Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Ninh
Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Ninh năm 2026
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
GỌI GIẤC MƠ VỀ
Nguyễn Bích Lan
[Tóm tắt phần đầu: Cậu bé vừa chạy theo ba trên bãi biển vừa nhắc về phần thưởng ba đã hứa từ đầu năm học nếu nó đứng nhất lớp, đạt giải nhất thi học sinh giỏi. Nghe lời ba, nó không chỉ học giỏi mà mỗi ngày còn giúp cha mẹ gỡ lưới, phơi lưới, học vá lưới. Ba nó vừa bước chân về phía trước vừa ngoái đầu lại, hai lần đáp “Nhớ!”.]
Ngôi nhà nhỏ của gia đình nó hiện ra thấp thoáng sau rặng thông xanh sẫm. Ba con nó như hai con thuyền chòng chành trong bóng tối bỗng thấy ngọn hải đăng dẫn lối vào bờ. Nhưng nó chưa chịu kết thúc cuộc tra vấn dai dẳng của mình. Bây giờ nó phải tranh với cả gió lẫn rặng thông để lời nó bay được lên phía trước mươi bước, tới tận tai ba nó.
“Hôm bế giảng con mang ba tấm giấy khen về, ba hỏi con muốn thưởng gì, con nói chẳng muốn chi hết, con chỉ muốn ba thưởng con chiếc xe đạp mi ni. Ba nói được, con đi chơi Sài Gòn về sẽ có xe đạp! Ba nhớ không?”
“Nhớ!” - ba nó đáp, như thể chưa lặp lại từ đó tới mấy lần, rồi đưa tay đẩy cánh cổng được ghép bằng những thân tre chẻ đôi. Nó bắt đầu mè nheo: “Thế mà bây giờ ba nói không... không xe pháo... chi hết!”. Giọng nó tắc nghẹn, rồi nó oà khóc trước bậc hiên.
Mẹ nó đang quét sân, buông cái chổi đánh “cạch”, chỉ tay về phía nó, mắng một thôi một hồi: “Mi khóc chi rứa! Mi đi chơi ba tháng trời, về tới nhà là mi hành ba! Mi đòi như đòi nợ! Mi có biết vì sao ba mi thất hứa không? Mi có biết vì sao mi ở chơi nhà o Hà những ba tháng, chứ không phải một tuần như ba mi tính không?
Vì o Hà nuôi mi đỡ ba mẹ mi đó. Ba tháng hè mi đi chơi Sài Gòn, ở nhà ba mi không đi biển được, mẹ mi không bán nổi một con cá, không kiếm nổi một đồng, mi biết không? Mi vào góc buồng mà coi đám lưới khô queo từ khi mi đi chưa gỡ kìa! Gạo mi ăn bữa tối nay là gạo được phát đó! Gạo cứu đói đó, mi biết không?
Ba mi đang đau đầu lo chạy tiền cho ba đứa tụi mi đóng học năm nay, mua bút vở năm nay, mua quần áo năm nay! Xe đạp ư! Mi học đâu thói đua đòi! Mi chín tuổi rồi chứ bé bỏng gì! Khi nào mi mới biết thương cha mẹ hả! Nếu mi không để cho ba mi yên thì mi no đòn đó!”
Nó đưa tay bưng miệng, như thể muốn bịt tiếng khóc của mình lại mà không thể. Nó khóc thút thít qua năm ngón tay, khóc trong nỗi oan uổng của mình, trong sự vỡ vụn về nỗi khổ của cha mẹ, trong sự chấp nhận cái lý do hiển nhiên không còn gì để tranh cãi.
Nó ngồi khóc cho tới khi bốn bên hàng xóm đều lên đèn. Lần đầu tiên nó nhận thấy buổi chạng vạng ở xóm nó không có mùi cá.
[Lược một đoạn: Nhìn ba ngồi im khô trong chiếc ghế gỗ kê bên cửa sổ, cậu bé nhớ lại những buổi tối ở nhà cô Hà, xem phim hoạt hình, được cô cho đi hóng gió ngoài phố, nhớ vị của que kem mát lịm, những món ăn thơm phức mà cô nấu... Rồi nó chợt hiểu, một kỳ nghỉ hè như thế đối với nó đã là một phần thưởng mà hiếm có đứa trẻ con nhà dân chài nào ở làng nó dám mơ tới].
“Ăn cơm tối xong, nó hầu như không còn thấy ấm ức gì. Phụ mẹ dọn bát đĩa xong, nó chạy xuyên qua rặng thông đến nhà thằng bạn thân nhất. Nó bước vào trong nhà bạn, chưa kịp đèn bật tỏ nơi vui gặp lại sau ba tháng hè, nó mở miệng, nói lúng búng: “Tuệ, tớ đã hứa với cậu, nhưng... tớ chưa có xe đạp... Năm nay ba tớ chưa có tiền mua xe đạp”.
Mẹ của thằng Tuệ đi tới đặt tay lên vai nó bóp nhẹ: “Hai đứa đừng buồn. Bác bớt bệnh rồi. Bác lại có thể cõng thằng Tuệ đến trường, không để nó phải bỏ học đâu mà lo. Khi nào có xe đạp thì con chở thằng Tuệ đi học đỡ bác...”.
Nó nhìn xuống đôi chân bại liệt teo tóp như hai ống sậy của thằng bạn, suýt nữa lại đổ một cơn khóc oà. Nó muốn nói với bạn rằng nó chỉ tạm thôi giấc mơ về chiếc xe đạp đi như thả một con diều, rằng khi nào ba nó có thể ra khơi, nó sẽ gọi giấc mơ về.”
(Tập truyện Những ngọn lửa, NXB Phụ nữ Việt Nam, năm 2025, trang 117-122)
Thực hiện yêu cầu/trả lời câu hỏi:
Câu 1. (0,5 điểm) Phần thưởng cậu bé mong muốn được nhận từ cha là gì?
Câu 2. (0,5 điểm) Ghi lại hai lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn in đậm.
Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích ý nghĩa chi tiết: “Nó khóc thút thít qua năm ngón tay, khóc trong nỗi oan uổng của mình, trong sự vỡ vụn về nỗi khổ của cha mẹ, trong sự chấp nhận cái lý do hiển nhiên không còn gì để tranh cãi.”
Câu 4. (1,0 điểm) Theo em, vì sao tác giả đặt nhan đề cho truyện là Gọi giấc mơ về?
Câu 5. (1,0 điểm) Từ ước mơ của cậu bé trong truyện, em hãy chia sẻ một ước mơ dành cho người thân yêu và lý giải vì sao em có ước mơ đó.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật cậu bé (nó) trong phần cuối văn bản (từ Ăn cơm tối xong, nó hầu như không còn thấy ấm ức gì đến hết).
Câu 2. (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về sự sẻ chia trong cuộc sống.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn đối thoại giữa cậu bé và người cha, tìm chi tiết nói rõ món quà cậu bé mong được thưởng khi đạt thành tích học tập tốt.
Lời giải chi tiết:
Phần thưởng cậu bé mong muốn được nhận từ cha là một chiếc xe đạp mini.
Câu 2.
Phương pháp:
Xác định các câu nói của nhân vật được đặt sau dấu hai chấm và nằm trong dấu ngoặc kép hoặc được dẫn nguyên văn.
Lời giải chi tiết:
Hai lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn in đậm là:
- “Nhớ!”
- “Thế mà bây giờ ba nói không... không xe pháo ... chi hết!”
Câu 3.
Phương pháp:
Chú ý các cảm xúc được nhắc đến trong câu văn (oan ức, thấu hiểu, chấp nhận).
Làm rõ sự thay đổi trong nhận thức và tâm lí của cậu bé.
Lời giải chi tiết:
- Thể hiện tâm trạng phức tạp của cậu bé: vừa buồn tủi, thất vọng vì không được nhận phần thưởng đã hứa, vừa cảm thấy oan ức vì mong muốn của mình không được đáp ứng.
- Qua lời mẹ, cậu hiểu ra hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn của gia đình và những nỗi vất vả mà cha mẹ đang gánh chịu.
- Chi tiết cho thấy sự trưởng thành trong nhận thức của cậu bé: từ chỗ chỉ nghĩ đến mong muốn của bản thân đến biết cảm thông, thấu hiểu và chấp nhận hi sinh vì gia đình
Câu 4.
Phương pháp:
Liên hệ với hình ảnh “giấc mơ chiếc xe đạp” ở cuối truyện. Từ đó xác định ý nghĩa biểu tượng của nhan đề về niềm tin, hi vọng và ước mơ chưa bao giờ mất đi.
Lời giải chi tiết:
Tác giả đặt nhan đề “Gọi giấc mơ về” vì chiếc xe đạp là một giấc mơ đẹp của cậu bé nhưng phải tạm gác lại do hoàn cảnh khó khăn của gia đình. Tuy nhiên, cậu không từ bỏ ước mơ ấy mà chỉ “thả” nó đi một thời gian. Khi cuộc sống khá hơn, khi cha có thể ra khơi trở lại, cậu sẽ tiếp tục nuôi dưỡng và thực hiện ước mơ của mình. Nhan đề thể hiện niềm tin, sự hi vọng và tinh thần không từ bỏ những ước mơ tốt đẹp.
Câu 5.
Phương pháp:
Nêu một ước mơ cụ thể dành cho người thân (cha mẹ, ông bà,...), sau đó giải thích lí do xuất phát từ tình yêu thương, sự biết ơn hoặc mong muốn họ có cuộc sống tốt đẹp hơn.
Lời giải chi tiết:
- Ước mơ cha mẹ luôn mạnh khoẻ.
- Ước mơ chị gái đậu đại học.
- …
II. VIẾT
Câu 1.
Phương pháp:
Phân tích hành động, suy nghĩ và lời nói của cậu bé ở phần cuối truyện để làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn. Nhận xét sự trưởng thành, biết cảm thông và giàu tình yêu thương của nhân vật.
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân đoạn
- Tóm tắt ngắn gọn nội dung câu chuyện.
- Sự thay đổi trong nhận thức và tâm trạng: Sau khi được mẹ giải thích, cậu không còn ấm ức vì không được mua xe đạp. Hiểu được hoàn cảnh khó khăn của gia đình, hiểu nỗi vất vả của cha mẹ.
- Cậu luôn biết nghĩ cho người khác: Cách nói “lúng búng” cho thấy sự áy náy, chân thành và có trách nhiệm với lời hứa của mình.
- Sự trưởng thành trong tâm hồn:
+ Vẫn giữ giấc mơ có chiếc xe đạp để giúp đỡ người khác nhưng không còn đòi hỏi hay trách móc cha mẹ.
+ Biết chờ đợi, biết hi vọng và tin tưởng vào tương lai
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
+ Miêu tả tâm lí tinh tế qua suy nghĩ, hành động và lời nói.
+ Ngôn ngữ giản dị, giàu cảm xúc.
+ ….
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Câu 2.
Phương pháp:
Giải thích khái niệm sẻ chia, bàn luận ý nghĩa của sự sẻ chia trong cuộc sống. Nêu dẫn chứng, phê phán lối sống ích kỉ và rút ra bài học nhận thức, hành động cho bản thân.
Lời giải chi tiết:
I. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
II. Thân bài
1. Giải thích
- Sẻ chia là biết quan tâm, đồng cảm, giúp đỡ người khác bằng tình cảm, hành động hoặc vật chất khi họ gặp khó khăn, thiếu thốn.
2. Bàn luận
* Biểu hiện
- Quyên góp, ủng hộ, giúp đỡ người nghèo, trẻ em mồ côi, người già neo đơn, nạn nhân thiên tai...
- Lời an ủi, sự động viên, lắng nghe và thấu hiểu khi người khác gặp biến cố, bế tắc.
* Vì sao cần có sự sẻ chia trong cuộc sống?
- Cuộc sống luôn có những khó khăn, thử thách mà không phải ai cũng có thể tự mình vượt qua.
- Sự sẻ chia giúp con người cảm thấy được yêu thương, quan tâm và có thêm động lực để vươn lên.
- Làm giảm bớt nỗi đau, mất mát và những áp lực trong cuộc sống.
- Góp phần xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người.
* Ý nghĩa của sự sẻ chia
- Đối với người nhận:
+ Nhận được sự giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần.
+ Có thêm niềm tin, nghị lực để vượt qua hoàn cảnh khó khăn.
+ Cảm nhận được tình yêu thương và sự ấm áp của cộng đồng.
- Đối với người cho đi
+ Mang lại niềm vui, hạnh phúc và cảm giác sống có ích.
+ Hoàn thiện nhân cách, bồi dưỡng lòng nhân ái.
+ Được mọi người yêu quý, tôn trọng.
- Đối với xã hội
+ Gắn kết con người với nhau.
+ Tạo nên môi trường sống nhân văn, đoàn kết và giàu tình yêu thương.
+ Giúp xã hội phát triển bền vững, hạn chế sự thờ ơ, vô cảm.
(HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp)
3. Mở rộng vấn đề
- Phê phán những người sống ích kỉ, chỉ biết lợi ích cá nhân.
- Phê phán lối sống thờ ơ, vô cảm trước nỗi đau của người khác.
- Cần phân biệt sẻ chia chân thành với việc giúp đỡ nhằm mục đích vụ lợi, đánh bóng tên tuổi.
4. Bài học nhận thức và hành động
- Nhận thức được sẻ chia là nét đẹp đạo lý, là nhu cầu thiết yếu để hoàn thiện nhân cách.
- Hành động thiết thực: Bắt đầu từ những việc nhỏ nhất trong cuộc sống hàng ngày, sẻ chia với những người thân thiết nhất.
III. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Ninh năm 2025
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
Giấc mộng diệu huyền
(Tế Hanh)
|
Vịnh Hạ Long có rồng không chẳng biết Nhưng từ lâu huyền bí của thiên nhiên Vẫn mơn man như gió vuốt ve thuyền Những ý nghĩ phiêu lưu, những tâm hồn mơ mộng Khi nắng lóe hàng mi qua cửa động Khi sóng trào tóc quấn đảo chon von Khi mây chập chờn ẩn hiện đầu non Khi mưa lẫn xanh trời và biếc bể Người càng hiểu vịnh Hạ Long là thế Trong mơ màng giấc ngủ có rồng bay
[ ... ] Cõi mong chờ kỳ lạ chính là đây: Một bên từng từng lớp lớp than dày Núi lấp lánh như muôn ngàn đợt sóng Một bên điệp điệp trùng trùng chuyển động Biển mang trong lòng sức sống vô biên Và còn bao giá trị của thiên nhiên Đất bí mật mãi nghìn năm che giấu? |
Nhìn dưới bến những chiếc tàu im đậu Chờ ăn than, sơi sóng bóng cờ bay Nhìn trên bờ chi chít những đường ray Những va-gông, những cần những trục Đẹp bằng mấy các long chầu hổ chực! Ôi! Những đêm khi biển lẫn cùng trời Cơn gió nồng thổi lộng từ ngoài khơi Núi than đá điện ngời ngời bật sáng Trên mặt nước chất lân tinh lấp loáng Và ngang trời bay những thoảng sao băng ...
... Và hồn tôi lâng lâng trên cánh bể Thấy ngày mai trong ánh sáng say mê Chen chúc xe đi, tấp nập tàu về Nhà cửa mọc tận đồi xa đảo vắng Khúc hợp tấu giữa không trung văng vằng Của sức người cùng với sức thiên nhiên Thoáng rồng bay trong giấc mộng diệu huyền. 1957 |
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2. (0,5 điểm) Tìm các từ láy xuất hiện trong 5 dòng thơ đầu.
Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của các hình ảnh miêu tả thiên nhiên trong đoạn thơ sau:
Khi nắng lóe hàng mi qua cửa động
Khi sóng trào tóc quấn đảo chon von
Khi mây chập chờn ẩn hiện đầu non
Khi mưa lẫn xanh trời và biếc bể
Câu 4. (1,0 điểm) Nhận xét về cảm xúc của nhà thơ được thể hiện trong những câu thơ sau:
Ôi! Những đêm khí biển lẫn cùng trời
Cơn gió nồng thổi lộng từ ngoài khơi
Núi than đá điện ngời ngời bật sáng
Trên mặt nước chất lân tinh lấp loáng
Và ngang trời bay những thoáng sao băng ...
Câu 5. (1,0 điểm) Từ niềm tin của tác giả được thể hiện ở khổ thơ cuối, em hãy chia sẻ ước mơ về sự phát triển của quê hương mình trong tương lai.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích đoạn trích sau trong bài Giấc mộng diệu huyền của Tế Hanh:
Một bên từng từng lớp lớp than dày
Núi lấp lánh như muôn ngàn đợt sóng
Một bên điệp điệp trùng trùng chuyển động
Biển mang trong lòng sức sống vô biên
Câu 2. (4,0 điểm)
Để xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh, mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ cần phải tự phát triển bản thân. Em hãy viết bài văn nghị luận trả lời câu hỏi: Tuổi trẻ cần làm gì để tự phát triển bản thân trong thời đại ngày nay?
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Đếm số tiếng ở các dòng thơ. Nếu số tiếng không đều nhau giữa các dòng thì đó là thơ tự do.
Lời giải chi tiết:
Bài thơ được làm theo thể thơ tự do.
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc 5 dòng thơ đầu, tìm những từ có sự lặp lại âm hoặc vần tạo nhạc điệu cho câu thơ.
Lời giải chi tiết:
Từ láy xuất hiện trong 5 dòng thơ đầu: mơn man.
Câu 3.
Phương pháp:
Xác định các hình ảnh thiên nhiên được miêu tả (nắng, sóng, mây, mưa). Nêu tác dụng: làm nổi bật vẻ đẹp sinh động, huyền ảo của Vịnh Hạ Long và thể hiện cảm xúc say mê của nhà thơ.
Lời giải chi tiết:
- Các hình ảnh thiên nhiên được miêu tả trong đoạn thơ: “nắng lóe hàng mi qua cửa động”, “sóng trào tóc quấn đảo chon von”, “mây chập chờn ẩn hiện đầu non”, “mưa lẫn xanh trời và biếc bể”.
- Tác dụng của những hình ảnh thiên nhiên được miêu tả trong đoạn thơ:
+ Khắc họa một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ, sống động của vịnh Hạ Long.
+ Thể hiện sự quan sát tinh tế, tâm hồn lãng mạn và tình yêu thiên nhiên của tác giả.
Câu 4.
Phương pháp:
Chú ý các từ ngữ cảm thán, hình ảnh đẹp và giọng thơ. Từ đó nhận xét cảm xúc ngỡ ngàng, say mê, tự hào trước vẻ đẹp thiên nhiên và sức sống của quê hương.
Lời giải chi tiết:
- Cảm xúc của nhà thơ trong đoạn thơ:
+ Say mê, thích thú trước vẻ đẹp thơ mộng, huyền ảo của biển đêm.
+ Yêu quý, tự hào trước nhịp sống lao động của người dân vùng mỏ.
--> Cảm xúc tự nhiên, chân thành bắt nguồn từ một tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm, tinh tế.
Câu 5.
Phương pháp:
Nêu ngắn gọn ước mơ của bản thân về quê hương trong tương lai.
Liên hệ đến sự phát triển về kinh tế, giáo dục, môi trường và đời sống của người dân.
Lời giải chi tiết:
- HS chia sẻ ước mơ về sự phát triển của quê hương mình trong tương lai.
- Tham khảo gợi ý: Mơ ước quê hương phát triển thành một thành phố năng động, hiện đại, trở thành một trung tâm du lịch trong và ngoài nước, thu hút đông đảo du khách đến tham quan, trải nghiệm...
II. VIẾT
Câu 1.
Phương pháp:
Giới thiệu đoạn thơ, phân tích các hình ảnh "than dày", "biển mang trong lòng sức sống vô biên" để làm nổi bật vẻ đẹp giàu tiềm năng của thiên nhiên. Nhận xét nghệ thuật và khẳng định nội dung đoạn thơ.
Lời giải chi tiết:
- Mở đoạn: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề cần phân tích: Bốn câu thơ trong bài “Giấc mộng diệu huyền” của Tế Hanh đã khắc họa thành công bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng.
- Thân đoạn:
+ Nghệ thuật đảo ngữ “từng từng lớp lớp than dày” kết hợp với các từ láy “từng từng, lớp lớp” --> nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào, phóng phú.
+ Nghệ thuật so sánh “Núi lấp lánh như muôn ngàn đợt sóng” --> khiến cho hình ảnh núi non trở nên sống động, không đơn thuần là một sự vật vô tri mà như có hồn, “lấp lánh”, tỏa sáng.
+ Nghệ thuật đảo ngữ “điệp điệp trùng trùng chuyển động” kết hợp với các từ láy “điệp điệp trùng trùng” --> diễn tả những chuyển động liên hồi, không bao giờ ngơi nghỉ của biển cả.
+ Nghệ thuật nhân hóa: “biển” – “sức sống vô biên” --> sức sống mãnh liệt, mạnh mẽ dâng trào...
- Kết đoạn: Thể thơ tự do, sử dụng nhiều từ láy giàu giá trị gợi hình, gợi cảm, kết hợp với các biện pháp tu từ (nhân hóa, điệp ngữ, đảo ngữ) không chỉ khắc họa vẻ đẹp hùng vĩ, tươi đẹp của quê hương mà còn khơi gợi trong mỗi người tình yêu, niềm tự hào về đất nước.
Câu 2.
Phương pháp:
Giải thích thế nào là tự phát triển bản thân, sau đó bàn luận những việc tuổi trẻ cần làm để hoàn thiện mình (học tập, rèn kỹ năng, đạo đức, bản lĩnh).
Nêu dẫn chứng, phản đề và khẳng định ý nghĩa của việc tự phát triển bản thân đối với mỗi người và đất nước.
Lời giải chi tiết:
* Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận: Tuổi trẻ cần làm gì để tự phát triển bản thân trong thời đại ngày nay?
* Thân bài:
- Giải thích:
+ Tuổi trẻ: lứa tuổi thanh thiếu niên, lứa tuổi tràn đầy sức sống, tràn đầy ước mơ, hoài bão.
+ Tự phát triển bản thân: quá trình con người học tập, rèn luyện, trau dồi để giúp cho bản thân trở nên tốt hơn.
--> Đây là một nhu cầu chính đáng, cần có của người trẻ trong thời đại công nghệ số hiện nay.
- Bàn luận: Nêu ý kiến của bản thân về vấn đề nghị luận và sử dụng lí lẽ, dẫn chứng để phân tích, chứng minh:
+ Lí do cần đề xuất biện pháp: Học sinh sơ lược giá trị, ý nghĩa việc tự phát triển bản thân; thực trạng một bộ phận học sinh chưa thực sự ý thức được đầy đủ giá trị, ý nghĩa của việc tự phát triển bản thân: lười biếng trong học tập; không rèn luyện, học hỏi để phát triển kĩ năng trong cuộc sống; từ đó đưa ra những hậu quả của việc người trẻ không chịu tự phát triển bản thân trong thời đại ngày hôm nay: cảm thấy tự tin, kém cỏi, dần có xu hướng thu mình lại, dựa dẫm, ỷ lại vào gia đình...
+ Đề xuất thực hiện một số biện pháp giúp người trẻ tự phát triển bản thân trong thời đại ngày hôm nay:
+) Bản thân mỗi người trẻ cần nhận thức đúng đắn và sâu sắc về giá trị, ý nghĩa của việc tự phát triển bản thân trong thời đại hiện nay. Bởi lẽ, chỉ khi nhận thức đúng đắn, người trẻ mới thay đổi thói quen, hành vi của chính mình. Người trẻ cần hiểu được tự phát triển bản thân giúp cho mỗi người khai phá được những tiềm năng còn ẩn chứa bên trong, mang đến cho cuộc sống những niềm vui, nguồn năng lượng tích cực, sự đổi thay trong suy nghĩ, lối sống... Hiểu được sự phát triển bản thân sẽ mang đến những cơ hội mới cho bản thân, giúp bản thân tự tin, vững bước trước sự biến động không ngừng của đời sống hiện đại.
+) Bản thân người trẻ cần có kế hoạch cụ thể để tự phát triển bản thân: bằng việc tích cực học tập để trau dồi tri thức; rèn luyện các kĩ năng sinh tồn, sống lành mạnh như học bơi, biết cách phòng cháy chữa cháy,...; luôn lắng nghe, học hỏi từ những người đi trước để đúc rút cho bản thân những bài học, kinh nghiệm quý giá; học đi đôi với hành...
(HS lấy dẫn chứng thực tế về những bạn trẻ luôn tích cực, chủ động trong việc phát triển bản thân trong thời đại ngày hôm nay, điển hình như anh Hiếu PC, trong thời gian bị giam giữ trong tù, anh đã học hỏi, tìm tới những con người tích cực trong tù để kết bạn: tự học vẽ, học gấp giấy origami rồi đi dạy cho những bạn tù khác, làm thiệp, luyện viết chữ đẹp… Giờ đây, anh đã trở thành chuyên viên an ninh mạng ở Việt Nam)
+ Mở rộng, liên hệ
+) Ý kiến trái chiều: Nhiều người cho rằng người trẻ còn nhỏ, muốn phát triển được cần có sự định hướng, tư vấn của gia đình, nhà trường và xã hội. --> Quan điểm này đúng, nhưng chưa đủ. Bởi nhu cầu tự phát triển, thay đổi bản thân phải xuất phát từ chính mỗi người trẻ.
+ Chia sẻ trải nghiệm của bản thân có liên quan đến vấn đề nghị luận và rút ra bài học: Bản thân mỗi người trẻ đã tự phát triển chính mình bằng việc học tập, trau dồi kiến thức trong nhà trường; tích cực tham gia các hoạt động xã hội...
* Kết bài: Khẳng định vấn đề.
Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Ninh năm 2023
Đề bài
Câu 1: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
(1) Khi mới sinh ra, tôi đã có thể cảm nhận được hơi ấm của đôi bàn tay mẹ: Đôi bàn tay luôn nâng niu, lo lắng từng giấc ngủ, từng bữa ăn cho tôi. Đôi bàn tay đã dìu tôi những bước đi chập chững đầu tiên, nâng đỡ mỗi khi tôi té ngã và nhẹ nhàng chăm sóc những vết thương do tôi nghịch ngợm gây ra.
(2) Suốt những năm tháng tôi đi học, bàn tay mẹ vẫn âm thầm lo lắng cho tôi. Bàn tay mẹ kiên nhẫn dạy tôi viết những nét chữ đầu tiên; giặt sạch chiếc áo tôi mặc; đánh bóng đôi giày tôi mang; thắp sáng ngọn đèn trên bàn học, dọn dẹp gọn gàng bàn ghế, tủ sách cho tôi. Bàn tay mẹ còn chuẩn bị cả chiếc giường tươm tất chắn màn cho tôi nằm ngủ mỗi tối...
[...]
(3) Trên thế gian này, còn điều gì kỳ diệu và quý giá hơn đôi bàn tay mẹ? Đôi tay chai sần, vất vả nhưng êm ái, dịu dàng và bất cứ khi nào cũng đầy ắp tình thương yêu dành cho bạn. Dù đi bất cứ nơi nào, ta cũng luôn khao khát được quay trở về bên vòng tay yêu thương của mẹ.
(Trích Hạt giống tâm hồn, tập 7, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2019, trang 130-131)
a. (0,5 điểm) Theo đoạn trích, khi mới sinh ra, nhân vật tôi đã có thể cảm nhận được điều gì?
b. (0,5 điểm) Cụm từ Đôi bàn tay trong đoạn văn (1) thực hiện phép liên kết nào?
c. (1,5 điểm) Chỉ ra và phân tích tác dụng của phép liệt kê trong câu văn được in đậm ở đoạn (2).
d. (0,5 điểm) Em có đồng tình với ý kiến của tác giả: Dù đi bất cứ nơi nào, ta cũng luôn khao khát được quay trở về bên vòng tay yêu thương của mẹ không? Vì sao?
Câu 2. Từ nội dung đoạn trích ở Câu 1, em hãy viết một đoạn văn (từ 10 đến 12 câu) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của lòng hiếu thảo trong cuộc sống.
Câu 3. Cảm nhận vẻ đẹp của người đồng mình trong đoạn thơ sau:
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đả không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
(Y Phương, Nói với con, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục, 2005, trang 72)
Lời giải chi tiết
Câu 1:
a.
Phương pháp:
Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Theo đoạn trích, khi mới sinh ra, nhân vật tôi đã có thể cảm nhận được hơi ấm của đôi bàn tay mẹ.
b.
Phương pháp:
Căn cứ các phép liên kết.
Cách giải:
Phép liên kết lặp
c.
Phương pháp:
Căn cứ bài liệt kê, phân tích.
Cách giải:
- Biện pháp liệt kê: Liệt kê những việc mà mẹ đã làm cho tác giả: dạy viết những chữ đầu tiên, giặt áo, đánh bóng giày, thắp sáng ngọn đèn, dọn dẹp bàn ghế và tủ sách.
- Tác dụng:
+ Cho thấy tình yêu thương vô bờ bến của mẹ dành cho con. Mẹ luôn là người chăm lo cho con từ những điều nhỏ nhặt nhất, mong muốn dành tất cả những gì tốt đẹp của cuộc đời cho đứa con bé bỏng của mình.
+ Từ đó cũng thấy được sự trân trọng, tình yêu thương của con dành cho mẹ.
d.
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
- Em đồng ý với ý kiến của tác giả.
- Bởi: Chúng ta không thể bắt gặp ở đâu một người hi sinh tất cả những gì mình có, dành cho ta những điều tốt đẹp nhất mà không đòi hỏi bất cứ điều gì như mẹ. Mẹ luôn là động lực, là người chắp thêm đôi cánh cho ta vững bước trên đường đời đầy chông gai phía trước. Vòng tay yêu thương của mẹ sẽ khiến ta quên hết mệt nhọc ngoài kia để trở về làm đứa con bé bỏng, để có thể thoải mái tâm sự, thoải mái nhõng nhẽo như ngày thơ bé.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở đoạn:
- Giới thiệu vấn đề: Ý nghĩa của lòng hiếu thảo trong cuộc sống.
2. Thân đoạn
a. Giải thích vấn đề
- Hiếu thảo: là tấm lòng yêu thương chăm sóc ông bà cha mẹ, luôn luôn đối xử chân thành, kính trọng hết mực và tình cảm yêu thương kính mến ấy phải xuất phát từ tận đáy lòng của người con, người cháu.
- Ý nghĩa của lòng hiếu thảo: là sức mạnh, là tình yêu thương nuôi dưỡng phẩm chất con người.
b. Bàn luận vấn đề
- Biểu hiện:
+ Con cháu biết nghe lời và tôn trọng lời dạy bảo của cha mẹ, ông bà.
+ Tôn vinh, ghi nhớ công ơn của tổ tiên.
+ Giúp đỡ và chăm sóc cho người già.
+ Duy trì tình cảm và quan hệ tốt đẹp với gia đình.
…
- Ý nghĩa của lòng hiếu thảo:
+ Là một phương tiện để tạo ra một cộng đồng xã hội văn minh, giàu lòng nhân ái.
+ Đóng vai trò quan trọng trong đời sống cá nhân, gia đình, xã hội.
+ Là sức mạnh, giá trị cốt lõi trong việc hình thành và duy trì các mối quan hệ tốt đẹp trong gia đình, xã hội.
+ Gìn giữ và tôn vinh giá trị gia đình.
+ Phát triển phẩm chất đạo đức của mỗi con người.
- Dẫn chứng về lòng hiếu thảo:
+ Câu chuyện về chàng Chử Đồng Tử nhà nghèo, sống cùng cha mà hai cha con chỉ có một chiếc khố chia nhau dùng chung. Đến khi cha mất, trước khi đi ông có nói với Chử Đồng Tử rằng: “Cha chết đi, con giữ lại cái khố mà che thân, cho thiên hạ khỏi chê cười. Con cứ tang trần cho cha là được.” Ấy vậy nhưng chàng không nỡ tang trần cho cha nên đã dùng chiếc khố duy nhất để an táng cha yên nghỉ, còn mình thì ở trần, tiếp tục cuộc sống hàng ngày trước đây.
c. Phản đề
- Một số người bất hiếu, không vâng lời cha mẹ, ngược đãi cha mẹ mình, luôn làm cha mẹ đau lòng. Đó là những người đáng bị phê phán trong xã hội. …
3. Kết đoạn
- Liên hệ bản thân: Nhận thức được tầm quan trọng về ý nghĩa của lòng hiếu thảo, tích cực rèn luyện, học tập, yêu thương gia đình, ông bà cha mẹ…
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu chung về tác giả Y Phương, tác phẩm Nói với con.
- Giới thiệu vị trí và nội dung đoạn trích.
2. Thân bài
- Những phẩm chất cao quý của người đồng mình:
“Người đồng mình…
… chí lớn”
+ Dòng thơ đầu được lặp lại: “người đồng mình” là cách gọi thể hiện sự gần gũi, thân thương như trong một gia đình. “Thương lắm” – bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc với cuộc sống nhiều vất vả, gian khó của họ.
+ Từ ngữ giàu sức gợi: “cao” “xa” vừa gợi h/a miền núi cao vừa gợi điều kiện sống khó khăn, vất vả.
“Nỗi buồn” “chí lớn” thể hiện bản lĩnh vững vàng, ý chí kiên cường của người đồng mình.
è Lời thơ lẩn quất một nỗi buồn xen lẫn niềm tự hào về phẩm chất tốt đẹp của người miền núi.
- Tác giả khái quát lên vẻ đẹp truyền thống của người miền cao:
“Người đồng mình…
… làm phong tục”
+ Hình ảnh “người đồng mình”: vóc dáng, hình hài nhỏ bé, “thô sơ da thịt”, họ chỉ có đôi bàn tay lao động cần cù nhưng chẳng mấy ai nhỏ bé, yếu hèn. Họ dám đương đầu với gian lao, vất vả, họ lớn lao về ý chí, cao cả về tinh hồn.
+ Công lao vĩ đại của người đồng mình: “đục đá kê cao quê hương” – xây dựng quê hương, tạo nên ruộng đồng, dựng lên nhà cửa, bản làng, làm nên giá trị vật chất, tinh thần cho quê hương. “Làm phong tục” – tạo nên bao nền nếp, phong tục đẹp, làm nên bản sắc riêng của cộng đồng.
è Lời thơ tràn đầy niềm tự hào về vẻ đẹp của người đồng mình. Nhắn ngủ con phải biết kế thừa, phát huy những truyền thống đó.
- Từ đó, người cha khuyên con biết sống theo những truyền thống của người đồng mình:
“Dẫu làm sao…
… không lo cực nhọc”
+ Điệp từ “sống” khởi đầu 3 dòng thơ liên tiếp, tô đậm mong ước thiết tha, mãnh liệt của cha dành cho con.
+ Ẩn dụ “đá” “thung” chỉ không gian sống của người niềm cao, gợi lên những nhọc nhằn, gian khó, đói nghèo. Người cha mong con “không chê” tức là biết yêu thương, trân trọng quê hương mình.
+ So sánh “như sông” “như suối”: lối sống hồn nhiên, trong sáng, mạnh mẽ, phóng khoáng, vượt lên mọi gập ghềnh của cuộc đời.
+ Đối “lên thác xuống ghềnh”: cuộc sống không dễ dàng, bằng phẳng, cần dũng cảm đối mặt, không ngại ngần.
è Cha khuyên con tiếp nối tình cảm ân nghĩa, thủy chung với mảnh đất nơi mình sinh ra của người đồng mình và cả lòng can đảm, ý chí kiên cường của họ.
3. Kết bài
- Nội dung:
+ Thể hiện tình cảm sâu nặng mà người cha dành cho con. Cha chăm nom con từng bước đi, nâng niu con từng tiếng cười, giọng nói và dạy dỗ con biết vững bước trên đường đời, biết sống sao cho xứng đáng với gia đình, quê hương.
+ Bộc lộ tình yêu quê hương xứ sở và niềm tự hào về người dồng mình của tác giả.
- Nghệ thuật: Từ ngữ, hình ảnh giản dị, giàu sức gợi, in đậm lối tư duy trong sáng, hồn nhiên, sinh động của người miền núi. Giọng điệu khi ân cần, tha thiết; khi mạnh mẽ, nghiêm khắc.
Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Ninh năm 2022
Đề bài
Câu 1. Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
(1) Lớn lên về thể chất là giấc mơ có thật của những thế hệ sinh ra trong rơm rạ đói nghèo, trong tiếng bơ cào xuống thùng sắt trữ gạo luôn vơi mỗi ngày giáp hạt. Nhưng khi lớn lên về thể chất cũng là khi tôi dần biết về một giấc mơ khác nữa. Giấc mơ con người sẽ trưởng thành về nhân cách và tâm hồn. [...]
(2) Khi ta lớn lên, ta có thể chi biết về quyền của mình. Khi ta thực sự trưởng thành, ta mới biết về trách nhiệm của bản thân. Ta biết cho đi hơn là nhận lại. Ta biết đi tình nguyện thực ra là để chính ta trưởng thành lên. Ta biết rằng yêu thương người khác cũng chính là vỗ về tâm hồn của chính mình.
(3) Thử thách của tuổi mới lớn có thể chỉ đơn giản là củ vật tay xem ai cơ bắp dẻo dai hơn. Em hãy thử đi xa hơn, bước tới những thử thách rằng ai cống hiến nhiều hơn cho cộng đồng. Ai truyền đi những năng lượng tích cực mạnh mẽ hơn. Ai biết sống vì người khác, vì bạn bè còn gian khó, vì làng quê còn nghèo nàn, vì đất nước còn lạc hậu, vì dân tộc còn tụt lại phía sau.
(Hà Nhân, Sống như cây rừng, NXB Văn học, 2016, trang 190-191)
a. (0,5 điểm) Từ Nhưng thực hiện phép liên kết nào giữa hai câu trong đoạn (1)?
b. (0,5 điểm) Theo tác giả, một giấc mơ khác nữa mà tôi dần biết khi lớn lên về thể chất là gì?
c. (1,5 điểm) Phân tích tác dụng của biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong các câu in đậm ở đoạn (2).
d. (0,5 điểm) Em có đồng tình với ý kiến: “Ta biết rằng yêu thương người khác cũng chính là vỗ về tâm hồn của chính mình” không? Vì sao?
Câu 2. (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở Câu 1, em hãy viết một đoạn văn (từ 12 đến 15 câu) chia sẻ suy nghĩ về ý nghĩa của việc biết sống vì người khác.
Câu 3. (5,0 điểm) Cảm nhận về vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích sau
Anh hạ giọng, nửa tâm sự, nửa đọc lại một điều rõ ràng đã ngẫm nghĩ nhiều:
- Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa, cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này cháu không nghĩ như vậy nữa. Vả, khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được? Huống chi việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công việc của cháu gian khổ thế đấy chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất ... Còn người thì ai mà chả “thèm” hở bác? Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc? Đấy, cháu tự nói với cháu thế đấy. Bác lái xe đi, về Lai Châu cứ đến đây dừng lại một lát. Không vào giờ “ốp” là cháu chạy xuống chơi, lâu thành lệ. Cháu bỗng dưng tự hỏi: Cái nhớ xe, nhớ người ấy thật ra là cái gì vậy? Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô hội thì xoàng. Cháu ở liền trong trạm hằng tháng. Bác lái xe bao lần dừng, bóp còi toe toe, mặc, cháu gan lì nhất định không xuống. Ấy thế là một hôm, bác lái phải thân hành lên trạm cháu. Cháu nói: “Đấy, bác cũng chẳng “thèm” người là gì?”
Anh xoay sang người con gái đang một mắt đọc cuốn sách, một mắt lắng nghe, chân cô đung đưa khe khẽ, nói:
- Và cô cũng thấy đấy, lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà. Mỗi người viết một vẻ.
- Quê anh ở đâu thế? - Họa sĩ hỏi.
- Quê cháu ở Lào Cai này thôi. Năm trước, cháu tưởng cháu được đi xa lắm cơ đấy, hóa lại không. Cháu có ông bố tuyệt lắm. Hai bố con cùng viết đơn xin ra lính đi mặt trận. Kết quả: bố cháu thắng cháu một - không. Nhân dịp Tết, một đoàn các chú lái máy bay lên thăm cơ quan cháu ở Sa Pa. Không có cháu ở đấy. Các chú lại cử một chú lên tận đây. Chú ấy nói: nhờ cháu có góp phần phát hiện một đám mây khô mà ngày ấy, tháng ấy, không quân ta hạ đựơc bao nhiêu phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng. Đối với cháu thật là đột ngột, không ngờ lại như thế. Chú lái máy bay, có nhắc đến bố cháu, ôm cháu mà lắc: “Thế là một – hòa nhé!”. Nhưng từ hôm ấy cháu sống thật hạnh phúc. Ơ, bác vẽ cháu đấy ư? Không, không, đừng vẽ cháu. Để cháu giới thiệu với bác những người khác đáng cho bác vẽ hơn.
(Trích Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long, Ngữ Văn 9, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018)
Lời giải chi tiết
Câu 1.
|
a. Từ Nhưng thực hiện phép liên kết nào giữa hai câu trong đoạn (1)? |
Phương pháp: căn cứ bài các phép liên kết câu.
Cách giải:
Từ “nhưng” thực hiện phép liên kết là: phép nối.
|
b. Theo tác giả, một giấc mơ khác nữa mà tôi dần biết khi lớn lên về thể chất là gì? |
Phương pháp: căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Theo tác giả “một giấc mơ khác nữa mà tôi dần biết khi lớn lên về thể chất” là: giấc mơ con người sẽ trưởng thành về nhân cách và tâm hồn.
|
c. Phân tích tác dụng của biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong các câu in đậm ở đoạn (2). |
Phương pháp: căn cứ bài điệp ngữ, phân tích.
Cách giải:
Tác dụng của biện pháp điệp ngữ là: Nhấn mạnh về những trách nhiệm của mỗi con người đó là phải biết cho đi, cần phải trưởng thành, biết yêu thương người khác.
|
d. Em có đồng tình với ý kiến: “Ta biết rằng yêu thương người khác cũng chính là vỗ về tâm hồn của chính mình” không? Vì sao? |
Phương pháp: phân tích, lí giải.
Cách giải:
HS nêu ra quan điểm cá nhân và có những lí giải phù hợp.
Gợi ý:
Đồng tình với quan điểm trên.
Vì: Khi ta trao đi yêu thương ta nhận lại sự yêu quý, kính trọng của chính mình điều đó khiến ta cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc, thêm yêu cuộc sống. Bởi vậy trao đi yêu thương cũng chính là cách vỗ về chính mình.
Câu 2.
|
Từ nội dung đoạn trích ở Câu 1, em hãy viết một đoạn văn (từ 12 đến 15 câu) chia sẻ suy nghĩ về ý nghĩa của việc biết sống vì người khác. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Nêu vấn đề: Biết sống vì người khác.
2. Bàn luận:
* Giải thích:
- Biết sống vì người khác: Là việc con người dành nhiều sự quan tâm, tình cảm, những chăm lo về vật chất, tinh thần cho người khác, biết chấp nhận cả những thiệt thòi, thua kém để người khác có được niềm vui, hạnh phúc, thành công.
* Bàn luận:
- Cuộc sống là sự tổng hòa của các mối quan hệ. Con người luôn cần có sự gắn kết với nhau để tồn tại. Vì thế, mỗi người không thể chỉ sống cho riêng mình mà còn cần biết quan tâm tới những người xung quanh mình.
- Biết sống vì người khác sẽ khiến con người học được cách sống bao dung, vị tha từ đó con người trở nên trưởng thành, có suy nghĩ tích cực và niềm tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống.
- Sống vì người khác là một cách cho đi để rồi sau đó con người sẽ nhận lại được những giá trị lớn lao.
- Người biết sống vì người khác luôn tạo dựng được những mối quan hệ xã hội tốt.
- Người biết sống vì người khác sẽ bồi đắp được một đời sống tình cảm phong phú.
- Người biết sống vì người khác luôn được mọi người yêu quý, trân trọng và nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn.
HS lấy dẫn chứng minh họa phù hợp.
* Bài học, liên hệ:
- Phê phán những người chỉ biết sống cho bản thân mình, ích kỉ luôn đặt lợi ích của bản thân trên lợi ích cộng đồng, sẵn sàng vì lợi ích cá nhân mà đạp lên lợi ích của người khác.
- Biết sống vì người khác không có nghĩa là không yêu thương trân trọng bản thân mình. Cần có sự cân đối hài hòa giữa việc sống vì người khác và yêu thương trân trọng chính mình.
Câu 3.
|
Cảm nhận về vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Thành Long.
- Giới thiệu tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa.
- Giới thiệu đoạn trích cần phân tích.
2. Thân bài
a. Giới thiệu khái quát:
Truyện ngắn tập trung vào cuộc gặp gỡ tình cờ giữa ông họa sĩ, cô kĩ sư với anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn của Sa Pa qua lời giới thiệu của bác lái xe.
Đoạn văn ngắn đã khái quát được vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn của anh thanh niên qua lời tâm sự của anh thanh niên với bác họa sĩ và cô kĩ sư.
b. Nhân vật anh thanh niên:
* Hoàn cảnh sống và làm việc:
- Một mình trên đỉnh núi cao, quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa. Công việc của anh là “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự báo vào việc báo trước thời tiết hàng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”. Công việc đơn điệu đòi hỏi phải thật tỉ mỉ, chính xác, có ý thức tự giác.
- Nhưng cái gian khổ nhất phải vượt qua sự cô đơn, vắng vẻ, quanh năm suốt tháng một mình trên đỉnh núi cao không một bóng người.
* Những nét đẹp của nhân vật thể hiện qua đoạn trích:
- Có lý tưởng cống hiến: đi bội không được anh tình nguyện làm việc ở Sa Pa.
- Suy nghĩ đẹp về công việc:
+ Vì công việc mà anh phải sống một mình trên núi cao nhưng anh vẫn gắn bó với công việc của mình bởi “khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được”. Anh yêu công việc tới mức trong khi mọi người còn ái ngại cho cuộc sống ở độ cao 2.600m của anh thì anh lại ước ao được làm việc ở độ cao trên 3.000m “như vậy mới gọi là lý tưởng”.
+ Công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, chính xác cao: hằng ngày lặp lại tới 4 lần các thao tác “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết” và khó khăn nhất là lúc 1 giờ sáng “nửa đêm thức dậy xách đèn ra vườn, mưa tuyết, giá lạnh…” nhưng anh vẫn coi công việc là niềm vui “Công việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi cháu buồn đến chết mất”.
+ Ý thức được giá trị công việc mà mình đang làm: dự vào việc báo trước thời tiết nên “việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia”.
=> Những suy nghĩ ấy chỉ có ở những con người yêu lao động, yêu công việc của mình dù nó thật khó khăn, đơn điệu và buồn tẻ. Công việc là niềm vui, là cuộc sống của anh.
- Suy nghĩ đẹp về cuộc sống:
+ Tự mình tìm lời giải đáp cho những câu hỏi quan trọng “Mình sinh ra là gì, mình đẻ ra ở đâu, mình vì ai mà làm việc?” những câu hỏi cho anh biết giá trị của bản thân và ý nghĩa của cuộc sống.
+ Suy nghĩ đúng đắn về giá trị của hạnh phúc: Hạnh phúc không phải là khi cuộc sống đầy đủ về vật chất mà là khi ta làm được những điều có ích. Một lần do phát hiện kịp thời một đám mây khô mà anh đã góp phần vào chiến thắng của không quân ta, bắn rơi được máy bay Mỹ trên cầu Hàm Rồng, anh thấy mình “thật hạnh phúc”.
=> Qua lời kể hồn nhiên, chân thành của người thanh niên, tác giả Nguyễn Thành Long đã giúp người đọc cảm nhận được những suy nghĩ đẹp và đúng đắn của anh thanh niên cũng như của những người lao động ở Sa Pa.
- Làm phong phú cuộc sống của mình: Anh thường xuyên đọc sách. Vì sách chính là người bạn để anh “trò chuyện”. Nhờ có sách mà anh chống chọi được với sự vắng lặng quanh năm. Nhờ có sách mà anh tiếp tục học hành, mở mang kiến thức.
=> Những tình cảnh cao đẹp trên đã tạo nên những phẩm chất đáng quý ở anh thanh niên - một con người lao động với XHCN.
3. Kết bài:
- Truyện Lặng lẽ Sa Pa ngợi ca ngợi những con người lao động như anh thanh niên làm công tác khí tượng và thế giới những con người như anh.
- Qua câu chuyện về anh thanh niên, tác phẩm cũng gợi tả những con người đang dành cả thanh xuân để cống hiến, phục vụ kháng chiến với nhiều phẩm chất cao đẹp
Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Ninh năm 2021
Đề bài
PHẦN I (2.0 điểm)
(1) Tôi thích lên danh sách. Đây là lời đề nghị: hãy lên danh sách năm mươi điều bạn trân trọng, biết ơn (vâng, năm mươi). Mười điều đầu tiên rất dễ: người thân, công việc, gia đình, vân vân. Biết ơn vì bạn nói tiếng Việt (hoặc tiếng Nhật, tiếng Đức). Biết ơn vì có đủ hai mắt, có trái tim khỏe, hoặc vì bạn không sống trong vùng chiến tranh. Biết ơn người khác. Cầu chúc cho người nông dân nỗ lực làm nên thức ăn trên bàn. Cầu chúc cho người công nhân tạo ra chiếc xe máy bạn đi. Cầu chúc cho người bán hàng nơi bạn mua quần áo. Cầu chúc cho người phục vụ quán ăn bạn đến hôm qua.
(2) Đó là thái độ biết ơn. Hãy lưu tâm đến những phúc lành của mình, đừng xem bất cứ điều gì là hiển nhiên. Tôi chắc chắn bạn sẽ có nhiều thứ để biết ơn hơn những gì bạn thấy. Chỉ cần nghĩ đến. Chỉ cần trân trọng. Và để ý xem điều gì sẽ xảy đến.
(Trích Đời ngắn đừng ngủ dài, Robin Sharma, NXB trẻ, 2019, tr.33-34)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,5 điểm) Theo đoạn văn (1), tác giả đề nghị điều gì?
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra thành phần biệt lập trong câu: Tôi chắc chắn bạn sẽ có nhiều thứ biết gì hơn những gì bạn thấy.
Câu 3. (0,5 điểm) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ trong các câu in đậm.
Câu 4. (0,5 điểm) Trong lời đề nghị của tác giả về những điều cần trân trọng, biết ơn, em tâm đắc nhất điều gì? Vì sao?
II. LÀM VĂN (8,0 điểm).
Câu 1. (3,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của lòng biết ơn trong cuộc sống. Đoạn văn có câu sử dụng thành phần khởi ngữ (gạch chân thành phần khởi ngữ).
Câu 2.(5,0 điểm) Cảm nhận của em về đoạn trích sau:
“Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,
Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,
Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui,
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ…
Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”
(Trích Bếp lửa, Bằng Việt, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.144)
Lời giải chi tiết
PHẦN I.
Câu 1
|
Theo đoạn văn (1), tác giả đề nghị điều gì? |
Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích
Cách giải:
Theo đoạn trích tác giả đề nghị: Hãy lên danh sách năm mươi điều bạn trân trọng, biết ơn.
Câu 2.
|
Chỉ ra thành phần biệt lập trong câu: Tôi chắc chắn bạn sẽ có nhiều thứ biết gì hơn những gì bạn thấy. |
Phương pháp: căn cứ bài Thành phần biệt lập
Cách giải:
Thành phần biệt lập: “chắc chắn”. Đây là thành phần tình thái được dùng để thể hiện cách nhìn của người nói đối với sự việc được nói đến trong câu.
Câu 3.
|
Nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ trong các câu in đậm. |
Phương pháp: phân tích, lí giải
Cách giải:
Học sinh có thể trình bày theo cảm nhận của mình, lý giải.
Gợi ý:
- Tăng sức gợi hình gợi tả cho câu văn
- Tạo nhịn điệu
- Nhấn mạnh lòng biết ơn.
Câu 4.
|
Trong lời đề nghị của tác giả về những điều cần trân trọng, biết ơn, em tâm đắc nhất điều gì? Vì sao? |
Phương pháp: phân tích, lí giải
Cách giải:
Học sinh có thể trình bày theo ý hiểu của mình về điều mà mình tâm đắc nhất, lý giải
Gợi ý:
- Điều tâm đắc nhất: Biết ơn vì có đủ hai mắt, có trái tim khỏe.
- Lý giải: Con mắt là cửa sổ tâm hồn, biết ơn vì chúng ta có thể nhìn ngắm thế giới này, nhìn ngắm những vẻ đẹp và điều kì diệu của thế giới. Trái tim khỏe mạnh giúp chúng ta sống khỏe, biết cảm nhận tình yêu thương giúp cuộc đời có ý nghĩa hơn.
PHẦN II.
Câu 1.
|
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của lòng biết ơn trong cuộc sống. Đoạn văn có câu sử dụng thành phần khởi ngữ (gạch chân thành phần khởi ngữ). |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp
Cách giải:
I. Mở đoạn
- Giới thiệu vấn đề cần bàn luận.
- Từ xa xưa, ông bà ta có câu “uống nước nhớ nguồn”, một câu nói dạy bao thế hệ về lòng biết ơn. Lòng biết ơn là một đức tính cao quý và đẹp của con người. Truyền thống về lòng biết ơn đã được bao đời thế hệ cha ông gìn giữ và phát huy. Để tiếp nối ông cha thì thế hệ trẻ cũng đã gìn giữ nét đẹp để hiểu thêm về lòng biết ơn, chúng ta cùng đi tìm hiểu về “Lòng biết ơn”.
II. Thân đoạn
1. Giải thích thế nào là “lòng biết ơn”?
- Lòng biết ơn là sự ghi nhớ công ơn, tình cảm mà người khác mang lại cho mình. Những hành động, việc làm mà họ hi sinh để mang lại niềm hay hạnh phúc hay niềm vui cho mình.
2. Biểu hiện của lòng biết ơn
- Luôn ghi nhớ công ơn của họ trong long
- Có những hành động thể hiện sự biết ơn
- Luôn mong muốn đền đáp công ơn của những người đã giúp đỡ mình
3. Tại sao phải có lòng biết ơn?
- Vì đó là nghĩa cử, truyền thống tốt đẹp của ông cha ta từ bao đời xưa.
- Về lòng biết ơn, đó là một tình cảm cao đẹp và thiêng liêng của mỗi con người.
- Mỗi công việc chúng ta thành công không phải tự nhiên mà có, dù lớn hay nhỏ cũng có sự giúp đỡ của ai đó, vậy nên ta cần phải có lòng biết ơn.
- Dẫn chứng, biểu hiện: Trong cuộc sống, chúng ta mang ơn ba mẹ đã sinh thành, dưỡng dục, nuôi dạy ta nên người. Học sinh biết ơn thầy cô giáo đã dạy dỗ cho mình biết bao kiến thức và bài học quý báu.
4. Mở rộng vấn đề
- Có một số người hiện nay không có lòng biết ơn.
- Với những hành động vô ơn, điều này chúng ta cần phải phê phán và loại trừ.
VD: Ăn cháo đá bát, qua cầu rút ván, ...
III. Kết đoạn:
- Nêu cảm nghĩ về lòng biết ơn
- Nêu những công việc và thể hiện lòng biết ơn.
Chú ý: Khởi ngữ là thành phần được gạch chân.
Câu 2.
|
Cảm nhận của em về đoạn trích sau: “Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen, Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa (Trích Bếp lửa, Bằng Việt, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.144) |
Phương pháp: phân tích, cảm nhận, tổng hợp
Cách giải:
1. Mở bài: giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm và vị trí đoạn thơ
- Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong phong trào kháng chiến chống Mỹ. Thơ ông trong trẻo, mượt mà, khai thác những kỉ niệm đẹp và ước mơ tuổi trẻ.
- Bài thơ “Bếp lửa” được sáng tác năm 1963 khi tác giả là du học sinh Liên Xô.
- Giới thiệu đoạn trích: hai khổ thơ nói lên những suy ngẫm chiêm nghiệm về cuộc đời của bà.
2. Thân bài
a. Những suy ngẫm chiêm nghiệm về cuộc đời của bà cũng như hình tượng bếp lửa
- Từ những kỉ niệm, hình ảnh bếp lửa luôn gắn với hình ảnh người bà.
+ Hình ảnh bếp lửa kết tinh trong hình ảnh ngọn lửa: ngọn lửa của tình yêu thương, sự hy sinh luôn ủ sẵn trong lòng bà để làm sáng lên hy vọng, ý chí.
“Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”
+ Điệp ngữ “một ngọn lửa” nhấn mạnh tình yêu thương ấm áp bà dành cho cháu, người bà nhen nhóm những điều thiện lương tốt đẹp đối với cháu.
=> Hình ảnh người bà trong lòng cháu là người thắp lửa, giữ lửa và truyền lửa, truyền niềm tin, sức sống tới thế hệ tương lai.
- Sự tần tảo, hi sinh của bà thể hiện: “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa”: sự chiêm nghiệm của cháu về cuộc đời bà.
+ Cuộc đời bà đầy những gian truân, vất vả, lận đận trải qua nắng mưa tưởng như không bao giờ dứt
+ Điệp từ “nhóm” lặp lại bốn lần: người bà đã nhóm lên, khơi dậy những yêu thương, ký ức và giá trị sống tốt đẹp trong lòng người cháu
+ Những từ "nhóm" được sử dụng với cách hiểu đa nghĩa làm cho câu thơ giàu giá trị hình tượng và nhấn mạnh tình yêu thương bao la của bà dành cho cháu.
- Hình ảnh bếp lửa kết tinh thành hình ảnh ngọn lửa chất chứa niềm tin, hy vọng của bà: Người cháu như phát hiện ra điều kỳ diệu giữa cuộc sống đời thường “Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa”: cháu thấm nhuần được tình yêu thương và đức hi sinh của bà.
- Bài thơ chứa đựng triết lý, ý nghĩa thầm kín: những điều thân thiết của tuổi thơ của mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng đỡ con người trên hành trình cuộc đời, tình yêu thương và lòng biết ơn chính là biểu hiện cụ thể của tình yêu thương, quê hương.
3. Kết bài
- Hai khổ thơ của “Bếp lửa” mang một ý nghĩa triết lý sâu sắc: về hình ảnh người bà như một hình ảnh truyền thống làm bước đệm vững chắc nâng bước con người trong hành trình dài rộng của tương lai, cuộc đời.
- Tình cảm gia đình là cơ sở vững chắc để làm nền tảng cho tình yêu quê hương đất nước.
Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Ninh năm 2020
Đề bài
PHẦN I. Đọc hiểu văn bản (2,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:
(1) Có người hỏi tôi, tại sao sân bay quốc tế Vân Đồn, một sân bay còn rất "trẻ", lại được Chính phủ lựa chọn và lại có thể thực hiện tốt trọng trách đón các chuyến bay từ vùng dịch. Khi ấy, điều đầu tiên tôi nghĩ đến là tập thể của mình. Cùng với cơ sở vật chất, phương tiện và quy trình, thì nhiệt huyết lần trách nhiệm và lòng yêu nước của các anh, chị, em tối là sức mạnh của sân bay quốc tế Vân Đồn. Tôi nhìn thấy niềm hạnh phúc trong ánh mắt, nụ cười "đồng đội" khi thấy đồng bào đặt chân lên đất mẹ.
(2) Chiều nay, vừa nhận được tin nhắn của con gái không được gặp ba sau nhiều tháng xa cách: "Ba nhớ giữ gìn sức khỏe!", cũng là lúc đồng nghiệp gửi cho tôi hình chụp lời bình luận trên mạng dưới thông tin sân bay quốc tế Vân Đồn đón đồng bào về nước: "Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn có thể chưa cất cánh về mặt kinh tế, nhưng đã khởi đầu bằng một nhiệm vụ quốc gia nặng nghĩa nặng tình!".
(3) Khóe mắt tôi bỗng cay cay. Hình ảnh một thương cảng Vân Đồn sầm uất 100 năm trước hiện lên cùng niềm tin. Tôi biết, sau những chuyến đón đồng bào về tổ quốc, sẽ là những chuyến đón đưa nhộn nhịp kết nối Việt Nam với khắp năm châu. Sau những ánh mắt mừng vui của các "chiến binh" áo trắng, áo xanh của tôi ngoài kia đón "người mình” an toàn về tổ quốc, sẽ là nụ cười hạnh phúc của các anh chị em, thấy quê hương mình phát triển và trên con đường chông gai khó kể, Vân Đồn sẽ cất cánh bằng niềm tin của Tổ quốc Việt Nam.
(Phạm Ngọc Sáu, http://vnexpress.net/goc-nhin/cat-canh-bang-niem-tin-4074950.html)
Câu 1. (0,5 điểm) Trong đoạn văn (1), tác giả khẳng định những cơ sở nào khiến sân bay Vân Đồn được Chính phủ lựa chọn và lại có thể thực hiện tốt trọng trách đón các chuyến bay từ vùng dịch ?
Câu 2. (0,5 điểm) Xác định các lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn (2).
Câu 3. (0,5 điểm) Chỉ ra hai từ láy được sử dụng trong đoạn văn (3).
Câu 4. (0,5 điểm) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ trong câu văn in đậm.
PHẦN II. Tạo lập văn bản (8,0 điểm)
Câu 1. (3,0 điểm)
“Tạm dừng việc đến trường, không dừng việc học" là thông điệp Bộ Giáo dục và Đào tạo nhắn gửi tới các giáo viên, học sinh toàn quốc trong thời gian dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp.
Từ thông điệp trên, hãy viết một đoạn văn (từ 12 đến 15 câu) trình bày suy nghĩ của em về tinh thần vượt khó trong cuộc sống. Trong đoạn văn có sử dụng phép nối (gạch chân từ nối).
Câu 2. (5,0 điểm)
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều, dẫn theo SGK Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, năm 2017, trang 94)
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1:
|
Trong đoạn văn (1), tác giả khẳng định những cơ sở nào khiến sân bay Vân Đồn được Chính phủ lựa chọn và lại có thể thực hiện tốt trọng trách đón các chuyến bay từ vùng dịch? |
Phương pháp: đọc tìm ý
Cách giải:
Cơ sở để Chính phủ lựa chọn sân bay Vân Đồn:
- Cơ sở vật chất, phương tiện và quy trình, nhiệt huyết, trách nhiệm và lòng yêu nước sục sôi của các cán bộ, nhân viên sân bay.
- Niềm hạnh phúc, nụ cười của các cán bộ, nhân viên sân bay khi thấy đồng bào được trở về.
Câu 2:
|
Xác định các lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn (2). |
Phương pháp: căn cứ bài Lời dẫn trực tiếp, lời dẫn gián tiếp
Cách giải:
Các lời dẫn trực tiếp của đoạn văn (2):
- "Ba nhớ giữ gìn sức khỏe!"
- "Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn có thể chưa cất cánh về mặt kinh tế, nhưng đã khởi đầu bằng một nhiệm vụ quốc gia nặng nghĩa nặng tình!".
Câu 3:
|
Chỉ ra hai từ láy được sử dụng trong đoạn văn (3). |
Phương pháp: căn từ bài Từ láy
Cách giải:
- Hai từ láy trong đoạn (3): cay cay, nhộn nhịp.
Câu 4:
|
Nêu tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ trong câu văn in đậm. |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
- Tác dụng:
+ Làm cho câu văn giàu giá trị biểu đạt, tăng sức gợi hình, gợi cảm.
+ Nhấn mạnh dù con đường có nhiều khó khăn nhưng chắc chắn Vân Đồn sẽ vững mạnh phát triển, đem về sự phồn vinh cho tỉnh và cho đất nước.
Phần II
Câu 1
|
“Tạm dừng việc đến trường, không dừng việc học" là thông điệp Bộ Giáo dục và Đào tạo nhắn gửi tới các giáo viên, học sinh toàn quốc trong thời gian dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp. Từ thông điệp trên, hãy viết một đoạn văn (từ 12 đến 15 câu) trình bày suy nghĩ của em về tinh thần vượt khó trong cuộc sống. Trong đoạn văn có sử dụng phép nối (gạch chân từ nối). |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: Qua thông điệp “Tạm dừng việc đến trường, không dừng việc học”, suy nghĩ về tinh thần vượt khó trong cuộc sống.
2. Giải thích vấn đề
- Tinh thần vượt khó được hiểu là năng lượng, ý chí, nghị lực, niềm tin và sự kiên cường để vượt qua mọi khó khăn, gian nan của cuộc sống.
=> Tinh thần vượt khó là yếu tố quan trong để đưa con người tới thành công.
3. Phân tích, bàn luận vấn đề
- Biểu hiện tinh thần vượt khó:
+ Không ngại khó khăn, gian khổ.
+ Có niềm tin, nghị lực vươn về phía trước.
+ Khắc phục mọi hoàn cảnh khó khăn.
+ Nhìn thấy cơ hội trong những khó khăn
+…
- Ý nghĩa tinh thần vượt khó:
+ Cuộc sống đa chiều, có những điều bất ngờ, nghịch cảnh xảy ra trong cuộc sống mà ta không thể thay đổi được. Vậy cách đối phó duy nhất là: biết chấp nhận thực tại ấy và nỗ lực hết mình để tìm trong nghịch cảnh nghị lực sống mạnh mẽ, tìm trong khó khăn những cơ hội để vươn lên, chiến thắng chính mình… (Chọn và phân tích dẫn chứng)
+ Vượt qua nghịch cảnh buồn đau là ta đã tôi luyện thêm tinh thần, ý chí, có thêm kinh nghiệm sống, từ đó nắm được chìa khoá của sự thành công. Ví dụ: như đại dịch Covid-19 vừa rồi, khiến chúng ta không thể đến trường nhưng vẫn hãy tự tìm hiểu kiến thức cho mình dù điều kiện khó khăn. Từ trong gian khó, thực hiện tốt lệnh cách ly và rèn luyện cho mình tinh thần tự học.
=> Trong hoàn cảnh khó khăn, ta khẳng định được chính mình; không dễ dàng khuất phục, không đầu hàng trước số phận sẽ giúp ta thêm mạnh mẽ; thành quả cuối cùng của sự nhẫn nại, cố gắng sẽ là đòn bẩy, là cơ hội lớn cho ta phát triển…
- Phê phán những người có lối sống hèn nhát, trốn chạy và đầu hàng khó khăn.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Nhận thức được khó khăn là quy luật của cuộc sống mà con người phải đối mặt.
+ Rèn luyện ý chí, bản lĩnh… để vượt qua gian nan, thử thách. Không mặc cảm, tự ti không trông chờ vào người khác hoặc ảo tưởng về số phận.
4. Liên hệ bản thân và tổng kết
Câu 2
|
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau: Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu? Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Buồn trông gió cuốn mặt duềnh, (Nguyễn Du, Truyện Kiều, dẫn theo SGK Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, năm 2017, trang 94) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
- Tác giả: Nguyễn Du (1765– 1820), quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là một nhà thơ vĩ đại của nền văn học Việt Nam.
- Truyện Kiều là một kiệt tác của nền văn học Việt Nam, tác phẩm còn có tên gọi khác là “Đoạn trường tân thanh”, được viết dựa trên cốt truyện của “Kim Vân Kiều truyện” nhưng sự sáng tạo về nội dung và nghệ thuật là rất lớn. Tác phẩm thấm nhuần tinh thần nhận đạo cao dẹp và có giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc.
- Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” trích trong phần hai: Gia biến và lưu lạc. Nổi bật trong đoạn trích là 8 câu thơ cuối nói về tâm trạng đau buồn, âu lo của Thúy Kiều thể hiện qua cách nhìn cảnh vật.
2. Phân tích, cảm nhận
Phân tích bốn cặp thơ lục bát “buồn trông” để thấy được những đặc sắc nội dung và nghệ thuật:
a. Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
- Không gian, thời gian, cảnh vật:
+ Không gian cửa bể mênh mông, rộng lớn
+ Thời gian: chiều hôm. Trong ca dao, thơ ca, thời điểm chiều tà là thời điểm dễ khiến con người buồn, nhớ (dẫn chứng một vài câu thơ, câu ca dao: Chiều chiều ra đứng ngõ sau/ Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều…)
+ Cảnh vật: chỉ có bóng con thuyền và cánh buồm thấp thoáng, càng khiến không gian trở nên mênh mông, cô quạnh, không một bóng người.
- Nghệ thuật: đảo ngữ thấp thoáng lên trước, cùng từ láy xa xa làm tăng thêm cảm giác xa xôi, nhỏ bé của con thuyền, tăng cảm giác cô độc của nhân vật.
b. Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
- Hình ảnh ẩn dụ: hoa trôi trên dòng nước ẩn dụ cho thân phận người con gái chìm nổi trên dòng đời. Kiều nhìn cánh hoa trôi mà cảm thương cho số phận chìm nổi lênh đênh của mình.
+ Liên hệ với ca dao: Thân em như thể bèo trôi/ Sóng dập gió dồi biết tựa vào đâu; Thân em như thể cánh bèo/ Ngược xuôi xuôi ngược theo chiều nước trôi…
⇒ Cánh hoa, cánh bèo, cánh lục bình… đều ẩn dụ cho sự mong manh, yếu đuối, không thể tự định đoạt của thân phận người con gái trong xã hội phong kiến. Sóng, dòng nước ẩn dụ cho cuộc đời.
c. Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
- Màu sắc của cảnh vật:
+ “Rầu rầu”: màu sắc ảm đạm, úa tàn
+ “Xanh xanh”: ý nói không gian không có sự sống con người, trời đất lẫn vào nhau một màu xanh.
⇒ Tâm trạng mệt mỏi chán chường của Thúy Kiều, nhìn đâu cũng thấy sự ảm đạm, thê lương; câu thơ tiêu biểu cho thủ pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn thơ (người buồn cảnh có vui đâu bao giờ).
d. Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
- Âm thanh dữ dội của sóng, gió gợi sự kinh hãi. Câu thơ như báo trước những sóng gió trong cuộc sống sắp tới với Kiều.
e. Đánh giá chung về nghệ thuật của đoạn thơ
- Điệp từ “buồn trông”: tạo nên âm hưởng trầm buồn, như một điệp khúc của đoạn thơ, là ngọn nguồn lí giải cảnh sắc trong đoạn thơ.
- Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình: cảm xúc của Thúy Kiều ảnh hưởng tới cảnh vật nàng nhìn thấy ⇒ cảnh nào cũng buồn, cô quạnh, u ám, đáng sợ.
- Hệ thống từ ngữ tả cảnh: tính từ, từ láy.
- Nhịp thơ thay đổi ở 2 câu cuối: đang từ chậm buồn trở nên gấp gáp.
- Thủ pháp đối lập giữa 2 câu cuối và 6 câu trước: âm thanh dữ dội đối lập với những hình ảnh ảm đạm.
- Hình ảnh được tả từ xa đến gần: sự thay đổi điểm nhìn của nhân vật, đứng trên lầu cao nhìn từ xa lại.
3. Tổng kết vấn đề
Tổng kết về nội dung và nghệ thuật:
- Nội dung: Nỗi buồn, lo sợ của Thúy Kiều trong cảnh cô đơn, vô vọng, phiêu bạt. Dự cảm về số phận bất hạnh đầy sóng gió của Kiều. Thể hiện sự cảm thông, thấu hiểu, thương xót số phận người phụ nữ của Nguyễn Du.
- Nghệ thuật: thủ pháp tả cảnh ngụ tình, điểm nhìn trần thuật được đưa từ xa tới gần làm tăng thêm giá trị nội dung.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
