Đề thi vào 10 môn Văn Hà Tĩnh
Đề thi vào 10 môn Văn Hà Tĩnh năm 2026
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
LÂU ĐÀI BẰNG ÁNH SÁNG (Trích)
[Lược phần đầu: Hà có người chú ruột đi bộ đội về, bị thương hỏng hai mắt. Chú Hảo sống cùng gia đình và luôn quan tâm đến mọi việc của Hà.]
Một hôm đang ngồi vót nan - chú Hảo của tôi làm nghề mây tre đan và chú thuộc loại khéo tay - bỗng chú dừng lại hỏi:
- Con Hà làm gì thế? Sẵn cơn ấm ức, tôi gắt:
- Cháu làm gì... thì việc gì đến chú nào?
- Cháu đang ngồi mơ mộng phải không? - Chú Hảo vẫn hỏi bằng giọng bình thường.
Trời ạ! Lại thế nữa! - Tôi muốn gào lên. - Ngay cả mơ mộng một tí cũng có người quấy quả. Tuy nghĩ vậy, nhưng tôi đáp khẽ, cố giấu đi vẻ phật ý.
- Cháu có dám mơ gì đâu ạ? Ngữ cháu thì rồi làm được cái gì... Chú Hảo vẫn vót nan thoăn thoắt, không có vẻ gì tự ái. Lát sau chú bảo:
- Biết mơ ước là tốt cháu ạ! Phải mơ ước mới dám làm việc lớn. Nhưng chú chỉ muốn nói, mơ mộng mà không có cơ sở thì chỉ là mơ mộng hão.
Tôi lẳng lặng bỏ đi, vừa bực vừa có phần kính nể chú. Đúng là tôi thường hay ngồi một mình mơ về rất nhiều điều xa vời. Lúc tôi thấy mình là nghệ sĩ ba-lê, diễn viên dạy thú, lúc tôi lại thấy mình là nhà văn nổi tiếng hay chí ít cũng là cầu thủ bóng chuyền... những giấc mơ của tôi cũng lộn xộn như góc học tập của tôi vậy. Chỉ có điều tôi ít để ý là sau mỗi lần tôi bày bừa bãi thì chính chú Hảo lại là người thu dọn. Riêng việc này không bao giờ chú ca thán. Về sau tôi mới biết chú đoán được ý nghĩ, ước mơ của tôi nhờ những dịp như thế.
Một hôm tôi ở trường về và tôi thấy chú Hảo đang ngồi ghi chép gì đó vào cuốn sổ chú vẫn cất tận đáy ba-lô cùng với nửa chiếc lược làm bằng xác máy bay. Những đồ vật bí ẩn ấy chú giữ gìn ghê lắm. Tôi nhón chân, rón rén lại gần rồi kiễng lên nhìn qua vai chú. Những dòng chữ, lạ thay cứ thẳng tăm tắp. Tôi đọc nhanh được một đoạn như sau: “M. ạ, mình vẫn cất giấu kĩ những giấc mơ của cậu. Hôm nay khi xếp lại bàn học cho đứa cháu gái, mình mừng không sao kể xiết khi phát hiện ra nó đang mơ giấc mơ mà cậu và mình đành bỏ dở. Mình hoàn toàn yên tâm rằng: Sự mất mát của bọn mình sẽ không uổng phí. Cứ yên nghỉ M. nhé!”
Trời ơi! Ngay cả giấc mơ của tôi cũng thành niềm vui của chú, một niềm vui không sao diễn tả được bằng lời. Nhưng... xem nào, tôi mơ gì nhỉ. Điều này sẽ chẳng bao giờ tôi nhớ ra nếu không có một hôm, khi tôi đang buồn bã một cách vô cớ thì chú Hảo đến cạnh tôi, đem theo một vật gì đó được trùm khăn kín. Chú bảo tôi: “Cháu thử mở ra xem”. Một “tòa lâu đài” lộng lẫy, vô cùng tinh xảo được tết công phu bằng bẹ ngô.
- Có đúng là giấc mơ của cháu không?
Dưới đây là phần nội dung văn bản được chuyển thành text từ hình ảnh cuối cùng (image_fcd744.jpg) - Trang 2 đề thi tuyển sinh lớp 10 THPT tỉnh Hà Tĩnh:
- Không phải, cháu không mơ tới lâu đài.
- Cháu nhìn lại xem. Nó mang hình một thư viện cổ đấy. Tôi mở to mắt và lần này thì tôi không giấu được nỗi sung sướng. Tôi ôm chầm lấy chú:
- Làm sao chú biết được điều cháu nghĩ. “Tòa lâu đài” này... Cháu hiểu rồi. - Nó là kho báu tri thức của nhân loại mà cháu đang nóng lòng muốn khám phá. Nó là hiện thân của ánh sáng!
- Chính thế. Và nó từng là ước mơ của chú. Chỉ có điều không phải ai cũng vào được nếu từ tấm bé... Tôi nghẹn ngào muốn nói với chú rằng: “Cháu hiểu rồi”. Và ngay lúc ấy tôi đột nhiên khám phá thêm một bí mật lớn: “Có một thứ ánh sáng không nhìn thấy nhưng xuyên được qua tâm hồn con người. Chú Hảo của tôi là người có nhiều ánh sáng...”.
(Tạ Duy Anh, Bức tranh của em gái tôi, NXB Hội Nhà văn, 2025, tr.91- 93)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định ngôi kể trong văn bản.
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn: Nhưng... xem nào, tôi mơ gì nhỉ. Điều này sẽ chẳng bao giờ tôi nhớ ra nếu không có một hôm, khi tôi đang buồn bã một cách vô cớ thì chú Hảo đến cạnh tôi, đem theo một vật gì đó được trùm khăn kín. Chú bảo tôi: “Cháu thử mở ra xem”.
Câu 3. (1,0 điểm) Nhận xét về tâm trạng của nhân vật Hà sau khi được chú Hảo tặng “tòa lâu đài”.
Câu 4. (1,0 điểm) Em hiểu thế nào về ánh sáng mà Hà khám phá được trong phần kết của truyện: “Có một thứ ánh sáng không nhìn thấy nhưng xuyên được qua tâm hồn con người. Chú Hảo của tôi là người có nhiều ánh sáng...”?
Câu 5. (1,0 điểm) Em hãy nêu một thông điệp có ý nghĩa được gợi ra từ văn bản và lý giải.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tình yêu thương của nhân vật chú Hảo dành cho Hà trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm) Lòng tốt là một trong những điều thiết yếu để cuộc sống chúng ta có ý nghĩa. Đó là khởi nguồn cho hạnh phúc và niềm vui vĩnh cửu. Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trả lời câu hỏi: Cần làm gì để trao gửi lòng tốt trong cuộc sống?
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1. Ngôi kể thứ nhất.
Câu 2. Lời dẫn trực tiếp: Cháu thử mở ra xem
Câu 3. Tâm trạng của nhân vật Hà khi nhận quà của chú Hảo:
- Ngạc nhiên, xúc động và sung sướng khi nhận ra chú Hảo hiểu được ước mơ thầm kín của mình.
- Hà cảm nhận được sự yêu thương, quan tâm sâu sắc của chú.
- Đồng thời, Hà trở nên nghẹn ngào, cảm phục và thấu hiểu hơn về chú Hảo cũng như ý nghĩa của những ước mơ đẹp đẽ.
Câu 4. “Ánh sáng” mà Hà khám phá được không phải ánh sáng nhìn thấy bằng mắt thường mà là:
- Ánh sáng của tâm hồn, của tình yêu thương, lòng nhân hậu và niềm tin vào con người.
- Đó còn là ánh sáng của tri thức, ước mơ và khát vọng sống đẹp.
- ….
Câu 5. Một số thông điệp được gợi ra từ văn bản:
- Mỗi người cần biết trân trọng và theo đuổi ước mơ của mình.
- Tri thức là ánh sáng soi đường cho con người.
- …
II. VIẾT
Câu 1.
1. Mở đoạn: Giới thiệu chung vấn đề nghị luận
2. Thân đoạn
a. Tình yêu thương của chú Hảo dành cho Hà:
- Chú Hảo luôn quan tâm, thấu hiểu Hà: chú vẫn cảm nhận được tâm trạng, suy nghĩ và những ước mơ của Hà. Không phủ nhận ước mơ mà định hướng cho Hà biết sống thực tế và có mục tiêu.
- Tình yêu thương của chú âm thầm, sâu sắc:
+ Chú lặng lẽ dọn dẹp góc học tập cho Hà mà không than phiền.
+ Chú ghi lại niềm vui khi thấy Hà tiếp nối giấc mơ còn dang dở của mình và đồng đội.
+ Chú làm “tòa lâu đài” hình thư viện để khích lệ Hà yêu tri thức và nuôi dưỡng khát vọng đẹp.
- Ý nghĩa của tình yêu thương ấy:
+ Giúp Hà trưởng thành trong suy nghĩ.
+ Giúp Hà hiểu giá trị của ước mơ, tri thức và lòng nhân hậu.
=> Chú Hảo là người có tâm hồn đẹp, giàu nghị lực, luôn yêu thương, thấu hiểu và sống vì người khác.
b. Nghệ thuật
- Miêu tả tâm lí tinh tế.
- Xây dựng chi tiết giàu ý nghĩa biểu tượng.
- Giọng kể chân thành, cảm động.
- …
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận
Câu 2.
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
2. Thân bài:
a. Giải thích
- Lòng tốt là sự thấu hiểu, đồng cảm, sẵn sàng giúp đỡ, sẻ chia với người khác mà không mưu cầu lợi ích hay sự đền đáp. Trao gửi lòng tốt là lan tỏa sự tử tế đến mọi người xung quanh.
b. Phân tích, chứng minh
- Ý nghĩa của việc trao gửi lòng tốt:
+ Đối với người nhận: Giúp họ vượt qua nghịch cảnh, có thêm niềm tin vào con người và cuộc sống.
+ Đối với người trao: Tâm hồn thanh thản, tìm thấy ý nghĩa đích thực của cuộc sống.
+ Đối với xã hội: Lan tỏa năng lượng tích cực, thu hẹp khoảng cách giữa người với người, xây dựng một cộng đồng văn minh, nhân ái.
- Cần làm gì để trao gửi lòng tốt?
+ Trao gửi từ những điều nhỏ bé nhất trong cuộc sống hàng ngày.
+ Sống biết yêu thương và cảm thông.
+ Lan toả những điều tích cực trong cuộc sống.
+ Trao gửi lòng tốt bằng sự tử tế và tôn trọng: Giúp đỡ phải xuất phát từ cái tâm trong sáng, không biến lòng tốt thành công cụ để "đánh bóng" tên tuổi.
HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp
c. Mở rộng vấn đề
- Phê phán những người sống ích kỷ, thờ ơ, "vô cảm" trước nỗi đau của người khác.
- Cảnh giác với những trường hợp lợi dụng lòng tốt của người khác để trục lợi cá nhân, hoặc ban phát lòng tốt một cách mù quáng, sai chỗ.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận
Đề thi vào 10 môn Văn Hà Tĩnh năm 2025
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
|
Mẹ ơi, có thể trong cuộc chiến đấu này Con sẽ ngã xuống Ngã xuống bình thường Như bao đồng đội của con Để mái nhà gianh mẹ được yên ả Dưới sắc nắng vàng ... Và, có thể là, sáng mai bừng mắt ra Mẹ sẽ nhận về một tờ giấy ... Như nhiều bà mẹ ở làng Tờ giấy mỏng manh Nhưng lại nặng hơn ngàn tấn bom Trút xuống tuổi già của mẹ Cho dù thế, mẹ cũng đừng khóc nhé Con không chết đâu |
Xin mẹ cứ đọc Kiều Cho căn nhà trở lại yên tĩnh Dưới bóng cây bảng lảng hoàng hôn Xin mẹ cứ ngồi tựa cửa chờ con Như những ngày xưa Mỗi chiều con đi học về Và mẹ lại lắng nghe Tiếng bước chân bầy trẻ nhỏ Chúng ôm sách, bá vai nhau, rúc rích cười đi ngang qua cửa sổ. [ ... ] |
(Trích Thư gửi Mẹ, Tuyển thơ Trần Đăng Khoa, NXB Kim Đồng, 2000, tr. 349-350)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định thể thơ của đoạn trích.
Câu 2. Theo đoạn trích, có thể “sáng mai bừng mắt ra” người mẹ sẽ nhận về cái gì?
Câu 3. Trình bày hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh trong những dòng thơ:
Con sẽ ngã xuống
Ngã xuống bình thường
Như bao đồng đội của con
Câu 4. Em hiểu nội dung những dòng thơ sau như thế nào?
Xin mẹ cứ đọc Kiều
Cho căn nhà trở lại yên tĩnh
Câu 5. Em hãy nêu một thông điệp có ý nghĩa được gợi ra từ đoạn trích và lý giải.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tình cảm của nhân vật trữ tình con đối với mẹ trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm)
Ngạn ngữ có câu: “Cha con đồng lòng thì đất cũng hóa ra vàng, anh em cùng sức thì đá cũng thành ra ngọc”. Tình cảm gia đình có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống mỗi người. Theo em, làm thế nào để gắn kết các thành viên trong gia đình với nhau?
Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) để trả lời cho câu hỏi trên.
Lời giải chi tiết
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) |
Câu 1. |
Thể thơ tự do |
|
Câu 2. |
Theo đoạn trích, sáng mai bừng mắt ra người mẹ sẽ nhận về: một tờ giấy |
|
|
Câu 3. |
Biện pháp so sánh. Tác dụng: - Thể hiện tinh thần dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc của người lính trẻ. - Khẳng định sự bình thản, hiên ngang của những người lính, coi cái chết là điều bình thường giữa chiến trường khốc liệt. |
|
|
Câu 4. |
HS căn cứ vào câu thơ và đưa ra cách hiểu phù hợp Gợi ý: - Những dòng thơ thể hiện tấm lòng yêu thương, sự lo lắng và mong muốn của người con dành cho mẹ. Người con mong mẹ giữ thói quen đọc Truyện Kiều, để căn nhà vơi bớt cô quạnh, trở lại với sự bình yên, tĩnh lặng như những ngày xưa. - Đồng thời, câu thơ còn thể hiện sự an ủi của người con dành cho mẹ, để mẹ thêm vững vàng trước nỗi đau. |
|
|
Câu 5. |
HS dựa vào nội dung văn bản, rút ra thông điệp và có lí giải phù hợp Gợi ý thông điệp. - Tình mẫu tử, tình cảm gia đình là thứ tình cảm thiêng liêng, cao quý giúp con vượt qua mọi khó khăn. - Sự hi sinh, dũng cảm của người lính trẻ. - … |
|
|
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) |
Câu 1. (2,0 điểm) |
I. Mở đoạn - Giới thiệu khái quát vấn đề nghị luận *Tình cảm của con dành cho mẹ - Tình cảm yêu thương, quan tâm mẹ: + Người con nghĩ đến mẹ giữa chiến trường khốc liệt, lo sợ mình có thể ngã xuống. + Mong ước sự hy sinh của mình giúp mẹ có một cuộc sống yên bình: - Sự thấu hiểu và lo lắng cho mẹ: + Người con hiểu nỗi đau mà mẹ sẽ phải chịu đựng nếu nhận “tờ giấy báo tử” - Khao khát giữ gìn sự bình yên cho mẹ: Khuyên mẹ “cứ đọc Kiều” để lòng được thanh thản, trở lại cuộc sống thường nhật. => Tình cảm sâu sắc, thiêng liêng. Dù đang đối diện với cái chết, người con vẫn hướng về mẹ, lo lắng, an ủi mẹ. * Nghệ thuật - Ngôn ngữ giản dị, gần gũi, đầy cảm xúc - Sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ,…. III. Kết đoạn Tổng kết vấn đề nghị luận |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
I. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Cách thức gắn kết các thành viên trong gia đình II. Thân bài: * Giải thích: - Gắn kết gia đình là sự yêu thương, thấu hiểu, sẻ chia giữa các thành viên. - Gắn kết gia đình là biểu hiện của một mái ấm hạnh phúc, nơi mọi người gắn bó với nhau cả về tình cảm và trách nhiệm. * Ý nghĩa của việc gắn kết các thành viên trong gia đình? - Giúp xây dựng một môi trường sống tích cực, ấm áp. - Là nền tảng để con cái phát triển tốt về nhân cách và tâm lý. - Giúp các thành viên cùng nhau vượt qua khó khăn, khủng hoảng. - Là một phần quan trọng để xây dựng xã hội lành mạnh, có đạo đức. *Làm thế nào để gắn kết các thành viên trong gia đình? - Dành thời gian cho nhau: Ăn cơm chung, trò chuyện, tổ chức các hoạt động gia đình. - Tôn trọng, lắng nghe và thấu hiểu nhau: Tránh áp đặt, khuyến khích chia sẻ cảm xúc. - Thể hiện tình yêu thương qua hành động: Quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. - Biết tha thứ và cảm thông: Tránh cãi vã, trách móc, học cách bỏ qua lỗi lầm. - Chung tay giữ gìn nề nếp gia đình: Cùng nhau thực hiện những giá trị đạo đức, truyền thống tốt đẹp. HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp. III. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề: Gắn kết giữa các thành viên là nền tảng tạo nên một mái ấm trọn vẹn và hạnh phúc. |
Đề thi vào 10 môn Văn Hà Tĩnh năm 2023
Đề bài
PHẦN I. Có ai khen con đẹp. Con hãy cảm ơn và quên đi lời khen ấy. Ai bảo con ngoan. Nhớ cảm ơn và gắng ngoan hiền hơn nữa. Với người oà khóc vì nỗi đau mà họ đang mang. Con hãy để bờ vai của mình thấm những giọt nước mắt ấy. Với người đang oằn lưng vì nỗi khổ. Con hãy đến bên và kề vai gánh giúp. Người chìa tay và xin con một đồng. Lần thứ nhất con hãy tặng người ấy hai đồng. Lần thứ hai hãy biếu họ một đồng. Lần thứ ba con phải biết lắc đầu. Và đến lần thứ tư con hãy im lặng, bước đi.
(Trích Gửi con, Bùi Nguyễn Trường Kiên, Ru cho một thuở, NXB Văn hoá - Văn nghệ, 2015)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Theo đoạn trích, “Có ai khen con đẹp”, “Ai bảo con ngoan” con nên làm gì?
Câu 2. Trong dòng thơ “Với người đang oằn lưng vì nỗi khổ. Con hãy đến bên và kề vai gánh giúp” những từ ngữ nào chỉ hành động mà cha mong muốn con làm khi người khác gặp khó khăn?
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ được sử dụng trong các dòng thơ sau: Người chìa tay và xin con một đồng. Lần thứ nhất con hãy tặng người ấy hai đồng. Lần thứ hai hãy biếu họ một đồng. Lần thứ ba con phải biết lắc đầu. Và đến lần thứ tư con hãy im lặng, bước đi.
Câu 4. Em hiểu nội dung của các dòng thơ sau như thế nào?
Với người oà khóc vì nỗi đau mà họ đang mang.
Con hãy để bờ vai của mình thấm những giọt nước mắt ấy.
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa sự sẻ chia của con người trong cuộc sống.
Câu 2. Cảm nhận của em về tình cảm của nhân vật anh Sáu dành cho con trong đoạn trích sau:
Tôi hãy còn nhớ buổi chiều hôm đó - buổi chiều sau một ngày mưa rừng, giọt mưa còn đọng trên lá, rừng sáng lấp lánh. Đang ngồi làm việc dưới tấm ni lông nóc, tôi bỗng nghe tiếng kêu. Từ con đường mòn chạy lẫn trong rừng sâu, anh hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà đưa lên khoe với tôi. Mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà. Sau đó anh lấy vỏ đạn hai mươi li của Mĩ, đập mỏng làm thành một cây cưa nhỏ, cưa khúc ngà thành từng miếng nhỏ. Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc. Chẳng hiểu sao tôi thích ngồi nhìn anh làm và cảm thấy vui vui khi thấy bụi ngà rơi mỗi lúc một nhiều. Một ngày, anh cưa được một vài răng. Không bao lâu sau, cây lược được hoàn thành. Cây lược dài độ hơn một tấc, bề ngang độ ba phân rưỡi, cây lược cho con gái, cây lược dùng để chải mái tóc dài, cây lược chỉ có một hàng răng thưa. Trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tần mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba". Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh. Những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi hối hận đánh con, nhớ con, anh lấy cây lược ra ngắm nghia rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt. Có cây lược, anh càng mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện không may xảy ra. Một ngày cuối năm năm mươi tám - năm đó ta chưa võ trang - trong một trận càn lớn của quân Mĩ - ngụy, anh Sáu bị hi sinh. Anh bị viên đạn của máy bay Mĩ bắn vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu.
Tôi không đủ lời lẽ để tả lại cái nhìn ấy chỉ biết rằng, cho đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi cứ nhớ lại đôi mắt của anh.
- Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu.
Tôi cúi xuống gần anh và khẽ nói. Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi.
(Trích Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr.199 – 200)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Đọc, tìm ý.
Cách giải:
Theo đoạn trích “Có ai khen con đẹp” con nên cảm ơn và quên đi lời khen ấy. “Ai bảo con ngoan” con nhớ cảm ơn và gắng ngoan hiền hơn nữa.
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc, tìm ý.
Cách giải:
Những từ ngữ chỉ hành động mà cha mong muốn con làm khi người khác gặp khó khăn trong dòng thơ “Với người đang oằn lưng vì nỗi thống khổ. Con hãy đến bên và kề vai gánh giúp” là: đến (bên), kề (vai), gánh (giúp).
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
- Điệp ngữ: Lần thứ….
- Tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ:
+ Tạo nhịp điệu cho câu văn.
+ Sử dụng biện pháp điệp ngữ tác giả nhằm nhấn mạnh, hướng dẫn cách con cần phải ứng xử như thế nào qua các lần “người ta chìa tay xin con một đồng”.
+ Qua đó nhằm khuyên bảo, chỉ dạy cho con cách sống đúng đắn.
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Học sinh tự trình bày theo ý hiểu của bản thân, có lí giải phù hợp.
Gợi ý:
Nội dung hai dòng thơ: Người cha muốn nhắc nhở con phải biết quan tâm, chia sẻ với những người đang mang nỗi đau mà con gặp được trong cuộc đời. Đó cũng là cách giúp người con sống yêu thương, chan hòa, giàu lòng trắc ẩn.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
* Giải thích:
- Sự sẻ chia trong cuộc sống là sự lắng nghe, thấu hiểu cảm thông, cùng san sẻ nỗi buồn, niềm vui, cùng nhau vượt qua khỏ khăn gian khổ trong cuộc sống.
- Sự sẻ chia rất cần thiết và quan trọng trong cuộc sống.
* Ý nghĩa của sự sẻ chia trong cuộc sống:
- Sự sẻ chia giúp thu ngắn khoảng cách giữa người với người, giúp người gần người hơn, tạo nên tình yêu thương bền chặt trong các mối quan hệ.
- Sự sẻ chia giúp con người dễ dàng vượt qua những trở ngại về mặt tâm lý, những khó khăn trên bước đường tương lai phía trước, tiếp thêm sức mạnh để con người đối diện và giải quyết vấn đề.
- Sự sẻ chia giúp con người học cách quan tâm đến nngười khác, sống bao dung và tích cực hơn trong cuộc đời.
- Sự sẻ chia giúp con người nhận ra những giá trị tốt đẹp trong cuộc đời, biết trân trọng cuộc sống, trân trọng những người thân yêu xung quanh mình.
- Sự sẻ chia đôi khi khiến con người nhận ra những giá trị khuất lấp mà xưa nay chưa từng thấy ở con người.
……
* Bàn luận:
- Phê phán, lên án những người chỉ biết sống cho bản thân, ích kỉ, không biết chia sẻ.
- Học cách quan tâm, chia sẻ với người khác nhưng cũng cần sáng suốt chỉ ra những mặt bất cập để cùng nhau tốt lên. Cần phân biệt rõ ràng giữa sự chia sẻ và hùa theo một cách mù quáng.
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
- Tác giả: Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932, quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia bộ đội, hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Từ sau 1954, tập kết ra miền Bắc, Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn. Những năm chống Mỹ, ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác văn học. Tác phẩm của ông thuộc nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như trong thời bình.
- Tác phẩm: Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” được viết năm 1966, khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ và được đưa vào tập truyện cùng tên.
- Tác phẩm là bài ca về tình phụ tử thiêng liêng, đặc biệt là ở đoạn trích từ: “Tôi vẫn còn nhớ buổi chiều hôm đó… Anh mới nhắm mắt xuôi tay”. Đoạn trích thể hiện vẻ đẹp của tình phụ tử thiêng liêng, sâu sắc của ông Sáu đối với bé Thu trong những ngày ở chiến khu.
2. Phân tích
a. Giới thiệu khái quát cảnh ngộ gia đình ông Sáu và tình yêu thương ông Sáu dành cho con
- Đất nước có chiến tranh, công Sáu phải đi công tác khi con gái chưa đầy một tuổi, khi con lớn lên, ông Sáu không một lần được gặp con, được yêu thương chăm sóc cho con.
- Sau tám năm vào sinh ra tử, khi được về thăm nhà, nỗi khao khát được gặp con, được ôm con vào lòng khiến ông không kìm nén được cảm xúc. Tuy nhiên, vì vết thẹo trên mặt, vết thương do chiến tranh gây ra nên đứa con gái hồn nhiên, ngây thơ của ông nhất định không chịu nhận cha. Đến lúc con gái nhận ra thì là lúc ông phải trở lại chiến trường. Niềm hạnh phúc mà ông hằng mong chờ đã tới nhưng quá ngắn ngủi vì đến giờ biệt li. Ông chỉ kịp rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên tóc con, lặng lẽ ra đi không hẹn ngày về mang theo một ước nguyện của con là cây lược nhỏ.
b. Cảm nhận về vẻ đẹp nội dung của đoạn trích – vẻ đẹp của tình phụ tử thiêng liêng
- Luôn ghi nhớ như in lời con dặn vội vàng lúc chia tay “Ba về, ba mua cho con một cây lược nghe ba!”. Điều đó thúc giục ông đến việc làm cây lược ấy. “Lúc rảnh rỗi anh ngồi cưa từng chiếc răng lược cho đến khi hoàn thành, những đêm nhớ con anh lấy cây lược ra ngắm nghía”.
- Chiếc lược trở thành một vật quý giá, nó làm vơi đi nỗi ân hận và chứa đựng bao nhiêu tình cảm nhớ nhung, yêu mến của người cha đối với đứa con trong xa cách. Chiếc lược ngà trở thành một kỉ vật thiêng liêng, nuôi dưỡng tinh thần chiến đấu cho người chiến sĩ trong những ngày tháng gian khổ.
- Bị thương nặng, chỉ đến khi gửi lại chiếc lược ngà lại cho bạn với lời nhắn nhủ sẽ trao tận tay bé Thu, ông mới yên lòng nhắm mắt.
- Ông Sáu hi sinh khi chưa kịp gửi món quà cho con gái. Đây là tình huống rất cảm động. Những mất mát do chiến tranh gây ra là không bù đắp nổi. Tuy không một lời trăng trối nhưng hành động cuối cùng của ông Sáu càng cho ta thấy tình cảm của ông dành cho con thật sâu nặng. Người đồng chí của ông – người kể chuyện đã thay ông làm việc đó. Chiếc lược ngà đã trở thành biểu tượng của tình cha con đời đời bất diệt.
c. Nghệ thuật
- Đoạn văn là lời kể của một người đồng chí của ông – bác Ba, người đã chứng kiến toàn bộ quá trình ông làm cây lược tặng con gái và thấu hiểu những suy nghĩ, cảm xúc của ông. Đoạn văn vì thế trở nên vừa khách quan vừa chân thành, giàu tình cảm.
- Ngôn ngữ văn xuôi giàu tình cảm, khả năng miêu tả tâm lí tinh tế, chính xác, bắt nguồn từ một tâm hồn nhạy cảm và tấm lòng yêu thương, trân trọng con người.
3. Đánh giá chung: Cảm nhận khái quát về đoạn văn, liên hệ bản thân.
Đề thi vào 10 môn Văn Hà Tĩnh năm 2021
Đề bài
Câu 1 (2,0 điểm) Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu:
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
(Tế Hanh, Quê hương, Ngữ văn 8, tập hai, tr.17. NXB GDVN, 2015)
a. Trong đoạn thơ, những từ nào thuộc trường từ vựng về biển?
b. Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn thơ
c. Chỉ ra một biện pháp tu từ có trong hai câu thơ Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ/ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi và phân tích hiệu quả nghệ thuật của nó.
Câu 2 (3,0 điểm) Viết bài văn (khoảng 300 chữ) thể hiện tình cảm của em đối với quê hương, đất nước.
Câu 3 (5,0 điểm) Cảm nhận vẻ đẹp của đoạn thơ sau:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.
Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao...
(Thanh Hải, Mùa xuân nho nhỏ, Ngữ văn 9, tập hai, tr.55,56, NXB GDVN, 2017)
Lời giải chi tiết
Câu 1.
|
a. Trong đoạn thơ, những từ nào thuộc trường từ vựng về biển? |
Phương pháp: căn cứ bài Trường từ vựng
Cách giải:
Những từ thuộc trường từ vựng về biển: nước xanh, cá bạc, chiếc buồm, con thuyền, sóng, khơi, mùi nồng mặn.
|
b. Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn thơ |
Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn thơ, phân tích, tổng hợp
Cách giải:
Nội dung chính của đoạn thơ: Đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ quê hương thiết tha của tác giả thông qua những hình ảnh, màu sắc bình dị, thân thuộc và đặc trưng của một làng quê miền biển.
|
c. Chỉ ra một biện pháp tu từ có trong hai câu thơ Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ/ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi và phân tích hiệu quả nghệ thuật của nó. |
Phương pháp: căn cứ bài Liệt kê, phân tích
Cách giải:
Biện pháp tu từ: Liệt kê: màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi, mùi nồng mặn
=> Tác dụng: diễn tả chân thực cảm xúc sâu lắng đang cháy bỏng, cồn cào dâng lên trong trái tim, nỗi nhớ của tác giả. Đây chính là lòng thủy chung của tác giả dành cho quê hương
Câu 2.
|
Viết bài văn (khoảng 300 chữ) thể hiện tình cảm của em đối với quê hương, đất nước. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp
Cách giải:
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: tình cảm quê hương, đất nước.
Lưu ý: Học sinh tự lựa chọn cách viết mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của bản thân mình.
2. Thân bài
a. Giải thích
Tình yêu quê hương đất nước: sự biết ơn đối với những người đi trước đã cống hiến cho đất nước, yêu quý quê hương, có ý thức học tập, vươn lên để cống hiến cho nước nhà và sẵn sàng chiến đấu nếu có kẻ thù xâm lược.
b. Phân tích
- Mỗi chúng ta khi sinh ra được sống trong nền hòa bình đã là một sự may mắn, chính vì vậy chúng ta cần phải cống hiến nhiều hơn để phát triển nước nhà vững mạnh, có thể chống lại mọi kẻ thù.
- Mỗi người khi học tập, lao động, tạo lập cho mình một cuộc sống tốt đẹp cũng chính là cống hiến cho tổ quốc.
- Yêu thương, giúp đỡ đồng bào, đoàn kết không chỉ giúp cho chúng ta được yêu thương, trân trọng trong mắt mọi người mà nó còn thể hiện sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.
c. Chứng minh
- Học sinh tự lấy dẫn chứng về những tấm gương tiêu biểu của lòng yêu nước, sẵn sàng hi sinh thân mình để bảo vệ đất nước làm dẫn chứng cho bài văn của mình.
Lưu ý: dẫn chứng phải nổi bật, xác thực, được nhiều người biết đến.
d. Liên hệ bản thân
- Là một học sinh trước hết chúng ta cần học tập thật tốt, nghe lời ông bà cha mẹ, lễ phép với thầy cô. Có nhận thức đúng đắn về việc giữ gìn và bảo vệ tổ quốc. Luôn biết yêu thương và giúp đỡ những người xung quanh,…
e. Phản biện
- Tuy nhiên vẫn còn có nhiều bạn chưa có nhận thức đúng đắn về tình yêu cũng như trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước, chỉ biết đến bản thân mình, coi việc chung là việc của người khác,… những người này đáng bị xã hội thẳng thắn lên án.
3. Kết bài
Khái quát lại vấn đề nghị luận: tình yêu quê hương đất nước; đồng thời rút ra bài học và liên hệ bản thân.
Câu 3.
|
Cảm nhận vẻ đẹp của đoạn thơ sau: Mọc giữa dòng sông xanh
Mùa xuân người cầm súng (Thanh Hải, Mùa xuân nho nhỏ, Ngữ văn 9, tập hai, tr.55,56, NXB GDVN, 2017) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Mở bài
- Vài nét về nhà thơ Thanh Hải: Một nhà thơ có thể nói là đã cống hiến cả đời mình cho cách mạng.
- Giới thiệu về hoàn cảnh ra đời đặc biệt của bài thơ: được viết trong những ngày cuối cùng Thanh Hải nằm trên giường bệnh, cả cuộc đời ông đã dùng để cống hiến cho cách mạng, giờ đây ông lại cất lên niềm khát khao, niềm mong mỏi có thể tiếp tục cống hiến “mùa xuân nho nhỏ” cho cuộc đời này.
- Khái quát nội dung chính
2. Thân bài
a. Cảm xúc trước mùa xuân thiên nhiên đất nước (Khổ 1)
- Nhà thơ vẽ ra trước mắt độc giả bức tranh thiên nhiên mùa xuân với:
+ Không gian: cao rộng của bầu trời, dài rộng của “dòng sông xanh”
+ Âm thanh: âm thanh rộn rã vui tươi của “chim chiền chiện”
+ Màu sắc: xanh của dòng sông, tím của hoa
⇒ Nghệ thuật đảo cú pháp: không gian cao rộng, màu sắc tươi sáng và âm thanh rộn ràng như thiết tha mời gọi níu giữ con người ở lại với cuộc sống, với mùa xuân xứ Huế tươi đẹp này
- Cảm xúc của tác giả trước mùa xuân của thiên nhiên:
+ Nhà thơ có cái nhìn trìu mến với cảnh vật
+ Đưa tay ra “hứng” “giọt long lanh”: là giọt sương, cũng có thể là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác chỉ tiếng chim “hót vang trời”
⇒ Cảm xúc ngây ngất trước vẻ đẹp của mùa xuân của thiên nhiên, khao khát hòa mình với thiên nhiên đất trời. Tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ, nói về giọt long lanh và tiếng chim thực chất là nói về những điều tinh túy, đẹp đẽ của cuộc sống con người.
2. Cảm xúc về mùa xuân của đất nước và con người (khổ 2)
- Mùa xuân của đất nước gắn với hình ảnh người cầm súng (những người làm nhiệm vụ chiến đấu) và hình ảnh “người ra đồng”, “lộc”- niềm hi vọng tươi sáng đang theo họ đi khắp nơi hay hay chính họ đã đem mùa xuân đến mọi nơi trên đất nước.
- Nhịp độ khẩn trương: “Tất cả như…xôn xao” - Công cuộc xây dựng mùa xuân của đất nước diễn ra khẩn trương, sôi động.
⇒ Nghệ thuật điệp cấu trúc, từ láy…=> Nhà thơ như reo vui trước tinh thần lao động khẩn trương của con người làm nên mùa xuân của đất nước.
3. Kết bài
- Khái quát những đặc sắc về nghệ thuật làm nên thành công của bài thơ: Thể thơ năm chữ, có nhạc điệu trong sáng, thiết tha gần gũi với dân ca, nhiều hình ảnh đẹp, giản dị, gợi cảm, nhiều so sánh và ẩn dụ sáng tạo.
- Liên hệ trình bày khát vọng cống hiến của thế hệ trẻ cho cuộc đời.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
