Đề thi vào 10 môn Văn Hà Nội
Đề thi vào 10 môn Văn Hà Nội năm 2026
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
TRĂNG TRONG RỪNG VÀ NHỮNG ĐỨA TRẺ
Thanh Thảo(*)
Những đứa trẻ chưa từng ra biển
Nào thấy trăng trên sóng biển mênh mang
Chưa được lớn lên ở đồng bằng
Để ca múa dưới vầng trăng nguyên vẹn
Cũng chưa sống giữa phố phường bừng ánh điện
Nói mùa trăng để bị lãng quên…
Những đứa trẻ ở rừng
Chỉ đón trăng rằm qua kẽ lá
Những vệt ngời nho nhỏ
Long lanh hoài trong đáy mắt ngây thơ
“Trăng tròn ơi xuống đây chơi”
Ngồi dưới gốc bằng lăng chúng ca khe khẽ
Ai hiểu hết nỗi khát thèm của bé?
“Trăng tròn ơi xuống đây chơi”
Rất dễ thương, trăng là đứa trẻ
Gương mặt dịu lành soi năm tháng gian lao
“Trăng tròn ơi xuống đây chơi”
Những vệt ngời nho nhỏ
Những vệt ngời nho nhỏ
Giữa rừng già
Trăng bé thế thôi…
(Thanh Thảo, tác phẩm Văn học được Giải thưởng Nhà nước, NXB Hội Nhà văn, 2015)
(*) Thanh Thảo sinh năm 1946, quê ở Quảng Ngãi. Ông được Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của bài thơ trên và nêu một dấu hiệu nhận biết thể thơ đó.
Câu 2 (0,5 điểm). Ghi lại hai từ ngữ chỉ thiên nhiên trong khổ thơ đầu.
Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa trong hai dòng thơ:
“Rất dễ thương, trăng là đứa trẻ
Gương mặt dịu lành soi năm tháng gian lao”
Câu 4 (1,0 điểm). Lời gọi trăng của những đứa trẻ trong khổ thơ cuối có ý nghĩa gì?
Câu 5 (1,0 điểm). “Những đứa trẻ ở rừng” đón “trăng rằm qua kẽ lá” và “long lanh”, chúng chưa từng được ra biển để thấy “trăng trên sóng biển mênh mang”. Theo em, bằng lòng với cuộc sống hiện tại hay dần dần khám phá những chân trời mới, trải nghiệm nào đáng giá hơn? Hãy nêu lựa chọn của em và lí giải vì sao (trình bày trong khoảng 5-7 dòng).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh những đứa trẻ trong các dòng thơ sau:
“Những đứa trẻ ở rừng
Chỉ đón trăng rằm qua kẽ lá
Những vệt ngời nho nhỏ
Long lanh hoài trong đáy mắt ngây thơ”
“Trăng tròn ơi xuống đây chơi”
Ngồi dưới gốc bằng lăng chúng ca khe khẽ
Ai hiểu hết nỗi khát thèm của bé?”
Câu 2 (4,0 điểm)
Xã hội hiện đại cần nhiều hơn sự gắn kết nhưng một số bạn trẻ lại đang dần mất đi sự kết nối với cuộc sống xung quanh mình.
Em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) để xuất giải pháp để tạo nên những kết nối có ý nghĩa tích cực nhằm khắc phục thực trạng trên.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Quan sát số tiếng ở các dòng thơ. Nếu số tiếng ở mỗi dòng không đều nhau, cách ngắt nhịp linh hoạt thì đó là thơ tự do.
Lời giải chi tiết:
- Thể thơ tự do
- Dấu hiệu: số chữ trong các dòng thơ không đều nhau, nhịp thơ ngắt linh hoạt,…
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc khổ thơ đầu, xác định những từ ngữ gọi tên các sự vật thuộc thiên nhiên.
Lời giải chi tiết:
Hai từ ngữ chỉ thiên nhiên trong khổ thơ đầu: biển, trăng,…
Câu 3.
Phương pháp:
Chỉ ra hình ảnh được nhân hóa, nêu đặc điểm của con người được gán cho sự vật và phân tích tác dụng đối với nội dung, cảm xúc.
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng trong hình ảnh: “gương mặt dịu lành”.
- Tác dụng:
+ Làm cho hình ảnh trăng trở nên gần gũi, sinh động, có tâm hồn như một con người.
+ Thể hiện vẻ đẹp hiền hòa, thân thiện của ánh trăng đối với những đứa trẻ nơi rừng núi.
+ Qua đó bộc lộ tình yêu thiên nhiên.
Câu 4.
Phương pháp:
Tìm ý nghĩa của lời gọi trong mạch cảm xúc của bài thơ, liên hệ với hoàn cảnh và tâm trạng của nhân vật.
Lời giải chi tiết:
Lời gọi trăng "Trăng tròn ơi xuống đây chơi" trong khổ thơ cuối mang ý nghĩa:
- Thể hiện tâm hồn ngây thơ, trong sáng và khát khao kết bạn, vui chơi với tự nhiên của những đứa trẻ nơi rừng già.
- Biểu thị niềm khao khát cháy bỏng về một thế giới rộng lớn, trọn vẹn và tươi đẹp hơn.
Câu 5.
Phương pháp:
Đọc kĩ yêu cầu của đề, nêu rõ quan điểm của bản thân về vấn đề đặt ra. Lí giải bằng những lí lẽ phù hợp, có sức thuyết phục
Lời giải chi tiết:
- Lựa chọn dấn thân để khám phá những chân trời mới.
- Vì: Bởi vì mỗi trải nghiệm mới đều giúp con người mở rộng hiểu biết, học hỏi thêm nhiều điều bổ ích và trưởng thành hơn. Nếu chỉ bằng lòng với cuộc sống hiện tại, chúng ta có thể bỏ lỡ nhiều cơ hội để phát triển bản thân. Tuy nhiên, việc khám phá cần đi đôi với sự chuẩn bị và trách nhiệm. Khi dám bước ra khỏi vùng an toàn, con người sẽ tích lũy được kinh nghiệm quý giá và làm cho cuộc sống trở nên phong phú, ý nghĩa hơn.
II. VIẾT
Câu 1.
Phương pháp:
Xác định hình ảnh trung tâm cần phân tích; làm rõ hoàn cảnh, vẻ đẹp tâm hồn của những đứa trẻ qua các chi tiết, hình ảnh và biện pháp nghệ thuật; khái quát ý nghĩa.
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân đoạn
- Những đứa trẻ gắn bó với thiên nhiên núi rừng: “Ở rừng”, “đón trăng rằm qua kẽ lá”: Không gian thiên nhiên trong trẻo, bình yên, gần gũi, nhưng cuộc sống khó khăn, trẻ em chịu nhiều thiệt thòi.
- Những đứa trẻ mang vẻ đẹp hồn nhiên, ngây thơ, giàu trí tưởng tượng:
+ Đôi mắt trong trẻo, đầy niềm vui và sự háo hức trước vẻ đẹp thiên nhiên: “Những vệt ngời nho nhỏ”, “đôi mắt ngây thơ”
+ “Trăng tròn ơi xuống đây chơi”: nhân hóa vầng trăng như người bạn thân thiết thể hiện sự hồn nhiên, tâm hồn giàu trí tưởng tượng của trẻ thơ.
- Khát vọng khám phá thế giới: “Ai hiểu hết nỗi khát thèm của bé?” => Khát khao được vui chơi, học hỏi, khám phá, trải nghiệm thế giới.
- Nghệ thuật:
+ Thể thơ tự do, ngắt nhịp linh hoạt.
+ Hình ảnh thơ giàu ý nghĩa.
+ Sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ: nhân hóa, câu hỏi tu từ …
+ ..
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Câu 2.
Phương pháp:
Xác định đúng vấn đề nghị luận; giải thích thực trạng và nguyên nhân; phân tích hậu quả; đề xuất các giải pháp khả thi; khẳng định ý nghĩa của việc xây dựng những kết nối tích cực và liên hệ bản thân.
Lời giải chi tiết:
I. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
II. Thân bài
1. Giải thích
- Kết nối là những mối quan hệ mang lại sự thấu hiểu, chia sẻ, hỗ trợ và giúp con người phát triển tốt hơn.
- Mất kết nối là tình trạng sống khép kín, thờ ơ với mọi người và môi trường xung quanh.
=> Nhiều bạn trẻ lại đang dần xa rời các mối quan hệ thực tế, thiếu sự gắn kết với gia đình, bạn bè và cộng đồng.
2. Thực trạng và nguyên nhân
- Người trẻ ngày nay dành quá nhiều thời gian cho mạng xã hội, ngại giao tiếp trực tiếp. Từ đó hình thành việc thiếu quan tâm tới gia đình và cộng đồng, sống trong “thế giới riêng”.
- Nguyên nhân xuất phát từ sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, áp lực học tập, công việc. Người trẻ thiếu kỹ năng giao tiếp và chia sẻ cảm xúc, …
3. Giải pháp
- Bản thân mỗi người cần:
+ Chủ động trò chuyện, lắng nghe và chia sẻ với người khác.
+ Hạn chế phụ thuộc vào điện thoại, mạng xã hội.
+ Rèn luyện kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm.
+ Dành thời gian cho gia đình mỗi ngày.
- Nhà trường tổ chức các hoạt động trải nghiệm, ngoại khóa. Khuyến khích học sinh tham gia câu lạc bộ, hoạt động tập thể. Giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp.
- Gia đình cần quan tâm, lắng nghe con cái, tạo không khí gắn kết giữa các thành viên. Dành thời gian sinh hoạt chung.
- Xã hội tăng cường các hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, xây dựng môi trường sống tích cực, nhân văn nhằm lan tỏa những giá trị tốt đẹp.
HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp.
4. Mở rộng vấn đề
- Phê phán những người sống thờ ơ, vô cảm, chỉ quan tâm đến bản thân.
- Khẳng định kết nối không chỉ là số lượng bạn bè mà quan trọng là sự chân thành và giá trị của các mối quan hệ.
III. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Đề thi vào 10 môn Văn chuyên Khoa học Tự nhiên Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2026
Đề thi
I. PHẦN TRẮC NGHIỆM (1,0 điểm)
Chọn một trong bốn phương án A, B, C, D để trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1 (0,25 điểm). Từ nào trái nghĩa với “tinh anh”?
A. Ngây ngô
B. Chậm chạp
C. Vụng về
D. Kém cỏi
Câu 2 (0,25 điểm). Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu thơ: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa” (Hồ Chí Minh)?
A. So sánh
B. Nhân hóa
C. Điệp ngữ
D. Ẩn dụ
Câu 3 (0,25 điểm). Trong những tổ hợp sau, tổ hợp nào là tục ngữ?
A. được voi đòi tiên
B. nước mắt cá sấu
C. đánh trống bỏ dùi
D. uống nước nhớ nguồn
Câu 4 (0,25 điểm). Xét theo mục đích nói, những câu văn sau: “Nhưng nói ra làm gì nữa! Lão Hạc ơi! Lão Hạc ơi! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt!” (Nam Cao) là kiểu câu gì?
A. Câu cảm thán
B. Câu nghi vấn
C. Câu cầu khiến
D. Câu trần thuật
II. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
KHÚC DÂN CA
Nguyễn Duy
1.
Con cò bay lả bay la
theo câu quan họ bay ra chiến trường
nghe ai hát giữa núi non
mà hương đồng cứ dập dờn trong mây
2.
Nghìn năm trên dải đất này
cũ sao được cánh cò bay la đà
cũ sao được sắc mây sa
cũ sao được khúc dân ca quê mình
3.
Cò bay bằng cánh trắng tinh
lúa thơm bằng phấn hương lành ai ơi
mây bay bằng gió của trời
là ta ta hát bằng lời của ta
(1971/Cát trắng - 1973)
(Thơ Nguyễn Duy, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2025, tr.65)
*Chú thích: Nguyễn Duy sinh năm 1948, quê Thanh Hóa. Ông thuộc thế hệ những nhà thơ tiêu biểu trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học và Nghệ thuật. Nguyễn Duy có nhiều tìm tòi theo hướng hiện đại hóa đổi mới thể lục bát, tạo nên nét độc đáo, hấp dẫn trong cấu trúc, hình ảnh và ngôn ngữ của thể thơ truyền thống này.
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2 (0,5 điểm). Trong khổ thơ thứ nhất, hình ảnh “con cò” bay theo câu quan họ ra chiến trường gợi cho em suy nghĩ gì?
Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ điệp ngữ trong những câu thơ sau: cũ sao được cánh cò bay la đà cũ sao được sắc mây sa cũ sao được khúc dân ca quê mình
Câu 4 (1,0 điểm). Từ cảm xúc của nhà thơ đối với khúc dân ca quê mình, em hãy rút ra những thông điệp sâu sắc đối với bản thân.
III. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp của tình yêu quê hương, đất nước được thể hiện trong văn bản trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Tâm hồn đẹp giống như viên ngọc quý. Nếu viên ngọc cần phải được mài giũa để ngày càng tỏa sáng thì tâm hồn cũng cần phải được gìn giữ, bồi đắp để sống một cuộc đời ý nghĩa hơn.
Từ gợi dẫn trên, em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ về sự cần thiết của việc nuôi dưỡng những giá trị tốt đẹp trong tâm hồn mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay.
Đáp án
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
Trắc nghiệm |
1. D – 2. A – 3. D – 4. A |
|
|
Đọc hiểu |
Câu 1. (0,5 điểm) |
Thể thơ lục bát |
|
Câu 2. (0,5 điểm) |
Ý nghĩa hình ảnh: - Gợi không gian cuộc chiến tranh khốc liệt, nơi tiền tuyến bom đạn nhưng vẫn có sự hiện diện của cái đẹp bình dị, dịu dàng nơi quê nhà. - Gợi lên hành trang ra trận của người chiến sĩ: Họ mang theo cả hồn quê, hương đồng gió nội và những khúc dân ca ngọt ngào làm sức mạnh tinh thần vượt qua gian khổ. |
|
|
Câu 3. (1,0 điểm) |
Biện pháp tu từ điệp ngữ: Từ cụm từ "cũ sao được" được lặp lại 3 lần. Hiệu quả nghệ thuật: - Tạo nhịp điệu tha thiết, da diết, nhấn mạnh vào tâm trí người đọc; tăng sức biểu cảm cho đoạn thơ. - Khẳng định mạnh mẽ giá trị trường tồn, vĩnh cửu của những vẻ đẹp truyền thống bình dị (cánh cò, sắc mây) và đặc biệt là vẻ đẹp của văn hóa dân gian ("khúc dân ca quê mình"). |
|
|
Câu 4. (1,0 điểm) |
HS rút ra bài học phù hợp. Gợi ý: - Cần phải biết trân trọng, gìn giữ và tự hào về những giá trị văn hóa truyền thống, nghệ thuật dân gian của quê hương, xứ sở. Đó chính là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn ta. - Giữa cuộc sống hiện đại và nhiều biến động, văn hóa truyền thống chính là neo giữ giúp ta không bị hòa tan. Muốn tiếp thu cái mới, trước hết phải hiểu và yêu cái gốc rễ của dân tộc mình. - Không chỉ thưởng thức mà cần có hành động thiết thực để bảo tồn, phát huy và giới thiệu những nét đẹp văn hóa ấy đến với bạn bè năm châu. - … |
|
|
Viết |
Câu 1. (2,0 điểm) |
1. Mở đoạn: Giới thiệu chung 2. Thân đoạn - Vẻ đẹp của một tình yêu gắn liền với những gì bình dị, thân thuộc nhất: Tình yêu quê hương được định hình qua những hình ảnh đậm hồn dân tộc: "cánh cò", "sắc mây", "khúc dân ca", "hương đồng dập dờn". - Vẻ đẹp của sự thủy chung, ý thức gìn giữ những giá trị trường tồn. - Vẻ đẹp của tinh thần tự tôn, tự lực tự cường: Tình yêu nước lúc này nâng tầm thành ý thức độc lập, lòng tự tôn dân tộc sâu sắc. Chúng ta chiến đấu không chỉ để bảo vệ đất đai, mà còn để bảo vệ tiếng nói, văn hóa và bản sắc riêng độc lập của mình. - Một số nét đặc sắc nghệ thuật: thể thơ lục bát; giọng điệu, ngôn ngữ, hình ảnh giàu giá trị,… 3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
1. Mở bài: Giới thiệu chung 2. Thân bài a. Giải thích - Viên ngọc quý cần mài giũa: Ngọc trong tự nhiên ban đầu chỉ là đá thô, phải qua quá trình cắt gọt, mài bóng mới lấp lánh. - Tâm hồn cần bồi đắp: Tâm hồn con người không tự nhiên mà hoàn thiện; nó cần được nuôi dưỡng bằng những giá trị tốt đẹp (lòng nhân ái, sự vị tha, sự kiên cường, lòng biết ơn...). => Khẳng định việc rèn luyện và nuôi dưỡng thế giới bên trong là điều kiện tiên quyết để con người sống một cuộc đời có giá trị. b. Phân tích, bàn luận - Vì sao phải nuôi dưỡng những giá trị tốt đẹp trong tâm hồn? + Tâm hồn đẹp giúp ta định hướng hành vi, biết phân biệt đúng sai, thiện ác giữa cuộc sống phức tạp. + Tạo ra sức mạnh nội lực để đối mặt và vượt qua những giông bão, nghịch cảnh. + Mang lại sự bình yên, thanh thản trong tâm trí, giúp ta cảm nhận hạnh phúc một cách sâu sắc nhất. + Một xã hội được cấu thành từ những cá nhân có tâm hồn đẹp sẽ là một xã hội nhân văn, giàu tình thương và sự thấu hiểu. - Ý nghĩa đối với thế hệ trẻ hôm nay Người trẻ đang sống trong kỷ nguyên số, đối mặt với sự bùng nổ thông tin, những áp lực thành tích và cả những cám dỗ, giá trị ảo trên mạng xã hội. Dễ rơi vào lối sống thực dụng, vô cảm. Nuôi dưỡng tâm hồn giúp người trẻ giữ được "bản sắc", sự tỉnh táo để tiếp thu cái hay của thế giới mà không bị hòa tan. HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp d. Bài học hành động (Làm thế nào để nuôi dưỡng tâm hồn?) - Ý thức được giá trị của vẻ đẹp bên trong quan trọng hơn vẻ bề ngoài hào nhoáng. - Mỗi chúng ta cần làm giàu trí tuệ và cảm xúc qua sách vở, nghệ thuật, thiên nhiên; Học cách tự nhìn nhận lại bản thân sau những vấp ngã để hoàn thiện mình. 3. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận |
|
Đề thi vào 10 môn Văn chuyên Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội năm 2026
Đề thi
Phần I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
LÁ ĐỎ Nguyễn Đình Thi
Gặp em trên cao lộng gió
Rừng lạ ào ào lá đỏ
Em đứng bên đường
Như quê hương
Vai áo bạc quàng súng trường
Đoàn quân vẫn đi vội vã
Bụi Trường Sơn nhoà trời lửa
Chào em em gái tiền phương
Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn...
1974
(Nguyễn Đình Thi toàn tập, tập II, Nxb Văn học, 2009, tr.802)
Câu 1 (0,5 điểm): Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2 (1,0 điểm): Chỉ ra cách kiến tạo nhạc tính trong văn bản.
Câu 3 (1,0 điểm): Nêu hiểu biết của anh/chị về nhân vật trữ tình “em gái tiền phương”.
Câu 4 (1,5 điểm): Nêu nhận xét về sự kết hợp giọng tự sự, trữ tình và kịch trong văn bản.
Phần II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Hãy phân tích đoạn thơ sau:
Em đứng bên đường
Như quê hương
Vai áo bạc quàng súng trường
Đoàn quân vẫn đi vội vã
Bụi Trường Sơn nhoà trời lửa
Câu 2 (4,0 điểm): Bài thơ Lá đỏ của Nguyễn Đình Thi được sáng tác vào năm 1974. Từ hai câu kết:
Chào em em gái tiền phương
Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn...
anh/chị hãy bàn luận về vai trò của niềm tin trong cuộc sống.
Đáp án
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
|
Đọc hiểu |
Câu 1. (0,5 điểm) |
Thể thơ tự do |
|
|
Câu 2. (0,5 điểm) |
Cách kiến tạo nhạc tính trong bài thơ: - Sử dụng từ láy mô phỏng âm thanh, trạng thái: Từ láy "ào ào" gợi âm thanh mạnh mẽ; từ "vội vã" gợi nhịp điệu khẩn trương của đoàn quân. - Cách ngắt nhịp linh hoạt: Bài thơ sử dụng nhịp điệu linh hoạt (ví dụ nhịp ngắt theo bước chân hành quân: Đoàn quân / vẫn đi / vội vã) mô phỏng không khí khẩn trương của cuộc chiến. - Sự kết hợp hài hòa giữa các thanh bằng – trắc tạo nên nhịp điệu cho bài thơ. |
|
|
|
Câu 3. (1,0 điểm) |
Hiểu biết về nhân vật trữ tình: - Là cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ trên tuyến đường Trường Sơn đầy bom đạn. - Cô gái mang vẻ đẹp bình dị, thân thương, là hiện thân của quê hương xứ sở. => Cô gái là biểu tượng đẹp đẽ, kiên trung của thế hệ trẻ Việt Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước |
|
|
|
Câu 4. (1,0 điểm) |
Tiếp tục cập nhật … |
||
|
Viết |
Câu 1. (2,0 điểm) |
1. Mở đoạn: Giới thiệu chung 2. Thân đoạn - Hình ảnh cô gái tiền phương kiên trung: + Tư thế: "đứng bên đường" – chủ động, hiên ngang trên tuyến đường Trường Sơn. + So sánh: "Như quê hương" – cô gái là hiện thân của hậu phương, nguồn cổ vũ tinh thần lớn lao cho người lính. + "Vai áo bạc" (gian khổ, sương gió) kết hợp "quàng súng trường" (rắn rỏi, quả cảm) => Biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam thời chiến: Đảm đang, bất khuất, vừa mang nét bình dị của quê hương, vừa mang tầm vóc anh hùng của thời đại. - Khí thế hành quân: + Từ láy "vội vã": Nhịp chân thần tốc, khẩn trương, quyết tâm giải phóng miền Nam. + Hình ảnh hoành tráng: "Bụi Trường Sơn nhòa trời lửa" – không gian sử thi vĩ đại, hòa quyện giữa khói bụi chiến trường và ánh hoàng hôn rực lửa. - Nghệ thuật: Thể thơ, ngôn ngữ giàu tính tạo hình, nhịp thơ linh hoạt; giọng điệu; … 3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận |
|
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
1. Mở bài: Giới thiệu chung 2. Thân bài a. Giải thích - Lời hẹn gặp "giữa Sài Gòn" khi cuộc chiến đang giai đoạn khốc liệt nhất chính là "niềm tin sắt đá", dự cảm chắc chắn về ngày toàn thắng. - Niềm tin là gì? Là sự tin tưởng, kỳ vọng của con người vào những điều tốt đẹp, vào năng lực của bản thân hoặc vào một lý tưởng, mục đích sống cao cả. b. Phân tích, chứng minh - Niềm tin là nguồn động lực, sức mạnh nội sinh to lớn: + Giúp con người có thêm ý chí, sự kiên cường để đối diện và vượt qua nghịch cảnh, bão giông. + Khi có niềm tin, con người dám nghĩ, dám làm, dám bước ra khỏi vùng an toàn để theo đuổi ước mơ. - Niềm tin giúp con người giữ vững mục tiêu, không bị dao động, nản lòng trước những cám dỗ hay thất bại tạm thời. - Niềm tin gắn kết con người và xã hội, tạo nên sức mạnh cộng đồng, lan tỏa năng lượng tích cực, tình yêu thương và sự tử tế. HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp c. Mở rộng vấn đề - Phê phán những người sống thiếu niềm tin, luôn bi quan, hoài nghi, dễ buông xuôi khi gặp khó khăn. - Tuy nhiên, cần phân biệt "niềm tin" với "sự mù quáng, ảo tưởng". Niềm tin phải đi đôi với hành động nỗ lực thực tế. d. Bài học nhận thức, hành động - Biết tự nuôi dưỡng niềm tin vào chính mình, vào những giá trị tốt đẹp của cuộc sống thông qua việc học tập, rèn luyện. - Biến niềm tin thành hành động cụ thể: Đặt ra mục tiêu và kiên trì thực hiện đến cùng. 3.Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận |
|
Đề thi vào 10 môn Văn Hà Nội năm 2025
Đề bài
ĐỌC HIỂU. Đọc văn bản sau:
HẠNH PHÚC
(Trích)
Giang Nam (*)
“Má bận bao nhiêu là việc
Nên dành cho ba
Cái hạnh phúc đưa con đến trường
Mười bảy tuổi đời con
Ba mới có niềm vui của những người cha, người mẹ.
Ba vẫn ước được dặn con
Những điều rất thừa
mà riêng trái tim mới hiểu
Được dắt tay con băng qua đường,
Được cười dưới mưa
khi nước thấm vào lưng
Được mất ngủ bên con
vì một đề thi “hóc búa”
Phải ba mươi năm
Đất nước mới có ngày mình tự do đi ngoài phố
Và mỗi hạt cát ở sân trường
Mới lấp lánh màu đỏ, màu xanh.
Thầy giáo, cô giáo của con
Rất trẻ, rất hiền lành
(Có người ba từng quen trên chiến khu)
Sáng mai này vụt lớn cao trên bục giảng
Ôi được nhìn bằng trái tim phập phồng, lo lắng
Được nhìn bằng đôi mắt trẻ của con
Có hạnh phúc nào lớn hơn
Như sáng mai nầy ba đưa con đến lớp…
[...]
Má bận đi công tác
Nên dành cho ba
Cái hạnh phúc đưa con đến trường
Cái hạnh phúc trong lành như hơi thở của con
Cái hạnh phúc nửa đời người ba mới gặp!”
Nha Trang, 11-1975
(Giang Nam, Thơ với tuổi thơ, NXB Kim Đồng, 2002)
(*) Giang Nam (1929 - 2023) tên thật là Nguyễn Sung, quê ở tỉnh Khánh Hoà. Ông được Giải thưởng Nhà nước năm 2021
Câu 1: Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2: Ghi lại ba từ ngữ, hình ảnh thể hiện mong ước của người cha trong mười ba dòng thơ đầu.
Câu 3: Bài thơ Hạnh phúc được viết vào tháng 11 năm 1975, sau ngày đất nước thống nhất. Hoàn cảnh ra đời đó giúp em hiểu những dòng thơ sau như thế nào?
“Phải ba mươi năm
Đất nước mới có ngày mình tự do đi ngoài phố
Và mỗi hạt cát ở sân trường
Mới lấp lánh màu đỏ, màu xanh.”
Câu 4: Phân tích tác dụng của việc lặp lại từ ngữ trong hai dòng thơ:
“Ôi được nhìn bằng trái tim phập phồng, lo lắng
Được nhìn bằng đôi mắt trẻ của con”.
Câu 5: Hạnh phúc có thể là những điều nhỏ bé, giản dị. Hãy chia sẻ một niềm hạnh phúc giản dị của mình và cho biết vì sao em trân trọng điều đó (trình bày khoảng 5-7 dòng).
PHẦN VIẾT
Câu 1: Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích năm dòng thơ cuối của văn bản Hạnh phúc được trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2: Những năm tháng học tập dưới mái trường là quãng thời gian quý giá với biết bao niềm vui bên thấy cô, bạn bè,... Tuy nhiên, không phải ai cũng cảm nhận được điều đó.
Em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để luôn tìm thấy niềm vui tuổi học trò?
Lời giải chi tiết
ĐỌC HIỂU
Câu 1
Phương pháp:
Căn cứ các thể thơ đã học, phân tích
Cách giải:
Thơ tự do
Câu 2
Phương pháp:
Căn cứ bài thơ, xác định hình ảnh phù hợp
Cách giải:
Gợi ý: 3 từ ngữ, hình ảnh thể hiện mong ước của người cha: được dắt tay con băng qua đường; được cười dưới mưa khi nước thấm vào lưng; được mất ngủ bên con vì một đề thi “hóc búa”.
Câu 3
Phương pháp:
Căn cứ các câu thơ, phân tích
Cách giải:
Gợi ý:
Bài thơ được viết vào tháng 11-1975, khi đất nước vừa thống nhất sau chiến tranh. Suốt ba mươi năm dài chiến tranh, người dân không được sống trong hòa bình, tự do. Đến nay, khi đất nước hòa bình, người cha mới được tận hưởng niềm vui nhỏ bé như đưa con đến trường, nhìn thấy từng hạt cát sân trường “lấp lánh màu đỏ, màu xanh”. Những câu thơ thể hiện niềm hạnh phúc giản dị nhưng vô giá trong thời bình, và cũng nhắc nhớ những năm tháng gian khổ đã qua. Đồng thời thể hiện thái độ biết ơn, trân trọng hạnh phúc khi được sống trong hoà bình, tự do
Câu 4
Phương pháp:
Phân tích
Cách giải:
Việc lặp lại cụm từ “Được nhìn bằng” nhằm:
- Đầu tiên việc lặp lại cụm từ sẽ tạo nên giọng thơ sâu lắng, tăng thêm tính nhạc cho câu thơ.
- Nhấn mạnh niềm hạnh phúc, xúc động của người cha khi được chứng kiến con trưởng thành, được nhìn thế giới qua ánh mắt trong trẻo, ngây thơ của con.
- Thể hiện tình yêu thương sâu sắc, niềm tự hào và mong mỏi của người cha đối với con cái, với những điều nhỏ bé nhưng quý giá trong cuộc sống sau chiến tranh. Đồng thời thể hiện sự trân trọng và biết ơn hạnh phúc mà hòa bình mang lại.
Câu 5
Phương pháp:
Căn cứ kiến thức cá nhân, phân tích
Cách giải:
HS đưa ra quan điểm cá nhân và có lí giải phù hợp.
Gợi ý:
- Hạnh phúc là có đủ đầy cha mẹ bên cạnh.
- Hạnh phúc khi được học tập.
- Hạnh phúc khi được sống ở đất nước hoà bình.
- …
PHẦN VIẾT
Câu 1
Phương pháp:
Vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận, phân tích,…
Cách giải:
1. Mở đoạn:
Giới thiệu khái quát vấn đề nghị luận
2. Thân đoạn:
a. Phân tích giá trị nội dung:
- Sau chiến tranh, người cha thay mẹ chăm con vì mẹ “bận đi công tác”. Lúc này, người đàn ông không còn ra chiến trường mà trở về với vai trò làm cha, làm chồng.
- Niềm vui nhỏ bé, đời thường nhưng xúc động: được tự tay dẫn con đi học. Điều này cho thấy tình cảm cha con gắn bó, sự trân trọng những điều tưởng như bình thường.
- So sánh “hạnh phúc” với “hơi thở” → gợi sự gần gũi, nhẹ nhàng, quý giá. Hạnh phúc không xa vời, chính là từng khoảnh khắc sống bên con.
- Gần cả cuộc đời qua đi, người cha mới thực sự cảm nhận hạnh phúc đầy đủ, trọn vẹn => Nhấn mạnh sự mất mát do chiến tranh và giá trị của hòa bình, giá trị của hạnh phúc gia đình.
b. Giá trị nghệ thuật
- Thể thơ tự do, nhịp điệu thơ linh hoạt.
- Điệp ngữ “Cái hạnh phúc …”: nhấn mạnh niềm vui giản dị nhưng sâu sắc của người cha.
- So sánh giàu hình ảnh.
- Giọng điệu: chân thành, mộc mạc nhưng chứa chan cảm xúc.
- …
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Câu 2
Phương pháp:
Vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận, phân tích,…
Cách giải:
1. Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận: Làm thế nào để luôn tìm thấy niềm vui tuổi học trò?
2. Thân bài:
* Giải thích: Niềm vui tuổi học trò: những cảm xúc, trải nghiệm đáng nhớ trong quãng thời gian đi học bên thầy cô, bạn bè,...
* Bàn luận: Nêu ý kiến của bản thân về vấn đề nghị luận và sử dụng lí lẽ, dẫn chứng để phân tích, chứng minh:
- Lí do cần đề xuất biện pháp:
+ HS sơ lược giá trị, ý nghĩa của niềm vui tuổi học trò;
+ Thực trạng một bộ phận HS không cảm nhận được niềm vui: luôn cảm thấy đi học áp lực, mệt mỏi,...
+ Hậu quả: học sinh để những năm tháng thanh xuân tươi đẹp trôi đi trong hối tiếc, kết quả học tập không tốt, khiến cha mẹ lo lắng,...
- Đề xuất thực hiện một số biện pháp giúp HS có thể tìm thấy niềm vui tuổi học trò:
+ HS cần nhận thức được ý nghĩa của những năm tháng còn ngồi trên ghế nhà trường. Cần hiểu được “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”, mỗi kỉ niệm bên bạn bè, thầy cô là những điều vô giá. Để từ đó biết trân trọng, nâng niu, sống hết mình cho những năm tháng tuổi trẻ tươi đẹp.
+ HS cần tích cực học tập để trau dồi kiến thức; tích cực tham gia các hoạt động để phát triển kĩ năng của bản thân. Điều ấy không chỉ tạo hành trang vững chắc trên đường đời, mà còn mang đến niềm vui khi được gắn kết, đồng hành cùng thầy cô, bạn bè.
+ Sống cởi mở, chân thành; luôn yêu thương bạn bè, thầy cô; ghi dấu những kỉ niệm bên thầy cô, bạn bè bằng những dòng lưu bút, những tấm ảnh,...
+ Cha mẹ cần đồng hành, hỗ trợ, tạo điều kiện cho con được học tập, vui chơi trong những năm tháng tuổi học trò. Tránh tạo “áp lực”, gây sức ép khiến HS cảm thấy mệt mỏi, chán nản trong học tập.
+ Nhà trường cần đổi mới phương pháp học tập, tạo môi trường học tập lành mạnh, phát huy được tính tích cực, chủ động của HS...
(HS lấy dẫn chứng phù hợp để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Có thể lấy dẫn chứng về đôi bạn Ngô Minh Hiếu – Nguyễn Tất Minh – những người đã có 10 năm tươi đẹp cùng đồng hành trong học tập, cuộc sống, mang đến những câu chuyện truyền cảm hứng về quãng thời gian tươi đẹp trong tuổi học trò)
- Chia sẻ trải nghiệm của bản thân có liên quan đến vấn đề nghị luận và rút ra bài học.
3. Kết bài: Khẳng định vấn đề vấn đề nghị luận
Đề thi vào 10 môn Văn chuyên Khoa học Tự nhiên Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2025
Đề thi
I. PHẦN TRẮC NGHIỆM (1.0 điểm)
Chọn một trong bốn phương án A, B, C, D để trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1 (0,25 điểm). Câu ca dao: Công cha như núi Thái Sơn - Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra sử dụng phép tu từ nào?
|
A. Nhân hoá |
B. So sánh |
C. Ẩn dụ |
D. Hoán dụ |
Câu 2 (0,25 điểm). Từ nào sau đây viết đúng chính tả?
|
A. Bồi hồi |
B. Dung dinh |
C. Sao suyến |
D. Trăm chỉ |
Câu 3 (0,25 điểm). Chọn từ mà nghĩa của nó KHÔNG cùng nhóm với các từ còn lại.
|
A. Tỉ tê |
B. Thủ thỉ |
C. Tranh luận |
D. Tâm sự |
Câu 4 (0,25 điểm). Trong các câu văn sau đây, câu nào là câu ghép?
A. Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi.
B. Mặt lão đột nhiên co rúm lại.
C. Lão hu hu khóc.
D. Tôi nghĩ đến mấy quyển sách quý của tôi.
(Nam Cao, Lão Hạc)
II. PHẦN ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
GỌI CON
(Trích)
Bảo Ninh
(Tóm tắt: Truyện kể về một gia đình ở Hà Nội trước và sau kháng chiến chống Mỹ. Gia đình này có bốn người con, trong đó ba người con đầu học tập ở nước ngoài và thành đạt trở về. Riêng người con trai út tên là Nghĩa lựa chọn lên đường đi chiến đấu. Thương nhớ con, người mẹ đã viết và gửi rất nhiều bức thư nhưng đều không có lời hồi đáp vì người con ấy đã hì sinh. Ngay cả người cha cũng mòn mỏi chờ đợi con rồi ra đi trong bệnh tật. Còn người mẹ âm thầm chịu đựng nỗi đau đến tận cuối đời. Đến khi mẹ mất rồi, nhân vật Tân - một trong ba người con đầu - phát hiện trong chiếc rương cũ của mẹ là những bức thư mẹ đã gửi cho Nghĩa mà bưu điện trả về. Đoạn trích dưới đây nằm trong phần cuối của truyện.)
[...] Từ ngày Nghĩa lên đường đi Bê, cha mỗi năm mỗi yếu, sức lực lặng lẽ hao mòn. Rồi vốn chỉ là một cái u nhỏ mà phát thành ung độc sưng lớn sau lưng. Bệnh viện thiếu thuốc thiếu giường, mẹ đưa cha về chữa tại gia. Mà với cảnh ngộ đau ốm cơ cực thế thì chẳng cần sơ tán về vùng quê làm gì, đành liều, hai vợ chồng già bên nhau bất chấp máy bay Mỹ. Bom nổ, nhà cửa rung chuyển, vôi trần rụng lả tả. Đường điện thành phố bị phá hỏng liên miên nhiều ngày, ban đêm tối đen, nóng nực, ngột thở. Mẹ thức quạt cho cha. Bị sự đau đớn hành hạ, cha rộc rạc tiều tụy, thuốc uống vào nôn ra hết. Nhưng đến tuần cuối cùng thì chừng như đỡ đau, gượng lên ăn được chút cơm và có thể ngồi dậy. Song suốt mấy ngày liền ông không ngủ. Ông nói muốn được thức trắng cho tới giờ nhắm mắt. Đêm xuống, mẹ pha cho cha một ấm trà rồi đỡ ông ra ngồi ở bên bàn kề cửa sổ. Trong bóng đêm của thành phố chiến tranh, cha chờ đón cái chết theo cái cách như vậy. Cha mất lúc rạng mai. Ông ngả người vào lưng ghế, nhè nhẹ nắm lấy tay mẹ và thì thầm gọi con, Nghĩa.
Tất cả những điều ấy chưa từng bao giờ mẹ viết trong thư gửi ra nước ngoài cho Tân và anh chị của anh. Sau này cũng không bao giờ kể ra lời. Vậy mà bây giờ nhận lấy chiếc rương này thì câu chuyện dài triền miên đêm này qua đêm khác, năm này qua năm khác mẹ đã kể với người con út, Tân lại phải đón lấy. "Khổ thân các con sinh ra gặp thời loạn lạc ... ", lá thư ấy mẹ viết vào ngày cuối tháng Chạp năm 72. Đất trời bùng cháy, thành phố đổ vỡ, nhưng mẹ không rời Hà Nội. Hơi bom phá toang cửa kính, mẹ vẫn đêm đêm yên lặng ngồi ở chỗ ngày trước cha vẫn thường ngồi, và vẫn như hồi cha còn sống, mẹ pha một ấm trà để lên khay trên bàn giữa hai cái tách hạt mít. “Đêm qua bom rơi quá gần, thế mà cô bé Loan tầng dưới lại chạy lên đây ngồi cùng với mẹ bên cửa sổ. Loan cùng lớp với con, còn nhớ không, Nghĩa? Loan sắp tốt nghiệp Đại học Quân y và cũng sẽ vào trong ấy. Nó nói vào đấy với con. Mẹ nhở ngày con lên đường, cả con cả Loan đều còn nhỏ dại lắm, vậy mà nay Loan nó đã lớn phổng lên, một chiến sĩ xinh đẹp và can đảm biết nhường nào ... Trước kia, đối với mẹ, sinh con trai con gái đều quý. Nhưng bây giờ nhìn cảnh bom đạn mù trời, mẹ nghĩ giá hồi đó con sinh ra được mang phận con gái thì hơn. Thời loạn thân gái cũng chẳng sướng gì, nhưng dù sao nếu phận gái thì chắc không đến nỗi bây giờ con biệt âm vô tín. Mẹ biết chắc con còn sống, nhưng giờ đây con ở phương nào vậy con? Sao con lại có thể im lặng lâu như thế hở con? Không một bức thư, không một tin tức nhắn nhe nào cho mẹ, sao thế hở con, Nghĩa ơi?”.
...
Nghĩa ơi. Tiếng gọi ấy là lời cuối của lá thư cuối cùng mẹ của Tân viết gửi người con trai út. Không còn lá thư nào viết vào những ngày tháng sau đó nữa. Có lẽ vì sau đó là năm 73, hòa bình. Anh chị em Tân lần lượt đỗ đạt trở về.
Có những người con sáng giá như anh chị em Tân, mẹ là một bà mẹ hạnh phúc hơn bao bà mẹ khác. Nào ngờ mẹ không hề biết thế là hạnh phúc. Gương mặt mẹ suốt bao năm trời đến tận khi nhắm mắt xuôi tay luôn lẳng lặng một vẻ chờ đợi âm thầm, rụt rè và vô vọng. May thay, cũng giống như những bức thư mãi mãi ở yên dưới đáy rương bên đầu giường mẹ, nỗi đau lòng của mẹ không bao giờ thốt nên lời, người ta không biết tới. Nông nỗi thương tâm bất động của một người già có cái đáng quý là không làm ai phải để ý, bởi để ý tới thì không khỏi đau thắt trong lòng và không sao mà có thể bình tâm để yên ổn sống một cách dễ chịu cho nổi.
(Bảo Ninh, Những truyện ngắn, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2013, tr.490 - 493)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính sử dụng trong văn bản trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Những nhân vật nào được nhắc đến trong đoạn trích?
Câu 3 (1,0 điểm). Tiếng gọi con da diết cất lên từ sâu thẳm trái tim người mẹ, được gửi gắm trong lá thư cuối cùng ẩn chứa những nỗi niềm gì của mẹ?
Câu 4 (1,0 điểm). Em rút ra những thông điệp sâu sắc gì từ văn bản trên?
III. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình tượng nhân vật người mẹ trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Có ý kiến cho rằng: Chúng ta không thể chữa lành tất cả những vết thương nhưng có thể làm vơi bớt bằng sự đồng cảm.
Em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về sự thấu hiểu, sẻ chia trong cuộc sống.
Đáp án
I. PHẦN TRẮC NGHIỆM (1,0 điểm)
|
1.B |
2.A |
3.C |
4.A |
II. PHẦN ĐỌC HIỂU + III. PHẦN VIẾT
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
II. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) |
Câu 1. (0,5 điểm) |
Phương thức biểu đạt chính là: tự sự |
|
Câu 2. (0,5 điểm) |
Các nhân vật được nhắc đến trong đoạn trích: Nghĩa, Loan, người mẹ, người bố, Tân, các anh chị của Tân. |
|
|
Câu 3. (1,0 điểm) |
- Tiếng gọi “Nghĩa ơi” vang lên trong lá thư cuối cùng là tiếng gọi đau đáu, day dứt của người mẹ dành cho đứa con trai út đã biệt vô âm tín nơi chiến trường. Nó ẩn chứa: + Nỗi nhớ thương vô hạn của người mẹ với đứa con nơi chiến trận. + Sự chờ đợi mỏi mòn, tuyệt vọng khi bao nhiêu năm tháng trôi qua mà vẫn không có một tin tức nào từ con. + Nỗi đau âm thầm, lặng lẽ của người mẹ trong những tháng năm chiến tranh, khi mất đi người chồng, còn con trai thì biền biệt. + Nỗi bất lực, xót xa của người mẹ già sống trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, mất mát nhưng vẫn luôn giữ một tình yêu con vô bờ bến. |
|
|
Câu 4. (1,0 điểm) |
Hs dựa vào nội dung văn bản và rút ra những thông điệp phù hợp Gợi ý: - Chiến tranh không chỉ gây ra mất mát cho những người trực tiếp cầm súng ngoài chiến trường mà còn để lại những đau thương, nỗi đau âm thầm cho những người mẹ, người vợ, người cha nơi hậu phương. - Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng, bất diệt, dù chiến tranh có khốc liệt đến đâu, dù con có xa cách biền biệt, trái tim người mẹ vẫn luôn đau đáu, nhớ thương và hy vọng. - Giá trị của sự quan tâm, sẻ chia giữa con người với con người trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ. |
|
|
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) |
Câu 1. (2,0 điểm) |
1. Mở đoạn: Giới thiệu chung 2. Thân đoạn: - Hoàn cảnh sống của người mẹ: Chiến tranh ác liệt, chồng bệnh tật rồi mất, con trai út là Nghĩa ra chiến trường biệt vô âm tín. Sống trong nỗi đau mất mát, cô đơn. - Tình cảm, tính cách của người mẹ: + Yêu thương con vô bờ bến: Luôn nhớ con, viết thư gửi con dù không có hồi âm. + Nỗi nhớ thương và hy vọng không nguôi: Đêm đêm ngồi bên cửa sổ, pha trà, chờ tin con. + Chịu đựng âm thầm: Không kể lể với các con khác, giữ trong lòng nỗi đau, sống lặng lẽ cho đến cuối đời. + Hy sinh thầm lặng: Vượt lên đau đớn, mất mát để giữ vững hậu phương, là điểm tựa cho gia đình trong hoàn cảnh chiến tranh. => Đại diện cho bao bà mẹ Việt Nam thời chiến — giàu đức hi sinh, giàu tình yêu thương con và tình yêu quê hương đất nước. - Nghệ thuật xây dựng nhân vật: + Kể chuyện kết hợp với hồi tưởng và trần thuật nội tâm, giúp làm nổi bật tâm trạng người mẹ qua từng chi tiết nhỏ. + Sử dụng hình ảnh giàu sức gợi cảm xúc: tiếng gọi con trong đêm, ấm trà, cửa sổ — biểu tượng của sự chờ đợi và tình yêu thương vô hạn. + Giọng văn trữ tình, da diết, giàu chất nhân văn giúp khắc họa chân thực hình ảnh người mẹ Việt Nam thời chiến. 3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề. |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
1. Mở bài: Giới thiệu chung 2. Thân bài: * Giải thích ý kiến: - Vết thương: Có thể là nỗi đau tinh thần, tổn thương tâm hồn hay khó khăn trong cuộc sống. - Chữa lành: Chữa lành đề cập đến quá trình phục hồi về mặt tinh thần, tâm sinh lý. - Đồng cảm: có chung một mối cảm xúc, suy nghĩ, có thể cảm nhận và chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ với một ai đó. => Bằng việc lắng nghe, thấu hiểu, chia sẻ, con người giúp nhau cảm thấy nhẹ lòng, bớt cô đơn, tiếp thêm nghị lực để vượt qua. * Bàn luận – phân tích: - Người biết thấu hiểu, sẻ chia biểu hiện qua những hành động giúp đỡ, chia sẻ về vật chất và tinh thần. Một người biết đồng cảm, sẻ chia phải là người có sự cảm thông, thương xót, quan tâm giúp đờ người khác mà không nhằm mục đích cá nhân, vụ lợi. - Ý nghĩa của sự đồng cảm, sẻ chia trong cuộc sống: + Là cầu nối giữa người với người, giúp ta hiểu và gắn bó với nhau hơn. + Khi đồng cảm, người ta không còn cảm thấy cô đơn trước khó khăn, đau khổ. + Sự thấu hiểu giúp người chịu tổn thương có thêm động lực để vượt lên hoàn cảnh. + … HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp - Trong xã hội vẫn còn người vô tâm, thờ ơ trước nỗi đau người khác — điều đó khiến người chịu tổn thương càng thêm cô đơn. Cần phê phán thái độ vô cảm, ích kỷ, chỉ biết đến mình. * Bài học nhận thức và hành động: + Mỗi người hãy biết mở lòng, biết lắng nghe và thấu hiểu người khác. + Luôn sẵn sàng sẻ chia và giúp đỡ những người xung quanh bằng hành động thiết thực và tấm lòng chân thành. 3. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận |
Đề thi vào 10 môn Văn chuyên Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội năm 2025
Đề thi
Phần I. ĐỌC HIỂU (4 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
NHẬT KÝ
(Hoàng Nhuận Cầm)
Sáng:
Bình minh ấy là bình minh kỷ niệm
Chiều:
Hoàng hôn như lạ lại như quen
Tối:
Tắc kè ném lưỡi vào đêm
Có ngủ được đâu
Nằm nghe lá thở
Nằm nghe súng nổ
Đánh giặc lần đầu ai chả thế
Thôi sáng rồi, vẫn tiếng gà xóm mẹ
Cuốn võng vào theo hướng súng mà đi.
(Mùa thu tôi yêu – Văn Khoa Tổng hợp, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010, tr. 114)
Câu 1 (0.5 điểm) Xác định thể thơ của văn bản
Câu 2 (0.5 điểm) Liệt kê những từ chỉ thời gian trong văn bản
Câu 3 (1.0 điểm) Bố cục của văn bản có điểm gì độc đáo?
Câu 4 (1.0 điểm) Bình luận về câu thơ “Tắc kè ném lưỡi vào đêm”
Câu 5 (1.0 điểm) Nêu cảm nhận của Anh/chị về cảm xúc của nhân vật trữ tình trong câu thơ “Đánh giặc lần đầu ai chả thế”.
Phần II (6 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích đoạn thơ sau:
Tối:
Tắc kè ném lưỡi vào đêm
Có ngủ được đâu
Nằm nghe lá thở
Nằm nghe súng nổ
Đánh giặc lần đầu ai chả thế
Câu 2 (4,0 điểm): Mỗi thế hệ đều phải lựa chọn lý tưởng sống của mình. Từ hai câu kết trong bài thơ Nhật ký của Hoàng Nhuận Cầm:
“Thôi sáng rồi, vẫn tiếng gà xóm mẹ
Cuốn võng vào theo hướng súng mà đi.”
anh/chị hãy nêu suy nghĩ của bản thân về việc lựa chọn lý tưởng sống của thế hệ trẻ trong thời đại ngày nay.
Đáp án
I. Đọc hiểu
Câu 1.
Phương pháp:
Căn cứ các thể thơ đã học, phân tích
Cách giải:
Thể thơ tự do
Câu 2.
Phương pháp:
Căn bài đọc hiểu, tìm từ chỉ thời gian
Cách giải:
Các từ chỉ thời gian gồm: sáng, chiều, tối, bình minh, hoàng hôn, đêm.
Câu 3.
Phương pháp:
Căn cứ bài đọc hiểu, phân tích bố cục
Cách giải:
Bài thơ được chia thành ba phần tương ứng với ba thời điểm trong một ngày: Sáng – Chiều – Tối, giống như một trang nhật ký thực sự.
Câu 4.
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
HS dựa vào nội dung văn bản và đưa ra cách hiểu phù hợp.
Câu 5.
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
HS dựa vào nội dung câu thơ và đưa ra cảm nhận. Gợi ý:
- Sự hồi hộp của nhân vật trữ tình trong lần đầu ra trận: không ngủ được, lắng nghe từng âm thanh, tiếng động nơi chiến trường.
- Không chỉ vậy nó còn là sự lo lắng khi chuyển từ cầm bút sang cầm súng, chiến trường này không còn là chiến trường sách vở mà là chiến trường của sự chết chóc, hi sinh có thể đến bất cứ lúc nào.
- Nhưng cuối cùng ở họ vẫn ánh lên đó là sự kiên cường, dũng cảm, dù là lần đầu ra trận nhưng sang rồi họ vẫn “Cuốn võng vào theo hướng súng mà đi”. Câu thơ thể hiện sự quyết tâm, tình yêu nước nồng nàn của những người lính trẻ.
II. LÀM VĂN
Câu 1.
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về cách viết đoạn văn nghị luận.
- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ, dẫn chứng.
Cách giải:
Bài làm có thể triển khai theo nhiều cách, sau đây là gợi ý của Tuyensinh247.com
Gợi ý:
1. Mở đoạn:
- Giới thiệu khái quát về tác giả, đoạn thơ.
- Khái quát nội dung: Đoạn thơ khắc họa tâm trạng người lính trong đêm trước trận đánh đầu tiên.
2. Thân đoạn
- Âm thanh và không gian ban đêm nơi chiến trường, tĩnh lặng và rợn ngợp.
+ “Tắc kè ném lưỡi vào đêm”: gợi âm thanh bất ngờ, làm không gian đêm thêm căng thẳng, rợn ngợp.
+ Không gian tĩnh lặng: Câu thơ “nằm nghe lá thở” gợi sự yên ắng đến mức có thể cảm nhận được cả tiếng “lá thở”.
- Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong đêm đầu trước khi ra trận: không ngủ được, thao thức, trăn trở, lo âu của người lính trẻ trước trận chiến. Nằm lắng nghe từng âm thanh: lá thở, súng nổ, …
- Khẳng định: “Đánh giặc lần đầu ai chẳng thế”: lời tự an ủi, đồng cảm; thể hiện tâm lý lo lắng rất thật, rất người nhưng cũng đầy dũng cảm.
=> Đoạn thơ thể hiện chân thật tâm trạng người lính trước trận đánh đầu tiên: lo âu nhưng đầy trách nhiệm và dũng khí => Qua đó cho thấy vẻ đẹp bình dị và sâu sắc trong tâm hồn người lính Việt Nam thời chiến.
- Đánh giá về nghệ thuật:
+ Thể thơ tự do, nhịp điệu linh hoạt.
+ Sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ: nhân hoá, …
+ …
3. Kết đoạn: Khái quát lại vấn đề nghị luận.
Câu 2.
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức đã học về viết bài văn nghị luận.
- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng.
Cách giải:
Bài làm có thể triển khai theo nhiều cách, sau đây là gợi ý của Tuyensinh247.com
1. Mở bài
- Giới thiệu vấn đề nghị luận: Từ câu kết trong bài thơ “Nhật ký” của Hoàng Nhuận Cầm, cần suy ngẫm về việc lựa chọn lý tưởng sống của thế hệ trẻ trong thời đại hôm nay.
2. Thân bài
a. Giải thích:
- Lý tưởng sống: Là mục tiêu, khát vọng cao đẹp mà con người theo đuổi, cống hiến cho xã hội, cho đất nước, cho nhân loại hoặc cho sự hoàn thiện bản thân.
- Câu kết trong bài thơ "Nhật ký" của Hoàng Nhuận Cầm: thể hiện lý tưởng sống vì đất nước, sự dấn thân đầy lý tưởng của thế hệ thanh niên thời chiến. Đồng thời cũng là lời nhắc nhở thế hệ trẻ cần có thái độ, lý tưởng sống tích cực, tốt đẹp để xây dựng đất nước.
b. Giải quyết vấn đề:
- Ý nghĩa của việc lựa chọn lý tưởng sống đối với thế hệ trẻ
+ Là kim chỉ nam định hướng hành động, giúp sống có mục tiêu rõ ràng, không lạc lối.
+ Tạo động lực vươn lên, vượt qua khó khăn, thử thách trong cuộc sống.
+ Đóng góp cho xã hội, cho cộng đồng; khẳng định giá trị bản thân.
-Thực trạng việc thực hiện lý tưởng của thanh niên thời đại hiện nay.
+ Khác với thời chiến, thanh niên ngày nay không cần “xông pha trận mạc”, nhưng vẫn cần sống có lý tưởng: học tập, lao động sáng tạo, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội.
+ Những lý tưởng sống đẹp: khát vọng cống hiến, lập thân lập nghiệp chân chính, bảo vệ môi trường, nhân văn, trung thực, sáng tạo, hội nhập. Hiện nay, nhiều bạn trẻ năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, sẵn sàng cống hiến.
+ Bên cạnh đó một bộ phận thanh niên sống thực dụng, thiếu hoài bão, chạy theo vật chất, sống thụ động, ngại khó khăn.
HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp
-Việc lựa chọn lý tưởng sống, có lý tưởng sống cao đẹp là việc làm hết sức ý nghĩa. Bởi vậy, chúng ta cần:
+ Mỗi cá nhân cần chủ động rèn luyện, định hướng bản thân.
+ Nhà trường và gia đình: Giáo dục lý tưởng sống ngay từ trong nhà trường và gia đình.
+ Xã hội và các tổ chức cần tạo điều kiện để thanh niên phát huy lý tưởng.
- Bài học nhận thức và hành động.
3. Kết bài
- Khẳng định tầm quan trọng của lý tưởng sống với thanh niên trong thời đại mới.
Đề thi minh hoạ vào 10 môn Văn Hà Nội năm 2025
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Khi con biết đòi ăn
Mẹ là người mớm cho con muỗng cháo
Khi con biết đòi ngủ bằng tiết tấu
Mẹ là người thức hát ru con.
Bầu trời trong mắt con ngày một xanh hơn
Là khi tóc mẹ ngày thêm sợi bạc.
Mẹ đã thành hiển nhiên như trời đất
như cuộc đời không thể thiếu trong con.
Nếu có đi một vòng quả đất tròn
Người mong con mỏi mòn vẫn không ai ngoài mẹ
Cái vòng tay mở ra từ tấm bé
Cứ rộng dần khi con trẻ lớn thêm.
…
Mẹ!
Có nghĩa là bắt đầu
cho cuộc sống - tình yêu - hạnh phúc
Mẹ!
Có nghĩa là duy nhất
Một bầu trời - một mặt đất - một vầng trăng
Mẹ chưa sống đủ trăm năm
Nhưng đã dư dả nụ cười và tiếng hát.
1. Xác định thể thơ của văn bản.
2. Ghi lại những từ ngữ khắc họa hình ảnh người mẹ mà tác giả sử dụng trong sáu dòng đầu. Qua những từ ngữ đó, người mẹ hiện lên thế nào trong kí ức của nhân vật người con.
3. Em hiểu thế nào về hình ảnh: bầu trời trong mắt con ngày một xanh hơn?
4. Việc tác giả so sánh mẹ như trời – đất, như cuộc đời – không thể thiếu trong con mang lại hiệu quả nghệ thuật gì?
5. Mẹ và những người thân trong gia đình là một trong gia đình là những người không thể thiếu con. Nhưng trong nhịp sống hối hả hiện nay, dường như con cái với cha mẹ ngày càng thiếu sự gắn kết. Theo em, cần làm gì để các thành viên trong gia đình gắn kết hơn.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích tám dòng thơ cuối bài Ngày xưa có mẹ được trích trong phần đọc hiểu.
Câu 2. Vậy con nên trưởng thành trong vòng tay mẹ hay nên rời xa vòng tay mẹ để trưởng thành.
Viết bài văn nghị luận khoảng 400 chữ trả lời cho câu hỏi trên.
---- HẾT ----
Lời giải chi tiết
HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT
THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN trithuchub.com
Phần I. Đọc hiểu
Câu 1.
Phương pháp:
Căn cứ các thể thơ đã học.
Cách giải:
- Thể thơ tự do.
Câu 2.
Phương pháp:
Căn cứ nội dung bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
- Hình ảnh khắc họa hình ảnh mẹ trong khổ đầu: mẹ mớm cho con muỗng cháo, mẹ thức hát ru con, tóc mẹ ngày thêm bạc.
- Qua những từ ngữ đó, người mẹ hiện lên với hình ảnh tần tảo, chăm lo từng bữa ăn giấc ngủ cho con. Mẹ là người đồng hành cùng cuộc đời con từ khi còn bé đến khi đã khôn lớn trưởng thành.
Câu 3.
Phương pháp:
Căn cứ nội dung bài đọc hiểu, phân tích.
Cách giải:
“Bầu trời” ở đây có thể hiểu là thế giới bao la rộng lớn ngoài kia, nơi luôn chờ đợi con khám phá.
Qua từng muỗng cháo, lời ru của mẹ con ngày một lớn khôn, trưởng thành. Bầu trời ấy sẽ “ngày một xanh hơn” khi con khôn lớn, rời xa vòng tay yêu thương của mẹ để tự viết tiếp những trang nhật ký cuộc đời, để khám phá thế giới bao la, rộng lớn.
Câu 4.
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Việc tác giả so sánh mẹ như trời – đất, như cuộc đời – không thể thiếu trong con mang lại hiệu quả nghệ thuật đặc sắc:
- Trước hết giúp câu thơ thêm sinh động, hấp dẫn.
- Không chỉ vậy, hình ảnh so sánh còn giúp làm nổi bật vai trò to lớn và không thể thay thế của mẹ trong cuộc sống của con:
“trời – đất”: gợi lên sự rộng lớn, bao la và bền vững như tình mẹ luôn hiện diện và bao bọc con cái
“như cuộc đời – không thể thiếu trong con”: nhấn mạnh tầm quan trọng của người mẹ, gắn liền với cuộc đời, tâm hồn và sinh mạng của con.
- Qua hình ảnh so sánh, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của mẹ đối với mỗi người. Từ đó khẳng định, ngợi ca vai trò, ý nghĩa của mẹ với mỗi chúng ta
Câu 5.
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Những điều cần làm để gắn kết các thành viên trong gia đình:
- Thường xuyên chia sẻ, trò chuyện về công việc, học tập, tình cảm, những áp lực trong cuộc sống…
- Giúp đỡ, hỗ trợ, động viên lẫn nhau.
- Duy trì các truyền thống gia đình.
- Tôn trọng và chấp nhận sự khác biệt của các thành viên.
- Cùng nhau chia sẻ trách nhiệm trong các công việc chung.
- Thể hiện tình cảm yêu thương với những người thân trong gia đình.
- Giải quyết xung đột một cách văn minh, có tính xây dựng.
- …
Phần II. Làm văn
Câu 1.
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
Bài viết có thể triển khai theo nhiều cách, sau đây là gợi ý của Ban chuyên môn Tuyensinh247.com
Yêu cầu chung:
- Đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ, đầy đủ ba phần mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn.
- Nội dung phân tích tám câu cuối trong bài đọc hiểu.
Yêu cầu cụ thể:
1. Mở đoạn: Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm và nội dung đoạn trích.
2. Thân đoạn:
- Sáu câu thơ đầu: Tác giả sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ:
+ Sử dụng câu đặc biệt: “Mẹ!” Câu mang tính định nghĩa khẳng định ý nghĩa, vai trò to lớn của mẹ trong cuộc đời mỗi người. Tiếng gọi thiêng liêng, cao quý, bộc lộ bao yêu thương, trìu mến của người con khi khôn lớn, trưởng thành từ vòng tay yêu thương của mẹ.
+ Sử dụng linh hoạt biện pháp tu từ: điệp cấu trúc (Có nghĩa là …), liệt kê, …
+ Giọng điệu thơ vừa khẳng định, vừa tha thiết, tình cảm, …
=> Tác giả đã khẳng định: Mẹ là khởi nguồn của sự sống, tình yêu, hạnh phúc và mẹ là duy nhất trong cuộc sống mỗi người.
- Mẹ không sống đủ trăm năm: gợi ra quy luật tồn tại của con người: mẹ không thể sống hết cuộc đời cùng con, mẹ sẽ già đi khi con trưởng thành nhưng mẹ đã ban tặng cho con sự sống, nụ cười, tiếng hát, niềm tin…
=> Sự biết ơn của người con dành cho mẹ, tình yêu và niềm hạnh phúc khi con có mẹ
3. Kết đoạn: Thể thơ tự do với cách gieo vần, ngắt nhịp linh hoạt, những câu thơ dài ngắn đan xen cùng hệ thống của các biện pháp tu từ đa dạng, giọng điệu thơ tha thiết, giàu cảm xúc,… giúp người đọc cảm nhận rõ hơn về vai trò, công lao to lớn của người mẹ…. Qua đó cũng thể hiện được sự biết ơn, trân quý của con đối với mẹ.
Câu 2.
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
Bài viết có thể triển khai theo nhiều cách, sau đây là gợi ý của Ban chuyên môn Tuyensinh247.com
1. Mở bài: Giới thiệu khái quát vấn đề nghị luận “Nên trưởng thành trong vòng tay mẹ hay nên rời xa vòng tay mẹ để trưởng thành?"
2. Thân bài:
a. Giải thích:
- Khái quát nội dung đoạn trích: Đoạn trích nói đến tình yêu thương, sự quan tâm của mẹ giành cho con. Dù con có ở bất kì đâu mẹ vẫn là người yêu thương vô điều kiện. Mẹ che chở, bảo bọc đồng hành cùng con từ khi con còn nhỏ đến mãi sau này.
- Trưởng thành: là sự hoàn thiện về mặt thể chất lẫn tinh thần. Có khả năng giải quyết vấn đề một cách độc lập không phụ thuộc.
- Vòng tay mẹ: Thể hiện tình thương, sự chăm sóc, giúp đỡ. Sự chở che, nâng đỡ.
b. Bàn luận.
Học sinh tự đưa ra sự lựa chọn của bản thân mình, chú ý có lý giải phù hợp. Sau đây là gợi ý:
- Khi rời xa vòng tay mẹ, đồng nghĩa với việc rời xa sự che trở, bảo bọc, chúng ta sẽ phải đối diện với những gian nan, thử thách ngoài cuộc sống mà buộc bản thân mình phải tự xoay sở, tự giải quyết. Nhờ đó, bản thân trở nên trưởng thành hơn.
+ Học được cách tự giải quyết vấn đề, tiếp thu được thêm nhiều kiến thức mới, tích lũy những kinh nghiệm sống cần thiết.
+ Học được cách cân bằng cảm xúc cá nhân, rèn luyện sự kiên nhẫn, trách nhiệm, học được cách đồng cảm, sẻ chia.
+ Khám phá ra được những năng lực tiềm ẩn của bản thân.
- Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò của “vòng tay mẹ” trong quá trình trưởng thành của con người. Gia đình luôn là nơi để trở về, vòng tay cha mẹ luôn là chỗ để chúng ta dựa vào mỗi khi thất bại. Vòng tay đó sẽ là nguồn động lực vô giá để chúng ta lấy lại tinh thần, vững vàng bước tiếp, ngày càng trưởng thành hơn.
Học sinh chú ý lấy dẫn chứng phù hợp.
c. Bình luận
- Không ngừng tự cố gắng nỗ lực, độc lập giải quyết vấn đề trong cuộc sống. Vì dù cho trưởng thành trong hay ngoài vòng tay mẹ thì đó cũng là nơi cho con dc lớn khôn.
- Luôn trân trọng, biết ơn và yêu thương cha mẹ, tình cảm gđ vì đó là cội nguồn để con người khôn lớn, trưởng thành.
- Phê phán những người có thói quen ỉ nại, phụ thuộc hoan toàn vào cha mẹ.
....
3. Kết luận: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Đề thi vào 10 môn Văn Hà Nội năm 2023
Đề bài
Phần I. Trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi, nhà văn Lê Minh Khuê có viết:
“Cuộc sống ở đây đã dạy cho chúng tÔi thể nào là sự im lặng. Sự im lặng từ sáng đến giờ không bình thường. Cái không bình thường đó đang đến. Tiếng máy bay trinh sát rè rè. Phản lực gầm gào lao theo sau. [...]
- Sắp đấy! – Nho quay lưng lại chúng tôi, chụp cái mũ sắt lên đầu. Chị Thao móc bánh bích quy trong túi, thong thả nhai. Những khi biết rằng cái sắp tới sẽ không êm ả thì chị tỏ ra bình tĩnh đến phát bực.”
(Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2022)
1. Nêu hoàn cảnh sống và công việc của ba nữ thanh niên xung phong trong truyện Những ngôi sao xa xôi.
2. “Sự im lặng” được nói tới trong đoạn trích trên báo hiệu điều gì sắp xảy ra? Những hành động của Nho và Thao trước điều sắp xảy ra ấy giúp em hiểu gì về hai nhân vật này?
3. Viết một đoạn văn khoảng 15 câu theo phép lập luận tổng hợp – phân tích – tổng hợp để làm rõ tình đồng đội của ba nhân vật Nho, Thao và Phương Định trong Những ngôi sao xa xôi. Đoạn văn có sử dụng phép nối để liên kết và câu cảm thán (gạch dưới, chú thích rõ từ ngữ dùng làm phép nối và một câu cảm thán).
4. Kể tên một tác phẩm khác đã học trong chương trình Ngữ văn 9 cũng viết về thế hệ trẻ Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ và ghi rõ tên tác giả.
Phần II. Dưới đây là trích đoạn trong bức thư của một người bố gửi cho con:
Có thể con không biết, nụ cười của con đẹp tươi và nồng hậu. Nhưng sao con lại ít cười quá và càng ngày con càng ít cười hơn?
Có thể con không biết, mỗi khi nhớ con, bố thường nhớ những lần bố nóng giận trách phạt làm con đau, bố nhớ ánh mắt của con lúc buồn, bố nhớ tiếng khóc của con,... Bố nhớ những lần đó nhiều hơn những lần bố mang lại niềm vui cho con.
Có thể con không biết, mái tóc bạc của bố phần nhiều là vì lo lắng cho con. Mỗi khi con đau – dù là thể xác hay tinh thần, dù là vết xước nhỏ hay nỗi đau sâu, bố cũng đau rất nhiều.
Có thể con không biết, ...
(Theo Sống có giá trị, tập hai, NXB Trẻ, 2012)
1. Ghi lại một thành phần biệt lập phụ chú có trong đoạn thư trên.
2. Hãy nêu ngắn gọn cảm nhận của em về tấm lòng người bố được bộc lộ qua những lời tâm sự với con.
3. Có thể bạn không biết, đôi khi cảm xúc của mỗi chúng ta sẽ trở thành sự lo lắng cho những người thân yêu nếu bạn không làm chủ được nó.
Từ gợi dẫn trên, kết hợp với những hiểu biết xã hội, trình bày suy nghĩ (khoảng 2/3 trang giấy thi) về ý nghĩa của việc làm chủ cảm xúc bản thân.
Lời giải chi tiết
Phần I.
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ bài Những ngôi sao xa xôi.
Cách giải:
- Hoàn cảnh sống: Ba cô gái sống trong một cái hang dưới chân cao điểm, ở vùng trọng điểm bắn phá của giặc Mĩ.
- Công việc: tổ trinh sát mặt đường: đo khối lượng đất đá trong hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom.
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
- “Sự im lặng” báo hiệu sắp có một trận bom vô cùng ác liệt sẽ diễn ra.
- Những hành động của Nho và Thao trước điều sắp xảy ra cho thấy:
+ Họ là người bình tĩnh, bản lĩnh khi đứng trước nguy hiểm.
+ Họ là người gan dạ, dũng cảm.
+ Trước tình huống nguy hiểm họ cũng là người biết làm chủ cảm xúc của mình.
+ Qua đó cũng cho thấy họ rất yêu nước, sẵn sàng hi sinh trước tình huống nguy hiểm.
+ ….
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
* Yêu cầu hình thức: đoạn văn khoảng 15 câu theo phép lập luận tổng – phân - hợp.
* Yêu cầu nội dung: làm rõ tình đồng đội của ba nhân vật Nho, Thao và Phương Định trong tác phẩm Những ngôi sao xa xôi, trong đoạn có sử dụng phép liên kết và câu cảm thán.
Bài viết có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần đảm bảo các ý sau:
1. Giới thiệu chung:
- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu vấn đề nghị luận: tình đồng đội của ba nhân vật Nho, Thao và Phương Định.
2. Phân tích
- Khái quát về hoàn cảnh sống và làm việc của ba cô gái.
- Kề vai sát cánh trong chiến đấu: Khi đồng đội trên cao điểm, Phương Định ở nơi an toàn trực điện đài, mà chẳng thể yên lòng: cô gắt lên với đội trưởng, cô sốt ruột chạy ra ngoài rồi lo lắng.
- Thấu hiểu lẫn nhau:
+ Phương Định rất hiểu tính cách, sở thích của chị Thao và Nho. Biết chị Thao lúc cương quyết táo bạo (chị không ưa nước mắt), khi mềm mại nữ tính (sợ máu, sợ vắt, thích thêu thùa...)
+ Chị Thao để Phương Định ở nhà vì cô còn có một vết thương ở đùi chưa lành miệng => chị rất quan tâm đến những đứa em của mình.
- Chăm sóc khi đồng đội bị thương và luôn quan tâm, yêu thương nhau:
+ Lúc Nho bị thương, Phương Định “moi đất bế Nho đặt lên đầu” rửa vết thương, pha sữa, chăm sóc chu đáo.
+ Còn chị Thao thì lo lắng đến luống cuống.
+ Biết Nho thích ăn kẹo, Phương Định luôn phần cho Nho.
=> Tình cảm đồng chí của ba nữ thanh niên xung phong đẹp đẽ, gắn bó như một gia đình.
3. Tổng kết vấn đề.
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Gợi ý:
Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật.
….
Phần II.
Câu 1:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Thành phần biệt lập phụ chú có trong đoạn trên: dù là thể xác hay tinh thần, dù là vết xước nhỏ hay nỗi đau sâu.
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Học sinh tự nêu cảm nhận của mình về tình cảm của người bố qua những lời tâm sự với con, có lý giải.
Gợi ý:
- Bố luôn quan tâm lo lắng cho con.
- Bố yêu thương con bằng tất cả trái tim. Trong trái tim của bố luôn có hình ảnh của con, bố vui cùng niềm vui với con, đau cùng nỗi đau với con.
-….
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của việc làm chủ cảm xúc của bản thân.
2. Bàn luận:
* Giải thích: làm chủ cảm xúc của bản thân nghĩa là việc kiểm soát được cảm xúc cá nhân của bản thân trong các trường hợp xảy trong cuộc sống.
* Ý nghĩa kiểm soát cảm xúc của bản thân:
- Kiểm soát cảm xúc sẽ giúp bạn có suy nghĩ khách quan, từ đó đưa ra quyết định sáng suốt và có hành động đúng đắn.
- Kiểm soát cảm xúc giúp chúng ta giảm thiểu những xung đột và mẫu thuẫn không đáng có, giúp con người mở rộng và duy trì các mối quan hệ.
- Kiểm soát cảm xúc tốt khiến những người xung quanh đặc biệt là những người thân cảm thấy an tâm hơn.
- Kiểm soát cảm xúc giúp không đánh mất hình ảnh bản thân mình và không làm tổn thương người xung quanh.
…..
HS lấy dẫn chứng minh họa phù hợp.
* Bàn luận mở rộng:
- Mỗi con người hãy học cách kiểm soát cảm xúc cá nhân dẫu cho đó là một quá trình dài cần sự kiên trì và nhẫn nại.
- Kiểm soát cảm xúc cá nhân là tốt nhưng không đồng nghĩa với việc con người phủ nhận những cảm xúc đang diễn ra bên trong mình. Hãy biết bộc lộ, thể hiện cảm xúc đúng người, đúng chỗ vì đôi khi “Yêu thương không được bày tỏ thì không bao giờ đạt được ý nghĩa đích thực của nó”.
* Liên hệ bản thân.
Đề thi vào 10 môn Văn Hà Nội năm 2022
Đề bài
Phần I (6.5 điểm) Trong những ngày tháng cuối đời, nhà thơ Thanh Hải vẫn thiết tha đón nhận vẻ đẹp của cuộc sống:
“Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.”
(Trích Mùa xuân nho nhỏ, Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2021)
1. Mùa xuân nho nhỏ được sáng tác theo thể thơ nào? Ghi lại mạch cảm xúc của bài thơ.
2. Nêu giá trị gợi hình, gợi cảm của hình ảnh “giọt long lanh rơi” trong hai dòng thơ trên.
3. Kể tên một văn bản khác trong chương trình Ngữ văn cấp Trung học cơ sở cũng viết về mùa xuân, ghi rõ tên tác giả.
4. Từ những ấn tượng về mùa xuân thiên nhiên, nhà thơ bộc lộ tiếng lòng náo nức.
“Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao...
Em hãy viết một đoạn văn khoảng 12 câu theo phép lập luận tổng hợp - phân tích - tổng hợp làm rõ vẻ đẹp mùa xuân đất nước và cảm xúc của tác giả ở khổ thơ trên, trong đó có sử dụng câu bị động và phép thế để liên kết (gạch dưới, chú thích rõ một câu bị động và từ ngữ dùng làm phép thế).
Phần II (3,5 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
“Có một gương mặt đẹp soi vào gương quả là hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc càng trọn vẹn hơn nếu có một tâm hồn đẹp để mỗi khi soi vào tấm gương lương tâm sâu thẳm mà lòng không hổ thẹn.”
(Theo Băng Sơn, Tấm gương, Ngữ văn 7, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2021)
1. Gọi tên và chỉ rõ một phép liên kết ở đoạn trích trên. Trong cụm từ “tấm gương lương tâm”, người viết sử dụng biện pháp tu từ nào?
2. Theo tác giả, những điều gì giúp con người cảm thấy hạnh phúc?
3. Từ đoạn trích trên, kết hợp với những hiểu biết xã hội, em hãy trình bày suy nghĩ của mình (khoảng 2/3 trang giấy thi) về vấn đề: Sự cần thiết của việc nuôi dưỡng vẻ đẹp tâm hồn.
Lời giải chi tiết
Câu 1:
|
Mùa xuân nho nhỏ được sáng tác theo thể thơ nào? Ghi lại mạch cảm xúc của bài thơ. |
Phương pháp: Căn cứ bài Mùa xuân nho nhỏ
Cách giải:
- Thể thơ của tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ: 5 chữ.
- Mạch cảm xúc: Bài thơ mở đầu bằng vẻ đẹp, sức sống của mùa xuân thiên nhiên . Tiếp đó là cảm xúc của tác về mùa xuân của đất nước. Sau đó là những ước nguyện chân thành, tha thiết của tác giả và cuối cùng là lời ngợi ca quê hương đất nước.
Câu 2:
|
Nêu giá trị gợi hình, gợi cảm của hình ảnh “giọt long lanh rơi” trong hai dòng thơ trên. |
Phương pháp: Căn cứ hình ảnh, phân tích.
Cách giải:
Giá trị gợi hình, gợi cảm của hình ảnh “giọt long lanh rơi” là: Tác giả đã sử dụng nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: có thể là giọt mưa xuân long lanh, có thể là âm thanh tiếng chim đang rót giữa đất trời. Ta không chỉ nghe thấy mà con nhìn thấy cả giọt âm thanh trong vắt. Qua hình ảnh thơ không chỉ cho ta thấy thiên nhiên đẹp đẽ, trong trẻo mà con thấy tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của nhà thơ.
Câu 3:
|
Kể tên một văn bản khác trong chương trình Ngữ văn cấp Trung học cơ sở cũng viết về mùa xuân, ghi rõ tên tác giả |
Phương pháp: Căn cứ các văn bản đã học.
Cách giải:
- Tác phẩm viết về mùa xuân: Cảnh ngày xuân (Trích Truyện Kiều), tác giả Nguyễn Du; Mùa xuân của tôi – Vũ Bằng.
Câu 4:
|
Từ những ấn tượng về mùa xuân thiên nhiên, nhà thơ bộc lộ tiếng lòng náo nức. “Mùa xuân người cầm súng Lộc giắt đầy trên lưng Mùa xuân người ra đồng Lộc trải dài nương mạ Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao... Em hãy viết một đoạn văn khoảng 12 câu theo phép lập luận tổng hợp - phân tích - tổng hợp làm rõ vẻ đẹp mùa xuân đất nước và cảm xúc của tác giả ở khổ thơ trên, trong đó có sử dụng câu bị động và phép thế để liên kết (gạch dưới, chú thích rõ một câu bị động và từ ngữ dùng làm phép thế). |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
* Yêu cầu hình thức: Viết đoạn văn lập luận tổng – phân – hợp khoảng 12 câu, có sử dụng một câu bị động và một phép liên kết câu. Không mắc các lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
* Yêu cầu nội dung: Đoạn văn cần đảm bảo các nội dung sau:
1. Giới thiệu chung:
+ Giới thiệu tác giả Thanh Hải, tác phẩm mùa xuân nho nhỏ.
+ Giới thiệu nội dung nghị luận: vẻ đẹp mùa xuân đất nước và cảm xúc tác giả trong khổ thơ thứ 2.
2. Cảm nhận về vẻ đẹp mùa xuân đất nước và cảm xúc tác giả
- Nhà thơ khám phá, ca ngợi vẻ đẹp của mùa xuân đất nước:
“Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao”
+ Hệ thống điệp từ “mùa xuân”, “lộc”: gợi quang cảnh mùa xuân tươi đẹp, tràn đầy sức sống của chồi non lộc biếc; gợi ra những thành quả trong công cuộc xây dựng đất nước.
+ Hình ảnh “người cầm súng” “người ra đồng”: được liệt kê để vẽ lên hình ảnh đất nước tưng bừng, nhộn nhịp với hàng vạn con người đang góp sức mình cho mùa xuân của dân tộc.
+ Hình ảnh “người cầm súng”: phản ánh hiện thực gian khổ của chiến tranh. Hình ảnh lộc trên lưng vừa là hình ảnh cành lá ngụy trang vừa là mùa xuân mà họ mang lại cho đất nước.
+ Hình ảnh “người ra đồng”: không khí lao động ở hậu phương. “Lộc trải dài nương mạ”: mang đến những cánh đồng xanh tươi, những vụ mùa no ấm, mang lại sự sống.
+ Điệp từ “tất cả” + lặp cấu trúc ngữ pháp + các từ láy “hối hả” “xôn xao” diễn tả nhịp sống sôi động, tưng bừng, tràn đầy niềm vui, hạnh phúc.
- Cảm xúc của nhà thơ: Giọng thơ vừa tha thiết, sôi nổi, vừa trang trọng đã gói trọn niềm yêu mến, tự hào, tin tưởng của nhà thơ về đất nước.
3. Tổng kết: Khái quát, tổng kết vấn đề.
II. PHẦN II:
Câu 1:
|
Gọi tên và chỉ rõ một phép liên kết ở đoạn trích trên. Trong cụm từ “tấm gương lương tâm”, người viết sử dụng biện pháp tu từ nào? |
Phương pháp: Căn cứ bài Liên kết câu.
Cách giải:
- Học sinh có thể chỉ 1 trong 2 phép liên kết sau:
+ Phép nối: Nhưng.
+ Phép lặp: hạnh phúc, gương, soi.
- Trong cụm từ “tấm gương lương tâm” người viết sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ.
Câu 2:
|
Theo tác giả, những điều gì giúp con người cảm thấy hạnh phúc? |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Điều khiến con người cảm thấy hạnh phúc là:
- Có một gương mặt đẹp soi vào gương.
- Có một tâm hồn đẹp để mỗi khi soi vào tấm gương lương tâm sâu thẳm mà lòng không hổ thẹn.
Câu 3:
|
Từ đoạn trích trên, kết hợp với những hiểu biết xã hội, em hãy trình bày suy nghĩ của mình (khoảng 2/3 trang giấy thi) về vấn đề: Sự cần thiết của việc nuôi dưỡng vẻ đẹp tâm hồn. |
Phương pháp: Phân tích, lí giải, tổng hợp.
Cách giải:
* Yêu cầu hình thức: Viết đúng một đoạn văn/bài văn khoảng 2/3 trang giấy thi. Không mắc các lỗi chính tả, dùng từ đặt câu.
* Yêu cầu về nội dung:
- Xác định đúng yêu cầu nghị luận: Sự cần thiết của việc nuôi dưỡng vẻ đẹp tâm hồn.
- Giải thích: Vẻ đẹp tâm hồn là những giá trị ẩn sâu trong mỗi con người, là nét đẹp của phẩm chất con người.
- Vì sao cần phải nuôi dưỡng vẻ đẹp tâm hồn:
+ Nuôi dưỡng vẻ đẹp tâm hồn sẽ giúp con người biết lắng nghe, quan sát, không ngừng học hỏi. Từ đó tích lũy thêm nhiều kiến thức.
+ Trong quá trình vun đắp tâm hồn con người sẽ ngày càng trưởng thành, nhẫn nại, kiên trì.
+ Vun đắp vẻ đẹp tâm hồn giúp con người cảm nhận được những giá trị tích cực của cuộc sống, tạo thêm nhiều mối quan hệ tốt đẹp. Từ đó, cuộc sống con người trở nên có ý nghĩa hơn.
+ Khi có một tâm hồn đẹp đồng nghĩa với việc con người có lối sống đẹp từ đó góp phần tạo nên xã hội tích cực.
- Bài học mở rộng:
+ Phê phán những người chỉ đề cao vẻ đẹp hình thức mà không trân trọng vẻ đẹp tâm hồn, những người sống ích kỉ, giả tạo, vô cảm.
+ Con người cần học cách nuôi dưỡng, vun đắp cho tâm hồn mình.
Đề thi vào 10 môn Văn Hà Nội năm 2019
Đề bài
Phần I. (7.0 điểm)
Mùa thu luôn là nguồn cảm hứng bất tận của thi ca. Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng góp vào đề tài này thi phẩm Sang thu sâu lắng.
1. Bài thơ Sang thu được sáng tác theo thể thơ nào? Ghi tên hai tác phẩm khác trong chương trình Ngữ văn 9 cũng viết theo thể thơ đó.
2. Trong khổ thơ đầu, tác giả đã đón nhận mùa thu về với “hương ổi”, “gió se”, “sương chùng chình” bằng những giác quan nào? Cũng trong khổ thơ này, các từ “bỗng” và “hình như” giúp em hiểu gì về cảm xúc, tâm trạng của nhà thơ?
3. Phân tích hiệu quả nghệ thuật của phép tu từ nhân hóa trong câu thơ “Sương chùng chình qua ngõ”.
4.
Khép lại bài thơ, Hữu Thỉnh viết:
“Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi”.
(Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018)
Bằng một đoạn văn khoảng 12 câu theo phép lập luận tổng phân hợp em hãy làm rõ những cảm nhận tinh tế và sâu sắc của tác giả ở khổ thơ trên, trong đó có sử dụng câu bị động và câu có thành phần cảm thán.
Phần II (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
“Có người nói thành đạt là do gặp thời, có người lại cho là do hoàn cảnh bức bách, có người cho là do có điều kiện được học tập, có người lại cho là do có tài năng trời cho. Các ý kiến đó mỗi ý chỉ nói tới một nguyên nhân, mà lại là nguyên nhân khách quan, họ quên mất nguyên nhân chủ quan của con người.
Thật vậy. Gặp thời tức là gặp may, có cơ hội, nhưng nếu chủ quan không chuẩn bị thì cơ hội cũng sẽ qua đi. Hoàn cảnh bức bách là hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục. Nhưng gặp hoàn cảnh ấy có người bi quan, thất vọng, chán nản, thối chí; có người lại gồng mình vượt qua”.
(Nguyên Hương, Trò chuyện với bạn trẻ, Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam)
1. Xác định một phép liên kết được sử dụng trong hai câu văn in nghiêng ở trên và chỉ rõ từ ngữ dùng làm phương tiện liên kết.
2. Theo tác giả, khi gặp “hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục”, con người có những cách ứng xử nào?
3. Từ nội dung đoạn trích trên, em hãy trình bày suy nghĩ khoảng 2/3 trang giấy thi về ý kiến: Phải chăng hoàn cảnh khó khăn cũng là cơ hội để mỗi người khám phá khả năng của chính mình?
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1
|
Bài thơ Sang thu được sáng tác theo thể thơ nào? Ghi tên hai tác phẩm khác trong chương trình Ngữ văn 9 cũng viết theo thể thơ đó. |
Phương pháp: căn cứ bài thơ đã học
Cách giải:
- Sang thu được sáng tác bằng thể thơ: 5 chữ.
- Hai tác phẩm viết theo thể thơ 5 chữ:
+ Ánh trăng.
+ Mùa xuân nho nhỏ.
Câu 2
|
Trong khổ thơ đầu, tác giả đã đón nhận mùa thu về với “hương ổi”, “gió se”, “sương chùng chình” bằng những giác quan nào? Cũng trong khổ thơ này, các từ “bỗng” và “hình như” giúp em hiểu gì về cảm xúc, tâm trạng của nhà thơ? |
Phương pháp: căn cứ đoạn thơ được trích; phân tích
Cách giải:
- Giác quan:
+ Khứu giác: hương ổi
+ Xúc giác: gió se
+ Thị giác: sương chùng chình
- Cảm xúc, tâm trạng của tác giả qua hai từ “bỗng”, “hình như”:
+ “Bỗng”: thể hiện sự bất ngờ, ngỡ ngàng khi mùa thu đến mà không báo trước.
+ “Hình như”: tâm trạng hoài nghi, cái giật mình bối rối của nhà thơ trước tín hiệu thu về.
Câu 3
|
Phân tích hiệu quả nghệ thuật của phép tu từ nhân hóa trong câu thơ “Sương chùng chình qua ngõ”. |
Phương pháp: căn cứ biện phép Nhân hóa; phân tích
Cách giải:
- Tác dụng biện pháp nhân hóa qua câu “sương chùng chình qua ngõ”.
+ Biện pháp nhân hóa gợi hình ảnh màn sương mỏng nhẹ, đặc trưng của mùa thu Bắc Bộ, gợi lên không gian làng quê thanh bình, yên tĩnh.
+ Phép nhân hóa còn khiến màn sương như có hồn, có thần thái cũng biết xao xuyến, chậm chãi, dùng dằng, như cố ý chậm lại, nửa sang thu nửa còn như luyến tiếc mùa hạ. Đó cũng chính là tâm trạng, cảm xúc của con người khi đứng trước cửa ngõ mùa thu.
=> Giúp câu văn trở nên sinh động, hấp dẫn, gây ấn tượng với người đọc.
Câu 4
|
Khép lại bài thơ, Hữu Thỉnh viết: “Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi”. (Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018) Bằng một đoạn văn khoảng 12 câu theo phép lập luận tổng phân hợp em hãy làm rõ những cảm nhận tinh tế và sâu sắc của tác giả ở khổ thơ trên, trong đó có sử dụng câu bị động và câu có thành phần cảm thán. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
Yêu cầu về hình thức:
- Đoạn văn 12 câu theo cách lập luận tổng hợp – phân tích – tổng hợp.
- Sử dụng câu bị động và câu có thành phần cảm thán.
Yêu cầu về nội dung:
Cần đảm bảo những yêu cầu sau:
* Giới thiệu chung
* Phân tích
- Khổ thơ cuối mùa thu đã hiện ra rõ nét hơn và nhà thơ đã cảm nhận bằng cả chiều sâu kinh nghiệm, bằng những suy tư sâu lắng chứ không chỉ là những giác quan như khổ 1.
- Vẫn là nắng, mưa, sấm chợp như mùa hạ nhưng khi kết hợp với các phó từ đã, vẫn, cũng thì mức độ đã khác, nó lắng dần, chừng mực và ổn định hơn.
+ Nắng cuối hạ vẫn còn nồng nhưng đã bớt oi ả, gay gắt
+ Đã vơi ần những cơn mưa rào ào ạt, bất ngờ của mùa hạ
+ Những tiếng sấm cuối hạ cũng thưa và nhỏ dần
=> Hạ nhạt dần, thu đậm nét hơn
- 2 câu thơ cuối vừa mang nghĩa tả thực, vừa mang nghĩa ẩn dụ sâu xa. Đúng như lời Hữu Thỉnh tự bạch: “Có thể hiểu hàng cây đã lớn, đã trải qua bao mùa thay lá, sẽ vững vàng hơn trước những tiếng sấm bất ngờ. Đồng thời, phép nhân hóa và hình ảnh ẩn dụ ... thấy, sấm là những vang động bất thường gợi đến những khó khăn của cuộc đời. Hàng cây đứng tuổi chỉ như người từng trải, họ sẽ vững vàng hơn trước những tác động, những sóng gió của cuộc đời. Đến đây, ta nhận ra không chỉ có thiên nhiên sang thu mà còn có cả sự sang thu của đời người. Nhìn lại cả bài thơ, ta càng thấm thía vì sao lại có sự chùng chình, bịn rịn lúc sang thu, vì sao lại vừa dềnh dàng mà lại vừa vội vã. Con người lúc sang mùa thu của đời mình không còn bồng bột, xốc nổi như lúc còn thanh xuân mà sâu sắc, chín chắn, điềm đạm hơn. Sang thu, ta lại càng lưu luyến, bịn rịn khi chợt nhận ra mái tóc đã pha sương và ta càng khẩn trương, vội vã để sống có ích cho đời.
* Tổng kết
Như vậy sang đến khết thúc bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh, cả thiên nhiên và ông đều hòa một nhịp với thu sang. Đồng thời khổ thơ cũng thể hiện sự tinh tế, nhạy cảm của nhà thơ Hữu Thỉnh
Phần II
Câu 1
| Xác định một phép liên kết được sử dụng trong hai câu văn in nghiêng ở trên và chỉ rõ từ ngữ dùng làm phương tiện liên kết |
Phương pháp: căn cứ các phép liên kết đã học
Cách giải:
- Phép liên kết: Phép nối
- Từ ngữ dùng làm phương tiện liên kết: Nhưng
Câu 2
|
Theo tác giả, khi gặp “hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục”, con người có những cách ứng xử nào? |
Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích
Cách giải:
- Khi gặp “hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục” có những cách ứng xử:
+ bi quan, thất vọng, chán nản, thối chí.
+ gồng mình vượt qua.
Câu 3
|
Từ nội dung đoạn trích trên, em hãy trình bày suy nghĩ khoảng 2/3 trang giấy thi về ý kiến: Phải chăng hoàn cảnh khó khăn cũng là cơ hội để mỗi người khám phá khả năng của chính mình? |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
Yêu cầu:
- Văn phong rõ ràng, không mắc các lỗi chính tả, đặt câu.
- Lập luận chặt chẽ, dẫn chứng xác thực.
1. Giới thiệu vấn đề: Hoàn cảnh khó khăn cũng chính là cơ hội để mỗi người khám phá khả năng của chính mình.
2. Bàn luận vấn đề
* Giải thích:
- Hoàn cảnh khó khăn là những bất lợi, khó khăn khi ta làm một công việc nào đó.
=> Trong hành trình đi đến thành công không phải ai cũng gặp may mắn, chúng ta tất yếu sẽ gặp khó khăn, vấp ngã mà buộc phải đứng dậy và vượt qua. Chính trong hoàn cảnh khó khăn đó con người sẽ khám phá ra nhiều năng lực của bản thân.
* Biểu hiện: Khi làm một công việc nào đó ta gặp trở ngại, vấp ngã không thể hoàn thành. Trong một bài toán không tìm ra lời giải, trong một bài văn không định hướng được cách làm,…
* Ý nghĩa vai trò của khó khăn với con người:
- Vì sao nói hoàn cảnh khó khăn là cơ hội để khám phá khả năng của chính mình?
+ Gặp hoàn cảnh khó khăn ta mới phát hiện được năng lực giải quyết vấn đề của bản thân.
+ Gặp hoàn cảnh khó khăn ta mới khám phá được óc sáng tạo của bản thân, sự nhanh nhạy của bản thân.
+ Gặp khó khăn ta mới biết được sức lì, sự chịu đựng của chính mình, có thể vượt qua được những khó khăn đó hay không. Đây cũng là cơ hội để ta rèn luyện năng lực của bản thân.
+ Người ta vẫn thường nói ở tận cùng khó khăn sẽ là nơi mở ra cơ hội mới. Cơ hội đó cũng chính là khả năng nắm bắt của mỗi cá nhân trước thời cuộc.
+ Gặp khó khăn sẽ giúp ta nhận ra những thiếu sót của bản thân để sửa chữa, trau dồi.
* Chứng minh: học sinh lấy dẫn chứng phù hợp với yêu cầu của đề.
* Mở rộng vấn đề và liên hệ bản thân
- Không phải ai cũng có thể vượt qua khó khăn, họ buông xuôi nên thất bại, sống cuộc đời dễ dàng nhưng vô nghĩa, đó là lối sống đáng phê phán.
- Đứng trước khó khăn, thử thách con người cần bình tĩnh, tự tin, xét đoán mọi vấn đề để tìm ra phương hướng giải quyết. Không nản lòng, không sợ gian khổ vượt qua mọi khó khăn.
- Liên hệ bản thân: đứng trước khó khăn, em sẽ làm gì: nên chủ động, dũng cảm đối diện và tìm cách vượt qua, không bỏ cuộc giữa chừng ...
3. Tổng kết
Đề thi vào 10 môn Văn Hà Nội năm 2017
Đề bài
Phần I (4 điểm)
Mở đầu bài thơ Nói với con, nhà thơ Y Phương viết:
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
(Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016)
1. Ghi lại chính xác 7 dòng tiếp theo những dòng thơ trên. (1 điểm)
2. Cách miêu tả bước chân con “chạm tiếng nói”, “tới tiếng cười” có gì đặc biệt? Qua đó, tác giả đã thể hiện được điều gì? (1 điểm)
3. Hãy trình bày suy nghĩ của em (khoảng 12 câu) về quan niệm: Được sống trong tình yêu thương là hạnh phúc của mỗi con người. (2 điểm)
Phần II (6 điểm)
Cho đoạn trích:
Ông nằm vật lên giường vắt tay lên trán nghĩ ngợi vẩn vơ. Ông lại nghĩ về cái làng của ông, lại nghĩ đến những ngày cùng làm với anh em. Ô, sao mà độ ấy vui thế. Ông thấy mình như trẻ ra. Cũng hát hỏng, bông phèng, cũng đào, cũng cuốc mê man suốt ngày. Trong lòng ông lão lại thấy náo nức hẳn lên. Ông lại muốn về làng, lại muốn được cùng anh em đào đường đắp ụ, xẻ hào, khuân đá… Không biết cái chòi gác ở đầu làng đã dựng xong chưa? Những đường hầm bí mật chắc là còn khướt lắm. Chao ôi! Ông lão nhớ làng, nhớ cái làng quá.
(Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016)
1. Đoạn văn trên được trích từ truyện ngắn nào? Của ai? Nêu hoàn cảnh ra đời của truyện ngắn này. (1 điểm)
2. Dòng cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật ông lão được thể hiện qua việc nhắc lại các từ, cụm từ nào trong đoạn trích? Trong dòng cảm xúc, suy nghĩ ấy có những kỉ niệm nào của ông với làng kháng chiến? (1 điểm)
3. Xét về mục đích nói, câu văn “Không biết cái chòi gác ở đầu làng đã dựng xong chưa” thuộc kiểu câu gì? Vì sao nỗi trăn trở của ông lão trong câu văn đó lại là một biểu hiện của tình cảm công dân? (1 điểm)
4. Với hiểu biết của em về truyện ngắn trên, hãy viết một đoạn văn quy nạp khoảng 12 câu, có sử dụng câu ghép và câu thế (gạch dưới câu ghép và từ ngữ được dùng làm phép thế) để khẳng định: Truyện đã khắc họa thành công hình ảnh những người nông dân trong kháng chiến. (3 điểm)
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1
|
Ghi lại chính xác 7 dòng tiếp theo những dòng thơ trên. |
Phương pháp giải:
Ôn lại chính xác các câu trong bài thơ
Lời giải chi tiết:
7 dòng tiếp theo của những dòng thơ trên:
Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời
Câu 2
| Cách miêu tả bước chân con “chạm tiếng nói”, “tới tiếng cười” có gì đặc biệt? Qua đó, tác giả đã thể hiện được điều gì? |
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về biện pháp biện ẩn dụ, nêu tác dụng
Lời giải chi tiết:
Trong 2 câu thơ:
Cách miêu tả bước chân con “chạm tiếng nói”, “tới tiếng cười” có điều đặc biệt sau:
Tác giả đã dùng những hình ảnh cụ thể, chuyển đổi cảm giác, giàu chất thơ kết hợp với nét độc đáo trong tư duy, cách diễn đạt của người miền núi để nói khung cảnh một gia đình ấm cũng, đầy ắp niềm vui, đầy ắp tiếng nói cười. Làm cho câu thơ có nhịp điệu, hình ảnh độc đáo.
Câu 3
|
Hãy trình bày suy nghĩ của em (khoảng 12 câu) về quan niệm: Được sống trong tình yêu thương là hạnh phúc của mỗi con người. |
Phương pháp giải:
Liên hệ bản thân
Lời giải chi tiết:
- Tình yêu thương được hiểu là tình cảm gắn bó giữa người với người; hạnh phúc là trạng thái thỏa mãn những mong muốn, nhu cầu của con người.
=> Ý kiến khẳng định mục đích cuối cùng, cao đẹp nhất, hạnh phúc nhất trong cuộc đời con người là được sống trong tình yêu thương.
- Vì tình yêu thương gắn kết con người với nhau, làm xoa dịu những tâm hồn tổn thương, có thể tạo nên sức mạnh để vượt qua những giông bão cuộc đời. Được sống trong tình yêu thương, ta sẽ có nguồn năng lượng vô tận để thực hiện những việc lớn nhỏ, vươn tới những đỉnh cao.
- Biểu hiện của tình yêu thương: không chỉ là tình yêu thương giữa những người thân, ruột thịt mà còn là tình đồng chí, đồng bào, tình cảm bạn bè, thầy trò… Những người được sống trong tình yêu thương là những người may mắn hạnh phúc.
Tuy nhiên, cuộc đời vẫn có những người không may mắn, không được hưởng trọn vẹn tình thương. Cũng có những người ích kỉ, trong hận thù…
- Liên hệ bản thân: được sống trong yêu thương, em làm gì để trân trọng tình cảm đó và cũng phải biết trao gửi yêu thương. “Bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũng phảng phất hương thơm”
Phần II
Câu 1
| Đoạn văn trên được trích từ truyện ngắn nào? Của ai? Nêu hoàn cảnh ra đời của truyện ngắn này |
Phương pháp giải:
Đoạn kĩ đoạn trích, chú ý lời văn, cốt truyện, nhân vật
Lời giải chi tiết:
- Đoạn văn trên được trích từ truyện ngắn “Làng” của tác giả Kim Lân
- Hoàn cảnh sáng tác: truyện ngắn được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ 1948.
=> Là một trong những truyện ngắn thành công nhất của Kim Lân
Câu 2
| Dòng cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật ông lão được thể hiện qua việc nhắc lại các từ, cụm từ nào trong đoạn trích? Trong dòng cảm xúc, suy nghĩ ấy có những kỉ niệm nào của ông với làng kháng chiến? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích và xác định các từ, cụm từ
Lời giải chi tiết:
- Dòng cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật ông lão được nhắc lại qua các từ, cụm từ sau: vui, lòng ông lão náo nức hẳn lên. Chao ôi, nhớ làng, nhớ cái làng quá.
- Trong dòng cảm xúc, suy nghĩ ấy, những kỉ niệm của ông lão với kháng chiến là: những ngày cùng làm việc với anh em, cũng hát hỏng, bong phèng, cũng đào, cũng cuốc mê man suốt ngày. Cùng anh em đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…
Câu 3
| Xét về mục đích nói, câu văn “Không biết cái chòi gác ở đầu làng đã dựng xong chưa” thuộc kiểu câu gì? Vì sao nỗi trăn trở của ông lão trong câu văn đó lại là một biểu hiện của tình cảm công dân? |
Phương pháp giải:
Ôn lại kiến thức về kiểu câu trong văn bản
Lời giải chi tiết:
- Xét về mục đích nói, câu văn “Không biết cái chòi gác ở đầu làng đã dựng xong chưa” thuộc kiểu câu nghi vấn.
- Nỗi trăn trở của ông lão trong câu văn đó là một biểu hiện của tình cảm công dân vì:
+ Trước hết phải hiểu tình cảm công dân là những trạng thái thuộc về tâm hồn, là tình yêu quê hương đất nước, có ý thức trách nhiệm với vận mệnh đất nước. Ở câu văn này thể hiện đầy đủ tình cảm công dân của ông Hai
+ Ông lão xa làng rồi mà vẫn luôn hướng về làng quê của mình với những tình cảm sâu nặng, đặc biệt trong hoàn cảnh kháng chiến, luôn nhớ đến những kỉ niệm gắn với cách mạng
+ “Cái chòi gác” là nơi xây dựng để thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Trăn trở về việc cái chòi ấy dựng xong chưa tức là ông lão luôn suy nghĩ, hướng về việc cần làm, nên làm và phải làm trong hoàn cảnh bấy giờ. Đó là việc chống thực dân được đặt lên hàng đầu.
Câu 4
| Với hiểu biết của em về truyện ngắn trên, hãy viết một đoạn văn quy nạp khoảng 12 câu, có sử dụng câu ghép và câu thế (gạch dưới câu ghép và từ ngữ được dùng làm phép thế) để khẳng định: Truyện đã khắc họa thành công hình ảnh những người nông dân trong kháng chiến. |
Phương pháp giải:
Ôn lại kiến thức về văn bản Làng
Lời giải chi tiết:
* Yêu cầu về hình thức: đoạn văn quy nạp (có câu chủ đề ở cuối đoạn), khoảng 12 câu, có sử dụng câu ghép và phép thế (gạch dưới câu ghép và từ ngữ được dùng làm phép thế)
* Yêu cầu về nội dung:
Đoạn văn đảm bảo các ý chính sau:
- Truyện ngắn kể về câu chuyện của ông Hai. Ông được đặt trong hoàn cảnh phải di cư, dù đi xa nhưng trong ông vẫn có đầy đủ những tình cảm của người con yêu làng, yêu nước và ông chính là hiện thân của người nông dân trong kháng chiến
- Ông khoe làng của mình với một thái độ hồn nhiên, phấn khởi. Lúc mới nghe tin, ông ngạc nhiên đến bàng hoàng, sững sờ. Từ giây phút đó, ông chìm vào tâm trạng hoang mang, đau khổ, sợ hãi.
- Ông lảng ra chỗ khác rồi về thẳng nhà, nằm vật ra giường chứ không chạy sang hàng xóm khoe làng như thường lệ
- Ông lo lắng, xót xa, trằn trọc cả đêm
- Ông sợ hãi khi phải đối diện với cuộc sống xung quanh
* Cái tin làng theo giặc lập tề ấy khiến ông day dứt, giằng xé dữ dội:
- Vì: ông vừa yêu làng, vừa yêu nước, ông buộc phải lựa chọn giữa hai tình cảm thiêng liêng
- Cuộc đấu tranh trong tâm hồn ông được biểu hiện qua cuộc nói chuyện của ông với đứa con nhỏ
=> Miêu tả diễn biến tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, Kim Lân đã phản ánh những nét đẹp mới trong tâm hồn người nông dân sau cách mạng. Cùng với tình yêu làng tha thiết họ còn tràn đầy tình yêu đất nước và nhiệt tình cách mạng.
- Tin cải chính đến cùng tin làng bị đốt, nhà ông Hai cũng bị đốt sạch, đây là một mất mát lớn đối với người dân
- Vậy mà, ông vô cùng sung sướng, hạnh phúc
=> Cội nguồn của sự thay đổi tâm trạng của ông vẫn là tình yêu làng, yêu nước. Tin cải chính đã trả lại cho ông niềm tự hào về làng Chợ Dầu và niềm tự tin vào bản thân mình. Hai tình cảm lớn lại hòa nhập làm một trong tâm hồn người nông dân chất phác và trong danh dự này
=> Truyện ngắn Làng đã khắc họa thành công hình ảnh người nông dân trong kháng chiến thông qua hình ảnh ông Hai với lòng yêu nước nồng nàn, ý thức căm thù giặc sâu sắc và một lòng gắn bó trung thành với cách mạngĐề thi vào 10 môn Văn Hà Nội năm 2016
Đề bài
Phần I. ( 4 điểm)
Trong bài Phong cách Hồ Chí Minh sau khi nhắc lại việc chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với văn hóa nhiều nước, nhiều vùng trên thế giới, tác giả Lê Anh Trà viết:
… “Nhưng điều kì lạ là tất cả những ảnh hưởng quốc tế đó đã nhào nặn cái gốc văn hóa dân tộc không gì lay chuyển được ở Người, để trở thành một nhân cách Việt Nam, một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng cũng đồng thời rất mới, rất hiện đại”
(Trích ngữ văn 9, tập một NXB Giáo dục Việt Nam 2015)
Câu 1: Ở phần trích trên, tác giả đã cho thấy vẻ đẹp của phong cách Hồ Chí Minh được kết hợp hài hòa bởi những yếu tố nào? Em hiểu được điều gì về tình cảm của tác giả dành cho Người?
Câu 2: Xác định hai danh từ được sử dụng như tính từ trong phần trích dẫn và cho biết hiệu quả nghệ thuật của cách dùng từ ấy.
Câu 3: Em hãy trình bày suy nghĩ (khoảng 2/3 trang giấy thi) về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kì hội nhập phát triển.
Phần II. ( 6 điểm)
Ở bài thơ Bếp lửa (Bằng Việt), trong dòng hồi tưởng, người cháu nhớ lại:
… “Năm ấy là năm đói mòn mỏi”…
rồi trở về thực tại:
“Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
– Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?…”
(Trích ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015)
Câu 1: Nêu hoàn cảnh ra đời của bài thơ.
Câu 2: “Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi” được nhắc tới trong bài thơ gợi nhớ về thời điểm nào của đất nước? Việc nhà thơ tách từ “mòn mỏi” để ghép thành “đói mòn đói mỏi” có tác dụng gì?
Câu 3: Viết một đoạn văn theo cách lập luận diễn dịch (khoảng 12 câu) làm rõ tình cảm sâu nặng của cháu đối với bà ở khổ thơ trên trong đó có sử dụng phép nối để liên kết và một câu bị động (gạch dưới từ ngữ dùng làm phép nối và câu bị động)
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1
| Ở phần trích trên, tác giả đã cho thấy vẻ đẹp của phong cách Hồ Chí Minh được kết hợp hài hòa bởi những yếu tố nào? Em hiểu được điều gì về tình cảm của tác giả dành cho Người? |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
- Vẻ đẹp của phong cách Hồ Chí Minh được kết hợp hài hòa bởi yếu tố truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, giữa giản dị và thanh cao.
- Tình cảm của tác giả dành cho Người: trân trọng, kính yêu, ngưỡng mộ, tự hào.
Câu 2
| Xác định hai danh từ được sử dụng như tính từ trong phần trích dẫn và cho biết hiệu quả nghệ thuật của cách dùng từ ấy |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích, xác định các danh từ
Lời giải chi tiết:
- Hai danh từ được sử dụng như tính từ trong phần trích dẫn là: “Việt Nam”, “phương Đông” (dấu hiệu nhận biết: đứng sau từ “rất”)
- Tác dụng: khẳng định và nhấn mạnh vẻ đẹp của phong cách Hồ Chí Minh mang đậm bản sắc dân tộc, bản sắc văn hóa phương Đông.Câu 3
|
Em hãy trình bày suy nghĩ (khoảng 2/3 trang giấy thi) về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kì hội nhập phát triển. |
Phương pháp:
- Có thể viết dưới hình thức một đoạn văn hoặc một bài văn, dung lượng khoảng 2/3 trang giấy thi.
- Diễn đạt trôi chảy, mạch lạc, có sự liên kết chặt chẽ giữa các câu/ đoạn; không mắc lỗi về dùng từ, đặt câu,…
Lời giải chi tiết:
- Giải thích: Bản sắc văn hóa dân tộc là giá trị gốc, căn bản cốt lõi, những giá trị hạt nhân tiêu biểu, bản chất nhất ,được hình thành và phát triển suốt quá trình phát triển đất nước, là nền tảng mang tính trường tổn, bền vững, mang tính dân tộc sâu sắc. Nó được biểu hiện ở nhiều phương diện : cách sống, lối sống, quan niệm, suy nghĩ, ở hoạt động, nói năng, ăn mặc, ứng xử… Ví dụ: Người Việt Nam có tính giản dị, cần cù, chăm chỉ, tinh thần đoàn kết, nhân ái, tinh thần yêu nước sâu sắc,...
- Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế về mọi mặt: kinh tế, văn hóa, xã hội,… Giao thoa về văn hóa bên cạnh thuận lợi là làm phong phú đời sống tinh thần cho nhân dân ta, nó cũng đặt ra nhiều thách thức. Một bộ phận giới trẻ hiện nay có những biểu hiện của việc quay lưng lại với bản sắc văn hoá dân tộc, thể hiện ở cả hình thức bề ngoài (ăn mặc hở hang, nhố nhăng… ) và cả trong quan niệm, cách nghĩ, lối sống (a dua theo lối sống đồi trụy, chỉ biết hưởng lạc, quay lưng với lịch sử, văn hóa truyền thống dân tộc, coi đó là lạc hâu…). Những biểu hiện đó cần phải lên án, đấu tranh loại bỏ.
- Giới trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước, những con người năng động, tự tin, có tri thức cần phải tự nhận thức rõ về vai trò, trách nhiệm của mình đối với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Bên cạnh việc học tập những thành tựu, tiến bộ khoa học kĩ thuật để nâng cao trình độ kinh tế cho đất nước thì phải cẩn trọng, tỉnh táo, linh hoạt trong tiếp thu. Tiếp thu phải chọn lọc, hòa nhập mà không hòa tan. Tránh chạy theo thứ văn hóa xa xỉ, không phù hợp đánh mất bản sắc dân tộc.
Liên hệ bản thân em: Với tư cách là một học sinh em sẽ làm gì để góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc?Phần II
Câu 1
|
Nêu hoàn cảnh ra đời của bài thơ. |
Phương pháp:
Ôn lại kiến thức, xuất xứ bài thơ
Lời giải chi tiết:
Câu 2
| “Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi” được nhắc tới trong bài thơ gợi nhớ về thời điểm nào của đất nước? Việc nhà thơ tách từ “mòn mỏi” để ghép thành “đói mòn đói mỏi” có tác dụng gì? |
Phương pháp:
Liên hệ kiến thức lịch sử
Lời giải chi tiết:
- “Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi” gợi nhớ về thời điểm lịch sử là nạn đói cuối năm 1944, đầu năm 1945 làm hai triệu đồng bào ta chết đói.
- Việc nhà thơ tách từ “mòn mỏi” để ghép thành “đói mòn đói mỏi” có tác dụng nghệ thuật đặc sắc:
+ Nhấn mạnh cái đói, sự nghèo khổ trong cuộc sống của hai bà cháu trong những năm tháng tuổi thơ.
+ Nhắc lại sự kiện lịch sử của đất nước nhưng còn thể hiện thái độ, tình cảm của tác giả, bên cạnh tự sự còn kết hợp biểu cảm.
+ Sử dụng hình ảnh, từ ngữ chân thực, giản dị. “Đói mòn đói mỏi” làm cho giọng thơ như chùng xuống, nao nao. Những kỉ niệm gợi lại trong trí nhớ mà vẫn khiến tâm hồn nhà thơ rưng rưng.
Câu 3
| Viết một đoạn văn theo cách lập luận diễn dịch (khoảng 12 câu) làm rõ tình cảm sâu nặng của cháu đối với bà ở khổ thơ trên trong đó có sử dụng phép nối để liên kết và một câu bị động (gạch dưới từ ngữ dùng làm phép nối và câu bị động) |
Phương pháp:
- Viết đúng hình thức một đoạn văn, khoảng 12 câu, câu chủ đề ở đầu đoạn văn.
- Diễn đạt trôi chảy, mạch lạc, có cảm xúc, có sử dụng phép nối và có câu bị động. Sau khi viết, cần gạch chân dưới từ ngữ dùng để nối và gạch dưới câu bị động đó.
Lời giải chi tiết:
- Câu chủ đề: Đoạn thơ thể hiện một cách giản dị mà cảm động nỗi nhớ, lòng kính yêu, trân trọng, biết ơn bà của người cháu ở phương xa; mở rộng ra là tình yêu quê hương, đất nước.
- Các câu sau cần triển khai, làm rõ ý trên như sau:
+ Biện pháp liệt kê “Có ngọn khói trăm tàu” “Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả” đã cho thấy hoàn cảnh của người cháu ở phương xa: cháu đã khôn lớn, trưởng thành, được bay cao, bay xa và được sống với bao niềm vui rộng lớn.
+ Từ “nhưng” ở đầu câu thơ mở ra những xúc cảm chân thành, sâu sắc gắn liền với hình ảnh của bà và bếp lửa. Cùng với đó là câu hỏi tu từ vẫn đau đáu, thường trực trong tâm trí cháu mỗi sớm mai, cho thấy người cháu ở nơi xa vẫn không bao giờ quên đời bà lận đận, không quên sự tận tụy, hi sinh và tấm lòng ấm áp của bà. Nhờ bà và ngọn lửa bà “nhóm” mỗi sớm mai ấy mà cháu khôn lớn nên người. Dấu ba chấm ở cuối bài thơ như một dấu lặng, thay cho những nỗi niềm nhớ thương vô tận trong lòng người cháu hôm nay.
Đề thi vào 10 môn Văn Hà Nội năm 2015
Đề bài
Phần I: (7 điểm)
Mở đầu một sáng tác, nhà thơ Huy Cận viết:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Và tác giả khép lại bài thơ bằng bốn câu:
Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm khơi.
(Trích Ngữ Văn 9, tập một, NXB Giáo dục 2014)
Câu 1: Ghi tên bài thơ có những câu thơ trên. Từ những câu thơ ấy, kết hợp với hiểu biết về tác phẩm, em hãy cho biết mạch cảm xúc của bài thơ được triển khai theo trình tự nào?
Câu 2: Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh trong câu thơ: Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Câu 3: Chép lại chính xác hai câu thơ liên tiếp trong bài thơ em vừa xác định thể hiện rõ nhất lòng biết ơn của con người với biển cả quê hương.
Câu 4: Viết một đoạn văn ngắn khoảng 12 câu theo cách lập luận diễn dịch có sử dụng phép thế để liên kết và một câu cảm thán, làm nổi bật cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh ở khổ thơ trên (gạch dưới từ ngữ dùng làm phép thế và câu cảm thán)
Phần II (3 điểm)
Dưới đây là đoạn trích trong tác phẩm Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê:
… Vắng lặng đến đáng sợ. Cây còn lại xơ xác. Đất nóng. Khói đen vật vờ từng cụng trong không trung, che đi những gì từ xa. Các anh cao xạ có nhìn thấy chúng tôi không? Chắc có, các anh ấy có những cái ống dòm có thể thu cả trái đất vào tầm mắt. Tôi đến gần quả bom. Cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới.
(Trích Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục 2014)
Câu 1: Tác phẩm Những ngôi sao xa xôi được sáng tác trong hoàn cảnh nào?
Câu 2: Điều gì khiến nhân vật “tôi” đến gần quả bom lại cảm thấy không sợ nữa?
Câu 3: Từ đoạn trích trên và những hiểu biết về xã hội, em hãy viết một đoạn văn (khoảng nửa trang giấy thi) trình bày suy nghĩ về thái độ của mỗi người trong mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể.
Lời giải chi tiết
Phần I:
Câu 1
| Ghi tên bài thơ có những câu thơ trên. Từ những câu thơ ấy, kết hợp với hiểu biết về tác phẩm, em hãy cho biết mạch cảm xúc của bài thơ được triển khai theo trình tự nào? |
Lời giải chi tiết:
- Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.
- Mạch cảm xúc của bài thơ được triển khai theo trình tự chuyến đánh cá ra khơi của đoàn thuyền (theo đó là trình tự thời gian từ chiều xuống đến lúc bình minh)
Câu 2
| Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh trong câu thơ: Mặt trời xuống biển như hòn lửa. |
Lời giải chi tiết:
- Hình ảnh so sánh trong câu thơ giúp người đọc hình dung rõ bức tranh hoàng hôn trên biển vừa tráng lệ, huy hoàng vừa sống động, kì thú.
- Hoàng hôn buông xuống nhưng không gian không chìm vào bóng tối mà rực lên ánh sáng, trên mặt nước lại cháy bùng ngọn lửa.
- Hình ảnh thiên nhiên cũng gợi lên sức sống, không khí hào hứng, náo nức của những người ngư dân trong buổi ra khơi đánh cá.
Câu 3
| Chép lại chính xác hai câu thơ liên tiếp trong bài thơ em vừa xác định thể hiện rõ nhất lòng biết ơn của con người với biển cả quê hương |
Lời giải chi tiết:
Hai câu thơ thể hiện lòng biết ơn của những ngư dân với biển cả quê hương trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá là:
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào
Câu 4
|
Viết một đoạn văn ngắn khoảng 12 câu theo cách lập luận diễn dịch có sử dụng phép thế để liên kết và một câu cảm thán, làm nổi bật cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh ở khổ thơ trên (gạch dưới từ ngữ dùng làm phép thế và câu cảm thán) |
Lời giải chi tiết:
Vẻ đẹp của cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về trong buổi bình minh:
- Đoàn thuyền trở về trong khúc ca khải hoàn Câu hát căng buồm với gió khơi.
- Đoàn thuyền trở về trong tư thế hào hùng, chạy đua với thiên nhiên Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
- Đoàn thuyền trở về với đầy ắp cá tôm trong cảnh bình minh rạng ngời Mặt trời đội biển nhô màu mới/Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
Từ đó, vẻ đẹp của con người lao động làm chủ vũ trụ, làm chủ cuộc đời đã hòa với vẻ đẹp của thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ.
Phần II:
Câu 1
| Tác phẩm Những ngôi sao xa xôi được sáng tác trong hoàn cảnh nào? |
Lời giải chi tiết:
Tác phẩm Những ngôi sao xa xôi ra đời năm 1971. Đây cũng là những năm cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt nhất. Máy bay Mĩ ngày đêm ném bom, băm nát tuyến đường Trường Sơn – tuyến huyết mạch giao thông quan trọng để miền Bắc chi viện sức người, sức của cho miền Nam chống Mĩ.
- Tác giả Lê Minh Khuê từng là nữ thanh niên xung phong trong những năm tháng dữ dội ấy, được chứng kiến những gian khổ, hi sinh cũng như lòng dũng cảm, tâm hồn tuyệt đẹp của tuổi trẻ Trường Sơn. Lê Minh Khuê không ngăn được xúc động và đã viết lên một áng văn nóng bỏng đạn bom mà vẫn mát rượi trữ tình để tôn vinh thế hệ trẻ anh hùng của non sông, đất nước.
- Xuất xứ: Đây là tác phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê, rút từ tập truyện ngắn cùng tên.
Câu 2
| Điều gì khiến nhân vật “tôi” đến gần quả bom lại cảm thấy không sợ nữa? |
Lời giải chi tiết:
Điều khiến nhân “tôi” đến gần quả bom lại thấy không sợ nữa chính là nhân vật “tôi” cảm thấy ánh mắt các chiến sĩ đang dõi theo mình. Đây chính là tâm trạng của nhân vật Phương Định – nữ trinh sát mặt đường, trong một lần phá bom. Chi tiết trên đã cho người đọc thấy lòng quả cảm, sự tự trọng của người nữ chiến sĩ anh hùng. Chính điều này giúp cô vượt qua nỗi sợ hãi, dũng cảm chiến đấu.
Câu 3
| Từ đoạn trích trên và những hiểu biết về xã hội, em hãy viết một đoạn văn (khoảng nửa trang giấy thi) trình bày suy nghĩ về thái độ của mỗi người trong mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể. |
Lời giải chi tiết:
Bàn về mối quan hệ giữa cá nhân – tập thể.
- Khẳng định đây là mối quan hệ cần thiết, quan trọng, không thể thiếu với mỗi con người.
- “Con người chính là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”, không ai có thể sống cá nhân, đơn lẻ.Nếu mỗi người không biết hòa mình vào tập thể không tạo nên một cộng đồng, xã hội.
- Sức mạnh của mỗi cá nhân hợp lại sẽ tạo nên sức mạnh tập thể lớn lao (dẫn chứng: trong chiến tranh, sức mạnh của nhân dân đã đánh tan quân xâm lược; trong thời bình, nhân dân chung tay góp sức xây dựng đất nước phát triển…) Ngược lại, sức mạnh của tập thể sẽ giúp cho mỗi cá nhân có thêm động lực (dẫn chứng).
- Bài học nhận thức và hành động cho bản thân.
Đề thi vào 10 môn Văn Hà Nội năm 2014
Đề bài
Phần 1: (7 điểm)
Dưới đây là trích đoạn trong truyện ngắn Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng):
"Trong bữa cơm đó, anh Sáu gắp một cái trứng cá to vàng để vào chén của nó. Nó liền lấy đũa xoi vào chén, để đó rồi thất thần hất cái trắng ra cơm văng tung tóe cả mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ anh vung tay đánh vào mông nó và hét lên:
- Sao mày cứng đầu quá vậy hả?"
(Trích Ngữ văn 9, Tập 1, NXB Giáo dục 2013)
1. Chiếc lược nhà được viết năm nào? Ghi lại từ mang màu sắc Nam Bộ trong đoạn trích trên.
2. Những biểu hiện của nhân vật bé Thu ở trên nói lên thái độ gì và qua đó bộc lộ tình cảm nha thế nào đối với nhân vật ông Sáu? Lời kể in nghiêng trong đoạn trích trên giúp em nhận biết mục đích nói ở câu văn có hình thức nghi vấn sau đó là gì?
3. Viết một đoạn văn khoảng 15 câu theo phép lập luận quy nạp làm rõ tình cảm sâu nặng của bé Thu đối với cha trong truyện ngắn trên. Ở đó có sử dụng câu có thành phần biệt lập và phép lặp để lên kết (gạch dưới thành phần biệt lập và từ ngữ sử dụng làm phép lặp).
4. Kể tên một tác phẩm khác của chương trình ngữ văn 9, trong đó có nhân vật người cha vì chiến tranh mà chia cách.
Phần II. (3 điểm)
Cho đoạn thơ:
"Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con"
(Y Phương, Nói với con, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục)
1. Tìm thành phần gọi - đáp trong những dòng thơ trên
2. Theo em việc dùng từ phủ định trong dòng thơ "Không bao giờ nhỏ bé được" nhằm khẳng định điều gì?
3. Từ bài thơ trên và những hiểu biết xã hội, em hãy trình bày suy nghĩ (khoảng nửa trang giấy thi) về cội nguồn của mỗi con người qua đó thấy được trách nhiệm của mỗi cá nhân trong tình hình đất nước hiện nay.
Lời giải chi tiết
Phần I:
| 1. Chiếc lược nhà được viết năm nào? Ghi lại từ mang màu sắc Nam Bộ trong đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Nhớ lại kiến thức chung về văn bản Chiếc lược ngà
Lời giải chi tiết:
Chiếc lược ngà được viết năm 1966 khi tác giả hoạt động tại chiến trường Nam Bộ và được đưa vào tập truyện cùng tên.
Các từ mang màu sắc Nam Bộ trong đoạn trích trên là: anh Sáu; chén; văng; mày; nó; cứng đầu.
|
2. Những biểu hiện của nhân vật bé Thu ở trên nói lên thái độ gì và qua đó bộc lộ tình cảm nha thế nào đối với nhân vật ông Sáu? Lời kể in nghiêng trong đoạn trích trên giúp em nhận biết mục đích nói ở câu văn có hình thức nghi vấn sau đó là gì? |
Phương pháp:
Nhớ lại kiến thức về văn bản Chiếc lược ngà
Lời giải chi tiết:
Những biểu hiện của nhân vật bé Thu ở trên nói lên thái độ cương quyết không nhận anh Sáu là ba, không nhận sự chăm sóc và yêu thương của anh Sáu đối với nó. Vì đến lúc đó dù mẹ của bé Thu đã nói, bé Thu vẫn không tin anh Sáu là ba thật của nó vì trên khuôn mặt anh có vết thẹo không giống với chân dung anh trong tấm ảnh mà bé Thu biết.
Câu văn in nghiêng trong đoạn trích giúp người đọc nhận biết được câu văn có hình thức nghi vấn ở sau đó không phải là một câu dùng với mục đích hỏi vốn có của kiểu câu nghi vấn mà mục đích nói thật sự của câu đó là biểu thị cảm xúc của anh Sáu đối với thái độ của bé Thu. Giận quá và không kịp suy nghĩ nên hành động của anh Sáu lúc đó không đúng với bản chất của mình: vung tay đánh vào mông nó và hét lên.
|
3. Viết một đoạn văn khoảng 15 câu theo phép lập luận quy nạp làm rõ tình cảm sâu nặng của bé Thu đối với cha trong truyện ngắn trên. Ở đó có sử dụng câu có thành phần biệt lập và phép lặp để lên kết (gạch dưới thành phần biệt lập và từ ngữ sử dụng làm phép lặp). |
Phương pháp:
Nhớ lại kiến thức về văn bản Chiếc lược ngà
Lời giải chi tiết:
Đề thi yêu cầu thí sinh viết một đoạn văn khoảng 15 câu theo cách lập luận quy nạp để làm rõ tình cảm sâu nặng của bé Thu đối với cha trong truyện ngắn trên. Đoạn văn phải sử dụng câu có thành phần biệt lập và phép lặp để liên kết. Đề yêu cầu thí sinh phải gạch dưới thành phần biệt lập và từ ngữ dùng làm phép lặp. Thí sinh phải đáp ứng đúng những yêu cầu nói trên. Riêng trong phần nội dung (tình cảm sâu nặng của bé Thu đối với cha), mỗi thí sinh có thể đưa ra những ý và dẫn chứng cụ thể khác nhau. Đây chỉ là một gợi ý:
- Khi anh Sáu được phép về thăm nhà, trong suốt ba ngày đó, bé Thu vẫn nhất định không chịu gọi anh Sáu là ba(1). Nó chỉ gọi trổng(2). Anh Sáu nhẫn nhịn và cố gắng thể hiện tình cảm yêu thương của mình đối với nó(3). Trong bữa ăn anh đã gắp một cái trứng cá to vàng để vào chén nó(4). Vậy mà nó đã cương quyết từ chối(5). Nó hất cái trứng ra làm cơm văng tung tóe cả mâm(6). Khi mẹ nó la rầy vì thái độ bất kính đó, nó đã giận dỗi bỏ bữa ăn, xuống xuồng qua nhà ngoại(7). Sáng hôm sau, hết phép, anh Sáu phải từ giã mọi người để trở về đơn vị(8). Anh không dám đến với nó, mặc dù anh rất muốn ôm con, hôn con nhưng sợ nó giẫy lên rồi bỏ chạy(9). Anh chỉ đứng nhìn nó với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu(10). Còn bé Thu đứng trong góc nhà với đôi mắt mênh mông, với tâm trạng xôn xao, bồn chồn(11). Ngay trong lúc bất ngờ nhất, lúc mọi người tưởng nó đứng yên, bé Thu đã kêu thét lên một tiếng "ba", tiếng kêu như một tiếng xé, xé cả ruột gan mọi người, một tiếng ba mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng ba như vỡ tung ra từ đáy lòng của nó(12). Nó vừa kêu vừa chạy tới, chạy thót lên, dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nórồi nói trong tiếng khóc(13). Nó hôn ba nó cùng khắp: hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa(14). Ôi, tình cảm của bé Thu đối với ba sâu nặng biết bao! (15)
- Đoạn văn được viết theo lập luận quy nạp. Câu chủ đề nằm ở cuối đoạn: Ôi, tình cảm của bé Thu đối với ba sâu nặng biết bao!
- Các từ ngữ thể hiện phép lặp: Anh Sáu; nó; bé Thu; anh…
- Thành phần biệt lập: lúc mọi người tưởng nó đứng yên (đây là thành phần phụ chú, bổ nghĩa cho yếu tố đứng trước: “lúc bất ngờ nhất”).
|
4. Kể tên một tác phẩm khác của chương trình ngữ văn 9, trong đó có nhân vật người cha vì chiến tranh mà chia cách. |
Phương pháp:
Nhớ lại kiến thức, tác phẩm có cùng điểm chung là nhân vật người cha vì chiến tranh mà chia cách
Lời giải chi tiết:
Tên tác phẩm khác ở chương trình Ngữ Văn 9, trong đó có nhân vật người cha, vì chiến tranh xa cách, khi trở về, đứa con trai cũng hoài nghi, xa lánh: Người con gái Nam Xương. Tác phẩm có chi tiết nói về thái độ của bé Đản đối với Trương Sinh: Trương Sinh bế bé Đản đi thăm mộ của mẹ Trương Sinh; đứa bé không chịu, quấy khóc. Trương Sinh dỗ dành thì nó nói: Ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít.
Thí sinh có thể có những suy ngẫm khác nhau về bi kịch của chiến tranh. Tuy nhiên, đề thi chỉ yêu cầu viết không quá 5 dòng. Thí sinh phải ghi nhớ và đáp ứng điều đó. Sau đây chỉ là một gợi ý:
- Từ cảnh ngộ của hai người cha trong hai tác phẩm, em nghĩ tới bi kịch nghiệt ngã mà con người phải hứng chịu vì chiến tranh. Người cha đã chịu mất mát, đau khổ khi chiến đấu, lúc trở về thì không được con chấp nhận. Có cố gắng biểu hiện yêu thương cũng bị từ chối. Chiến tranh mang đến nhiều mất mát, phi lí… ngay cả trong tình phụ tử thiêng liêng. Từ đó, chúng ta thấm thía hậu quả quá lớn lao và khốc liệt mà chiến tranh đã mang đến cho con người.
Phần II:
|
1. Tìm thành phần gọi - đáp trong những dòng thơ trên |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn thơ
Lời giải chi tiết:
Thành phần gọi - đáp trong những dòng thơ trên : Con ơi .
|
2. Theo em việc dùng từ phủ định trong dòng thơ "Không bao giờ nhỏ bé được" nhằm khẳng định điều gì? |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về từ phủ định
Lời giải chi tiết:
Việc dùng từ phủ định trong dòng thơ " Không bao giờ nhỏ bé được" nhằm khẳng định điều mong ước lớn lao của người cha đối với con : phải sống một cuộc sống cao đẹp cho xứng đáng với tư cách con người và với quê hương, không được sống thấp hèn dù ở bất cứ hoàn cảnh nào.
|
3. Từ bài thơ trên và những hiểu biết xã hội, em hãy trình bày suy nghĩ (khoảng nửa trang giấy thi) về cội nguồn của mỗi con người qua đó thấy được trách nhiệm của mỗi cá nhân trong tình hình đất nước hiện nay. |
Phương pháp:
Liên hệ bản thân
Lời giải chi tiết:
Đề bài yêu cầu thí sinh trình bày suy nghĩ về cội nguồn của mỗi con người và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong tình hình đất nước hiện nay trong phạm vi khoảng nửa trang giấy thi. Thí sinh cần chú ý và đáp ứng đúng những yêu cầu về độ dài và nội dung nói trên. Mỗi thí sinh có thể triển khai và trình bày theo những hướng cụ thể khác nhau. Sau đây chỉ là một gợi ý :
- Mỗi con người khi sinh ra, lớn lên đều có một cội nguồn rõ ràng, xác định. Cội nguồn đó là gia đình, dòng họ, quê hương, đất nước. "Quê hương mỗi người chỉ một như là chỉ một mẹ thôi".
- Cội nguồn là không gian sinh tồn và giúp cho sự hình thành, phát triển của mỗi một con người. Nó có tác động to lớn đến con người và giá trị, ý nghĩa đời sống của mỗi người. Vì vậy, mỗi người phải có trách nhiệm đối với nguồn cội của mình : tưởng nhớ tổ tiên, cội nguồn gia đình, dân tộc ; gắn bó, chia sẻ với gia đình, với đất nước những lúc khó khăn, gian khổ; biết yêu thương và hi sinh cho gia đình, đất nước, quê hương.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
