Đề thi vào 10 môn Văn Đà Nẵng
Đề thi vào 10 môn Văn Đà Nẵng năm 2026
Đề thi
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Hòn ngọc Minh Châu
Trung Sỹ¹
Biển xanh ngoài đảo xa, cơn bão năm ấy dữ dội lạ thường. Gió xé rách tả tơi những lá cờ trên bến cảng chưa kịp hạ. Sóng vật vã quật mình vỡ tan trên những bờ đá trầm tích ngàn năm tuổi.
Trong khe sâu, một con trai Mã Thị² non bị sóng dữ dập vùi quăng quật. Hấp! Một luồng nước ngầm cuốn tung nó lên cao, ném nó vào vách núi. Vỏ trai bị đập vào đá nứt sứt, lớp thịt mềm bên trong lộ ra. Nó thoi thóp gắng bám vào bãi cát ngầm. Những hạt cát thô, những mảnh vụn vỏ hà³ sắc lẹm lọt vào trong lớp vỏ, cứa trên thân nó vô số vết thương đau đớn.
Bão tan. Biển trở lại hiền hoà cùng lớp vỏ trai đã dần kịp đắp lành. Nhưng không ai thấy nỗi đau bên trong của con trai Mã Thị. Đàn cá mai, cá ngân bên nhau ríu rít khoe vây, nhìn nó thờ ơ. Con sứa lửa che chiếc dù hồng có những tua dài yểu điệu trôi qua thấy nó, phì vội một bãi bọt khinh bỉ. Trông bề ngoài có vẻ quý phái thế nhưng ả sứa kênh kiệu này có nhiều tua, mỗi chiếc tua là một chiếc roi độc, quất vào ai thì kẻ đó bỏng rát. Ngay cả những con ốc hương chấm hoa cũng lánh xa Mã Thị, làm như chúng ở đẳng cấp cao hơn dù cũng sống trong tầng đáy. Chỉ còn thảm rong nho xanh dập dềnh nương theo nhịp triều trôi nổi trên bãi biển xoa dịu lòng con trai cô độc.
Với đại dương bao la, một con cá voi xanh khổng lồ và một con trai bị thương bé bỏng đều có giá trị như nhau về mặt kích thước. Nhưng với con trai non, sự kì thị cùng những hạt cát đang cứa vào lòng nó một nỗi đau khôn tả. Mã Thị rùng mình co lại, run rẩy trong nỗi cô đơn. Nó đôi khi muốn bỏ cuộc, buông mình tách vỏ cho bạch tuộc nuốt, cho sóng cuốn tan xác. Nhưng rồi bản năng sinh tồn buộc nó phải tìm một cách khác, là phải học cách sống cùng nỗi đau.
Biển cả cũng như cuộc đời, khi nghiệt ngã lúc bao dung. Có lúc giông bão mịt mù, nhưng cũng có những dòng hải lưu ấm đưa các phù du sinh vật về âm thầm nuôi con trai dần lớn. Sự vô tình của biển lại chính là chiếc nôi nuôi dưỡng đức tính kiên cường. Ngày qua ngày, trai Mã Thị tiết ra từng lớp xà cừ mỏng bọc lấy dị vật, bồi đắp dần biến nó thành những tinh cầu long lanh. Mỗi nỗi đau chất chứa trong lòng đã thành một viên ngọc. Trong bóng nước biếc xanh, chúng lấp lánh như những giọt sao rơi xuống lòng đại dương.
Bây giờ Mã Thị đã cường tráng trưởng thành. Một buổi sáng, đàn cá hồng bơi ngang qua ngạc nhiên reo lên:
- Ôi, đẹp quá! Ai ngờ cái hòm xù xì kia lại cất giữ cả một kho báu! Ngay cả lũ ốc hương chấm hoa cũng phải khâm phục thốt lên:
- Hoá ra kiên nhẫn và chịu đựng cũng có thể tạo nên điều kì diệu. Ả sứa lửa lại trôi qua, đong đưa ngả chiếc dù hồng mơn trớn. Mã Thị thờ ơ im lặng. Tấm vỏ trai đã dày dặn. Những chiếc tua lửa của ả chẳng thể làm tổn thương con trai được nữa.
Từ đó chẳng còn ai chê bai hay lánh xa Mã Thị. Cá ngân, cá mai thường rủ nhau đến chơi quanh. Cá đồng cờ, cá bướm nhờ con trai xoè ngọc để lấy ánh sáng múa vây khoe sắc. Có cả mấy chú cá hề màu cam vạch trắng đến làm trò góp vui. Rặng san hô nơi Mã Thị sống đã trở thành một sân khấu biển xanh rực rỡ và tráng lệ.
Câu chuyện về con trai Mã Thị được rừng san hô rì rào kể lại, lan đi khắp rạn đá. Có một người lính cũ yêu và hiểu ngôn ngữ thiên nhiên hôm ấy ra đảo đi tắm biển. Ông lặn xuống rạn san hô, vô tình nghe được. Câu chuyện khiến ông rùng mình đồng cảm, bởi ông cũng từng bị trọng thương trong cuộc chiến chống lại loài diệt chủng. Một mảnh đạn vẫn găm trong thân thể ông như con trai Mã Thị bị cát găm trong ruột.
Trở về phòng mình, ông chong đèn thâu đêm viết lại câu chuyện cảm động về con trai nhỏ trên hòn đảo cô đơn, đã kiên cường biến nỗi đau thành những viên ngọc sáng. Từ đó, hòn đảo này được gọi tên là đảo Minh Châu, nghĩa là viên ngọc sáng nơi địa đầu thân yêu của Tổ quốc chúng ta.
Đặt dấu chấm hết câu chuyện, ông mở cửa sổ nhìn ra biển đêm. Biển vẫn tiếp tục dậy sóng. Có những con trai khác ngoài đó hẳn cũng đang bị thương, cũng đang ôm những hạt cát sắc nhọn. Có kẻ chết trong tuyệt vọng. Có kẻ bọc lên thành ngọc. Tự nhiên không thiên vị ai. Chính lựa chọn của từng sinh linh⁴ mới quyết định số phận của chính mình.
(Báo Văn nghệ Tết Bính Ngọ, số 6+7+8/ 7-2-2026, tr.31)
¹ Nhà văn Trung Sỹ tên thật là Xuân Tùng, sinh năm 1960, quê ở Hà Nội, từng tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, có những sáng tác về hồi ức chiến tranh.
² Mã Thị: tên riêng một loài trai ngọc (chú thích của tác giả).
³ hà: hàu nhỏ sống thành từng đám trên mặt đá ngập nước vùng ven biển.
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định ngôi kể của văn bản.
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra từ ngữ, hình ảnh miêu tả tác động của những hạt cát thô, những mảnh vụn vỏ hà sắc lẹm sau khi lọt vào trong lớp vỏ con trai Mã Thị.
Câu 3. (1,0 điểm) Nêu sắc thái nghĩa của từ run rẩy trong câu văn: Mã Thị rùng mình co lại, run rẩy trong nỗi cô đơn.
Câu 4. (1,0 điểm) Phân tích ý nghĩa của chi tiết sau trong việc khắc hoạ con trai Mã Thị: Ngày qua ngày, trai Mã Thị tiết ra từng lớp xà cừ mỏng bọc lấy dị vật, bồi đắp dần biến nó thành những tinh cầu long lanh. Mỗi nỗi đau chất chứa trong lòng đã thành một viên ngọc.
Câu 5. (1,0 điểm) Bày tỏ suy nghĩ của em về một bài học rút ra từ câu văn: Chính lựa chọn của từng sinh linh mới quyết định số phận của chính mình. (Trình bày không quá 07 dòng)
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Em hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật người lính cũ trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm) Bằng trải nghiệm cá nhân, em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày những việc các bạn trẻ cần làm để tự tin khẳng định bản thân trong cuộc sống.
Đáp án
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
Đọc hiểu |
Câu 1. (0,5 điểm) |
Ngôi kể thứ 3 |
|
Câu 2. (0,5 điểm) |
Từ ngữ, hình ảnh gồm: - cứa trên thân nó vô số vết thương đau đớn. - hạt cát đang cứa vào lòng một nỗi đau khôn tả. |
|
|
Câu 3. (1,0 điểm) |
Run rẩy thể hiện: - Diễn tả sự co rúm, chuyển động yếu ớt, không tự chủ của con trai non trước cơn đau thể xác. - Nhấn mạnh sự yếu đuối, bất an, sợ hãi và tột cùng cô độc của Mã Thị khi phải đối mặt với nỗi đau mà không có ai sẻ chia, thấu hiểu. |
|
|
Câu 4. (1,0 điểm) |
Ý nghĩa chi tiết: - Khắc họa nghị lực phi thường, sự kiên cường và bản năng sinh tồn mãnh liệt của Mã Thị. Thay vì buông xuôi, chấp nhận cái chết, nó đã chủ động "học cách sống cùng nỗi đau". - Khẳng định giá trị của sự chuyển hóa vồ cùng tính kỳ diệu. Mỗi viên ngọc trai lấp lánh chính là kết quả của sự kiên nhẫn, tôi luyện từ tổn thương. Chi tiết cho thấy con trai Mã Thị từ một sinh vật bé nhỏ, đáng thương thành một biểu tượng của cái đẹp và lòng dũng cảm. |
|
|
Câu 5. (1,0 điểm) |
Bài học về tính tự quyết và có trách nhiệm trước mỗi quyết định của bản thân … |
|
|
Viết |
Câu 1. (2,0 điểm) |
1. Mở đoạn: Giới thiệu chung. 2. Thân đoạn - Người lính cũ là con người từng trải qua đau thương chiến tranh: “Từng bị trọng thương”, “mảnh đạn vẫn găm trong thân thể”. Vết thương chiến tranh không chỉ là nỗi đau thể xác mà còn là ám ảnh tinh thần kéo dài. => Đồng cảm sâu sắc với con trai Mã Thị vì có chung hoàn cảnh chịu tổn thương. - Người lính cũ có tâm hồn nhạy cảm, giàu tình yêu thiên nhiên: “Yêu và hiểu ngôn ngữ thiên nhiên”. Ông lắng nghe được câu chuyện của biển cả, của con trai nhỏ. => Sự tinh tế, khả năng cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp và ý nghĩa cuộc sống. - Người lính cũ là biểu tượng của nghị lực sống và niềm tin. + Từ nỗi đau của bản thân, ông thấu hiểu bài học: con người phải biết biến đau thương thành sức mạnh. + “Chong đèn thâu đêm viết lại câu chuyện” => thái độ trân trọng, mong muốn lan tỏa thông điệp tích cực. + Suy ngẫm cuối truyện thể hiện triết lí sâu sắc: số phận phụ thuộc vào lựa chọn và ý chí của mỗi con người. - Đánh giá một số nét đặc sắc về nghệ thuật: ngôi kể, ngôn ngữ,… 3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
1. Mở bài - Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận: Những việc các bạn trẻ cần làm để tự tin khẳng định bản thân trong cuộc sống. 2. Thân bài a) Giải thích - “Khẳng định bản thân” là thể hiện giá trị, năng lực, cá tính và vai trò của mình một cách tích cực trong học tập, công việc và cuộc sống. => “Tự tin khẳng định bản thân” không phải tự cao hay phô trương mà là biết tin vào khả năng của mình, dám thể hiện và dám chịu trách nhiệm. b) Những việc các bạn trẻ cần làm để tự tin khẳng định bản thân - Người trẻ muốn khẳng định bản thân trước hết cần hiểu rõ bản thân: + Nhận ra điểm mạnh, điểm yếu, sở thích, đam mê của mình. + Xác định mục tiêu học tập và định hướng tương lai phù hợp. + Không sống theo số đông hay phụ thuộc hoàn toàn vào người khác. - Không ngừng học tập và rèn luyện: + Trau dồi kiến thức, kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp. + Chủ động học hỏi, tích lũy trải nghiệm thực tế. + Kiến thức và năng lực là nền tảng tạo nên sự tự tin. - Người trẻ cần dám thử thách bản thân, mạnh dạn bước ra khỏi vùng an toàn: + Không sợ thất bại, biết xem thất bại là cơ hội để trưởng thành. + Tích cực tham gia hoạt động tập thể, hoạt động xã hội để phát triển bản thân. - Giữ thái độ sống tích cực: + Tin tưởng vào bản thân, lạc quan trước khó khăn. + Kiên trì theo đuổi mục tiêu, không dễ bỏ cuộc. + Biết lắng nghe, tiếp thu góp ý để hoàn thiện mình. - Xây dựng nhân cách tốt đẹp: + Sống trung thực, có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng. + Tôn trọng người khác, không khẳng định bản thân bằng việc hạ thấp người khác. + Giá trị thật sự của con người nằm ở nhân cách và sự cống hiến. HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp c) Bàn luận mở rộng - Hiện nay vẫn nhiều bạn trẻ vẫn mang lối sống tự ti, sống thụ động, ngại thể hiện bản thân. Ngược lại, có những người tự cao, thích thể hiện lệch chuẩn để gây chú ý. - Tự tin và bản lĩnh là yếu tố quan trọng giúp người trẻ thành công trong cuộc sống hiện đại. Cần phân biệt giữa tự tin khẳng định bản thân và tự cao, cố tạo sự khác biệt. 3. Kết bài Tổng kết vấn đề nghị luận. |
Đề thi vào 10 môn Văn Đà Nẵng năm 2025
Đề thi
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
NÓI VỚI CON CUỐI NĂM
|
(1) Cha lên làng sơ tán thăm con hoa mận nở trắng vườn năm sắp hết chợ quê rộn rịp vàng hương nếp mới lá dong xanh
(2) hai cha con ngồi trên bờ đê cao sông chiều ngút khói gió rạp mình cỏ dại sau lưng Hà Nội sương mờ thành phố vừa trải qua những trận bom hủy diệt lòng cha giờ giập nát những xác người máu loang biết nói gì với con đôi mắt trẻ đen tròn ngơ ngác thế cuộc chiến tranh đã mấy chục năm trời con mới gần ba tuổi tia nắng sớm mong manh chùm lá mới đêm của đời gió bão đã dài lâu con bi bô với bàn ghế cỏ cây tập gọi tên các sự vật trên đời tập tin lời người lớn cha làm sao nói được những khổ đau lầm lạc đợi trên đường cái ác đen si trong mỗi quả bom mang mặt đẹp nói cười khôn khéo |
(3) con hát lời ngọng nghịu "vịt dắt tay gà hai đứa đi chơi" áp trán vào gò má thơ ngây cha bỗng thấy chẳng có gì đáng sợ cha dạy con mến thương tất cả rồi tự con sẽ biết căm thù cha dạy con tin yêu từ ngọn cỏ rồi mai sau con sẽ nghi ngờ con sẽ trả lời những câu hỏi đời cha con cũng sẽ đặt nhiều câu hỏi mới [...] (4) chiều bên sông gió rét con lặng nhìn tít tắp bãi ngô xa - Bên kia sông có gì hở cha? - Bên kia sông có đường đất đỏ có ruộng mía trỗ cờ trắng xóa những vườn đầy quả ngọt những đồng hoa. - Có bươm bướm không cha? - Có, có rất nhiều bươm bướm. Con thì thầm trong hơi thở mạnh - Sông rộng thế làm sao sang được? Cha ôm con vào lòng, con bé bỏng của cha - Bên kia sông nhiều bướm nhiều hoa rồi cha con ta sẽ tìm được con đò đi sang bên ấy. (Lưu Quang Vũ, Tuyển thơ gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, NXB Hội Nhà văn, 2018, tr.178-180 |
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định đề tài của văn bản.
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh miêu tả người con trong các dòng thơ được in đậm.
Câu 3. (0,75 điểm) Nhận xét về sự thay đổi cảm xúc của người cha từ đoạn (2) đến đoạn (3).
Câu 4. (0,5 điểm) Trình bày tác dụng của việc sử dụng điệp ngữ bên kia sông trong đoạn (4).
Câu 5. (0,75 điểm) Nêu hiệu quả của việc dùng yếu tố tự sự trong văn bản.
Câu 6. (1,0 điểm) Bày tỏ suy nghĩ của em về một bài học rút ra từ văn bản. (Trả lời tối đa 7 dòng)
PHẦN II: VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích đoạn thơ sau trong văn bản ở phần Đọc hiểu:
Con thì thầm trong hơi thở mạnh
- Sông rộng thế làm sao sang được?
Cha ôm con vào lòng, con bé bỏng của cha
- Bên kia sông nhiều bướm nhiều hoa
rồi cha con ta sẽ tìm được con đò
đi sang bên ấy.
Câu 2. (4,0 điểm)
Bằng trải nghiệm cá nhân, em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về việc các bạn trẻ cần làm để thuyết phục cha mẹ tin tưởng và đồng hành trên con đường tới những điều tốt đẹp trong tương lai.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Dựa vào số tiếng trong mỗi dòng thơ
Lời giải chi tiết:
Đề tài của văn bản là: Tình cha con
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ bài thơ, chú ý những đối tượng gắn với nỗi nhớ của nhân vật trữ tình.
Lời giải chi tiết:
Từ ngữ miêu tả người con: đôi mắt đen tròn, ngơ ngác; con gần ba tuổi
Câu 3.
Phương pháp:
Tìm các hình ảnh, sự vật được nhắc đến nhiều lần để làm nổi bật ngôi nhà ngày xưa.
Lời giải chi tiết:
Sự thay đổi cảm xúc của người cha từ đoạn (2) đến đoạn (3):
+ Đoạn (2): Cảm xúc của người cha được thể hiện trực tiếp qua những câu thơ “lòng cha giờ giập nát/ những xác người máu loang...” --> nỗi đau đớn tột cùng trước những đau thương, mất mát mà chiến tranh gây ra, trước “cái ác đen sì trong mỗi quả bom/ mang mặt đẹp nói cười khôn khéo”.
+ Đoạn (3): Cảm xúc của người cha được thể hiện qua câu thơ “cha bỗng thấy chẳng có gì đáng sợ/ cha dạy con mến thương tất cả/ cha dạy con tin yêu từ ngọn cỏ” --> bình tĩnh, mạnh mẽ vượt lên tất cả với niềm tin yêu.
--> Sự thay đổi cảm xúc rất tự nhiên, phù hợp với tâm lý, hoàn cảnh của nhân vật người cha.
Câu 4.
Phương pháp:
Xác định từ ngữ được lặp lại nhiều lần rồi nêu tác dụng về nhịp điệu và cảm xúc.
Lời giải chi tiết:
Tác dụng của điệp ngữ “bên kia sông” trong đoạn (4):
- Tạo nhịp điệu cho câu thơ; làm cho đoạn thơ trở nên giàu nhạc tính.
- Thể hiện sự tò mò, khao khát khám phá thế giới của trẻ thơ.
- Nhấn mạnh về một vùng đất tươi đẹp, trù phù với “đường đất đỏ”, “có ruộng mía trỗ cờ trắng xoá”, “những vườn đầy quả ngọt những đồng hoa”.
- Gợi niềm tin yêu, hi vọng vào cuộc đời phía trước sau những năm tháng chiến tranh với bao đau thương, mất mát.
Câu 5.
Phương pháp:
Phân tích hình ảnh thơ gắn với hoàn cảnh và tình cảm của người mẹ trong khổ thơ.
Lời giải chi tiết:
- Yếu tố tự sự trong bài thơ: có bối cảnh thời gian (cuối năm, cha lên làng sơ tán thăm con), có nhân vật (cha, con), có những lời thoại của các nhân vật (- Bên kia sông có gì hở cha?/ - Bên kia sông có đường đất đỏ...)...
- Hiệu quả của việc dùng yếu tố tự sự trong bài thơ:
+ Làm cho bài thơ như một câu chuyện nhẹ nhàng, ấm áp của hai cha con.
+ Giúp nhân vật người cha thuận lợi bộc lộ cảm xúc: từ nỗi đau đớn trước những đau thương, mất mát mà chiến tranh gây ra cho đến niềm tin yêu, hi vọng vào cuộc sống phía trước.
+ Góp phần thể hiện chủ đề, tư tưởng của bài thơ: Ca ngợi tình phụ tử thiêng liêng, cao đẹp; hướng con người đến suy nghĩ tích cực, lạc quan trong cuộc sống.
Câu 6.
Phương pháp:
Từ nội dung bài thơ, liên hệ trách nhiệm của bản thân đối với gia đình bằng những việc làm cụ thể.
Lời giải chi tiết:
+ Trân trọng tình cảm gia đình.
+ Luôn suy nghĩ tích cực, lạc quan trong cuộc sống.
+ Trân trọng những điều bình dị, gần gũi xung quanh ta.
+ ...
II. VIẾT
Câu 1.
Phương pháp:
Xác định rõ vấn đề nghị luận, giải thích biểu hiện của thói dựa dẫm, nêu nguyên nhân, hậu quả và đề xuất giải pháp phù hợp.
Lời giải chi tiết:
- Mở đoạn: Dẫn dắt, giới thiệu về đoạn thơ cần phân tích: 6 câu thơ tái hiện lại cuộc trò chuyện tình cảm của hai cha con.
- Thân đoạn:
+ Người con: “thầm thì” như đang thủ thỉ, chỉ muốn nói thầm với người cha về thắc mắc của bản thân “- Sông rộng thế làm sao sang được?”.
+ Người cha:
+) Hành động “ôm con vào lòng” --> thể hiện sự bao bọc, chở che của người cha.
+) Cách gọi “con bé bỏng của cha” --> thể hiện tình cảm trìu mến, thân thương.
+) Lời giải đáp thắc mắc: “- Bên kia sông nhiều bướm nhiều hoa/ rồi cha con ta sẽ tìm được con đò/ đi sang bên ấy” --> Hình ảnh “Bên kia sông” trở đi trở lại trong đoạn (4), tượng trưng cho một thế giới tươi đẹp, một tương lai tốt đẹp. Mong muốn “cha con ta sẽ tìm được con đò/ đi sang bên ấy” thể hiện niềm tin, quyết tâm của người cha đưa con đến với một cuộc sống tốt đẹp phía trước, vượt qua những khó khăn, thử thách của hiện tại...
- Kết đoạn: Thể thơ tự do với sự phóng khoáng và linh hoạt trong cách ngắt nhịp, gieo vần; sự kết hợp hài hòa của yếu tố tự sự và biểu cảm cùng ngôn ngữ giản dị, hình ảnh thơ mang tính biểu tượng đã góp phần thể hiện tình cha con sâu nặng cùng khát vọng vươn tới những điều tốt đẹp, khơi gợi trong mỗi người tinh thần lạc quan, suy nghĩ tích cực trước khó khăn, thử thách.
Câu 2.
Phương pháp:
Xác định đúng vấn đề nghị luận: những việc người trẻ cần làm để cha mẹ tin tưởng và đồng hành. Triển khai bài viết theo bố cục: giải thích → nêu thực trạng → phân tích nguyên nhân, ý nghĩa → đề xuất giải pháp → liên hệ bản thân.
Lời giải chi tiết:
* Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận: Những việc các bạn trẻ cần làm để thuyết phục cha mẹ tin tưởng và đồng hành trên con đường vươn tới những điều tốt đẹp trong tương lai.
* Thân bài:
- Giải thích:
+ Các bạn trẻ: lứa tuổi thanh thiếu niên, lứa tuổi tràn đầy sức sống, tràn đầy ước mơ, hoài bão.
+ Thuyết phục cha mẹ tin tưởng và đồng hành: làm cho cha mẹ ủng hộ, thấy những việc làm của bản thân là đúng, là hay
+ Vươn tới những điều tốt đẹp trong tương lai: tạo ra một cuộc sống hạnh phúc, thành công, có đóng góp cho gia đình, xã hội.
- Bàn luận: Nêu ý kiến của bản thân về vấn đề nghị luận và sử dụng lí lẽ, dẫn chứng để phân tích, chứng minh:
+ Lí do cần đề xuất biện pháp: Học sinh sơ lược giá trị, ý nghĩa việc cha mẹ tin tưởng và đồng hành trong cuộc sống; thực trạng một bộ phận học sinh hiện nay luôn khiến cha mẹ lo lắng, bất an, thiếu sự tin tưởng,... nên luôn phải làm theo những gì cha mẹ mong muốn, sắp đặt mà không thể làm những điều mình thích, lựa chọn những điều mình mong muốn; từ đó đưa ra những hậu quả của việc người trẻ thiếu sự tin tưởng, đồng hành của cha mẹ: gặp phải nhiều khó khăn, thách thức; thiếu đi điểm tựa tinh thần; dễ xảy ra mâu thuẫn với cha mẹ, khiến không khí trong gia đình luôn nặng nề...
+ Đề xuất thực hiện một số biện pháp giúp người trẻ có được sự tin tưởng và đồng hành của cha mẹ trên con đường vươn tới những điều tốt đẹp trong tương lai:
+) Bản thân mỗi người trẻ cần nhận thức đúng đắn và sâu sắc về tầm quan trọng của gia đình với cuộc sống của mỗi con người. Gia đình là điểm tựa, chỗ dựa vững chắc cho mỗi người vươn tới thành công, chạm tới ước mơ. Dù cha mẹ có đồng tình hay không đồng tình với lựa chọn, quyết định của người trẻ cũng đều xuất phát từ tình yêu thương, mong muốn người trẻ có cuộc sống tốt đẹp. Vì vậy, người trẻ cần chủ động, tích cực thay đổi bản thân để tạo được niềm tin từ phía gia đình, cha mẹ.
+) Bản thân người trẻ cần có kế hoạch cụ thể để tự phát triển bản thân, theo đuổi đam mê và khát vọng của chính mình, không dễ dàng buông xuôi, bỏ cuộc khi đương đầu, đối diện với khó khăn. Người trẻ cần tích cực học tập để trau dồi tri thức; rèn luyện các kĩ năng sống như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng giải quyết vấn đề,...; học đi đôi với hành...
+) Người trẻ cũng cần dành thời gian để trò chuyện để hiểu hơn về suy nghĩ, cảm nhận của cha mẹ, tránh tự quyết định, tự làm những gì bản thân cho là đúng mà không hỏi ý kiến, không lắng nghe cha mẹ khuyên nhủ. Bởi cha mẹ có nhiều kinh nghiệm quý báu, bài học để đời cho người trẻ rút ra bài học cho chính mình.
(HS lấy dẫn chứng thực tế về những bạn trẻ đã luôn nhận được sự tin tưởng, đồng hành của cha mẹ trong con đường vươn tới thành công.)
+ Mở rộng, liên hệ
+) Ý kiến trái chiều: Nhiều người cho rằng người trẻ nên nghe theo ý muốn, sự sắp đặt của cha mẹ là sẽ luôn nhận được sự ủng hộ, đồng hành của cha mẹ. --> Đây là quan điểm không hoàn toàn đúng. Bởi mong ước của cha mẹ, có thể khác với mong ước của người trẻ. Việc cố làm theo những điều cha mẹ muốn, chỉ để nhận về sự ủng hộ, tin tưởng của cha mẹ dễ khiến nhiều người trẻ không tìm thấy hạnh phúc trong cuộc sống...
+ Chia sẻ trải nghiệm của bản thân có liên quan đến vấn đề nghị luận và rút ra bài học: Bản thân mỗi người trẻ cần tích cực học tập để trau dồi kiến thức; luôn tích cực tham gia các hoạt động xã hội... để phát triển bản thân, hoàn thiện chính mình mỗi ngày. Đó là con đường để nhận được sự tin tưởng của cha mẹ.
* Kết bài: Khẳng định vấn đề.
Đề thi vào 10 môn Văn Đà Nẵng năm 2023
Đề bài
Câu 1. Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
CÂY TÙNG VÀ HOA HỒNG
Cây từng và hoa hồng là hàng xóm của nhau, tuy nhiên mối quan hệ của họ không được tốt cho lắm.
Cây từng nói với hoa hồng. “Trông cậu mới yểu điệu làm sao, hỗ gió thổi qun là đỗ nghiêng ngả, thật là yếu đuối"
Hoa hồng không chịu thua kém, trừng mắt nói: “Cậu nhìn lại thân mình mà xem, sần sùi thô ráp, thật là xấu xí"
Ngoài những lời chê bai chỉ trích, bình thường chúng chẳng bao giờ nói chuyện với nhau.
Một hôm, ông hổ đi qua nghe thấy cây tùng và hoa hồng đang to tiếng tranh cãi, bèn nói: Tại sao hai cháu chỉ biết nhìn vào điểm xấu mà không chịu công nhận điểm tốt của nhau? Tùng mạnh mẽ cương nghị, không sợ giá rét, là tấm gương tốt cho chúng ta học tập. Hoa hồng toả hương thơm ngát, làm đẹp cho đời, mang đến niềm vui cho mọi người. Các cháu phải chịu khó học hỏi ưu điểm của người khác thì mới có thể tiến bộ và trở thành bạn tốt của nhau."
Nghe lời ông hổ, cuối cùng cây tùng và hoa hồng đã nhận ra lỗi sai của mình, từ đó trở đi, chúng bắt đầu chung sống vui vẻ và hoà thuận.
(1001 truyện mẹ kể con nghe - Mùa xuân, Tuệ Văn dịch, NXB Mỹ thuật, 2011, tr. 45-46)
a) Lời dẫn “Trông cậu mới yểu điệu làm sao, hễ gió thổi qua là đỗ nghiêng ngả, thật là yếu đuối" là lời dẫn trực tiếp hay lời dẫn gián tiếp? (0,5 điểm)
b) Thái độ, lời nói của cây tùng và hoa hồng đã vi phạm phương châm hội thoại nào trong giao tiếp? (0,5 điểm)
c) Theo em, vì sao cây tùng và hoa hồng thường chê bai, chỉ trích lẫn nhau? (0,5 điểm)
d) Em có đồng tình với ý kiến của ông hổ: phải chịu khó học hỏi ưu điểm của người khác thì mới có thể tiến bộ" không? Vì sao? (0,5 điểm)
Câu 2. Viết một đoạn văn hoặc bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của việc biết công nhận những điểm tốt của người khác.
Câu 3. Phân tích nhân vật anh thanh niên trong hai đoạn trích sau:
- (...) Cháu lấy những con số, mỗi ngày báo về "nhà" bằng máy bộ đàm bốn giờ, mười một giờ, bảy giờ tối, lại một giờ sáng. Bản báo ấy trong ngành gọi là "Ốp". Công việc nói chung dễ, chỉ cần chính xác. Gian khổ nhất là lần ghi và báo về lúc một giờ sáng. Rét, bác ạ. Ở đây có cả mưa tuyết đấy. Nửa đêm đang nằm trong chăn, nghe chuông đồng hồ chỉ muốn đưa tay tắt đi. Chui ra khỏi chăn, ngọn đèn bão vặn to đến cỡ nào vẫn thấy là không đủ sáng. Xách đèn ra vườn, gió tuyết và lặng im ở bên ngoài như chỉ chực đợi mình ra là ào ào xô tới. Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ: nó như bị gió chặt ra từng khúc, mà gió thì giống những nhát chổi lớn muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tung... Những lúc im lặng lạnh cóng mà lại hùng hực như cháy. Xong việc, trở vào, không thể nào ngủ lại được.
Và:
- Quê cháu ở Lào Cai này thôi. Năm trước, cháu tưởng cháu được đi xa lắm cơ đấy, hóa lại không. Cháu có ông bố tuyệt lắm. Hai bố con cùng viết đơn xin ra lính đi mặt trận, Kết quả: bố cháu thắng cháu một - không. Nhân dịp Tết, một đoàn các chú lái máy bay lên thăm cơ quan cháu ở Sa Pa. Không có cháu ở đấy. Các chú lại cử một chú lên tận đây. Chú ấy nói nhờ cháu có góp phần phát hiện một đám mây khô mà ngày ấy, tháng ấy, không quân ta hạ được bao nhiêu phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng. Đối với cháu, thật là đột ngột, không ngờ lại là như thế. Chú lái máy bay có nhắc đến bố cháu, ôm cháu mà lắc “Thế là một - hoà nhé!". Chưa hoà đầu bác ạ. Nhưng từ hôm ấy cháu sống thật hạnh phúc. Ơ, bác vẽ châu đấy ư? Không, không, dùng vẽ cháu! Để cháu giới thiệu với bác những người khác đáng cho bác vẽ hơn.
(Nguyễn Thành Long, Lặng là Sa Pa, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2023, tr, 183-185)
Lời giải chi tiết
Câu 1 (2.0 điểm):
a.
Phương pháp:
Lời dẫn trực tiếp, gián tiếp.
Cách giải:
Lời dẫn “Trông cậu mới yểu điệu làm sao, hễ gió thổi qua là đổ nghiêng ngả, thật là yếu đuối” là lời dẫn trực tiếp.
b.
Phương pháp:
Căn cứ bài phương châm hội thoại.
Cách giải:
Thái độ, lời nói của cây tùng và hoa hồng đã vi phạm phương châm hội thoại lịch sự trong giao tiếp.
c.
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Cây tùng và hoa hồng thường chê bai, chỉ trích lẫn nhau vì cả hai đều lấy bản thân mình làm tiêu chuẩn và áp đặt những tiêu chuẩn đó lên cây còn lại. Vì vậy, chúng không ngừng đưa ra những lời miệt thị đến đối phương.
d.
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Học sinh đưa ra quan điểm cá nhân (đồng tình, không đồng tình hoặc đồng tình một phần) và có lý giải hợp lý
Gợi ý:
* Em đồng tình với ý kiến của ông hổ vì:
- Mỗi chúng ta sinh ra đều là những cá thể mang màu sắc riêng, không hoàn hảo. Vì vậy, mỗi người cần không ngừng học tập và rèn luyện bản thân để trở thành một phiên bản tốt nhất.
- Trên đường đời, ai cũng có thể là thầy ta, biết đón nhận và học hỏi ưu điểm của người khác chính là cách nhanh nhất để giúp bản thân ngày một hoàn thiện và phát triển
* Không đồng tình với ý kiến ông hổ vì: Cá nhân là một thực thể chỉ có một trên đời, phải sống là chính mình chứ không phải là đi học hỏi, sao chép của người khác.
* Đồng tình một phần: Bên cạnh việc học hỏi những ưu điểm của người khác để bản thân trở nên tốt đẹp hơn ta cũng cần phải chú ý giữa gìn bản sắc, cá tính riêng của bản thân. Bởi khi mất đi bản sắc, cái riêng của mình bạn sẽ trở thành bản sao của người khác chứ không còn được là chính mình nữa.
Câu 2 (3.0 điểm):
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
HS lựa chọn hình thức đoạn văn hoặc bài văn và viết cho phù hợp.
Gợi ý:
1. Mở đoạn:
- Giới thiệu vấn đề: ý nghĩa của việc biết công nhận điểm tốt của người khác.
2. Thân đoạn:
- Giải thích vấn đề: Biết công nhận điểm tốt của người khác chính là luôn nhìn nhận vào mặt tốt của đối phương mà tiếp thu, học hỏi.
- Ý nghĩa của việc biết công nhận điểm tốt của người khác:
+ Học tập được rất nhiều điều tốt của đối phương.
+ Xây dựng một xã hội văn minh, lịch sự, gắn kết cộng đồng.
+ ….
- Nếu chúng ta không biết công nhận điểm tốt của người khác sẽ:
+ Khiến bản thân trở nên ích kỷ, luôn soi xét, chê bai người khác.
+ Luôn cho rằng người khác là thấp kém và cho mình cái quyền làm tổn thương họ.
+ Khiến các mối quan hệ trở nên xa cách, rạn nứt…
- Dẫn chứng: Câu chuyện cây tùng và hoa hồng đã cho ta một bài học về việc nếu cứ chỉ nhìn vào khiếm khuyết của người khác sẽ khiến chúng ta trở nên xấu xa, ích kỷ trong mắt đối phương. Ngược lại, nếu nhìn nhận được những điểm tốt của nhau sẽ thấy cuộc sống thoải mái, giúp bản thân trở nên phát triển và cải thiện các mối quan hệ.
3. Kết đoạn:
- Khẳng định vấn đề/ Liên hệ bản thân: Nhận thức được rằng biết công nhận điểm tốt của người khác sẽ giúp bản thân và cộng đồng ngày càng phát triển hơn.
Câu 3 (5.0 điểm):
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Khái quát chung về nhân vật anh thanh niên qua đoạn trích.
2. Thân bài
* Khái quát chung: Giới thiệu hoàn cảnh sống của anh thanh niên.
* Cảm nhận về nhân vật anh thanh niên:
Đoạn 1:
+ Đoạn văn là lời của nhân vật thanh niên, nhân vật chính trong truyện Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long kể về công việc làm của mình cho ông họa sĩ già và cô kỹ sư nông nghiệp trẻ, qua lời giới thiệu của bác lái xe, lên thăm nơi ở và làm việc của anh thanh niên trên đỉnh Yên Sơn cao hai ngàn sáu trăm mét trong thời gian ba mươi phút. Nhân vật thanh niên đó sống một mình trên núi cao, quanh năm suốt tháng làm việc với cây và mây núi ở Sa Pa.
+ Công việc của anh là làm khí tượng kiêm vật lý địa cầu. Nhiệm vụ của anh là đo gió, đo mưa, đo gió, đo chấn động mặt đất và dự báo thời tiết hằng ngày phục vụ cho công việc chiến đấu và sản xuất. Anh lấy những con số, mỗi ngày báo về “nhà” bằng báo bộ đàm bốn giờ, mười một giờ, bảy giờ tối và một giờ sáng. Công việc anh thanh niên kể trong đoạn văn là ghi báo về những con số lúc một giờ sáng trong hoàn cảnh thời tiết khắc nghiệt.
+ Là người có hành động đẹp: Một mình sống trên đỉnh Yên Sơn, không có ai đôn đốc, kiểm tra nhưng anh vẫn vượt qua hoàn cảnh làm việc một cách nghiêm túc, tự giác với tinh thần trách nhiệm cao. Dù thời tiết khắc nghiệt mùa đông giá rét mà anh đều thức dậy thắp đèn đi “ốp” đúng giờ. Ngày nào cũng vậy anh làm việc một cách đều đặn, chính xác 4 lần trong ngày, âm thầm, bền bỉ trong nhiều năm trời.
+ Người có phong cách sống đẹp: Anh có một phong cách sống khiến mọi người phải nể trọng. Tinh thần thái độ làm việc của anh thật nghiêm túc, chính xác, khoa học và nó đã trở thành phong cách sống của anh.
→ Hoàn cảnh sống khắc nghiệt, công việc gian khổ, vất vả. Đó là thử thách rất lớn nhưng anh thiên niên đã vượt qua hoàn cảnh ấy bằng ý chí, nghị lực và những suy nghĩ rất đẹp.
Đoạn 2:
- Đoạn văn là lời giới thiệu và kể chuyện của anh thanh niên với bác họa sĩ và cô kỹ sư về công việc của mình.
Điều này cho thấy anh thực sự coi việc cống hiến cho đất nước là một niềm vui, là một điều vinh quang.
- Sau đó, anh còn kể việc phát hiện ra đám mây khô của anh đã giúp cho không quân Việt Nam hạ được bao nhiêu phản lực Mỹ trên cầu Hàm Rồng.
Anh cảm thấy hạnh phúc vì những điều mà mình đã làm được. Đó chính là biểu hiện của lý tưởng sống cống hiến cao đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam.
- Chẳng những thế, anh còn bảo với bác họa sĩ là bác đừng vẽ cháu, để cháu giới thiệu cho bác những người khác. Anh luôn khiêm nhường và thấy công lao của mình thật sự bé nhỏ so với những người.
Điều này cho thấy một tâm hồn khiêm nhường, một thái độ sống cao đẹp và sẵn sàng cống hiến trong công việc của anh thanh niên. Ở nhân vật anh thanh niên của nhà văn Nguyễn Thành Long, ta luôn thấy một tinh thần trẻ nhiệt huyết đại diện cho thế hệ trẻ VN thời kỳ xây dựng và đi lên xã hội chủ nghĩa.
*Phẩm chất của anh thanh niên được thể hiện qua đoạn văn
- Trước hết, anh thanh niên rất yêu nghề. Anh có những suy nghĩ đúng và sâu sắc về công việc đối với cuộc sống con người
- Là người có hành động đẹp: Một mình sống trên đỉnh Yên Sơn, không có ai đôn đốc, kiểm tra nhưng anh vẫn vượt qua hoàn cảnh làm việc một cách nghiêm túc, tự giác với tinh thần trách nhiệm cao. Dù thời tiết khắc nghiệt mùa đông giá rét mà anh đều thức dậy thắp đèn đi “ốp” đúng giờ. Ngày nào cũng vậy anh làm việc một cách đều đặn, chính xác 4 lần trong ngày, âm thầm, bền bỉ trong nhiều năm trời.
- Anh thấy được công việc thầm lặng của mình có ích cho cuộc sống, cho mọi người. Anh đã thấy mình “thật hạnh phúc” khi được biết một lần do phát hiện kịp thời một đám mây khô mà anh đã góp phần vào chiến thắng của không quân ta bắn rơi nhiều máy bay Mỹ trên bầu trời Hàm Rồng.
- Người có phong cách sống đẹp: Anh có một phong cách sống khiến mọi người phải nể trọng. Tinh thần thái độ làm việc của anh thật nghiêm túc, chính xác, khoa học và nó đã trở thành phong cách sống của anh.
* Đánh giá, mở rộng:
- Anh thanh niên là đại diện tiêu biểu cho thanh niên Việt Nam, hăng say làm việc, hết mình cống hiến cho dân tộc, cho đất nước:
“Nếu là con chim…”
(Khúc ca xuân, Tố Hữu)
- Nghệ thuật: cách đặt tên cho nhân vật, xây dựng cốt truyện,…
- Mở rộng những tác phẩm cùng đề tài.
3. Kết bài
Cảm nhận chung về anh thanh niên: sống có lí tưởng, sống đẹp, sống có ích: “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”
Đề thi vào 10 môn Văn Đà Nẵng năm 2022
Đề bài
Câu 1. (3 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi.
TÌNH YÊU PHẢI CẢM NHẬN BẰNG TRÁI TIM
Có một cô bé giận dỗi mẹ đã chạy ra ngoài. Cô bé lang thang trên đường rất lâu, vừa đi vừa khóc. Đúng lúc ấy, cô nhìn thấy có một quán ven đường, mùi thơm của mì nóng thật là hấp dẫn. Cô bé đứng bên cạnh quán mì, thèm nhỏ nước dãi. Có chủ quán tiền nói: "Cô bé, có muốn ăn không ?
"Nhưng... cháu không có tiền
Không sao, trông cháu có vẻ đòi lắm rồi, mau ăn đi. Cô chủ quán nhanh tay làm cho cô bé một bát. Ăn bát mì
nóng hổi mà có bé không kìm được nước mắt. Ăn xong, cô bé luôn miệng cảm ơn cô bán hàng.
“Không cần cảm ơn cô, chỉ là một bát mì thôi mà. Ngày nào cháu cũng ăn cơm nóng canh ngọt của mẹ, cháu có nhớ cảm on mẹ không ?
Có bé không biết nói gì.
"Cô bé, cô đoán là cháu đang giận bố mẹ chuyện gì nên mới bỏ nhà chạy ra đây. Cháu biết nói cảm ơn với một người xa lạ cho cháu một bát mì, tại sao lại không coi trọng những việc bố mẹ đã làm cho mình?. Cháu mau về nhà đi, người nhà chắc đang lo lắng cho cháu lắm”.
Cô bé với vàng chạy về nhà, mẹ cô bỏ đang đứng ở cửa, lo lắng nhìn ra ngoài, vừa nhìn thấy cô bé và liền ôm chầm lấy.
Cô bé ôm lấy mẹ thật chặt, vừa khóc vừa nói "Mẹ ơi, con xin lỗi, mẹ hay tha thứ cho con nhé”.
Người mẹ vô cùng kinh ngạc, sau đó hôn lên má con gái và nói: "Con ngoan của mẹ, con lớn thật rồi".
(Ngọc Linh biên soạn, 168 câu chuyện hay nhất, phẩm chất - tồi quan tốt, NXB Thế giới, 2016, tr 136-136)
a. Hãy cho biết từ in đậm thực hiện phép liên kết nào?
b. Xác định một thành phần biệt lập và gọi tên thành phần biệt lập trong câu được gạch chân.
c. Theo em, vì sao cô bé vội vàng chạy về nhà và xin lỗi mẹ?
d. Qua câu chuyện, em rút ra được bài học gì cho bản thân?
Câu 2. (3,0 điểm) Viết một đoạn văn hoặc bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của việc biết trân trọng những điều bình dị quanh ta.
Câu 3. (5,0 điểm) Phân tích một trong hai đoạn trích sau để thấy được vẻ đẹp của tỉnh đồng chí, đồng đội.
Anh với tôi biết tưng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cuối buốt giá
Chân không giầy
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
(Chính Hữu, Đồng chí, Ngữ văn 8, Tập một NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, trị 129)
Chị Thao lại gần khi Nho đã nằm tinh tươm, sạch sẽ trên chiếc giường ghép bằng những thanh gỗ ta.
- Không chết đâu. Đơn vị đang làm đường kia mà. Việc gì phải khiến cho nhiều người lo lắng. Ơ, cái bà này sao bà cứ cuống quýt lên vậy ?
- Thường thế, người ngoài cảm thấy đầu hơn người bị thương mà.
Chị Thao quay mặt ra của hang, lại uống nước trong bi đông. Nho gác một cánh tay lên mặt. Nó cũng biết bây giờ không nên uống nước. Tôi pha sữa cho nó trong cái ca sắt.
- Cho nhiều đường vào.
Pha đặc ! - Chị Theo báo.
Uống sữa xong. Nho ngủ. Máy bay trinh sát vẫn nạo vét sự yên lặng của núi rừng. Chị Thao dựa vào tưởng, hai tay quàng sau gáy, không nhìn tôi,
- Hát đi, Phương Định, máy thích bài gì nhất, hát đi !
... Nhưng tôi không muốn hát lúc này. Tôi đâm cáu với chị Thao, mặc dù, tôi hiểu, những tình cảm gì đang quay cuồng trong chị. Chị cứ đưa mắt nhìn Nho, lấy tay sửa cái cổ đổ, cái ve áo và tóc nó. Chị không khóc đó thôi, chỉ không ứa cả nước mắt. Nước mắt đứa nào chảy trong khi cần cái cứng cỏi của nhau này là bị xem như bằng chứng của một sự tự nhục mạ.
Không ai nói với ai, nhưng nhìn nhau, chúng tôi đọc thấy trong mắt nhau điều đó.
(Lê Minh Khuê, Những ngôi sao xa xôi, Ngữ văn 8, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr. 119)
Lời giải chi tiết
Câu 1:
|
a. Hãy cho biết từ in đậm thực hiện phép liên kết nào? |
Phương pháp: Căn cứ bài các phép liên kết câu.
Cách giải:
Từ “cô bé” thực hiện phép liên kết là: phép lặp.
|
b. Xác định một thành phần biệt lập và gọi tên thành phần biệt lập trong câu được gạch chân |
Phương pháp: Căn cứ bài thành phần biệt lập.
Cách giải:
Thành phần biệt lập: Ơi => thành phần gọi đáp.
|
c. Theo em, vì sao cô bé vội vàng chạy về nhà và xin lỗi mẹ? |
Phương pháp: Phân tích, lí giải.
Cách giải:
Cô bé vội chạy về nhà và xin lỗi mẹ vì:
- Cô bé cảm thấy ân hận vì hành động đã bỏ nhà ra đi của mình.
- Quan trọng hơn, cô bé nhận ra rằng từ trước đến nay mình chưa biết trân trọng những điều mẹ đã làm cho mình, coi những việc làm của mẹ cho mình là đương nhiên và cô chỉ biết giận dỗi vô cớ. Bởi vậy, cô bé đã chạy về nhà và xin lỗi mẹ.
|
d. Qua câu chuyện, em rút ra được bài học gì cho bản thân? |
Phương pháp: Phân tích.
Cách giải:
HS từ câu chuyện rút ra bài học cho mình sao cho phù hợp với bài đọc hiểu.
Gợi ý: Chúng ta phải biết ơn cha mẹ.
Câu 2:
|
Viết một đoạn văn hoặc bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của việc biết trân trọng những điều bình dị quanh ta. |
Phương pháp: Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
a. Yêu cầu về mặt hình thức: Viết đoạn văn hoặc bài văn ngắn. (chú ý nếu viết bài văn cần có đầy đủ bố cục 3 phần).
b. Yêu cầu về mặt nội dung:
* Xác định vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của việc biết trân trọng những giá trị bình dị quanh ta.
- Giải thích:
+ Những điều bình dị quanh ta: Là những điều nhỏ bé, xuất hiện hàng ngày trong cuộc sống mà đôi khi con người quên mất những giá trị của nó.
-> Trân trọng những điều bình dị là điều cần thiết để cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.
- Ý nghĩa của việc trân trọng những điều bình dị trong cuộc sống:
+ Trân trọng những điều bình dị khiến con người cảm nhận được hạnh phúc quanh mình từ đó biết yêu thương và trân trọng cuộc sống hơn.
+ Trân trọng những điều bình dị con người sẽ biết yêu thương từ những điều nhỏ nhặt nhất hình thành trái tim nhân ái, lòng trắc ẩn.
+ Trân trọng những điều bình dị là bước đệm để con người đi tới và trân trọng những điều lớn lao hơn trong cuộc sống.
+ Người biết trân trọng những điều bình dị đôi khi nhận lại được rất nhiều giá trị.
…….
- Liên hệ:
+ Con người nên học cách sống chậm lại, quan sát và cảm nhận thiên nhiên con người, biết yêu thương quý trọng tất cả từ những điều nhỏ nhặt nhất.
+ Tránh thói quen sống vội mà quên đi mất những điều ý nghĩa luôn tồn tại quanh mình.
Câu 3:
|
Phân tích một trong hai đoạn trích sau để thấy được vẻ đẹp của tỉnh đồng chí, đồng đội. Anh với tôi biết tưng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cuối buốt giá Chân không giầy Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
Học sinh lựa chọn 1 trong 2 đoạn và làm theo yêu cầu đề bài.
1. Mở bài
- Giới thiệu chung về tác giả và tác phẩm.
- Giới thiệu nội dung đoạn thơ cần phân tích: vẻ đẹp tình đồng chí, đồng đội.
2. Thân bài
* Là sự đồng cam, cộng khổ trong cuộc đời người lính:
- Đó là những cơn sốt rét rừng đã từng cướp đi bao sinh mạng, từng là nỗi ám ảnh đè nặng lên cuộc đời người lính. Cách nói “anh với tôi” một lần nữa cho thấy câu thơ không chỉ tả hình ảnh người lính bị cơn sốt rét rừng hành hạ mà còn gợi tình cảm đồng chí, đồng đội khi gian khổ đến cùng cực “sốt run người” vẫn quan tâm, lo lắng cho nhau.
- Đó còn là cái hiện thực thiếu thốn, khó khăn, gian khổ của cuộc đời người lính. Họ đã sống trong hoàn cảnh nghèo nàn về vật chất: thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu thuốc men…nhưng họ vượt lên tất cả nhờ sức mạnh của tình đồng chí.
- Đó còn là những khắc nghiệt của khí hậu núi rừng -> họ vượt lên nhờ tinh thần lạc quan cách mạng, sự ấm áp của tình đồng chí.
* Là niềm yêu thương, gắn bó sâu nặng họ dành cho nhau.
- Hình ảnh “tay nắm bàn tay”:
+ Chất chứa bao yêu thương trìu mến.
+ Sẵn lòng chia sẻ khó khăn.
+ Chứa đựng cả những khao khát bên người thân yêu.
=> Chính tình đồng chí chân thành, cảm động và sâu sắc đã nâng đỡ bước chân người lính và sưởi ấm tâm hồn họ trên mọi nẻo đường chiến đấu.
* Sức mạnh và vẻ đẹp của tình đồng chí:
- Được xây dựng trên nền một hoàn cảnh khắc nghiệt:
+ Thời gian, không gian: rừng đêm hoang vu, lạnh lẽo.
+ Không khí căng thẳng trước một trận chiến đấu. Trước mắt họ là cả những mất mát, hi sinh không thể tránh khỏi.
-> Tâm hồn họ vẫn bay lên với hình ảnh vầng trăng nơi đầu súng (thanh thản kì lạ)
-> Họ vẫn xuất hiện trong tư thế điềm tĩnh, chủ động “chờ giặc tới”.
=> Nhờ tựa vào sức mạnh của tinh thần đồng đội. Họ “đứng cạnh bên nhau” và trở thành một khối thống nhất không gì lay chuyển nổi.
- Được biểu hiện qua một hình ảnh thơ độc đáo, đầy sáng tạo: “Đầu súng trăng treo”:
+ Vốn là một hình ảnh thơ được cảm nhận từ thực tiễn chiến đấu.
+ Song hình ảnh này mang nhiều ý nghĩa biểu tượng phong phú:
Gợi liên tưởng: chiến tranh - hòa bình, hiện thực - ảo mộng, kiên cường – lãng mạn, chất chiến sĩ – chất thi sĩ.
Gợi vẻ đẹp của tình đồng chí snags trong, sâu sắc. sự xuất hiện của vầng trăng là một bằng chứng về sức mạnh kì diệu của tình đồng đội. Tình cảm ấy giúp tâm hồn người lính bay lên giữa lúc gay go, khốc liệt của chiến tranh.
Gợi vẻ đẹp của tâm hồn người lính – một tâm hồn luôn trong trẻo, tươi mát dẫu phải băng qua lửa đạn chiến tranh.
Gợi vẻ đẹp tâm hồn dân tộc Việt Nam – một bàn tay giữ chắc cây súng mà trái tim luôn hướng đến những khát vọng thanh bình.
3. Kết bài
- Nội dung: Bài thơ thể hiện chân thực, cảm động một tình cảm lớn mang tính thời đại, đó là tình đồng chí bền chặt, thiêng liêng của những người lính cách mạng. Qua đó tác giả đã khắc họa thành công hình ảnh người lính thời kì đầu chống Pháp.
- Nghệ thuật: Lối miêu tả chân thực, tự nhiên; từ ngữ, hình ảnh giản dị và giàu sức gợi, cảm xúc dồn nén.
Đề thi vào 10 môn Văn Đà Nẵng năm 2020
Đề bài
Câu 1. (2,0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Sức mạnh của lời nói
Malcolm Dalkoff là một cậu bé nhút nhát, dễ bị tổn thương. Cậu có rất ít bạn và luôn phải lủi thủi một mình. Một lần, cô giáo đọc cho cả lớp một đoạn truyện ngắn “Loài vật là bạn thân của con người”, sau đó phân công mỗi học sinh tự viết đoạn kết cho câu chuyện. Dalkoff thích lắm, ngay chiều hôm ấy cậu đã hoàn thành bài viết của mình. Nhưng mãi cậu mới có đủ tự tin đem nộp truyện của mình cho cô giáo vào buổi học tuần sau. Những gì cậu viết cũng như điểm số mà cô giáo đã cho không hề quan trọng. Đối với Dalkof, điều quan trọng nhất mà cũng là điều cậu nhớ nhất lại chính là bốn chữ Cô giáo đã phê: “Em viết hay lắm". Chỉ bốn chữ mà cũng đủ để thay đổi toàn bộ cuộc đời cậu bé. Trước khi nhận được bốn chữ đó, cậu chưa bao giờ có khái niệm về bản thân hay những điều mình đã làm. Còn sau buổi học hôm ấy, cậu đã chạy thật nhanh về nhà, ngồi ngay vào bàn và bắt đầu viết một câu chuyện ngắn, một câu chuyện về tất cả những điều cậu đã từng mơ tới và không bao giờ dám nghĩ mình có thể biến những giấc mơ đó thành hiện thực. Cậu viết ngày càng nhiều hơn và cử được một chuyện cậu lại mang ngay tới cho cô giáo của mình nhận xét. “Cô ấy đúng là một cô giáo tuyệt vời!"
Nhiều năm trôi qua, Malcolm Dalkoff đã trở thành một nhà văn nổi tiếng thay cho cậu bé Malcolm Dalkoff tự ti ngày nào. Cậu trở về thăm trường cũ và thăm lại cô giáo ngày xưa của mình. Điều cậu phải cảm ơn cô không phải vì Cô đã trở thành một người bạn của cậu mà chính là bốn chữ đầu tiên cô đã từng phê: “Em viết hay lắm!", bởi những chữ ấy đã có thể thay đổi cả một cuộc đời.
(Nhiều tác giả, Trái tim có điều kỳ diệu, Nhà xuất bản Trẻ, 2002)
a) Hãy cho biết các từ ngữ được gạch chân thực hiện phép liên kết nào? (0,5 điểm)
b) Tìm khởi ngữ trong câu: Đối với Dalkof, điều quan trọng nhất mà cũng là điều cậu nhớ nhất lại chính là bốn chữ cô giáo đã phê: “Em viết hay lắm!”. (0,5 điểm)
c) Vì sao lời phê của cô giáo: “Em viết hay lắm!" đã làm thay đổi toàn bộ cuộc đời Malcolm Dalkof? (0,5 điểm)
d) Em có đồng tình với điều mà Malcolm Dalkoff nghĩ về cô giáo của mình: “Cô ấy đúng là một cô giáo tuyệt vời!" không? Vì sao? (0,5 điểm)
Câu 2. (3,0 điểm)
Viết một đoạn văn hoặc bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của lời khen trong cuộc sống.
Câu 3. (5,0 điểm)
Cảm nhận của em về tình bà cháu trong hai đoạn thơ sau:
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gây
Chỉ nhớ khỏi hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay !
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tinh tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa !
(Bằng Việt, Bếp lửa, Ngữ văn 9, Tập một, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2020)
Lời giải chi tiết
Câu 1
|
a) Hãy cho biết các từ ngữ được gạch chân thực hiện phép liên kết nào? (0,5 điểm) b) Tìm khởi ngữ trong câu: Đối với Dalkof, điều quan trọng nhất mà cũng là điều cậu nhớ nhất lại chính là bốn chữ cô giáo đã phê: “Em viết hay lắm!”. (0,5 điểm) c) Vì sao lời phê của cô giáo: “Em viết hay lắm!" đã làm thay đổi toàn bộ cuộc đời Malcolm Dalkof? (0,5 điểm) d) Em có đồng tình với điều mà Malcolm Dalkoff nghĩ về cô giáo của mình: “Cô ấy đúng là một cô giáo tuyệt vời!" không? Vì sao? (0,5 điểm) |
a)
Phương pháp: căn cứ bài Liên kết câu và đoạn văn
Cách giải:
Các từ ngữ được gạch chân thực hiện phép liên kết: phép thế.
b)
Phương pháp: Căn cứ bài Khởi ngữ
Cách giải:
Khởi ngữ: Đối với Dalkolf
c)
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Lời phê của cô giáo: “Em viết hay lắm!” đã làm thay đổi toàn bộ cuộc đời của Malcolm Dalkoft vì:
- Thể hiện sự công nhận đối với những việc làm tốt của Malcolm Dalkoft.
- Lời động viên, khích lệ, truyền cho Malcolm Dalkoft niềm tin vào khả năng của chính mình.
d)
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
Học sinh đưa ra quan điểm riêng của mình.
Gợi ý: Đồng tình. Vì:
- Cô giáo đã truyền cho Malcolm Dalkoft cảm hứng để cậu bé tiếp tục làm những điều mình thích, tin tưởng vào năng lực của mình.
- Cô dành tình yêu thương và sự quan tâm tới một học trò đặc biệt.
Câu 2
| Viết một đoạn văn hoặc bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của lời khen trong cuộc sống |
1. Giới thiệu vấn đề: ý nghĩa lời khen trong cuộc sống.
2. Giải thích vấn đề:
- Lời khen là những ngôn ngữ thể hiện sự đánh giá tốt, vừa lòng về một người, sự vật hay hành động nào đó.
=> Lời khen có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống con người.
3. Phân tích, bàn luận vấn đề
- Ý nghĩa của lời khen trong cuộc sống:
+ Lời khen thể hiện sự công nhận của ai đó về một việc làm có ảnh hưởng tích cực của người nào đó. Việc biết công nhận thành quả của người khác thể hiện người khen ngợi là một người hiểu biết và biết chia sẻ.
+ Lời khen là lời động viên, truyền cảm hứng cho người được khen ngợi.
+ Lời khen chân thành giúp cho người được khen ngợi có động lực để cống hiến, tin tưởng vào khả năng của mình.
- Những trường hợp xứng đáng được khen ngợi:
+ Trẻ con có thành tích học tập tốt, vâng lời cha mẹ, giúp đỡ người già,…
+ Ai đó hoàn thành công việc xuất sắc so với khả năng của họ
…
- Phân biệt khen ngợi chân thành với nịnh hót.
- Phê phán những người không bao giờ biết khen ngợi người khác.
4. Liên hệ bản thân và tổng kết
Câu 3
|
Cảm nhận của em về tình bà cháu trong hai đoạn thơ sau: Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gây Chỉ nhớ khỏi hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay ! Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tinh tuổi nhỏ Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa ! |
1. Giới thiệu chung
Tác giả:
- Nhà thơ Bằng Việt tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng.
- Sinh năm 1941, quê ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Bằng Việt làm thơ từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX và thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
- Phong cách sáng tác: Thơ Bằng Việt thường nghiêng về một lời tâm sự, một sự trao đổi suy nghĩ, gây được cảm giác gần gũi, thân thiết đối với người đọc. Thơ ông thường sâu lắng, trầm tư thích hợp với người đọc thơ trong sự trầm tĩnh, vắng lặng.
- Giải thưởng: Tác giả đã được nhận giải nhất văn học – nghệ thuật Hà Nội năm 1967 với bài thơ “Trở lại trái tim mình”; giải thưởng chính thức về dịch thuật văn học quốc tế và phát triển giao lưu văn hóa quốc tế do Quỹ Hòa Bình (Liên Xô) trao tặng năm 1982.
Tác phẩm:
- Bài thơ được sáng tác năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học ngành luật ở nước ngoài.
- Bài thơ được đưa vào tập “Hương cây – Bếp lửa” (1968), tập thơ đầu tay của Bằng Việt in chung với Lưu Quang Vũ.
- Đoạn thơ nói lên những suy nghĩ của cháu về bà.
2. Phân tích, cảm nhận
Những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà và bếp lửa:
- Lên 4 tuổi: là những kỉ niệm đầu tiên khi cháu bắt đầu biết nhớ.
- Đó là một tuổi thơ: Có bóng đen ghê rợn của nạn đói: “đói mòn đói mỏi”, “khô rạc ngựa gầy”, “khói hun nhèm mắt” => khung cảnh ảm đạm, nỗi ám ảnh đã từng đè nặng nhiều cuộc đời trong quá khứ.
=> Đó cũng là hoàn cảnh chung của biết bao trẻ em sinh ra trong những năm tháng kháng chiến nhiều gian khổ, hi sinh.
- Khi ấy, cháu cùng bà nhóm lửa, khói hun nhèm mắt, chính cái mùi khói ấy đã xua đi cái mùi tử khí trên khắp các ngõ ngách làng quê và cũng chính cái mùi khói ấy đã in sâu, quện chặt tâm hồn người cháu để rồi dù năm tháng có trôi qua, dấu ấn tuổi thơ ấy vẫn chẳng thể phai nhòa “nghĩ lại bây giờ sống mũi còn cay”là mùi khó hay chính tại bởi sự xúc động nghẹn ngào khiến tác giả cay nơi đầu sống mũi. Hoài niệm ấy đã xóa nhòa khoảng cách thời gian khiến quá khứ như đồng hiện trong hiện tại
Suy ngẫm về cuộc đời bà và bếp lửa:
- Suốt một đời lận đận, vất vả, bà đã và vẫn đang làm công việc nhóm lửa:
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”
+ Từ láy “lận đận” với điệp từ “nắng mưa” nhấn mạnh cháu chưa từng và chẳng thể nào quên cuộc đời bà, một cuộc đời đầy lo toan, vất vả.
+ Khôn lớn trưởng thành, cháu càng thấu hiểu những ý nghĩa cao cả, thiêng liêng từ một công việc rất đỗi bình dị của bà: nhóm lửa. Điệp từ nhóm điệp lại 4 lần với hai lớp nghĩa. Bà đã làm công việc khởi đầu của một ngày: nhóm bếp lửa mỗi sớm mai và làm công việc khởi đầu của một đời, đó là bồi đắp tâm hồn, thắp lên những tình cảm cao quý. Từ “nhóm” thứ nhất hiểu theo nghĩa thực: thắp lên ngọn lửa trong gian bếp để sưởi ấm, để nấu chín thức ăn.... Ba từ “nhóm” sau được hiểu theo nghĩa ẩn dụ: bà truyền cho cháu tình yêu thương ruột thịt, tình đoàn kết chia sẻ xóm làng và đặc biệt hơn bà đã khơi dậy những tâm tình tuổi nhỏ, thức tỉnh trong tâm hồn cháu biết bao ước mơ và tình cảm tốt đẹp
=> Như vậy đến đây ta thấy bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa. Ngọn lửa của tình yêu, của niềm tin, đức hi sinh không chỉ bà truyền cho cháu mà còn là của những thế hệ đi trước tiếp lửa cho thế hệ sau
- Khám phá ra những ý nghĩa kì diệu, cao cả, thiêng liêng từ bếp lửa của bà, cháu sung sướng thốt lên:
“Ôi kì lạ và thiêng liêng bếp lửa”
Phép đảo ngữ, câu cảm thán với từ “ôi” đặt ở đầu câu bôc lộ sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng, và vui sướng của cháu. Bếp lửa ấy luôn hiện diện cùng bà, tỏa sáng vẻ đẹp của bà. Đứa cháu nhỏ cảm thấy thật bất ngờ khi phát hện được những điều kì diệu thiêng liêng từ những thứ bình thường, giản dị. Cháu nhớ về bà, nhớ về Bếp lửa cũng chính là nhớ về quê hương, cội nguồn với tấm lòng tri ân sâu nặng.
3. Tổng kết vấn đề
- Giá trị nội dung: Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp lửa” gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của cháu đối với bà, cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.
- Giá trị nghệ thuật: Bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với miêu tả, tự sự và bình luận. Thành công của bài thơ còn ở sự sáng tạo hình ảnh “bếp lửa” gắn liền với hình ảnh người bà, làm điểm tựa, khơi gợi một kỉ niệm, cảm xúc, suy nghĩ về bà và tình bà cháu.
Đề thi vào 10 môn Văn Đà Nẵng năm 2019
Đề bài
Câu 1 (2,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Vầng trăng quê em
Vầng trăng vàng thắm đang từ từ nhô lên sau lũy tre làng (1). Làn gió nồm nam thổi mát rượi (2). Trăng óng ánh trên hàm răng, trăng đậu vào đáy mắt (3). Trăng ôm ấp mái tóc bạc của các cụ già (4).
Khuya (5). Làng quê em đã vào giấc ngủ (6). Chỉ có vầng trăng vẫn thao thức như canh gác trong đêm (7).
(Theo Phan Sĩ Châu, Tiếng Việt 3, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019)
a. Hãy cho biết các từ được gạch chân thực hiện phép liên kết gì? (0,5 điểm)
b. Xác định phần trung tâm của cụm từ mái tóc bạc của cụ già. Cho biết đây là cụm danh từ, cụm động từ, hay cụm tính từ? (0,5 điểm)
c. Tìm câu đặc biệt (0,5 điểm)
d. Xác định biện pháp tu từ từ vựng được sử dụng trong câu (7) (0,5 điểm)
Câu 2. (3,0 điểm)
Viết một đoạn văn hoặc bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của lời chào trong giao tiếp hằng ngày.
Câu 3: (5.0 điểm)
Phân tích sự thay đổi tâm trạng của bé Thu trong hai đoạn trích sau:
(...) Trong bữa cơm đó, anh Sáu gắp một cái trứng cá to vàng để vào chén nó. Nó lấy đũa xoi vào chén, để đó rồi bất thần hất cái trứng ra, cơm văng tung tóe cả mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ, anh vung tay đánh vào mông nó và hét lên:
- Sao mày cứng đầu quá vậy, hả?
Tôi tưởng con bé sẽ lăn ra khóc, sẽ giẫy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt đi. Nhưng không, nó ngồi im, dầu cúi gầm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa, gắp lại cái trứng để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm. Xuống bến, nó nhảy xuống xuồng, mời lòi tói cố làm cho dây lòi tói khua rộn ràng, khua thật to, rồi lấy dầm bơi qua sông. Nó sang qua nhà ngoại, mét với ngoại và khóc ở bên ấy. Chiều đó, mẹ nó sang dỗ dành mấy nó cũng không về.
Và
(...) Trong lúc đó, nó vẫn ôm chặt lấy ba nó, không ghìm được xúc động và không muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con:
- Ba đi rồi ba về với con.
- Không! - Con bé hét lên, hai tay nó siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi cấu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ của nó run lên.
Nhìn cảnh ấy, bà con xung quanh có người không cầm được nước mắt, còn tôi bỗng thấy khó thở như có bàn tay ai nắm lấy trái tim tôi.
(Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà, Ngữ Văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019)
Lời giải chi tiết
Câu 1
|
a. Hãy cho biết các từ được gạch chân thực hiện phép liên kết gì? (0,5 điểm) b. Xác định phần trung tâm của cụm từ mái tóc bạc của cụ già. Cho biết đây là cụm danh từ, cụm động từ, hay cụm tính từ? (0,5 điểm) c. Tìm câu đặc biệt (0,5 điểm) d. Xác định biện pháp tu từ từ vựng được sử dụng trong câu (7) (0,5 điểm) |
a.
Phương pháp: căn cứ các phép liên kết đã học
Cách giải:
Phép liên kết được sử dụng là: phép lặp
b.
Phương pháp: căn cứ bài Cụm danh từ
Cách giải:
- Phần trung tâm của cụm từ “mái tóc bạc của các cụ già” là : mái tóc
- Đây là cụm danh từ
c.
Phương pháp: căn cứ bài Câu đặc biệt
Cách giải:
Câu đặc biệt là câu 5: Khuya
d.
Phương pháp: căn cứ các biện pháp nghệ thuật đã học
Cách giải:
Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu 7:
- nhân hóa: thao thức
- so sánh : vầng trăng vẫn thao thức như canh gác trong đêm
Câu 2
|
Viết một đoạn văn hoặc bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của lời chào trong giao tiếp hằng ngày. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu luận đề
2. Giải thích luận đề
- Lời chào là “phương tiện” trong cách ứng xử giao tiếp xã hội, nhằm để làm quen, duy trì mối quan hệ gắn bó, đoàn kết, tương thân tương ái giữa con người với con người trong một tập thể, cộng đồng.
3. Bàn luận vấn đề
- Vai trò của lời chào:
+ Lời chào là một hình thức khởi đầu một cuộc trò chuyện trong giao tiếp.
+ Lời chào thể hiện thái độ trân trọng, cung kính và thân thiết của mình đối với người khác.
+ Trong đời sống, lời chào như một hình thức xã giao để bắt đầu một cuộc nói chuyện được tự nhiên, lịch sự, cởi mở. Người vai dưới gặp người vai trên mà không biết chào hỏi là bất kính. Người vai trên không đáp lại lời chào của người vai dưới là thiếu lịch sự, hách dịch, khinh người.
+ Lời chào khẳng định phẩm chất tốt đẹp của con người. Nó thể hiện sự tôn trọng của bản thân đối với người khác. Nó giúp ta xác định rõ ràng vị trí mỗi người trong giao tiếp. Từ đó, thực hiện các hoạt động giao tiếp một cách đúng đắn, hiệu quả và đúng mực. Người nhận được lời chào cũng cảm thấy mình cảm được tôn trọng, vui vẻ, hạnh phúc.
+ Lời chào còn có giá trị to lớn trong truyền thống văn hóa dân tộc (lời chào cao hơn mâm cỗ).
- Khái quát lại vấn đề: một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của lời chào.
4. Liên hệ bản thân
Câu 3
|
Phân tích sự thay đổi tâm trạng của bé Thu trong hai đoạn trích sau: (...) Trong bữa cơm đó, anh Sáu gắp một cái trứng cá to vàng để vào chén nó. Nó lấy đũa xoi vào chén, để đó rồi bất thần hất cái trứng ra, cơm văng tung tóe cả mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ, anh vung tay đánh vào mông nó và hét lên: - Sao mày cứng đầu quá vậy, hả? Tôi tưởng con bé sẽ lăn ra khóc, sẽ giẫy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt đi. Nhưng không, nó ngồi im, dầu cúi gầm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa, gắp lại cái trứng để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm. Xuống bến, nó nhảy xuống xuồng, mời lòi tói cố làm cho dây lòi tói khua rộn ràng, khua thật to, rồi lấy dầm bơi qua sông. Nó sang qua nhà ngoại, mét với ngoại và khóc ở bên ấy. Chiều đó, mẹ nó sang dỗ dành mấy nó cũng không về. Và (...) Trong lúc đó, nó vẫn ôm chặt lấy ba nó, không ghìm được xúc động và không muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con: - Ba đi rồi ba về với con. - Không! - Con bé hét lên, hai tay nó siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi cấu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ của nó run lên. Nhìn cảnh ấy, bà con xung quanh có người không cầm được nước mắt, còn tôi bỗng thấy khó thở như có bàn tay ai nắm lấy trái tim tôi. (Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà, Ngữ Văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
- Về hình thức: đáp ứng yêu cầu hình thức một bài văn: có 3 phần (MB, TB, KB)
- Về nội dung: Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, miễn sao có thể thấy được sự thay đổi trong hành động, ý thức của bé Thu trong tình cảm, hành xử đối với người cha của minh.
Sau đây là gợi ý dàn bài chi tiết:
1. Mở bài:
- Dẫn dắt.
- Giới thiệu về tác giả Nguyễn Quang Sáng, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm "Chiếc lược ngà".
- Giới thiệu về nhân vật bé Thu, giới thiệu 2 đoạn trích.
2. Thân bài:
- Giới thiệu khái quát về hoàn cảnh của hai cha con: Anh Sáu đi kháng chiến chống Pháp từ khi đứa con duy nhất của anh chưa đầy một tuổi. Từ đó hai ba con chưa hề gặp lại nhau, cho đến khi anh được nghỉ phép ba ngày, anh đã trở vể thăm gia đình, nhưng đứa con gái tám tuổi không chịu nhận ba.
Đoạn 1:
- Tình cách rắn rỏi, bướng bỉnh, ngang bướng rất trẻ con của bé Thu được thể hiện trong đoạn văn thứ nhất: "Trong bữa cơm đó.... nó cũng không về".
+ Hất đổ cả chén cơm khi anh Sáu gắp cho nó cái trứng cá. Bị ba đánh, tưởng đâu "con bé sẽ lăn ra khóc, sẽ giẫy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt đi. Nhưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa, gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm." => Hình ảnh một đứa trẻ gan góc, lì lợm.
+ "Nhảy xuống xuồng, mở lòi tói cố làm cho dây lòi tói khua rộn ràng, khua thật to" => tính cách trẻ con, hình ảnh của một đứa trẻ lúc giận dỗi được khắc họa rất tinh tế với chỉ một chi tiết nhỏ.
+ "Nó sang nhà bà ngoại và khóc ở bên đấy" => dù gan lì và bướng bỉnh nhưng bởi Thu vẫn còn là một đứa trẻ nên vẫn có những hành động mè nheo khóc nhè.
=> Bé Thu là một đứa bé gan góc, có cá tính mạnh mẽ, thà sang nhà ngoại khóc thật to nhưng khi đứng trước mặt ông Sáu - người mà bé đang căm ghét thì lầm lì, im lặng trông như nét hờn dỗi của người lớn. Nhưng suy cho cùng, Thu vẫn là một đứa bé nên vẫn có những hành động trẻ con để thể hiện nỗi bực dọc của mình. Bên cạnh đó, hành động quyết liệt của bé Thu cũng thể hiện tình yêu thương cha mãnh liệt, bé kiên quyết cự tuyệt ông Sáu vì ông không giống bức hình trong ảnh, trên mặt ông có vết thẹo dài. Chính yếu tố đó vừa thể hiện tình yêu thương cha vừa thể hiện cá tính mạnh mẽ của bé Thu.
=> Nguyễn Quang Sáng đã rất tinh tế, tài tình khi khắc họa được hình ảnh của bé Thu đa chiều và sâu sắc như thế chỉ trong một hành động nhỏ.
Đoạn 2:
- Tình yêu thương ba vô bờ bến đươc thể hiện ở đoạn văn thứ hai "Trong lúc đó....nắm lấy trái tim tôi"
+ Bé Thu bướng bỉnh bao nhiêu, lì lợm gan góc bao nhiêu thì lại bởi bé thương ba của mình bấy nhiêu: "Con bé hét lên, hai tay nó siết lấy chặt cổ....và đôi vai nhỏ bé của nó run run"
=> Những cái ôm như cố gắng để chặt nhất có thể, như để bù đắp cho những tháng ngày xa lánh ba của mình, những cái ôm cuối cùng như để lấp đi tất thảy những khoảng trống của tình ba - con trong những ngày tháng vừa qua.
=> Đoạn văn là những gì xúc động nhất, sâu lắng nhất về tình cảm mà bé Thu dành cho ba của mình
- Hai đoạn văn đã cho thấy được sự thay đổi trong tâm lý của nhân vật bé Thu đối với người cha của mình. Nếu như đoạn trên, bé Thu xa lánh, xù lông với ba mình bao nhiêu thì đoạn 2 lại thấy được sự gần gũi không còn khoảng trống của tình cảm mà Thu dành cho người ba của mình. Đoạn 1 bé Thu lì lợm bướng bỉnh bao nhiêu thì đoạn 2, bé Thu lại trở nên nhẹ nhàng, tình cảm bấy nhiêu
- Hai đoạn trích cũng cho thấy được sự tài tình trong miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật, đặc biệt là tâm lý của trẻ con của nhà văn: tinh tế, sâu sắc.
3. Kết bài: Khái quát suy nghĩ, cảm nhận của bản thân về nhân vật bé Thu và truyện ngắn Chiếc lược ngà.
Đề thi vào 10 môn Văn Đà Nẵng năm 2018
Đề bài
Câu 1: (2.0 điểm)
Trời cao lồng lộng, đồng ruộng mênh mông hãy lẵng nghe tiếng hát giữa trời cao của trúc, của tre.
“Tre già măng mọc”. Măng mọc trên phù hiệu ở ngực thiếu nhi Việt Nam, lứa măng non của đất nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Các em, các em rồi đây sẽ lớn lên, sẽ quen dần với sắt, thép, xi măng cốt sắt.
Nhưng, nứa, tre sẽ còn mãi với các em, còn mãi với dân tộc Việt Nam,…
(Trích Cây tre Việt Nam, Thép Mới, Ngữ văn 6, tập hai)
a. Đọc đoạn trích trên, hãy xác định:
- Từ láy (0.5 điểm)
- Thành ngữ (0.5 điểm)
- Khởi ngữ (0.5 điểm)
b. Từ măng trong lứa măng non được dùng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển (0.5 điểm)
Câu 2: (3.0 điểm)
Con chim sẻ nhỏ chết rồi
Chết trong đêm cơn bão về gần sáng.
Đêm ấy tôi nằm trong chăn nghe cánh chim đập cửa
Sự ấm áp gối chăn đã giữ chặt tôi
Và tôi ngủ ngon lành đến lúc bão vơi.
(Trích Tiếng vọng, Nguyễn Quang Thiều, Tiếng Việt 5, tập một)
Trong đoạn thơ trên tác giả nói về sự việc gì? Em hãy viết một đoạn văn hoặc bài văn ngắn trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của sự việc đó.
Câu 3: (5.0 điểm)
Cảm nhận của em về đoạn trích sau:
- Trời ơi, chỉ còn có năm phút!
Chính là anh thanh niên giật mình nói to, giọng cười nhưng đầy tiếc rẻ. Anh chạy ra nhà phía sau, rồi trở vào liền, tay anh cầm một cái làn. Nhà họa sĩ tặc lưỡi đứng dậy. Cô gái cũng đứng lên, đặt lại chiếc ghế, thong thả đi đến chỗ bác già.
- Ô! Cô còn quên chiếc mùi soa đầy này!
Anh thanh niên vừa vào, kêu lên, để người con gái khỏi trở lại bàn, anh lất chiếc khăn tay còn vo tròn giữa cuốn sách tới trả cho cô gái. Cô kĩ sư mặt đỏ ửng, nhận lại chiếc khăn và quay vội đi.
- Chào anh. – Đến bậu cửa, bỗng nhà họa sĩ già quay lại chụp lấy tay người thanh niên lắc mạnh. – Chắc chắn rồi tôi sẽ trở lại. Tôi ở với anh ít hôm được chứ?
Đến lượt cô gái từ biệt. Cô chìa tay ra cho anh nắm, cẩn trọng, rõ ràng như người ta cho nhau cái gì chử không phải là cái bắt tay. Cô nhìn thẳng vào mắt anh – những người con gái sắp xa ta, biết không bao giờ gặp ta nữa, hay nhìn ta như vậy.
- Chào anh.
Lần đầu, chính là anh thanh niên quay mặt đi. Anh ấn cái làn vào tay bác già và nói vội vã:
- Cái này để ăn trưa cho bác, cho cô và bác lái xe. Cháu có bao nhiêu là trứng, ăn không xuể. Cháu không tiễn bác và cô r axe được vì gần tới giờ “ốp” rồi. Thôi chào bác, chào cô. Bác sẽ trở lại nhé.
Hai ông con theo bậc cấp bước xuống đồi, đến mặt đường nhìn lê, không thấy người con trai đứng đấy nữa. Anh ta đã vào nhà trong. Ông xách cái làn trứng, cô ôm bó hoa to. Lúc bấy giờ, nắng đã mạ bạc cả con đèo, đốt cháy rừng cây hừng hực như một bó đuốc lớn. Nắng chiếu làm cho bó hoa càng thêm rực rỡ và làm cho cô gái cảm thấy mình rực rỡ theo. Hai người lững thững đi về phía chiếc xe đỗ, im lặng rất lâu. Bỗng bác già nhìn đồng hồ nói một mình:
- Thanh niên bây giờ lạ thật! Các anh chị như con bướm. Mà đã mười một giờ, đến giờ “ốp” đâu? Tại sao anh ta không tiễn mình đến tận xe nhỉ?
Cô gái liếc nhìn bác già một cái rất nhanh, tự nhiên hồi hộp, nhưng vẫn im lặng.
(Trích Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, tập một)
Lời giải chi tiết
Câu 1
|
Trời cao lồng lộng, đồng ruộng mênh mông hãy lẵng nghe tiếng hát giữa trời cao của trúc, của tre. “Tre già măng mọc”. Măng mọc trên phù hiệu ở ngực thiếu nhi Việt Nam, lứa măng non của đất nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các em, các em rồi đây sẽ lớn lên, sẽ quen dần với sắt, thép, xi măng cốt sắt. Nhưng, nứa, tre sẽ còn mãi với các em, còn mãi với dân tộc Việt Nam,… (Trích Cây tre Việt Nam, Thép Mới, Ngữ văn 6, tập hai) a. Đọc đoạn trích trên, hãy xác định: - Từ láy (0.5 điểm) - Thành ngữ (0.5 điểm) - Khởi ngữ (0.5 điểm) b. Từ măng trong lứa măng non được dùng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển (0.5 điểm) |
Phương pháp giải:
a. Căn cứ nội dung các bài: Từ láy, Thành ngữ, Khởi ngữ
b. Căn cứ nội dung bài Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ
Cách giải:
a.
- Từ láy: lồng lộng, mênh mông.
- Thành ngữ: tre già măng mọc
- Khởi ngữ: Các em
b.
- Từ “măng” trong “lứa măng non” được dùng theo nghĩa chuyển.
Câu 2
| Con chim sẻ nhỏ chết rồi
Chết trong đêm cơn bão về gần sáng. Đêm ấy tôi nằm trong chăn nghe cánh chim đập cửa Sự ấm áp gối chăn đã giữ chặt tôi Và tôi ngủ ngon lành đến lúc bão vơi. (Trích Tiếng vọng, Nguyễn Quang Thiều, Tiếng Việt 5, tập một) Trong đoạn thơ trên tác giả nói về sự việc gì? Em hãy viết một đoạn văn hoặc bài văn ngắn trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của sự việc đó. |
Phương pháp giải:
Phân tích, lí giải, tổng hợp
Cách giải:
1. Giải thích
- Vô cảm: là một trạng thái tinh thần mà ở đó con người không có tình cảm, cảm xúc nhân bản trước bất kì sự vật hiện tượng nào diễn ra xung quanh họ. Họ sống ích kỉ, lành lùng, trái tim băng giá, thờ ơ trước những người gặp bất hạnh, không quan tâm đễn những xấu xa xung quanh mình
2. Bàn luận, chứng minh
- Căn bệnh vô cảm xuất hiện ngày càng nhiều, trở thành một vấn nạn trong xã hội.
- Biểu hiện:
+ Không quan tâm giúp đỡ những người xung quanh.
+ Chỉ lo nghĩ cho lợi ích bản thân
(Dẫn chứng cụ thể)
- Nguyên nhân của sự vô cảm:
+ Lối sống thực dụng của nên kinh tế hiện đại.
+ Sự ích kỉ trong lòng mỗi người, sợ vạ lây,…
+ Ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, với ứng dụng hiện đại đã ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng đến giới trẻ.
+ ….
- Hệ quả:
+ Nhân cách con người phát triển lệch lạc.
+ Sự thờ ơ vô cảm dẫn đến cái xấu, cái ác lên ngôi, xã hội rối loạn.
- Biện pháp:
+ Luôn mở lòng, yêu thương những người xung quanh, yêu thương mà không đòi hỏi nhận lại.
+ Biện pháp giáo dục đúng đắn.
3. Mở rộng và liên hệ bản thân
- Bên cạnh đó vẫn có những người luôn quan tâm, yêu thương, giúp đỡ những người xung quanh.
- Yêu thương, giúp đỡ mọi người khiến cuộc sống của mỗi người trở nên đẹp đẽ và ý nghĩa hơn.
- Liên hệ bản thân
Câu 3
|
Cảm nhận của em về đoạn trích sau: - Trời ơi, chỉ còn có năm phút! Chính là anh thanh niên giật mình nói to, giọng cười nhưng đầy tiếc rẻ. Anh chạy ra nhà phía sau, rồi trở vào liền, tay anh cầm một cái làn. Nhà họa sĩ tặc lưỡi đứng dậy. Cô gái cũng đứng lên, đặt lại chiếc ghế, thong thả đi đến chỗ bác già. - Ô! Cô còn quên chiếc mùi soa đầy này! Anh thanh niên vừa vào, kêu lên, để người con gái khỏi trở lại bàn, anh lất chiếc khăn tay còn vo tròn giữa cuốn sách tới trả cho cô gái. Cô kĩ sư mặt đỏ ửng, nhận lại chiếc khăn và quay vội đi. - Chào anh. – Đến bậu cửa, bỗng nhà họa sĩ già quay lại chụp lấy tay người thanh niên lắc mạnh. – Chắc chắn rồi tôi sẽ trở lại. Tôi ở với anh ít hôm được chứ? Đến lượt cô gái từ biệt. Cô chìa tay ra cho anh nắm, cẩn trọng, rõ ràng như người ta cho nhau cái gì chử không phải là cái bắt tay. Cô nhìn thẳng vào mắt anh – những người con gái sắp xa ta, biết không bao giờ gặp ta nữa, hay nhìn ta như vậy. - Chào anh. Lần đầu, chính là anh thanh niên quay mặt đi. Anh ấn cái làn vào tay bác già và nói vội vã: - Cái này để ăn trưa cho bác, cho cô và bác lái xe. Cháu có bao nhiêu là trứng, ăn không xuể. Cháu không tiễn bác và cô r axe được vì gần tới giờ “ốp” rồi. Thôi chào bác, chào cô. Bác sẽ trở lại nhé. Hai ông con theo bậc cấp bước xuống đồi, đến mặt đường nhìn lê, không thấy người con trai đứng đấy nữa. Anh ta đã vào nhà trong. Ông xách cái làn trứng, cô ôm bó hoa to. Lúc bấy giờ, nắng đã mạ bạc cả con đèo, đốt cháy rừng cây hừng hực như một bó đuốc lớn. Nắng chiếu làm cho bó hoa càng thêm rực rỡ và làm cho cô gái cảm thấy mình rực rỡ theo. Hai người lững thững đi về phía chiếc xe đỗ, im lặng rất lâu. Bỗng bác già nhìn đồng hồ nói một mình: - Thanh niên bây giờ lạ thật! Các anh chị như con bướm. Mà đã mười một giờ, đến giờ “ốp” đâu? Tại sao anh ta không tiễn mình đến tận xe nhỉ? Cô gái liếc nhìn bác già một cái rất nhanh, tự nhiên hồi hộp, nhưng vẫn im lặng. (Trích Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, tập một) |
Phương pháp giải:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Giới thiệu chung:
- Tác giả:
+ Sáng tác từ thời kì kháng chiến chống Pháp và nhanh chóng trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi cách mạng Việt Nam.
+ Thành công ở truyện ngắn và kí.
+ Tác phẩm của Nguyễn Thành Long tập trung phản ánh vẻ đẹp của con người Việt Nam mới trong lao động và trong chiến đấu.
+ Lối viết vừa chân thực, giản dị, vừa giàu chất trữ tình.
- Tác phẩm: Được viết vào mùa hè năm 1970 – là kết quả chuyến công tác lên Lào Cai của tác giả.
- Đoạn trích nằm ở phần cuối của truyện ngắn, khi cuộc gặp gỡ giữa anh thanh niên, ông họa sĩ và cô kĩ sư đã đến hồi kết.
- Đoạn trích ngắn nhưng làm nổi bật vẻ đẹp của các nhân vật. Qua đoạn trích, chúng ta hiểu thêm những nét đẹp của những nhân vật này.
2. Phân tích vấn đề
- Anh thanh niên: không chỉ là người có tinh thần trách nhiệm với công việc, có phong cách sống đẹp, anh còn rất biết quan tâm đến mọi người:
+ Anh ngỡ ngàng sao thời gian trôi qua nhanh quá “Anh thanh niên giật mình nói to, giọng cười nhưng đầy tiếc rẻ” Ba mươi phút được gặp để nói chuyện với người khác với anh là rất ngắn ngủi, trong tiếng kêu trời ơi ấy của anh có thái độ tiếc nuối, bịn rịn.
+ Biếu ông họa sĩ giỏ trứng để làm bữa trưa.
+ Gửi cô kĩ sư cái khăn tay kèm theo cuốn sách cô ấy đã đọc.
+ Anh luôn đề cao, có tinh thần trách nhiệm với công việc của mình.
=> Anh thanh niên khơi dậy trong ông họa sĩ và cô kĩ sư những tình cảm tốt đẹp.
- Ông họa sĩ: không chỉ là một người nghệ sĩ chân chính, say mê tìm kiếm cái đẹp, trong hành trình lên Sa Pa lần này, bằng đôi mắt tinh tường của mình, ông đã có cái nhìn mới mẻ, lạc quan về thế hệ trẻ:
+ Khi nhận xét về anh thanh niên, cô kĩ sư ông nhận xét “anh chị cứ như con bướm”. Trong câu nói đó, “con bướm” là một hình ảnh ẩn dụ đẹp về nét hồn nhiên, muôn màu sắc về cả thế hệ thanh niên mà ông hi vọng.
=> Nhân vật ông họa sĩ là nhân vật phụ, miêu tả không nhiều nhưng hiện lên với nét đáng yêu, đáng quý. Thông qua nhân vật này, tác giả gửi gắm những suy nghĩ về cuộc sống và con người.
- Nhân vật cô kĩ sư
+ Đây là cô gái xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm: một người con gái Hà Nội đã bỏ lại sau lưng mối tình nhạt nhẽo để lên Lào Cai công tác.
+ Trong cuộc gặp gỡ bất ngờ với anh thanh niên, được nghe những điều anh nói, cô bàng hoàng hiểu về cuộc sống một mình dũng cảm tuyệt đẹp của anh thanh niên và về cả thế giới những con người như anh. Giây phút bàng hoàng của cô là sự xúc động khi bắt gặp một tình yêu đích thực, một tình yêu lớn, làm bừng dậy trong cô những tình cảm lớn lao, cao đẹp. Từ đó cô nhận ra, bấy lâu nay mình đã sống cuộc đời nhạt nhẽo, tầm thường, giúp cô yên tâm tin tưởng vào con đường mình đã chọn. Cùng với đó là một sự hàm ơn khó tả đối với anh thanh niên. Đó không chỉ vì bó hoa rất to mà anh đã tặng cô, mà còn là một bó hoa khác – bó hoa của những khát khao, háo hức, mộng mơ, của những khát vọng cống hiến cao đẹp đã truyền sang cô.
=> Cuộc gặp gỡ và trò chuyện ngắn ngủi đã khơi gợi cho cô suy nghĩ về cuộc sống mới.
3. Tổng kết, đánh giá
- Chỉ vài phút ngắn ngủi nhưng kết thúc cuộc gặp gỡ đã để lại dư âm cho chính những nhân vật và cho người đọc.
- “Lặng lẽ Sa Pa” khắc họa thành công hình ảnh những con người lao động thầm lặng, những con người vô danh nhưng ta học được từ họ khá nhiều về phẩm chất, cách sống và ứng xử với mọi người. Vì vậy, chúng ta phải luôn cố gắng học tập, rèn luyện để sống có ích cho mình và những người xung quanh.
Đề thi vào 10 môn Văn Đà Nẵng năm 2021
Đề bài
Câu 1. (2.0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Bài học đầu tiên
Mỗi ngưòi trong số 90 trong số anh em chúng ty đều đã từng làm việc trong cửa hàng nhỏ của cha trên vùng thảo nguyên phía bắc tiểu bang Dakota. [...]
Một buổi chiều ngày trước lễ Giáng sinh năm tôi học lớp 8, một cậu bé khoảng 5 hay 6 tuổi bước và cửa hàng trong bộ áo khoác tả tơi, tay áo ách nát dơ bẩn, đầu tóc rối bù, đôi giày mòn vẹt kéo lê. Tôi trông nó rất nghèo, nghèo đến nỗi không mua nổi bất cứ thứ gì trong cửa hàng này. Nó rụt rè nhìn quanh gian đồ chơi, cầm lên ngắm nghía chúng rồi đặt vào chỗ cũ.
Đúng lúc đó cha tôi xuất hiện. Ông tiến đến gần thắng bé. Đôi mắt xanh ánh màu thép mỉm cười và hỏi thằng bé xem nó cần gì? Thì ra, nỗ muốn mua một món quà Giáng sinh cho anh trai. Cha tôi bảo:
Cháu cứ xem cho thỏa thích. Cần gì thì cứ nói, bác sẽ lấy cho. (Tôi rất ngạc nhiên khi ông trân trọng nó như một người lớn).
Món này giá bao nhiêu ạ? Thằng bé hỏi sau khi chọn chiếc máy bay.
- Thế cháu có bao nhiêu nào? Thằng bó chìa ra một nắm tiền nhăn nhúm. 27 cent
- Bấy nhiều đồ đủ đấy, cha tôi mỉm cười nói. Cháu có thể mang món quà về.
Tôi lặng ngắm thằng bé trong lúc đang gói món hàng lại. Đối với tôi, giờ đây, nó không còn là tháng bé rách rưới, tóc tai bù xù với đôi giày mòn vẹt kéo lê. Đó là một cậu bé hết sức rạng rỡ ôm món quà mà cậu nâng niu như báu vật. Tôi nghĩ về cha tôi và niềm vui sướng tột độ của cậu bé. Tôi hiểu ra một điều gì đó. Chiếc máy bay thực sự đáng giá 38 đôla.
(Nhiều tác giả, Những câu chuyện về lòng yu thương, NXB Trẻ, 2002)
a. Lời dẫn: “Cháu cứ xem cho thỏa thích. Cần gì thì cứ nói, bác sẽ lấy cho." là lời dẫn trực tiếp hay lời dẫn gián tiếp? (0,5 điểm)
b. Xác định khởi ngữ trong câu: “Đối với tôi, giờ đây, nó không còn là thằng bé rách rưới, tóc tai bù xù với đôi giày mòn vẹt kéo lê... (0,5 điểm)
c. Theo em, vì sao cậu bé vui sướng tột độ” khi mua được món quà Giáng sinh cho anh trai? (0,5 điểm)
d. Qua câu chuyện, em có nhận xét gì về nhân vật người cha? (0,5 điểm)
Câu 2. (3,0 điểm) Viết một đoạn văn hoặc bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của sự tế nhị khi giúp đỡ người khác
Câu 3. (5,0 điểm) Phân tích một trong ba đoạn thơ sau để thấy được vẻ đẹp của con người Việt Nam:
|
Ta hát bài ca gọi cá vào, Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng Câu hát căng buồm với gió khơi, |
Những chiếc xe từ trong bom rơi Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Không có kính, rồi xe không có đèn,
|
Người đồng mình thương lắm con ơi |
Lời giải chi tiết
Câu 1.
|
a. Lời dẫn: “Cháu cứ xem cho thỏa thích. Cần gì thì cứ nói, bác sẽ lấy cho." là lời dẫn trực tiếp hay lời dẫn gián tiếp? |
Phương pháp: căn cứ bài lời dẫn trực tiếp, gián tiếp.
Cách giải:
Lời dẫn: “Cháu cứ xem cho thỏa thích. Cần gì thì cứ nói bác sẽ lấy cho” là lời dẫn trực tiếp.
|
b. Xác định khởi ngữ trong câu: “Đối với tôi, giờ đây, nó không còn là thằng bé rách rưới, tóc tai bù xù với đôi giày mòn vẹt kéo lê... |
Phương pháp: căn cứ bài Khởi ngữ.
Cách giải:
Khởi ngữ trong câu là “Đối với tôi”.
|
c. Theo em, vì sao cậu bé vui sướng tột độ” khi mua được món quà Giáng sinh cho anh trai? |
Phương pháp: phân tích.
Cách giải:
Theo em, lý do cậu bé vui sướng tột độ khi mua được món quà tặng anh trai là vì:
- Cậu bé nghèo không nghĩ mình có khả năng mua một món quà tặng cho anh trai
- Hơn hết cả là vì tình yêu thương mà cậu bé dành cho anh.
- Cũng có thể cậu bé cảm nhận được sự giúp đỡ của chủ cửa hàng và nâng niu, trân trọng, biết ơn sự giúp đỡ ấy.
|
d. Qua câu chuyện, em có nhận xét gì về nhân vật người cha? |
Phương pháp: phân tích.
Cách giải:
Nhân vật người cha trong đoạn trích là:
- Một người giàu lòng yêu thương, biết quan tâm giúp đỡ người khác.
- Tinh tế trong cách giúp đỡ những người gặp khó khăn.
Câu 2.
|
Viết một đoạn văn hoặc bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của sự tế nhị khi giúp đỡ người khác |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
I. Mở bài:
- Giới thiệu về ý nghĩa của sự tế nhị khi giúp đỡ người khác.
II. Thân bài:
a. Giải thích:
- Tế nhị là tránh nói thẳng vào những điều khó nói, nhạy cảm, dung tục hay điều có thể gây đau buồn hoặc kinh sợ ở người khác.
- Giúp đỡ:
+ Là sự đồng cảm, luôn thấu hiểu và quan tâm đến người khác
+Là san sẻ những gì mình có với người khác
+ Cùng vui cùng buồn với người khác, khi họ gặp khó khăn, gian khổ
=>Khẳng định ý nghĩa của sự tế nhị khi giúp đỡ người khác là đức tính tốt, cần phát huy.
b. Bàn luận
Biểu hiện của sự tế nhị khi giúp đỡ người khác.
+ Luôn sẵn sàng mở lòng giúp đỡ những người xung quanh. Cho đi mà không yêu cầu đền đáp.
+ Sống trung thực, không gian dối, vụ lợi.
+ Sống đúng lương tâm, suy nghĩ, cảm xúc của bản thân....
- Dẫn chứng: HS lấy dẫn chứng phù hợp
- Ý nghĩa của sự tế nhị khi giúp đỡ người khác.
+ Luôn được mọi người kính trọng, nể phục. + Bản thân có được sự thanh thản trong tâm hồn.
- Tại sao cần phải tế nhị khi giúp đỡ người khác?
+ Sự tế nhị khi giúp đỡ người khác chính là biểu hiện của niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp.
+ Khi bạn biết đối xử giúp đỡ với mọi người cũng là lúc bạn nhận được sự giúp đỡ từ xã hội. Như vậy tử tế sẽ khiến cho các mối quan hệ trở nên tốt đẹp hơn.
+ Sự tế nhị khi giúp đỡ người khác là biểu hiện của sự thiện tâm, đức độ. Khi con người biết làm đẹp tâm của mình, khi đó họ mới trở thành người thực sự có giá trị.
+ Giảm bớt tệ nạn xã hội, cải thiện bộ mặt xã hội
+ Mang lại mái ấm, hạnh phúc và cơ hội mới cho các em
c. Phản đề:
- Phê phán những con người sống ích kỉ, giả dối.
- Những người sống vô cảm, không biết yêu thương con người, đối xử tệ bạc với nhau.
d. Liên hệ, rút ra bài học:
- Sự tế nhị khi giúp đỡ người khác là rất quan trọng trong cuộc sống.
- Em đã thể hiện lối sống của mình trong cuộc sống như thế nào?
3. Kết bài
Mở rộng, kết luận lại vấn đề:
Đó là một truyền thống quý báu của dân tộc, cần giữ gìn và phát huy.
Câu 3.
|
Phân tích một trong ba đoạn thơ sau để thấy được vẻ đẹp của con người Việt Nam:
|
Phương pháp: phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
Gợi ý bài Nói với con.
1. Mở bài
- Giới thiệu khái quát về tác giả Y Phương (những nét cơ bản về con người, cuộc đời, đặc điểm sáng tác,...)
- Giới thiệu khái quát về bài thơ “Nói với con” (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật,...)
- Giới thiệu khái quát về đoạn thơ và “người đồng minh” nói riêng, vẻ đẹp của con người Việt Nam nói chung.
2. Thân bài
a. Người đồng mình biết lo toan và giàu mơ trước:
- Người đồng mình không chỉ là những con người giản dị, tài hoa trong cuộc sống lao động mà còn là những con người biết lo toan và giàu mơ ước:
+ Với cách nói “Người đồng mình thương lắm con ơi!” người cha biểu lộ tình cảm yêu thương chân thành về gian truân, thử thách cùng ý chí mà người đồng minh đã trải qua.
+ Bằng cách tư duy độc đáo của người miền núi, Y Phương đã lấy cái cao vời vợi của trời để đo nỗi buồn, lấy cái xa của đất để đo ý chí con người.
+ Sắp xếp tính từ “cao”, “xa” trong sự tăng tiến, nhà thơ cho thấy khó khăn, thử thách càng lớn thì ý chí con người càng mạnh mẽ.
->Có thể nói, cuộc sống của người đồng minh còn nhiều nỗi buồn, còn nhiều bộn bề thiếu thốn song họ sẽ vượt qua tất cả, bởi họ có ý chí và nghị lực, họ luôn tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của dân tộc.
-> Liên hệ với hình ảnh con người Việt Nam
b. Người đồng mình dù sống trong nghèo khổ, gian nan vẫn thủy chung gắn bó với quê hương, cội nguồn:
“Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chế thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc”.
+ Phép liệt kế với những hình ảnh ẩn dụ “đá gập ghềnh”, “thung nghèo đói” -> gợi cuộc sống đói nghèo, khó khăn, cực nhọc.
+ Vận dụng thành ngữ dân gian “Lên thác xuống ghềnh”, ý thơ gợi bao nỗi vất vả, lam lũ.
-> Những câu thơ dài ngắn, cùng những thanh trắc tạo ấn tượng về cuộc sống trắc trở, gian nan, đói nghèo của quê hương.
+ Điệp ngữ “sống”, “không chê” và điệp cấu trúc câu cùng hình ảnh đối xứng đã nhấn mạnh: Người đồng mình có thể nghèo nàn, thiếu thốn về vật chất nhưng họ không thiếu ý chí và quyết tâm. Người đồng minh chấp nhận và thủy chung gắn bó cùng quê hương, dẫu quê hương có đói nghèo, vất vả. Và phải chăng, chính cuộc sống nhọc nhằn, đầy vất vả khổ đau ấy đã tôi luyện cho chí lớn để rồi tình yêu quê hương sẽ tạo nên sức mạnh giúp họ vượt qua tất cả.
+ Phép so sánh “Sống như sống như suối” gợi vẻ đẹp tâm hồn và ý chí của người đồng mình. Gian khó là thế, họ vẫn tràn đầy sinh lực, tâm hồn lãng mạn, khoáng đạt như hình ảnh đại ngàn của sông núi. Tình cảm của họ trong trẻo, dạt dào như dòng suối, con sông trước niềm tin yêu cuộc sống, tin yêu con người.
->Liên hệ với hình ảnh con người Việt Nam
c. Người đồng mình có ý thức tự lập, tự cường và tinh thần tự tôn dân tộc:
- Phẩm chất của người của con người quê hương còn được người cha ca ngợi qua cách nói đối lập tương phản giữa hình thức bên ngoài và giá trị tinh thần bên trong, nhưng rất đúng với người miền núi:
“Người đồng minh thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”
+Lời thơ mộc mạc, giản dị nhưng chứa bao tâm tình.
+ Cụm từ “thô sơ da thịt” là cách nói cụ thể về những con người mộc mạc, giản dị.
+ Cụm từ “chẳng nhỏ bé” khẳng định sự lớn lao của ý chí, của nghị lực, cốt cách và niềm tin.
-> Sự tương phản này đã tôn lên tầm vóc của người đồng mình. Họ mộc mạc nhưng giàu chí khí, niềm tin. Họ có thể “thô sơ da thịt” nhưng không hề nhỏ bé về tâm hồn, về ý chí.
- Cùng với ý thức tự lực, tự cường, người đồng minh còn ngời sáng tinh thần tự tôn dân tộc và khát vọng xây dựng quê hương:
“Người đồng minh tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục”.
+ Lối nói đậm ngôn ngữ dân tộc – độc đáo mà vẫn chứa đựng ý vị sâu xa.
+ Hình ảnh “Người đồng minh tự đục đá kê cao quê hương” vừa mang tính tả thực (chi truyền thống làm nhà kế đá cho cao của người miền núi), vừa mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc. Người đồng mình đã tự tay xây dựng nên truyền thống quê hương đẹp giàu, sánh tầm với các miền quê khác trên mảnh đất hình chữ S thân yêu.
+ Câu thơ ngầm chứa niềm tự hào kiêu hãnh bởi họ vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc.
=>Liên hệ với hình ảnh con người Việt Nam
* Đánh giá, nhận xét:
-> Với thể thơ tự do, giọng điệu khỏe khoắn vừa tấm tình tha thiết vừa chứa chan hi vọng cùng những hình ảnh, từ ngữ mộc mạc, cụ thể -> nhà thơ nói với con về những vẻ đẹp của người đồng minh để rồi từ đó truyền cho con lòng tự hào về quê hương, dân tộc, nhắn nhủ con biết sống đẹp, biết vượt qua gian khó bằng niềm tin, ý chí như người đồng mình.
-> Người đồng mình là hình ảnh mang tính biểu tượng đại diện cho vẻ đẹp của con người Việt Nam từ muôn đời nay.
3. Kết bài
Khái quát về những vẻ đẹp cơ bản của “người đồng minh”, các biện pháp nghệ thuật trong đoạn thơ và nêu cảm nghĩ của bản thân về vẻ đẹp của con người Việt Nam.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
