Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Thuận
Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Thuận năm 2025
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
XIN QUÊ
(Tạ Bá Hương)
Xin quê một vạt bùn nâu
một vai áo mẹ một câu hát chèo
xin quê một gánh gieo neo
một cơn gió một cánh diều vút lên
xin quê một tiếng mõ rền
một lời ru cũ một miền ca dao
xin quê một buổi chiều nao
một lần roi vọt xanh vào giấc mơ
xin quê một thuở dại khờ
một làn khói bếp một bờ tre xanh
tôi mang về phổ dụm dành
hành trang mình với đời mình trăng treo.
(In trên Báo Văn nghệ, số 1+2, ngày 04/1/2025, tr. 25)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Liệt kê một hình ảnh có trong hai dòng thơ đầu của văn bản “Xin quê” - Tạ Bá Hương.
Câu 2. Chỉ ra số từ được dùng xuyên suốt ở văn bản đã nêu.
Câu 3. Trình bày cách hiểu của em về tình cảm của tác giả được thể hiện qua việc sử dụng cụm từ “xin quê” ở bài thơ trên.
Câu 4. Cuối thi phẩm, tác giả viết: “tôi mạng về phổ dụm dành/ hành trang mình với đời mình trăng treo”. Nêu đánh giá của em về hai dòng thơ cuối này và lígiải vì sao em đánh giá như vậy.
Câu 5. Viết khoảng 3 đến 5 câu về cảm xúc của em sau khi đọc xong bài thơ ở phần đọc hiểu.
II. PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày cảm nghĩ của em về đoạn thơ dưới đây:
“Xin quê một vạt bùn nâu
một vai áo mẹ một câu hát chèo
xin quê một gánh gieo neo
một cơn gió một cánh diều vút lên
xin quê một tiếng mõ rền
một lời ru cũ một miền ca dao”.
Câu 2. Trong cuộc sống hiện nay vẫn có hiện tượng một số bạn học sinh sống với thái độ thiếu sự biết ơn. Làm sao để có thể khắc phục được tình trạng này? Hãy viết bài văn trình bày quan điểm của em về vấn đề được đặt ra.
Lời giải chi tiết
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) |
Câu 1. (0.75 điểm) |
HS chọn một trong các hình ảnh có trong hai dòng thơ đầu: + “vạt bùn nâu” + “vai áo mẹ” + “câu hát chèo” |
|
Câu 2. (0.75 điểm) |
Số từ “một” được tác giả sử dụng trong xuyên suốt văn bản thơ |
|
|
Câu 3. (1 điểm) |
Học sinh trình bày theo cảm nhận của bản thân, có lý giải. Sau đây là gợi ý: Cụm từ “xin quê” thể hiện: - Nỗi nhớ thiết tha và tình yêu sâu sắc của tác giả với những ký ức bình dị, gần gũi của quê hương. - Tác giả đang tìm cách níu giữ, mang theo những giá trị quê nhà – từ hình ảnh, âm thanh đến ký ức tuổi thơ, chúng như một phần không thể thiếu trong hành trang của cuộc đời. |
|
|
Câu 4. (1 điểm) |
Học sinh trình bày theo cảm nhận của bản thân, có lý giải. Sau đây là gợi ý: Hai câu thơ thể hiện tình cảm sâu nặng, tha thiết của tác giả dành cho quê hương. Lí giải: - “dụm dành” là sự nâng niu, cất giữ từng kỉ niệm quê nhà nhưng một phần quý giá. - Hình ảnh “trăng treo” gợi sự lãng mạn, trong sáng, nhẹ nhàng mà quê hương để lại trong tâm hồn tác giả. => Hai câu thơ kết lại bài một cách tinh tế, sâu lắng, cho thấy quê hương không chỉ là nơi ra đi mà còn là điểm tựa thiêng liêng trong hành trình sống. |
|
|
Câu 5. (0.5 điểm) |
HS dựa vào văn bản đưa ra cảm nhận phù hợp, có lý giải. Sau khi đọc bài thơ, em cảm thấy xúc động và lắng đọng. Những hình ảnh mộc mạc như cánh diều, tiếng mõ, bờ tre gợi nhớ đến tuổi thơ yên bình nơi làng quê. Bài thơ khiến em thêm trân trọng ký ức quê nhà và những điều tưởng chừng giản dị nhưng lại vô cùng thiêng liêng. Em cảm nhận được tình yêu quê sâu sắc và chân thành của tác giả – một tình yêu mà ai từng rời xa quê cũng có thể đồng cảm. |
|
|
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) |
Câu 1. (2,0 điểm) |
* Mở đoạn: Giới thiệu đoạn thơ trích trong bài thơ “Xin quê” của Tạ Bá Hương và nêu khái quát cảm nhận về đoạn thơ * Thân đoạn: - Hình ảnh quê hương gần gũi, bình dị: + “Vạt bùn nâu”, “vai áo mẹ”, “câu hát chèo” → Gợi sự mộc mạc, tình mẫu tử và nét văn hóa dân gian. + “Gánh gieo neo”, “cánh diều”, “tiếng mõ rền” → Cuộc sống lam lũ nhưng đầy kỷ niệm tuổi thơ. - Tình cảm của tác giả : + Yêu quê bằng tình cảm chân thành, sâu lắng. + Nỗi niềm hoài niệm, có chút xót xa vì những điều giản dị ấy giờ chỉ còn trong ký ức. - Đặc sắc nghệ thuật: + Điệp từ “xin quê” như lời khẩn cầu, thể hiện nỗi nhớ da diết và sự trân quý từng ký ức nhỏ bé. + Số từ “một” lặp lại → Nhấn mạnh sự thiêng liêng của từng khoảnh khắc quê hương. + Các hình ảnh thơ đều giàu tính gợi cảm, đậm chất dân gian và truyền thống. * Kết đoạn: Khẳng định lại giá trị đoạn thơ và nêu thông điệp ý nghĩa |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
1. Mở bài - Dẫn dắt vấn đề: Trong cuộc sống hiện nay vẫn có hiện tượng một số bạn học sinh sống với thái độc thiếu biết ơn. - Xác định vấn đề: giải pháp để khắc phục tình trạng sống thiếu biết ơn của giới trẻ 2. Thân bài a. Giải thích - Lòng biết ơn là sự trân trọng, ghi nhớ công ơn và tình cảm của người khác đã dành cho mình; là biểu hiện của đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. - Thái độ sống thiếu biết ơn có biểu hiện: + Vô lễ với cha mẹ, coi thường công ơn nuôi dưỡng. + Thờ ơ với thầy cô, không tôn trọng công sức dạy dỗ. + Không quý trọng bạn bè giúp đỡ mình. + Ích kỉ, chỉ nghĩ đến bản thân, vô cảm trước những điều tốt đẹp người khác mang lại. b. Nguyên nhân - Tác động của lối sống thực dụng, cá nhân, ảnh hưởng từ mạng xã hội. - Gia đình quá nuông chiều hoặc thiếu sự giáo dục về đạo đức. - Nhà trường chú trọng kiến thức mà thiếu giáo dục kỹ năng sống, nhân cách. - Bản thân học sinh chưa nhận thức đúng về giá trị của lòng biết ơn. c. Tác hại - Làm mai một đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc. - Gây ra các mối quan hệ rạn nứt giữa người với người. - Cá nhân dễ trở nên cô lập, lạnh lùng, thiếu tình người. - Xã hội khó phát triển bền vững nếu thiếu tình thương và sự tri ân. d. Giải pháp - Với cá nhân học sinh: + Tự rèn luyện lòng biết ơn qua hành động hằng ngày: vâng lời cha mẹ, kính trọng thầy cô, giúp đỡ bạn bè. + Biết suy ngẫm và học cách đặt mình vào vị trí người khác để hiểu và trân trọng. - Với gia đình: + Dạy con từ nhỏ về lòng biết ơn qua những việc giản dị như chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi. + Làm gương cho con trong cách ứng xử với người xung quanh. - Với nhà trường: + Tăng cường giáo dục đạo đức, kỹ năng sống. + Lồng ghép các hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm giúp học sinh hiểu và thực hành lòng biết ơn. - Về xã hội: Xây dựng môi trường sống lành mạnh, tôn vinh những hành động tri ân, nhân ái. e. Phản đề - Không phải học sinh nào cũng sống thiếu biết ơn, vẫn có nhiều bạn luôn lễ phép với người lớn, tri ân thầy cô, sống nghĩa tình với bạn bè. - Các hoạt động “tri ân”, “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa” vẫn được học sinh hưởng ứng nhiệt tình. - Dẫn chứng: HS lấy dẫn chứng phù hợp 3. Kết bài - Khẳng định lại vai trò quan trọng của lòng biết ơn trong đời sống cá nhân và xã hội. - Mỗi học sinh cần tự rèn luyện và lan tỏa giá trị sống đẹp ấy, bởi biết ơn chính là thước đo nhân cách và nền tảng để làm người tử tế. |
Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Thuận năm 2023
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN. Đọc văn bản sau:
CỔNG LÀNG (trích)
Chiều hôm đón mất công làng,
Gió hiu hiu đẩy mấy vàng êm trôi.
Đồng quê vườn lượn chân trời,
Đường quê quanh quốt bao người về thôn.
Sáng hồng lo lừng mây son,
Mặt trời thức giấc, véo von chim chào.
Cổng làng rộng mở. Ồn ào,
Nông phu lững thững đi vào nắng mai.
Những khi gió lạnh mưa buồn,
Công làng im im bên đường lội trơn.
Nhưng khi trăng sáng chập chờn,
Kìa bao nhiêu bóng trên đường thướt tha.
Ngày mùa lúa chín thơm đưa...
Rồi Đông gầy chết, Xuân chưa vội vàng
Mùng xuân ngày hội cổng làng
Là nơi chen chúc bao nàng ngây thơ.
Ngày nay dù ở nơi xa,
Nhưng khi về đến cây đa đầu làng,
Thì bao nhiêu cảnh mơ màng
Hiện ra khi thoáng cổng làng trong tre.
Trả lời câu hỏi:
Câu 1 (0,5 điểm): Hình ảnh nào xuất hiện xuyên suốt trong văn bản trên?
Câu 2 (0,5 điểm): Xác định một từ láy có trong hai dòng thơ sau:
“Nhưng khi trăng sáng chập chờn,
Kìa bao nhiêu bóng trên đường thướt tha.”
Câu 3 (1,0 điểm): Bài thơ thể hiện tình cảm gì của tác giả? (Trả lời ngắn gọn từ 1 đến 2 câu).
Câu 4 (1,0 điểm): Trình bày những suy nghĩ, tình cảm của em sau khi đọc xong văn bản thơ đã nêu.
II. TẠO LẬP VĂN BẢN (7,0 điểm)
Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ bàn về vấn đề: Làm thế nào để mỗi người chúng ta thể hiện tình yêu quê hương, đất nước?
Câu 2. Phân tích tình yêu làng quê của nhân vật ông Hai trong đoạn trích sau:
[...] (Tóm tắt phần đầu: Ông Hai là người yêu làng Chợ Dầu tha thiết. Bất đắc dĩ nên ông phải cùng vợ và mấy đứa con nhỏ đi tản cư kháng chiến. Tại nơi tản cư, ông Hai luôn mong ngóng tin tức về làng. Khi gặp người ở dưới quê lên, ông Hai được cơ hội hỏi thăm về nơi ông đã từng khoe với nhiều người.)
Một người đàn bà cho con bú mẻ bên kia nói xen vào
- Này, bác có biết mấy hôm nay súng nó bắn ở đâu mà nghe rất thể không?
- Nó rút ở Bắc Ninh về
Ông Hai quay phắt lại lắp bắp hỏi:
- Nó... Nó vào làng chợ Dầu hở bác? Thế ta giết được bao nhiêu thăng?
Người đàn bà ẵm con cong môi lên dòng đánh
- Có giết được thăng nào đâu. Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây còn giết gì nữa!
Cổ ông lão nghẹn ăng hắn lại, da mặt tề rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cô, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi:
- Liệu có thật không hở bác? Hay là chỉ lại...
- Thì chúng tôi vừa ở dưới ấy lên đây mà lại (. .). Tây vào làng, chúng nó bảo nhau vác cờ thần ra hoàn hộ. Thắng chánh Bệu thì khuân cả tủ chè, đình đồng, vải vóc lên xe cam nhông, đưa vợ con lên vị trí với giặc ở ngoài tỉnh mà lại.
Có người hỏi.
- Sao bảo làng Chợ Dầu tinh thần lắm.
- Ấy thế mà bây giờ đổ đốn ra thế đấy!
Ông Hai trả tiền nước, đứng dậy, chèm chẹp miệng cười nhạt một tiếng, vươn vai nói to:
- Hà, nắng gớm, về nào ...
Ông lão vờ vờ đứng làng ra chỗ khác, rồi đi thẳng. Tiếng cười nói xôn xao của đám người mới tản cư lên ấy vẫn dõi theo, Ông nghe rõ cái giọng chua lạnh lãnh của người đàn bà cho con bú:
- Cha mẹ tiên sự nhà chúng nói. Đối khổ ăn cắp ăn trộm bắt được người ta còn thương. Cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát!
Ông Hai cúi gằm. Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác, len lén đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau. Ông thoáng nghĩ đến mụ chủ nhà.
Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đẩy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu... Ông lão nắm chặt hai tay lại mà rít lên:
- Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này.
Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm. Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đổ đốn đến thế được. Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng, quyết tâm một sống một chết với giặc, có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy!...
Nhưng sao lại nảy ra cái tin như vậy được? Mà thằng chánh Bệu thì đích là người làng không sai rồi. Không có lửa làm sao có khói? Ai người ta hơi đâu bịa tạc ra những chuyện ấy làm gì. Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Rồi đây biết làm ăn, buôn bán ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta buôn bán mấy. Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước...Lại còn bao nhiêu người làng, tan tác mỗi người một phương nữa, không biết họ đã rõ cái cơ sự này chưa? [...]
(Tóm tắt phần sau: Từ hôm đó trở đi, ông Hai vô cùng đau khổ vì cái tin làng Chợ Dầu theo giặc. Nhưng sau đó, thông tin ấy được cải chính. Làng Chợ Dầu theo giặc là sai sự thật. Ông Hai vui mừng khôn xiết và bày tỏ niềm vui ấy với mọi người.)
(Trích “Làng” - Kim Lân, Ngữ văn 9, tập 1, NXB GDVN, năm 2018, trang 165-166)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Hình ảnh xuất hiện xuyên suốt là: cổng làng.
Câu 2:
Phương pháp:
Căn cứ bài từ láy.
Cách giải:
Từ láy: thướt tha, chập chờn.
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Tác giả thể hiện:
- Tác giả yêu mến cổng làng, quê hương. Tha thiết nhớ những kỉ niệm đã qua.
- Tình cảm đó được thể hiện một cách chân thành, sâu sắc.
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
HS trình bày quan điểm cá nhân sao cho phù hợp với nội dung văn bản.
- Bài thơ giúp em hiểu hơn về cuộc sống êm đềm, bình dị, yên tĩnh nơi làng quê.
- Bài thơ cũng bồi đắp tình cảm yêu quý, tự hào về những nét đẹp truyền thống, giản dị của quê hương.
…
II. LÀM VĂN
Câu 1:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
* Nêu vấn đề nghị luận: Làm thế nào để mỗi chúng ta thể hiện tình yêu quê hương đất nước?
* Bàn luận vấn đề:
- Tình yêu quê hương đất nước là tình cảm thiêng liêng luôn tồn tại bên trong mỗi con người.
- Làm thể nào để mỗi chúng ta thể hiện tình yêu quê hương đất nước?
+ Thể hiện qua những hành động nhỏ nhất như giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường, quang cảnh nơi mình sinh sống.
+ Tham gia những hoạt động đề cao tinh thần yêu nước như tìm hiểu về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, những trò chơi, vẽ tranh biển đảo quê em.
+ Tự hào quá khứ hào hùng của dân tộc và biết ơn những cha anh đã hi sinh vì độc lập của đất nước.
+ Có thái độ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc.
+ Cảnh giác trước các thế lực thù địch. Tiếp nhận thông tin có chọn lọc và từ những nguồn thông tin chính thống.
+ Tích cực trau dồi bản thân cả về thể chất và trí tuệ để dựng xây Tổ quốc.
* Bàn luận mở rộng:
- Phê phán những người có tư tưởng coi thường dân tộc, tư tưởng lệch lạc.
…..
* Liên hệ bản thân.
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
– Giới thiệu tác giả Kim Lân và truyện ngắn Làng: Truyện ngắn “Làng” của Kim Lân đã ca ngợi về tinh thần cách mạng và lòng yêu nước đó của người dân Việt Nam, cụ thể là nói về một người nông dân có tình cảm gắn bó với làng, với quê hương và đất nước sâu sắc.
- Giới thiệu nội dung cần phân tích: tâm trạng ông Hai khi hay tin làng chợ Dầu theo giặc.
2. Thân bài:
a. Khái quát về nhân vật ông Hai:
– Truyện kể về ông Hai, một người yêu làng và gắn bó với làng, lúc nào ông cũng khoe về làng của mình
– Ông cứ kể say sưa trong niềm nhớ thương về làng mà không cần biết người nghe có chú ý hay không.
– Ông tự hào về làng mình từ cơ sở vật chất cho tới cái sinh phần của tổng đốc làng ông, vinh dự vì làng có bề dày lịch sử. Sau cách mạng ông khoe về tinh thần cách mạng của làng ông, ngay cả cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập, ông khoe những hố, ụ và hào.
b. Diễn biến tâm lý của nhân vật ông Hai khi nghe tin làng theo Tây:
– Khi ông nghe tin làng mình theo Tây, “cổ họng ông nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân”, ông lặng đi tưởng như không thở được
– Ông hỏi đi hỏi lại nhiều lần rồi lẳng lặng bỏ đi trong nỗi đau đớn và nhục nhã khi biết làng mình theo giặc
– Khi về nhà, ông nằm vật ra giường, đêm đó trằn trọc không ngủ được.
+ Ông nhìn đám trẻ ngây thơ mà bị mang tiếng Việt gian rồi khóc.
+ Ông điểm lại mọi người trong làng nhưng thấy ai cũng có tinh thần cả nên ông vẫn không tin lại có ai làm điều nhục nhã ấy.
+ Tâm trạng ông bị ám ảnh, day dứt và mặc cảm với thân phận là người của làng Việt gian bán nước.
+ Bên tai ông đầy rẫy tiếng chửi bọn Việt gian, ông chẳng làm được gì, chưa thể đối mặt với điều đó, ông chỉ biết cúi gằm mặt mà đi
+ Khi mụ chủ nhà muốn đuổi gia đình ông đi bởi ông là người làng Chợ Dầu, ông thoáng nghĩ về lại làng nhưng ông đã gạt phăng đi, ông dứt khoát “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”
3. Kết bài:
– Khẳng định giá trị nghệ thuật và nội dung của truyện ngắn: tác giả đã cho người đọc hình dung được một thời kì chống Pháp sôi nổi của nhân dân, tinh thần trung kiên với Cách mạng và một lòng theo Bác, kháng chiến đến cùng
– Qua diễn biến tâm trạng của ông Hai ta thấy được tình yêu làng sâu sắc và tình yêu nước thiết tha gắn với tinh thần kháng chiến của ông.
Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Thuận năm 2022
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) Hãy đọc hai văn bản sau:
Văn bản 1 – Yêu nơi mình sống: Cây liễu
Nếu ta không quan tâm đến môi trường xung quanh thì rất khó để phát triển lớn mạnh. Liễu không cam chịu sống với một bờ sông bờ bãi hay nước sông bẩn thỉu – chúng giữ đất, đắp bờ bằng chính bộ rễ của mình và biến các chất ô nhiễm trong nước thành nguồn nitrat nuôi cây. Tự chăm sóc chính mình có thể bắt đầu từ những điều đơn giản như tấm ga trải giường mới, bữa trưa đặc biệt.
(Sống như những cái cây, NXB Kim Đồng)
Văn bản 2 – Sống trong từng khoảnh khắc: Hoa anh đào
Bất cứ ai từng có cơ hội tận mắt ngắm nhìn hoa anh đào đều sẽ choáng ngợp bởi vẻ đẹp của chúng. Ở Nhật bản, các gia đình và nhóm bạn bè thường tổ chức dã ngoại dưới các tán cây hoa anh đào đương đơm những chùm hoa trắng muốt xinh đẹp trong hai tuần ngắn ngủi chúng nở, những điều đẹp đẽ, như cuộc sống, đều sẽ trôi qua. Vậy nên, hãy biết ơn khi chúng đang xảy ra và tận hưởng từng khoảnh khắc.
(Sống như những cái cây, NXB Kim Đồng)
Trả lời các câu hỏi:
Câu 1. Tác giả đã đề cập loài thực vật nào trong văn bản 1 và 2.
Câu 2. Nêu tên biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Liễu không cam chịu sống với một bờ sông bờ bãi hay nước sông bẩn thỉu – chúng giữ đất, đắp bờ bằng chính bộ rễ của mình và biến các chất ô nhiễm trong nước thành nguồn nitrat nuôi cây.
Câu 3. Hãy trình bày cách hiểu của em về cụm từ “Sống trong từng khoảnh khắc”.
Câu 4. Nêu một bài học tư tưởng mà em thích được rút ra từ một trong hai văn bản trên. Lí giải vì sao em thích?
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ bàn về ý nghĩa của việc biết yêu nơi mình sống.
Câu 2. Có một thi sĩ yêu nơi mình sống và đã từng cảm nhận được khoảng khắc của cuộc sống nơi ấy khi thu sang như sau:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình
Hình như thu đã về.
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sẩm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
(Sang thư — Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2021, tr.70)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1:
|
Tác giả đã đề cập loài thực vật nào trong văn bản 1 và 2. |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Các loài thực vật tác giả đã đề cập là:
Văn bản 1: Cây liễu.
Văn bản 2: Cây hoa anh đào.
Câu 2:
|
Nêu tên biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Liễu không cam chịu sống với một bờ sông bờ bãi hay nước sông bẩn thỉu – chúng giữ đất, đắp bờ bằng chính bộ rễ của mình và biến các chất ô nhiễm trong nước thành nguồn nitrat nuôi cây. |
Phương pháp: Căn cứ các biện pháp tu từ đã học.
Cách giải:
Biện pháp nhân hóa: cam chịu.
Câu 3:
|
Hãy trình bày cách hiểu của em về cụm từ “Sống trong từng khoảnh khắc”. |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, phân tích.
Cách giải:
Học sinh trình bày cách hiểu của mình về cụm từ “Sống trong từng khoảnh khắc” sao cho hợp lí.
Gợi ý:
- Sống trong từng khoảnh khắc là biết trân trọng cuộc sống hiện tại.
- Sống trong từng khoảnh khắc là biết cố gắng hết mình, không sợ hãi, chùn bước trước bất cứ điều gì.
- Sống trong từng khoảnh khắc là việc hôm nay không để ngày mai.
-….
Câu 4:
|
Nêu một bài học tư tưởng mà em thích được rút ra từ một trong hai văn bản trên. Lí giải vì sao em thích? |
Phương pháp: Phân tích, lí giải.
Cách giải:
Học sinh đưa ra một bài học mình yêu thích và đưa ra lí giải phù hợp.
Gợi ý: Bài học tư tưởng:
- Phải biết tự chăm sóc chính mình.
- Tận hưởng từng khoảnh khắc của cuộc sống.
-…
II. LÀM VĂN:
Câu 1:
|
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ bàn về ý nghĩa của việc biết yêu nơi mình sống. |
Phương pháp: Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
* Yêu cầu về hình thức: Viết đúng đoạn văn khoảng 200 chữ.
* Yêu cầu về nội dung:
- Xác định đúng yêu cầu: Ý nghĩa của việc biết yêu nơi mình sinh sống.
- Giải thích: Yêu nơi mình sống là yêu thương trân trọng những sự vật, con người thậm chí những điều nhỏ nhặt nhất nơi mình sinh sống.
- Ý nghĩa của việc biết yêu nơi mình sinh sống.
+ Khi biết yêu nơi mình sống bản thân mỗi con người sẽ học được cách trân trọng những điều thuộc về bản thân mình.
+ Khi biết yêu nơi mình sống, tình yêu đó sẽ tạo ra động lực để con người nỗ lực cống hiến, xây dựng. Trong quá trình cố gắng ấy, con người tích lũy được nhiều kiến thức để hoàn thiện bản thân hơn.
+ Khi biết yêu nơi mình sống, con người cảm nhận được hạnh phúc đến từ những điều hiện hữu xung quanh mình. Từ đó thêm yêu cuộc sống, cuộc sống cũng vì thế mà trở nên có ý nghĩa hơn.
- Bàn luận mở rộng:
+ Phê phán những người có tư tưởng xa rời quê hương, nơi mình sinh sống.
+ Gắn bó với quê hương xứ sở, nơi mình sinh sống nhưng vẫn luôn tiếp thu, học hỏi sự phát triển của nhân loại.
Câu 2:
|
Có một thi sĩ yêu nơi mình sống và đã từng cảm nhận được khoảng khắc của cuộc sống nơi ấy khi thu sang như sau: Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình Hình như thu đã về.
Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu.
Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sẩm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi. (Sang thư — Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2021, tr.70) |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
I. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm Sang thu.
II. Thân bài:
1. Những tín hiệu báo mùa thu sang.
Bài thơ được mở ra bằng những tín hiệu rất riêng, báo mùa thu về:
+ “Hương ổi”: đi liền với từ “bỗng” gợi cảm giác đột ngột, ngỡ ngàng; “phả” – làn hương ngọt ngào, sánh đậm, mùi ổi chín như được cô lại, phả vào gió thu. “Hương ổi” gợi không gian thơ thân thuộc, yêu dấu của làng quê đất Việt với những khu vườn, lối ngõ sum xuê hoa trái, làm nên hương sắc mỗi mùa; gợi hương vị riêng của mùa thu trong thơ Hữu Thỉnh.
+ “Gió se” là ngọn gió heo may mùa thu dịu nhẹ, thoáng chút se lạnh lúc thu về, giúp ta cảm nhận rõ hơn cái ngọt lành của hương ổi.
+ “Sương chùng chình” – nghệ thuật nhân hóa, gợi dáng vẻ, tâm trạng của làn sương thu. Làn sương lãng đãng như cố ý chậm lại, lưu luyến mùa hè, chưa muốn bước hẳn sang thu.
Hệ thống hình ảnh độc đáo đã diễn tả một cách tài tình cái không khí se lạnh đầu thu và cả cái nhịp điệu chầm chậm của mùa thu về với đất trời.
Đối diện với những tín hiệu báo thu là cái ngỡ ngàng của lòng người:
+ “Hình như” là lối nói giả định, không chắc chắn, phù hợp với những biểu hiện mơ hồ lúc giao mùa – những biểu hiện ấy không chỉ được cảm nhận bằng các giác quan mà còn phải cảm nhận bằng cả một tâm hồn tinh tế.
+ Âm điệu: là tiếng reo vui, ngỡ ngàng lúc thu sang.
Khổ thơ là những cảm nhận mới mẻ, tinh tế của tác giả lúc mùa sang. Ẩn sau những đổi thay của thiên nhiên đất trời lúc sang thu là niềm vui, niềm hạnh phúc của thi nhân.
2. Quang cảnh thiên nhiên ngả dần sang thu:
- Được tái hiện vừa chân thực lại vừa sống động:
+ “Sông” “dềnh dàng”: tả thực con sông của mùa thu vô cùng trong trẻo, tĩnh lặng, êm đềm. Nghệ thuật nhân hóa khiến con sông như đang được nghỉ ngơi sau một mùa hạ vất vả với bão giông. Đó cũng là hình ảnh ẩn dụ cho con người qua chiến tranh, lửa đạn, giờ đang chậm lại, cho phép mình được nghỉ ngơi.
+ “Chim” “vội vã”: vừa tả thực những cánh chim bay vội về phương Nam tránh rét, vừa gợi những vội vã, tất bật với lo toan thường nhật của đời người.
+ Phép đối “dềnh dàng” >< “vội vã” làm nổi bật hai động thái trái ngược của thiên nhiên mà cũng là sự vận động của thiên nhiên giao mùa.
Được khắc họa rất ấn tượng:
+ “Đám mây mùa hạ” được hữu hình hóa, vừa thực vừa hư, tái hiện được nhịp điệu của thời gian, là một chiếc cầu nối liền những ngày cuối hạ và đầu thu để sự chuyển giao giữa hai mùa không đứt đoạn.
+ Đám mây mang cả lớp nghĩa thế sự, gợi trạng thái giao thời của đời sống khi đất nước chuyển giao từ chiến tranh sang hòa bình.
Khoảnh khắc giao mùa hiện lên tinh tế, sống động qua những câu thơ rất giàu chất tạo hình. Ẩn sau những hình ảnh thiên nhiên lúc thu sang ấy còn là hình ảnh của đời sống lúc sang thu.
3. Những biến chuyển của thiên nhiên và suy ngẫm về đời người lúc chớm thu:
- Những biến chuyển của thiên nhiên được tái hiện tài tình:
+ Phép đối: “vẫn còn” – “vơi dần”, “nắng” – “mưa” gợi sự vận động trái chiều của hai hiện tượng thiên nhiên -> biểu hiện của sự giao mùa.
+ “Mưa”, “nắng”: là những hiện tượng thời tiết dễ quan sát, nắm bắt, làm cụ thể hóa khoảnh khắc chuyển mùa. Nắng vẫn còn nhưng không chói chang, gay gắt, cơn mưa rào đặc trưng của mùa hạ đã vơi dần -> dấu hiệu của mùa thu đậm nét hơn.
+ Những từ ngữ chỉ mức độ “vẫn còn” “vơi” “bớt” được sắp xếp giảm dần cho thấy mùa hạ đang nhạt dần, mùa thu ngày càng rõ nét hơn. Mùa thu đã hiện hình giữa đất trời.
- Suy ngẫm về đời người lúc chớm thu:
+ Tiếng sấm: Theo nghĩa thực, tiếng sấm là dấu hiệu của những cơn mưa rào mùa hạ. Sang thu, tiếng sấm nhỏ dần, không đủ sức làm lay động hàng cây đã bao mùa thay lá. Nghĩa ẩn dụ: chỉ những biến động thất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời, cho những gian nan, thử thách mà con người gặp phải trong cuộc đời.
+ “hàng cây đứng tuổi”: phép nhân hóa gợi cái xế chiều của đời người, gợi hình ảnh những con người đã trưởng thành, trầm tình và vững vàng hơn.
=> Con người khi đã trưởng thành sẽ hiểu biết hơn, bình tĩnh, ung dung hơn trc mọi đổi thay, biến động của cuộc đời.
III. Kết bài
- Nội dung:
+ Cảm nhận và tái hiện tinh thế khoảnh khắc chuyển mùa từ hạ sang thu với sự giao thoa của nhiều lớp nghĩa: trời đất sang thu, đời sống sang thu, đời người sang thu.
+ Tái hiện những nét đẹp đặc trưng của mùa thu đất Bắc lúc vừa sang.
- Nghệ thuật: Ngôn ngữ, hình ảnh vừa giản dị, tự nhiên mà giàu sức gợi, vừa độc đáo, mới lạ. Giọng thơ nhỏ nhẹ, sâu lắng.
Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Thuận năm 2021
Đề bài
PHẦN I (3.0 điểm) Đọc đoạn trích sau:
“... chúng ta hãy biết trân quý vẻ đẹp tâm hồn, bởi đó là yếu tố tiên quyết làm nên giá trị chân chính của một con người. Con người là tổng hỏa của vẻ đẹp hình thức bên ngoài lẫn tâm hồn bên trong (.). Với tôi, vẻ đẹp đang được nâng niu, trân trọng, được ngưỡng mộ hơn hết vẫn là nét đẹp toát lên từ tâm hồn mỗi người. Vẻ đẹp tâm hồn là vẻ đẹp tổng hòa của cảm xúc, nhận thức, ý trị và khát vọng của lòng nhân ái, bao dung, thấu hiểu và sẻ chia, của sự chân thành, hiểu biết, thái độ, cách suy nghĩ và sự lắng nghe... trong cuộc sống. Một tâm hồn đẹp giúp ta biết yêu thương, biết sống đẹp, sống có ích, Về đẹp tâm hồn như người ta vẫn nói, tuy nó không có hình hài nhưng thực sự sâu xa và bền vững. Bởi vậy, đó là cái đẹp đảng được quý trọng nhất.
(.) Giống như lớp vỏ bên ngoài, như bình hoa hay một cô búp bê, khi ngắm mãi, ...) ta cũng sẽ thấy chán, Vẻ đẹp hình thức của một con người cũng vậy. Dẫu đẹp, dàu ăn tượng đến mấy rồi cũng sẽ dễ dàng bị xóa nhòa nếu người đó chỉ là một con người nhạt nhẽo, vô duyên, huy ích kỷ, xấu xa. Nhưng vẻ đẹp tâm hồn thì khác. Nó luôn tạo nên được sức thu hút vô hình và mạnh mẽ nhất, là giá trị thực sự lâu bền của bản thân mỗi người. Một người có tâm hồn đẹp thì vẻ đẹp tâm hồn sẽ càng tôn vinh, bồi đắp cho vẻ đẹp hình thức của
người ấy. Và muốn có được vẻ đẹp tâm hồn, mỗi người cần phải trải qua quá trình rèn luyện, tu dưỡng, học
hỏi một cách thường xuyên ()”
(Nguyễn Đình Thu, Trích “Vẻ đẹp tâm hồn”, Nguồn: http://baolaocai.vn/baivietcu/20180518090329594-ve-dep-tam-hon)
Trả lời các câu hỏi:
Câu 1 (0,5 điểm) Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên là gì?
Câu 2 (0,5 điểm) Chỉ ra từ ngữ thể hiện phép nối giữa hai câu văn sau: “Vẻ đẹp tâm hồn như người ta vẫn nói, tuy nhỏ không có hình hài nhưng thực sự sâu xa và bền vững. Bởi vậy, đó là cái đẹp đáng được quý trọng nhất"
Câu 3 (1,0 điểm) Em hiểu như thế nào về nội dung của câu văn: “Một tâm hồn đẹp giúp ta biết yêu thương, biết sống đẹp, sống có ích"
Câu 4 (1,0 điểm) “Một người có tâm hồn đẹp thì vẻ đẹp tâm hồn sẽ càng tôn vinh, bồi đắp cho vẻ đẹp hình thức của người ấy". Em có đồng tình với quan điểm này của tác giả không? Vì sao?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm) Viết đoạn văn khoảng 200 chữ bàn về cách thức để con người rèn luyện, tu dưỡng vẻ đẹp tâm hồn.
Câu 2 (5,0 điểm) Đây là một số chi tiết đề cập đến một nhân vật của tác phẩm văn học mà em đã được học trong chương trình Ngữ văn lớp 9: “Chao ôi, bắt gặp một con người như anh ta là một cơ hội hạn hữu cho sáng tác” và “Người con trai ấy đáng yêu thật. Và về những điều anh suy nghĩ trong cải vắng vẻ vội với hai nghìn sáu trăm mét trên mặt biến, cuồn cuộn tuôn ra khi gặp người. Những điều suy nghĩ đúng đắn bao giờ cũng có những vang âm, khơi gợi bao điều suy nghĩ khác trong óc người khác..." Đó là nhân vật nào, trong tác phẩm gi? Hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ của em về vẻ đẹp của nhân vật ấy.
Lời giải chi tiết
Phần I.
Câu 1.
|
Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên là gì? |
Phương pháp: căn cứ các phương thức biểu đạt đã học
Cách giải:
Phương thức biểu đạt: Nghị luận
Câu 2.
|
Chỉ ra từ ngữ thể hiện phép nối giữa hai câu văn sau: “Vẻ đẹp tâm hồn như người ta vẫn nói, tuy nhỏ không có hình hài nhưng thực sự sâu xa và bền vững. Bởi vậy, đó là cái đẹp đáng được quý trọng nhất" |
Phương pháp: căn cứ bài Liên kết câu và đoạn văn
Cách giải:
Những từ ngữ thể hiện phép nối: Tuy…nhưng, bởi vậy.
Câu 3.
|
Em hiểu như thế nào về nội dung của câu văn: “Một tâm hồn đẹp giúp ta biết yêu thương, biết sống đẹp, sống có ích" |
Phương pháp: phân tích, lí giải
Cách giải:
Học sinh có thể giải thích theo ý hiểu của mình, có lý giải
Gợi ý:
“Một tâm hồn đẹp giúp ta biết yêu thương, biết sống đẹp, sống có ích” là nhận định chính xác bởi khi có một tâm hồn đẹp con người không chỉ biết yêu thương mà còn biết sẻ chia có thái độ và cách suy nghĩa thấu đáo,.. nhờ vậy lối sống trở thành sống đẹp, cuộc sống trở nên có ý nghĩa hơn.
Câu 4.
|
“Một người có tâm hồn đẹp thì vẻ đẹp tâm hồn sẽ càng tôn vinh, bồi đắp cho vẻ đẹp hình thức của người ấy". Em có đồng tình với quan điểm này của tác giả không? Vì sao? |
Phương pháp: phân tích, lí giải
Cách giải:
Học sinh trình bày quan điểm của mình, có lý giải.
Gợi ý:
Đống tình
Lý giải: Vẻ đẹp tâm hồn tạo nên sức hút vô cùng mạnh mẽ và bền vững. Nó chính là một trong yếu tố quan trọng làm nên vẻ đẹp hình thức hoàn thiện nhất.
Phần II.
Câu 1.
|
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ bàn về cách thức để con người rèn luyện, tu dưỡng vẻ đẹp tâm hồn. |
Phương pháp: phân tích, giải, thích, tổng hợp
Cách giải:
1. Mở đoạn
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng vẻ đẹp tâm hồn.
Lưu ý: Học sinh tự lựa chọn cách viết mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của bản thân mình.
2. Thân đoạn
a. Giải thích
Vẻ đẹp tâm hồn: là vẻ đẹp bên trong mỗi con người, là nhân cách, phẩm chất tốt đẹp, những đức tính quý báu mà mỗi chúng ta cần rèn luyện, trau dồi để hoàn thiện bản thân mình.
=>Khẳng định: con người rèn luyện, tu dưỡng vẻ đẹp tâm hồn.
b. Phân tích
- Mỗi con người có một khả năng riêng, thế mạnh riêng, chúng ta cần phải nhận ra giá trị của bản thân mình và tự tin vào bản thân mình, đó sẽ là động lực quan trọng góp phần giúp ta cố gắng thực hiện những mục tiêu trong cuộc sống và đạt được những điều chúng ta mong muốn.
- Con người sống và đối xử với nhau bằng tính cách, bằng suy nghĩ và hành động, không phải bằng vẻ bề ngoài, vì vậy, để trở thành người tốt được mọi người yêu quý, trọng dụng, chúng ta cần phải rèn luyện cho bản thân mình vẻ đẹp tâm hồn và những đức tính tốt đẹp.
- Người có đạo đức, nhân phẩm tốt sẽ được mọi người yêu quý, tôn trọng, sẽ có được nhiều cơ hội quý báu hơn trong cuộc sống.
c. Chứng minh
Học sinh tự lấy dẫn chứng về những con người nuôi dưỡng vẻ đẹp tâm hồn thành công và trở thành người có ích cho xã hội để minh họa cho bài làm văn của mình.
Lưu ý: Dẫn chứng phải tiêu biểu, xác thực và được nhiều người biết đến.
d. Phản biện
Trong cuộc sống vẫn còn có nhiều người quá tự cao tự đại, ảo tưởng về sức mạnh của bản thân mà không chịu trau dồi, tiến bộ. Lại có những người đề cao vẻ đẹp về ngoại hình, hình thức hơn vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách,… những người này đáng bị xã hội thẳng thắn phê phán và chỉ trích.
3. Kết đoạn
Khái quát lại vấn đề nghị luận: tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng vẻ đẹp tâm hồn; đồng thời rút ra bài học và liên hệ bản thân.
Câu 2.
|
Đây là một số chi tiết đề cập đến một nhân vật của tác phẩm văn học mà em đã được học trong chương trình Ngữ văn lớp 9: “Chao ôi, bắt gặp một con người như anh ta là một cơ hội hạn hữu cho sáng tác” và “Người con trai ấy đáng yêu thật. Và về những điều anh suy nghĩ trong cải vắng vẻ vội với hai nghìn sáu trăm mét trên mặt biến, cuồn cuộn tuôn ra khi gặp người. Những điều suy nghĩ đúng đắn bao giờ cũng có những vang âm, khơi gợi bao điều suy nghĩ khác trong óc người khác..." Đó là nhân vật nào, trong tác phẩm gi? Hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ của em về vẻ đẹp của nhân vật ấy. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
- Nhân vật được nhắc đến trong đoạn trích trên là anh thanh niên trong "Lặng lẽ Sa Pa"
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Thành Long và tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa: Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của tác giả Nguyễn Thành Long lấy cảm hứng từ chuyến đi thực tế ở Lào Cai và nhân vật anh thanh niên đang làm nhiệm vụ khí tượng chính là hình ảnh trung tâm, ca ngợi những đóng góp thầm lặng của những người lao động trong công cuộc xây dựng đất nước.
2. Thân bài
* Giới thiệu tình huống truyện
- Cuộc gặp gỡ giữa anh thanh niên làm việc ở một mình trên trạm khí tượng với bác lái xe, ông kĩ sư và cô họa sĩ trên chuyến xe lên Sa Pa.
- Tình huống truyện đặc sắc, tạo điều kiện bộc lộ tư tưởng, quan điểm của tác giả khi ngợi ca con người lao động.
* Phân tích nhân vật anh thanh niên
- Hoàn cảnh sống và làm việc của anh thanh niên
+ Làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 m, quanh năm sống với hoa cỏ
+ Công việc của anh: đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dựa vào công việc dự báo trước thời tiết hằng ngày, phục vụ sản xuất và chiến đấu
+ Công việc đòi hỏi tỉ mỉ, chính xác cũng như tinh thần trách nhiệm cao (nửa đêm đi ốp dù trời mưa tuyết, giá lạnh)
=> Điều gian khổ nhất chính là vượt qua nỗi cô đơn, vắng vẻ, quanh năm suốt tháng chỉ sống trên đỉnh núi một mình.
- Những nét đẹp trong cách sống, suy nghĩ, hành động và quan hệ tình cảm với mọi người
+ Vượt lên hoàn cảnh sống khắc nghiệt, anh có suy nghĩ rất đẹp:
Với công việc khắc nghiệt gian khổ, anh luôn yêu và mong muốn được làm việc ở điều kiện lý tưởng (đỉnh cao 3000m)
Anh có những suy nghĩ đúng đắn, sâu sắc về cuộc sống con người: “khi ta làm việc, ta với công việc là một, sao lại gọi là một mình được”
Anh thấu hiểu nỗi vất vả của đồng nghiệp
Quan niệm về hạnh phúc của anh thật đơn giản và tốt đẹp
+ Hành động, việc làm đẹp
Mặc dù chỉ có một mình không ai giám sát nhưng anh luôn tự giác hoàn thành nhiệm vụ với tinh thần trách nhiệm cao (nửa đêm đúng giờ ốp dù mưa gió thế nào anh cũng trở dậy ra ngoài trời làm việc một cách đều đặn và chính xác 4 lần trong một ngày)
+ Anh thanh niên có phong cách sống cao đẹp
Anh có nếp sống đẹp khi tự sắp xếp công việc, cuộc sống của mình ở trạm một cách ngăn nắp: có vườn rau xanh, có đàn gà đẻ trứng, có vườn hoa rực
Đó là sự cởi mở chân thành với khách, quý trọng tình cảm của mọi người
Anh còn là người khiêm tốn, thành thực cảm thấy công việc của mình có những đóng góp chỉ là nhỏ bé
=> Chỉ bằng những chi tiết và chỉ xuất hiện trong một khoảnh khắc của truyện, tác giả phác họa được chân dung nhân vật chính với vẻ đẹp tinh thần, tình cảm, cách sống và những suy nghĩ về cuộc sống, về ý nghĩa công việc.
+ Anh thanh niên đại diện cho người lao động
Anh thanh niên là đại diện chung cho những người lao động nhiệt huyết, sống đẹp, cống hiến vì Tổ quốc một cách thầm lặng, vô tư.
Những con người khiêm tốn, giản dị, trung thực, âm thầm thực hiện công việc nhiệm vụ được giao.
3. Kết bài
- Nêu cảm nhận hình tượng anh thanh niên: Hình tượng nhân vật anh thanh niên miệt mài, hăng say lao động vì lợi ích đất nước, có sức lan tỏa tới những người xung quanh.
- Tác giả rất thành công khi xây dựng hình tượng nhân vật anh thanh niên cùng những người đồng nghiệp thầm lặng cống hiến sức trẻ, thanh xuân cho đất nước, dân tộc.
- Nhắc nhở thế hệ trẻ lòng biết ơn, trách nhiệm với vận mệnh quốc gia.
Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Thuận năm 2020
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN (3,0 điểm)
[1]. “Trong cuộc sống thường ngày, có biết bao nhiêu tấm gương về lòng nhân ái hiến máu cứu người, quyên góp giúp đỡ đồng bào bị thiên tai, giúp mổ tim cho các em nhỏ bị bệnh bẩm sinh, nhảy xuống dòng nước xoáy của người (...). Tuy vậy, không ít người lại thờ ơ, lãnh đạm với hoàn cảnh khó khăn, hiểm nghèo của người khác (...)
[2]. Lối sống vị tha, mình vì mọi người bắt nguồn từ lòng nhân ái (...). Để có lòng nhân ái, mỗi người phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng lối sống, đạo đức. Môi trường gia đình là nơi khởi nguồn hình thành nhân cách. Đứa trẻ được sinh ra và lớn lên trong một gia đình nền nếp, có giáo dục sẽ yêu thương, kính trọng bố mẹ, ông bà, anh chị em gắn bó với tình cảm ruột thịt (.). Người ta thường nói, trường học vừa là nơi dạy chữ vừa là nơi trồng người. Thiết nghĩ, những bài học đầu tiên của việc trồng người là giáo dục tình yêu thương con người, quý trọng con người"...)
(Trích “Bồi đắp lòng nhân ái", Trần Nguyễn, https://www.nhandan.org.vn/vanhoa/item/766502-.html)
Câu 1 (0,5 điểm) Hãy nêu những tấm gương về lòng nhân ái được tác giả đề cập trong đoạn văn số 1.
Câu 2 (0,5 điểm) “Tuy vậy, không ít người lại thờ ơ, lãnh đạm với hoàn cảnh khó khăn, hiểm nghèo của người khác". Từ “khó khăn" trong câu văn đã nêu là từ đơn hay từ phức?
Câu 3 (1,0 điểm) Em hiểu như thế nào về quan niệm của tác giả: “Môi trường gia đình là nơi khởi nguồn hình thành nhân cách”?
Câu 4 (1,0 điểm) “Để có lòng nhân ái, mỗi người phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng lối sống, đạo đức”. Hãy chỉ ra vài việc làm mà học sinh ở độ tuổi Trung học cơ sở có thể thể hiện lòng nhân ái và đồng thời cho biết vì sao em đề xuất những việc làm ấy.
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn 200 chữ bản về tác dụng của lòng nhân ái trong cuộc sống.
Câu 2 (5,0 điểm)
Hãy phân tích đoạn thơ dưới đây - đoạn thơ được cho là đặc sắc trong tác phẩm “Ánh trăng" (Nguyễn Duy), Ngữ văn 9, tập 1:
(...) Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn
Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình
TP. Hồ Chí Minh, 1978
(Ngữ văn 9, Tập một, NXBGD 2005, trang 155-156)
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1
|
Hãy nêu những tấm gương về lòng nhân ái được tác giả đề cập trong đoạn văn số 1. |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu
Cách giải:
Tấm gương về lòng nhân ái: hiến máu cứu người, quyên góp giúp đỡ đồng bào bị thiên tai, giúp mổ tim cho các em nhỏ bị tim bẩm sinh.
Câu 2
|
“Tuy vậy, không ít người lại thờ ơ, lãnh đạm với hoàn cảnh khó khăn, hiểm nghèo của người khác". Từ “khó khăn" trong câu văn đã nêu là từ đơn hay từ phức? |
Phương pháp: Căn cứ bài Từ và cấu tạo từ tiếng Việt
Cách giải:
- “Khó khăn” là từ phức.
Câu 3
|
Em hiểu như thế nào về quan niệm của tác giả: “Môi trường gia đình là nơi khởi nguồn hình thành nhân cách”? |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Có thể hiểu “Mỗi gia đình là nơi khởi nguồn hình thành nhân cách” là: tác giả muốn khẳng định gia đình là cái nôi nuôi dưỡng và hình thành nhân cách con người. Gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi đứa trẻ.
Câu 4
|
“Để có lòng nhân ái, mỗi người phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng lối sống, đạo đức”. Hãy chỉ ra vài việc làm mà học sinh ở độ tuổi Trung học cơ sở có thể thể hiện lòng nhân ái và đồng thời cho biết vì sao em đề xuất những việc làm ấy. |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Học sinh đưa ra các đề xuất và có lí giải phù hợp với chuẩn mực đạo đức.
Phần II
Câu 1
|
Viết đoạn văn 200 chữ bản về tác dụng của lòng nhân ái trong cuộc sống. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: tác dụng lòng nhân ái
2. Giải thích
- Lòng nhân ái là tình yêu thương giữa con người với con người.
=> Lòng nhân ái có ý nghĩa, vai trò quan trọng, trong cuộc sống.
3. Bàn luận
* Ý nghĩa lòng nhân ái:
- Lòng nhân ái là một giá trị văn hoá lớn của dân tộc ta
- Giúp người với người gần nhau hơn
- San sẻ những bất hạnh khổ đau của người khác, giúp họ vượt qua nghịch cảnh và sống tốt đẹp hơn.
- Giúp những con người lầm đường lạc lối trở về với cuộc sống hiền lành, lương thiện.
- Làm cho tâm hồn trở nên cao đẹp, thánh thiện
- Cuộc sống hạnh phúc, xã hội phát triển.
=> HS lấy dẫn chứng minh họa phù hợp.
* Mở rộng vấn đề
- Bên cạnh những người sống đầy lòng nhân ái, yêu thương con người thì vẫn có những kẻ sống thờ ờ, vô tâm, đáng bị lên án.
* Liên hệ bản thân
4. Tổng kết vấn đề
Câu 2
|
Hãy phân tích đoạn thơ dưới đây - đoạn thơ được cho là đặc sắc trong tác phẩm “Ánh trăng" (Nguyễn Duy), Ngữ văn 9, tập 1: (...) Thình lình đèn điện tắt
Ngửa mặt lên nhìn mặt
Trăng cứ tròn vành vạnh
|
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
Tác giả:
- Nguyễn Duy sinh năm 1948, tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, quê ỏ làng Quảng Xá, xã Đông Vệ, thành phố Thanh Hoá.
+ Năm 1966, ông nhập ngũ vào bộ đội thông tin, tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường.
+ Nguyễn Duy được trao giải nhất cuộc thi thơ báo văn nghệ 1973 với chùm thơ bốn bài (Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Giọt nước mắt và nụ cười, Bầu trời vuông). Từ giải thưởng này, Nguyễn Duy trở thành một gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mĩ và tiếp tục bền bỉ sáng tác.
Tác phẩm:
- Bài thơ “Ánh trăng” được viết năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh, in trong tập “Ánh trăng” - tập thơ của Nguyễn Duy được giải A của Hội nhà văn Việt Nam 1984
- Nguyễn Duy viết bài thơ này khi kết thúc chiến tranh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước được ba năm. Ba năm sống trong hoà bình, không phải ai cũng còn nhớ những gian khổ và kỉ niệm nghĩa tình trong quá khứ. Bởi vậy “Ánh trăng” như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ chân tình của nhà thơ với chính mình, với mọi người về lẽ sống chung thuỷ, nghĩa tình.
2. Phân tích
Cuộc hội ngộ giữa người và trăng
- Tình huống bất ngờ làm thay đổi mạch cảm xúc:
+ Trăng xuất hiện đánh thức bao kỉ niệm, gợi nên bao suy ngẫm:
“Thình lình đèn điện tắt
...vầng trăng tròn”
+ Ba khổ thơ đầu, điệp từ “hồi” được lặp lại khiến giọng thơ bình thường, đều đặn, thủ thỉ, sang khổ thơ thứ 4, giọng thơ đột ngột cất cao trước một tình huống bất ngời. Bằng phép đảo ngữ “thình lình đèn điện tắt”, cuộc sống xa hoa, hiện đại tạm thời biến mất, theo phản xạ tìm ánh sáng từ trong bóng tối, con người vội bật tung cửa sổ và bất ngờ gặp lại vầng trăng xưa. Trăng vẫn bên cửa sổ. Tròn vành vạnh, vẫn tình nghĩa, thủy chung như ngày nào. Phép đảo ngữ “đột ngột” càng nhấn mạnh sự bất ngờ thức tỉnh sau một chặng đường dài lãng quên.
=> Đến đây người lính từng trải như Nguyễn Duy đã chợt nhận ra một điều: cuộc đời mỗi con người giống như một dòng chảy có những quanh co, uốn khúc nhưng phải qua những khúc quanh, qua những biến cố, con người mới nhận ra đâu là chân giá trị của cuộc sống.
- Tình huống bất ngờ xảy đến khiến dòng chảy cuộc đời như ngừng lại, thời gian cũng như ngừng trôi trong cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn, khi người và trăng mặt đối mặt. Con người như lặng đi trong nỗi xúc động mãnh liệt. Người đối diện với trăng trong tư thế có phần thành kính
“ngửa mặt lên nhìn mặt
"có cái gì rưng rưng”
+ Từ “mặt” là từ nhiều nghĩa, tác giả đối mặt vầng trăng hay cũng chính là đối diện đàm tâm, tự soi vào chính mình, soi vào quá khứ, nhìn một thời lãng quên vô tình, bạc bẽo.
+ Trong cuộc đối diện không lười đó, gặp lại người bạn tri kỉ thuở xưa, con người “rưng rưng” xúc động. “Rưng rưng” là cảm xúc dân trào đến nghẹn lời, đến muốn khóc.
+ Trong sự xúc động dâng cao đó, cả một quãng thời gian rất xa sống dậy:
“Như là đồng là bể
như là sông là rừng”
Điệp ngữ “Như là”, phép liệt kê: đồng, sông, bể, rừng xuất hiện một lần nữa, cùng nhịp thơ nhanh như nhiều lớp sóng của hoài niệm ùa về. Phép so sánh để khẳng định cái khoảnh khắc “rưng rưng” ấy, chính là tuổi thơ êm đềm, là những năm tháng chiến đấu gian lao, vất vả, ở đó người luôn có trăng.
=> Khổ thơ là sự xúc động chân thành sâu lắng.
Những suy ngẫm của tác giả.
- Khép lại bài thơ Ánh trăng, Nguyễn Duy đã thể hiện rất rõ ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng và từ đó tác giả nêu ra bài học triết lí gợi nhắc thái độ sống đối với mỗi người
“Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.”
- Trăng xưa vẫn vậy, vẫn tròn đầy, vẹn nguyên thủy chung, từ “cứ”, “kể chi” còn cho thấy thái độ bao dung, độ lượng của vần trăng nhưng đối lập với hình ảnh trăng tròn vành vạnh là con người vô tình, đổi thay.
- Trăng như một người bạn với ánh nhìn im phăng phắc, đó là cái nhìn nghiêm nghị dù rất bao dung, không một lời trách cứ, Trăng như một người bạn bao dung, nhân hậu, độ lượng
- Đến đây “Vầng trăng” đã được thay bằng “Ánh trăng” để nhấn mạnh về ánh sáng. Ánh sáng của lương tri con người soi rọi những góc khuất tối trong tâm hồn người. Ánh sáng soi đường cho con người trở về về với con đường thủy chung, tình nghĩa
- Trước cái nhìn nghiêm nghị, bao dung của người bạn thủy chung, ân tình, trước ánh sáng kì diệu của vầng trăng, con người phải “giật mình”. Giật mình để nhìn lại chính mình. Giật mình để tự vấn lương tâm, để soi vào chính mình, để thấy những tháng ngày qua mình đã vô tình bạc bẽo, để hoàn thiện bản thân. Đây là cái giật mình vô cùng đáng quý, đáng trân trọng.
=> Như vậy, qua khổ thơ cuối, hình ảnh vần trăng mang ý nghĩa biểu tượng sâu xa. Trăng là vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên, trăng là đồng chí, đồng đội, là tấm lòng bao dung, nhân hậu của nhân dân. Trăng là quá khứ vất vả, gian lao nhưng tình nghĩa. Trăng là cội nguồn, là quê hương, đất nước. Từ hình ảnh vầng trăng, tác giả gợi nhắc người đọc một bài học triết lí sâu xa. Đó là thái độ sống “Uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung.
=> Bài học về cách sống của bản thân:
- Luôn sống thủy chung, tình nghĩa, nghĩ nhớ công ơn thế hệ trước và những người giúp đỡ mình.
- Sống độ lượng, bao dùng.
- Luôn biết yêu thương, quan tâm với mọi người.
3. Tổng kết
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
