Đề thi vào 10 môn Văn Thái Bình
Đề thi vào 10 môn Văn Thái Bình năm 2025
Đề thi
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản:
QUẢ TRỨNG VÀNG
Tạ Duy Anh
“Có những chuyện thường ngày lại y như cổ tích. Một lúc nào đó khi chợt nhớ lại, chính bản thân ta cũng phải ngạc nhiên về sự kì diệu của nó ... ".
Tú Minh loay hoay ghi lại dòng nhật kí vào cuốn sổ lưu niệm cho riêng bản thân cậu. Cậu đã ở tuổi mười hai, có nghĩa là thời thơ ấu đang vùn vụt lao qua những “ga” cuối cùng. Điều này không phải không có lúc làm cậu day dứt. Nhưng chả thể làm gì được. Cậu chép miệng nuối tiếc và nhắm mắt lại, lẩm bẩm nói với chính mình:
“Thật ra tất cả bắt đầu từ những lời cầu mong tốt đẹp”.
... Hôm nay Tú Minh từ trường về nhà. Lúc sắp vào cổng, cậu nhìn thấy vật gì trăng trắng trong đám lá tre khô. Cậu lại gần thì nhận ra vật trăng trắng đó là quả trứng gà.
- Ổ, một quả trứng gà. Cậu thầm kêu lên. Tại sao nó bị rơi vãi ở đây nhỉ.
Tú Minh lượm quả trứng lên ngắm nghía. Chắc chị mái nâu nào đó trở dạ quá nhanh khi qua đây. “Thật may là mình phát hiện ra, nếu không đêm nay nó sẽ vào bụng một con rắn nào đó cũng nên".
Mình mân mê quả trứng và cảm thấy cơn đói cứ rõ dần. Món trứng ốp-lết cũng được lắm. Chỉ cần một chút mỡ, một chút muối tiêu. Hoặc đơn giản hơn là thả béng vào nồi nước sôi và chỉ dăm bảy phút sau là có thể ngồi khoanh chân nhấm nháp vị béo ngậy của trứng luộc.
Nhưng Minh chợt nghĩ: “Mình ăn chỉ một miếng là hết, sẽ chẳng còn cơ hội nào cho mình được ngắm quả trứng đẹp đến nhường kia. Chi bằng đem đặt vào chiếc hũ sành để xuống cạnh bếp, biết đâu chả khối điều kì lạ xảy ra". Minh lấy giấy bọc chặt rồi cần thận đặt vào chiếc hũ, không quên chèn trấu chung quanh. Cậu bê chiếc hũ đặt cạnh bếp lò, nơi mỗi tối và mỗi sáng cậu đều giúp mẹ nhóm lửa.
Quả trứng trở thành người bạn im lặng của Tú Minh. Sáng nào cậu cũng thì thầm nói một điều ước gì đó. Những điều ước của cậu đều tốt đẹp. Chẳng hạn có sáng cậu ước: “Giá như mày có thể biến thành một quả trứng vàng để tao đem chia cho các bạn nghèo trong lớp".
Điều ước này bám riết theo cậu hơn cả và có lúc nó làm cho cậu chán nản, thất vọng vì biết chắc đó là điều không bao giờ có thật.
Một buổi sáng, giống như mọi hôm. Tú Minh xuống bếp cời lò và ao ước. Chợt cậu nghe thấy tiếng cựa rất nhỏ, rất yếu ớt, như thể tiếng vươn mình của chồi cỏ sau cơn mưa. Thoạt đầu cậu nghĩ đến con chuột gian manh nào đó xơi tái quả trứng, đánh một giấc no nê đang trở mình. Nhưng tiếng cựa chỉ thoảng qua và hoàn toàn khác với tiếng sột soạt của giấy. Cậu hồi hộp mở nắp hũ ra rồi cẩn thận gỡ từng lớp giấy. Quả trứng không hề sây sát trừ một lỗ thủng nhỏ và chính cái lỗ thủng đó khiến tim cậu nhảy lên. Điều kì diệu đã xảy ra: quả trứng biến thành chú gà con.
Quãng trưa thì chú gà vàng rực đã hiện hình ngay trước mắt cậu, có thể vuốt ve được. Tú Minh cảm động muốn khóc khi chú gà nép mình trong bàn tay che chở của cậu. Ngày ngày cậu kiếm mồi về cho gà và chả mấy chốc nó đã có thể lẽo đẽo theo cậu đi bắt châu chấu.
Qua thu sang đông rồi hết xuân sang hè, chú gà nhép đã lớn vồng lên thành nàng mái nâu óng ả. Vòng cườm ở cổ nó mới sáng làm sao. Hằng ngày nó tha thần kiếm mồi quanh khu vườn và thỉnh thoảng ngơ ngẩn gióng lên những tiếng gọi rất lạ.
Và điều kì diệu nữa đã xảy ra: con gà mái của Tú Minh đẻ quả trứng đầu tiên. Tú Minh hả hê ngắm nghía và không ngớt nghĩ đến những điều tốt đẹp. Sau khi đẻ nốt quả trứng thứ mười hai, con mái nâu đòi ấp. Tú Minh lót cho nó một chiếc ổ đẹp tuyệt trần, có lưới bảo vệ rất cẩn thận. Từ đây trở đi mọi việc xem ra suôn sẻ hơn. Đến kì đến hạn, cả mười hai chú gà con đều sinh nở an toàn. Lần này Tú Minh chỉ có một việc là dựng cho mẹ con mái nâu một nếp nhà xinh xắn và chắc chắn.
Nhiều lúc đứng xem đàn gà chạy nhảy, Tú Minh lại hơi giật mình nhớ đến đoạn cậu nhìn thấy quả trứng lẫn trong đám tre. Chỉ cần cậu thả vào nồi nước, đun lên là mọi phép lạ chấm dứt luôn. Sẽ chẳng bao giờ cậu có cái cảm giác sướng run người khi nhìn thấy lũ gà, hiện thân của những điều ước. Sẽ chẳng có cả cái kết thúc mà dù cậu cam đoan không hề bịa mảy may, lũ bạn cậu vẫn ngơ ngác nhìn nhau: “Chẳng lẽ thằng Minh đã thành nhà văn”. Bởi vì một câu chuyện như thế chỉ có thể được sáng tạo bởi chính cuộc sống.
Nào, để xem mình có bịa tí nào không nhỉ? Bắt đầu từ quả trứng và những điều ước ... Rồi sau đó cuộc sống đã kể tiếp câu chuyện bằng sự kì diệu do chính nó tạo nên, chẳng ai bịa được hay đến vậy.
Cậu hoàn toàn an tâm với những dòng nhật kí.
(Theo Báo Nhân Dân, Số ra thứ Tư, ngày 30 tháng 9 năm 2009)
Câu 1 (0.5 điểm) Xác định ngôi kể của văn bản trên
Câu 2 (0.5 điểm) Trong văn bản, điều ước nào bám riết theo nhân vật Tú Minh?
Câu 3 (1.0 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: Chợt cậu nghe thấy tiếng cựa rất nhỏ, rất yếu tố, như thể tiếng vươn mình của chồi cỏ sau cơn mưa.
Câu 4 (1.0 điểm) Tại sao nhân vật Tú Minh cảm động muốn khóc khi chú gà nép mình trong bàn tay che chở của cậu?
Câu 5 (1.0 điểm) Thông điệp sâu sắc nhất mà em nhận được từ văn bản trên là gì? Vì sao?
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Tú Minh trong truyện Quả trứng vàng của tác giả Tạ Duy Anh ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm)
Hiện nay, một số học sinh chưa hiểu hết tấm lòng cha mẹ dành cho mình.
Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) đề xuất những giải pháp phù hợp đế khắc phục tình trạng trên.
Đáp án
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) |
Câu 1. (0,5 điểm) |
Ngôi kể thứ 3 |
|
Câu 2. (0,5 điểm) |
Điều ước bám riết theo Tú Min là: Giá như mày có thể biến thành một quả trứng vàng để tao đem chia cho các bạn nghèo trong lớp. |
|
|
Câu 3. (1,0 điểm) |
- Biện pháp so sánh: Tiếng cựa của gà so sánh với “tiếng vươn mình của chồi cỏ sau cơn mưa” - Tác dụng: + Giúp câu văn diễn đạt thêm sinh động, hấp dẫn. + Gợi tả âm thanh rất nhỏ, rất yếu ớt một cách sinh động, cụ thể, giúp người đọc dễ hình dung. + Làm nổi bật sự sống đang dần hé mở và báo hiệu điều kỳ diệu sắp xảy ra, khiến câu chuyện trở nên hấp dẫn, cuốn hút hơn. |
|
|
Câu 4. (1,0 điểm) |
- Tú Minh cảm động muốn khóc vì: Sau bao ngày chờ đợi và hy vọng, điều kỳ diệu đã thực sự xảy ra: từ quả trứng nhỏ bé giờ đây đã nở ra một chú gà con sống động, đáng yêu. Chú gà như hiện thân của những điều ước tốt đẹp, sự kì diệu mà cậu từng ao ước. Đó là giây phút thiêng liêng, xúc động khi điều tưởng như chỉ có trong cổ tích lại xảy ra với chính bản thân cậu, giúp cậu cảm nhận được ý nghĩa của tình yêu thương và những điều tốt đẹp trong cuộc sống. |
|
|
Câu 5. (1,0 điểm) |
“Hãy biết sống với những ước mơ, điều ước tốt đẹp và gieo niềm tin vào cuộc sống, bởi những điều kỳ diệu có thể đến với người biết ước mơ và chờ đợi.” Vì:
|
|
|
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) |
Câu 1. (2,0 điểm) |
1. Mở đoạn Giới thiệu truyện “Quả trứng vàng” của Tạ Duy Anh. Nhân vật Tú Minh là một cậu bé hồn nhiên, giàu tình cảm và biết ước mơ điều tốt đẹp. 2. Thân đoạn - Hoàn cảnh, tính cách của Tú Minh: + Là một cậu bé 12 tuổi, đang nuối tiếc tuổi thơ đang dần qua đi. + Hồn nhiên, trong sáng và rất nhạy cảm với những điều xung quanh. - Tấm lòng nhân hậu và giàu ước mơ: + Khi nhặt được quả trứng, không vội ăn mà cất giữ cẩn thận với mong muốn điều kì diệu xảy ra. + Hằng ngày gửi gắm những điều ước tốt đẹp cho người khác, đặc biệt là ước có quả trứng vàng để chia cho bạn nghèo. - Niềm vui và xúc động khi điều kì diệu đến: + Cảm động muốn khóc khi trứng nở thành gà con. + Chăm sóc, bảo vệ đàn gà bằng cả tình yêu thương. => Tú Minh là biểu tượng cho tuổi thơ hồn nhiên, giàu ước mơ và lòng nhân hậu. - Nghệ thật: + Ngôi kể thứ ba + Ngôn ngữ giản dị, giàu cảm xúc + Hình ảnh quả trứng giàu tính biểu tượng + … 3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận 2. Thân bài *Giải thích vấn đề: - Tấm lòng cha mẹ là sự yêu thương vô điều kiện, lo lắng, chăm sóc và hi sinh cho con cái từ miếng ăn, giấc ngủ đến việc học tập, tương lai. - Tuy nhiên, một số học sinh lại vô tâm, thờ ơ, thậm chí có thái độ hỗn hào, coi thường cha mẹ, không thấu hiểu những nhọc nhằn và tình thương của họ. *Hậu quả của việc không hiểu tấm lòng cha mẹ: - Làm tổn thương tình cảm gia đình, ảnh hưởng tới mối quan hệ cha mẹ – con cái. - Khiến bản thân trở nên ích kỷ, vô cảm, khó nhận được sự yêu thương chân thành. - Dẫn đến những hành vi sai lệch, dễ bị tác động tiêu cực từ xã hội. *Đề xuất giải pháp: - Mỗi học sinh cần: + Cần học cách lắng nghe, quan tâm đến cha mẹ nhiều hơn. + Chia sẻ những tâm tư, tình cảm và dành thời gian ở bên gia đình. + Nhận thức được sự hi sinh thầm lặng và tình yêu thương cha mẹ dành cho mình. + Rèn luyện đức tính biết ơn, lễ phép, kính trọng với cha mẹ. - Đối với cha mẹ: + Cha mẹ nên dành thời gian tâm sự, lắng nghe con cái, tạo sự gắn kết và thấu hiểu hai chiều. + Giáo dục con về giá trị của tình cảm gia đình, về lòng biết ơn và cách đáp lại tình thương yêu. HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp 3. Kết bài: Tổng kết vấn đề |
Đề thi vào 10 môn Văn Thái Bình năm 2023
Đề bài
PHẦN I. ĐỌC HIỂU. Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu:
THỜI GIAN TRỐN Ở ĐÂU?
Chỉ giùm cho cháu đi ông
Thời gian đang trốn ở không gian nào
Sân ngoài hay tận vườn sau
Giữa trời, cuối đất hay đầu nguồn kia?
Thời gian sớm đó rồi khuya
Từ tao nôi đến mộ bia đời người
Thời gian: chiếc lá đấy thôi
Từ xanh thắm đến vàng phơi lối về
Thời gian là một ngọn tre
Từ măng non đến ngày khoe… chạm trời
Thời gian là một nụ cười
Nở ra từ tiếng khóc hồi… bi bô
Từng giây từng phút từng giờ
Trôi qua có nghĩa… đừng mơ ngược về
Hiểu rồi, cháu thấy… dễ ghê:
Thời gian trốn giữa bốn bề không gian.
(Thời gian trốn ở nơi đâu?, Nguyễn Thái Dương, NXB Kim Đồng, 2015. tr.21)
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2. (0,5 điểm) Theo văn bản, cuối cùng người cháu hiểu ra thời gian trốn ở đâu?
Câu 3. (1,0 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trọng hai câu thơ sau:
Từng giây từng phút từng giờ
Trôi qua có nghĩa… đừng mơ ngược về
Câu 4. (1,0 điểm) Bài học ý nghĩa nhất mà em rút ra từ văn bản trên là gì? Vì sao?
PHẦN II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. Hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bày tỏ suy nghĩ của em về ý nghĩa của sự đồng cảm, sẻ chia trong cuộc sống.
Câu 2. Cảm nhận của em về nhân vật ông Hai trong đoạn trích sau:
Ông lão ôm thằng con út lên lòng, vỗ nhè nhẹ vào lưng nó, khẽ hỏi:
- Húc kia! Thầy hỏi con nhé, con là con ai?
- Là con thầy mấy lị con u.
- Thế nhà con ở đâu?
- Nhà ta ở làng Chợ Dầu.
- Thế con có thích về làng Chợ Dầu không?
Thằng bé nép đầu vào ngực bố trả lời khe khẽ:
- Có.
Ông lão ôm khít thằng bé vào lòng, một lúc lâu ông lại hỏi:
- À, thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ ai?
Thằng bé giơ tay lên, mạnh bạo và rành rọt:
- Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!
Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai mả. Ông nói thủ thị:
- Ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhi.
Mấy hôm nay rú rú ở xó nhà, những lúc buồn khổ quá chẳng biết nói cùng ai, ông lão lại thủ thỉ với con như vậy. Ông nói như để ngỏ lòng mình, như để mình lại minh oan cho mình nữa.
Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông.
Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. Mỗi lần nói ra được đôi câu như vậy nỗi khổ trong lòng ông cũng vợi đi được đôi phần.
(Trích Làng, Kim Lân, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, năm 2021, tr 169 - 170)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ các thể thơ đã học.
Cách giải:
Đoạn trích trên được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Theo đoạn trích, cuối cùng người cháu hiểu ra thời gian trốn giữa bốn bề không gian.
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Liệt kê: từng giây, từng phút, từng giờ.
Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê:
- Tạo nhịp điệu cho câu thơ, tăng khả năng diễn đạt.
- Nhấn mạnh dòng chảy của thời gian là một đi không trở lại. Qua đó nhấn mạnh sự hữu hạn của thời gian.
- Đồng thời tác giả cũng muốn kêu gọi mọi người hãy biết trân quý và sử dụng thời gian hợp lí.
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Học sinh tự đưa ra bài học ý nghĩa nhất theo cảm nhận của mình, có lý giải phù hợp.
Gợi ý:
Bài học: Cần biết trân trọng thời gian. Vì: Thời gian là hữu hạn. Dòng chảy thời gian không ngừng trôi bởi vậy thế con người hãy biết trân trọng thời gian, trân trọng cuộc sống hiện tại, sống thật có ích để không phải hối tiếc những điều đã qua.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
* Giải thích:
- Sự sẻ chia trong cuộc sống là sự lắng nghe, thấu hiểu cảm thông, cùng san sẻ nỗi buồn, niềm vui, cùng nhau vượt qua khỏ khăn gian khổ trong cuộc sống.
- Đồng cảm là khả năng hiểu hoặc cảm nhận những gì người khác đang trải qua trong khung tham chiếu của họ, nghĩa là khả năng đặt bản thân vào vị trí của người khác.
=> Sự sẻ chia, đồng cảm rất cần thiết và quan trọng trong cuộc sống.
* Ý nghĩa của sự sẻ chia, đồng cảm trong cuộc sống:
- Sự sẻ chia, đồng cảm giúp thu ngắn khoảng cách giữa người với người, giúp người gần người hơn, tạo nên tình yêu thương bền chặt trong các mối quan hệ.
- Sự sẻ chia, đồng cảm giúp con người dễ dàng vượt qua những trở ngại về mặt tâm lý, những khó khăn trên bước đường tương lai phía trước, tiếp thêm sức mạnh để con người đối diện và giải quyết vấn đề.
- Sự sẻ chia, đồng cảm giúp con người học cách quan tâm đến nngười khác, sống bao dung và tích cực hơn trong cuộc đời.
- Sự sẻ chia, đồng cảm giúp con người nhận ra những giá trị tốt đẹp trong cuộc đời, biết trân trọng cuộc sống, trân trọng những người thân yêu xung quanh mình.
- Sự sẻ chia, đồng cảm đôi khi khiến con người nhận ra những giá trị khuất lấp mà xưa nay chưa từng thấy ở con người.
……
* Bàn luận:
- Phê phán, lên án những người chỉ biết sống cho bản thân, ích kỉ, không biết chia sẻ.
- Học cách quan tâm, sẻ chia, đồng cảm với người khác nhưng cũng cần sáng suốt chỉ ra những mặt bất cập để cùng nhau tốt lên. Cần phân biệt rõ ràng giữa sự chia sẻ và hùa theo một cách mù quáng.
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu đoạn văn cần phân tích: lời tâm sự của ông Hai với đứa con út sau khi nghe tin làng mình theo giặc.
2. Thân bài
* Hoàn cảnh: Ông Hai nghe tin làng theo giặc. Ông đau đớn, khốn khổ.
* Phân tích đoạn trích.
- Với tâm trạng đau khổ, ông Hai đã tâm sự với đứa con út như để minh oan cho mình. Câu hỏi: “Thế nhà con ở đâu?” cùng câu trả lời của đứa con: “Nhà ta ở Chợ Dầu” đã khẳng định tình yêu làng Dầu luôn ăn sâu trong lòng ông. Và phải chăng ông muốn nhắc cho đứa con ghi nhớ về quê hương, nguồn gốc của mình.
- Ông lại hỏi “Thế con ủng hộ ai?” và tự khẳng định lại “Ủng hộ cụ Hồ con nhỉ?” Chi tiết này khẳng định ông tin tưởng và biết ơn kháng chiến cụ Hồ đã đem lại cuộc sống ấm no, tự do. Tình cảm đó rất thiêng liêng, bền vững và sâu nặng.
- Một lần nữa ông thủ thỉ với con “Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”. Người nông dân chất phác ấy đã bộc lộ rõ niềm tin tưởng vào sự công bằng của cách mạng, của kháng chiến với những người tốt như mình. Tấm lòng tin tưởng trung thành của ông bền vững “Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”
- Đoạn văn đối thoại nhưng thực chất lại mang tính chất độc thoại. Ông nói với con như để ngỏ lòng mình, để vơi bớt những buồn đau, dằn vặt …trong lòng.
- Đoạn văn ngắn nhưng diễn tả rất cảm động nỗi lòng sâu xa, bền chặt, chân thành của ông Hai - một người nông dân - với quê hương, đất nước, với cách mạng, kháng chiến.
3. Kết bài
Đề thi vào 10 môn Văn Thái Bình năm 2022
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu dưới:
Tôi chỉ muốn nhắn nhủ những bạn trẻ đang bơ vơ trên con đường cuộc sống rằng, nếu bạn đang phải trải qua những ngày khốn khó, phải đương đầu với nghịch cảnh cuộc đời, thì đó thực sự là một món quà vô giá. Có thể lúc đang khổ sở với những vấn đề của mình, ta chỉ mãi vật vã đau buồn. Nhưng sau này nhìn lại, ta sẽ thấy rằng những khó khăn đã đương đầu giúp tạo nên câu chuyện của riêng ta.
Hãy lấy bộ truyện nổi tiếng thế giới "Harry Potter" ra làm ví dụ. Tôi cực kì thích "Harry Potter". Nhớ những đêm tôi thức đến ba bốn giờ sáng ôm quyển truyện trong tay, vừa đọc vừa quẹt nước mắt. Harry và những người bạn của cậu chỉ là tưởng tượng. Thế giới của phù thủy, đũa thần và chổi bay thể không có thật. Nhưng nỗi buồn và sự tuyệt vọng là thật. Cảm giác đau đớn và cô độc là thật. Sợ hãi và mất mát là thật. [...] Những nỗi đau trong câu chuyện đã kết nối người đọc với tác giả, kết nối người đọc với nhau, và góp phần làm nên thành công của bộ truyện. Và những mất mát đau thương ấy chân thật, bởi vì được viết bởi một con người đã nếm trải bao điều khốn khó của cuộc đời. J.K. Rowling phải chứng kiến cái chết của người mẹ khi vừa hai mươi mấy tuổi, rồi hôn nhân tan vỡ, nghèo hết mức có thể nghèo, và trở thành một bà mẹ đơn thân. Nếu không trải qua từng ấy đau khổ, chắc gì Rowling đã viết được câu chuyện sâu sắc dường vậy, chắc gì "Harry Potter" đã lay động lòng người và thành công đến thế?
(Trích Tuổi trẻ đáng giả bao nhiêu?, Rosie Nguyễn, NXB Hội nhà văn 2019, tr. 68 - 69)
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên.
Câu 2. (0,5 điểm) Tác giả đã lấy bộ truyện nổi tiếng nào của thế giới để làm ví dụ?
Câu 3. (1,0 điểm) Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: J.K. Rowlling phải chứng kiến cái chết của người mẹ khi vừa hai mươi mấy tuổi, rồi hôn nhân tan vỡ, nghèo hết mức có thể nghèo, và trở thành một bà mẹ đơn thân.
Câu 4. (1,0 điểm) Một bài học sâu sắc em rút ra được từ đoạn trích trên? Lí giải khoảng 3 - 5 dòng.
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. Hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về vai trò của tính trung thực trong cuộc sống con người.
Câu 2. Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Cả nhụ cá chim cùng cả đé,
Cả song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe.
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.
Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
Biển cho ta cả như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.
(Trích Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận, SGK Ngữ văn 9, tập một, NXBGDVN, tr.140)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1:
|
Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên. |
Phương pháp: Căn cứ bài các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính là: Nghị luận.
Câu 2:
|
Tác giả đã lấy bộ truyện nổi tiếng nào của thế giới để làm ví dụ? |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Tác giả lấy bộ truyện “Harry Potter” để làm ví dụ.
Câu 3:
|
Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: J.K. Rowling phải chứng kiến cái chết của người mẹ khi vừa hai mươi mấy tuổi, rồi hôn nhân tan vỡ, nghèo hết mức có thể nghèo, và trở thành một bà mẹ đơn thân. |
Phương pháp: Căn cứ bài Liệt kê, phân tích.
Cách giải:
- Liệt kê: chứng kiến cái chết của người mẹ khi vừa mới hai mươi mấy tuổi, rồi hôn nhân tan vỡ, nghèo hết mức có thể nghèo, trở thành bà mẹ đơn thân.
- Tác dụng: Sử dụng biện pháp liệt kê tác giả nhằm nhấn mạnh những nỗi khó khăn và bất hành mà J.K Rowlling đã gặp phải trong cuộc đời. Và cũng chính từ những khó khăn đó đã giúp bà viết nên những câu chuyện vô cùng sâu sắc.
Câu 4:
|
Một bài học sâu sắc em rút ra được từ đoạn trích trên? Lí giải khoảng 3 - 5 dòng. |
Phương pháp: Phân tích, lí giải.
Cách giải:
HS lựa chọn một bài học và đưa ra lí giải phù hợp.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
|
Hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về vai trò của tính trung thực trong cuộc sống con người. |
Phương pháp: Phân tích, lí giải, tổng hợp.
Cách giải:
a. Yêu cầu hình thức: Viết đúng một đoạn văn khoảng 200 chữ
b. Yêu cầu nội dung:
* Xác định đúng vấn đề nghị luận: Vai trò của tính trung thực trong cuộc sống con người.
- Giải thích: Trung thực là việc con người luôn tôn trọng sự thật, sống và làm việc trên nguyên tắc tôn trọng lẽ phải. Không làm việc gian dối trái với sự thật.
- Vai trò của tính trung thực:
+ Tính trung thực giúp con người trở nên uy tín, được mọi người tin tưởng, tín nhiệm và yêu quý.
+ Tính trung thực sẽ giúp con người rèn luyện được những đức tính khác như cương trực, thẳng thắn.
+ Tính trung thực tạo nên môi trường trong sạch, văn minh, ngày càng phát triển.
- Liên hệ mở rộng:
+ Phê phán những người sống dối gian lừa lọc.
+ Rèn luyện bản tính trung thực và giữ gìn bản tính ấy trước những cám dỗ của cuộc đời.
Câu 2:
|
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau: Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng, Ra đậu dặm xa dò bụng biển, Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Cả nhụ cá chim cùng cả đé, Cả song lấp lánh đuốc đen hồng, Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe. Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.
Ta hát bài ca gọi cá vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Biển cho ta cả như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào. (Trích Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận, SGK Ngữ văn 9, tập một, NXBGDVN, tr.140) |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Huy Cận, tác phẩm Đoàn thuyền đánh cá.
- Giới thiệu về bức tranh thiên nhiên và con người lao động trong 5 khổ được trích.
2. Thân bài
* Hình ảnh đoàn thuyền được tái hiện chân thực, sinh động hơn:
- Không gian vũ trụ bao la được mở ra nhiều chiều:
+ Cao: bầu trời. mặt trăng.
+ Rộng: mặt biển.
+ Sâu: lòng biển.
- Để thấy đoàn thuyền đánh cá hoàn toàn tương xứng với không gian ấy:
+ Khi sóng biển cồn lên, cánh buồm như chạm vào cả mây trời.
+ Khi buông lưới con thuyền như dò thấu tận đáy đại dương.
+ Hệ thống động từ: “lái”, “lướt”… -> tư thế làm chủ của đoàn thuyền…
+ Hệ thống hình ảnh: “lái gió”, “buồm trăng”, “mây cao”, “biển bằng” -> con thuyền như mang sinh lực của đất trời để đánh cá trên biển.
- Gợi hình tượng người lao động trên biển:
+ Tầm vóc lớn lao sánh cùng vũ trụ.
+ Làm chủ cả vũ trụ.
* Sự giàu có, phong phú, đẹp đẽ, bao dung của biển cả:
- Liệt kê: “cá nhụ”, “cá chim”…:
+ Là những loài cá quý giá nhất -> sự hào phóng của biển cả.
+ Tô đậm ấn tượng về một vùng biển giàu có với sản vật phong phú.
- Hình ảnh miêu tả: “cá song…đuốc đen hồng”:
+ Tả thực cá song dài có những chấm nhỏ màu đen hồng.
+ Liên tưởng đến ngọn đuốc làm sáng cả biển đêm.
- Đại từ “em” -> nhân hóa câu thơ:
+ Cá không phải là đối tượng để đánh bắt mà là đối tượng để chinh phục.
+ Gợi hành trình chinh phục tự nhiên của co người.
- Nhân hóa: “đêm thở”, “sao lùa” -> Vẻ đẹp của đêm trăng trên biển. Ánh trăng sao lồng vào sóng nước nên khi cá quẫy ta có cảm giác không phỉa mặt nước đang xao động mà là màn đêm đang thở.
- So sánh “như lòng mẹ”:
+ Là “nguồn sữa”, nguồn tài nguyên khổng lồ nuôi sống con người.
+ Ấm áp, bao dung, gần gũi, yêu thương con người như lòng mẹ.
-> Ẩn sau những câu thơ này là niềm hạnh phúc và lòng biết ơn của con người đối với ân tình của thiên nhiên,
đất nước.
3. Kết bài
- Nội dung:
+ Tái hiện thành công vẻ đẹp thể hiện khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, đẹp đẽ, lãng mạn của biển cả và những người lao động mới.
+ Khám phá, ngợi ca: Sự giàu có, hào phóng của thiên nhiên, đất nước và tầm vóc lớn lao của nhân dân lao động trong công cuộc xây dựng đất nước.
- Nghệ thuật:
+ Ngòi bút tràn đầy cảm hứng vũ trụ, sự chan hòa giữa con người và thiên nhiên.
+ Hình ảnh phong phú.
+ Âm hưởng lạc quan phơi phới.
Đề thi vào 10 môn Văn Thái Bình năm 2021
Đề bài
PHẦN I (3.0 điểm) Đọc đoạn trích sau:
Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đang gây ra tác động tới mọi khía cạnh của cuộc sống, của tất cả mọi sinh vật trên Trái Đất này. Những sinh vật có sức chống trả càng yếu, sẽ càng sớm trở thành nạn nhân, và chịu ảnh hưởng càng nặng nề. Rồi loài người sẽ là những nạn nhân tiếp theo nếu chúng ta không cùng nhau tạo ra thay đổi. Thế hệ tương lai sẽ trả giả, hay biết ơn là hệ quả của chính những gì chúng ta làm ngày hôm nay. Tôi tin rằng, nếu đã đọc đến đây, bạn sẽ trở thành đồng đội của tôi, của tác giả, của những người đang cổ gắng để làm cho Trái Đất này trở thành một nơi tốt đẹp hơn,
(Theo Hoàng Thảo – Lời giới thiệu, Sống xanh không khó - Nam Kha, NXB Dân trí, 2020)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm) Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2 (0,5 điểm) Theo đoạn trích, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đang gây ra tác động tới những đối tượng nào?
Câu 3 (1,0 điểm) Nêu nội dung chính của đoạn trích.
Câu 4 (1,0 điểm) Em có đồng tình với ý kiến: Thế hệ tương lai sẽ trả giả, hay biết ơn là hệ quả của chính những gì chúng ta làm ngày hôm nay không? Vì sao?
PHẦN II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 15 – 20 dòng) chia sẻ về những việc em có thể làm để Trái Đất này trở nên tốt đẹp hơn.
Câu 2 (3,0 điểm) Phân tích hình tượng người lính trong đoạn thơ sau:
Anh với tôi biết từng cơn ởủ lạnh
Sốt run người vừng trân trớt mồ hôi.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vải
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Đêm nay rừng hoang đường muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
(Trích Đồng chí - Chính Hữu, SGK Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, 2020)
Lời giải chi tiết
Phần I.
Câu 1.
|
Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. |
Phương pháp: căn cứ các phương thức biểu đạt đã học
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: Nghị luận
Câu 2.
|
Theo đoạn trích, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đang gây ra tác động tới những đối tượng nào? |
Phương pháp: căn cứ đoạn trích, đọc và tìm ý
Cách giải:
Theo đoạn trích, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đang gây ra tác động tới mọi khía cạnh của cuộc sống, của tất cả mọi sinh vật trên Trái Đất này.
Câu 3.
|
Nêu nội dung chính của đoạn trích. |
Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích, phân tích
Cách giải:
Nội dung chính của đoạn trích: Biến đổi khí hậu và hành động của con người.
Câu 4.
|
Em có đồng tình với ý kiến: Thế hệ tương lai sẽ trả giả, hay biết ơn là hệ quả của chính những gì chúng ta làm ngày hôm nay không? Vì sao? |
Phương pháp: phân tích, lí giải
Cách giải:
Học sinh có thể trình bày theo quan điểm cá nhân, lý giải.
Gợi ý:
Đồng tình
Lý giải:
Những việc làm của chúng ta ngày hôm nay sẽ gây tác động đến môi trường mà thế hệ sau chính là đối tượng trực tiếp chịu ảnh hưởng từ hệ quả đó. Vì vậy nếu hôm nay chúng ta cùng nhau thay đổi để có môi trường xanh thì tương lai thế hệ sau của chúng ta sẽ được sống trong một cuộc sống trong lành, Trái đất trở thành một nơi tốt đẹp hơn và ngược lại.
Phần II.
Câu 1.
|
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 15 – 20 dòng) chia sẻ về những việc em có thể làm để Trái Đất này trở nên tốt đẹp hơn. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
I. Mở đoạn
- Giới thiệu vấn đề
- Bạn quan tâm tới Trái Đất - hành tinh nơi chúng ta đang sống, vậy bạn sẵn sàng làm gì để bảo vệ hành tinh này? Hàng ngày, chúng ta phải đối mặt với rất nhiều vấn đề: nóng lên toàn cầu, hệ sinh thái biển đang chết dần và sự sống của nhiều loài động vật đang bị đe dọa, thật khó để biết nên bắt đầu từ đâu. Nếu chỉ một cá nhân hành động sẽ không thể tạo ra sự khác biệt, nhưng nó sẽ đóng góp một phần nào đó vào công cuộc để bảo vệ Trái Đất.
II. Thân đoạn:
- Biểu hiện:
Hàng ngày, chúng ta phải đối mặt với rất nhiều vấn đề: nóng lên toàn cầu, hệ sinh thái biển đang chết dần và sự sống của nhiều loài động vật đang bị đe dọa, thật khó để biết nên bắt đầu từ đâu. Nếu chỉ một cá nhân hành động sẽ không thể tạo ra sự khác biệt, nhưng nó sẽ đóng góp một phần nào đó vào công cuộc để bảo vệ Trái Đất.
=> Khẳng định tầm quan trọng ứng xử đối với người bất hạnh trong xã hội hiện nay.
- Nêu thực trạng ô nhiễm môi trường hiện nay:
+ Trái đất ngày càng nóng lên
+ Không khí chứa nhiều thành phần gây hại hơn
+ Nồng độ chì đã và đang tăng lên
+ Ô nhiễm từ các loại xe cộ...
- Những việc cần làm để trái đất trở nên tốt đẹp hơn:
+ Cần có ý thức bảo vệ, giữ gìn vệ sinh môi trường
+ Có lối sống bền vững
+ Tiết kiệm nguồn điện, nguồn nước
+ Ít sử dụng hóa chất
+ Ngăn chặn chặt phá và khai thác rừng, ...
+ Bảo vệ các loài động vật quý hiếm...
+ Cần có sự quản lý chặt chẽ của người nhà nước trong việc xử lý những doanh nghiệp, cá nhân vi phạm.
+ Tăng cường tuyên truyền để cho nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường, hiểu rõ tác hại của ô nhiễm môi trường đối với hệ sinh thái, sức khỏe con người…
+ Tái chế rác thải, tái sử dụng giấy
+ Giảm thiểu chất thải và tác động của môi trường
.....
- Bài học nhận thức và hành động
+ Nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường.
+ Hiểu rằng bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của mình, của tất cả những người quanh mình, của toàn xã hội.
III. Kết đoạn
- Khái quát lại vấn đề vừa bàn luận.
- Liên hệ bản thân.
Câu 2.
|
Phân tích hình tượng người lính trong đoạn thơ sau: Anh với tôi biết từng cơn ởủ lạnh Sốt run người vừng trân trớt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vải Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Đêm nay rừng hoang đường muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. (Trích Đồng chí - Chính Hữu, SGK Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, 2020) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Mở bài
– Giới thiệu khái quát về tác giả Chính Hữu (những nét cơ bản về con người, cuộc đời, đặc điểm sáng tác,…)
– Giới thiệu khái quát về bài thơ “Đồng chí” (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật, …)
– Giới thiệu khái quát về đoạn thơ và hình ảnh người lính.
2. Thân bài:
Hình ảnh người lính hiện lên với những vẻ đẹp của đời sống tâm hồn, tình cảm:
a. Thông cảm với nhau về bệnh tật trong chiến đấu mà người lính mắc phải:
"Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi"
=> thấu hiểu những tâm tư, nỗi lòng của nhau, cùng chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính. Đó là sự ốm đau, bệnh tật.
b. Chia sẻ những gian lao và thiếu thốn trong cuộc đời người lính:
"Áo anh …. chân không giày"
NT: Sử dụng các câu thơ sóng đôi, đối ứng, tả thực. Cấu trúc ấy đã diễn tả sự gắn bó, chia sẻ của những người đồng đội
- Sự yêu thương nhau thể hiện chân thành giản dị họ nắm tay để truyền cho nhau hơi ấm và sức mạnh của tình đồng chí hơi ấm ở bàn tay, ở tấm lòng đã chiến thắng cái lạnh ở "chân không giày" và thời tiết "buốt giá"
→ Sức mạnh của tình cảm keo sơn gắn bó sâu sắc giữa những người lính giúp họ vượt qua mọi khó khăn thiếu thốn và gian khổ.
=> Sự đoàn kết, thương yêu, kề vai sát cánh bên nhau cùng nhau chiến đấu chống lại quân thù tạo nên bức tượng đài bất diệt về hình ảnh người lính trong kháng chiến chống Pháp. Chân dung anh bộ đội Cụ Hồ buổi đầu kháng chiến sống gian khổ, thiếu thốn nhưng tình đồng chí sưởi ấm lòng họ.
c. Sự lãng mạn và lạc quan trong cuộc sống chiến đấu gian khổ:
- Bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội của người lính, là biểu tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ: Dù hoàn cảnh như thế nào thì cũng bên cạnh nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
- Trên cảnh rừng hoang sương muối là 3 hình ảnh gắn kết: người lính, khẩu súng, vầng trăng => Hình ảnh đẹp về tình đồng đội
⇒ Làm nên sức mạnh của tình đồng đội giúp họ vượt lên những khắc nghiệt của thời tiết và mọi gian khổ thiếu thốn.
- "Đầu súng trăng treo"
"suốt đêm vầng trăng ở bầu trời cao xuống thấp dần và có lúc như treo lơ lửng ở trên đầu mũi súng"
(suy nghĩ của tác giả → hình ảnh được nhận ra từ những đêm hành quân, phục kích chờ giặc của tác giả.)
+ Súng và trăng, gần và xa, thực tại và mơ mộng, chất chiến đấu và chất trữ tình, chiến sĩ và thi sĩ.
→ Các mặt này bổ sung cho nhau, hài hoà với nhau của cuộc đời người lính cách mạng (biểu tượng của thơ kháng chiến: kết hợp chất hiện thực và cảm hứng lãng mạn)
3. Kết bài
Khái quát về những vẻ đẹp cơ bản của hình ảnh người lính và tình đồng đội, các biện pháp nghệ thuật trong đoạn thơ và nêu cảm nghĩ của bản thân.
Đề thi vào 10 môn Văn Thái Bình năm 2020
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc hai đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
"Ngọc không mài, không thành đồ vật; người không học, không biết rõ đạo”. Đạo là lẽ đối xử hằng ngày giữa mọi người. Kẻ đi học là học điều ấy. Nước Việt ta, từ khi lập quốc đến giờ, nền chính học đã bị thất truyền. Người ta đua nhau lổi học hình thức hồng cầu danh lợi, không còn biết đến tam cương, ngũ thường. Chúa tầm thường, thần nịnh hót. Nước mất, nhà tan đều do những điều tệ hại ấy.
(Trích Bàn luận về phép học, La Sơn Phu Từ Nguyễn Thiếp, Ngữ văn 8, Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam,2019)
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2. (0,5 điểm) Theo tác giả, "đạo" được hiểu là gì?
Câu 3. (1,0 điểm) Chỉ ra phép liên kết được sử dụng trong những câu văn sau: "Ngọc không mài, không thành đồ vật, người không học, không biết rõ đạo". Đạo là lẽ đối xử hằng ngày giữa mọi người. Kẻ đi học là học điều ấy.
Câu 4. (1,0 điểm) Em hiểu thế nào là "lối học hình thức"?
Câu 5. (1,0 điểm) Theo em, "lối học hình thức" có dẫn đến "nước mất, nhà tan" không? Vì sao?
PHẢN II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Em hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sự cần thiết của lối sống giản dị.
Câu 2. (4,0 điểm) Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!
(Trich Bếp lửa, Bằng Việt, Ngữ văn 9, Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019)
Lời giải chi tiết
Phần I
1.
|
Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. |
Phương pháp: căn cứ các PTBĐ đã học
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
2.
|
Theo tác giả, "đạo" được hiểu là gì? |
Phương pháp: đọc, tìm ý
Cách giải:
- Theo tác giả “đạo” là lẽ đối xử hàng ngày với mọi người.
3.
|
Chỉ ra phép liên kết được sử dụng trong những câu văn sau: "Ngọc không mài, không thành đồ vật, người không học, không biết rõ đạo". Đạo là lẽ đối xử hằng ngày giữa mọi người. Kẻ đi học là học điều ấy. |
Phương pháp: căn cứ liên kết câu, đoạn văn
Cách giải:
Phép lặp
Phép thế
4.
|
Em hiểu thế nào là "lối học hình thức"? |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
“Lối học hình thức” là lối học chỉ học từng câu, từng chữ mà không hiểu về nội dung, ý nghĩa mà mỗi văn bản, tác giả muốn truyền tải.
5.
|
Theo em, "lối học hình thức" có dẫn đến "nước mất, nhà tan" không? Vì sao? |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Gợi ý:
- Lối học hình thức sẽ dẫn đến nước mất nhà tan.
- Vì đây là lối học chỉ nắm được cái bề ngoài, không hiểu cốt lõi. Cái gốc mà không nắm được, chỉ nắm được phần ngọn thì lâu dần cũng chết yểu, nước cũng mất, nhà sẽ tan.
Phần II
Câu 1
|
Em hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sự cần thiết của lối sống giản dị. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: sự cần thiết của lối sống giản dị
2. Giải thích
- Sống giản dị là sống một cách đơn giản, tự nhiên, không cầu kì, phô trương.
=> Lối sống giản dị là điều cần thiết đối với mỗi người.
3. Bàn luận vấn đề
- Sự cần thiết của lối sống giản dị:
+ Lối sống giản dị khiến cho mối quan hệ trở nên gần gũi, thân thiết hơn.
+ Lối sống giản dị cho tâm hồn ta thư thản, thanh thản, yêu đời hơn.
+ Sống giản dị giúp bạn có thời gian yêu thương, quan tâm chăm sóc, … những người xung quanh.
- Mở rộng, phản đề:
- Lối sống giản dị hoàn toàn khác với lối sống cẩu thả, lạc hậu, gò bó, khuôn mẫu; giản dị cũng không đồng nghĩa với tiết kiệm, hà tiện... giản dị phù hợp với điều kiện, với hoàn cảnh vẫn thể hiện được sự tao nhã, thanh lịch, văn hóa.
- Phê phán lối sống xa hoa, đua đòi hay giản dị một cách giả tạo.
- Để sống giản dị, con người phải trải qua sự rèn luyện, cần một năng lực sống, quyết tâm cao, cũng cần hoà mình vào cuộc sống đế sống và cảm nhận, cần loại bỏ lòng tham và bù đắp tình yêu cuộc sống. Đó là cách để tránh mọi cám dỗ, giảm áp lực tinh thần và nâng cao bản lĩnh văn hoá.
4. Liên hệ bản thân và tổng kết.
Câu 2
|
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau: Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa! (Trich Bếp lửa, Bằng Việt, Ngữ văn 9, Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
Tác giả:
- Nhà thơ Bằng Việt tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng.
- Sinh năm 1941, quê ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Bằng Việt làm thơ từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX và thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
- Phong cách sáng tác: Thơ Bằng Việt thường nghiêng về một lời tâm sự, một sự trao đổi suy nghĩ, gây được cảm giác gần gũi, thân thiết đối với người đọc. Thơ ông thường sâu lắng, trầm tư thích hợp với người đọc thơ trong sự trầm tĩnh, vắng lặng.
- Giải thưởng: Tác giả đã được nhận giải nhất văn học – nghệ thuật Hà Nội năm 1967 với bài thơ “Trở lại trái tim mình”; giải thưởng chính thức về dịch thuật văn học quốc tế và phát triển giao lưu văn hóa quốc tế do Quỹ Hòa Bình (Liên Xô) trao tặng năm 1982.
Tác phẩm:
- Bài thơ được sáng tác năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học ngành luật ở nước ngoài.
- Bài thơ được đưa vào tập “Hương cây – Bếp lửa” (1968), tập thơ đầu tay của Bằng Việt in chung với Lưu Quang Vũ.
- Khổ thơ nói lên những suy nghĩ về cuộc đời bà và bếp lửa.
2. Phân tích, cảm nhận
Suy ngẫm về cuộc đời bà và bếp lửa:
- Suốt một đời lận đận, vất vả, bà đã và vẫn đang làm công việc nhóm lửa:
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”
+ Từ láy “lận đận” với điệp từ “nắng mưa” nhấn mạnh cháu chưa từng và chẳng thể nào quên cuộc đời bà, một cuộc đời đầy lo toan, vất vả.
+ Khôn lớn trưởng thành, cháu càng thấu hiểu những ý nghĩa cao cả, thiêng liêng từ một công việc rất đỗi bình dị của bà: nhóm lửa. Điệp từ nhóm điệp lại 4 lần với hai lớp nghĩa. Bà đã làm công việc khởi đầu của một ngày: nhóm bếp lửa mỗi sớm mai và làm công việc khởi đầu của một đời, đó là bồi đắp tâm hồn, thắp lên những tình cảm cao quý. Từ “nhóm” thứ nhất hiểu theo nghĩa thực: thắp lên ngọn lửa trong gian bếp để sưởi ấm, để nấu chín thức ăn.... Ba từ “nhóm” sau được hiểu theo nghĩa ẩn dụ: bà truyền cho cháu tình yêu thương ruột thịt, tình đoàn kết chia sẻ xóm làng và đặc biệt hơn bà đã khơi dậy những tâm tình tuổi nhỏ, thức tỉnh trong tâm hồn cháu biết bao ước mơ và tình cảm tốt đẹp
=> Như vậy đến đây ta thấy bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa. Ngọn lửa của tình yêu, của niềm tin, đức hi sinh không chỉ bà truyền cho cháu mà còn là của những thế hệ đi trước tiếp lửa cho thế hệ sau
- Khám phá ra những ý nghĩa kì diệu, cao cả, thiêng liêng từ bếp lửa của bà, cháu sung sướng thốt lên:
“Ôi kì lạ và thiêng liêng bếp lửa”
Phép đảo ngữ, câu cảm thán với từ “ôi” đặt ở đầu câu bôc lộ sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng, và vui sướng của cháu. Bếp lửa ấy luôn hiện diện cùng bà, tỏa sáng vẻ đẹp của bà. Đứa cháu nhỏ cảm thấy thật bất ngờ khi phát hện được những điều kì diệu thiêng liêng từ những thứ bình thường, giản dị. Cháu nhớ về bà, nhớ về Bếp lửa cũng chính là nhớ về quê hương, cội nguồn với tấm lòng tri ân sâu nặng.
3. Tổng kết vấn đề
- Giá trị nội dung: Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp lửa” gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của cháu đối với bà, cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.
- Giá trị nghệ thuật: Bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với miêu tả, tự sự và bình luận. Thành công của bài thơ còn ở sự sáng tạo hình ảnh “bếp lửa” gắn liền với hình ảnh người bà, làm điểm tựa, khơi gợi một kỉ niệm, cảm xúc, suy nghĩ về bà và tình bà cháu.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
