp đến với mọi người.
+ Ý thơ “Mở tấm lòng, tình yêu thương sẽ tới” có thể hiểu theo nhiều cách: Khi ta trao đi tình yêu thương, ta sẽ nhận lại tình yêu thương từ người khác; hay khi ta biết cởi mở, rộng lòng với mọi người, ta sẽ cảm nhận được tình yêu thương từ những người xung quanh...
--> Ý thơ sâu sắc, giàu tính triết lí.
- Kết đoạn: Thể thơ 8 chữ, ngắt nhịp 3/5 cùng với giọng điệu thủ thỉ, tâm tình đã diễn tả thành công tình yêu thương tha thiết của người mẹ dành cho con, khơi gợi trong mỗi người những lẽ sống cao đẹp trên chặng đường dài rộng của cuộc đời.
Câu 2.
Phương pháp:
Xác định vấn đề nghị luận là ý nghĩa của các lễ hội truyền thống đối với văn hóa và du lịch địa phương. Phân tích vai trò của lễ hội trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa, phát triển du lịch, đồng thời đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị các lễ hội truyền thống.
Lời giải chi tiết:
* Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của các lễ hội truyền thống đối với văn hóa và du lịch ở địa phương em.
* Thân bài:
- Giải thích:
+ Lễ hội truyền thống: hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, được tổ chức theo nghi lễ truyền thống nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân.
--> Đây là một nét đẹp văn hóa bao đời nay của người dân Việt Nam.
- Bàn luận: Nêu ý kiến của bản thân về vấn đề nghị luận và sử dụng lí lẽ, dẫn chứng để phân tích, chứng minh:
+ Lễ hội truyền thống góp phần gìn giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa địa phương:
+) Những lễ hội truyền thống thường được tổ chức để tưởng nhớ đến công ơn của những vị anh hùng lịch sử, tổ tiên, các vị thần theo quan niệm, tín ngưỡng dân gian. Vì vậy, những lễ hội truyền thống góp phần gìn giữ truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”... của địa phương nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.
+) Mỗi lễ hội truyền thống đều có những nghi lễ trang trọng, ẩn chứa trong đó là chiều sâu văn hóa, là lối sống cha ông muôn đời. Tổ chức những lễ hội truyền thống là cách để nối kết giữa quá khứ - hiện tại, giúp cho thế hệ trẻ hiểu hơn về lối sống, phong tục, tập quán của cha ông, từ đó có ý thức, trách nhiệm trong việc gìn giữ, bảo tồn văn hóa địa phương nói riêng, văn hóa dân tộc nói chung...
+ Lễ hội truyền thống góp phần phát triển du lịch ở địa phương. Bởi lẽ, ngoài những nghi lễ trang trọng, mỗi lễ hội truyền thống còn gắn liền với những hoạt động vui chơi, giải trí sôi động. Thông thường, sau phần “lễ” trang trọng, những trò chơi dân gian như ném còn, đu quay,... luôn hấp dẫn, thu hút đông đảo người tham gia. Hơn nữa, trong mỗi dịp lễ hội truyền thống, người dân địa phương có thể quảng bá về ẩm thực, trang phục truyền thống,... khiến du khách trong và ngoài nước vô cùng thích thú. Đây là một cách để quảng bá và phát triển du lịch địa phương...
+ Mở rộng, liên hệ
+) Ý kiến trái chiều: Nhiều người cho rằng thời đại 4.0, để phát triển kinh tế, cần tập trung lao động sản xuất, nên hạn chế tổ chức những lễ hội truyền thống. --> Đây là một quan niệm không đúng.
+) Liên hệ, rút ra bài học: Yêu, trân trọng lễ hội truyền thống của quê hương; tích cực tham gia vào công tác chuẩn bị, tổ chức lễ hội ở địa phương: sẵn sàng tham gia vào đội rước kiệu, đội hậu cần,...; quảng bá hình ảnh của lễ hội truyền thống đến bạn bè trong và ngoài nước...
* Kết bài: Khẳng định vấn đề.
Đề thi vào 10 môn Văn Cao Bằng năm 2023
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn văn
Chị Thao cầm cái thước trên tay tôi, nuốt nốt miếng bích quy ngon lành: “Định ở nhà. Lần này nó bỏ ít, hai đứa đi cũng đủ", rồi kéo tay áo Nho, vác xẻng lên vai và đi ra cửa.
Tôi không cãi chị. Quyền hạn phân công là ở chị. Thời gian bắt đầu căng lên. Trí não tôi cũng không thua. Những gì đã qua, những gì sắp tới... không đáng kể nữa. Có gì lí thú đâu, nếu các bạn tôi không quay về? Điện thoại réo. Đại đội trưởng hỏi tình hình.
Tôi nói như gắt vào máy:
- Trinh sát chưa về
(Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, tr.116)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (1,0 điểm) Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Tác giả là ai?
Câu 2. (1,0 điểm) Xác định và nêu dấu hiệu nhận biết về hình thức của các lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn.
Câu 3. (1,0 điểm) Đoạn văn trên gợi lên những vẻ đẹp phẩm chất nào của các nhân vật?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. Viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của em về tinh thần trách nhiệm của mỗi người trong cuộc sống.
Câu 2. Phân tích đoạn thơ sau:
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
(Hữu Thỉnh, Sang thu, Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2005, tr.70)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ bài Những ngôi sao xa xôi.
Cách giải:
- Đoạn văn trên được trích trong tác phẩm: Những ngôi sao xa xôi.
- Tác giả: Lê Minh Khuê.
Câu 2:
Phương pháp:
Căn cứ bài dẫn trực tiếp.
Cách giải:
- Dấu hiệu nhận biết về hình thức của lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn:
“Định ở nhà. Lần này nó bỏ ít, hai đứa đi cũng đủ” => Dấu hiệu: Lời nói trích dẫn trực tiếp được đặt trong ngoặc kép, sau dấu hai chấm.
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Phẩm chất của các nhân vật:
- Chị Thao: Cương quyết, trách nhiệm cao trong công việc.
- Nhân vật tôi (Phương Định): Có tinh thần kỉ luật, tinh thần đồng đội, sự quả cảm không sợ hi sinh.
II. LÀM VĂN
Câu 1
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
I. Mở đoạn:
- Giới thiệu về tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống.
II. Thân đoạn:
1. Giải thích:
Tinh thần trách nhiệm là ý thức thực hiện tốt nghĩa vụ, công việc của bản thân, không ỷ lại, dựa dẫm hay đùn
đẩy trách nhiệm cho người khác.
2. Biểu hiện của tinh thần trách nhiệm:
- Đối với học sinh: trách nhiệm của chúng ta là học tập thực tốt, nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của nhà
trường, có tính thần yêu nước, chăm lo học tập,….
- Có trách nhiệm với bản thân, với gia đình, những người xung quanh.
Lấy dẫn chứng phù hợp.
3. Ý nghĩa của tinh tần trách nhiệm:
- Bạn sẽ hoàn thành tốt công việc và nhiệm vụ. Nếu bạn có tinh tần trách nhiệm.
- Được mọi người xung quanh quý mến và yêu quý.
- Được lòng tin của mọi người.
- Thành công trong công việc và cuộc sống.
4. Phản đề
- Phê phán những người có lối sống ích kỉ, không có tinh thần trách nhiệm,...
III. Kết đoạn:
- Trách nhiệm là một đức tính tốt đẹp. Vì vây, mỗi người cần có tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống.
- Em sẽ học tập tốt để trở thành người có trách nhiệm.
Câu 2
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề
2. Cảm nhận về hai khổ thơ:
* Khổ 2.
- Hai câu thơ đầu là thủ pháp đối lập gợi sự vận động trái chiều của sự vật.
+ Vừa gợi trôi chảy nhẹ nhàng của thời gian, vừa gợi tình người sâu lắng, suy ngẫm xốn xang.
+ Tất cả đều ở trạng thái mới chớm “được lúc” “bắt đầu” nghĩa là thu đến nhưng chưa rõ rệt, thu mới chỉ chạm cửa thiên nhiên và lòng người.
- Hai câu cuối là hình ảnh đám mây đặc sắc sáng tạo:
+ Đám mây như một dải lụa mềm mại như một thiếu nữ lưu luyến hạ dù đã vắt qua mùa thu một nửa.
+ Đám mây là nhịp cầu duyên dáng nối giữa hạ với thu.
+ Đám mây gợi tình người lưu luyến bâng khuâng.
=> Khổ thơ thứ hai đã thấy được sự chuyển biến nhẹ nhàng mà rõ rệt từ hạ sang thu của đất trời. Giữa cảnh vật đó, ta thấy tình cảm say sưa ngây ngất và nét trầm tư sâu lắng của tác giả trong khoảnh khắc giao mùa.
* Khổ 3.
- Hình ảnh ẩn dụ: Sấm và hàng cây
+ “Sấm” là tác động bất thường của ngoại cảnh.
+ “Hàng cây đứng tuổi” Con người từng trải.
=> Đứng trước những tác động bất thường của ngoại cảnh, con người sẽ không còn cảm thấy bất ngờ hay sợ hãi.
- Câu thơ cuối mở ra tầng ý nghĩa mới:
+ Không chỉ là sự sang thu của tự nhiên mà còn là sự sang thu của lòng người. Vẻ đẹp của con người trước sự điềm nhiên chín chắn điềm tĩnh của hàng cây trước sấm sét.
+ Đặt bài thơ trong hoàn cảnh nó ra đời, khi đất nước hòa bình được 2 năm, bài thơ còn là sự sang thu của đất nước. Đất nước vừa trải qua sự khốc liệt của chiến tranh nên đường hoàng, tự tin hơn khi bước vào tương lai mới
- Thông điệp: Thời gian và khó khăn giúp con người trưởng thành hơn, không còn sợ những tác động khó khăn bất ngờ nữa.
3. Tổng kết
Đề thi vào 10 môn Văn Cao Bằng năm 2022
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) Đọc đoạn văn:
[…]. Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh. Những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi hối hận đánh con, nhớ con, anh lấy cây lược ra ngắm nghĩa rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt. Có cây lược, anh càng mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện
không may xảy ra. Một ngày cuối năm năm mươi tám năm đó ta chưa võ trang trong một trận càn lớn của quân Mĩ – ngụy, anh Sáu bị hi sinh. Anh bị viên đạn của máy bay Mĩ bắn vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu. Tôi không đủ lời lẽ để tả lại cái nhìn ấy, chỉ biết rằng, cho đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi cử nhớ lại đôi mắt của anh.
(Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2005, tr.200)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. (1,0 điểm) Đoạn văn trên trích từ văn bản nào? Tác giả là ai?
Câu 2. (1,0 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng của các thành phần biệt lập trong đoạn văn.
Câu 3. (1,0 điểm) Nêu nội dung của đoạn văn.
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. Viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của em về tình cảm gia đình.
Câu 2. Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long.
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1:
|
Đoạn văn trên trích từ văn bản nào? Tác giả là ai? |
Phương pháp: Căn cứ bài Chiếc lược ngà.
Cách giải:
- Tác phẩm: Chiếc lược ngà.
- Tác giả: Nguyễn Quang Sáng.
Câu 2:
|
Chỉ ra và nêu tác dụng của các thành phần biệt lập trong đoạn văn. |
Phương pháp: Căn cứ bài Thành phần biệt lập.
Cách giải:
- Thành phần biệt lập: năm đó ta chưa võ trang – trông một trận càn lớn của quân Mĩ – ngụy.
=> Thành phần phụ chú.
- Thành phần biệt lập: Hình như.
=> Thành phần tình thái.
Câu 3:
|
Nêu nội dung của đoạn văn. |
Phương pháp: Căn cứ đoạn trích, phân tích.
Cách giải:
Nội dung đoạn văn là: Anh Sáu hi sinh trong một trận càn của Mĩ – ngụy, trước khi mất anh vẫn không quên việc mình chưa tặng con cho gái chiếc lược ngà và gửi gắm nhiệm vụ đó cho đồng đội của mình.
II. LÀM VĂN:
Câu 1:
|
Viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của em về tình cảm gia đình. |
Phương pháp: Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
a. Yêu cầu về mặt hình thức: Viết đúng một đoạn văn khoảng 150 chữ.
b. Yêu cầu về mặt nội dung:
* Xác định vấn đề nghị luận: Tình cảm gia đình.
* Giải thích:
Tình cảm gia đình: Là tình cảm xuất phát từ những người thân trong gia đình với nhau. Đây là thứ tình cảm thiêng liêng, gần gũi nhất của mỗi con người. Tình cảm gia đình thường được biết đến qua tình cảm của cha mẹ, ông bà với con cháu và ngược lại.
* Phân tích:
- Tình cảm gia đình là thứ tình cảm đầu đời của mỗi con người, là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn, cảm xúc và góp phần tạo nên một con người.
- Tình cảm gia đình luôn tồn tại, không bị tác động bởi vật chất, tiền tài, địa vị. Tình cảm gia đình tạo nên chỗ dựa vững chắc về mặt tâm lý cũng như tinh thần của con người.
- Tình cảm gia đình là bước đệm, là động lực để con người vượt qua những khó khăn thử thách, dám đối đầu và cố gắng trên bước đường chinh phục ước mơ.
- Tình cảm gia đình đôi khi giúp con người đanh thức những tiềm năng của bản thân, tạo nên những bước ngoặt cuộc đời, giúp con người khám phá được những khả năng phi thường của bản thân.
* Bàn luận:
- Con người cần nhận thức rõ ràng tầm quan trọng của tình cảm gia đình. Biết trân trọng, bồi đắp tình cảm thiêng liêng ấy.
- Học cách quan tâm, yêu thương nhiều hơn đến những người thân xung quanh mình.
- Phê phán những người sống vô cảm, không biết yêu thương những người thân trong gia đình.
Câu 2:
|
Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long. |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
Tác giả:
- Nguyễn Thành Long quê ở huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 -1954) hoạt động văn nghệ ở liên khu V, sau 1954 ông tập kết ra Bắc, chuyên sáng tác.
- Ông là một trong những cây bút văn xuôi đáng chú ý trong những năm 1960 -1970, chuyên viết truyện ngắn và ký. Đề tài hướng vào cuộc sống sinh hoạt, lao động đời thường.
- Phong cách văn xuôi nhẹ nhàng, tình cảm, giàu chất thơ và ánh lên vẻ đẹp con người, mang ý nghĩa sâu sắc. Truyện của ông thường mang chất ký, chứa đựng vẻ đẹp thơ mộng trong trẻo.
- Ông viết nhiều, đã cho in hàng chục tập truyện ngắn và ký. Tác phẩm chính: Bát cơm cụ Hồ (1955), Gió bấc gió nồm (1956), Chuyện nhà chuyện xưởng (1962), Trong gió bão (1963), Những tiếng vỗ cánh (1967), Giữa trong xanh (1972) , Lý Sơn mùa tỏi (1980), Sáng mai nào, xế chiều nào (1984)..
Tác phẩm:
- Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” là kết quả của chuyến đi thực tế tại Sa Pa mùa hè 1970 của tác giả.
- Được rút ra từ tập “Giữa trong xanh” in năm 1972.
- Nổi bật trong tác phẩm là chân dung anh thanh niên.
2. Phân tích, cảm nhận
a. Hoàn cảnh sống và làm việc
- Quê quán, nghề nghiệp: Đó là một chàng trai 27 tuổi, quê ở Lào Cai, làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu. Nhiệm vụ của anh là đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất và dựa vào công việc báo trước thời tiết hàng ngày để phục vụ sản xuất và chiến đấu.
- Hoàn cảnh sống: Anh sống một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2.600m, quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa.
=> Hoàn cảnh sống khắc nghiệt; công việc đòi hỏi sự nghị lực, tinh thần kỷ luật và tính chính xác cao.
b. Suy nghĩ đẹp
* Nghĩ về công việc:
- Vì công việc mà anh phải sống một mình trên núi cao nhưng anh vẫn gắn bó với công việc của mình bởi “khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được”. Anh yêu công việc tới mức trong khi mọi người còn ái ngại cho cuộc sống ở độ cao 2.600m của anh thì anh lại ước ao được làm việc ở độ cao trên 3.000m “như vậy mới gọi là lý tưởng”.
- Công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, chính xác cao: hằng ngày lặp lại tới 4 lần các thao tác “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết” và khó khăn nhất là lúc 1 giờ sáng “nửa đêm thức dậy xách đèn ra vườn, mưa tuyết, giá lạnh…” nhưng anh vẫn coi công việc là niềm vui “Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi cháu buồn đến chết mất”.
- Ý thức được giá trị công việc mà mình đang làm: dự vào việc báo trước thời tiết nên “việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia”.
=> Những suy nghĩ ấy chỉ có ở những con người yêu lao động, yêu công việc của mình dù nó thật khó khăn, đơn điệu và buồn tẻ. Công việc là niềm vui, là cuộc sống của anh.
* Nghĩ về cuộc sống:
- Tự mình tìm lời giải đáp cho những câu hỏi quan trọng “Mình sinh ra là gì, mình đẻ ra ở đâu, mình vì ai mà làm việc?” những câu hỏi cho anh biết giá trị của bản thân và ý nghĩa của cuộc sống.
- Suy nghĩ đúng đắn về giá trị của hạnh phúc: Hạnh phúc không phải là khi cuộc sống đầy đủ về vật chất mà là khi ta làm được những điều có ích. Một lần do phát hiện kịp thời một đám mây khô mà anh đã góp phần vào chiến thắng của không quân ta, bắn rơi được máy bay Mỹ trên cầu Hàm Rồng, anh thấy mình “thật hạnh phúc”.
=> Qua lời kể hồn nhiên, chân thành của người thanh niên, tác giả Nguyễn Thành Long đã giúp người đọc cảm nhận được những suy nghĩ đẹp và đúng đắn của anh thanh niên cũng như của những người lao động ở Sa Pa.
c. Phong cách sống đẹp:
- Sống một mình nhưng căn nhà vẫn luôn ngăn nắp, gọn gàng “một căn nhà ba gian, sạch sẽ, với bàn ghế, sổ sách, biểu đồ, thống kê, máy bộ đàm. Cuộc đời riêng của anh thanh niên thu lại một góc trái gian với chiếc giường con, một chiếc bàn học, một giá sách” .
- Anh tự tạo niềm vui trong cuộc sống:
+ Anh trồng hoa để cuộc sống có thêm màu sắc “Hoa dơn, hoa thược dược, vàng, tím, đỏ, hồng phấn tổ ong”.
+ Anh nuôi gà để cải thiện bữa ăn và để có thêm niềm vui.
+ Anh thường xuyên đọc sách. Vì sách chính là người bạn để anh “trò chuyện”. Nhờ có sách mà anh chống chọi được với sự vắng lặng quanh năm. Nhờ có sách mà anh tiếp tục học hành, mở mang kiến thức.
d. Đức tính đẹp:
- Anh cởi mở, chân thành với khách, rất quý trọng tình cảm của mọi người, khao khát gặp gỡ, được trò chuyện.
+ Chặn khúc cây giữa đường để được nói chuyện với mọi người.
+ Trân trọng mọi người khách ghé thăm.
+ Dù mới gặp mà anh đã rất cởi mở với ông họa sĩ và cô kĩ sư.
+ Quý trọng từng phút giây được gặp gỡ, nói chuyện với mọi người.
- Dẫu phải sống một mình nhưng anh vẫn luôn quan tâm tới người khác:
+ Tự tay đào tam thất cho vợ bác lái xe vừa bị ốm.
+ Pha nước chè mời khách, thứ chè pha nước mưa thơm như nước hoa của Yên Sơn.
+ Tặng cô gái tất cả hoa trong vườn, tặng bác họa sĩ một giỏ trứng đầy.
- Anh còn là người khiêm tốn, thành thực cảm thấy công việc và những đóng góp của mình chỉ là nhỏ bé. Khi ông họa sĩ muốn vẽ chân dung anh, anh đã từ chối vì nghĩ mình không xứng đáng, rồi anh nhiệt tình giới thiệu với ông những người khác mà anh cho rằng đáng cảm phục hơn.
=> Đọc truyện, người đọc thấy vẻ đẹp thiên nhiên của Sa Pa hiện lên thật độc đáo, đầy chất thơ, nhưng truyện còn giới thiệu với chúng ta về vẻ đẹp của con người Sa Pa. Đó là những con người miệt mài làm việc, nghiên cứu khoa học, trong lặng lẽ mà rất khẩn trương vì lợi ích của đất nước, vì cuộc sống của con người.
=> Liên hệ lí tưởng sống của thanh niên hiện nay: Mỗi chúng ta cần tiếp bước thế hệ cha anh, tiếp bước lí tưởng sống cao đẹp, cống hiến và phục vụ cho dân tộc, cho đất nước. Để có thể cống hiến cho đất nước, mỗi người cần chuẩn bị:
- Trau dồi tri thức, không ngừng học hỏi.
- Tu dưỡng và rèn luyện đạo đức, nhân cách.
- Có phương hướng và mục tiêu rõ ràng, không ngừng phấn đấu để đạt được mục tiêu đã đề ra.
-...
3. Tổng kết
- Giá trị nội dung
+ Truyện khắc họa thành công nhân vật anh thanh niên, có quan điểm sống tích cực, đẹp đẽ. Đây là đại diện tiêu biểu cho thanh niên Việt Nam lặng lẽ cống hiến, xây dựng đất nước.
+ Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” khắc họa thành công hình ảnh những conngười lao động bình thường, mà tiêu biểu là anh thanh niên làm công tác khí tượng ở một mình trên đỉnh núi cao. Qua đó, truyện khẳng định vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa của những công việc thầm lặng.
- Giá trị nghệ thuật
+ Cốt truyện đơn giản, xoay quanh cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa ông họa sĩ già, cô kĩ sư trẻ và anh thanh niên làm công tác khí tượng.
+ Xây dựng nhân vật - chân dung nhân vật được đánh giá qua những cảm nhận trực tiếp, được khắc họa qua nhiều điểm nhìn và miêu tả tinh tế.
Đề thi vào 10 môn Văn Cao Bằng năm 2020
Đề bài
Câu 1: (2,0 điểm) Chỉ ra và cho biết tác dụng của các biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ sau:
"Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con."
(Theo Trần Quốc Minh)
Câu 2: (3,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sát và trả lời các câu hỏi:
"Câu hát căng buồn với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm khơi."
a) Đoạn thơ được trích từ tác phẩm nào? Tác giả là ai?
b) Em hãy khái quát nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ?
Câu 3: (5,0 điểm)
Phân tích nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích Lặng lẽ Sa Pa của nhà văn Nguyễn Thành Long (Ngữ văn 9, tập một).
Lời giải chi tiết
Câu 1
|
Chỉ ra và cho biết tác dụng của các biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ sau: "Những ngôi sao thức ngoài kia Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con." (Theo Trần Quốc Minh) |
Phương pháp: căn cứ các biện pháp tu từ đã học, phân tích
Cách giải:
- Biện pháp: so sánh, nhân hóa (ngôi sao thức)
- Tác dụng: Câu thơ nói lên sự tảo tần, không ngại vất vả, sẵn sàng hi sinh vì con của người mẹ. Cùng với biện pháp tu từ so sánh (chẳng bằng), tác giả còn sử dụng biện pháp nhân hóa (ngôi sao thức) để làm nổi bật tình cảm, sự quan tâm, chăm sóc của mẹ dành cho con.
Câu 2
|
a) Đoạn thơ được trích từ tác phẩm nào? Tác giả là ai? |
Phương pháp: căn cứ bài Đoàn thuyền đánh cá
Cách giải:
- Tác phẩm: Đoàn thuyền đánh cá
- Tác giả: Huy Cận
|
b) Em hãy khái quát nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ? |
Phương pháp: căn cứ đoạn trích, phân tích
Cách giải:
- Nội dung: khung cảnh đoàn thuyền trở về sau một ngày lao động hăng say. Đoạn thơ mang âm hưởng của một bản anh hùng ca lao động, thể hiện niềm vui phơi phới của một côn người làm chủ đất trời.
- Nghệ thuật:
+ Sử dụng linh hoạt biện pháp nhân hóa.
+ Ngôn từ sử dụng linh hoạt, điêu luyện.
Câu 3
|
Phân tích nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích Lặng lẽ Sa Pa của nhà văn Nguyễn Thành Long (Ngữ văn 9, tập một). |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
Tác giả:
- Nguyễn Thành Long (1925 -1991), quê ở huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 -1954) hoạt động văn nghệ ở liên khu V, sau 1954 ông tập kết ra Bắc, chuyên sáng tác.
- Ông là một trong những cây bút văn xuôi đáng chú ý trong những năm 1960 -1970, chuyên viết truyện ngắn và ký. Đề tài hướng vào cuộc sống sinh hoạt, lao động đời thường.
- Phong cách văn xuôi nhẹ nhàng, tình cảm, giàu chất thơ và ánh lên vẻ đẹp con người, mang ý nghĩa sâu sắc. Truyện của ông thường mang chất ký, chứa đựng vẻ đẹp thơ mộng trong trẻo.
- Ông viết nhiều, đã cho in hàng chục tập truyện ngắn và ký. Tác phẩm chính: Bát cơm cụ Hồ (1955), Gió bấc gió nồm (1956), Chuyện nhà chuyện xưởng (1962), Trong gió bão (1963), Những tiếng vỗ cánh (1967), Giữa trong xanh (1972) , Lý Sơn mùa tỏi (1980), Sáng mai nào, xế chiều nào (1984)..
Tác phẩm:
- Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” là kết quả của chuyến đi thực tế tại Sa Pa mùa hè 1970 của tác giả.
- Được rút ra từ tập “Giữa trong xanh” in năm 1972
2. Phân tích, cảm nhận
a. Hoàn cảnh sống và làm việc
- Quê quán, nghề nghiệp: Đó là một chàng trai 27 tuổi, quê ở Lào Cai, làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu. Nhiệm vụ của anh là đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất và dựa vào công việc báo trước thời tiết hàng ngày để phục vụ sản xuất và chiến đấu.
- Hoàn cảnh sống: Anh sống một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2.600m, quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa.
=> Hoàn cảnh sống khắc nghiệt; công việc đòi hỏi sự nghị lực, tinh thần kỷ luật và tính chính xác cao.
b. Suy nghĩ đẹp
* Nghĩ về công việc:
- Vì công việc mà anh phải sống một mình trên núi cao nhưng anh vẫn gắn bó với công việc của mình bởi “khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được”. Anh yêu công việc tới mức trong khi mọi người còn ái ngại cho cuộc sống ở độ cao 2.600m của anh thì anh lại ước ao được làm việc ở độ cao trên 3.000m “như vậy mới gọi là lý tưởng”.
- Công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, chính xác cao: hằng ngày lặp lại tới 4 lần các thao tác “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết” và khó khăn nhất là lúc 1 giờ sáng “nửa đêm thức dậy xách đèn ra vườn, mưa tuyết, giá lạnh…” nhưng anh vẫn coi công việc là niềm vui “Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi cháu buồn đến chết mất”.
- Ý thức được giá trị công việc mà mình đang làm: dự vào việc báo trước thời tiết nên “việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia”.
=> Những suy nghĩ ấy chỉ có ở những con người yêu lao động, yêu công việc của mình dù nó thật khó khăn, đơn điệu và buồn tẻ. Công việc là niềm vui, là cuộc sống của anh.
* Nghĩ về cuộc sống:
- Tự mình tìm lời giải đáp cho những câu hỏi quan trọng “Mình sinh ra là gì, mình đẻ ra ở đâu, mình vì ai mà làm việc?” những câu hỏi cho anh biết giá trị của bản thân và ý nghĩa của cuộc sống.
- Suy nghĩ đúng đắn về giá trị của hạnh phúc: Hạnh phúc không phải là khi cuộc sống đầy đủ về vật chất mà là khi ta làm được những điều có ích. Một lần do phát hiện kịp thời một đám mây khô mà anh đã góp phần vào chiến thắng của không quân ta, bắn rơi được máy bay Mỹ trên cầu Hàm Rồng, anh thấy mình “thật hạnh phúc”.
=> Qua lời kể hồn nhiên, chân thành của người thanh niên, tác giả Nguyễn Thành Long đã giúp người đọc cảm nhận được những suy nghĩ đẹp và đúng đắn của anh thanh niên cũng như của những người lao động ở Sa Pa.
c. Phong cách sống đẹp:
- Sống một mình nhưng căn nhà vẫn luôn ngăn nắp, gọn gàng “một căn nhà ba gian, sạch sẽ, với bàn ghế, sổ sách, biểu đồ, thống kê, máy bộ đàm. Cuộc đời riêng của anh thanh niên thu lại một góc trái gian với chiếc giường con, một chiếc bàn học, một giá sách”
- Anh tự tạo niềm vui trong cuộc sống:
+ Anh trồng hoa để cuộc sống có thêm màu sắc “Hoa dơn, hoa thược dược, vàng, tím, đỏ, hồng phấn tổ ong”
+ Anh nuôi gà để cải thiện bữa ăn và để có thêm niềm vui
+ Anh thường xuyên đọc sách. Vì sách chính là người bạn để anh “trò chuyện”. Nhờ có sách mà anh chống chọi được với sự vắng lặng quanh năm. Nhờ có sách mà anh tiếp tục học hành, mở mang kiến thức.
d. Đức tính đẹp:
- Anh cởi mở, chân thành với khách, rất quý trọng tình cảm của mọi người, khao khát gặp gỡ, được trò chuyện.
+ Chặn khúc cây giữa đường để được nói chuyện với mọi người
+ Trân trọng mọi người khách ghé thăm
+ Dù mới gặp mà anh đã rất cởi mở với ông họa sĩ và cô kĩ sư
+ Quý trọng từng phút giây được gặp gỡ, nói chuyện với mọi người
- Dẫu phải sống một mình nhưng anh vẫn luôn quan tâm tới người khác:
+ Tự tay đào tam thất cho vợ bác lái xe vừa bị ốm,
+ Pha nước chè mời khách, thứ chè pha nước mưa thơm như nước hoa của Yên Sơn
+ Tặng cô gái tất cả hoa trong vườn, tặng bác họa sĩ một giỏ trứng đầy.
- Anh còn là người khiêm tốn, thành thực cảm thấy công việc và những đóng góp của mình chỉ là nhỏ bé. Khi ông họa sĩ muốn vẽ chân dung anh, anh đã từ chối vì nghĩ mình không xứng đáng, rồi anh nhiệt tình giới thiệu với ông những người khác mà anh cho rằng đáng cảm phục hơn.
=> Đọc truyện, người đọc thấy vẻ đẹp thiên nhiên của Sa Pa hiện lên thật độc đáo, đầy chất thơ, nhưng truyện còn giới thiệu với chúng ta về vẻ đẹp của con người Sa Pa. Đó là những con người miệt mài làm việc, nghiên cứu khoa học, trong lặng lẽ mà rất khẩn trương vì lợi ích của đất nước, vì cuộc sống của con người.
3. Tổng kết
- Giá trị nội dung
+ Truyện khắc họa thành công nhân vật anh thanh niên, có quan điểm sống tích cực, đẹp đẽ. Đây là đại diện tiêu biểu cho thanh niên Việt Nam lặng lẽ cống hiến, xây dựng đất nước.
+ Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” khắc họa thành công hình ảnh những conngười lao động bình thường, mà tiêu biểu là anh thanh niên làm công tác khí tượng ở một mình trên đỉnh núi cao. Qua đó, truyện khẳng định vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa của những công việc thầm lặng.
- Giá trị nghệ thuật
+ Cốt truyện đơn giản, xoay quanh cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa ông họa sĩ già,cô kĩ sư trẻ và anh thanh niên làm công tác khí tượng. Cuộc gặp gỡ chỉ diễn ra trong chốc lát nhưng đã để lại nhiều suy nghĩ và dẫn chúng ta tới những nhân vật mới: kĩ sư vườn rau, nhà nghiên cứu sét.
+ Xây dựng nhân vật - chân dung nhân vật được đánh giá qua những cảm nhận trực tiếp, được khắc họa qua nhiều điểm nhìn và miêu tả tinh tế.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
