Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình
Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình năm 2026
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
MẸ TÔI PHƠI THÓC
(1) Nắng vừa kéo tấm nhung đêm
Mẹ tôi phấp phỏng bên thềm đẫm sương
Vục từng thúng thóc ủ hương
Mẹ đem tãi cả về phương nắng bừng
(2) Tay nâng những hạt rưng rưng
Thóc hay hạt ngọc đọng từng đắng cay
Đổ ra vàng một sân đầy
Hạt căng tròn để thêm gầy mẹ tôi
(3) Tháng Năm cái nắng bỏng trời
Chân trần mẹ tãi, mẹ phơi, mẹ chờ
Chờ cho hạt gọi hạt khô
Mẹ ngồi mơ lúa đầy bồ tháng Ba
(4) Những khi mưa gió tràn qua
Bàn chân hớt hải chạy ra, chạy vào
Tay chang, tay vục nháo nhào
Trong đôi mắt mẹ tác tao bão lòng
(5) Con như hạt thóc khô cong
Gom từng giọt nắng mẹ hong lặng thầm ...
(Nguyễn Văn Song, Mẹ tôi phơi thóc, in trong Mẹ và Sen, NXB Hội Nhà văn, 2022, tr. 57-58)
* Chú thích:
- Nguyễn Văn Song sinh năm 1974 tại Hà Nội. Ông từng đạt giải B cuộc thi thơ Tuần báo Văn nghệ 2019-2020 và nhiều giải thưởng khác. Thơ của ông giản dị, mộc mạc nhưng giàu chất suy tư, chiêm nghiệm, đặc biệt là khi viết về làng quê và mẹ. Mẹ tôi phơi thóc là một trong số những bài thơ tiêu biểu của ông.
- Tãi: rải mỏng ra trên bề mặt rộng.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2. Chỉ ra những từ ngữ miêu tả hành động phơi thóc của người mẹ trong khổ thơ (1) và (2).
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong hai câu thơ sau: Con như hạt thóc khô cong Gom từng giọt nắng mẹ hong lặng thầm
Câu 4. Từ tình cảm của người con dành cho mẹ trong văn bản, em hãy nêu suy nghĩ về vai trò của tình mẫu tử trong cuộc đời mỗi người (trình bày từ 5-7 dòng).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích đoạn thơ sau:
Tay nâng những hạt rưng rưng
Thóc hay hạt ngọc đọng từng đắng cay
Đổ ra vàng một sân đầy
Hạt căng tròn để thêm gầy mẹ tôi
Câu 2. (4,0 điểm) Trong xã hội hiện nay, có một bộ phận học sinh thiếu tôn trọng nét riêng của người khác (về hoàn cảnh, ngoại hình, sở thích, tính cách...). Em hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về vấn đề trên và đề xuất những giải pháp để khắc phục.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Đếm số tiếng trong từng dòng thơ, xác định quy luật gieo vần và sự luân phiên giữa các câu để nhận diện thể thơ.
Lời giải chi tiết:
Thể thơ lục bát
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc khổ thơ (1), (2), chú ý các động từ diễn tả hành động của người mẹ trong việc phơi thóc.
Lời giải chi tiết:
Từ ngữ miêu tả hành động phơi thóc của mẹ:
Khổ (1): Vục (từng thúng thóc), đem tãi.
Khổ (2): Tay nâng, đổ ra.
Câu 3.
Phương pháp:
Xác định hình ảnh so sánh, phân tích đặc điểm được so sánh và tác dụng biểu đạt nội dung, cảm xúc.
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp so sánh: “Con” ví với “hạt thóc khô cong”
- Tác dụng:
+ Làm cho câu thơ thêm sinh động, gợi hình và giàu sức biểu cảm; tạo nên sự tương đồng đầy xúc động giữa hạt thóc của đồng ruộng và người con của mẹ.
+ Nhấn mạnh sự hy sinh thầm lặng, bền bỉ của người mẹ. Mẹ không chỉ phơi thóc, lo toan cuộc sống vật chất mà còn dùng cả cuộc đời, sự chắt chiu, nhọc nhằn (giọt nắng) để nuôi dưỡng, chở che cho con khôn lớn, trưởng thành.
+ Qua đó, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc và tình yêu thương vô bờ bến của người con dành cho mẹ.
Câu 4.
Phương pháp:
Xác định hình ảnh so sánh, phân tích đặc điểm được so sánh và tác dụng biểu đạt nội dung, cảm xúc.
Lời giải chi tiết:
Suy nghĩ về vai trò của tình mẫu tử trong cuộc sống:
- Tình mẫu tử là tình cảm yêu thương, gắn bó thiêng liêng giữa mẹ và con.
- Vai trò của tình mẫu tử:
+ Là nguồn yêu thương, che chở, nuôi dưỡng con từ khi sinh ra đến khi trưởng thành.
+ Là điểm tựa tinh thần, giúp con có thêm niềm tin, động lực vững vàng trong cuộc sống.
+ Mang lại cảm giác bình yên, hạnh phúc, tiếp thêm sức mạnh vượt qua khó khăn
+…
II. VIẾT
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn thơ, xác định nội dung và nghệ thuật tiêu biểu; phân tích hình ảnh, từ ngữ để làm nổi bật sự hi sinh của mẹ và tình cảm của người con.
Lời giải chi tiết:
* Mở đoạn:
- Giới thiệu tác giả, bài thơ và khổ thơ (2)
- Khái quát cảm nhận chung
* Thân đoạn:
- Giá trị của hạt thóc
+ Động từ "nâng" gợi sự nâng niu, trân trọng.
+ Từ láy "rưng rưng" diễn tả niềm xúc động trước những hạt thóc kết tinh bao mồ hôi, nhọc nhằn.
+ Ẩn dụ "hạt ngọc": Khẳng định giá trị quý báu của hạt thóc. Hạt thóc là kết tinh của công sức, mồ hôi và những đắng cay trong cuộc đời mẹ.
- Sự lao động vất vả của mẹ
+ Hình ảnh "vàng một sân đầy" gợi mùa màng no đủ, thành quả lao động đáng quý.
+ Nghệ thuật đối "căng tròn" và "thêm gầy":
Làm nổi bật sự hi sinh âm thầm, sự hao gầy của mẹ để đổi lấy cuộc sống đủ đầy cho gia đình.
Thể hiện niềm thương yêu, xót xa của người con dành cho mẹ
- Đặc sắc nghệ thuật:
+ Hình ảnh gần gũi, giàu sức gợi.
+ Ngôn ngữ mộc mạc, chân thành; giọng thơ giàu cảm xúc.
+ Thể thơ lục bát.
* Kết đoạn: Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của khổ thơ.
Câu 2.
Phương pháp:
Giải thích vấn đề, phân tích thực trạng – nguyên nhân – hậu quả của việc thiếu tôn trọng nét riêng của người khác; đề xuất giải pháp, kết hợp dẫn chứng, phản đề và bài học nhận thức – hành động.
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài: Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề nghị luận: thiếu tôn trọng nét riêng của người khác
2. Thân bài:
a. Giải thích:
- “Nét riêng” là những đặc điểm khác biệt của mỗi người về hoàn cảnh gia đình, ngoại hình, tính cách, năng lực, sở thích, phong cách sống,...
- Thực trạng việc “Thiếu tôn trọng nét riêng của người khác”: thể hiện qua một số hành vi
+ Chê bai ngoại hình, hoàn cảnh.
+ Kỳ thị, chế giễu sở thích hay cá tính của người khác.
+ Áp đặt suy nghĩ cá nhân, không chấp nhận sự khác biệt.
b. Phân tích + Chứng minh
- Nguyên nhân chủ quan
+ Thiếu sự đồng cảm, thiếu kỹ năng ứng xử.
+ Muốn thể hiện bản thân, gây chú ý trước tập thể.
+ Suy nghĩ non nớt, chưa nhận thức được hậu quả lời nói và hành động.
- Nguyên nhân khách quan
+ Ảnh hưởng từ mạng xã hội và những nội dung tiêu cực.
+ Gia đình, nhà trường chưa chú trọng giáo dục sự tôn trọng và lòng nhân ái.
- Hậu quả:
+ Với người bị thiếu tôn trọng:
- Tổn thương tinh thần, tự ti, thu mình lại, không dám thể hiện bản thân, từ bỏ đam mê, cá tính riêng
- Có thể dẫn đến trầm cảm, rối loạn tâm lý, thậm chí các hệ quả nghiêm trọng hơn
+ Gây mất đoàn kết trong tập thể lớp, trường học.
+ Tạo ra môi trường học đường thiếu lành mạnh, kìm hãm sáng tạo
Học sinh lựa chọn và sử dụng các dẫn chứng phù hợp
c. Bình luận: Đưa ra bài học nhận thức, hành động (Giải pháp)
- Đối với học sinh:
+ Học cách lắng nghe, đồng cảm và tôn trọng sự khác biệt.
+ Không chê bai, xúc phạm người khác bằng lời nói hay hành động.
+ Biết bảo vệ và động viên những bạn bị chế giễu.
- Đối với gia đình:
+ Dạy con lòng nhân ái, sự tử tế từ nhỏ.
+ Quan tâm đến tâm lý và cách ứng xử của con.
- Đối với nhà trường và xã hội:
+ Lan tỏa những thông điệp tích cực về sự tôn trọng và yêu thương.
+ Tăng cường giáo dục đạo đức, kỹ năng sống.
+ Xây dựng môi trường học đường thân thiện, tôn trọng sự khác biệt.
+ Kịp thời nhắc nhở, xử lí các hành vi bắt nạt, xúc phạm bạn bè.
- Mở rộng và liên hệ bản thân
3. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận
Câu 1.
Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình năm 2025
Đề thi
PHẦN I. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
(Tóm tắt cốt truyện: Tân sinh ra trong một gia đình khá giả ở nông thôn. Vì muốn con có cuộc sống sau này tốt hơn, cha mẹ đã gửi Tân đến ở nhà ông chú trên Hà Nội ngay từ khi còn nhỏ tuổi. Tân hết sức chăm học nên năm mười tám tuổi đã tìm được công việc tốt tại thành phố. Tuy nhiên, gặp thời buổi kinh tế khó khăn, Tân bị mất việc làm, phải sống lang thang, vất vưởng mấy tháng trời. Trong tâm trạng chán nản, thất vọng lại thêm nỗi buồn cha mất, mẹ một mình trông nom ruộng nương không xuế, Tân quyết định về quê và bắt đầu cuộc sống mới của một người dân quê).
Đoạn trích sau tái hiện một ngày lao động của Tân ở quê hương.
[...] Chăm chú vào công việc làm, Tân không để ý gì đến cảnh vật chung quanh. Chàng cũng không thấy mệt nữa, tuy ánh nắng chiếu trên lưng nóng rát, và mồ hôi từng giọt rỏ trên trán xuống. Tân chú ý đưa cải hái cho nhanh nhẹn; mỗi lần bông lúa rung động chạm vào mặt, vào người, mùi lúa chín thơm lại phảng phất lẫn với mùi rạ ướt mới cắt. Mùi thơm đó làm chàng say sưa như men rượu. Tân lại cố hết sức gặt, chỉ lo không theo kịp hàng những người thợ khác
Buổi sáng, khi Tân ngỏ ý muốn cầm hải xuống gặt, bọn thợ hái chàng mượn đã mấy hôm nay đều trông chàng mà cười. Một cô gái trong bọn, cặp mắt đen nhí nhảnh dưới vành khăn vuông che kín đầu, nói đùa:
- Ông để mặc chúng tôi, bộ ông thế kia thì gặt được độ ba nẹn lúa.
Mọi người vui vẻ cười làm Tân cũng cười theo.
[...] Tân tiếc hồi thuở nhỏ không ở thôn quê để được gần gui với cảnh vật, chàng thích sống bên cạnh những người nhà quê chất phác và mộc mạc. Bây giờ chàng mới biết đến trời đất, đến thời tiết, đến sự thay đổi của mùa nọ sang mùa kia. Một cơn gió hay một cái mầm cỏ non, đối với chàng đều có ý nghĩa riêng.
Tân không dừng dưng như trước với những cái chung quanh mình. Tâm hồn chàng có Viên lạc và rung động cùng với những cảnh vật, chàng có cải cảm giác rằng mình sống.
Buổi chiều, thửa ruộng của Tân đã gặt xong. Cả một cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ. Bọn thợ gặt đều thu xếp liềm hải để trở về. Trên con đường vào làng, các lực điền gánh những gánh lúa vàng nặng trĩu.
Mặt trời đã xế phía bên kia đồi. Ở dưới thung lũng, sương mù lạnh trắng xoá lan ra, lẫn với làn khói toả ở chung quanh các làng. Cỏ bên đường đi đã ướt. Về phía xa có ngọn lửa của ai đốt trên sườn rặng núi mờ ở chân trời.
Tân với bọn thợ bước đều trở về nhà, ai nấy yên lặng không nói gì, như cùng kính trọng cái thời khắc của một ngày tàn. Trong cải giờ khắc này, Tân như thấy cảnh vật đều có một tâm hồn, mà lớp sương mù kia là tâm hồn của đất mầu đã nuôi hạt thóc cần cho sự sống của loài người...
(Trích: Những ngày mới, Thạch Lam tuyển tập, NXB Văn học, 2012, tr.189 - 194)
Thực hiện các yêu cầu/Trả lời câu hỏi:
Câu 1 (1,0 điểm). Nêu cơ sở xác định ngôi kể của người kể chuyện trong đoạn trích trên.
Câu 2 (1,0 điểm). Chỉ ra lời nhân vật và lời người kể chuyện qua các câu văn sau:
Buổi sáng, khi Tân ngỏ ý muốn cầm hải xuống gặt, bọn thợ hái chàng mượn đã mấy hôm nay đều trông chàng mà cười. Một cô gái trong bọn, cặp mắt đen nhí nhảnh dưới vành khăn vuông che kín đầu, nói đùa:
- Ông để mặc chúng tôi, bộ ông thế kia thì gặt được độ ba nẹn lủa.
Mọi người vui vẻ cười làm Tân cũng cười theo.
Câu 3 (1,0 điểm). Việc sử dụng biện pháp tu từ điệp từ trong các câu văn dưới đây có tác dụng gì?
Tân chú ý đưa cái hải cho nhanh nhẹn; mỗi lần bông lúa rung động chạm vào mặt, vào người, mùi lúa chín thơm lại phảng phất lẫn với mùi rạ ướt mới cắt. Mùi thơm đó làm chàng say sưa như men rượu.
Câu 4 (1,0 điểm). Từ tình cảm của Tân khi trở về quê hương, em có suy nghĩ gì về vai trò của quê hương đối với cuộc đời của mỗi người? (Trả lời trong khoảng từ 5 đến 7 dòng).
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Tân trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Sách là người thầy vĩ đại của con người. Tuy nhiên, xã hội hiện đại với sự phát triển của nhiều hình thức, phương tiện giải trí đã khiến cho một bộ phận học sinh ít đọc sách, mất dần thói quen đọc sách. Hãy viết một bài văn (khoảng 500 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vấn đề trên và đề xuất một số giải pháp để học sinh có thói quen đọc sách.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
- Xác định người kể chuyện xưng hô như thế nào (tôi, ta hay gọi tên nhân vật).
- Xem người kể đứng trong hay ngoài câu chuyện.
Lời giải chi tiết:
Người kể chuyện đứng ngoài câu chuyện, quan sát và kể lại câu chuyện là căn cứ để xác định ngôi kể thứ 3.
Câu 2.
Phương pháp:
Quan sát dấu gạch đầu dòng hoặc lời đối thoại để xác định lời nhân vật.
Lời giải chi tiết:
Lời nhân vật: Ông để mặc chúng tôi, bộ ông thế kia thì gặp được độ ba nẹn lúa.
Lời người kể chuyện: Buổi sáng, khi Tân ngỏ ý muốn cầm hái xuống gặt, bọn thợ hái chàng mượn đã mấy hôm nay đều trông chàng mà cười. Một cô gái trong bọn, cặp mắt đen nhí nhảnh dưới vành khăn vuông che kín đầu, nói đùa; Mọi người vui vẻ cười làm Tân cũng cười theo.
Câu 3.
Phương pháp:
- Xác định từ/cụm từ được lặp lại.
- Nêu tác dụng về nhịp điệu, nhấn mạnh nội dung và tình cảm nhân vật.
Lời giải chi tiết:
Tác dụng điệp ngữ:
- Tạo nhịp điệu cho câu văn.
- Nhấn mạnh cảm giác say sưa, ngây ngất của Tân trước hương lúa chín và mùi rạ mới cắt trên đồng quê.
- Qua đó, thể hiện sự gắn bó, yêu mến của Tân với công việc và thiên nhiên làng quê.
Câu 4.
Phương pháp:
- Nêu vai trò của quê hương với con người.
- Liên hệ từ tình cảm của Tân để rút ra suy nghĩ.
- Khẳng định trách nhiệm của bản thân.
Lời giải chi tiết:
Vai trò quê hương với mỗi người:
- Quê hương là nơi chôn nhau cắt rốn, nuôi dưỡng tuổi thơ và hình thành tâm hồn mỗi con người.
- Quê hương là chốn bình yên để trở về khi gặp khó khăn, mất phương hướng trong cuộc sống.
- Nó không chỉ là nơi giúp ta hồi sinh tâm hồn mà còn tiếp thêm nghị lực, niềm tin để tiếp tục vững bước trên con đường đời.
- …
II. VIẾT
Câu 1.
Phương pháp:
- Xác định yêu cầu đề: phân tích nhân vật Tân trong đoạn trích.
- Giới thiệu khái quát nhân vật.
- Phân tích hoàn cảnh, tính cách, diễn biến tâm trạng và sự thay đổi của nhân vật qua chi tiết tiêu biểu.
- Nhận xét nghệ thuật xây dựng nhân vật.
- Khái quát ý nghĩa nhân vật.
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn:
Giới thiệu truyện ngắn Những ngày mới của Thạch Lam và đoạn trích.
Khái quát nhân vật Tân — một thanh niên thành thị trở về quê làm ruộng và cảm nhận được vẻ đẹp giản dị, bình yên của cuộc sống nông thôn.
2. Thân đoạn
- Hoàn cảnh nhân vật:
+ Tân sinh ra trong một gia đình khá giả ở quê nhưng được gửi lên thành phố từ nhỏ.
+ Từng có công việc tốt nhưng vì thời buổi khó khăn, thất nghiệp, lại thêm biến cố gia đình nên quyết định trở về quê sinh sống.
- Diễn biến tâm trạng và tính cách nhân vật Tân qua đoạn trích:
+ Ban đầu: Chăm chú vào công việc, quên cả mệt nhọc, ánh nắng, mồ hôi. Cố gắng làm việc chăm chỉ để theo kịp những người thợ gặt khác.
+ Trong công việc: Tinh thần say mê, yêu thích công việc lao động chân tay nơi đồng ruộng: Cảm nhận được mùi thơm của lúa chín, mùi rạ mới cắt, say sưa như men rượu.
- Tân vui vẻ, hòa đồng, dần hòa nhập với cuộc sống làng quê.
- Tâm hồn thay đổi:
+ Tiếc nuối vì thuở nhỏ không được sống ở quê.
+ Bắt đầu yêu thích thiên nhiên, nhận biết rõ sự thay đổi của đất trời, cảm nhận từng ngọn gió, cái mầm non, lớp sương mù…
+ Từ chỗ dửng dưng với cuộc sống quanh mình, Tân trở nên rung động, hòa vào nhịp sống của làng quê.
=> Cảm nhận được vẻ đẹp và tâm hồn của cảnh vật đồng quê.
- Nghệ thuật:
+ Thạch Lam sử dụng ngôi kể thứ ba, lời văn nhẹ nhàng, giàu chất trữ tình, miêu tả tinh tế tâm trạng nhân vật.
+ Sử dụng biện pháp tu từ điệp từ, so sánh sinh động để khắc họa sự thay đổi trong tâm hồn Tân.
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Câu 2.
Phương pháp:
- Xác định vấn đề nghị luận: thực trạng học sinh ít đọc sách trong xã hội hiện đại.
- Triển khai đúng bố cục nghị luận xã hội: giải thích → thực trạng → nguyên nhân → hậu quả → giải pháp → bài học nhận thức và hành động.
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
2. Thân bài:
* Giải thích vấn đề:
- Sách là phương tiện lưu giữ, truyền tải tri thức, kinh nghiệm sống và giá trị nhân văn từ đời này sang đời khác.
- Sách được coi là người thầy vĩ đại của con người vì đã cung cấp tri thức ở mọi lĩnh vực: văn hóa, lịch sử, khoa học, kỹ năng sống… Giúp con người rèn luyện tư duy, mở rộng tầm hiểu biết, bồi dưỡng tâm hồn và nhân cách.
* Thực trạng thói quen đọc sách của học sinh hiện nay:
- Một bộ phận học sinh có thói quen đọc sách tích cực, biết lựa chọn sách hay để học hỏi.
- Tuy nhiên, nhiều học sinh đang dần ít đọc sách hoặc chỉ đọc sách phục vụ mục đích học tập trước mắt. Tình trạng ham mê các thiết bị điện tử (điện thoại, game online, mạng xã hội, video ngắn…) chiếm phần lớn thời gian giải trí của học sinh. Thói quen đọc sách truyền thống dần bị lãng quên, nhiều thư viện, tủ sách lớp học trở nên vắng vẻ.
* Hậu quả của việc ít đọc sách:
- Hạn chế vốn từ, khả năng diễn đạt và tư duy ngôn ngữ.
- Thiếu hụt kiến thức nền tảng về xã hội, lịch sử, khoa học…
- Tâm hồn nghèo nàn, khả năng sáng tạo kém, lối sống bị lệ thuộc vào thiết bị điện tử.
- Dễ bị chi phối bởi các nội dung giải trí không lành mạnh.
* Nguyên nhân:
- Do sức hút mạnh mẽ từ các phương tiện công nghệ số, mạng xã hội, trò chơi điện tử.
- Do thói quen, ý thức tự học và yêu sách của học sinh chưa cao.
-
* Giải pháp khắc phục:
- Với bản thân học sinh:
+ Tự nhận thức được vai trò, lợi ích của việc đọc sách.
+ Dành thời gian mỗi ngày hoặc mỗi tuần để đọc sách, chọn sách phù hợp với sở thích và lứa tuổi.
+ Tham gia các câu lạc bộ đọc sách, diễn đàn, nhóm thảo luận về sách.
- Với gia đình:
+ Khuyến khích, tạo điều kiện cho con em tiếp cận với sách từ nhỏ.
+ Cùng con đọc sách, kể chuyện, chia sẻ những cuốn sách hay.
- Với nhà trường và xã hội:
+ Tổ chức các hoạt động ngoại khóa, cuộc thi kể chuyện, giới thiệu sách, ngày hội đọc sách…
+ Đầu tư xây dựng, bổ sung sách mới cho thư viện trường học.
+ Tuyên truyền, giáo dục ý thức yêu sách và giá trị của sách.
HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận
Đề thi minh hoạ vào 10 môn Văn Ninh Bình năm 2025 - Đề số 1
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc văn bản sau:
LẼ SỐNG CỦA THANH NIÊN, SINH VIÊN
(1) Đỉnh núi cao không dành cho những người hèn nhát và lười vận động, đỉnh tri thức không có chỗ cho kẻ chỉ rong chơi. Nếu không có sự miệt mài, tìm tòi khám phá và dốc lòng cho những đam mê thì làm sao có một Edison vĩ đại và bóng đèn chiếu sáng hôm nay. Đi đến tận cùng đam mê là điều không dễ, vì có lúc tuổi trẻ nóng vội, khao khát nhanh chóng thành công nên vội vàng đốt cháy giai đoạn khiến những dự định trở thành dang dở. Giữ được lửa nhiệt huyết trong tâm hồn và kiên trì trong ý nghĩ đúng là điều rất quan trọng. Nếu cháy bùng lên rồi vụt tắt thì đó chỉ là một ảnh sao băng giữa thiên hà vô tận.
(2) Đừng sợ! Nỗi sợ hãi sẽ giết chết mọi manh nha của bao ý nghĩ táo bạo, và sợ hãi sẽ là ngục tù của trí tuệ. Khi cái đầu vẫn bị đóng khung trong giới hạn thì ý tưởng có chăng cũng chỉ dừng lại những cái đã có rồi. Tự do chỉ có được khi nắm được và dự báo được quy luật, ý tưởng tốt đẹp phải được nảy mầm từ những khát khao chính đáng, mọi mơ hồ cùng lắm là ánh trăng suông. Nếu mải miết trên đất liền và lo cuồng phong, bão tố thì làm sao Chiristopher Columbus có cuộc phiêu lưu để tìm ra châu Mĩ bao la?
(3) Đất mãi mãi là đất, rừng mãi mãi là rừng, biển cả bao la vẫn quanh năm sóng vỗ, phố xá vẫn quen từng bước chân về. Ta nghĩ gì và làm gì trên đất, ta nghĩ gì để rừng mãi xanh tươi, ta nghĩ gì để biển khơi không chỉ đem về tôm cá mà cả những vần thơ làm dịu mát tâm hồn? Vẫn là đất, vẫn là rừng, vẫn là biển cả, vẫn là phố xưa nhưng no ấm đủ đầy? Phải làm sao? Các bạn hãy dành nhiều thời gian để nghĩ về điều đó và ra tay vì năm tháng chẳng đợi chờ, tuổi xuân trôi qua nhanh lắm.
(Trích Những lời chia sẻ, Nguyễn Văn Minh, NXB Đại học Sư phạm, 2023, tr.239-240)
Trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1. Theo tác giả, nỗi sợ hãi có tác hại gì?
Câu 2. Để tăng sức thuyết phục cho lập luận, tác giả đã đưa ra những dẫn chứng nào?
Câu 3. Những câu hỏi tu từ được sử dụng trong đoạn văn (3) có tác dụng gì?
Câu 4. Theo em, thế hệ trẻ cần làm gì để tạo dựng một cuộc sống no ấm đủ đầy cho bản thân và có đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bảy suy nghĩ của em về sự cần thiết của suy nghĩ tích cực đối với tuổi trẻ trong cuộc sống hiện nay.
Câu 2. (4,0 điểm) Viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ), phân tích chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ sau:
Nhà em ở lưng đồi,
Nơi chim rừng thánh thót,
Bầu trời xanh dịu ngọt,
Gió tràn về mênh mang.
Nhà em giữa nắng vàng,
Con suối tràn bờ đá,
Hương rừng thơm mùa hạ
Đường chiều về quanh co.
Nhà em ở lưng đồi,
Mẹ cười bên nương ngô,
Mừng năm nay được mùa,
Theo tiếng khèn xuống phố (hớ ơ ờ ơ).
Nhà em ở nơi đó,
Theo cha bẫy gà rừng,
Cùng lũ bạn tới trường,
Tuổi thơ xanh vời vợi.
Nhà em ở nơi đó,
Hoa nở trắng cánh rừng,
Bầy ong theo mùi hương,
Về bên kia khe núi.
Nhà em ở nơi đó,
Chập chờn những giấc mơ,
Nơi dâng trào thương nhớ,
Em về nơi lưng đồi.
Chú thích:
- Tác giả: Nhà thơ Lê Tự Minh sinh năm 1959 tại Nghệ An, quê Thừa Thiên Huế. Từng sinh sống và học tập ở Liên bang Nga. Hiện ông sinh sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh. Lê Tự Minh sáng tác thơ và dịch lời cho nhạc nước ngoài. Ông được biết đến không chỉ với những bài thơ giàu nhạc tính mà còn bởi những bài hát đậm chất thơ. Tác phẩm của ông là sự trang trải nỗi lòng, chứa đựng tình cảm đối với gia đình, bạn bè, đồng đội và rộng hơn là tình yêu Tổ quốc Việt Nam và tình yêu nước Nga.
- Bài thơ Nhà em ở lưng đồi viết năm 1980, sau đó được nhạc sĩ Đức Trịnh phổ nhạc thành bài hát cùng tên.
----------HẾT----------
Lời giải chi tiết
HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT
THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN trithuchub.com
Phần I. Đọc hiểu
Câu 1.
Phương pháp:
Căn cứ bài đọc hiểu, phân tích.
Cách giải:
- Tác hại: Nỗi sợ hãi sẽ giết chết mọi manh nha của bao ý nghĩ táo bạo, và sợ hãi sẽ là ngục tù của trí tuệ. Khi cái đầu vẫn bị đóng khung trong giới hạn thì ý tưởng có chăng cũng chỉ dừng lại những cái đã có rồi.
Câu 2.
Phương pháp:
Căn cứ nội dung bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
- Các dẫn chứng được sử dụng: Edison, Chiristopher Columbus
Câu 3.
Phương pháp:
Căn cứ bài câu hỏi tu từ, phân tích.
Cách giải:
- Câu hỏi tu từ: Ta nghĩ gì và làm gì trên đất, ta nghĩ gì để rừng mãi xanh tươi, ta nghĩ gì để biển khơi không chỉ đem về tôm cá mà cả những vần thơ làm dịu mát tâm hồn? Vẫn là đất, vẫn là rừng, vẫn là biển cả, vẫn là phố xưa nhưng no ấm đủ đầy? Phải làm sao?
- Tác dụng:
+ Tạo nên nhịp điệu, lời nhắn gửi đầy thiết tha đến với thế hệ trẻ hãy suy nghĩ và hành động.
+ Nhấn mạnh để thành công ta không được lười biếng mà phải có suy nghĩ và hành động thiết thực để biến mọi khát khao thành hiện thực.
Câu 4.
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
HS đưa ra hành động phù hợp.
Gợi ý:
- Có phương hướng, mục tiêu rõ ràng.
- Luôn phấn đấu, không chùn bước trước những khó khăn để đạt mục tiêu mình đã đề ra.
- Trau dồi tri thức.
- …
Phần II. Làm văn
Câu 1.
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
Bài viết có thể triển khai theo nhiều cách, sau đây là gợi ý của Ban chuyên môn Tuyensinh247.com
Yêu cầu chung:
- Đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ, đầy đủ ba phần mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn.
- Nội dung: sự cần thiết của suy nghĩ tích cực đối với giới trẻ trong cuộc sống hiện nay.
Yêu cầu cụ thể:
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề: sự cần thiết của suy nghĩ tích cực đối với giới trẻ trong cuộc sống hiện nay.
2. Thân đoạn:
- Sự cần thiết của suy nghĩ tích cực đối với bản thân mỗi người trong cuộc sống: Suy nghĩ tích cực là nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng, mọi vấn đề theo chiều hướng lạc quan tin tưởng, luôn nghĩ tới những điều tốt đẹp, tích cực trong bất kì tình huống nào.
- Suy nghĩ tích cực sẽ giúp ta định hướng được những hành động đúng đắn, tháo gỡ được những khó khăn, thử thách; biết đứng dậy sau những vấp ngã, thất bại; giải tỏa được những căng thẳng, stress trong cuộc sống.
- Có suy nghĩ tích cực ta sẽ phát huy được những thế mạnh, khắc phục được những điểm yếu; biết lạc quan, tin tưởng vào những điều tốt đẹp ở phía trước, từ đó có thêm động lực để cống hiến hết sức mình cho công việc và gặt hái thành công.
HS lấy dẫn chứng minh họa phù hợp.
- Phê phán thái độ sống bi quan, chán nản, luôn suy nghĩ tiêu cực; hay chỉ nhìn đời qua lăng kính màu hồng, ảo tưởng, lạc quan tếu.
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề.
Câu 2.
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
Bài viết có thể triển khai theo nhiều cách, sau đây là gợi ý của Ban chuyên môn Tuyensinh247.com
1. Mở bài: Giới thiệu khái quát vấn đề nghị luận: chủ đề và nghệ thuật trong bài “Nhà em ở lưng đồi”.
2. Thân bài:
- Chủ đề của văn bản: tình yêu quê hương, bản làng.
- Nghệ thuật:
+ Thể thơ 5 chữ giàu nhịp điệu.
+ Ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh.
+ Sử dụng đa dạng các biện pháp tu từ: điệp ngữ, ẩn dụ, liệt kê, …
+ ..
=> Qua đó thể hiện tình yêu quê hương; em lớn lên giữa núi đồi, giữa tình yêu thương của cha mẹ.
3. Kết luận: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Đề thi minh hoạ vào 10 môn Văn Ninh Bình năm 2025 - Đề số 2
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc văn bản sau:
ÔNG NỘI VÀ ÔNG NGOẠI
(Lược một đoạn: Minh sống với bố mẹ và ông nội ở Hà Nội. Minh rất gần gũi và yêu ông nội, không hề biết gì về ông ngoại vì ông ngoại đi từ ngày mẹ Minh còn rất bé. Ông vào Nam làm ăn, rồi đất nước chia cắt, ông ngoại không về nữa. Bao nhiêu năm bặt tin, mãi tới khi Sài Gòn giải phóng, có người từ Nam ra, cầm thư của ông ngoại đến cho mẹ, mẹ mới biết là ông còn ở Sài Gòn. Hai mẹ con Minh sửa soạn lên đường vào Sài Gòn gặp ông ngoại. Vào đến nơi, Minh thấy ông ngoại đã già yếu và sống rất nghèo khổ. Ông rất yêu thương Minh nhưng Minh vẫn thấy xa cách với ông).
Lại nói đến cái món đồ chơi của ông ngoại cho nữa chứ! Đó là cái xe gíp bằng sắt, có hai súng máy lắp đá lửa ở trên xe, khi vặn khóa rồi thả cho xe chạy, thì hai khẩu súng bắn ra những tia lửa nhỏ xíu. Minh cũng thích chiếc xe này đấy, nhưng giả thử nó mới thì thích hơn nhiều.
Đằng này xe lại cũ quá rồi, lắm chỗ đã bong lớp mạ trắng và bắt đầu gỉ.
- Sao ông bảo yêu con mà lại cho con một cái xe cũ như thế nhỉ? - Có lần Minh hỏi mẹ như vậy với một giọng trách móc ông ngoại.
- Này, con đừng có nói thế, ông không yêu con sao ông toàn nhường thịt, cá cho con ăn thôi.
- Ông chả bảo với mẹ là ông thích ăn cà. Với lại ông bảo ông thích ăn đầu cá vì bao nhiêu mắm muối nó ngấm cả vào đó là gì.
- Con chả hiểu gì về ông cả.
(Lược một đoạn: Thấy mẹ mắng và mắt mẹ đỏ hoe, Minh dần hiểu và không dám gây chuyện nữa)
Ban đêm ông bảo Minh nằm với ông cho vui. Giường ông rộng, nhưng miếng đệm mút lại hẹp và mỏng chỉ trải vừa một người nằm. Ông gối một bọc quần áo rách. Chăn màn ông vàng khè và hôi hám. Ông để Minh nằm lên miếng đệm, còn ông nằm ra ngoài chiếu, sát trong tường.
- Sao ông không nằm đệm? - Minh rụt rè hỏi.
- À, vì ông thích nằm chiếu cho mát. Khí hậu trong này nóng bức lắm. Cháu ngủ đi.
Ông nói vậy rồi hai ông cháu im lặng. Hình như ông cũng không ngủ được…
Đã sắp hết một tháng kể từ ngày mẹ con Minh vào thăm ông ngoại. Mẹ bảo sắp hết phép, phải về, Minh cũng thấy nhơ nhớ ông ngoại.
Ông ngoại tiễn mẹ con Minh ra bến xe, trước khi mẹ con Minh lên xe, ông rút cái bút máy trong túi áo ra đưa cho Minh và nói:
- Ông chỉ còn cái bút này quý nhất ông cho cháu, cháu giữ lấy để viết thư cho ông. Ông già rồi, chả biết chết lúc nào, dùng cái bút này nó phí đi!
Đó là cái bút Pi-lôt nắp mạ vàng, bút đã cũ lắm rồi, màu nắp đã bạc và sây sát cả.
- Cái xe gíp ông cho cháu ấy, ông cũng đã để dành từ lâu rồi, từ khi nghe tin mẹ cháu đẻ con trai, ông đã mua cái xe ấy, nhưng chả biết nhờ ai gửi cho cháu được, ông vẫn để chờ cháu đấy.
Bây giờ Minh mới hiểu ra là tại sao cái xe gíp ấy nó lại cũ. Minh còn hiểu thêm là ông rất nghèo. Trước kia ông làm người giữ sách ở thư viện Sài Gòn, nhưng rồi sau ông bị ho lao, ba năm trời nằm trong bệnh viện làm phúc, chả có ai chăm sóc. Bây giờ ông già yếu quá rồi, chỉ quanh quẩn bán dần đồ đạc trong nhà để sống tạm. Ông sống có một mình, bà trẻ của ông đã bỏ khi ông ốm đau…
Khi xe sắp chạy, cả mẹ và ông đều rân rấn nước mắt. Mẹ bảo:
- Thôi ông về, trời sắp mưa rồi kìa. Sang năm con lại cho cháu vào thăm ông. Nhưng ông ngoại vẫn đứng đó. Xe bắt đầu chuyển bánh, trời đổ cơn mưa. Minh thấy ông giương cái ô đen. Ông đứng lẫn giữa bao nhiêu người và xe cộ. Xe chạy xa dần, rồi quặt vào một góc phố. Minh chỉ còn thấy chiếc ô đen giơ lên cao rồi khuất hẳn. Minh quay sang nhìn mẹ. Mẹ im lặng, nước mắt giàn dụa. Minh cũng nghẹn ngào muốn khóc. Thương ông ngoại quá đi mất! Bây giờ ông lại về một mình với căn phòng hẹp, với chăn màn cũ.
Minh thấy thương cả cái ô đen vừa khuất sau góc phố.
- Mẹ ơi, thế bây giờ ai nuôi ông?
- Bác con, bác con sắp chuyển công tác vào trong này để nuôi ông ngoại.
- Bao giờ con lớn con cũng nuôi ông ngoại. - Minh nói đến đấy rồi rúc đầu vào lòng mẹ khóc thút thít.
(Những truyện hay viết cho thiếu nhi, Xuân Quỳnh, NXB Kim Đồng, 2023, tr.35-45)
Chú thích: Xuân Quỳnh (1942 - 1988), tên đầy đủ là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, không chỉ là một nhà thơ nữ trữ tình nổi tiếng của thơ ca Việt Nam hiện đại, Xuân Quỳnh còn là cây bút có duyên trong những truyện ngắn cho thiếu nhi. Truyện viết cho thiếu nhi của chị vừa giản dị, gần gũi với cuộc sống, vừa sâu sắc, chan chứa tình người, vô cùng trong trẻo, thuần khiết, giàu chất nhân văn.
Truyện ngắn “Ông nội và ông ngoại” là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Xuân Quỳnh viết cho thiếu nhi.
Trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1. Trong văn bản trên, nhân vật ông ngoại đã có những hành động nào thể hiện sự yêu thương, quý mến Minh?
Câu 2. Trong các câu văn sau câu nào là câu rút gọn?
Minh quay sang nhìn mẹ. Mẹ im lặng, nước mắt giàn dụa. Minh cũng nghẹn ngào muốn khóc. Thương ông ngoại quá đi mất!
Câu 3. Trong văn bản trên, tại sao mẹ lại nói với Minh rằng: Con chả hiểu gì về ông cả?
Câu 4. Trong cuộc sống, có lúc em sẽ nhận được món quà từ người khác nhưng bản thân không thực sự thích thú giống như Minh nhận chiếc xe gíp, chiếc bút Pi-lôt nắp mạ vàng từ ông ngoại. Em sẽ ứng xử như thế nào trong những tình huống ấy? Vì sao?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tình cảm của Minh đối với ông ngoại trong truyện Ông nội và ông ngoại (Xuân Quỳnh).
Câu 2. (4,0 điểm)

Bức hình trên cho thấy hiện tượng nở rộ các trang mạng xã hội hiện nay. Làm thế nào để sử dụng những mạng xã hội này một cách hiệu quả? Em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) bày tỏ suy nghĩ của mình về vấn đề trên
----------HẾT----------
Lời giải chi tiết
HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT
THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN trithuchub.com
Phần I. Đọc hiểu
Câu 1.
Phương pháp:
Căn cứ bài đọc hiểu, phân tích.
Cách giải:
- Hành động thể hiện tình yêu thương của ông với Minh:
+ Mua cho Minh một chiếc xe ngay từ khi biết Minh mới chào đời, vẫn giữ dù không gửi được cho Minh.
+ Nhường thịt, cá ngon cho Minh.
+ Nhường tấm nệm cho Minh.
+ Đưa cho Minh chiếc bút mà ông quý nhất.
Câu 2.
Phương pháp:
Căn cứ bài câu rút gọn.
Cách giải:
- Câu rút gọn: Thương ông ngoại quá đi mất! => Rút gọn chủ ngữ.
Câu 3.
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
- “Mẹ lại nói với Minh rằng: Con chả hiểu gì về ông cả?” vì Minh tin những lời ông nói là thật “ông không thích ăn cá, ăn thịt”, ông chỉ thích ăn cà, ăn đầu cá. Ông nói vậy không phải ông không thích ăn thịt mà ông yêu quý Minh nên muốn nhường hết đồ ăn ngon cho Minh. Nhưng Minh còn nhỏ, chưa tinh tế để nhận ra tình yêu thương ông dành cho mình.
Câu 4.
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
HS đưa ra ứng xử và có lí giải phù hợp.
Phần II. Làm văn
Câu 1.
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
Bài viết có thể triển khai theo nhiều cách, sau đây là gợi ý của Ban chuyên môn Tuyensinh247.com
Yêu cầu chung:
- Đoạn văn nghị luận văn học khoảng 200 chữ, đầy đủ ba phần mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn.
- Nội dung: tình cảm của Minh đối với ông ngoại.
Yêu cầu cụ thể:
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề: tình cảm của Minh đối với ông ngoại.
2. Thân đoạn:
- Ban đầu: Không thân thiết, gần gũi với ông vì thấy ông sống rất nghèo khổ, nhà của nhỏ, chăn ố vàng, hôi hám, đệm nhỏ xíu chỉ vừa một người nằm.
- Sau đó có sự thay đổi khi hiểu ra tình yêu của ông dành cho mình:
+ Ông để dành cho Minh chiếc ô tô.
+ Để lại những món ngon nhất.
+ Nhường cho Minh chiếc nệm.
+ Tặng Minh chiếc bút ông yêu quý nhất.
=> Minh dần hiểu ra cuộc sống ông cô độc, vất vả; Ông cũng rất yêu thương mình, bởi vậy trong minh đã có sự chuyển biến: từ thờ ơ đến yêu quý, thương ông sống một mình vất vả. Thậm chí Minh còn nói với mẹ sau này Minh lớn lên sẽ nuôi ông.
=> Sự chuyển biến đó cho thấy Minh là một cậu bé giàu tình cảm, có trách nhiệm.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu; …
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề.
Câu 2.
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
Bài viết có thể triển khai theo nhiều cách, sau đây là gợi ý của Ban chuyên môn Tuyensinh247.com
1. Mở bài: Giới thiệu khái quát vấn đề nghị luận: Làm thế nào để sử dụng những mạng xã hội này một cách hiệu quả?
2. Thân bài:
- Thực trạng:
+ Mạng xã hội mang đến điều tích cực: kết nối bạn bè, học tập, giải trí, …
+ Tuy nhiên mạng xã hội cũng là con dao hai lưỡi, có không ít nguy hiểm: lừa đảo, tốn thời gian, khiến con người khép kín, ngại giao tiếp, …
- Làm thế nào để sử dụng mạng xã hội hiệu quả:
+ Bảo mật thông tin cá nhân.
+ Suy nghĩ kĩ trước khi đăng bài, bình luận, … bất cứ điều gì.
+ Ứng xử văn minh, lịch sử.
+ Cẩn thận trước các chiêu trò lừa đảo.
+ …
HS lấy dẫn chứng minh họa phù hợp.
- Liên hệ bản thân.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề.
Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình năm 2023
Đề bài
Phần I. Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu:
Đời sống là phải có sự nương tựa qua lại, vì bản chất của mọi sự vật trên thế gian này vốn không thể tồn tại riêng biệt. Trong những bước đầu bỡ ngỡ, hoặc khi gặp những nghịch cảnh lớn lao mà bản thân ta không đủ sức chống chọi, thì sự hỗ trợ hết lòng và hợp lý của những đối tượng xung quanh luôn là nhu cầu rất thiết yếu. Nó sẽ tiếp thêm sức mạnh và niềm tin cho ta ổn định và đi tới. Nhưng nếu cảm xúc tốt từ sự nương tựa ấy cứ lặp đi lặp lại nhiều lần, nó sẽ hình thành trong ta thói quen khiến ta không thể nào buông bỏ được hoặc ta cũng không hề có ý thức buông bỏ. Ta đã rơi vào tình trạng "nghiện cảm xúc". Thiếu cảm xúc ấy ta luôn thấy chới với và bất an. Tình trạng này chính là sự dựa dẫm
[….] Bản thân ta cũng có thể tìm thấy hạnh phúc bằng chính những kĩ năng đã được rèn luyện của mình. Nhưng từ khi cuộc đời tạo ra quá nhiều “cây đèn” tiện nghi vật chất và tinh thần, ta sẽ mê mẩn và bám chặt vào chúng. Ta dành hết thời gian, nặng lực để sắm sửa và nâng niu chúng. Ta tức giận hay thù nghịch nhau cũng vì chúng. Ta loanh quanh hết cả kiếp người cũng vì chúng. Ta để cho những phương tiện tạm thời ấy biến thành những mục đích cao cả của cuộc sống mà quên đi mất bản chất của những “cây đèn" ấy luôn bị chi phối bởi hoàn cảnh... Khi đánh mất hoặc không còn yêu thích những cảm xúc ấy nữa, ta mới thấy nương tựa nơi chính mình là an ổn nhất.
(Dẫn theo: Hiểu về trái tim-nghệ thuật sống hạnh phúc, Minh Niệm, NXB tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh,
2020, trang 313-314).
Câu 1. Theo tác giả, vì sao đời sống là phải có sự nương tựa qua lại?
Câu 2. Chỉ ra phép liên kết được sử dụng trong những câu văn sau: Ta rơi vào tình trạng “nghiện cảm xúc". Thiếu cảm xúc ấy ta luôn thấy chơi với và bất an.
Câu 3. Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến: Bản thân ta cũng có thể tìm thấy hạnh phúc bằng chính những kĩ năng đã được rèn luyện của mình.?
Câu 4. Bài học ý nghĩa nhất mà anh/chị rút ra từ văn bản trên.
Phần II.
Câu 1. Từ ngữ liệu ở phần I, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vai trò của tính tự lập trong cuộc sống mỗi người.
Câu 2. Cảm nhận hình ảnh người lính trong đoạn thơ sau:
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm.
Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Phạm Tiến Duật, Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, 2016, tr 132).
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Theo tác giả, đời sống phải có sự tựa nương qua lại vì bản chất của mọi sự vật trên thế gian này vốn không thể tồn tại riêng biệt.
Câu 2:
Phương pháp:
Căn cứ bài liên kết câu.
Cách giải:
Phép liên kết được sử dụng trong câu văn: phép thế.
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Học sinh tự đưa ra lý giải của bản thân sao cho phù hợp.
Gợi ý:
- Hạnh phúc không chỉ đến từ những tác động bên ngoài, từ những người khác, hạnh phúc có thể được tạo ra từ chính bên trong mỗi người.
- Chúng ta có thể tự mình tạo ra hạnh phúc bằng cách quay vào bên trong, hiểu mình, yêu thương bản thân mình. Tất nhiên để làm được điều này, con người cũng phải trải qua quá trình rèn luyện tích lũy những kĩ năng.
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Học sinh tự đưa ra bài học ý nghĩa nhất, có lý giải phù hợp.
Gợi ý:
- Bài học về hạnh phúc, về cách tìm kiếm và hạnh phúc.
- Bài học về cảm xúc, nên làm chủ cảm xúc của bản thân.
…..
II. LÀM VĂN
Câu 1:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
* Nêu vấn đề nghị luận: Vai trò của tính tự lập trong cuộc sống mỗi người.
* Giải thích:
- Tính tự lập là việc con người tự mình thực hiện các công việc mà không dựa dẫm hay ỷ nại vào người khác.
- Vai trò của tính tự lập:
+ Chủ động hơn trong cuộc sống, tự lập kế hoạch, định hướng cho bản thân mình.
+ Chủ động vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.
+ Rèn luyện tốt hơn khă năng tư duy sáng tạo.
+ Khẳng định bản thân, nhận ra giá trị bản thân.
+ Người tự lập bao giờ cũng dễ dàng đạt đến thành công hơn.
- Bàn luận mở rộng:
+ Phê phán những người có thói quen ỷ lại, dựa dẫm vào người khác.
+ Đôi khi trong cuộc sống để có thể vượt qua những khó khăn con người cũng cần đến sự giúp đỡ của những người xung quanh. Tự lập không phải cự tuyệt mọi sự giúp đỡ.
- Liên hệ bản thân và tổng kết vấn đề.
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài
- Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu nội dung các khổ thơ cần phân tích.
2. Thân bài
– Sự khốc liệt của chiến tranh đã tạo nên những “Tiểu đội xe không kính”. Con đường giải phóng miền Nam là con đường đi tới chính nghĩa nên họ càng đi, càng có thêm nhiều bạn “Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới”
– Lúc này, những chính chiếc xe không kính lại thật thuận tiện để họ trao nhau tình thân: “Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”. Như chính nhà thơ thâm sự “Không phải mở cửa mà có thể thò tay thì sướng quá” Đó là cái bắt tay động viên, cái bắt tay truyền cho nhau cả tâm hồn, tình cảm. Cái bắt tay thoải mái, tự nhiên, ấm lòng.
– Tình cảm ấy thắm thiết, ruột thịt như anh em trong một gia đình.
“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”
Một cách định nghĩa về gia đình rất mới, rất rộng, rất lính, thật tếu táo mà cũng đầy sâu sắc: chung bát, chung đũa, chung nắm cơm, bếp lửa, chung hoàn cảnh khó khăn, chung một con đường, chung một lí tưởng, chung sự sống và cái chết. Đó là gia đình.
– Hai câu thơ cuối, với sự đối lập về ý thơ đã khẳng định sức mạnh tinh thần của người lính
“Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm”
+ Bữa ăn vội vã, giấc ngủ tạm bợ bên đường, đời lính thật gian khổ, đầy chông chênh, nguy hiểm.
+ Tuy nhiên điệp từ “lại đi” và hình ảnh ẩn dụ “trời xanh” đã khẳng định ý chí chiến đấu, nghị lực vững vàng, niềm tin và tinh thần phơi phới lạc quan của người lính. Sức mạnh tinh thần đó là sự tổng hợp của phẩm chất anh hùng cách mạng, tinh thần lạc quan và tình đồng đội tiếp thêm sức mạnh để họ vượt qua mọi gian lao, để rồi “lại đi, lại đi trời xanh thêm”, đoàn xe không ngừng vươn tới trên con đường giải phóng miền Nam.
“Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim”
– Với biện pháp liệt kê, điệp ngữ “không có” nhấn mạnh sự trần trụi, biến dạng của những chiếc xe. Càng vào sâu trong chiến trường, chiếc xe càng trở nên méo mó, biến dạng. Một lần nữa, thông qua hình ảnh những chiếc xe, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã gián tiếp miêu tả sự ác liệt của chiến trường.
– Điều kì lạ là những chiếc xe không kính, không đèn, không mui ấy vẫn băng băng ra chiến trường. Ở đây có sự đối lập giữa vẻ bên ngoài và khả năng của chiếc xe, giữa điều kiện vật chất và sức mạnh tinh thần của người lính lái xe. Để cân bằng ba cái không có ở trên chỉ cần một cái có đó trái tim người lính. đến đây, ta càng thấy được sự ngang tàng, hóm hỉnh nhưng cũng thật sâu sắc trong thơ Phạm Tiến Duật, những chiếc xe dường như không chỉ chạy bằng nhiên liệu mà thật độc đáo khi có một trái tim cầm lái, Trái tim là 1 hình ảnh hoán dụ nhưng đồng thời cũng là hình ản ẩn dụ, nó hội tụ vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ lái xe giàu nhiệt huyết, sắt son tình yêu tổ quốc, sục sôi căm thù giặc và ý chí quyết tâm chiến đáu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
=> Hình ảnh trái tim kết thúc bài thơ đã trở thành nhãn tự của cả bài, tỏa sáng vẻ đẹp của người lính lái xe Trường Sơn nói riêng và của cả thế hệ trẻ Việt Nam thời kháng chiến chống Mĩ cứu nước:
“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai”
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề.
Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình năm 2022
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) Đọc văn bản sau:
SEA Games 31 đã khép lại trong khúc hoan ca, không chỉ với chủ nhà Việt Nam mà cả 11 quốc gia Đông Nam Á, cùng nhau toả sáng, mạnh mẽ hơn trong giai đoạn mới sau giai đoạn chống chọi với đại dịch Covid- 19.
Trước khi SEA Games 31 khởi tranh, mục tiêu của Đoàn thể thao Việt Nam là giành 140 Huy chương Vàng. Kết thúc đại hội, chúng ta giành tới 205 Huy chương Vàng, bỏ xa Thái Lan ở vị trí thứ 2 với khoảng cách 113 Huy chương Vàng. Con số này cho thấy, thể thao Việt Nam vượt trội so với những đối thủ mạnh trong khu vực và đây là điều bất ngờ. Nhiều vận động viên ở những môn trước đây không được dự SEA Games đã thi đấu nỗ lực để có thành tích. Nhiều đội tuyển đã thi đấu xuất thần, vượt xa chỉ tiêu Huy chương Vàng đặt ra
trước đại hội.
(...) SEA Games 31 diễn ra trong điều kiện rất khó, cả về kinh tế và giai đoạn mới của đại dịch Covid- 19. Tuy nhiên, công tâm nói rằng, SEA Games 31 đã thành công rực rỡ. Các đoàn quốc tế đánh giá cao Việt Nam từ giai đoạn xây dựng nội dung thi đấu, bảo đảm sự hài hoà giữa các môn Olympic và đặc thù, thể hiện được bản sắc chủ nhà nhưng vẫn cơ hội cho các quốc gia trong khu vực toả sáng...
Như phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính, SEA Games 31 làm cho chúng ta tiến lại gần nhau hơn, đoàn kết hơn, nỗ lực hơn, quyết tâm hơn, hành động quyết liệt hơn, vượt lên tất cả khó khăn, thách thức vì tình yêu thể thao cao thượng...
Và cũng cần phải nhắc đến, đó là các địa điểm thi đấu đều đầy ắp khán giả vì một nền thể thao lành mạnh. Rất nhiều hãng thông tấn nước ngoài tuy không phải lần đầu chứng kiến vẫn sửng sốt với biển người trong cờ đỏ sao vàng ăn mừng chiến thắng, kết thành một khối thống nhất. Những hình ảnh ấn tượng đó một lần nữa khẳng định về một đất nước Việt Nam thân thiện, mến khách, về tình yêu nước nồng nàn, sự đoàn kết, nắm tay nhau vượt qua khó khăn của dân tộc Việt Nam.
(Hội tụ để toả sáng, Quang Minh, Báo Giáo dục và Thời đại, số 124, Thứ Tư, ngày 25/05/2022, tr.12)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Câu 2 (0,5 điểm) Theo đoạn trích, rất nhiều hãng thông tấn nước ngoài đã sửng sốt với hình ảnh nào?
Câu 3 (1,0 điểm) Vì sao tác giả bài viết cho rằng: SEA Games 31 đã khép lại trong khúc hoan ca?
Câu 4 (1,0 điểm) Anh/chị hãy nêu 02 việc cần làm để thể hiện tình yêu thể thao chân chính.
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vai trò của tinh thần đoàn kết trong cuộc sống.
Câu 2. Cảm nhận bức tranh thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa qua đoạn thơ sau:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.
(Sang thu, Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, Tập Hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016, tr.70)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1:
|
Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. |
Phương pháp: Căn cứ bài các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: Thuyết minh.
Câu 2:
|
Theo đoạn trích, rất nhiều hãng thông tấn nước ngoài đã sửng sốt với hình ảnh nào? |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Các hãng thông tấn sửng sốt vì hình ảnh cờ đỏ sao vàng trong ăn mừng chiến thắng, kết thành một khối thống nhất.
Câu 3:
|
Vì sao tác giả bài viết cho rằng: SEA Games 31 đã khép lại trong khúc hoan ca? |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Tác giả cho rằng Sea Game khép lại trong khúc hoan ca vì:
+ Các đoàn thể thao cùng nhau tỏa sáng mạnh mẽ trong giai đoạn mới sau Covid-19.
+ Việt Nam dành được 205 huy chương Vàng.
+ Điều kiện tổ chức khó khăn nhưng nội dung thi đấu, đảm bảo sự hài hòa giữa các môn Olympic và đặc thù, vừa thể hiện bản sắc chủ nhà vừa mang đến cơ hội cho các quốc gia khác.
+ Địa điểm thi đấu đều đầy ắp khán giả vì một nền thể thao lành mạnh.
Câu 4:
|
Anh/chị hãy nêu 02 việc cần làm để thể hiện tình yêu thể thao chân chính. |
Phương pháp: Phân tích.
Cách giải:
Học sinh nêu 2 việc sao cho phù hợp.
Gợi ý:
- Thể thao không phân biệt màu sắc, chủng tộc.
- Yêu thể thao cần có lối chơi lành mạnh.
-…
I. LÀM VĂN:
Câu 1:
|
Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về vai trò của tinh thần đoàn kết trong cuộc sống. |
Phương pháp: Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: Ý nghĩa tinh thần đoàn kết.
2. Bàn luận
- Đoàn kết: nghĩa là những cá nhân riêng lẻ cùng nhau hợp sức lại, tạo nên một sức mạnh vững chắc giải quyết tốt vấn đề mà tập thể đang muốn làm.
- Ý nghĩa tinh thần đoàn kết:
+ Đoàn kết giúp chúng ta vượt được mọi khó khăn, thử thách.
+ Đoàn kết giúp chúng ta giải quyết công việc nhanh hơn.
+ Đoàn kết giúp chúng ta gắn kết mối quan hệ giữa con người với con người.
+ Đoàn kết tạo nên sức mạnh lớn lao, vĩ đại.
+…
- Phê phán, lên án những con người đoàn kết lại để làm việc xấu, gây phương hại đến những người khác.
- Bản thân luôn gắn kết, hòa hợp với mọi người xung quanh tạo nên tình đoàn kết theo đúng nghĩa của nó.
3. Tổng kết.
Câu 2:
|
Cảm nhận bức tranh thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa qua đoạn thơ sau: Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về.
Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu. (Sang thu, Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, Tập Hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016, tr.70) |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài: Giới thiệu chung
2. Thân bài
2.1 Những tín hiệu báo mùa thu sang:
Bài thơ được mở ra bằng những tín hiệu rất riêng, báo mùa thu về:
+ “Hương ổi”: đi liền với từ “bỗng” gợi cảm giác đột ngột, ngỡ ngàng; “phả” – làn hương ngọt ngào, sánh đậm, mùi ổi chín như được cô lại, phả vào gió thu. “Hương ổi” gợi không gian thơ thân thuộc, yêu dấu của làng quê đất Việt với những khu vườn, lối ngõ sum xuê hoa trái, làm nên hương sắc mỗi mùa; gợi hương vị riêng của mùa thu trong thơ Hữu Thỉnh.
+ “Gió se” là ngọn gió heo may mùa thu dịu nhẹ, thoáng chút se lạnh lúc thu về, giúp ta cảm nhận rõ hơn cái ngọt lành của hương ổi.
+ “Sương chùng chình” – nghệ thuật nhân hóa, gợi dáng vẻ, tâm trạng của làn sương thu. Làn sương lãng đãng như cố ý chậm lại, lưu luyến mùa hè, chưa muốn bước hẳn sang thu.
Hệ thống hình ảnh độc đáo đã diễn tả một cách tài tình cái không khí se lạnh đầu thu và cả cái nhịp điệu chầm chậm của mùa thu về với đất trời.
Đối diện với những tín hiệu báo thu là cái ngỡ ngàng của lòng người:
+ “Hình như” là lối nói giả định, không chắc chắn, phù hợp với những biểu hiện mơ hồ lúc giao mùa – những biểu hiện ấy không chỉ được cảm nhận bằng các giác quan mà còn phải cảm nhận bằng cả một tâm hồn tinh tế.
+ Âm điệu: là tiếng reo vui, ngỡ ngàng lúc thu sang.
Khổ thơ là những cảm nhận mới mẻ, tinh tế của tác giả lúc mùa sang. Ẩn sau những đổi thay của thiên nhiên đất trời lúc sang thu là niềm vui, niềm hạnh phúc của thi nhân.
2.2 Quang cảnh thiên nhiên ngả dần sang thu:
- Được tái hiện vừa chân thực lại vừa sống động:
+ “Sông” “dềnh dàng”: tả thực con sông của mùa thu vô cùng trong trẻo, tĩnh lặng, êm đềm. Nghệ thuật nhân hóa khiến con sông như đang được nghỉ ngơi sau một mùa hạ vất vả với bão giông. Đó cũng là hình ảnh ẩn dụ cho con người qua chiến tranh, lửa đạn, giờ đang chậm lại, cho phép mình được nghỉ ngơi.
+ “Chim” “vội vã”: vừa tả thực những cánh chim bay vội về phương Nam tránh rét, vừa gợi những vội vã, tất bật với lo toan thường nhật của đời người.
+ Phép đối “dềnh dàng” >< “vội vã” làm nổi bật hai động thái trái ngược của thiên nhiên mà cũng là sự vận động của thiên nhiên giao mùa.
Được khắc họa rất ấn tượng:
+ “Đám mây mùa hạ” được hữu hình hóa, vừa thực vừa hư, tái hiện được nhịp điệu của thời gian, là một chiếc cầu nối liền những ngày cuối hạ và đầu thu để sự chuyển giao giữa hai mùa không đứt đoạn.
+ Đám mây mang cả lớp nghĩa thế sự, gợi trạng thái giao thời của đời sống khi đất nước chuyển giao từ chiến tranh sang hòa bình.
Khoảnh khắc giao mùa hiện lên tinh tế, sống động qua những câu thơ rất giàu chất tạo hình. Ẩn sau những hình ảnh thiên nhiên lúc thu sang ấy còn là hình ảnh của đời sống lúc sang thu.
3. Kết bài:
- Nội dung:
+ Cảm nhận và tái hiện tinh thế khoảnh khắc chuyển mùa từ hạ sang thu.
+ Tái hiện những nét đẹp đặc trưng của mùa thu đất Bắc lúc vừa sang.
- Nghệ thuật: Ngôn ngữ, hình ảnh vừa giản dị, tự nhiên mà giàu sức gợi, vừa độc đáo, mới lạ. Giọng thơ nhỏ nhẹ, sâu lắng.
Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình năm 2021
Đề bài
PHẦN I (3.0 điểm) Đọc văn bản sau:
Thay vì giúp con có một ước mơ thực sự, nhiều ông bố bà mẹ thường đưa trẻ đến những trung tâm bồi dưỡng tài năng để tham gia hết khóa học này đến chương trình khác. Bởi, Phụ huynh cho rằng những chương trình đó rất bổ ích và có giá trị với con.
(...) Ai trong chúng ta cũng có một ước mơ cho riêng mình, trẻ em cũng vậy. Song khác với người lớn, trẻ sẽ có nhiều ước mơ bay bổng do trí tưởng tượng phong phú. Khi đó nhiệm vụ của cha mẹ là nuôi dưỡng ước mơ của con một cách hợp lý giúp chúng định hướng tương lai.
Trẻ em thường xuyên có ước mơ mới mỗi khi ngưỡng mộ ai đó. Khi được bác sĩ chữa khỏi bệnh, trẻ mong ước lớn lên sẽ làm bác sĩ. Khi xem tivi và chứng kiến những diễn viên xinh đẹp hoặc xem những bộ phim siêu nhân thì ước mơ của trẻ lại khác. Chắc hẳn, đây là câu chuyện xảy ra trong nhiều gia đình. Thường, trẻ nhỏ với suy nghĩ ngây thơ, có thể con sẽ thốt ra những câu nói khiến cha mẹ hoang mang. Khi đó không ít phụ huynh áp đặt suy nghĩ và mong muốn của mình lên con. Họ ép con thích những điều cha mẹ muốn. Song đó không phải là niêm yêu thích của trẻ. Theo các chuyên gia, đó là một trong những suy nghĩ sai lầm mà cha mẹ nên bỏ trong quá trình định hình ước mơ cho con trẻ. Theo chuyên gia Trần Quốc Phúc, cha mẹ hãy cho con một tước mơ và đừng bao giờ "tiêu diệt” giấc mơ đó ". Cha mẹ hãy hỏi con thích gì và tin con sẽ làm được điều đó. Cha mẹ hãy dẫn con tới nơi có những người thành công để con tiếp cận, nhìn những căn nhà đẹp, những chiếc xe đẹp. Đồng thời để con chứng kiến cuộc sống của những trẻ em nghèo, chuyên gia cho biết.
(Theo: Vân Huyền, khơi gợi điều trẻ muốn hướng tới, Bảo Giáo dục và Thời đại, số 99, Thứ hai, 26/04/2021, tr.13)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.
Câu 2 (0,5 điểm) Chỉ ra và gọi tên thành phần biệt lập trong câu văn sau: Chắc hẳn, đây là câu chuyện xảy ra trong nhiều gia đình.
Câu 3(1,0 điểm) Nêu nội dung chính của văn bản trên
Câu 4 (1,0 điểm) Anh/chị có đồng tình với việc cha mẹ ep con thích những điều cha mẹ muốn không? Vì sao?
PHẦN II: TẠO LẬP VĂN BẢN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm) Từ việc đọc hiểu văn bản ở phần I, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của ước mơ đối với mỗi con người trong cuộc sống.
Câu 2 (6,0 điểm) Cảm nhận về vẻ đẹp của thiên nhiên và người lao động qua đoạn thơ sau:
Thuyền ta lái gió với buồn trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng
Cá nụ cá chim cùng cả đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe,
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long
Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp tràng cao
Biển cho ta cả như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào
(Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận, Sgk Ngữ văn 9, tập 1, NXBGD 2007, tr.140)
Lời giải chi tiết
Phần I.
Câu 1.
|
Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên. |
Phương pháp: căn cứ các phương thức biểu đạt đã học
Cách giải:
Phương thức biểu đạt: Nghị luận
Câu 2.
|
Chỉ ra và gọi tên thành phần biệt lập trong câu văn sau: Chắc hẳn, đây là câu chuyện xảy ra trong nhiều gia đình. |
Phương pháp: căn cứ bài Thành phần biệt lập
Cách giải:
Thành phần biệt lạp trong câu là: Chắc chăn – thành phần tình thái
Câu 3.
|
Nêu nội dung chính của văn bản trên |
Phương pháp: phân tích, lí giải
Cách giải:
Học sinh có thể giải thích theo ý hiểu của mình, có lý giải.
Gợi ý:
Đoan trích đang nói tới thực hướng dạy con của các bậc phụ huynh hiện nay. Đồng thời nói lên tiếng nói con trẻ với mong muốn được thực sự phát triển, hướng tới đam mê của mình.
Câu 4.
|
Anh/chị có đồng tình với việc cha mẹ ep con thích những điều cha mẹ muốn không? Vì sao? |
Phương pháp: phân tích, lí giải
Cách giải:
Học sinh trình bày quan điểm của mình, có lý giải.
Gợi ý:
Không đồng tình: Vì việc ép những đứa trẻ đi theo con đường mà cha mẹ chúng muốn sẽ khiến những đứa trẻ trở thành những người máy, luôn làm theo những gì được sắp đặt từ trước. Không phát huy được hết khả năng của mình…
Phần II.
Câu 1.
|
Từ việc đọc hiểu văn bản ở phần I, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của ước mơ đối với mỗi con người trong cuộc sống. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp
Cách giải:
I. Mở đoạn
- Giới thiệu vấn đề:
+ Con người chúng ta từ khi sinh ra cho tới lúc trưởng thành, ai cũng có một ước mơ, hoài bão của riêng mình.
+ Ước mơ giúp chúng ta có thể sống vui vẻ, có ý nghĩa và mục đích, khi thực hiện được ước mơ của mình con người cảm thấy được thành quả của quá trình nỗ lực cố gắng đúng như dân gian ta thường nói “Sống là phải có ước mơ”.
II. Thân bài
1. Giải thích
- Giải thích về ước mơ là gì? Nó chính là những dự định, khát khao mà mỗi chúng ta mong muốn đạt được trong thời gian ngắn hoặc dài. Ước mơ chính là động lực để mỗi chúng ta vạch ra phương hướng đường đi để dẫn tới ước mơ.
2. Bình luận và chứng minh
- Vai trò và ý nghĩa của ước mơ trong cuộc sống:
+ Ước mơ chính là ngọn đuốc soi sáng trong tim mỗi chúng ta nó hướng chúng ta tới những điều tốt đẹp.
+ Ước mơ cũng chính là mong muốn được cống hiến sức lực của mình cho xã hội và khi chúng ta đạt được ước mơ cũng là lúc chúng ta được thừa nhận năng lực của mình.
- Phân tích được con người đi tới ước mơ có dễ dàng không?
+ Con đường dẫn tới ước mơ cũng vô cùng khó khăn, không phải lúc nào cũng dễ dàng đạt được, nhưng với những người kiên trì, bền chí, thì ước mơ sẽ giúp cho bạn định hướng cho tương lai của mình một cách tốt đẹp nhất. Dẫn chứng cụ thể.
- Nó là vì sao sáng soi những lối ta đi, khi đi qua những khó khăn nhìn thấy ước mơ của mình lấp lánh ở phía xa xa, bạn sẽ nỗ lực bước tiếp.
- Những ước mơ sẽ đưa con người đi tới những tương lai, không quản ngại những chông gai, nghiệt ngã, những khó khăn trên con đường đi của mình. Dẫn chứng cụ thể.
- Cuộc sống mà không có ước mơ thì sẽ như thế nào?
+ Ước mơ là điều mà ai cũng nên có và cần có trong cuộc sống bởi nếu không có ước mơ cuộc sống của bạn sẽ mất phương hướng vô định. Dẫn chứng cụ thể.
+ Không có ước mơ bạn sẽ không xác định được mục tiêu sống của mình là gì. Chính vì không xác định được phương hướng sẽ dẫn tới bạn sẽ sống hoài sống phí, và trở thành người tụt hậu bị bạn bè, xã hội bỏ lại phía sau.
- Phê phán: Những người không có khát vọng, ước mơ,..
- Bàn bạc, mở rộng vấn đề:
+ Mở rộng trong xã hội ngày nay bên cạnh những bạn trẻ sống có ước mơ có lý tưởng rất đáng trân trọng, thì bên cạnh đó vẫn còn nhiều bạn trẻ sống không có ước mơ.
+ Các bạn không hiểu mình muốn gì và không có ý chí phấn đấu, các bạn đó cứ sống và buông bỏ đời mình theo số phận muốn tới đâu thì tới, thật đáng buồn.
III. Kết đoạn
- Là một học sinh ngồi trên ghế nhà trường chúng ta cần phải có ước mơ mục đích sống cho riêng mình.
- Để đạt được ước mơ chúng ta cần ra sức rèn luyện học tập, tu dưỡng đạo đức để chuẩn bị những tư trang cần thiết cho con đường đi tới ước mơ của mình.
Câu 2.
|
Cảm nhận về vẻ đẹp của thiên nhiên và người lao động qua đoạn thơ sau: Thuyền ta lái gió với buồn trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng, Ra đậu dặm xa dò bụng biển, Dàn đan thế trận lưới vây giăng Cá nụ cá chim cùng cả đé, Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe, Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long Ta hát bài ca gọi cá vào Gõ thuyền đã có nhịp tràng cao Biển cho ta cả như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào (Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận, Sgk Ngữ văn 9, tập 1, NXBGD 2007, tr.140) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Mở bài
– Giới thiệu khái quát về tác giả Huy Cận (những nét cơ bản về con người, cuộc đời, đặc điểm sáng tác, …)
– Giới thiệu khái quát về bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật, …)
– Giới thiệu khái quát về đoạn thơ.
2. Thân bài
Vẻ đẹp thiên nhiên và người lao động thể hiện qua cảnh đánh cá trên biển đêm:
a. Hình ảnh thiên nhiên: đẹp, rộng lớn, lộng lẫy
-Thiên nhiên ở đây là những sự vật cụ thể: là mặt trời, là sóng biển, là màn đêm được miêu tả bằng ngôn ngữ lung linh, huyền ảo
- Cảm hứng vũ trụ đã mang đến cho bài thơ những hình ảnh thiên nhiên hoành tráng
+ Thiên nhiên biển khơi là những đêm trăng đẹp rực rỡ sắc màu như một bức tranh
+ Thiên nhiên trong mắt nhìn của tác giả là hình ảnh từng đàn cá quý tung tăng bơi lội
+ Thiên nhiên là niềm tự hào, yêu mến của nhà thơ về sự giầu đẹp của thiên nhiên.
- Nghệ thuật: Nói quá, nhân hoá, bút pháp lãng mạn làm cho con thuyền đánh cá trở nên kì vĩ, khổng lồ, hoà nhập vào thiên nhiên, vũ trụ.
=> Cả đoạn thơ là bức tranh sơn mài lộng lẫy, thiên nhiên cũng góp phần vào công cuộc đánh bắt.
b. Hình ảnh con người lao động: tinh thần làm chủ biển khơi
– Hình ảnh những người lao động hiện lên trong bài thơ là hình ảnh những người dân chài đang ra khơi đánh cá.
– Hình ảnh người lao động hiện lên với vẻ đẹp quả cảm. Mặc cho đêm tối, mặc cho gió khơi, đoàn thuyền của họ vẫn ra tận ngoài khơi xa để dò cá trong lòng biển
– Cuộc sống đánh bắt cá của ngư dân giống như một trận chiến đấu với vũ khí là những tấm lưới.
– "Ta hát bài ca... trăng cao" → bóng trăng in xuống mặt nước hòa vào sóng vỗ mạn thuyền cùng câu hát ngân vang của người đánh cá tạo thành bài ca lao động hân hoan tràn ngập niềm vui, niềm tin. Tiếng hát của người lao động có khả năng kì diệu gọi cá vào lưới.
- Nghệ thuật: Sử dụng các động từ như “lướt, đậu, dò, dàn đan” gợi không khí lao động khẩn trương, đoàn kết. Con thuyền ra khơi có gió làm lái, trăng làm buồm, dàn đan thế trận, bao vây, buông lưới...
=> Con người chủ động, sáng tạo trong lao động, bố trí đánh bắt cá như một trận đánh. Với tinh thần lao động hăng hái, lạc quan như thế, thì chắc chắn hiệu quả sẽ cao hơn.
-" Biển cho ta cá... buổi nào"
Nghệ thuật so sánh, nhân hóa → Lời ca ngợi và biết ơn biển cả như lòng mẹ hiền hòa bao dung nuôi lớn bao thế hệ người dân chài.
=> Cảm hứng lao động và cảm hứng thiên nhiên vũ trụ hoà hợp, công việc của người lao động đánh cá như gắn liền hài hòa với nhịp sống trời đất.
3. Kết bài
Khái quát về những vẻ đẹp cơ bản của thiên nhiên và con người trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”, các biện pháp nghệ thuật trong đoạn thơ và nêu cảm nghĩ của bản thân.
Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình năm 2020
Đề bài
PHẦN I: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi bên dưới.
COVID-19 KHIẾN NHIỀU NGƯỜI CẢM NHẬN RÕ HƠN GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH
Tính đến 9h ngày 25/6, thế giới chỉ nhận 9.503,073 người mắc Covid-19 tại 215 quốc gia, vùng lãnh thổ: 483.677 người tử vong. Đại dịch Covid-19 đã tác động đến mọi một của đời sống với nhiều nỗi lo toan từ sức khỏe đến kinh tế... Mấy tháng chống chọi với Covid-19 khiển không ít người đứng ngồi không yên trong lo sợ. Tuy nhiên, nếu nhìn ở một khía cạnh khác, dịch bệnh cũng khiến nhiều người nhận ra và thấu hiểu hơn những giá trị mà bấy lâu cuộc sống lo toan, bộn bề khiến họ có phần lãng quên. Nhiều nước, nhiều tổ chức phát động chiến dịch Ở nhà vẫn vui kêu gọi mọi người ở nhà và chia sẻ những câu chuyện, khoảnh khắc vui vẻ, tích cực trong thời gian ở nhà làm việc. Chưa bao giờ, trên các trang mạng xã hội, những câu chuyện tích cực lại được nhiều ông bố, bà mẹ chia sẻ rộn ràng đến vậy. Con cái chăm làm việc nhà, học được nhiều kỹ năng sống, gia đình gần nhau hơn. Trên các trang mạng xã hội cũng xuất hiện nhiều hơn những bữa cơm ấm cúng được mọi người chia sẻ, mang theo thông điệp tích cực, lạc quan. Sợi dây gắn kết yêu thương cũng được bền vững hơn khi mà họ đã xích lại gần nhau, có trách nhiệm với nhau, sẻ chia và cùng nhau gánh vác mọi niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống...
(Như Thụy - theo UN, Guardian, NYT, bảo Phụ nữ Việt Nam Số 77 ngày 26/6/2020)
Câu 1 (0,5 điểm): Xác định câu chủ đề của đoạn trích?
Câu 2 (1,0 điểm): Các con số trong câu: “Tính đến 9h ngày 25/6, thế giới ghi nhận 9.503.073 người mắc Covid-19 tại 215 quốc gia, vùng lãnh thổ; 483,677 người tử vong” nói lên đặc tính gì của đoạn trích?
Câu 3 (1,0 điểm): Nêu các chiến dịch và hoạt động được thực hiện khi mọi người ở nhà chống dịch?
Câu 4 (0,5 điểm): Trình bày thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm qua đoạn trích?
PHẦN II: TẠO LẬP VĂN BẢN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Anh (chị) hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về vai trò của gia đình trong cuộc sống của mỗi người.
Câu 2 (5,0 điểm)
Phân tích nhân vật Vũ Nương trong đoạn trích sau:
Qua năm sau, giặc ngoan cố đã chịu trói, việc quân kết thúc. Trương Sinh về tới nhà, được biết mẹ đã qua đời, con vừa học nói. Chàng hỏi mộ mẹ, rồi bế đứa con nhỏ đi thăm, đứa trẻ không chịu, ra đến đồng, nó quấy khóc. Sinh dỗ dành:
- Nín đi con, đừng khóc, Cha về, bà đã mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi.
Đứa con ngây thơ nói:
- Ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít.
Chàng ngạc nhiên gạn hỏi. Đứa con nhỏ nói:
- Trước đây, thường có một người đàn ông đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.
Tính chàng hay ghen, nghe đứa con nói vậy, tin chắc đinh ninh là vợ hư, không còn cách gì tháo cởi ra được.
Về đến nhà, mắng vợ một bữa cho hả giận. Nàng khóc mà rằng:
- Thiếp vốn nhà nghèo, được vào cửa tía. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn, từng đã nguội lòng, ngõ liễu đường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Dám xin trần bạch để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp.
Chàng vẫn không tin. Nhưng nàng hỏi chuyện kia từ ai nói ra thì giấu không kể lời con nói; chỉ thường thường mắng mỏ nhiếc móc và đánh đuổi đi. Họ hàng làng xóm bênh vực và biện bạch cho nàng cũng chẳng ăn thua gì cả. Nàng bất đắc dĩ nói:
- Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng, vì có cái thú vui nghi gia nghi thất, có sự yên ổn được tựa bóng cây cao. Đâu ngờ ân tình tựa lá, gièm báng nên non. Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa gãy cuống, kêu xuân cái én lìa màn, nước thẳm buồm xa, đâu còn thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa.
Đoạn rồi nàng tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng:
- Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mỹ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, chẳng những là chịu khắp mọi người phỉ nhổ.
Nói xong gieo mình xuống sông mà chết.
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1:
|
Xác định câu chủ đề của đoạn trích? |
Phương pháp: Căn cứ bài học đọc hiểu
Cách giải:
Chủ đề của đoạn trích: Covid – 19 đã khiến mọi người nhận ra giá trị của gia đình.
Câu 2:
|
Các con số trong câu: “Tính đến 9h ngày 25/6, thế giới ghi nhận 9.503.073 người mắc Covid-19 tại 215 quốc gia, vùng lãnh thổ; 483,677 người tử vong” nói lên đặc tính gì của đoạn trích? |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Những con số nói lên tính khách quan, khoa học, cụ thể của đoạn trích.
Câu 3:
|
Nêu các chiến dịch và hoạt động được thực hiện khi mọi người ở nhà chống dịch? |
Phương pháp: Căn cứ bài học đọc hiểu
Cách giải:
Các chiến dịch và hoạt động được thực hiện khi mọi người ở nhà chống dịch:
- Chiến dịch Ở nhà vẫn vui kêu gọi mọi người ở nhà và chia sẻ những câu chuyện, khoảnh khắc vui vẻ, tích cực trong thời gian ở nhà làm việc.
- Con cái làm việc nhà, học được kĩ năng sống.
- Mọi người cùng chia sẻ bữa cơm gia đình ấm cúng.
Câu 4:
|
Trình bày thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm qua đoạn trích? |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Học sinh tự rút ra thông điệp.
Gợi ý:
- Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào gia đình cũng luôn bên cạnh chúng ta và có ý nghĩa quan trọng.
- Hãy sống vui vẻ, lạc quan. Đó là cách chống dịch hiệu quả nhất.
Phần II
Câu 1
|
Anh (chị) hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về vai trò của gia đình trong cuộc sống của mỗi người. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: vai trò của gia đình trong cuộc sống của mỗi con người
2. Giải thích vấn đề:
- Gia đình là tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái.
=> Gia đình có vai trò rất quan trọng với cuộc sống của mỗi con người.
3.Phân tích, bàn luận vấn đề
- Vai trò của gia đình đối với cuộc sống mỗi con người:
+ Gia đình là nơi ta được sinh ra và nuôi dưỡng cả về thể chất lẫn tâm hồn, là nôi giáo dục đầu tiên của mỗi con người.
+ Gia đình là nơi mỗi người được che chở, đùm bọc, được yêu thương vô điều kiện.
+ Gia đình trở thành gốc cơ bản để mỗi cá nhân phát triển. Dù gia đình nghèo khó hay gia đình đầy đủ, gia đình vẫn luôn là nơi cho ta những tình yêu và bài học quý giá.
- Làm thế nào để xây dựng một gia đình vững mạnh?
+ Mỗi thành viên cần biết yêu thương, chia sẻ những khó khăn cho nhau, học cách lắng nghe để thấu hiểu những khó khăn trong cuộc sống của mỗi người.
+ Mỗi thành viên cần tự ý thức trách nhiệm của mình trong việc xây dựng gia đình.
…
- Phê phán những kẻ không trân trọng gia đình, bất hiếu với ông bà, cha mẹ.
4. Liên hệ bản thân và Tổng kết
Câu 2
|
Phân tích nhân vật Vũ Nương trong đoạn trích |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Giới thiệu nội dung đoạn trích.
2. Phân tích
* Khái quát đôi nét về Vũ Nương:
+ Vũ Nương được là người phụ nữ “tính đã thùy mì nết na lại thêm tư dung tốt đẹp”.
+ Là người vợ hiền, yêu con, là người con dâu hiếu thảo.
- Không bao lâu sau khi Vũ Nương lấy chồng, Trương Sinh phải đi lính. Nàng ở nhà một mình sinh con, chăm sóc mẹ già.
- Khi Trương Sinh trở về cứ ngỡ nàng sẽ được hưởng cuộc sống gia đình yên ấm, hạnh phúc nào ngờ bất hạnh bắt đầu từ đó.
* Phân tích đoạn trích:
Phẩm chất, nét đẹp cũng như bi kịch đến tột cùng của Vũ Nương được thể hiện rõ nhất qua ba lời thoại, ba lời phần trần của nàng với Trương Sinh:
Lần 1: “Thiếp vốn con kẻ khó được nương tựa nhà giàu được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ gìn mọt tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói… Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”
-> Nàng phân trần để chồng hiểu rõ lòng mình. Nàng đã nói đến thân phận, tình nghĩa vợ chồng, khẳng định tấm lòng thuỷ chung trong trắng, xin chồng đừng nghi oan, có nghĩa là nàng hết lòng hàn gắn hạnh phúc gia đình.
Lần 2: “Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất. Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồn xa, đầu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa”
-> Nàng đã nói lên nỗi đau đớn thất vọng khi không hiểu sao mình bị nghi oan, bị đối xử bất công. Đồng thời đó còn là sự tuyệt vọng đến cùng cực khi khao khát của cả đời nàng vun đắp đã tan vỡ. Tình yêu không còn. Cả nỗi đau khổ chờ chồng đến hoá đá như trước đây cũng không còn có thể làm được nữa.
Lần 3: “Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhố”
-> Đây là lời độc thoại. Lời thoại là một lời than, một lời nguyền xin thần sông chứng giám nỗi oan khuất và tiết hạnh trong sạch của nàng. Lời thoại đã thể hiện nỗi thất vọng đến tột cùng, nỗi đau cùng cực của người phụ nữ phẩm giá nhưng bị nghi oan nên tự đẩy đến chỗ tận cùng là cái chết
* Nguyên nhân dẫn đến cái chết của Vũ Nương:
- Do lời nói ngây thơ của bé Đản.
- Do Trường Sinh vốn đa nghi, hay ghen lại đang buồn vì mẹ mất.
- Do chiến tranh gây ra 3 năm xa cách, niềm tin vào Vũ Nương ị thử thách, bị lung lay.
- Có thể do cuộc hôn nhân bất bình đẳng giữa Vũ Nương và Trường Sinh, do xã hội phong kiến trọng nam, khinh nữ cho phép Trường Sinh được đối xử rẻ rúng, tàn tệ với vợ mình.
* Hậu quả (của nỗi oan):
- Trường Sinh nghi ngờ, gạt đi lời thanh minh của Vũ Nương, mắng nhiếc, đánh đuổi Vũ Nương đi.
- Cùng đường Vũ Nương nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tận. Đây là phản ứng dữ dội, quyết liệt của Vũ Nương để bảo vệ nhân phẩm nhưng cũng là cho thấy nỗi bất hạnh tột cùng của nàng.
3. Tổng kết vấn đề
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
