Đề thi vào 10 môn Văn Đăk Lăk
Đề thi vào 10 môn Văn Đăk Lăk năm 2025
Đề bài
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
Ông nội tôi là nghệ nhân câu cá. Từ bé tôi đã thấy ông gắn với chiếc cần câu. Vẻ im lặng, bí ẩn của ông vừa an nhàn, vừa có cái gì đó giống như sự cam phận. Không khỏi có lúc tôi thầm nghĩ: Làm đấng nam nhi mà chỉ quanh quẩn như ông nội thì kể cũng chán. Chính ông nội khiến tôi luôn mơ về biển cả. Nơi ấy chẳng có bến bờ, mới thực sự là nơi vẫy vùng thỏa chí. Tôi cũng sẽ theo nghề câu như ông nội nhưng mà tôi câu cá kình. [...]
Một hôm, tôi quyết định thử đi câu cùng với ông. Tôi vác theo chiếc sào to tướng dùng làm cần. Tôi móc con giun béo nhẫy làm mồi. Tôi cũng thả lưỡi xuống nhưng tâm trí chẳng tập trung nổi vào chiếc phao cứ lì lợm đứng im. Thật là tẻ nhạt và tù túng. Cuối buổi tôi dứt cước ném đi, dùng cần khua ầm ĩ xuống nước.
Hôm sau tôi xin ông để tôi được ra đi. Ông vẫn im lặng nhìn tôi, không tỏ ra bực tức hay vui mừng. Hình như ông rất muốn thở dài.
- Đi để thử sức thì cũng tốt - Ông chỉ bảo có vậy.
Tôi ra biển như mơ ước suốt thời bé. Tôi bỏ theo một tàu đánh cá với hy vọng sẽ bắt được cá kình. Trước mặt tôi giờ đây chỉ có đường chân trời. Nhưng chỉ được một thời gian tôi mới vỡ lẽ ra rằng không có gì chán cho bằng cứ lênh đênh trên biển. Tôi cồn cào nhớ đất liền, trong khi cá kình vẫn mất hút. Không ai, ngay cả tôi, ngờ được lại có ngày tôi tơi tả như một kẻ thất trận. Ông tôi vẫn không mừng, không buồn, tựa như việc tôi ra đi hay trở về chẳng khiến ông bận tâm, chỉ hỏi:
- Cháu về rồi à?
- Cháu về để theo nghề của ông.
Ông tôi bắt đầu truyền nghề cho tôi. Ông cho tôi một chiếc cần đủ cước, lưỡi nhưng không có mồi. Ông bảo cứ thả xuống câu, mắt không được rời phao. Tôi làm theo ông, thoạt đầu gan ruột như có lửa cháy. Ông bảo không được nóng vội. Rồi tôi ngồi qua một tuần, chỉ muốn phát điên. Bài học nhập môn gì mà cay nghiệt thế. Rồi tôi cũng qua được một tháng, lòng gan đã dịu lại. Qua hai tháng cảnh vật trở nên hiền hòa, mặt nước thôi nghiêng ngả. Qua ba tháng thì tôi không còn thấy cả chiếc cần câu đâu nữa. Bấy giờ ông tôi mới bảo:
- Giờ thì cháu có thể đi câu cá kình được rồi.
Tôi giật mình, mồ hôi túa ra. Tôi lại đi ra biển như ông nói, biển không hề có sóng.
(Trích “Bài học đi câu”, Tạ Duy Anh, Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số 05, NXB Giáo dục, 2012, tr.47 - 48)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. (0,75 điểm) Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản trên.
Câu 2. (0,75 điểm) Theo văn bản, ai là người đã khiến nhân vật “tôi” mơ về biển cả?
Câu 3. (0,75 điểm) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn in đậm ở văn bản trê
Câu 4. (0,75 điểm) Nhận xét về sự thay đổi của nhân vật “tôi” sau khi đi học câu một tháng.
Câu 5. (1,0 điểm) Từ văn bản trên, hãy rút ra một thông điệp có ý nghĩa nhất đối với em.
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của em về nhân vật “tôi” trong vã bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm)
Em hãy viết bài văn nghị luận bàn về cách nuôi dưỡng lòng biết ơn trong cuộc sống.
Lời giải chi tiết
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) |
Câu 1. (0,5 điểm) |
Ngôi kể: thứ nhất |
|
Câu 2. (0,5 điểm) |
Ông nội là người khiến nhân vật “tôi” mơ về biển cả |
|
|
Câu 3. (1,0 điểm) |
- BPTT so sánh: “ruột gan như có lửa cháy” - Tác dụng: diễn tả sinh động và cụ thể cảm giác khó chịu, bức bối, đau đớn của nhân vật “tôi” khi lần đầu học theo ông đi câu cá mà không quen, không thấy thoải mái. |
|
|
Câu 4. (1,0 điểm) |
Sau khi học câu một tháng, nhân vật “tôi” đã có sự thay đổi rõ rệt: từ một cậu bé dễ nản chí, cả thèm chóng chán đến một người biết kiên trì, nhẫn nại và trưởng thành trong suy nghĩ. “Tôi” bắt đầu hiểu được những bài học sâu sắc mà ông nội muốn truyền dạy, đặc biệt là bài học về sự rèn luyện ý chí và nghị lực trong cuộc sống. |
|
|
Câu 5. (1,0 điểm) |
Gợi ý: - Muốn trưởng thành, con người cần phải trải qua rèn luyện và kiên trì vượt qua khó khăn thử thách. - Tình cảm gia đình và sự dìu dắt của người thân là nền tảng quan trọng trong hành trình trưởng thành của mỗi người. |
|
|
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) |
Câu 1. (2,0 điểm) |
1. Mở đoạn: Giới thiệu chung 2. Thân đoạn a. Hoàn cảnh và tâm trạng ban đầu của nhân vật “tôi”: - Là một đứa trẻ mới lớn, tò mò, mơ mộng. - Ban đầu còn thiếu kiên nhẫn, cả thèm chóng chán, chưa thật sự hiểu giá trị của lao động. b. Diễn biến thay đổi của nhân vật: - Có ước mơ, khao khát và quyết tâm đi ra biển lớn để thực hiện mơ ước câu được cá kình của mình. Sau đó vỡ mộng trở lại bên cạnh ông. - Khi ông truyền nghề, “tôi” cảm thấy khó khăn, vất vả và chán nản. - Sau một tháng, “tôi” đã kiên trì vượt qua thử thách, cảm nhận được thành quả, biết trân trọng công sức lao động. - Sự thay đổi từ “thất vọng” sang “giật mình, mồ hôi túa ra” thể hiện sự thức tỉnh sâu sắc. c. Nghệ thuật: ngôi kể, ngôn ngữ, hình ảnh giàu giá trị, … 3. Kết đoạn - Khái quát lại về nhân vật “tôi” - Bài học: Giá trị của sự kiên trì, lòng biết ơn và quá trình rèn luyện để trưởng thành. |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
1. Mở bài - Dẫn dắt và xác định vấn đề: cách nuôi dưỡng lòng biết ơn trong cuộc sống. 2. Thân bài a. Giải thích – Lòng biết ơn là sự trân trọng, ghi nhớ công lao, sự giúp đỡ và tình cảm tốt đẹp mà người khác đã dành cho mình. => Cần nhận thức đúng và biết cách nuôi dưỡng lòng biết ơn trong mỗi hành động, suy nghĩ hàng ngày. b. Ý nghĩa/vai trò – Góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp cho mỗi con người. c. Biểu hiện của lòng biết ơn và cách nuôi dưỡng – Nhớ ơn cha mẹ, ông bà đã sinh thành, dưỡng dục. - Dẫn chứng: HS đưa ra dẫn chứng cụ thể d. Phản đề – Phê phán những người sống vô ơn, chỉ biết nhận mà không biết trân trọng. 3. Kết bài – Khẳng định vai trò quan trọng của lòng biết ơn trong cuộc sống. |
Đề thi vào 10 môn Văn Đăk Lăk năm 2023
Đề bài
Câu 1. Đọc văn bản:
Biết viết gì trước lúc đi xa
Khi mẹ tôi còn ngồi bên cửa
Vét mùa đông mẹ vo vào bếp lửa
Nhen trong tôi từng đốm lửa than hồng.
Ngày con đi ai sẽ hái buồng cau
Giếng nước sâu mẹ nương nhờ người xách
Đêm gió to nghe nhà chuyển vách
Con dơi bay nghe lạnh gáy hiên ngoài!
Con đi vào thành phố xa xôi
Muốn dậy sớm có đồng hồ báo thức
Miền biển đêm tối trời như mực
Mẹ đi chợ phiên phải canh những tiếng gà!
Lần lữa nuôi con mẹ như trái bầu già
Rụng lá, khô dây, chỉ còn ruột trống
Biển đìu hiu cánh buồm chiều gió lộng
Mẹ quay về bên đồi cát xa xăm.
(Trích Mẹ tôi, Nguyễn Hữu Thái, Tuyển tập Bốn phương cùng bình, NXB Văn học, 2000, tr.106)
Thực hiện các yêu cầu sau:
1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.
2. Chỉ ra và phân tích hiệu quả biểu đạt của biện pháp tu từ so sánh được tác giả sử dụng trong khổ thơ sau:
Lần lữa nuôi con mẹ như trái bầu già
Rụng lá, khô dây, chỉ còn ruột trống
Biển đìu hiu cánh buồm chiều gió lộng
Mẹ quay về bên đồi cát xa xăm.
3. Nhận xét tình cảm của người con đối với mẹ được thể hiện trong văn bản.
Câu 2. Từ nội dung văn bản ở Câu 1, anh/chị hãy viết bài văn ngắn (khoảng 250 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tình mẹ đối với mỗi người.
Câu 3. Cảm nhận của anh/chị về nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích sau:
Anh hạ giọng, nửa tâm sự, nửa đọc lại một điều rõ ràng đã ngẫm nghĩ nhiều:
- Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này cháu không nghĩ như vậy nữa. Vả, khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất. Còn người thì ai mà chả “thèm” hở bác? Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc? Đấy, cháu tự nói với cháu thể đấy. Bác lái xe đi, về Lai Châu cứ đến đây dừng lại một lát. Không vào giờ “ốp” là cháu chạy xuống chơi, lâu thành lệ. Cháu bỗng dưng tự hỏi: Cái nhớ xe, nhớ người ấy thật ra là cái gì vậy? Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô hội thì xoàng. Cháu ở liền trong trạm hàng tháng. Bác lái xe bao lần dừng, bóp còi toe toe, mặc, cháu gan lì nhất định không xuống. Ấy thế là một hôm, bác lái phải thân hành lên trạm cháu. Cháu nói: “Đấy, bác cũng chẳng "thèm” người là gì? ".
Anh xoay sang người con gái đang một mắt đọc cuốn sách, một mắt lắng nghe, chân cô đung đưa khe khẽ, nói:
- Và cô cũng thấy đấy, lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà. Mỗi người viết một vẻ.
- Quê anh ở đâu thế? — Họa sĩ hỏi.
- Quê cháu ở Lào Cai này thôi. Năm trước, cháu tưởng cháu được đi xa lắm cơ đấy, hóa lại không. Cháu có ông bố tuyệt lắm. Hai bố con cùng viết đơn xin ra lính đi mặt trận. Kết quả: bố cháu thắng một – không. Nhân dịp Tết, một đoàn các chú lái máy bay lên thăm cơ quan cháu ở Sa Pa. Không có cháu ở đấy. Các chú lại cử một chú lên tận đây. Chú ấy nói: nhờ cháu có góp phần phát hiện một đám mây khô mà ngày ấy, tháng ấy, không quân ta hạ được bao nhiêu phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng. Đối với cháu, thật là đột ngột, không ngờ
lại là như thế. Chú lái máy bay có nhắc đến bố cháu, ôm cháu mà lắc “Thế là một — hòa nhé!”. Chưa hòa đâu bác ạ. Nhưng từ hôm ấy cháu sống thật hạnh phúc. Ơ, bác vẽ cháu đấyư? Không, không, đừng vẽ cháu! Để cháu giới thiệu với bác những người khác đáng cho bác vẽ hơn.
(Trích Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2021, tr.185)
Lời giải chi tiết
Câu 1 (2.0 điểm):
1.
Phương pháp:
Căn cứ các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: biểu cảm.
2.
Phương pháp:
Căn cứ bài so sánh, phân tích.
Cách giải:
- Biện pháp tu từ so sánh: “mẹ” được so sánh với “trái bầu già”.
- Hiệu quả biểu đạt:
+ Giúp hình ảnh diễn tả thêm sinh động, dễ hình dung.
+ So sánh “mẹ” với “trái bầu già” để nhấn mạnh những lo toan, vất vả, hi sinh cả tuổi thanh xuân của mẹ để nuôi con khôn lớn.
+ Từ đó cho thấy tình yêu thương, lòng biết ơn, trân trọng của con với mẹ.
3.
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
HS trình bày quan điểm cá nhân dựa trên nội dung văn bản.
Gợi ý: Tình cảm của người con đối với mẹ trong văn bản:
- Tình cảm yêu thương, biết ơn khi mẹ là người truyền lửa, truyền tình cảm ấm áp, chăm sóc cho con từ khi lọt lòng: “nhen trong tôi từng đốm lửa than hồng”
- Tình cảm lưu luyến, lo lắng cho mẹ: rằng khi mình đi xa không còn ai chăm sóc, mẹ sẽ cô đơn và vất vả hơn biết bao.
-….
Câu 2 (3.0 điểm):
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải: Chú ý hình thức đoạn văn khoảng 250 chữ.
a. Mở đoạn:
- Giới thiệu vấn đề: Ý nghĩa của tình mẹ đối với mỗi người
b. Thân đoạn:
- Giải thích vấn đề: Tình mẹ hay tình mẫu tử là mối quan hệ giữa người mẹ và con của mình, đó là một thứ tình cảm thiêng liêng cao đẹp và đáng trân quý nhất trong cuộc đời mỗi con người.
- Ý nghĩa của tình mẹ đối với mỗi người
+ Mẹ là động lực để mỗi con người cố gắng, nỗ lực.
+ Mẹ là chỗ dựa tinh thần cho ta khi ta gặp mệt mỏi, áp lực, khó khăn trong cuộc sống.
+ Mẹ là điểm tựa vững chắc để ta thực hiện mọi ước mơ, khát vọng.
+ ….
- Phản đề: Phê phán những người mẹ nhẫn tâm bỏ rơi con và những người con nhẫn tâm thậm chí hành hạ mẹ mình, gây tổn thương sâu sắc cả về tinh thần lẫn thân thể.
c. Kết đoạn: Khẳng định vấn đề/ Liên hệ bản thân:
- Tình mẹ là tình cảm thiêng liêng, trân quý, chúng ta cần phải ý thức được rằng, mình đang hạnh phúc khi còn có mẹ trong cuộc đời.
- Cần quan tâm, chăm sóc và dành tình yêu thương đến mẹ - người phụ nữ đáng kính nhất trong cuộc đời.
Câu 3 (5.0 điểm):
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Thành Long.
- Giới thiệu tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa.
- Giới thiệu đoạn trích cần phân tích.
2. Thân bài
a. Giới thiệu khái quát:
- Truyện ngắn tập trung vào cuộc gặp gỡ tình cờ giữa ông họa sĩ, cô kĩ sư với anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn của Sa Pa qua lời giới thiệu của bác lái xe.
- Đoạn văn ngắn đã khái quát được vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn của anh thanh niên qua lời tâm sự của anh thanh niên với bác họa sĩ và cô kĩ sư.
b. Nhân vật anh thanh niên:
* Hoàn cảnh sống và làm việc:
- Một mình trên đỉnh núi cao, quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa. Công việc của anh là “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự báo vào việc báo trước thời tiết hàng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”. Công việc đơn điệu đòi hỏi phải thật tỉ mỉ, chính xác, có ý thức tự giác.
- Nhưng cái gian khổ nhất phải vượt qua sự cô đơn, vắng vẻ, quanh năm suốt tháng một mình trên đỉnh núi cao không một bóng người.
* Những nét đẹp của nhân vật thể hiện qua đoạn trích:
- Có lý tưởng cống hiến: đi bộ đội không được anh tình nguyện làm việc ở Sa Pa.
- Suy nghĩ đẹp về công việc:
+ Vì công việc mà anh phải sống một mình trên núi cao nhưng anh vẫn gắn bó với công việc của mình bởi “khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được”. Anh yêu công việc tới mức trong khi mọi người còn ái ngại cho cuộc sống ở độ cao 2.600m của anh thì anh lại ước ao được làm việc ở độ cao trên 3.000m “như vậy mới gọi là lý tưởng”.
+ Công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, chính xác cao: hằng ngày lặp lại tới 4 lần các thao tác “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết” và khó khăn nhất là lúc 1 giờ sáng “nửa đêm thức dậy xách đèn ra vườn, mưa tuyết, giá lạnh…” nhưng anh vẫn coi công việc là niềm vui “Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi cháu buồn đến chết mất”.
+ Ý thức được giá trị công việc mà mình đang làm: dự vào việc báo trước thời tiết nên “việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia”.
=> Những suy nghĩ ấy chỉ có ở những con người yêu lao động, yêu công việc của mình dù nó thật khó khăn, đơn điệu và buồn tẻ. Công việc là niềm vui, là cuộc sống của anh.
- Suy nghĩ đẹp về cuộc sống:
+ Tự mình tìm lời giải đáp cho những câu hỏi quan trọng “Mình sinh ra là gì, mình đẻ ra ở đâu, mình vì ai mà làm việc?” những câu hỏi cho anh biết giá trị của bản thân và ý nghĩa của cuộc sống.
+ Suy nghĩ đúng đắn về giá trị của hạnh phúc: Hạnh phúc không phải là khi cuộc sống đầy đủ về vật chất mà là khi ta làm được những điều có ích. Một lần do phát hiện kịp thời một đám mây khô mà anh đã góp phần vào chiến thắng của không quân ta, bắn rơi được máy bay Mỹ trên cầu Hàm Rồng, anh thấy mình “thật hạnh phúc”.
=> Qua lời kể hồn nhiên, chân thành của người thanh niên, tác giả Nguyễn Thành Long đã giúp người đọc cảm nhận được những suy nghĩ đẹp và đúng đắn của anh thanh niên cũng như của những người lao động ở Sa Pa.
- Làm phong phú cuộc sống của mình: Anh thường xuyên đọc sách. Vì sách chính là người bạn để anh “trò chuyện”. Nhờ có sách mà anh chống chọi được với sự vắng lặng quanh năm. Nhờ có sách mà anh tiếp tục học hành, mở mang kiến thức.
- Anh còn là người rất khiêm tốn: khi nhận ra ông họa sĩ đang định vẽ mình anh đã ngăn cản bác và định giới thiệu những người “đáng vẽ hơn” cho ông họa sĩ.
=> Những tình cảnh cao đẹp trên đã tạo nên những phẩm chất đáng quý ở anh thanh niên - một con người lao động với XHCN.
3. Kết bài:
- Truyện Lặng lẽ Sa Pa ngợi ca ngợi những con người lao động như anh thanh niên làm công tác khí tượng và thế giới những con người như anh.
- Qua câu chuyện về anh thanh niên, tác phẩm cũng gợi tả những con người đang dành cả thanh xuân để cống hiến, phục vụ kháng chiến với nhiều phẩm chất cao đẹp.
Đề thi vào 10 môn Văn Đăk Lăk năm 2022
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) Đọc đoạn trích:
H'Hen Niê đăng quang Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2017 trở thành niềm tự hào của gia đình và người dân buôn Sút M đưng, xã Cư Suê, huyện Cư M'gar, Đắk Lắk. Lần đầu tiên trong lịch sử hoa hậu ở Việt Nam có một cô gái người dân tộc Ê đê được xướng tên cho ngôi vị vương miện cao quý. Thông tin về cô gái và gia cảnh của tân hoa hậu nhanh chóng được nhiều người quan tâm.
Ấn tượng mà H'Hen Niê để lại trong mắt khán giả là một cô gái có vẻ đẹp góc cạnh, thần thái thu hút cùng cách ứng xử thông minh và bản lĩnh. Thế nhưng, không phải ai cũng biết rằng, để có được ngày hôm nay, tân Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam đã phải trải qua một chặng đường dài với rất nhiều khó khăn và gian khổ.
H'Hen Niê sinh ra trong một gia đình làm nông, có 6 anh chị em, H'Hen Niê là con thứ 3 trong nhà. Gia đình của tân hoa hậu không phải khá giả lắm. Tổ ấm của họ là một căn nhà cấp 4 được xây dựng từ cách đây nhiều năm. Trước khi đến được với chiếc vương miện Hoa hậu, nhiều người đã không đặt nhiều hy vọng vào H'Hen Niê. Cô gái sinh năm 1992 cũng chia sẻ ngay từ những ngày đầu xuất hiện trong cuộc thi rằng, cô biết có nhiều người nghĩ cô nên rút lui vì một cô gái Ê đê, mái tóc ngắn và làn da nâu sẽ không thể nào đạt giải cao. Tuy nhiên, H’Hen Niê cho rằng cô còn trẻ nên cứ làm những gì mình muốn.
Với H’Hen Niê, Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2017 chính là nơi mà cô gái sinh năm 1992 ấy gửi gắm giấc mơ trở thành người phụ nữ truyền cảm hứng cho người khác. H'Hen Niê mong rằng câu chuyện của mình sẽ mang lại động lực tích cực đến những cô gái người dân tộc sẽ tự tin hơn trong cuộc sống. Sau đêm chung kết Hoa hậu, cô chia sẻ: “May mắn đã gọi tên tôi. Mọi người thấy đấy, một cô gái người dân tộc, có xuất phát điểm thấp, làn da nâu, mái tóc ngắn vẫn có thể chiến thắng”.
(Nguồn dẫn theo https://ione.vnexpress.net, ngày 08/01/2018)
Thực hiện các yêu cầu sau:
1. Theo đoạn trích, ấn tượng mà H'Hen Niê để lại trong mắt khán giả như thế nào?
2. Anh/chị hãy chỉ ra lời dẫn trực tiếp trong đoạn trích trên?
3. Qua câu chuyện của H'Hen Niê, anh/chị rút ra cho mình bài học gì?
Câu 2. (3.0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở Câu 1, anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 250 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc dám theo đuổi ước mơ trong cuộc sống.
Câu 3. (5.0 điểm) Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa !
(Bằng Việt, Trích Bếp lửa, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2021, tr.144)
Lời giải chi tiết
Câu 1:
|
1. Theo đoạn trích, ấn tượng mà H'Hen Niê để lại trong mắt khán giả như thế nào? |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Ấn tượng mà H’Hen Niê để lại trong mắt khán giả là: cô gái có vẻ đẹp góc cạnh, thần thái thu hút cùng cách ứng xử thông minh, bản lĩnh.
|
2. Anh/chị hãy chỉ ra lời dẫn trực tiếp trong đoạn trích trên? |
Phương pháp: Căn cứ bài lời dẫn trực tiếp.
Cách giải:
Lời dẫn trực tiếp là: “May mắn đã gọi tên tôi. Mọi người thấy đấy, một cô gái người dân tộc, có xuất phát điểm thấp, làn da nâu, mái tóc ngắn vẫn có thể chiến thắng”
|
3. Qua câu chuyện của H'Hen Niê, anh/chị rút ra cho mình bài học gì? |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, phân tích.
Cách giải:
HS rút ra bài học cho bản thân sao cho hợp lí.
Gợi ý:
- Bài học về việc dám nghĩ, dám làm.
- Bài học về dám ước mơ và theo đuổi ước mơ.
-…
Câu 2:
|
Từ nội dung đoạn trích ở Câu 1, anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 250 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc dám theo đuổi ước mơ trong cuộc sống. |
Phương pháp: Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
* Yêu cầu hình thức: Viết đúng một đoạn văn khoảng 250 chữ.
* Yêu cầu về nội dung:
* Xác định đúng vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của việc dám theo đuổi ước mơ.
- Giải thích: Là đích đến, là khát vọng, là mong muốn mà mỗi người trong cuộc sống đều nỗ lực để đạt được.
-> Dám theo đuổi ước mơ mang lại cho người những ý nghĩa vô cùng tích cực.
* Ý nghĩa của việc dám theo đuổi ước mơ:
- Dám theo đuổi ước mơ khiến bản thân con người trở nên kiên cường hơn, mạnh mẽ hơn, kiên định với mục tiêu hơn.
- Dám theo đuổi ước mơ là bàn đạp đầu tiên giúp chúng ta ngày một hoàn thiện bản thân nhiều hơn, nỗ lực nhiều hơn.
- Dám theo đuổi ước mơ đồng nghĩa với việc dám đối đầu với thử thách rèn luyện cả về phẩm chất lẫn kĩ năng khiến con người dễ dàng vượt qua khó khăn thử thách.
- Đôi khi ước mơ khiến chúng ta tìm ra những giá trị, thế mạnh mới của bản thân mà trước giờ chưa từng được khám phá.
- Đôi khi trên hành trình theo đuổi ước mơ con người sẽ gặp gỡ nhiều bạn mới và tiếp thu được nhiều tri thức có giá trị -> Cuộc sống trở nên có ý nghĩa hơn.
* Bàn luận:
- Để có thể đạt được ước mơ con người phải biết xác định mục tiêu đúng đắn cho riêng mình, gặp khó khăn gian khổ không nản chỉ, bỏ dở giữa đường. Luôn kiên định, nỗ lực để đạt được ước mơ của mình.
- Kiên định theo đuổi ước mơ không có nghĩa là không chịu tiếp thu đóng góp của người khác, cần lắng nghe ý kiến của những người xung quanh để trau dồi bản thân tốt hơn.
Câu 3:
|
Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau: Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa! |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
a. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Bằng Việt, tác pẩm Bếp lửa.
- Giới thiệu khái quát nội dung đoạn trích: Những suy ngẫm về bà trong tâm trí của tác giả.
b. Thân bài:
* Vị trí đoạn trích: Đoạn thơ được trích tong phần cuối của tác phẩm khi tác giả suy ngẫm về hình ảnh của bà.
* Những suy ngẫm về bà trong tâm trí của tác giả:
- Người bà với vẻ đẹp của sự tảo tần, nhẫn nại.
+ Lận đận suốt một đời vì con cháu.
+ Đến tận bây giờ vẫn chẳng nghỉ ngơi.
- Người bà với tình yêu thương chan chứa dành cho cháu.
+ Điệp từ “nhóm”: gợi nhịp bập bùng của bếp lửa và sự bền bỉ của lòng bà.
+ Nhóm lên: Nhóm lên ngọn lửa của tình người nồng ấm giữa cuộc đời thiếu thốn. Nhóm lên ngọn lửa tâm hồn cháu để cháu biết yêu thương khoai sắn ngọt bùi, cháu biết vui trướ niềm vui bình dị nhất.
=> Bà là người khơi nguồn cho tất cả.
- Bà tạo nên sự chuyển hóa bất ngờ của bếp lửa: “Ôi kì lạ…”
+ Ôi + dấu “!”: sự mãnh liệt của cảm xúc.
+ Kì lạ: Bếp lửa là biểu hiện của tình bà, là sức mạnh của niềm tin, nghị lực. Bếp lửa thắp sáng tâm hồn cháu, giữ cho cháu một tuổi thơ vẹn nguyên, hạnh phúc.
+ Thiêng liêng: Bếp lửa là tổ ấm, là cội nguồn gia đình, là côi nguồn quê hương đất nước.
=> Cho thấy tình yêu sâu sắc mà chúa dành cho bà và niềm cảm phục của cháu trước cuộc đời và sự cao cả phi thường của bà.
c. Kết bài:
- Nội dung:
+ Tình cảm bà cháu bình dị, gần gũi và thiêng liêng.
+ Vấn đề ý nghĩa muôn đời: kỉ niệm tuổi thơ luôn tỏa sáng và nâng đỡ con người trên hành trình cuộc sống. Tình cảm gia đình là cơ sở, là cội nguồn cho tinh yêu quê hương, đất nước.
- Nghệ thuật:
+ Sự kết hợp hài hòa các phương thức biểu cảm, tự sự, miêu tả và bình luận.
+ Hình ảnh vừa chân thực vừa giàu ý nghĩa biểu tượng.
+ Cảm xúc mãnh liệt.
+ Triết lí sâu sắc
Đề thi vào 10 môn Văn Đăk Lăk năm 2021
Đề bài
Câu 1. (2.0 điểm)
Đọc đoạn trích:
Có gì đâu, có gì đâu
Mỡ màu ít chất dồn lâu hóa nhiều
Rễ siêng không ngại đất nghèo
Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cử
Vươn mình trong giỏ tre đu
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành
Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh
Tre xanh không đúng khuất mình bóng râm
Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm...
(Trích Tre Việt Nam trong tập Cát trắng, Nguyễn Duy NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973)
Thực hiện các yêu cầu sau:
1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?
2. Nêu 02 biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ sau:
Vươn mình trong gió tre đa
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành
3. Hình ảnh cây tre trong đoạn trích trên đã gợi lên những phẩm chất nào của con người Việt Nam?
Câu 2. (3.0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở Câu 1, hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 250 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sức mạnh ý chí của con người trong cuộc sống.
Câu 3. (5,0 điểm) Cảm nhận về tình cha con của ông Sáu trong đoạn trích sau:
Sáng hôm sau, bà con bên nội, bên ngoài đến rất đông. Cả con bẻ cũng theo ngoại nó về. Anh Sáu phải lo tiếp khách, anh như không chú ý đến con nữa. Còn chị Sáu thì lo chuẩn bị đồ đạc cho chồng, chị lo xếp từng chiếc áo, gói ghém đồ đạc vụn vặt vào cái túi nhỏ, chị cứ lúi húi bên chiếc ba lô. Con bẻ như bị bỏ rơi, lúc đúng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi người đang vây quanh ba nó. Vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và như không bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa. Ðến lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi bắt tay hết mọi người, anh Sáu mới đưa mắt nhìn con, thấy nó đứng trong góc nhà. Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng lại sợ nó giẫy lên lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn nó với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao.
- Thôi! Ba đi nghe con! - Anh Sáu khe khẽ nói.
Chúng tôi, mọi người - kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi. Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:
- Ba... a... a... ba! Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Ðó là tiếng "Ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm, tiếng "Ba" như vỡ tung ra từ lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc:
- Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con! Ba nó bế nó lên - nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa.
Lời giải chi tiết
Câu 1.
|
1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào? |
Phương pháp: căn cứ các thể thơ đã học.
Cách giải:
Đoạn trích trên được viết theo thể thơ lục bát.
|
2. Nêu 02 biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ sau: Vươn mình trong gió tre đa Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành |
Phương pháp: căn cứ các biện pháp tu từ đã học.
Cách giải:
Biện pháp tu từ được sử dụng: Nhân hóa, đảo ngữ.
|
3. Hình ảnh cây tre trong đoạn trích trên đã gợi lên những phẩm chất nào của con người Việt Nam? |
Phương pháp: phân tích, lí giải.
Cách giải:
Học sinh có thể giải thích theo ý hiểu của mình, có lý giải.
Gợi ý:
Đoạn thơ trên nói đến những đức tính: Siêng năng, cần cù, lạc quan, giàu tình yêu thương, đoàn kết đùm bọc lẫn nhau, kiên cường, bất khuất,…..
Câu 2.
| Từ nội dung đoạn trích ở Câu 1, hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 250 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sức mạnh ý chí của con người trong cuộc sống. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: ý chí, nghị lực sống của con người. (Một trong những đức tính quý báu của con người mà ai cũng cần rèn luyện chính là ý chí, nghị lực).
Lưu ý: Học sinh lựa chọn cách viết mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy theo năng lực của bản thân.
2. Thân bài
a. Giải thích
- Ý chí, nghị lực sống của con người trì là sự nhẫn nại, cố gắng, quyết tâm vươn lên, theo đuổi mục tiêu của mình cho dù gặp nhiều khó khăn, trở ngại và vấp ngã.
b. Phân tích
- Tất cả mọi việc trên đời này không phải dễ dàng mà thành công được, để đạt được thành công, chúng ta phải cần có ý chí theo đuổi mục tiêu. Có thể nói, ý chí, nghị lực chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định đến thành công của con người.
- Nếu trong xã hội con người ai khi gặp khó khăn cũng bỏ cuộc thì xã hội sẽ không phát triển được như hiện nay, con người sẽ rơi vào bế tắc.
- Người có ý chí, nghị lực luôn là tấm gương sáng để chúng ta học tập và noi theo, giúp xã hội này tiến bộ hơn.
c. Chứng minh
- Học sinh tự lấy dẫn chứng để minh họa cho bài làm văn của mình.
Lưu ý: dẫn chứng phải xác thực, tiêu biểu, được nhiều người biết đến.
Gợi ý: nhà giáo Nguyễn Ngọc Kí, chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà bác học Thomas Edison,…
d. Phản biện
- Trong xã hội vẫn còn có nhiều người nóng vội, muốn đạt được thành quả nhanh chóng, lại có người dễ nản chí, bỏ cuộc khi gặp khó khăn,… những người này đáng bị xã hội chỉ trích, phê phán.
3. Kết bài
- Khái quát và khẳng định lại tầm quan trọng của ý chí, nghị lực sống của con người đồng thời rút ra bài học, liên hệ bản thân.
Câu 3.
|
Cảm nhận về tình cha con của ông Sáu trong đoạn trích sau: Sáng hôm sau, bà con bên nội, bên ngoài đến rất đông. Cả con bẻ cũng theo ngoại nó về. Anh Sáu phải lo tiếp khách, anh như không chú ý đến con nữa. Còn chị Sáu thì lo chuẩn bị đồ đạc cho chồng, chị lo xếp từng chiếc áo, gói ghém đồ đạc vụn vặt vào cái túi nhỏ, chị cứ lúi húi bên chiếc ba lô. Con bẻ như bị bỏ rơi, lúc đúng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi người đang vây quanh ba nó. Vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và như không bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa. Ðến lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi bắt tay hết mọi người, anh Sáu mới đưa mắt nhìn con, thấy nó đứng trong góc nhà. Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng lại sợ nó giẫy lên lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn nó với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao. - Thôi! Ba đi nghe con! - Anh Sáu khe khẽ nói. Chúng tôi, mọi người - kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi. Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên: - Ba... a... a... ba! Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Ðó là tiếng "Ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm, tiếng "Ba" như vỡ tung ra từ lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc: - Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con! Ba nó bế nó lên - nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa.
|
Phương pháp: phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
I. Mở bài
- Giới thiệu tác giả: Nguyễn Quang Sáng
+ Nguyễn Quang Sáng là nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện đại Việt Nam.
- Giới thiệu tác phẩm: Chiếc lược ngà
+ Truyện ngắn "Chiếc lược ngà" ra đời năm 1966, những năm tháng gian khổ, đau thương nhất của đồng bào Nam Bộ trong 30 năm chiến tranh.
+ Truyện thể hiện cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.
- Giới thiệu khái quát về tình cảm cha con của ông Sáu được thể hiện sâu sắc trong đoạn cuối.
II. Thân bài
1. Tóm tắt truyện
- Truyện ngắn "Chiếc lược ngà" xoay quanh tình huống gặp mặt của bé Thu và ông Sáu.
- Khi ông Sáu đi kháng chiến, bé Thu chưa đầy một tuổi. Tám năm trời cha con em chỉ biết nhau thông qua 2 tấm ảnh. Lần nghỉ phép ba ngày của ông Sáu là cơ hội hiếm hoi để ba con Thu gặp gỡ, bày tỏ tình phụ tử. Nhưng bé Thu lại không chịu nhận cha vì vết thẹo trên má làm ông Sáu không giống như trong tấm ảnh. Đến lúc Thu nhận ra thì cũng là giây phút ba em lên đường tiếp tục đi chiến đấu. Và lần gặp mặt ấy là lần đầu tiên, duy nhất, cuối cùng của cha con Thu.
2. Phân tích
a. Tình cảm của bé Thu dành cho ông Sáu trong giây phút xa cha
– Khi chưa nhận ra ông Sáu với vết thẹo dài trên mặt, bé Thu đã có thái độ xa lánh, hành động cự tuyệt và những lời nói cử chỉ khiến ông Sáu phải đau lòng.
=> Tất cả những hành động ấy đã thể hiện được cá tính mạnh mẽ và tình cảm yêu thương rạch ròi của cô bé. Trong trái tim em, ba chỉ có một người mà thôi.
– Khi nhận ra ông Sáu là cha mình, trong buổi sáng cuối cùng trước khi ông Sáu phải lên đường, thái độ, hành động của bé Thu đột ngột thay đổi:
+ Đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao, đó là đôi mắt của đứa trẻ chưa kịp lớn đã phải đối diện với những nỗi buồn chia xa, ly biệt.
+ Nó bỗng kêu thét lên "ba" – tiếng kêu như xé tan sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người. Là tiếng kêu đầu tiên và cũng là tiếng kêu cuối cùng của cuộc đời cô bé.
+ Cô bé chạy xô tới, dang hai tay ôm lấy cổ ba, hôn ba cùng khắp (hôn tóc, hôn cổ, hôn vai, hôn vết thẹo),
+ Nó dang cả hai chân để câu chặt lấy ba, đôi vai nhỏ bé run run.
=> Tình yêu thương ba được bộc lộ một cách mãnh liệt, dâng trào, không thể kìm nén nổi. Em yêu ba, nhớ ba, mong ba. Nay tình cảm ấy mới có dịp vỡ òa ra nên vô cùng mạnh mẽ, hối hả, cuống quýt.
b. Tình cảm của ông Sáu dành cho con
– Trước đó, khi bị con từ chối, ông cảm thấy vô cùng hụt hẫng, đau khổ, cáu giận, không thể kìm chế nổi. Và giờ đây, ông ngậm ngùi không dám lại gần con, vì sợ con gái lại tránh xa, sợ hãi mình.
- Ông Sáu trong trạng thái đau khổ khi muốn ôm ấp hình hài máu mủ của mình nhưng lại sợ bị khước từ.
=> Đó là nỗi đau khổ, đáng thương của người lính vì chiến tranh làm nên những tổn thương cho thể xác và tâm hồn.
- Trong khoảnh khắc bé Thu nhận ra ông là cha, ông đã hạnh phúc khôn cùng. Ông Sáu vỡ òa trong tiếng gọi mà ông đã khao khát suốt 8 năm.
=> Tình cảm của người cha là một tình cảm sâu sắc, thiêng liêng.
c. Ý nghĩa đoạn trích
- Đoạn trích tố cao chiến tranh phi nghĩa, đã làm nên những đau thương cho người vô tội.
- Đoạn trích cũng ca ngợi sâu sắc tình cảm thiêng liêng của đời người mà tội ác hay bom đạn không thể nào tàn phá được – tình phụ tử.
III. Kết bài
- Khẳng định giá trị của đoạn trích
- Tình cảm của em dành cho các nhân vật.
Đề thi vào 10 môn Văn Đăk Lăk năm 2020
Đề bài
Câu 1 (2.0 điểm)
Đọc đoạn trích:
Gặp thời tức là gặp may, có cơ hội, nhưng nếu chủ quan không chuẩn bị thì cơ hội cũng sẽ qua đi. Hoàn cảnh bức bách tức là hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục. Nhưng gặp hoàn cảnh ấy có người bi quan, thất vọng, chán nản, thối chí; có người lại gồng mình vượt qua. Điều kiện học tập cũng vậy, có người được cha mẹ tạo cho mọi điều kiện thuận lợi, nhưng lại mải chơi, ăn diện, kết quả học tập rất bình thường. Nói tới tài năng thì ai cũng có chút tài, nhưng đó chỉ mới là một khả năng tiềm tàng, nếu không tìm cách phát huy thì nó cũng bị thui chột. Rút cuộc mấu chốt của thành đạt là ở bản thân chủ quan mỗi người, ở tinh thần kiên trì phấn đấu, học tập không mệt mỏi, lại phải trau dồi đạo đức cho tốt đẹp. Không nên quên rằng, thành đạt tức là làm được một cái gì có ích cho mọi người, cho xã hội, được xã hội thừa nhận.
(Trích Trò chuyện với bạn trẻ - Nguyên Hương, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr. 11)
Thực hiện các yêu cầu sau:
1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. (0.5 điểm)
2. Theo tác giả, khi gặp hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục, con người có những cách ứng xử nào? (0.5 điểm)
3. Anh/Chị hiểu như thế nào về ý kiến: thành đạt tức là làm được một cái gì có ích cho mọi người, cho xã hội, được xã hội thừa nhận? (1.0 điểm)
Câu 2 (3.0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở Câu 1, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 250 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc nắm bắt cơ hội cho bản thân trong cuộc sống.
Câu 3 (5.0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau:
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa do bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Cá nhẹ cả chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe.
Đêm thở : sao lùa nước Hạ Long.
Ta hát bài ca gọi cả vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
Biển cho ta cả như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.
(Trích Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr. 140)
Lời giải chi tiết
Câu 1
|
1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. (0.5 điểm) |
Phương pháp: căn cứ các phương thức biểu đạt đã học
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
|
2. Theo tác giả, khi gặp hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục, con người có những cách ứng xử nào? (0.5 điểm) |
Phương pháp: căn cứ bài đọc hiểu
Cách giải:
Khi gặp hoàn cảnh khó khăn, buộc phải khắc phục con người thường có 2 cách ứng xử: có người bi quan, thất vọng, chán nản, thối chí; có người gồng mình vượt qua.
|
3. Anh/Chị hiểu như thế nào về ý kiến: thành đạt tức là làm được một cái gì có ích cho mọi người, cho xã hội, được xã hội thừa nhận? (1.0 điểm) |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Ý kiến trên có thể hiểu: thành đạt đối với một cá nhân không chỉ đơn thuần là cá nhân đó đạt được mục tiêu mà bản thân đề ra. Cao hơn cả thành đạt là khi việc làm đó của bạn mang lại lợi ích cho cộng đồng xã hội, phục vụ cho sự phát triển chung của xã hội và được mọi người thừa nhận.
Câu 2
|
Từ nội dung đoạn trích ở Câu 1, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 250 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc nắm bắt cơ hội cho bản thân trong cuộc sống. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: ý nghĩa của việc nắm bắt cơ hội cho bản thân trong cuộc sống.
2. Giải thích vấn đề:
- Cơ hội là hoàn cảnh thuận lợi mà chúng ta gặp được để thực hiện điều mong muốn, dự định.
- Nắm bắt là nắm được, hiểu được để vận dụng, sử dụng.
=> Nắm bắt cơ hội là biết tận dụng hoàn cảnh thuận lợi để thực hiện những dự định, mơ ước của mình và biến nó thành hiện thực.
3. Phân tích, bàn luận vấn đề
- Cơ hội không phải lúc nào cũng xuất hiện. Nếu để nó qua đi có thể bạn sẽ phải chờ đợi rất lâu bởi vậy việc nắm bắt cơ hội kịp thời có ý nghĩa hết sức quan trọng.
- Ý nghĩa của việc nắm bắt cơ hội:
+ Biết tận dụng hoàn cảnh thuận lợi, chúng ta sẽ có cơ hội tiến nhanh đến thành công.
+ Cơ hội mang đến cho chúng ta niềm tin, niềm hi vọng để ta đạt được mục đích.
+ Cơ hội tạo ra cho chúng ta một sức mạnh to lớn và động lực để ta vượt qua những thử thách, khó khăn trong cuộc sống.
+ Người biết nắm bắt cơ hội là người thông minh, biết thích nghi với hoàn cảnh.
- Để có cơ hội tốt nhất, bạn không phải chỉ cần ngồi chờ dịp may mà còn phải có một sự chuẩn bị chu đáo. Đôi khi cơ hội là do chính chúng ta mang đến cho mình.
- Khi đã nhận ra được cơ hội đang ở trước mắt, chúng ta phải chủ động và tận dụng nó một cách khéo léo để có thể vượt qua những thử thách và tiến tới thành công.
- HS lấy dẫn chứng minh họa phù hợp.
- Phê phán những người không biết tận dụng cơ hội.
- Phân biệt nắm bắt cơ hội với sống cơ hội.
4. Liên hệ bản thân và Tổng kết
Câu 3
|
Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau: Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng, Ra đậu dặm xa do bụng biển, Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Cá nhẹ cả chim cùng cá đé, Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe. Đêm thở : sao lùa nước Hạ Long.
Ta hát bài ca gọi cả vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Biển cho ta cả như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào. (Trích Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr. 140) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
2. Phân tích, cảm nhận
* Hình ảnh đoàn thuyền được tái hiện chân thực, sinh động:
- Không gian vũ trụ bao la được mở ra nhiều chiều:
+ Cao: bầu trời, mặt trăng.
+ Rộng: mặt biển.
+ Sâu: lòng biển.
- Để thấy đoàn thuyền đánh cá hoàn toàn tương xứng với không gian ấy:
+ Khi sóng biển cồn lên, cánh buồm như chạm vào cả mây trời.
+ Khi buông lưới con thuyền như dò thấu tận đáy đại dương.
+ Hệ thống động từ: “lái”, “lướt”… -> tư thế làm chủ của đoàn thuyền…
+ Hệ thống hình ảnh: “lái gió”, “buồm trăng”, “mây cao”, “biển bằng” -> con thuyền như mang sinh lực của đất trời để đánh cá trên biển.
- Gợi hình tượng người lao động trên biển:
+ Tầm vóc lớn lao sánh cùng vũ trụ.
+ Làm chủ cả vũ trụ.
* Sự giàu có, phong phú, đẹp đẽ, bao dung của biển cả:
- Liệt kê: “cá nhụ”, “cá chim”…:
+ Là những loài cá quý giá nhất -> sự hào phóng của biển cả.
+ Tô đậm ấn tượng về một vùng biển giàu có với sản vật phong phú.
- Hình ảnh miêu tả: “cá song…đuốc đen hồng”:
+ Tả thực cá song dài có những chấm nhỏ màu đen hồng.
+ Liên tưởng đến ngọn đuốc làm sáng cả biển đêm.
- Đại từ “em” -> nhân hóa câu thơ:
+ Cá không phải là đối tượng để đánh bắt mà là đối tượng để chinh phục.
+ Gợi hành trình chinh phục tự nhiên của con người.
- Nhân hóa: “đêm thở”, “sao lùa” -> Vẻ đẹp của đêm trăng trên biển. Ánh trăng sao lồng vào sóng nước nên khi cá quẫy ta có cảm giác không phải mặt nước đang xao động mà là màn đêm đang thở.
- So sánh “như lòng mẹ”:
+ Là “nguồn sữa”, nguồn tài nguyên khổng lồ nuôi sống con người.
+ Ấm áp, bao dung, gần gũi, yêu thương con người như lòng mẹ.
=> Ẩn sau những câu thơ này là niềm hạnh phúc và lòng biết ơn của con người đối với ân tình của thiên nhiên, đất nước.
3. Tổng kết
Đề thi vào 10 môn Văn Chuyên Đăk Lăk năm 2019
Đề bài
Câu 1: (2.0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
(Trích Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục)
Thực hiện các yêu cầu:
1. Xác định và nêu tác dụng các biện pháp tu từ trong hai câu thơ đầu.
2. Đoạn thơ trên gợi cho anh/chị tình cảm và trách nhiệm gì đối với biển đảo quê hương (trình bày khoảng 5-7 dòng)
Câu 2: (3.0 điểm)
Ngày xưa có vị vua trị vì vương quốc nọ. Một hôm, ông quyết định vi hành đến những miền đất xa xôi của đất nước. Khi trở về cung điện, ông than phiền chân của ông rất đau đớn vì lần đầu tiên đi một chuyến dài ngày trên con đường rất gồ ghề và lởm chởm đá vụn. Nhà vua ra lệnh cho mọi người phải phủ da thuộc lên các con đường của vương quốc. Rõ ràng việc này cần hàng triệu da bò và sẽ tiêu phí rất nhiều tiền của.
Một hầu cận thông minh đã dũng cảm tâu với nhà vua: “Sao bệ hạ lại dùng tiền tốn kém một cách không cần thiết như thế? Sao bệ hạ không đo cắt một miếng da vừa với chân mình?”. Nhà vua rất ngạc nhiên nhưng rồi ông chấp thuận gợi ý của người hầu cận để làm một “đôi giày” cho riêng mình.
(Theo Chicken Soup for the Soul – Chia sẻ tâm hồn và quà tặng cuộc sống)
Hãy viết bài văn nghị luận khoảng 300 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về bài học cuộc sống được rút ra từ câu chuyện trên.
Câu 3: (5.0 điểm)
Nguyễn Du thuộc về những nhà thơ thi trung hữu họa. Ông có một phong cách tạo hình độc đáo. Qua thơ ông, người họa sĩ thấy nổi lên hình, sắc, ánh sáng, bố cục và thấy cả không gian, thời gian. Sự di chuyển bút pháp của mỗi câu thơ, mỗi đoạn thơ rất uyển chuyển, thoải mái. Tâm tình và sự vật thống nhất, hài hòa. Qua sáng tạo của ông, cảnh vật vô tri như có một tâm hồn ẩn náu bên trong, nhưng chính cảnh vật vô tri bộc lộ hộ tâm tình. Điều đó còn có nghĩa là ông dùng vẻ đẹp để đi vào tâm hồn nhân vật.
(Tính chất tạo hình của thơ Nguyễn Du trong Truyện Kiều – Nguyễn Tiến Chung)
Bằng trải nghiệm về các đoạn trích trong tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du (Ngữ văn 9), anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
Lời giải chi tiết
Câu 1
|
1. Xác định và nêu tác dụng các biện pháp tu từ trong hai câu thơ đầu. |
Phương pháp: căn cứ các biện pháp nghệ thuật đã học; phân tích, tổng hợp
Cách giải:
- Hình ảnh so sánh độc đáo trong câu 1: Quang cảnh hùng vĩ của bầu trời lúc chiều tà -> vẻ đẹp kì vĩ, tráng lệ của cảnh hoàng hôn trên biển.
- Biện pháp tu từ nhân hóa:
+ Được sáng tạo từ chi tiết thực: những con sóng cài ngang như chiếc then cửa của vũ trụ. Bóng đêm “sập cửa” gợi khoảnh khắc ánh ngày vụt tắt và màn đêm bất ngờ buông xuống bao trùm tất cả.
+ Gợi không gian vũ trụ rộng lớn, mênh mông, kì vĩ mà vẫn gần gũi, ấm áp như ngôi nhà của con người.
|
2. Đoạn thơ trên gợi cho anh/chị tình cảm và trách nhiệm gì đối với biển đảo quê hương (trình bày khoảng 5-7 dòng) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
Trách nhiệm của thanh niên với biển đảo quê hương:
- Ra sức học tập, trau dồi tri thức.
- Rèn luyện phẩm chất đạo đức.
- Tỉnh táo trước các luồng thông tin, luôn tiếp nhận và phân tích, để không bị kẻ địch dắt mũi.
- Tuyên truyền để mọi người khai thác biển đảo một cách bền vững.
- Tuyên truyền bảo vệ môi trường, các loài sinh vật trên biển.
-…
Câu 2
|
Ngày xưa có vị vua trị vì vương quốc nọ. Một hôm, ông quyết định vi hành đến những miền đất xa xôi của đất nước. Khi trở về cung điện, ông than phiền chân của ông rất đau đớn vì lần đầu tiên đi một chuyến dài ngày trên con đường rất gồ ghề và lởm chởm đá vụn. Nhà vua ra lệnh cho mọi người phải phủ da thuộc lên các con đường của vương quốc. Rõ ràng việc này cần hàng triệu da bò và sẽ tiêu phí rất nhiều tiền của. Một hầu cận thông minh đã dũng cảm tâu với nhà vua: “Sao bệ hạ lại dùng tiền tốn kém một cách không cần thiết như thế? Sao bệ hạ không đo cắt một miếng da vừa với chân mình?”. Nhà vua rất ngạc nhiên nhưng rồi ông chấp thuận gợi ý của người hầu cận để làm một “đôi giày” cho riêng mình. (Theo Chicken Soup for the Soul – Chia sẻ tâm hồn và quà tặng cuộc sống) Hãy viết bài văn nghị luận khoảng 300 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về bài học cuộc sống được rút ra từ câu chuyện trên. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
Học sinh tự rút ra bài học cho mình. Ban chuyên môn gợi ý: “Để thế giới này trở thành một nơi hạnh phúc với mọi người, tốt hơn hết hãy thay đổi chính mình chứ đừng thay đổi thế giới”
1. Giới thiệu vấn đề: Để thế giới này trở thành một nơi hạnh phúc với mọi người, tốt hơn hết hãy thay đổi chính mình chứ đừng thay đổi thế giới
2. Bàn luận vấn đề
- Trong câu chuyện trên, ông vua chỉ vì cái chân đau của mình mà đã đưa đến một quyết định vô cùng hệ trọng thậm chí là điên rồ. Ông ta chỉ muốn thế giới thay đổi để phục tùng mình mà chưa bao giờ có ý định thay đổi bản thân để làm cuộc sống tốt đẹp hơn.
=> Câu chuyện cho ta bài học có ý nghĩa, giá trị.
- Con người không muốn thay đổi bản thân vì không muốn thừa nhận những thiếu sót, những điểm yếu, phủ định giá trị của bản thân.
- Dù không muốn nhưng con người nhất thiết phải tự soi chiếu, tự nhìn nhận những khuyết điểm, hạn chế để hoàn thiện chính mình.
- Điều quan trọng nhất trong quá trình thay đổi bản thân chính là thay đổi thế giới quan. Nếu chọn cho mình một thế giới quan rộng mở, tiến bộ, biện chứng, con người có thể đạt được nhiều thành công ngoài mong đợi, “đời thay đổi khi chúng ta thay đổi”
- Nhiều người không phê phán, thay đổi bản thân từ đó kéo lùi sự phát triển của lịch sử, xã hội.
- Cần phải luôn có ý thức phản tính để có thể hoàn thiện chính bản thân mình.
- Mỗi người tự nhận thức và hoàn thiện chính mình, tự thực hiện những cuộc cách mạng cá nhân thì cả thế giới cũng sẽ cải biến
Câu 3
|
Nguyễn Du thuộc về những nhà thơ thi trung hữu họa. Ông có một phong cách tạo hình độc đáo. Qua thơ ông, người họa sĩ thấy nổi lên hình, sắc, ánh sáng, bố cục và thấy cả không gian, thời gian. Sự di chuyển bút pháp của mỗi câu thơ, mỗi đoạn thơ rất uyển chuyển, thoải mái. Tâm tình và sự vật thống nhất, hài hòa. Qua sáng tạo của ông, cảnh vật vô tri như có một tâm hồn ẩn náu bên trong, nhưng chính cảnh vật vô tri bộc lộ hộ tâm tình. Điều đó còn có nghĩa là ông dùng vẻ đẹp để đi vào tâm hồn nhân vật. (Tính chất tạo hình của thơ Nguyễn Du trong Truyện Kiều – Nguyễn Tiến Chung) Bằng trải nghiệm về các đoạn trích trong tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du (Ngữ văn 9), anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề
- Giới thiệu tác giả
- Giới thiệu nhận định: Nguyễn Du thuộc về những nhà thơ thi trung hữu họa. Ông có một phong cách tạo hình độc đáo. Qua thơ ông, người họa sĩ thấy nổi lên hình, sắc, ánh sáng, bố cục và thấy cả không gian, thời gian. Sự di chuyển bút pháp của mỗi câu thơ, mỗi đoạn thơ rất uyển chuyển, thoải mái. Tâm tình và sự vật thống nhất, hài hòa. Qua sáng tạo của ông, cảnh vật vô tri như có một tâm hồn ẩn náu bên trong, nhưng chính cảnh vật vô tri bộc lộ hộ tâm tình. Điều đó còn có nghĩa là ông dùng vẻ đẹp để đi vào tâm hồn nhân vật.
2. Giải quyết vấn đề
2.1 Giải thích nhận định
- Thi trung hữu họa: trong thơ có tranh, có cảnh.
- Không chỉ có tranh, có cảnh mà tranh cảnh trong thơ Nguyễn Du còn có hồn, bộc lộ tâm tình của con người. Đó chính là đỉnh cao của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình.
- Thơ – nhạc – hoạ đều là các loại hình nghệ thuật, song có sự khác biệt, đặc biệt là về chất liệu xây dựng hình tượng nghệ thuật để phản ánh cuộc sống. Nếu hoạ dùng đường nét, màu sắc, nhạc dùng giai điệu, âm thanh thì thơ cũng như các tác phẩm văn chương lại sử dụng ngôn từ làm chất liệu. Ngôn từ có đặc điểm riêng: đó là chất liệu phi vật thể, vì vậy, tác động nhận thức không trực tiếp bằng các loại hình nghệ thuật khác song sức gợi mở của nó lại hết sức dồi dào, mạnh mẽ. Nó tác động vào liên tưởng của con người và khơi dậy những cảm nhận cụ thể về màu sắc, đường nét, hình khối.
- Thi trung hữu họa bởi vì: Văn học phản ánh hiện thực cuộc sống, thơ ca cũng không nằm ngoài quy luật đó. Thơ ca phản ánh cuộc sống qua hệ thống ngôn từ giàu hình ảnh. Không ở thể loại văn học nào ta bắt gặp nhiều hình ảnh, biểu tượng (hình ảnh có ngụ ý), hình tượng (hình ảnh có ngụ ý xuyên suốt tác phẩm) nổi bật như thơ ca. Hình ảnh trong thơ là sự khách thể hóa những rung cảm nội tâm bởi thế giới tinh thần vốn vô hình nên nhất thiết phải dựa vào những điểm tựa tạo hình cụ thể để hữu hình hóa. Hình ảnh trong thơ nổi bật vì còn mang màu sắc của cảm xúc mãnh liệt và trí tưởng tượng phong phú.
2.2 Chứng minh qua các đoạn trích
a. Đoạn trích Cảnh ngày xuân
* Khung cảnh mùa xuân dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Du hiện lên vô cùng đẹp đẽ, tinh khôi.
Hai dòng thơ đầu là khung cảnh ngày xuân tuyệt đẹp.
- Hình ảnh “con én đưa thoi”:
+Tả: cảnh những cánh én bay liệng đầy trời rộn ràng như thoi đưa -> hình ảnh đẹp quen thuộc của mùa xuân.
+Gợi:Thời gian trôi nhanh
Không gian cao rộng của bầu trời
Không khí ấm áp của mùa xuân
- Câu thơ “thiều quang…”:
+ Tả: ánh sáng đẹp của ngày xuân
+ Gợi: Một không gian tràn đầy nắng ấm
Thời điểm tháng 3 mùa xuân là thời điểm thiên nhiên đạt tốc độ rực rỡ nhất, viên mãn nhất.
Sự nuối tiếc của chị em Thúy Kiều vì mùa xuân tươi đẹp đang trôi qua nhanh.
=> Hai câu thơ không chỉ có giá trị thông báo về thời gian mà còn tô đậm ấn tượng về một mùa xuân đang độ chín rất đỗi ngọt ngào. Đối diện với mùa xuân ấy lòng người không khỏi bồi hồi, xao xuyến, tiếc nuối.
Hai câu thơ tiếp đã phác họa một bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, tràn đầy sức sống:
- Hình ảnh “cỏ non…”:
+ Tái hiện một không gian tràn đầy sắc xanh non của cỏ mùa xuân.
+ Gợi: sự tươi non và sức sống dạt dào của mùa xuân.
- Hình ảnh “cành lê”:
+ Đảo ngữ “trắng điểm” -> tô đậm sắc trắng của đóa hoa lê.
+“điểm”: gợi ấn tượng về sự thanh thoát của hoa.
- Màu sắc:
+ Sắc xanh của cỏ.
+ Màu trắng của hoa
-> Hài hòa, gợi một không gian trong trẻo, tinh khôi, tràn trề nhựa sống.
=> Với bút pháp chấm phá tài tình, tác giả đã rất thành công khi phác họa mộtt bức tranh mùa xuân khoáng đạt, tươi đẹp => Thế giới tâm hồn tràn đầy niềm tươi vui, phấn chấn và có chút tiếc nuối của chị em Thúy Kiều.
* Không chỉ dừng lại ở đó khung cảnh lễ hội dưới bàn tay hoa của Nguyễn Du cũng hiện rõ hình nét:
- Kết hợp giữa các từ ghép hai âm tiết: “gần xa”, “yến anh”, “chị em”…cùng các từ láy “sắm sửa”, “nô nức”, “dập dìu”… -> tâm trạng náo nức, tươi vui, sự rộn ràng trong lòng người chơi xuân.
- Biện pháp ẩn dụ: “nô nức yến anh” :
Một mặt gợi hình ảnh từng đoàn người nhộn nhịp đi chơi xuân.
Mặt khác: gợi những xôn xao trong cuộc chuyện trò, gặp gỡ; những háo hức, tình tứ của những đôi lứa uyên ương.
- Biện pháp so sánh: “ngựa xe…”: tái hiện sự đông đúc, từng đoàn người chen vai thích cánh đi chơi xuân chật như nêm -> nhằm tái hiện niềm vui ngày hội đang lan tỏa lên khắp nhân gian.
* Cuối cùng là khung cảnh lễ hội tàn, buổi chiều ngày xuân vừa rõ hình, vừa rõ tình:
- Tả: thời gian ngày tàn lặng lẽ, vầng mặt trời ngả dần về phái Tây và những ánh ngày sắp tắt.
=> Một không gian buồn vắng khi ngày hội đã tan.
Tâm trạng tiếc nuối, bang khuâng, xao xuyến của chị em Thúy Kiều.
- Hình ảnh “tiểu khê”, “dịp cầu nho nhỏ” -> không gian lắng vào chiều sâu, một khung cảnh nhỏ bé, thân thuộc.
- Từ láy “thanh thanh”, “nao nao”, “nho nhỏ”-> mang đến cho bức tranh thiên nhiên vẻ đẹp xinh xắn, tao nhã và cũng phảng phất buồn.
- Thấm đẫm tâm trạng, cảnh vật như có hồn và đồng cảm với con người
=> Người ra về lưu luyến, tiếc nuối một ngày hội đã tàn, cả một mùa xuân sắp đi qua.
=> Dòng suối, mặt nước, cây cầu nhuộm vẻ trầm lắng, suy tư của con người.
=> Nhân hóa “nao nao…” -> phản chiếu những bồi hồi xao xuyến trong tâm hồn nhân vật.
=> Vừa là sự đọng lại của những cảm xúc trong ngày hội. Vừa là những dấu hiệu của một cuộc gặp gỡ tình cờ mà như có sự sắp xếp của số phận.
=> Nguyễn Du đã mượn cảnh vật để khám phá những rung động tinh tế trong tâm hồn nhân vật, đầy ắp yêu thương, sự đồng cảm tuyệt vời của Nguyễn Du.
b. Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
* Quang cảnh quanh lầu Ngưng Bích:
- Rộng lớn, mênh mông, bát ngát
Hình ảnh: “non xa”, “trăng gần” -> không gian mở ra chiều cao, chiều xa -> hình ảnh lầu Ngưng Bích chơi vơi, chênh vênh, đơn độc giữa không gian.
Từ láy “bát ngát” -> tô đậm hơn một không gian rợn ngợp cả 4 bề.
- Trống trải, hoang vắng, không có dấu hiệu của sự sống:
Liệt kê: “cát vàng”, “bụi hồng”, “cồn nọ”, “dặm kia” -> phủ định sự sống, gợi sự ngổn ngang của cảnh vật.
Tiểu đối: “mây sớm” – “đèn khuya”: càng gợi sự quạnh vắng, hắt hiu của cảnh.
=> Quang cảnh rộng trống, cô liêu, nhạt phai sự sống đã trở thành phương tiện để mở ra bao nỗi niềm của Thúy Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích.
- Tâm trạng của nàng Kiều:
+ Sự cô đơn, lẻ loi cùng cực: không một bóng người bầu bạn, chỉ có thể làm bạn với “trăng gần”, “mây sớm”, “đèn khuya” với những vật vô tri; mọi phương tiện giao cảm giữa con người với con người bị cắt đứt.
+ Ngổn ngang trăm mối âu lo, day dứt, đau khổ:
“Xa trông”: không đơn giản chỉ là nhìn mà còn là sự ngóng đợi, sự khắc khoải kiếm tìm một dấu hiệu chỉ là nhỏ nhoi nhất của sự sống, của cái ấm áp giữa nơi mà cô đơn hoàn toàn ngự trị.
Cách phác họa cảnh vật ngổn ngang -> gợi sự ngổn ngang trong lòng nàng.
+ Nỗi niềm chua xót, bẽ bàng cho cảnh ngộ, thân phận:
Lúc nào cũng chỉ có một mình, không thể chia sẻ cùng ai.
Chồng chất nỗi đau của cốt nhục chia lìa, tình yêu tan vỡ, bơ vơ nơi góc bể chân trời, trở thành một món hàng trong tay mụ Tú Bà.
Bị đày đọa giữa không gian xa xôi, hoang vắng, trong thời gian dằng dặc triền miên, trong tình cảnh cô đơn cùng cực.
=> Bằng biện pháp tả cảnh ngụ tình, với một hệ thống hình ảnh vừa chân thực, vừa sáng tạo, Nguyễn Du đã không chỉ phác họa được quanh cảnh xung quanh lầu Ngưng Bích mà ông còn giúp bạn đọc hiểu được cảnh ngộ và tâm trạng cô đơn, lẻ loi, đầy bi kịch của Thúy Kiều.
* Bức tranh thiên nhiên, tâm trạng của Kiều
- Tạo dựng sự tương phản: Không gian cửa biển lúc triều dâng >< Cánh buồm thấp thoáng, nhạt nhòa; cánh hoa tàn lụi man mác trôi trên dòng nước.
-> Tô đậm cái nhỏ bé, bơ vơ của cánh buồm, bông hoa.
+ Hình ảnh ẩn dụ: “thuyền ai”, “hoa” -> ẩn dụ cho thân phận của Thúy Kiều đang trôi dạt giữa dòng đời.
+ Câu hỏi “về đâu” -> sự lạc lõng, mất phương hướng, không biết sẽ đi đâu về đâu của nàng.
+ Thời gian “chiều hôm” lại càng làm cho nỗi buồn thân phận thêm sâu sắc.
- Là cảm giác cô đơn, lẻ loi khi đối diện với không gian mặt đất quanh lầu Ngưng Bích.
+ Hình ảnh: “nội cỏ”, “chân mây”, “mặt đất” -> cái vô cùng, vô tận của đất trời.
+ Từ láy “rầu rầu”: nhân hóa nội cỏ, vẽ lên một vùng cỏ cây vẻ ủ rũ, héo tàn -> gợi sự tàn úa, u buồn của lòng người.
+ Từ láy “xanh xanh”: gợi sắc xanh nhạt nhòa của nội cỏ, mặt đất chân mây; sắc xanh như che phủ, chia cắt tất cả.
=> Từ ngữ, hình ảnh cho thấy dẫu có kiếm tìm nhưng dường như trong vũ trụ bao la này Thúy Kiều không thể tìm được một dấu hiệu thân quen nào, một hơi ấm nào.
=> Đối diện với một không gian như vậy Thúy Kiều càng thấm thía hơn bao giờ hết sự nhỏ nhoi, đơn độc của mình.
- Nỗi trơ trọi, hãi hùng:
+ Thiên nhiên dữ dội và đầy biến động: gió giận dữ cuốn mặt duềnh, sóng ầm ầm vỗ ào ạt khi thủy triều lên.
+ Thậm chí, Kiều cảm giác những đợt sóng dữ dội kia đang bủa vây, kêu réo ngay bên mình.
+ Thiên nhiên là ẩn dụ cho dự cảm về những biến cố kinh hoàng sắp sửa ập xuống cuộc đời nàng. Những con sóng của số phận đang bủa vây, đe dọa người con gái lẻ loi, đơn độc nơi đất khách này.
-> Linh cảm trước tương lai khiến Thúy Kiều càng lo sợ, hãi hùng.
= > 8 câu cuối cảnh được miêu tả theo trình tự: xa -> gần, màu sắc: nhạt -> đậm, âm thanh: tĩnh -> động.
ð Gợi:
- Nỗi buồn đau, lo âu, kinh sợ chồng chất trong lòng Thúy Kiều.
- Sự mong manh, lẻ loi, trôi dạt, bế tắc trong thân phận nàng.
- Sự tuyệt vọng, yếu đuối nhất.
3. Tổng kết vấn đề
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
