Đề thi vào 10 môn Văn Lạng Sơn
Đề thi vào 10 môn Văn Lạng Sơn năm 2026
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc bài thơ sau:
MẸ
Viễn Phương¹
Con nhớ ngày xưa mẹ hát:
... “Hoa sen lặng lẽ dưới đầm
Hương hoa dịu dàng bát ngát
Thơm tho không gian, thời gian”...
Mẹ nghèo như đóa hoa sen
Tháng năm âm thầm lặng lẽ,
Giọt máu hòa theo dòng lệ
Hương đời mẹ ướp cho con.
Khi con thành đóa hoa thơm
Đời mẹ dắt lay chiếc bóng
Con đi... chân trời gió lộng
Mẹ về... nắng quái² chiều hôm
Sen đã tàn sau mùa hạ
Mẹ cũng lìa xa cõi đời,
Sen tàn rồi sen lại nở
Mẹ thành ngôi sao trên trời.
(https://www.thivien.net)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định thể thơ của bài thơ trên.
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra tên loài hoa được nhắc đến trong bài thơ.
Câu 3. (1,0 điểm) Trình bày cách hiểu của em về những dòng thơ:
Khi con thành đóa hoa thơm
Đời mẹ dắt lay chiếc bóng
Câu 4. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu thơ:
Mẹ nghèo như đóa hoa sen
Câu 5. (1,0 điểm) Em hãy rút ra một bài học cho bản thân sau khi đọc bài thơ và nêu ý nghĩa của bài học đó (trình bày 05-07 dòng).
PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 6. (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh người mẹ trong hai khổ thơ sau:
Mẹ nghèo như đóa hoa sen
Tháng năm âm thầm lặng lẽ,
Giọt máu hòa theo dòng lệ
Hương đời mẹ ướp cho con.
Khi con thành đóa hoa thơm
Đời mẹ dắt lay chiếc bóng
Con đi... chân trời gió lộng
Mẹ về... nắng quái chiều hôm
(Trích Mẹ, Viễn Phương, https://www.thivien.net)
Câu 7. (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vấn đề tự học của học sinh hiện nay.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1. Thể thơ 6 chữ
Câu 2. Loài hoa được nhắc đến trong bài thơ: hoa sen
Câu 3. Khi con trưởng thành, thành công và tỏa sáng trong cuộc đời thì mẹ đã già yếu, sức khỏe dần hao mòn theo năm tháng. Hình ảnh “lắt lay chiếc bóng” cho thấy sự cô đơn, nhỏ bé và nhọc nhằn của mẹ ở tuổi xế chiều. Qua đó, tác giả bày tỏ niềm xúc động, biết ơn sâu sắc trước công lao và tình yêu thương bao la của mẹ.
Câu 4.
- So sánh: “Mẹ” ví với “đoá hoa sen”
- Tác dụng:
+ Giúp hình ảnh người mẹ trở nên sinh động, gợi cảm, gây xúc động mạnh cho người đọc và tăng sức biểu cảm cho lời thơ.
+ Làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn cao quý của người mẹ. Dù cuộc sống có nghèo khó, vất vả ("mẹ nghèo") nhưng tâm hồn mẹ vẫn thanh cao, thuần khiết và tỏa hương thơm ngát cho đời giống như loài hoa sen "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".
+ Qua đó thể hiện sự trân trọng, ngợi ca của tác giả đối với mẹ.
Câu 5.
- Bài học: cần phải yêu thương, kính trọng và biết ơn mẹ.
- Ý nghĩa: Mẹ đã hi sinh cả cuộc đời để chăm lo, nuôi dưỡng con khôn lớn nên mỗi người con cần sống tốt, chăm ngoan và quan tâm đến mẹ nhiều hơn. Chúng ta cần biết trân trọng tình mẫu tử thiêng liêng và sống có trách nhiệm hơn với gia đình.
II. VIẾT
Câu 6.
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân đoạn
a. Hình ảnh người mẹ nghèo khó, lam lũ
- Biện pháp so sánh gợi cuộc đời mẹ thanh cao, giản dị mà đầy nhọc nhằn.
- “Tháng năm âm thầm lặng lẽ”: Cuộc đời mẹ trôi qua trong hi sinh, chịu đựng. Mẹ sống lặng thầm, không than vãn.
b. Sự hi sinh lớn lao và tình yêu thương của mẹ
- “Giọt máu hòa theo dòng lệ”: Gợi nỗi đau, sự vất vả, những hi sinh đến tận cùng của mẹ dành cho con.
- “Hương đời mẹ ướp cho con”: Mẹ dành tất cả những điều đẹp đẽ nhất để nuôi dưỡng con nên người.
c. Nỗi xót xa trước sự già nua của mẹ
- “Đời mẹ lắt lay chiếc bóng”: Hình ảnh gợi sự già yếu, mong manh của mẹ theo thời gian.
- Đối lập: “Con đi… chân trời gió lộng” >< “Mẹ về… nắng quái chiều hôm”
+ Khi con trưởng thành, tung bay giữa cuộc đời cũng là lúc mẹ bước về phía xế chiều cuộc đời.
+ Gợi niềm thương yêu, day dứt và lòng biết ơn sâu sắc của người con.
d. Nghệ thuật
- Hình ảnh thơ giàu sức gợi.
- Ngôn ngữ giản dị mà giàu cảm xúc.
- Biện pháp so sánh, đối lập, ẩn dụ được sử dụng hiệu quả.
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận
Câu 7.
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân bài
a. Giải thích
- Tự học là quá trình chủ động tìm tòi, tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng bằng ý thức và nỗ lực của bản thân mà không phụ thuộc hoàn toàn vào thầy cô hay cha mẹ.
b. Phân tích, chứng minh
- Vai trò, ý nghĩa của tự học
+ Giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức: Hiểu bài sâu hơn, ghi nhớ lâu hơn và biết tự tìm cách giải quyết vấn đề.
+ Rèn luyện nhiều phẩm chất cần thiết: Tính tự giác, tinh thần trách nhiệm, kiên trì, chủ động, sáng tạo.
+ Giúp thích nghi với xã hội hiện đại: Kiến thức luôn thay đổi, người biết tự học sẽ dễ thành công và phát triển bản thân lâu dài.
- Thực trạng tự học của học sinh hiện nay
+ Nhiều học sinh biết chủ động học online, tìm tài liệu, lập kế hoạch học tập; Biết khai thác công nghệ phục vụ việc học.
- Bên cạnh đó vẫn còn nhiều học sinh học đối phó, phụ thuộc vào thầy cô; Dễ xao nhãng bởi điện thoại, mạng xã hội, trò chơi điện tử; Chưa có phương pháp học tập khoa học.
- Nguyên nhân
+ Thiếu mục tiêu học tập rõ ràng.
+ Chưa có ý thức tự giác.
+ Sự tác động của môi trường giải trí.
+ Gia đình và nhà trường đôi khi còn áp đặt hoặc bao bọc quá mức.
- Giải pháp
+ Học sinh: Xây dựng mục tiêu học tập rõ ràng; Lập kế hoạch học tập hợp lí; Chủ động đọc sách, tìm tòi kiến thức. Hạn chế phụ thuộc vào mạng xã hội, thiết bị điện tử.
+ Gia đình: Quan tâm, động viên, tạo môi trường học tập tích cực.
+ Nhà trường: Đổi mới phương pháp dạy học. Khuyến khích tư duy độc lập và khả năng tự nghiên cứu.
HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận
Đề thi vào 10 môn Văn Lạng Sơn năm 2025
Đề bài
PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
Đây Lạng Sơn giữa mùa hoa đào nở
Cây rung rinh, lá nõn, nắng tươi vàng
Đường Tổ quốc nuột nà muôn thảm lụa
Đang trải dài khắp nẻo đón xuân sang
Ôi Lạng Sơn, đất của nàng Tô Thị
Của phố Kỳ Lừa, của động Tam Thanh
Với ải Chi Lăng ngày xưa hoen máu giặc
Còn vọng lời Nguyễn Trãi khóc Phi Khanh ...
Hôm nay giữa đất anh hùng lịch sử
Xuân đang chín, hoa đào vừa độ đỏ
Đây Lạng Sơn kiêu hãnh những con người
Mang trên mình nhấp nhánh đóa hoa tươi.
(Trích Mùa hoa, Nguyễn Phú Trọng, theo Những bài thơ về thanh niên xung phong của chàng sinh viên Nguyễn Phú Trọng năm xưa, http://vanvn.vn, ngày 26/7/2024)
* Chú thích:
Bài thơ Mùa hoa được chàng sinh viên Nguyễn Phú Trọng sáng tác vào tháng 3 năm 1967 khi về thực tập tại các đại đội thanh niên xung phong thuộc đội N57 tỉnh Lạng Sơn.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định các tiếng được gieo vần ở khổ thơ thứ nhất.
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra 01 hình ảnh miêu tả thiên nhiên Lạng Sơn trong dòng thơ:
Cây rung rinh, lá nõn, nắng tươi vàng
Câu 3. (1,0 điểm) Nêu nội dung của hai dòng thơ:
Đường Tổ quốc nuột nà muôn thảm lụa
Đang trải dài khắp nẻo đón xuân sang
Câu 4. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ trong hai dòng thơ:
Ôi Lạng Sơn, đất của nàng Tô Thị
Của phố Kỳ Lừa, của động Tam Thanh
Câu 5. (1,0 điểm) Em hãy bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của hoa đào trong đời sống người dân Lạng Sơn sau khi đọc đoạn trích (trình bày khoảng 05-07 dòng).
PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 6. (2,0 điểm)
Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích khổ thơ sau trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu:
Hôm nay giữa đất anh hùng lịch sử
Xuân đang chín, hoa đào vừa độ đỏ
Đây Lạng Sơn kiêu hãnh những con người
Mang trên mình nhấp nhánh đóa hoa tươi
Câu 7. (4,0 điểm)
Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về những việc bản thân cần làm để thể hiện tình yêu đối với quê hương xứ Lạng.
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc khổ thơ thứ nhất, xác định các tiếng cuối dòng hoặc tiếng có âm vang lặp lại để tìm cách gieo vần trong bài thơ.
Lời giải chi tiết:
Các tiếng được gieo vần: vàng - sang
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc dòng thơ, chú ý các từ ngữ gợi tả cảnh vật thiên nhiên như cây cối, ánh nắng, màu sắc để xác định hình ảnh miêu tả thiên nhiên
Lời giải chi tiết:
Hình ảnh thiên nhiên: cây, lá nõn, nắng tươi
Câu 3.
Phương pháp:
Đọc kĩ hai dòng thơ, xác định hình ảnh và ý nghĩa biểu đạt; liên hệ với vẻ đẹp quê hương, mùa xuân và niềm tự hào về đất nước để nêu nội dung.
Lời giải chi tiết:
Hai dòng thơ ca ngợi vẻ đẹp mềm mại, tươi mới của những con đường đất nước như những dải lụa óng ả, trải dài khắp nơi, mang không khí mùa xuân tràn ngập khắp mọi miền Tổ quốc, đặc biệt là vùng biên cương Lạng Sơn. Qua đó thể hiện niềm tự hào và tình yêu quê hương đất nước
Câu 4.
Phương pháp:
Xác định biện pháp tu từ điệp ngữ, chú ý từ ngữ được lặp lại; phân tích tác dụng trong việc nhấn mạnh nội dung, cảm xúc và tạo nhịp điệu cho câu thơ.
Lời giải chi tiết:
Điệp ngữ: Của ...
Tác dụng:
- Tạo nhịp điệu cho câu thơ
- Điệp ngữ “của” được lặp lại nhằm liệt kê, nhấn mạnh những địa danh, di tích lịch sử nổi tiếng gắn liền với mảnh đất Lạng Sơn, làm nổi bật bề dày văn hóa, truyền thống và lịch sử oai hùng của nơi đây.
- Góp phần bộc lộ niềm tự hào, tình cảm tha thiết của tác giả đối với mảnh đất địa đầu Tổ quốc.
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung đoạn trích, liên hệ thực tế đời sống người dân Lạng Sơn để bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của hoa đào đối với văn hóa, tinh thần và quê hương.
Lời giải chi tiết:
- Hoa đào không chỉ là loài hoa đặc trưng của vùng đất Lạng Sơn mà còn là biểu tượng của mùa xuân, của sức sống, niềm vui và sự hy vọng.
- Hoa đào còn gắn liền với truyền thống văn hóa và tâm hồn con người nơi đây, là biểu tượng của may mắn, bình an và đoàn viên.
- ...
II. VIẾT
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc kĩ khổ thơ, xác định nội dung chính và các biện pháp nghệ thuật tiêu biểu; phân tích hình ảnh, từ ngữ để làm rõ vẻ đẹp quê hương, con người Lạng Sơn và tình cảm của tác giả.
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn: Giới thiệu chung
2. Thân đoạn
- Cảm xúc tự hào về mảnh đất anh hùng
+ Tác giả gọi Lạng Sơn là “đất anh hùng lịch sử”, gợi nhắc đến vùng đất địa đầu Tổ quốc gắn liền với nhiều chiến công, nhân vật lịch sử oai hùng.
Gợi lên niềm tự hào và biết ơn về truyền thống chống giặc giữ nước của cha ông.
- Vẻ đẹp mùa xuân và thiên nhiên Lạng Sơn
+ “Xuân chín” là hình ảnh mùa xuân vào độ rực rỡ, viên mãn nhất, cảnh sắc núi rừng bừng sức sống.
+ “Hoa đào vừa độ đỏ” vừa là vẻ đẹp thiên nhiên, vừa tượng trưng cho niềm tin, hy vọng và khát vọng chiến thắng trong những năm tháng chiến tranh.
- Ca ngợi con người Lạng Sơn: thể hiện sự trân trọng, ngợi ca những con người nơi đây.
- Nghệ thuật:
+ Thể thơ
+ Giọng điệu ngợi ca, tự hào
+ Sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề
Câu 2.
Phương pháp:
Giải thích vấn đề nghị luận, bàn luận những việc bản thân cần làm để thể hiện tình yêu quê hương xứ Lạng; kết hợp lí lẽ, dẫn chứng, phản đề và rút ra bài học nhận thức, hành động.
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài: Giới thiệu chung
2. Thân bài
- Tình yêu quê hương là sự gắn bó, trân trọng, tự hào và có trách nhiệm gìn giữ những giá trị văn hóa, lịch sử, thiên nhiên, con người nơi mình sinh ra và lớn lên. Tình yêu ấy không chỉ được thể hiện bằng lời nói mà phải bằng hành động cụ thể, phù hợp với lứa tuổi và điều kiện sống.
- Những việc bản thân cần làm để thể hiện tình yêu với quê hương xứ Lạng:
+ Nỗ lực học tập, rèn luyện đạo đức, trở thành con ngoan trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ, góp phần xây dựng quê hương.
+ Tìm hiểu về lịch sử, truyền thống, di tích và các lễ hội đặc sắc của quê hương. Tự hào giới thiệu với bạn bè về cảnh đẹp và văn hóa xứ Lạng, lan tỏa tình yêu quê hương đến mọi người.
+ Tham gia các hoạt động trồng cây xanh, làm sạch đường làng, ngõ xóm, giữ gìn cảnh quan xanh – sạch – đẹp. Giữ gìn bản sắc văn hóa qua việc thực hiện nếp sống văn minh, tôn trọng và bảo tồn các lễ hội truyền thống.
+ Bảo vệ di tích, danh lam thắng cảnh, không xâm hại, vẽ bậy, phá hoại các công trình lịch sử – văn hóa.
Sử dụng mạng xã hội để quảng bá hình ảnh đẹp về xứ Lạng đến bạn bè trong nước và quốc tế.
- Ý nghĩa của những việc làm đó:
+ Góp phần giữ gìn vẻ đẹp, truyền thống và danh tiếng của quê hương.
+ Thể hiện trách nhiệm của thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.
+ Bồi đắp tình yêu quê hương đất nước, nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc và ý chí vươn lên trong cuộc sống.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận
Đề thi vào 10 môn Văn Lạng Sơn năm 2023
Đề bài
PHẦN ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích:
Mỗi chúng ta đều có một hoàn cảnh khác nhau, một gia đình và môi trường sống khác nhau. Nếu bạn chưa có một giấc mơ của riêng mình, hãy dành thời gian cho bản thân để nghĩ về điều đó. Nếu bạn đang sống nhờ vào giấc mơ của người khác, dù là cha mẹ, ông bà, anh chị hay một ai đó trong đời, hãy biết rằng mình không nợ ai một giấc mơ. Cuộc đời quá ngắn ngủi. Tuổi xuân rất có hạn. Một ngày nào đó khi mỏi gối chồn chân, bạn sẽ ngồi đó hối hận vì đã sống nhờ vào giấc mơ người khác.
(Trích Mở cửa tương lai, Nguyễn Phi Vân, NXB Thế giới, 2022, tr.29-30)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên.
Câu 2. (0,5 điểm) Theo tác giả, Nếu bạn chưa có một giấc mơ của riêng mình thì bạn hãy làm gì?
Câu 3. (1,0 điểm) Em hiểu như thế nào về nội dung của câu nói: Tuổi xuân rất có hạn. Một ngày nào đó khi mỏi gối chồn chân, bạn sẽ ngồi đó hối hận vì đã sống nhờ vào giấc mơ người khác.
PHẦN LÀM VĂN (8,0 điểm)
Câu 1. Em hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 12 đến 15 câu) trình bày suy nghĩ về những việc em cần làm để thực hiện ước mơ của bản thân.
Câu 2. Em hãy viết bài văn nghị luận trÌnh bày cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Thình lình đèn diện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn.
Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chỉ người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.
(Trích Ánh trăng, Nguyễn Duy, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.156)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt trong đoạn trích trên: Nghị luận.
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc, tìm ý.
Cách giải:
Theo tác giả, nếu bạn chưa có một giấc mơ của riêng mình thì hãy dành thời gian cho bản thân để nghĩ về điều đó.
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Học sinh trình bày theo cảm nhận của bản thân, có lý giải phù hợp.
Gợi ý:
- Thời gian là hữu hạn, chúng ta chỉ được sống một lần. Đồng nghĩa với đó, mỗi người trong chúng ta chỉ có thể trải qua tuổi xuân một lần duy nhất.
- Khi tuổi xuân qua đi, sự nhiệt huyết, năng lực và sức học hỏi, làm việc của chúng ta sẽ bị giảm sút không còn được như lúc trẻ. Lúc đó muốn sống theo giấc mơ của mình cũng trở nên khó khăn hơn. Khi ấy, chúng ta sẽ cảm thấy tiếc nuối vì chúng ta chưa từng sống cho ước mơ của chính mình, cuộc sống đã từng sống cũng không thật sự là cuộc sống bản thân mong muốn.
- Qua câu nói tác giả gửi gắm đến tất cả mọi người hãy sống, mơ ước và dùng hết sức mình để biến những mơ ước thành hiện thức, để sau này không bao giờ phải ân hận, hối tiếc.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Nêu vấn đề: Những việc bản thân cần làm để đạt được ước mơ.
2. Giải thích:
- Ước mơ: Là những dự định, hoài bão, mục tiêu mà con người luôn mong muốn đạt được trong cuộc đời của chính mình. Nó là những khát vọng mà con người luôn lấy đó làm mục đích để cố gắng nỗ lực.
-> Tuổi trẻ là tuổi của những ước mơ và hoài bão của những mục tiêu lý tưởng lớn lao. Điều đó khiến cuộc sống của con người trở nên có ý nghĩa hơn. Để đạt được ước mơ, con người ngoài đề ra mục đích còn cần có những hành động cụ thể để hiện thực hóa ước mơ của mình.
3. Bàn luận
- Để hiện thực hóa ước mơ con người trước hết phải xác định ước mơ, mục đích, lý tưởng đúng đắn, rõ ràng.
- Vạch rõ kế hoạch, các bước tiến đến việc hiện thực hóa ước mơ.
- Cố gắng rèn luyện, học hỏi để có thêm kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm phục vụ cho việc chinh phục ước mơ.
- Khi gặp khó khăn, thất bại không lùi bước. Có ý chí, kiên định đến cùng không nản chí.
- Luôn giữ vững ngọn lửa đam mê trong tâm hồn.
4. Rút ra bài học liên hệ:
- Phê phán những người sống không có ước mơ, lý tưởng hoặc có ước mơ lý tưởng nhưng lại không có hành động để biến ước mơ thành hiện thực.
- Theo đuổi ước mơ, hoài bão nhưng không được quên đi những giá trị hạnh phúc bình dị đời thường, cần có sự cân bằng giữa việc theo đuổi ước mơ và tìm sự bình yên trong tâm hồn.
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
I. Giới thiệu chung:
- Giới thiệu nhà thơ Nguyễn Duy, nhà thơ quân đội, đã được giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ 1972 – 1973, một gương mặt tiêu biểu cho lớp nhà thơ trẻ thời chống Mỹ cứu nước.
- Tập thơ “Ánh trăng” của ông được tặng giải A của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1984. Trong đó, có bài thơ mà tựa để dùng làm nhan đề cho cả tập thơ : Ánh Trăng. Bài thơ là một câu chuyện riêng nhưng có ý nghĩa triết lý như một lời tự nhắc nhở thấm thía của nhà thơ về lối sống nghĩa tình, thủy chung với quá khứ gian lao, với thiên nhiên, đất nước và đồng đội.
- Ba khổ thơ cuối bài thơ tạo ra tình huống gặp gỡ giữa con người với vầng trăng trong hiện tại, từ đó, ta thấy sự thức tỉnh của con người và nhắc nhở đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.
II. Phân tích:
1. Vầng trăng trong hiện tại - tình huống bất ngờ
- Con người gặp lại vầng trăng trong một tình huống bất ngờ:
+ Tình huống: “Đèn điện tắt”. Đây là biến cố chân thực, thường thấy trong cuộc sống đô thị. Cái lấp lánh của ánh điện, cửa gương biến mất, con người bị vây bọc trong căn phòng tối om, ngột ngạt.
Hành động “Vội bật tung”: vội vàng, khẩn trương -> bắt gặp vấng trăng -> Đây là khổ thơ quan trọng trong cấu tứ toàn bài.
Chính cái khoảnh khắc bất ngờ ấy đã tạo nên bước ngoặt trong mạch cảm xúc của nhà thơ-> Sự xuất hiện bất ngờ của vầng trăng khiến nhà thơ ngỡ ngàng, bối rối, gợi cho nhà thơ bao kỉ niệm nghĩa tình.
+ “Đột ngột vầng trăng tròn”: Đảo ngữ: Cảm giác ngỡ ngàng khi con người gặp lại vầng trăng.
+ Ấn tượng về vẻ đẹp của trăng: trăng đang độ tròn đẹp nhất; trăng vẫn vẹn nguyên, vẫn ở rất gần, luôn chờ đợi dõi theo dù con người thờ ơ, dửng dưng.
2. Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng.
- Từ “mặt” được dùng với nghĩa gốc và nghĩa chuyển - mặt trăng, mặt người – trăng và người cùng đối diện đảm tấm.
- Với tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” người đọc cảm nhận sự lặng im, thành kính và trong phút chốc cảm xúc dâng trào khi gặp lại vầng trăng: “có cái gì rưng rưng”. Rưng rưng của những niềm thương nỗi nhớ, của những lãng quên lạnh nhạt với người bạn cố tri; của một lương tri đang thức tỉnh sau những ngày đắm chìm trong cõi u mê mộng mị; rưng rưng của nỗi ân hận ăn năn về thái độ của chính mình trong suốt thời gian qua. Một chút áy náy, một chút tiếc nuối, một chút xót xa đau lòng, tất cả đã làm nên cái “rưng rưng”, cái thổn thức trong sâu thẳm trái tim người lính.
- Và trong phút giây nhân vật trữ tình nhìn thẳng vào trăng- biểu tượng đẹp đẽ của một thời xa vắng, nhìn thẳng vào tâm hồn của mình, bao kỉ niệm chợt ùa về chiếm trọn tâm tư. Kí ức về quãng đời ấu thơ trong sáng, về lúc chiến tranh máu lửa, về cái ngày xưa hồn hậu hiện lên rõ dần theo dòng cảm nhận trào dâng “như là đồng là bể, như là sông là rừng”. Đồng, bể, sông, rừng, những hình ảnh gắn bó nơi khoảng trời kỉ niệm -> Cấu trúc song hành của hai câu thơ, nhịp điệu dồn dập cùng biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ và liệt kế như muốn khắc họa rõ hơn kí ức về thời gian gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng lớn lao sâu nặng, nghĩa tình, tri kỉ. Chính thứ ánh sáng dung dị đôn hậu đó của trăng đã chiếu tỏ nhiều kỉ niệm thần thương, đánh thức bao tâm tình vốn tưởng chừng ngủ quên trong góc tối tâm hồn người lính. Chất thơ mộc mạc chân thành như vầng trăng hiền hòa, ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm như “có cái gì rưng rưng”, đoạn thơ đã đánh động tình cảm nơi người đọc.
- Hình ảnh “trăng cổ tròn vành vạnh” là tượng trưng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung, đầy đặn, bao dung, nhân hậu.
- Hình ảnh “ánh trăng im phăng phắc” mang ý nghĩa nghiêm khắc nhắc nhở, là sự trách móc trong lặng im. Chính cái im phăng phắc của vầng trăng đã đánh thức con người, làm xáo động tâm hồn người lính năm xưa. Con người “giật mình” trước ánh trăng là sự bừng tỉnh của nhân cách, là sự trở về với lương tâm trong sạch, tốt đẹp. Đó là lời ân hận, ăn năn day dứt, làm đẹp con người.
III. Kết luận
- Nội dung:
+ Ba khổ cuối bài thơ tạo ra tình huống bất ngờ, cho ta thấy sự thức tỉnh của con người.
+ Lời nhắn gửi con người không được lãng quên quá khứ gian khổ mà sâu đậm nghĩa tình.
+ Lời nhắc nhở về nghĩa tình thiêng liêng của nhân dân, đất nước và đạo li uống nước nhớ nguồn.
- Nghệ thuật:
+ Thể thơ ngũ ngôn với nhiều sáng tạo độc đáo.
+ Sự kết hợp hài hòa giữa chất tự sự và trữ tình.
+ Ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, gần gũi mà giàu sức gợi.
+ Giọng điệu tâm tình thấm thía, khi thì thiết tha cảm xúc, lúc lại trầm lắng, suy tư.
Đề thi vào 10 môn Văn Lạng Sơn năm 2022
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (2 điểm) Đọc đoạn trích:
Khó khăn giúp hé lộ tài năng. Những tổ chức tầm cỡ trên thế giới đều quan niệm rằng khó khăn là cơ hội để phát triển. Vậy nên đừng lên án chúng – hãy học hỏi và nắm bắt chúng. Những con người tầm cỡ trên thế giới đều biến những thương tích của mình trở thành bài học trí tuệ. Họ dùng thất bại làm đòn bẩy để tiến gần đến thành công. Họ không thấy đó là khó khăn, họ nhìn ra triển vọng. Và điều đó khiến họ vĩ đại. Hãy nhớ, sai lầm vẫn chỉ là sai lầm nếu bạn lặp lại nó lần nữa.
(Robin Sharma, Điều vĩ đại đời thường, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2021, tr.140)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. (0,5 điểm) Theo đoạn trích, khó khăn giúp hé lộ điều gì?
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra từ biểu hiện phép lặp để liên kết hai câu văn sau: Họ dùng thất bại làm đòn bẩy
để tiến gần đến thành công. Họ không thấy đó là khó khăn, họ nhìn ra triển vọng.
Câu 3. (1,0 điểm) Em hiểu như thế nào về nội dung câu văn sau: Hãy nhớ, sai lầm vẫn chỉ là sai lầm nếu
bạn lặp lại nó lần nữa?
PHẦN LÀM VĂN (8,0 điểm)
Câu 4. (3,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 12 đến 15 câu) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của tinh thần vượt khó trong cuộc sống.
Câu 5. Cảm nhận của em về vẻ đẹp thiên nhiên và con người lao động trong đoạn thơ sau:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!
(Huy Cận, Đoàn thuyền đánh cá, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2021, tr.139-140)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1:
|
Theo đoạn trích, khó khăn giúp hé lộ điều gì? |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Theo đoạn trích, khó khăn hé lộ tài năng.
Câu 2:
|
Chỉ ra từ biểu hiện phép lặp để liên kết hai câu văn sau: Họ dùng thất bại làm đòn bẩy để tiến gần đến thành công. Họ không thấy đó là khó khăn, họ nhìn ra triển vọng. |
Phương pháp: Căn cứ bài Phép liên kết.
Cách giải:
Phép lặp từ “ họ”
Câu 3:
|
Em hiểu như thế nào về nội dung câu văn sau: Hãy nhớ, sai lầm vẫn chỉ là sai lầm nếu bạn lặp lại nó lần nữa? |
Phương pháp: Phân tích.
Cách giải:
Chúng ta không nên lặp lại những sai lầm đã mắc trước đó. Từ những sai lầm đó cố gắng thay đổi để không mắc lại những lỗi đó nữa.
II. LÀM VĂN:
Câu 4:
|
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 12 đến 15 câu) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của tinh thần vượt khó trong cuộc sống. |
Phương pháp: Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
* Yêu cầu về hình thức: Viết đoạn văn đảm bảo từ 12- 15 câu.
* Yêu cầu về nội dung:
- Giới thiệu vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của tinh thần vượt qua khó khăn trong cuộc sống.
- Giải thích:
+ Tinh thần vượt qua khó khăn: Đó là sẵn sàng luôn đối mặt với những khó khăn, thử thách trong cuộc sống, đối diện với khó khăn bằng một tinh thần tích cực.
- Ý nghĩa của tinh thần vượt khó là:
+ Tinh thần vượt khó sẽ giúp con người luôn phấn đấu, nỗ lực để đạt được những thành tựu cho bản thân.
+ Tinh thần vượt khó sẽ rèn luyện cho bản thân nhiều đức tính tốt như chăm chỉ, lạc quan,…
+ Tinh thần vượt khó giúp con người học hỏi được những bài học kinh nghiệm quý giá từ trong những khó khăn.
+ Tinh thần vượt khó giúp con người tới gần hơn với thành công.
- Liên hệ bản thân, mở rộng:
+ Trong cuộc sống cũng có nhiều người bi quan, chán nản khi gặp khó khăn,… những người này nên bị chỉ trích, phê phán.
Câu 5:
|
Cảm nhận của em về vẻ đẹp thiên nhiên và con người lao động trong đoạn thơ sau: Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa. Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng, Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng. Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi! (Huy Cận, Đoàn thuyền đánh cá, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2021, tr.139-140) |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm Đoàn thuyền đánh cá.
- Giới thiệu về khái quát nội dung của đoạn thơ: Vẻ đẹp thiên nhiên và người lao động.
2. Thân bài:
a. Vẻ đẹp thiên nhiên
- Bức tranh thiên nhiên được xây dựng trên nền một buổi hoàng hôn tuyệt đẹp.
- Hình ảnh so sánh độc đáo trong câu 1:
+ Điểm nhìn nghệ thuật: nhìn từ con thuyền đang ra khơi.
+ Thời gian: hoàng hôn -> sự vận động của thời gian.
+ Quang cảnh hùng vĩ của bầu trời lúc chiều tà -> vẻ đpẹ kì vĩ, tráng lệ của cảnh hoàng hôn trên biển.
- Biện pháp tu từ nhân hóa:
+ Được sáng tạo từ chi tiết thực: những con sóng cài ngang như chiếc then cửa của vũ trụ. Bóng đêm “sập cửa” gợi khoảnh khắc ánh ngày vụt tắt và màn đêm bất ngờ buông xuống bao trùm tất cả.
+ Gợi không gian vũ trụ rộng lớn, mênh mông, kì vĩ mà vẫn gần gũi, ấm áp như ngôi nhà của con người.
2. Vẻ đẹp lao động của đoàn thuyền đánh cá ra khơi
- Từ “Lại” :
+ Chỉ một sự kiện lặp đi lặp lại.
+ Chỉ sự trái chiều vì khi vũ trụđã kết thúc một ngày dài để lắng vào yên nghỉ thì đoàn thuyền đánh cá lại bắt đầu một cuộc lao động mới.
-> Gợi một nhịp sống thanh bình của quê hương, đất nước. Sau bao năm tháng chiến tranh con ngườ Việt Nam mới có một cuộc sống lao động bình yên.
- “Câu hát căng buồm cùng gió khơi” :
+ Kết hợp hai hình ảnh : “câu hát” – “gió khơi” -> cụ thể hóa sứ mạnh đưa con thuyền ra khơi.
+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “câu hát căng buồm” -> tái hiện vẻ đẹp tâm hồn, niềm vui lao động của người dân chài.
-> Đoàn thuyền ra khơi trong niềm vui lao động.
* Câu hát của người dân chài :
- Biện pháp liệt kê : “cá bạc”, “cá thu”…-> sự giàu có của biển.
- Bút pháp tả thực kết hợp với trí thưởng tượng phong phú :
+ Tả đàn cá thu giống như con thoi đang bơi lượn mà như dệt tấm vải giữa biển đêm bừng muôn luồng sáng
+ Gợi những vệt nước ấp lánh khi đàn cá bơi lội.
+ Niềm vui của người dân chài. Những đàn cá như thoi đứa là niềm hứa hẹn chuyến về bội thu “khoang đầy cá nặng”
3. Kết bài:
- Nội dung:
+ Tác giả phác họa thành công một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng.
+ Qua đó, ông đã làm hiện lên cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi và tâm hồn phóng khoáng, tràn đầy niềm vui, niềm hi vọng của người lao động mới.
- Nghệ thuật
+ Ngòi bút tràn đầy sự chan hòa giữa con người và thiên nhiên.
+ Hình ảnh phong phú.
Đề thi vào 10 môn Văn Lạng Sơn năm 2020
Đề bài
Phần I - Đọc hiểu văn bản (2,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
(1) Tôi là con gái Hà Nội, Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: "Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!”.
(2) Xa đến đâu mặc kệ, nhưng tôi thích ngắm mắt tôi trong gương. Nó dài dài, màu nâu, hay nheo lại như chói năng.
(3) Không hiểu sao các anh pháo thủ và lái xe lại hay hỏi thăm tôi. Hỏi thăm hoặc viết những thư dài gửi đường dây, làm như ở cách xa nhau hàng nghìn cây số, mặc dù có thể chào nhau hàng ngày. Tôi không săn sóc, vồn vã. Khi bọn con gái xúm nhau lại đối đáp với một anh bộ đội nói giỏi nào đấy, tôi thường đứng ra xa, khoanh tay lại trước ngực và nhìn đi nơi khác, môi mím chặt. Nhưng chẳng qua tôi điệu thế thôi. Thực tình trong suy nghĩ của tôi, những người đẹp nhất, thông minh, can đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục, có ngôi sao trên mũ.
(Trích Những ngôi sao xa xôi - Lê Minh Khuê, Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr.115)
Câu 1 (0,5 điểm): Tìm khởi ngữ trong câu văn: Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: "Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!”.
Câu 2 (0,5 điểm): Theo đoạn văn (3), trong suy nghĩ của nhân vật tôi, những người đẹp nhất, thông minh, can đảm và cao thượng nhất là ai?
Câu 3 (1,0 điểm): Nêu hiệu quả của phép tu từ so sánh được sử dụng trong câu văn: Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn.
Phần II - Làm văn (8,0 điểm)
Câu 1 (3,0 điểm)
Thói quen xấu như đám cỏ dại lan nhanh, sẽ lấn áp những bông hoa xinh đẹp trong mảnh đất đời bạn. Hãy dũng cảm từ bỏ chúng nhổ chúng đi để cho những thói quen tốt đẹp không ngừng sinh sôi, phát triển. Đó mới là cuộc đời mà chúng ta đang chờ đợi.
(Trích Điều kì diệu của thái độ sống - Mac Anderson, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, tr.35)
Từ ý kiến trên, em hãy viết một đoạn văn khoảng 12 đến 15 câu, trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc từ bỏ những thói quen xấu trong cuộc sống con người.
Câu 2 (5,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích sau:
Anh hạ giọng, nửa tâm sự, vừa đọc lại một điều rõ ràng đã ngấm nghĩ nhiều:
- Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này cháu không nghĩ như vậy nữa. Và, khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chi dưới kia, Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất. Còn người thì ai mà chả “thèm" hở bác? Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc? Đây, cháu tự nói với cháu thế đây. Bác lái xe đi, về Lai Châu cứ đến đây dừng lại một lát. Không vào giờ “ộp" là cháu chạy xuống chơi, lâu thành lệ. Cháu bỗng dưng tự hỏi: Cái nhớ xe, nhớ người ấy thật ra là cái gì vậy? Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô hội thì xoàng. Cháu ở liền trong trạm hàng tháng. Bác lái xe bao lần dừng, bóp còi toe toe, mặc, cháu gan li nhất định không xuống. Ấy thế là một hôm, bác lái phải thân hành lên trạm cháu, Cháu nói: “Đấy, bác cũng chẳng “thèm" người là gì?".
Anh xoay sang người con gái đang một mắt đọc cuốn sách, một mắt lắng nghe, chân cô đung đưa khe khẽ, nói:
- Và cô cũng thấy đấy, lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà. Mỗi người viết một vẻ.
- Quê anh ở đâu thế? - Họa sĩ hỏi.
- Quê cháu ở Lào Cai này thôi. Năm trước, cháu tưởng cháu được đi xa lắm cơ đấy, hóa lại không. Cháu có ông bố tuyệt lắm. Hai bố con cùng viết đơn xin ra lính đi mặt trận, Kết quả: bố cháu thắng cháu một - không. Nhân dịp Tết, một đoàn các chủ lái máy bay lên thăm cơ quan cháu ở Sa Pa. Không có cháu ở đấy. Các chú lại cử một chú lên tận đây. Chủ ấy nói: nhờ cháu có góp phần phát hiện một đám mây khô mà ngày ấy, tháng ấy, không quân ta hạ được bao nhiêu phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng. Đối với cháu, thật là đột ngột, không ngờ lại là như thế, Chủ lái máy bay có nhắc đến bố cháu, ôm cháu mà lắc “Thế là một - hòa nhé”. Chưa hòa đâu bác ạ. Nhưng từ hôm ấy cháu sống thật hạnh phúc.
(Trích Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019,)
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1:
|
Tìm khởi ngữ trong câu văn: Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: "Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!”. |
Phương pháp: căn cứ bài Khởi ngữ
Cách giải:
Khởi ngữ: mắt tôi
Câu 2:
|
Theo đoạn văn (3), trong suy nghĩ của nhân vật tôi, những người đẹp nhất, thông minh, can đảm và cao thượng nhất là ai? |
Phương pháp: căn cứ bài đọc hiểu
Cách giải:
Theo đoạn văn (3), trong suy nghĩ của nhân vật tôi, những người đẹp nhất, thông minh, can đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục, có ngôi sao trên mũ.
Câu 3:
|
Nêu hiệu quả của phép tu từ so sánh được sử dụng trong câu văn: Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Hiệu quả của phép tu từ:
- Gợi tả, khẳng định vẻ đẹp kiêu kì, trong sáng của nhân vật Phương Định. Ở đây còn là sự tự ý thức của cô về vẻ đẹp của mình.
- Làm cho câu văn trở nên sinh động, hấp dẫn.
Phần II
Câu 1
|
Thói quen xấu như đám cỏ dại lan nhanh, sẽ lấn áp những bông hoa xinh đẹp trong mảnh đất đời bạn. Hãy dũng cảm từ bỏ chúng nhổ chúng đi để cho những thói quen tốt đẹp không ngừng sinh sôi, phát triển. Đó mới là cuộc đời mà chúng ta đang chờ đợi. (Trích Điều kì diệu của thái độ sống - Mac Anderson, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, tr.35) Từ ý kiến trên, em hãy viết một đoạn văn khoảng 12 đến 15 câu, trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc từ bỏ những thói quen xấu trong cuộc sống con người. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: ý nghĩa của việc từ bỏ những thói quen xấu trong cuộc sống con người.
2. Giải thích vấn đề:
-Từ bỏ là không nhìn nhận, tự coi mình không còn quan hệ nữa hoặc thôi không tiếp tục một điều gì đó.
-Thói quen xấu là lối sống, cách sống hay hoạt động do lặp đi lặp lại lâu ngày thành quen, khó thay đổi mà đem lại những điều không tốt cho bản thân và những người xung quanh.
=> Từ bỏ thói quen xấu trong cuộc sống là điều cần thiết với mỗi người để bản thân tốt đẹp, hoàn thiện hơn.
3. Phân tích, bàn luận vấn đề
- Ý nghĩa của việc từ bỏ thói quen xấu:
+ Từ bỏ thói quen xấu giúp bạn có lối sống lành mạnh.
+ Từ bỏ thói quen xấu giúp bạn trở nên tốt đẹp hơn.
+ Thay đổi, từ bỏ những thói quen xấu giúp bạn có thời gian để phát huy những điểm mạnh của bản thân, từ đó dễ dàng tiến tới thành công.
+…
- Làm thế nào để khắc phục những thói quen xấu:
+ Nhận biết rõ tác hại của những thói quen xấu.
+ Có kế hoạch để điều chỉnh, thay đổi.
+ Quyết tâm thay đổi thói quen xấu
4. Liên hệ bản thân và Tổng kết
Câu 2
|
Viết bài văn nghị luận trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Thành Long.
- Giới thiệu tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa.
- Tác phẩm ca ngợi những con người dũng cảm, tuyệt đẹp đang cống hiến một cách thầm lặng, cao cả mà anh thanh niên là nhân vật chính “trong cái lặng im của Sa Pa…, Sa Pa mà chỉ nghe tên người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước”.
2. Thân bài
a. Giới thiệu khái quát:
Truyện ngắn tập trung vào cuộc gặp gỡ tình cờ giữa ông họa sĩ, cô kĩ sư với anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn của Sa Pa qua lời giới thiệu của bác lái xe.
Đoạn văn ngắn đã khái quát được vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn của anh thanh niên.
b. Nhân vật anh thanh niên:
* Hoàn cảnh sống và làm việc:
- Một mình trên đỉnh núi cao, quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa. Công việc của anh là “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự báo vào việc báo trước thời tiết hàng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”. Công việc đơn điệu đòi hỏi phải thật tỉ mỉ, chính xác, có ý thức tự giác.
- Nhưng cái gian khổ nhất phải vượt qua sự cô đơn, vắng vẻ, quanh năm suốt tháng một mình trên đỉnh núi cao không một bóng người.
* Những nét đẹp của nhân vật thể hiện qua đoạn trích:
- Có lý tưởng cống hiến: đi bội không được anh tình nguyện làm việc ở Sa Pa.
- Suy nghĩ đẹp về công việc:
+ Vì công việc mà anh phải sống một mình trên núi cao nhưng anh vẫn gắn bó với công việc của mình bởi “khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được”. Anh yêu công việc tới mức trong khi mọi người còn ái ngại cho cuộc sống ở độ cao 2.600m của anh thì anh lại ước ao được làm việc ở độ cao trên 3.000m “như vậy mới gọi là lý tưởng”.
+ Công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, chính xác cao: hằng ngày lặp lại tới 4 lần các thao tác “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết” và khó khăn nhất là lúc 1 giờ sáng “nửa đêm thức dậy xách đèn ra vườn, mưa tuyết, giá lạnh…” nhưng anh vẫn coi công việc là niềm vui “Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi cháu buồn đến chết mất”.
+ Ý thức được giá trị công việc mà mình đang làm: dự vào việc báo trước thời tiết nên “việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia”.
=> Những suy nghĩ ấy chỉ có ở những con người yêu lao động, yêu công việc của mình dù nó thật khó khăn, đơn điệu và buồn tẻ. Công việc là niềm vui, là cuộc sống của anh.
- Suy nghĩ đẹp về cuộc sống:
+ Tự mình tìm lời giải đáp cho những câu hỏi quan trọng “Mình sinh ra là gì, mình đẻ ra ở đâu, mình vì ai mà làm việc?” những câu hỏi cho anh biết giá trị của bản thân và ý nghĩa của cuộc sống.
+ Suy nghĩ đúng đắn về giá trị của hạnh phúc: Hạnh phúc không phải là khi cuộc sống đầy đủ về vật chất mà là khi ta làm được những điều có ích. Một lần do phát hiện kịp thời một đám mây khô mà anh đã góp phần vào chiến thắng của không quân ta, bắn rơi được máy bay Mỹ trên cầu Hàm Rồng, anh thấy mình “thật hạnh phúc”.
=> Qua lời kể hồn nhiên, chân thành của người thanh niên, tác giả Nguyễn Thành Long đã giúp người đọc cảm nhận được những suy nghĩ đẹp và đúng đắn của anh thanh niên cũng như của những người lao động ở Sa Pa.
- Làm phong phú cuộc sống của mình: Anh thường xuyên đọc sách. Vì sách chính là người bạn để anh “trò chuyện”. Nhờ có sách mà anh chống chọi được với sự vắng lặng quanh năm. Nhờ có sách mà anh tiếp tục học hành, mở mang kiến thức.
- Anh cảm thấy tự hào, hạnh phúc khi công việc của mình đóng góp được cho sự nghiệp chung của dân tộc: nhờ có anh phát hiện đám mây khô mà ta đã hạ được hiều phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng=> trong giọng nói của anh không khỏi xúc động và hạnh phúc. Và cũng từ hôm đấy anh “sông thật hạnh phúc” => Cái hạnh phúc của một người trẻ tuổi tìm thấy lí tưởng, ý nghĩa của nghề, của cuộc sống => Một nét sống cao đẹp.
=> Những tình cảnh cao đẹp trên đã tạo nên những phẩm chất đáng quý ở anh thanh niên - một con người lao động với XHCN.
3. Kết bài:
- Truyện Lặng lẽ Sa Pa ngợi ca ngợi những con người lao động như anh thanh niên làm công tác khí tượng và cái thế giới những con người như anh.
- Qua câu chuyện về anh thanh niên, tác phẩm cũng gợi tả những con người đang dành cả thanh xuân để cống hiên, phục vụ kháng chiến với nhiều phẩm chất cao đẹp.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
