Đề thi vào 10 môn Văn Phú Thọ
Đề thi vào 10 môn Văn Phú Thọ năm 2026
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
QUÊ HƯƠNG
(1) Chẳng có gì kỳ diệu
Bằng gương mặt quê hương
Vừa thoáng đường nhăn nếp nghĩ mẹ già
Đã tươi tắn tròn đầy như cô gái
(2) Tôi đứng giữa đồng quê lúa đang mùa gặt hái
Nhớ thời nắng hạn mắt quầng thâm
Đất quê tôi nắng rát mặt người
Gió nam như thổi từ núi lửa
[ ... ]
(3) Tôi bỗng nghe niềm vui vang vọng
Trong cánh tay người gặt hái sớm nay
Đồng quê ơi, nắng gió sờn vai
Vẫn hồn hậu giọng cười trong trẻo
(4) Hạt gạo thơm mấy nắng mưa vẫn thế
Vị thật thà bền giữa thời gian
Lòng quê hương trải bày trên cây quả
Thơm dẻo mùa ngô, đồng mía ngọt vàng
(5) Quê hương tôi hiền dịu, mơ màng
Dòng sông xanh nghe bình minh ửng đỏ
Tôi về đây như con bống nhỏ
Được trở về dòng nước buổi sơ sinh
(Lâm Thị Mỹ Dạ, Tác phẩm văn học được Giải thưởng Nhà nước, NXB Hội Nhà văn 2015, tr.160-163)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra 03 từ ngữ, hình ảnh về quê hương xuất hiện trong khổ thơ (2).
Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong hai dòng thơ:
Tôi về đây như con bống nhỏ
Được trở về dòng nước buổi sơ sinh
Câu 4. (1,0 điểm) Nêu nội dung hai dòng thơ sau:
Quê hương tôi hiền dịu, mơ màng
Dòng sông xanh nghe bình minh ửng đỏ
Câu 5. (1,0 điểm) Từ nội dung văn bản, em hãy trình bày (khoảng 7-10 dòng) suy nghĩ về ý nghĩa của quê hương trong cuộc đời con người.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) cảm nhận khổ thơ (3) trong văn bản phần Đọc hiểu:
Tôi bỗng nghe niềm vui vang vọng
Trong cánh tay người gặt hái sớm nay
Đồng quê ơi, nắng gió sờn vai
Vẫn hồn hậu giọng cười trong trẻo
Câu 2. (4,0 điểm)
Mục tiêu là bản đồ dẫn đường. Tuy nhiên, một bộ phận bạn trẻ hiện nay lại không xác định được mục tiêu của mình.
Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề: Học sinh cần làm gì để xác định mục tiêu trong học tập và cuộc sống.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Đếm số tiếng trong các dòng thơ và quan sát cách tổ chức câu thơ.
Lời giải chi tiết:
Thể thơ tự do
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ khổ thơ (2), tìm những từ ngữ hoặc hình ảnh trực tiếp gợi cảnh sắc, cuộc sống quê hương
Lời giải chi tiết:
3 từ ngữ, hình ảnh: đồng quê, lúa, mùa gặt hái, nắng hạn,…
Câu 3.
Phương pháp:
Chỉ ra hình ảnh so sánh (“tôi” – “con bống nhỏ”), phân tích ý nghĩa: làm nổi bật cảm giác thân thuộc, bình yên, gắn bó sâu nặng của nhân vật trữ tình khi trở về quê hương.
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ: so sánh (“Tôi về đây như con bống nhỏ”).
- Tác dụng:
+ Diễn tả cảm giác bình yên, hạnh phúc, thân thuộc của tác giả khi trở về quê hương.
+ Nhấn mạnh quê hương là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn con người từ thuở ban đầu.
+ Thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng, gắn bó tha thiết của nhà thơ.
Câu 4.
Phương pháp:
Dựa vào hình ảnh và từ ngữ gợi tả để khái quát nội dung: vẻ đẹp hiền hòa, thơ mộng của quê hương và tình cảm yêu thương, gắn bó của tác giả đối với quê nhà.
Lời giải chi tiết:
Nội dung hai câu thơ: khắc họa vẻ đẹp thanh bình, thơ mộng và giàu sức sống của quê hương. Hình ảnh dòng sông xanh trong ánh bình minh gợi một không gian tươi mới, yên ả và tràn đầy sức sống. Qua đó, tác giả bày tỏ niềm yêu mến, tự hào và gắn bó sâu sắc với quê hương.
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung bài thơ, trình bày vai trò của quê hương: nơi sinh ra, nuôi dưỡng tâm hồn, lưu giữ kỉ niệm, tạo điểm tựa tinh thần và hình thành nhân cách. Liên hệ trách nhiệm yêu quý, giữ gìn, góp phần xây dựng quê hương.
Lời giải chi tiết:
Quê hương có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc đời mỗi con người.
- Đó là nơi ta sinh ra, lớn lên và lưu giữ biết bao kỉ niệm thân thương của tuổi thơ.
- Quê hương nuôi dưỡng con người bằng tình yêu thương gia đình, truyền thống tốt đẹp và những giá trị văn hóa quý báu.
- Tình yêu quê hương giúp chúng ta biết trân trọng quá khứ, sống có trách nhiệm hơn với hiện tại và tương lai.
- …
=> Vì vậy, mỗi người cần giữ gìn, bảo vệ và góp sức xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.
II. VIẾT
Câu 1.
Phương pháp:
Giới thiệu khái quát nội dung khổ thơ, phân tích niềm vui lao động và vẻ đẹp con người quê hương qua hình ảnh “người gặt hái”, “nắng gió sờn vai”, “giọng cười trong trẻo”. Kết hợp phân tích nghệ thuật (hình ảnh gợi cảm, nhân hóa, giọng thơ tha thiết) và nêu cảm nhận.
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận
2. Thân đoạn
- Niềm vui trước cuộc sống lao động no ấm
+ Từ ngữ “bỗng nghe”, “vang vọng” diễn tả niềm vui lan tỏa mạnh mẽ.
+ “Cánh tay người gặt hái” gợi hình ảnh người nông dân đang thu hoạch mùa màng.
=> Niềm vui được cảm nhận từ thành quả lao động sau bao ngày vất vả.
- Vẻ đẹp của con người quê hương
+ Hình ảnh “nắng gió sờn vai” gợi cuộc sống lao động nhọc nhằn, gian khó. Thể hiện sự chịu thương chịu khó, bền bỉ của người nông dân.
+ “Vẫn hồn hậu giọng cười trong trẻo”: Từ “vẫn” nhấn mạnh phẩm chất tốt đẹp không đổi. Dù trải qua nhiều khó khăn, họ vẫn lạc quan, chân chất, yêu đời.
=> Khổ thơ thể hiện niềm vui, niềm tự hào của tác giả trước vẻ đẹp của con người lao động và quê hương sau những tháng ngày vất vả.
- Nghệ thuật
+ Nhân hóa, cách xưng hô “Đồng quê ơi” giàu cảm xúc.
+ Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi.
+ Ngôn ngữ giàu sức gợi.
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận
Câu 2.
Phương pháp:
- Giới thiệu vấn đề, giải thích vai trò của mục tiêu đối với học sinh.
- Phân tích thực trạng một số bạn trẻ chưa có mục tiêu, nguyên nhân và hậu quả.
- Đề xuất giải pháp: hiểu bản thân, xác định ước mơ phù hợp, lập kế hoạch học tập, rèn kỉ luật, học hỏi định hướng từ gia đình – thầy cô.
- Phản đề, liên hệ bản thân và khẳng định lại vấn đề.
Lời giải chi tiết:
I. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
II. Thân bài
1. Giải thích
- Mục tiêu là cái đích, là kết quả mà chúng ta mong muốn đạt được trong một khoảng thời gian nhất định.
2. Phân tích và chứng minh
- Nhiều bạn học sinh hiện nay đang rơi vào trạng thái "sống mòn", học tập một cách đối phó, thụ động theo sự sắp đặt của cha mẹ, hoặc lạc lối trước các xu hướng trên mạng xã hội mà không biết mình thực sự muốn gì.
- Học sinh cần làm gì để xác định mục tiêu?
+ Thấu hiểu bản thân: Học sinh cần chủ động nhìn nhận lại chính mình. Chỉ khi hiểu rõ năng lực và mong muốn của bản thân, mục tiêu đặt ra mới thực tế và không bị viển vông.
+ Mục tiêu không được chung chung mà phải cụ thể và đo lường được.
+ Chia nhỏ mục tiêu và lập kế hoạch hành động: cần chia nhỏ nó ra thành từng chặng (theo tuần, theo tháng). Mục tiêu phải đi đôi với hành động cụ thể.
+ Tìm kiếm sự tham vấn từ người đi trước: chủ động trò chuyện, xin lời khuyên từ thầy cô, cha mẹ hay các anh chị đi trước sẽ giúp các bạn có cái nhìn khách quan, tránh đặt mục tiêu sai lệch.
HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp
3. Bàn luận mở rộng
- Khi xác định được mục tiêu, học sinh sẽ có động lực tự học tự thân mạnh mẽ, không còn cảm thấy áp lực hay chán nản. Mục tiêu giống như ngọn hải đăng giúp ta kiên cường vượt qua những thất bại tạm thời.
- Tránh việc đặt mục tiêu quá cao so với năng lực dẫn đến khủng hoảng, áp lực.
- Mục tiêu không phải là những con số cố định, cứng nhắc. Trên hành trình phát triển, học sinh cần biết linh hoạt điều chỉnh mục tiêu cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế.
III. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Đề thi vào 10 môn Văn Phú Thọ năm 2025
Đề bài
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
(1) Tôi thực sự tin rằng sự thanh thản và niềm vui trong cuộc sống của chúng ta không phụ thuộc vào việc chúng ta ở đâu, làm gì hay là ai, mà chỉ phụ thuộc vào thái độ tinh thần của chúng ta. Những điều kiện ngoại cảnh thường có tác động rất ít. Chẳng hạn như trường hợp của John Brown, người bị kết án treo cổ vì tội chiếm giữ kho vũ khí Liên bang tại Harper Ferry và xúi giục nô lệ nổi loạn. Trên đường đến nơi thi hành án, trong khi người cai tù đi bên cạnh lo lắng và căng thắng, ông vẫn giữ thái độ hết sức bình tĩnh và điềm đạm. Ngồi trên nóc chiếc quan tài đóng sẵn cho mình, ông thốt lên lúc nhìn thấy rặng núi Blue của Virginia: “Miền đất này tươi đẹp quá! Trước đây, tôi chưa bao giờ có cơ hội được thực sự ngắm nhìn nó”.
(2) Hay như câu chuyện về Robert Falcon Scott và đoàn người của ông - những người Anh đầu tiên đặt chân tới Nam Cực. Hành trình trở về của họ là một trong những hành trình gian khổ nhất trong lịch sử nhân loại. Thức ăn và nhiên liệu đã cạn kiệt nhưng họ không thể đi tiếp do một cơn bão tuyết dữ dội đã quét qua vòng địa cực suốt 11 ngày đêm, đem theo những cơn gió sắc buốt làm lẹm đứt cả những ngọn núi băng ở đó. Đoàn thám hiểm của Scott biết mình sẽ chết. Trước đó, họ có mang sẵn một ít thuốc phiện để dùng trong những trường hợp khẩn cấp. Chỉ một liều lớn thôi, tất cả có thể nằm xuống với những giấc mơ thiên đường và không bao giờ tỉnh dậy nữa. Nhưng như chúng ta đã biết, họ không làm thế. Họ đã ca hát vui vẻ cho đến hơi thở cuối cùng. Tám tháng sau, một đội tìm kiếm đã phát hiện dưới thi thể đóng băng của những con người can đảm ấy một lá thư từ biệt kể lại điều này.
(3) Đúng vậy, nếu biết suy nghĩ bình tĩnh và can đảm, chúng ta vẫn có thể thưởng ngoạn cảnh đẹp ngay cả khi đang ngồi trên quan tài của mình để đi đến giá treo cổ; vẫn có thể ca hát rộn vang những căn lều cho tới khi từ giã cuộc đời vì đói khát và rét mướt.
(Trích Quẳng gánh lo đi và vui sống, Dale Carnegie, NXB Trẻ, 2020, tr.65 - 66)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
Câu 1. Theo tác giả, sự thanh thản và niềm vui trong cuộc sống của chúng ta không phụ thuộc vào những gì?
Câu 2. Xác định lời dẫn trực tiếp được sử dụng trong đoạn (1).
Câu 3. Trong đoạn (2) đoàn thám hiểm đã làm gì khi biết mình sẽ chết? Em hiểu như thế nào về ý nghĩa của sự lựa chọn đó?
Câu 4. Thông điệp có ý nghĩa nhất đối với em qua đoạn trích trên là gì? Vì sao?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Em hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về những điều cần làm để vượt qua trở ngại trong cuộc sống.
Câu 2. (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận phân tích đoạn trích sau:
Ôi yêu quá, mấy cây dừa trước ngõ
Rễ dừa nâu, mườn mượt gân tơ
Đường tạnh ráo, đất lên màu tươi mới
Đã yêu rồi sao bỗng thấy yêu hơn ...
Quê hương ơi,
Mấy năm trời xa cách
Đêm nay ta nằm nghe mưa rơi,
Nghe tiếng trời gầm xa lắc ...
Cớ sao lòng lại xót đau?
Ta muốn về quê nội
Ta muốn trở lại tuổi thơ
Ta muốn nằm trên mảnh đất ông cha
Nghe mưa đập cành tre, nghe mưa rơi tàu lá ...
(Trích Nhớ mưa quê hương, Lê Anh Xuân, Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam 1945 - 1975, NXB Giáo dục, 2001, tr.660)
Lời giải chi tiết
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) |
Câu 1. |
Theo tác giả, sự thanh thản và niềm vui trong cuộc sống của chúng ta không phụ thuộc vào việc chúng ta ở đâu, làm gì hay là ai. |
|
Câu 2. |
Lời dẫn trực tiếp: Miền đất này tươi đẹp quá! Trước đây, tôi chưa bao giờ có cơ hội được thực sự ngắm nhìn nó. |
|
|
Câu 3. |
Đoàn thám hiểm khi biết mình sắp chết đã: ca hát vui vẻ cho đến hơi thở cuối cùng. Ý nghĩa của sự lựa chọn đó là: Sự lựa chọn ấy thể hiện tinh thần kiên cường, lạc quan và can đảm đối mặt với cái chết. Họ không đầu hàng số phận mà chọn giữ vững tinh thần mạnh mẽ, sống trọn vẹn từng giây phút cuối cùng trong niềm vui và ý chí bất khuất. |
|
|
Câu 4. |
HS dựa vào văn bản và đưa ra thông điệp phù hợp. Gợi ý. Thái độ tinh thần quyết định hạnh phúc và sự thanh thản trong cuộc sống, chứ không phải hoàn cảnh bên ngoài. |
|
|
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) |
Câu 1. (2,0 điểm) |
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề: Điều cần làm để vượt qua trở ngại trong cuộc sống. 2. Thân đoạn: - Giải thích: “Trở ngại” là những yếu tố, tình huống không thuận lợi, gây khó khăn cho việc thực hiện một hành động, nhiệm vụ => Trở ngại là điều không thể tránh trong cuộc sống của mỗi chúng ta: - Cần làm gì để vượt qua trở ngại: + Xác định rõ những trở ngại mà bạn đang phải đối mặt. + Sẵn sàng, dũng cảm đối diện với trở ngại, không e ngại, né tránh. + Xây dựng kế hoạch và hành động cụ thể để vượt qua những trở ngại, theo đuổi mục tiêu của mình. - Bên cạnh đó mỗi chúng ta cũng cần không ngừng phát triển bản thân, trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình. Luôn giữ vững tinh thân lạc quan, … (HS lấy bằng chứng phù hợp) - Phê phán: Một số người khi đối diện với những trở ngại thường né tránh, dễ dàng buông xuôi, bỏ cuộc. * Bài học: - Cần hiểu trở ngại là một phần tất yếu của cuộc sống. - Xây dựng cho bản thân kế hoạch hành động cụ thể để vượt qua những trở ngại trong cuộc sống. 3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
1. Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn thơ. 2. Thân bài - Đoạn trích thơ trên thể hiện tình yêu, nỗi nhớ da diết với quê hương và khát vọng trở về cội nguồn của một người con xa quê. + Tình yêu và nỗi nhớ quê hương thể hiện qua những hình ảnh: “cây dừa trước ngõ”, … “mấy năm trời, “xa cách”; âm thanh “tiếng trời gầm xa lắc”, “tiếng mưa”. + Khát vọng trở về cội nguồn, trở về tuổi thơ của tác giả: Điệp ngữ “ta muốn”; âm thanh “mưa đập cành tre, mưa rơi tàu lá”... - Nghệ thuật: + Thể thơ tự do, nhịp điệu linh hoạt + Hình ảnh thơ gần gũi, giản dị, thân thuộc +Ngôn ngữ thơ mộc mạc, chân thành. + Giọng thơ tha thiết, khắc khoải. + Sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ điệp ngữ, câu hỏi tu từ, ... 3. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận |
Đề thi vào 10 môn Văn Phú Thọ năm 2023
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau:
(1) Tôi nhìn em, nghĩ về những gì đang diễn ra, nhớ về điều mà một người thầy tôi từng nói: “Một thời đại với những giá trị bị đảo lộn”. Những thứ tầm thường giải trí rẻ tiền thì lại lên ngôi, còn những điều chân giả trị thì lại lặn xuống dưới. Người ta nhìn nhau qua vẻ bề ngoài, chạy theo vật chất, theo chủ nghĩa tiêu thụ, hoặc chìm đắm vào những thú vui thoáng qua. Tự hỏi cái gì đang diễn ra vậy, mọi người đang làm gì vậy, có vấn đề gì với thế giới này vậy. Tôi đã thấy bao nhiêu người quanh mình bị cuốn theo cái vòng xoáy dữ dội đó. Thấy bất lực vì tiếng nói của mình thì quả nhỏ bé. Nhiều khi chỉ muốn bỏ đi, lên núi xây một cái chòi, sống giữa thiên nhiên cây cỏ.
(2)Nhưng giờ tôi đã không còn muốn bỏ đi nữa. Tôi đã tìm thấy được “bộ lạc” của mình. Sống trong một vòng tròn an lành của những người thầy, người bạn. Đã gặp bao nhiêu người tử tế, thấy được bao nhiêu tấm lòng chân thành, tốt đẹp trên đời. Đã tìm thấy những người cùng chia sẻ giá trị sống như mình. Đã xây dựng được cộng đồng của riêng mình.
[...](3)Tôi đã tìm được ngôi nhà của mình, vòng tròn những người giống mình. Những người nhận ra vấn đề với thế giới, và đang cố gắng từng ngày chung tay làm cho cuộc sống trở nên tươi sáng hơn. Nên em đừng nản chí. Cứ tìm rồi sẽ thấy.
(Trích Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu?, Rosie Nguyễn, NXB Hội nhà văn, 2016, tr.123 - 124)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra biểu hiện của “Một thời đại với những giá trị bị đảo lộn” được nói đến trong đoạn văn (1).
Câu 2. Xác định và nêu tác dụng của phép lặp dùng để liên kết câu trong đoạn văn (2).
Câu 3. Thông điệp nào trong đoạn trích có ý nghĩa nhất với em? Vì sao?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, em hãy viết 01 đoạn văn (từ 10 đến 12 câu) trả lời câu hỏi: Cần làm gì để sống là chính mình trong một thế giới muốn biến mình thành người khác?
Câu 2. Cảm nhận của em về vẻ đẹp mùa xuân đất nước trong đoạn thơ:
Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao...
Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước.
(Trích Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.56)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Câu 1:
Phương pháp:
Đọc, tìm ý.
Cách giải:
Biểu hiện của “Một thời đại với những giá trị bị đảo lộn”:
- Những thứ tầm thường giải trí rẻ tiền thì lại lên ngôi, còn những điều chân giá trị thì lại lặn xuống dưới.
- Người ta nhìn nhau qua vẻ bề ngoài, chạy theo vật chất, theo chủ nghĩa tiêu thụ, hoặc chìm đắm vào những thú vui thoáng qua.
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
- Phép liên kết lặp: đã, tôi, mình, người, thấy, được.
- Tác dụng: giúp các câu trong đoạn văn liên kết với nhau để thể hiện vấn đề cần bàn luận.
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
- Thông điệp trong đoạn trích có ý nghĩa nhất với em là: Rồi chúng ta sẽ tìm thấy những người giống mình, những người đang cố gắng chung tay làm cho cuộc sống trở nên tươi sáng hơn.
- Trong xã hội chạy theo vật chất như hiện nay, không khó để thấy những điều tiêu cực xảy ra hàng ngày. Tuy nhiên, cũng không khó để bắt gặp những hành động tử tế đến từ những người quanh ta: một bạn học sinh giúp bà cụ qua đường, anh sinh viên nhường ghế cho phụ nữ mang thai trên xe bus hay những người hùng đường phố ra mặt khi thấy bất bình… Từ những điều đó, em tin rằng, không phải thế giới này toàn điều tồi tệ, mà quan trọng là chúng ta chưa nhìn thấy những điều tốt đẹp quanh mình. Vì những gì tử tế, rồi sẽ tìm đến với nhau.
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1:
Cách giải:
a. Mở đoạn:
- Giới thiệu vấn đề: Cần làm gì để sống là chính mình trong một thế giới muốn biến mình thành người khác?
b. Thân đoạn:
- Giải thích: Sống là chính mình là sống với những gì tự nhiên vốn có trong con người, không cần phải gò bó hay ép buộc mình phải sống giống bất kì ai.
- Bàn luận:
+ Biểu hiện của sống là chính mình: Tự tin vào khả năng, hài lòng với ngoại hình của bản thân, không để ý hay so bì với cuộc sống của người khác. Có mục tiêu, kế hoạch, mơ ước rõ ràng và phấn đấu, cố gắng giữ vững lập trường vì mục tiêu đó. Không bị bất cứ điều gì tác động làm thay đổi ý kiến, quan điểm riêng…
+ Ý nghĩa của việc sống là chính mình: Tạo ra cá tính, màu sắc khác biệt, có lập trường vững chắc, kiên định. Biết trân trọng bản thân, tự hào về chính mình và nỗ lực phát triển trở thành người có ích trong xã hội.
+ Điều cần làm để sống là chính mình: Yêu bản thân và biết trân trọng những gì đang có. Không nên cố gắng theo đuổi những gì không phù hợp với bản thân. Xây dựng một lí tưởng rõ ràng và không ngừng phát triển…
+ Phản đề: Một số người sống không có lập trường, luôn bị tác động bởi những ý kiến xung quanh khiến bản thân trở nên tự ti, mất phương hướng hoặc hay soi sét cuộc sống của người khác và cố trở thành bản sao của họ… Những người này cần thay đổi để trở thành một cá thể riêng biệt, có bản sắc riêng. Sống là chính mình khác với sống dị biệt, tách biệt với cuộc sống.
c. Kết đoạn:
- Liên hệ bản thân: Giữa một thế giới muốn biến mình thành người khác, em nhận thức được mình cần định vị rõ bản thân để được sống là chính mình.
Câu 2 (5.0 điểm):
Cách giải:
I. Mở bài:
- Giới thiệu những nét khái quát về tác giả Thanh Hải (đặc điểm về con người, sự nghiệp sáng tác, phong cách sáng tác,...).
- Giới thiệu khái quát về bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ" (hoàn cảnh sáng tác bài thơ, xuất xứ, khái quát những nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của bài thơ,...).
- Giới thiệu khái quát về khổ 2 và khổ 3 của bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ".
II. Thân bài:
a. Vẻ đẹp của mùa xuân đất nước.
- Nhà thơ Thanh Hải đã cảm nhận và tái hiện khung cảnh mùa xuân của đất nước qua hai hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng là “người cầm súng” và “người ra đồng”.
+ “Người cầm súng” và “người ra đồng” là hai hình ảnh biểu tượng cho hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng nhất của đất nước ta ở thời điểm bài thơ ra đời.
Hình ảnh “người cầm súng” lại đi liền với hình ảnh “lộc giắt đầy quanh lưng” đã gợi cho người đọc liên tưởng đến những vòng lá ngụy trang của người chiến sĩ trên đường hành quân ra trận.
+ Hình ảnh “người ra đồng” được sử dụng kết hợp với hình ảnh “lộc trải dài nương mạ” gợi liên tưởng đến những cánh đồng tươi tốt, xanh thẳm, màu mỡ.
- Điệp từ “mùa xuân” và điệp từ “lộc” đã gợi lên quang cảnh mùa xuân tươi đẹp đang vươn ra những chồi lộc non và đồng thời cũng gợi lên thành quả của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Điệp từ “tất cả” được kết hợp với những từ láy “hối hả”, “xôn xao” làm cho nhịp thơ trở nên gấp gáp, gợi một nhịp sống sôi động, hối hả, khẩn trương.
b. Niềm tự hào, niềm tin vào tương lai tươi sáng của nhà thơ trước mùa xuân của đất nước.
- Nhà thơ Thanh Hải đã nhắc lại chặng đường 4000 năm của đất nước thông qua hệ thống các tính từ “vất vả”, “gian lao”.
- Hình ảnh so sánh "đất nước như vì sao" đã mở ra nhiều liên tưởng độc đáo và giàu ý nghĩa: vừa gợi đến nguồn sáng trường tồn mãi với không gian, thời gian, vừa gợi lên niềm tin của tác giả về một tương lai tươi sáng, rộng mở của đất nước với khí thế mạnh mẽ không gì cản nổi.
- Cấu trúc song hành "đất nước bốn ngàn năm", "đất nước như vì sao" đã diễn tả sự vận động đi lên của lịch sử và là lời khẳng định về sự trường tồn vĩnh cửu của đất nước.
- Cụm từ "cứ đi lên phía trước" như một lời khẳng định, một sự thể hiện ý chí và lòng quyết tâm và niềm tin sắt đá về tương lai tươi sáng, tốt đẹp của quê hương, đất nước.
III. Kết bài:
Khái quát những giá trị đặc sắc về nội dung, giá trị nghệ thuật của khổ 2, khổ 3 của bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ" và nêu cảm nhận của bản thân.
Đề thi vào 10 môn Văn Phú Thọ năm 2022
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) Đọc đoạn trích:
Bất kỳ đứa trẻ nào cũng sẽ có lúc phải đối mặt với những vấn đề của bản thân và có khả năng trở thành nạn nhân của chính mình. Giới trẻ phải chịu rất nhiều áp lực từ học hành, thi cử, các mối quan hệ gia đình, bạn bè, thầy cô, ... Nếu như không có tâm lý vững vàng, kỹ năng giải quyết vấn đề tốt, nhiều em rất dễ có những suy nghĩ bế tắc, lệch chuẩn và có những quyết định sai lầm.
Việc dạy con biết yêu thương bản thân từ khi còn nhỏ là điều vô cùng cần thiết và quan trọng, không chỉ giúp con xây dựng sự tự tin, lòng dũng cảm, bản lĩnh đương đầu với khó khăn, mà còn giúp con biết quý trọng bản thân, biết yêu thương người khác, có những trải nghiệm mới mẻ trong cuộc sống, cũng như biết tránh xa những việc gây tổn thương cho con sau này.
Tôi đặc biệt thích câu nói của nhà tâm lý học nổi tiếng Vũ Chi Hồng (tác giả bộ sách “Tâm lý học tình yêu”): “Chỉ bằng cách chấp nhận bản thân, bạn mới có thể trở thành một phiên bản tốt hơn của chính mình”.
(https://tuoitre.vn/hay-day-tre-yeu-thuong-ban-than-de-tre-quy-trong-su-song-va-cuoc-doi-minh 0220423215637039.htm)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra những áp lực giới trẻ phải chịu được nói đến trong đoạn trích.
Câu 2. Nêu hiệu quả của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: “Việc dạy con biết yêu thương bản thân từ khi còn nhỏ là điều vô cùng cần thiết và quan trọng, không chỉ giúp con xây dựng sự tự tin, lòng dũng cảm, bản lĩnh đương đầu với khó khăn, mà còn giúp con biết quý trọng bản thân, biết yêu thương người khác, có những trải nghiệm mới mẻ trong cuộc sống, cũng như biết tránh xa những việc gây tổn thương cho con sau này”.
Câu 3. Em có đồng tình với quan điểm “Chỉ bằng cách chấp nhận bản thân, bạn mới có thể trở thành một phiên bản tốt hơn của chính mình” không? Vì sao?
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, em hãy viết đoạn văn (khoảng 10 -12 câu) trình bày suy nghĩ về điều nên làm để trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình.
Câu 2. Cảm nhận của em về vẻ đẹp nữ tính và phẩm chất anh hùng của nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê).
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1:
|
Chỉ ra những áp lực giới trẻ phải chịu được nói đến trong đoạn trích. |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Những áp lực giới trẻ phải chịu là: học hành, thi cử, các mối quan hệ gia đình, bạn bè, thầy cô…
Câu 2:
|
Nêu hiệu quả của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: “Việc dạy con biết yêu thương bản thân từ khi còn nhỏ là điều vô cùng cần thiết và quan trọng, không chỉ giúp con xây dựng sự tự tin, lòng dũng cảm, bản lĩnh đương đầu với khó khăn, mà còn giúp con biết quý trọng bản thân, biết yêu thương người khác, có những trải nghiệm mới mẻ trong cuộc sống, cũng như biết tránh xa những việc gây tổn thương cho con sau này”. |
Phương pháp: Căn cứ bài liệt kê, phân tích.
Cách giải:
- Biện pháp liệt kê: tự tin, lòng dũng cảm, bản lĩnh… quý trọng bản thân, yêu thương người khác, trải nghiệm mới mẻ trong cuộc sống, biết tranh xa những việc gây tổn thương cho con sau này.
- Tác dụng:
+ Biện pháp liệt kê tạo nhịp điệu cho câu văn.
+ Biện pháp liệt kê nhằm nhấn mạnh tác dụng, ý nghĩa khi dạy con biết yêu thương bản thân ngay từ khi còn nhỏ. Từ đó tác giả muốn nhấn mạnh ý nghĩa của việc dạy con biết yêu thương chính mình.
Câu 3:
|
Em có đồng tình với quan điểm “Chỉ bằng cách chấp nhận bản thân, bạn mới có thể trở thành một phiên bản tốt hơn của chính mình” không? Vì sao? |
Phương pháp: Phân tích, lí giải.
Cách giải:
HS nêu quan điểm cá nhân và đưa ra những lí giải phù hợp.
Gợi ý:
- Đồng tình với quan điểm của tác giả.
- Vì: Khi chúng ta biết yêu thương bản thân, biết chấp nhận những sai lầm, khuyết điểm của chính mình, nhận ra những điểm hạn chế mà bản thân còn tồn tại từ đó ta mới có ý thức để cải tạo, thay đổi làm bản thân mình tốt hơn. Từ đó tạo ra một phiên bản tốt hơn của chính mình.
II. LÀM VĂN:
Câu 1:
|
Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, em hãy viết đoạn văn (khoảng 10 -12 câu) trình bày suy nghĩ về điều nên làm để trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình. |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: Những điều nên làm để trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình.
2. Bàn luận
- Cuộc sống là một dòng chảy không ngừng và mỗi người chúng ta phải liên tục làm mới và hoàn thiện bản thân, nếu không muốn bản tân trở nên lạc hậu. Trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình hãy bắt đầu từ những việc nhỏ bé ngay hôm nay.
- Những điều nên làm để trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình:
+ Học cách quản lí thời gian.
+ Tập trung vào những điểm mạnh của bản thân và nỗ lực phát huy những điểm mạnh đó.
+ Bên cạnh việc phát huy điểm mạnh cũng cẩn nhìn thẳng vào những khuyết điểm và cải thiện những khuyết điểm đó.
+ Trau dồi tri thức, bồi dưỡng đời sống tinh thần, nâng cao thể lực.
+ Học cách buông bỏ những nỗi buồn và sống một cuộc đời thật ý nghĩa, hạnh phúc…
+ …
3. Tổng kết vấn đề.
Câu 2:
|
Cảm nhận của em về vẻ đẹp nữ tính và phẩm chất anh hùng của nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê). |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm Những ngôi sao xa xôi.
- Giới thiệu về nhân vật Phương Định.
2. Thân bài:
a. Vẻ đẹp nữa tính: tâm hồn nhạy cảm, mơ mộng, giàu yêu thương:
- Nét đẹp trẻ trung, hồn nhiên, mơ mộng:
+ Cô luôn chăm chút cho ngoại hình và rất tự hào về đôi mắt “có cái nhìn sao mà xa xăm” và cái cổ kiêu hãnh như đài hoa loa kèn -> thấy mình là một cô gái khá.
+ Cô thích soi gương, thích làm điệu trước các anh bộ đội.
+ Đặc biệt, Phương Định rất thích hát, thích nhiều loại nhạc khác nhau và còn thường bịa lời ra để hát.
+ Cô vui thích cuống cuồng trước 1 cơn mưa đá.
+ Cô cũng hay hồi tưởng về quá khứ, về tuổi học sinh, về căn nhà nhỏ bên quảng trường thành phố. Cô nhớ khuôn cửa sổ, nhớ những ngôi sao trên bầu trời Hà Nội, nhớ bà bán kem với lũ trẻ con háo hức vây quanh. Đó là những kí ức làm tươi mát tâm hồn cô trong hoàn cảnh chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh.
- Vào chiến trường 3 năm, phải trải qua nhiều gian khổ, thiếu thốn song Phương Định vẫn giữ gìn vẹn nguyên, thế giới tâm hồn mình. Đây là một minh chứng cho sức sống mãnh liệt của cô gái trẻ này.
Tình cảm gắn bó, yêu thương cô dành cho những đồng đội:
+ Cô yêu thương, chiều chuộng Nho như một đứa em út trong nhà. Khi Nho bị thương, cô lo lắng, chăm sóc, cảm thấy đau như chính mình bị thương.
+ Với chị Thao: Phương Định hiểu tính cách và tình cảm của chị, cô coi chị Thao như người chị cả trong gia đình.
+ Khi đồng đội trên cao điểm, Phương Định ở nơi an toàn trực điện đài, mà chẳng thể yên lòng: cô gắt lên với đội trưởng, cô sốt ruột chạy ra ngoài rồi lo lắng.
Tất cả đã làm hiện lên một thế giới tâm hồn, tinh tế, trong sáng, nhân hậu và vẻ đẹp nhân cách của một người thiếu nữ, sống giữa hiện thực chiến tranh khốc liệt mà vẫn tràn đầy niềm yêu thương, tin tưởng dành cho con người và cuộc sống.
Lê Minh Khuê đã khắc họa thành công nhân vật Phương Định, người thiếu nữ Hà Nội với tâm hồn phong phú và lòng dũng cảm, tinh thần quên mình vì nhiệm vụ. Nhà văn đã góp cho văn xuôi chống Mĩ một trong những hình tượng sống động và đáng yêu nhất.
b. Vẻ đẹp dũng cảm, kiên cường:
- Phương Định cùng đồng đội phải đảm nhận một công việc đầy gian khổ, hiểm nguy trên cung đường Trường Sơn, giữa những năm kháng chiến chống Mĩ ác liệt:
+ Cô thuộc tôt trinh sát mặt đường, hàng ngày phải đo khối lượng đất đá lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần phải phá bom.
+ Vì thế, mỗi khi máy bay ném bom phải lao lên mặt đường, đánh dấu đoạn đường bị bom phá hỏng và những quả bom chưa nổ.
+ Không chỉ vậy, cô và tổ trinh sát còn phải đảm đương việc phá bom nổ chậm -> nhiệm vụ đòi hỏi sự bình tĩnh, dũng cảm, quên mình của chiến sĩ vì thần chết lẩn trong ruột những quả bom.
- Là công việc mà có làm bao nhiêu lần vẫn không thể quen, vẫn luôn căng thẳng đến mức “thần kinh căng như chão… tim đập bất chấp cả nhịp điệu”.
- Vậy mà, cô vẫn bám trụ 3 năm liền trên tuyến đường Trường Sơn, chứng tỏ vẻ đẹp quả cảm, ý chí kiên cường, lòng yêu nước của Phương Định.
- Diễn biến tâm trạng Phương Định trong một lần phá bom nổ chậm:
+ Nền của tâm trạng là không khí căng thẳng: bầu trời, mặt đất vắng lặng phát sợ.
+ Phương Định đã chiến thắng nỗi sợ hãi của mình: Đi thẳng người đến bên quả bom; tất cả mọi giác quan của cô trở nên nhạy bén, có ngày cô phá bom đến 5 lần. Tinh thần trách nhiệm, sự quên mình trong công việc khiến cái chết trở nên mờ nhạt. Cô chỉ nghĩ đến “liệu mìn có nổ, bom có nổ không?”
Cô là biểu tượng cho vẻ đẹp của lòng quả cảm, kiên cường của thế hệ nữ thanh niên xung phong thời chống Mĩ.
3. Kết bài:
- Nội dung:
+ Khắc họa thành công với những nữ thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mĩ là: Phương Định. Họ trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ.
+ Qua đó, ngợi ca tâm hồn trong sáng, tính cách dũng cảm và tinh thần lạc quan của người chiến sĩ thanh niên xung phong Trường Sơn.
- Nghệ thuật: Nghệ thuật miêu tả nhân vật đặc sắc, kể chuyện sinh động, ngôn ngữ trần thuật phù hợp với nhân vật, nhịp kể biến đổi linh hoạt.
Đề thi vào 10 môn Văn Phú Thọ năm 2021
Đề bài
PHẦN I (3.0 điểm) Đọc đoạn trích dưới đây:
Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung tượng ngày 8/2/2021.
Thiên thần của chị!
Em đang ngủ hồn nhiên, đôi môi chúm lại như đang mút kẹo, Còn chị, chị ngắm nhìn em, một thiên thần được sinh ra giữa mùa Covid, với niềm hạnh phúc không gì tả nổi. Chị muốn nói với em thật nhiều về những ngày tháng chị cùng em ở trong khu cách ly này nhưng em quá bé nhỏ chẳng thể ghi nhớ nổi điều gì. Thế nên chị viết những dòng này cho em của chị,
Em à! Chị thật may mắn khi được ở đây trong những ngày qua. Thời gian gần một tháng trời đã cho chị hiểu rằng bên trong tấm biển "KHU VỰC CÁCH LY ĐẶC BIỆT" kia không phải là những điều đáng sợ như người ta vẫn tưởng mà là cả một thế giới của sự ân cần chăm sóc, của những tấm lòng ấm áp yêu thương. Thế giới có những anh hùng thầm lặng, sẵn sàng cho đi mà không đòi hỏi bất cứ thứ gì. Nơi đây đã cho chị biết hạnh phúc không
phải chỉ là được ăn ngon, mặc đẹp, được thỏa sức vui chơi mà là được sống trong niềm tin về tình yêu thương giữa những con người. Bây giờ, chị thực sự hiểu rằng vì sao một đất nước nhỏ bé trên bản đồ thế giới lại khiến cho các cường quốc năm châu phải nể phục trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19. Đơn giản thôi em ơi, mỗi con người của dải đất này đều truyền đến nhau thông điệp 5K: "Khẩu trang - Khử khuẩn - Khoảng cách – Không tụ tập - Khai báo y tế”. Tất cả cùng hòa chung "Vũ điệu rửa tay - Ghen Covy”. Tất cả cùng đồng lòng
"chống dịch như chống giặc", và anh dũng nhất là những nhân viên y tế tuyến đầu.
(Trích Bức thư đạt giải Nhất quốc gia cuộc thi viết thư quốc tế UPU lần thứ 50 của em Đào Anh Thư, lớp 8A2 trường THCS Nguyễn Huy Tưởng, Đông Anh, Hà Nội, nguồn http://www.vnpost.vn, ngày 11/5/2021)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Theo lời người chị trong phần đầu bức thư, chị muốn nói với người em mới sinh của mình điều gì?
Câu 2. Theo em, vì sao người chị lại cho rằng mình thật may mắn khi được ở đây trong những ngày qua?
Câu 3. Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Tất cả cùng đồng lòng
"chống dịch như chống giặc".
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm) Viết một đoạn văn (khoảng 10 đến 12 câu) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của những đóng góp thầm lặng trong cuộc sống.
Câu 2 (5,0 điểm) Cảm nhận của em về tình cảm của nhà thơ Viễn Phương dành cho Bác trong đoạn thơ sau:
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
(Trích Viếng lăng Bác, Viễn Phương, Ngữ văn 9, Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam 2017, tr.58-59)
Lời giải chi tiết
Phần I.
Câu 1.
|
Theo lời người chị trong phần đầu bức thư, chị muốn nói với người em mới sinh của mình điều gì? |
Phương pháp: căn cứ bài đọc hiểu, đọc tìm ý
Cách giải:
Theo lời người chị trong phần đầu bức thư, chị muốn nói với người em mới sinh của mình về những ngày tháng hai chị em ở trong khu cách ly.
Câu 2.
|
Theo em, vì sao người chị lại cho rằng mình thật may mắn khi được ở đây trong những ngày qua? |
Phương pháp: căn cứ bài đọc hiểu
Cách giải:
Người chị cho rằng mình may mắn khi được ở đó trong những ngày qua là bởi vì người chị hiểu được rằng bên trong tấm biển “KHU VỰC CÁCH LY ĐẶC BIỆT” không phải những điều đáng sợ như người ta vẫn tưởng mà là cả một thế giới của sự ân cần chăm sóc, của những tấm lòng ấm áp yêu thương. Cô bé được gặp gỡ những người anh hùng cho đi không đòi nhận lại, chứng kiến tinh thần đoàn kết thương yêu cùng chung tay quyết tâm chiến thắng đại dịch.
Câu 3.
|
Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Tất cả cùng đồng lòng “chống dịch như chống giặc”. |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Tất cả cùng đồng lòng “chống dịch như chống giặc”.
Câu trên sử dụng biện pháp tu từ so sánh chống dịch như chống giặc.
=> Tác dụng: Thể hiện tinh thần đoàn kết, đồng lòng của tất cả mọi người và tầm quan trọng của việc chống lại dịch bệnh. Ai ai cũng quyết tâm đồng lòng, cùng thương yêu san sẻ trong trận chiến chống lại bệnh dịch, đem bình yên tới cho đất nước, nhân dân.
Phần II.
Câu 1.
|
Viết một đoạn văn (khoảng 10 đến 12 câu) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của những đóng góp thầm lặng trong cuộc sống. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp
Cách giải:
I. Mở đoạn:
- Giới thiệu vấn đề nghị luận: Những đóng góp thầm lặng trong cuộc sống của thế hệ trẻ hiện nay.
II. Thân đoạn:
a. Giải thích vấn đề nghị luận
- Sự cống hiến, đóng góp thầm lặng là những suy nghĩ, hành động tự nguyện vì người khác, không vụ lợi cá nhân, đặt lợi ích của người khác lên trên lợi ích của bản thân mình.
- Trách nhiệm giữ gìn nền độc lập, tích cực xây dựng nước nhà ngày càng vững mạnh.
b. Bàn luận về vấn đề nghị luận
- Những đóng góp thầm lặng là lối sống tích cực mà thế hệ cần rèn luyện, tu dưỡng và trau dồi.
- Lối sống cống hiến của thế hệ trẻ thể hiện ở việc sẵn sàng đem hết trí tuệ, tài năng của bản thân phục vụ lợi chung, vì sự phát triển chung.
- Những đóng góp thầm lặng sẽ giúp thế hệ trẻ khẳng định giá trị của bản thân và phát huy hết vai trò là rường cột, là những chủ nhân tương lai của đất nước.
- Trong thời đại ngày nay, thế hệ trẻ Việt Nam vẫn không ngừng nỗ lực, cố gắng để cống hiến hết mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước (những thanh niên xung kích, những thầy cô giáo trẻ, đội ngũ y bác sĩ...).
c. Dẫn chứng:
- Những hy sinh thầm lặng trong trận chiến chống dịch: Trong cuộc chiến phòng, chống dịch COVID-19 hiện nay đã đọng lại nhiều hình ảnh xúc động, chạm đến trái tim của hàng triệu người Việt Nam:
+ Những “người lính áo trắng” xung phong ở tuyến đầu chống dịch, …
+ Chiến sĩ Công an vẫn âm thầm “cắm chốt” với nhiều đêm trắng. Những hy sinh thầm lặng của họ đã và đang thắp lên niềm tin về ngày chiến thắng dịch Covid-19 không còn xa phía trước.
- Các nhà hảo tâm ủng hộ, giúp đỡ, cứu trợ đồng bào miền trung khi có lũ lụt, ...
- Những tấm gương trồng người thầm lặng, ...
d. Lật lại vấn đề
- Hiện tượng một số thanh niên đã xao nhãng, quên đi trách nhiệm của bản thân đối với sự nghiệp chung của dân tộc (ích kỷ, chỉ mưu cầu lợi ích cá nhân...).
- Đó là những hiện tượng lệch lạc cần bị lên án, phê phán, chấn chỉnh, bài trừ.
III. Kết đoạn:
Bài học nhận thức và hành động đối với thế hệ trẻ đối với sự hi sinh, đóng góp thầm lặng trong cuộc sống.
Câu 2.
|
Cảm nhận của em về tình cảm của nhà thơ Viễn Phương dành cho Bác trong đoạn thơ sau: Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim!
Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. (Trích Viếng lăng Bác, Viễn Phương, Ngữ văn 9, Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam 2017, tr.58-59) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Mở bài
– Giới thiệu khái quát về tác giả Viễn Phương (những nét cơ bản về con người, cuộc đời, đặc điểm sáng tác, …)
– Giới thiệu khái quát về bài thơ “Viếng lăng Bác” (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật, …)
– Giới thiệu khái quát về đoạn thơ và tình cảm của nhà thơ đối với Bác.
2. Thân bài
a. Cảm xúc của nhà thơ khi ở trong lăng:
- Khổ thơ thứ ba diễn tả thật xúc động cảm xúc và suy nghĩ của tác giả khi vào lăng viếng Bác. Khung cảnh và không khí thanh tĩnh như ngưng kết cả thời gian và không gian ở bên trong lăng Bác đã được nhà thơ gợi tả rất đạt:
"… Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng diệu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim”
+ Cụm từ “giấc ngủ bình yên” diễn tả chính xác và tinh tế sự yên tĩnh, trang nghiêm và ánh sáng dịu nhẹ, trong trẻo của không gian trong lăng Bác.
+ Bác còn mãi với non sông đất nước như trời xanh còn mãi mãi, Người đã hóa thành thiên nhiên, đất nước, dân tộc. Tác giả đã rất đúng khi khẳng định Bác sống mãi trong lòng dân tộc vĩnh hằng như trời xanh không bao giờ mất đi.
b. Tâm trạng lưu luyến của nhà thơ trước lúc khi trở về miền Nam:
– Khổ thơ thứ tư (khổ cuối) diễn tả tâm trạng lưu luyến của nhà thơ. Muốn ở mãi bên lăng Bác, nhưng tác giả cũng biết rằng đến lúc phải trở về miền Nam, chỉ có cách gửi lòng mình bằng cách hóa thân, hòa nhập vào những cảnh vật ở bên lăng Bác để luôn được ở bên Người.
“Mai về niềm Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”
– Từ “muốn làm” được lặp đi lặp lại nhiều lần trong đoạn thơ thể hiện được ước muốn, sự tự nguyện của tác giả. Hình ảnh cây tre lại xuất hiện khép bài thơ lại một cách khéo léo.
– Tác giả muốn làm con chim, làm đóa hoa, làm cây tre trung hiếu, muốn được gắn bó bên Bác:
“Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta
Ta bỗng lớn ở bên Người một chút”
=> Đoạn thơ cho thấy niềm xúc động tràn đầy và lớn lao trong lòng khi viếng lăng Bác, thể hiện được những tình cảm thành kính, sâu sắc với Bác Hồ với giọng điệu vừa trang nghiêm, sâu lắng lại tha thiết đau xót và tự hào rất phù hợp với mạch tình cảm của toàn bài.
3. Kết bài
Khái quát về những tình cảm của nhà thơ Viễn Phương khi vào lăng viếng Bác, các biện pháp nghệ thuật trong đoạn thơ và nêu cảm nghĩ của bản thân.
Đề thi vào 10 môn Văn Phú Thọ năm 2020
Đề bài
Câu 1. (2,0 điểm)
Đọc đoạn thơ và trả lời các câu hỏi:
Không có kính, rồi xe không có đèn
Không có mui xep thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy về miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
(Trích Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr.132)
a) Đoạn thơ trên trích trong văn bản nào? Tác giả là ai?
b) Tìm các từ cùng trường từ vựng chỉ sự vật liên quan đến công việc của những người lính lái xe. Trường từ vựng đó góp phần thể hiện hoàn cảnh sống và chiến đấu như thế nào của họ?
c) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ hoán dụ trong đoạn thơ.
Câu 2 (2,0 điểm)
Viết một đoạn văn (từ 10 đến 12 câu) trình bày suy nghĩ của em về vai trò của việc làm chủ bản thân.
Câu 3 (6,0 điểm)
Trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa, nhà văn Nguyễn Thành Long viết:
Trong cái lặng im của Sa Pa, dưới những dinh thự cũ kĩ của Sa Pa, Sa Pa mà chỉ nghe tên, người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước.
(Trích Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr.186)
Cảm nhận về vẻ đẹp của con người làm việc và lo nghĩ cho đất nước qua nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn trên.
Lời giải chi tiết
Câu 1
|
a) Đoạn thơ trên trích trong văn bản nào? Tác giả là ai? |
Phương pháp: căn cứ bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Cách giải:
Đoạn thơ trích trong tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”.
Tác giả: Phạm Tiến Duật.
|
b) Tìm các từ cùng trường từ vựng chỉ sự vật liên quan đến công việc của những người lính lái xe. Trường từ vựng đó góp phần thể hiện hoàn cảnh sống và chiến đấu như thế nào của họ? |
Phương pháp: căn cứ bài Trường từ vựng, phân tích
Cách giải:
Trường từ vựng chỉ sự vật liên quan đến công việc của những người lính lái xe: xe, kính, đèn, mui xe, thùng xe.
Tác dụng: Diễn tả và nhấn mạnh hoàn cảnh khó khăn và thiếu thốn của người lính lái xe. Đồng thời qua đó cũng cho thấy sự dũng cảm, kiên cường và tình yêu Tổ quốc của những người lính.
|
c) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ hoán dụ trong đoạn thơ. |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Biện pháp hoán dụ: trái tim – lấy bộ phận để chỉ toàn thể - hoán dụ chỉ những người lính lái xe.
Tác dụng:
- Khẳng định tình yêu Tổ quốc thiêng của những người lính và sự lạc quan giữa hoàn cảnh chiến đấu khó khăn, gian khổ.
- Làm cho sự diễn đạt trở nên sinh động, hấp dẫn.
Câu 2
|
Viết một đoạn văn (từ 10 đến 12 câu) trình bày suy nghĩ của em về vai trò của việc làm chủ bản thân. |
Phương pháp: phân tích, lí giải, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: vai trò của việc làm chủ bản thân.
2. Giải thích vấn đề:
- Làm chủ bản thân là chủ động suy nghĩ, hành động hay đưa ra các quyết định đối với cuộc sống của mình.
=> Việc làm chủ bản thân là vô cùng quan trọng với mỗi người.
3. Phân tích, bàn luận vấn đề
- Vai trò của việc làm chủ bản thân:
+ Thể hiện sự bản lĩnh của con người trong cuộc sống.
+ Thể hiện việc sống có trách nhiệm với bản thân và mọi người xung quanh.
+ Người biết làm chủ bản thân sẽ có kế hoạch trong cuộc sống, có ý chí mạnh mẽ, gặt hái thành công.
+ Làm chủ bản thân cũng giúp bạn phát huy điểm mạnh, hạn chế và khắc phục điểm yếu để bản thân ngày càng tiến bộ hơn.
…
- Biểu hiện của người biết làm chủ bản thân:
+ Luôn chủ động trong mọi tình huống.
+ Trước những khó khăn luôn giữ vững ý chí để giải quyết vấn đề.
+ Luôn chuẩn bị kế hoạch rõ ràng cho những việc làm.
…
- Phê phán những người ỷ lại, dựa dẫm, thụ động
4. Liên hệ bản thân và Tổng kết
Câu 3
|
Trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa, nhà văn Nguyễn Thành Long viết: Trong cái lặng im của Sa Pa, dưới những dinh thự cũ kĩ của Sa Pa, Sa Pa mà chỉ nghe tên, người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước. (Trích Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr.186) Cảm nhận về vẻ đẹp của con người làm việc và lo nghĩ cho đất nước qua nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn trên. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm
- Giới thiệu nhận định: Trong cái lặng im của Sa Pa, dưới những dinh thự cũ kĩ của Sa Pa, Sa Pa mà chỉ nghe tên, người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người làm việc và lo nghĩ cho đất nước.
- Giới thiệu nhân vật anh thanh niên.
2. Phân tích vẻ đẹp của con người làm việc và lo nghĩ cho đất nước qua nhân vật anh thanh niên.
a. Hoàn cảnh sống và làm việc
- Quê quán, nghề nghiệp: Đó là một chàng trai 27 tuổi, quê ở Lào Cai, làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu. Nhiệm vụ của anh là đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất và dựa vào công việc báo trước thời tiết hàng ngày để phục vụ sản xuất và chiến đấu.
- Hoàn cảnh sống: Anh sống một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2.600m, quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa.
=> Hoàn cảnh sống khắc nghiệt; công việc đòi hỏi sự nghị lực, tinh thần kỷ luật và tính chính xác cao.
b. Vẻ đẹp của con người làm việc và suy nghĩ cho đất nước
- Rất say mê công việc đo gió, đo mưa trên đỉnh Yên Sơn:
+ Chấp nhận sống và làm việc một mình trên đỉnh núi cao mấy nghìn m so với mặt biển -> dám đối mặt và vượt lên nỗi cô đơn vì tình yêu công việc.
+ Coi công việc như một người bạn “ta với công việc là đôi”
+ Thấy hạnh phúc khi được làm việc: tin vào ý nghĩa công việc mình làm, dự báo chính xác thời tiết giúp người nông dân sản xuất, từng giúp không quân bắn rơi máy bay.
- Làm việc với một tinh thần trách nhiệm rất cao:
+ Có những đêm trời lạnh giá anh vẫn trở dậy đo gió, đo mưa.
+ Anh đã vượt lên hoàn cảnh và vượt lên chính mình để hoàn thành công việc.
-> Tinh thần trung thực và ý thức trách nhiệm với nghề.
- Không chỉ là con người yêu công việc, anh còn biết sắp xếp cuộc sống một cách khoa học, luôn trau dồi tri thức cho bản thân bằng cách đọc sách báo và đó cũng chính là cách anh làm cho tâm hồn mình phong phú hơn. Ngoài ra, anh còn là một người thân thiện, luôn biết quan tâm giúp đỡ người khác.
- Tất cả đều bắt nguồn từ lí tưởng sống đẹp của anh thanh niên:
+ Anh muốn góp sức mình vào công cuộc dựng xây và bảo vệ cuộc sống mới (công việc của anh giúp ích cho lao động sản xuất và chiến đấu)
+ Anh không lẻ loi, đơn độc mà tìm thấy những người bạn đồng hành trên con đường mình đã chọn: ông kĩ sư vườn rau Sa Pa, anh cán bộ địa chất lập bản đồ sét -> tất cả đều lặng lẽ và bền bỉ với đời sống, với công việc.
+ Anh tác động lớn tới ông họa sĩ và cô kĩ sư. Ông họa sĩ tìm thấy ở anh lí tưởng sáng tạo của mình. Còn cô kĩ sư cũng tìm thấy ở anh một tấm gương về tình yêu cuộc sống, tình yêu công việc.
=> Những suy nghĩ ấy chỉ có ở những con người yêu lao động, yêu công việc của mình dù nó thật khó khăn, đơn điệu và buồn tẻ. Công việc là niềm vui, là cuộc sống của anh.
=> Là hiện thân cho vẻ đẹp của một lớp người đang tích cực góp phần tạo dựng lên cuộc sống mới cho quê hương, đất nước.
3. Tổng kết
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
