Đề thi vào 10 môn Văn Đồng Nai
Đề thi vào 10 môn Văn Đồng Nai năm 2026
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
CÕNG CON ĐI HẾT MỘT KIẾP NGƯỜI
Mẹ cõng con đi hết một kiếp người
Bằng đôi cánh thiên thần của lòng bao dung
Và đôi vai gầy nhọc nhằn năm tháng
Chắp cánh bay cao những ước mơ ngày mai tươi sáng
Mẹ là bình minh trên dòng sông tinh khôi muôn đời vẫn chảy
Cho con về đắm mình trong hương đất chốn quê nhà
Mồ hôi mẹ ướt cánh đồng vàng thấm nghĩa ông cha
Lúa oằn bông nặng tình thương người giữ đất
Mẹ trải năm tháng đời mình cho con chân vững bước
Mặc hoàng hôn đang tím dần nơi sóng mắt
Mẹ dang tay ôm hết mọi nỗi đời bất hạnh
Để tuổi thơ con chạm ánh trăng rằm!
Khi thuyền đời con chòng chành trong giông bão
Tấm lòng mẹ là con thuyền neo đậu bến sông quê
Con bình yên trong tình yêu dịu hiền của mẹ
Đi hết cuộc đời thanh thản giấc mơ hoa
Mẹ thân yêu là ngọn lửa quê nhà
Sưởi ấm trái tim con trong dòng đời giông gió.
(Theo Thơ Nguyễn Kim Hương: Sự sống vươn mình trong lặng lẽ, Vanvn.vn, cập nhật ngày 9/02/2025)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2 (1,0 điểm). Tìm những từ ngữ khắc họa hình ảnh người mẹ trong khổ thơ thứ nhất.
Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong 02 dòng thơ sau: da
Mẹ dang tay ôm hết mọi nỗi đời bất hạnh
Để tuổi thơ con chạm ánh trăng rằm!
Câu 4 (1,0 điểm). Nêu tình cảm của nhà thơ thể hiện qua văn bản.
Câu 5 (1,0 điểm). Xác định chủ đề bài thơ. Phân tích ý nghĩa của nhan đề trong việc thể hiện chủ đề ấy.
Câu 6 (1,5 điểm). Trong bài thơ, người mẹ được so sánh với nhiều hình ảnh khác nhau:
(1) Mẹ là bình minh trên dòng sông tình khôi muôn đời vẫn chảy
Cho con về đắm mình trong hương đất chốn quê nhà
(2) Khi thuyền đời con chòng chành trong giông bão
Tấm lòng mẹ là con thuyền neo đậu bến sông quê
(3) Mẹ thân yêu là ngọn lửa quê nhà
Sưởi ấm trái tim con trong dòng đời giông gió.
Hình ảnh nào để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong em? Vì sao? (Trả lời khoảng 7 đến 9 dòng)
II. VIẾT (4,0 điểm)
Trao đổi về việc cha mẹ bảo bọc con cái:
Nguyễn Thu Trang (25 tuổi, ở Hà Nội) cho biết: cô như bị nhốt trong vòng kim cô vì cách nuôi dạy của cha mẹ; cô chơi với ai, đi đâu, làm gì mẹ cũng kiểm soát gắt gao.
(Theo VnExpress, đăng ngày 8/02/2023)
Hay chị Thảo (TP. Hồ Chí Minh) khoe "thành tích" của cô con gái năm nay học lớp 7 nhưng chị vẫn đút cho ăn hằng ngày. (Theo nguoidothi.net, đăng ngày 14/02/2025)
Ta thấy, trong cuộc sống, việc cha mẹ yêu thương, che chở con cái là cần thiết. Tuy nhiên hiện nay, một bộ phận giới trẻ lại được bảo bọc quá mức từ gia đình. Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về vấn đề trên.
Đáp án
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
Đọc hiểu |
Câu 1. (0,5 điểm) |
Thể thơ tự do |
|
Câu 2. (1,0 điểm) |
Từ ngữ khắc họa người mẹ trong khổ thứ nhất là: cõng con, đôi cánh thiên thần của lòng bao dung, đôi vai gầy. |
|
|
Câu 3. (1,0 điểm) |
- Biện pháp ẩn dụ: ánh trăng rằm - Tác dụng: + “Ánh trăng rằm” là hình ảnh ẩn dụ cho cuộc sống hạnh phúc, trọn vẹn, bình yên của con. + Nhấn mạnh sự hi sinh, bao dung của mẹ khi sẵn sàng gánh chịu mọi khó khăn để bảo vệ tuổi thơ con. + Làm cho câu thơ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc và thể hiện sâu sắc tình mẫu tử thiêng liêng. |
|
|
Câu 4. (1,0 điểm) |
Qua văn bản, nhà thơ bày tỏ tình yêu thương, lòng biết ơn sâu sắc và niềm xúc động trước sự hi sinh thầm lặng của người mẹ. Đồng thời thể hiện sự trân trọng đối với tình mẫu tử thiêng liêng, cao đẹp. |
|
|
Câu 5. (1,0 điểm) |
- Chủ đề bài thơ: Ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng; sự hy sinh vô điều kiện của người mẹ và lòng biết ơn sâu sắc của người con đối với mẹ. - Ý nghĩa của nhan đề "Cõng con đi hết một kiếp người" trong việc thể hiện chủ đề: + Hình ảnh "cõng con" vừa mang ý nghĩa tả thực (hành động chở che, dìu dắt con từ thuở ấu thơ), vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho sự gánh vác, bao bọc, nâng đỡ của mẹ dành cho con suốt cuộc đời. + Cụm từ "đi hết một kiếp người" khẳng định tình yêu thương và trách nhiệm của mẹ là vô hạn, kéo dài suốt cả cuộc đời mẹ cho đến hơi thở cuối cùng. => Nhan đề đã khái quát trọn vẹn chủ đề của tác phẩm: Tình mẹ là bến đỗ, là điểm tựa vững chắc nhất của đời con. |
|
|
Câu 6. (1,5 điểm) |
- Hình ảnh so sánh ấn tượng nhất: “Mẹ thân yêu là ngọn lửa quê nhà - Vì: + Hình ảnh “ngọn lửa quê nhà” gợi lên sự ấm áp, yêu thương và chở che của mẹ dành cho con. Dù cuộc sống có khó khăn, vất vả hay “giông gió”, mẹ vẫn luôn là điểm tựa tinh thần giúp con có thêm niềm tin và sức mạnh để vượt qua thử thách. + Cảm nhận được tình mẫu tử thiêng liêng, bền bỉ và không bao giờ tắt giống như ngọn lửa luôn âm thầm sưởi ấm cuộc đời con. + Hình ảnh ấy khiến bản thân chúng ta càng thêm yêu thương, biết ơn và trân trọng mẹ của mình hơn. |
|
|
Viết |
(4,0 điểm) |
I. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận II. Thân bài 1. Giải thích vấn đề - Bao bọc con cái là sự quan tâm, chăm sóc, bảo vệ con trước những khó khăn, nguy hiểm. - Bao bọc quá mức là cha mẹ can thiệp quá sâu vào cuộc sống của con, quản lí mọi hoạt động của con. Quyết định thay con trong học tập, bạn bè, nghề nghiệp. Không để con tự trải nghiệm, tự chịu trách nhiệm. Đây là biểu hiện của tình yêu thương thiếu khoa học. 2. Phân tích, chứng minh - Mặt tích cực của sự quan tâm, bảo vệ con cái: + Giúp con được chăm sóc, phát triển trong môi trường an toàn. + Tránh được những cám dỗ, nguy cơ từ xã hội. + Thể hiện tình yêu thương và trách nhiệm của cha mẹ. - Tác hại của việc bao bọc con cái quá mức: + Con cái thiếu tính tự lập, phụ thuộc vào cha mẹ. + Ngại va chạm, thiếu kĩ năng giải quyết vấn đề. Dễ sợ thất bại, thiếu bản lĩnh trước khó khăn. + Khó thích nghi với cuộc sống khi trưởng thành. Có thể nảy sinh tâm lí ỷ lại hoặc phản kháng, muốn thoát khỏi sự kiểm soát. + Cha mẹ tốn nhiều thời gian, công sức, áp lực. Luôn lo lắng, căng thẳng về con từ đó dễ xảy ra mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái. + Xã hội hình thành một bộ phận thanh niên thiếu năng lực tự chủ. Giảm khả năng thích ứng và cống hiến của thế hệ trẻ. - Nguyên nhân dẫn đến việc cha mẹ bao bọc con cái quá mức: + Cha mẹ quá yêu thương con, sợ con gặp khó khăn. + Tâm lí lo lắng trước những nguy cơ của xã hội hiện đại. + Nhiều gia đình ít con nên dồn toàn bộ sự quan tâm cho con. + Một số cha mẹ chưa hiểu đúng phương pháp giáo dục con. + Con cái quen được chiều chuộng nên phụ thuộc vào cha mẹ. - Giải pháp khắc phục: + Cha mẹ yêu thương nhưng không nuông chiều. Cùng với đó, cha mẹ cần học cách tôn trọng quyền riêng tư và lựa chọn phù hợp của con. Tạo cơ hội để con tự làm việc, tự chịu trách nhiệm. Cha mẹ đóng vai trò đồng hành, định hướng thay vì kiểm soát. + Con cái chủ động rèn luyện tính tự lập, dám đối mặt với khó khăn và thử thách. Chia sẻ với cha mẹ để xây dựng sự thấu hiểu. Có trách nhiệm với bản thân và các quyết định của mình. + Nhà trường và xã hội tăng cường giáo dục kĩ năng sống. Tổ chức các hoạt động trải nghiệm giúp học sinh trưởng thành hơn. HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp 3. Mở rộng vấn đề - Phê phán những bậc cha mẹ nuông chiều, kiểm soát con quá mức. Đồng thời cũng cần lên án sự thờ ơ, bỏ mặc con cái, thiếu trách nhiệm trong giáo dục gia đình. - Phê phán những người con ỷ lại, không có ý thức tự lập. - Giáo dục đúng đắn nằm ở ranh giới giữa yêu thương và kỷ luật. Cha mẹ cần làm gương, hướng dẫn kỹ năng sống và để con tự chịu trách nhiệm với các quyết định của mình. Gia đình cần là điểm tựa vững chắc giúp trẻ trưởng thành bằng cả tình thương và sự thấu hiểu đúng mực. III. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận. |
Đề thi vào 10 môn Văn Đồng Nai năm 2025
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Những chú chim gác mái
(Minh Nhật)
Không gì bằng một buổi chiều đẹp, cậu con trai ngồi xuống một góc nhà, ngắm hoàng hôn. Cứ như thế cho đến khi những quầng đỏ trên bầu trời dần biến mất. Mặt trời đã lặn, êm ả. Nó cứ ngồi đó, cùng những chú chim gác mái ngoài cửa sổ.
Đó là việc An đã làm khi nó nhận điểm tốt nghiệp, hai mươi chín điểm, trượt.
Nói An vui thì chắc chắn không rồi. Trượt tốt nghiệp thì có gì mà vui. Bảo nó buồn cũng không. (Nó chẳng có cảm giác gì. An gần như đã lường trước điều này. Nó, là người hiểu mình nhất) An biết nếu làm bài thi đúng thực lực, nó sẽ không thể qua nổi kỳ thi mà nhiều người cho là dễ ợt này. Vì nó không học được, không biết phải nói sao, nhưng nó không - học - được.
Mẹ nhìn An một chút, im lặng giữa những ánh mắt.
- Con có muốn phúc khảo không?
- Dạ không. - An trả lời nhanh.
- Con đoán bây giờ mẹ nghĩ gì? - Mẹ nhìn vào mắt nó.
- Con nghĩ mẹ buồn hoặc thất vọng.
- Không, mẹ nghĩ hóa ra từ trước đến giờ mẹ không hiểu hết con.
An im lặng. Đúng.
- Có lẽ mẹ con mình cần thời gian suy nghĩ. Con có thể ra ngoài, loanh quanh, làm gì con thích, nhớ về ăn tối. - Mẹ nói và đứng lên, bước về phía cửa. - Bao nhiêu ngày cũng được, khi nào thấy ổn hơn thì mẹ con mình sẽ nói chuyện.
Từ phía sau, nhìn mẹ có vẻ bình thản, nhưng An biết mẹ đang buồn lắm. Đôi lúc nó không biết trong mười hai năm qua nó học vì điều gì nữa. Có lẽ vì mẹ. Nó thương mẹ. Từ khi bố mất, cuộc sống của nó chỉ còn mẹ. An tôn trọng mẹ. Mẹ muốn nó học, và nó đã cố học. Nhưng nó không làm được. Quá sức. Mọi thứ làm An cảm thấy mệt mỏi, sự mệt mỏi dồn nén lâu ngày bỗng vỡ ra như bong bóng nước.
(Lược một đoạn: Những ngày sau đó, An không muốn gặp ai. Nhưng rồi Giang, một người bạn thần của An, đã tìm thấy An. Giang an ủi, giúp An mở lòng chia sẻ về dự định tương lai.)
- Thế mày thích làm gì?
- Tao thích sửa xe máy.
An nói xong và ngừng lại, chờ con bạn nhún vai cười. Nhưng Giang lại nói:
- Tốt, ít ra mày còn có thứ muốn làm. Tệ nhất là khi con người ta chẳng có cái gì để cố gắng hay muốn làm nữa. [ ... ] - Rồi Giang cười.
Những ngày gần đây Hà Nội không lạnh chút nào. Những đám mây đen kéo đến đầy trời. Mưa đến lúc nào không ai hay. An nhìn Giang, cười. Nụ cười bị nhòe đi bởi cơn mưa.
- Giang à, tao muốn khóc.
- Được, tao biết. Khóc đi. Lúc nào thấy cần khóc thì khóc, không cần cố tỏ ra mạnh mẽ.
Giang đặt bàn tay lên tay bạn mình. Nhìn đứa bạn thân luôn bị coi là nghịch ngợm ngồi cạnh nó run lên, những giọt thủy tinh lăn dài. Dù sao, ít nhất An không mất một người bạn thân vì nó đã trượt tốt nghiệp. Chẳng sao cả, với Giang thì chẳng có điều gì thay đổi.
(Lược một đoạn: An ra tiệm sửa xe của chú Minh, trò chuyện với Đăng, một thợ sửa xe. Hai đứa hào hứng nói về những con xe mới được đưa đến tiệm. An cảm nhận được sự đam mê, thứ mà sau rất nhiều thời gian An mới tìm thấy.)
An về nhà. Mẹ đang làm bếp, nó đến, ôm mẹ từ sau lưng.
Hành động đột ngột khiến mẹ hơi giật mình, nhưng rồi mỉm cười. An ít khi bộc lộ tình cảm như thế, nhưng mẹ biết con trai mình là người sống tình cảm. Mẹ xoay lại:
- Mạnh hơn rồi chứ con?
- Vâng!
- Con muốn bắt đầu thế nào?
- Con ... muốn vào làm ở tiệm sửa xe của chú Minh. Con sẽ học một cách bài bản, đến khi có đủ vốn và kinh nghiệm, con có thể sẽ mở cửa tiệm riêng. Như thế hoặc lớn hơn.
- Việc đó làm con vui chứ?
- Dạ?
- Việc đó làm con vui chứ?
An hơi sững lại một chút, rồi nó nhoẻn miệng cười.
- Vâng, con thích lắm!
- Tốt, đã đến lúc con đi con đường của riêng con, mẹ muốn con biết, mẹ luôn ủng hộ những gì con làm.
- Con cảm ơn mẹ!
An quay người đi, đến trước cửa bếp, nó quay lại, nhìn mẹ:
- Mẹ ạ, có lẽ không có bằng tốt nghiệp, nhưng mười hai năm học cũng không uổng phí, nó dạy con biết cách ôm mẹ.
- Mẹ biết, con trai. - Mẹ nháy mắt với An một cái.
Bầu trời có vẻ trong sáng hơn những ngày trước, từng đám mây từ từ trôi. An mở cửa sổ, nhìn về phía chân trời. Và An biết, cuộc sống của nó vẫn ở phía trước. Như những chú chim ngoài gác mái kia, sẽ tung cánh bay về phía mặt trời.
(Tập truyện ngắn Nơi những cơn gió dừng chân, Nxb Văn học, năm 2013, tr.54-60)
Câu 1. (0.5 điểm) Xác định ngôi kể của văn bản
Câu 2. (1.0 điểm) An có cảm giác như thế nào khi nhận kết quả mình trượt tốt nghiệp? Chỉ ra nguyên nhân khiến An có cảm giác đó.
Câu 3. (1.0 điểm) Xét về cấu tạo, câu văn “Mẹ ạ, có lẽ không có bằng tốt nghiệp, nhưng mười hai năm học cũng không uổng phí, nó dạy con biết cách ôm mẹ.” thuộc kiểu câu nào? Nêu tác dụng của việc lựa chọn kiểu câu ấy trong trường hợp trên.
Câu 4. (1.0 điểm) Nhận xét về tính cách của nhân vật An thể hiện qua lời thoại sau:
- Con ... muốn vào làm ở tiệm sửa xe của chú Minh. Con sẽ học một cách bài bản, đến khi có đủ vốn và kinh nghiệm, con có thể sẽ mở cửa tiệm riêng. Như thế hoặc lớn hơn.
Câu 5. (1.0 điểm) Xác định chủ đề của văn bản. Hình ảnh những chú chim gác mái xuất hiện ở nhan đề và đoạn kết văn bản đã góp phần thể hiện chủ đề ấy như thế nào?
Câu 6. (1.5 điểm) Theo em, trong cuộc sống, ai là người hiểu mình nhất? Nêu tầm quan trọng của việc hiểu mình. (Trả lời khoảng 5 đến 7 dòng)
II. LÀM VĂN (4.0 điểm)
Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của truyện Những chú chim gác mái của tác giả Minh Nhật.
Đáp án
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm) |
Câu 1. (0,5 điểm) |
Ngôi kể thứ 3 |
|
Câu 2. (0,5 điểm) |
Cảm giác của An khi trượt tốt nghiệp: không có cảm giác gì. Nguyên nhân khiến An có cảm giác đó là: An đã lường trước điều này, An hiểu mình sẽ không thể vượt qua kì thi này vì An không học được. |
|
|
Câu 3. (1,0 điểm) |
Xét theo cấu tạo là câu: câu ghép Việc sử dụng câu ghép giúp thể hiện: không có bằng tốt nghiệp nhưng An lại đạt được một điều quan trọng khác (biết cách thể hiện tình cảm với mẹ). Điều này nhấn mạnh sự trưởng thành trong cảm xúc của An. |
|
|
Câu 4. (1,0 điểm) |
-Tính cách của An: Chín chắn, đã trưởng thành, có chính kiến, có đam mê thực sự với nghề sửa xe, biết lập kế hoạch cụ thể cho tương lai. An có tinh thần cầu tiến, trách nhiệm và mong muốn được sống đúng với bản thân. |
|
|
Câu 5. (1,0 điểm) |
Chủ đề của văn bản: Hành trình vượt qua thất bại để thấu hiểu bản thân và tình yêu thương sự đồng cảm của những người thân trong gia đình trên hành trình ấy Hình ảnh “những chú chim gác mái”: Là biểu tượng cho sự tự do, khát vọng được bay xa. Chúng tượng trưng cho An – dù từng bị mắc kẹt trên “gác mái” (áp lực học hành, thất bại), nhưng cuối cùng vẫn có thể tung cánh đến với bầu trời của riêng mình. |
|
|
Câu 6. (1,5 điểm) |
HS trình bày quan điểm cá nhân. Gợi ý: Người hiểu mình nhất chính là bản thân mình. Vì chỉ có mình mới cảm nhận rõ những suy nghĩ, ước mơ, giới hạn và tổn thương trong sâu thẳm. Việc hiểu bản thân rất quan trọng vì nó giúp ta lựa chọn đúng con đường phù hợp, sống chân thật, không chạy theo kỳ vọng người khác và kiên định với những điều mình yêu thích. |
|
|
II. LÀM VĂN (4,0 điểm) |
(4 điểm) |
1. Mở bài: Khái quát vấn đề nghị luận: Chủ đề và nghệ thuật của truyện ngắn Những chú chim gác mái 2. Thân bài: a. Chủ đề truyện ngắn: Hành trình vượt qua thất bại để thấu hiểu bản thân và tình yêu thương sự đồng cảm của những người thân trong gia đình trên hành trình ấy - Hành trình vượt qua thất bại để thấu hiểu bản thân. + An trượt tốt nghiệp, cậu bé không bất ngờ cũng không buồn vì cậu biết mình không học được => Tâm lý trống rỗng khi chưa biết mình muốn gì. + Cuộc nói chuyện với người bạn thân giúp An xác định được điều mình thực sự thích. + An ra tiệm sửa xe của cú Minh, trò chuyện với người thợ sửa xe một cách say sưa và vui vẻ. Điều này cảng củng cố niềm tin về cái đích An hướng tới. + Cuộc trò chuyện với mẹ khi trở về nhà thể hiện quyết tâm kiên định theo đuổi điều mình thích ở An. + Hình ảnh “những chú chim gác mái”: Là biểu tượng cho sự tự do, khát vọng được bay xa. Chúng tượng trưng cho An – dù từng bị mắc kẹt trên “gác mái” (áp lực học hành, thất bại), nhưng cuối cùng vẫn có thể tung cánh đến với bầu trời của riêng mình. => Cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người biết được mình muốn gì và theo đuổi nó. - Sự đồng cảm, tình yêu thương của những người thân trong gia đình trên hành trình thấu hiểu bản thân. + Người mẹ đứng trước thất bại của con nhận ra mình chẳng hiểu gì về con cả. + Dù buồn nhưng người mẹ vẫn để con tự suy nghĩ về những gì con thực sự thích. + Cảm thấy vui và ủng hộ dù con sẽ không đi theo con đường ban đầu nhưng bà biết đó là điều con muốn. + Cảm thấy hạnh phúc vì giờ đây con đã biết yêu thương nhiều hơn. => Tình yêu thương, sự đồng cảm và ủng hộ của những người thân trong gia đình là động lực để chúng ta chinh phục phục những mục tiêu trong cuộc đời. b. Nghệ thuật: - Người kể giấu mình nhưng vẫn cho thấy được chiều sâu tâm lý của nhân vật An. Nhờ đó, người đọc dễ nhập vai, thấu hiểu những biến chuyển nội tâm phức tạp mà An trải qua. - Kết cấu truyện nhẹ nhàng, mở - kết tạo sự đối ứng: Mở đầu là khung cảnh hoàng hôn trầm lặng, kết thúc là hình ảnh bầu trời trong sáng và “những chú chim gác mái” bay về phía mặt trời – biểu tượng của hi vọng, tự do và tương lai rộng mở. Cách kể này tạo nên hành trình trọn vẹn từ bế tắc đến khai mở, từ im lặng đến tự do cảm xúc. - Tác giả miêu tả diễn biến tâm lý An rất chân thực: không phô trương, không kịch tính, mà trầm lắng, gần gũi – đúng với tâm lý một người trẻ đang loay hoay giữa ngã rẽ cuộc đời - Ngôn ngữ đối thoại giản dị, gần gũi, … - Hình ảnh những chú chim giàu tính biểu tượng. 3. Kết bài: Tổng kết lại vấn đề nghị luận. |
Đề thi vào 10 môn Văn Đồng Nai năm 2023
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU. Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Cha kể con nghe về những ngày xưa
Cổ tích rừng sâu hoàng tử cưỡi ngựa đi tìm công chúa
Cổ tích của cha... là khi cầm lấy bàn tay be bé
Nghe tiếng trống vỗ con con thúc lồng ngực mỉm cười
Chẳng cần con là vĩ nhân đâu... cha chỉ cần con là con thôi
Biết chập chững gọi cha, biết bi bô đòi mẹ
Biết khóc khi khổ đau biết cười giòn tan khi mạnh mẽ
Biết xúc cơm ăn biết lấy nước uống khi khát miệng thôi mà
[...]
Báu vật ơi! Thương con mong manh
Ngủ đi chiều nay giông bão về cha đã khoá chặt then của
Canh cho giấc mộng vẹn tròn... ừ! Cha sợ
Làm sao dai đẳng cùng con đến hết kiếp người
Chỉ cần con là người bình thường thôi
Xin đánh đổi tất cả những gì cha có.
(Trích Chỉ cần con là người bình thường thôi, Nồng Nàn Phố, http://thivien.net)
Câu 1 (0.75 điểm). Từ “Cổ tích” trong hai câu thơ Cổ tích của cha... là khi cầm lấy bàn tay be bé/ Nghe tiếng trống vỗ con con thúc lồng ngực mỉm cười được sử dụng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Giải thích nghĩa của từ này.
Câu 2 (0.5 điểm). Hãy nêu ít nhất hai biểu hiện cho thấy “con là con thôi” theo mong muốn của cha.
Câu 3 (0.75 điểm). Hình ảnh “giông bão” trong câu thơ Ngủ đi chiều nay giông bão về cha đã khóa chặt then cửa được sử dụng với ý nghĩa tu từ. Theo em, đó là phép tu từ nào? Hình ảnh ấy chỉ điều gì?
Câu 4 (1.0 điểm). Trong đoạn thơ, người cha Chỉ cần con là người bình thường thôi, riêng em, em muốn mình trở thành người như thế nào? Vì sao?
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. Từ ý thơ Báu vật ơi! Thương con mong mạnh/ Ngủ đi chiều nay giông bão về cha đã khoá chặt then cửa ở phần Đọc hiểu, hãy viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày vai trò của gia đình trước những giông bão có thể đến với con trong cuộc sống.
Câu 2. Học sinh được lựa chọn một trong hai câu a hoặc b để làm bài.
a. Cảm nhận tình yêu thương của ông Sáu dành cho con qua đoạn trích sau:
Đến lúc được về, cái tình người cha cử nôn nao trong người anh. Xuồng vào bến, thấy một đứa bé độ tám tuổi tóc cắt ngang vai, mặc quần đen, áo bông đỏ đang chơi nhà chòi dưới bóng cây xoài trước sân nhà, đoàn biết là con, không thể chờ xuống cặp lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra, khiến tôi bị chơi với. Anh bước vội vàng với những bước dài, rồi dùng lại kêu to:
- Thu! Con.
Vừa lúc ấy, tôi đã đến gần anh. Với lòng mong nhớ của anh, chắc anh nghĩ rằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh. Anh vừa bước, vừa khom người đưa tay đón chờ con. Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác, lạ lùng. Còn anh, anh không ghìm nổi xúc động. Mỗi lần bị xúc động, vết thẹo dài bên mả phải lại đỏ ửng lên, giần giật, trông rất dễ sợ. Với vẻ mặt xúc động ấy và hai tay vẫn đưa về phía trước, anh chầm chậm bước tới, giọng lặp bặp run run:
- Ba đây con!
- Ba đây con!
Con bé thấy lạ quá, nó chớp mắt nhìn tôi như muốn hỏi đó là ai, mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: “Má! Mál”. Còn anh, anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy.
(Trích Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016)
b. Phân tích đoạn thơ sau để làm rõ những mong muốn người cha đặt nơi con:
|
Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc |
Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con. |
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
- Từ “Cổ tích” trong hai câu thơ “Cổ tích của cha…là khi cầm lấy bàn tay be bé/Nghe tiếng trống….” được sử dụng theo nghĩa chuyển.
- Từ “cổ tích” ở đây được hiểu là những điều kì diệu, hạnh phúc. Trong câu thơ trên có thể hiểu từ khi con được sinh ra đã là một điều kì diệu, đẹp đẽ như bao câu chuyện cổ tích khác.
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc, tìm ý.
Cách giải:
Hai biểu hiện cho thấy “con là con thôi” theo mong muốn của cha”:
- Biết chập chững gọi cha, biết bi bô gọi mẹ.
- Biết khóc khi khổ đau biết cười giòn tan khi mạnh mẽ.
…..
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
- Hình ảnh “giông bão” trong câu thơ “Ngủ đi chiều nay giông bão về cha đã khóa chặt then cửa” được sử dụng với ý nghĩa tu từ. Phép tu từ ẩn dụ.
- Giông bão ở đây ý chỉ những khó khăn, những thử thách những điều không hay xảy ra trong cuộc đời.
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Học sinh tự trình bày theo quan điểm của bản thân mình. Có lý giải phù hợp.
Gợi ý:
- Em muốn trở thành một người bình thường, một người được sống cuộc đời của chính mình vui vẻ, bình an.
- Lý giải: Sau tất cả, được là chính mình, làm chủ cuộc sống của mình khiến cho bản thân mình hạnh phúc có lẽ là điều không chỉ bản thân em mà những người yêu thương em đều mong muốn.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
* Yêu cầu về mặt hình thức: Đoạn văn khoảng 150 chữ.
* Yêu cầu về mặt nội dung:
- Nêu vấn đề nghị luận: Vai trò của gia đình trước những giông bão có thể đên với con trong cuộc sống.
- Bàn luận vấn đề:
+ Giông bão là những khó khăn, vất vả mà ta có thể gặp trong cuộc sống.
=> Trước những khó khăn trong cuộc sống gia đình có vai trò vô cùng quan trọng giúp mỗi cá nhân vượt qua thử thách đó.
- Vai trò của gia đình.
+ Khi còn nhỏ, gia đình là nơi bảo vệ con trước mọi giông bão.
+ Khi đã trưởng thành, gia đình lại là điểm tựa cho con trước giông bão. Là nơi con quay về sau những bão tố của cuộc đời. Là nơi xoa dịu, ôm ấp con.
+ Gia đình là nơi tiếp thêm động lực để con vượt qua giông bão. Gia đình khiến con có thể đứng dậy sau vấp ngã, mạnh mẽ và kiên cường hơn.
…..
HS lấy dẫn chứng minh họa phù hợp.
- Bàn luận mở rộng:
+ Trân trọng và biết ơn gia đình mình.
+ Không nên quá ỷ lại, dựa dẫm vào sự bao bọc của cha mẹ mà không có gắng phát triển, trau dồi bản thân.
….
- Liên hệ bản thân và tổng kết vấn đề.
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
HS lựa chọn 1 đề và làm theo yêu cầu đề bài.
Gợi ý đề 2:
1. Mở bài:
- Giới thiệu chung về tác giả Y Phương, tác phẩm Nói với con.
- Giới thiệu vị trí và nội dung đoạn trích.
2. Thân bài
- Những phẩm chất cao quý của người đồng mình:
“Người đồng mình…
… chí lớn”
+ Dòng thơ đầu được lặp lại: “người đồng mình” là cách gọi thể hiện sự gần gũi, thân thương như trong một gia đình. “Thương lắm” – bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc với cuộc sống nhiều vất vả, gian khó của họ.
+ Từ ngữ giàu sức gợi: “cao” “xa” vừa gợi h/a miền núi cao vừa gợi điều kiện sống khó khăn, vất vả.
“Nỗi buồn” “chí lớn” thể hiện bản lĩnh vững vàng, ý chí kiên cường của người đồng mình.
è Lời thơ lẩn quất một nỗi buồn xen lẫn niềm tự hào về phẩm chất tốt đẹp của người miền núi.
- Tác giả khái quát lên vẻ đẹp truyền thống của người miền cao:
“Người đồng mình…
… làm phong tục”
+ Hình ảnh “người đồng mình”: vóc dáng, hình hài nhỏ bé, “thô sơ da thịt”, họ chỉ có đôi bàn tay lao động cần cù nhưng chẳng mấy ai nhỏ bé, yếu hèn. Họ dám đương đầu với gian lao, vất vả, họ lớn lao về ý chí, cao cả về tinh hồn.
+ Công lao vĩ đại của người đồng mình: “đục đá kê cao quê hương” – xây dựng quê hương, tạo nên ruộng đồng, dựng lên nhà cửa, bản làng, làm nên giá trị vật chất, tinh thần cho quê hương. “Làm phong tục” – tạo nên bao nền nếp, phong tục đẹp, làm nên bản sắc riêng của cộng đồng.
è Lời thơ tràn đầy niềm tự hào về vẻ đẹp của người đồng mình. Nhắn ngủ con phải biết kế thừa, phát huy những truyền thống đó.
- Từ đó, người cha khuyên con biết sống theo những truyền thống của người đồng mình:
“Dẫu làm sao…
… không lo cực nhọc”
+ Điệp từ “sống” khởi đầu 3 dòng thơ liên tiếp, tô đậm mong ước thiết tha, mãnh liệt của cha dành cho con.
+ Ẩn dụ “đá” “thung” chỉ không gian sống của người niềm cao, gợi lên những nhọc nhằn, gian khó, đói nghèo. Người cha mong con “không chê” tức là biết yêu thương, trân trọng quê hương mình.
+ So sánh “như sông” “như suối”: lối sống hồn nhiên, trong sáng, mạnh mẽ, phóng khoáng, vượt lên mọi gập ghềnh của cuộc đời.
+ Đối “lên thác xuống ghềnh”: cuộc sống không dễ dàng, bằng phẳng, cần dũng cảm đối mặt, không ngại ngần.
è Cha khuyên con tiếp nối tình cảm ân nghĩa, thủy chung với mảnh đất nơi mình sinh ra của người đồng mình và cả lòng can đảm, ý chí kiên cường của họ.
- Để rồi, bài thơ khép lại bằng lời dặn dò vừa ân cần, vừa nghiêm khắc của người cha:
“Con ơi…
… nghe con”
+ Hình ảnh “thô sơ da thịt” được nhắc lại để nhấn mạnh những khó khăn, thử thách mà con có thể gặp trên đường đời, bởi con còn non nớt, con chưa đủ hành trang mà đời thì gập ghềnh, gian khó.
+ Dẫu vậy, “không bao giờ nhỏ bé được” mà phải biết đương đầu với khó khăn, vượt qua thách thức, không được sống yếu hèn, hẹp hòi, ích kỉ. Phải sống sao cho xứng đáng với cha mẹ, với người đồng mình. Lời nhắn ngủ chứa đựng sự yêu thương, niềm tin tưởng mà người cha dành cho con.
3. Kết bài
- Nội dung:
+ Thể hiện tình cảm sâu nặng mà người cha dành cho con. Cha chăm nom con từng bước đi, nâng niu con từng tiếng cười, giọng nói và dạy dỗ con biết vững bước trên đường đời, biết sống sao cho xứng đáng với gia đình, quê hương.
+ Bộc lộ tình yêu quê hương xứ sở và niềm tự hào về người dồng mình của tác giả.
- Nghệ thuật: Từ ngữ, hình ảnh giản dị, giàu sức gợi, in đậm lối tư duy trong sáng, hồn nhiên, sinh động của người miền núi. Giọng điệu khi ân cần, tha thiết; khi mạnh mẽ, nghiêm khắc.
Đề thi vào 10 môn Văn Đồng Nai năm 2022
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
[1] Thực ra, hoàn cảnh là một bức tranh không màu, nó đen tối hay tươi sáng là do chỉnh bạn lựa chọn màu vẽ. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta luôn có nhiều hơn một sự lựa chọn!
[2] Cuộc sống có thể cho bạn muối mặn, nhưng lựa chọn bỏ ngay vào miệng để nhận lấy sự đẳng chát hay bỏ vào chén canh nhạt để có món canh thơm ngon là do bạn. Con người có thể cho bạn sự trọng vọng hay khinh rẻ, bạn có thể lựa chọn đón nhận hay phớt lờ. Số phận ban cho cỏ dại sự chà đạp, xa lánh của con người, tuy nhiên, số phận cũng để cho cỏ dại lựa chọn nở hoa hay héo úa. Và bạn đã biết, cỏ dại lựa chọn điều gì. Rõ ràng, bạn luôn có quyền lựa chọn thải độ sống cho mình, chỉ là đôi khi, bạn lười biếng lựa chọn và để cho số phận kéo đi.
(Đến cỏ dại còn đàng hoàng mà sống..., Phạm Sỹ Thanh, NXB Thế giới, 2019, tr.46-47)
Câu 1 (0.5 điểm) Chỉ ra một phép liên kết hình thức trong đoạn 1.
Câu 2 (0.5 điểm) Theo tác giả, trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta có bao nhiêu quyền lựa chọn?
Câu 3 (1.0 điểm) Xác định và nêu tác dụng của một phép tu từ được sử dụng trong câu: Cuộc sống có thể cho bạn muối mặn, nhưng lựa chọn bỏ ngay vào miệng để nhận lấy sự đắng chát hay bỏ vào chén canh nhạt để có món canh thơm ngon là do bạn.
Câu 4 (1.0 điểm) Em có đồng ý với quan điểm: hoàn cảnh là một bức tranh không màu, nó đen tối hay tươi sáng là do chính bạn lựa chọn màu vẽ? Vì sao?
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, hãy viết đoạn văn (khoảng 150chữ) bản về ý nghĩa của việc lựa chọn thái độ sống tích cực đối với mỗi người.
Câu 2. Học sinh được lựa chọn một trong hai câu a hoặc b để làm bài.
a. Phân tích đoạn trích sau để làm rõ thái độ sống mà nhân vật anh thanh niên đã lựa chọn:
Anh hạ giọng, nửa tâm sự, nửa đọc lại một điều rõ ràng đã ngẫm nghĩ nhiều:
- Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này cháu không nghĩ như vậy nữa. Và, khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chỉ dưới kia. Công việc của châu gian khổ thể đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất. Còn người thì ai mà chả "thèm" hở bác? Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc? Đẩy, cháu tự nói với cháu thể đấy. Bác lái xe đi, về Lai Châu cử đến đây dừng lại một lát. Không vào giờ "ốp" là cháu chạy xuống chơi, lâu thành lệ. Châu bỗng dưng tự hỏi: Cái nhớ xe, nhớ người ấy thật ra là cái gì vậy? Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đỗ hội thì xoàng. Châu ở liền trong trạm hàng tháng. Bắc lái xe bao lần dừng, bóp còi toe toe, mặc, cháu gan lì nhất định không xuống. thể là một hôm, bác lái phải thân hành lên trạm cháu. Cháu nói: "Đấy, bác cũng chẳng
"Thèm" người là gì?” Anh xoay sang người con gái đang một mắt đọc cuốn sách, một mắt lắng nghe, chân có
đang đưa khi khi, nói:
- Và cô cũng thấy đấy, lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà. Mỗi người viết một vẻ.
(Trích Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016, tr.185)
b. Cảm nhận lẽ sống mà Thanh Hải đã lựa chọn qua đoạn thơ sau:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nổi trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
(Trích Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải, Ngữ văn 9, Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016, tr.56)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1:
|
Chỉ ra một phép liên kết hình thức trong đoạn 1. |
Phương pháp: Căn cứ bài Các phép liên kết câu.
Cách giải:
Phép liên kết: phép lặp: hoàn cảnh, lựa chọn.
Câu 2:
|
Theo tác giả, trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta có bao nhiêu quyền lựa chọn? |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Trong bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta luôn có nhiều hơn một sự lựa chọn.
Câu 3:
|
Xác định và nêu tác dụng của một phép tu từ được sử dụng trong câu: Cuộc sống có thể cho bạn muối mặn, nhưng lựa chọn bỏ ngay vào miệng để nhận lấy sự đắng chát hay bỏ vào chén canh nhạt để có món canh thơm ngon là do bạn. |
Phương pháp: Căn cứ bài ẩn dụ, phân tích.
Cách giải:
Biện pháp tu từ: ẩn dụ (muối mặn)
Tác dụng: Giúp cho câu văn diễn đạt hình ảnh, có chiều sâu hơn. Đồng thời hình ảnh ẩn dụ cũng nhấn mạnh đứng trước khó khăn cách lựa chọn của mỗi người sẽ quyết định đến kết quả mà bản thân nhận được.
Câu 4:
|
Em có đồng ý với quan điểm: hoàn cảnh là một bức tranh không màu, nó đen tối hay tươi sáng là do chính bạn lựa chọn màu vẽ? Vì sao? |
Phương pháp: Phân tích, lí giải.
Cách giải:
- Đồng ý với quan điểm của tác giả.
- Vì: Cuộc đời mỗi người chính là một tờ giấy trắng, chúng ta là nhà họa sĩ tạo nên bức tranh ấy. Nếu chúng ta lựa chọn một bức tranh với gam màu tươi sáng, lạc quan thì cuộc đời của bạn cũng như vậy. Ngược lại nếu chúng ta luôn bi quan, chán nản thì cuộc đời của ta cũng tràn ngập u tối, chán chường.
II. PHẦN II
Câu 1:
|
Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, hãy viết đoạn văn (khoảng 150chữ) bản về ý nghĩa của việc lựa chọn thái độ sống tích cực đối với mỗi người. |
Phương pháp: Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
* Yêu cầu hình thức: Viết đúng một đoạn văn khoảng 150 chữ
* Yêu cầu về nội dung:
- Xác định đúng yêu cầu nghị luận: Ý nghĩa của việc lựa chọn thái độ sống tích cực đối với mỗi người
- Giải thích: Thái độ sống tích cực là việc con người luôn suy nghĩ, hành đồng hướng đến những điều tốt đẹp, có năng lượng tốt trong cuộc sống.
- Ý nghĩa của việc lựa chọn thái độ sống tích cực:
+ Lựa chọn thái độ sống tích cực tạo ra cơ hội thành công trong cuộc sống cao hơn.
+ Lựa chọn thái độ sống tích cực đem lại cho cuộc sống con người những niềm vui, hạnh phúc.
+ Thái độ sống của cá nhân góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
+ Lựa chọn thái độ sống tích cực giúp con người dễ dàng vượt qua những khó khăn thử thách của cuộc đời.
+ Lựa chọn thái độ sống tích cực tạo ra năng lượng tích cực, lan tỏa năng lượng ấy tới mọi người xung quanh tạo ra cuộc sống có ý nghĩa.
- Mở rộng, liên hệ.
+ Phê phán những người có lối sống tiêu cực.
+ Cần cố gắng học hỏi, bồi dưỡng năng lượng tích cực trong tâm hồn.
Câu 2:
|
Học sinh được lựa chọn một trong hai câu a hoặc b để làm bài. a. Phân tích đoạn trích sau để làm rõ thái độ sống mà nhân vật anh thanh niên đã lựa chọn: b. Cảm nhận lẽ sống mà Thanh Hải đã lựa chọn qua đoạn thơ sau: |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu chung về tác giả Thanh Hải và tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ.
- Giới thiệu 3 khổ thơ cần phân tích.
2. Thân bài: Khát vọng, lí tưởng sống cao đẹp của nhà thơ
- Mùa xuân đất nước đã khơi dậy trong lòng nhà thơ những khát vọng sống cao quý:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một nhành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến”
+ Điệp từ “ta làm”, lặp cấu trúc, liệt kê -> giúp tác giả bày tỏ ước nguyện được hiến dâng cuộc đời mình cho quê hương, xứ sở.
+ Các hình ảnh “con chim hót” “một cành hoa” “nốt nhạc trầm”: giản dị, tự nhiên mà đẹp, thể hiện ước nguyện khiêm nhường mà đáng quý.
+ Có sự ứng đối với các hình ảnh ở đầu bài thơ -> lí tưởng cống hiến cho đời là một lẽ tự nhiên, tất yếu; gợi liên tưởng đến mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa con người – đất nước.
Tấm lòng thiết tha được hòa nhập, được cống hiến cho cuộc đời, cho đất nước.
Khát vọng sống đẹp được nâng lên thành lí tưởng sống cao cả”
“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”
+ “Mùa xuân nho nhỏ”: ẩn dụ cho những gì đẹp nhất, tinh túy nhất của cuộc đời con người để góp phần làm nên mùa xuân của đất nước. Là cách nói khiêm nhường, giản dị, gợi một tâm hồn đẹp, một lối sống đẹp, một nhân cách đẹp “lặng lẽ dâng cho đời”.
+ Điệp từ “dù là” + hình ảnh tương phản “tuổi hai mươi” – “khi tóc bạc” khẳng định sự tồn tại bền vững của những khát vọng và lí tưởng sống ấy. Cả cuộc đời mình ông vẫn muốn chắt chiu những gì tốt đẹp nhất để hiến dâng cho đời.
=> Khổ thơ là lời tổng kết của nhà thơ về cuộc đời mình. Cho đến tận cuối đời ông vẫn khát khao cống hiến cho đất nước.
* Nhận xét về lối sống của tác giả: Tác giả có lối sống đẹp, luôn tận hiến cho đất nước, cuộc sống.
3. Kết bài:
- Nội dung: Bày tỏ lẽ sống đẹp đẽ, cao cả, đó là sẵn sàng dâng hiến cuộc đời mình cho đất nước, quê hương.
- Nghệ thuật:
+ Thể thơ 5 chữ, giàu nhịp điệu.
+ Ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, trong sáng.
+ Cảm xúc chân thành, tha thiết.
Đề thi vào 10 môn Văn Đồng Nai năm 2020
Đề bài
I. PHẦN ĐỌC HIỂU: (3,0 điểm)
Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu:
(1) Khi tôi lên tám hay chín tuổi gì đó, tôi nhớ thỉnh thoảng mẹ tôi vẫn nướng bánh mì cháy khét. Một buổi tối nọ, mẹ tôi về nhà sau một ngày làm việc dài và bà làm bữa tối cho cha con tôi. Bà dọn ra bàn vài lát bánh mì nướng cháy, không phải cháy xém bình thường mà cháy đen như than. Tôi nhìn những lát bánh mì và đợi xem có ai nhận ra điều bất thường của chúng mà lên tiếng hay không. Nhưng cha tôi chủ động ăn miếng bánh của ông và hỏi tôi về bài tập cũng như những việc ở trường học như mọi hôm. Tôi không còn nhớ tôi đã nói gì với ông hôm đó, nhưng tôi nhớ đã nghe mẹ xin lỗi ông vì đã làm cháy bánh mì. Và tôi không bao giờ quên được những gì cha tôi nói với mẹ tôi: “Em à, anh thích bánh mì cháy mà”.
(2) Đêm đó, tôi đến bên chúc cha ngủ ngon và hỏi có phải thực sự ông thích bánh mì cháy không. Cha khoác tay qua vai tôi và nói: “Mẹ con đã làm việc vất vả cả ngày và rất mệt. Một lát bánh mì cháy chẳng thể làm hại ai con ạ, nhưng con biết điều gì thực sự gây tổn thương cho người khác không? Những lời chê bai, trách móc cay nghiệt đấy”. Rồi ông nói tiếp: “Con biết đó, cuộc đời đầy rẫy những thứ không hoàn hảo và những con người không toàn vẹn. Cha cũng khá tệ trong rất nhiều việc, chẳng hạn như cha chẳng thể nhớ được ngày sinh nhật hay ngày kỉ niệm như một số người khác. Điều mà cha học được qua những năm tháng, đó là học cách chấp nhận sai sót của người khác và chọn cách ủng hộ những khác biệt của họ. Đó là chìa khoá quan trọng nhất để tạo nên một mối quan hệ lành mạnh, trưởng thành và bền vững con ạ. Cuộc đời rất ngắn ngủi để thức dậy với những hối tiếc và khó chịu. Hãy yêu quý những người cư xử tốt với con, và hãy cảm thông với những người chưa làm được điều đó”.
(Theo quatang.ync.vn)
Câu 1: Xác định và gọi tên một thành phần biệt lập có trong đoạn trích (1)
Câu 2: Theo người cha, điều gì thực sự gây tổn thương cho người khác?
Câu 3: Xét trong ngữ cảnh văn bản, câu nói của người cha: “Em à, anh thích bánh mì cháy mà” đã vi phạm phương châm hội thoại nào? Việc vi phạm ấy nhằm mục đích gì?
Câu 4: Em có đồng ý với quan điểm: “Cuộc đời rất ngắn ngủi để thức dậy với những hối tiếc và khó chịu không? Vì sao?
II. PHẦN LÀM VĂN: (7,0 điểm)
Câu 1: (2,0 điểm)
Từ nội dung văn bản ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày ý nghĩa của việc chấp nhận sai sót của người khác.
Câu 2: (5,0 điểm)
Cảm nhậnveề vẻ đẹp người chiến sĩ lái xe qua hai đoạn thơ sau:
Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.
Và:
Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
(Trích Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Phạm Tiến Duật, SGK Ngữ văn 9, tập 1)
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1
|
Xác định và gọi tên một thành phần biệt lập có trong đoạn trích (1) |
Phương pháp: Căn cứ vào bài học “Các thành phần biệt lập”
Cách giải:
Thành phần gọi đáp: “Em à”
Câu 2
|
Theo người cha, điều gì thực sự gây tổn thương cho người khác? |
Phương pháp: Căn cứ nội dung đoạn trích và tìm ý
Cách giải:
Theo người cha, điều thực sự gây tổn thương cho người khác đó chính là những lời chê bai, trách móc cay nghiệt.
Câu 3
|
Xét trong ngữ cảnh văn bản, câu nói của người cha: “Em à, anh thích bánh mì cháy mà” đã vi phạm phương châm hội thoại nào? Việc vi phạm ấy nhằm mục đích gì? |
Phương pháp: Căn cứ vào bài học “Các phương châm hội thoại”
Cách giải:
- Câu nói “Em àn, anh thích bánh mì cháy mà” vi phạm phương châm về chất.
- Người cha nói như vậy nhằm tránh gây sự tổn thương cho người vợ. Ông hiểu rằng người vợ của mình đã làm việc vất vả cả ngày dài nên không thể chuẩn bị tốt cho gia đình.
Câu 4
|
Em có đồng ý với quan điểm: “Cuộc đời rất ngắn ngủi để thức dậy với những hối tiếc và khó chịu không? Vì sao? |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
Gợi ý:
- Đồng ý với quan điểm trên
- Giải thích: Cuộc đời mỗi con người đều có giới hạn, lựa chọn cách sống, thái độ sống như thế nào là do bản thân ta tự quyết định. Nếu cứ sống với những hối tiếc, sự khó chịu, hận thù thì cuộc sống sẽ chẳng còn ý nghĩa, bản thân sẽ luôn sống trong những dằn vặt, đau khổ.
Phần II
Câu 1
|
Từ nội dung văn bản ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày ý nghĩa của việc chấp nhận sai sót của người khác. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: biết chấp nhận sai sót của người khác là một trong những phẩm chất quý giá, cần có ở mỗi con người.
2. Giải thích vấn đề
- Biết chấp nhận sai sót của người khác: là sự đồng cảm, bao dung, chấp nhận những sai sót, lỗi lầm của người khác và rộng lượng tha thứ cho những thiếu sót ấy.
=> Biết chấp nhận sai sót của người khác sẽ khiến cuộc sống dễ chịu và các mối quan hệ trở nên tốt đẹp hơn.
3. Phân tích, bàn luận vấn đề
- Biểu hiện của việc chấp nhận sai sót của người khác:
+ Chấp nhận những điều thiếu sót của người khác.
+ Không khó chịu khi người khác lỡ may sai sót, chưa làm tốt công việc.
+ …
- Ý nghĩa của việc chấp nhận sai sót của người khác:
+ Trong cuộc sống, ai cũng có lúc phạm phải sai lầm, nên việc bao dung, tha thứ và chấp nhận là điều cần thiết đối với con người.
+ Chấp nhận những thiếu sót của người khác sẽ khiến cho mối quan hệ giữa con người trở nên tốt đẹp hơn.
+ Biết bỏ qua sai sót cho người khác sẽ tạo điều kiện cho họ khắc phục, sửa chữa lỗi lầm.
+ Nếu không biết tha thứ, bỏ qua cho người khác và hẹp hòi, con người sẽ luôn sống trong sự hận thù, mối quan hệ giữa con người sẽ trở nên áp lực, căng thẳng.
- Phê phán những người có lối sống ích kỉ, luôn soi mói, không chấp nhận những sai lầm, thiếu sót của người khác.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Chúng ta cần mở rộng lòng mình để sẵn sàng tha thứ, bỏ qua sai lầm của người khác.
+ Giúp đỡ người khác nhận ra và khắc phục những sai lầm.
4. Liên hệ bản thân và tổng kết
Câu 2
|
Cảm nhậnveề vẻ đẹp người chiến sĩ lái xe qua hai đoạn thơ sau: Không có kính, ừ thì ướt áo Và: Không có kính, rồi xe không có đèn, (Trích Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Phạm Tiến Duật, SGK Ngữ văn 9, tập 1) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
- Phạm Tiến Duật là nhà thơ được rèn luyện, trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ gian khổ và oanh liệt của dân tộc.
- Bài thơ về tiểu đội xe không kính được sáng tác năm 1969 khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra ác liệt, khắc họa hình ảnh độc đáo của những chiếc xe không kính làm nổi bật hình ảnh những người lính lái xe ở Trường Sơn trong thời kì chống Mỹ với tư thế, tinh thần hiên ngang bất khuất.
- Tác giả đã khắc họa thành công hình tượng người lính và hiện thực chiến tranh khốc liệt qua hình ảnh những chiếc xe không kính tiêu biểu trong khổ thơ thứ tư và khổ thơ cuối cùng của tác phẩm.
2. Phân tích, cảm nhận
Phân tích hai khổ thơ để thấy được những đặc sắc nội dung và nghệ thuật:
a, Tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan tích cực coi thường hiểm nguy
- Hình ảnh những chiếc xe không kính độc đáo là hình ảnh tươi đẹp của người lính lái xe Trường Sơn:
+ Họ là chủ nhân của những chiếc xe không kính độc đáo
+ Họ với tư thế hiên ngang vượt qua mọi khó khăn thiếu thốn về vật chất
+ Họ phải đối mặt với hiểm nguy “ướt áo”, “mưa tuôn mưa xối”...
+ Hiện thực khốc liệt nhưng người lính cảm nhận và thể hiện bằng sự ngang tàng, trẻ trung, lãng mạn
- Họ tự tin, hiên ngang đối diện với gian khói lửa chiến tranh
- Giọng nói ngang tàng, bất chấp hiểm nguy thể hiện rõ trong cấu trúc: “không có... ừ thì” cứng cỏi, biến khó khăn thành điều thú vị
→ Khó khăn, nguy hiểm, thiếu thốn không làm nhụt chí người lính lái xe Trường Sơn. Ngược lại, ở họ là bản lĩnh, nghị lực phi thường hơn.
b. Ý chí chiến đấu vì miền Nam, thống nhất đất nước
- Bài thơ khép lại với bốn câu thơ thể hiện ý chí sắt đá của những người lính.
- Miền Nam chính là động lực mạnh mẽ nhất, sâu xa nhất tạo nên sức mạnh phi thường của người lính cách mạng
- Với biện pháp liệt kê, điệp từ “không có” diễn tả mức độ khốc liệt ngàng càng tăng của chiến trường.
- Đối lập với những cái “không có” chỉ cần “có một trái tim” đã làm nổi bật sức mạnh, ý chí ngoan cường của người lính lái xe.
- Hình ảnh trái tim là một hoán dụ nghệ thuật đẹp đẽ và đầy sáng tạo, khẳng định phẩm chất cao quý của các chiến sĩ lái xe trên đường ra tiền tuyến lớn. Các anh xứng đáng với truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc Việt Nam; tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu nước của thế hệ.
c. Nghệ thuật:
- Những biện pháp tu từ điệp từ, điệp cấu trúc, liệt kê đã làm nổi bật chiến tranh khốc liệt và sự hiên ngang của người lính.
- Những hình ảnh đậm chất hiện thực, giọng điệu thơ sôi nổi, trẻ trung, ngang tàng chính là những yếu tố thổi hồn cho bài thơ sống mãi.
3. Tổng kết vấn đề
- Hai khổ thơ tiêu biểu đã khắc hoạ hình ảnh các chiến sĩ lái xe Trường Sơn bằng tình cảm mến yêu và cảm phục chân thành.
- Vẻ đẹp của người lính lái xe và hình tượng những chiếc xe không kính trong bom đạn khốc liệt nói lên phẩm chất cao đẹp của thế hệ trẻ trong kháng chiến chống Mỹ.
Đề thi vào 10 môn Văn Đồng Nai năm 2019
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Mỗi chúng ta đều giống một đóa hoa. Có những bông hoa lớn và cũng có những bông hoa nhỏ, có những bông nở sớm và những bông nở muộn, có những đóa hoa rực rỡ sắc màu được bày bán ở những cửa hàng lớn, cũng có những đóa hoa đơn sắc kết thúc “đời hoa” bên vệ đường.
Sứ mệnh của hoa là nở. Cho dù không có những ưu thế để như nhiều loài hoa khác, cho dù được đặt ở bất cứ đâu, thì cũng hãy bừng nở rực rỡ, bung ra những nét đẹp mà chỉ riêng ta mới có thể mang đến cho đời.
[...]
Hãy bung nở đóa hoa của riêng mình dù có được gieo mầm ở bất cứ đâu.
(Kazuko Watanabe, Mình là nắng việc của mình là chói chang,
Vũ Thùy Linh dịch, NXB Thế giới, 2018)
Câu 1 (0.5 điểm).
Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Câu 2 (1.0 điểm).
Chỉ ra và nêu tác dụng của một phép tu từ được sử dụng trong câu văn: Có những bông hoa lớn và cũng có những bông hoa nhỏ, có những bông nở sớm và những bông nở muộn, có những đóa hoa rực rỡ sắc màu được bày bán ở những cửa hàng lớn, cũng có những đóa hoa đơn sắc kết thúc "đời hoa” bên vệ đường.
Câu 3 (0.5 điểm).
Nêu hàm ý của câu: Hãy bung nở đóa hoa của riêng mình dù có được gieo mầm ở bất cứ đâu.
Câu 4 (1.0 điểm).
Em có đồng tình với suy nghĩ của tác giả: “Mỗi chúng ta đều giống một đóa hoa.” không? Vì sao?
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm)
Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) với chủ đề: Tôi là một đóa hoa.
Câu 2 (5.0 điểm)
Cảm nhận của em về vẻ đẹp của các cô gái thanh niên xung phong qua hai đoạn trích sau:
Còn chúng tôi thì chạy trên cao điểm cả ban ngày. Mà ban ngày chạy trên cao điểm không phải chuyện chơi. Thần chết là một tay không thích đùa. Hắn ta lẩn trong ruột những quả bom. Tôi bây giờ còn một vết thương chưa lành miệng ở đùi. Tất nhiên, tôi không vào viện quân y. Việc nào cũng có cái thú của nó. Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang ầm ì xa dần. Thần kinh căng như chão, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng khắp chung quanh có nhiều quả bom chưa nổ. Có thể nổ bây giờ, có thể chốc nữa. Nhưng nhất định sẽ nổ... Rồi khi xong việc, quay lại nhìn cảnh đoạn đường một lần nữa, thở phào, chạy về hang.
Và:
Tôi thích nhiều bài. Những bài hành khúc bộ đội hay hát trên những ngả đường mặt trận. Tôi thích dân ca quan họ mềm mại, dịu dàng. Thích "Ca-chiu-sa" của Hồng quân Liên Xô. Thích ngồi bó gối mơ màng: "Về đây khi mái tóc còn xanh xanh...". [...] Chị Thao hát: "Đây Thăng Long, đây Đông Đô... Hà Nội ...". Nhạc sai bét, còn giọng thì chua, chị không hát trôi chảy được bài nào. Nhưng chị lại có ba quyền số dày, chép bài hát. Rỗi là ngồi chép bài hát. Thậm chí, say mê chép cả những lời tôi tự bịa ra nữa.
(Trích Những ngôi sao xa xôi – Lê Minh Khuê, SGK Ngữ văn 9, tập 2)
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1
|
Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. |
Phương pháp: căn cứ các phương thức biểu đạt đã học
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: nghị luận
Câu 2
| Chỉ ra và nêu tác dụng của một phép tu từ được sử dụng trong câu văn: Có những bông hoa lớn và cũng có những bông hoa nhỏ, có những bông nở sớm và những bông nở muộn, có những đóa hoa rực rỡ sắc màu được bày bán ở những cửa hàng lớn, cũng có những đóa hoa đơn sắc kết thúc "đời hoa” bên vệ đường |
Phương pháp: căn cứ bài Điệp từ, phân tích
Cách giải:
Điệp từ “có những”: liệt kê những cuộc đời khác nhau của hoa, nhấn mạnh bông hoa cũng có những cuộc đời riêng.
Câu 3
|
Nêu hàm ý của câu: Hãy bung nở đóa hoa của riêng mình dù có được gieo mầm ở bất cứ đâu. |
Phương pháp: căn cứ bài Nghĩa tường minh và hàm ý
Cách giải:
Hàm ý của câu: Dù sinh ra trong hoàn cảnh nào cũng hay sống hết lòng, nhiệt huyết và cháy bỏng
Câu 4
|
Em có đồng tình với suy nghĩ của tác giả: “Mỗi chúng ta đều giống một đóa hoa.” không? Vì sao? |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
Đồng tình. Vì:
+ Mỗi con người là món quà tuyệt vời được trao tặng thế giới
+ Mỗi người có những phẩm chất và năng lực riêng làm đẹp cho cuộc đời
+…
Phần II
Câu 1
|
Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) với chủ đề: Tôi là một đóa hoa. |
Phương pháp
Phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1.Giới thiệu vấn đề
2.Giải thích vấn đề
- Đóa hoa: hình ảnh ẩn dụ cho con người có năng lực, có phẩm chất cống hiến cho cuộc đời.
=>Tôi là một đóa hoa: mỗi người là một đóa hoa đẹp, con người cần ý thức điều đó để cống hiến, đóng góp cho cuộc đời.
3.Bàn luận vấn đề
- Tại sao nói “Tôi là một đóa hoa”?
+ Mỗi người là một cá thể có cá tính riêng và năng lực riêng để đóng góp và xây dựng cuộc sống
+ Việc tự ý thức mình là một đóa hoa giúp con người sống có ý nghĩa hơn và có trách nhiệm với cuộc đời hơn
+ Khi mình trở thành một người có ích, biết cống hiến cho cuộc đời, mình cũng sẽ nhận lại được những điều đẹp đẽ
+…
- Phê phán những người chưa ý thức được giá trị bản thân, thiếu tự tin,…
4. Liên hệ bản thân
Câu 2
|
Cảm nhận của em về vẻ đẹp của các cô gái thanh niên xung phong qua hai đoạn trích sau: Còn chúng tôi thì chạy trên cao điểm cả ban ngày. Mà ban ngày chạy trên cao điểm không phải chuyện chơi. Thần chết là một tay không thích đùa. Hắn ta lẩn trong ruột những quả bom. Tôi bây giờ còn một vết thương chưa lành miệng ở đùi. Tất nhiên, tôi không vào viện quân y. Việc nào cũng có cái thú của nó. Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang ầm ì xa dần. Thần kinh căng như chão, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng khắp chung quanh có nhiều quả bom chưa nổ. Có thể nổ bây giờ, có thể chốc nữa. Nhưng nhất định sẽ nổ... Rồi khi xong việc, quay lại nhìn cảnh đoạn đường một lần nữa, thở phào, chạy về hang. Và: Tôi thích nhiều bài. Những bài hành khúc bộ đội hay hát trên những ngả đường mặt trận. Tôi thích dân ca quan họ mềm mại, dịu dàng. Thích "Ca-chiu-sa" của Hồng quân Liên Xô. Thích ngồi bó gối mơ màng: "Về đây khi mái tóc còn xanh xanh...". [...] Chị Thao hát: "Đây Thăng Long, đây Đông Đô... Hà Nội ...". Nhạc sai bét, còn giọng thì chua, chị không hát trôi chảy được bài nào. Nhưng chị lại có ba quyền số dày, chép bài hát. Rỗi là ngồi chép bài hát. Thậm chí, say mê chép cả những lời tôi tự bịa ra nữa. (Trích Những ngôi sao xa xôi – Lê Minh Khuê, SGK Ngữ văn 9, tập 2) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
Tác giả:
- Thuộc thế hệ nhà văn trưởng trong kháng chiến chống Mĩ. Bà gia nhập thanh niên xung phong và bắt đầu sáng tác vào đầu những năm 70.
- Lê Minh Khuê thành công ở thể loại truyện ngắn:
+ Trong chiến tranh, hầu hết sáng tác của bà tập trung viết về cuộc sống, chiến đấu của tuổi trẻ ở tuyến đường Trường Sơn.
+ Sau 1975, sáng tác của Lê Minh Khuê bám sát những chuyển biến của đời sống xã hội và con người trên tinh thần đổi mới.
- Sáng tác của Lê Minh Khuê cuốn hút người đọc nhờ lối viết giản dị, tự nhiên, lối kể chuyện sinh động, khả năng phân tích tâm lí nhân vật chân thực, tinh tế.
Tác phẩm và đoạn trích
- Tác phẩm được viết năm 1971, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt.
- Hai đoạn trích kể về vẻ đẹp anh hùng dũng cảm và vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, hồn nhiên của những cô gái thanh niên xung phong.
2. Phân tích
- Nho, Thao, Phương Định là những cô gái rất trẻ, họ sống chiến đấu trên “một cái hang lớn dưới chân cao điểm” giữa vùng trọng điểm của tuyến đường Trường Sơn – nơi tập trung nhiều nhất bom đạn của kẻ thù.
- Nơi họ sống chỉ có tàn tích của chiến tranh: đường bị đánh lở loét, màu đất đỏ, trắng lẫn lộn, hai bên đường không có lá xanh, chỉ có những thân cây bị tước khô cháy, những cây lớn nằm lăn lóc, những tảng đá to, những thùng xăng hoặc những thành ô tô méo mó, han rỉ nằm trong đất.
=> Tưởng chừng như mọi thứ bị hủy diệt, không có dấu hiệu của sự sống. Hoàn cảnh sống ấy đã cho ta thấy cái khốc liệt của chiến tranh, sự khó khăn gian khổ mà con người phải trải qua.
- Công việc của họ đặc biệt nguy hiểm:
+ Quan sát địch ném bom, sau mỗi lần đó họ lại lao ra trọng điểm đo khối lượng đất đá bị đào xới, đếm những quả bom chưa nổ và phá bom.
+ Phải thường xuyên đối mặt với cái chết.
2.1 Đoạn 1: Vẻ đẹp phẩm chất: dũng cảm, kiên cường của những cô gái thanh niên xung phong
- Đoạn văn nói lên công việc vô cùng nguy hiểm của những cô gái thanh niên xung phong.
- Hoàn cảnh:
+ Chạy trên cao điểm ban ngày => địa điểm vô cùng nguy hiểm, có thể bị bom đánh bất cứ lúc nào.
+ Không khí đậm mùi chết chóc: đất bóc khói, không khí bang hoàng, máy bay ầm ì xa dần.
+ Bom nằm lẩn khuất, nó là tay thần chết không thích đùa, có thể cướp đi tính mạng của các cô gái bất cứ lúc nào.
=> Hoàn cảnh có nhiều nguy hiểm, khó khăn.
- Các cô gái:
+ Thần kinh căng như chão, tim đập bất chấp cả nhịp điệu.
+ Khi xong việc mới dám thở phào, nhẹ nhõm.
+ Họ thường xuyên phải đối mặt với cái chết: “Thần chết là tay không thích đùa. Hắn lẩn trốn trong ruột những quả bom”. Họ bị bom vùi là chuyện bình thường. Công việc thường ngày ấy khiến thần kinh họ luôn căng thẳng, đòi hỏi phải có sự bình tĩnh, dũng cảm.
- Nghệ thuật:
+ Giọng điệu trần thuật bình thản cho thấy tinh thần anh dũng, quả cảm ở những người con gái này.
+ Sử dụng hình ảnh đặc sắc, giàu giá trị tạo hình.
2.2 Đoạn 2: Vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, hồn nhiên, yêu đời
- Họ là ba cô gái trẻ có nội tâm phong phú. Ở họ có những nét chung của cô gái hay mơ mộng, hồn nhiên.
- Cuộc sống bom đạn gần kề, cái chết rình rập nhưng ba cô gái vẫn mang trong mình tâm hồn trẻ trung, yêu đời. Vẫn ngày ngày ca hát:
+ Phương Định thích nhiều bài, nhưng cô thích nhất là bài hành khúc bộ đội, hát dân ca quan họ,… Không chỉ vậy cô còn thích ngồi bó gối mơ màng.
+ Chị Thao dù hát sai bét nhạc, không trôi chảy bài nào nhưng chị vẫn hát, vẫn lạc quan, yêu đời. Đặc biệt dù hát không hay nhưng chị có tận ba quyển sổ dày chép bài hát. Thậm chí cả lời hát Phương Định bịa ra cũng cũng cố công chép vào.
- Nghệ thuật: giọng văn bông đùa, hỏm hính góp phần thể hiện tâm hồn trong sáng, yêu đời.
=> Cuộc sống ở chiến trường rất khó khăn nhưng họ vẫn luôn bình tĩnh, lạc quan, yêu đời. Trong hang vẫn vang lên tiếng hát của ba cô gái và những dự định về tương lai. Chiến tranh bom đạn không thể phá đi được những giây phút mơ mộng ấy.
Nhận xét: Hai đoạn văn đã làm sáng lên hai vẻ đẹp tâm hồn của những người con gái thanh niên xung phong: vừa kiên cường, dũng cảm vừa mơ mộng, hồn nhiên, yêu đời. Trong cái khói bom, lửa đạn của chiến tranh chính sự yêu đời, hồn nhiên đó đã giúp các cô vượt qua mọi khó khăn, thử thách.
3. Tông kết
Đề thi vào 10 môn Văn Đồng Nai năm 2018
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM)
Đọc kĩ đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Giữa năm 2015, bà Lê Thị Thảo, mẹ của Hòa, quyết định tặng thận…
[…] Tháng 3-2016, Hòa lên bàn mổ để tặng một quả thận cho một người phụ nữ trạc tuổi mẹ mình. Người được nhận thận quê ở Hà Nam, đã bị suy thận nhiều năm và cần được ghép thận để tiếp tục được sống.
[…] Để tặng được quả thận, từ khi quyết định hiến tặng đến khi lên bàn mổ, bà Thảo đã phải hơn 10 lần một mình một xe máy từ Bắc Ninh ra bệnh viện Việt Đức ở Hà Nội để làm các xét nghiệm. Con gái bà Thảo cũng vậy, và cuối năm 2016 khi mẹ con bà được mời lên truyền hình để nói về ý nghĩa của việc hiến tặng mô tạng, hai mẹ con lại chở nhau bằng xe máy từ Bắc Ninh lên Hà Nội rồi vội vã trở về ngay trong đêm… Nếu có ai hỏi về chuyện hiến thận đã qua, bà chỉ phẩy tay cười: “Cứ nghĩ bình thường đi, bình thường với nhau đi, bây giờ tôi chẳng đang rất khỏe là gì…”
Và nhờ cái “bình thường” của mẹ con bà Thảo, giờ đây có thêm hai gia đình được hạnh phúc vì người thân của họ được khỏe mạnh trở lại. Ở Bắc Ninh, gia đình bà Thảo cũng đang rất vui vẻ. Nỗi đau đớn của ca đại phẫu thuật đã qua đi, giờ đây trên bụng hai mẹ con là hai vết sẹo dài, như chứng nhân về quyết định rất đỗi lạ lùng, về việc sẵn sàng cho đi mà không băn khoăn một phần thân thể của mình.
Có lẽ bạn đọc nghĩ rằng đó là hai con người kì lạ, nhưng khi gặp họ và trò chuyện, chúng tôi mới thấy mẹ con bà Thảo không kì lạ chút nào, họ chỉ muốn tặng quà một cách vô tư để nhận lại một thứ hạnh phúc tinh thần nào đó mà tôi không thể nào định danh được!
(Trích Hai mẹ con cùng hiến thận, Lan Anh, Báo Tuổi trẻ, ngày 31/5/2018)
Câu 1: (0.5 điểm) Nhận biết
Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2: (0.5 điểm) Nhận biết
Chỉ ra lời dẫn trực tiếp được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 3: (1.0 điểm) Thông hiểu
Nỗi đau đớn của ca đại phẫu thuật đã qua đi, giờ đây trên bụng hai mẹ con là hai vết sẹo dài, như chứng nhân về quyết định rất đỗi lạ lùng, về việc sẵn sàng cho đi mà không băn khoăn một phần thân thể của mình.
aXét về mặt cấu trúc, câu trên thuộc kiểu câu gì?
b. Xác định và nêu tác dụng của phép tu từ được sử dụng trong câu trên.
Câu 4: (1.0 điểm) Thông hiểu
Có lẽ bạn đọc nghĩ rằng đó là hai con người kì lạ, nhưng khi gặp họ và trò chuyện, chúng tôi mới thấy mẹ con bà Thảo không kì lạ chút nào, họ chỉ muốn tặng quà một cách vô tư để nhận lại một thứ hạnh phúc tinh thần nào đó mà tôi không thể nào định danh được!
a. Xác định thành phần biệt lập có trong câu trên.
b. Theo em, thứ hạnh phúc tinh thần mà người viết không thể nào định danh được là gì?
II. LÀM VĂN (7.0 ĐIỂM)
Câu 1: (2.5 điểm)
Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, em hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ theo cách lập luận tổng – phân – hợp bàn về tâm niệm của Trịnh Công Sơn “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”. Trong đó sử dụng ít nhất hai phép liên kết. (Gọi tên và xác định từ ngữ liên kết)
Câu 2: (4.5 điểm)
Phân tích tình cảm của ông Sáu dành cho con gái qua đoạn trích sau đây:
[…] Từ con đường mòn chạy lẫn trong rừng sâu, anh hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà đưa lên khoe với tôi. Mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được ngà.
Sau đó anh lấy vỏ đạn hai mươi ly của Mĩ, đập mỏng làm thành một cây cưa nhỏ, cưa khúc ngà thành từng miếng nhỏ. Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc… Mỗi ngày anh cưa được một vài răng. Không bao lâu sau, cây lược được hoàn thành. Cây lược dài độ hơn một tấc, bề ngang độ ba phân rưỡi… cây lược chỉ có một hàng răng thưa. Trên sống lưng có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba” … Những đêm nhớ con,… anh lấy cây lược ra ngắm nghía, rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt. Có cây lược, anh càng mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện không mảy xảy ra… Anh bị viên đạn của máy bay Mĩ bắn vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu. Tôi không đủ lời lẽ để tả lại cái nhìn ấy, chỉ biết rằng, cho đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi cứ nhớ lại đôi mắt của anh.
- Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu.
Tôi cúi xuống gần anh và khẽ nói. Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi.
(Trích Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng, Ngữ văn 9, Tập 1)
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1:
| Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. |
Phương pháp: căn cứ các phương thức biểu đạt đã học
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
Câu 2:
| Chỉ ra lời dẫn trực tiếp được sử dụng trong đoạn trích |
Phương pháp: căn cứ Lời dẫn trực tiếp, lời dẫn gián tiếp
Cách giải:
Lời dẫn trực tiếp được sử dụng trong đoạn trích: “Cứ nghĩ bình thường đi, bình thường với nhau đi, bây giờ tôi chẳng đang rất khỏe là gì…”
Câu 3:
|
Nỗi đau đớn của ca đại phẫu thuật đã qua đi, giờ đây trên bụng hai mẹ con là hai vết sẹo dài, như chứng nhân về quyết định rất đỗi lạ lùng, về việc sẵn sàng cho đi mà không băn khoăn một phần thân thể của mình. aXét về mặt cấu trúc, câu trên thuộc kiểu câu gì? b. Xác định và nêu tác dụng của phép tu từ được sử dụng trong câu trên. |
Phương pháp: căn cứ bài Câu ghép, các biện pháp tu từ
Cách giải:
a. Câu ghép
b. Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn trên là biện pháp so sánh. Hai vết sẹo dài trên bụng hai mẹ con (bà Thảo và Hòa) được so sánh như chứng nhân về quyết định rất đỗi lạ lùng, về việc sẵn sàng cho đi mà không băn khoăn một phần thân thể của mình.
- Tác dụng của biện pháp so sánh:
+ Khẳng định giá trị của những vết thương mà hai mẹ con phải chịu đựng.
+ Hai vết sẹo ấy là bằng chứng sáng rõ nhất của tinh thần làm việc thiện, sẵn sàng cho đi một phần thân thể của mình mà không cần đáp lại.
=> Khẳng định tinh thần hiến dâng, biết sống vì người khác của hai mẹ con.
Câu 4:
|
Có lẽ bạn đọc nghĩ rằng đó là hai con người kì lạ, nhưng khi gặp họ và trò chuyện, chúng tôi mới thấy mẹ con bà Thảo không kì lạ chút nào, họ chỉ muốn tặng quà một cách vô tư để nhận lại một thứ hạnh phúc tinh thần nào đó mà tôi không thể nào định danh được! a. Xác định thành phần biệt lập có trong câu trên. b. Theo em, thứ hạnh phúc tinh thần mà người viết không thể nào định danh được là gì? |
Phương pháp: căn cứ bài Thành phần biệt lập
Cách giải:
a. Thành phần biệt lập trong câu văn trên là: Có lẽ - thành phần biệt lập tình thái.
b. Thứ hạnh phúc tinh thần mà người viết không thể nào định danh được là niềm hạnh phúc của việc cho đi, của tinh thần sẻ chia, biết sống vì người khác, biết yêu thương với những số phận bất hạnh trong cuộc đời.
Phần II
Câu 1
|
Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, em hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ theo cách lập luận tổng – phân – hợp bàn về tâm niệm của Trịnh Công Sơn “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”. Trong đó sử dụng ít nhất hai phép liên kết. (Gọi tên và xác định từ ngữ liên kết) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
* Yêu cầu về hình thức
- Đoạn văn 200 chữ, sử dụng phép lập luận tổng – phân – hợp.
- Trong đoạn văn có sử dụng ít nhất hai phép liên kết (Gọi tên và xác định từ ngữ liên kết)
- Diễn đạt rõ ràng, không mắc lỗi diễn đạt, dùng từ, đặt câu.
* Yêu cầu về nội dung:
Đoạn văn đảm bảo các nội dung chính sau:
- Giải thích: “tấm lòng” là những tình cảm tốt đẹp, đáng trân trọng ở con người. Trịnh Công Sơn muốn khẳng định sống trong đời sống, mỗi người cần có một tấm lòng biết quan tâm, yêu thương, biết dành những điều tốt đẹp cho người khác.
- Vì mỗi người chỉ được sống có một lần trong cuộc đời, và “người với người sống để yêu nhau” nên phải dành tất cả những gì tốt đẹp cho mọi người xung quanh thì mới làm cho cuộc sống đẹp hơn, đáng sống hơn.
- Biểu hiện của việc sống có tấm lòng:
+ Tấm lòng trong cuộc sống để biết cảm thông và chia sẻ: biết sẻ chia, chúng ta nhân đôi niềm vui, chia vợi nửa nỗi buồn. Khi con người biết quan tâm đến nhau, thế giới sẽ không còn khổ đau và bất hạnh.
+ Tấm lòng trong cuộc sống để biết tha thứ và bao dung, để không có sự ích kỉ, hận thù, để xây dựng cuộc sống hòa bình, ấm êm.
+ Tấm lòng của sự dũng cảm, của đức hi sinh: Dũng cảm để xả thân vì lí tưởng cao đẹp, để biết hi sinh cho những điều xứng đáng.
- Tuy nhiên, trong cuộc sống ngày nay, vẫn không ít người thiếu những “tấm lòng”, sống nhỏ nhen, chỉ biết vun vén cho bản thân.
- Bài học hành động và liên hệ bản thân: không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, nuôi dưỡng tâm hồn, tấm lòng để biết sống vì người khác, biết cho đi.
Câu 2
|
Phân tích tình cảm của ông Sáu dành cho con gái qua đoạn trích sau đây: […] Từ con đường mòn chạy lẫn trong rừng sâu, anh hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà đưa lên khoe với tôi. Mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được ngà. Sau đó anh lấy vỏ đạn hai mươi ly của Mĩ, đập mỏng làm thành một cây cưa nhỏ, cưa khúc ngà thành từng miếng nhỏ. Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc… Mỗi ngày anh cưa được một vài răng. Không bao lâu sau, cây lược được hoàn thành. Cây lược dài độ hơn một tấc, bề ngang độ ba phân rưỡi… cây lược chỉ có một hàng răng thưa. Trên sống lưng có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba” … Những đêm nhớ con,… anh lấy cây lược ra ngắm nghía, rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt. Có cây lược, anh càng mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện không mảy xảy ra… Anh bị viên đạn của máy bay Mĩ bắn vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu. Tôi không đủ lời lẽ để tả lại cái nhìn ấy, chỉ biết rằng, cho đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi cứ nhớ lại đôi mắt của anh. - Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu. Tôi cúi xuống gần anh và khẽ nói. Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi. (Trích Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng, Ngữ văn 9, Tập 1) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
I. Mở bài:
- Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Quang Sáng và tác phẩm “Chiếc lược ngà”.
- Giới thiệu cảm nghĩ khái quát về nhân vật ông Sáu.
- Giới thiệu về vấn đề nghị luận: Tình yêu của ông Sáu dành cho bé Thu, được thể hiện trong đoạn văn kể chuyện khi ông trở về khu căn cứ và làm cho con cây lược ngà.
II. Thân bài:
1. Khái quát
Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến, mãi đến khi con gái ông lên tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Bé Thu không chịu nhận cha vì vết thẹo trên mặt làm ba em không giống với người chụp chung với má trong bức ảnh mà em đã biết. Thu đối xử với ba như người xa lạ, đến lúc hiểu ra, tình cảm cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải lên đường. Ở khu căn cứ, bao nỗi nhớ thương con ,ông dồn vào việc làm cho con cây lược. Ông hi sinh trong một trận càn của Mỹ nguỵ. Trước lúc nhắm mắt, ông còn kịp trao cây lược cho một người bạn. Tình đồng đội, tình cha con của ông Sáu được miêu tả thật cảm động, làm sáng ngời vẻ đẹp của người lính Cách mạng, của người cha yêu con.
2. Tình cảm của ông Sáu dành cho con khi ông ở căn cứ kháng chiến.
- Kiếm được ngà voi, mặt ông “hớn hở như một đứa trẻ được quà”. Những lúc rỗi, ông “ngồi cưa từng chiếc răng lược, thận trọng tỉ mỉ và khổ công như người thợ bạc”. Trên sống lưng cây lược, ông đã tẩn mẩn khắc một dòng chữ nhỏ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Dòng chữ nhỏ mà chứa bao tình cảm lớn lao. Việc làm chiếc lược vừa là cách ông giải tỏa tâm trạng mong nhớ, ân hận vừa là cách gửi vào đó những yêu thương khao khát cháy bỏng dành cho đứa con gái yêu của mình. Chiếc lược ngà giờ đây đã trở thành một vật quí giá thiêng liêng với ông Sáu. Nó làm dịu đi nỗi ân hận và chứa đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến, nhớ thương, mong đợi của của người cha đối với đứa con xa cách. Cây lược ấy chưa chải được mái tóc của con nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của ông. Những lúc nhớ con, ông “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng thêm mượt”. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ trở thành một nghệ nhân - nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất trong đời. Ông gửi vào đó bao lời nhắn nhủ thiêng liêng, gửi vào đó bao nỗi nhớ mong con. Chiếc lược ngà là kết tinh tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm, đơn sơ mà diệu kì, là hiện hữu của tình cha con bất hủ giữa ông Sáu và bé Thu. Tình thương ông dành cho con cháy bỏng, như một dòng sông chảy mãi từ suối nguồn, như dòng máu chảy sâu vào tim ông, vào tâm hồn ông đến phút cuối vẫn bùng cháy chẳng nguôi.
- Một tình cảnh đau thương lại đến với cha con ông Sáu: trong một trận càn lớn của quân Mỹ ngụy, ông Sáu bị một viên đạn bắn vào ngực và ông đã hi sinh. “Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”, tất cả tàn lực cuối cùng chỉ còn cho ông làm một việc “đưa tay vào túi, móc cây lược” đưa cho người bạn chiến đấu. Đó là điều trăng trối không lời nhưng nó thiêng liêng hơn cả những lời di chúc. Nó là sự ủy thác, là ước nguyện cuối cùng, ước nguyện của tình phụ tử. Chiếc lược ngà như là biểu tượng của tình thương yêu, săn sóc của người cha dành cho con gái, cho dù đến khi không còn nữa anh chưa một lần được chải tóc cho con. Người kể chuyện, đồng đội của ông Sáu đã bộc lộ một sự đồng cảm và xúc động thực sự khi kể lại câu chuyện.
- Những dòng cuối cùng của đoạn trích khép lại trong nỗi buồn mênh mang mà chứa chan ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Chiến tranh là hiện thực đau xót của nhân loại. Chiến tranh đã làm cho con người phải xa nhau, chiến tranh làm khuôn mặt ông Sáu biến dạng,chiến tranh khiến cuộc gặp gỡ của hai cha con vô cùng éo le, bị thử thách,rồi một lần nữa chiến tranh lại khắc nghiệt để ông Sáu chưa kịp trao chiếc lược ngà đến tận tay cho con mà đã phải hi sinh trên chiến trường. Nhưng những đau thương mất mát mà chiến tranh tàn bạo gây ra không thể nào giết chết những tình cảm đẹp đẽ của con người Việt Nam. “Chiếc lược ngà” như một truyện cổ tích hiện đại dẫn người đọc dõi theo số phận của nhân vật. Người còn, người mất nhưng kỉ vật gạch nối giữa cái mất mát và sự tồn tại là chiếc lược ngà nói với chúng ta nhiều điều về tình người, tình đồng chí, tình cha con.Cảm động nhất, để lại ấn tượng nhiều nhất cho người đọc là tình phụ tử thiêng liêng, sâu đậm –tình yêu thương mà ông Sáu dành cho đứa con gái.
3. Nhận xét, đánh giá:
- Có thể nói nhân vật ông Sáu được nhà văn xây dựng bằng những nét nghệ thuật đặc sắc. Nguyễn Quang Sáng đã đặt nhân vật vào cảnh ngộ éo le của đời sống để từ đó ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế đã phát hiện bao cung bậc cảm xúc của tình phụ tử.
- Ngôn ngữ kể chuyện vừa truyền cảm, vừa mang đậm chất địa phương Nam Bộ đem đến cho người đọc nhiều xúc động. Đặc biệt, nhà văn đã lựa chọn được một số chi tiết nghệ thuật rất đắt giá như lời dặn mua cho con cây lược của bé Thu,ông Sáu hớn hở khi kiếm được chiếc ngà voi… Tất cả đã góp phần tô đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ Cách mạng, của người cha yêu con nồng thắm.
III. Kết bài:
- Khẳng định thành công của tác giả trong việc thể hiện tình phụ tử thiêng liêng.
- Khẳng định giá trị tác phẩm.
Đề thi vào 10 môn Văn Đồng Nai năm 2021
Đề bài
PHẦN I (3.0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Em sinh ra trong sự nâng niu, đón chờ của những người thân và nhiều hơn thế nữa. Tiếng khóc chào đời của em đã thắp thêm niềm hy vọng, niềm tin chiến thắng đại dịch cho những chiến sĩ áo trắng nơi đây. Dù cho ngoài kia, cả thế giới đang chao đảo vì cơn bão tử thần Covid-19, thì em ơi, cứ ngủ thật ngon lành bởi trong này bình yên lắm. Em được chở che trong vòng tay ấm êm của những con người thầm lặng. Đó là những bác sĩ không quản ngày đêm hy sinh bản thân mình, hết lòng vì người bệnh. Tấm chắn giọt bắn lúc nào cũng đầy hơi nước vì không có cơ hội được bỏ ra, lưng áo ướt đẫm mồ hôi cho dù là đang giữa những ngày đông tháng giá. Đó là những người tự nguyện ở luôn trong bệnh viện, cả cái Tết đoàn viên cũng chẳng về nhà. Đó là cô y tá sẵn sàng gửi con nhỏ mới lên ba cho ông bà chăm sóc, và từng đêm, khi em quấy khóc, cô lại bể bồng và hát ru em câu hát "À ơi, con cò bay lả/ Con cò bay la”.
[...] Thế giới có những anh hùng thầm lặng, sẵn sàng cho đi mà không đòi hỏi bất cứ thứ gì. Nơi đây đã cho chị biết hạnh phúc không phải chỉ là được ăn ngon, mặc đẹp, được thoả sức vui chơi mà là được sống trong niềm tin về tình yêu thương giữa con người.
(Trích Thư gửi em bé có mẹ nhiễm Covid-19 giành giải nhất Viết thư UPU, VnExpress, 11/5/2021)
Câu 1 (0.5 điểm) Từ cơn bão trong đoạn trích được sử dụng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển?
Câu 2 (0.5 điểm) Theo tác giả, tiếng khóc chào đời của em mang lại điều gì cho những chiến sĩ áo trắng?
Câu 3 (1.0 điểm) Xác định và nêu tác dụng của một phép tu từ được sử dụng trong phần in đậm.
Câu 4 (1.0 điểm) Em có đồng tình với suy nghĩ: hạnh phúc không phải chỉ là được ăn ngon, mặc đẹp, được thoả sức vui chơi mà là được sống trong niềm tin về tình yêu thương giữa con người? Vì sao?
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) bàn
về sức mạnh của tình yêu thương giữa con người trong cuộc chiến chống đại dịch Corid 19.
Câu 2( 5.0 điểm) Cảm nhận của em về nhân vật bé Thu qua hai đoạn trích sau:
[1] Suốt ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con. Nhưng càng vỗ về con bẻ càng đẩy ra.
Anh mong được nghe một tiếng "ba" của con bẻ, nhưng con bé chẳng bao giờ chịu gọi. Nghe mẹ nó báo gọi ba vào ăn cơm thì nó bảo lại:
- Thì má cứ kêu đi.
Mẹ nó đâm nổi giận quơ đũa bếp dọa đánh, nó phải gọi nhưng lại nói trổng:
Vào ăn com!
Anh Sáu vẫn ngồi im, giả vờ không nghe, chờ nó gọi "Ba vó ăn cơm". Con bé cứ đứng trong bếp nói vọng ra.
- Cơm chín rồi!
Anh cũng không quay lại. Con bé bực quá, quay lại mẹ và bảo:
- Con kêu rồi mà người ta không nghe.
[2] Chúng tôi, mọi người - kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi. Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:
Ba... a... a... ba!
Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xẻ cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng "ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng "ba" như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thốt lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. [..]
Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc:
- Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con!
Ba nó bế nó lên. Nó hồn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa.
Lời giải chi tiết
Phần I.
Câu 1.
|
Từ cơn bão trong đoạn trích được sử dụng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? |
Phương pháp: căn cứ bài Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ.
Cách giải:
Từ “cơn bão” trong đoạn trích được sử dụng với nghĩa chuyển.
Câu 2.
|
Theo tác giả, tiếng khóc chào đời của em mang lại điều gì cho những chiến sĩ áo trắng? |
Phương pháp: căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Theo tác giả, tiếng khóc chào đời của em bé trong mang lại niềm hi vọng, niềm tin chiến thắng đại dịch cho những chiến sĩ áo trắng.
Câu 3.
|
Xác định và nêu tác dụng của một phép tu từ được sử dụng trong phần in đậm. |
Phương pháp: căn cứ các biện pháp tu từ đã học.
Cách giải:
Biện pháp tu từ được sử dụng: Điệp từ (đó là)
Tác dụng: liệt kê và nhấn mạnh sự hi sinh cao cả của những người chiến sĩ áo trắng.
Câu 4.
|
Em có đồng tình với suy nghĩ: hạnh phúc không phải chỉ là được ăn ngon, mặc đẹp, được thoả sức vui chơi mà là được sống trong niềm tin về tình yêu thương giữa con người? Vì sao? |
Phương pháp: phân tích.
Cách giải:
Học sinh có thể trình bày theo quan điểm cá nhân, lý giải.
Gợi ý:
Đồng tình
Lý giải:
Hạnh phúc không chỉ là tận hưởng những nhu cầu mang tính chất cá nhân mà hạnh phúc chính là được sống trong tình yêu thương giữa con người với con người, được yêu thương và trao đi yêu thương. Như vậy cuộc sống mới thực sự có ý nghĩa.
II. LÀM VĂN
Câu 1.
|
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) bàn về sức mạnh của tình yêu thương giữa con người trong cuộc chiến chống đại dịch Corid 19.
|
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở đoạn: Giới thiệu về đề tài cần nghị luận: Sức mạnh của tình yêu thương giữa con người trong cuộc chiến chống đại dịch Covid 19
2. Thân đoạn:
* Giải thích: Tình yêu thương là sự quan tâm chăm sóc, che chở, lo lắng cho nhau giữa con người với con người.
=> Sức mạnh của tình yêu thương giữa con người trong cuộc chiến chống đại dịch Covid 19 giúp đem lại cuộc sống hòa bình, tốt đẹp. Mỗi người biết cách nhìn cuộc sống một cách tích cực hơn. Chúng ta có thể nhìn thấy truyền thống dân tộc ấy được phát huy trong tình hình chống “giặc” COVID-19.
* Biểu hiện:
- Tình yêu thương được xuất phát từ trái tim, luôn yêu thương, quan tâm người khác.
- Biết giúp đỡ, sẵn sàng chia sẻ
- Biết hy sinh, tha thứ cho người khác.
- Dẫn chứng, chứng minh hành động cụ thể.
+ Dịch bệnh COVID-19 đã càn quét, gây ảnh hưởng về Sức Khỏe, kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Là một nước nằm trong vùng ảnh hưởng của dịch bệnh, Việt Nam đã có những cách xử lý tuyệt vời, làm thế giới thán phục. Có thể nói, chính nhờ sức mạnh của tình yêu thương đã giúp đất nước ta bước đầu chiến thắng trên mặt trận chống Tình cảm gia đình, thầy trò, hàng xóm láng giềng, chung tay góp từ thiện ủng hộ...
+ Ngay từ lúc dịch bệnh bùng phát, giữa bối cảnh nhiều quốc gia hoang mang lo lắng, chính phủ nước ta đã có động thái quyết tâm, thể hiện trách nhiệm bảo vệ, giúp đỡ công dân, “Việt Nam quyết tâm không để ai bị bỏ lại phía sau, trong cuộc chiến chống dịch bệnh COVID-19”.
+ Các hoạt động thiện nguyện, “lá lành đùm lá rách”, giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn.
+ Sự hi sinh của các bác sĩ tuyến đầu chống dịch COVID-19.
+ Học sinh, sinh viên các trường đại học phát khẩu trang, nước rửa tay cho người dân.
+ Phong trào giải cứu dưa hấu, giải cứu tôm hùm, ... khắp các tỉnh thành.
* Ý nghĩa:
- Mang lại hạnh phúc cho nhân loại.
- Tình cảm giữa con người với con người ngày một bền chặt hơn.
- Xây dựng được một xã hội văn minh, giàu tình người.
- Phát huy sức mạnh tình yêu thương: Việt Nam đã vượt qua tình trạng khó khăn do COVID 19 gây ra.
+ Cơ bản đã kiểm soát được dịch bệnh...
* Phản đề: Những người sống vô cảm, không biết yêu thương con người, đối xử tệ bạc với nhau.
* Liên hệ, rút ra bài học: Lòng yêu thương rất quan trọng, cần yêu thương con người nhiều hơn.
Câu 2.
|
Cảm nhận của em về nhân vật bé Thu qua hai đoạn trích sau: [1] Suốt ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con. Nhưng càng vỗ về con bẻ càng đẩy ra. Anh mong được nghe một tiếng "ba" của con bẻ, nhưng con bé chẳng bao giờ chịu gọi. Nghe mẹ nó báo gọi ba vào ăn cơm thì nó bảo lại: - Thì má cứ kêu đi. Mẹ nó đâm nổi giận quơ đũa bếp dọa đánh, nó phải gọi nhưng lại nói trổng: Vào ăn com! Anh Sáu vẫn ngồi im, giả vờ không nghe, chờ nó gọi "Ba vó ăn cơm". Con bé cứ đứng trong bếp nói vọng ra. - Cơm chín rồi! Anh cũng không quay lại. Con bé bực quá, quay lại mẹ và bảo: - Con kêu rồi mà người ta không nghe. [2] Chúng tôi, mọi người - kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi. Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên: Ba... a... a... ba! Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xẻ cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng "ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng "ba" như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thốt lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. [..] Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc: - Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con! Ba nó bế nó lên. Nó hồn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài
– Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Quang Sáng (những nét cơ bản về con người, cuộc đời, đặc điểm sáng tác, …)
– Giới thiệu khái quát về truyện ngắn “Chiếc Lược Ngà” (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật, …)
– Giới thiệu khái quát về nhân vật bé Thu.
2. Thân bài
a. Bé Thu trước khi chịu nhận ông Sáu là ba (ĐOẠN 1)
– Thu là một đứa bé giàu lòng yêu thương cha và luôn hiện hữu khao khát đến ngày được gặp cha.
– Ngày gặp cha, Thu có một thái độ rất khác thường, trước sự ngỡ ngàng của mọi người.
+ Trong ba ngày ở nhà, ông Sáu luôn tìm cách bù đắp cho con thì bé Thu:
* Ông Sáu “càng vỗ về con bé càng đẩy ra
* Nhất quyết không chịu gọi ông Sáu một tiếng “ba”
* Nói trống không với ông Sáu.
* Trong những tình huống cấp bách như phải chắt nước của một nồi cơm to thì cô bé vẫn cố loay hoay, tự tìm cách làm chứ nhất định không chịu nhờ tới sự giúp đỡ của ông Sáu.
* Ông Sáu gắp trứng cá vào chén cho bé Thu thì cô bé “liền lấy đũa xoi vào chén, để đó rồi bất thần hất cái trứng ra”, làm cho cơm văng hết cả ra mâm.
* Khi bị ông Sáu đánh, bé Thu không phản ứng gì mà bỏ về nhà bà ngoại.
=> Bé Thu là một cô bé rất ngang ngạnh, bướng bỉnh nhưng sự bướng bỉnh ấy của cô bé không hề đáng trách. Bởi Thu không nhận ba không phải vì không yêu ba mà bởi trong suốt những năm tháng chiến tranh, cô chỉ nhìn ba qua tấm ảnh để rồi đến ngày gặp gỡ, vết thẹo trên mặt của ông Sáu khiến cho ông khác lạ so với trong ảnh, điều đó khiến bé Thu không nhận ba.
b, Bé Thu khi nhận ông Sáu là ba (ĐOẠN 2)
– Khi bé Thu được bà ngoại kể cho câu chuyện về vết thẹo trên gương mặt của ba, bé Thu đã hiểu và thay đổi thái độ của mình.
+ Khuôn mặt bé Thu “sầm lại buồn rầu” và “nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa”.
+ Khi cô bé bắt gặp ánh mắt buồn rầu của ông Sáu thì “đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao”
+ Cất tiếng gọi ba – một tiếng kêu đến xé lòng.
+ Chạy lại ôm ba thật chặt, hôn ba và hôn lên cả vết thẹo.
+ Muốn ba đừng đi nữa, ở nhà với mình.
+ Cô bé chia tay ba với hi vọng ba sẽ tặng cho mình một chiếc lược ngà, để cô luôn cảm thấy ấm áp như có ba luôn bên mình.
=> Trong khoảnh khắc chia li, mọi khoảng cách đã bị xóa bỏ, chỉ còn lại ở đó tình cảm sâu đậm mà bé Thu dành cho ba.
=> Hai đoạn văn tái hiện lại hai khoảnh khắc và tình huống bé Thu dành cho cha của mình. Tác giả đã thành công trong nghệ thuật xây dựng tâm lý nhân vật trẻ em. Từ đó cho thấy Thu là cô bé cá tính, mạnh mẽ, yêu cha tha thiết. Chính sự kiên định, quyết liệt của bé Thu đã làm nên cá tính cứng cỏi, ngoan cường của cô giao liên giairphosng về sau.
3. Kết bài
Khái quát những đặc điểm cơ bản của nhân vật bé Thu, nghệ thuật xây dựng nhân vật và nêu cảm nghĩ của bản thân.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
