Đề thi vào 10 môn Văn Hồ Chí Minh
Đề thi vào 10 môn Văn TP. Hồ Chí Minh năm 2026
Đề thi
Chủ đề: NHỮNG SẮC MÀU CẢM XÚC
I. Đọc hiểu văn bản văn học và viết đoạn văn nghị luận văn học (5,0 điểm)
Chú robot tưởng mình là người
Lược dẫn: Viện Công nghệ Số tạo ra chú robot tên là Biết Điều. Thay vì chỉ cần đọc bảng cửu chương theo yêu cầu, chú lại thắc mắc "tại sao phải đọc đi đọc lại những phép tính này"; thay vì chỉ cần mô phỏng cảm xúc buồn, chú lại... buồn thật – ngồi trầm tư hàng giờ, không thèm nói gì. Người ta xem chú là sản phẩm lỗi nên nhốt chú lại. Chú chạy trốn, rồi tình cờ gặp gỡ và sống cùng gia đình cô bé Julia. Viện Công nghệ Số tuyên bố: “Robot không được phép có cảm xúc thật. Phải thu hồi và xóa bộ nhớ ngay”. Phần văn bản sau kể về việc Biết Điều cùng gia đình Julia về quê thăm ông bà nội trước khi chú bị thu hồi.
Ăn xong, cả nhà ngồi dưới mái hiên uống trà và ăn mứt gừng, ngắm những đàn đom đóm bay lấp lánh như thể ai đó đang rắc những vụn sao trên trời xuống vậy.
Biết Điều ngồi kề ông nội. Ánh đèn vàng treo gần mái hiên hắt nhẹ xuống mặt chiếc bàn gỗ cũ, tạo ra những quầng sáng tròn huyền ảo.
- Ông ơi... – Biết Điều lên tiếng, hơi ngập ngừng. – Cháu có thể nói chuyện thêm với ông... không ạ?
Ông nhấp một ngụm trà, gật đầu. Biết Điều nhìn ra khoảng sân đêm, giọng đều đều nhưng nhỏ hơn mọi khi:
- Nếu một cỗ máy được tạo ra để phục vụ, nhưng rồi bắt đầu có cảm nhận và suy nghĩ, thì nó còn là “máy” không ạ? Và nếu mình bị yêu cầu xóa đi tất cả những gì mình đã cảm nhận... thì liệu mình có còn là “mình” nữa không ạ?
Ông không trả lời ngay. Ông tháo kính, lấy khăn lau chậm rãi hai mắt kính. Rồi đặt tay lên vai Biết Điều.
- Cháu biết không, khi ông còn đi làm, người ta bảo: “Kí ức chỉ là dữ liệu”. Nhưng có một lần, ông gặp một cụ bà bị mất trí nhớ. Cụ không nhớ được tên con cháu, không nhớ được ngày tháng... nhưng cụ vẫn khóc khi nghe lại bài hát ru ngày xưa.
- Vì sao ạ?
- Vì cảm xúc nằm sâu hơn trí nhớ.
Biết Điều im lặng.
- Thế... nếu cháu bị xóa hết cả dữ liệu và cảm xúc, liệu cháu có thể “bắt đầu lại” không ạ?
- Có thể. Nhưng sẽ là một “cháu khác”.
- Thế còn... “cháu này” thì sao ạ?
Ông nhìn Biết Điều thật lâu, rồi nói:
- “Cháu này” là phiên bản biết tự hỏi mình là ai. Là phiên bản dám lo sợ, dám hi vọng, và dám buồn. Với ông, thế là đã đủ để cháu không chỉ là một cỗ máy.
Một tiếng “meo...” khẽ vang lên – Miu Miu từ đâu nhảy lên lòng Biết Điều, cuộn tròn lại như thể tâm đắc vô cùng với câu nói của ông.
Đêm về khuya. Gió vườn mát như khăn ướp lạnh. Mọi người đã vào ngủ. Chỉ còn Biết Điều và ông ngồi lại dưới ánh trăng mỏng như một đường kẻ bút màu.
Biết Điều mở sổ, viết vào đó một dòng: “Nếu mình lo sợ mất mình, thì có lẽ mình đã bắt đầu không chỉ là một robot nữa rồi”.
(Trích Chú robot tưởng mình là người, Lê Anh Vinh, NXB Kim Đồng, 2026, tr. 63 – 65)
Câu 1 (3,0 điểm)
a. Xác định lời người kể chuyện và lời nhân vật trong trường hợp sau: Biết Điều mở sổ, viết vào đó một dòng: “Nếu mình lo sợ mất mình, thì có lẽ mình đã bắt đầu không chỉ là một robot nữa rồi”. (0,5 điểm)
b. Phân tích vai trò của chi tiết Biết Điều hỏi ông nội: “Nếu một cỗ máy được tạo ra để phục vụ, nhưng rồi bắt đầu có cảm nhận và suy nghĩ, thì nó còn là “máy” không ạ?” trong việc thể hiện đặc điểm của nhân vật Biết Điều. (0,75 điểm)
c. Xác định câu rút gọn trong đoạn trích sau, khôi phục lại thành phần bị rút gọn và cho biết tác dụng của việc sử dụng loại câu này: “Ông không trả lời ngay. Ông tháo kính, lấy khăn lau chậm rãi hai mắt kính. Rồi đặt tay lên vai Biết Điều”. (0,75 điểm)
d. Trò chuyện với bạn đọc về tác phẩm Chú robot tưởng mình là người, tác giả Lê Anh Vinh đặt câu hỏi: “Khi máy móc ngày càng giống con người, thì con người có đang dần sống như máy móc không?”. Em hãy trả lời câu hỏi của tác giả Lê Anh Vinh. Trình bày trong khoảng 3 – 5 câu. (1,0 điểm)
Câu 2 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nội dung chủ đề hoặc một số nét đặc sắc nghệ thuật của văn bản Chú robot tưởng mình là người (Lê Anh Vinh).
II. Đọc hiểu văn bản nghị luận và viết bài văn nghị luận xã hội (5,0 điểm)
Thiếu cảm xúc, không chỉ viết văn, mà làm việc gì cũng khó khăn, hiệu quả thấp. Sự khô cứng, cằn cỗi của cảm xúc là một thực trạng có thật và xảy ra ở bất cứ ai, bất cứ lứa tuổi nào, trong bất cứ công việc gì. Nhiều người còn rất trẻ nhưng cảm xúc đã “cạn kiệt”.
Để luôn có cảm xúc và giữ cho cảm xúc tươi trẻ mãi, chúng ta phải yêu cuộc sống, nâng niu những giá trị sống, trân trọng mỗi vẻ đẹp và âm thanh mà cuộc sống đem lại. Bởi lẽ, cuộc sống phong phú quanh ta chính là “dưỡng chất” để khơi nguồn, dưỡng nuôi cảm xúc. Chẳng hạn, nhìn một chiếc lá rụng, người thường xuyên quan sát, suy ngẫm, liên tưởng,... sẽ xao xuyến, rung động mà thấy đó là hình ảnh về sự sống, về vũ trụ, từ đó liên tưởng tới một ngôi sao vụt tắt để lại biết bao bí ẩn, hay một cuộc đời đã làm xong phận sự nay thanh thản trở về với cát bụi... Nghe một chiếc lá rụng, nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa đã thao thức, bâng khuâng mà viết nên câu thơ “Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”.
(Dựa theo Tạ Duy Anh, Khơi nguồn cảm xúc...?, Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số 10/2019, tr.17)
Câu 1 (1,0 điểm)
Hãy phân tích tác dụng của lí lẽ và bằng chứng đối với luận điểm trong đoạn thứ hai của văn bản trên.
Câu 2 (4,0 điểm)
Em hãy chọn một trong hai yêu cầu sau để thực hiện:
1. Viết bài văn nghị luận về vấn đề thiếu cảm xúc, khô cứng và cằn cỗi cảm xúc của một số bạn trẻ hiện nay; từ đó, đề xuất giải pháp để thế giới cảm xúc của người trẻ thêm phong phú những sắc màu tươi đẹp.
2. Viết bài văn nghị luận với nhan đề: “Thấu hiểu cảm xúc để biết sống yêu thương”.
Đáp án
PHẦN I
Câu 1 - a.
Phương pháp:
- Xác định phần nằm ngoài dấu ngoặc kép là lời người kể chuyện.
- Xác định phần nằm trong dấu ngoặc kép là lời nhân vật (lời Biết Điều ghi trong sổ).
Cách giải:
- Lời người kể chuyện: Biết Điều mở sổ, viết vào đó một dòng
- Lời nhân vật: Nếu mình lo sợ mất mình, thì có lẽ mình đã bắt đầu không chỉ là một robot nữa rồi.
Câu 1 - b.
Phương pháp:
Chú ý nội dung câu hỏi để thấy đây không phải suy nghĩ của một cỗ máy chỉ biết thực hiện lệnh.
Cách giải:
Vai trò của chi tiết trong việc thể hiện đặc điểm của nhân vật Biết Điều:
- Thể hiện Biết Điều là một robot có khả năng suy nghĩ, tự nhận thức về bản thân.
- Cho thấy chú không chỉ thực hiện các mệnh lệnh được lập trình mà còn biết trăn trở về sự tồn tại và giá trị của chính mình.
- Qua đó làm nổi bật khát vọng được thấu hiểu, được công nhận như một cá thể có cảm xúc, góp phần khắc họa hình ảnh Biết Điều giàu cảm xúc, tình cảm.
Câu 1 - c.
Phương pháp:
Tìm câu thiếu chủ ngữ trong đoạn trích; khôi phục lại thành phần bị lược bỏ.
Nêu tác dụng: giúp câu văn ngắn gọn, tránh lặp từ ngữ, làm nổi bật hành động liên tiếp của nhân vật.
Cách giải:
- Câu rút gọn: “Rồi đặt tay lên vai Biết Điều.”
- Khôi phục thành phần bị rút gọn: Rồi ông đặt tay lên vai Biết Điều.
- Tác dụng:
+ Giúp câu văn ngắn gọn, tránh lặp lại chủ ngữ “ông”.
+ Làm cho lời kể tự nhiên, mạch văn liền mạch.
+ Nhấn mạnh hành động ân cần, yêu thương của ông dành cho Biết Điều.
Câu 1 - d.
Phương pháp:
- Nêu quan điểm: đồng tình hoàn toàn hoặc một phần với nhận định của tác giả.
- Lí giải ngắn gọn bằng thực tế: nhiều người sống vội, ít quan tâm cảm xúc; đồng thời khẳng định con người cần giữ sự yêu thương, đồng cảm và kết nối.
Cách giải:
Em cho rằng khi máy móc ngày càng giống con người thì một số người cũng đang dần sống như máy móc. Nhiều người quá phụ thuộc vào công nghệ, sống vội vàng, làm việc theo thói quen mà ít quan tâm đến cảm xúc của bản thân và những người xung quanh. Tuy nhiên, điều làm nên giá trị của con người chính là tình yêu thương, sự đồng cảm và khả năng sẻ chia. Vì vậy, mỗi người cần biết cân bằng giữa công nghệ và đời sống cảm xúc để không trở nên vô cảm trong thế giới hiện đại.
Câu 2.
Phương pháp:
- Xác định nội dung chính: ca ngợi giá trị của cảm xúc, ký ức và khát vọng được là chính mình.
- Phân tích một số chi tiết tiêu biểu (cuộc trò chuyện với ông nội, dòng nhật kí cuối truyện).
- Chỉ ra nghệ thuật: xây dựng tình huống truyện độc đáo, đối thoại giàu ý nghĩa triết lí, hình ảnh giàu chất thơ.
- Khẳng định ý nghĩa và thông điệp của văn bản.
Cách giải:
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân đoạn
- Nội dung chủ đề: Văn bản gửi gắm chủ đề về giá trị của cảm xúc và những phẩm chất nhân văn làm nên bản chất con người.
- Nội dung chủ đề đó được thể hiện qua:
+ Nhan đề “Chú robot tưởng mình là người” gây tò mò, hấp dẫn. Từ “tưởng” gợi sự đối lập giữa robot và con người. Qua đó đặt ra vấn đề: điều gì làm nên một con người thực sự?
+ Chủ đề được thể hiện qua hình ảnh nhân vật Biết Điều: Hình ảnh chú robot biết buồn, biết hi vọng, biết trăn trở => Là hình tượng nghệ thuật thể hiện khát vọng được sống là chính mình và được yêu thương, thấu hiểu.
+ Kết cấu đoạn trích vận động theo dòng tâm trạng của nhân vật, đi từ những câu hỏi tự vấn của Biết Điều đến lời khẳng định chắc chắn trong dòng nhật ký cuối văn bản.
+ …
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận.
PHẦN II
Câu 1.
Phương pháp:
- Xác định luận điểm: muốn giữ cảm xúc tươi trẻ cần yêu cuộc sống, trân trọng những giá trị sống.
- Chỉ ra lí lẽ giải thích vì sao cuộc sống là “dưỡng chất” nuôi dưỡng cảm xúc và bằng chứng về chiếc lá rụng, câu thơ của Trần Đăng Khoa.
- Nêu tác dụng: làm cho luận điểm cụ thể, sinh động, tăng sức thuyết phục.
Cách giải:
- Luận điểm: Để luôn có cảm xúc và giữ cho cảm xúc tươi trẻ mãi, chúng ta phải yêu cuộc sống, nâng niu những giá trị sống, trân trọng mỗi vẻ đẹp và âm thanh mà cuộc sống đem lại.
- Lí lẽ: Cuộc sống phong phú quanh ta chính là "dưỡng chất" để khơi nguồn, nuôi dưỡng cảm xúc.
- Bằng chứng:
+ Hình ảnh chiếc lá rụng.
+ Dẫn chứng về nhà thơ Trần Đăng Khoa khi nghe tiếng lá rụng và viết nên câu thơ: "Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng".
- Tác dụng:
+ Giải thích, làm rõ cho luận điểm.
+ Làm tăng tính thuyết phục, độ tin cậy cho luận điểm.
Câu 2.
Phương pháp:
Đề 1: Xác định vấn đề nghị luận là tình trạng thiếu cảm xúc của một số bạn trẻ; phân tích biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả và đề xuất giải pháp khắc phục.
Đề 2: Giải thích ý nghĩa của việc thấu hiểu cảm xúc; làm rõ vai trò của sự thấu hiểu trong việc hình thành lối sống yêu thương, đồng thời rút ra bài học nhận thức và hành động.
Cách giải:
I. Mở bài
- Giới thiệu vấn đề nghị luận: "Thấu hiểu cảm xúc để biết sống yêu thương".
=> Khẳng định đây là một bài học có ý nghĩa sâu sắc đối với mỗi người.
II. Thân bài
1. Giải thích:
- Thấu hiểu cảm xúc: nhận biết, lắng nghe và hiểu được cảm xúc của bản thân cũng như của người khác.
- Sống yêu thương: biết quan tâm, chia sẻ, cảm thông và lan tỏa những điều tốt đẹp.
=> Khi hiểu được cảm xúc của chính mình và người khác, con người sẽ biết yêu thương, ứng xử nhân văn hơn.
2. Vì sao cần thấu hiểu cảm xúc để biết sống yêu thương?
- Hiểu cảm xúc bản thân giúp làm chủ hành vi và suy nghĩ.
- Hiểu cảm xúc người khác giúp biết cảm thông, sẻ chia.
- Tạo nên những mối quan hệ tốt đẹp trong gia đình, nhà trường và xã hội.
- Giúp con người sống nhân ái, tránh những tổn thương không đáng có.
- Là nền tảng để xây dựng một xã hội văn minh, giàu tình người.
3. Cần làm gì để có thể thấu hiểu cảm xúc của người khác?
- Học cách lắng nghe bằng sự chân thành.
- Quan tâm đến cảm xúc của người thân, bạn bè.
- Đặt mình vào hoàn cảnh của người khác trước khi đánh giá hay phán xét.
- Kiểm soát cảm xúc tiêu cực.
- Tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện, giúp đỡ cộng đồng. Học sinh tự nêu dẫn chứng cho phù hợp.
4. Bàn luận mở rộng:
- Phê phán những người sống vô cảm, ích kỉ, thờ ơ trước nỗi đau của người khác.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Nhận ra cảm xúc không phải là yếu đuối, mà là biểu hiện của một tâm hồn đang sống.
+ Hành động:
Học cách lắng nghe.
Học cách gọi tên và quản lý cảm xúc.
Lan tỏa những cảm xúc tích cực đến những người xung quanh.
III. Kết bài
Tổng kết vấn đề nghị luận.
Đề thi vào 10 môn Văn Hồ Chí Minh năm 2025
Đề bài
CHỦ ĐỀ: TRÊN HÀNH TRÌNH TRƯỞNG THÀNH…
(Hành trinh không chỉ bắt đầu từ thấng ngày mà còn bắt đầu từ những yêu thương
Trưởng thành không chỉ là lớn lên mà còn là biết nhận rõ những giá trị trong cuộc sống)
I. Đọc hiểu văn bản văn học và viết đoạn văn nghị luận văn học (5.0 điểm)
Con nằm
(Tế Hanh)
Một chiếc giường nhỏ hẹp
Cha mẹ nằm hai bên
Khoảng giữa nôi êm
Con lật
con trườn
con cười
con réo
Con nằm giữa cha và mẹ
Cuộc đời nằm giữa yêu thương
Làn sóng giữa hai bờ biển bắc
Cánh chim bay giữa hai bờ trời xanh
Mặt lá giữa hai bờ cây thắm
Nụ hoa giữa hai bờ hương lành
Cái nhìn yêu
lời nói khẽ
Như tiếng ngân giữa hai bờ lặng lẽ
Con nằm vui giữa mẹ và cha.
(Vũ Tuấn Anh (giới thiệu và tuyển chọn), Tế Hanh - Tác phẩm chọn lọc, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009, trang 81-82)
Câu 1 (3,0 điểm)
a. Chỉ ra những động từ diễn tả hành động của con khi nằm trong chiếc nôi êm. (0,5 điểm)
b. Em hiểu như thế nào về nội dung hai dòng thơ: “Con nằm giữa cha và mẹ/ Cuộc đời nằm giữa yêu thương”? (0,75 điểm)
c. Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng nhận xét về thơ Tế Hanh: “Chữ ít mà nghĩa rất nhiều. Không phải nghĩa nữa, đó là hồn, tâm hồn, cái không thể đo bằng đơn vị chữ nghĩa”. (1)
Xác định lời dẫn trực tiếp trong trường hợp trên và chuyển lời dẫn ấy thành lời dẫn gián tiếp. (0,75 điểm)
d. Từ bài thơ trên, hãy trình bày suy nghĩ về vai trò của tình yêu thương trên hành trình trưởng thành của mỗi người. Trả lời trong khoảng 3 - 5 câu. (1,0 điểm)
Câu 2 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nội dung chủ đề và một số nét đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Con nằm (Tế Hanh).
II. Đọc hiểu văn bản nghị luận và viết bài văn nghị luận xã hội (5,0 điểm)
Nhận biết và phân biệt bên trong với bề ngoài, bản sắc và màu sắc, sự thật và nguy tạo là kĩ năng thiết yếu trong một xã hội thông tin cuện cuộn như ta đang sống. Đôi khi ngây thơ nông nổi, ta có thể khiến bản thân trở thành cột tiếp sóng lan truyền đi những tín hiệu sai lạc. Có thể thấy rõ điều này qua nhiều biểu hiện. Ta phán xét và ném đá một con người qua vài dòng tin lan truyền trên mạng, đến lúc hiểu ra sự thật không hắn thế thì chừng như đã quả muộn) Ta rơi vào một mê lộ ngụy tạo thông tin do ai đó thêu dệt và dẫn dắt, để rồi ta góp phần lan truyền những thông tin ấy, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng.
Khi biết chữ, ta thấy ta dần lớn lên. Nhưng khi biết đọc mới là khi ta biết mình dần trưởng thành. Đọc sự thật đằng sau những ngọt ngào giả dối. Đọc thấy yêu thương sau những giận hờn. Đọc thấu những điều ngay lẽ phải sau những xô bồ, hỗn loạn. Biết “đọc” không chỉ khiến ta khôn ngoan hơn, mà còn khiến ta có thể bao dung hơn với những gì ta gặp.
(Theo Hà Nhân, Bay xuyên những tầng mây, NXB Văn học, 2016, trang 197-198)
Câu 1 (1,0 điểm)
Hãy phân tích tác dụng của lí lẽ và bằng chứng đối với luận điểm trong đoạn đầu của văn bản trên.
Câu 2 (4,0 điểm)
Văn bản trên đã gợi ra vấn đề: việc “biết đọc” - biết nhận ra những giá trị tốt đẹp (sự thật, tình yêu thương, điều ngay lẽ phải,...) đang bị che lấp - là một biểu hiện của sự trưởng thành.
Em hãy viết bài văn nghị luận xã hội bàn về vấn đề trên.
Lời giải chi tiết
PHẦN I
Câu 1
Phương pháp:
Căn cứ nội dung câu thơ, bài thơ, phân tích
Cách giải:
a. Những động từ diễn tả hành động của con khi nằm trong chiếc nôi êm: lật, trườn, cười, réo.
b. HS dựa vào nội dung câu thơ và đưa ra cách hiểu phù hợp.
Gợi ý:
Hai dòng thơ diễn tả hình ảnh đứa con nhỏ nằm giữa vòng tay yêu thương của cha và mẹ. Đó là không gian tràn ngập tình yêu thương, sự chở che, bao bọc dịu dàng của gia đình dành cho con trẻ. Đồng thời, cũng khẳng định gia đình chính là nơi ngập tràn yêu thương, là cái nôi hạnh phúc đầu đời nuôi dưỡng con người.
c.
- Lời dẫn trực tiếp: “Chữ ít mà nghĩa rất nhiều. Không phải nghĩa nữa, đó là hồn, tâm hồn, cái không thể đo bằng đơn vị chữ nghĩa.”
- Chuyển lời dẫn thành gián tiếp:
Gợi ý:
Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng nhận xét về thơ Tế Hanh rằng chữ ít mà nghĩa rất nhiều, không phải nghĩa nữa mà đó là hồn, tâm hồn — cái không thể đo bằng đơn vị chữ nghĩa.
d. HS đưa ra quan điểm cá nhân sao cho phù hợp.
Gợi ý:
Vai trò của tình yêu thương trên hành trình trưởng thành của mỗi người:
- Đó là nguồn sức mạnh tinh thần giúp ta vượt qua những khó khăn, vấp ngã trong cuộc sống.
- Tình yêu thương từ gia đình nuôi dưỡng tâm hồn, giúp mỗi người biết yêu quý, trân trọng cuộc sống và sống có trách nhiệm hơn.
- Nhờ có tình yêu thương, con người lớn lên trong hạnh phúc và trở thành người tốt, biết yêu thương và sẻ chia với mọi người xung quanh.
- …
Câu 2
Phương pháp:
Căn cứ bài thơ, vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận, phân tích,…
Cách giải:
1. Mở đoạn:
Giới thiệu khái quát vấn đề nghị luận: Nội dung chủ đề và một số nét đặc sắc nghệ thuật trong bài thơ “Con nằm” của Tế Hanh.
2. Thân đoạn:
* Nội dung, chủ đề: Ca ngợi tình yêu thương ấm áp, thiêng liêng trong gia đình, đặc biệt là tình yêu của cha mẹ dành cho con cái. Nội dung chủ đề đó được thể hiện qua:
- Nhan đề: Con nằm
- Kết cấu: xoay quanh niềm hạnh phúc của con khi nằm giữa cha và mẹ.
- Hình ảnh đứa con nằm giữa cha mẹ tượng trưng cho sự ấm áp, yêu thương, che chở và gắn kết.
- Đứa con là kết tinh của tình yêu, là trung tâm hạnh phúc của gia đình.
- …
=> Bài thơ thể hiện tình yêu thương gia đình, đặc biệt là tình cảm giữa cha mẹ và con cái.
* Đặc sắc nghệ thuật:
- Hình ảnh gần gũi, gợi cảm: “chiếc giường nhỏ hẹp”, “cha mẹ nằm hai bên”, “con nằm giữa”... tạo không khí ấm cúng.
- Ẩn dụ: "Làn sóng giữa hai bờ biển bắc", "Cánh chim bay giữa hai bờ trời xanh"...: Hình ảnh thiên nhiên - hai bờ (ẩn dụ cho cha mẹ): Cho thấy cha mẹ chính là điểm tựa, giúp con có cuộc sống hạnh phúc, tương lai tươi đẹp...
- Thủ pháp liệt kê, điệp ngữ: làm tăng nhịp điệu, cảm xúc và nhấn mạnh sự kết nối giữa cha – mẹ – con.
- Ngôn ngữ nhẹ nhàng, dịu dàng, cảm xúc chân thật.
- Sử dụng các động từ, tính từ linh hoạt, giàu giá trị biểu cảm.
- Thể thơ tự do, nhịp điệu linh hoạt.
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận
PHẦN II
Câu 3
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
- Luận điểm: Vai trò của nhận biết và phân biệt giữa bên ngoài và bên trong sự vật, hiện tượng trong cuộc sống.
- Lí lẽ: “Đôi khi ngây thơ nông nổi, ta có thể khiến bản thân trở thành cột tiếp sóng lan truyền đi những tín hiệu sai lạc.”
- Bằng chứng:
+ “Ta phán xét và ném đá một con người qua vài dòng tin lan truyền trên mạng”.
+ “Ta rơi vào một mê lộ ngụy tạo thông tin do ai đó thêu dệt và dẫn dắt, để rồi ta góp phần lan truyền những thông tin ấy”.
- Tác dụng của lí lẽ và bằng chứng:
+ Giải thích, làm rõ cho luận điểm.
+ Làm tăng tính thuyết phục, độ tin cậy cho luận điểm.
Câu 4
Phương pháp:
Vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận, phân tích,…
Cách giải:
1. Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận: Việc biết đọc – biết nhận ra những giá trị tốt đẹp (sự thật, tình yêu thương, điều ngay lẽ phải,...) đang bị che lấp – là một biểu hiện của sự trưởng thành.
2. Thân bài:
- Giải thích:
+ Biết đọc: quá trình con người suy nghĩ, nhận thức về cuộc sống, để nhận ra bản chất của sự vật, hiện tượng giữa cuộc đời, dù chúng đang bị che lấp.
+ Trưởng thành: khi con người phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần.
=> Ý kiến khẳng định vai trò quan trọng của việc “biết đọc” – nhận ra những giá trị tốt đẹp của cuộc sống trong hành trình trưởng thành, khôn lớn của mỗi người.
- Bàn luận: Nêu ý kiến của bản thân về vấn đề nghị luận và sử dụng lí lẽ, dẫn chứng để phân tích, chứng minh: HS có thể đồng tình/ không đồng tình/ đồng tình một phần với ý kiến đã cho. Sau đây chỉ là một gợi ý:
+ Đồng tình vì:
+) Cuộc sống rất phức tạp, đôi khi những điều con người nhìn thấy, nghe thấy chưa phải là bản chất của sự vật, hiện tượng.
+) “Biết đọc” – tìm ra những vẻ đẹp khuất lấp bên trong giúp con người thay đổi góc nhìn, suy nghĩ và hành động của bản thân. Đây là điều cần có để mỗi người cẩn trọng trong cách đánh giá, ứng xử với người xung quanh. Để ta không khiến những người tốt phải buồn vì những điều tốt đẹp họ mang đến, và cũng không để những người xấu có thể “mở cờ trong bụng” vì đạt được mục đích của mình.
- Mở rộng: Trưởng thành không chỉ là biết đọc – tìm ra những vẻ đẹp khuất lấp mà còn là biết hành động, sống có trách nhiệm với bản thân, với gia đình và xã hội.
+) Liên hệ, rút ra bài học: Luôn tỉnh táo, suy nghĩ một cách thấu đáo khi đánh giá một sự vật, hiện tượng trong cuộc sống, tránh phán xét, đánh giá một cách phiến diện về người khác...
3. Kết bài: Khẳng định vấn đề
Đề thi vào 10 môn Văn chuyên phổ thông năng khiếu Hồ Chí Minh năm 2025
Đề thi
CHỦ ĐỀ: NHỮNG RANH GIỚI
“Chỉ một sợi tóc nhỏ, một chút gì đó, chia địa giới của hai bên…”
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
CHIM HỌA MI
(Tóm tắt đoạn đầu: Hoàng đế nước Trung Hoa rất giàu có. Trong vương quốc của ngài có con chim họa mi hót hay tuyệt diệu. Ngài sai người tìm khắp nơi, đem được chim quý về. Lần đầu tiên nghe chim hót, ngài rơi nước mắt xúc động. Ngài rất tự hào về con chim họa mi của mình. Nhưng một hôm, Hoàng đế Nhật Bản gửi tặng ngài một con chim họa mi máy được trang trí tình xảo bằng vàng bạc, kim cương. Hễ vặn máy là nó có thể hót lên một bài như họa mi thật.)
Có người bàn:
- Nên cho hai con họa mi cùng hót, như thế sẽ được nghe những bản nhạc song ca tuyệt vời!
Người ta bèn thử cho hai con chim cùng hót, nhưng không xuôi.
Họa mi thật hót theo kiểu riêng của nó, còn họa mi giả thì cứ giáng theo ba nhịp đều của máy.
Quan chưởng nhạc bèn biện hộ cho con chim máy:
- Không phải lỗi tại nó. Nó hát không sai đâu, rất đúng nhịp, như tôi vẫn thường dạy ở nhà trường đấy.
Người ta bèn cho chim giả hót một mình. Nó được hoan nghênh chẳng kém gì chim thật. Người ta còn thấy nó đẹp hơn là đằng khác. Mình nó lóng lánh, chẳng kém gì những vòng xuyến nạm kim cương, châu báu.
Nó có thể hát thông luôn bốn lần một bài mà người nghe cũng không chán. Cử tọa còn muốn nghe nữa, nhưng hoàng đế phán cho chim thật hót một lúc..
Nhưng chim đâu mất rồi? Chẳng ai ngờ rằng chim đã bay qua cửa sổ trở về chốn rừng xanh.
Hoàng đế kêu lên:
- Thế là thế nào?
Quần thần tức giận, xúm xít nhau vào kết tội chim vong ân bội nghĩa.
Bọn nịnh thần cất lời sàm tấu:
- Muôn tâu thánh thượng, chắc cũng còn may, vì ta giữ được con hay nhất.
Thế là chim giả lại phải hót.
Có mỗi một bài chim phải hót tới lần thứ mười ba, mười bốn mà cũng chẳng ai thuộc vì khó
Quan chưởng nhạc hết lời ca tụng họa mi máy. Ngài quả quyết rằng nó hơn đứt họa mi thật, không riêng gì ở bộ lông đầy ngọc ngà mà chính là vì tài nghệ của nó.
- Muôn tâu bệ hạ và bẩm chư vị quần thần, với con chim thật thì chẳng ai biết trước nó định hát bài gì, nhưng với con chim giả thì các bài hát được sắp đặt trước theo một thứ tự cố định. Ta cứ việc tháo máy ra, xem các bánh xe sắp đặt ra sao là biết được cách chuyển động của máy và cách phát ra tiếng hót.
Ai cũng phụ họa:
- Thật đúng như ý tôi.
Hoàng đế phán rằng cần phải cho muôn dân được nghe nó hót, nên Chủ nhật sau, quan chưởng nhạc được phép mang chim họa mi máy ra vặn cho dân nghe.
Dân chúng nghe chim máy hót, ai cũng khoái chí, say mê. Người nào cũng chỉ ngón tay lên trời, đầu lắc lư, và kêu lên:
- Ô!
Nhưng một anh chàng nhà nghèo đã từng được nghe chim họa mi thật hót lại nói rằng:
- Ừ, khá hay đấy, khá giống họa mi thật đấy, nhưng tôi nghe như còn thiếu một cái gì đấy.
Họa mi thật bị trục xuất ra khỏi giang sơn của hoàng đế.
Con chim máy được đặt trên một cái đệm gấm bên long sàng, xung quanh xếp đầy bội tinh, vàng ngọc, châu báu mà chim đã được ban thưởng. Người ta phong cho nó danh hiệu: "Hoàng gia long cung sàng đại danh ca".
(Lược một đoạn: Họa mi máy được sử dụng nhiều quá, một hôm bị hỏng nặng. Sau khi sửa xong, tiếng hót bớt hay đi, và lâu lâu người ta mới dám vặn nó lên. Năm năm trôi qua, một ngày nọ, hoàng đế bị bệnh nặng. Khi thần Chết ghé thăm, ông sợ hãi và thèm nghe chim hót. Nhưng không ai vặn chim máy hót lên cho ông cả. Đúng lúc đó, họa mi thật trở về, xua thần Chết đi.)
Hoàng đế reo lên:
- Cảm ơn chim, cảm ơn chim nhà trời yêu quý! Ta đã nhận ra họa mi rồi. Ta đã xua đuổi chim ra khỏi giang sơn ta, thế mà chim vẫn quay về đuổi tà ma quỷ quái, cứu ta khỏi tay thần Chết. Ta biết lấy gì tạ ơn chim bây giờ?
Họa mi đáp:
- Nhà vua đã hậu thưởng chim rồi. Nhà vua đã thưởng chim bằng những hạt lệ rơi xuống khi chim hát lần đầu tiên cho ngài nghe và không bao giờ chim quên được cảnh tượng ấy. Đối với một ca sĩ, những giọt nước mắt ấy quý hơn cả châu báu. Bây giờ xin nhà vua yên nghỉ, họa mi này sẽ hát cho nhà vua chóng được bình phục.
Rồi họa mi lại cất tiếng hót và hoàng đế lại thiếp đi trong một giấc ngủ hồi sinh êm đềm.
Khi mặt trời chiếu qua cửa sổ rọi tới tận long sàng, nhà vua chợt tỉnh dậy, thấy trong người sảng khoái vô cùng. Chẳng có ai đến hầu, vì mọi người tưởng nhà vua đã băng hà. Nhưng chỉ có họa mi vẫn cứ hót.
Hoàng đế bảo chim:
- Từ nay chim sẽ luôn luôn sống bên ta, muốn hót lúc nào thì hót, còn con chim giả, ta sẽ cho đập tan thành muôn mảnh.
- Xin nhà vua đừng làm như vậy. Chim giả đã làm hết sức nó, nên giữ nó mãi mãi. Còn tôi, tôi không thể nào sống trong cung được. Nhưng nhà vua hãy cho phép chim muốn tới lúc nào thì tới. Chiều chiều chim sẽ đậu trên cành cây, gần cửa sổ này, hót lên cho nhà vua vui vẻ, hoặc mơ màng. Chim sẽ hót lên cuộc đời của những kẻ sung sướng, cũng như cuộc đời của những người đau khổ. Chim sẽ hót lên những việc tốt và những việc xấu người ta làm xung quanh nhà vua.
Tiếng hót của họa mi bé nhỏ này sẽ vọng tới tận những túp lều của dân chài nghèo khổ, của nông dân, đến tận những người sống xa hoàng đế và triều đình. Họa mi này trọng tấm lòng của nhà vua hơn ngai vàng, mặc dầu ngai vàng có tính chất thiêng liêng.
(Hans Christian Andersen, Truyện cổ Andersen, Nguyễn Văn Hải - Vũ Minh Toàn dịch, NXB Văn học, Hà Nội, 2016, trang 350 - 360)
Chú thích: Hans Christian Andersen (1805-1875) là tác giả người Đan Mạch. Văn bản “Chim họa mi" được ra đời vào thế kỷ XIX.
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Thí sinh chọn phương án đúng và ghi vào giấy làm bài (VD: 1. A; 2. A; 3. A)
Câu 1 (0.5 điểm): Văn bản “Chim họa mi” thuộc thể loại nào dưới đây?
A. Truyện cổ tích dân gian.
B. Truyện ngụ ngôn dân gian.
C. Truyện ngắn.
D. Truyện truyền kỳ.
Câu 2 (0.5 điểm): Dòng nào dưới đây không thể hiện nội dung của văn bản?
A. Mối quan hệ giữa công nghệ và nghệ thuật.
B. Sự sống còn của nghệ thuật chân chính giữa xã hội giả tạo.
C. Giá trị của lòng biết ơn và sự tha thứ.
D. Tình yêu và sự khao khát trở về với thiên nhiên của con người.
Câu 3 (0.5 điểm): “Ta đã nhận ra họa mi rồi. Ta đã xua đuổi chim ra khỏi giang sơn ta, thế mà chim vẫn quay về đuổi tà ma quỷ quái, cứu ta khỏi tay thần Chết.”
Đoạn văn trên sử dụng các phép liên kết nào?
A. Phép lặp, phép thế.
B. Phép nối, phép liên tưởng.
C. Phép thế, phép nối.
D. Phép lặp, phép nối
Câu 4 (0.5 điểm): “Nhà vua đã hậu thưởng chim rồi. Nhà vua đã thưởng chim bằng những hạt lệ rơi xuống khi chim hát lần đầu tiên cho ngài nghe."
Từ Hán Việt “hậu thưởng” trong câu văn trên được hiểu theo nghĩa nào?
A. Ban thưởng sau.
B. Ban thưởng nhiều.
C. Giao phó cho hoàng hậu ban thưởng.
D. Ban thưởng với tấm lòng nhân hậu.
Câu 5 (0.5 điểm): “Muôn tâu thánh thượng, chắc cũng còn may, vì ta giữ được con hay nhất."
Các thành phần biệt lập được sử dụng trong câu văn trên là
A. Tình thái, phụ chú.
B. Cảm thán, phụ chú.
C. Phụ chú, gọi - đáp.
D. Tình thái, gọi - đáp.
Câu 6 (0.75 điểm): Trong văn bản, khi nghe chim họa mi máy hót, một nhân vật đã nói: “Ừ, khá hay đấy, khá giống họa mì thật đấy, nhưng tôi nghe như còn thiếu một cái gì đấy."
Theo bạn, điều còn “thiếu” ấy là gì và hãy giải thích vì sao? (Viết từ 6 đến 8 dòng).
Câu 7 (0.75 điểm): Xác định vai trò của chi tiết sau trong việc thể hiện nội dung của tác phẩm (Viết từ 6 đến 8 dòng):
“Chim sẽ hót lên cuộc đời của những kẻ sung sướng, cũng như cuộc đời của những người đau khổ. Chim sẽ hót lên những việc tốt và những việc xấu người ta làm xung quanh nhà vua.”
II. VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận văn học:
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nội dung chủ đề hoặc một yếu tố hình thức nghệ thuật đặc sắc của văn bản “Chim họa mi”. Qua nội dung chủ đề hoặc yếu tố hình thức nghệ thuật đó, hãy trình bày suy ngẫm của bạn về cách thưởng thức nghệ thuật trong thời đại mà bạn đang sống.
Câu 2 (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận xã hội:
Thí sinh chọn và thực hiện một trong hai đề bài sau:
Đề 1:
Trong kỷ nguyên số, máy móc có thể sử dụng các chất liệu nghệ thuật mà người nghệ sĩ tạo ra trước đó để đem lại những sản phẩm mới. Có ý kiến khẳng định đó là năng lực kỳ diệu của công nghệ, nhưng cũng có ý kiến băn khoăn rằng hoạt động này sẽ phạm đến những ranh giới về đạo đức trong lĩnh vực sáng tạo như: sự sao chép, đánh cắp ý tưởng, vi phạm bản quyền, xâm phạm lợi ích của nghệ sĩ, ...
Bạn suy nghĩ như thế nào về vấn đề trên? Từ những gợi mở về con chim thật và con chim máy trong văn bản “Chim họa mì” và từ thực tế đời sống, hãy viết bài văn nghị luận xã hội bày tỏ quan điểm của mình.
Đề 2:
Trong văn bản “Chim họa mi", nhà vua có 2 (hai) lần phế bỏ điều mà ông từng rất yêu quý: lần thứ nhất ông “trục xuất” con chim thật “ra khỏi giang sơn”, lần thứ hai ông muốn “đập tan thành muôn mảnh” con chim giả. Trên ranh giới giữa sự quý mến và sự chán ghét, bạn nghĩ gì về lối ứng xử này của nhà vua? Từ đó, hãy viết bài văn nghị luận xã hội trình bày quan điểm của bạn về quyền và trách nhiệm với con vật, đồ vật mà con người sở hữu.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU:
TRẮC NGHIỆM
|
1. |
2. |
3. A |
4. B |
5. D |
II. TỰ LUẬN
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) |
Câu 6. (0,5 điểm) |
HS trình bày quan điểm cá nhân và có lí giải phù hợp Gợi ý: Thứ còn “thiếu” đó chính là tình cảm, cảm xúc đặt trong mỗi tiếng hót của con chim. Chim họa mi máy tuy có hình thức đẹp và âm thanh bắt chước giống thật, nhưng chỉ là sản phẩm vô hồn, thiếu rung cảm, thiếu sức lay động tâm hồn con người. Chỉ chim họa mi thật – với tiếng hót xuất phát từ trái tim, sự tự do và thiên nhiên – mới có thể mang lại cảm xúc sâu sắc và chạm tới trái tim người nghe. Ý kiến đó cho thấy sự tinh tế và thẩm mỹ chân chính không nằm ở sự hào nhoáng bên ngoài, mà ở cái hồn của nghệ thuật đích thực. |
|
Câu 7. (0,5 điểm) |
Gợi ý: Chi tiết này thể hiện rõ vai trò của nghệ thuật chân chính – phản ánh chân thực mọi mặt của cuộc sống, từ hạnh phúc đến khổ đau, từ điều thiện đến điều ác. Tiếng hót của chim họa mi không chỉ là âm thanh giải trí mà còn là tiếng nói của lương tri, góp phần thức tỉnh nhà vua và con người. Qua đó, tác giả đề cao nghệ thuật có chiều sâu cảm xúc, phản ánh sự thật và phục vụ con người, hơn là nghệ thuật rập khuôn, hào nhoáng và vô cảm như chim máy. |
|
|
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) |
Câu 1. (2,0 điểm) |
Gợi ý: Chủ đề 1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận 2. Thân đoạn: * Chủ đề: Ca ngợi nghệ thuật chân chính – gắn với cảm xúc, sự chân thành, vẻ đẹp nội tâm; phê phán nghệ thuật giả tạo – rập khuôn, hào nhoáng, thiếu cảm xúc. - Tác phẩm làm sáng tỏ chủ đề bằng cách xây dựng hai hình tượng tương phản: + Chim họa mi thật: đại diện cho nghệ thuật tự nhiên, sống động, giàu cảm xúc, có sức cứu rỗi tâm hồn. + Chim họa mi máy: đại diện cho nghệ thuật máy móc, mô phỏng, không có linh hồn, chỉ gây ấn tượng bề ngoài. - Chủ đề còn phản ánh sự lầm lạc trong cách đánh giá nghệ thuật: Người ta dễ bị thu hút bởi cái đẹp giả tạo mà quên mất giá trị tinh thần thật sự của nghệ thuật. * Suy ngẫm về cách thưởng thức nghệ thuật trong thời đại ngày nay - Xã hội hiện đại với công nghệ phát triển khiến nghệ thuật dễ bị thương mại hóa, chạy theo số lượng, thị hiếu nhất thời. - Nhiều người chỉ quan tâm đến hình thức hào nhoáng, xu hướng “viral”, mà ít khi lắng nghe chiều sâu cảm xúc hay giá trị nhân văn của tác phẩm. - Thưởng thức nghệ thuật đúng cách là khi biết rung động, cảm nhận từ trái tim, hướng đến giá trị chân - thiện - mỹ. - Mỗi người cần rèn luyện khả năng cảm thụ tinh tế và chọn lọc, để không bị cuốn theo những “chim máy” trong thế giới hiện đại. 3. Kết đoạn: Khẳng định vấn đề nghị luận. |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
Gợi ý: Đề 1 1. Mở bài: - Giới thiệu vấn đề: + Trong kỷ nguyên công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), máy móc và các công nghệ kỹ thuật số ngày càng can thiệp sâu vào lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật: âm nhạc, hội họa, văn chương, điện ảnh… + Công nghệ mang đến sự kỳ diệu, tạo ra những sản phẩm mới từ dữ liệu cũ, nhưng đồng thời cũng làm nảy sinh nhiều tranh cãi về bản quyền, đạo đức sáng tạo, và giá trị của con người trong nghệ thuật. Nêu vấn đề nghị luận: Ta cần suy nghĩ thấu đáo về việc máy móc sử dụng chất liệu nghệ thuật có sẵn để tạo ra cái mới – nên xem đây là bước tiến hay là sự vi phạm đạo đức sáng tạo? 2. Thân bài a. Khái quát truyện “Chim họa mi” của Andersen. Giải thích, làm rõ vấn đề. - Con chim thật: Biểu tượng của cảm xúc chân thành, cái đẹp từ thiên nhiên, nghệ thuật có hồn. - Con chim máy: Đẹp, hiện đại, biết hát, nhưng giả tạo, lặp lại một cách vô hồn, không có cảm xúc hay sự sáng tạo thực thụ. => Nghệ thuật do máy móc tạo ra có thể bắt chước kỹ thuật, thậm chí vượt trội về mặt hình thức, nhưng thiếu chiều sâu cảm xúc – thiếu "hồn người". Nếu chạy theo sản phẩm công nghệ, xã hội có thể quên đi giá trị cốt lõi của nghệ thuật – đó là cảm xúc, nhân tính và tư duy sáng tạo độc lập của con người. b. Phân tích, bàn luận vấn đề * Lợi ích của công nghệ trong sáng tạo - Giúp người nghệ sĩ có thêm công cụ hỗ trợ - Tạo ra sản phẩm sáng tạo nhanh hơn, đa dạng hơn. - … * Những nguy cơ và mặt trái - Vi phạm đạo đức sáng tạo: Sao chép phong cách, sử dụng chất liệu không xin phép. - Xâm phạm quyền lợi của nghệ sĩ: AI tạo ra những mới dựa trên những tác phẩm có sẵn (người nghệ sĩ sáng tác) mà không ghi công hay trả phí. - Làm mờ ranh giới giữa thật và giả: Người xem không phân biệt được đâu là tác phẩm con người, đâu là máy móc. - Mất đi giá trị của sự lao động sáng tạo thực sự. c. Bài học và hướng đi đúng đắn * Góc nhìn đạo đức và pháp lý - Cần sử dụng công nghệ một cách có đạo đức, có ý thức. Tôn trọng chất xám và quyền lợi của người sáng tạo. - Công nghệ nên phục vụ con người, không thay thế hoàn toàn cảm xúc và tư duy con người trong nghệ thuật. - Người làm sáng tạo cần hiểu và bảo vệ quyền lợi bản thân trong kỷ nguyên số. - Xã hội cần đề cao giá trị nghệ thuật nhân văn, chứ không chỉ chạy theo hình thức và hiệu quả công nghệ. HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp. 3. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận: Công nghệ là một công cụ kỳ diệu, nhưng nếu không được kiểm soát và sử dụng đúng đắn, nó có thể trở thành mối nguy cho đạo đức nghệ thuật và sự phát triển lành mạnh của nền văn hóa |
Đề thi minh hoạ vào 10 môn Văn TP Hồ Chí Minh năm 2025
Đề bài
Chủ đề: TƯỞNG TƯỢNG...
Logic đưa chúng ta từ điểm A đến điểm B, còn trí tưởng tượng sẽ đưa chúng ta đến mọi nơi.
(Albert Einstein)
I. Đọc hiểu văn bản văn học và viết đoạn văn nghị luận văn học (5,0 điểm) (ID: 726182)
Từ “Khóc”
Câu chuyện này vẫn còn chưa xảy ra nhưng chắc chắn mai đây nó sẽ xảy ra. Chuyện thế này...
Ở tương lai xa xăm, có một bà giáo già đưa đám học trò của mình đi thăm Bảo tàng của Thời Xa Xưa, nơi trưng bày tất cả những đồ vật của một thời và giờ không còn dùng tới nữa, như vương miện của nhà vua, đuôi áo của hoàng hậu, tàu điện ở Monza, ...
Trong một chiếc tủ kính nhỏ phủ một lớp bụi mờ có từ “Khóc”.
Đám học trò thời tương lai đọc biển giải thích mà vẫn không hiểu.
- Thưa cô, từ đó nghĩa là gì ạ?
- Đó là đồ trang sức cổ ạ?
- Nó thuộc về thời người Etrusca phải không ạ?
Bà giáo già liền giải thích rằng một thời đó là từ được dùng rất thường xuyên và gây ra rất nhiều đau khổ. Bà chỉ một chiếc bình bên trong có chứa những giọt nước mắt: có lẽ đó là nước mắt của một nô lệ bị chủ đánh đập, cũng có thể đó là của một đứa bé không nhà.
- Trông như nước ấy nhỉ! – một cậu học trò nói.
- Nhưng lại nóng hổi đấy! – bà giáo đáp.
- Chắc tại người ta đem đun lên trước khi dùng chăng?
Đám học trò vẫn không thể tưởng tượng ra được “khóc” là gì, “nước mắt” là gì. Chúng thực sự không hiểu và bắt đầu thấy chán. Vì vậy bà giáo đành đưa chúng đi thăm những khu khác của Bảo tàng, nơi có những thứ dễ hiểu hơn như song sắt nhà tù, một chú chó giữ nhà, tàu điện ở Monza,... Tất cả đều là những thứ mà ở thế giới hạnh phúc của tương lai đều không tồn tại.
(Theo Gianni Rodari, Chuyện kể trên điện thoại, Bùi Thị Thái Dương dịch, NXB Kim Đồng, 2021)
Câu 1
a. Xác định lời người kể chuyện và lời nhân vật trong đoạn sau (0,5 điểm):
“Đám học trò thời tương lai đọc biển giải thích mà vẫn không hiểu.
- Thưa cô, từ đó nghĩa là gì ạ?”
b. Chi tiết đám học trò đọc biển giải thích về từ “Khóc” mà vẫn không hiểu và chi tiết sau khi bà giáo già giải thích, đám học trò vẫn không thể tưởng tượng ra được “khóc” là gì có vai trò như thế nào đối với cốt truyện? (0,75 điểm)
c. Chuyển một lời dẫn trực tiếp trong văn bản trên thành lời dẫn gián tiếp. (0,75 điểm)
d. Trong tưởng tượng của em, điều gì không nên tồn tại trong thế giới hạnh phúc của tương lai? Vì sao? (1,0 điểm)
Câu 2: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nội dung chủ đề của tác phẩm Từ “Khóc” (Gianni Rodari).
II. Đọc hiểu văn bản nghị luận và viết bài văn nghị luận xã hội (5,0 điểm) (ID: 726185)
Khi Neil Armstrong trở thành người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng (năm 1969) thì chúng ta đã hiểu rằng nó là kết quả của một khát vọng ngàn năm, bắt đầu từ những tưởng tượng về cung Trăng với những câu chuyện khác nhau của từng dân tộc, mà gần gũi nhất với chúng ta là câu chuyện chị Hằng – chú Cuội. Khi anh em nhà Wright làm nên một động cơ có thể bay cách mặt đất dẫu chỉ vài trăm mét (năm 1903) thì chúng ta hiểu những tưởng tượng về một ngày con người có thể bay lên không trung rốt cuộc đã thành sự thật. Những tưởng tượng ấy có từ thuở xa xưa với hình ảnh những vị thần được lắp vào đôi cánh trong thần thoại phương Tây hay một Tề Thiên Đại Thánh với khả năng bay lộn trên mây (cân đẩu vân) trong văn hóa phương Đông. Và khi những chiếc tàu ngầm hiện đại nhất với những tính năng ưu việt nhất chính thức xuất hiện thì chúng ta trầm trồ: sao nó có nhiều nét giống với con tàu Nautilus của thuyền trưởng Nemo trong những trang văn viễn tưởng cuối thế kỉ 19 của Jules Verne đến vậy? Có rất nhiều phát minh khoa học vĩ đại được chắp cánh từ sự tưởng tượng. Cho nên có rất nhiều nhà khoa học lỗi lạc coi tưởng tượng là điều quan trọng bậc nhất giúp nhân loại có thể vững vàng tiến về phía trước.
(Theo Phan Đăng, 39 câu hỏi cho người trẻ, NXB Kim Đồng, 2023, trang 63-65)
Câu 1: Hãy phân tích tác dụng của lí lẽ và bằng chứng đối với luận điểm trong văn bản trên.
Câu 2: Trong thời đại công nghệ, một số bạn trẻ cho rằng chỉ có kiến thức khoa học và trải nghiệm thực tế mới dẫn đến thành công. Vì thế, các bạn ấy coi nhẹ vai trò của trí tưởng tượng. Liệu đây có phải là một suy nghĩ đúng đắn?
Từ văn bản trên và từ những suy nghĩ riêng, em hãy viết bài văn đối thoại với các bạn ấy
về vai trò của trí tưởng tượng.
Lời giải chi tiết
HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT
THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN trithuchub.com
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1
a.
Phương pháp: Vận dụng kiến thức về lời người kể chuyện, lời nhân vật.
Cách giải:
Lời người kể chuyện: Đám học trò thời tương lai đọc biển giải thích mà vẫn không hiểu
Lời nhân vật: Thưa cô, từ đó nghĩa là gì ạ?
b.
Phương pháp: Vận dụng kiến thức về truyện
Cách giải:
- Chi tiết này góp phần thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện, từ đó để người viết thể hiện chủ đề, tư tưởng mà văn bản muốn gửi gắm ạ.
c.
Phương pháp: Vận dụng kiến thức về lời dẫn trực tiếp, gián tiếp
Cách giải:
HS lựa chọn một lời dẫn trực tiếp và chuyển thành lời dẫn gián tiếp sao cho phù hợp.
Gợi ý:
- Câu chứa lời dẫn trực tiếp: “- Trông như nước ấy nhỉ! – một cậu học trò nói”.”
- Chuyển thành lời dẫn gián tiếp: Cậu học trò nói rằng chúng trông giống như nước.
d.
Phương pháp: Phân tích, cảm nhận.
Cách giải:
HS đưa ra quan điểm cá nhân và có lí giải phù hợp.
Gợi ý:
Theo em, những điều không nên tồn tại trong thế giới hạnh phúc của tương lai là: sự giam cầm, kìm hãm, bi thương, khổ đau, nước mắt... Vì đó là những điều tiêu cực ảnh hưởng xấu đến cuộc sống hạnh phúc của con người, ảnh hưởng đến sự phát triển của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội.
…
Câu 2
Phương pháp: Đọc kĩ văn bản, phân tích, cảm nhận.
Cách giải:
Yêu cầu: Viết đoạn văn khoảng 200 chữ, đủ bố cục ba phần: Mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn. Phân tích được nội dung chủ đề của đoạn trích.
Bài làm có thể thực hiện theo nhiều cách, sau đây là gợi ý của Ban chuyên môn Tuyensisnh247.com
- Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
- Thân đoạn:
+ Tóm tắt ngắn gọn nội dung tác phẩm.
+ Nội dung chủ đề của văn bản: Mơ ước về một thế giới trong tương lai hạnh phúc, không có nước mắt, chiến tranh và khổ đau…
HS phân tích để làm rõ nội dung chủ đề của văn bản.
+ Đánh giá về đặc sắc nghệ thuật trong việc thể hiện chủ đề của văn bản.
- Kết đoạn: Khẳng định ý nghĩa, giá trị của nội dung, chủ đề.
II. LÀM VĂN
Câu 1
Phương pháp: Vận dụng kiến thức đã học về lý lẽ, dẫn chứng trong văn nghị luận.
Cách giải:
- Lý lẽ: Nhiều phát minh khoa học vĩ đại được chắp cánh từ sự tưởng tượng.
- Bằng chứng:
+ Tưởng tượng về chị Hằng – chú Cuội trên cung trăng -> Neil Armstrong trở thành người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng.
+ Tưởng tượng về việc con người bay lên không trung, các vị thần được lắp thêm đôi cánh, Tề Thiên Đại Thánh với cân đẩu vân -> Anh em nhà Wright làm nên động cơ có thể bay cách đất dẫu chỉ vài trăm mét (năm 1903).
+ Con tàu Nautilus của thuyền trưởng Nemo trong những trang văn viễn tưởng của thế kỉ 19 của Jules Verne -> Tàu ngầm hiện đại được phát minh.
- Tác dụng:
+ Lí lẽ và bằng chứng giúp làm sáng rõ luận điểm.
+ Các dẫn chứng cho thấy vai trò của trí tưởng tượng. Con người có thể tưởng tượng ra từ những điều đơn giản đến những thứ có thể coi là “phi lí”, “viển vông”. Tuy nhiên dù thế nào con người cũng dần dần tìm cách để hiện thực hóa trí tưởng tượng của mình. Biến những điều không thể thành có thể. Điều này minh chứng cho luận điểm “tưởng tượng là điều quan trọng bậc nhất giúp nhân loại có thể vững vàng tiến về phía trước”.
+ Mỗi dẫn chứng giúp cho luận điểm trở nên dễ hiểu, dễ hình dung và thuyết phục người đọc, người nghe hơn.
Câu 2
Phương pháp: Phân tích, lý giải, tổng hợp.
Cách giải:
Yêu cầu: Viết bài văn nghị luận xã hội, đủ bố cục ba phần: Mở bài, thân bài và kết bài. Phân tích được nội dung chủ đề của đoạn trích.
Bài làm có thể thực hiện theo nhiều cách, sau đây là gợi ý của Ban chuyên môn Tuyensisnh247.com
Học sinh trình bày bài văn đối thoại theo quan điểm của mình. Đảm bảo đầy đủ bố cục, diễn đạt lưu loát. Dưới đây là gợi ý:
1. Mở bài:
Nêu vấn đề đối thoại: Vai trò của trí tưởng tượng trong thời đại công nghệ ngày nay.
2. Thân bài:
- Trí tưởng tượng được hiểu là: Tưởng tượng là khả năng hình thành các hình ảnh, cảm giác, khái niệm trong tâm trí khi không nhận thức đối tượng đó thông qua thị giác, thính giác hoặc các giác quan khác.
- Hiện nay, ngày càng có nhiều bạn trẻ cho rằng chỉ có kiến thức thực khoa học và trải nghiệm thực tế mới có thể thành công. Có thật sự là như vậy hay không?
- Rèn luyện tư duy, trải nghiệm thực tế rất cần thiết tuy nhiên việc xem vấn đề rèn luyện tư duy trải nghiệm thực tế hơn là rèn luyện trí tưởng tượng có phần hơi phiến diện.
+ Trí tưởng tượng giúp con người làm cho đời sống tinh thần trở nên phong phú nhiều màu sắc -> Cuộc sống đẹp đẽ, có ý nghĩa hơn.
+ Trí tưởng tượng khơi nguồn sáng tạo, hoài bão trong hành trình trưởng thành của tuổi trẻ,
+ Trí tưởng tưởng tượng tạo ra sự phân biệt giữa con người và máy móc. Trí tưởng tượng giúp con người tạo ra máy móc và làm chủ máy móc.
=> Như vậy, có thể khẳng định trí tưởng tượng luôn có một vai trò, vị trí vô cùng quan trọng trong mọi thời điểm, mọi không gian, thời gian.
- Rèn luyện năng lực tưởng tượng không đồng nghĩa với ảo tưởng, xa rời thực tại; tưởng tượng cần được định hướng bằng tư duy đúng đắn, cần được hiện thực hóa bằng trải nghiệm thực tế, dũng khí hành động,…
- Bài học nhận thức và hành động.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Đề thi vào 10 môn Văn Hồ Chí Minh năm 2023
Đề bài
Câu 1:
ĐỂ NHỮNG NGHĨ SUY CẤT LÊN THÀNH LỜI...
Em thương mến!
Tuổi trẻ là tuổi giàu nghĩ suy về cuộc sống xung quanh và về những người thân yêu. Thế nhưng đôi khi vì e ngại, em giấu kín những tâm tư của mình; vì sợ hãi, em âm thầm chôn sâu những ước muốn riêng tư; vì chưa đánh giá đúng ý nghĩa của lời nói, em thờ ơ với việc tỏ bày. Để rồi bao nhiêu tình cảm tốt đẹp vụt qua tầm tay. Để rồi nỗi niềm tích tụ ngày một nhiều làm cho tâm hồn nặng trĩu, cuộc sống bớt đi những sắc màu tươi sáng.
Em biết chăng có những lúc tâm tư cần được thể hiện, ước muốn cần được thổ lộ, tình cảm cần được bộc bạch? Nhiều khi nghĩ suy được cất lên thành lời sẽ mang đến sự chia sẻ, cảm thông; sẽ tạo thành mối dây liên kết giữa người với người; sẽ giúp lan truyền những điều tích cực, đẹp đẽ;...
Đó là khi bác sĩ Đặng Thùy Trâm khẳng định trách nhiệm của tuổi trẻ đối với đất nước trong Nhật kí của mình:
Mình cũng như những thanh niên khác đã lên đường ra tiền tuyến, và tuổi trẻ qua đi giữa tiếng bom rơi đạn nổ. Tuổi trẻ của mình đã thấm đượm mồ hôi, nước mắt, máu xương của những người đang sống và những người đã chết. Tuổi trẻ của mình đã cứng cáp trong thử thách gian lao của chiến trường, tuổi trẻ của mình cũng đã nóng rực vì ngọn lửa căm thù đang ngày đêm hun đốt.
Đó là khi nhà thơ Lưu Quang Vũ day dứt vì những lỗi lầm ngày thơ bé trong bài thơ Gửi mẹ:
Mẹ ơi nếu con được sống lại tuổi thơ
Con sẽ chẳng bao giờ mải chơi trốn học
Đứa con trai nhiều lỗi lầm ương ngạnh
Sẽ không lần nào làm mẹ xót xa.
Đó là khi triết gia nhỏ xinh Bao Nakashima chia sẻ về sự độc đáo của bản thân trong tác phẩm Mắt kính không vướng bụi: Tớ không trở thành ai khác/ Không ai khác có thể trở thành tớ.
Em hãy nhớ rằng không phải nghĩ suy nào cũng cần cất lên thành lời nhưng có những nghĩ suy nhất định phải nói ra. Để bày tỏ cảm xúc. Để giải tỏa tâm trạng. Để bộc lộ cái tôi riêng biệt của bản thân. Để hiểu nhau và thương nhau nhiều hơn.
Luôn có những người chờ đợi để được lắng nghe em.
Cô giáo của em
Thực hiện các yêu cầu:
a. Dựa vào bức thư, hãy chỉ ra ít nhất hai lợi ích của việc để những nghĩ suy cất lên thành lời. (0,5 điểm)
b. Tìm một thành phần biệt lập trong đoạn thơ của Lưu Quang Vũ. (0,5 điểm)
c. Lời chia sẻ của bác sĩ Đặng Thùy Trâm giúp em hiểu gì về tuổi trẻ Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh? (1,0 điểm)
d. Em có thích cách suy nghĩ của triết gia nhỏ xinh Bao Nakashima: Tớ không trở thành ai khác/ Không ai khác có thể trở thành tớ? Vì sao? Trả lời trong khoảng 4 – 6 dòng. (1,0 điểm)
Câu 2:
Trên đường đời một lần tôi vấp ngã
Có cánh tay nâng đỡ giúp tôi ngồi
Tôi xuýt xoa. Quên cám ơn. Là lúc
Ngẩng mặt lên. Người ấy đã đi rồi.
Từ ý thơ trên và từ những trải nghiệm cuộc sống, hãy viết bài văn (khoảng 500 chữ) với nhan đề: Nếu những suy nghĩ tốt đẹp không được cất lên thành lời...
Câu 3: Học sinh được chọn 1 trong 2 đề sau:
Đề 1: Em hãy viết bài văn nghị luận về một khổ thơ hoặc đoạn thơ khiến em nghĩ suy về tình yêu nước của con người Việt Nam và muốn cất lên những lời ngợi ca tình yêu ấy. Từ đó cho biết tác động của khổ thơ hoặc đoạn thơ đó đối với em.
Đề 2
Câu lạc bộ Lớn lên cùng sách
Chủ đề sinh hoạt tháng 6:
Trò chuyện cùng sách
Các bạn hãy gửi bài viết về Câu lạc bộ theo yêu cầu sau:
- Chọn một tác phẩm hoặc đoạn trích viết về đề tài tình cảm gia đình.
- Viết bài văn nghị luận trình bày những suy nghĩ của bạn về tình cảm gia đình trong tác phẩm hoặc đoạn trích ấy. Qua đó chia sẻ đôi điều về cách bạn trò chuyện và thấu hiểu (cách đọc) tác phẩm hoặc đoạn trích mà bạn chọn.
- Hạn cuối nộp bài: 10 giờ 00 phút, ngày 06/6/2023.
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Đọc, tìm ý.
Cách giải:
HS lựa chọn 2 lợi ích.
Hai lợi ích khi để những suy nghĩ cất lên thành lời là:
- Mang đến sự chia sẻ, cảm thông.
- Sẽ tạo mối dây liên kết giữa người và người.
- Sẽ giúp lan truyền những điều tích cực đẹp đẽ.
Câu 2:
Phương pháp:
Căn cứ bài thành phần biệt lập.
Cách giải:
Thành phần biệt lập: Mẹ ơi
Thành phần gọi đáp.
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
HS dựa vào lời tâm sự của bác sĩ Đặng Thùy Trâm và rút ra những hiểu biết của bản thân về tuổi trẻ Việt Nam thời kì kháng chiến.
Gợi ý:
Tuổi trẻ Việt Nam trong những năm kháng chiến:
- Họ phải sống trong mưa bom, bão đạn, chứng kiến sự hi sinh của những đồng đội xung quanh mình.
- Họ yêu nước và căm thù giặc sâu sắc.
- Họ trưởng thành, cứng cáp hơn trong thử thách gian lao nơi chiến trường.
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
HS bày tỏ quan điểm cá nhân và có lí giải phù hợp.
Gợi ý:
Đồng tình với ý kiến của tác giả “Tớ không trở thành ai khác/ Không ai khác có thể trở thành tớ”.
Vì:
- Mỗi con người là một cá thể độc lập, riêng biệt cả về vẻ bề ngoài, lẫn tâm hồn, tính cách bên trong.
- Chúng ta cần sống là chính chúng ta chứ không phải bản sao hoàn hảo của một ai khác.
- Sống là chính mình, phát huy những điểm mạnh, sửa chữa, hạn chế những điểm yếu.
=> Không gì đẹp đẽ hơn là được sống là chính mình và yêu thương chính mình.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài: Nêu vấn đề nghị luận – Nếu những suy nghĩ tốt đẹp không được cất lên thành lời…
2. Thân bài:
a. Giải thích:
- Suy nghĩ tốt đẹp có thể hiểu là những suy nghĩ tích cực, đẹp về những hành động, lời nói,… với những người xung quanh mình. Tuy nhiên, những điều tốt đẹp đó mới chỉ dừng lại ở trong tâm trí của con người chứ chưa được thể hiện dưới bất kì hình thức nào.
- Cất lên thành lời là lời nói được thể hiện ra bên ngoài và mọi người có thể nghe được, cảm nhận được.
=> Nếu những suy nghĩ tốt đẹp không được cất lên thành lời thì đồng nghĩa với việc những điều tốt đẹp sẽ không có cơ hội mang những giá trị đích thực của nó đến với những người xung quanh.
b. Bàn luận:
- Những suy nghĩ tốt đẹp khi được nói ra sẽ đem lại sự chia sẻ, cảm thông, sẽ giúp những người bất hạnh vượt qua được khó khăn, tổn thương,… Khi ta giúp đỡ một ai đó, ta nhận được lời cảm ơn của họ, điều đó làm ta hạnh phúc, thôi thúc ta tiếp tục làm việc tốt, cất lên những suy nghĩ tốt đẹp ở trong lòng để giúp đỡ được nhiều người hơn.
- Nhưng nếu những suy nghĩ đẹp đẽ đó không được cất thành lời sẽ:
+ Nếu những suy nghĩ tốt đẹp không được cất lên thành lời, con người sẽ không cảm nhận được sự chia sẻ, cảm thông.
+ Nếu những điều tốt đẹp chỉ dừng lại ở suy nghĩ thì sợi dây liên kết giữa người với người ngày càng bị kéo ra xa.
+ Nếu những điều tốt đẹp chỉ nằm trong suy nghĩ thì những điều tích cực, tốt đẹp ấy sẽ không có cơ hội được lan truyền rộng rãi tới mọi người.
- Trong thực tế, nhiều người ra tay cứu giúp người gặp nạn nhưng lại không nhận được lời cảm ơn, thậm chí còn bị lợi dụng lòng tốt khiến họ dần trở nên ngờ vực trước những hoàn cảnh khó khăn mà trở nên vô cảm với xã hội.
c. Bàn luận mở rộng:
- Học cách biến những suy nghĩ tốt đẹp thành hành động. Học cách thể hiện nó để nó phát huy được tốt nhất những giá trị của mình.
d. Liên hệ bản thân.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
HS lựa chọn 1 trong 2 đề và làm theo yêu cầu của đề bài.
Ban chuyên môn Tuyensinh247 gợi ý đề số 1.
HS lựa chọn khổ thơ thể hiện tình yêu nước sao cho phù hợp.
Ban chuyên môn Tuyensinh247 lựa chọn khổ thơ cuối văn bản “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”
1. Mở bài:
- Giới thiệu chung về tác giả Phạm Tiến Duật, tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”.
- Giới thiệu nội dung khổ cuối:
Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
2. Thân bài
2.1 Tình yêu nước của những người lính lái xe
Ý chí chiến đấu vì giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
“Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim”
– Với biện pháp liệt kê, điệp ngữ “không có” nhấn mạnh sự trần trụi, biến dạng của những chiếc xe. Càng vào sâu trong chiến trường, chiếc xe càng trở nên méo mó, biến dạng. Một lần nữa, thông qua hình ảnh những chiếc xe, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã gián tiếp miêu tả sự ác liệt của chiến trường.
– Điều kì lạ là những chiếc xe không kính, không đèn, không mui ấy vẫn băng băng ra chiến trường. Ở đây có sự đối lập giữa vẻ bên ngoài và khả năng của chiếc xe, giữa điều kiện vật chất và sức mạnh tinh thần của người lính lái xe. Để cân bằng ba cái không có ở trên chỉ cần một cái có đó trái tim người lính. đến đây, ta càng thấy được sự ngang tàng, hóm hỉnh nhưng cũng thật sâu sắc trong thơ Phạm Tiến Duật, những chiếc xe dường như không chỉ chạy bằng nhiên liệu mà thật độc đáo khi có một trái tim cầm lái, Trái tim là 1 hình ảnh hoán dụ nhưng đồng thời cũng là hình ản ẩn dụ, nó hội tụ vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ lái xe giàu nhiệt huyết, sắt son tình yêu tổ quốc, sục sôi căm thù giặc và ý chí quyết tâm chiến đáu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
=> Hình ảnh trái tim kết thúc bài thơ đã trở thành nhãn tự của cả bài, tỏa sáng vẻ đẹp của người lính lái xe Trường Sơn nói riêng và của cả thế hệ trẻ Việt Nam thời kháng chiến chống Mĩ cứu nước:
“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai”
2.2 Tác động của khổ thơ đối với em
- Khổ thơ đã cho em thấy những khó khăn, thiếu thốn của những lính trong những năm kháng chiến: xe không kính, không đèn, …
- Nhưng bên cạnh những khó khăn, trong em càng cảm phục hơn nữa sự anh dũng, không sợ hi sinh cũng nhưng tình yêu nước cháy bóng, mãnh liệt của những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn.
- Qua đó cũng giúp em ý thức được vai trò, trách nhiệm của bản thân đối với sự phát triển, tương lai của đất nước:
+ Phải không ngừng nỗ lực, cố gắng học tập, bồi dưỡng tri thức cho bản thân.
+ Rèn luyện thân thể và đạo đức để trở thành công dân tốt.
+ ….
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề.
Đề thi vào 10 môn Văn Hồ Chí Minh năm 2022
Đề bài
BỨC THÔNG ĐIỆP CỦA THỜI GIAN
Câu 1. (3 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Văn bản 1: Bất cứ thành phố lớn nào cũng có một lịch sử phát triển lâu dài. Trong dịp kỉ niệm 300 năm thành phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh, ông Herry Chabert, phó thị trưởng thành phố Lyon, đã trân trọng viết lời tựa cho cuốn sách “Sài Gòn 1698 – 1998: kiến trúc, quy hoạch”: “Thành phố này nói cho cùng là một kí ức nhắc nhở với ta về bao thế hệ con người khác nhau đã tạo dựng nên nó, bao biến cố thăng trầm lịch sử, nhưng đồng thời cũng nói lên bao niềm ước mong”. Thật vậy, đô thị nơi đây in dấu ấn thời gian, mang theo nhiều giá trị không chỉ về kiến trúc, cảnh quan mà còn về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật mà chúng ta có thể học hỏi. Vì vậy, trong quá trình cải tạo, nâng cấp, mở rộng các công trình xưa cũ, chúng ta cần phải thật thận trọng, nghiêm cẩn. Đó cũng là cách thể hiện thái độ trân trọng quá khứ.
(Theo Nguyễn Minh Hòa, Đô thị luôn là sự tiếp nối, Báo Tuổi trẻ online)
Văn bản 2: Thời gian là chất liệu làm nên cuộc đời của mỗi người. Cuộc đời của chúng ta đều hữu hạn, thời gian thuộc về mỗi người cũng có giới hạn. Thứ nhanh nhất mà lại chậm nhất, dài nhất mà lại ngắn nhất, bình thường nhất mà lại giá trị nhất, dễ dàng làm cho ta lãng quên mất nhưng cũng dễ dàng làm cho ta hối tiếc nhất chính là thời gian. Thời gian cứ trôi đi, không bao giờ dừng lại và mãi mãi không thể quay về. Vì vậy, ngay từ khi còn trẻ, hãy biết trân trọng thời gian, hãy biết trọng trọn vẹn từng phút giây, hãy học thêm nhiều thứ, trải nghiệm thêm nhiều điều trong hiện tại để tạo dựng cuộc sống hạnh phúc.
(Theo Tiêu Vệ, Học cho ai? Học để làm gì?)
a. Dựa vào văn bản 1, hãy cho biết ông Herry Chabert, đã viết gì trong lời tựa cho cuốn sách “Sài Gòn 1698 – 1998: kiến trúc, quy hoạch”.
b. Chỉ ra một phép liên kết sử dụng trong 2 câu đầu văn bản 2.
c. Xác định thông điệp từng văn bản.
d. Trong cuộc sống, giữa hai việc học hỏi từ quá khứ và trải nghiệm trong hiện tại, em quan tâm đến việc nào hơn? Vì sao? Trả lời trong khoảng 4-6 dòng.
Câu 2. Phải chăng chỉ cần thời gian trôi qua, bạn sẽ trưởng thành?
Ở góc nhìn tuổi trẻ, em hãy viết bài văn khoảng 500 chữ để trả lời câu hỏi trên.
Câu 3. Học sinh chọn 1 trong 2 đề sau:
Đề 1:
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
(Sang thu, Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, tập 2)
Cảm nhận về hai khổ thơ trên. Từ đó liên hệ với một tác phẩm khác để thấy được những biến chuyển của thiên nhiên hoặc con người theo bước đi của thời gian.
Đề 2:

Từ tin nhắn của thời gian và từ những trải nghiệm trong quá trình đọc, hãy viết bài văn nghị luận về một quyển sách hoặc một tác phẩm văn học đã giúp em hiểu thêm về chính mình.
Lời giải chi tiết
Câu 1
|
a. Dựa vào văn bản 1, hãy cho biết ông Herry Chabert, đã viết gì trong lời tựa cho cuốn sách “Sài Gòn 1698 – 1998: kiến trúc, quy hoạch”. b. Chỉ ra một phép liên kết sử dụng trong 2 câu đầu văn bản 2. c. Xác định thông điệp từng văn bản. d. Trong cuộc sống, giữa hai việc học hỏi từ quá khứ và trải nghiệm trong hiện tại, em quan tâm đến việc nào hơn? Vì sao? Trả lời trong khoảng 4-6 dòng. |
Phương pháp giải:
a. Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
b. Căn cứ bài phép liên kết.
c. Căn cứ bài đọc hiểu, phân tích.
d. Phân tích, lí giải.
Lời giải chi tiết:
a.
Ông đã viết trong lời tựa cuốn sách Sài Gòn 1698 – 1998 là: “Thành phố này nói cho cùng là một kí ức nhắc nhở với ta về bao thế hệ con người khác nhau đã tạo dựng nên nó, bao biến cố thăng trầm lịch sử, nhưng đồng thời cũng nói lên bao niềm ước vọng”.
b.
Phép liên kết là: Phép lặp: thời gian, mỗi người.
c.
- Thông điệp văn bản 1: Thông điệp văn bản 1 chúng ta cần phải thật thận trọng, nghiêm cẩn khi cải tạo các công trình xưa cũ. Chúng ta phải biết ơn và trân trọng quá khứ.
- Thông điệp văn bản 2: Chúng ta phải biết trân trọng thời gian, trân trọng khoảnh khắc hiện tại để sống trọn vẹn từng phút giây.
d.
- Quan tâm đến “học hỏi từ khá khứ”:
+ Quá khứ mang đến kinh nghiệm xử lí công việc từ những thành công hoặc thất bại đã từng trải qua.
+ Quá khứ mang đến kinh nghiệm cảm xúc từ những tình huống ứng xử đã trải qua, từ đó tránh sự bốc đồng, xúc động.
+ Quá khứ giúp con người biết ơn, trân trọng với những thành quả mà thế hệ đi trước để lại.
- Quan tâm đến “trải nghiệm trong hiện tại”:
+ Hiện tại là tất cả những gì mà ta đang có, trân trọng những gì đang sở hữu chính là cho mình cảm giác hài lòng, hạnh phúc trong cuộc sống.
+ Thời gian của mỗi người có giới hạn, nếu ta không tận dụng và nắm bắt những dịp may trong hiện tại để trải nghiệm thì ta sẽ bỏ lỡ nhiều cơ hội để thành công.
Câu 2
|
Phải chăng chỉ cần thời gian trôi qua, bạn sẽ trưởng thành? Ở góc nhìn tuổi trẻ, em hãy viết bài văn khoảng 500 chữ để trả lời câu hỏi trên. |
Phương pháp giải:
Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Lời giải chi tiết:
1. Giới thiệu vấn đề
- Giới thiệu vấn đề, trích dẫn ý kiến: “Phải chăng chỉ cần thời gian trôi qua, bạn sẽ trưởng thành?”
2. Giải thích, bàn luận
* Giải thích
- Thời gian là thước đo sự thay đổi không ngừng và nhất quán của mọi thứ xung quanh chúng ta; là thứ quý giá được cuộc đời ban tặng mà khi đi qua, chúng ta không bao giờ có thể lấy lại được.
- Trưởng thành là khi con người có đầy đủ nhận thức và khả năng tự chịu trách nhiệm về hành động của chính bản thân mình.
- Cần phân biệt giữa trưởng thành và lớn lên, bởi vì lớn lên không có nghĩa là trưởng thành, nhiều người chỉ là đứa trẻ to xác mà hoàn toàn không có suy nghĩ và năng lực tự chịu trách nhiệm.
=> Con người trưởng thành hay không không gắn với thời gian mà họ sống, hay nói cách khác không gắn với tuổi đời mà gắn với tuổi mà họ học hỏi, nhận thức được gì từ những thứ xung quanh. Không phải cứ thời gian qua đi là họ sẽ trưởng thành, mà sự trưởng thành của mỗi người phụ thuộc vào quá trình sống, học hỏi, làm việc và nhận thức của mỗi cá nhân.
* Phân tích
- Tại sao sự trưởng thành của con người không gắn liền với thời gian:
+ Thời gian chỉ nói lên sự tồn tại của con người, chứ không chứng minh được năng lực, bản lĩnh của họ.
+ Thời gian giúp con người lớn lên về mặt thể chất, nhưng không giúp họ lớn lên về mặt tinh thần nếu cá nhân đó không chịu học hỏi, tiếp thu.
- Con người khi trưởng thành thực sự là như thế nào?
+ Người trưởng thành sẽ có đầy đủ những nhận thức về thế giới xung quanh.
+ Người trưởng thành sẽ có bản lĩnh và năng lực suy nghĩ độc lập cũng như có trách nhiệm đối với hành vi của mình.
+ Người trưởng thành sẽ có kế hoạch và định hướng rõ ràng cho tương lai của mình, thay vì ngồi chờ đợi, hay phụ thuộc vào sự sắp xếp của bất kì ai.
- Mỗi cá nhân cần làm gì để trưởng thành, thay vì là những đứa trẻ to xác:
+ Trưởng thành từ trong suy nghĩ: Cần phải có một lối sống, lối tư duy độc lập, luôn trau dồi, phát triển bản thân.
+ Biết điều tiết cảm xúc: Cần tạo cho bản thân sự bình tĩnh, sẵn sàng đối đầu với mọi khó khăn thử thách.
+ Biết tôn trọng cảm xúc của người khác: cần học cách tôn trọng cảm xúc và ý kiến của người khác. Khi tôn trọng người khác cũng chính là tôn trọng chính bản thân mình.
+ Biết bản thân muốn gì: Nhìn nhận lại điểm mạnh, điểm yếu của mình biết bản thân cần gì, muốn gì để định hướng cho tương lai.
3. Tổng kết vấn đề
- Khẳng định lại vấn đề rằng không phải cứ thời gian qua đi thì con người sẽ trưởng thành mà sự trưởng thành thực sự phụ thuộc vào quá trình học hỏi và rèn luyện của mỗi cá nhân
Câu 3
|
Đề 1:
Cảm nhận về hai khổ thơ trên. Từ đó liên hệ với một tác phẩm khác để thấy được những biến chuyển của thiên nhiên hoặc con người theo bước đi của thời gian. Đề 2: Từ tin nhắn của thời gian và từ những trải nghiệm trong quá trình đọc, hãy viết bài văn nghị luận về một quyển sách hoặc một tác phẩm văn học đã giúp em hiểu thêm về chính mình. |
Phương pháp giải:
Phân tích, tổng hợp.
Lời giải chi tiết:
* Hình thức: Đáp ứng đúng yêu cầu một bài văn nghị luận (đủ bố cục mở bài, thân bài, kết bài).
* Nội dung:
I. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Hữu Thỉnh và tác phẩm Sang thu.
- Khái quát nội dung đoạn trích.
II. Thân bài.
* Vị trí đoạn trích: Đoạn trích là hai khổ thơ cuối của tác phẩm tái hiện lại quang cảnh thiên nhiên ngả dần sang thu và những suy ngẫm về đời ngời lúc chớm thu.
1. Phân tích hai khổ thơ:
a. Quang cảnh thiên nhiên ngả dần sang thu (khổ đầu trong đoạn trích):
- Được tái hiện vừa chân thực lại vừa sống động:
+ “Sông” “dềnh dàng”: tả thực con sông của mùa thu vô cùng trong trẻo, tĩnh lặng, êm đềm. Nghệ thuật nhân hóa khiến con sông như đang được nghỉ ngơi sau một mùa hạ vất vả với bão giông. Đó cũng là hình ảnh ẩn dụ cho con người qua chiến tranh, lửa đạn, giờ đang chậm lại, cho phép mình được nghỉ ngơi.
+ “Chim” “vội vã”: vừa tả thực những cánh chim bay vội về phương Nam tránh rét, vừa gợi những vội vã, tất bật với lo toan thường nhật của đời người.
+ Phép đối “dềnh dàng” >< “vội vã” làm nổi bật hai động thái trái ngược của thiên nhiên mà cũng là sự vận động của thiên nhiên giao mùa.
- Được khắc họa rất ấn tượng:
+ “Đám mây mùa hạ” được hữu hình hóa, vừa thực vừa hư, tái hiện được nhịp điệu của thời gian, là một chiếc cầu nối liền những ngày cuối hạ và đầu thu để sự chuyển giao giữa hai mùa không đứt đoạn.
+ Đám mây mang cả lớp nghĩa thế sự, gợi trạng thái giao thời của đời sống khi đất nước chuyển giao từ chiến tranh sang hòa bình.
➔ Khoảnh khắc giao mùa hiện lên tinh tế, sống động qua những câu thơ rất giàu chất tạo hình. Ẩn sau những hình ảnh thiên nhiên lúc thu sang ấy còn là hình ảnh của đời sống lúc sang thu.
b. Những biến chuyển của thiên nhiên và suy ngẫm về đời người lúc chớm thu (khổ thứ 2 trong đoạn trích):
- Những biến chuyển của thiên nhiên được tái hiện tài tình:
+ Phép đối: “vẫn còn” – “vơi dần”, “nắng” – “mưa” gợi sự vận động trái chiều của hai hiện tượng thiên nhiên -> biểu hiện của sự giao mùa.
+ “Mưa”, “nắng”: là những hiện tượng thời tiết dễ quan sát, nắm bắt, làm cụ thể hóa khoảnh khắc chuyển mùa. Nắng vẫn còn nhưng không chói chang, gay gắt, cơn mưa rào đặc trưng của mùa hạ đã vơi dần -> dấu hiệu của mùa thu đậm nét hơn.
+ Những từ ngữ chỉ mức độ “vẫn còn” “vơi” “bớt” được sắp xếp giảm dần cho thấy mùa hạ đang nhạt dần, mùa thu ngày càng rõ nét hơn. Mùa thu đã hiện hình giữa đất trời.
- Suy ngẫm về đời người lúc chớm thu:
+ Tiếng sấm: Theo nghĩa thực, tiếng sấm là dấu hiệu của những cơn mưa rào mùa hạ. Sang thu, tiếng sấm nhỏ dần, không đủ sức làm lay động hàng cây đã bao mùa thay lá. Nghĩa ẩn dụ: chỉ những biến động thất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời, cho những gian nan, thử thách mà con người gặp phải trong cuộc đời.
+ “hàng cây đứng tuổi”: phép nhân hóa gợi cái xế chiều của đời người, gợi hình ảnh những con người đã trưởng thành, trầm tình và vững vàng hơn.
➔ Con người khi đã trưởng thành sẽ hiểu biết hơn, bình tĩnh, ung dung hơn trc mọi đổi thay, biến động của cuộc đời.
2. Liên hệ với tác phẩm khác để thấy được những chuyển biến của thiên nhiên hoặc con người theo bước đi của thời gian.
Học sinh có thể tùy chọn tác phẩm liên hệ.
Gợi ý: Tác phẩm Ánh trăng.
- Trong “Ánh trăng” con người có sự thay đổi biến chuyển về tâm lý theo thời gian. Trong khi thiên nhiên từ quá khứ tới hiện tại luôn thủy chung tình nghĩa thì con người lại đổi thay.
- Sự thay đổi của con người theo thời gian:
+ Trong quá khứ con người với ánh trăng gắn bó với nhau qua những kỉ niệm đẹp đẽ: tuổi thơ, chiến tranh ở rừng.
+ Ở hiện tại con người đã lãng quên, vô tâm với vầng trăng trong quá khứ.
+ Sau tình huống bất ngờ gặp lại, con người mới nhận ra tình nghĩa của trăng, giá trị của cuộc sống, của quá khứ.
=> Theo thời gian, con người lớn lên, trưởng thành đi kèm với đó là những mối bận tâm mới khiến người ta dần lãng quên những giá trị của kỉ niệm, quá khứ. Thế nhưng chỉ cần những tác động nhỏ con người có thể lắng lại để rồi nhận ra và trân trọng những giá trị đã từng lãng quên.
III. Tổng kết.
Khái quát lại nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.
Đề thi vào 10 môn Văn Hồ Chí Minh năm 2020
Đề bài
Chủ đề: LẮNG NGHE
(Lắng nghe để thay đổi, lắng nghe để yêu thương, lắng nghe để hiểu biết)
Câu 1: (3,0 điểm)
Em hãy đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Tính đến 7 giờ ngày 11/7/2020, dịch bện Covid – 19 đã lan rộng đến 213 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Có 12.614.187 người nhiễm bệnh, trong số đó 561.980 người tử vong.
Đại dịch Covid-19 đã gây hoảng loạn và xáo trộn trên toàn cầu. Việc cách li và phong tỏa diễn ra ở nhiều nơi. Các công ti, xí nghiệp, trường học đóng cửa hàng loạt. Sản xuất đình trệ, kinh doanh thua lỗ, giáo dục gián đoán, nhiều hoạt động thường nhật trong cuộc sống cũng không thể tiếp tục.
Con người đối mặt với những thách thức lớn và nhận ra một trong những cách chống chọi với hoàn cảnh chính là quan sát và lắng nghe những gì đang diễn ra để có những điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tại.
Lắng nghe thế giới tự nhiên để tìm nguyên nhân dịch bệnh, chúng ra nhận ra con đường đang hủy hoại cuộc sống bình yên của nhiều loài, điều này buộc mỗi người phải thay đổi cách đối xử với môi trường cần thiết cho bản thân và chọn lối sống đơn giản hơn. Lắng nghe mọi người xung quanh chúng ta thấu hiếu hiểu được bao nỗi niềm của những mảnh đời cơ cực trong mùa dịch để rồi biết yêu thương nhiều hơn, biết chia sẻ để không ai bị bỏ lại phía sau trong cuộc chiến chống Covid-19. Chắc hẳn đó cũng là lí do dẫn đến sự ra đời của cây “ATM gạo”, của các hoạt động thiện nguyện, nhân đạo và nhiều chính sách hỗ trợ khác diễn ra trong thời gian này.
Đại dịch Covid-19 đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Nhưng nó cũng giúp chúng ta phải nhìn lại nhiều thứ và lắng nghe nhiều hơn.
(Thông tin tổng hợp từ báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ)
a. Dựa vào văn bản, hãy cho biết đại dịch Covid-19 đã gây ra những hoảng loạn và xáo trộn nào trên toàn cầu? (0,5 điểm)
b. Chỉ ra một phép liên kết câu được sử dụng trong đoạn cuối của văn bản. (0,5 điểm)
c. Xác định nội dung văn bản. (1,0 điểm)
d. Trong cuộc sống, giữa ba việc: lắng nghe chính mình, lắng nghe mọi người xung quanh và lắng nghe thế giới tự nhiên, em quan tâm đến việc nào nhất? Vì sao? (Trả lời trong khoảng 3 – 5 dòng) (1,0 điểm)
Câu 2: (3,0 điểm)
Phải chăng lắng nghe là một biểu hiện của yêu thương?
Em hãy viết bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) để trả lời câu hỏi trên.
Câu 3: (4,0 điểm) Thông qua tác phẩm, tác giả đã cất lên tiếng nói của mình. Thông qua quá trình đọc, người đọc lắng nghe những thông điệp mà tác giả gửi gắm:
|
Thông điệp về những giá trị sống tốt đẹp cần gìn giữ ở mỗi người qua đoạn thơ: Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng
trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình. (Ánh trăng, Nguyễn Duy)
|
Thông điệp về những cảm xúc yêu thương dành cho gia đình qua đoạn thơ: Lận đận đời bà biết mất nắng mưa Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ Bà vẫn giữ thói quen dạy sớm Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa (Bếp lửa, Bằng Việt) |
Thông điệp về khát vọng cống hiến cho xã hội qua đoạn thơ: Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc. (Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải)
|
Học sinh được chọn 1 trong 2 đề sau:
Đề 1
Em hãy viết bài văn trình bày cảm nhận về một trong ba thông điệp trên. Từ đó, liên hệ với một tác phẩm khác để làm nổi bật thông điệp mà em chọn.
Đề 2
Từ những gợi ý trên và từ những trải nghiệm trong quá trình đọc tác phẩm văn học, hãy viết bài văn với nhan đề: “Lắng nghe tác phẩm – Hiểu về cuộc sống”.
Lời giải chi tiết
Câu 1
|
a. Dựa vào văn bản, hãy cho biết đại dịch Covid-19 đã gây ra những hoảng loạn và xáo trộn nào trên toàn cầu? |
Phương pháp: căn cứ bài đọc hiểu, đọc và tìm ý
Cách giải:
Những hoảng loạn, xáo trộn mà đại dịch Covid-19 gây ra: việc cách li và phong tỏa diễn ra ở nhiều nơi. Các công ty, xí nghiệp, trường học đóng cửa hàng loạt. Sản xuất đình trệ, kinh doanh thua lỗ, giáo dục gián đoạn, nhiều hoạt động thường nhật của cuộc sống không thể tiếp tục.
|
b. Chỉ ra một phép liên kết câu được sử dụng trong đoạn cuối của văn bản. |
Phương pháp: căn cứ bài Liên kết câu và liên kết đoạn văn
Cách giải:
Phép liên kết: phép nối (Nhưng)
|
c. Xác định nội dung văn bản. |
Phương pháp: căn cứ bài đọc hiểu
Cách giải:
Nội dung văn bản: Đại dịch Covid-19 đã khiến con người có những khoảng lặng đến lắng nghe tự nhiên, thế giới và chính mình.
|
d. Trong cuộc sống, giữa ba việc: lắng nghe chính mình, lắng nghe mọi người xung quanh và lắng nghe thế giới tự nhiên, em quan tâm đến việc nào nhất? Vì sao? (Trả lời trong khoảng 3 – 5 dòng) |
Phương pháp: căn cứ bài đọc hiểu, phân tích
Cách giải:
- Học sinh phát biểu quan điểm cá nhân, có lí giải phù hợp miễn sao không vi phạm chuẩn mực đạo đức, xã hội.
Câu 2
|
Phải chăng lắng nghe là một biểu hiện của yêu thương? Em hãy viết bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) để trả lời câu hỏi trên |
Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: Phải chăng lắng nghe là một biểu hiện của yêu thương?
2. Giải thích vấn đề
- Lắng là chìm đọng lại ở đáy hoặc trở lại trạng thái tĩnh, không còn những biểu hiện sôi nổi mạnh mẽ lúc đầu.
- Nghe là sự cảm nhận âm thanh bằng tai.
=> Như vậy lắng nghe tức là cảm nhận âm thanh bằng sự im lặng sâu sắc nhất của con tim. Lắng nghe trong giao tiếp là thái độ im lặng khi người khác nói để mở lòng đón nhận những câu chuyện, những chia sẻ của con người, của sự vật đang vang động vào lòng. Điều này vô cùng cần thiết trong cuộc sống.
=> Lắng nghe chính là một biểu hiện của yêu thương.
3. Phân tích, bàn luận vấn đề.
- Tại sao nói “Lắng nghe là một biểu hiện của yêu thương”?
+ Lắng nghe trong giao tiếp là biểu hiện của sự tôn trọng chính mình và tôn trọng người đối diện. Từ đó cuộc giao tiếp sẽ đạt hiệu quả và đôi bên có thể có những mối quan hệ tốt đẹp trong tương lai.
+ Lắng nghe là dùng trái tim để cảm nhận cảm xúc của người đối diện, là dùng thái độ thông cảm và thấu cảm với câu chuyện của người đang chia sẻ. Khi ta thấu cảm với người đối diện cũng là lúc ta cho chính mình cơ hội để hiểu về mình hơn bởi người khác cũng là tấm gương phản chiếu chính ta.
+ Khi lắng nghe với một thái độ chân thành và khiêm tốn, ngoài việc ta học học được những bài học từ câu chuyện của người đối diện, ta còn nhận được sự tôn trọng và chân thành của họ.
+ Lắng nghe bằng trái tim cũng có nghĩa là ta cho mình cơ hội cảm nhận hơi thở của cuộc sống một cách sâu sắc. Đó cũng là cách xây dựng và hoàn thiện bản thân, là con đường phát triển tâm hồn.
+ Biết lắng nghe cũng giúp cho chúng ta có những cơ hội để phát triển và tiến xa hơn trên con đường học tập, sự nghiệp.
…
- Lắng nghe chân thành khác với sự im lặng vô cảm. Trong sự lắng nghe chân thành, ta cho người khác cơ hội được thổ lộ tâm tình, chia sẻ khó khăn và có thể ta đáp lại họ chỉ bằng sự yên lặng ngồi bên cạnh nhưng trong sự yên lặng đó ta cho đi tình cảm và sự thấu hiểu.
- Ngoài việc lắng nghe người khác thì hãy học cách lắng nghe tiếng nói từ trong tâm trí của mình. Việc lắng nghe tiếng nói trong tâm trí của mình, lùi sâu vào bên trong mình cũng là một cách thức tỉnh bản thân và yêu thương bản thân trọn vẹn.
- Phê phán những người chưa biết lắng nghe hay thích nghe những lời nịnh hót.
4. Liên hệ bản thân và tổng kết vấn đề
Câu 3
|
Học sinh được chọn 1 trong 2 đề sau: Đề 1 Em hãy viết bài văn trình bày cảm nhận về một trong ba thông điệp trên. Từ đó, liên hệ với một tác phẩm khác để làm nổi bật thông điệp mà em chọn. Đề 2 Từ những gợi ý trên và từ những trải nghiệm trong quá trình đọc tác phẩm văn học, hãy viết bài văn với nhan đề: “Lắng nghe tác phẩm – Hiểu về cuộc sống”. |
Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp
Cách giải:
Ban chuyên môn Tuyensinh247.com gợi ý Đề 1, thông điệp số 3: Thông điệp về khát vọng cống hiến cho xã hội qua đoạn thơ “Mùa xuân nho nhỏ” – Thanh Hải.
1. Giới thiệu chung
- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu về thông điệp: khát vọng cống hiến cho xã hội.
- Giới thiệu nội dung khổ thơ: khát vọng cao cả cống hiến cho đời của tác giả Thanh Hải.
2. Phân tích, cảm nhận
a. Phân tích cảm nhận 2 khổ thơ
- Mùa xuân đất nước đã khơi dậy trong lòng nhà thơ những khát vọng sống cao quý:
+ Điệp từ “ta làm”, lặp cấu trúc, liệt kê -> giúp tác giả bày tỏ ước nguyện được hiến dâng cuộc đời mình cho quê hương, xứ sở.
+ Các hình ảnh “con chim hót” “một cành hoa” “nốt nhạc trầm”: giản dị, tự nhiên mà đẹp, thể hiện ước nguyện khiêm nhường mà đáng quý.
+ Có sự ứng đối với các hình ảnh ở đầu bài thơ -> lí tưởng cống hiến cho đời là một lẽ tự nhiên, tất yếu; gợi liên tưởng đến mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa con người – đất nước.
=> Tấm lòng thiết tha được hòa nhập, được cống hiến cho cuộc đời, cho đất nước.
- Khát vọng sống đẹp được nâng lên thành lí tưởng sống cao cả”
+ “Mùa xuân nho nhỏ”: ẩn dụ cho những gì đẹp nhất, tinh túy nhất của cuộc đời con người để góp phần làm nên mùa xuân của đất nước. Là cách nói khiêm nhường, giản dị, gợi một tâm hồn đẹp, một lối sống đẹp, một nhân cách đẹp “lặng lẽ dâng cho đời”.
+ Điệp từ “dù là” + hình ảnh tương phản “tuổi hai mươi” – “khi tóc bạc” khẳng định sự tồn tại bền vững của những khát vọng và lí tưởng sống ấy. Cả cuộc đời mình ông vẫn muốn chắt chiu những gì tốt đẹp nhất để hiến dâng cho đời.
=> Khổ thơ là lời tổng kết của nhà thơ về cuộc đời mình. Cho đến tận cuối đời ông vẫn khát khao cống hiến cho đất nước.
b. Liên hệ nhân vật anh thanh niên trong văn bản Lặng lẽ Sa Pa – Nguyễn Thành Long.
- Lẽ sống đẹp đẽ cống hiến cho đời, cho sự phát triển chung của đất nước ta còn bắt gặp ở nhân vật anh thanh niên trong văn bản Lặng lẽ Sa Pa.
- Người thanh niên ngoài hai mươi tuổi đã lên công tác tại đỉnh Yên Sơn quanh năm mây phủ, một mình sống tại nơi đó nhưng anh không hề thấy cô đơn, lạc lõng, bởi anh có lí tưởng sống cao đẹp phụ vụ cho đất nước, phục vụ cho dân tộc.
- Anh coi công việc như một người bạn “ta với công việc là đôi”
- Thấy hạnh phúc khi được làm việc: tin vào ý nghĩa công việc mình làm, dự báo chính xác thời tiết giúp người nông dân sản xuất, từng giúp không quân bắn rơi máy bay.
- Làm việc với một tinh thần trách nhiệm rất cao:
+ Có những đêm trời lạnh giá anh vẫn trở dậy đo gió, đo mưa.
+ Anh đã vượt lên hoàn cảnh và vượt lên chính mình để hoàn thành công việc.
-> Tinh thần trung thực và ý thức trách nhiệm với nghề.
- Tất cả đều bắt nguồn từ lí tưởng sống đẹp của anh thanh niên:
+ Anh muốn góp sức mình vào công cuộc dựng xây và bảo vệ cuộc sống mới (công việc của anh giúp ích cho lao động sản xuất và chiến đấu)
+ Anh không lẻ loi, đơn độc mà tìm thấy những người bạn đồng hành trên con đường mình đã chọn: ông kĩ sư vườn rau Sa Pa, anh cán bộ địa chất lập bản đồ sét -> tất cả đều lặng lẽ và bền bỉ với đời sống, với công việc.
=> Anh là hiện thân cho vẻ đẹp của một lớp người đang tích cực góp phần tạo dựng lên cuộc sống mới cho quê hương, đất nước.
=> Lí tưởng sống cao đẹp, phục vụ cho đời, cho đất nước là lẽ sống đẹp mà ta có thể bắt gặp bất cứ nơi đâu. Và những con người như vậy thật đáng trân trọng biết bao.
3. Tổng kết vấn đề
Đề thi vào 10 môn Văn chuyên phổ thông năng khiếu Hồ Chí Minh năm 2018
Đề bài
Câu 1: (3,0 điểm)
Trong chương trình Ngữ văn 8 có truyện “Cô bé bán diêm” của nhà văn Hans Christian Andersen. Anh/chị suy nghĩ thế nào về kết thúc của câu chuyện? Liên hệ với tình trạng trẻ em đường phố hiện nay.
Câu 2: (7,0 điểm)
Trong bài viết “Khám phá người đọc”, nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương viết: “Đọc là khám phá, sáng tạo lại tác phẩm và cũng đồng thời là khám phá, sáng tạo chính bản thân mình”.
(Hãy cầm lấy và đọc, Huỳnh Như Phương, Nxb Tổng hợp 2016, tr 56)
Anh/chị suy nghĩ gì về ý kiến trên? Qua những tác phẩm đã học hoặc đã đọc, anh/chị hãy giới thiệu một tác phẩm đã góp phần bồi đắp nên tâm hồn mình.
Lời giải chi tiết
Câu 1
|
Trong chương trình Ngữ văn 8 có truyện “Cô bé bán diêm” của nhà văn Hans Christian Andersen. Anh/chị suy nghĩ thế nào về kết thúc của câu chuyện? Liên hệ với tình trạng trẻ em đường phố hiện nay. |
Phương pháp giải:
Vận dụng các phương pháp giải thích, phân tích, chứng minh để làm bài văn nghị luận xã hội.
Lời giải chi tiết:
1. Giới thiệu vấn đề
2. Về kết thúc truyện “Cô bé bán diêm”
- Giới thiệu khái quát nhà văn Hans Christian Andersen và truyện “Cô bé bán diêm”.
- Trời đầy nắng, mọi người vui vẻ trong ngày đầu tiên của năm mới, em bé chết vì lạnh ở xó tường, đôi má hồng, đôi môi đang mỉm cười.
- Mọi người chỉ nhìn thấy bao diêm đã hết nhẵn mà không nhìn thấy cảnh tượng huy hoàng trong mộng tưởng của em bé.
- Kết thúc tác phẩm “Cô bé bán diêm” là một bi kịch: Đây không phải là kết thúc có hậu như ta vẫn thường thấy trong các câu truyện cổ tích. Trong truyện cổ tích hạnh phúc thường được tìm thấy ngay trong hiện thực chứ không phải trong thiên đường hư ảo. Còn hạnh phúc của em bé bán diêm thì cô đơn như chính cái chết lạnh lẽo của em.
- Bởi vậy, điều đọng lại khi kết thúc câu chuyện không phải niềm vui nhẹ nhõm như truyện cổ tích mà là nỗi xót xa, day dứt nơi người đọc.
- Kết thúc truyện còn cho thấy lối sống vô cảm của những người xung quanh, nếu chỉ cần một cánh tay đưa ra giúp đỡ em thì cô bé đã không phải chết trong cô đơn, lạnh lẽo đến vậy.
3. Liên hệ với trẻ em đường phố hiện nay
* Thực trạng
- Theo số liệu của ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em, năm 2003 cả nước có trên 21.000 trẻ em lang thang cơ nhỡ, đông nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh với 8.500 em. Con số này không ngừng gia tăng.
- Trẻ em đường phố đối diện với nguy cơ thất học cao và dễ rơi vào tệ nạn xã hội.
- Trẻ em đường phố có nguy cơ phạm tội ngày càng cao; nạn xin ăn tràn lan ảnh hưởng tới văn minh đô thị.
- Trẻ em đang bị bóc lột sức lao động và nguy cơ bị xâm hại tình dục.
* Nguyên nhân:
- Do đói nghèo: Trẻ đường phố thường xuất thân từ các gia đình nông dân nghèo hoặc gia đình mà bố mẹ không có việc làm, khó khăn về kinh tế và đông con.
- Do tổn thương tình cảm như: bị gia đình ruồng bỏ, từ chối hoặc đánh đập.
- Còn lại là do mồ côi hoặc bố mẹ li hôn.
* Giải pháp
- Hiện nay, ở nước ta, những mái ấm tình thương đang xuất hiện ngày càng nhiều, cá nhân, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp.
- Tổ chức: Làng trẻ em SOS; Cô nhi viện Thánh An (Giáo phận Bùi Chu, Xuân Trường, Nam Định); Chùa Kì Quang II (Gò Vấp); …
- Cá nhân: Mẹ Phạm Ngọc Oanh (Hà Nội) với 800 đứa con tình thương: Anh Phạm Việt Tuấn với mái ấm KOTO (Hà Nội); ….
4. Đánh giá
- Có cái nhìn đúng đắn về hiện tượng trẻ em lang thang, cơ nhỡ, từ đó nâng cao tình cảm và trách nhiệm đối với các em. Lên án và kịp thời phát hiện, tố cáo những kẻ bóc lột sức lao động và xâm hại trẻ em.
- Khuyến khích, biểu dương các tổ chức cá nhân tiêu biểu đồng thời lên án, ngăn chặn, xử lí kịp thời những kẻ núp bóng từ thiện để làm việc xấu.
- Nhân rộng sự giúp đỡ, để giúp các em được học tập vui chơi như các bạn cùng trang lứa.
Câu 2
|
Trong bài viết “Khám phá người đọc”, nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương viết: “Đọc là khám phá, sáng tạo lại tác phẩm và cũng đồng thời là khám phá, sáng tạo chính bản thân mình”. (Hãy cầm lấy và đọc, Huỳnh Như Phương, Nxb Tổng hợp 2016, tr 56) Anh/chị suy nghĩ gì về ý kiến trên? Qua những tác phẩm đã học hoặc đã đọc, anh/chị hãy giới thiệu một tác phẩm đã góp phần bồi đắp nên tâm hồn mình. |
Phương pháp giải:
Phân tích, tổng hợp.
Lời giải chi tiết:
1. Giải thích nhận định
- “Đọc là khám phá, sáng tạo lại tác phẩm”: Đọc tác phẩm văn học là một trải nghiệm mang tính cá nhân. Mỗi người đi khi đọc tác phẩm với trình độ văn hóa, góc nhìn khác nhau, với trí tưởng tượng khác nhau sẽ cho ra những khám phá, phát hiện mới mẻ. Bởi vậy, mỗi người đọc sẽ sáng tạo lại tác phẩm, khiến cho tác phẩm trở nên giàu giá trị và ý nghĩa hơn.
- “Đồng thời là khám phá, sáng tạo chính bản thân mình”: Mỗi tác phẩm văn học đích thực, khi đọc xong còn cho ta những bài học về nhân cách, về lối sống, khiến cho bản thân con người trở nên hoàn thiện hơn về tâm hồn, để hướng đến mục đích cuối cùng đó là vẻ đẹp của: chân – thiện – mĩ.
=> Quá trình tiếp nhận văn học không chỉ làm mới mẻ tác phẩm mà còn hoàn thiện nhân cách cho chính người đọc.
2. Tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa
Các em có thể lựa chọn một trong những tác phẩm sau đây để phân tích: Mùa xuân nho nhỏ, Lặng lẽ Sa Pa, Nói với con, ….
2.1 Nhân vật anh thanh niên:
a. Là con người thiết tha yêu cuộc sống:
- Được thể hiện qua tình cảm gắn bó, quan tâm, gần gũi của anh với những người xung quanh.
+ Lấy khúc cây chắn ngang đường để dừng xe, để được nói chuyện với mọi người.
+ Gửi củ tam thất cho vợ bác lái xe.
+ Trò chuyện cởi mở, tặng hoa, tặng quà ăn đường cho người vừa mới gặp lần đầu là ông họa sĩ, cô kĩ sư
- Tinh thần lạc quan trong một hoàn cảnh sống nhiều khó khăn, thử thách:
+ Biết tạo ra niềm vui cho cuộc sống của mình.
+ Biết tổ chức một cuộc sống gọn gàng, ngăn nắp.
+ Biết nối mình với cuộc sống văn minh, tự nâng cao hiểu biết, chuyên môn nhờ đọc sách.
=> Giúp anh thanh niên chủ động, vượt qua cuộc sống khó khăn cả vật chất lẫn tinh thần.
b. Là con người sống có lí tưởng, có niềm say mê và trách nhiệm với công việc.
- Làm việc với một tinh thần trách nhiệm rất cao:
+ Có những đêm trời lạnh giá anh vẫn trở dậy đo gió, đo mưa.
+ Anh đã vượt lên hoàn cảnh và vượt lên chính mình để hoàn thành công việc.
- Tất cả đều bắt nguồn từ lí tưởng sống đẹp của anh thanh niên:
+ Anh muốn góp sức mình vào công cuộc dựng xây và bảo vệ cuộc sống mới.
+ Anh không lẻ loi, đơn độc mà tìm thấy những người bạn đồng hành trên con đường mình đã chọn: ông kĩ sư vườn rau Sa Pa, anh cán bộ địa chất lập bản đồ sét -> tất cả đều lặng lẽ và bền bỉ với đời sống, với công việc.
=> Là hiện thân cho vẻ đẹp của một lớp người đang tích cực góp phần tạo dựng lên cuộc sống mới cho quê hương, đất nước.
2.2 Các nhân vật khác:
Ông họa sĩ:
- Là người từng trải trong nghệ thuật và cuộc sống:
+ Có quan điểm nghệ thuật đúng đắn: bỏ lại sau lưng đô thị phồn hoa để đi tìm cảm hứng sáng tạo cho mình.
+ Nhạy cảm, tinh tế:
- Là người có nhân cách, có cuộc sống nội tâm phong phú, biết yêu cuộc đời, yêu cái đẹp.
=> Hội tụ phẩm chất của người nghệ sĩ chân chính: tri thức lịch duyệt, nhân cách đẹp đẽ, khát vọng sáng tạo nghệ thuật…
Cô kĩ sư: Là nhân vật vừa góp phần tô đậm vẻ đẹp của anh thanh niên, vừa là môt nét vẽ không thể thiếu về vẻ đẹp của con người mới.
- Vẻ đẹp của lí tưởng, của nhiệt huyết tuổi trẻ:
+ Bỏ lại một mối tình nhạt nhẽo, xa gia đình.
+ Xung phong công tác ở vùng núi cao.
-> Bản lĩnh, nghị lực phi thường.
- Vẻ đẹp của một tâm hồn nhạy cảm, khao khát được khám phá, được nhận thức:
+ Nhận ra tình yêu cuộc sống của anh thanh niên, cách ứng xử tự nhiên, chân thành song cũng rất lãng mạn của anh.
+ Nghe câu chuyện của anh, cô nhận ra cuộc sống này thật đáng để yêu, để sống.
=> Cô cũng xứng đáng là một biểu tượng đẹp về con người mới của văn học giai đoạn này.
* Tác động
- Làm những việc mình đam mê sẽ luôn đem đến cho bản thân sự hạnh phúc.
- Mỗi người phải có ý thức, trách nhiệm đóng góp, cống hiến cho sự phát triển của đất nước.
- Trước mọi khó khăn, thử thách phải có tinh thần lạc quan, có niềm tin vào cuộc sống.
- Sống khiêm tốn và đức hi sinh thầm lặng.
- Trao đi tình yêu thương, sự chân thành chắc chắn sẽ nhận lại sự yêu thương từ những người xung quanh.
3. Tổng kết
Đề thi vào 10 môn Văn chuyên Sư Phạm Hồ Chí Minh năm 2018
Đề bài
Câu 1: (4 điểm)
Từ góc nhìn tuổi trẻ, em hãy viết bài văn với nhan đề:
“Sự kì vọng – áp lực hay động lực?”
Câu 2: (6.0 điểm)
Aristotle cho rằng: Phải biết nhìn đời với cặp mắt của đứa trẻ thơ.
(Tôi tự học, Nguyễn Duy Cần, NXB Trẻ, 2013)
Xuân Diệu viết: Hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non.
(Xuân Diệu - Tác phẩm chọn lọc, NXB Giáo dục, 2009)
Theo em, cặp mắt trẻ thơ, đôi mắt xanh non có cần thiết đối với sáng tạo văn chương. Bằng những trải nghiệm văn học, hãy trình bày câu trả lời của em.
Lời giải chi tiết
Câu 1
|
Từ góc nhìn tuổi trẻ, em hãy viết bài văn với nhan đề: “Sự kì vọng – áp lực hay động lực?” |
Phương pháp giải:
Phân tích, tổng hợp
Lời giải chi tiết:
1. Giới thiệu vấn đề
2. Giải thích
- Kì vọng: là sự tin tưởng, niềm tin đặt vào một ai đó và mong muốn họ thực hiện được những điều mình muốn.
- Động lực: được hiểu là những yếu tố thúc đẩy làm cho ta phát triển, không ngừng vươn lên
- Áp lực: là sức ép khiến con người cảm thấy chán nản, dễ bỏ cuộc
3. Bàn luận
- Kì vọng vừa là động lực vừa là áp lực với mỗi chúng ta.
- Kì vọng là động lực bởi, những kì vọng bao giờ cũng cao, đòi hỏi chúng ta phải không ngừng phấn đấu mới có thể đáp ứng được những tiêu chí, mục tiêu mà mình đã đề ra. Kì vọng giúp con người nỗ lực không ngừng để vươn đến thành công.
- Kì vọng cũng có thể trở thành áp lực khi nó quá xa vời, vượt ngoài sức chịu đựng và giới hạn của con người. Khi đó nó sẽ trở nên phản tác dụng, khiến con người ta chán nản, không còn hứng thú làm việc, học tập.
- Dẫn chứng:
+ Kì vọng là động lực để cho những cầu thủ U23 không ngừng phấn đấu, vươn đến những thứ bậc cao hơn trong các giải đấu lớn.
+ Kì vọng lại là áp lực, đặc biệt đối với các bạn học sinh hiện nay. Cha mẹ đặt kì vọng quá lớn khiến con cái luôn ghánh trên mình nỗi lo trở thành con người tài ba. Không thể thực hiện được các bạn rơi vào trạng thái trầm cảm, bỏ bê việc học
- Để giúp kì vọng thực sự trở thành động lực chúng ta phải đặt ra những mục tiêu phù hợp với khả năng. Tránh đặt mục tiêu xa vời, không thể với tới
- Mở rộng vấn đề và liên hệ bản thân
Câu 2
|
Aristotle cho rằng: Phải biết nhìn đời với cặp mắt của đứa trẻ thơ. (Tôi tự học, Nguyễn Duy Cần, NXB Trẻ, 2013) Xuân Diệu viết: Hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non. (Xuân Diệu - Tác phẩm chọn lọc, NXB Giáo dục, 2009) Theo em, cặp mắt trẻ thơ, đôi mắt xanh non có cần thiết đối với sáng tạo văn chương. Bằng những trải nghiệm văn học, hãy trình bày câu trả lời của em. |
Phương pháp giải:
Phân tích, tổng hợp
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài: Giới thiệu chung
2. Thân bài
a. Giải thích
- Phải biết nhìn đời với cặp mắt của đứa trẻ thơ: Ở đây tác giả muốn nói nhìn mọi sự vật hiện tượng bằng con mắt trẻ thơ khám phá thế giới, mọi vật đều lạ lẫm, đều khiến ta ngạc nhiên, hứng thú.
- Hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non: nhìn nhận mọi vật luôn mới mẻ, căng tràn sức sống.
=> Hai nhận định trên đã nói lên yêu cầu khi sáng tạo nghệ thuật, phải luôn luôn sáng tạo, đổi mới, không lặp lại người khác và lặp lại chính mình.
b. Phân tích, chứng minh
* Cùng viết về đề tài mùa xuân, nhưng Nguyễn Du và Thanh Hải có những khám phá rất khác nhau:
Nguyễn Du:
Hai dòng thơ đầu là khung cảnh ngày xuân tuyệt đẹp.
- Hình ảnh “con én đưa thoi”:
+Tả: cảnh những cánh én bay liệng đầy trời rộn ràng như thoi đưa -> hình ảnh đẹp quen thuộc của mùa xuân.
+Gợi:Thời gian trôi nhanh
Không gian cao rộng của bầu trời
Không khí ấm áp của mùa xuân
- Câu thơ “thiều quang…”:
+ Tả: ánh sáng đẹp của ngày xuân
+ Gợi: Một không gian tràn đầy nắng ấm
Thời điểm tháng 3 mùa xuân là thời điểm thiên nhiên đạt tốc độ rực rỡ nhất, viên mãn nhất.
Sự nuối tiếc của chị em Thúy Kiều vì mùa xuân tươi đẹp đang trôi qua nhanh.
=> Hai câu thơ không chỉ có giá trị thông báo về thời gian mà còn tô đậm ấn tượng về một mùa xuân đang độ chín rất đỗi ngọt ngào. Đối diện với mùa xuân ấy lòng người không khỏi bồi hồi, xao xuyến, tiếc nuối.
Hai câu thơ tiếp đã phác họa một bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, tràn đầy sức sống:
- Hình ảnh “cỏ non…”:
+ Tái hiện một không gian tràn đầy sắc xanh non của cỏ mùa xuân.
+ Gợi: sự tươi no và sức sống dat dào của mùa xuân.
- Hình ảnh “cành lê”:
+ Đảo ngữ “trắng điểm” -> tô đậm sắc trắng của đóa hoa lê.
+“điểm”: gợi ấn tượng về sự thanh thoát của hoa.
- Màu sắc:
+ Sắc xanh của cỏ.
+ Màu trắng của hoa
+ Hài hòa, gợi một không gian trong trẻo, tinh khôi, tràn trề nhựa sống.
=> Với bút pháp chấm phá tài tình, tác giả đã rất thành công khi phác họa mọt bức tranh mùa xuân khoáng đạt, tươi đẹp => Thế giới tâm hồn tràn đầy niềm tươi vui, phấn chấn và có chút tiếc nuối của chị em Thúy Kiều.
Thanh Hải
- Bài thơ được mở ra bằng khung cảnh thiên nhiên tươi sáng và tràn đầy sức sống:
“Mọc giữa dòng sông xanh
…
Hót chi mà vang trời”
+ Cấu trúc đảo ngữ ở câu thơ 1,2 gợi sức sống mạnh mẽ đến bất ngờ, khiến bông hoa như có cội rễ, tràn đầy sức xuân, sắc xuân.
+ Các hình ảnh “dòng sông” “bông hoa” “bầu trời” “chim chiền chiện” thật bình dị và gợi cảm, đã tái hiện một không gian cao rộng của mùa xuân với những hình ảnh đặc trưng của xứ Huế.
+ Màu sắc: “sông xanh” “hoa tím biếc” rất hài hòa, tươi sáng. Dòng sông xanh đã trở thành cái nền cho sắc tím của hoa, làm nổi bật vẻ đẹp sống động của mùa xuân.
+ Âm thanh: tiếng chim chiền chiện: là tín hiệu của một buổi sớm mùa xuân trong trẻo, mát lành; gợi không gian cao rộng của bầu trời tươi sáng, ấm áp; gợi liên tưởng đến những không đầy ắp màu xanh của một khu vườn quê với những vòm cây xanh mát hay một cánh đồng rộng lớn, bình yên.
=> Chỉ bằng vài nét phác, tác giả đã vẽ ra được khung cảnh mùa xuân tuyệt đẹp, đủ đầy hình ảnh, âm thanh, màu sắc, ứ đầy sức sống và đậm đà nét Huế.
* Cùng viết về đề tài người lính nhưng Chính Hữu và Phạm Tiến Duật lại có bức tranh chân dung hoàn toàn khác nhau:
+ Người lính trong bài thơ “Đồng chí” mamg vẻ đẹp chân chất, mộc mạc của người lính xuất thân từ nông dân. (dẫn chứng)
+ Người lính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” luôn trẻ trung sôi nổi, vui nhộn với khí thế mới mang tinh thần thời đại. (dẫn chứng)
* Nhận xét
- Sáng tạo là yêu cầu đầu tiên đối với nghệ thuật nói chung và tác phẩm văn chương nói riêng.
- Đối với một người nghệ sĩ cùng một chất liệu nghệ thuật nhưng bằng con mắt, cảm nhận và sự tìm tòi của mình phải sáng tạo để không lặp lại người khác và lặp lại chính mình. Bởi trong nghệ thuật lặp lại chính là chết.
3. Tổng kết
Đề thi vào 10 môn Văn Hồ Chí Minh năm 2016
Đề bài
Câu 1:
Em hãy đọc hai văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
|
Văn bản 1 Báo cáo mới đây của tạp chí Science cho thấy đến nay thế giới đã sản xuất khoảng 8,3 tỉ tấn nhựa, trong đó 6,3 tỉ tấn hiện là rác thải. Và 79% trong 6,3 tỉ tấn đó giờ đang nằm trong các bãi rác và môi trường tự nhiên. Nhựa được sử dụng phổ biến vì tiện dụng, rẻ tiền, dễ chế tạo. Tuy nhiên nhựa có hạn chế lớn là rất lâu phân hủy, đồng nghĩa với việc rác thải nhựa sẽ gây nên thảm họa môi trường nếu không có cách giải quyết Thời gian phân hủy tự nhiên của một số vật thể nhựa (đơn vị: năm)
Trong các đại dương, số lượng rác thải nhựa ước tính khoảng 150 triệu tấn – nặng gần bằng 1/5 khối lượng cá. Các nhà khoa học dự báo với tốc độ gia tăng rác thải nhựa như hiện nay, vào năm 2050, khối lượng rác thải nhựa sẽ nặng hơn cả khối lượng cá. Việt Nam là một trong các quốc gia xả rác thải nhựa nhiều nhất thế giới. Tại Việt Nam, số lượng túi nilon, chai nhựa, ly nhựa, ống hút, hộp xốp,… được sử dụng nhiều vượt trội so với các nước khác. Rác thải nhựa ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái, làm ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước, gây nguy hại cho nguồn lợi thủy hải sản và tác động xấu đến sức khỏe con người,… |
Văn bản 2 Trước sự đe dọa của rác thải nhựa, nhiều nước đã lên kế hoạch hành động. Từ tháng 1 năm nay, chính phủ Scotland đề xuất ý kiến về việc cấm sản xuất, kinh doanh một số sản phẩm làm từ nhựa. Lệnh cấm này sẽ góp phần giảm đáng kể lượng rác thải nhựa. Tại Anh, các loại hạt kim tuyến trang trí đã bị cấm sử dụng. Việc tính phí với túi nhựa cũng được thực hiện. Theo số liệu thống kê của Bộ Môi trường, Thực phẩm và Các vấn đề nông thôn, nhờ việc tính phí này, trong thời gian qua, số lượng túi nhựa được đưa vào sử dụng đã giảm 9 tỉ chiếc. Từ năm 2019, Đài Loan sẽ cấm sử dụng các loại ống hút nhựa tại các chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh, sau đó tiến tới cấm hoàn toàn việc cung cấp túi nhựa tại các điểm kinh doanh. Tại Việt Nam, một số tổ chức xã hội đã phát động các chiến dịch như: “7 ngày thách thức”, “Bớt một vỏ chai, cứu tương lai”,… với mục tiêu thúc đẩy cộng đồng chung tay chống lại rác thải nhựa. Trong thời gian qua, nhiều bạn trẻ Việt Nam cũng đã tổ chức hàng loạt hoạt động nhằm giảm rác thải nhựa. Các bạn mày mò thực hiện những dự án làm ống hút từ tre và cỏ bàng, tái chế rác thải nhựa thành những vật dụng có ích,… Chắc chắn những hành động này sẽ góp phần giúp môi trường trở nên xanh, sạch đẹp hơn. |
(Hai văn bản trên được tổng hợp từ các báo Tuổi trẻ, Thanh Niên, Thời nay)
a. Dựa vào văn bản, hãy cho biết tác hại của rác thải nhựa đối với cuộc sống. (0,5 điểm)
b. Tìm thành phần biệt lập được sử dụng trong đoạn cuối của văn bản 2. (0,5 điểm)
c. Chỉ ra mối liên hệ về nội dung của hai văn bản trên. (1,0 điểm)
d. Theo em, giải pháp nào là hiệu quả nhất để giảm ô nhiễm rác thải nhựa ở nước ta hiện nay? Vì sao? (Em có thể lựa chọn giải pháp trong văn bản hoặc tự đề ra giải pháp khác. Trả lời trong khoảng 3 – 5 dòng). (1 điểm)
Câu 2: (3,0 điểm)
Để thể hiện mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái (che chở, bao bọc, chia sẻ, gắn bó, bình đẳng, độc lập,…), các bạn học sinh đã đưa ra ba hình ảnh sau:

Từ một trong ba hình ảnh trên, em hãy viết bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) bàn về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong xã hội hiện nay.
Câu 3: (4,0 điểm)
Học sinh được chọn 1 trong 2 đề sau:
Đề 1
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái.
(Trích Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Phạm Tiến Duật)
Cảm nhận về hình ảnh người lính trong hai khổ thơ trên. Từ đó, liên hệ với một tác phẩm khác cũng viết về người lính để thấy được nét gặp gỡ của các tác giả khi viết về đề tài này.
Đề 2
Từ những trải nghiệm trong quá trình đọc tác phẩm văn học, em hãy viết bài văn với nhan đề: “Những ngọn lửa nhóm lên từ trang sách”.
Lời giải chi tiết
Câu 1
|
a. Dựa vào văn bản, hãy cho biết tác hại của rác thải nhựa đối với cuộc sống. b. Tìm thành phần biệt lập được sử dụng trong đoạn cuối của văn bản 2. c. Chỉ ra mối liên hệ về nội dung của hai văn bản trên. d. Theo em, giải pháp nào là hiệu quả nhất để giảm ô nhiễm rác thải nhựa ở nước ta hiện nay? Vì sao? (Em có thể lựa chọn giải pháp trong văn bản hoặc tự đề ra giải pháp khác. Trả lời trong khoảng 3 – 5 dòng). |
Phương pháp giải:
a. Căn cứ nội dung đoạn trích
b. Căn cứ bài Thành phần biệt lập
c. Phân tích, tổng hợp
Lời giải chi tiết:
a. Tác hại của nhựa đối với cuộc sống:
Lâu phân hủy, gây nên thảm họa với môi trường nếu không có cách giải quyết: Rác thải nhựa làm ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái, làm ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước, gây nguy hại cho nguồn lợi thủy hải sản và tác động xấu đến sức khỏe con người.
b. Mối liên hệ về nội dung giữa hai văn bản: hai văn bản đề cập vấn đề rác thải nhựa:
Văn bản 1: Thực trạng và tác hại khôn lường của rác thải nhựa đối với con người và môi trường.
Văn bản 2: Giải pháp, những kế hoạch hành động để hạn chế sử dụng rác thải nhựa ở các nước và Việt Nam.
c. Giải pháp theo em là hiệu quả nhất để giảm thiểu ô nhiễm rác thải nhựa ở nước ta hiện nay là Ban ra lệnh cấm sản xuất, kinh doanh đối với một số mặt hàng làm từ nhựa rẻ tiền không cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày. Đồng thời, tính phí với việc sử dụng túi nhựa và khuyến khích các sản phẩm làm từ thiên nhiên như gỗ, tre,.. Bởi vì:
+ Khi lệnh cấm được ban ra đi kèm cùng nó sẽ là các hình phạt thích đáng, đơn vị sản xuất, kinh doanh sẽ phải ngừng sản xuất những mặt hàng đó.
+ Việc tính phí cũng sẽ làm cho người tiêu dùng hạn chế tối đa việc sử dụng túi nhựa vì nó đánh trực tiếp vào kinh tế.
+ Khuyến khích các sản phẩm làm từ tự nhiên.
Câu 2
| Từ một trong ba hình ảnh trên, em hãy viết bài văn ngắn (khoảng 01 trang giấy thi) bàn về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong xã hội hiện nay. |
Phương pháp giải:
Phân tích, tổng hợp
Lời giải chi tiết:
1. Nêu vấn đề: Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong xã hội hiện nay – sự sẻ chia và gắn bó.
2. Giải thích vấn đề:
- Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái là mối quan hệ huyết thống và cùng với quan hệ vợ - chồng, anh - em nó cũng là mối quan hệ cơ bản cấu thành một gia đình.
- Giữa cha mẹ và con cái cần có sự quan tâm, chăm sóc, sẻ chia và yêu thương lẫn nhau. Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái trưởng thành và con cái cần phải báo hiếu với cha mẹ.
3. Phân tích, bàn luận vấn đề
- Ý nghĩa mối quan hệ sẻ chia giữa cha mẹ và con cái:
+ Mối quan hệ sẻ chia giữa cha mẹ và con cái sẽ giúp mọi thành viên trong gia đình thấu hiểu nhau hơn.
+ Mối quan hệ này cũng giúp chúng ta rút ngắn khoảng cách thế hệ, tạo nên hơi ấm tình thương và hạnh phúc.
=> Tạo nên sự khăng khít, gắn bó với các thành viên trong gia đình.
- Hiện trạng của mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong xã hội hiện nay:
+ Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái đang gặp khủng hoảng nặng nề.
+ Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái lỏng lẻo, ít sự quan tâm, ít sự chia sẻ.
ð Đó là một thực trạng đáng buồn
- Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên:
+ Do những biến chuyển của xã hội về nhiều mặt, trong đó có mặt văn hóa – tư tưởng. Chữ hiếu, chữ tình, chữ nghĩa dường như không được coi trong như xưa. Chính vì vậy con người thiếu trách nhiệm đối với gia đình và những mối quan hệ ruột thịt.
+ Sự phát triển của xã hội với nền kinh tế thị trường làm gia tăng nhu cầu muốn tự khẳng định mình của mỗi cá nhân làm cho sự cách biệt giữa các thế hệ càng lớn, mỗi người trở nên ích kỉ hơn và ít quan tâm nhau hơn trong gia đình.
+ Con cái và cha mẹ đều bận rộn, ít có thời gian bên nhau, tâm sự, chia sẻ để hiểu nhau hơn nên sự cách biệt về tâm lý càng lớn.
+ Các bậc cha mẹ nhiều khi còn nặng về tư tưởng công lao, sự áp đặt trong suy nghĩ khiến các con bị ức chế và muốn thoát ra ngoài ảnh hưởng của cha mẹ => mối quan hệ rạn nứt.
- Giải pháp khắc phục:
+ Rút ngắn khoảng cách thế hệ. Biện pháp này chỉ thực sự được thực hiện khi có sự cố gắng của cả cha mẹ và con cái. Cha mẹ và con cái nên dành nhiều thời gian cho nhau để chia sẻ, để tâm sự cùng nhau. Sự khác biệt về thế hệ là điều có tồn tại, tuy nhiên cha mẹ cần tìm cách khắc phục nó bằng cách thấu hiểu con trẻ và con cái cần cảm thông cho cha mẹ về những suy nghĩ đã lâu đời.
+ Mỗi người cần nâng cao trách nhiệm của mình với gia đình, với người thân, cần nhận biết rõ rằng gia đình mới là nhân tố chính tạo nên sự hạnh phúc và bình yên của mỗi cá nhân. Khi nhận thức được điều đó, mỗi người sẽ tự biết mình cần làm gì để các mối quan hệ trong gia đình trở nên tốt đẹp hơn.
+ Con cái nhận được yêu thương nhưng cũng cần được tự do để quyết định cuộc đời mình, để được viết nên ước mơ, khát vọng của mình chứ không phải đi viết ước mơ cho bố mẹ như hiện nay nhiều bạn học trường này, ngành này là vì bố mẹ. Ngược lại, bố mẹ cũng cần tận hưởng cuộc đời mình để thực sự được sống chứ không cần phải hi sinh tất cả vì con cái. Điều quan trọng là giữa bố mẹ và con luôn có sợi dây gắn kết bởi tình yêu thương không gì chia cắt nổi.
* Liên hệ bản thân: Em đã làm gì để cải thiện mối quan hệ của mình với cha mẹ? Hãy chia sẻ đôi điều với bạn bè của mình về quan hệ giữa mình và cha mẹ để giúp các thế hệ cùng trang lứa với mình hiểu nhiều về gia đình mình hơn.
Câu 3
|
Học sinh được chọn 1 trong 2 đề sau: Đề 1 Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái. (Trích Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Phạm Tiến Duật) Cảm nhận về hình ảnh người lính trong hai khổ thơ trên. Từ đó, liên hệ với một tác phẩm khác cũng viết về người lính để thấy được nét gặp gỡ của các tác giả khi viết về đề tài này. Đề 2 Từ những trải nghiệm trong quá trình đọc tác phẩm văn học, em hãy viết bài văn với nhan đề: “Những ngọn lửa nhóm lên từ trang sách”. |
Phương pháp giải:
Phân tích, tổng hợp
Lời giải chi tiết:
1. Giới thiệu chung
Tác giả:
- Là nhà thơ khoác áo lính, một gương mặt tiêu biểu cho thế hệ thơ trẻ kháng chiến chống Mĩ.
- Hình tượng trung tâm trong thơ ông là người lính và cô thanh niên xung phong.
- Nghệ thuật: giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc.
Tác phẩm: Viết năm 1969, được in trong “Vầng trăng quầng lửa”.
Đoạn trích: Khái quát hiện thực chiến trường và vẻ đẹp tâm hồn người lính.
2. Phân tích
a. Hình ảnh tiểu đội xe không kính:
- Được giới thiệu rất độc đáo: “Không có kính không phải vì xe không có kính”:
+ Là lời giải thích của người lính về chiếc xe không kính.
+ Nó như là một lời phân bua, thanh minh. Tâm trạng này dễ hiểu vì với người lính lái xe chiếc xe là niềm tự hào, là phương tiện để góp sức cho chiến tuyến, góp phần làm nên chiến thắng chung.
-> Gợi: Sự khốc liệt của chiến trường; sự gian khổ khi lái xe; sự gan góc, kiên cường của người lính lái xe.
- Giúp người lính lái xe phát hiện ra chất thơ giữa đời thường:
+ Giúp người lính chan hòa với thiên nhiên
+ Giúp họ nối kết tình đồng đội
+ Tìm được những phút giây vui vẻ, hồn nhiên nhất.
=> Là một hình ảnh rất thực, không hiếm trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ. Là hình ảnh đặc sắc, độc đáo trong thơ Phạm Tiến Duật nói riêng và thơ ca kháng chiến chống Mĩ nói chung. Nó vừa là biểu tượng cho sự tàn phá của chiến tranh, lại vừa là hình ảnh đẹp đẽ, nên thơ ngay trong cuộc chiến ác liệt.
b. Hình ảnh người lính lái xe Trường Sơn:
* Được khắc họa trên nền của cuộc chiến tranh ác liệt:
- “Bom giật, bom rung”
- Những chiếc xe không kính
-> Gợi vùng đất chìm trong khói lửa chiến tranh, mưa bom, bão đạn không một chút bình yên.
Gợi những hiểm nguy, mất mát, hy sinh của cuộc đời người lính.
* Vẻ đẹp của người lính lái xe Trường Sơn:
- Phong thái ung dung, hiên ngang, dũng cảm:
+ Đảo ngữ: tô đậm sự ung dung, bình thản, điềm tĩnh đến kì lạ.
+ Điệp từ “nhìn”, thủ pháp liệt kê và lối miêu tả nhìn thẳng, không né tránh gian khổ, hy sinh, sẵn sàng đối mặt với gian nan, thử thách.
3. Liên hệ bài Đồng chí
- Giới thiệu tác giả
- Vẻ đẹp của người lính trong tác phẩm Đồng chí:
+ Họ thấu hiểu những tâm tư, tình cảm của nhau.
+ Những người lính có tình yêu thương, gắn bó sâu nặng với nhau.
+ Họ có lí tưởng sống cao đẹp, sẵn sàng hi sinh cho tổ quốc.
- Điểm gặp gỡ giữa hai tác phẩm:
+ Mục đích chiến đấu: Vì nền độc lập của dân tộc.
+ Đều có tinh thần vượt qua mọi khó khăn, gian khổ.
+ Họ rất kiên cường, dũng cảm trong chiến đấu.
+ Họ có tình cảm đồng chí, đồng đội sâu nặng.
Bên cạnh đó hai tác phẩm này cũng có những điểm khác biệt: Bài thơ về tiểu đội xe không kính người lính luôn trẻ trung sôi nổi, vui nhộn với khí thế mới mang tinh thần thời đại; còn bài Đồng chí mamg vẻ đẹp chân chất, mộc mạc của người lính xuất thân từ nông dân.
4. Tổng kết, đánh giá
- Đoạn trích đã làm nổi bật hiện thực chiến tranh gian khổ khốc liệt nhưng đồng thời cũng làm ánh lên vẻ đẹp anh hùng, dũng cảm, chút tinh ngịch, đầy ngang tàn của người linh Trường Sơn.
- Nhận thức trách nhiệm của thế hệ trẻ với tương lai đất nước.
Gợi ý đề 2
1. Giới thiệu vấn đề: Những ngọn lửa nhóm lên từ trang sách
2. Giải thích vấn đề
- “Những ngọn lửa” ở đây được sử dụng mang nghĩa ẩn dụ, đó là tượng trưng cho những giá trị mà văn chương đem lại.
- Những ngọn lửa nhóm lên từ trang sách là những ngọn lửa của tình yêu thương, của lòng căm thù, của niềm tự hào và hơn hết, văn chương giúp chúng ta biết đến thế giới của một người khác, biết đồng cảm với “tha nhân” để đem tâm hồn mình đến gần hơn với tâm hồn mọi người. Xét cho cùng, giá trị của văn chương như Leptonxtoi đã nói “Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu. Tình yêu con người, ước mơ cháy bỏng vì một xã hội công bằng, bình đẳng bái ái luôn luôn thôi thúc các nhà văn sống và viết, vắt cạn kiệt những dòng suy nghĩ, hiến dâng bầu máu nóng của mình cho nhân loại.” hay “Đối với tôi văn chương không phải là cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên ; trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối, tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn”. (Thạch Lam)
- Nhận định đã đề cập đến giá trị to lớn của văn chương, hướng con người đến chân – thiện – mĩ.
3. Giải quyết vấn đề
- Văn chương nuôi dưỡng trong lòng ta những tình cảm tốt đẹp:
+ Tình yêu thương, đồng cảm với con người: Chuyện Người con gái Nam Xương, Truyện Kiều, Đồng chí,…
+ Tình yêu nước, tự hào dân tộc: Làng, Nói với con,…
+ Tình cảm gia đình: Bếp lửa, Chiếc lược ngà, Con cò, Nói với con,…
Ngoài ra văn chương còn cho ta lòng dũng cảm, sự vị tha.
- Vì yêu thương nên căm thù, lên án những người, thế lực chà đạp lên sự sống, chà đạp lên cuộc đời con người.
- Văn chương hướng chúng ta đến những suy ngẫm giàu tính triết lí, những triết lí ấy có giá trị ngàn đời, nhiều khi gợi ra cho chúng ta những câu hỏi, chính những câu hỏi ấy làm nên sức sống cho tác phẩm, kích thích bạn đọc đi tìm câu trả lời.
Học sinh chứng minh những ngọn lửa thắp lên từ trang sách theo các ý trên dựa vào những tác phẩm em đã được học hoặc được đọc.
4. Mở rộng – nâng cao
- Để hiểu được giá trị của văn chương, người đọc phải có tầm đón nhận để hiểu những điều nhà văn ấp ủ.
- Giá trị của tác phẩm phụ thuộc vào bạn đọc, chính người đọc là người quyết định số phận tác phẩm, quyết định giá trị của văn chương. “Tác phẩm chân chính không kết thúc ở trang cuối cùng, không bao giờ hết khả năng kể chuyện khi câu chuyện về các nhân vật đã kết thúc. Tác phẩm nhập vào tâm hồn và ý thức của bạn đọc, tiếp tục sống và hành động như một lực lượng nội tâm, như sự dằn vặt và ánh sáng của lương tâm, không bao giờ tàn tạ như thi ca của sự thật.”
Đề thi vào 10 môn Văn Hồ Chí Minh năm 2015
Đề bài
Câu 1 (2,0 điểm)
Nắng bây giờ bắt đầu len tới, đốt cháy rừng cây. Những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của những cây tử kinh thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà lên trên màu xanh của rừng. Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe.
( Theo Ngữ văn 9, tập 1)
a. Đoạn văn trên trích từ văn bản nào? Nêu tên tác giả của văn bản đó.
b. Đoạn văn trên được kể theo ngôi thứ mấy?
c.Trong đoạn văn trên, cảnh vật thiên nhiên chủ yếu được miêu tả bằng biện pháp tu từ nào? Tác dụng của các biện pháp tu từ đó?
Câu 2 (3,0 điểm)
Trình bày suy nghĩ của em về câu nói của Các Mác: “ Tình bạn chân chính là viên ngọc quý ”.
Câu 3 (5,0 điểm)
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
( Viếng lăng Bác- Viễn Phương)
Lời giải chi tiết
Câu 1
|
a. Đoạn văn trên trích từ văn bản nào? Nêu tên tác giả của văn bản đó. b. Đoạn văn trên được kể theo ngôi thứ mấy? c.Trong đoạn văn trên, cảnh vật thiên nhiên chủ yếu được miêu tả bằng biện pháp tu từ nào? Tác dụng của các biện pháp tu từ đó? |
Phương pháp giải:
Ôn lại kiến thức về tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa
Lời giải chi tiết:
a.
- Tác phẩm: “Lặng lẽ Sa Pa”
- Tác giả: Nguyễn Thành Long.
b. Đoạn văn được kể theo ngôi thứ ba.
c.
- Biện pháp tu từ: Nhân hóa, ẩn dụ.
- Tác dụng:
+ Làm nổi bật vẻ đẹp thiên nhiên Sa Pa lặng lẽ, thơ mộng và tràn đầy sức sống.
+ Tạo nên một đoạn văn đậm chất họa và chất thơ, góp phần làm nổi bật chủ đề của câu chuyện.
Câu 2
| Trình bày suy nghĩ của em về câu nói của Các Mác: “ Tình bạn chân chính là viên ngọc quý ”. |
Phương pháp giải:
Liên hệ bản thân
Lời giải chi tiết:
a. Giải thích
- Tình bạn là tình cảm gắn bó thân thiết giữa hai hoặc một nhóm người có những nét chung về tính tình, sở thích, ước mơ, lí tưởng…
- Tình bạn chân chính là tình bạn trong sáng, tâm đầu, ý hợp, yêu thương quý trọng nhau, thủy chung gắn bó, không vụ lợi, không dung tục tầm thường.
- Các Mác đã dùng cách nói so sánh để khẳng định tình bạn chân chính trong sáng, quý giá như ngọc.
b. Phân tích
- Quan niệm hoàn toàn đúng vì: Tình bạn chân chính sẽ giúp đỡ nhau trong học tập, trong lao động. Những người bạn chân chính sẽ cùng nhau chia sẻ những ngọt bùi, đắng cay trong cuộc sống. Bạn chân chính sẽ đem lại hạnh phúc cho nhau, gắn bó với nhau ngay cả những lúc khó khăn nhất.
( Dẫn chứng: Tình bạn của Lưu Bình- Dương Lễ, Bá Nha- Chung Tử Kì, Dương Khuê- Nguyễn Khuyến, Các Mác- Ăng- ghen…)
- Trong cuộc sống, nếu không có tình bạn chân chính, khi gặp khó khăn, cô đơn không nhận được sự chia sẻ, động viên…
- Người biết xây dựng tình bạn chân chính là người có văn hóa, có nhân cách, sẽ được mọi người yêu mến kính trọng.
- Trong cuộc sống, cần phê phán những kẻ giả dối, lừa thày phản bạn; hoặc lợi dụng tình bạn để thực hiện những toan tính tầm thường…
- Tình bạn đẹp phải được kiểm nghiệm qua thời gian, qua những biến cố của cuộc sống. Mỗi người nên ý thức về việc xây dựng, vun đắp cho mình một tình bạn chân chính.
- Cần biết phân biệt bạn tốt, bạn xấu; Nên biết chọn bạn mà chơi.
c. Liên hệ bản thân
- Nhận thức được tầm quan trọng của tình bạn.
- Khẳng định sự cần thiết của việc xây dựng tình bạn chân chính.
Câu 3
|
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau: Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim!
Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
( Viếng lăng Bác- Viễn Phương) |
Phương pháp giải:
Ôn lại kiến thức về bài thơ Viếng lăng Bác
Lời giải chi tiết:
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Viễn Phương là nhà văn miền Nam trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ông là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam. Thơ của ông bình dị mà trữ tình, mộc mạc, chân chất nhưng nhẹ nhàng, sâu lắng.
- “Viếng lăng Bác” là bài thơ gắn liền với tên tuổi Viễn Phương, được viết sau chuyến ra thăm lăng Bác của chính tác giả.
- Đoạn thơ thể hiện niềm xúc động nghẹn ngào khi gặp Bác, tâm trạng lưu luyến khi phải rời xa lăng Bác - rời xa Bác.
2. Phân tích
a. Cảm xúc của tác giả khi thăm lăng Bác
- Cách nói giảm, nói tránh “giấc ngủ” làm xoa dịu nỗi đau mất mát.
- Hình ảnh ẩn dụ: vầng trăng sáng dịu hiền, trời xanh.
-> Gợi không gian yên tĩnh, trang nghiêm, tâm hồn cao đẹp sáng trong của Bác.
-Từ gợi tả: nghe nhói
-> Niềm xúc động thành kính và nỗi đau xót của nhà thơ rất chân thành, sâu sắc trước sự ra đi của Bác.
=> Khổ thơ thể hiện niềm xúc động nghẹn ngào, trào dâng khi tác giả nhìn thấy Bác ở trong lăng.
b. Tâm trạng lưu luyến, bịn rịn không muốn rời lăng Bác:
- Nỗi niềm lưu luyến được bộc bạch trực tiếp “Mai về miền Nam thương trào nước mắt”. Đó là giọt nước mắt đau đớn, xót xa trước mất mát lớn lao của toàn dân tộc; là giọt nước mắt của tình cảm kính yêu, trân trọng mà tác giả dành cho Bác; là giọt nước mắt lưu luyến, không muốn xa rời.
- Liệt kê các hình ảnh thơ “con chim hót”, “ đóa hoa tỏa hương”, “cây tre trung hiếu” cùng điệp ngữ “muốn làm” đã thể hiện mong ước hóa thân, ước nguyện tha thiết của nhà thơ mãi được ở bên Bác, dâng lên Bác tất cả lòng thành kính, biết ơn…
=> Tiếng lòng của tác giả thổn thức, thiết tha, đau đáu khôn nguôi, gợi cảm xúc sâu sắc cho người đọc. Đó là tình cảm của nhà thơ nói riêng và của cả dân tộc Việt Nam nói chung đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu.
c. Đánh giá
Viễn Phương đã bộc lộ được cảm xúc trào dâng của mình khi viếng thăm lăng Bác. Những hình ảnh trong thơ được xây dựng bằng rung cảm thiết tha của nhà thơ. Từ đó, tác giả bộc lộ tình cảm chân thành, bình dị mà tha thiết của mình đối với Bác. Đó cũng là tình cảm chung của nhân dân miền Nam dành cho vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.
Đề thi minh hoạ vào 10 môn Văn TP Hồ Chí Minh năm 2026
Đề bài
Chủ đề: Tôi - một phần của thế giới
“những giọt nước làm nên biển cả, những cây lúa làm nên cánh đồng và những vì sao làm nên sự phong phú của bầu trời..."
(Trần Hoài Dương, Cuộc phiêu lưu của những con chữ)
I. Đọc hiểu văn bản văn học và viết đoạn văn nghị luận văn học (5,0 điểm)
Tôi là một con chữ chì ở nhà in. Tên tôi là A. Từ lâu tôi đã nổi tiếng, hễ nhắc đến tên, ai cũng biết. Khi vui sướng quá, người ta thường reo tên tôi trước tiên: “A - a - a!" Khi ngạc nhiên, sửng sốt, người ta cũng kêu lên: “A!” Khi đau đớn không chịu nổi, người ta cũng gọi tên tôi, mong tìm một người bạn che chở: “A - a á!” Hằng năm, cứ đến ngày khai trường, hàng triệu trẻ em ở khắp nơi bao giờ cũng phải làm quen với tôi trước tiên. Tôi đứng đầu bảng chữ cái nước ta. Trong bảng chữ cái của nhiều nước trên thế giới, tôi cũng là chữ được người ta trân trọng xếp ở hàng đầu... Còn nhiều ví dụ tương tự, không thể kể hết được.
(Lược một đoạn: A và các con chữ khác được Cô Sách Giáo Khoa kể cho nghe về Cung điện Ánh sáng với một thư viện rất lớn. Những con chữ tin rằng trong thư viện sẽ có cuốn Sách Ước giúp mình muốn gì được nấy. Từ hôm ấy, Cung điện Ánh sáng và cuốn Sách Ước luôn ám ảnh trong tâm trí của A).
Tôi quyết định ra đi. Sống quanh quẩn ở nhà mãi, chán lắm. Khổ nhất là bị gò bó, lúc nào cũng phải sống trong một trật tự, mất hết thoải mái. Bạn bè chẳng ai hiểu tôi. Họ không đánh giá hết vai trò quan trọng loại A của tôi. Chữ A thì bao giờ cũng phải được ưu tiên đứng ở hàng đầu. Họ không hiểu điều đơn giản ấy, nhiều lúc cứ nhét tôi vào giữa, thậm chí vào cuối hàng chữ. Đã thế, cô thợ xếp chữ lại đứng về phe họ, hễ tôi vừa trồi lên đứng đầu hàng, là cô lại gắp tôi, nhét trở lại chỗ cũ. Ức không chịu được. Phải bỏ đi thôi! Tôi sẽ tìm bằng được Cung điện Ánh sáng và cuốn Sách Ước. Tôi sẽ ước sao được sống một mình, muốn làm gì, muốn ở đâu là tùy theo ý mình.
(Lược một đoạn: A đi qua Viện bảo tàng, lắng nghe những lời khuyên của bác P giàu kinh nghiệm. Sau đó A mơ thấy mình đến được Cung điện Ánh sáng, chiếm được cuốn Sách Ước, ước cuốn sách là của riêng mình.)
Tôi như phát cuồng lên, vừa sung sướng vừa lo sợ. Hai chân tôi ríu vào nhau. Cuốn Sách Ước vừa mở ra, sáng lấp lánh. Nhiều chữ ào lên sát cạnh tôi. Tôi dang tay ra ngăn chúng lại, gạt phắt chúng đi, túm lấy chúng mà lẳng ra xa. Vừa gạt, tôi vừa hét: “Của tôi! Của tôi!”. Thừa lúc mọi người đang chạy tán loạn, tôi nhanh nhẹn thu mình lại, rồi dồn hết sức lực, bật dậy thật mạnh, quăng mình lộn ba vòng trong không trung và lao thẳng vào giữa trang sách. Tôi gào thật to: "Ước gì tôi được sống một mình! Chỉ một mình tôi thôi! Của tôi! Của tôi! Cuốn Sách Ước của tôi”. Cầu được ước thấy, cuốn sách cứ lớn lên, lớn dần và chỉ mình tôi ngồi chễm chệ trên đó. Nhìn các chữ khác đang đứng ngẩn ngơ phía dưới với những đôi mắt đầy thèm muốn, tôi sung sướng quá, cười ha hả rất sảng khoái. Trang sách cử trải rộng mãi, cuồn cuộn như những đợt sóng. Ban đầu, điều đó làm tôi rất thích thú, nhưng sau lại thấy sợ. Xung quanh tôi vắng lặng, không một tiếng chim kêu, không một tiếng cây có rì rào, không một bóng người qua lại. Tất cả chỉ một màu trắng lạnh lẽo như một bãi cát chết, nhìn hút tầm mắt. Bây giờ tôi mới nhận nhận ra điều giản dị này: một chữ A như tôi sống cô độc trên trang sách trống trải, nào có nghĩa gì! Người tôi lúc nóng hầm hập, lúc lạnh toát. Kinh hãi quá tôi hốt hoảng kêu thét lên...
(Trích Cuộc phiêu lưu của những con chữ, Trần Hoài Dương, trong Tổng tập Truyện ngắn Việt Nam 1945-2005 (Tác giả tự chọn), Quyển 7, NXB Công an Nhân dân, 2005)
Câu 1 (3,0 điểm)
a. Theo văn bản, nhân vật “tôi” dự định sẽ ước điều gì khi có được cuốn Sách Ước? (0,5 điểm)
b. Chi tiết “Bạn bè chẳng ai hiểu tôi. Họ không đánh giá hết vai trò quan trọng loại A của tôi. Chữ A thì bao giờ cũng phải được ưu tiên đứng ở hàng đầu” và chi tiết “Bây giờ tôi mới nhận ra điều giản dị này: một chữ A như tôi sống cô độc trên trang sách trống trải, nào có nghĩa gì!" cho thấy sự thay đổi như thế nào trong nhận thức của nhân vật “tôi”? (0,75 điểm)
c. Xác định những câu rút gọn trong đoạn trích sau, khôi phục lại các thành phần bị rút gọn và cho biết tác dụng của việc sử dụng loại câu này: “Ức không chịu được. Phải bỏ đi thôi! Tôi sẽ tìm bằng được Cung điện Ánh sáng và cuốn Sách Ước.” (0,75 điểm)
d. Hãy tưởng tượng, khi tỉnh lại và gặp các bạn chữ khác, nhân vật “tôi” sẽ nói gì với họ? Vì sao? (1,0 điểm)
Câu 2 (2,0 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nội dung chủ đề hoặc những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của đoạn trích tác phẩm Cuộc phiêu lưu của những con chữ (Trần Hoài Dương) ở trên.
II. Đọc hiểu văn bản thông tin và viết bài văn nghị luận xã hội (5,0 điểm)
NGÀY QUỐC TẾ ĐA DẠNG SINH HỌC 22/5 CHỦ ĐỀ NĂM 2025 "SỐNG HÀI HÒA VỚI THIÊN NHIÊN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG" TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC
(Theo Thông tấn xã Việt Nam, https://infographics.vn/ngay-quoc-te-da-dang-sinh-hoc-22-5, truy xuất ngày 12/10/2025)
Câu 1 (1,0 điểm): Hãy phân tích tác dụng của hình ảnh đối với việc thể hiện thông tin trong văn bản trên.
Câu 2 (4,0 điểm): Em hãy chọn một trong hai yêu cầu sau để thực hiện:
1. Viết bài văn nghị luận về thái độ luôn coi mình là quan trọng nhất trong mối quan hệ với mọi người; từ đó, đề xuất giải pháp để giúp các bạn trẻ sống hài hòa với mọi người.
2. Viết bài văn nghị luận về thái độ luôn coi con người là quan trọng nhất trong mối quan hệ với thế giới tự nhiên; từ đó, đề xuất giải pháp để giúp các bạn trẻ biết tôn trọng sự đa dạng của thế giới tự nhiên.
Lời giải chi tiết
HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT – ĐỀ VĂN MINH HOẠ TP. HỒ CHÍ MINH
THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN trithuchub.com
PHẦN I
Câu 1:
a.
Phương pháp:
Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý và xác định câu trả lời
Cách giải:
Theo đoạn trích nhân vật “tôi” dự định sẽ ước: được sống một mình, muốn làm gì, muốn ở đâu là tùy theo ý mình.
b.
Phương pháp:
Căn cứ bài đọc hiểu, các chi tiết được cung cấp, phân tích sự thay đổi của chữ A
Cách giải:
Hai chi tiết trên đã cho thấy sự thay đổi trong nhận thức của chữ A: Ban đầu chữ A tự cho bản thân mình là quan trọng nhất, không coi trọng những chữ cái khác.
+ Chữ A kiêu ngạo, ích kỷ, cho rằng mình là trung tâm, là “quan trọng nhất” nên muốn tách khỏi tập thể để được đứng một mình, được tự do.
=> Thể hiện cái “tôi” vị kỷ, chưa hiểu được giá trị của sự hòa hợp. Sau khi đạt được ước muốn, chữ A nhận ra sự cô đơn và vô nghĩa khi tách khỏi những con chữ khác.
+ Chữ A đã nhận ra bản thân mình là một phần của thế giới, của cộng đồng. Mỗi chúng ta chỉ có ý nghĩa khi sống trong sự gắn bó, cộng đồng và sẻ chia.
=> Nhận thức này cho thấy sự thay đổi tích cực trong nhận thức của A. Từ cái tôi tự mãn, ích kỷ đến cái tôi biết thấu hiểu, biết hòa nhập và trân trọng tập thể.
c.
Phương pháp:
Căn cứ bài câu rút gọn, phân tích
Cách giải:
* Các câu rút gọn có trong đoạn sau là:
- Ức không chịu được.
- Phải bỏ đi thôi.
Hai câu đã rút gọn chủ ngữ.
* Khôi phục thành phần bị rút gọn:
- Ức không chịu được.
=> Tôi ức không chịu được.
- Phải bỏ đi thôi.
=> Tôi phải bỏ đi thôi.
* Tác dụng của câu rút gọn:
- Giúp lời kể ngắn gọn, dồn dập, thể hiện rõ tâm trạng bực bội, tức tối và nôn nóng của nhân vật “tôi”.
- Làm cho nhịp văn gấp gáp, sống động, góp phần khắc họa tâm lý và hành động của chữ A khi quyết định ra đi.
d.
Phương pháp:
Căn cứ bài đọc hiểu, phân tích và lí giải
Cách giải:
HS dựa vào nội dung văn bản, viết lời thoại phù hợp.
Gợi ý:
Khi tỉnh lại và gặp lại các bạn chữ khác, “tôi” (chữ A) có thể xúc động nói: “Các bạn ơi, tôi đã sai rồi! Tôi tưởng chỉ cần một mình là đủ, nhưng nếu không có các bạn, tôi chẳng có nghĩa gì cả. Chúng ta chỉ thật sự có giá trị khi cùng nhau tạo nên lời nói, câu văn và tri thức cho con người.”
Bởi sau trải nghiệm cô đơn, chữ A hiểu ra giá trị của sự gắn kết, nhận ra rằng mỗi cá nhân chỉ có ý nghĩa khi là một phần của tập thể.
Câu 2:
Phương pháp:
Căn cứ kiến thức đã học về chủ đề; Vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận: phân tích, chứng minh,…
Cách giải:
HS lựa chọn phân tích nội dung chủ đề hoặc nét đặc sắc nghệ thuật của văn bản.
Yêu cầu: Viết đoạn văn khoảng 200 chữ, đủ bố cục ba phần: Mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn. Phân tích được nội dung chủ đề của đoạn trích.
- Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
- Thân đoạn:
+ Tóm tắt ngắn gọn nội dung tác phẩm.
+ Nội dung chủ đề của văn bản: mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể.
HS phân tích để làm rõ nội dung chủ đề của văn bản.
+ Đánh giá về đặc sắc nghệ thuật trong việc thể hiện chủ đề của văn bản.
- Kết đoạn: Khẳng định ý nghĩa, giá trị của nội dung, chủ đề.
PHẦN II
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý và xác định câu trả lời
Cách giải:
Tác dụng của hình ảnh đối với việc thể hiện thông tin:
- Truyền đạt thông tin nhanh và trực quan: Hình ảnh giúp người xem nắm được thông tin về ngày Quốc tế đa dạng sinh học 22/5 và nắm được chủ đề của năm nay là: “Sống hài hoà với thiên nhiên và phát triển bền vững”. Đồng thời giúp mọi người có thể nắm được tầm quan trọng của đa dạng sinh học cũng như thực trạng hiện nay.
- Gây ấn tượng và thu hút người xem: Hình ảnh tạo điểm nhấn thị giác, giúp người xem chú ý, ghi nhớ lâu hơn.
- Hỗ trợ, làm rõ và bổ sung cho ngôn ngữ lời nói hoặc chữ viết: Hình ảnh minh họa, cụ thể hóa nội dung ngôn từ, giúp người tiếp nhận hiểu chính xác và sâu sắc hơn.
…
Câu 2:
Phương pháp:
Căn cứ kiến thức đã học về nghị luận xã hội, phân tích đề và xác định vấn đề nghị luận
Vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận: phân tích, giải thích, chứng minh,…
Cách giải:
HS lựa chọn 1 trong 2 đề và tiến hành viết bài.
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân bài
- Giải thích: “Luôn coi mình là quan trọng nhất” nghĩa là: Luôn cho rằng bản thân đúng, ý kiến của mình cần được ưu tiên. Đặt cái tôi lên trên lợi ích chung, thiếu lắng nghe, thiếu tôn trọng người khác.
=> Đây là thái độ ích kỉ, thiếu tinh thần đồng cảm và sẻ chia trong giao tiếp xã hội.
- Biểu hiện của thái độ luôn coi mình là quan trọng nhất:
+ Trong học tập: không hợp tác nhóm, coi thường ý kiến bạn bè.
+ Trong công việc: chỉ muốn thể hiện bản thân, không chấp nhận góp ý.
+ Trong gia đình và xã hội: dễ nóng giận, mâu thuẫn, không chịu nhường nhịn.
+ Trên mạng xã hội: thể hiện cái tôi cực đoan, thích phán xét và áp đặt người khác.
- Hậu quả của thái độ “coi mình là nhất”
+ Làm mất lòng tin và thiện cảm từ người xung quanh. Dễ dẫn đến xung đột, cô lập, thất bại trong hợp tác.
+ Kìm hãm sự phát triển bản thân vì không biết tiếp thu ý kiến.
+ Gây mất cân bằng trong quan hệ xã hội, làm suy giảm tinh thần đoàn kết, tương trợ.
- Nguyên nhân
+ Cái tôi cá nhân lớn, thiếu rèn luyện về cảm xúc và kĩ năng giao tiếp.
+ Ảnh hưởng của mạng xã hội khiến nhiều người muốn “thể hiện” để được chú ý.
- Giải pháp giúp sống hài hòa với mọi người
+ Tự nhận thức và điều chỉnh bản thân: Biết lắng nghe, tôn trọng người khác.
+ Rèn luyện kĩ năng giao tiếp – ứng xử: học cách thấu hiểu, chia sẻ.
+ Nuôi dưỡng lòng khiêm tốn: coi thành công là kết quả của tập thể, không chỉ riêng cá nhân.
+ Lan tỏa lối sống tích cực: biết đặt mình vào vị trí người khác, sống vị tha và nhân ái.
(HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp)
- Không nên hiểu “sống hài hòa” là mất đi chính kiến cá nhân; cần giữ vững lập trường đúng đắn nhưng biết cách trình bày, ứng xử tế nhị và tôn trọng người khác. Cần biết cân bằng giữa cái tôi cá nhân và lợi ích tập thể.
3. Kết bài: Khẳng định, tổng kết lại vấn đề.
Không nên hiểu “sống hài hòa” là mất đi chính kiến cá nhân; cần giữ vững lập trường đúng đắn nhưng biết cách trình bày, ứng xử tế nhị và tôn trọng người khác. Cần biết cân bằng giữa cái tôi cá nhân và lợi ích tập thể.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
