Đề thi vào 10 môn Văn Hải Dương
Đề thi vào 10 môn Văn Hải Dương năm 2025
Đề bài
I. PHẦN ĐỌC HIẾU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
(Tóm lược: Bà đã tám mươi lăm tuổi, bà chỉ ngồi ở góc nhà gà gật và nhắc nhở các cháu làm việc nhà nhưng Tuất, Hồng, Hải luôn khó chịu và cãi lại bà. Khi biết sự việc đó, bổ chúng đã nghiêm khắc dạy dỗ các con.)
... Lúc ấy là chín giờ rưỡi, bố đi họp ở công ty về. Thoáng qua là bố biết hết đầu đuôi câu chuyện. Bố bảo mẹ, thôi để các con nó học, xong bố sẽ nói chuyện.
Mười giờ rưỡi, Tuất, Hồng, Hải học xong bài, ngồi trước mặt bố. Bố nói:
- Các con nghĩ rằng, bà chỉ có một tuổi già tám mươi lăm năm sống chuyên ngồi thui thủi ở góc nhà như hôm nay thôi ư? Không, bà có cả một thời thanh niên sôi nổi. Bà từng là thanh niên xung phong, từng cầm súng bắn máy bay giặc Mĩ xâm lược nước ta. Bà làm công nhân dệt đến năm mươi lăm tuổi mới về hưu. Ông lúc ấy còn ở bộ đội. Từ thằng Tèo trở đi đều qua tay bà săn sóc, nếu không thì...
Bố nói đến đó thì bà nằm ở cải phản ở buồng ngoài thức giấc.
- Bố Tèo nói cái gì thế?
- Bà cứ ngủ đi, để con dạy bảo chúng. Con cháu không biết công ơn ông bà thì không thành người, bà ạ. Nói rộng ra, con dạy cho chúng biết rằng: Đằng sau người già là cả một cuộc đời rộng lớn mà họ đã dũng cảm đương đầu đấy. Hãy kính trọng và yêu quý họ!
Bố nói dứt thì bước tởi, cúi xuống đỡ bà dậy. Bà ngồi lên, cào tóc xong thì quài tay ra sau búi lại; tóc bà rụng hết rồi, búi lại chỉ còn bằng quả ổi. Nắn búi tóc bé tí, bà cúi xuống lục cái túi vải đỏ lâu nay lúc nào cũng vẫn để ở đầu giường. Trong cái túi đó có hai chỉ vàng, bà dự định dành cho cái Hải một, cái Hồng một. Trong cái túi đó có một cuốn sổ tiết kiệm, bà nói, bà để dành từ hồi thằng Tèo mới đẻ, giờ không biết có bao nhiêu, bà cho thằng Tèo và thằng Tuất để hai đứa mua xe máy, con trai đi đâu phải có cái xe máy mới ra mẽ người!
- Con biết rồi! Con biết rồi! Bà nằm nghỉ đi!
Bố nói. Bà chép miệng, xoài người xuống mặt phản:
- Ừ, mẹ nằm. Nhưng mà chắc là chẳng ngủ được nữa đâu, giời sắp sảng rồi còn gì!
Bà nằm co ro, chốc chốc lại nghền lên ngắt lời bố: “Thôi, các cháu nó còn dại người, đừng trách chúng, con à”…
(Trích “Bà ngồi ở góc nhà” - Ma Văn Kháng - “Những truyện hay viết cho thiếu nhi” - NXB Kim Đồng 2021, trang 172-174)
Trả lời các câu hỏi:
Câu 1. Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ mấy?
Câu 2. Trong đoạn trích, bố nhắc đến công việc nào bà từng làm thời thanh niên?
Câu 3. Lời thoại sau chứa đựng những tình cảm gì của bố dành cho bà?
“- Các con nghĩ rằng, bà chỉ có một tuổi già tám mươi lăm năm sống chuyên ngồi thui thủi ở góc nhà như hôm nay thôi ư? Không, bà có cả một thời thanh niên sôi nổi."
Câu 4. Biện pháp tu từ ẩn dụ có tác dụng gì trong câu: “Nói rộng ra, con dạy cho chúng biết rằng: Đằng sau người già là cả một cuộc đời rộng lớn mà họ đã dũng cảm đương đầu đấy. "?
Câu 5. Từ nội dung của truyện, em rút ra những bài học nào về cách ứng xử với ông bà?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về tình yêu thương của bà dành cho các cháu trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm)
Hiện nay, một số bạn trẻ còn ứng xử thiếu văn minh nơi công cộng. Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm của em về vấn đề trên và đề xuất những giải pháp khắc phục.
Lời giải chi tiết
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) |
Câu 1. (0,5 điểm) |
Ngôi kể thứ ba |
|
Câu 2. (0,5 điểm) |
- Bố nhắc đến những công việc bà từng làm: + Bà từng là thanh niên xung phong, từng cầm súng bắn máy bay giặc Mỹ. + Làm công nhân dệt cho đến năm 55 tuổi mới nghỉ hưu. |
|
|
Câu 3. (1,0 điểm) |
- Lời thoại của bố thể hiện: + Sự kính trọng và biết ơn của bố đối với mẹ mình. + Niềm tự hào về quá khứ oanh liệt và sự hy sinh cao cả vì Tổ quốc của bà. + Là lời nhắc nhở sâu sắc tới các con phải nhìn nhận đúng đắn về giá trị của người già, không chỉ qua hình ảnh hiện tại mà qua cả hành trình sống đầy đóng góp. |
|
|
Câu 4. (1,0 điểm) |
- Biện pháp ẩn dụ: “cuộc đời rộng lớn” - Tác dụng: + "Cả một cuộc đời rộng lớn" ẩn dụ cho quãng thời gian dài mà người già đã trải qua với vô vàn sự kiện, thử thách và những đóng góp thầm lặng. + Thể hiện thái độ kính phục đối với hành trình sống đầy thử thách mà họ đã vượt qua. |
|
|
Câu 5. (1,0 điểm) |
Gợi ý: - Kính trọng và biết ơn công lao của ông bà - Thấu hiểu, kiên nhẫn và cảm thông với những thay đổi về thể chất và tâm lí của người già. - Chủ động quan tâm, dành thời gian hỏi han, chăm sóc với ông bà để không chỉ thể hiện tình yêu thương mà còn giúp họ cảm thấy được an ủi, không bị cô đơn. |
|
|
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) |
Câu 1. (2,0 điểm) |
* Mở đoạn: - Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nêu vấn đề nghị luận * Thân đoạn: - Cảm nhận tình cảm của bà dành cho cháu + Tình yêu thương thể hiện qua sự quan tâm, rèn giũa: nhắc nhở các cháu làm việc nhà 🡪 cách bà thể hiện sự quan tâm đến việc hình thành nhân cách, thói quen tốt cho các cháu, dù có thể bị hiểu lầm là khó tính hay cằn nhằn. + Tình yêu thương thể hiện qua sự hy sinh, lo lắng cho tương lai: Bà giữ gìn của cải riêng (hai chỉ vàng, sổ tiết kiệm) để dành cho các cháu 🡪 hy sinh thầm lặng, không đòi hỏi đền đáp, mong chúng có cuộc sống "ra mẽ người" + Tình yêu thương thể hiện qua sự bao dung, che chở: Khi bố dạy dỗ các con, bà vẫn lên tiếng bênh vực cháu - Đặc sắc nghệ thuật: + Lời văn mộc mạc, dung dị nhưng thấm đẫm cảm xúc + Xây dựng nhân vật người bà hiện lên chân thực, gần gũi qua việc khắc họa cử chỉ, hành động, lời nói, tình cảm… * Kết đoạn: - Khẳng định lại tình yêu thương của bà là một tình cảm cao đẹp, vô điều kiện. - Nêu thông điệp mà truyện gửi gắm về tình cảm gia đình, sự kính trọng người già. |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
1. Mở bài: Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề nghị luận. 2. Thân bài Ứng xử thiếu văn minh nơi công cộng là những hành vi, lời nói hoặc thái độ không phù hợp với quy tắc ứng xử chung, gây ảnh hưởng tiêu cực đến không gian chung, làm mất mỹ quan, trật tự và làm phiền người khác trong cộng đồng. * Biểu hiện và thực trạng: - Trong giao tiếp: + Sử dụng ngôn ngữ thiếu chuẩn mực, tục tĩu, nói to, gây ồn ào. + Thiếu tôn trọng người lớn tuổi, người khuyết tật (chen lấn, nói trống không). + Lạm dụng điện thoại, thiết bị công nghệ mà không chú ý đến xung quanh (nghe nhạc lớn, xem video không đeo tai nghe). - Trong hành vi: + Vứt rác bừa bãi, khạc nhổ, đi vệ sinh không đúng nơi quy định. + Phá hoại tài sản công cộng (vẽ bậy, bẻ cây, giẫm lên thảm cỏ). + Chen lấn, xô đẩy, thiếu ý thức xếp hàng. + Tụ tập gây mất trật tự công cộng (đua xe, gây gổ). + … - Trên không gian mạng: + Phát ngôn thiếu kiểm soát, công kích, xúc phạm người khác. + Lan truyền thông tin sai lệch, độc hại. * Hậu quả: - Đối với cá nhân người trẻ: + Đánh mất hình ảnh đẹp, uy tín cá nhân. + Khó hòa nhập cộng đồng, bị xa lánh, làm mất thiện cảm người khác đối với mình. + Thiếu kỹ năng mềm, khó thành công trong cuộc sống và công việc. - Đối với cộng đồng và xã hội: + Làm mất mỹ quan đô thị, ô nhiễm môi trường. + Ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. + Gây ra sự bức xúc, bất bình trong dư luận. + Làm xấu đi hình ảnh chung của một thế hệ, ảnh hưởng đến văn hóa dân tộc. + Giảm sút chất lượng cuộc sống chung, thiếu văn minh, lịch sự. * Nguyên nhân: -Từ gia đình: + Thiếu sự giáo dục, uốn nắn từ nhỏ về lễ phép, văn hóa ứng xử. + Cha mẹ nuông chiều hoặc quá bận rộn, ít quan tâm. - Từ nhà trường: Thiếu chú trọng đúng mức việc giáo dục kỹ năng sống, đạo đức, văn hóa ứng xử; chương trình học nặng về kiến thức, chưa tập trung nhiều vào rèn luyện nhân cách. - Từ xã hội: + Sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội khiến giới trẻ dễ tiếp cận những nội dung tiêu cực. + Ảnh hưởng từ văn hóa ngoại lai thiếu chọn lọc. + Áp lực cuộc sống, học tập, công việc khiến một số bạn trẻ dễ có những hành vi bột phát. - Từ bản thân người trẻ: + Thiếu ý thức tự giác, nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của văn hóa ứng xử. + Thích thể hiện bản thân một cách tiêu cực, nổi loạn. + Mắc bệnh "vô cảm", thiếu sự đồng cảm với người khác. HS tự tìm dẫn chứng phù hợp * Giải pháp: - Từ gia đình và nhà trường: + Tăng cường giáo dục, làm gương về văn hóa ứng xử. + Dành thời gian quan tâm, trò chuyện, định hướng cho con cái. + Tạo môi trường mạnh, văn minh. - Từ xã hội: + Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức về văn hóa ứng xử qua các phương tiện truyền thông. + Xây dựng các quy định, chế tài rõ ràng và xử lý nghiêm minh các hành vi thiếu văn minh. - Từ bản thân người trẻ: + Chủ động tìm hiểu, trau dồi kiến thức về văn hóa ứng xử. + Rèn luyện ý thức tự giác, sống có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng. + Tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tình nguyện để rèn luyện kỹ năng và ý thức. + Biết học hỏi, tiếp thu những giá trị văn hóa tốt đẹp. 3. Kết bài: Tổng kết vấn đề |
Đề thi vào 10 môn Văn Hải Dương năm 2023
Đề bài
I. PHẦN ĐỌC - HIỂU. Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu sau:
Hành tinh thứ năm lạ lẫm hết sức. Đó là hành tinh bé nhất trong tất cả. Nơi đó chỉ vừa đủ chỗ cho một cột đèn đường và một người thắp đèn. Hoàng tử bé không sao hiểu được tác dụng của một cột đèn đường và một người thắp đèn trên một hành tinh không có nhà cửa và cũng chẳng có dân cư ở đâu đó trên bầu trời. Song le, cậu vẫn thầm nhủ trong lòng: “Có thể là người này rất kì quặc. Nhưng ông ta không kì quặc bằng ông vua, hay ông hợm hĩnh, hay ông nhà buôn, hay ông nát rượu. Bởi ít ra công việc của ông ấy còn có một ý nghĩa nào đó. Khi ông ấy thắp đèn lên thì cũng như thể là ông ấy khai sinh thêm một vì sao, một bông hoa. Khi ông ấy tắt đèn đi thì đó là để bông hoa hoặc vì sao đi ngủ. Đấy là một công việc rất chi đẹp đẽ. Và vì việc đó đẹp đẽ nên cũng rất mực có ích.
(Trích Hoàng tử bé, Antoine De Saint - Exupéry, NXB Hội Nhà Văn, 2017, trang 53)
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Theo đoạn trích, vì sao Hành tinh thứ năm lạ lẫm hết sức?
Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và nêu ý nghĩa của một biện pháp tu từ trong những câu văn sau:“Có thể là người này rất kì quặc. Nhưng ông ta không kì quặc bằng ống vua, hay ông hợm hĩnh, hay ông nhà buôn, hay ông nát rượu.
Câu 4 (1,0 điểm). Em có đồng tình với suy nghĩ của Hoàng tử bé khi cậu cho rằng công việc của người thắp đèn là một công việc rất chi đẹp đẽ không? Vì sao?
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. Trong bài thơ Sớm mai con vào lớp ba, nhà thơ Y Phương đã viết lời người cha khuyên con như sau:
“Đừng cãi nhau đừng đánh nhau nghe con”
Bằng hiểu biết của cá nhẫn mình, em hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) làm rõ vì sao chúng ta không nên cãi nhau, đánh nhau?
Câu 2. Cảm nhận của em về hai khổ thơ sau, từ đó làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn người lao động:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cả lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
(...)
Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
(Trích Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận, Ngữ văn 9, Tập một, NXBGD Việt Nam, 2017, trang 139, 140)
Phương pháp giải - Xem chi tiết
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Câu 1 (0.5 điểm):
Phương pháp:
Căn cứ các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt tự sự
Câu 2 (0.5 điểm):
Phương pháp:
Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Theo đoạn trích, Hành tinh thứ năm lạ lẫm hết sức vì đó là hành tinh bé nhất trong tất cả, nơi đó chỉ vừa đủ chỗ cho một cột đèn đường và một người thắp đèn.
Câu 3 (0.5 điểm):
Phương pháp:
Căn cứ bài liệt kê, phân tích.
Cách giải:
- Biện pháp tu từ: liệt kê (hay ông hợm hĩnh, hay ông nhà buôn, hay ông nát rượu)
- Tác dụng: Nhấn mạnh điều mà người nói muốn khẳng định: “ông ta không kì quặc”, đồng thời đưa ra dẫn chứng chứng minh lời nói của mình là đúng.
Câu 4 (0.5 điểm):
Phương pháp:
Phân tích, lí giải.
Cách giải:
- Em đồng tình với suy nghĩ của Hoàng tử bé vì:
+ Công việc của người thắp đèn là công việc làm đẹp cho đời, đem ánh sáng đến cho hành tinh tối tăm không chút ánh sáng, cũng là đem lại niềm hy vọng, ấm áp đến cho hành tinh.
+ “Khi ông ấy thắp đèn lên thì cũng như thể là ông ấy khai sinh thêm một vì sao, một bông hoa”.
II. LÀM VĂN (7.0 điểm):
Câu 1 (2 điểm):
Phương pháp:
Phân tích, giải thích, bình luận,…
Cách giải:
a. Giới thiệu vấn đề: “Vì sao chúng ta không nên cãi nhau, đánh nhau?”
b. Giải thích vấn đề:
- Cãi nhau, đánh nhau: Là dùng lời lẽ, hành vi bạo lực để chống chế, bác bỏ ý kiến người khác nhằm bảo vệ ý kiến hoặc việc làm của mình.
=> Đây là hành vi mang tính chất tiêu cực, gây ra hậu quả xấu.
c. Bàn luận vấn đề
- Nguyên nhân gây ra cãi nhau, đánh nhau: Do khác biệt về lối sống, suy nghĩ, quan điểm. Bản thân không kìm nén được sự giận dữ, không có sự kiên nhẫn trước ý kiến, lập luận của người khác.
- Tác hại của cãi nhau, đánh nhau.
+ Ảnh hưởng xấu đến tâm lý, tinh thần.
+ Gây hại, gây thương tích đến cơ thể của đối phương và của chính bản thân
+ Gây rạn nứt các mối quan hệ, phá vỡ sự đoàn kết, yêu thương giữa gia đình, cộng đồng, xã hội.
- Biện pháp ngăn chặn hành vi cãi nhau, đánh nhau:
+ Học thói quen cư xử một cách văn minh, phản biện mang tính chất đóng góp, tích cực.
+ Suy nghĩ kĩ trước khi hành động. Tôn trọng ý kiến cá nhân, thân thể của mỗi người
d. Liên hệ bản thân: Nhận thức được vì sao chúng ta không nên cãi nhau, đánh nhau, cần cố gắng rèn luyện thể lực, nâng cao tinh thần, trau dồi phẩm chất đạo đức…
Câu 2 (5.0 điểm):
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả: Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam.
- Giới thiệu tác phẩm: Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá “viết năm 1958, trong thời gian ông đi thực tế ở Hòn Gai - Quảng Ninh, được in trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng”.
- Giới thiệu khái quát về khổ thơ đầu và cuối của bài thơ.
2. Thân bài
a. Khổ 1 - cảnh ra khơi
- Thời gian nghệ thuật là một buổi hoàng hôn tuyệt đẹp.
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa.
Các hình ảnh mặt trời, sóng, đêm được nhân hóa, cùng hình ảnh so sánh độc đáo ở câu thơ thứ nhất "như hòn lửa" đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ, tráng lệ. Ngày đã tắt nhưng không hề ảm đạm. Sự vận động của thời gian được diễn tả qua các động từ "xuống biển”, "cài then", "sập cửa". Những con sóng cài ngang như chiếc then cửa của vũ trụ. Bóng đêm "sập cửa" gợi khoảnh khắc ánh ngày vụt tắt và màn đêm bất ngờ buông xuống, bao trùm lên tất cả.
- Lẽ thường, khi ngày tàn, con người sẽ tạm ngừng mọi công việc để trở về nghỉ ngơi bên gia đình nhưng trên biển có một cuộc sống khác khi đó mới bắt đầu...
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi
- Chữ “lại” đã gợi ra vòng tuần hoàn trong hoạt động của những người dân biển, gợi nhịp sống thanh bình của quê hương, đất nước. Sau bao năm tháng chiến tranh, con người Việt Nam mới có một cuộc sống lao động bình yên đến thế!
- Đoàn thuyền ra khơi với khí thế tươi vui, hào hứng, phấn khởi: "Câu hát căng buồm cùng gió khơi": Sự kết hợp giữa "câu hát" và "gió khơi" đã tạo nên sức mạnh lớn đưa con thuyền mạnh mẽ vượt sóng ra khơi. Nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác trong câu thơ cũng tái hiện vẻ đẹp tâm hồn và niềm vui trong lao động của người dân chài.
b. Khổ cuối - cảnh trở về
- Đoàn thuyền trở về trong khúc hát mê say: Nếu mở đầu bài thơ tác giả dùng chữ "cùng" (Câu hát căng buồm cùng gió khơi) thể hiện sự hài hòa giữa con thuyền và ngọn gió, hứa hẹn chuyến đi biển thuận lợi, bình yên thì đến cuối bài ông viết "Câu hát căng buồm với gió khơi" thể hiện niềm vui phơi phới của những người dân chài khi trở về trên những con thuyền đầy ắp cá.
- Đoàn thuyền trở về trong cuộc chạy đua với mặt trời: Hình ảnh nhân hóa "Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời" khiến con thuyền thành một sinh thể sống, gợi khí thế hăm hở, niềm hân hoan đón chào ngày mới của cả thiên nhiên và con người.
Đoàn thuyền cũng trở về trong ánh sáng rực rỡ, huy hoàng của buổi bình minh và muôn ngàn mắt cá lấp lánh dưới ánh mặt trời.
→ Đoạn thơ mang âm hưởng của một bản anh hùng ca lao động, thể hiện niềm vui phơi phới của những con người làm chủ đất trời.
c. Cảm nhận chung về hai khổ thơ và vẻ đẹp của người lao động
- Cả hai khổ đều thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên biển và con người ở cả hai thời điểm: hoàng hôn và bình minh. Thiên nhiên luôn tươi sáng, kì vĩ, tráng lệ. Con người luôn căng tràn sức sống và niềm say mê lao động.
- Cảm hứng bao trùm lên hai khổ là cảm hứng vũ trụ.
- Bút pháp thơ khoáng đạt, âm hưởng thơ vừa khoẻ khoắn, sôi nổi lại vừa phơi phới bay bổng; lời thơ dõng dạc, điệu thơ như khúc hát say mê, hào hứng, cách gieo vần có nhiều biến hoá linh hoạt, vấn trắc xen lẫn vần bằng; hình ảnh thơ giàu vẻ đẹp lãng mạn; nhiều biện pháp tu từ đặc sắc (so sánh, nhân hoá); kết cấu đầu cuối tương ứng (lặp lại hình ảnh" mặt trời/ gió khơi/ câu hát").
=> Hai khổ thơ cho thấy vẻ đẹp khỏe khoắn, mạnh mẽ, làm chủ thiên nhiên của người lao động.
d. Liên hệ
Thí sinh tự chọn một tác phẩm khác cũng viết về sự gắn bó của con người và biển quê hương để liên hệ với hai khổ thơ trên. Ví dụ: "Quê hương" của Tế Hanh.
Có thể liên hệ với thực tế đời sống để thấy được người dân Việt Nam luôn có những hành động thiết thực, cụ thể thể hiện tình yêu, sự gắn bó với biển: chống ô nhiễm biển, bảo vệ cảnh quan biển, sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật hướng về biển...
→ Khẳng định biển quê hương luôn ở trong trái tim của con người Việt Nam.
3. Kết bài
Khẳng định sự trưởng thành và đổi mới trong phong cách thơ Huy Cận: từ một “nhà thơ cả vạn lí sầu" nhưng sau Cách mạng tháng Tám, thơ ông đã gần gũi, đi sát với thực tế đời sống của nhân dân, ngợi ca cuộc sống mới, con người mới.
Lời giải chi tiết
Đề thi vào 10 môn Văn Hải Dương năm 2021
Đề bài
PHẦN I (3.0 điểm) Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:
Gian khổ nhất là lần ghi và báo về lúc một giờ sáng. Rét, bác ạ. Ở đây có cả mưa tuyết. Nửa đêm đang nằm trong chăn, nghe chuông đồng hồ chỉ muốn đưa tay tắt đi. Chui ra khỏi chăn, ngọn đèn bão vặn to đến cỡ nào vẫn thấy là không đủ sáng. Xách đèn ra vườn, gió tuyết và lặng im ở bên ngoài như chỉ chực đợi mình ra là ào ào xô tới. Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ: nó như bị gió chặt ra từng khúc, mà gió thì giống những nhát chổi lớn muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tung..."
(Trích Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, Tập I, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016, trang 183)
Câu 1. (1,0 điểm) Đoạn văn trên là lời của nhân vật nào, nói với ai?
Câu 2. (1,0 điểm) Chỉ ra và nêu ngắn gọn tác dụng của 01 biện pháp tu từ trong câu văn: “Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ: nó như bị gió chặt ra từng khúc, mà gió thì giống những nhát chổi lớn muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tung...”.
Câu 3. (1,0 điểm) Nhận xét ngắn gọn về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trong đoạn văn trên.
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) “Lời khen là một món quà tặng.”
(Theo Cuộc sống thay đổi khi chúng ta thay đổi, Andrew Matthews, NXB Thời đại, Hà Nội, 2013, trang 24) Từ câu nói trên, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) bàn về ý nghĩa của lời khen với lực lượng tuyến đầu trong công tác phòng chống dịch COVID-19 ở nước ta hiện nay.
Câu 2. (5,0 điểm) Phân tích cảm xúc về mùa xuân thiên nhiên, đất nước trong đoạn thơ sau:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.
Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao,..
(Trích Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải, Ngữ văn 9, Tập II, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016, trang 55, 56)
Lời giải chi tiết
Phần I.
Câu 1.
| Đoạn văn trên là lời của nhân vật nào, nói với ai? |
Phương pháp: căn cứ tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa.
Cách giải:
Đoạn văn trên là lời của anh thanh niên nói với bác họa sĩ.
Câu 2.
|
Chỉ ra và nêu ngắn gọn tác dụng của 01 biện pháp tu từ trong câu văn: “Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ: nó như bị gió chặt ra từng khúc, mà gió thì giống những nhát chổi lớn muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tung...”. |
Phương pháp: căn cứ bài So sánh, phân tích.
Cách giải:
Biện pháp tu từ so sánh. (gió như nhát chổi lớn muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tung) Tác dụng:
- Tăng sức gợi hình gợi tả cho đoạn trích.
- Nhấn mạnh sự khắc nghiệt của thiên nhiên trên đỉnh núi cao nơi anh thanh niên làm việc.
Câu 3.
| Nhận xét ngắn gọn về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trong đoạn văn trên |
Phương pháp: phân tích.
Cách giải:
Tâm hồn của anh thanh niên trong đoạn trích:
- Một người có tâm hồn cao đẹp.
- Có trách nhiệm với công việc.
- Không ngại khó khăn, gian khổ sống và cống hiến một cách thầm lặng.
Phần II.
Câu 1.
|
“Lời khen là một món quà tặng.” (Theo Cuộc sống thay đổi khi chúng ta thay đổi, Andrew Matthews, NXB Thời đại, Hà Nội, 2013, trang 24) Từ câu nói trên, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) bàn về ý nghĩa của lời khen với lực lượng tuyến đầu trong công tác phòng chống dịch COVID-19 ở nước ta hiện nay. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
I. Mở đoạn
- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Lời khen là một quà tặng.
II. Thân đoạn
1. Giải thích
- Khái niệm: Lời khen là lời ngợi ca, tán thưởng, khâm phục, là lời ghi nhận, động viên, khích lệ tinh thần của người khác khi họ làm được điều gì đó tốt đẹp.
- Khẳng định ý nghĩa của lời khen với lực lượng tuyến đầu trong công tác phòng chống dịch COVID 19 ở nước ta hiện nay.
2. Bình luận
* Biểu hiện:
+ COVID-19 là đại dịch đặc biệt nguy hiểm với tốc độ lây lan nhanh, diễn biến khó lường đã và đang gây ra cuộc khủng hoảng y tế và những hậu quả về kinh tế - xã hội rất nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu, tác động mạnh đến hầu hết mọi mặt đời sống xã hội của nước ta.
+ Hình ảnh những bác sĩ, nhân viên y tế, công an,.. chấp nhận những hy sinh cá nhân, tận tình, chu đáo chăm sóc người bệnh, chiến đấu với dịch bệnh, tất cả vì sức khoẻ của người dân, của cộng đồng ...
Ý nghĩa:
- Lời khen tốt sẽ tạo ra niềm vui, niềm hạnh phúc, sự tự tin, hăng hái .... (dẫn chứng).
+ Tiếp thêm sự tự tin, tự hào cho người khác, để họ biết họ đang đi đúng hướng và nên duy trì, tiếp tục.
+ Tăng sự hưng phấn, tiếp thêm động lực để người khác tiếp tục cố gắng và gặt hái nhiều thành công hơn nữa.
- Lời khen tốt như thế thuốc thần dược tạo nên sức mạnh, thắp sáng niềm tin khiến điều hay của người được khen trở thành điều hay của mọi người, nó làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Nó chính là quà tặng cuộc sống.
+ Chứng tỏ việc làm của họ được quan tâm, được theo dõi. Họ sẽ cảm thấy hạnh phúc, thấy mình không đơn độc và muốn cố gắng nhiều hơn.
+ Nếu sự nỗ lực và thành quả không được ghi nhận và ghi nhận kịp thời, có thể làm người ta buồn tủi, nản chi, cảm thấy sự cố gắng của mình không có giá trị hoặc trở nên tự ti và dễ buông xuôi. + Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao những cống hiến, nỗ lực không mệt mỏi, tận tâm tận lực, không quản ngại vất vả, gian nan và hiểm nguy của đội ngũ cán bộ y tế chống dịch thời gian qua. * Phản biện: Lời khen xấu sẽ tạo ra sự mất mát, sự đau đớn, xót xa, cay đắng.... (dẫn chứng).
3. Bài học nhận thức và hành động
- Tâm lý của con người là rất thích được khen bởi vậy không nên tiết kiệm lời khen nhưng cũng không được lạm dụng lời khen.
- Hãy học cách khen chân thành và thông minh. Hãy sử dụng lời khen như món quà cuộc sống
- Trước tình hình dịch bệnh vẫn diễn biến hết sức phức tạp, luôn thường trực nguy cơ bùng phát bất cứ lúc nào, đe dọa thành quả phòng, chống dịch và phát triển kinh tế - xã hội của chúng ta, vì vậy các cán bộ, nhân viên y tế, cùng nhân dân cả nước và các lực lượng chức năng sẽ phát huy tinh thần, khí thế và những kinh nghiệm quý báu trong thời gian qua, quyết tâm cao hơn, nỗ lực lớn hơn, hành động quyết liệt, mạnh mẽ, hiệu quả hơn và sự hy sinh có thể phải nhiều hơn nữa để cùng cả nước sớm đẩy lùi dịch bệnh.
III. Kết đoạn
- Hãy động viên, khen ngợi kịp thời, đúng lúc, đúng người, đúng sự việc.
- Bên cạnh lời khen, cuộc sống vẫn rất cần những lời góp ý chân thành, mang tính chất xây dựng để giúp mỗi người khắc phục điểm yếu, hoàn thiện mình hơn. Liên hệ với bản thân người viết.
Câu 2.
|
Phân tích cảm xúc về mùa xuân thiên nhiên, đất nước trong đoạn thơ sau: Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng. Mùa xuân người cầm súng Lộc giắt đầy trên lưng Mùa xuân người ra đồng Lộc trải dài nương mạ Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao,.. (Trích Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải, Ngữ văn 9, Tập II, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016, trang 55, 56) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài
- Vài nét về nhà thơ Thanh Hải: Một nhà thơ có thể nói là đã cống hiến cả đời mình cho cách mạng.
- Giới thiệu về hoàn cảnh ra đời đặc biệt của bài thơ: được viết trong những ngày cuối cùng Thanh Hải nằm trên giường bệnh, cả cuộc đời ông đã dùng để cống hiến cho cách mạng, giờ đây ông lại cất lên niềm khát khao, niềm mong mỏi có thể tiếp tục cống hiến “mùa xuân nho nhỏ” cho cuộc đời này.
- Giới thiệu vấn đề nghị luận: Cảm xúc về mùa xuân thiên nhiên đất nước trong đoạn thơ.
2. Thân bài
a. Cảm xúc trước mùa xuân thiên nhiên đất nước (Khổ 1)
- Nhà thơ vẽ ra trước mắt độc giả bức tranh thiên nhiên mùa xuân với:
+ Không gian: cao rộng của bầu trời, dài rộng của dòng sông xanh”
+ Âm thanh: âm thanh rộn rã vui tươi của “chim chiền chiện”
+ Màu sắc: xanh của dòng sông, tím của hoa
Nghệ thuật đảo cú pháp: không gian cao rộng, màu sắc tươi sáng và âm thanh rộn ràng như thiết tha mời gọi níu giữ con người ở lại với cuộc sống, với mùa xuân xứ Huế tươi đẹp này
Cảm xúc của tác giả trước mùa xuân của thiên nhiên:
+ Nhà thơ có cái nhìn trìu mến với cảnh vật
+ Đưa tay ra “hứng” “giọt long lanh”: là giọt sương, cũng có thể là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác chi tiếng chim “hót vang trời” – Cảm xúc ngây ngất trước vẻ đẹp của mùa xuân của thiên nhiên, khao khát hòa mình với thiên nhiên đất trời. Tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ, nói về giọt long lanh và tiếng chim thực chất là nói về những điều tinh túy, đẹp đẽ của cuộc sống con người.
b. Cảm xúc về mùa xuân của đất nước và con người (khổ 2)
- Mùa xuân của đất nước gắn với hình ảnh người cầm súng (những người làm nhiệm vụ chiến đấu và hình ảnh “người ra đồng”, “lộc”- niềm hi vọng tươi sáng đang theo họ đi khắp nơi hay hay chính họ đã đem mùa xuân đến mọi nơi trên đất nước.
- Nhịp độ khẩn trương: “Tất cả như...xôn xao” - Công cuộc xây dựng mùa xuân của đất nước diễn ra khẫn trương, sôi động. Nghệ thuật điệp cấu trúc, từ láy...=> Nhà thơ như reo vui trước tinh thần lao động khẩn trương của con người làm nên mùa xuân của đất nước.
3. Kết bài: Khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật.
Đề thi vào 10 môn Văn Hải Dương năm 2020
Đề bài
I. PHẦN ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu sau:
"Phan nói:
- Nhà cửa tiên nhân của nương tử, cây cối thành rừng, phần mộ tiên nhân của nương tử, có gai rợp mắt. Nương tử dù không nghĩ đến, nhưng tiên nhân còn mong đợi nương tử thì sao?
Nghe đến đây, Vũ Nương ứa nước mắt khóc, rồi quả quyết đổi giọng mà rằng:
- Có lẽ không thể gửi hình ấn bóng ở đây được mãi, để mang tiếng xấu xa. Và chăng, ngựa Hổ gầm gió bắc, chim Việt đậu cành nam. Cảm vì nỗi ấy, tôi tất phải tìm về có ngày.”
(Theo Ngữ văn 9, NXBGD Việt Nam, 2017)
Câu 1. (0,5 điểm)
Đoạn văn trên trích từ văn bản nào? Tác giả là ai?
Câu 2. (0,5 điểm)
Cuộc đối thoại của Vũ Nương với Phan Lang diễn ra trong hoàn cảnh nào?
Câu 3. (0,5 điểm)
Từ "tiên nhân" trong đoạn văn trên chỉ những ai?
Câu 4. (0,5 điểm)
Tìm các phép liên kết câu trong lời thoại sau:
" - Có lẽ không thể gửi hình ấn bóng ở đây được mãi, để mang tiếng xấu xa. Và chăng, ngựa Hồ gái gió bắc, chim Việt đậu cành nam. Cảm vì nỗi ấy, tôi tất phải tìm về có ngày."
Câu 5. (1,0 điểm)
Cảm nhận vẻ đẹp của nhân vật Vũ Nương trong đoạn trích trên.
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Trong hoàn cảnh khó khăn thử thách, dân tộc Việt Nam luôn nêu cao tinh thần đoàn kết).
Em hãy viết một đoạn văn ngắn bàn về sức mạnh của tinh thần đoàn kết đó.
Câu 2. (5,0 điểm)
Phân tích đoạn thơ sau để thấy được dòng hoài niệm đẹp đẽ của người cháu về tuổi thơ sống bên bà.
Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế.
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về,
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
(Trích Bếp lửa - Bằng Việt - Ngữ văn 9, NXBGD Việt Nam, 2017)
Lời giải chi tiết
Phần 1
Câu 1.
|
Đoạn văn trên trích từ văn bản nào? Tác giả là ai? |
Phương pháp: căn cứ bài Chuyện người con gái Nam Xương
Cách giải:
Đoạn văn trên trích từ văn bản “Chuyện người con gái Nam Xương”. Tác giả: Nguyễn Dữ.
Câu 2.
|
Cuộc đối thoại của Vũ Nương với Phan Lang diễn ra trong hoàn cảnh nào? |
Phương pháp: căn cứ bài Chuyện người con gái Nam Xương
Cách giải:
Cuộc đối thoại diễn ra trong hoàn cảnh:
- Vũ Nương sau khi trẫm mình ở bến Hoàng Giang được Linh Phi cứu.
- Phan Lang cũng được Linh Phi cứu.
- Trong buổi tiệc dưới thủy cung, Vũ Nương gặp Phan Lang.
Câu 3.
|
Từ "tiên nhân" trong đoạn văn trên chỉ những ai? |
Phương pháp: căn cứ bài Chuyện người con gái Nam Xương
Cách giải:
Từ “tiên nhân” trong đoạn văn chỉ cha ông, tổ tiên của Vũ Nương, và chỉ cả Trương Sinh.
Câu 4.
|
Tìm các phép liên kết câu trong lời thoại sau: " - Có lẽ không thể gửi hình ấn bóng ở đây được mãi, để mang tiếng xấu xa. Và chăng, ngựa Hồ gái gió bắc, chim Việt đậu cành nam. Cảm vì nỗi ấy, tôi tất phải tìm về có ngày." |
Phương pháp: căn cứ bài Liên kết câu và liên kết đoạn văn
Cách giải:
- Phép nối: từ “vả chăng” nối câu 1 và câu 2.
- Phép thế: từ “ấy” trong câu 3 thay thế cho “ngựa Hồ gầm gió Bắc, chim Việt đậu cành nam”câu 2
Câu 5.
|
Cảm nhận vẻ đẹp của nhân vật Vũ Nương trong đoạn trích trên. |
Phương pháp: căn cứ bài Chuyện người con gái Nam Xương, đoạn trích
Cách giải:
Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương trong đoạn trích. Gợi ý:
- Giới thiệu Vũ Nương: người con gái công dung ngôn hạnh nhưng không may bị chồng nghi oan phải trẫm mình ở bến Hoàng Giang để chứng minh sự trong sạch của mình.
- Vũ Nương là một người sống tình nghĩa: ứa nước mắt khóc, phải tìm về quê nhà, đồng thời cũng là người trọng danh dự, nhân phẩm. Quyết tâm trở về cũng là để minh oan, lấy lại sự trong sạch cho chính mình.
Phần II
Câu 1
|
Trong hoàn cảnh khó khăn thử thách, dân tộc Việt Nam luôn nêu cao tinh thần đoàn kết). Em hãy viết một đoạn văn ngắn bàn về sức mạnh của tinh thần đoàn kết đó. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1.Giới thiệu vấn đề: sức mạnh của tinh thần đoàn kết
2.Giải thích vấn đề
- Đoàn kết là kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì một mục đích chung.
=> Đoàn kết tạo ra sức mạnh to lớn.
3.Phân tích, bàn luận vấn đề
- Sức mạnh của đoàn kết:
+ Khi mọi người đoàn kết lại nghĩa là sẽ tập hợp được những điểm tốt của tất cả các cá nhân. Như vậy, vấn đề có thể sẽ được giải quyết hiệu quả nhất.
+ Khi một tập thể đoàn kết, mỗi cá nhân sẽ học được cách làm việc chung với nhau và học được bài học có trách nhiệm với tập thể.
+ Đoàn kết không chỉ tạo ra sức mạnh to lớn để đi đến thành công mà còn là cơ hội để mỗi cá nhân hoàn thiện bản thân.
- Dẫn chứng:
+ Trong lịch sử dựng nước và giữ nước thời Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, nhờ sự đoàn kết mà nhân dân ta chiến thắng các thế lực lớn như quân Mông Nguyên,…
+ Cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc chính là cuộc chiến tranh nhân dân. Cả nước cùng nhau tham gia chiến đấu, sản xuất…
- Đoàn kết cần thiết với mọi quốc gia, dân tộc, mọi thời đại.
- Trong thời đại hòa bình, đoàn kết là cùng nhau xây dựng đất nước giàu mạnh, cùng nhau nắm tay vượt qua những thử thách. Dẫn chứng: thời kì Covid-19, cả dân tộc cùng nhau chống dịch, chia sẻ khó khăn với những hoàn cảnh đặc biệt bằng việc xây dựng những hoạt động tình nguyện, cây “ATM gạo”,…
- Phê phán những kẻ gây mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ.
4. Liên hệ bản thân và Tổng kết
Câu 2
|
Phân tích đoạn thơ sau để thấy được dòng hoài niệm đẹp đẽ của người cháu về tuổi thơ sống bên bà. Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa Tu hú kêu trên những cánh đồng xa Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà? Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế. Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế! Mẹ cùng cha công tác bận không về, Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe, Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học, Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc, Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà, Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa? (Trích Bếp lửa - Bằng Việt - Ngữ văn 9, NXBGD Việt Nam, 2017) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung về tác giả tác phẩm và đoạn trích
2. Phân tích cảm nhận
Kí ức thứ hai: chuỗi kỉ niệm về 8 năm ròng kháng chiến sống cùng bà:
– Kỉ niệm tuổi thơ là tám năm ròng cháu cùng bà nhóm ngọn lửa của sự sống và tình yêu.
– Từ ngọn lửa ấy, trong lòng tác giả sống dậy một hồi ức khắc khoải, hồi ức về tiếng chim tu hú. Bốn lần tiếng chim tu hú điệp lại gợi những âm sắc khác nhau:
+ Tiếng chim tu hú trên cánh đồn như giục lúa chin.
+ Tiếng chim tu hú tha thiết như giục giã, khắc khoải khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong, tiếng chim tu hú gợi cháu nhớ đến những câu chuyện của bà.
=>Tiếng tu hú như lời đồng vọng của đất trời trở thành điệp khúc chủ âm của hoài niệm.
– Trong khói bếp chập chờn, trong khắc khoải tiếng chim tu hú, hình ảnh bà hiện ra như một bà tiên:
“Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”
Kháng chiến gian lao, chỉ có hai bà cháu côi cút, nương tựa vào nhau bởi mẹ cùng cha bận công tác ngoài chiến trường. Nhưng đối với cháu, đó vẫn là một quãng thời gian ngập tràn hạnh phúc bởi cháu vẫn được sống trong tình yêu thương trọn vẹn, trong sự cưu mang, bảo ban, chăm sóc của bà. Bằng một loạt những động từ: “kể”, “bảo”, “dạy”, “chăm” người đọc cảm nhận được công lao của bà đối với cháu. Bà đã thay cha mẹ chăm sóc, yêu thương cháu, thay thầy dạy dỗ, bảo ban cháu. Bà luôn ở bên cạnh cháu, nuôi dậy cháu nên người. Bà là kết tinh của “công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy”.
– Chỉ một khổ thơ với 11 dòng mà hai từ “bà” – “cháu” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần gợi lên hình ảnh bà cháu sóng đôi, quấn quýt, găn bó không rời.
=> Ký ức đẹp nhất trong tuổi thơ của cháu là hình ảnh bà và bếp lửa. Bà là người giữ lửa cho cuộc đời ấm áp. Với Bằng Việt, bà đã trở thành biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam lặng thầm mà cao cả.
3. Tổng kết vấn đề
Đề thi vào 10 môn Văn Hải Dương năm 2019
Đề bài
Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu nêu ở dưới:
“Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh.
Không lo cực nhọc”
(SGK Ngữ văn 9, tập II, NXB GD Việt Nam, trang 72)
Câu 1. Đoạn thơ trên trích trong tác phẩm nào? Do tác giả nào sáng tác? (0,5 điểm)
Câu 2. Em hiểu “Sống như sông như suối” là sống như thế nào? (0,5 điểm)
Câu 3. Hãy tìm và nêu ngắn gọn tác dụng của 01 biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ. (1,0 điểm)
Câu 4. Trong đoạn thơ, người cha đã thể hiện mong muốn gì? Theo em, những mong muốn đó có ý nghĩa như thế nào? (1,0 điểm)
Phần II. Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Em hãy viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ của mình về thái độ cần có với quê hương đất nước.
Câu 2 (5,0 điểm)
Trình bày cảm nhận của em về tình cha con trong đoạn trích sau:
"... Đến lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi bắt tay hết mọi người, anh Sáu mới đưa mắt nhìn con, thấy nó đứng trong góc nhà.
Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng lại sợ nó giấy lên lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao.
- Thôi! Ba đi nghe con! - Anh Sáu khe khẽ nói.
Chúng tôi, mọi người - kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi. Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:
- Ba... a... a...ba!
Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xẻ cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng "ba" mà nó có đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng "ba" như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thốt lên và dang hai tay ôm chặt lấy cô ba nó. Tôi thấy làn tóc tơ sau ót nó như dựng đứng lên."
(“Chiếc lược ngà” - Nguyễn Quang Sáng, Ngữ văn 9, tập 1, NXB GD Việt Nam, trang198)
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1
|
Đoạn thơ trên trích trong tác phẩm nào? Do tác giả nào sáng tác? (0,5 điểm) |
Phương pháp: căn cứ bài Nói với con
Cách giải:
- Tác phẩm: Nói với con
- Tác giả: Y Phương.
Câu 2
|
Em hiểu “Sống như sông như suối” là sống như thế nào? (0,5 điểm) |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Có thể hiểu “Sống như sông như suối” là: lối sống hồn nhiên, trong sáng, mạnh mẽ, phóng khoáng, vượt lên mọi gập ghềnh của cuộc đời.
Câu 3
| Hãy tìm và nêu ngắn gọn tác dụng của 01 biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ. (1,0 điểm) |
Phương pháp: phân tích, căn cứ biện pháp so sánh
Cách giải:
- Biện pháp nghệ thuật: so sánh “Sống như sông như suối”
- Tác dụng:
+ Cách nói giàu hình ảnh, giúp người đọc dễ hình dung.
+ Với việc sử dụng biện pháp so sánh tác giả nhấn mạnh lối sống hồn nhiên, phong khoáng để vượt qua mọi khó khăn của cuộc sống.
Câu 4
|
Trong đoạn thơ, người cha đã thể hiện mong muốn gì? Theo em, những mong muốn đó có ý nghĩa như thế nào? (1,0 điểm) |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
- Mong muốn của người cha với con:
+ Sống trên đá không chê đá gập gềnh
+ Sống trong thung không chê thu nghèo đói
+ Sống như sông như suối/ Lên thác xuống gềnh/ Không lo cực nhọc
- Ý nghĩa: Nhắc nhở con phải biết:
+ Yêu quý, trân trọng quê hương, nơi mình được sinh ra.
+ Tiếp nối truyền thống của cha ông: kiên cường, dũng cảm vượt qua mọi khó khăn.
Phần II
Câu 1
| Em hãy viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ của mình về thái độ cần có với quê hương đất nước |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: Thái độ cần có với quê hương
2. Bàn luận vấn đề
- Quê hương là nơi mình được sinh ra, lớn lên, nơi có biết bao ki niệm tuổi thơ.
- Vai trò của quê hương đối với con người:
+ Quê hương là nơi ta được sinh ra, nuôi dưỡng ta khôn lớn.
+ Quê hương luôn bồi đắp cho con người những giá trị tinh thần cao quí (tình làng nghĩa xóm, tình cảm quê hương, gia đình sâu nặng...).
+ Quê hương luôn là điểm tựa vững vàng cho con người trong mọi hoàn cảnh, là nguồn cổ vũ, động viên, là đích hướng về của con người.
- Thái độ cần có với quê hương:
+ Biết trân trọng, yêu quý quê hương.
+ Có thái độ sống tích cực, lối sống vì quê hương phục vụ, cống hiến để xây dựng quê hương giàu mạnh.
+ Bảo vệ và giữ gìn những vẻ đẹp vốn có của quê hương
+ …
- Bàn bạc mở rộng:
+ Phê phán một số người không coi trọng quê hương, không có ý thức xây dựng quê hương, thậm chí quay lưng, phản bội quê hương.
+ Tình yêu quê hương cũng đồng nhất với tình yêu đất nước, Tổ quốc.
- Liên hệ bản thân:
+ Xây đắp, bảo vệ quê hương, phát huy những truyền thống tốt đẹp của quê hương là trách nhiệm, là nghĩa vụ thiêng liêng của mổi con người.
+ Là học sinh, ngay từ bây giờ phải tu dưỡng, tích lũy kiến thức để sau này xây dựng, bảo vệ quê hương.
Câu 2
|
Trình bày cảm nhận của em về tình cha con trong đoạn trích sau: "... Đến lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi bắt tay hết mọi người, anh Sáu mới đưa mắt nhìn con, thấy nó đứng trong góc nhà. Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng lại sợ nó giấy lên lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao. - Thôi! Ba đi nghe con! - Anh Sáu khe khẽ nói. Chúng tôi, mọi người - kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi. Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên: - Ba... a... a...ba! Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xẻ cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng "ba" mà nó có đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng "ba" như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thốt lên và dang hai tay ôm chặt lấy cô ba nó. Tôi thấy làn tóc tơ sau ót nó như dựng đứng lên." (“Chiếc lược ngà” - Nguyễn Quang Sáng, Ngữ văn 9, tập 1, NXB GD Việt Nam, trang198) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
Về hình thức: đáp ứng yêu cầu hình thức một bài văn: có 3 phần (MB,TB,KB)
Về nội dung: Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, miễn sao có thể thấy được sự thay đổi trong hành động, ý thức của bé Thu trong tình cảm, hành xử đối với người cha của mình.
Sau đây là gợi ý dàn bài chi tiết:
1. Mở bài:
- Dẫn dắt.
- Giới thiệu về tác giả Nguyễn Quang Sáng, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm "Chiếc lược ngà".
- Giới thiệu đoạn trích: đoạn trích miêu tả cảnh bé Thu nhận ông Sáu là cha trước khi ông Sáu lên đường trở lại chiến trường.
2. Thân bài:
- Giới thiệu khái quát về hoàn cảnh của hai cha con: Anh Sáu đi kháng chiến chống Pháp từ khi đứa con duy nhất của anh chưa đầy một tuổi. Từ đó hai ba con chưa hề gặp lại nhau, cho đến khi anh được nghỉ phép ba ngày, anh đã trở vể thăm gia đình, nhưng đứa con gái tám tuổi không chịu nhận ba.
- Sau khi nghe bà ngoại giải thích, bé Thu đã trở về nhà trong sáng ngày ông Sáu lên đường về đơn vị. Con bé đã thay đổi hoàn toàn thái độ trong sự ngỡ ngàng của ông Sáu và mọi người.
+Nó cau có, bướng bỉnh mà buồn rầu và nghĩ ngợi sâu xa.
+Khi bắt gặp cái nhìn trìu mến, buồn bã của ba đôi mắt nó bỗng xôn xao. Đó là cái xôn xao của sự đồng cảm. Bé Thu nhận ra những tiếc nuối, xót xa, yêu thương trong ánh mắt của ba mình.
+Đến giây phút cuối cùng, khi ông Sáu cất lời từ biệt con bé mới cất lên tiếng gọi ba xé lòng
- Tiếng gọi bị kìm nén suốt 8 năm
- Tiếng gọi chất chứa bao tình yêu thương thắm thiết.
+Không chỉ vậy, nó xô đến ôm chặt lấy ba, hôn ba, hôn lên vết thẹo:
- Con bé muốn giữ chặt ba, không cho ba đi.
- Nó lo sợ ba sẽ đi mất.
- Nó muốn bày tỏ tất cả tình yêu của mình dành cho ba.
->Trong khoảnh khắc, mọi khoảng cách với ba bị xóa bỏ. Cô bé không dấu diếm sự gắn bó và tình cảm của mình dành cho ba -> khiến mọi người xúc động.
->Miêu tả biến đổi tình cảm của bé Thu, tác giả đã 1 lần nữa tô đậm tình yêu ba tha thiết. Khi lạnh nhạt cũng như khi quấn quýt, bé Thu đều hướng đến ba mình.
->Qua đó, ta thấy bé Thu gan góc, bướng bỉnh nhưng rất giàu tình cảm và dễ xúc động.
- Đối với ông Sáu : Khi chia tay, ông bộc lộ tình yêu con sâu nặng.
+Anh không dám lại gần con, chỉ nhìn con bằng ánh mắt trìu mến, buồn râu.
->Ánh mắt cho thấy nỗi xót xa, cả sự yếu đuối của 1 người lính trước tình cảm gia đình.
+Giọt nước mắt mà ông cố dấu, lời hứa trở về cùng chiếc lược ngà cho con đã gói trọn tình cảm yêu thương, gắn bó sâu sắc, mãnh liệt mà ông dành cho con.
=>Tình yêu con của ông Sáu đã chiến thắng mọi khoảng cách của sự biệt li. Tình cảm ấy luôn vẹn nguyên, ấm áp và tràn đầy.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
