Đề thi vào 10 môn Văn Kiên Giang
Đề thi vào 10 môn Văn chuyên Kiên Giang năm 2025
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản:
Mẹ ra Hà Nội
(Lê Đình Cảnh)
|
(1) Mẹ ra Hà Nội thăm con Vừa trên tàu xuống chân còn run run Áo nâu còn đẫm mưa phùn Còn hoai vị cỏ sục bùn lúa non Sang đường tay níu áo con Ngã tư hối hả xe bon ngược chiều.
(2) Khoác vai mẹ, chiếc đãy nghèo Năm xưa thắt lại bao điều đắng cay Đưa con trốn ngục những ngày Vài lưng gạo hẩm thăm thầy trong lao ... [ ... ] (3) Bà ra bế cháu của bà Những mong cùng ước lòng bà hôm mai Lên thang chẳng dám bước dài Vào khu tập thể gặp ai cũng chào |
Lời ru bà thuộc thuở nào Qua bom đạn vẫn ngọt ngào nắng trưa Để hồn cháu có núi Nưa Tiếng cồng Bà Triệu ngày xưa vọng về Lam Sơn rừng núi ba bề Lũng Nhai vọng mãi lời thề nước non.
(4) Trải bao sông cạn đá mòn Còn con còn cháu nên còn cha ông Mới xa đã nhớ ruộng đồng Thương con mà chẳng đành lòng ở lâu Run run mẹ bước lên tàu Vị bùn vẫn thoảng áo nâu quê nhà. (Nguyễn Thanh Tâm tuyển chọn – giới thiệu 141 tác giả thơ Việt Nam đương đại, Những mảnh ghép của huyền thoại, NXB Văn học, Hà Nội, 2024, tr.211 – 212) |
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2 (0,5 điểm). Ghi lại các tiếng có gieo vần ở đoạn thơ (1).
Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tâm tư, nỗi niềm của người mẹ trong 2 dòng thơ in đậm.
Câu 4 (1,0 điểm). Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ trong hai dòng thơ:
“Run run mẹ bước lên tàu
Vị bùn vẫn thoảng áo nâu quê nhà.”
Câu 5 (1,0 điểm). Hình ảnh người mẹ/người bà trong văn bản trên gợi lên trong em tình cảm, thái độ gì. (trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh người bà trong đoạn thơ (3) ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Hiện nay, còn hiện tượng đáng buồn là một số học sinh học đối phó. Em hãy viết bài văn nghị luận bàn về hiện tượng đó và đề xuất giải pháp phù hợp.
Đáp án
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) |
Câu 1. (0,5 điểm) |
Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát |
|
Câu 2. (0,5 điểm) |
Các tiếng được gieo vần ở đoạn thơ (1): + phùn - bùn + non - con - bon |
|
|
Câu 3. (1,0 điểm) |
Học sinh tự cảm nhận phân tích, chú ý tính hợp lý: Hai câu thơ thể hiện tâm tư đầy yêu thương nhưng cũng đầy trách nhiệm của người mẹ: - Nhớ ruộng đồng → biểu hiện của tình yêu quê hương và trách nhiệm với công việc nhà nông. |
|
|
Câu 4. (1,0 điểm) |
Gợi ý: - Tạo điểm nhấn cảm xúc, làm nổi bật trạng thái xúc động, bỡ ngỡ của người mẹ (run run). |
|
|
Câu 5. (1,0 điểm) |
Học sinh tự trình bày cảm nhận của bản thân, chú ý lý giải phù hợp. sau đây là gợi ý: - Tình yêu thương, sự trân trọng đối với sự hi sinh của bà, của mẹ - Sự biết ơn và mong muốn được báo đáp công ơn của bà, của mẹ,... |
|
|
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) |
Câu 1. (2,0 điểm) |
I. Mở đoạn: Giới thiệu khái quát hình ảnh người bà trong đoạn thơ: Hình ảnh người bà hiện lên vừa gần gũi, giản dị, lại cao đẹp, giàu lòng yêu nước và truyền thống văn hóa. II. Thân đoạn: 1. Người bà giản dị, gần gũi, đầy yêu thương - Bà hiện lên trong hình ảnh thân thuộc: bế cháu, chăm cháu, đặt nhiều kỳ vọng, mong mỏi cháu khôn lớn nên người.Tình yêu thương ấm áp, bao dung của bà dành cho thế hệ sau. 2. Người bà là hiện thân của truyền thống văn hóa, lịch sử dân tộc - Lời ru là biểu tượng của văn hóa dân gian, truyền thống nuôi dưỡng tâm hồn. Dù trải qua chiến tranh bom đạn, bà vẫn giữ được nét đẹp dịu dàng, vững vàng truyền lại cho cháu. - Bà không chỉ ru cháu bằng lời ru ngọt ngào, mà còn ru cháu bằng lịch sử dân tộc, qua hình ảnh núi Nưa, Bà Triệu – biểu tượng anh hùng. - Những địa danh lịch sử hiện lên cho thấy tầm vóc tinh thần và lòng yêu nước được bà truyền lại. Người bà ở đây là cầu nối giữa quá khứ hào hùng và hiện tại, truyền lại ngọn lửa yêu nước cho cháu. III. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận. |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
I. Mở bài Giới thiệu khái quát về vấn đề nghị luận: Tình trạng học đối phó – một thực trạng phổ biến và đáng lo ngại trong môi trường giáo dục hiện đại; đề xuất giải pháp phù hợp II. Thân bài 1. Giải thích - Học đối phó là học không nhằm mục đích hiểu biết, phát triển bản thân mà chỉ để đối phó với bài kiểm tra, kỳ thi, thầy cô, cha mẹ... - Biểu hiện của học đối phó: Học thuộc lòng một cách máy móc. Học trước quên sau. Chép bài, học tủ, học lệch. Không chủ động tìm tòi, sáng tạo trong học tập. 2. Thực trạng của việc học đối phó hiện nay - Diễn ra phổ biến ở nhiều cấp học, nhất là học sinh THCS, THPT. - Học sinh chỉ chăm học vào những kỳ thi, hoặc học môn nào có kiểm tra. - Nhiều em không thấy được giá trị thật sự của việc học → học gượng ép, đối phó. 3. Nguyên nhân của tình trạng học đối phó - Từ học sinh: + Thiếu nhận thức đúng đắn về mục đích học tập. + Lười biếng, thiếu động lực nội tại. + Từ nhà trường và xã hội: + Chương trình học nặng, thi cử áp lực, chạy theo thành tích. - Từ phụ huynh: + Ép buộc con học vì điểm số, không quan tâm đến hứng thú, năng lực thật sự. + Từ môi trường xã hội: + Tâm lý học để thi, học để “qua môn” đã ăn sâu vào nhận thức. 4. Tác hại của việc học đối phó - Gây mất hứng thú học tập, học sinh dễ chán nản, mệt mỏi. - Không có kiến thức vững chắc, dẫn đến thiếu kỹ năng và năng lực thực tiễn. - Dần dần giết chết tư duy sáng tạo, tinh thần học hỏi. - Gây lệch lạc trong mục tiêu giáo dục, làm giảm chất lượng nguồn nhân lực tương lai. 5. Đề xuất giải pháp khắc phục a. Đối với học sinh: - Tự xây dựng mục tiêu học tập rõ ràng, đúng đắn. - Chủ động trong việc học: tự học, tự tìm tòi, không lệ thuộc. - Học vì bản thân, vì tương lai chứ không phải vì người khác. b. Đối với nhà trường và thầy cô: - Đổi mới phương pháp giảng dạy: kích thích tư duy, sự sáng tạo. - Giảm áp lực điểm số, khuyến khích học sinh phát triển năng lực cá nhân. c. Đối với gia đình: - Tạo môi trường học tập tích cực, khuyến khích thay vì áp đặt. - Đồng hành cùng con trong quá trình học, quan tâm đến cảm xúc và hứng thú học tập của con. d. Về phía xã hội: - Cải cách giáo dục theo hướng phát triển toàn diện năng lực. - Xây dựng tư tưởng học thật, thi thật, tránh bệnh thành tích. III. Kết bài Tổng kết lại vấn đè nghị luận |
Đề thi vào 10 môn Văn Kiên Giang năm 2025
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản:
(Tóm tắt phần đầu: Vì trộm tiền trong túi mẹ để đi chơi điện tử, tôi bị ba đánh 2 roi rất đau. Tôi hận ba và quyết tâm bỏ nhà đi để trả thù ba mẹ. Tình cờ, tôi gặp Lụm, cậu bé 15 tuổi, bị mẹ bỏ rơi từ khi còn nhỏ. Lụm được một bà bán bánh mì thương tình cưu mang.)
- Sao mầy đi bụi? - Thằng Lụm chợt hỏi.
- Ba tao. - Tôi chép miệng ra vẻ oan ức. - Ba tao đánh tao.
- Ý, bị đòn hả? - Tự nhiên nó hào hứng - Bị đánh bằng gì?
- Bằng roi, cây roi dài thiệt dài (nhưng cây roi ba đánh tôi là cây thước thợ may của mẹ, cụt ngủn hà). Bự tổ cha vậy nè. - Tôi đưa bắp tay ốm ròm ra.
- Đánh nghe đau mà chắc đã lắm hen? - Giọng thằng Lụm vừa hồ hởi vừa có vẻ ganh tị. - Mầy sướng thiệt (Trời, bị đánh mà sướng nỗi gì). Vậy mà còn bỏ nhà đi. Đồ ngu!
Tự nhiên vậy rồi nó chửi tôi à. Tôi cãi:
- Mầy đâu có má có ba đâu có biết. Người lớn khó dữ lắm.
- Chằng thà có má, có ba, bị rầy gì tao cũng chịu. - Thằng Lụm trở nên trầm ngâm, coi nó già quá trời. - Nhưng mầy đừng có lo, tao ngồi đây thể nào cũng gặp má tao thôi.
Thế nào má đi qua má cũng nhìn ra tao. Mai mốt bị rầy, bị đòn cho đã.
Tự nhiên tôi thấy thương thằng Lụm quá. Nó kể với tôi, nó đã chờ má nó từ hồi bảy tuổi tới giờ. Ban ngày nó đi bán bánh mì, ban đêm nó mới ra đây. Nó nói chừng nào nó giàu nó thôi bán bánh mì vì biết đâu má nó vẫn thường qua đây ban ngày mà không thấy nó. Nó chợt hỏi:
- Mầy sướng thấy mồ mới bị đánh tí đã bỏ đi. Bây giờ mầy có dám đổi với tao không? Ở một mình buồn lắm, mầy ngu thì thôi đi.
Thằng Lụm nói với giọ .. , kẻ cả. Tôi giật mình, bây giờ có ông tiên nào hiện ra để đổi vị trí hai đứa, chắc tôi buồn lắm. Ừ, có lẽ, ở nhà, bị rầy bị đánh vẫn hơn đi bán bánh mì, ngủ bờ ngủ bụi như vầy. Ở nhà, giờ này, mẹ khuấy cho tôi một ly sữa uống trước khi đi ngủ, mẹ hỏi tôi đánh răng chưa, tôi nói rồi, mẹ không tin biểu tôi nhe răng ra, thừa lúc hai má tôi phồng phồng, mẹ sẽ hôn tôi. Giờ nầy, nếu tôi đang mải đọc truyện tranh, ba sẽ biểu tôi cất sách, đi ngủ, ba sẽ ém mùng, tắt đèn giùm tôi khi bước ra căn phòng dán đầy hình ảnh Doraemon và Siêu Nhân.
Thằng Lụm “Còi” làm tôi hối hận và nhớ ba mẹ tôi quá. Tôi muốn trở về. Tôi ngồi im lặng suy nghĩ trong khi thằng Lụm liên tục cựa quậy trên ghế. Nó luôn luôn đứng dậy để nhìn mỗi khi có một lượt xe dừng lại trước đèn đỏ. Tôi chợt sợ quá, có khi nào ba mẹ giận bỏ tôi luôn như thằng Lụm không. Ba mẹ sẽ sanh nhiều thiệt nhiều em khác còn tôi thì biết kiếm đâu ra ba mẹ khác bây giờ. Tôi ngồi lo lắng đến mức, khi ba mẹ tôi ghé xe lại dưới đường tôi còn không hay. Thấy bóng mẹ đứng sịch trước mặt mình, tôi bật khóc:
- Con tính đâu ba mẹ bỏ con luôn rồi.
Mẹ không vồ vập ôm lấy tôi mà điềm đạm cầm bàn tay tôi bóp mạnh, còn ba thì vỗ vỗ vào đầu tôi:
- Con hư quá. Con đừng làm vậy ba mẹ buồn.
Thằng Lụm đứng trân trân nhìn tôi với đôi mắt buồn tủi. Tôi quẹt nước mắt bước lại gần nó, bất giác tôi gọi thằng Lụm bằng anh:
- Em về nghen, anh Lụm.
Thằng Lụm gật đầu, nó ngẩng lên nhìn ba mẹ tôi rồi quay lại:
- Ba má mầy hiền lắm phải hôn?
- Ừ, sao anh biết?
Nó ra vẻ ta đây:
- Nhìn tướng là biết. - Rồi nó mơ màng. - Ba má tao cũng hiền, tao tin vậy.
Mẹ lại gần nắm tay tôi, mẹ nói: “Về đi con, khuya rồi, mai còn đi học”, quay qua thằng Lụm, mẹ hỏi: "Còn cháu? Cháu không về nhà à?” Thằng Lụm cảm động, lắc đầu. Nó nói trống không:
- Mai mốt ra đây chơi, nghen mậy!
Tôi vừa ngoái vừa gật đầu. Ba tôi hỏi ai, tôi trả lời: “Bạn con. Anh Lụm. Anh Lụm tội nghiệp lắm ba à”. Không biết thằng Lụm “Còi” có biết tôi đang kể về nó không mà nó nhìn theo xe tôi đến khuất thì thôi. Khi tôi ngoái lại, dưới ánh đèn sáng rực, tôi thấy trong mắt nó lấp loáng những giọt nước. Tôi ngồi giữa ba và mẹ, nghe ấm hẳn lên. Tôi lên tiếng:
- Bữa nào ba mẹ cho con lại thăm anh Lụm “Còi” ba mẹ ha!
(Nguồn: Lụm “Còi”, trích từ sách Xa xóm mũi, Nguyễn Ngọc Tư, NXB Kim Đồng, tái bản lần thứ hai, 2016, tr. 20 - 30)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Vì sao nhân vật tôi bỏ nhà đi bụi?
Câu 2 (0,5 điểm). Ghi lại những câu rút gọn trong đoạn in đậm.
Câu 3 (1,0 điểm). Câu nói “Chăng thà có má, có ba, bị rầy gì tao cũng chịu.” gợi cho em suy nghĩ gì về nhân vật Lụm?
Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng, vai trò của chi tiết Lụm đề nghị đổi số phận với nhân vật tôi.
Câu 5 (1,0 điểm). Em hãy rút ra thông điệp có ý nghĩa với bản thân. (Trình bày khoảng 5 -7 dòng).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích tâm trạng của nhân vật tôi khi được ba mẹ đến đón về trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Hiện nay, loài người đã bước vào kỉ nguyên số, không ít bạn trẻ thường sử dụng tin nhắn, đoạn chat, nút biểu tượng thay vì giao tiếp trực tiếp. Điều này dẫn đến hạn chế kĩ năng giao tiếp. Em hãy viết bài văn nghị luận bàn về vấn đề đó và đề xuất giải pháp phù hợp.
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc phần tóm tắt và đoạn đầu văn bản, xác định nguyên nhân trực tiếp khiến nhân vật “tôi” bỏ nhà đi. Trả lời ngắn gọn, đúng ý.
Lời giải chi tiết:
Vì nhân vật “tôi” bị ba đánh do trộm tiền mẹ để đi chơi điện tử, từ đó giận ba mẹ và quyết định bỏ nhà đi bụi để trả thù.
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn in đậm, tìm những câu bị lược bỏ thành phần chính (chủ ngữ hoặc vị ngữ) nhưng người đọc vẫn hiểu nghĩa nhờ ngữ cảnh. Ghi nguyên văn các câu đó
Lời giải chi tiết:
Câu rút gọn: Bị đánh bằng gì?; Ý bị đòn hả?
Câu 3.
Phương pháp:
Phân tích câu nói để thấy tâm trạng, hoàn cảnh và phẩm chất của Lụm: hoàn cảnh thiếu thốn tình thân → khát khao có gia đình → biết trân trọng tình cảm cha mẹ. Đánh giá nhân vật.
Lời giải chi tiết:
Câu nói này thể hiện nỗi cô đơn sâu sắc và khát khao tình cảm gia đình mãnh liệt của nhân vật Lụm. Lụm tuy sống tự lập, mạnh mẽ nhưng vẫn luôn mong muốn được sống trong vòng tay yêu thương, dù có bị la mắng hay rầy la. Điều đó khiến người đọc cảm nhận được hoàn cảnh đáng thương và tấm lòng chân thành của em.
Câu 4.
Phương pháp:
Chỉ ra nội dung và ý nghĩa chi tiết: giúp nhân vật “tôi” thay đổi nhận thức, hiểu giá trị của gia đình; đồng thời làm nổi bật hoàn cảnh đáng thương, khát vọng tình thân của Lụm và tăng giá trị nhân văn cho truyện.
Lời giải chi tiết:
Đây là một chi tiết then chốt làm thay đổi nhận thức của nhân vật “tôi”. Qua đề nghị đó, “tôi” nhận ra rằng mình vẫn còn may mắn vì có ba mẹ yêu thương, dù đôi khi bị la rầy. Trong khi đó, Lụm sống vất vả, không có tình thân, luôn chờ đợi mẹ trở về trong vô vọng. Chi tiết này giúp nhân vật “tôi” nhận ra giá trị của gia đình và thôi thúc mong muốn quay về, là bước ngoặt trong diễn biến tâm lý của nhân vật.
Câu 5.
Phương pháp:
Rút ra một bài học phù hợp từ văn bản (biết yêu thương, trân trọng cha mẹ, gia đình…).
Lời giải chi tiết:
Gia đình là nơi thiêng liêng và quý giá nhất đối với mỗi người. Dù đôi khi ba mẹ có thể nghiêm khắc, nhưng đó là biểu hiện của tình yêu thương. Hãy biết trân trọng gia đình và đừng vì những giận hờn nhất thời mà đánh mất đi mái ấm thân yêu ấy. Bởi không phải ai cũng may mắn có ba mẹ ở bên
II. VIẾT
Câu 1.
Phương pháp:
Giới thiệu tâm trạng nhân vật “tôi”, phân tích diễn biến cảm xúc theo trình tự: lo sợ, hối hận, nhớ ba mẹ → xúc động, bật khóc khi gặp ba mẹ → cảm thấy ấm áp, yêu thương và nhận ra giá trị gia đình. Kết hợp dẫn chứng, nghệ thuật miêu tả tâm lí.
Lời giải chi tiết:
* Mở đoạn: Giới thiệu chung
* Thân đoạn:
Khi được ba mẹ đến đón về, nhân vật “tôi” trải qua nhiều cung bậc cảm xúc phức tạp và sâu sắc.
- Ban đầu là sự bất ngờ, xúc động đến bật khóc vì tưởng rằng ba mẹ đã bỏ rơi mình như hoàn cảnh của Lụm. Tâm trạng ấy phản ánh nỗi sợ hãi mất đi tình thương và sự ân hận vì hành động dại dột trước đó. Khi mẹ nhẹ nhàng năm tay, ba xoa đầu, nhân vật “tôi" càng thấm thía sự bao dung của ba mẹ, thấy mình thật nhỏ bé và có lỗi.
- Càng xúc động hơn khi nghĩ đến Lụm - người bạn đáng thương không có được hạnh phúc giản dị ấy. Điều đó khiến “tôi” thay đổi cách nhìn, biết yêu thương và trân trọng mái ấm gia đình. Tâm trạng ấy đánh dấu một bước trưởng thành trong suy nghĩ của “tôi” - từ nông nổi, bồng bột đến sự hối lỗi và thức tỉnh.
- Nhận xét về nghệ thuật: ngôn ngữ, ngôi kể ...
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận
Câu 2.
Phương pháp:
Giới thiệu vấn đề giao tiếp của giới trẻ trong kỉ nguyên số.
Giải thích biểu hiện, thực trạng và hậu quả của việc lệ thuộc giao tiếp online.
Phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp cụ thể
Phản đề, liên hệ bản thân và khẳng định ý nghĩa của giao tiếp trực tiếp.
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài:
- Giới thiệu vấn đề
2. Thân bài:
Thực trạng:
- Nhiều bạn trẻ chỉ giao tiếp qua điện thoại, mạng xã hội.
- Lười nói chuyện trực tiếp, e ngại khi gặp mặt.
Hệ quả:
- Hạn chế kỹ năng diễn đạt, nói chuyện.
- Mất dần khả năng thấu cảm, kết nối thật sự giữa người với người.
- Dễ hiểu lầm vì thiếu ngữ điệu, thái độ rõ ràng.
Nguyên nhân:
- Sự tiện lợi của công nghệ.
- Thiếu môi trường và kỹ năng rèn luyện giao tiếp từ nhỏ.
Giải pháp:
- Giới trẻ cần cân bằng giữa giao tiếp số và trực tiếp
- Tích cực tham gia hoạt động ngoại khóa, thuyết trình, thảo luận.
- Gia đình, nhà trường cần giáo dục kỹ năng mềm cho học sinh.
- Sử dụng công nghệ đúng cách, không để lệ thuộc.
Lấy dẫn chứng phù hợp
Bài học nhận thức và hành động
3. Kết bài:
- Tổng kết vấn đề
Đề thi vào 10 môn Văn Kiên Giang năm 2023
Đề bài
I. ĐỌC HIẾU: Đọc đoạn trích sau:
Đúng vậy, có nhiều lúc chúng ta cảm thấy mình bị chìm trong một đống công việc khổng lồ đến mức không biết mình phải bắt đầu từ đâu. Tôi phải bắt đầu với bài tập Đại số hay là bài luận môn Lịch sử bài kiểm tra môn Địa lý thứ Sáu này thì sao nhỉ? Còn phải chuẩn bị để ứng cử vào Nhóm Nhiếp ảnh trong trường nữa chứ? Vậy những công việc nhà mà mình đã hứa với mẹ thì sao đây? Bản danh sách này cứ thể kéo dài mãi...
[….]Bạn đã bao giờ nghe nói về Quy luật Parkinson chưa? Theo Quy luật Parkinson, công việc luôn tự mở rộng ra để lấp đầy khoảng thời gian mà chúng ta ấn định cho nó. Vì thế, nếu ta có một công việc cần phải hoàn thành vào ngày mai thì có khả năng ta sẽ hoàn thành nó đúng thời hạn. Ngược lại, nếu thời hạn hoàn thành công việc ấy được kéo dài đến cuối tháng thì rất có khả năng đến cuối tháng này ta mới giải quyết dứt điểm nó. Đôi khi, do được cho quá nhiều thời gian để hoàn thành một công việc nào đó, chúng ta sẽ chần chừ và trì hoãn quá trình thực hiện nó.
(Trích Tại sao lại chần chừ?, Tác giả Teo Aik Cher, Người dịch: Cao Xuân Việt Khương, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2023, tr. 47, 49)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: (0,5 điểm) Theo đoạn trích, ngoài việc hoàn thành nhiệm vụ của các môn học nhân vật “tôi” còn có những công việc nào?
Câu 2: (1,0 điểm) Hai câu văn sau liên kết với nhau bằng phương thức, phương tiện liên kết nào?
Vì thế, nếu ta có một công việc cần phải hoàn thành vào ngày mai thì có khả năng ta sẽ hoàn thành nó đúng thời hạn. Ngược lại, nếu thời hạn hoàn thành công việc ấy được kéo dài đến cuối tháng thì rất có khả năng đến cuối tháng này ta mới giải quyết dứt điểm nó.
Câu 3: (1,0 điểm) Hãy cho biết hiệu quả của phép liệt kê được sử dụng trong những câu văn sau: Tôi phải bắt đầu với bài tập Đại số hay là bài luận môn Lịch sử phải nộp vào tuần sau? Còn bài kiểm tra môn Địa lý vào thứ Sáu này thì sao nhỉ? Còn phải chuẩn bị để ứng cử vào Nhóm Nhiếp ảnh trong trưởng nữa chứ? Vậy những công việc nhà mà mình đã hứa với mẹ thì sao đây?
Câu 4: (0,5 điểm) Nếu còn nhiều thời gian để hoàn thành một công việc nào đó, em có trì hoãn quá trình thực hiện nó không? Vì sao?
II. LÀM VĂN: (7,0 điểm)
Câu 1: Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về sự cần thiết của việc phải biết sắp xếp, phân chia thời gian một cách hợp lí.
Câu 2: Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích sau:
Công việc của cháu gian khổ thế đây, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất. Còn người thì ai mà chả "thèm” hở bác? Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc? Đấy, cháu tự nói với cháu thể đấy. Bác lái xe đi, về Lai Châu cứ đến đây dừng lại một lát. Không vào giờ “ốp" là cháu chạy xuống chơi, lâu thành lệ. Cháu bỗng dưng tự hỏi: Cái nhớ xe, nhớ người ấy thật ra là cái gì vậy?. Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô hội thì xoàng. Cháu ở liền trong trạm hàng tháng. Bác lái xe bao lần dừng, bóp còi toe toe, mặc cháu. Cháu nói: "Đấy, bác cũng chẳng "thèm" người là gì?".
Anh xoay sang người con gái đang một mắt đọc cuốn sách, một mắt lắng nghe, chân cô đung đưa khe khẽ, nói:
Và cô cũng thấy đấy, lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà. Mỗi người viết một vẻ.
- Quê anh ở đâu thế? – Họa sĩ hỏi.
- Quê cháu ở Lào Cai này thôi. Năm trước, cháu tưởng cháu được đi xa lắm cơ đấy, hoá lại không. Cháu có ông bố tuyệt lắm. Hai bố con cùng viết đơn xin ra lính đi mặt trận. Kết quả: bố cháu thắng cháu một – không. Nhân dịp Tết, một đoàn các chú lái máy bay lên thăm cơ quan cháu ở Sa Pa. Không có cháu ở đấy. Các chú lại cử một chú lên tận đây.
Chú ấy nói: nhờ cháu có góp phần phát hiện một đám mấy khô mà ngày ấy, tháng ấy, không quân ta hạ được bao nhiêu phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng. Đối với cháu, thật là đột ngột, không ngờ lại là như thế. Chú lái máy bay có nhắc đến bố cháu, ôm cháu mà lắc “Thế là một – hòa nhé!”. Chưa hòa đâu bác ạ. Nhưng từ hôm ấy cháu sống thật hạnh phúc. Ơ, bác vẽ cháu đấy ư? Không, không, đừng vẽ cháu! Để cháu giới thiệu với bác những người khác đáng cho bác vẽ hơn.
(Trích Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2006, tr.185)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Ngoài việc học tập ở trường bạn ấy còn có các công việc khác như:
- Ứng cử vào Nhóm Nhiếp ảnh trong trường.
- Công việc nhà đã hứa với mẹ sẽ làm.
Câu 2:
Phương pháp:
Căn cứ các phép liên kết câu.
Cách giải:
- Phép nối: ngược lại.
- Phép lặp: công việc, hoàn thành, khả năng.
- Phép thế.
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
- Phép liệt kê đã nhấn mạnh mỗi chúng ta có rất nhiều công việc cần phải làm, phải thực hiện.
- Từ đó rút ra bài học là chúng ta cần phải biết sắp xếp công việc hợp lí để mọi việc được hoàn thành trôi chảy, đúng hạn.
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích, lí giải.
Cách giải:
HS đưa ra quan điểm cá nhân và có lí giải phù hợp.
Gợi ý:
- Sẽ giải quyết dứt điểm công việc dù hạn dài, vì khi giải quyết dứt điểm sẽ có thời gian làm việc khác và tránh lãng quên.
Hoặc:
- Sẽ để công việc đó giải quyết sau ưu tiên cho những công việc gấp khác giải quyết trước. Đồng thời kéo dài thời gian giải quyết cũng giúp nghiên cứu kĩ vấn đề từ đó đưa ra phương hướng giải quyết tối ưu nhất.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
1. Giới thiệu chung: sự cần thiết của việc phải biết sắp xếp, phân chia thời gian một cách hợp lí.
2. Bàn luận
- Sắp xếp thời gian một cách hợp lí là điều vô cùng quan trọng giúp chúng sống, làm việc trọn vẹn từng phút giây.
- Vì sao chúng ta cần sắp xếp thời gian hợp lí?
+ Thời gian là hữu hạn và một đi không trở lại bởi vậy nếu không sắp xếp thời gian hợp lí ta sẽ để thời gian trôi qua vô ích.
+ Sắp xếp thời gian hợp lí giúp ta cân bằng được cuộc sống, giữa nghỉ ngơi và làm việc, để từ đó tái tạo năng lượng cho các công việc tiếp theo.
+ Người biết sắp xếp thời gian hợp lí là người có tư duy tốt, từ đó họ cũng dễ dàng đạt được thành công hơn.
HS lấy dẫn chứng minh họa phù hợp.
- Phê phán những người còn lãng phí thời gian, chưa biết phân chia thời gian hợp lí.
3. Tổng kết vấn đề
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Thành Long.
- Giới thiệu tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa.
- Tác phẩm ca ngợi những con người dũng cảm, tuyệt đẹp đang cống hiến một cách thầm lặng, cao cả mà anh thanh niên là nhân vật chính.
- Giới thiệu đoạn trích cần phân tích.
2. Thân bài
a. Giới thiệu khái quát:
Truyện ngắn tập trung vào cuộc gặp gỡ tình cờ giữa ông họa sĩ, cô kĩ sư với anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn của Sa Pa qua lời giới thiệu của bác lái xe.
Đoạn văn ngắn đã khái quát được vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn của anh thanh niên.
b. Nhân vật anh thanh niên:
* Hoàn cảnh sống và làm việc:
- Một mình trên đỉnh núi cao, quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa. Công việc của anh là “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự báo vào việc báo trước thời tiết hàng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”. Công việc đơn điệu đòi hỏi phải thật tỉ mỉ, chính xác, có ý thức tự giác.
- Nhưng cái gian khổ nhất phải vượt qua sự cô đơn, vắng vẻ, quanh năm suốt tháng một mình trên đỉnh núi cao không một bóng người.
* Những nét đẹp của nhân vật thể hiện qua đoạn trích:
- Có lý tưởng cống hiến: đi bội không được anh tình nguyện làm việc ở Sa Pa.
- Suy nghĩ đẹp về công việc:
+ Vì công việc mà anh phải sống một mình trên núi cao nhưng anh vẫn gắn bó với công việc của mình bởi “khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được”. Anh yêu công việc tới mức trong khi mọi người còn ái ngại cho cuộc sống ở độ cao 2.600m của anh thì anh lại ước ao được làm việc ở độ cao trên 3.000m “như vậy mới gọi là lý tưởng”.
+ Công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, chính xác cao: hằng ngày lặp lại tới 4 lần các thao tác “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết” và khó khăn nhất là lúc 1 giờ sáng “nửa đêm thức dậy xách đèn ra vườn, mưa tuyết, giá lạnh…” nhưng anh vẫn coi công việc là niềm vui “Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi cháu buồn đến chết mất”.
+ Ý thức được giá trị công việc mà mình đang làm: dự vào việc báo trước thời tiết nên “việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia”.
=> Những suy nghĩ ấy chỉ có ở những con người yêu lao động, yêu công việc của mình dù nó thật khó khăn, đơn điệu và buồn tẻ. Công việc là niềm vui, là cuộc sống của anh.
- Suy nghĩ đẹp về cuộc sống:
+ Tự mình tìm lời giải đáp cho những câu hỏi quan trọng “Mình sinh ra là gì, mình đẻ ra ở đâu, mình vì ai mà làm việc?” những câu hỏi cho anh biết giá trị của bản thân và ý nghĩa của cuộc sống.
+ Suy nghĩ đúng đắn về giá trị của hạnh phúc: Hạnh phúc không phải là khi cuộc sống đầy đủ về vật chất mà là khi ta làm được những điều có ích. Một lần do phát hiện kịp thời một đám mây khô mà anh đã góp phần vào chiến thắng của không quân ta, bắn rơi được máy bay Mỹ trên cầu Hàm Rồng, anh thấy mình “thật hạnh phúc”.
=> Qua lời kể hồn nhiên, chân thành của người thanh niên, tác giả Nguyễn Thành Long đã giúp người đọc cảm nhận được những suy nghĩ đẹp và đúng đắn của anh thanh niên cũng như của những người lao động ở Sa Pa.
- Làm phong phú cuộc sống của mình: Anh thường xuyên đọc sách. Vì sách chính là người bạn để anh “trò chuyện”. Nhờ có sách mà anh chống chọi được với sự vắng lặng quanh năm. Nhờ có sách mà anh tiếp tục học hành, mở mang kiến thức.
- Anh cảm thấy tự hào, hạnh phúc khi công việc của mình đóng góp được cho sự nghiệp chung của dân tộc: nhờ có anh phát hiện đám mây khô mà ta đã hạ được hiều phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng=> trong giọng nói của anh không khỏi xúc động và hạnh phúc. Và cũng từ hôm đấy anh “sông thật hạnh phúc” => Cái hạnh phúc của một người trẻ tuổi tìm thấy lí tưởng, ý nghĩa của nghề, của cuộc sống => Một nét sống cao đẹp.
=> Những tình cảnh cao đẹp trên đã tạo nên những phẩm chất đáng quý ở anh thanh niên - một con người lao động với XHCN.
- Anh là người khiêm tốn, thành thực: Khi ông họa sĩ muốn vẽ chân dung của anh, anh từ chối bởi thấy công việc và những đóng góp của mình còn nhỏ bé, chưa thấm vào đâu so với “ông kĩ sư vườn rau dưới Sa Pa”, “đồng chí nghiên cứu khoa học” đang nghiên cứu lập bản đồ sét với tất cả niềm say mê, hào hứng… Anh nhiệt thành giới thiệu để ông họa sĩ vẽ chân dung của họ - những con người làm việc hết mình, thầm lặng, những cống hiến đáng trân trọng và khâm phục.
3. Kết bài:
- Truyện Lặng lẽ Sa Pa ngợi ca ngợi những con người lao động như anh thanh niên làm công tác khí tượng và cái thế giới những con người như anh.
- Qua câu chuyện về anh thanh niên, tác phẩm cũng gợi tả những con người đang dành cả thanh xuân để cống hiên, phục vụ kháng chiến với nhiều phẩm chất cao đẹp.
Đề thi vào 10 môn Văn Kiên Giang năm 2022
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) Đọc đoạn trích:
Cùng một cơn mưa, người tiêu cực sẽ bực mình vì phải trùm áo mưa, người lạc quan thì nghĩ đến cây cối xanh tươi, không khí sẽ được trong lành. Và một khi chúng ta không thể thay đổi được hiện tượng xảy ra, tốt nhất là nhìn nó bằng ánh mắt tích cực. Cái thiện có thể sẽ thua cái ác trong một thời điểm nhưng chung cuộc sẽ chiến thắng. Cứ sau một sự cố, con người lại tìm nguyên nhân và khắc phục nó. Sau lũ lụt, phù sa sẽ làm màu mỡ hơn cho cánh đồng, sâu bọ sẽ bị quét sạch ra biển, dư lượng hóa chất trong đất đai sẽ bị rửa sạch. Lỗi lầm của người khác, thay vì giữ trong lòng và tức giận, thôi bỏ qua, mình sẽ thấy thoải mái hơn rất nhiều. Nói một cách khác, nếu bạn được sống 100 năm, xem như là một bộ phim có 100 tập, thì hãy tạo ra ít nhất 2/3 tập có tiếng cười thay vì tập nào cũng rơi vào bi kịch chán chường, đau khổ, chia lìa, mất mát.
(Trích Tư duy tích cực, Theo Tony Buổi sáng, trên đường băng, NXB Trẻ, 2015)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2. Theo tác giả, sự khác nhau giữa người tiêu cực và người lạc quan khi đối diện cùng một cơn mưa là như thế nào?
Câu 3. Xác định và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu sau: Sau lũ lụt, phù sa sẽ làm màu mỡ hơn cho cánh đồng, sâu bọ sẽ bị quét sạch ra biển, dư lượng hóa chất trong đất đai sẽ bị rửa sạch
Câu 4. Em có đồng tình với quan điểm “Cứ sau một sự cố, con người lại tìm ra nguyên nhân và khắc phục nó” không? Vì sao?
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, em hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ nêu ý nghĩa của lối tư duy tích cực.
Câu 2. Cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê).
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1:
|
Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. |
Phương pháp: Căn cứ các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
Câu 2:
|
Theo tác giả, sự khác nhau giữa người tiêu cực và người lạc quan khi đối diện cùng một cơn mưa là như thế nào? |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Sự khác biệt khi đối diện với cơn mưa của:
- Người tiêu cực: bực mình vì phải trùm áo mưa.
- Người lạc quan sẽ nghĩ cây cối sẽ được xanh tươi, không khí sẽ được trong lành.
Câu 3:
|
Xác định và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu sau: Sau lũ lụt, phù sa sẽ làm màu mỡ hơn cho cánh đồng, sâu bọ sẽ bị quét sạch ra biển, dư lượng hóa chất trong đất đai sẽ bị rửa sạch |
Phương pháp: Căn cứ bài liệt kê, phân tích.
Cách giải:
Biện pháp liệt kê: phù sa sẽ làm màu mỡ hơn cho cánh đồng, sâu bọ sẽ bị quét sạch ra biển, dư lượng hóa chất trong đất đai sẽ bị rửa sạch.
Tác dụng: Nhấn mạnh tác dụng của những trận lũ. Tạo nhịp điệu cho câu văn.
Câu 4:
|
Em có đồng tình với quan điểm “Cứ sau một sự cố, con người lại tìm ra nguyên nhân và khắc phục nó” không? Vì sao? |
Phương pháp: Phân tích, lí giải.
Cách giải:
HS nêu quan điểm cá nhân và có lí giải phù hợp.
Gợi ý:
- Đồng ý với quan điểm của tác giả.
- Vì: Sau mỗi một lần thất bại ta sẽ nhận thấy những hạn chế trong suy nghĩ, sai lầm trong hành động, bởi chỉ khi có sự cố chúng ta mới nhận ra được những sai lầm ấy. Và khi đã nhận ra được sai lầm, hạn chế của bản thân con người sẽ tìm cách khắc phục để bản thân ngày càng tốt đẹp hơn.
II. LÀM VĂN:
Câu 1:
|
Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, em hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ nêu ý nghĩa của lối tư duy tích cực. |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
* Yêu cầu hình thức: Viết đúng đoạn văn khoảng 200 chữ.
* Yêu cầu về nội dung:
- Giới thiệu chung: ý nghĩa của lối tư duy tích cực.
- Giải thích: Lối tư duy tích cực là cách suy nghĩ, nhìn nhận mọi việc theo hướng lạc quan, chắt lọc những mặt tốt của vấn đề.
- Ý nghĩa của lối tư duy tích cực:
+ Lối tư duy tích cực tạo nên cách nhìn tích cực vào cuộc sống. Điều đó sẽ khiến cuộc sống trở nên nhẹ nhàng, ý nghĩa hơn.
+ Lối tư duy tích cực là cách tốt nhất để vượt qua những khó khăn thử thách trong cuộc sống.
+ Lối tư duy tích cực tạo ra năng lượng tích cực không chỉ giúp đỡ cho bản thân mà còn truyền năng lượng tích cực đến những người xung quanh.
+ Lối tư duy tích cực là bước đầu tạo dựng nên cuộc sống tích cực.
……
- Bàn luận, mở rộng:
+ Phê phán những người có lối sống tiêu cực luôn nhìn cuộc sống bằng con mắt của sự bế tắc.
+ Cố gắng rèn luyện lối suy nghĩ tích cực.
Câu 2:
|
Cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê). |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm Những ngôi sao xa xôi.
- Giới thiệu về nhân vật Phương Định.
2. Thân bài:
a. Vẻ đẹp tâm hồn nhạy cảm, mơ mộng, giàu yêu thương:
- Nét đẹp trẻ trung, hồn nhiên, mơ mộng:
+ Cô luôn chăm chút cho ngoại hình và rất tự hào về đôi mắt “có cái nhìn sao mà xa xăm” và cái cổ kiêu hãnh như đài hoa loa kèn -> thấy mình là một cô gái khá.
+ Cô thích soi gương, thích làm điệu trước các anh bộ đội.
+ Đặc biệt, Phương Định rất thích hát, thích nhiều loại nhạc khác nhau và còn thường bịa lời ra để hát.
+ Cô vui thích cuống cuồng trước 1 cơn mưa đá.
+ Cô cũng hay hồi tưởng về quá khứ, về tuổi học sinh, về căn nhà nhỏ bên quảng trường thành phố. Cô nhớ khuôn cửa sổ, nhớ những ngôi sao trên bầu trời Hà Nội, nhớ bà bán kem với lũ trẻ con háo hức vây quanh. Đó là những kí ức làm tươi mát tâm hồn cô trong hoàn cảnh chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh.
- Vào chiến trường 3 năm, phải trải qua nhiều gian khổ, thiếu thốn song Phương Định vẫn giữ gìn vẹn nguyên, thế giới tâm hồn mình. Đây là một minh chứng cho sức sống mãnh liệt của cô gái trẻ này.
Tình cảm gắn bó, yêu thương cô dành cho những đồng đội:
+ Cô yêu thương, chiều chuộng Nho như một đứa em út trong nhà. Khi Nho bị thương, cô lo lắng, chăm sóc, cảm thấy đau như chính mình bị thương.
+ Với chị Thao: Phương Định hiểu tính cách và tình cảm của chị, cô coi chị Thao như người chị cả trong gia đình.
+ Khi đồng đội trên cao điểm, Phương Định ở nơi an toàn trực điện đài, mà chẳng thể yên lòng: cô gắt lên với đội trưởng, cô sốt ruột chạy ra ngoài rồi lo lắng.
Tất cả đã làm hiện lên một thế giới tâm hồn, tinh tế, trong sáng, nhân hậu và vẻ đẹp nhân cách của một người thiếu nữ, sống giữa hiện thực chiến tranh khốc liệt mà vẫn tràn đầy niềm yêu thương, tin tưởng dành cho con người và cuộc sống.
Lê Minh Khuê đã khắc họa thành công nhân vật Phương Định, người thiếu nữ Hà Nội với tâm hồn phong phú và lòng dũng cảm, tinh thần quên mình vì nhiệm vụ. Nhà văn đã góp cho văn xuôi chống Mĩ một trong những hình tượng sống động và đáng yêu nhất.
b. Vẻ đẹp dũng cảm, kiên cường:
- Phương Định cùng đồng đội phải đảm nhận một công việc đầy gian khổ, hiểm nguy trên cung đường Trường Sơn, giữa những năm kháng chiến chống Mĩ ác liệt:
+ Cô thuộc tôt trinh sát mặt đường, hàng ngày phải đo khối lượng đất đá lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần phải phá bom.
+ Vì thế, mỗi khi máy bay ném bom phải lao lên mặt đường, đánh dấu đoạn đường bị bom phá hỏng và những quả bom chưa nổ.
+ Không chỉ vậy, cô và tổ trinh sát còn phải đảm đương việc phá bom nổ chậm -> nhiệm vụ đòi hỏi sự bình tĩnh, dũng cảm, quên mình của chiến sĩ vì thần chết lẩn trong ruột những quả bom.
- Là công việc mà có làm bao nhiêu lần vẫn không thể quen, vẫn luôn căng thẳng đến mức “thần kinh căng như chão… tim đập bất chấp cả nhịp điệu”.
- Vậy mà, cô vẫn bám trụ 3 năm liền trên tuyến đường Trường Sơn, chứng tỏ vẻ đẹp quả cảm, ý chí kiên cường, lòng yêu nước của Phương Định.
- Diễn biến tâm trạng Phương Định trong một lần phá bom nổ chậm:
+ Nền của tâm trạng là không khí căng thẳng: bầu trời, mặt đất vắng lặng phát sợ.
+ Phương Định đã chiến thắng nỗi sợ hãi của mình: Đi thẳng người đến bên quả bom; tất cả mọi giác quan của cô trở nên nhạy bén, có ngày cô phá bom đến 5 lần. Tinh thần trách nhiệm, sự quên mình trong công việc khiến cái chết trở nên mờ nhạt. Cô chỉ nghĩ đến “liệu mìn có nổ, bom có nổ không?”
Cô là biểu tượng cho vẻ đẹp của lòng quả cảm, kiên cường của thế hệ nữ thanh niên xung phong thời chống Mĩ.
3. Kết bài:
- Nội dung:
+ Khắc họa thành công với những nữ thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mĩ là: Phương Định. Họ trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ.
+ Qua đó, ngợi ca tâm hồn trong sáng, tính cách dũng cảm và tinh thần lạc quan của người chiến sĩ thanh niên xung phong Trường Sơn.
- Nghệ thuật: Nghệ thuật miêu tả nhân vật đặc sắc, kể chuyện sinh động, ngôn ngữ trần thuật phù hợp với nhân vật, nhịp kể biến đổi linh hoạt.
Đề thi vào 10 môn Văn Kiên Giang năm 2021
Đề bài
PHẦN I (3.0 điểm) Cảm nhận sự vất vả, hy sinh thầm lặng của đội ngũ y, bác sĩ đang nỗ lực, căng minh chống dịch Covid-19, ca sĩ Nguyễn Phi Hùng đã sáng tác ca khúc “Bao la những trái tim hồng", lời bài hát như sau:
“Chờ ngày mai nắng lên
Em ngước lên nhìn trời
Gửi về nơi xa xôi
Ngày bão giông mong thấy ánh mặt trời
Nước mắt bao lần rơi
Bao đau thương không nói thành lời
Cầm tay nhau vượt qua đường xa
Mong ngày buồn rồi sẽ chóng qua
Yêu thương sẽ chữa lành vết thương
Mơ ngày mai nắng lên trên khắp quê hương
Cho đàn em thơ vui bước đến trường
Những vòng tay yêu thương sẽ không còn cách xa
Điệp khúc:
Và điều đẹp nhất là có những tấm lòng
Thắp lên hy vọng xua tan những đêm mùa đông
Vì tình yêu nguyện dâng hiến cho cuộc đời
Để thế giới mênh mông, không bao la bằng những trái tim hồng"
(Bao la những trái tim hồng, Nguyễn Phi Hùng - Nguồn https://nhạc vn)
Anh (Chị) đọc kỹ lời bài hát trên và thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chỉnh. (0,75 điểm).
Câu 2. Trong câu “Thắp lên hy vọng xua tan những đêm mùa đông”, những từ nào được dùng theo nghĩa chuyển? (0,75 điểm).
Câu 3. Xác định biện pháp tu từ trong câu “Ngày bão giông mong thấy ánh mặt trời. Phân tích hiệu quả sử dụng biện pháp tu từ trên. (1,5 điểm).
II, LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Anh (Chị) hãy viết đoạn văn (không quá 200 chữ) trình bày suy nghĩ về tính thần trách nhiệm của mỗi người trong phòng, chống dịch Covid-19.
Câu 2. (5,0 điểm) Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ:
“Thình linh đèn điện tắt
Phòng buyn - đinh tối om
Vội bật tung cửa sổ
Đột ngột vầng trăng tròn
Ngửa mặt lên nhin mặt
Có cái gì rưng rưng
Như là đồng là bể
Như là sông là rừng
Trăng cứ tròn vành vạnh
Kể chỉ người vô tình
Ánh trăng im phăng phắc
Đủ cho ta giật mình”.
Lời giải chi tiết
Phần I.
Câu 1.
|
Xác định phương thức biểu đạt chỉnh. |
Phương pháp: căn cứ các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm.
Câu 2.
|
Trong câu “Thắp lên hy vọng xua tan những đêm mùa đông”, những từ nào được dùng theo nghĩa chuyển? |
Phương pháp: căn cứ bài Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ.
Cách giải:
Những từ được dùng theo nghĩa chuyển: thắp, xua tan.
Câu 3.
|
Xác định biện pháp tu từ trong câu “Ngày bão giông mong thấy ánh mặt trời. Phân tích hiệu quả sử dụng biện pháp tu từ trên. |
Phương pháp: căn cứ bài Ẩn dụ.
Cách giải:
- Biện pháp nghệ thuật ẩn dụ.
- Tác dụng:
+ Câu thơ giàu hình ảnh, sinh động, hấp dẫn.
+ Nhấn mạnh niềm mong ước những ngày “bão giông”, những ngày tháng khó khăn phải đối diện với dịch bệnh sẽ qua đi để cuộc sống được trở lại tươi đẹp như trước.
Phần II.
Câu 1.
|
Anh (Chị) hãy viết đoạn văn (không quá 200 chữ) trình bày suy nghĩ về tính thần trách nhiệm của mỗi người trong phòng, chống dịch Covid-19. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
I. Mở đoạn:
- Giới thiệu về trách nhiệm của bản thân trong việc đẩy lùi dịch Covid 19.
II. Thân đoạn:
1. Giải thích:
Trách nhiệm là ý thức thực hiện tốt nghĩa vụ, công việc của bản thân, không ỷ lại, dựa dẫm hay đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. => Khẳng định trách nhiệm của bản thân trong việc đẩy lùi dịch Covid 19 là vô cùng cần thiết.
2. Biểu hiện của tinh thần trách nhiệm:
- Đối với học sinh: trách nhiệm của chúng ta là học tập thực tốt, nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của nhà trường, chính phủ về việc thực hiện phòng chống dịch bệnh, ...
- Biết giúp đỡ, sẵn sàng chia sẻ, quan tâm người khác.
- Dẫn chứng, chứng minh hành động cụ thể.
+ Dịch bệnh COVID-19 đã càn quét, gây ảnh hưởng về Sức Khỏe, kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Là một nước nằm trong vùng ảnh hưởng của dịch bệnh, Việt Nam đã có những cách xử lý tuyệt vời, làm thế giới thán phục. Có thể nói, chính nhờ sức mạnh, trách nhiệm của mỗi cá nhân đã giúp đất nước ta bước đầu chiến thắng trên mặt trận chống Tình cảm gia đình, thầy trò, hàng xóm láng giềng, chung tay góp từ thiện ủng hộ...
+ Ngay từ lúc dịch bệnh bùng phát, giữa bối cảnh nhiều quốc gia hoang mang lo lắng, chính phủ nước ta đã có động thái quyết tâm, thể hiện trách nhiệm bảo vệ, giúp đỡ công dân, “Việt Nam quyết tâm không để ai bị bỏ lại phía sau, trong cuộc chiến chống dịch bệnh COVID-19”.
+ Tham gia ác hoạt động thiện nguyện, “lá lành đùm lá rách”, giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn để đẩy lùi, chống dịch COVID-19.
+ Học sinh, sinh viên các trường đại học đeo khẩu trang, nước rửa tay thường xuyên.
3. Ý nghĩa của tinh tần trách nhiệm:
- Mang lại hạnh phúc cho nhân loại.
- Tình cảm giữa con người với con người ngày một bền chặt hơn.
- Xây dựng được một xã hội văn minh, giàu tình người.
- Phát huy sức mạnh tình yêu thương: Việt Nam đã vượt qua tình trạng khó khăn do COVID 19 gây ra.
+Cơ bản đã kiểm soát được dịch bệnh …
- Thành công trong công việc và cuộc sống
4. Phản đề: Những người có lối sống ích kỉ, không có tinh thần trách nhiệm, đối xử tệ bạc với nhau....
5. Liên hệ, rút ra bài học: trách nhiệm của bản thân trong việc đẩy lùi dịch Covid 19 rất quan trọng trong cuộc sống..
III. Kết đoạn:
Nêu cảm nghĩ của em về tinh thần trách nhiệm của bản thân trong việc đẩy lùi dịch Covid 19.
- Tinh thần trách nhiệm là một đức tính tốt đẹp.
- Em sẽ học tập tốt để trở thành người có trách nhiệm.
Câu 2.
|
Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ: “Thình linh đèn điện tắt Phòng buyn - đinh tối om Vội bật tung cửa sổ Đột ngột vầng trăng tròn Ngửa mặt lên nhin mặt Có cái gì rưng rưng Như là đồng là bể Như là sông là rừng Trăng cứ tròn vành vạnh Kể chỉ người vô tình Ánh trăng im phăng phắc Đủ cho ta giật mình”. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
I. Giới thiệu chung:
- Giới thiệu nhà thơ Nguyễn Duy, nhà thơ quân đội, đã được giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ 1972 – 1973, một gương mặt tiêu biểu cho lớp nhà thơ trẻ thời chống Mỹ cứu nước.
- Tập thơ “Ánh trăng” của ông được tặng giải A của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1984. Trong đó, có bài thơ mà tựa để dùng làm nhan đề cho cả tập thơ: Ánh Trăng. Bài thơ là một câu chuyện riêng nhưng có ý nghĩa triết lý như một lời tự nhắc nhở thấm thía của nhà thơ về lối sống nghĩa tình, thủy chung với quá khứ gian lao, với thiên nhiên, đất nước và đồng đội.
- Ba khổ thơ cuối bài thơ tạo ra tình huống gặp gỡ giữa con người với vầng trăng trong hiện tại, từ đó, ta thấy sự thức tỉnh của con người và nhắc nhở đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.
II. Phân tích:
1. Vầng trăng trong hiện tại - tình huống bất ngờ
- Con người gặp lại vầng trăng trong một tình huống bất ngờ:
+ Tình huống: “Đèn điện tắt”. Đây là biến cố chân thực, thường thấy trong cuộc sống đô thị. Cái lấp lánh của ánh điện, cửa gương biến mất, con người bị vây bọc trong căn phòng tối om, ngột ngạt.
Hành động “Vội bật tung”: vội vàng, khẩn trương -> bắt gặp vấng trăng -> Đây là khổ thơ quan trọng trong cấu tứ toàn bài.
Chính cái khoảnh khắc bất ngờ ấy đã tạo nên bước ngoặt trong mạch cảm xúc của nhà thơ-> Sự xuất hiện bất ngờ của vầng trăng khiến nhà thơ ngỡ ngàng, bối rối, gợi cho nhà thơ bao kỉ niệm nghĩa tình.
+ “Đột ngột vầng trăng tròn”: Đảo ngữ: Cảm giác ngỡ ngàng khi con người gặp lại vầng trăng.
+ Ấn tượng về vẻ đẹp của trăng: trăng đang độ tròn đẹp nhất; trăng vẫn vẹn nguyên, vẫn ở rất gần, luôn chờ đợi dõi theo dù con người thờ ơ, dửng dưng.
2. Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng.
- Từ “mặt” được dùng với nghĩa gốc và nghĩa chuyển - mặt trăng, mặt người – trăng và người cùng đối diện đảm tấm.
- Với tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” người đọc cảm nhận sự lặng im, thành kính và trong phút chốc cảm xúc dâng trào khi gặp lại vầng trăng: “có cái gì rưng rưng”. Rưng rưng của những niềm thương nỗi nhớ, của những lãng quên lạnh nhạt với người bạn cố tri; của một lương tri đang thức tỉnh sau những ngày đắm chìm trong cõi u mê mộng mị; rưng rưng của nỗi ân hận ăn năn về thái độ của chính mình trong suốt thời gian qua. Một chút áy náy, một chút tiếc nuối, một chút xót xa đau lòng, tất cả đã làm nên cái “rưng rưng”, cái thổn thức trong sâu thẳm trái tim người lính.
- Và trong phút giây nhân vật trữ tình nhìn thẳng vào trăng- biểu tượng đẹp đẽ của một thời xa vắng, nhìn thẳng vào tâm hồn của mình, bao kỉ niệm chợt ùa về chiếm trọn tâm tư. Kí ức về quãng đời ấu thơ trong sáng, về lúc chiến tranh máu lửa, về cái ngày xưa hồn hậu hiện lên rõ dần theo dòng cảm nhận trào dâng “như là đồng là bể, như là sông là rừng”. Đồng, bể, sông, rừng, những hình ảnh gắn bó nơi khoảng trời kỉ niệm -> Cấu trúc song hành của hai câu thơ, nhịp điệu dồn dập cùng biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ và liệt kế như muốn khắc họa rõ hơn kí ức về thời gian gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng lớn lao sâu nặng, nghĩa tình, tri kỉ. Chính thứ ánh sáng dung dị đôn hậu đó của trăng đã chiếu tỏ nhiều kỉ niệm thần thương, đánh thức bao tâm tình vốn tưởng chừng ngủ quên trong góc tối tâm hồn người lính. Chất thơ mộc mạc chân thành như vầng trăng hiền hòa, ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm như “có cái gì rưng rưng”, đoạn thơ đã đánh động tình cảm nơi người đọc.
- Hình ảnh “trăng cổ tròn vành vạnh” là tượng trưng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung, đầy đặn, bao dung, nhân hậu.
- Hình ảnh “ánh trăng im phăng phắc” mang ý nghĩa nghiêm khắc nhắc nhở, là sự trách móc trong lặng im. Chính cái im phăng phắc của vầng trăng đã đánh thức con người, làm xáo động tâm hồn người lính năm xưa. Con người “giật mình” trước ánh trăng là sự bừng tỉnh của nhân cách, là sự trở về với lương tâm trong sạch, tốt đẹp. Đó là lời ân hận, ăn năn day dứt, làm đẹp con người.
III. Kết luận
- Nội dung:
+ Ba khổ cuối bài thơ tạo ra tình huống bất ngờ, cho ta thấy sự thức tỉnh của con người.
+ Lời nhắn gửi con người không được lãng quên quá khứ gian khổ mà sâu đậm nghĩa tình.
+ Lời nhắc nhở về nghĩa tình thiêng liêng của nhân dân, đất nước và đạo li uống nước nhớ nguồn.
- Nghệ thuật:
+ Thể thơ ngũ ngôn với nhiều sáng tạo độc đáo.
+ Sự kết hợp hài hòa giữa chất tự sự và trữ tình.
+ Ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, gần gũi mà giàu sức gợi.
+ Giọng điệu tâm tình thấm thía, khi thì thiết tha cảm xúc, lúc lại trầm lắng, suy tư.
Đề thi vào 10 môn Văn Kiên Giang năm 2020
Đề bài
I. Phần Đọc hiểu.
Đọc đoạn trích sau:
Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác, len lét đưa nhau ra đâu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau.
Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con là Việt gian đấy? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đầy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu... Ông lão nắm chặt hai tay lại mà rít lên:
- Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này.
Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lăm. Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được. Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng, quyết tâm một công một chết với giặc, có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy!...
(SGK Ngữ văn 9, tập 1, trang 166, NXB GD năm 2017)
Và thực hiện yêu cầu:
Câu 1:(1,0 điểm)
Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Do ai sáng tác? Nêu khái quát nội dung của đoạn trích.
Câu 2:(1,0 điểm)
Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong những câu văn: Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đây tr? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đây?
Câu 3: (1,0 điểm)
Chỉ ra phương thức liên kết và phương tiện liên kết được sử dụng trong những câu văn:(1) ông kiểm điểm từng người trong óc. (2) Không mà, họ toan là những người có tinh thần cả mà. (3) Họ đã ở lại làng, quyết tâm một sống một Che Vo giặc, có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy!...
II. Phần Làm văn
Câu 1: (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về tác động của những lời phê phán, chỉ trích vội vàng thiếu căn cứ trên mạng xã hội.
Câu 2: (5,0 điểm)
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Nhr sa như ùa vào buồng lái.
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục)
Phương pháp giải - Xem chi tiết
I. Phần Đọc hiểu.
Đọc đoạn trích sau:
Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác, len lét đưa nhau ra đâu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau.
Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con là Việt gian đấy? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đầy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu... Ông lão nắm chặt hai tay lại mà rít lên:
- Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này.
Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lăm. Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được. Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng, quyết tâm một công một chết với giặc, có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy!...
(SGK Ngữ văn 9, tập 1, trang 166, NXB GD năm 2017)
Và thực hiện yêu cầu:
Câu 1:(1,0 điểm)
Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Do ai sáng tác? Nêu khái quát nội dung của đoạn trích.
Câu 2:(1,0 điểm)
Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong những câu văn: Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đây tr? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đây?
Câu 3: (1,0 điểm)
Chỉ ra phương thức liên kết và phương tiện liên kết được sử dụng trong những câu văn:(1) ông kiểm điểm từng người trong óc. (2) Không mà, họ toan là những người có tinh thần cả mà. (3) Họ đã ở lại làng, quyết tâm một sống một Che Vo giặc, có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy!...
II. Phần Làm văn
Câu 1: (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về tác động của những lời phê phán, chỉ trích vội vàng thiếu căn cứ trên mạng xã hội.
Câu 2: (5,0 điểm)
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Nhr sa như ùa vào buồng lái.
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục)
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1.
|
Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Do ai sáng tác? Nêu khái quát nội dung của đoạn trích. |
Phương pháp: căn cứ bài Làng
Cách giải:
- Tác phẩm: Làng
- Tác giả: Kim Lân
- Nội dung: Nỗi đau đớn của ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc.
Câu 2.
|
Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong những câu văn: Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đây tr? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đây? |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Biện pháp: Điệp cấu trúc “Chúng nó cũng…”
Tác dụng:
- Diễn tả tâm trạng đau đớn, xót xa của ông Hai và niềm thương xót cho số phận của những đứa trẻ ngây thơ, vô tội bị coi là Việt gian.
- Tạo nhịp điệu cho câu văn.
Câu 3.
|
Chỉ ra phương thức liên kết và phương tiện liên kết được sử dụng trong những câu văn:(1) ông kiểm điểm từng người trong óc. (2) Không mà, họ toan là những người có tinh thần cả mà. (3) Họ đã ở lại làng, quyết tâm một sống một Che Vo giặc, có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy! … |
Phương pháp: căn cứ bài Liên kết câu, đoạn văn
Cách giải:
- Phương thức liên kết:
+ phép thế: từ “họ” trong câu (2) thay thế cho “từng người” trong câu (1)
+ phép lặp: từ “họ” trong câu (2) và (3)
Phần II
Câu 1.
|
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về tác động của những lời phê phán, chỉ trích vội vàng thiếu căn cứ trên mạng xã hội. |
Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: tác động của những lời phê phán, chỉ trích vội vàng, thiếu căn cứ trên mạng xã hội.
2. Giải thích vấn đề
- Phê phán là vạch ra, chỉ ra cái sai trái để tỏ thái độ không đồng tình hoặc lên án.
- Chỉ trích là vạch sai lầm, khuyết điểm nhằm chê trách.
- Căn cứ là chỗ dựa, cơ sở để lập luận.
- Mạng xã hội là nền tảng trực tuyến nơi mọi người dùng để xây dựng các mối quan hệ với người khác có chung tính cách, nghề nghiệp, công việc, trình độ,...
=> Những lời phê phán, chỉ trích vội vàng, thiếu căn cứ trên mạng xã hội sẽ đem đến những hậu quả khó lường với chính người dùng và những tác động tiêu cực đến cộng đồng xã hội.
3. Phân tích, bàn luận vấn đề
- Tác động của những lời phê phán, chỉ trích vội vàng, thiếu căn cứ trên mạng xã hội.
+ Gây hoang mang, sợ hãi, thậm chí ảnh hưởng xấu đến tâm lí người bị phê phán ngoài đời thực.
+ Tạo ra sự hỗn loạn trên cộng đồng mạng và cộng đồng xã hội.
+ Mang đến môi trường thiếu văn minh và ứng xử thiếu văn hóa trong việc sử dụng mạng.
+ Trong một vài trường hợp, việc chỉ trích, phê phán thiếu căn cứ cũng đem đến sự tấn công ngược lại từ cộng đồng mạng cho chính người viết lời chỉ trích, phê phán đó.
HS lấy dẫn chứng minh họa phù hợp.
- Cần làm gì để xây dựng thói quen sử dụng mạng xã hội văn minh?
+ Mỗi người cần suy nghĩ kĩ trước khi chia sẻ câu chuyện của mình hay của người khác lên mạng xã hội.
+ Dùng lời lẽ tôn trọng và ứng xử có văn hóa khi tranh luận một vấn đề trên mạng.
…
- Phê phán những cá nhân sử dụng mạng xã hội tiêu cực.
4. Liên hệ bản thân và Tổng kết
Câu 2.
|
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau: Không có kính không phải vì xe không có kính
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng (Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và 2 khổ thơ
2. Cảm nhận
* Khổ 1: Tác giả đã lí giải nguyên nhân khiến những chiếc xe không kính và nêu bật tư thế của những người lính trên chiếc xe ấy.
- Hai câu thơ đầu đã nêu lên nguyên nhân những chiếc xe trở nên mất kính.
Câu thơ đầu tiên dài như một như một lời phân trần để dẫn vào câu thơ thứ hai với điệp từ “không”, điệp từ “bom”, kết hợp với động từ mạnh “giật”, “rung”. Qua đó, tác giả đã lí giải nguyên nhân những chiếc xe không kính là do bom đạn tàn phá. Như vậy, ở đây, qua hình ảnh những chiếc xe không kính, tác giả đã gián tiếp tố cáo sự khốc liệt của chiến tranh.
- Hai câu thơ sau, tác giả đã tạo ấn tượng mạnh khi nêu bật tư thế hiên ngang, chủ động, tự tin của người lính khi ngồi trên những chiếc xe không kính đó:
“Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”
+ Từ láy “ung dung” được đảo lên đầu câu, kết hợp với đại từ nhân xưng đầy tự hào “ta” đã làm nổi bật tư thế ấy.
+ Nhịp thơ 2/2/2 đều đặn, điệp từ “nhìn” lặp lại ba lần. Đặc biệt cái nhìn thẳng, đó là cái nhìn bất khuất, trang nghiêm đối mặt với gian khổ, hi sinh mà không hề run sợ, né tránh
=>Vượt lên trên cái gian khổ của chiến tranh, tư thế của người lính mới thật đàng hoàng, vững chãi.
* Khổ 2 diễn tả cảm giác cụ thể của người lính khi ngồi trên những chiếc xe không còn kính chắn gió:
- Điệp từ “nhìn thấy” kết hợp với những hình ảnh như: “gió vào xoa mắt đắng”, “con đường chạy thẳng vào tim”, “đột ngột cánh chim” đã thể hiện tốc độ nhanh của chiếc xe và sự tập trung cao độ của người lính.
- Không có kính cũng khiến người lính phải trực tiếp tiếp xúc với muôn vàn khó khăn, bất cứ vật cản nào cũng có thể “sa”, “ùa” vào buồng lái. Tuy nhiên, với giọng thơ ngang tàng, trẻ trung, người lính dường như bất chấp mọi khó khăn gian khổ. Không những vậy, vì không có kính nên người chiến sĩ đã có cơ hội gần gũi với thiên nhiên, tận hưởng vẻ đẹp của cảnh vật qua ô cửa kính vỡ.
=> Phải có một tinh thần lạc quan, yêu đời, coi thường hiểm nguy mới có thể biến cái hiện thực đầy khó khăn thành những phút thi vị đẹp đến như vậy.
3. Tổng kết
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
