Đề thi vào 10 môn Văn Sơn La
Đề thi vào 10 môn Văn Sơn La năm 2026
Đề thi
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
GIẤC MƠ CỦA BÀ NỘI
Bao giờ cũng vậy, cứ đến Chủ nhật là bà nội lại từ làng quê ngoại thành vào phố chơi với chúng tôi. Bà đến quãng chín giờ sáng. Đến là cho quà ríu rít và chuyện trò. Ôi, dường như là bao nhiêu thương nhớ sau một tuần xa cách và tích đọng từ bao năm, giờ mới có dịp bộc lộ. Bà giở cái túi xách tay ra. Cái túi xách bằng vải thô ông vẫn dùng từ ngày là nhân viên phục vụ trên tàu chạy đường Lào Cai - Hà Nội là cái túi có phép thần. Ở trong nó có đủ mùa nào thức ấy: Nhãn tháng Sáu. Na tháng Bảy. Roi mùa hạ. Gương sen mùa thu. Lại còn bột sắn cho mẹ tôi vốn hay bị mệt và hoa hoè cho bố tôi mới chớm bị tăng huyết áp. Vườn nhà bà có hai cây hoè. Hoè ra nụ, bà bắc thang hái rồi sao phơi, đóng vào từng bọc giấy báo mang ra.
(Lược một đoạn: Những ngày chủ nhật bà đến chơi, bà luôn tay dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc các cháu và nấu những món ăn ngon cho gia đình. Cả nhà đã quen với niềm hạnh phúc ấy mà vô tình quên mất bà đang ngày một già yếu. Cho đến một hôm, vì bắc thang hái nụ hoa hòe cho bố tôi chữa bệnh, bà bị trượt ngã và chấn thương não phải vào viện cấp cứu. Bố tôi ân hận tột cùng, xót xa nhận ra sự vô tâm của mình rồi đón bà về nhà để tự tay chăm nom. Dù ốm đau liệt giường, bà vẫn gắng gượng chống chọi với bệnh tật).
Thương bà quá, nhất là những lúc mẹ tôi đỡ bà dậy, bón cho bà ăn. Ngồi cạnh trông bà ăn, thấy bà chúm môi như đứa trẻ, gắng nuốt từng thìa, rồi mệt nhọc nằm thừ, đuôi mắt ướt nhoèn, bố tôi ôm mặt khóc nghẹn. Tôi khóc theo và bỗng nhớ tới mấy câu thơ của nhà thơ Thanh Tịnh: "Mẹ bón cho con ăn, con cười, mẹ cười. Con bón cho mẹ ăn, con khóc, mẹ khóc".
Nghe tiếng bố tôi khóc, có lẽ vậy, bà tôi liền mở mắt. Rồi bà chép chép môi. Mẹ tôi mừng quá, vội đưa thìa bón tiếp cho bà. Bà cố ăn để khoẻ mạnh, sống mãi với con cháu, bà ơi!
Bà nội tôi gắng chống trả với cơn tai biến hiểm nghèo để khoẻ lại. Tuy vậy, chúng tôi đều hiểu, sức khoẻ là thứ của cải một khi đã mất đi, rất khó lấy lại, nhất là ở tuổi già. Tình tinh mê mê, bà tôi thường ở trạng thái dang dở ấy có khi cả tuần liền. Một đêm vào quãng gần sáng cả nhà đang ngủ, bỗng nghe tiếng bà quát rất to, bố tôi và tôi liền bật dậy.
- Mẹ ơi! - Bố tôi bước vội đến bên giường bà, càng thảng thốt vì thấy bà tôi đã chống tay ngồi dậy, đang vấn khăn đầu.
- Mẹ, mẹ có sao không ạ?
- Bố Tuấn, Tú đấy à? Ngủ thế nào mà kẻ trộm nó vào bếp, nó bắt mất hai con ngan mà không biết!
- Ngan nào, hả mẹ?
- Thế nhà không nuôi ngan à? Ơ, chả lẽ là ra mẹ mê ngủ? Rõ ràng là mẹ đang nấu chân giò với dấm tỏi cho cái Tú và cả nhà ăn thì thấy một anh ăn mặc rất chải chuốt vào nhà ta xin nước uống, rồi lẻn ngay vào bếp bắt mất hai con ngan. Mẹ xót quá. Mẹ gào tướng lên: “Này, anh kia, tôi nuôi hai con ngan là để làm thịt cho con, cháu tôi ăn, sao anh nhẫn tâm thế! Biết điều thì trả lại cho tôi đi!” Rồi mẹ xông ra, xắn tay áo lên...
Mẹ tôi và cái Tú cùng choàng dậy lúc đó. Ngơ ngác một thoáng, rồi ai cũng hiểu chuyện, rồi vô cùng vui mừng vì thấy bà tôi đã ngồi được dậy, chải đầu, vấn khăn gọn ghẽ, nói rằng hôm nay đã thấy người đã trở lại bình thường, từ nay không phải lo gì cho bà nữa và hỏi: Có phải là Tết nhất và mùa xuân sắp đến rồi không? Thế là cái vận cái hạn đã qua rồi!
Cái Tú đến bên bà, ôm bà, thỏ thẻ:
- Bà ơi, có phải mê bị mất của là điềm lành không, bà?
Bà gật đầu:
- Ừ, bà khoẻ, rồi bà sẽ nấu canh cua rau rút, nấu chân giò dấm tỏi, nấu nhiều món ngon cho các cháu ăn.
Tôi rưng rưng bồi hồi và ngờ ngợ. Bà nội tôi đã khoẻ trở lại bằng tất cả sự nỗ lực của chính bà, bà không muốn con cháu vất vả vì bà, và điều ấy là sự thật, nhưng là một sự thật mong manh làm sao!
Mẹ già như trái chín cây. Tuổi già như ngọn đèn trước gió. Mặt bà hanh hao, là lạ như người đi đâu xa mới về, và hai con mắt bà có lúc trông hoang dại, ngẩn ngơ thế nào! Bố tôi úp mặt vào hai bàn tay. Làm con phải biết đến tuổi của bố mẹ để kính trọng và để lo liệu. Bố tôi thường nói vậy với chúng tôi. Ông cũng đang ở trong trạng thái run rẩy sợ hãi như tôi, nhưng còn thêm cả nỗi day dứt xót xa nữa. Ôi, ngay cả lúc ốm đau, tình thương của bà cũng dành tất cả cho con cháu!...
(Trích Giấc mơ của bà nội, Những truyện hay viết cho thiếu nhi, Ma Văn Kháng, Nxb Kim Đồng, 2023, tr.82-90)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,75 điểm). Xác định và chỉ ra dấu hiệu nhận biết ngôi kể trong đoạn trích.
Câu 2 (0,75 điểm). Hãy liệt kê những thức quà mà bà nội mang từ quê lên phố cho gia đình nhân vật “tôi”.
Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: “Mặt bà hanh hao, là lạ như người đi đâu xa mới về, và hai con mắt bà có lúc trông hoang dại, ngẩn ngơ thế nào!”.
Câu 4 (1,0 điểm). Nhận xét về thái độ, tình cảm của nhân vật “tôi” dành cho bà nội qua chi tiết: “Ngồi cạnh trông bà ăn, thấy bà chúm môi như đứa trẻ, gắng nuốt từng thìa, rồi mệt nhọc nằm thừ, đuôi mắt ướt nhoèn, bố tôi ôm mặt khóc nghẹn. Tôi khóc theo và bỗng nhớ tới mấy câu thơ của nhà thơ Thanh Tịnh: “Mẹ bón cho con ăn, con cười, mẹ cười. Con bón cho mẹ ăn, con khóc, mẹ khóc””.
Câu 5 (0,5 điểm). Từ nội dung đoạn trích, hãy rút ra thông điệp ý nghĩa nhất với bản thân.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật bà nội trong đoạn trích trên.
Câu 2 (4,0 điểm). Trong xã hội hiện đại với sự xuất hiện của các thiết bị điện tử thông minh, con cái thường ít chia sẻ, tâm sự, thiếu kết nối với cha mẹ. Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn luận và đề xuất giải pháp khắc phục hiện tượng trên.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc văn bản, chú ý các đại từ xưng hô. Xác định người kể có trực tiếp tham gia câu chuyện hay không
Lời giải chi tiết:
- Ngôi kể thứ nhất
- Dấu hiệu: người kể xưng “tôi” – tham gia trực tiếp vào câu chuyện
Câu 2.
Phương pháp:
Tìm đoạn đầu văn bản miêu tả chiếc túi của bà và gạch chân các món quà được kể.
Lời giải chi tiết:
Những thức quà bà nội mang từ quê lên phố cho gia đình nhân vật “tôi”: Nhãn tháng Sáu, Na tháng Bảy, Roi mùa hạ, Gương sen mùa thu, bột sắn, hoa hoè.
Câu 3.
Phương pháp:
Xác định vế được so sánh và vế dùng để so sánh trong câu văn. Từ đó làm rõ tác dụng gợi hình, gợi cảm và nhấn mạnh tình trạng sức khỏe, dáng vẻ của nhân vật bà nội.
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp so sánh: ví “mặt bà hanh hao, là lạ” với “người đi đâu xa mới về”
- Tác dụng:
+ Giúp câu văn giàu hình ảnh, tăng sức gợi hình, gợi cảm
+ Làm nổi bật vẻ thay đổi khác lạ của bà: mệt mỏi, ngơ ngác và trống trải sau cơn bạo bệnh
+ Gợi lên tình trạng sức khoẻ đang yếu đi, sự già nua của bà, đồng thời thể hiện sự lo lắng, xót xa của nhân vật “tôi”
Câu 4.
Phương pháp:
Dựa vào hành động, cảm xúc của nhân vật “tôi” khi chứng kiến bà ăn uống khó khăn và khi “tôi khóc theo”. Từ các chi tiết đó, khái quát tình yêu thương, sự xót xa và lòng kính yêu dành cho bà.
Lời giải chi tiết:
Nhân vật “tôi” dành cho bà nội tình cảm yêu thương, lo lắng, xót xa và kính yêu. Nhân vật “tôi” luôn quan tâm, chăm sóc bà khi ốm đau, xúc động nghẹn ngào khi thấy bà yếu mệt, đồng thời thấu hiểu, trân trọng tình yêu thương, sự hi sinh của bà dành cho con cháu.
Câu 5.
Phương pháp:
Dựa vào nội dung câu chuyện về tình cảm bà cháu và sự hi sinh của người bà.
Nêu một bài học sâu sắc mà bản thân tâm đắc nhất
Lời giải chi tiết:
Thông điệp: Cần biết yêu thương, kính trọng, quan tâm tới ông bà, cha mẹ khi còn có thể.
II. VIẾT
Câu 1.
Phương pháp:
Lựa chọn các chi tiết tiêu biểu về lời nói, hành động và suy nghĩ của bà. Làm nổi bật những phẩm chất như yêu thương con cháu, giàu đức hi sinh, tần tảo, nghị lực rồi đánh giá ý nghĩa của hình tượng nhân vật.
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn
Giới thiệu và nêu cảm nhận chung về nhân vật bà nội trong đoạn trích
2. Thân đoạn
- Bà nội là người yêu thương, chăm lo cho con cháu:
+ Thường xuyên từ quê lên phố thăm gia đình
+ Mang theo nhiều món quà quê giản dị: hoa quả, gương sen, bột sắn, hoa hoè… => chứa đựng tình thương, sự quan tâm của bà dành cho con cháu.
- Bà nội giàu đức hi sinh, luôn nghĩ cho con cháu:
+ Khi đau ốm, mê sảng vẫn lo chuyện “mất hai con ngan” để dành làm thịt cho cháu ăn.
+ Luôn đau đáu mong con cháu được đủ đầy, hạnh phúc.
- Bà nội già nua nhưng giàu nghị lực, tình yêu sống:
+ Cố gắng chống chọi với bệnh tật.
+ Hình ảnh bà ngồi dậy, đầu vấn khăn thể hiện sự mạnh mẽ, nề nếp, mong được tiếp tục bên con cháu.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
+ Miêu tả qua hành động, lời nói, giấc mơ, ngoại hình và cảm xúc của nhân vật “tôi”
+ Chi tiết chân thực, cảm động, giàu sức gợi.
3. Kết đoạn
Khẳng định vẻ đẹp của nhân vật bà nội
Câu 2.
Phương pháp:
Giải thích hiện tượng, phân tích nguyên nhân và hậu quả của việc thiếu kết nối giữa cha mẹ và con cái. Sau đó đề xuất các giải pháp cụ thể từ phía con cái, cha mẹ và gia đình, đồng thời khẳng định ý nghĩa của sự thấu hiểu, sẻ chia trong gia đình.
Lời giải chi tiết:
I. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
II. Thân bài
* Giải thích:
- Thiết bị điện tử thông minh: là các thiết bị công nghệ hiện đại có khả năng kết nối Internet và xử lí thông tin, như điện thoại thông minh, máy tính, máy tính bảng,...
* Phân tích + Chứng minh:
- Thực trạng: con cái ít chia sẻ, tâm sự, thiếu kết nối với cha mẹ
+ Giữa cha mẹ và các con ít trò chuyện, tâm sự, chia sẻ suy nghĩ, cảm xúc
+ Con cái thờ ơ với đời sống tinh thần của cha mẹ
+ Khoảng cách giữa các thành viên trong gia đình ngày càng lớn.
- Nguyên nhân:
+ Nhiều bạn trẻ quá say mê mạng xã hội, trò chơi điện tử, các hoạt động giải trí trực tuyến; Chưa nhận thức được tầm quan trọng của sự gắn kết gia đình.
+ Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tạo ra nhiều nội dung hấp dẫn, thu hút giới trẻ; Cha mẹ bận rộn với công việc, ít có thời gian trò chuyện cùng con; …
- Hậu quả:
+ Tình cảm gia đình trở nên lạnh nhạt, xa cách.
+ Cha mẹ không hiểu được tâm tư, nguyện vọng của con; con cái cũng khó cảm nhận được tình yêu thương, sự hi sinh của cha mẹ.
+ Người trẻ dễ rơi vào trạng thái cô đơn, thiếu điểm tựa tinh thần khi gặp khó khăn.
HS tìm và lựa chọn sử dụng dẫn chứng phù hợp với bài viết
- Giải pháp khắc phục:
+ Đối với con:
Nhận thức được vai trò của gia đình trong cuộc sống.
+Sử dụng thiết bị điện tử một cách hợp lí, có thời gian biểu khoa học.
Chủ động trò chuyện, chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn với cha mẹ; quan tâm đến sức khỏe, cảm xúc và công việc của cha mẹ.
Dành nhiều thời gian tham gia các hoạt động chung của gia đình.
+ Đối với cha mẹ:
Dành thời gian lắng nghe, thấu hiểu con hơn.
Tôn trọng suy nghĩ, cảm xúc của con.
Hạn chế quát mắng, áp đặt; xây dựng mối quan hệ gần gũi, tin cậy.
+ Đối với nhà trường và xã hội:
Giáo dục học sinh về kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong gia đình.
Tuyên truyền nâng cao nhận thức về việc sử dụng công nghệ đúng cách.
* Mở rộng, liên hệ bản thân
III. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Phương pháp: Đọc văn bản, chú ý các đại từ xưng hô. Xác định người kể có trực tiếp tham gia câu chuyện hay không
Đề thi vào 10 môn Văn Sơn La năm 2025
Đề thi
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc đoạn trích:
Trên đời chẳng ai lo cho ta bằng mẹ
Cũng chẳng ai ta làm khổ nhiều như mẹ của ta
Mẹ ơi nếu con được sống lại tuổi thơ
Con sẽ chẳng bao giờ mải chơi trốn học
Đứa con trai nhiều lỗi lầm ương ngạnh
Sẽ không lần nào làm mẹ xót xa.
Ước mẹ trẻ hoài như buổi mới gặp cha
Ước con được sống suốt đời bên mẹ
Mẹ muốn ăn cá thu con chẳng nề xuống bể
Chẳng ngại lên ngàn kiếm đọt măng mai
Nhưng xứ sở ta quân Mỹ tới rồi
Cùng bè bạn con lên đường đuổi giặc.
Mẹ vui vẻ gánh lấy phần khó nhọc
Việc cơ quan, việc Đảng, việc nhà
Đánh Pháp năm xưa, đánh Mỹ bây giờ
Quen vất vả, mẹ quản gì sương nắng.
(Trích Gửi mẹ, in trong Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, Lưu Quang Vũ, NXB HNV, 2018. Tr.23)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,75 điểm). Xác định nhân vật trữ tình của đoạn trích.
Câu 2 (0,75 điểm). Chi ra những từ ngữ thể hiện nỗi vất vả của người mẹ trong khổ thơ:
Mẹ vui vẻ gánh lấy phần khó nhọc
Việc cơ quan, việc Đảng, việc nhà
Đánh Pháp năm xưa, đánh Mỹ bây giờ
Quen vất vả, mẹ quản gì sương nắng.
Câu 3 (1,0 điểm). Em hiểu như thế nào về ý nghĩa của hai câu thơ:
Mẹ muốn ăn cá thu con chẳng nề xuống bể
Chẳng ngại lên ngàn kiếm đọt măng mai
Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ điệp ngữ trong hai câu thơ sau:
Ước mẹ trẻ hoài như buổi mới gặp cha
Ước con được sống suốt đời bên mẹ
Câu 5 (0,5 điểm). Từ nội dung đoạn trích, em hãy rút ra bài học ý nghĩa nhất với bản thân và lí giải.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Em hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích đoạn thơ sau:
Trên đời chẳng ai lo cho ta bằng mẹ
Cũng chẳng ai ta làm khổ nhiều như mẹ của ta
Mẹ ơi nếu con được sống lại tuổi thơ
Con sẽ chẳng bao giờ mải chơi trốn học
Đứa con trai nhiều lỗi lầm ương ngạnh
Sẽ không lần nào làm mẹ xót xa.
Câu 2 (4,0 điểm). Sử dụng AI đang là xu the tât yêu trên thế giới. Em hãy viết một bài văn nghị luận
trình bày các giải pháp để người trẻ phát huy tác dụng của AI trong cuộc sống hôm nay.
Đáp án
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) |
Câu 1. (0,5 điểm) |
Nhân vật trữ tình là: người con |
|
Câu 2. (0,5 điểm) |
Những từ ngữ thể hiện sự vất vả của mẹ trong khổ thơ là: gánh, khó nhọc, đánh, vất vả, quản gì sương nắng |
|
|
Câu 3. (1,0 điểm) |
Hai câu thơ thể hiện tình yêu thương sâu sắc và lòng hiếu thảo của người con dành cho mẹ. Người con sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ (ra biển, lên rừng) để mang về cho mẹ những điều mẹ yêu thích, như cá thu hay măng mai. Qua đó cho thấy sự biết ơn và mong muốn đền đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục. |
|
|
Câu 4. (1,0 điểm) |
Điệp ngữ: ước Tác dụng: -Biện pháp tu từ điệp ngữ "ước" được lặp lại nhằm nhấn mạnh khát khao, mong muốn mãnh liệt của người con. Đó là ước mơ mẹ luôn trẻ trung, hạnh phúc và mong muốn được sống mãi bên mẹ. -Cách lặp từ này làm tăng tính nhạc điệu và cảm xúc, thể hiện sâu sắc tình cảm yêu thương, gắn bó của người con với mẹ. |
|
|
Câu 5. (1,0 điểm) |
Gợi ý: Biết trân trọng, yêu thương và đền đáp công ơn cha mẹ. Lí giải: Cha mẹ đã hy sinh rất nhiều vì con cái, chịu nhiều vất vả để nuôi dạy con nên người. Là con, chúng ta cần biết ơn, hiếu thảo và thể hiện tình cảm với cha mẹ khi còn có thể. |
|
|
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) |
Câu 1. (2,0 điểm) |
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận 2. Thân đoạn - Thấu hiểu nỗi khổ, sự vất vả của mẹ. - Thể hiện tình cảm xúc động của người con khi nhận ra những lỗi lầm trong quá khứ, thể hiện sự ăn năn và mong muốn được bù đắp cho mẹ. +Từ việc "chẳng ai lo cho ta bằng mẹ" cho đến lời hối hận "sẽ không lần nào làm mẹ xót xa", người con bộc lộ sự thức tỉnh muộn màng nhưng chân thành. => Đoạn thơ không chỉ gợi lên tình mẫu tử thiêng liêng mà còn nhắc nhở chúng ta: hãy yêu thương và sống tốt với mẹ khi còn có thể. Mẹ không chỉ là người nuôi ta khôn lớn, mà còn là nơi chốn bình yên nhất để ta quay về. - Nghệ thuật: Ngôn ngữ giản dị, giàu cảm xúc; Giọng điệu tha thiết, … 3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
1.Mở bài: Giới thiệu chung và dẫn dắt vấn đề nghị luận 2.Thân bài: - AI (Artificial Intelligence) là trí tuệ nhân tạo, mô phỏng khả năng suy nghĩ, học hỏi, xử lý dữ liệu của con người qua máy móc. - Tầm quan trọng của AI với người trẻ: +Giúp tối ưu hóa công việc, học tập. + Tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới trong tương lai. + Gắn liền với các lĩnh vực như giáo dục, y tế, tài chính, sáng tạo nội dung... - Thực trạng hiện nay: +Một bộ phận người trẻ chưa có nhận thức đúng hoặc còn mơ hồ về AI. +Thiếu nền tảng kiến thức, kỹ năng công nghệ. -Giải pháp: + Chủ động học tập: tham gia các khóa học về AI, lập trình, dữ liệu… + Tăng cường sử dụng AI trong thực tiễn như hỗ trợ học tập, sáng tạo nội dung (ChatGPT, Copilot, Canva AI...) + Tham gia cộng đồng công nghệ, startup, các cuộc thi liên quan đến AI. + Phát triển tư duy phản biện và đạo đức sử dụng AI đúng cách. HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp. -Có bạn cho rằng học AI không quan trọng. Điều đó là sai lầm. Vì nếu bây giờ bạn không bắt tay vào việc học và sử dụng các công cụ AI bạn sẽ bị tụt hậu và bị bỏ lại phía sau. 3.Kết bài: Khẳng định vai trò quyết định của thế hệ trẻ trong việc tiếp cận và làm chủ AI. Mỗi người trẻ cần chuẩn bị hành trang tri thức để không tụt lại trong kỷ nguyên mới. |
Đề thi vào 10 môn Văn Sơn La năm 2023
Đề bài
PHẦN I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích và thực hiện yêu cầu:
…. Những người thân trong gia đình là những người nhớ về mình nhiều và đầy đủ nhất. Những người giữ bí mật của mình.
Ngày tôi ra đời, bà mụ hỏi bố:
- Đặt tên cậu ấm là gì nào?
Cậu ấm có nghĩa là một cậu bé sung sướng. Bà muốn tôi được sung sướng. Bố tôi choàng dậy .
- Ừ nhỉ, sao tôi quên khuấy mất. Tôi cứ tưởng tượng về nó mãi, đâm quên.
Theo bố tôi, cái tên quan trọng lắm. Bởi nó là cái tiếng đẹp đẽ nhất mà người ta sẽ gọi trong suốt cuộc đời một đứa trẻ. Đứa trẻ này khác với đứa trẻ kia trước tiên là một cái tên. Khi nhớ một cái tên tức là ta nhớ về một con người có cái tên đó. Không gì tuyệt diệu hơn khi mình gọi tên người thân của mình. Mẹ là cái tên chung cho tất cả những ai làm mẹ. Khi ai đó gọi mẹ ơi, tức là mình hiểu người phụ nữ đó đã làm và yêu thương những công việc giống mẹ mình. Mẹ cũng là một cái tên đẹp nhất, bao giờ cũng dịu dàng. Một người tên Dũng, mình sẽ nghĩ không phải là con gái. Người tên Loan, sẽ không phải là con trai. Khi mình lớn, cái tên ấy vẫn đi theo. Mình sẽ giữ nó như một kỷ niệm người bố và người mẹ. Đó cũng là tình cảm ưu ái mà bố mẹ muốn dành cho.
Và cuối cùng cái tên của tôi cũng được đặt xong. Một cái tên thật dài nhưng tôi luôn nhớ. Bố tôi nói:
- Không có gì đẹp bằng cái tên của mình. Một cái tên là một tình thương lớn.
Bạn tên gì vậy? Có khi nào bạn hỏi bố mẹ tại sao bạn lại có cái tên đó không? Tôi tin rằng bạn sẽ được nghe một câu chuyện thật dài về nó. Đó là một bí mật về bạn. Và chỉ khi đó bạn mới biết tại sao một cái tên lại là một tiếng nói đẹp nhất [...]
(Trích Vừa nhắm mắt vừa mở của sổ, Nguyễn Ngọc Thuần, NXB Trẻ, 2020, tr.15)
Câu 1. (0,75 điểm) Theo lời người cha, cái tên có những ý nghĩa gì?
Câu 2. (0,5 điểm) Trong đoạn trích, ta cảm thấy thế nào khi gọi tên người thân của mình?
Câu 3. (1,0 điểm) Em có đồng tình với ý kiến mẹ là cái tên đẹp nhất không? Hay lí giải.
Câu 4. (0,75 điểm) Mỗi chúng ta nên ứng xử như thế nào với cái tên của mình? Vì sao?
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. Có ý kiến cho rằng: Tình yêu thương của cha mẹ có thể là động lực nhưng cũng có thể là áp lực cho con cái. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bảy tỏ quan điểm của em về ý kiến trên.
Câu 2. Hãy phân tích đoạn thơ sau:
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dại dẳng....
Lận đận dài bà biết mấy nắng mưa
"Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa! [...]
(Trích Bếp lửa, Bằng Việt, SGK Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr. 144)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Đọc, tìm ý.
Cách giải:
Theo lời người cha, cái tên có nhiều ý nghĩa:
- Cái tiếng đẹp đẽ nhất mà người ta sẽ gọi trong suốt cuộc đời của một đứa trẻ.
- Là cái để phân biệt đứa trẻ này với đứa trẻ khác.
- Là thứ giúp gợi nhớ về con người (khi nhớ tới một cái tên tức là nhớ về một con người có cái tên đó).
- Tạo ra tình cảm đặc biệt giữa người với người.
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc, tìm ý.
Cách giải:
Theo đoạn trích, ta cảm thấy không gì tuyệt diệu hơn khi gọi tên người thân của mình.
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Học sinh tự trình bày quan điểm cá nhân của mình, có lý giải.
Gợi ý:
- Đồng tình. Mẹ chính là tên gọi đẹp nhất. Bởi lẽ cái tên đó khiến chúng ta nhớ đến người đã sinh thành, nuôi nấng, hi sinh, chăm sóc chúng ta. Tình yêu thương và sự hi sinh lớn lao của mẹ đối với mỗi con người là điều đẹp đẽ và tuyệt với nhất.
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Học sinh tự trình bày theo ý kiến cá nhân, phù hợp với quan niệm đạo đức, pháp luật.
Gợi ý:
Để xứng đáng với cái tên của mình, con người có thể:
- Sống tích cực, sống lương thiện.
- Yêu thương giúp đỡ người khác.
- Yêu cái tên và trân trọng cái tên do cha mẹ đặt.
II. LÀM VĂN
Câu 1
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp
Cách giải:
a. Mở đoạn:
- Giới thiệu vấn đề: Tình yêu thương của cha mẹ có thể là động lực nhưng cũng có thể là áp lực cho con cái.
b. Thân đoạn:
* Giải thích vấn đề:
- Tình yêu thương là sự quan tâm, chăm sóc đối với những người xung quanh.
- Động lực là những nhân tố thúc đẩy mỗi cá nhân cố gắng, nỗ lực thực hiện nhiệm vụ của mình để đạt mục tiêu đã đã đề ra.
- Áp lực là những yếu tố khiến con người sống trong sự đè nén, mệt mỏi khiến trạng thái tinh thần con người rơi vào tình trạng tồi tệ nhất.
=> Tình yêu thương của cha mẹ là sự quan tâm, chăm sóc đôi khi là sự kì vọng vào con cái. Điều đó có thể tạo cho con động lực để phát triển, hoàn thiện nhưng cũng có thể vô hình tạo ra những áp lực cho con cái.
* Bàn luận vấn đề:
- Tình yêu thương của cha mẹ tạo động lực cho con cái.
+ Tình yêu thương của cha mẹ khiến con cái cảm thấy vững vàng hơn, an tâm hơn.
+ Tình yêu thương của cha mẹ khiến con cái có cảm giác được động viên, khích lệ từ đó tạo động lực cố gắng, phấn đấu tốt hơn.
+ Tình yêu thương đôi khi là điểm tựa, là nơi xoa dịu những lúc con gặp khó khăn.
- Tình yêu thương của cha mẹ vô tình tạo áp lực cho con.
+ Tình yêu thương đôi khi tạo ra những kì vọng vượt năng lực của con gây nên áp lực cho con.
+ Tình yêu thương quá lớn đôi khi tạo ra sự kiểm soát, áp đặt cho con khiến con cảm thấy áp lực, ngột ngạt.
…….
* Bàn luận mở rộng.
- Con cái cần học cách đón nhận và trân trọng tình yêu thương của cha mẹ.
- Cha mẹ cũng cần học cách yêu thương con sao cho đúng.
* Liên hệ bản thân.
c. Kết đoạn: Khẳng định vấn đề
Câu 2
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu vài nét về tác giả Bằng Việt và bài thơ Bếp lửa.
- Hoàn cảnh bài thơ ra đời
- Khái quát nội dung chính của đoạn thơ: Suy ngẫm về cuộc đời bà và bếp lửa.
2. Thân bài:
a. Phân tích đoạn trích - Suy ngẫm về cuộc đời bà và bếp lửa.
– Giữa tro tàn, giữa đau thương bà lại nhóm lửa, bà vẫn nhóm lửa. Bếp lửa ân cần, ấm cúng,
“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”
- Từ hình ảnh tả thực “Bếp lửa bà nhen” mỗi sớm, tác giả đã khóe léo chuyển thành hình ảnh “ngọn lửa”– một ngọn lửa tỏa sáng câu thơ có sức truyền cảm mạnh mẽ. Đến đây, bếp lửa bà nhen không còn là bếp lửa thông thường trong mỗi gian bếp bởi nó chứa ngọn lửa của lòng bà, ngọn lửa của tình yêu thơng và đức tin trong sáng, mãnh liệt. Từ ngọn lửa của lòng bà đã nhóm lên trong cháu tình yêu thương, niềm tin vào một ngày mai chiến thắng.
=> Bà chính là người nhóm lửa và giữ lửa – ngọn lửa niềm tin và hy vọng.
– Suốt một đời lận đận, vất vả, bà đã và vẫn đang làm công việc nhóm lửa:
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”
+ Từ láy “lận đận” với điệp từ “nắng mưa” nhấn mạnh cháu chưa từng và chẳng thể nào quên cuộc đời bà, một cuộc đời đầy lo toan, vất vả.
+ Khôn lớn trưởng thành, cháu càng thấu hiểu những ý nghĩa cao cả, thiêng liêng từ một công việc rất đỗi bình dị của bà: nhóm lửa. Điệp từ nhóm điệp lại 4 lần với hai lớp nghĩa. Bà đã làm công việc khởi đầu của một ngày: nhóm bếp lửa mỗi sớm mai và làm công việc khởi đầu của một đời, đó là bồi đắp tâm hồn, thắp lên những tình cảm cao quý. Từ “nhóm” thứ nhất hiểu theo nghĩa thực: thắp lên ngọn lửa trong gian bếp để sưởi ấm, để nấu chín thức ăn.... Ba từ “nhóm” sau được hiểu theo nghĩa ẩn dụ: bà truyền cho cháu tình yêu thương ruột thịt, tình đoàn kết chia sẻ xóm làng và đặc biệt hơn bà đã khơi dậy những tâm tình tuổi nhỏ, thức tỉnh trong tâm hồn cháu biết bao ước mơ và tình cảm tốt đẹp.
=> Như vậy đến đây ta thấy bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa. Ngọn lửa của tình yêu, của niềm tin, đức hi sinh không chỉ bà truyền cho cháu mà còn là của những thế hệ đi trước tiếp lửa cho thế hệ sau.
– Khám phá ra những ý nghĩa kì diệu, cao cả, thiêng liêng từ bếp lửa của bà, cháu sung sướng thốt lên:
“Ôi kì lạ và thiêng liêng bếp lửa”
- Phép đảo ngữ, câu cảm thán với từ “ôi” đặt ở đầu câu bôc lộ sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng, và vui sướng của cháu. Bếp lửa ấy luôn hiện diện cùng bà, tỏa sáng vẻ đẹp của bà. Đứa cháu nhỏ cảm thấy thật bất ngờ khi phát hện được những điều kì diệu thiêng liêng từ những thứ bình thường, giản dị. Cháu nhớ về bà, nhớ về Bếp lửa cũng chính là nhớ về quê hương, cội nguồn với tấm lòng tri ân sâu nặng.
b. Nghệ thuật:
- Sự kết hợp hài hòa các phương thức biểu cảm, tự sự, miêu tả và bình luận.
- Hình ảnh vừa chân thực vừa giàu ý nghĩa biểu tượng.
- Cảm xúc mãnh liệt.
- Triết lí sâu sắc.
3. Kết bài: Khái quát lại vấn đề nghị luận (nội dung + nghệ thuật).
Đề thi vào 10 môn Văn Sơn La năm 2022
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) Đọc đoạn trích và trả lời các câu hỏi:
Quê hương là vòng tay ấm
con nằm ngủ giữa mưa đêm
Quê hương là đêm trăng tỏ
hoa cau rụng trắng ngoài thềm.
Quê hương là vàng hoa bí
là hồng tím giậu mồng tơi
là đỏ đôi bờ dâm bụt
màu hoa sen trắng tinh khôi.
Quê hương mỗi người chỉ một
như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương có ai không nhớ....
(Trích Bài học đầu cho con, Đỗ Trung Quân, Cỏ hoa cần gặp, NXB Thuận Hóa - Huế, 1991)
Câu 1. Đoạn trích trên sử dụng phương thức biểu đạt nào?
Câu 2. Xác định một biện pháp tu từ trong những câu thơ sau:
“Quê hương là vòng tay ấm
con nằm ngủ giữa mưa đêm
Quê hương là đêm trăng tỏ
hoa cau rụng trắng ngoài thềm”
Câu 3. Tìm và phân tích ý nghĩa của những hình ảnh diễn tả vẻ đẹp quê hương trong đoạn thơ sau:
“Quê hương là vàng hoa bí
là hồng tím giậu mồng tơi
là đỏ đôi bờ dâm bụt
màu hoa sen trắng tinh khôi”
Câu 4. Nhận xét về tình cảm của tác giả dành cho quê hương.
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. Từ nội dung của phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về sự cần thiết phải trân trọng quê hương nguồn cội.
Câu 2. Cảm nhận hình tượng anh Sáu trong đoạn trích sau:
“Những đêm rừng, nằm trên võng, mắt chỉ thấy tấm ny lông nóc, lúc nhớ con, anh cứ ân hận sao mình lại đánh con. Nỗi khổ tâm đỏ cứ giày và anh.
[...] Tôi hãy còn nhớ buổi chiều hôm đó - buổi chiều sau một ngày mưa rừng, giọt mưa còn đọng trên lá, rừng sáng lấp lánh. Đang ngồi làm việc dưới tấm my lông nóc, tôi bỗng nghe tiếng kêu. Từ con đường mòn chạy lẫn trong rừng sâu, anh hớt hải chạy về cầm khúc ngà đưa lên khoe với tôi. Mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quả.
Sau đó anh lấy vỏ đạn hai mươi ly của Mĩ, đập mỏng làm thành một cây cưa nhỏ, cưa khúc ngà thành từng miếng nhỏ. Những lúc rỗi, anh của từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cổ công như người thợ bạc. Chẳng hiểu sao tôi thích ngồi nhìn anh làm và cảm thấy vui vui khi thấy bụi ngà rơi mỗi lúc một nhiều. Một ngày, anh cưa được một vài răng. Không bao lâu sau, cây lược được hoàn thành. Cây lược dài độ hơn một tắc,
ngang độ ba phản rưới, cây lược cho con gái, cây lược dùng để chải mái tóc dài, cây lược chỉ có một hàng răng thưa. Trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẫn khắc từng nét "Yêu nhớ tặng Thu con của ba". Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rồi được phần nào tâm trạng của anh. Những đêm nhớ con anh nhớ đến nỗi hối hận đánh con, nhớ con, anh lấy cây lược ra ngắm nghĩa rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng thêm mượt. Có cây lược anh càng mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện không may xảy ra. Một ngày cuối năm năm mươi tăm - năm đỏ ta chưa võ trang - trong một trận cần lớn của quân Mĩ - ngụy, anh Sáu bị hi sinh. Anh bị viên đạn của máy bay Mĩ bắn vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cho con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu.
Tôi không đủ lời lẽ để tả lại cái nhìn ấy, chỉ biết rằng, cho đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi cứ nhớ lại đôi mắt của anh.
- Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu.
Tôi cúi xuống gần anh và khể nói. Đến lúc ấy, anh mới nhằm mất đi xuôi.
(Trích Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng, SGK Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo đục Việt Nam, trang 199, 2007)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1:
|
Đoạn trích trên sử dụng phương thức biểu đạt nào? |
Phương pháp: Căn cứ bài các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt là: Biểu cảm.
Câu 2:
|
Xác định một biện pháp tu từ trong những câu thơ sau: “Quê hương là vòng tay ấm con nằm ngủ giữa mưa đêm Quê hương là đêm trăng tỏ hoa cau rụng trắng ngoài thềm” |
Phương pháp: Căn cứ bài các biện pháp tu từ đã học.
Cách giải:
Biện pháp tu từ: Điệp: Quê hương là…
Câu 3:
|
Tìm và phân tích ý nghĩa của những hình ảnh diễn tả vẻ đẹp quê hương trong đoạn thơ sau: “Quê hương là vàng hoa bí là hồng tím giậu mồng tơi là đỏ đôi bờ dâm bụt màu hoa sen trắng tinh khôi” |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, phân tích.
Cách giải:
- Hình ảnh diễn tả vẻ đẹp quê hương là: quê hương – vàng hoa bí, tím giậu mồng tơi, đỏ hoa dâm bụt, sen trắng tinh khôi.
- Ý nghĩa:
+ Quê hương không phải là những gì xa lạ, mà là những gì gần gũi thân thuộc nhất với mình: hoa bí, giậu mồng tơi, hoa dâm bụt, hoa sen.
+ Qua hình ảnh thơ giản dị, mộc mạc, tác giả thể hiện tình yêu quê hương thiết tha, sâu nặng.
Câu 4:
|
Nhận xét về tình cảm của tác giả dành cho quê hương. |
Phương pháp: Phân tích.
Cách giải:
Qua những câu thơ trên có thể thấy:
+ Tác giả thể hiện tấm lòng yêu quý, tự hào về vẻ đẹp quê hương.
+ Không chỉ vậy ông còn trân trọng những vẻ đẹp mộc giản, giản dị mà đầy ấm áp, yêu thương ấy.
II. LÀM VĂN:
Câu 1:
|
Từ nội dung của phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về sự cần thiết phải trân trọng quê hương nguồn cội. |
Phương pháp: Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
* Yêu cầu hình thức: Viết đúng hình thức của một đoạn văn khoảng 200 chữ.
* Yêu cầu về nội dung:
* Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phải biết trân trọng quê hương, nguồn cội.
- Giải thích: Quê hương, nguồn cội là nơi chúng ta được sinh ra, được nuôi lớn, được học hỏi và trưởng thành.
-> Mỗi con người sống trên đời đều có một quê hương. Quê hương đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc đời mỗi người. Vì thế chúng ta luôn phải biết trân trọng quê hương nguồn cội
- Vì sao cần phải trân trọng quê hương:
+ Quê hương là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn của con người, giúp con người trưởng thành cả trong trí tuệ lẫn nhân cách.
+ Quê hương còn là nơi dang rộng vòng tay đón chúng ta trở về sau bao khó khăn vất vả của cuộc đời.
+ Người biết trân trọng quê hương, nguồn cội là những người biết sống trước sau, ân nghĩa -> Tạo nên con người có phẩm chất tốt.
+ Biết trân trọng quê hương, nguồn cội là biết trân trọng chính bản thân, gốc rễ của mình. Từ đó sống có trách nhiệm hơn.
- Bàn luận:
+ Cố gắng bồi đắp tình yêu đối với quê hương, nguồn cội.
+ Cần phát huy, nỗ lực để góp phần phát triển quê hương, đất nước.
+ Phê phán những người có tư tưởng chê bai, trối bỏ quê hương mình.
Câu 2:
|
Cảm nhận hình tượng anh Sáu trong đoạn trích… |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài
- Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu nội dung cần phân tích.
2. Thân bài
* Hoàn cảnh dẫn đến việc làm chiếc lược ngà:
- Ông Sáu sau 8 năm xa cách mới được trở lại thăm con, nhưng:
+ Khi ông trở về bé Thu không nhận ông là ba, luôn lảng tránh sự quan tâm của ông.
+ Trong một lúc nóng giận ông đã đánh bé Thu, con bé bỏ sang nhà ngoại.
+ Kì nghỉ ngắn ngủi kết thú, trước lúc ông quay trở lại chiến trường, bé Thu đã nhận ra ông và dặn ông khi nào vè hãy tặng con bé một chiếc lược ngà.
* Khi ông trở lại chiến trường:
- Luôn cảm thấy ân hận, khổ tâm vì đã đánh con.
- Không quên lời hứa với con. Ông hiểu mơ ước ngây thơ của con. Cô bé muốn có 1 vật dụng để luôn nhớ về cha.
+ Dồn nỗi nhớ, tình yêu và sự day dứt vào việc làm chiệc lược ngà.
+ Ông tỉ mỉ cưa từng răng lược, cẩn thận khắc từng nét chữ “yêu nhớ tặng Thu con của ba”.
+ Lúc nhớ con, ông lấy cây lược ra ngắm nghía, mài lên mái tóc.
- Thậm chí, cái chết cũng không cướp đi được tình yêu thương con của ông Sáu.
+ Vết thương nặng trong một trận càn khiến ông kiệt sức, không trăng trối được điều gì nhưng ông vẫn dồn hết tàn lực móc cây lược trao cho đồng đội và gửi gắm đồng đội mình qua ánh mắt.
+ Cây lược ấy đã được trao lại cho bé Thu. Tình cha con đã không chết, nâng đỡ cô bé trưởng thành, vượt lên mọi đau thương mất mát.
=> Ông Sáu là biểu tượng cho tình yêu thương, sự ân cần và che chở của người cha dành cho con mình. Qua đó ta thấy được sự bất tử của tình cảm cha con.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề.
Đề thi vào 10 môn Văn Sơn La năm 2021
Đề bài
PHẦN I (3.0 điểm) Đọc đoạn trích sau:
Chúng ta thường quan tâm đến việc nuôi dưỡng cơ thể bằng những loại thức ăn nào bổ dưỡng, lành mạnh, nhưng lại rất ít khi quan tâm đến việc nuôi dưỡng tâm hồn. Thật ra, tâm hồn ta cũng cần được nuôi dưỡng và xét về nhiều khía cạnh, tâm hồn là quan trọng và cần chú ý quan tâm hơn rất nhiều. Một tâm hồn trong sáng, khoẻ mạnh để mang lại cho ta cuộc sống yên vui, hạnh phúc, ngay cả khi ta gặp phải những nghịch cảnh khó khăn. (...) Cuộc sống quanh ta có biết bao nhiêu điều tốt đẹp đáng quý và cần trân trọng. Chỉ cần ta biết khéo léo nhận ra và chọn lọc, chúng ta không hề thiếu thốn những hạt giống tốt đẹp để gieo trồng.
Mặt khác, trong cuộc sống cũng đầy rẫy những cỏ dại xấu xa. Chỉ cần ta sống buông trôi, thiếu hiểu biết, cuộc đời ta sẽ phải trả giá bằng những u ám, tối tăm kéo dài. Một tâm hồn tươi đẹp đầy hoa thơm trái quý, hay tiêu điều hoang vắng với cỏ dại lan tràn. Điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào nhận thức và nỗ lực của chính chúng ta không phụ thuộc vào bất kỳ ai khác. Nuôi dưỡng tâm hồn cũng quan trọng, cần thiết không kém gì việc nuôi dưỡng thể xác, nhưng chúng ta rất thường lãng quên không chú ý đến việc này. Chúng ta đôi khi bỏ mặc tâm hồn mình khô cằn hoặc mọc đầy cỏ dại. Nếu ý thức được điều này và bắt đầu chăm sóc gieo trồng những hạt giống tốt lành, chắc chắn bạn sẽ có được một cuộc sống tươi vui và hạnh phúc hơn nhiều.
(Trích Nuôi dưỡng tâm hồn nơi chính bạn, http://www.kynang.edu.vn/ky-nang-mem)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 2. (0,5 điểm) Theo đoạn trích, một tâm hồn trong sáng, khoẻ mạnh mang lại cho ta điều gì? Sống buông trôi, thiếu hiểu biết sẽ dẫn đến hậu quả gì?
Câu 3. (1,0 điểm) Xác định các hình ảnh ẩn dụ trong câu Chúng ta đôi khi bỏ mặc tâm hồn mình khô
cằn hoặc mọc đầy cỏ dại. Nêu ý nghĩa của các hình ảnh ẩn dụ đó.
Câu 4. (1,0 điểm) Em có đồng tình với ý kiến Nuôi dưỡng tâm hồn cũng quan trọng, cần thiết không
kém gì việc nuôi dưỡng thể xác không? Vì sao?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Từ nội dung phần đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về việc làm thế nào để nuôi dưỡng một tâm hồn tươi đẹp.
Câu 2. (5,0 điểm) Cảm nhận của em về hình tượng người lính trong đoạn thơ sau:
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính,
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
(Trích Đồng chí - Chính Hữu, SGK Ngữ văn 9, Tập 1, NXB Giáo dục, 2020, tr.128, 129)
Lời giải chi tiết
Phần I.
Câu 1.
|
Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. |
Phương pháp: căn cứ các phương thức biểu đạt đã học
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: nghị luận.
Câu 2.
|
Theo đoạn trích, một tâm hồn trong sáng, khoẻ mạnh mang lại cho ta điều gì? Sống buông trôi, thiếu hiểu biết sẽ dẫn đến hậu quả gì? |
Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích
Cách giải:
Theo đoạn trích, “một tâm hồn trong sáng, khỏe mạnh” mang lại cho chúng ta cuộc sống yên vui, hạnh phúc ngay cả khi ta gặp phải những nghịch cảnh khó khăn. Còn nếu “sống buông trôi, thiếu hiểu biết” thì cuộc đời sẽ phải trả giá bằng những u ám, tối tăm kéo dài.
Câu 3.
|
Xác định các hình ảnh ẩn dụ trong câu Chúng ta đôi khi bỏ mặc tâm hồn mình khô cằn hoặc mọc đầy cỏ dại. Nêu ý nghĩa của các hình ảnh ẩn dụ đó. |
Phương pháp: căn cứ bài Ẩn dụ, phân tích
Cách giải:
Hình ảnh ẩn dụ: tâm hồn => ví tâm hồn ta như một khu vườn, nếu bỏ mặc thì đó sẽ là một khu vườn khô cằn hoặc đầy cỏ dại
=> Ý nghĩa: Khiến cho đối tượng nghị luận trở nên sinh động, gợi lên những liên tưởng ý vị, sâu sắc.
Câu 4.
|
Em có đồng tình với ý kiến Nuôi dưỡng tâm hồn cũng quan trọng, cần thiết không kém gì việc nuôi dưỡng thể xác không? Vì sao? |
Phương pháp: phân tích, lí giải
Cách giải:
Em đồng ý với ý kiến.
Vì tâm hồn mỗi người rất quan trọng và đáng quý, một tâm hồn trong sáng, lành mạnh sẽ mang lại cuộc sống hạnh phúc, bình yên, giúp con người có thêm nghị lực và niềm tin vượt qua khó khăn, chiến thắng nghịch cảnh. Tâm hồn lành mạnh cũng sẽ góp phần nuôi dưỡng và phát triển thể xác, giúp người ta có cơ thể khỏe mạnh, dẻo dai.
Phần II.
Câu 1.
|
Từ nội dung phần đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về việc làm thế nào để nuôi dưỡng một tâm hồn tươi đẹp. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp
Cách giải:
I. Mở đoạn:
- Xác định vấn đề cần nghị luận: cách nuôi dưỡng vẻ đẹp tâm hồn
II. Thân đoạn:
Triển khai vấn đề nghị luận
1. Giải thích
- Tâm hồn con người là tổng hòa của nhiều yếu tố như cảm xúc, nhận thức, lí trí, khát vọng… Người có tâm hồn đẹp là người có tấm lòng nhân ái, bao dung, nhạy cảm trước mọi nỗi niềm của con người.
- Vẻ đẹp tâm hồn là vẻ đẹp của phẩm chất bên trong, là yếu tố tạo nên nét đẹp chân chính của mỗi người.
2. Bàn luận
- Nuôi dưỡng tâm hồn là điều rất quan trọng và thật cần thiết. Việc làm ấy cần được tiến hành thường xuyên và ngay từ khi còn nhỏ.
- Làm thế nào để nuôi dưỡng tâm hồn đẹp: Biết quan sát, lắng nghe, học hỏi, nhạy cảm, thấu hiểu, chia sẻ với người khác để cùng hướng tới những điều thiện
- Mỗi người có thể nuôi dưỡng tâm hồn mình bằng nhiều cách khác nhau:
+ Biết lắng nghe sự chỉ bảo của ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo
+ Không ngừng học hỏi để nâng cao vốn sống, vốn hiểu biết
+ Luôn hướng thiện và có tâm hồn đồng cảm với người khác
+ Biết cách sống mình vì mọi người, bản thân không bao giờ vụ lợi và luôn có ý chí vươn lên trong cuộc sống
+ Tránh gây tổn thương cho những người xung quanh
+ Biết chia sẻ niềm vui mà bạn mình vừa nhận được, … lời nói đi đôi với việc làm, hành động bên ngoài thống nhất với suy nghĩ bên trong…
-Phản đề: Phê phán một số người hiện nay thường chỉ quan tâm đến vẻ đẹp hình thức, ra sức chăm chút cho vẻ đẹp hào nhoáng bên ngoài mà không quan tâm trau dồi vẻ đẹp tâm hồn (công, dung, ngôn, hạnh)
III. Kết đoạn:
Bài học nhận thức
- Cái đẹp tiềm ẩn bên trong phẩm chất, tính cách mới tạo nên giá trị đích thực của mỗi con người, vẻ đẹp tâm hồn tôn vinh thêm cho vẻ đẹp hình thức
- Vẻ đẹp tâm hồn làm nên giá trị sâu xa, bền vững của con người.
- Con người ta chỉ hoàn thiện khi có sự hài hoà giữa vẻ đẹp hình thức với vẻ đẹp tâm hồn.
Câu 2.
|
Cảm nhận của em về hình tượng người lính trong đoạn thơ sau: Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính, Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. (Trích Đồng chí - Chính Hữu, SGK Ngữ văn 9, Tập 1, NXB Giáo dục, 2020, tr.128, 129) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Mở bài
– Giới thiệu khái quát về tác giả Chính Hữu (những nét cơ bản về con người, cuộc đời, đặc điểm sáng tác,…)
– Giới thiệu khái quát về bài thơ “Đồng chí” (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật, …)
– Giới thiệu khái quát về đoạn thơ và vẻ đẹp hình tượng người lính trong kháng chiến chống Pháp
2. Thân bài:
a. Hình ảnh người lính hiện lên với những vẻ đẹp của đời sống tâm hồn, tình cảm:
- Tình đồng chí là sự cảm thông sâu sắc những tâm tư, nỗi niềm của nhau. Những người lính gắn bó với nhau, họ hiểu đến những nỗi niềm sâu xa, thầm kín của đồng đội mình:
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày, Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”
Người lính đi chiến đấu để lại sau lưng những gì yêu quý nhất của quê hương: ruộng nương, gian nhà, giếng nước gốc đa. Từ "mặc kệ"cho thấy tư thế ra đi dứt khoát của người lính.
Nhưng sâu xa trong lòng, họ vẫn da diết nhớ quê hương. Ở ngoài mặt trận, họ vẫn hình dung thấy gian nhà không đang lung lay trong cơn gió nơi quê nhà xa xôi.
b. Thông cảm với nhau về bệnh tật trong chiến đấu mà người lính mắc phải:
"Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh / Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi"
=> thấu hiểu những tâm tư, nỗi lòng của nhau, cùng chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính. Đó là sự ốm đau, bệnh tật.
c. Chia sẻ những gian lao và thiếu thốn trong cuộc đời người lính:
"Áo anh …..chân không giày"
NT: Sử dụng các câu thơ sóng đôi, đối ứng, tả thực. Cấu trúc ấy đã diễn tả sự gắn bó, chia sẻ của những người đồng đội
- Sự yêu thương nhau thể hiện chân thành giản dị họ nắm tay để truyền cho nhau hơi ấm và sức mạnh của tình đồng chí hơi ấm ở bàn tay, ở tấm lòng đã chiến thắng cái lạnh ở "chân không giày" và thời tiết "buốt giá"
→ Sức mạnh của tình cảm keo sơn gắn bó sâu sắc giữa những người lính giúp họ vượt qua mọi khó khăn thiếu thốn và gian khổ.
=> Sự đoàn kết, thương yêu, kề vai sát cánh bên nhau cùng nhau chiến đấu chống lại quân thù tạo nên bức tượng đài bất diệt về hình ảnh người lính trong kháng chiến chống Pháp. Chân dung anh bộ đội Cụ Hồ buổi đầu kháng chiến sống gian khổ, thiếu thốn nhưng tình đồng chí sưởi ấm lòng họ.
d. Sự lãng mạn và lạc quan trong cuộc sống chiến đấu gian khổ:
- Bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội của người lính, là biểu tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ: Dù hoàn cảnh như thế nào thì cũng bên cạnh nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
- Trên cảnh rừng hoang sương muối là 3 hình ảnh gắn kết: Thương nhau tay nắm lấy bàn tay -> Hình ảnh đẹp về tình đồng đội
⇒ Làm nên sức mạnh của tình đồng đội giúp họ vượt lên những khắc nghiệt của thời tiết và mọi gian khổ thiếu thốn.
3. Kết bài
Khái quát về những vẻ đẹp cơ bản của hình ảnh người lính và tình đồng đội, các biện pháp nghệ thuật trong đoạn thơ và nêu cảm nghĩ của bản thân.
Đề thi vào 10 môn Văn Sơn La năm 2020
Đề bài
I. ĐỌC - HIỂU
Đọc đoạn trích
Cơ hội là điều có thật chứ không phải là kết quả của một sự may mắn hay tình cờ nào đó. Cơ hội luôn hiện hữu xung quanh chúng ta nhưng thường núp dưới cái bóng rủi ro hoặc thất bại tạm thời. Đó là lý do khiến rất nhiều người bỏ lỡ cơ hội của mình. Gục ngã hoàn toàn sau thất bại đầu tiên và không bao giờ đứng dậy được nữa, họ không nhận ra rằng, đằng sau mỗi thất bại luôn ẩn chứa một cơ hội mới.
Nhiều người tin rằng thành công là kết quả của những bước ngoặt may mắn, Dù không thể phủ nhận sự may mắn, nhưng nếu chỉ trông chờ vào yếu tố này, thì gần như bạn sẽ luôn thất vọng. Bước ngoặt duy nhất mà bất kì ai cũng có thể dựa vào là bước ngoặt do chính họ tạo ra hoặc biết nắm bắt cơ hội mà cuộc sống mang đến cho mình,
Để làm được điều này, trước hết bạn hãy cố gắng nhận ra cơ hội của mình, đồng thời phân tích những thuận lợi và thách thức mà nó mang lại. Biến cơ hội thành hiện thực nghĩa là bạn sẵn lòng làm những công việc, từ đơn giản nhất, và cố gắng hoàn thành chúng một cách triệt để. Điều này cũng đồng nghĩa với việc bạn phải biết tận dụng từng phút giây quý báu của mình và làm phần việc được giao tốt hơn phạm vi trách nhiệm của bạn.
(Không gì là không thể - George Matthew Adams, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2018, tr. 60-61)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Câu 2. (0,5 điểm) Theo tác giả, "lý do khiến nhiều người bỏ lỡ cơ hội của mình" là gì?
Câu 3.S (1 điểm) Dựa vào đoạn trích, hãy cho biết làm thế nào để mỗi người có thể nắm bắt được cơ hội mà cuộc sống mang đến?
Câu 4. (1 điểm) Anh/chị có đồng tình với quan điểm của tác giả "đằng sau mỗi thất bại luôn ẩn chứa một cơ hội mới" không? Vì sao?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích Đọc hiểu anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 20 câu) bàn về ý nghĩa của việc đối mặt với thất bại trong cuộc sống
Câu 2. (5,0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về tình yêu làng, yêu trước của nhân vật ông Hai trong các đoạn văn bản sau:
Ông Hai quay phắt lại, lắp bắp hỏi:
- Nó… nó vào làng Chợ Dầu hở bác? Thế ta giết được bao nhiêu thằng?
Người đàn bà ẵm con cong môi lên đỏng đảnh:
- Có giết được thằng nào đâu. Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây còn giết gì nữa!
Cổ ông lão nghẹn đắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi:
- Liệu có thật không hở bác? Hay là chỉ tại…
[...] Ông lão vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng. Tiếng cười nói xôn xao của đám người mới tản cuwleen ấy vẫn dõi theo...
(...) Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu... Ông lão nắm chặt hai tay lại mà rít lên:
- Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này.
Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm. Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được. Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng, quyết tâm một sống một chết với giặc, có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy!... Nhưng sao lại nẩy ra cái tin như vậy được? Mà thằng chánh Bệu thì đích thị là người làng không sai rồi. Không có lửa thì sao có khói? Ai người ta hơi đâu bịa tạc ra những chuyện ấy làm gì. Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Rồi đây biết làm ăn, buôn bán ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta buôn bán mấy. Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước…
(...) Ông lão ôm thằng con út lên lòng, vỗ nhè nhẹ vào lưng nó, khẽ hỏi:
- Húc kia! Thầy hỏi con nhé, con là con của ai?
- Là con thầy mấy lại con u.
- Thế nhà con ở đâu?
- Nhà ta ở làng Chợ Dầu.
- Thế con có thích về làng Chợ Dầu không?
Thằng bé nép đầu vào ngực bố trả lời khe khẽ:
- Có.
Ông lão ôm khít thằng bé vào lòng, một lúc lâu lại hỏi:
- À, thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ ai?
Thằng bé giơ tay lên, mạnh bạo và rành rọt:
- Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!
Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má. Ông nói thủ thỉ:
- Ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhỉ.
Mấy hôm nay ru rú ở xó nhà, những lúc buồn khổ quá chẳng biết nói cùng ai, ông lại thủ thỉ với con như vậy. Ông nói như để ngỏ lòng mình, như để mình lại minh oan cho mình nữa.
Anh em đồng chí biết cho bố con ông.
Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông.
(Làng, Kim Lân, SGK Ngữ văn 9 tập Một, NXB Giáo dục, 2014)
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1
|
Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. |
Phương pháp: căn cứ các PTBĐ đã học
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
Câu 2
|
Theo tác giả, "lý do khiến nhiều người bỏ lỡ cơ hội của mình" là gì? |
Phương pháp: căn cứ bài đọc hiểu
Cách giải:
Theo tác giả “lí do khiến rất nhiều người bỏ lỡ cơ hội của mình” là do cơ hội luôn hiện hữu xung quanh chúng ta nhưng thường núp dưới cái bóng rủi ro hoặc thất bại tạm thời.
Câu 3
|
Dựa vào đoạn trích, hãy cho biết làm thế nào để mỗi người có thể nắm bắt được cơ hội mà cuộc sống mang đến? |
Phương pháp: căn cứ bài đọc hiểu
Cách giải:
Trước hết cần cố gắng nhận ra cơ hội của mình, đồng thời phân tích những thuận lợi và thách thức mà nó mang lại. Biến cơ hội thành hiện thực, tức là sẵn sang làm những công việc từ đơn giản nhất, và cố gắng hoàn thành chúng một cách triệt để nhất. Biết tận dụng những giây phút quý báu của mình và làm phần việc được giao tốt hơn phạm vi trách nhiệm của bạn.
Câu 4
|
Anh/chị có đồng tình với quan điểm của tác giả "đằng sau mỗi thất bại luôn ẩn chứa một cơ hội mới" không? Vì sao? |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
HS đưa ra quan điểm cá nhân, lí giải thuyết phục không vi phạm chuẩn mực đạo đức.
Phần II
Câu 1:
|
Từ nội dung đoạn trích Đọc hiểu anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 20 câu) bàn về ý nghĩa của việc đối mặt với thất bại trong cuộc sống |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp
Cách giải:
1.Giới thiệu vấn đề: ý nghĩa của việc đối mặt với thất bại trong cuộc sống.
2.Giải thích vấn đề:
- Thất bại là không đạt được kết quả, mục đích như dự định.
- Đối mặt là đứng ngay trước một trở ngại, khó khăn hoặc nguy hiểm nào đó và phải trực tiếp đối phó lại.
=> Đối mặt với thất bại là điều mỗi người cần thiết phải làm trong cuộc sống.
3.Phân tích, bàn luận vấn đề
- Ý nghĩa của việc đối mặt với thất bại:
+ Thất bại là một phần tất yếu của cuộc sống. Đối mặt với thất bại thể hiện việc bạn chấp nhận sự thật và dám học hỏi bài học mà thất bại đem lại.
+ Đối mặt với thất bại còn thể hiện bản lĩnh và sự dám chịu trách nhiệm về những việc mình làm.
+ Đối mặt với thất bại cũng chính là cách mở ra con đường dẫn đến thành công với mỗi người.
- Làm thế nào để đối mặt với thất bại?
+ Luôn dũng cảm thừa nhận những sai lầm của chính mình.
+ Kiên định trước những sóng gió cuộc đời.
+ Chấp nhận thách thức bản thân.
- Phê phán những người chạy trốn, hèn nhát, sau một lần thất bại đã gục ngã hoàn toàn.
4.Liên hệ bản thân và Tổng kết
Câu 2
|
Cảm nhận của anh/chị về tình yêu làng, yêu trước của nhân vật ông Hai trong các đoạn văn bản |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung: Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai.
2. Phân tích
- Ở nơi tản cư, Ông Hai, một lão nông dân yêu làng, yêu nước nghe tin làng Chợ Dầu của mình theo giặc: Đặt nhân vật vào một tình huống gay cấn, để ông Hai đau xót, tủi nhục và bế tắc khi làng và nước ở hai chiều đối nghịch. Nhân vật đã bộc lộ sâu sắc tình yêu làng, yêu nước của mình và ông quyết định “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Kim Lân đã khẳng định: trong lòng mỗi người dân Việt Nam, đất nước đã rộng lớn, bao trùm và chi phối mọi tình cảm khác, trong đó có tình yêu làng.
* Khi mới nghe tin ông sững sờ đau đớn:
- Nghe tin ấy sững sờ: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được. Một lúc sau ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ…”
- Ông lão vờ đứng lảng rồi ra về: “cúi gằm xuống mà đi…”. Ông giả vờ bình thản nhưng thực chất để che giấu tâm trạng.
- Tác giả đã miêu tả rất tinh tế tâm trạng bàng hoàng, sửng sốt, uất ức, đau đớn, tủi hổ của nhân vật. Niềm tự hào về làng Dầu bấy lâu bỗng sụp đổ
* Về đến nhà:
- Ông tủi thân và thương lũ con:
+ Nước mắt ông lão cứ giàn ra “Chúng cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu…” Ông độc thoại một mình, thương cho thân mình, thương cho chúng.
+ Tủi nhục bao nhiêu nghĩ tới bọn ở làng ông càng giận bấy nhiêu, ông nắm chặt hai tay mà rít lên “Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này”. Không thể kiềm chế được cơn tức giận, những suy nghĩ trong đầu ông Hai đã bị bật thành lời căm phẫn.
- Ông vẫn không tin đó là sự thật: Ông điểm lại từng người trong làng, “họ toàn là những người có tinh thần cả”. Nhưng không có lửa thì không thể có khói vì vậy dù không muốn nhưng ông vẫn phải tin vào lời đồn.
- Ông bắt đầu lo lắng:
+ Lo cho mình và gia đình: “Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian, rồi đây biết làm ăn buôn bán ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta buôn bán mấy.”
+ Lo cho bà con trong làng: “Lại còn nhiêu người làng, tan tác mỗi người một phương nữa, không biết họ đã rõ cái cơ sự này chưa?”
* Những ngày sau: Liền những ngày sau đó, ông chẳng dám đi đến đâu chỉ ru rú ở xó nhà. Hễ thấy một đám đông tụm lại, hễ nghe thấy những từ Tây, Việt gian, cam nhông, ông lại nghĩ người ta đang nhớ tới chuyện ấy rồi. Ông lủi vào một góc nhà, nín thin thít -> Nỗi đau đớn tủi nhục đã chuyển thành sự sợ hãi thường xuyên.
* Xung đột nội tâm của ông Hai khi bị mụ chủ nhà đuổi đi:
Điều ông Hai sợ nhất cũng xảy đến khi mụ chủ nhà có ý đuổi đi, tâm trạng ông Hai diễn ra một cuộc xung đột gay gắt:
+ Đi đâu bây giờ, khắp nơi người ta đều không chứa những kẻ Việt gian bán nước, người ta đều căm giận, phỉ nhổ
+ Hay là quay về làng, ý nghĩ đó vừa thoáng qua lập tức ông gạt đi ngay bởi về làng lúc này là từ bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, trong tâm trạng đau đớn, bế tắc ông quyết dịnh “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”
=> Với quyết định này, nhà văn Kim Lân đã khẳng định từ tình yêu làng đến tình yêu nước là một quá trình phát triển hết sức tự nhiên chân thực: tình yêu nước đã rộng lớn, bao trùm, chi phối mọi thứ tình cảm khác trong nhân vật Ông Hai.
* Tâm trạng ông Hai trong cuộc trò chuyện với đứa con út:
- Với tâm trạng đau khổ, ông Hai đã tâm sự với đứa con út như để minh oan cho mình. Câu hỏi: “Thế nhà con ở đâu?” cùng câu trả lời của đứa con: “Nhà ta ở Chợ Dầu” đã khẳng định tình yêu làng Dầu luôn ăn sâu trong lòng ông. Và phải chăng ông muốn nhắc cho đứa con ghi nhớ về quê hương, nguồn gốc của mình.
- Ông lại hỏi “Thế con ủng hộ ai?” và tự khẳng định lại “Ủng hộ cụ Hồ con nhỉ?” Chi tiết này khẳng định ông tin tưởng và biết ơn kháng chiến cụ Hồ đã đem lại cuộc sống ấm no, tự do. Tình cảm đó rất thiêng liêng, bền vững và sâu nặng.
- Một lần nữa ông thủ thỉ với con “Cụ Hồ trên đầu trển cổ xét soi cho bố con ông”. Người nông dân chất phác ấy đã bộc lộ rõ niềm tin tưởng vào sự công bằng của cách mạng, của kháng chiến với những người tốt như mình. Tấm lòng tin tưởng trung thành của ông bền vững “Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”
- Đoạn văn đối thoại nhưng thực chất lại mang tính chất độc thoại. Ông nói với con như để ngỏ lòng mình, để vơi bớt những buồn đau, dằn vặt …trong lòng.
- Đoạn văn ngắn nhưng diễn tả rất cảm động nỗi lòng sâu xa, bền chặt, chân thành của ông Hai - một người nông dân - với quê hương, đất nước, với cách mạng, kháng chiến.
=> Trước thông tin làng theo giặc, ông Hai đã có quá trình đấu tranh tâm lý vô cùng gay gắt, quyết liệt. Đồng thời qua đó cũng thể hiện tình cảm yêu làng, yêu nước tha thiết, sâu nặng của ông.
3. Tổng kết
* Giá trị nội dung:
Truyện thể hiện chân thực, sinh động tình cảm yêu làng quê thống nhất với lòng yêu đất nước ở nhân vật ông Hai – một người nông dân sống vào khoảng thời kì đầu cuộc kháng chiến Pháp.
* Giá trị nghệ thuật:
- Tác giả sáng tạo tình huống truyện có tính căng thẳng, thử thách.
- Xây dựng cốt truyện tâm lí (đó là chú trọng vào các tình huống bên trong nội tâm nhân vật).
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tự nhiên mà sâu sắc, tinh tế.
- Ngôn ngữ đặc sắc, sinh động, mang đậm chất khẩu ngữ, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
