Đề thi vào 10 môn Văn Nghệ An
Đề thi vào 10 môn Văn Nghệ An năm 2026
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
NGỌN LỬA TUỔI THƠ
Xuân Quỳnh (1)
Đêm liên hoan, ngọn lửa sáng lên rồi
Các anh hát những bài ca chiến dịch:
“Đây Tây Bắc núi ngàn trùng tít tắp
Pháo vượt đèo trấn thủ đẫm mồ hôi
Điện Biên(2) xa lúa chín rực bên đồi
Những điệu xòe rập rờn trên đồng ruộng
Đá núi gập ghềnh, đèo cao chót vót...”
Thương đôi giày rách nát các anh tôi.
Một tình thương không nói được nên lời
Của đứa trẻ gầy còm nhút nhát
Nấp sau cột lặng thầm theo tiếng hát
Cháy bao điều khao khát mãi khôn nguôi.
Đêm liên hoan ngọn lửa sáng lên rồi
Xanh tiếng hát, xanh áo màu bộ đội
Ngọn lửa xanh lá ngụy trang vẫy gọi
Tới những miền vời vợi nhớ thương xa.
Các anh đi các anh có đâu ngờ
Bài hát vẫn dạt dào như sóng vỗ
Trong mắt trẻ bao dòng sông kỳ lạ
Bao nẻo đường hoang dã, những màu mây...
Tôi gặp các anh ở khắp đó đây
Các anh trồng rau, các anh lau súng
Anh bộ đội tôi gọi trong thầm lặng
Ước ao mình được nắm dải ba lô.
Biết bao làng các anh đã đi qua
Bao thành phố, bao nhiêu trẻ nhỏ
Làm sao biết - mà các anh đâu nhớ
Đứa trẻ gầy nấp sau cột hôm nao.
Năm tháng qua tôi đã đổi thay nhiều
Các anh xưa, tóc bây giờ chắc bạc
Nhưng ngọn lửa đã bừng lên tiếng hát
Vẫn diệu kỳ trong suốt tuổi thơ tôi.
1984
(Trích Thơ Xuân Quỳnh, NXB Văn học, 2009, tr. 37-39)
Chú thích:
(1) Xuân Quỳnh (1942 - 1988) là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ Việt Nam hiện đại. Sáng tác của bà bao gồm cả thơ và văn xuôi, trong đó tình yêu, hạnh phúc gia định và trẻ em là các đề tài chiếm vị trí nổi bật. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn vừa chân thành đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc đời thường bình dị.
(2) Điện Biên: một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc của Việt Nam.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định nhân vật trữ tình trong văn bản trên.
Câu 2. Sự kiện lịch sử nào được nhắc đến trong những dòng thơ in đậm?
Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong hai dòng thơ:
“Các anh đi các anh có đâu ngờ
Bài hát vẫn dạt dào như sóng vỗ”
Câu 4. Em hiểu như thế nào về nội dung câu thơ: “Thương đôi giày rách nát các anh tôi.”?
Câu 5. Bài thơ gợi cho em suy nghĩ gì về ý nghĩa của kỉ niệm tuổi thơ trong cuộc đời mỗi người?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh ngọn lửa trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm)
Lịch sử là điểm tựa cho hiện tại và tương lai.
Với góc nhìn của một học sinh, em hãy viết bài văn nghị luận đề xuất những giải pháp để lan tỏa giá trị quý báu của lịch sử dân tộc.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, xác định người trực tiếp bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ trong bài thơ.
Chú ý các đại từ xưng hô như “tôi”, “ta”, “em”, “anh”… để nhận diện nhân vật trữ tình.
Lời giải chi tiết:
Nhân vật trữ tình: “tôi” (tác giả)
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc các dòng thơ in đậm, chú ý từ ngữ, địa danh, hình ảnh gắn với lịch sử.
Liên hệ kiến thức lịch sử để xác định sự kiện được nhắc đến.
Lời giải chi tiết:
Sự kiện lịch sử: Chiến dịch Điện Biên Phủ
Câu 3.
Phương pháp:
Chỉ ra dấu hiệu so sánh (từ “như”).
Xác định sự vật được so sánh với nhau.
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp so sánh: ví “bài hát” với tiếng “sóng vỗ”
- Tác dụng:
+ Làm cho tiếng hát, cảm xúc trở nên sinh động, giàu hình ảnh.
+ Gợi sự mạnh mẽ, dào dạt, lan tỏa không ngừng của những bài hát về người lính
+ Thể hiện niềm xúc động, sự biết ơn và nỗi nhớ của nhân vật trữ tình đối với các anh bộ đội; khẳng định những ký ức đẹp vẫn ngân vang mãi trong tâm hồn.
Câu 4.
Phương pháp:
Phân tích hình ảnh, từ ngữ trọng tâm trong câu thơ (“đôi giày rách nát”).
Hiểu nghĩa tả thực → liên hệ hoàn cảnh chiến tranh để rút ra nghĩa biểu tượng, ý nghĩa sâu xa
Lời giải chi tiết:
“Đôi giày rách nát” gợi sự gian khổ, thiếu thốn, vất vả của người lính trong chiến tranh. Qua đó cho thấy sự hi sinh thầm lặng, tinh thần vượt khó của các anh vì đất nước và tình cảm trân trọng của tác giả đối với họ. Câu thơ thể hiện niềm thương yêu, cảm phục của tác giả dành cho những người lính chiến sĩ.
Câu 5.
Phương pháp:
Giải thích khái niệm “kỉ niệm tuổi thơ”.
Nêu ý nghĩa của kỉ niệm tuổi thơ đối với cuộc sống con người.
Liên hệ bản thân hoặc mở rộng bài học nhận thức, hành động.
Lời giải chi tiết:
- Kỉ niệm tuổi thơ là kí ức về những sự kiện từng diễn ra trong tuổi thơ mỗi người, mang ý nghĩa vô cùng đặc biệt.
- Ý nghĩa:
+ Là hành trang tinh thần nuôi dưỡng tâm hồn, giúp con người trưởng thành
+ Lưu giữ những tình cảm đẹp về gia đình, bạn bè, thầy cô, quê hương…
+ Tạo động lực giúp con người vượt qua khó khăn, mệt mỏi
+ Giúp con người biết trân trọng quá khứ, sống biết ơn hơn
+ …
II. VIẾT
Câu 1.
Phương pháp:
Xác định đúng yêu cầu: phân tích hình ảnh "ngọn lửa" trong bài thơ.
Phân tích ý nghĩa tả thực (ngọn lửa đêm liên hoan, không khí chiến tranh).
Phân tích ý nghĩa biểu tượng (niềm tin, ký ức tuổi thơ, tình quân dân, khát vọng, lòng biết ơn…).
Lời giải chi tiết:
I. Mở đoạn
- Giới thiệu hình ảnh “ngọn lửa” trong khổ thơ và nêu cảm nhận chung
II. Thân đoạn
- “Ngọn lửa” – ý nghĩa tả thực: là ngọn lửa bập bùng trong những năm tháng chiến tranh, những “đêm liên hoan”… gắn với cuộc sống của các anh bộ đội. Gợi không khí ấm áp, thân tình giữa gian khó, thiếu thốn của thời chiến.
- “Ngọn lửa” – ý nghĩa biểu tượng:
+ “ngọn lửa sáng lên rồi”: biểu tượng cho sức sống, ý chí, niềm vui không bị dập tắt
+ “Ngọn lửa xanh lá nguỵ trang vẫy gọi”: gợi hình ảnh người lính trong kháng chiến, sống và chiến đấu giữa núi rừng, dùng lá cây để ngụy trang, che giấu trước kẻ thù. Đây là chi tiết đậm chất hiện thực chiến tranh.
+ “Nhưng ngọn lửa đã bùng lên tiếng hát / Vẫn diệu kỳ trong suốt tuổi thơ tôi.”: Không chỉ cháy trong quá khứ mà còn cháy mãi trong tâm hồn nhân vật trữ tình
+ Là biểu tượng của những kỉ niệm đẹp, tình người, tình quân dân và lòng biết ơn.
- Giá trị nghệ thuật:
+ Thể thơ tự do, sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ.
+ Hình ảnh mang tính biểu tượng giàu sức gợi, giàu cảm xúc, thể hiện sâu sắc nỗi nhớ, niềm biết ơn và vẻ đẹp tuổi thơ trong chiến tranh.
III. Kết đoạn
Khẳng định lại giá trị của hình ảnh “ngọn lửa”
Câu 2.
Phương pháp:
Xác định vấn đề nghị luận: giải pháp lan toả giá trị lịch sử dân tộc
Bàn luận, giải thích, đề xuất giải pháp
Lời giải chi tiết:
I. Mở bài
Xác định vấn đề cần bàn luận: đề xuất giải pháp để lan toả giá trị quý báu của lịch sử dân tộc
II. Thân bài
a. Giải thích vấn đề
- Lịch sử dân tộc là những sự kiện, truyền thống, thành tựu, bài học dựng nước và giữ nước của cha ông ta từ bao đời nay.
- Lan tỏa giá trị lịch sử là giúp mọi người hiểu, trân trọng, gìn giữ và biết ơn, đồng thời phát huy những giá trị ấy trong cuộc sống hiện đại.
b. Bàn luận
* Bối cảnh hiện tại: Trong thời đại hội nhập và công nghệ số, giới trẻ có nhiều cơ hội tiếp cận tri thức nhưng cũng dễ bị cuốn vào các xu hướng giải trí, dẫn đến sự thờ ơ với lịch sử dân tộc.
* Ý nghĩa của việc lan toả giá trị lịch sử:
- Giúp bồi đắp lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc.
- Giáo dục truyền thống, đạo lí “uống nước nhớ nguồn”.
- Rút ra bài học cho hiện tại và định hướng tương lai.
- Ngăn chặn tình trạng thờ ơ, lệch lạc nhận thức về lịch sử.
* Đề xuất giải pháp:
- Đối với học sinh:
+ Chủ động học tập, tìm hiểu lịch sử qua sách báo, phim tư liệu, bảo tàng, di tích…
+ Chia sẻ kiến thức lịch sử qua các kênh mạng xã hội theo cách gần gũi, sáng tạo
+ Tham gia các hoạt động tri ân, đền ơn đáp nghĩa…
- Đối với gia đình, nhà trường:
+ Đổi mới cách giáo dục, dạy học lịch sử sinh động, trực quan, hấp dẫn và gắn với trải nghiệm thực tế
+ Tổ chức các cuộc thi, sân khấu hoá, hoạt động trải nghiệm sáng tạo về lịch sử
- Đối với xã hội:
+ Xây dựng phim ảnh, sách báo, chương trình hấp dẫn, đưa những giá trị văn hoá lịch sử đến gần hơn với công chúng
+ Bảo tồn di tích, ứng dụng công nghệ số để quảng bá lịch sử dân tộc
…
* Dẫn chứng: HS nêu dẫn chứng phù hợp
* Phản đề: Phê phán người thờ ơ, xem nhẹ lịch sử, tiếp nhận thông tin sai lệch hoặc xuyên tạc lịch sử.
III. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận
Đề thi vào 10 môn Văn Nghệ An năm 2025
Đề bài
I. Đọc hiểu (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
ẦM VU, ẦM VU ...
(Trích)
Trần Đức Tiến
Những buổi chiều mùa hè, nhiều người trong xóm tôi thường rủ nhau ra con đỗi chơi thả diều. Con đỗi đắp nổi chạy ngang qua cánh đồng, nên tha hồ có không gian thoáng đãng cho diều lên. Người lớn thả diều của người lớn. Trẻ con chơi diều trẻ con. Diều bay cao diều bay thấp, diều đứng yên diều nhào lộn. Lại có cả những cánh én gấp bằng giấy thả lên chỉ ngang tầm ngọn tre, chùm đuôi dài vẫy vẫy rất vui mắt. Mê chơi diều, nhiều khi sấm tối chưa biết đường về nhà.
(Lược một đoạn: Tầm mười tuổi là tôi đã tự làm được diều. Chỉ cần vài thanh tre cật vót nan, mấy tờ giấy nho, một ít nhựa sung là có thể phất được một con diều. Dây diều của bọn tôi thường là dây chuối, chỉ khâu, dây gai. Diều của người lớn cầu kì hơn. Lúc đem diều thả, phải có kĩ thuật thì diều mới bay cao. Diều người lớn thường cõng thêm ống sảo, sáo đơn hoặc sáo kép...)
Mỗi sáo kêu một giọng. Tiếng thanh tiếng đục. Tiếng bổng tiếng trầm. Tiếng sáo còn tùy thuộc vào diều nào đứng im, diều nào hay nghiêng đảo (gọi là diều ngoáy cháo). Diều ngoáy cháo thì tiếng sáo nghe nghịch, hỗn. Bốn, năm cái diều sáo thả lên đủ làm thành bản hòa tấu nhạc đồng quê thật êm đềm, da diết. Những đêm trăng sáng, tiếng sáo diều vi vút hơn, vang xa hơn. Để diều bay suốt đêm là thường. Âm thanh vời vợi trời mây ru mọi người vào giấc ngủ. Và trong giấc ngủ, có những giấc mơ thật ngọt ngào...
Tiếng sáo diều của anh Tùng không o o u u đều đều một giọng như sáo những con diều khác. “Ẩm vu ... ầm vu ... u u u ... ”. Lúc xa lúc gần. Tưởng ở mạn đông lại hóa ra mạn tây. Một con diều thả lên mà như có hai, ba con diều cùng nhau bay lượn. Chiếu nào anh Tùng thả diều là chúng tôi biết ngay. Không lẫn đi đâu được.
Chị Thắm cũng mê tiếng sáo “ầm vu”, nhưng chị đâu biết con diều của ai? Vì chị không phải là người cùng làng. Chị ở mãi trên Đà Tiềm, cách làng tôi bốn, năm cây số. Chị Thắm bị bệnh khó ngủ. Đêm chị thức chong chong. Nhưng ban ngày có khi chị lại thiếp đi bất chợt. Người ta kể có hôm chị đang cấy ngoài đồng thì cơn buồn ngủ ập đến. Cứ thế chị vừa cấy vừa ngủ. Hết nắm mạ trên tay mà vẫn bước, vẫn tiếp tục dúi tay không xuống bùn. Đến khi giật mình choàng thức, ngoảnh lại, còn cả một khoảnh ruộng trắng ...
Đêm đêm chị Thắm trải chiếu ra nằm ngoài hè, ngửa mặt nhìn trời. Đếm đi đếm lại số sao trên khoảng trời từ ngọn tre cuối vườn sang nóc bếp nhà hàng xóm mà vẫn không sao chợp mắt nổi. Những sợi dây thần kinh trong đầu chị chỉ dịu đi khi nghe tiếng sáo “ầm vu ... ầm vu ... u u u” ... Cái thanh âm đặc biệt ấy giống như con thuyền bập bềnh đưa chị trôi dần vào giấc mơ.
Nhưng có một đêm, tiếng sáo lạ lùng đột nhiên bị ngắt quãng. Rõ ràng đang “ầm vu” êm tai, bỗng nhiên “ủ ủ ủ ủ” mấy tiếng như người đứt hơi. Rồi tất cả rơi thỏm vào im lặng. Những ngôi sao đứng yên, nhấp nháy. Chị Thắm lại thức chong chong nhìn sao.
Sáng sớm hôm sau, vừa ăn xong mấy củ khoai lót dạ để chuẩn bị ra đồng, chị thấy bóng người lạ thấp thoáng ngoài cổng rào nhà mình.
- Ai hỏi gì ngoài ấy thế? - Chị Thắm đánh tiếng hỏi vọng ra.
- Chị làm ơn ... - Người đàn ông trẻ tuổi vừa nói vừa rụt rè chỉ lên ngọn tre cuối vườn.
- Dạ không ... Con diều của tôi ...
Chị Thắm nhìn lên. Chiếc diều cánh cốc như con chim khổng lồ bị trọng thương mắc trên ngọn tre, với một bên cánh bị gai tre đâm rách toạc. Một đoạn dây lòng thòng dính theo diều. Người đàn ông lạ mặt ấy chính là anh Tùng. Hóa ra lúc nửa đêm về sáng, chị Thắm giật mình nghe tiếng “ủ ủ” ấy là lúc con diều của anh Tùng bị đứt dây bay đi. Sáng ra, anh Tùng đành nương theo hướng gió mà chạy đi tìm. Chạy mãi, chạy mãi lên Đà Tiềm, rồi trời đất run rủi thế nào, anh tìm đến bụi tre cuối vườn nhà chị Thắm.
Chị mở cổng rào cho anh vào tìm cách lấy lại diều.
Vậy là nhờ có con diều đứt dây mối lái, anh Tùng gặp được chị Thắm. Rồi cả hai phải lòng nhau. Nửa năm sau, họ tổ chức đám cưới.
Chị Thắm khỏi tiệt căn bệnh mất ngủ. Anh Tùng cũng nghỉ chơi thả diều. Suốt ngày chỉ thấy chanh chí thú với công việc đồng áng. Nghe nói nhiều người tìm đến hỏi mua cái ống sáo “ẩm vu” có một không hai của anh, nhưng anh không bán. Anh vẫn để sáo gắn với diều, và đem cái kỉ niệm để đời ấy gác kĩ lên xà nhà.
(Trên đôi cánh chuồn chuồn, NXB Kim Đồng, 2020, tr.160 - 166)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định ngôi kể của truyện.
Câu 2. Vào Những đêm trăng sáng tiếng sáo diều được tác giả miêu tả như thế nào?
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: Cái thanh âm đặc biệt ấy giống như con thuyền bập bềnh đưa chị trôi dần vào giấc mơ.
Câu 4. Theo em, vì sao nhiều người tìm đến hỏi mua cái ống sáo “ầm vu” nhưng anh Tùng không bán?
Câu 5. Nhận xét khung cảnh làng quê được thể hiện trong truyện ngắn.
II. Viết (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Tùng trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm)
Những trò chơi dân gian mang đậm nét văn hóa Việt đang dần bị mai một trong cuộc sống hiện đại nhưng điều đó không có nghĩa là nó không còn sức hấp dẫn.
Em hãy viết bài văn nghị luận bàn về vấn đề: Cách thức lưu truyền trò chơi dân gian trong đời sống hiện nay.
Lời giải chi tiết
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) |
Câu 1. (0,5 điểm) |
Ngôi kể thứ nhất |
|
Câu 2. (0,5 điểm) |
Tiếng sáo diều được miêu tả vào đêm trăng sáng như sau: tiếng sáo diều vi vút hơn, bay xa hơn. Âm thanh ấy vời vợi trời mây. |
|
|
Câu 3. (1,0 điểm) |
Biện pháp so sánh: âm thanh được ví “con thuyền bập bềnh” Tác dụng: - Giúp câu văn thêm sinh động, hấp dẫn, người đọc dễ hình dung. - Gợi tả sinh động âm thanh đặc biệt của tiếng sáo diều, nhẹ nhàng, êm dịu, đều đặn. - Diễn tả cảm giác thả lỏng, thư thái của chị Thắm khi nghe tiếng sáo — nó xoa dịu tâm hồn và từ từ đưa chị vào giấc ngủ. |
|
|
Câu 4. (1,0 điểm) |
Vì cái ống sáo “ầm vu” ấy không chỉ là một vật dụng bình thường mà là kỷ niệm thiêng liêng, gắn với mối duyên đặc biệt giữa anh Tùng và chị Thắm. Nó đã se duyên cho hai người, là kỷ vật của tình yêu và những kỷ niệm đẹp trong quá khứ, nên anh Tùng trân trọng giữ lại như một báu vật riêng. |
|
|
Câu 5. (1,0 điểm) |
Khung cảnh làng quê trong truyện ngắn hiện lên bình yên, trong trẻo và đậm chất thơ: - Có những cánh đồng bát ngát, con đỗi, bụi tre cuối vườn. - Những buổi chiều mùa hè thả diều, đêm trăng sáng với tiếng sáo diều vi vút. - Cuộc sống tuy giản dị, mộc mạc nhưng tràn đầy tình người và kỷ niệm đẹp. |
|
|
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) |
Câu 1. (2,0 điểm) |
1. Mở đoạn: Giới thiệu chung 2. Thân đoạn - Xuất thân và sở thích: + Là người mê thả diều, đặc biệt có con diều với tiếng sáo “ầm vư” độc đáo. + Tiếng sáo diều của anh không giống ai, lúc xa lúc gần, như hai ba con diều bay cùng lúc. - Là một người chân thành: + Khi con diều bị đứt dây, anh không ngại đường xa, lần theo hướng gió đi tìm, thể hiện sự trân trọng kỷ niệm và đam mê. + Tình cờ gặp chị Thắm — người cũng mê tiếng sáo “ầm vư” mà không biết chủ nhân là ai. => Cuộc gặp gỡ nhờ con diều đứt dây trở thành mối nhân duyên đẹp. Sau khi cưới chị Thắm, anh Tùng dành hết tâm sức cho đồng áng, lưu giữ kỷ vật diều sáo như trân quý một phần ký ức. - Nghệ thuật: + Ngôi kể thứ nhất + Ngôn ngữ giản dị. + Hình ảnh con diều mang nhiều ý nghĩa + … 3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
1. Mở bài: Giới thiệu chung 2. Thân bài: - Trò chơi dân gian: những hoạt động vui chơi giải trí do quần chúng nhân dân sáng tạo ra và được lưu truyền qua nhiều thế hệ. - Vai trò và giá trị của trò chơi dân gian: + Là di sản văn hóa phi vật thể, lưu giữ bản sắc dân tộc. + Gắn bó với đời sống cộng đồng, giúp gắn kết tình làng nghĩa xóm, tạo không khí vui tươi. + Rèn luyện tư duy, sự khéo léo, tinh thần đồng đội và kỹ năng giao tiếp. + Phản ánh tập quán, tín ngưỡng và tâm hồn dân tộc Việt. - Thực trạng và nguyên nhân mai một của trò chơi dân gian: + Đời sống hiện đại với công nghệ, trò chơi điện tử, mạng xã hội… khiến trò chơi dân gian ít được trẻ em quan tâm. + Không gian tổ chức trò chơi dân gian ngày càng thu hẹp: thiếu sân bãi, thiếu người hướng dẫn. + Sự thờ ơ của một bộ phận cộng đồng và thiếu sự quan tâm của gia đình, nhà trường. - Giải pháp: + Đưa trò chơi dân gian vào trường học thông qua giờ thể dục, hoạt động ngoại khóa. + Tổ chức các lễ hội truyền thống, hội làng, ngày hội thiếu nhi với nhiều trò chơi dân gian. + Khai thác trò chơi dân gian trong chương trình truyền hình, mạng xã hội, ứng dụng công nghệ số để trẻ em hiện đại tiếp cận dễ dàng. + Gia đình, ông bà, cha mẹ truyền dạy trực tiếp cho con cháu trong những dịp tụ họp, nghỉ hè, Tết cổ truyền. + Lưu giữ và phục dựng trò chơi trong các khu du lịch văn hóa, bảo tàng dân tộc học. + … - Lưu truyền trò chơi dân gian sẽ giúp chúng ta: Gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Giúp thế hệ trẻ hiểu và tự hào về truyền thống; … - Liên hệ bản thân: bài học nhận thức hành động 3. Kết bài: Tổng kết vấn đề |
Đề thi vào 10 môn Văn Nghệ An năm 2023
Đề bài
Câu 1. Đọc đoạn trích:
... Ốc sên con luôn thấy bực bội với cái vỏ vừa nặng vừa vụng về của mình, nó bèn hỏi mẹ: “Tại sao con lại phải vác cái vỏ này? Con sâu róm không có xương, bò cũng rất chậm, sao nó không cần có vỏ?” Sên mẹ đáp: “Vì sâu róm có thể hóa thành bươm bướm, nó có thể bay rất cao, bầu trời có thể bảo vệ cho nó.” Sên nhỏ lại hỏi: “Thế còn giun thì sao? Nó cũng không có xương, bò cũng không nhanh, lại không cần có vỏ.” Sên mẹ trả lời: “Vì giun có thể chui xuống đất, đất sẽ bảo vệ cho nó.” Sên nhỏ nghe xong bỗng òa lên khóc: “Số chúng ta thật khổ, bầu trời và mặt đất đều không bảo vệ cho ta.” Sên mẹ cười nói: “Thế nên chúng ta mới có vỏ, chúng ta không dựa vào trời đất mà dựa vào chính mình!”...
(Trích Từ hạt cát đến ngọc trai, Marcus Aurelius, NXB Thanh niên, 2017, tr.181)
Thực hiện các yêu cầu sau:
a. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
b. Theo đoạn trích, vì sao sâu róm và giun không cần có vỏ?
c. Hình ảnh cái vỏ trong cách nhìn của ốc sên con và ốc sên mẹ khác nhau như thế nào?
d. Nêu một thông điệp có ý nghĩa mà em nhận được từ đoạn trích.
Câu 2. Dù bạn là ai thì bạn cũng luôn có sẵn trong mình những giá trị nhất định....
Hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ về sự cần thiết của việc phát huy giá trị bản thân.
Câu 3. Phân tích đoạn thơ sau:
...Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã cỏ nhịp trắng cao.
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.
Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng.
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng.
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông.
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.
Câu hát căng buồn với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
(Trích Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận Ngữ văn 9, Tập một NXB Giáo dục Việt Nam, 2022, tr.140)
Lời giải chi tiết
Câu 1:
Câu a
Phương pháp:
Căn cứ các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: tự sự.
Câu b
Phương pháp:
Đọc, tìm ý.
Cách giải:
"Vì chị sâu róm sẽ biến thành bướm, bầu trời sẽ bảo vệ chị ấy".
"Vì em giun đất sẽ chui xuống đất, lòng đất sẽ bảo vệ em ấy".
Câu c
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Với ốc sên con cái vỏ là một thứ nặng nề, cồng kềnh và không có giá trị, đó chỉ là những khó khăn, trở ngại.
Với ốc sên mẹ vỏ là phương tiện để bảo vệ cơ thể của chúng, ở đây ốc sên mẹ từ khó khăn đã nhìn thấy điểm tốt của chiếc vỏ cồng kềnh. Đồng thời ốc sên mẹ cũng cho thấy, chúng không cần dựa vào ai mà chỉ cần dựa vào chính bản thân mình không ngừng nỗ lực, cố gắng để bảo vệ bản thân, sống và phát triển.
Câu d
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
HS nêu thông điệp có ý nghĩa với mình.
Gợi ý:
- Cuộc sống không hề hoàn hảo, hãy trân trọng và nâng niu những gì mình đang có.
- Dựa vào chính bản thân mình và nỗ lực, cố gắng không ngừng.
-….
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: dù bạn là ai thì bạn vẫn luôn có sẵn trong mình những giá trị nhất định.
Mỗi chúng ta đều có giá trị của riêng mình bởi vậy việc cần thiết đó chính là phải biết phát huy giá trị của bản thân.
2. Giải thích
- Giá trị của bản thân: Giá trị của bản thân là ý nghĩa của sự tồn tại của mỗi con người, là nội lực riêng trong mỗi con người. Giá trị của bản thân là ưu điểm, điểm mạnh vượt trội của mỗi người so với những người khác khiến mình có một cá tính riêng, dấu ấn riêng không trộn lẫn với đám đông.
=> Mỗi người hãy phát huy giá trị của chính mình.
3. Bàn luận
- Sự cần thiết phát huy giá trị bản thân:
+ Phát huy giá trị bản thân sẽ giúp chúng ta tự tin hơn với chính mình.
+ Phát huy được giá trị bản thân ta sẽ góp phần giúp cho xã hội ngày càng phát triển.
+ Phát huy giá trị của bản thân cũng là một cách giúp ta không ngừng nỗ lực, cố gắng vươn lên.
+….
- Giá trị bản thân không đơn thuần chỉ là tiền tài, vật chất bên ngoài mà còn là giá trị bên trong tâm hồn.
- Phê phán những người thiếu tự tin về bản thân, luôn sống rụt rè, e sợ.
4. Tổng kết vấn đề.
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài
- Nêu những nét chính về tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
- Bài thơ đã khắc họa được vẻ đẹp và sức mạnh của người lao động trước thiên nhiên - vũ trụ kỳ vĩ.
2. Thân bài
a. Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ: Đẹp, rộng lớn, lộng lẫy:
- Cảm hứng vũ trụ đã mang đến cho bài thơ những hình ảnh thiên nhiên hoành tráng
- Cảnh hoàng hôn trên biển và cảnh bình minh được đặt ở vị trí mở đầu, kết thúc bài thơ vẽ ra không gian rộng lớn mà thời gian là nhịp tuần hoàn của vũ trụ.
- Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi: Không phải là con thuyền mà là đoàn thuyền tấp nập.
b. Nổi bật hơn cả là người lao động giữa thiên nhiên cao đẹp
* Con người không nhỏ bé trước thiên nhiên mà ngược lại, đầy sức mạnh và hoà hợp với thiên nhiên.
- Con người ra khơi với niềm vui trong câu hát: "Ta hát bài ca gọi cá vào..."
- Con người ra khơi với ước mơ trong công việc:
+ Tác giả đã tạo ra một hình ảnh khỏe, lạ mà thật từ sự gắn kết 3 sự vật và hiện tượng: Câu hát, cánh buồm và gió khơi. Người đánh cá căng buồm và cất câu hát lên nhà thơ có cảm giác như chính câu hát đó đã làm căng cánh buồm. Câu hát mang theo niềm vui, sự phấn chấn của người lao động trở thành sức mạnh cùng với gió biển làm căng cánh buồm để con thuyền lướt sóng ra khơi.
+ Nghệ thuật ẩn dụ trong hình ảnh thơ lãng mạn này đã góp phần thể hiện một hiện thực : Đó là niềm vui phơi phới, tinh thần lạc quan của người dân chài. Họ ra khơi trong tâm trạng đầy hứng khởi vì học tìm thấy niềm vui trong lao động, yêu biển và say mê với công việc chinh phục biển khơi làm giàu cho Tổ quốc.
+ Câu hát của người lao động còn mang theo niềm mong mỏi tha thiết vừa hiện thực vừa lãng mạn “ Hát rằng cá bạc biển đông lặng/…/ Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi!”
*Cảnh đoàn thuyền trở về
- Câu đầu tác giả lặp lại ở khổ thơ 1: “Câu hát căng buồm với gió khơi”
+ Có từ “với” là khác, có lẽ tác giả tránh sự lặp lại ở câu thơ trước => làm cho khổ thơ cuối giống như điệp khúc của một bài hát, tạo cảm giác tuần hoàn về thời gian, về công việc lao động; nhấn mạnh khí thế tâm trạng của những người dân. Đoàn thuyền ra đi hào hứng sôi nổi, nay trở về cũng với tinh thần ấy rất khẩn trương. Câu hát đưa thuyền đi nay câu hát lại đưa thuyền về.
+ Bằng biện pháp khoa trương và hình ảnh nhân hóc” Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời: cho thấy con người và vũ trụ chạy đua trong cuốc vận hành vô tận, con người đã mang tầm vóc lớn lao của thiên nhiên vũ trụ trong cuộc chạy đua này và con người đã chiến thắng. Có thể nói Huy Cận đã lấy tình yêu của mình đối với cuộc sống mới của nhân dân khám phá ra vẻ đẹp hùng vĩ. Thay vào không gian vũ trụ buồn hiu hắt của thơ ông trước cách mạng tháng Tám.
b. Bình minh trên biển
– Mở đầu bài thơ là cảnh hoàng hôn, kết thúc bài thơ là cảnh bình minh” Mặt trời đội biển nhô màu mới”. Ánh mặt trời sáng rực, từ từ nhô lên ở phía chân trời xa cảm giác như mặt trời đội biển. Câu thơ với ẩn dụ táo bạo cho thấy sự tuần hoàn của thời gian, của vũ trụ.
- H/ả “ mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi” gợi nhiều liên tưởng như những mặt trời nhỏ bé đang tỏa rạng niềm vui trước thành quả lao động mà con người đã giành được sau một đêm lao động trên biển. => đó là cảnh tượng đẹp huy hoàng giữa bầu tròi và mặt biển, giữa thiên nhiên và thành quả lao động.
=> Huy cận đã khắc họa thật đẹp hình ảnh con người lao động làm chủ thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên trong âm điệu khỏe khoắn của thời đại mới.
3. Kết bài
- Hình ảnh người lao động được sáng tạo với cảm hứng lãng mạn cho thấy niềm vui phơi phới của họ trong cuộc sống mới.
- Thiên nhiên và con người phóng khoáng, lớn lao. Tình yêu cuộc sống mới của nhà thơ được gửi gắm trong những hình ảnh thơ lãng mạn đó.
Đề thi vào 10 môn Văn Nghệ An năm 2022
Đề bài
Câu 1. (3 điểm) Đọc đoạn trích:
Đó là mùa của những tiếng chim reo
Trời xanh biếc, nắng tràn trên khắp ngả
Đất thành cây, một trào lên vị quả
Bước chân người bỗng mở những đường đi
Đó là mùa của những buổi chiều
Cánh điều giấy nghiêng vòm trời cao vút
Tiếng dế thúc suốt đêm dài oi bức
Tiếng cuốc dồn thúc giục nắng đang trưa
(...)
Mùa hạ của tôi, mùa hạ đã đi chưa
Ôi tuổi trẻ bao khát khao còn, hết?
Mà mặt đất màu xanh là vẫn biển
Quả ngọt ngào thắm thiết vẫn màu hoa.
(Trích Mùa hạ, Xuân Quỳnh, Thơ Xuân Quỳnh, NXB Kim Đồng, 2020, tr. 122-123)
Thực hiện các yêu cầu sau:
a. Tìm từ chỉ màu sắc được sử dụng trong khổ thơ thứ nhất.
b. Những âm thanh nào của thiên nhiên được miêu tả trong đoạn trích?
c. Nêu tác dụng của câu hỏi tu từ: Mùa hạ của tôi, mùa hạ đã đi chưa Ôi tuổi trẻ bao khát khao còn, hết?.
d. Đoạn trích gọi cho em cảm nghĩ gì về những mùa hạ đã đi qua tuổi thơ của mình?
Câu 2. Nghị luận xã hội (3,0 điểm) Khát khao tuổi trẻ luôn giục giã con người cháy hết mình với những đam mê...
Hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ về sự cần thiết phải nuôi dưỡng những niềm đam mê đẹp đẽ của mỗi người trong cuộc sống.
Câu 3. Nghị luận văn học (5,0 điểm) Phân tích vẻ đẹp nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích sau:
- (…) Cháu ở đây có nhiệm vụ đo gió, đo mưa, đo nắng, tinh mây, do chấn động mặt đất, dục vào việc bảo trước thời tiết hằng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu. Đây là máy móc của cháu. Cái thùng đo mưa này, ở đâu bác cũng trông thấy, mưa xong đổ nước ra cái cốc li phân mà đo. Cái này là máy nhật quang kị, ảnh nắng mặt trời xuyên qua cái kinh này, đốt các mảnh giấy này, cử theo mức độ, hình dáng vết cháy mà định nắng. Đây là máy Vin, nhìn khoảng cách giữa các răng cưa mà đoán gió. Ban đêm không nhìn máy, cháu nhìn gió lay lá hay nhìn trời, thấy sao nào khuất, sao nào sáng, có thể nói được mây, tính được gió. Cái máy nằm dưới sâu kia là máy đo chấn động vỏ quả đất. Cháu lấy những con số, mỗi ngày bảo về "nhà” bằng máy bộ đàm bốn giờ, mười một giờ, bảy giờ tối, lại một giờ sáng. Bản báo ấy trong ngành gọi là "ấp”. Công việc nói chung dễ, chỉ cần chính xác. Gian khổ nhất là lần ghi và bảo về lúc một giờ sáng. Rét, bác ạ. Ở đây có cả mưa tuyết đấy. Nửa đêm đang nằm trong chăn, nghe chuông đồng hồ chi muốn đưa tay tắt đi. Chui ra khỏi chặn, ngọn đèn bão vặn to đến cỡ nào vẫn thấy là không đủ sáng. Xách đèn ra vườn, giỏ tuyết và lặng im ở bên ngoài như chỉ chục đợi mình ra là ào ào xô tới. Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ: nó như bị gió chặt ra từng khúc, mà gió thì giống những nhát chổi lớn muốn quét đi tất cả, ném vút lung tung…. Những lúc im lặng lạnh cóng mà lại hùng hực như chảy. Xong việc, trở vào, không thể nào ngủ lại được.
Anh thanh niên đang nổi, dùng lại. Và tại sao họa sĩ cảm giác mình bối rối? Vì nhác thấy người con gái nhỏ nhẹ, e lệ, đứng giữa các luống dọn, không cần hải hoa nữa, ôm nguyên bó hoa trong tay, lắng tại nghe? Vì họa sĩ đã bắt gặp một điều thật ra ông vẫn ao ước được biết, ôi, một nét thôi đủ khẳng định một tâm hồn, khơi gợi một ý sáng tác, một nét mới đủ là giá trị một chuyến đi dài.(...)
Thì giờ ngắn ngủi còn lại thúc giục cả chính người họa sĩ già. Ông theo liền anh thanh niên vào trong nhà, đảo
nhìn qua một lượt trước khi ngồi xuống ghế. Một căn nhà ba gian, sạch sẽ, với bàn ghế, sổ sách, biểu đỗ, thống kê, máy bộ đàm. Cuộc đời riêng của anh thanh niên thu gọn lại một góc trải gian với chiếc giường con, một chiếc bàn học, một giá sách. Họa sĩ còn đang nheo mắt cố dọc tên các sách trên giá thì cô gái đã bước tới, dường như làm việc ấy hộ bố. Cô không trở lại bàn giữa và ngôi ngay xuống trước chiếc bàn học con, lật xem bìa một cuốn sách rồi để lại cái chén con đến yên lặng đặt trước mặt cô.
(Trích Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2021, tr. 183-184).
Lời giải chi tiết
Câu 1.
|
a. Tìm từ chỉ màu sắc được sử dụng trong khổ thơ thứ nhất. |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Từ chỉ màu sắc bao gồm: xanh biếc.
|
b. Những âm thanh nào của thiên nhiên được miêu tả trong đoạn trích? |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Các âm thanh xuất hiện trong đoạn thơ là:
- Tiếng chim reo.
- Tiếng dế.
- Tiếng cuốc.
|
c. Nêu tác dụng của câu hỏi tu từ: Mùa hạ của tôi, mùa hạ đã đi chưa Ôi tuổi trẻ bao khát khao còn, hết? |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, phân tích.
Cách giải:
Tác dụng của câu hỏi tu từ là:
- Câu hỏi tu từ góp phần tăng sự gợi hình gợi cảm.
- Ý thơ thể hiện sự ngỡ ngàng của một “cái tôi” âu lo trước dòng chảy của tháng năm và mùa hạ - tuổi trẻ của chính mình.
- Câu hỏi tu từ thể hiện sự băn khoăn trước những khao khát của tuổi trẻ.
|
d. Đoạn trích gọi cho em cảm nghĩ gì về những mùa hạ đã đi qua tuổi thơ của mình? |
Phương pháp: Phân tích.
Cách giải:
Học sinh đưa ra quan điểm cá nhân. Gợi ý:
Đoạn trích đã gợi cho em những cảm nghĩ về mùa hạ là:
- Mùa hạ gợi nhớ trong em về một tuổi thơ tràn ngập màu sắc, âm thanh, tràn ngập niềm vui.
- Mùa hạ ấy cũng gắn với biết bao kỉ niệm về tuổi thơ với gia đình, bạn bè, …
- Không chỉ vậy, những kì nghỉ hè còn đem đến cho em những bài học để làm người, để rèn luyện bản thân: giúp đỡ gia đình, học tập, rèn luyện bản thân.
-….
Câu 2:
|
Nghị luận xã hội (3,0 điểm) Khát khao tuổi trẻ luôn giục giã con người cháy hết mình với những đam mê... Hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ về sự cần thiết phải nuôi dưỡng những niềm đam mê đẹp đẽ của mỗi người trong cuộc sống. |
Phương pháp: Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
a. Yêu cầu hình thức: Viết đúng một bài văn khoảng 1 trang giấy thi.
b. Yêu cầu nội dung: Xác định vấn đề nghị luận: Sự cần thiết phải nuôi dưỡng những niềm đam mê đẹp đẽ của mỗi người trong cuộc sống. Kết họp các thao tác lập luận để giải quyết vấn đề
* Mở bài: Giới thiệu khái quát vấn đề nghị luận: Sự cần thiết phải nuôi dưỡng những niềm đam mê đẹp đẽ của mỗi người trong cuộc sống.
* Thân bài:
- Giải thích niềm đam mê: Đam mê là sự yêu thích, hăng say theo đuổi 1 sở thích nào đó.
-> Con người cần có đam mê và luôn phải cố gắng nuôi dưỡng những niềm đam mê đó.
- Sự cần thiết phải nuôi dưỡng những niềm đam mê đẹp đẽ.
+ Việc nuôi dưỡng những niềm đam mê sẽ tạo ra động lực để con người vượt qua những khó khăn, chông gai trong cuộc sống.
+ Việc nuôi dưỡng đam mê giúp con người luôn sống với lý tưởng, cuộc sống sẽ trở nên có mục đích, ý nghĩa hơn.
+ Việc nuôi dưỡng những đam mê giúp con người trở nên nhiệt huyết, rèn luyện được nhiều đức tính tốt, lan tỏa năng lượng tích cực đến mọi người xung quanh.
+….
- Cần làm gì để nuôi dưỡng niềm đam mê:
+ Học cách kiên nhẫn với niềm đam mê của mình, không từ bỏ khi gặp khó khăn.
+ Luôn nhớ đến những lý do bắt đầu những đam mê đó
+ …
- Liên hệ mở rộng:
+ Phê phán những người sống không có đam mê hoặc để đam mê của mình tắt dần theo thời gian.
+ Nuôi dưỡng ngọn lửa đam mê đồng nghĩa với việc phải cố gắng nỗ lực để biến đam mê đó thành hiện thực.
* Kết bài: Tổng kết vấn đề.
Câu 3:
|
Nghị luận văn học (5,0 điểm) Phân tích vẻ đẹp nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích sau: |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
– Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
– Giới thiệu đoạn trích.
– Giới thiệu nhân vật anh thanh niên.
2. Thân bài
a. Công việc của anh thanh niên
– Đoạn văn là lời của nhân vật thanh niên, nhân vật chính trong truyện Lặng lẽ Sa Pa. Nhân vật thanh niên đó sống một mình trên núi cao, quanh năm suốt tháng làm việc với cây và mây núi ở Sa Pa.
– Công việc của anh là làm khí tượng kiêm vật lý địa cầu. Nhiệm vụ của anh là đo gió, đo mưa, đo gió, đo chấn động mặt đất và dự báo thời tiết hằng ngày phục vụ cho công việc chiến đấu và sản xuất.
– Công việc của anh làm âm thầm, lặng lẽ một mình, báo về “ốp” đều đặn những con số để phục vụ sản xuất, chíên đấu. Công việc ấy đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác, có tính trách nhiệm cao.
=> Hoàn cảnh sống khắc nghiệt, công việc gian khổ, vất vả. Đó là thử thách rất lớn nhưng anh thiên niên đã vượt qua hoàn cảnh ấy bằng ý chí, nghị lực và những suy nghĩ rất đẹp.
b. Phẩm chất của anh thanh niên được thể hiện qua đoạn văn
– Trước hết, anh thanh niên rất yêu nghề. Anh giới thiệu chi tiết từng loại máy, từng dụng cụ của mình cho ông họa sĩ và cô kĩ sư.
– Là người có hành động đẹp: Một mình sống trên đỉnh Yên Sơn, không có ai đôn đốc, kiểm tra nhưng anh vẫn vượt qua hoàn cảnh làm việc một cách nghiêm túc, tự giác với tinh thần trách nhiệm cao. Dù thời tiết khắc nghiệt mùa đông giá rét mà anh đều thức dậy thắp đèn đi “ốp” đúng giờ. Ngày nào cũng vậy anh làm việc một cách đều đặn, chính xác 4 lần trong ngày, âm thầm, bền bỉ trong nhiều năm trời.
– Người có phong cách sống đẹp: Anh có một phong cách sống khiến mọi người phải nể trọng. Tinh thần thái độ làm việc của anh thật nghiêm túc, chính xác, khoa học và nó đã trở thành phong cách sống của anh.
- Anh là một người biết tạo niềm vui sống cho mình, một cuộc sống hết sức ngăn nắp, sạch sẽ:
+ Căn nhà sạch sẽ với bàn ghế, sổ sách, …
+ Bồi dưỡng tâm hồn cho mình bằng việc đọc sách.
- Anh là người hết sức chu đáo, cẩn thận: nhìn thấy cô gái đứng cạnh giá sách, anh liền mang tách trà đến cho cô.
=> Anh thanh niên là đại diện tiêu biểu cho thanh niên Việt Nam, hăng say làm việc, hết mình cống hiến cho dân tộc, cho đất nước
3. Kết bài: Cảm nhận chung về anh thanh niên.
Đề thi vào 10 môn Văn Nghệ An năm 2021
Đề bài
Câu 1. Đọc hiểu (2.0 điểm) Đọc đoạn trích sau:
Mỗi người chúng ta đều là một con chim làm tổ trên cây, bố mẹ chính là cây cổ thụ. Cây che nắng cháy gió mưa, che chở chim non đến khi đủ lông đủ cánh.
Nhưng chim luôn hưởng tới bầu trời, tò mò về thế giới chưa biết. Chim non lớn lên sẽ rời khỏi tổ, thỉnh thoảng lại biến mất, nhưng cây không thể đi theo, chỉ biết yên lặng chờ đợi
nơi chốn cũ.
Nuôi dạy con cái là nhìn chúng ngày càng đi xa khỏi đời mình, người làm bố làm mẹ chỉ có thể đưa tiễn phía sau. Tiếng nói của họ là tiếng lá cây xào xạc trong gió, mái tóc bạc của họ là vòng tuổi được khắc bởi thời gian. (...)
Cây vẫn chờ ở chỗ cũ, đợi cánh chim mỏi quay về, hết thảy xem như trời yên biển lặng nhưng vòng tuổi mãi mãi vẫn luôn thay đổi. Tôi nghĩ, hôm nay đã đến lúc về nhà.
(Trích Có một ngày, bố mẹ sẽ già đi - Nhiều tác giả, Losedow dịch, NXB Thế giới, 2020, tr. 271)
Thực hiện các yêu cầu:
a. Chỉ ra từ làm phép nối để liên kết hai đoạn văn ở phần in đậm.
b. Tìm từ láy được sử dụng trong câu văn: Tiếng nói của họ là tiếng lá cây xào xạc trong gió, mái tóc bạc của họ là vòng tuổi được khắc bởi thời gian.
c. Em hiểu như thế nào về nội dung câu văn: Cây che nắng chảy gió mưa, che chở chim non đến khi đủ lông đủ cảnh?
d. Theo em, tác giả muốn gửi gắm thông điệp gì qua đoạn trích?
Câu 2. Nghị luận xã hội (3.0 điểm) Có một ngày, bố mẹ sẽ già đi và chúng ta sẽ lớn...
Từ gợi ý trên, hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ của em về vai trò của tính tự lập đối với giới trẻ.
Câu 3. Nghị luận văn học (5,0 điểm) Phân tích đoạn thơ sau:
Chân phải bước tới cha
Chân trải bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan là cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Riêng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
(Trích Nói với con - Y Phương, Ngữ vin 8, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.
Lời giải chi tiết
Câu 1.
|
a. Chỉ ra từ làm phép nối để liên kết hai đoạn văn ở phần in đậm. b. Tìm từ láy được sử dụng trong câu văn: Tiếng nói của họ là tiếng lá cây xào xạc trong gió, mái tóc bạc của họ là vòng tuổi được khắc bởi thời gian. c. Em hiểu như thế nào về nội dung câu văn: Cây che nắng chảy gió mưa, che chở chim non đến khi đủ lông đủ cảnh? d. Theo em, tác giả muốn gửi gắm thông điệp gì qua đoạn trích? |
Phương pháp:
a. căn cứ bài Liên kết câu và liên kết đoạn văn
b. căn cứ bài Từ láy
c. phân tích, lí giải
d. phân tích
Cách giải:
a. Từ làm phép nối để liên kết hai đoạn văn ở phần in đậm là từ “nhưng”
b. Từ láy được sử dụng trong câu văn trên là từ “xào xạc”
c. Cây là biểu tượng cho cha mẹ, bởi vậy câu văn trên có thể hiểu cha mẹ là mái ấm, là nơi che chở, sinh dưỡng và nuôi con khôn lớn trưởng thành để con tự tin bay cao bay xa.
d. Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm:
- Gia đình là điểm tựa vững chắc cho mỗi con người trong cuộc đời.
- Vì con, cha mẹ có thể chịu nhiều vất vả, gian khó.
- Sự thành công của mỗi con người luôn có hình bóng của cha mẹ.
- Mỗi người cần biết trân trọng những giây phút bên cha mẹ khi còn có thể.
Câu 2.
|
Có một ngày, bố mẹ sẽ già đi và chúng ta sẽ lớn... Từ gợi ý trên, hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ của em về vai trò của tính tự lập đối với giới trẻ. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp
Cách giải:
I. Mở bài
Không thể thành công nếu như con người thiếu tính tự lập. Tự lập là đức tính cần thiết và quan trọng.
II. Thân bài
1. Giải thích
Tự lập chính là một cách sống tự quyết định, tự hành động, tự lựa chọn cho mình một con đường trong tương lai để đi. Tự lập là hành động mà không dựa dẫm vào người khác.
2. Bình luận và chứng minh
a. Biểu hiện
* Tích cực:
- Tự học mà bố mẹ không phải thúc giục.
- Hoàn thành mọi bài tập bằng sức của mình, không đi chép bài.
- Dám đưa ra ý kiến, quan điểm của mình.
* Tiêu cực
- Học sinh đang thiếu dần tính tự lập, ỷ lại vào học thêm, mạng Internet, sách tham khảo…
- Nhiều người dựa dẫm, chờ đợi người khác.
b. Vai trò
- Tự lập là đức tính quan trọng mà cha ông chúng ta dạy từ thuở nhỏ.
- Tự lập giúp con người có tính sáng tạo hơn.
- Khi tự lập, con người có ý thức hơn trong mọi hành động
- Tính tự lập giúp con người nhận thức toàn diện hơn về mọi mặt, có cái nhìn bao quát hơn về mọi mặt cuộc sống.
- Tính tự lập giúp con người khẳng định giá trị bản thân.
- Tính tự lập giúp xã hội hoàn thiện và phát triển.
3. Bài học
- Chăm chỉ rèn luyện học tập.
- Giúp đỡ mọi người xung quanh cùng rèn luyện tính tự lập.
III. Kết bài
Đừng để thành công xa rời bạn vì bạn không phải là người có tính tự lập.
Câu 3.
|
Phân tích đoạn thơ sau: Chân phải bước tới cha Chân trải bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan là cài nan hoa Vách nhà ken câu hát Riêng cho hoa Con đường cho những tấm lòng (Trích Nói với con - Y Phương, Ngữ vin 8, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Mở bài
- Giới thiệu một vài nét về tác giả - tác phẩm:
+ Y Phương: là người dân tộc Tày, thơ ông thể hiện tâm hồn mạnh mẽ, chân thực và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của người dân tộc miền núi, mang đậm bản sắc vùng cao.
+ “Nói với con”: là lời tâm sự, động viên chính mình đồng thời nhắc nhở con cái sau này của nhà thơ
- Đoạn trích: nằm ở phần đầu văn bản nói về cội nguồn sinh dưỡng của "con" và cũng chính là của mỗi người.
2. Thân bài
- Cội nguồn gia đình
+ Con lớn lên trong những tháng ngày chờ trông, mong đợi của cha mẹ
+ “Chân phải- chân trái”, “một bước- hai bước”: phép đối tạo âm điệu vui tươi, tạo không khí đầm ấm, hạnh phúc, mỗi nhịp bước của con đều có cha mẹ dang rộng vòng tay che chở
⇒ Đó là tình cảm thiêng liêng mà con luôn phải khắc cốt ghi tâm
- Cội nguồn quê hương
+ Đan lờ (dụng cụ đánh bắt cá), đan lờ cài nan hoa( công việc đã tạo nên vẻ đẹp của con người lao động), vách nhà ken câu hát( cuộc sống hòa với niềm vui”: Cuộc sống lao động của người đồng mình được gợi lên qua nhiều hình ảnh đẹp đẽ
+ Sử dụng các động từ: đan, ken ,cài : vừa diễn tả những động tác cụ thể , khéo léo vừa nói lên cuộc sống gắn bó với niềm vui+ “Rừng cho hoa”: nhân hóa rừng không chỉ cho gỗ, cho lâm sản mà còn cho hoa=> vẻ đẹp tinh thần
+ “Con đường cho những tấm lòng”: đâu chỉ đãn lối mà còn cho những tấm lòng cao cả tấm lòng cao cả, thủy chung
=> Mượn lời người cha nói với con, tác giả muốn gửi gắm đến bạn đọc và đồng thời là cả chính mình về thái độ sống biết ơn, trân trọng đối với gia đình và quê hương.
3. Kết bài
- Khẳng định những giá trị nội dung, nghệ thuật làm nên thành công của đoạn thơ:
+ Thể thơ tự do, nhịp điệu vui tươi, các hình ảnh thơ đẹp, sử dụng các biện pháp tu từ quen thuộc,…
+ Cha đưa con về với cội nguồn sinh dưỡng nhắc nhở con phát huy phẩm chất cao đẹp của quê hương để vững bước trên cuộc đời
Đề thi vào 10 môn Văn Nghệ An năm 2020
Đề bài
Câu 1 (2,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
(1) Bông lau, sậy đẹp nhất là lúc đang tàn, lúc đang phai. (2) Dường như có vài thứ giống vậy, như mùa thu, pháo hoa, giao thừa, tiếng chuông chùa…lúc đẹp là lúc mất. (3) Chẳng hiểu đẹp để mất hay vì biết sẽ mất nên đẹp. (4) Gió chướng thông ngọn thì bông sậy lìa cây, vào khi ngọt ngào và mỹ miều nhất, rút lui, buông bỏ vào lúc vinh quang nhất. (5) Nên tôi, trong vai người đứng ngắm phải ngẩn ngơ nhớ tiếc. (6) Đôi lúc nghĩ, có người nào dám và được rời đi nhẹ nhõm như cái bông sậy nhỏ nhoi này?
(Trích Chập chờn lau sậy – Nguyễn Ngọc Tư, Bánh trái mùa xưa, NXB Hội Nhà Văn)
a. Chỉ ra câu chủ đề của đoạn văn
b. Xác định và gọi tên thành phần biệt lập trong câu (2)
c. Tìm từ láy trong câu (6)
d. Em hiểu thế nào về nội dung của đoạn văn?
Câu 2 Nghị luận xã hội (3,0 điểm)
Đại dịch Covid 19 đã buộc con người thay đổi thói quen trong cuộc sống.
Em hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về vấn đề trên.
Câu 3 Nghị luận văn học (5,0 điểm)
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn
Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng
(Trích Ánh trăng – Nguyễn Duy, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr156)
Lời giải chi tiết
Câu 1
|
a. Chỉ ra câu chủ đề của đoạn văn b. Xác định và gọi tên thành phần biệt lập trong câu (2) c. Tìm từ láy trong câu (6) d. Em hiểu thế nào về nội dung của đoạn văn? |
Phương pháp:
a. Phân tích, tổng hợp
b. Căn cứ bài các thành phần biệt lập
c. Căn cứ bài Từ láy
d. Phân tích
Cách giải:
a. Câu chủ đề:
b. Thành phần tình thái: “Dường như”
c. Từ láy: nhẹ nhõm, nhỏ nhoi
d. Nội dung: Trong cuộc sống, đôi khi vẻ đẹp, vinh qang nằm ở những giây phút cuối cùng của cuộc đời
Câu 2
|
Đại dịch Covid 19 đã buộc con người thay đổi thói quen trong cuộc sống. Em hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về vấn đề trên. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: Đại dịch Covid 19 đã buộc con người thay đổi thói quen trong cuộc sống.
2. Giải quyết vấn đề
a. Giải thích vấn đề
- Thói quen: là những việc làm quen thuộc mà chúng ta thực hiện mỗi ngày, ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống của mỗi chúng ta.
=> Thói quen tốt có ảnh hưởng tích cực trong cuộc sống mỗi người, thói quen xấu sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực. Đại dịch Covid 19 đã thay đổi ít nhiều đến thói quen của mỗi người trong cuộc sống.
b. Phân tích, bàn luận vấn đề
- Biểu hiện việc thay đổi thói quen trong đại dịch:
+ Người dân được yêu cầu ở nhà và làm việc từ xa bất cứ khi nào có thể, tránh nơi đông người, và ngừng tụ tập giao lưu xã hội.
+ Học sinh - sinh viên phải theo học các lớp trực tuyến.
+ Khách hàng đứng cách xa nhau hàng mét tại các cửa hàng tạp hóa, siêu thị,
+ Nhiều hoạt động xã hội như sinh nhật, đi nhà thờ, hẹn hò, thậm chí cả tang lễ… được tiến hành qua video, thực hiện đơn giản hoặc hoãn lại.
+…
- Ý nghĩa việc thay đổi thói quen trong đại dịch:
+ Mọi người đang cùng chung tay giúp cho cộng đồng hạn chế và tránh sự lây lan của dịch bệnh.
+ Có nhiều người và nhiều hoạt động cảm thấy khó khăn và công việc không chất lượng khi thay đổi thói quen như vậy nhưng vì cả cộng đồng chống dịch nên cố gắng thích nghi vì một cuộc sống tốt đẹp hơn và đẩy lùi dịch bệnh.
=> Trong hoàn cảnh khó khăn, mỗi người thay đổi những thói quen trong cuộc sống, tưởng chừng khó khăn nhưng xã hội cùng đồng lòng sẽ tạo ra những điều tốt đẹp cho cuộc sống.
- Phê phán những người không chịu thay đổi để thích nghi, vẫn thích tiệc tùng, thích giao lưu và không thực hiện tốt lệnh cách li xã hội.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Nhận thức được khó khăn là quy luật của cuộc sống mà con người phải đối mặt và đôi khi chúng ta cần thay đổi những thói quen cố hữu để thích nghi.
+ Rèn luyện ý chí, bản lĩnh… để vượt qua gian truân, thử thách
Câu 3
|
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau: Thình lình đèn điện tắt phòng buyn-đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng (Trích Ánh trăng – Nguyễn Duy, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr156) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
Tác giả:
- Nguyễn Duy sinh năm 1948, tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, quê ỏ làng Quảng Xá, xã Đông Vệ, thành phố Thanh Hoá.
+ Năm 1966, ông nhập ngũ vào bộ đội thông tin, tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường.
+ Nguyễn Duy được trao giải nhất cuộc thi thơ báo văn nghệ 1973 với chùm thơ bốn bài (Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Giọt nước mắt và nụ cười, Bầu trời vuông). Từ giải thưởng này, Nguyễn Duy trở thành một gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mĩ và tiếp tục bền bỉ sáng tác.
Tác phẩm:
- Bài thơ “Ánh trăng” được viết năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh, in trong tập “Ánh trăng” - tập thơ của Nguyễn Duy được giải A của Hội nhà văn Việt Nam 1984
- Nguyễn Duy viết bài thơ này khi kết thúc chiến tranh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước được ba năm. Ba năm sống trong hoà bình, không phải ai cũng còn nhớ những gian khổ và kỉ niệm nghĩa tình trong quá khứ. Bởi vậy “Ánh trăng” như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ chân tình của nhà thơ với chính mình, với mọi người về lẽ sống chung thuỷ, nghĩa tình.
2. Phân tích
Cuộc hội ngộ giữa người và trăng
- Tình huống bất ngờ làm thay đổi mạch cảm xúc:
+ Trăng xuất hiện đánh thức bao kỉ niệm, gợi nên bao suy ngẫm:
“Thình lình đèn điện tắt
...vầng trăng tròn”
+ Ba khổ thơ đầu, điệp từ “hồi” được lặp lại khiến giọng thơ bình thường, đều đặn, thủ thỉ, sang khổ thơ thứ 4, giọng thơ đột ngột cất cao trước một tình huống bất ngời. Bằng phép đảo ngữ “thình lình đèn điện tắt”, cuộc sống xa hoa, hiện đại tạm thời biến mất, theo phản xạ tìm ánh sáng từ trong bóng tối, con người vội bật tung cửa sổ và bất ngờ gặp lại vầng trăng xưa. Trăng vẫn bên cửa sổ. Tròn vành vạnh, vẫn tình nghĩa, thủy chung như ngày nào. Phép đảo ngữ “đột ngột” càng nhấn mạnh sự bất ngờ thức tỉnh sau một chặng đường dài lãng quên.
=> Đến đây người lính từng trải như Nguyễn Duy đã chợt nhận ra một điều: cuộc đời mỗi con người giống như một dòng chảy có những quanh co, uốn khúc nhưng phải qua những khúc quanh, qua những biến cố, con người mới nhận ra đâu là chân giá trị của cuộc sống.
- Tình huống bất ngờ xảy đến khiến dòng chảy cuộc đời như ngừng lại, thời gian cũng như ngừng trôi trong cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn, khi người và trăng mặt đối mặt. Con người như lặng đi trong nỗi xúc động mãnh liệt. Người đối diện với trăng trong tư thế có phần thành kính
“ngửa mặt lên nhìn mặt
"có cái gì rưng rưng”
+ Từ “mặt” là từ nhiều nghĩa, tác giả đối mặt vầng trăng hay cũng chính là đối diện đàm tâm, tự soi vào chính mình, soi vào quá khứ, nhìn một thời lãng quên vô tình, bạc bẽo.
+ Trong cuộc đối diện không lười đó, gặp lại người bạn tri kỉ thuở xưa, con người “rưng rưng” xúc động. “Rưng rưng” là cảm xúc dân trào đến nghẹn lời, đến muốn khóc.
+ Trong sự xúc động dâng cao đó, cả một quãng thời gian rất xa sống dậy:
“Như là đồng là bể
như là sông là rừng”
Điệp ngữ “Như là”, phép liệt kê: đồng, sông, bể, rừng xuất hiện một lần nữa, cùng nhịp thơ nhanh như nhiều lớp sóng của hoài niệm ùa về. Phép so sánh để khẳng định cái khoảnh khắc “rưng rưng” ấy, chính là tuổi thơ êm đềm, là những năm tháng chiến đấu gian lao, vất vả, ở đó người luôn có trăng.
=> Khổ thơ là sự xúc động chân thành sâu lắng.
3. Tổng kết
Đề thi vào 10 môn Văn Nghệ An năm 2019
Đề bài
I. PHẦN ĐỌC - HIỂU (2.0 điểm)
Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
Bà hành khất đến ngõ tôi
Bà tôi cung cúc ra mời vào trong
Lưng còng đỡ lấy lưng còng
Thầm hai tiếng gậy tụng trong nắng chiều.
Nhà nghèo chẳng có bao nhiêu
Gạo còn hai ống chia đều thảo thơm
Nhường khách ngồi chiếc chổi rơm.
Bà ngồi dưới đất mắt buồn ngó xa...
Lá tre rụng xuống sân nhà
Thoảng hương nụ vối…chiều qua....cùng chiều.
(Bà Tôi - Kao Sơn, dẫn theo nguồn http://baohinhbinh.org.vn)
Câu 1 (0,5 điểm)
Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ?
Câu 2 (0,5 điểm)
Tìm từ đồng nghĩa với từ hành khất.
Câu 3 (0,5 điểm)
Chỉ ra biện pháp tu từ trong câu thơ thứ ba: Lưng còng đỡ lấy lưng còng
Câu 4 (0,5 điểm)
Thái độ ứng xử cảm động chan chứa tình người của người bà trong hai thơ trên đã gợi cho em những suy nghĩ gì?
II. PHẦN LÀM VĂN (8,0 điểm)
Câu 1 (3,0 điểm)
Niềm tin tạo nên sức mạnh.
Từ ý kiến trên hãy viết bài văn ngắn với chủ đề: Niềm tin trong cuộc sống
Câu 2 (5,0 điểm)
Cảm nhận về ước nguyện của nhà thơ Thanh Hải trong hai khổ thơ sau:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
(Trích Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục )
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1
|
Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ? |
Phương pháp: căn cứ các phương thức biểu đạt đã học
Cách giải:
Phương thức biểu đạt: Biểu cảm
Câu 2
|
Tìm từ đồng nghĩa với từ hành khất. |
Phương pháp: căn cứ bài Từ đồng nghĩa
Cách giải:
- Từ đồng nghĩa với từ “hành khất” là: người ăn mày, người ăn xin
Câu 3
|
Chỉ ra biện pháp tu từ trong câu thơ thứ ba: Lưng còng đỡ lấy lưng còng |
Phương pháp: căn cứ các biện pháp tu từ đã học
Cách giải:
- Biện pháp hoán dụ
Câu 4
|
Thái độ ứng xử cảm động chan chứa tình người của người bà trong hai thơ trên đã gợi cho em những suy nghĩ gì? |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
- Thái độ của người bà gợi cho em suy nghĩ:
+ Tình yêu thương, sự sẻ chia của bà là một biểu tượng đẹp của tấm lòng nhân ái, thương người như thể thương thân.
+ Tấm lòng đó còn là sự đồng cảm, sẻ chia.
+ Đây là một truyền thống đẹp cần lưu truyền đến thế hệ sau.
Phần II
Câu 1
|
Niềm tin tạo nên sức mạnh. Từ ý kiến trên hãy viết bài văn ngắn với chủ đề: Niềm tin trong cuộc sống |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
* Về hình thức: Không mắc các lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
* Về nội dung: học sinh có thể trình bày theo nhiều hướng khác nhau. Dưới đây là 1 gợi ý:
1. Giới thiệu vấn đề
2. Giải thích vấn đề
- Niềm tin là ý thức về năng lực, phẩm chất, giá trị của mình và của những điều tốt đẹp trong cuộc sống, biết đánh giá được vị trí, vai trò cùa mình trong các mối quan hệ của cuộc sống và giá trị của những điều tốt đẹp ...
3. Bàn luận vấn đề
- Biểu hiện của người luôn có niềm tin: luôn tin tưởng vào bản thân; tin tưởng vào tương lai tốt đẹp,…
- Tại sao chúng ta cần có niềm tin
+ Niềm tin tạo ra động lực cho mỗi người để có thể sống tốt đẹp hơn
+ Người có niềm tin sẽ luôn độc lập trong suy nghĩ và hành động, tự chủ trong cuộc sống của chính mình
+ Niềm tin đôi khi chính là sự an ủi bản thân và người khác
+ Người có niềm tin sẽ sống lạc quan, nhận được sự yêu mến của mọi người
…
- Làm thế nào để xây dựng niềm tin
+ Luôn tiếp nhận những thông tin tích cực từ cuộc sống
+ Biết giá trị của bản thân mình và tôn trọng giá trị của người khác
+ …
- Con người luôn phải giữ vững niềm tin vào những điều tốt đẹp để sống có ý nghĩa.
- Phê phán những người dễ nản chí, bỏ cuộc, chán chường. Người xưa có câu “Phá sản lớn nhất của đời người là đánh mất niềm tin”.
4. Liên hệ bản thân
Câu 2
|
Cảm nhận về ước nguyện của nhà thơ Thanh Hải trong hai khổ thơ sau: Ta làm con chim hót Một mùa xuân nho nhỏ |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
* Về hình thức: Bài văn: có 3 phần (Mở bài, Thân bài, Kết bài)
* Về nội dung: học sinh có thể trình bày theo nhiều hướng khác nhau. Dưới đây là một gợi ý:
1. Mở bài:
- “Mùa xuân nho nhỏ” (1980) là tiếng lòng tha thiết gắn bó với cuộc đời, với thiên nhiên, đất nước của nhà thơ Thanh Hải.
- Khổ bốn và khổ năm của bài thơ thể hiện khát vọng, lí tưởng sống cao đẹp của nhà thơ.
2. Thân bài
- Mùa xuân đất nước đã khơi dậy trong lòng nhà thơ những khát vọng sống tốt đẹp:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến.”
+ Điệp từ “ta làm”, lặp cấu trúc, liệt kê -> giúp tác giả bày tỏ ước nguyện được hiến dâng cuộc đời mình cho quê hương, xứ sở.
+ Các hình ảnh “con chim hót” , “một cành hoa”, “một nốt trầm”: giản dị, tự nhiên mà đẹp, thể hiện ước nguyện khiêm nhường mà đáng quý.
+ Có sự ứng đối với các hình ảnh ở đầu bài thơ -> lí tưởng cống hiến cho đời là một lẽ tự nhiên, tất yếu; gợi liên tưởng đến mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa con người – đất nước.
=> Tấm lòng thiết tha được hòa nhập, được cống hiến cho cuộc đời, cho đất nước.
- Khát vọng sống đẹp được nâng lên thành lí tưởng sống cao cả:
“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.”
+ “Mùa xuân nho nhỏ”: ẩn dụ cho những gì đẹp nhất, tinh túy nhất của cuộc đời con người để góp phần làm nên mùa xuân của đất nước. Là cách nói khiêm nhường, giản dị, gợi một tâm hồn đẹp, một lối sống đẹp, một nhân cách đẹp “lặng lẽ dâng cho đời”.
+ Điệp từ “dù là” + hình ảnh tương phản “tuổi hai mươi” – “khi tóc bạc” khẳng định sự tồn tại bền vững của những khát vọng và lí tưởng sống ấy. Cả cuộc đời mình ông vẫn muốn chắt chiu những gì tốt đẹp nhất để hiến dâng cho đời.
=> Khổ thơ là lời tổng kết của nhà thơ về cuộc đời mình. Cho đến tận cuối đời ông vẫn khát khao cống hiến cho đất nước.
3. Kết bài:
Lời thơ giản dị và dạt dào xúc động, vừa chứa chan cảm xúc, vừa đậm đà ý vị triết lí, gợi bao liên tưởng sâu xa. Hai khổ thơ thể hiện khát vọng đẹp đẽ muốn là “một mùa xuân nho nhỏ” dâng hiến cho cuộc đời của nhà thơ Thanh Hải.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
