Đề thi vào 10 môn Văn Lào Cai
Đề thi vào 10 môn Văn Lào Cai năm 2026
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
TRÊN XUẤT SẮC
Tiếng thằng bé vụt qua tai tôi khi nó vừa nói như hét vừa lao vào nhà, cả người chúi về phía trước: Mẹ ơi, con được học sinh xuất sắc, được thưởng một cái hộp xếp hình. Tôi chưa kịp khen thì vừa tháo quai cặp khỏi vai, nó lại hỏi tiếp: Mẹ ơi thế tiên tiến với xuất sắc thì cái gì hơn?
Tôi trả lời chưa dứt câu, nó dồn ngay: Thế trên xuất sắc là gì hả mẹ?
Tôi đành xin khất đến hôm sau. Tôi không muốn trả lời con một cách cho xong việc. Sự trong trắng của trẻ con như tờ giấy trắng, nó đòi hỏi ta phải cẩn trọng, phải băn khoăn khi có lời. Tôi thường hồi hộp khi ngồi vào bàn viết trước một trang giấy quá trắng.
[...] Nhưng rồi tôi còn phải trả lời con tôi. Tôi không hài lòng lắm với câu tôi đã định trả lời, tôi bỗng cảm thấy nó có vẻ nông cạn và công thức. Càng ngày tôi càng hiểu những câu hỏi bao giờ cũng thú vị cũng hấp dẫn hơn những câu trả lời. Hình như một trong những cái khó của người lớn là hay phải trả lời.
Trên xuất sắc nghĩa là từ những miếng nhựa này, con xếp được nhiều thứ nhất. Thằng bé như muốn được “trên xuất sắc” ngay, nó ôm thật nhanh cái hộp vào góc nhà và bắt đầu xếp... Lúc tôi đến bên thì thằng bé đang xếp một hình gì đó thật khó hiểu: nó gồm các miếng nhựa chồng lên nhau, mỗi “tầng” một miếng cao ngất ngưởng, trên cùng là một miếng vuông.
- Con xếp gì đấy? Nhà đấy mẹ ạ. Đây không phải là nhà của con ạ. Nói rồi tôi định đỡ “ngôi nhà” kì cục kia, xếp mẫu cho nó xem, nhưng nó đã gạt tay tôi ra một cách quyết liệt: Nhà của con, có sân bay trên nóc đấy!
Tôi sững người không phải vì cái gạt tay quyết liệt nhưng yếu ớt kia mà vì mấy tiếng rất đĩnh đạc, rất người lớn của thằng bé: Nhà của con. Tôi cũng đã từng xây nhà, những ngôi nhà cát ướt, trong có những vỏ ốc làm chén bát, những cổng lá làm thìa để “ngôi nhà” khỏi trống trải. Mọi người đã cười những “ngôi nhà cát” kì quặc và rõ dại ấy vì hình dáng của chúng chỉ giống mỗi trí tưởng tượng của tôi.
Thế mà lúc chiều, suýt nữa tôi đã làm hỏng “ngôi nhà” tưởng tượng của nó.
Nó có vẻ giận tôi, bất hợp tác...
Tôi lại lan man nghĩ đến tuổi thơ của mình.
Không hiểu bây giờ tôi là ai nếu hồi ấy mẹ đồng ý khi tôi định bỏ học đi làm kiếm tiền giúp bố mẹ như nhiều nhà khác. Nhà mình nghèo thật, nhưng bố mẹ sẽ cố hết sức để các con được đi học vì mẹ biết dù nói thế con vẫn rất muốn được đi học. Và tôi sẽ là ai khác nữa nếu hồi ấy cha không đồng ý để tôi theo học một ngành rất “con trai”, ngành tự động học mặc dầu ông rất muốn con theo nghề viết. Hay là cha mẹ không ép tôi vì đã dừng đứng trước tương lai của đứa con đầu lòng bướng bỉnh? Nếu vậy thì buồn quá!
Rồi chẳng hiểu cơn cớ gì lại đưa đẩy tôi trở về với nghiệp cha. Khi cầm tập truyện đầu tay của tôi, cha chỉ im lặng xoa đầu con gái, mắt cười đầy nước. Tôi bỗng hiểu cha mẹ đã yêu tôi, đã hi sinh thầm lặng vì những ngôi nhà của tôi như thế nào.
Tôi thấy cần phải gặp con đã như một việc khẩn cấp để xin lỗi nó và để nói với nó rằng: Con đã làm được một việc trên xuất sắc vì con đã xây một ngôi nhà đúng là nhà của con. Tôi nhìn ngôi nhà xếp kì quặc của nó sừng sững trên bàn, nắn nót mãi mới đặt được xe ra cửa...
(Trích Tiếng đấy - Tập truyện ngắn của Phạm Sông Hồng, NXB Hội nhà văn, 2007, tr. 204 - 210)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định ngôi kể của văn bản.
Câu 2. (0,5 điểm) Trong văn bản, người con đã có phản ứng như thế nào khi người mẹ định dỡ "ngôi nhà" kì cục của nó?
Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ trong câu văn: Tôi bỗng hiểu cha mẹ đã yêu tôi, đã hi sinh thầm lặng vì những ngôi nhà của tôi như thế nào.
Câu 4. (1,0 điểm) Chi tiết: Tôi thấy cần phải gặp con đã như một việc khẩn cấp để xin lỗi nó và để nói với nó rằng: Con đã làm được một việc trên xuất sắc vì con đã xây một ngôi nhà đúng là nhà của con giúp em hiều gì về nhân vật người mẹ?
Câu 5. (1,0 điểm) Từ nội dung văn bản, rút ra một thông điệp có ý nghĩa và lí giải.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật người con trong văn bản Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm)
Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về hiện tượng sống thiếu lòng biết ơn của một bộ phận người trẻ hiện nay và đề xuất giải pháp.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1. Ngôi kể thứ nhất
Câu 2. Phản ứng của người con: gạt tay mẹ một cách quyết liệt và khẳng định đó là “nhà của con”
Câu 3.
- Biện pháp ẩn dụ: “nhưng ngôi nhà của tôi”
- Tác dụng:
+ Làm cách diễn đạt giàu hình ảnh, sâu sắc và giàu tính biểu cảm: “Ngôi nhà” không chỉ là ngôi nhà thật mà còn ẩn dụ cho ước mơ, tương lai, khát vọng, con đường trưởng thành của người con.
+ Nhấn mạnh sự hi sinh âm thầm, tình yêu thương, nâng đỡ của cha mẹ dành cho con trên hành trình trưởng thành.
+ Thể hiện sự thức tỉnh, thấu hiểu và lòng biết ơn của nhân vật “tôi” đối với cha mẹ.
Câu 4. Chi tiết cho thấy nhân vật người mẹ:
- Yêu thương con sâu sắc, quan tâm đến cảm xúc của con
- Biết lắng nghe, thấu hiểu và tôn trọng cá tính sáng tạo của con
- Biết nhìn nhận lại bản thân, sẵn sàng nhận lỗi khi chưa thấu hiểu con
- Có cách giáo dục tích cực, khích lệ và đồng hành với sự phát triển của con
Câu 5. Thông điệp: Cha mẹ cần biết tôn trọng ước mơ, suy nghĩ và sự sáng tạo riêng của con. Bởi mỗi đứa trẻ đều có thế giới tưởng tượng và cách nhìn cuộc sống khác nhau. Khi được yêu thương, lắng nghe và khích lệ đúng cách, các con sẽ tự tin phát triển bản thân và trưởng thành tốt đẹp hơn.
II. VIẾT
Câu 1.
I. Mở đoạn: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nhân vật người con trong đoạn trích
II. Thân đoạn
* Sự hồn nhiên, ham học hỏi:
- Vui mừng khoe với mẹ thành tích “học sinh xuất sắc”.
- Liên tục đưa ra các câu hỏi: “tiên tiến với xuất sắc thì cái gì hơn?”, “Thế trên xuất sắc là gì hả mẹ?”
=> Thể hiện sự tò mò, khát khao khám phá, mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh.
* Trí tưởng tượng phong phú, sáng tạo:
- Tự mình xếp nên “ngôi nhà” đặc biệt từ hộp đồ chơi, đặc biệt ngôi nhà còn có “sân bay trên nóc”
=> Vừa ngây thơ vừa bay bổng, cho thấy thế giới nội tâm phong phú, không bị bó buộc bởi quy chuẩn.
* Cá tính, có ý thức bảo vệ suy nghĩ riêng
- Quyết liệt gạt tay mẹ khi mẹ định sửa “ngôi nhà”.
- Khẳng định chắc chắn: “Nhà của con”; “có vẻ giận tôi, bất hợp tác” cho thấy phản ứng tự nhiên, chân thật của một đứa trẻ có chính kiến.
=> Thể hiện mong muốn được tôn trọng, được công nhận ý tưởng và thế giới riêng của mình.
* Nghệ thuật:
- Miêu tả tâm lí trẻ em chân thực, tự nhiên.
- Ngôn ngữ đối thoại ngắn gọn, sinh động, phù hợp lứa tuổi.
- Sử dụng ngôi kể thứ nhất giúp nhân vật hiện lên qua cái nhìn trìu mến, trân trọng của người mẹ.
III. Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề nghị luận
Câu 2.
I. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
II. Thân bài
1. Giải thích
- Lòng biết ơn: là thái độ trân trọng, ghi nhớ và đền đáp công lao, sự giúp đỡ của người khác.
- Sống thiếu lòng biết ơn: là thái độ vô tâm, thờ ơ, xem sự hi sinh, giúp đỡ của người khác là điều hiển nhiên.
2. Phân tích, chứng minh
* Biểu hiện những người sống thiếu lòng biết ơn:
- Không kính trọng cha mẹ; coi sự hi sinh của gia đình là trách nhiệm.
- Thiếu tôn trọng thầy cô, không ghi nhớ công ơn dạy dỗ.
- Chỉ biết đòi hỏi, hưởng thụ mà không biết sẻ chia, cống hiến.
- ...
* Nguyên nhân:
- Chủ quan: Nhận thức chưa đầy đủ về giá trị của lòng biết ơn; Thiếu trải nghiệm, không thấu hiểu nỗi vất vả, hy sinh của thế hệ đi trước; …
- Khách quan: Sự phát triển của mạng xã hội làm giảm các kết nối cảm xúc trực tiếp; Sự tác động của lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân trong xã hội hiện đại.
* Hậu quả
- Đối với cá nhân: Trở nên cô độc, bị mọi người xa lánh; đánh mất các giá trị đạo đức cốt lõi; khó có được thành công bền vững.
- Đối với gia đình: Làm tan vỡ hạnh phúc, gây tổn thương cho cha mẹ và người thân.
- Đối với xã hội: Mài mòn truyền thống tốt đẹp, suy giảm tình đoàn kết và giá trị đạo đức, gây ra lối sống vô cảm trong cộng đồng.
* Giải pháp
- Tự ý thức, rèn luyện thói quen ghi nhớ và bày tỏ lòng biết ơn mỗi ngày bằng những hành động nhỏ.
- Gia đình: Làm gương về lòng biết ơn; dạy con trẻ nói lời cảm ơn, kể về công lao của ông bà, cha mẹ từ nhỏ.
- Nhà trường: Lồng ghép giáo dục lòng biết ơn vào các môn học, hoạt động ngoại khóa, tổ chức các chuyến đi về nguồn, thăm hỏi gia đình có công.
- ...
HS lựa chọn và sử dụng các dẫn chứng phù hợp
* Mở rộng: Liên hệ bản thân
III. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận
Đề thi vào 10 môn Văn Lào Cai năm 2025
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Yêu biết mấy, những dòng sông bát ngát
Giữa đôi bờ rào rạt lúa ngó non
Yêu biết mấy, những con đường ca hát
Qua công trường mởi dựng mái nhà son!
Yêu biết mấy, những bước đi dáng đứng
Của đời ta chập chững buổi đầu tiên
Tập làm chủ, tập làm người xây dựng
Dám vươn mình, cai quản lại thiên nhiên!
Yêu biết mấy, những con người đi tới
Hai cánh tay như hai cánh bay lên
Ngực dám đón những phong ba dữ dội
Chân đạp bùn không sợ các loài sên!...
(Trích "Mùa thu mới"- Tố Hữu, Thơ Tổ Hữu, NXB Văn học, 1998, tr. 204-205)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh miêu tả vẻ đẹp của quê hương, đất nước trong khổ thơ thứ nhất.
Câu 3 (1,0 điểm). Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong khổ thơ sau:
Yêu biết mấy, những con người đi tới
Hai cánh tay như hai cánh bay lên
Ngực dám đón những phong ba dữ dội
Chân đạp bùn không sợ các loài sên !...
Câu 4 (1,0 điểm). Nhận xét tình cảm của nhân vật trữ tình được thể hiện trong văn bản.
Câu 5 (1,0 điểm). Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, em hãy rút ra thông điệp và lí giải (trình bày từ 5 đến 7 dòng).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm).
Em hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích những đặc sắc nghệ thuật trong văn bản “Mùa thu mới” của tác giả Tố Hữu.
Câu 2 (4,0 điểm).
An toàn giao thông là hạnh phúc của mọi người, mọi nhà, nhưng một bộ phận học sinh còn vi phạm các quy định khi tham gia giao thông. Thực trạng này không chỉ nguy hiểm với bản thân mà còn ảnh hưởng đến toàn xã hội.
Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn luận và đề xuất giải pháp cho vấn đề trên.
Lời giải chi tiết
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) |
Câu 1. (0,5 điểm) |
Thể thơ: 8 chữ |
|
Câu 2. (0,5 điểm) |
Những từ ngữ, hình ảnh miêu tả vẻ đẹp của quê hương đất nước trong khổ thơ thứ nhất: dòng sông bát ngát, rào rạt lúa ngô non, con đường ca hát, công trường mới dựng mái nhà son. |
|
|
Câu 3. (1,0 điểm) |
Gợi ý: Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong khổ thơ: So sánh: So sánh "hai cánh tay" với "hai cánh bay lên" - Làm nổi bật hình ảnh con người lao động, chiến đấu: So sánh "hai cánh tay" với "hai cánh bay lên" gợi hình ảnh mạnh mẽ, đầy khí thế và niềm tin vươn tới tương lai. - Thể hiện sự lạc quan, nhiệt huyết: Cánh tay không chỉ là công cụ lao động mà còn như biểu tượng của khát vọng bay cao, bay xa, vượt qua khó khăn, thử thách. - Tăng tính hình tượng và gợi cảm cho câu thơ: Nhờ có biện pháp so sánh, hình ảnh con người trở nên sinh động, bay bổng, mang vẻ đẹp vừa hiện thực vừa lãng mạn. |
|
|
Câu 4. (1,0 điểm) |
Học sinh tự đưa ra nhận xét phù hợp theo cảm nhận. Sau đây là gợi ý: - Tình cảm của nhân vật trữ tình trong đoạn thơ là niềm yêu mến, tự hào đối với quê hương, đất nước và con người trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới. - Tình cảm đó không chỉ là sự ngưỡng mộ, mà còn là niềm tin, niềm hy vọng vào một tương lai tươi sáng. |
|
|
Câu 5. (1,0 điểm) |
Học sinh tự đưa ra thông điệp theo cá nhân, chú ý lý giải phù hợp. Gợi ý:
- Thông điệp: Con người Việt Nam có thể vượt qua gian khó, làm chủ thiên nhiên và xây dựng tương lai bằng tinh thần lạc quan, ý chí vươn lên và sức mạnh tập thể. - Lý giải: Đoạn thơ sử dụng những hình ảnh sinh động như “hai cánh tay như hai cánh bay lên”, “ngực dám đón phong ba dữ dội”, hay “chân đạp bùn không sợ các loài sên” để ca ngợi những con người dũng cảm, không ngại gian khó. Họ là biểu tượng của thế hệ mới – chủ động, tự tin và tràn đầy khát vọng xây dựng đất nước. Qua đó khơi dậy tinh thần cống hiến, ý chí vượt lên nghịch cảnh để làm chủ cuộc sống và tương lai. |
|
|
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) |
Câu 1. (2,0 điểm) |
1. Mở đoạn: Giới thiệu khái quát vấn đề nghị luận: Đặc sắc nghệ thuật trong “Mùa thu mới” của tác giả Tố Hữu 2. Thân đoạn: - Bài thơ sử dụng các biện pháp tu từ phong phú: + So sánh: “hai cánh tay như hai cánh bay lên” làm nổi bật hình ảnh con người mạnh mẽ, giàu lý tưởng. + Điệp ngữ “Yêu biết mấy…” thể hiện cảm xúc dạt dào, nhấn mạnh tình cảm yêu thương sâu sắc của nhân vật trữ tình. - Ngôn ngữ gần gũi, hình ảnh gợi tả sinh động: Những hình ảnh quen thuộc của đời sống như sông, lúa, công trường, mái nhà… làm cho bài thơ gần gũi với người đọc. - Giọng điệu tha thiết, trữ tình xen lẫn hào hùng: Thể hiện tình cảm yêu nước gắn với niềm tin vào con người và tương lai đất nước. 3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
I. Mở bài: - Giới thiệu vấn đề nghị luận: Vấn đề học sinh vi phạm các quy định khi tham gia giao thông và đề xuất giải pháp II. Thân bài: 1. Thực trạng vấn đề: - Học sinh điều khiển xe máy khi chưa đủ tuổi. - Không đội mũ bảo hiểm khi đi xe đạp điện, xe máy. - Đi hàng ba, hàng bốn, đùa giỡn, lạng lách trên đường. - Vượt đèn đỏ, không chấp hành tín hiệu giao thông. 2. Hậu quả việc học sinh vi phạm các quy định khi tham gia giao thông - Gây nguy hiểm cho bản thân và người khác. - Là nguyên nhân của nhiều vụ tai nạn giao thông. - Ảnh hưởng xấu đến hình ảnh học sinh – thế hệ tương lai. 3. Giải pháp khắc phục - Đối với học sinh: + Nâng cao ý thức, hiểu biết pháp luật giao thông qua học tập, truyền thông. + Tuyệt đối không điều khiển phương tiện khi chưa đủ tuổi, không có bằng lái. - Đối với gia đình: + Quản lý chặt chẽ phương tiện học sinh sử dụng. + Tăng cường giáo dục con ý thức tuân thủ luật giao thông. - Đối với nhà trường: + Tổ chức các buổi học ngoại khóa, hội thảo, mô phỏng tình huống giao thông. + Phối hợp với công an địa phương tuyên truyền, kiểm tra. - Đối với xã hội và chính quyền: + Tăng cường xử phạt nghiêm hành vi vi phạm. + Lắp đặt hệ thống giám sát giao thông tại khu vực gần trường học. III. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận |
Đề thi vào 10 môn Văn Lào Cai năm 2023
Đề bài
I. PHẦN ĐỌC HIỂU. Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều. Chiều chiều, trên bãi thả, đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét nhau thả diều thi. Cánh điều mềm mại như cánh bướm. Chúng tôi vui sướng đến phát dại nhìn lên trời. Tiếng sáo diều vi vu trầm bổng. Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè,... như gọi thấp xuống những vì sao sớm.
Ban đêm, trên bãi thả diều thật không còn gì huyền ảo hơn. Có cảm giác diều đang trôi trên dải Ngân Hà. Bầu trời tự do đẹp như một thảm nhung khổng lồ. Có cái gì cứ cháy lên, cháy mãi trong tâm hồn chúng tôi. Sau này tôi mới hiểu đấy là khát vọng. Tôi đã ngửa cổ suốt một thời mới lớn để chờ đợi một nàng tiên áo xanh bay xuống từ trời và bao giờ cũng hi vọng khi tha thiết cầu xin: “Bay đi, diều ơi! đi!”. Cánh diều tuổi ngọc ngà bay đi, mang theo nỗi khát khao của tôi.
(Tạ Duy Anh, Cánh diều tuổi thơ, dẫn theo Tiếng Việt 4, tập 1, tr.160, Nxb Giáo dục, 2019)
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích?
Câu 2 (0,5 điểm). Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong câu văn sau: Bầu trời tự do đẹp như một thảm nhung khổng lồ.
Câu 3 (1,0 điểm). Xác định nội dung chính của đoạn trích?
Câu 4 (1,0 điểm). Từ đoạn trích trên, tác giả đã gửi gắm thông điệp gì?
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của khát vọng trong cuộc sống.
Câu 2. Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu...
(Hữu Thỉnh, Sang thu, SGK Ngữ văn 9, tập 2, tr.48, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2019)
Từ đó, nhận xét về vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ trong khoảnh khắc giao mùa từ hạ sang thu,
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: Miêu tả.
Câu 2:
Phương pháp:
Căn cứ bài so sánh, phân tích.
Cách giải:
- Biện pháp tu từ được sử dụng: so sánh. Tác giả so sánh “bầu trời đêm” với một “tấm thảm nhung”.
- Tác dụng:
+ Giúp hình ảnh được miêu tả thêm sinh động, dễ hình dung.
+ Gợi vẻ đẹp của bầu trời đêm. Tấm thảm nhung có đặc tính mềm, mịn; bầu trời đêm cũng mịn và không một gợn mây, mở ra không gian cao rộng.
+ Từ đó cho thấy sự tinh tế, nhạy bén của tác giả trong việc quan sát, miêu tả thiên nhiên.
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
- Nội dung chính: Niềm vui sướng và những khát vọng tốt đẹp mà trò chơi thả diều mang lại cho đám trẻ mục đồng khi các em lắng nghe tiếng sáo diều, ngắm những cánh diều lơ lửng trên tầng mây.
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Thông điệp tác giả muốn gửi gắm: Con người luôn có những khát vọng của riêng mình. Giống như cánh diều, khát vọng của con người luôn rộng lớn, chúng ta hãy cố gắng để những khát vọng kia sớm trở thành hiện thực.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Nêu vấn đề.
2. Giải thích vấn đề
- Khát vọng là những mong muốn lớn lao, tốt đẹp của mỗi con người, nó mang một sức thôi thúc mạnh mẽ mà khiến họ cần phải hành động để đạt được khát vọng của bản thân.
- Mỗi con người sẽ có những khát vọng riêng trong cuộc sống của mình. Khát vọng là động lực để con người phát triển và vươn tới thành công.
3. Phân tích, bàn luận vấn đề:
- Vai trò của khát vọng với con người:
+ Có khát vọng tức là con người có những ước mơ. Một người sống không thể thiếu ước mơ vì những ước mơ, khát vọng giúp con người nỗ lực và phấn đấu không ngừng.
+ Có khát vọng, con người sẽ có sức mạnh để vượt qua những khó khăn, chông gai trong cuộc sống.
+ Con người có khát vọng là con người sống có lí tưởng riêng và những người như vậy nhất định sẽ thành công.
- Khát vọng khác với tham vọng. Cần phải tỉnh táo để không biến những khát vọng của mình thành những tham vọng.
- Phê phán những người sống không có khát vọng, sống như những cỗ máy.
- Liên hệ bản thân: Em đã phải là người sống có khát vọng chưa? Hãy chia sẻ về những khát vọng của mình?
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm Sang thu.
- Giới thiệu khổ thơ 1,2.
2. Thân bài:
2.1. Những tín hiệu báo mùa thu sang.
Bài thơ được mở ra bằng những tín hiệu rất riêng, báo mùa thu về:
+ “Hương ổi”: đi liền với từ “bỗng” gợi cảm giác đột ngột, ngỡ ngàng; “phả” – làn hương ngọt ngào, sánh đậm, mùi ổi chín như được cô lại, phả vào gió thu. “Hương ổi” gợi không gian thơ thân thuộc, yêu dấu của làng quê đất Việt với những khu vườn, lối ngõ sum xuê hoa trái, làm nên hương sắc mỗi mùa; gợi hương vị riêng của mùa thu trong thơ Hữu Thỉnh.
+ “Gió se” là ngọn gió heo may mùa thu dịu nhẹ, thoáng chút se lạnh lúc thu về, giúp ta cảm nhận rõ hơn cái ngọt lành của hương ổi.
+ “Sương chùng chình” – nghệ thuật nhân hóa, gợi dáng vẻ, tâm trạng của làn sương thu. Làn sương lãng đãng như cố ý chậm lại, lưu luyến mùa hè, chưa muốn bước hẳn sang thu.
Hệ thống hình ảnh độc đáo đã diễn tả một cách tài tình cái không khí se lạnh đầu thu và cả cái nhịp điệu chầm chậm của mùa thu về với đất trời.
Đối diện với những tín hiệu báo thu là cái ngỡ ngàng của lòng người:
+ “Hình như” là lối nói giả định, không chắc chắn, phù hợp với những biểu hiện mơ hồ lúc giao mùa – những biểu hiện ấy không chỉ được cảm nhận bằng các giác quan mà còn phải cảm nhận bằng cả một tâm hồn tinh tế.
+ Âm điệu: là tiếng reo vui, ngỡ ngàng lúc thu sang.
Khổ thơ là những cảm nhận mới mẻ, tinh tế của tác giả lúc mùa sang. Ẩn sau những đổi thay của thiên nhiên đất trời lúc sang thu là niềm vui, niềm hạnh phúc của thi nhân.
2.2. Quang cảnh thiên nhiên ngả dần sang thu:
- Được tái hiện vừa chân thực lại vừa sống động:
+ “Sông” “dềnh dàng”: tả thực con sông của mùa thu vô cùng trong trẻo, tĩnh lặng, êm đềm. Nghệ thuật nhân hóa khiến con sông như đang được nghỉ ngơi sau một mùa hạ vất vả với bão giông. Đó cũng là hình ảnh ẩn dụ cho con người qua chiến tranh, lửa đạn, giờ đang chậm lại, cho phép mình được nghỉ ngơi.
+ “Chim” “vội vã”: vừa tả thực những cánh chim bay vội về phương Nam tránh rét, vừa gợi những vội vã, tất bật với lo toan thường nhật của đời người.
+ Phép đối “dềnh dàng” >< “vội vã” làm nổi bật hai động thái trái ngược của thiên nhiên mà cũng là sự vận động của thiên nhiên giao mùa.
Được khắc họa rất ấn tượng:
+ “Đám mây mùa hạ” được hữu hình hóa, vừa thực vừa hư, tái hiện được nhịp điệu của thời gian, là một chiếc cầu nối liền những ngày cuối hạ và đầu thu để sự chuyển giao giữa hai mùa không đứt đoạn.
+ Đám mây mang cả lớp nghĩa thế sự, gợi trạng thái giao thời của đời sống khi đất nước chuyển giao từ chiến tranh sang hòa bình.
=> Khoảnh khắc giao mùa hiện lên tinh tế, sống động qua những câu thơ rất giàu chất tạo hình. Ẩn sau những hình ảnh thiên nhiên lúc thu sang ấy còn là hình ảnh của đời sống lúc sang thu.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề.
Đề thi vào 10 môn Văn Lào Cai năm 2022
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Thế giới của chúng ta có muôn vàn điều thú vị để khám phá. Cho dù bạn đang ở độ tuổi nào, bạn cũng nên phá vỡ các giới hạn của nhận thức và luyện cho mình kĩ năng quan sát bằng những câu hỏi như: “Tại sao...? Tại sao không…?” và thứ tự tìm các câu trả lời hay sự trợ giúp bằng cách ra khỏi nhà, ra ngoài thiên nhiên và chú ý tới mọi điêu xung quanh. Hãy đặt cho bản thân của những người quen biết. Đừng bao giờ tự cao tự đại nói rằng: “Tôi đã biết hết rồi, anh/ chị sẽ không chỉ cho tôi được điều gì mới đâu!”. Vì chỉ khi chúng ta nhận thức được rằng vẫn còn nhiều điều có thể học, chúng ta mới có thể bổ sung được nhiều kiến thức mới. Hãy nghe nhạc cổ điển, đến thăm các viện bảo tàng và các phòng trưng bày nghệ thuật, hãy đọc sách về nhiều chủ đề khác nhau, hãy có những sở thích như khiêu vũ, chơi đàn, hội họa hay tập luyện một bộ môn thể thao.
Dù bạn chọn cho mình bộ môn nào đi nữa, bạn cũng nên theo học đến cùng và tìm hiểu không ngừng nghi cho đến khi đạt được kiến thức sâu sắc về lĩnh vực đó một lần rồi bỏ xó”. Hãy quyết tâm rèn luyện và củng cố trí tò mò để nó trở thành một phần trong cá tính của bạn. Biết đâu, trong một lần tò mò hay thắc mắc như vậy, bạn sẽ tìm ra được niềm đam mê cho bản thân. Có khát vọng khám phá và tìm tòi là một trong những động lực giúp bạn tiếp cận với thế giới và vươn ra biển lớn.
(Trích Tìm kiếm niềm đam mê, theo Hộ chiếu xanh đi quanh thế giới, Nxb Thế giới, 2017)
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên?
Câu 2 (0,5 điểm). Theo tác giả, chúng ta sẽ có lợi ích gì khi “nhận thức được rằng vẫn còn nhiều điều có thể học”?
Câu 3 (1,0 điểm). Em hiểu thế nào là “phá vỡ các giới hạn của nhận thức”?
Câu 4 (1,0 điểm). Em rút ra được bài học gì cho bản thân từ đoạn trích trên?
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về cách để nâng cao kiến thức cho bản thân.
Câu 2. Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng trẽ bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão tập mưa sa đứng thẳng hàng.
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân...
(Trích Viếng lăng Bác - Viễn Phương, SGK Ngữ văn 9, tập 2, tr.58, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2019)
Từ đó, nhận xét về tình cảm của nhân dân Việt Nam dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1:
|
Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên? |
Phương pháp: Căn cứ bài các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
Câu 2:
|
Theo tác giả, chúng ta sẽ có lợi ích gì khi “nhận thức được rằng vẫn còn nhiều điều có thể học”? |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Theo tác giả, lợi ích khi “nhận thức được rằng vẫn còn nhiều điều có thể học” là bổ sung được nhiều kiến thức mới.
Câu 3:
|
Em hiểu thế nào là “phá vỡ các giới hạn của nhận thức”? |
Phương pháp: Phân tích.
Cách giải:
“Phá vỡ các giới hạn của nhận thức” là vượt qua những rào cản, những hiểu biết hạn hẹp, tầm thường của mình và mọi người để hướng tới một suy nghĩ tích cực hơn, nhân văn hơn, hoàn thiện hơn.
Câu 4:
|
Em rút ra được bài học gì cho bản thân từ đoạn trích trên? |
Phương pháp: Phân tích.
Cách giải:
Qua đoạn trích trên, em rút ra bài học là mỗi con người cần không ngừng học hỏi, nâng cao kiến thức cho bản thân để có thể biết được nhiều điều mới mẻ hơn. Bên cạnh đó, mỗi người cũng nên bước ra khỏi vùng an toàn của mình, tìm cho bản thân những kiến thức rộng lớn, bao la ngoài xã hội
II. LÀM VĂN:
Câu 1:
|
Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về cách để nâng cao kiến thức cho bản thân. |
Phương pháp: Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
Giới thiệu vấn đề nghị luận: cách để nâng cao kiến thức cho bản thân
2. Bàn luận
- Kiến thức: Kiến thức là những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, hay kỹ năng có được nhờ trải nghiệm hay thông qua giáo dục, có nhiều cách để lĩnh hội được kiến thức khác nhau nhưng cùng chung mục đích là hiểu biết rộng hơn và phát triển hơn. Tiếp thu kiến thức cho bản thân là điều cần thiết với mỗi người.
- Để bản thân có kiến thức mỗi con người cần:
+ Ra sức học tập, trau dồi kiến thức cho bản thân ở mọi lĩnh vực.
+ Luôn có tinh thần học hỏi, tìm tòi và khám phá với những điều mình chưa biết.
+ Gia đình, trường học, xã hội nên có các chương trình đào tạo học sinh hợp lý, trau dồi về cả kiến thức và kĩ năng sống.
+ Mỗi cá nhân cần có ý thức học tập cho chính bản thân mình và giúp đỡ mọi người cùng phát triển, tiến bộ.
- Phản đề:
+ Những kẻ lười biếng, không muốn học hỏi, chỉ dậm chân tại chỗ.
+ Những người ích kỉ, chỉ biết bản thân mình mà không muốn giúp đỡ người khác học hỏi, tiến bộ.
Câu 2:
|
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau: Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng trẽ bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão tập mưa sa đứng thẳng hàng.
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ. Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân... (Trích Viếng lăng Bác - Viễn Phương, SGK Ngữ văn 9, tập 2, tr.58, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2019) Từ đó, nhận xét về tình cảm của nhân dân Việt Nam dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1.Mở bài
- Giới thiệu về tác giả Viễn Phương, tác phẩm Viếng lăng Bác.
- Nêu cảm nhận chung về hai khổ thơ được trích.
- Giới thiệu vấn đề: tình cảm của nhân dân Việt Nam dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.
2. Thân bài
a. Khổ thứ nhất: Cảm xúc của nhà thơ khi đến thăm lăng Bác
- Bồi hồi, xúc động “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”:
+ Cặp đại từ xưng hô “con – Bác” là cách xưng hô gần gũi, thân thiết của người miền Nam, vừa thể hiện sự tôn kính với Bác vừa bộc lộ tình cảm yêu thương dành cho một người ruột thịt, một người bề trên trong gia đình. Đọc câu thơ tưởng như Viễn Phương là một người con xa xứ nay mới được trở về bên người cha của mình.
+ Cách nói giảm nói tránh “thăm” làm giảm bớt nỗi đau thương, mất mát, đồng thời khẳng định sự bất tử của Người trong lòng những người con nước Việt.
Câu thơ giản dị như một lời kể nhưng lại thấm đượm bao nỗi bồi hồi, xúc động của nhà thơ, sau bao mong nhớ, đợi chờ, nay mới được đến viếng lăng Bác.
Ấn tượng đậm nét hiện lên trước mắt nhà thơ: “hàng tre bát ngát”:
+ Đây là hình ảnh thực làm nên quang cảnh đẹp cho lăng Bác, mang lại cảm giác thân thuộc, gần gũi của làng quê, đất nước Việt.
+ Đấy cũng là hình ảnh chưa nhiều sức gợi: “hàng tre xanh xanh” gợi vẻ đẹp của con người, đất nước Việt Nam với sức sống tràn trề; “bão táp…thẳng hàng” là vẻ đẹp cứng cỏi, kiên cường, bền bỉ, hiên ngang, bất khuất của con người Việt Nam. Hình ảnh hàng tre bao quanh lăng là biểu tượng của cả dân tộc đang quây quần bên Người, thể hiện tình cảm của người dân miền Nam nói riêng, con người Việt Nam nói chung dành cho Bác.
Khổ 1 là niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ khi đứng trước lăng Người.
b. Khổ thứ hai: Những cảm xúc, suy ngẫm của nhà thơ khi vào lăng viếng Bác
- Là nỗi tiếc thương, lòng biết ơn sâu nặng dành cho công lao của Bác.
+ Sáng tạo hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ sóng đôi: mặt trời trên lăng – mặt trời tự nhiên, mặt trời trong lăng - ẩn dụ cho Bác. Bác đã mang lại ánh sáng chân lí, giúp dân tộc thoát khỏi kiếp sống nô lệ, khổ đau. Hình ảnh ẩn dụ đã vừa khẳng định, ngợi ca sự vĩ đại của Người vừa thể hiện tình cảm tôn kính, biết ơn của cả dân tộc đối với Người.
- Đặc biệt, nhà thơ Y Phương đã diễn tả tình cảm của nhân dân dành cho Bác qua hai câu thơ:
Ngày ngày lòng người đi qua thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân
+ Hình ảnh “dòng người” đi liền với điệp từ “ngày ngày” gợi dòng thời gian vô tận và sự sống vĩnh cửu; mang giá trị tạo hình, vẽ lên quang cảnh những đoàn người nối tiếp nhau không dứt, lặng lẽ và thành kính vào viếng Bác. Lối nói “đi trong thương nhớ” thể hiện nỗi tiếc thương, nhớ nhung lớn lao của bao thế hệ người dân Việt Nam trong giây phút vào lăng viếng Bác.
+ “Tràng hoa dâng 79 mùa xuân”: 79 năm cuộc đời Người đã hiến dâng trọn vẹn cho quê hương, đất nước. Nó được kết từ hàng ngàn, hàng vạn trái tim để bày tỏ niềm tiếc thương, kính yêu vị cha già dân tộc. Đó cũng là cách để nhà thơ khẳng định Bác sống mãi trong lòng dân tộc.
c. Nhận xét tình cảm của nhân dân Việt Nam dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Tình cảm của nhân dân Việt Nam dành cho chủ tích Hồ Chí Minh được thể hiện qua hai đoạn thơ là tình cảm chân thành, kính trọng, biết ơn cùng niềm thương nhớ khôn nguôi .
3. Kết bài
- Thể hiện tình cảm nhớ thương, biết ơn của nhà thơ cũng như của nhân dân dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Cảm xúc dâng trào, cách diễn đạt chân thật, thiết tha.
- Hình ảnh ẩn dụ đẹp đẽ, hình ảnh thơ nhiều sáng tạo, kết hợp hình ảnh thực với hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng.
Đề thi vào 10 môn Văn Lào Cai năm 2021
Đề bài
PHẦN I (6.0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
...Cuộc sống vẫn bình yên trong mỗi căn nhà
Con vẫn học qua online trực tuyến
Bố, mẹ giao ban cơ quan qua máy tính
Cả nước đồng lòng đẩy lui cuộc chiến
Hiện hình trên màn ảnh ti-vi...
Phía ngoài bệnh viện trầm tư
Nhưng bên trong là nhịp chân hối hả
Vì mạng sống của hàng trăm người bệnh
Thầy thuốc đâu quản gian nguy
Vẫn biết lưỡi hái tử thần không ngoại trừ ai hết!
Ơi mỗi người con đất Việt
Đã từng chiến thắng ngoại xâm
Nay thấm thía trong tâm:
Tự nguyện cách ly
Vì trường tồn cuộc sống
Lặng lẽ để hồi sinh
Cho những ngày tháng dịch!
(Trích Lặng lẽ để hồi sinh- Nguyễn Hồng Vinh, Hà Nội, 4/4/2020)
Câu 1 (0.5 điểm) Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2 (0.5 điểm) Chỉ ra những việc làm thể hiện sự đồng lòng của cả nước để đẩy lùi dịch bệnh trong đoạn trích?
Câu 3 (1.0 điểm) Em hiểu như thế nào về dòng thơ “Lặng lẽ để hồi sinh”?
Câu 4 (1.0 điểm) Thông điệp ý nghĩa nhất em rút ra được qua đoạn trích trên là gì? Vì sao em chọn thông điệp đó?
II. PHẦN LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Từ nội dung phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về vai trò của tình đoàn kết trong cuộc sống.
Câu 2 (5.0 điểm) Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long. Từ đó, nhận xét về tình cảm của tác giả dành cho những người đang cống hiến, quên mình cho nhân dân, tổ quốc.
Lời giải chi tiết
Phần I.
Câu 1.
|
Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào? |
Phương pháp: căn cứ các thể thơ đã học
Cách giải:
Đoạn trích trên được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2.
|
Chỉ ra những việc làm thể hiện sự đồng lòng của cả nước để đẩy lùi dịch bệnh trong đoạn trích? |
Phương pháp: căn cứ nội dung bài, đọc và tìm ý
Cách giải:
Những hành động thể hiện cả ngước đồng lòng chống dịch: Tự nguyện cách ly, làm việc học tập online để tránh tụ tập đông người, hành động hi sinh thầm lặng của các vị bác sĩ.
Câu 3.
|
Em hiểu như thế nào về dòng thơ “Lặng lẽ để hồi sinh”? |
Phương pháp: phân tích, lí giải
Cách giải:
Học sinh có thể trình bày theo ý hiểu của mình, có lý giải.
Gợi ý:
“Lặng lẽ để hồi sinh”. Những việc làm âm thầm, lặng lẽ, tự nguyện dù nhỏ bé nhưng lại góp phần làm nên chiến thắng đại dịch.
Câu 4.
|
Thông điệp ý nghĩa nhất em rút ra được qua đoạn trích trên là gì? Vì sao em chọn thông điệp đó? |
Phương pháp: phân tích, lí giải
Cách giải:
Học sinh có thể chọn bất kì thông điệp nào, lý giải.
Gợi ý:
Thông điệp: Chúng ta cần phát huy tinh thần đoàn kết, đồng sức đồng lòng chiến đấu chống đại dịch.
Giải thích: Đoàn kết tạo nên sức mạnh dân tộc, đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Ngay lúc này, tinh thần đoàn kết vô cùng cần thiết để chiến thắng đại dịch.
Phần II.
Câu 1.
|
Từ nội dung phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về vai trò của tình đoàn kết trong cuộc sống. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp
Cách giải:
I. Mở đoạn
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Vai trò tinh thần đoàn kết trong cuộc sống.
II. Thân đoạn
1. Giải thích
- Đoàn kết là tập hợp của nhiều lực lượng khác nhau tạo thành một khối vững chãi, từ đó thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ riêng để đi đến thành công. Sự đoàn kết chính là tập thể vững mạnh, khối thống nhất sẽ tạo nên sức mạnh to lớn.
- Tinh thần đoàn kết là sự gắn kết, sự liên kết bền chặt giữa các cá nhân trong một tập thể để trải qua hoặc hoàn thành những giai đoạn khác nhau của cuộc sống.
2. Biểu hiện tình đoàn kết
- Chung tay xây dựng đất nước, kinh tế xã hội, văn hóa phát triển và hội nhập với quốc tế sâu rộng.
- Khi có thiên tai, dịch bệnh, lũ lụt người dân trong cả nước ủng hộ, quyên góp sức người sức của khôi phục cuộc sống người dân trong cả nước. Dẫn chứng.
- Đảng và nhân dân cùng nhau xây dựng khối đại đoàn kết, ngăn chặn các thế lực thù địch chống phá, bảo vệ độc lập chủ quyền biển đảo quê hương. Dẫn chứng.
3. Ý nghĩa, sức mạnh, vai trò của tinh thần đoàn kết trong cuộc sống
- Đoàn kết không chỉ là tập hợp lực lượng thành một khối thống nhất mà phải thống nhất về tư tưởng, hành động, mục tiêu cụ thể.
- Đoàn kết là các thành viên phải tương trợ, giúp sức lẫn nhau cùng nhau giải quyết các khó khăn, thử thách để đi đến thành công.
- Đoàn kết là sức mạnh to lớn, chất keo gắn kết con người tạo nên sức mạnh vượt trội.
- Tinh thần đoàn kết giúp cho con người cảm thấy bản thân mình không bị lạc lõng, luôn có động lực để phấn đấu tới những điều tốt đẹp hơn.
- Tinh thần đoàn kết giống như một tấm lá chắn lớn giúp con người vững bước vượt qua những khó khăn, thách thức trong cuộc sống.
4. Bài học nhận thức và hành động
- Làm sao có được sự đoàn kết?
+ Mỗi cá nhân nên đặt lợi ích chung hàng đầu, phấn đấu cống hiến hết mình vì tổ chức.
+ Hiểu rõ sức mạnh đoàn kết và cố gắng phát huy tinh thần đó trong tổ chức, tập thể.
- Lên án người không có sự đoàn kết:
+ Phê phán các cá nhân sống ích kỉ, hẹp hòi, chỉ nghĩ cho bản thân mình, tự tách mình khỏi xã hội.
+ Phê phán những kẻ âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc với mục đích xấu, trục lợi cho cá nhân.
III. Kết đoạn
Khẳng định lại vấn đề nghị luận.
Câu 2.
|
Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long. Từ đó, nhận xét về tình cảm của tác giả dành cho những người đang cống hiến, quên mình cho nhân dân, tổ quốc. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Mở bài
- Giới thiệu về tác giả Nguyễn Thành Long và tác phẩm " Lặng lẽ Sa Pa"
- Giới thiệu về nhân vật anh thanh niên - một người thanh niên trẻ hội tụ đầy đủ những phẩm chất đáng quý.
2. Thân bài
a. Hoàn cảnh sống và làm việc của anh thanh niên
- Anh thanh niên là một người thanh niên trẻ mang trong mình nhiệt huyết và khao khát muốn cống hiến.
- Anh làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 m
- Công việc của anh: đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dựa vào công việc dự báo trước thời tiết hằng ngày, phục vụ sản xuất và chiến đấu
- Công việc đòi hỏi tỉ mỉ, chính xác cũng như tinh thần trách nhiệm cao
- Tất cả mọi gian khổ anh đều cố gắng vượt qua ngoại trừ nỗi cô đơn, vắng vẻ, quanh năm suốt tháng chỉ sống trên đỉnh núi một mình là anh chưa thể nào thích nghi được.
b. Anh thanh niên là một người yêu nghề, yêu lao động, luôn có trách nhiệm và hết lòng vì công việc
- Làm việc một mình, không có ai dám sát nhưng anh đã hoàn thành công việc một cách xuất sắc
- Hơn nữa anh không quản ngại gian khổ, 1 giờ đêm ra đo đạc kết quả và gửi báo về cơ quan.
- Anh quan niệm: " khi ta làm việc , ta với công việc là đôi sao gọi là một mình được. Huống chi, công việc của cháu gian khổ là vậy chứ cất nó đi cháu buồn đến chết mất."
c. Anh thanh niên là một người có lí tưởng sống cao đẹp
- Anh luôn suy nghĩ: " Mình sinh ra làm gì? Mình đẻ ở đâu? Mình vì ai làm việc"
d. Anh thanh niên là một người hiếu khách và mến mộ con người
- Anh tặng hoa và trứng cho cô kĩ sư
- Anh tặng củ tam thất cho vợ của bác lái xe bị đau chân
- Khi khách đến nhà, anh mời nước và trà chu đáo
e. Tình cảm của tác giả
- Qua nhân vật anh thanh niên, tác giả muốn gửi gắm tình cảm yêu mến, trân trọng và ngợi ca tới những người lao động chân chính, đang ngày ngày thầm lặng cống hiến cho đất nước
- Tác giả cũng thể hiện niềm tẹ hào và tình yêu nước qua việc đặt cái tên chung chung "anh thanh niên" ngầm khẳng định rằng trên khắp đất nước này có rất nhiều người lao động đáng trân quý như thế.
3. Kết bài
- Khẳng định những phẩm chất cao đẹp của nhân vật anh thanh niên.
- Liên hệ với bản thân và rút ra bài học về sự cống hiến cho đất nước
Đề thi vào 10 môn Văn Lào Cai năm 2020
Đề bài
I.PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
Tri thức giống như ngọn đèn trong đêm tối, soi sáng con đường chông gai phía trước. Trí tuệ giống như chiếc chìa khóa diệu kì, mở ra cánh cửa tâm hồn. Trí tuệ giống như tia nắng mặt trời ấm áp xua tan bóng tối lạnh giá. Đấng tạo hóa có trí tuệ thì mới tạo ra một thế giới diệu kì, nhân loại có trí tuệ chỉ đường sẽ bước sang thế giới hiện đại văn minh. Khi có trí tuệ bạn sẽ dễ dàng gặt hái được nhiều thành công trong cuộc sống. Bảy trăm năm trước, Giovanni Boccaccio đã nói: “Trí tuệ là cội nguồn hạnh phúc của con người”. Thật vậy, có trí tuệ, bạn sẽ có nhiều niềm vui và mang lại hạnh phúc cho những người xung quanh.”
(Trích Lời nói đầu, Kĩ năng sống dành cho học sinh, sự kiên cường - Ngọc Linh, NXB Thế giới, 2019)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.
Câu 2 (0,5 điểm) Trong đoạn văn trên, tác giả đã so sánh trí tuệ với những hình ảnh nào?
Câu 3 (1,0 điểm) Theo em vì sao: Khi có trí tuệ bạn sẽ dễ dàng gặt hái được nhiều thành công trong cuộc sống?
Câu 4 (1,0 điểm) Qua đoạn văn trên, em rút ra bài học gì?
II.PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ nội dung phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày những giải pháp để nâng cao trí tuệ của bản thân.
Câu 2 (5,0 điểm)
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau đây:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc
(Trích Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải, theo Hướng dẫn học Ngữ văn 9,
Tập 2, trang 40 – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2019)
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1:
|
Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên. |
Phương pháp: căn cứ bài nội dung bài về phương thức biểu đạt
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
Câu 2:
|
Trong đoạn văn trên, tác giả đã so sánh trí tuệ với những hình ảnh nào? |
Phương pháp: đọc, tìm ý
Cách giải:
Tác giả đã so sánh trí tuệ với những hình ảnh:
- chiếc chìa khóa diệu kì, mở ra cánh cửa tâm hồn.
- tia nắng mặt trời ấm áp xua tan bóng tối lạnh giá.
Câu 3:
|
Theo em vì sao: Khi có trí tuệ bạn sẽ dễ dàng gặt hái được nhiều thành công trong cuộc sống? |
Phương pháp: phân tích, lí giải
Cách giải:
Vì:
+ Trí tuệ giúp chúng ta có kiến thức, hiểu biết để làm việc hiệu quả.
+ Trí tuệ giúp ta thực hiện công việc một cách khoa học, hợp lí, hạn chế tối đa nhất những sai lầm không đáng có.
+ Trí tuệ giúp chúng ta đủ mạnh mẽ, nghị lực vượt qua mọi khó khăn.
+ …
Câu 4:
|
Qua đoạn văn trên, em rút ra bài học gì? |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Bài học rút ra: Bồi dưỡng tri thức nâng cao trí tuệ bản thân.
Phần II
Câu 1
|
Từ nội dung phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày những giải pháp để nâng cao trí tuệ của bản thân. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung: giải pháp để nâng cao trí tuệ bản thân
2. Giải thích
- Trí tuệ: là kết quả của hoạt động trí thức (intellect), dựa lên lý trí (raison), dùng đến lý luận, khái niệm, ngôn từ, và chủ yếu gồm những sự hiểu biết, những kiến thức đã được gom góp lại.
=> Rèn luyện, nâng cao trí tuệ cho bản thân là yêu cầu cần thiết đối với mỗi cá nhân trong cuộc sống hiện đại. Vậy đâu là giải pháp nâng cao trí tuệ bản thân?
3. Bàn luận
- Vai trò của trí tuệ với cuộc sống:
+ Trí tuệ giúp ta giải quyết mọi vấn đề đơn giản, hiệu quả.
+ Trí tuệ sáng tạo ra những công cụ phục vụ cuộc sống con người.
+ …
- Giải pháp để nâng cao trí tuệ bản thân:
+ Đọc sách, bồi đắp tri thức của mình.
+ Thực hành dựa trên cơ sở lý thuyết đã học.
+ Rèn luyện não bộ bằng cách đưa bản thân vào những thử thách mới mẻ, để não bộ trở nên linh hoạt, nhạy bén hơn.
+ Rèn luyện thân thể, tập thể dục thể thao.
+ Nghỉ ngơi và giải trí hợp lý
+…
- Phê phán những người lười biếng, không chịu suy nghĩ, động não, chỉ thích đi theo lối mòn, …
- Liên hệ bản thân và tổng kết vấn đề.
Câu 2
|
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau đây: Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến
Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc (Trích Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải, theo Hướng dẫn học Ngữ văn 9, Tập 2, trang 40 – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2019) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Mở bài:
- “Mùa xuân nho nhỏ” (1980) là tiếng lòng tha thiết gắn bó với cuộc đời, với thiên nhiên, đất nước của nhà thơ Thanh Hải.
- Khổ bốn và khổ năm của bài thơ thể hiện khát vọng, lí tưởng sống cao đẹp của nhà thơ.
2. Thân bài
- Mùa xuân đất nước đã khơi dậy trong lòng nhà thơ những khát vọng sống tốt đẹp:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến.”
+ Điệp từ “ta làm”, lặp cấu trúc, liệt kê -> giúp tác giả bày tỏ ước nguyện được hiến dâng cuộc đời mình cho quê hương, xứ sở.
+ Các hình ảnh “con chim hót” , “một cành hoa”, “một nốt trầm”: giản dị, tự nhiên mà đẹp, thể hiện ước nguyện khiêm nhường mà đáng quý.
+ Có sự ứng đối với các hình ảnh ở đầu bài thơ -> lí tưởng cống hiến cho đời là một lẽ tự nhiên, tất yếu; gợi liên tưởng đến mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa con người – đất nước.
=> Tấm lòng thiết tha được hòa nhập, được cống hiến cho cuộc đời, cho đất nước.
- Khát vọng sống đẹp được nâng lên thành lí tưởng sống cao cả:
“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc .”
+ “Mùa xuân nho nhỏ”: ẩn dụ cho những gì đẹp nhất, tinh túy nhất của cuộc đời con người để góp phần làm nên mùa xuân của đất nước. Là cách nói khiêm nhường, giản dị, gợi một tâm hồn đẹp, một lối sống đẹp, một nhân cách đẹp “lặng lẽ dâng cho đời”.
+ Điệp từ “dù là” + hình ảnh tương phản “tuổi hai mươi” – “khi tóc bạc” khẳng định sự tồn tại bền vững của những khát vọng và lí tưởng sống ấy. Cả cuộc đời mình ông vẫn muốn chắt chiu những gì tốt đẹp nhất để hiến dâng cho đời.
=> Khổ thơ là lời tổng kết của nhà thơ về cuộc đời mình. Cho đến tận cuối đời ông vẫn khát khao cống hiến cho đất nước.
3. Kết bài:
Lời thơ giản dị và dạt dào xúc động, vừa chứa chan cảm xúc, vừa đậm đà ý vị triết lí, gợi bao liên tưởng sâu xa. Hai khổ thơ thể hiện khát vọng đẹp đẽ muốn là “một mùa xuân nho nhỏ” dâng hiến cho cuộc đời của nhà thơ Thanh Hải.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
