Đề thi vào 10 môn Văn Thanh Hóa
Đề thi vào 10 môn Văn Thanh Hoá năm 2026
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Gia đình tôi có ba người. Mẹ, em Bình và tôi. Bố đã mất từ ngày em Bình còn trong nôi. Chúng tôi gắn bó yêu thương nhau đến nỗi nhiều người đã biết tôi chỉ là con nuôi nhưng đến giờ thì dường như họ không muốn tin vào điều ấy nữa.
Vâng! Tôi đúng là con gái nuôi của mẹ. Tôi được nghe kể lại tôi là một đứa trẻ bị bỏ rơi ở nhà hộ sinh đã được mẹ ẵm về nuôi dưỡng cho đến tận bây giờ.
Ngôi nhà cũ kĩ của chúng tôi nằm ở một góc phố nhỏ. Phía sau nhà có một mảnh vườn hẹp. Khi lớn lên, tôi đã thấy trong vườn có cây trứng gà xanh tốt. Hằng năm, cứ chớm đông, hoa trứng gà nở rộ và sau đó trĩu trịt những chùm quả vàng rộm. Cây ra hoa kết trái vào mùa đông nhưng sắc màu lại tươi như nắng hạ. Trong cái rét căm căm của tiết đông, tâm hồn của ba mẹ con tôi luôn được sưởi ấm bởi mầu vàng tươi tắn ấy. Đối với tôi, cây trứng gà còn giống như một chứng nhân trong cuộc sống của gia đình và của cả cái khối phố nhỏ bé này nữa.
Khi đến cái tuổi có thể theo mẹ ra vườn thu hoạch quả trứng gà, tôi sốt sắng nói với mẹ:
- Để con mang bán cũng được ối tiền đấy mẹ ạ!
Mẹ tôi khẽ khàng:
- Thôi con ạ. Con lấy rổ nhặt ra những quả to nhất mang sang biếu bác Toàn. Hồi còn là chủ ngôi nhà này, chính tay bác Toàn đã trồng những cây trứng gà này đấy. Con cũng chọn lấy chín quả đặt lên bàn thờ bố. Còn lại đem chia đều cho cả xóm.
Tôi làm theo lời mẹ, lòng rưng rưng cảm động. Mẹ tôi là thế. Bao giờ mẹ cũng nghĩ đến việc chia cho người khác. Mẹ thường nói vui với chúng tôi: “Trong bốn phép tính mà mẹ dạy cho học sinh, phép tính nào cũng cần thiết cả, nhưng phép tính chia là khó nhất. Trong những học trò cũ của mẹ, hồi đi học có người rất giỏi toán nhưng lớn lên họ lại không làm nổi phép tính chia thông thường". Mẹ thường nhẹ nhàng và đầy ẩn ý dạy dỗ chúng tôi những bài học làm người.
Chính tôi chứ không phải ai khác, nếu không có phép tính chia của mẹ: chia đau khổ, chia bất hạnh, chia miếng cơm manh áo, chia cả sự cảm thông với người đã sinh ra tôi, thì tôi đâu có được như ngày hôm nay. Mẹ đã dạy tôi và em Bình phép tính chia từ cây trứng gà như thế. [...]
(Trích Cây trứng gà bất tử, Hồ Thủy Giang, 30 tác phẩm được giải cuộc thi viết truyện ngắn cho thanh niên, học sinh, sinh viên, NXB Giáo dục, 2004, tr.189-190)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản.
Câu 2. Theo văn bản, trước khi là con gái nuôi của mẹ, nhân vật tôi có hoàn cảnh như thế nào?
Câu 3. Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: Đối với tôi, cây trứng gà còn giống như một chứng nhân trong cuộc sống của gia đình và của cả cái khối phố nhỏ bé này nữa.
Câu 4. Em hiểu như thế nào về tình cảm của nhân vật tôi dành cho mẹ trong câu văn: Chính tôi chứ không phải ai khác, nếu không có phép tính chia của mẹ: chia đau khổ, chia bất hạnh, chia miếng cơm manh ảo, chia cả sự cảm thông với người đã sinh ra tôi, thì tôi đâu có được như ngày hôm nay.
Câu 5. Từ nội dung văn bản, em hãy đề xuất một giải pháp khả thi để chia sẻ với những người có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống (trình bày bằng một đoạn văn từ 7 đến 10 câu).
II. VIẾT (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ kỷ niệm đẹp thời thơ ấu của nhân vật tôi trong văn bản Đọc hiểu, em hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về vai trò của ký ức tuổi thơ trong cuộc đời mỗi người.
Câu 2 (5,0 điểm)
Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ sau:
Mùa hạ đi đâu
– Hữu Thỉnh –
Bà ơi mùa hạ đi đâu?
Chùm vải trọc đầu trốn biệt trên cây
Tiếng sấm trốn lẫn vào mây
Quạt nan nằm nhớ bàn tay của bà
Sóng gầy, đê doãi chân ra
Mặt trời ngủ sớm, tiếng gà dậy trưa
Khoai sọ mọc chiếc răng thưa
Cóc ngồi cóc nhớ cơn mưa trắng chiều
Nghe bà, cháu mặc đã nhiều
Mà sao cái rét vẫn theo vào nhà
Cháu sà vào lòng của bà
Đôi tai đã buốt, tay xoa ấm dần
Cái lạnh chạy khỏi đôi chân
Hàm răng thôi khỏi va nhầm vào nhau
Bà ơi cháu đã thấy rồi:
Mùa hạ vào ở trong đôi tay bà.
(Trích tập thơ Tiếng hát trong rừng, NXB Hội Nhà văn, tr.57)
Chú thích: Hữu Thỉnh tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Thỉnh, sinh năm 1942, là nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ ông thường viết về thiên nhiên, quê hương, người lính và những vẻ đẹp bình dị trong cuộc sống đời thường; cảm xúc tinh tế, ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh; giọng điệu sâu lắng, suy tư. Mùa hạ đi đâu là một trong những bài thơ hay, tiêu biểu cho phong cách thơ Hữu Thỉnh.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc văn bản, chú ý đại từ xưng hô của người kể.
Lời giải chi tiết:
Ngôi kể thứ nhất
Câu 2.
Phương pháp:
Tìm chi tiết kể về nguồn gốc của nhân vật “tôi” ở phần đầu văn bản. Dựa vào lời kể để xác định hoàn cảnh cụ thể trước khi được mẹ nhận nuôi.
Lời giải chi tiết:
Hoàn cảnh của nhân vật “tôi”: một đứa trẻ bị bỏ rơi ở nhà hộ sinh.
Câu 3.
Phương pháp:
Xác định sự vật được so sánh và hình ảnh dùng để so sánh trong câu văn. Làm rõ tác dụng nhấn mạnh ý nghĩa, vai trò đặc biệt của cây trứng gà đối với gia đình và nhân vật “tôi”.
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ: So sánh. Hình ảnh so sánh: Cây trứng gà được so sánh với một chứng nhân.
- Tác dụng:
+ Làm cho hình ảnh cây trứng gà trở nên sinh động.
+ Nhấn mạnh cây trứng gà đã gắn bó lâu dài, chứng kiến những sự kiện, những đổi thay trong cuộc sống của gia đình và khu phố.
+ Thể hiện tình cảm yêu quý, trân trọng của nhân vật “tôi” đối với cây trứng gà và những kỉ niệm gắn liền với nó.
Câu 4.
Phương pháp:
Phân tích cụm từ “phép tính chia của mẹ” và những điều mẹ đã chia sẻ với người khác. Qua đó làm nổi bật lòng biết ơn, kính trọng và tình yêu thương sâu sắc của nhân vật “tôi” dành cho mẹ nuôi.
Lời giải chi tiết:
- Câu văn thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của nhân vật “tôi” đối với mẹ nuôi.
- Nhân vật “tôi” nhận thức được rằng nhờ tình yêu thương, sự bao dung, lòng nhân hậu và những bài học làm người của mẹ mà mình có được cuộc sống hạnh phúc như hôm nay.
- Đồng thời thể hiện sự kính trọng, yêu thương và trân quý những hi sinh thầm lặng của mẹ.
Câu 5.
Phương pháp:
Nêu một giải pháp cụ thể, thiết thực như quyên góp, giúp đỡ vật chất hoặc chia sẻ tinh thần.
Lời giải chi tiết:
- Tham gia các hoạt động thiện nguyện, quyên góp.
- Ủng hộ sách vở, quần áo, đồ dùng học tập, tiền tiết kiệm phù hợp với khả năng.
- Tích cực tham gia các chương trình giúp đỡ cộng đồng do trường học, địa phương tổ chức.
- …
II. VIẾT
Câu 1.
Phương pháp:
- Giải thích ký ức tuổi thơ là những kỷ niệm đẹp đẽ gắn với những năm tháng đầu đời.
- Phân tích vai trò của ký ức trong việc nuôi dưỡng tâm hồn, tạo động lực sống, giúp con người biết trân trọng gia đình và quá khứ
- Liên hệ bản thân để khẳng định ý nghĩa của ký ức tuổi thơ.
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân đoạn
- Kí ức tuổi thơ là tập hợp những trải nghiệm, sự kiện và cảm xúc của thời thơ ấu, thường bao gồm những kỉ niệm về gia đình, bạn bè, trường học …
- Kí ức tuổi thơ đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nhân cách và định hình cuộc sống của chúng ta:
+ Kí ức tuổi thơ thường ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống và tâm hồn của mỗi cá nhân. Những kỉ niệm vui vẻ, hồn nhiên của thời thơ ấu giúp chúng ta giữ vững niềm tin, sự tinh thần cởi mở và khả năng tưởng tượng. Chúng làm cho cuộc sống trở nên đa dạng, phong phú và đầy ý nghĩa.
+ Kí ức tuổi thơ giúp chúng ta học được nhiều giá trị như tình yêu thương, tình bạn, …
+ …
HS lấy dẫn chứng minh họa phù hợp.
- Mở rộng và liên hệ bản thân
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận
Câu 2.
Phương pháp:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm và khái quát nội dung bài thơ.
- Phân tích chủ đề: tình bà cháu ấm áp, sự yêu thương và chở che của bà được ví như mùa hạ giữa ngày đông lạnh giá.
- Làm rõ các đặc sắc nghệ thuật như thể thơ năm chữ, hình ảnh gần gũi, nhân hóa, câu hỏi tu từ, ngôn ngữ trong sáng giàu sức gợi; cuối cùng đánh giá giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Lời giải chi tiết:
I. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
II. Thân bài
1. Nhan đề bài thơ
- Nhan đề Mùa hạ đi đâu là một câu hỏi ngộ nghĩnh, hồn nhiên của trẻ thơ. Gợi sự tò mò, dẫn dắt người đọc khám phá hành trình của mùa hạ khi mùa đông đến. Thể hiện cách cảm nhận thế giới trong trẻo, giàu trí tưởng tượng của em bé.
2. Bức tranh thiên nhiên và tình yêu thương của bà
a. Bức tranh thiên nhiên khi mùa hạ qua đi
- Những dấu hiệu cho thấy mùa hạ đã rời xa: "Chùm vải trọc đầu trốn biệt trên cây"/ "Tiếng sấm trốn lần vào mây"/ … Thiên nhiên được cảm nhận bằng cái nhìn ngây thơ, giàu liên tưởng.
- Khung cảnh mùa đông hiện lên rõ nét: Sông cạn nước: "Sông gầy..." ; Mặt trời ngủ sớm; Cóc nhớ những cơn mưa mùa hạ; … Tác giả khắc họa sự thay đổi của thời tiết và cảnh vật bằng những hình ảnh gần gũi, sinh động.
b. Hình ảnh người bà và tình bà cháu ấm áp
- Người bà hiện lên gần gũi, yêu thương
+ Bà là người lắng nghe câu hỏi của cháu.
+ Bà chăm sóc, che chở cho cháu trong những ngày đông giá lạnh.
- Tình yêu thương của bà xua tan giá rét: Đôi tay bà sưởi ấm đôi tay, đôi chân cháu: "Đôi tai đã buốt, tay xoa ấm dần" => Đôi tay bà không chỉ mang hơi ấm của cơ thể mà còn chứa đựng tình yêu thương vô bờ bến.
- Ý nghĩa sâu sắc của khổ thơ cuối
"Bà ơi cháu đã thấy rồi:
Mùa hạ vào ở trong đôi tay bà."
Câu thơ là lời phát hiện đầy bất ngờ và xúc động của người cháu: "Mùa hạ" là biểu tượng của sự ấm áp, yêu thương, chở che. Đôi tay bà chính là nơi lưu giữ hơi ấm, tình thương và sự chăm sóc dành cho cháu.
=> Khẳng định tình bà cháu thiêng liêng, sâu nặng.
3. Đặc sắc nghệ thuật
- Thể thơ lục bát nhịp điệu nhẹ nhàng.
- Ngôn ngữ giản dị, gần gũi với trẻ thơ.
- Nhiều biện pháp nhân hóa, so sánh độc đáo.
- Giọng thơ hồn nhiên, trong sáng nhưng giàu cảm xúc.
III. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Đề thi vào 10 môn Văn Thanh Hóa năm 2025
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
NGẨN NGƠ TÌM
- Nguyễn Ngọc Hưng –
|
(1) Sau nhiều năm xa xứ Ngơ ngác lối xưa về Làng đổi thay quá đỗi Đi tìm quê trong quê
(2) Ràng rịt cỏ xanh đê Níu chân - Chào ta đấy Nao nao cò trắng vẫy Đi tìm thơ trong thơ |
(3) Giật mình tỉnh cơn mơ Véo von con sáo sậu Đánh thức miền thơ ấu Đi tìm tôi trong tôi
(4) Ngày xưa ấy đâu rồi Nắng trời bông bưởi trắng Bâng khuâng cầm sợi nắng Đi tìm xuân trong xuân. |
(Dẫn theo Tổng hợp Văn học và Tuổi trẻ 2024, NXB Giáo dục Việt Nam, 2024, tr.32)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2. Trong khổ thơ (3), âm thanh nào đã đánh thức miền thơ ấu của nhân vật tôi?
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa trong hai câu thơ sau:
Ràng rịt có xanh đê
Níu chân - Chào ta đấy
Câu 4. Nhận xét tình cảm của nhân vật tôi dành cho quê hương được thể hiện trong văn bản.
Câu 5. Thông điệp nào có ý nghĩa nhất đối với em được gợi ra từ văn bản trên? Vì sao? (trình bày bằng đoạn văn từ 7 đến 10 câu).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Em hãy viết bài văn nghị luận phân tích nội dung và đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích trong truyện ngắn sau:
BẾN TÀU TRONG THÀNH PHỐ
- Xuân Quỳnh –
(Lược một đoạn: Nhà Hưng ở trong phố nhưng nó không biết ở đây có bến tàu thủy. Hằng ngày, sau buổi học, nó chỉ quanh quẩn trong nhà. Nó hay vẽ, thích nhất là vẽ tàu thủy. Hưng có một người anh khác mẹ tên Hà. Khi bố và mẹ anh chia tay, anh ở cùng mẹ. Nhưng bố mẹ Hưng vẫn rất quan tâm đến anh. Vì mẹ anh đi Liên Xô, anh chuyển đến ở nhà Hưng. Hưng không thích bởi từ nay không còn được chiều chuộng nhất nhà nữa. Anh Hà có đôi mắt xếch nên Hưng nghĩ chắc chẳng hiền.)
Có một hôm Hưng chạy chơi đâu về, thấy một vết mực loang trên cái tranh con tàu thủy để trên bàn mà Hưng vừa mới vẽ, tô màu cẩn thận. Hưng nghĩ ngay là anh Hà cổ ý đánh đổ mực vào tranh. Hưng chộp lấy tờ tranh vò nhàu đi rồi òa lên khóc. Hưng khóc vì tiếc tranh thì ít, vì ức thì nhiều:
- Làm sao thế con? - Mẹ hỏi.
- Anh Hà ... - Hưng vừa nói vừa nức nở. Anh Hà đánh đổ mực ra tranh của con.
- Không phải đâu. - Mẹ Hưng nói. - Không phải đâu, tại con mèo đấy. Ban nãy con mèo nó làm đổ mực tung tóe, anh Hà đã lau bàn và lọ mực, nhưng tranh của con thì không lau được.
- Không phải tại con mèo đâu, - Hưng đổ riệt cho Hà, - tại anh Hà đấy!
- Tại con mèo!
- Tại anh Hà!
- Hưng! Đột nhiên mẹ quát lên, chưa bao giờ Hưng thấy mẹ giận như vậy. Rồi mặt mẹ bỗng buồn hẳn đi, mắt mẹ rơm rớm. - Hưng tại sao con lại nghĩ ác về anh con vậy? [ ... ]
Con phải xin lỗi anh con.
Đến chiều, khi con mèo về ăn cơm, Hưng trông thấy chân con mèo có dính tí mực. Hưng biết là mình đã nghi oan cho anh Hà nhưng vừa tự ái vừa ngượng nên Hưng vẫn lắng lặng chẳng nói gì.
(Lược một đoạn: Đêm ấy, Hưng chủ động làm lành, hai anh em vui vẻ trò chuyện. Một hôm, mẹ đưa hai anh em ra bến tàu chơi. Nghe tiếng còi tàu Hưng thấy nôn nao, tưởng như sắp phải xa anh Hà.)
Bỗng tự nhiên Hưng buột ra tiếng gọi:
- Anh Hà ơi!
- Gì thế?
- Anh ở đây với má và em mãi nhé!
- Mãi thì chắc chả được đâu, nhưng anh còn ở đây lâu, năm năm kia mà.
- Em biết rồi! Nhưng cuối cùng anh vẫn ở xa em, anh đi rồi em chơi với ai? Chẳng lẽ em ra bãi sông một mình, em chạy một mình, em cười một mình à? Chán lắm!
- Hay là, khi nào mẹ anh về, anh sẽ nói với mẹ anh xin chuyển công tác lên đây. Hai đứa ở gần nhau, má sẽ cho anh với Hưng ra bãi sông luôn. Chúng mình sẽ chơi với nhau mãi.
Chợt Hưng bậm môi, cúi đầu xuống rồi ngẳng lên, mếu máo:
- Anh Hà ơi! Anh đừng giận em nhé!
- Giận cái gì kia? - Hà ngơ ngác.
- Về cải chuyện đổ lọ mực ấy.
- À ... Mà anh không nhớ chuyện ấy đâu. Thôi chúng mình về đi, kẻo má đứng lâu một mình, má buồn ...
Hai anh em nắm tay nhau chạy về phía bờ. Đằng sau là con tàu trắng đang đi xa dần.
[ ... ]
(Nhiều tác giả, 65 truyện ngắn hay dành cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng, 2022, tr.236-244)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Đếm số tiếng trong mỗi dòng thơ, quan sát cách tổ chức các dòng thơ và cách gieo vần.
Lời giải chi tiết:
Bài thơ được làm theo thể thơ 5 chữ.
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc khổ thơ (3), tìm hình ảnh âm thanh được nhắc đến trực tiếp. Chú ý câu thơ chứa từ ngữ gợi âm thanh và tác động của nó đối với nhân vật trữ tình.
Lời giải chi tiết:
Trong khổ thơ thứ ba, âm thanh đã “đánh thức miền thơ ấu” của nhân vật tôi chính là âm thanh “véo von” của “con sáo sậu”.
Câu 3.
Phương pháp:
Xác định những từ ngữ gán hoạt động, cử chỉ của con người cho sự vật (“níu chân”, “chào”). Làm rõ vẻ đẹp sinh động của cảnh quê và tình cảm gắn bó, lưu luyến của nhân vật “tôi” với quê hương.
Lời giải chi tiết:
- Nghệ thuật nhân hóa qua cách diễn đạt “Níu chân – Chào ta đấy”.
- Tác dụng:
+ Tạo cách diễn đạt sinh động, giàu hình ảnh.
+ Làm cho “cỏ” vốn vô tri vô giác nay trở nên sống động, gần gũi với con người. Cỏ như đang chào đón con người, níu từng bước chân của người con xa xứ khi trở lại quê hương.
+ Thể hiện tình yêu, sự gắn bó của nhân vật trữ tình với quê hương.
Câu 4.
Phương pháp:
Dựa vào các từ ngữ, hình ảnh thể hiện sự bồi hồi, ngơ ngác, tìm kiếm những dấu ấn quen thuộc của quê nhà.
Khái quát tình yêu quê hương tha thiết, nỗi nhớ và sự gắn bó sâu nặng của nhân vật trữ tình.
Lời giải chi tiết:
- Tình cảm của nhân vật tôi dành cho quê hương:
+ Nhớ quê hương: “Sau nhiều năm xa cách/ Ngơ ngác lối xưa về”.
+ Yêu, gắn bó với quê hương: khao khát tìm về những giá trị xưa cũ, vẻ đẹp êm đềm, bình dị của làng quê: “Đi tìm quê trong quê”.
=> Tình cảm sâu nặng của một người con nặng lòng với quê hương, nguồn cội.
Câu 5.
Phương pháp:
Xuất phát từ nội dung bài thơ về quê hương, tuổi thơ và cội nguồn. Chọn một thông điệp em tâm đắc nhất
Lời giải chi tiết:
+ Trân trọng những kí ức, kỉ niệm tuổi thơ tươi đẹp.
+ Yêu thương, gắn bó với quê hương.
+ Trân trọng những điều bình dị trong cuộc sống.
+ ...
II. VIẾT
Phương pháp:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nội dung đoạn trích.
- Phân tích diễn biến tâm lí của nhân vật Hưng từ ích kỉ, nghi ngờ anh Hà đến nhận ra lỗi lầm, biết yêu thương và gắn bó với anh; qua đó làm nổi bật tình cảm gia đình, tình anh em.
- Chỉ ra các đặc sắc nghệ thuật như xây dựng tình huống truyện tự nhiên, miêu tả tâm lí trẻ em chân thực, ngôn ngữ đối thoại sinh động.
- Đánh giá ý nghĩa nhân văn của đoạn trích và bài học rút ra về sự yêu thương, thấu hiểu trong gia đình.
Lời giải chi tiết:
* Mở bài:
- Giới thiệu truyện ngắn “Bến tàu trong thành phố” của nhà văn Xuân Quỳnh.
- Nêu nhận xét khái quát về truyện ngắn.
* Thân bài:
- Nội dung chủ đề của tác phẩm: Tác phẩm ca ngợi tình cảm gia đình, đặc biệt là tình anh em.
+ Hoàn cảnh: Hưng và Hà là hai anh em cùng cha khác mẹ. Vì mẹ của Hà đi Liên Xô, nên Hà chuyển đến ở cùng Hưng.
--> Hoàn cảnh ấy khiến Hưng không thích, lo lắng từ nay sẽ không được chiều chuộng, yêu thương nhất nhà. Đây là suy nghĩ thường thấy ở trẻ thơ.
+ Tình yêu thương của hai anh em dành cho nhau:
+) Nhân vật anh Hà:
++ Khi thấy con mèo đánh đổ mực ra tranh của em, Hà đã “lau bàn và lọ mực” --> luôn quan tâm đến em.
++ Khi em xin lỗi, Hà vui vẻ trò chuyện, cùng em đi chơi. --> sẵn sàng tha thứ, không trách cứ lỗi lầm của em.
+) Nhân vật Hưng:
++ Ban đầu, Hưng không thích anh Hà, sợ rằng sự xuất hiện của anh Hà sẽ khiến mình không được chiều chuộng nhất nhà như trước.
++ Về sau, Hưng mong muốn “Anh ở đây với má và em mãi nhé!”, “Hay là, khi nào mẹ anh về, anh sẽ nói với mẹ anh xin chuyển công tác lên đây” để hai anh em “ở gần nhau”, “chúng mình sẽ chơi với nhau mãi”.
=> Không muốn rời xa anh, coi anh đã trở thành một phần trong mái ấm gia đình, là điểm tựa, chỗ dựa – người mang đến niềm vui cho mái ấm gia đình.
=> Câu chuyện cảm động về tình anh em cao đẹp.
- Những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật:
+ Tạo dựng tình huống truyện: Tình huống nhân vật Hưng hiểu lầm anh Hà “đánh đổi mực ra tranh” của mình.
--> Tình huống góp phần thể hiện được sự non nớt, bồng bột của nhân vật Hưng. Từ tình huống này, khi mọi chuyện “vỡ lẽ”, nhân vật Hưng đã thay đổi suy nghĩ, nhận thức của bản thân, nhờ đo mà mối quan hệ của Hưng và Hà càng thêm gắn bó và bền chặt.
- Cốt truyện đơn giản, xoay quanh một gia đình với những người con tuy không cùng huyết thống nhưng lại yêu thương, gắn bó với nhau như anh em ruột thịt.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Các nhân vật chủ yếu được khắc họa thông qua lời nói, hành động và suy nghĩ.
- Lựa chọn ngôi kể thứ ba giúp cho câu chuyện trở nên khách quan, lời kể linh hoạt.
- ...
* Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa và giá trị của truyện ngắn “Bến tàu trong thành phố” của Xuân Quỳnh.
Đề thi minh hoạ vào 10 môn Văn Thanh Hoá năm 2025
Đề bài
I. PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Ta đã đi qua những năm tháng không ngờ
Vô tư quá để bây giờ xao xuyến
Bèo lục bình mênh mang màu mực tím
Nét chữ thiếu thời trôi nhanh như dòng sông…
Ta lớn lên bối rối một sắc hồng
Phượng cứ nở hoài như đếm tuổi
Như chiều nay, một buổi chiều dữ dội
Ta nhận ra mình đang lớn khôn…
Biết ơn những cánh sẻ nâu đã bay đến cánh đồng
Rút những cọng rơm vàng về kết tổ
Đã dạy ta với cánh diều thơ nhỏ
Biết kéo về cả một sắc trời xanh…
Biết ơn mẹ vẫn tính cho con thêm một tuổi sinh thành
“Tuổi của mụ” con nằm trong bụng mẹ
Để con quý yêu tháng ngày tuổi trẻ
Buổi mở mắt chào đời, phút nhắm mắt ra đi…
(Nguyễn Khoa Điềm, Trích Chương I: Lời chào, trường ca Mặt đường khát vọng, NXB Văn nghệ giải phóng, 1974)
Câu 1. (0,25 điểm) Đoạn trích trên được làm theo thể thơ gì?
A. Thể thơ tự do
B. Thể thơ lục bát
C. Thể thơ bảy chữ
D. Thể thơ tám chữ
Câu 2. (0,25 điểm) Sắc hồng trong câu thơ Ta lớn lên bối rồi một sắc hồng là của sự vật nào?
A. Hoa mào gà
B. Hoa phượng
C. Chim sẻ
D. Cánh diều
Câu 3. (0,25 điểm) Xét về cấu trúc ngữ pháp, câu thơ Biết ơn những cánh sẻ nâu đã bay đến cánh đồng bị lược bỏ thành phần nào?
A. Thành phần trạng ngữ
B. Thành phần chủ ngữ
C. Thành phần vị ngữ
D. Cả chủ ngữ và vị ngữ.
Câu 4. (0,25 điểm) Những cánh sẻ nâu đã làm gì để khiến nhân vật trữ tình cảm thấy “biết ơn”?
A. Đã rút những vọng rơm vàng về kết tổ.
B. Đã dạy ta với cánh diều, kéo về cả sắc trời xanh.
C. Giúp ta biết quý yêu tháng ngày tuổi trẻ.
D. Giúp ta nhận ra mình đã lớn khôn.
Câu 5. (0,25 điểm) Dòng nào sau đây chứa những hình ảnh đẹp đẽ của năm tháng tuổi trẻ được tác giả nhắc đến trong đoạn trích?
A. Bèo lục bình, nét chữ thiếu thờ, phượng cứ nở, mái trường, những cánh sẻ nâu, cánh đồng, những cọng rơm vàng, cánh diều thơ nhỏ, sắc trời xanh.
B. Bèo lục bình, nét chữ thiếu thờ, phượng cứ nở, những cánh sẻ nâu, cánh đồng, những cọng rơm vàng, cánh diều thơ nhỏ, sắc trời xanh, thầy cô và bè bạn.
C. Bèo lục bình, nét chữ thiếu thờ, phượng cứ nở, những cánh sẻ nâu, cánh đồng, những cọng rơm vàng, cánh diều thơ nhỏ, sắc trời xanh.
D. Bèo lục bình, nét chữ thiếu thờ, phượng cứ nở, những cánh sẻ nâu, cánh đồng, những cọng rơm vàng, cánh diều thơ nhỏ, sắc trời xanh, dòng lưu bút.
Câu 6. (0,25 điểm) Câu thơ: “Nét chữ thiếu thời trôi nhanh như dòng sông…” sử dụng biện pháp tu từ nổi bật nào?
A. So sánh.
B. Điệp ngữ.
C. Nhân hoá.
D. Ẩn dụ.
Câu 7. (0,25 điểm) Khổ thơ cuối giúp em hiểu gì về những khoảng thời gian trong cuộc đời mỗi người?
A. Những khoảng thời gian trong cuộc đời mỗi người đều rất ý nghĩa, thiêng liêng.
B. Trong cuộc đời mỗi con người, thời thơ ấu là thời kì có nhiều niềm vui nhất.
C. Thời gian không bao giờ quay lại nên ta cần trân quý, sử dụng thời gian có ý nghĩa.
D. Phương án A và C đúng.
Câu 8. (0,25 điểm) Ý nào nhận xét không đúng về các hình ảnh được nhắc đến trong đoạn trích?
A. Là những hình ảnh đẹp đẽ, trong sáng về những năm tháng tuổi niên thiếu.
B. Là những hình ảnh gần gũi, quen thuộc với mỗi người.
C. Là những hình ảnh kì vĩ, lớn lao trong những năm tháng ta đã đi qua.
D. Là những hình ảnh gợi cảm xúc về thủa thiếu thời.
Câu 9. (1,0 điểm) Nhận xét về tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình thể hiện qua đoạn trích.
Câu 10. (1,0 điểm) Em hãy rút ra thông điệp ý nghĩa từ đoạn thơ trên. Viết về thông điệp đó bằng một đoạn văn khoảng 8 câu.
II. PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Em hãy phân tích truyện ngắn “Áo Tết” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.
ÁO TẾT
Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho:
- Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi.
Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó.
Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé. Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp Một tới lớp Năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá trời nên tính trước, nếu mùng Một con bé Em đi về ngoại thì mùng Hai hai đứa đi tới nhà cô giáo.
Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.
Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi xách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm:
- Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa?
- Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.
- Vậy mầy được mấy bộ?
- Có một bộ hà.
Con bé Em trợn mắt:
- Ít quá vậy?
- Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.
- Vậy à?
Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.
Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:
- Còn mầy?
- Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng Một tới mùng Bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn.
- Mầy sướng rồi.
Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh Hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới, má nó nói hoài, “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng:
- Bộ đồ mầy mai chắc đẹp lắm, bữa mùng Hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen?
Rồi tới mùng Một, mùng Hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen:
- Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng.
Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em. Thiệt đó.
(Nguyễn Ngọc Tư, Xa xóm mũi (tập truyện), NXB Kim Đồng, Hà Nội 2016)
* Chú thích:
Nguyễn Ngọc Tư (sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau) là một trong những nhà văn nữ nổi tiếng nhất của Việt Nam đương đại. Bà bắt đầu viết văn từ năm 1997, nhanh chóng gây được tiếng vang với những truyện ngắn mang đậm chất Nam Bộ, như "Sông nhỏ lở quanh", "Nước chảy mây trôi", "Cánh đồng bất tận".. Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư thường tập trung vào đề tài cuộc sống của người dân miền Tây sông
nước. Sáng tác của bà thể hiện vốn sống phong phú và một khả năng quan sát tinh tế; lối viết độc đáo và giàu cảm xúc; sử dụng ngôn ngữ giản dị, mộc mạc nhưng vẫn giàu chất thơ, tạo nên những câu chuyện vừa chân thực vừa lãng mạn.
-------------------- Hết ---------------
Lời giải chi tiết
HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT
THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN trithuchub.com
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp: Căn cứ các thể thơ đã học.
Cách giải:
Thể thơ tự do
Chọn A.
Câu 1:
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu.
Cách giải:
Hình ảnh: hoa phượng
Chọn B.
Câu 3:
Phương pháp: Căn cứ các thành phần câu.
Cách giải:
Đó là thành phần chủ ngữ.
Chọn C.
Câu 4:
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu
Cách giải:
Đã dạy ta với cánh diều, kéo về cả sắc trời xanh.
Chọn B.
Câu 5:
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu.
Cách giải:
Bèo lục bình, nét chữ thiếu thờ, phượng cứ nở, những cánh sẻ nâu, cánh đồng, những cọng rơm vàng, cánh diều thơ nhỏ, sắc trời xanh.
Chọn C.
Câu 6:
Phương pháp: Căn cứ bài so sánh.
Cách giải:
Biện pháp: so sánh.
Chọn A.
Câu 7:
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu
Cách giải:
Những khoảng thời gian trong cuộc đời mỗi người đều rất ý nghĩa, thiêng liêng.
Thời gian không bao giờ quay lại nên ta cần trân quý, sử dụng thời gian có ý nghĩa.
=> Phương án A và C đúng.
Chọn D.
Câu 8:
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu
Cách giải:
Là những hình ảnh kì vĩ, lớn lao trong những năm tháng ta đã đi qua.
Chọn C.
Câu 9:
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, phân tích.
Cách giải:
Tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong đoạn trích:
- Xao xuyến, bồi hồi và tiếc nuối về những tháng ngày thơ ấu đẹp đẽ;
- Thể hiện niềm trân trọng đối với những điều bình dị, thân thuộc quanh mình và lòng biết ơn về công lao sinh thành của mẹ.
Câu 10:
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, phân tích.
Cách giải:
HS nêu 01 thông điệp và đưa ra lí giải về ý nghĩa của thông điệp đó. Có thể lựa chọn thông điệp về: ơn nghĩa đối với cha mẹ; về lòng biết ơn; cần biết trận trọng những điều bình dị quanh mình,...
Ví dụ:
- Thông điệp: Trong cuộc sống, mỗi người cần biết nuôi dưỡng lòng biết ơn.
- Lí giải:
+ Lòng biết ơn giúp phát huy, kế thừa truyền thống tốt đẹp, giúp con người sống có tình nghĩa, biết yêu thương, san sẻ, gắn kết giữa con người với con người.
+ Lòng biết ơn giúp con người hoàn thiện về nhân cách, hướng con người ta đến lối sống nghĩa tình, lành mạnh.
+ Lòng biết ơn giúp gây dựng những mối quan hệ tốt đẹp.
Câu 2
Phương pháp: Đọc kĩ văn bản, phân tích, cảm nhận.
Cách giải:
Yêu cầu: Viết bài văn, đủ bố cục ba phần.
Bài làm có thể thực hiện theo nhiều cách, sau đây là gợi ý của Ban chuyên môn Tuyensisnh247.com
1. Giới thiệu tác phẩm truyện và nêu ý kiến khái quát về tác phẩm.
- Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn của miền đất Nam Bộ. Bà là cây bút đa tài, sáng tác thành công ở nhiều thể loại như truyện ngắn, tản văn, tiểu thuyết. Văn phong của Nguyễn Ngọc Tư trong sáng, mộc mạc, thể hiện tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, giàu yêu thương….
- Truyện ngắn "Áo Tết" kể về tình bạn đẹp giữa bé Em và bé Bích. Đó là những đứa trẻ có tâm hồn trong sáng, giàu tình yêu thương. Đọc truyện, chúng ta cảm nhận được tâm hồn trong sáng, tấm lòng nhân hậu của những bạn nhỏ, từ đó biết trân trọng tình bạn.
2. Phân tích truyện
Luận điểm 1: Truyện ngắn “Áo Tết” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa chân thực, sinh động tình cảm yêu thương giữa những người bạn tốt, đó là câu chuyện về tình bạn đẹp của bé Em và Bích rất đáng trân trọng, ngưỡng mộ.
- Tình cảm chân thành, trong sáng, ấm áp yêu thương của bé Em đối với bé Bích – một cô bạn nhà nghèo đã hấp dẫn người đọc ngay từ đầu câu chuyện:
+ Bé Em được sinh ra trong một gia đình khá giả, có cuộc sống đầy đủ, được mẹ yêu thương, chăm sóc và chuẩn bị tất cả điều kiện về vật chất. Còn bé Bích không được may mắn như vậy, gia đình bé khó khăn, em phải sớm chia sẻ công việc gia đình với mẹ. Mặc dù có sự cách biệt về hoàn cảnh sống thế nhưng điều đó không trở thành bức tường cản tình cảm ấm nồng của đôi bạn nhỏ tuổi này. Bé Em và bé Bình chơi thân với nhau từ nhỏ, ngồi cùng bàn học từ lớp một đến hết lớp năm, lúc nào cũng tíu tít như đôi chim sẻ, đi đâu cũng có nhau.
Chính điều này đã thắt chặt tình cảm của hai cô bé, chúng biết yêu thương, thấu hiểu tâm tư, tính cách của nhau và vì thế nên có cách ứng xử rất đẹp, rất đáng trân trọng.
+ Đến ngày tết, bé Em được mẹ mua cho một chiếc váy hồng nơ hoa rất xinh trong số bốn bộ váy mới cô được mẹ mua để mặc tết. Cô rất yêu thích và tưởng tượng cảnh mình diện chiếc váy hồng xinh xắn này thì thật là tuyệt vời biết bao. Bởi đó là bộ đồ rất sang trọng, là niềm mơ ước của biết bao đứa trẻ được một lần khoác lên mình chiếc váy xinh đẹp như các nàng công chúa trong các câu chuyện cổ tích. Phải là người am hiểu thế giới tâm hồn trẻ thơ, thấu hiểu được niềm hạnh phúc của các em nhỏ thì nhà văn Nguyễn Ngọc Tư mới khắc họa sinh động, chính xác tâm lí của những đứa trẻ có được bộ đồ đẹp mặc khoe với bạn bè trong những ngày tết đến vậy.
+ Niềm vui khi có bộ đồ mới, người đầu tiên bé Em muốn chia sẻ là Bích – cô bạn thân: “Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó.”. Nhưng khi đến nhà Bích, trò chuyện với Bích về chuyện quần áo mới đi chơi tết thì: “Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.”. Trong cái cảm giác “mất hứng” ấy của bé Em có cả tình yêu, sự thương cảm, sẻ chia của cô bé đối với hoàn cảnh nghèo túng, thiếu thốn của gia đình Bích. Bởi, hơn ai hết, bé Em hiểu được gia đình Bích nghèo, đông anh em; mẹ làm lụng quanh năm vất vả thì việc sắm sửa cho con cái bộ đồ mới ngày tết đó là cả một điều khó khăn.
+ Dù rất thích chiếc váy mẹ tặng và rất muốn được trưng diện với bạn bè trong ngày tết nhưng bé Em lại không dùng đến chỉ vì nghĩ đến Bích - người bạn thân của mình. Đến ngày tết, cả hai tung tăng sánh bước vui vẻ bên nhau, cùng tươi cười đón chào năm mới, cùng nhau đến chúc tết cô giáo; trong lòng bé. Em chợt trào dâng cảm xúc; “Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân.”. Cách ứng xử của bé Em thật văn hóa, rất đáng trân trọng.
=> Bé Em là một cố bé có tâm hồn trong sáng, trái tim nhân hậu, biết trân trọng tình bạn rất đáng ngợi ca.
- Truyện ngắn “Áo Tết” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư còn khiến người đọc cảm phục trước vẻ đẹp tâm hồn của bé Bích. Đó là một cô bé có tâm hồn trong sáng, giàu tình cảm và hiểu chuyện, biết giúp đỡ mẹ công việc nhà.
+ Bích còn là một đứa trẻ nhưng sinh ra trong gia đình nghèo: “Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền”. Bích sớm nhận thức được hoàn cảnh gia đình khốn khó nên thương mẹ, chia sẻ công việc gia đình với mẹ: “Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi xách cặn cho heo.”.
+ Do gia đình không có điều kiện, lại có nhiều em nên bé Bích nhường quần áo mới cho các em vì vậy bé chỉ có duy nhất một bộ quần áo mới để mặc tết.
Từ nhỏ, bé Bích đã luôn mặc lại quần áo cũ của anh trai, ít khi được mặc một bộ quần áo mới dành cho riêng mình: “Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh Hai nó để lại.”. Bé Em nhìn thấy được điều đó nhưng cũng không thể giúp gì được bạn. Nhưng bản thân Bích cũng không cảm thấy điều đó làm nó buồn, bởi gia đình bé Bích ai cũng vậy: “Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách.”.
+ Dù sinh ra trong một gia đình nghèo, thế nhưng cách anh em Bích sống và chia sẻ với nhau thật đáng trân trọng. Điều đặc biệt là, tất cả anh em cô bé đều yêu thương nhau, hiểu chuyện nên: “Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới,…”.
+ Đối với bé Em, Bích dành tình cảm chân thành và rất tôn trọng bạn. Bởi Bích cảm nhận được tình yêu thật lòng, sự quan tâm chu đáo của bé Em đối với mình. Ở bên bé Em, Bích cảm nhận được sự ấm áp yêu thương của tình bạn.
Bởi vậy, dù bé Em có mặc đồ đẹp, sang trọng hơn Bích thì: “Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé Em. Thiệt đó.”.
=> Bé Bích tuy còn nhỏ nhưng hiểu chuyện, trưởng thành trong suy nghĩ và cũng là một cố bé giàu nghị lực sống, biết trân quý tình bạn, rất đáng để chúng ta noi gương, học tập.
* Luận điểm 2: Để làm nổi bật được tình bạn đẹp của bé Em và bé Bích trong câu chuyện “Áo Tết”, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng những hình thức nghệ thuật đặc sắc.
- Cách kể chuyện tự nhiên, sử dụng ngôi kể thứ ba, giọng kể nhẹ nhàng nhưng sâu lắng, ấm áp tình người làm rung động trái tim người đọc.
- Cốt truyện đơn giản, xoay quanh những sự việc bình dị trong cuộc sống đời thường của những người bạn nhỏ nhưng có sức truyền thấm mạnh mẽ về giá trị của tình bạn.
- Tình huống truyện độc đáo, gợi nhiều liên tưởng, nghĩ suy cho người đọc về những đứa trẻ sinh ra trong gia đình nghèo phải chịu nhiều thiệt thòi so với bạn bè.
- Sử dụng ngôn ngữ đối thoại ngắn phù hợp với tính cách nhân vật và giúp người đọc cảm nhận được tâm hồn trong sáng, nhân hậu của những đứa trẻ.
- Đọc truyện, chúng ta bị lôi cuốn bởi cách sử dụng ngôn ngữ địa phương Nam Bộ rất dễ thương của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Điều này cũng làm nên đặc trưng phong cách rất riêng của nhà văn.
- Nhan đề của truyện phù hợp với tâm lí trẻ thơ, gợi nhiều tò mò cho bạn đọc trẻ; góp phần thể hiện chủ đề của truyện: ca ngợi tình bạn đẹp.
3. Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm truyện.
- Với cách kể chuyện dung dị, chất văn nhẹ nhàng mà thấm đẫm dư vị đời sống thường nhật; cách cho nhân vật trò chuyện tâm tình để bộc lộ được vẻ đẹp tâm hồn của bé Em và bé Bích; nhà văn Nguyễn ngọc Tư đã truyền thấm vào trái tim, tâm hồn, suy nghĩ bạn đọc một bức thông điệp giàu giá trị nhân văn về tình bạn đẹp, đáng trân trọng ở mỗi người.
- Câu chuyện “Áo Tết” có dung lượng ngắn nhưng giàu ý nghĩa sâu xa, gợi nhắc ở mỗi chúng ta cách ứng xử đẹp với bạn bè.
Đề thi vào 10 môn Văn Thanh Hóa năm 2023
Đề bài
PHẦN I. ĐỌC HIỂU Đọc đoạn văn bản sau:
Thử nghĩ mà xem. Một người mặc một chiếc áo kì dị ra đường. Ai đó quyết định phẫu thuật giới tính. Hay một cô gái lấy người đàn ông đã một lần kết hôn. Người ta cười cợt, bàn tán, nói mãi rồi cũng thôi.
Nên thực tế là: Không ai thật sự quan tâm người khác sống ra sao, làm gì. Người ta có thể lời ra tiếng vào lúc bạn bày tỏ ý định. Nhưng về cơ bản họ chẳng quan tâm nếu bạn có làm điều đó hay không. Họ còn mải lo cho cuộc sống của mình.
Bạn hối tiếc vì không nắm bắt lấy một cơ hội nào đó, chẳng có ai phải mất ngủ.
Bạn trải qua những ngày tháng nhạt nhẽo với công việc bạn căm ghét, người ta chẳng hề bận lòng.
Bạn có chết mòn nơi xó tường với những ước mơ dang dở, đó không phải là việc của họ.
Suy cho cùng, quyết định là ở bạn. Muốn làm gì hay không là tùy bạn.
Nên hãy làm những điều bạn thích. Hãy đi theo tiếng nói trái tim. Hãy sống theo cách bạn cho là mình nên sống.
Nhưng, cũng giống như lũ cá, hay những ngọn núi.
Nếu bạn xuống nước khi bơi không giỏi, bạn có thể bị chết đuối.
Nếu bạn đi rừng khi không đủ kinh nghiệm, bạn có thể bị lạc.
Nếu làm gì đó khi chưa chuẩn bị kĩ, bạn sẽ phải trả giá. Thời gian, tiền bạc, sức khỏe, thậm chí là cả mạng sống.
Quyết định là ở bạn. Nên trách nhiệm cũng là của bạn.
Thành công có được là của bạn. Thất bại cũng là do bạn.
Vì không ai quyết định cuộc đời của bạn thay cho bạn, nên cũng không ai gánh thay hậu quả.
Lựa chọn điều mình muốn. Và chịu trách nhiệm cho những gì mình làm. Kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng. Hành trang, dụng cụ, vật phẩm.
Hãy sống theo cách bạn muốn.
(Trích “Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu", Rosie Nguyễn, NXB Hội nhà văn, 2021, tr.162-163)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn văn bản trên.
Câu 2. Xác định thành phần biệt lập trong câu: "Người ta có thể lời ra tiếng vào lúc bạn bày tỏ ý định".
Câu 3. Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến của tác giả: “Nếu làm gì đó khi chưa chuẩn bị kĩ, bạn sẽ phải trả giá. Thời gian, tiền bạc, sức khỏe, thậm chí là cả mạng sống "?
Câu 4. Thông điệp nào có ý nghĩa sâu sắc nhất với anh/chị? Vì sao?
PHẦN II. TẠO LẬP VĂN BẢN (7,0 điểm)
Câu 1. Từ nội dung đoạn văn bản phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của việc làm những điều mình thích.
Câu 2.
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
(Trích “Sang thu”, Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, tập hai, NXBGD Việt Nam, 2018, tr.70)
Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên. Từ đó nhận xét những nét riêng trong cảm nhận về mùa thu của Hữu Thỉnh ở bài thơ “Sang thu”.
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
Câu 2:
Phương pháp:
Căn cứ các thành phần biệt lập.
Cách giải:
Thành phần biệt lập: có thể.
Thành phần tình thái.
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Học sinh tự trình bày theo ý hiểu của bản thân, có lý giải phù hợp.
Gợi ý:
- Trước khi làm bất cứ việc gì, chúng ta cũng cũng cần chuẩn bị thật kĩ. Nếu không công việc sẽ diễn ra không mấy suôn sẻ, dễ dẫn tới việc không như ý.
- Hậu quả của việc chuẩn bị không kĩ là con người phải đối mặt với thất bại, đánh mất tiền bạc, lãng phí thời gian, tổn hại sức khỏe thậm chí cả mạng sống.
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Học sinh tự đưa ra thông điệp sâu sắc nhất được rút ra từ bài đọc hiểu, có lý giải phù hợp.
Gợi ý:
- Thông điệp:
+ Hãy sống theo cách mình muốn.
+ Tự chịu trách nhiệm trước những lựa chọn của bản thân trong cuộc sống.
+ Luôn có sự chuẩn bị kĩ lưỡng trước khi bắt đầu một công việc.
…
II. LÀM VĂN
Câu 1 (2 điểm):
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: ý nghĩa của việc được làm những điều mình thích.
2. Bàn luận
- Làm những việc mình thích được hiểu là được làm những điều mình mong muốn, yêu thích.
- Ý nghĩa của việc được làm những điều mình thích:
+ Khi được làm việc mình yêu thích sẽ có động lực làm việc.
+ Làm việc mình thích sẽ không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng vượt qua mọi thử thách.
+ Được làm việc mình thích tâm trạng vui vẻ, thoải mái nên công việc dễ dàng thành công hơn.
+….
HS lấy dẫn chứng phù hợp.
- Được làm việc đúng công việc mình đam mê, đúng công việc mình yêu thích chính là điều hạnh phúc nhất. Bởi vậy các bạn đừng ngần ngại mà theo đuổi đam mê của chính mình.
3. Liên hệ bản thân và tổng kết vấn đề.
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm Sang thu.
- Giới thiệu khổ thơ 1,2.
2. Thân bài:
2.1. Những tín hiệu báo mùa thu sang.
Bài thơ được mở ra bằng những tín hiệu rất riêng, báo mùa thu về:
+ “Hương ổi”: đi liền với từ “bỗng” gợi cảm giác đột ngột, ngỡ ngàng; “phả” – làn hương ngọt ngào, sánh đậm, mùi ổi chín như được cô lại, phả vào gió thu. “Hương ổi” gợi không gian thơ thân thuộc, yêu dấu của làng quê đất Việt với những khu vườn, lối ngõ sum xuê hoa trái, làm nên hương sắc mỗi mùa; gợi hương vị riêng của mùa thu trong thơ Hữu Thỉnh.
+ “Gió se” là ngọn gió heo may mùa thu dịu nhẹ, thoáng chút se lạnh lúc thu về, giúp ta cảm nhận rõ hơn cái ngọt lành của hương ổi.
+ “Sương chùng chình” – nghệ thuật nhân hóa, gợi dáng vẻ, tâm trạng của làn sương thu. Làn sương lãng đãng như cố ý chậm lại, lưu luyến mùa hè, chưa muốn bước hẳn sang thu.
Hệ thống hình ảnh độc đáo đã diễn tả một cách tài tình cái không khí se lạnh đầu thu và cả cái nhịp điệu chầm chậm của mùa thu về với đất trời.
Đối diện với những tín hiệu báo thu là cái ngỡ ngàng của lòng người:
+ “Hình như” là lối nói giả định, không chắc chắn, phù hợp với những biểu hiện mơ hồ lúc giao mùa – những biểu hiện ấy không chỉ được cảm nhận bằng các giác quan mà còn phải cảm nhận bằng cả một tâm hồn tinh tế.
+ Âm điệu: là tiếng reo vui, ngỡ ngàng lúc thu sang.
Khổ thơ là những cảm nhận mới mẻ, tinh tế của tác giả lúc mùa sang. Ẩn sau những đổi thay của thiên nhiên đất trời lúc sang thu là niềm vui, niềm hạnh phúc của thi nhân.
2.2. Quang cảnh thiên nhiên ngả dần sang thu:
- Được tái hiện vừa chân thực lại vừa sống động:
+ “Sông” “dềnh dàng”: tả thực con sông của mùa thu vô cùng trong trẻo, tĩnh lặng, êm đềm. Nghệ thuật nhân hóa khiến con sông như đang được nghỉ ngơi sau một mùa hạ vất vả với bão giông. Đó cũng là hình ảnh ẩn dụ cho con người qua chiến tranh, lửa đạn, giờ đang chậm lại, cho phép mình được nghỉ ngơi.
+ “Chim” “vội vã”: vừa tả thực những cánh chim bay vội về phương Nam tránh rét, vừa gợi những vội vã, tất bật với lo toan thường nhật của đời người.
+ Phép đối “dềnh dàng” >< “vội vã” làm nổi bật hai động thái trái ngược của thiên nhiên mà cũng là sự vận động của thiên nhiên giao mùa.
Được khắc họa rất ấn tượng:
+ “Đám mây mùa hạ” được hữu hình hóa, vừa thực vừa hư, tái hiện được nhịp điệu của thời gian, là một chiếc cầu nối liền những ngày cuối hạ và đầu thu để sự chuyển giao giữa hai mùa không đứt đoạn.
+ Đám mây mang cả lớp nghĩa thế sự, gợi trạng thái giao thời của đời sống khi đất nước chuyển giao từ chiến tranh sang hòa bình.
=> Khoảnh khắc giao mùa hiện lên tinh tế, sống động qua những câu thơ rất giàu chất tạo hình. Ẩn sau những hình ảnh thiên nhiên lúc thu sang ấy còn là hình ảnh của đời sống lúc sang thu.
=> Nhận xét về nét riêng trong cách cảm nhận mùa thu của Hữu Thỉnh:
- Ông cảm nhận mùa thu bằng những nét đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ: gió se, sương.
- Cảm nhận qua những hình ảnh bình dị lại vô cùng độc đáo: hương ổi.
- Cảm xúc đi từ ngỡ ngàng “hình như” đến vui vẻ “sang thu”.
-….
=> Cảm nhận độc đáo, tinh tế.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề.
Đề thi vào 10 môn Văn Thanh Hóa năm 2022
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) Đọc văn bản sau:
Một ngày nọ, người bố giàu có dẫn cậu con trai của mình thăm thú một ngôi làng. Người bố muốn cho con trai của mình thấy một người nghèo có thể nghèo đến mức nào. Họ đã dành thời gian tham quan cánh đồng của một gia đình nghèo. Sau khi trở về, người bố hỏi cậu con trai:
-Con thấy chuyến đi thế nào?
-Rất tuyệt bố ạ!
Người bố hỏi:
-Con đã thấy người nghèo sống thế nào chưa?
- Vâng, con thấy rồi a!
- Vậy nói cho bố nghe, con học được gì từ chuyến đi này?
Cậu bé trả lời:
-Chúng ta có một con chó, họ có bốn. Chúng ta có bể bơi, họ có những con sông. Chúng ta dùng đèn vào ban đêm, còn họ có những ngôi sao. Chúng ta có những bức tường để bảo vệ mình, họ có bạn bè. Chúng ta có ti vi, còn họ dành thời gian cho gia đình và họ hàng.
Cậu bé nói thêm:
-Cảm ơn bố đã cho con thấy chúng ta nghèo như thế nào!
Người bổ vô cùng ngạc nhiên, ông nhìn cậu con trai, mỉm cười đáp:
- Chúng ta không giàu có chỉ vì có nhiều tiền. Tình yêu, lòng trắc ẩn, gia đình, tình bạn, những giá trị đích thực mới khiến chúng ta thực sự giàu có con ạ!
(“Cảm ơn bố đã cho con thấy chúng ta nghèo như thế nào!”, dẫn theo http://quantrimang.com/cau-chuyen-y-nghia-ve-cuoc-song, 2018)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên.
Câu 2. Theo văn bản, người bố muốn cho con trai của mình thấy điều gì khi dẫn con thăm thú một ngôi làng?
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong đoạn văn: “Chúng ta có những bức tường để bảo vệ mình, họ có bạn bè. Chúng ta có ti vi, còn họ dành thời gian cho gia đình và họ hàng”.
Câu 4. Anh/chị có đồng tình với quan điểm của người bố “Tình yêu, lòng trắc ẩn, gia đình, tình bạn, những giá trị đích thực mới khiển chúng ta thực sự giàu có” trong văn bản không? Vì sao?
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. Từ nội dung văn bản phần đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về ý nghĩa của sự trải nghiệm đối với mỗi người trong cuộc sống.
Câu 2.
Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã và then, đêm sập của
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khởi,
Cầu hát cùng buồn cùng gió khơi.
Hát rằng, có học biển Đông lặng,
Cả thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muốn luồng sáng.
Đến dệt lưới ta, đoàn có ơi!
(Trích "Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận, Ngữ văn 9, tập một, NXBGD Việt Nam, năm 2018, tr: 1339, tr:140)
Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên. Từ đó nhận xét về vai trò của những con người lao động đời thường trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1:
|
Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên |
Phương pháp: Căn cứ bài các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: Tự sự.
Câu 2:
|
Theo văn bản, người bố muốn cho con trai của mình thấy điều gì khi dẫn con thăm thú một ngôi làng? |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Theo đoạn trích, người bố muốn cho con trai mình thấy một người nghèo có thể nghèo đến mức nào.
Câu 3:
|
Nêu tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong đoạn văn: “Chúng ta có những bức tường để bảo vệ mình, họ có bạn bè. Chúng ta có ti vi, còn họ dành thời gian cho gia đình và họ hàng”. |
Phương pháp: Căn cứ bài liệt kê, phân tích.
Cách giải:
Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê: Nhấn mạnh những thứ người con có và những thứ người nghèo có, từ đó ngầm nhắc nhở người con về giá trị thực sự trong cuộc sống.
Câu 4:
|
Anh/chị có đồng tình với quan điểm của người bố “Tình yêu, lòng trắc ẩn, gia đình, tình bạn, những giá trị đích thực mới khiển chúng ta thực sự giàu có” trong văn bản không? Vì sao? |
Phương pháp: Phân tích, lí giải.
Cách giải:
Học sinh tự đưa ra quan điểm của bản thân mình. Có lý giải phù hợp.
Gợi ý:
- Đồng tình.
- Lý giải:
Tiền bạc đáp ứng cho chúng ta nhu cầu về vật chất nhưng tình yêu, lòng trắc ẩn, gia đình, tình ban là những giá trị đích thực nó khiến cuộc sống của con người trở nên có ý nghĩa, nó giúp con người vượt qua những khó khăn thử thách trong cuộc sống. Đó mới chính là giá trị, là sự giàu có của con người.
II. LÀM VĂN:
Câu 1:
|
Từ nội dung văn bản phần đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về ý nghĩa của sự trải nghiệm đối với mỗi người trong cuộc sống. |
Phương pháp: Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
a. Yêu cầu hình thức: Viết đoạn văn khoảng 200 chữ
b. Yêu cầu về mặt nội dung:
* Xác định đúng yêu cầu nghị luận: Ý nghĩa của sự trải nghiệm.
- Giải thích: Sự trải nghiệm là việc con người tự mình trải qua những vấn đề trong cuộc sống trên tinh thần tiếp thu, học hỏi.
- Ý nghĩa của sự trải nghiệm:
+ Trải nghiệm đem lại sự hiểu biết và kinh nghiệm thực tế giúp ta trưởng thành về suy nghĩa, bồi đắp tình cảm.
+ Trải nghiệm là cơ hội để con người nhìn lại chính mình, từ đó cố gắng hoàn thiện bản thân mình hơn.
+ Trải nghiệm giúp con người khám phá sự sáng tạo của chính bản thân mình.
+ Trải nghiệm sẽ giúp con người tạo dựng được những mối quan hệ có ích trong xã hội.
- Mở rộng, bàn luận:
+ Thiếu trải nghiệm sẽ khiến con người trở nên thụ động, khép mình.
+ Con người cần nhận thức vai trò quan trọng của trải nghiệm cuộc sống.
Câu 2:
|
Mặt trời xuống biển như hòn lửa. Sóng đã và then, đêm sập của Đoàn thuyền đánh cá lại ra khởi, Cầu hát cùng buồn cùng gió khơi.
Hát rằng, có học biển Đông lặng, Cả thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muốn luồng sáng. Đến dệt lưới ta, đoàn có ơi! (Trích "Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận, Ngữ văn 9, tập một, NXBGD Việt Nam, năm 2018, tr: 1339, tr:140) Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên. Từ đó nhận xét về vai trò của những con người lao động đời thường trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay. |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Huy Cận, tác phẩm Đoàn thuyền đánh cá.
- Khái quát vấn đề nghị luận: Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi từ đó nhận xét về vai trò của những người lao động đời thường trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.
2. Thân bài:
1. Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi (2 khổ đầu):
* Được xây dựng trên nền của một buổi hoàng hôn tuyệt đẹp.
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa”
- Hình ảnh so sánh độc đáo trong câu 1:
+ Điểm nhìn nghệ thuật: nhìn từ con thuyền đang ra khơi.
+ Thời gian: hoàng hôn -> sự vận động của thời gian.
+ Quang cảnh hùng vĩ của bầu trời lúc chiều tà -> vẻ đẹp kì vĩ, tráng lệ của cảnh hoàng hôn trên biển.
- Biện pháp tu từ nhân hóa:
+ Được sáng tạo từ chi tiết thực: những con sóng cài ngang như chiếc then cửa của vũ trụ. Bóng đêm “sập
cửa” gợi khoảnh khắc ánh ngày vụt tắt và màn đêm bất ngờ buông xuống bao trùm tất cả.
+ Gợi không gian vũ trụ rộng lớn, mênh mông, kì vĩ mà vẫn gần gũi, ấm áp như ngôi nhà của con người.
* Hình ảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi:
- “Lại”:
+ Chỉ một sự kiện lặp đi lặp lại.
+ Chỉ sự trái chiều vì khi vũ tru đã kết thúc một ngày dài để lắng vào yên nghỉ thì đoàn thuyền đánh cá lại bắt
đầu một cuộc lao động mới.
-> Gợi một nhịp sống thanh bình của quê hương, đất nước. sau bao năm tháng chiến tranh con ngườ Việt Nam
mới có một cuộc sống lao động bình yên.
- “Câu hát căng buồm cùng gió khơi”:
+ Kết hợp hai hình ảnh: “câu hát” – “gió khơi” -> cụ thể hóa sứ mạnh đưa con thuyền ra khơi.
+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “câu hát căng buồm” -> tái hiện vẻ đẹp tâm hồn, niềm vui lao động của người
dân chài.
-> Đoàn thuyền ra khơi trong niềm vui lao động.
* Câu hát của người dân chài:
- Biện pháp liệt kê: “cá bạc”, “cá thu”…-> sự giàu có của biển.
- Bút pháp tả thực kết hợp với trí thưởng tượng phong phú:
+ Tả đàn cá thu giống như con thoi đang bơi lượn mà như dệt tấm vải giữa biển đêm bừng muôn luồng sáng -
> liên tưởng đến dệt lưới của đoàn thuyền.
+ Gợi những vệt nước ấp lánh khi đàn cá bơi lội.
+ Niềm vui của người dân chài. Những đàn cá như thoi đứa là niềm hứa hẹn chuyến về bội thu “khoang đầy
cá nặng”
=> Hai khổ đầu, tác giả phác họa thành công một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng. Qua đó, ông đã
làm hiện lên cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi và tâm hồn phóng khoáng, tràn đầy niềm vui, niềm hi vọng
của người lao động mới.
2. Nhận xét về vai trò của những người lao động đời thường trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.
- Họ là những người dân lao động bình dị nhưng lại góp sức mình trong công cuộc xây dựng đất nước.
- Chính những người dân lao động đã tạo nên đất nước tươi đẹp.
Đề thi vào 10 môn Văn Thanh Hóa năm 2021
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
Tình yêu thương chân thật thường rất vị tha. Người có tình yêu thương chân thật thường nghĩ nhiều đến hạnh phúc của người khác hơn là của bản thân mình. Tình yêu ấy làm cho chúng ta thay đổi bản thân và ngày một trưởng thành hơn. Tình yêu thương chân thành và sâu sắc bao giờ cũng trường tồn ngay cả sau khi người đó đã từ giã cõi đời. Tuy nhiên, yêu thương không được bày tỏ thì không bao giờ đạt được ý nghĩa đích thực của nó (...)
Hãy bày tỏ tình yêu thương với mọi người xung quanh ngay khi chúng ta còn hiện diện trong cuộc sống này. Hãy nhớ rằng tình yêu thương là ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời của mỗi chúng ta. Bạn đừng ngần ngại khi muốn nói với ai đó rằng bạn rất yêu quý họ!
(Trích Cho đi là còn mãi, Azim Jamal & Harvey McKinnon, NXBTrẻ, 2010, tr. 56-57)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 2. Theo đoạn trích, người có tình yêu thương chân thật thường nghĩ gì?
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong câu văn: Hãy nhớ rằng tình yêu thương là ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời của mỗi chúng ta.
Câu 4. Anh/chị có đồng tình với nhận định của tác giả: yêu thương không được bày tỏ thì không bao giờ đạt được ý nghĩa đích thực của nó? Vì sao?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sac nhanh của tinh yêu thương trong cuộc sống,
Câu 2.
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim.
Mai về miền Nam trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn nảy.
(Trích Viếng lăng Bác, Viễn Phương, Ngữ văn 9, Tập hai NXB Giáo dục Việt Nam 2015, tr. 58)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
|
Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. |
Phương pháp: căn cứ các phương thức biểu đạt đã học
Cách giải:
Phương thức biểu đạt: Nghị luận
Câu 2:
|
Theo đoạn trích, người có tình yêu thương chân thật thường nghĩ gì? |
Phương pháp: căn cứ nội dung đoạn trích
Cách giải:
Theo đoạn trích người có tình yêu thương chân thật thường nghĩ đến hạnh phúc của người khác hơn là của bản thân mình.
Câu 3.
|
Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong câu văn: Hãy nhớ rằng tình yêu thương là ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời của mỗi chúng ta. |
Phương pháp: căn cứ bài So sánh
Cách giải:
Biện pháp tu từ: So sánh (tình yêu thương so sánh với ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời mỗi chúng ta)
Câu 4.
|
Anh/chị có đồng tình với nhận định của tác giả: yêu thương không được bày tỏ thì không bao giờ đạt được ý nghĩa đích thực của nó? Vì sao? |
Phương pháp: phân tích, lí giải
Cách giải:
Học sinh có thể trình bày theo suy nghĩ của mình, có lý giải.
Gợi ý:
- Đồng tình.
- Giải thích:
+ Tình yêu thương cần được bày tỏ để phát huy tác dụng của nó, lan tỏa đến mọ người, tạo động lực cho mọi người.
+ Khi bày tỏ tình yêu thương cả n gười cho và người nhận mới nhận được giá trị toàn diện nhất mà nó mang lại.
II. LÀM VĂN
Câu 1.
|
Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sac nhanh của tinh yêu thương trong cuộc sống |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp
Cách giải:
1. Mở đoạn
- Dẫn dắt, nêu vấn đề cần nghị luận: sức mạnh của tình yêu thương.
2. Thân Bài
a) Giải thích
-Tinh yêu thương là cái gốc của nhân loại, là sợi dây vô hình gắn kết con người với con người, thể hiện trong nhiều mối quan hệ: cha mẹ - con cái, vợ - chồng, anh - em, ông bà - cháu, tình bạn, tình yêu đôi lứa, tình cảm giữa người với người dù không cùng màu da, sắc tộc, ...
b) Phân tích
Biểu hiện của tình yêu thương: hỏi han, quan tâm, động viên, chia sẻ, giúp đỡ nhau vế vật chất và tinh thần, chăm sóc khi đau ốm, ...
-Tinh yêu thương có sức mạnh vô cùng to lớn:
+ Cho ta chỗ dựa tinh thẩn để niềm vui được nhân lên, nỗi buổn được giải tỏa; cho ta sự giúp đỡ khi cần.
+ Nhờ được yêu thương, ta có cảm giác mình không đơn độc, một mình, có đủ dũng khí để vượt qua những điều tưởng như không thể.
+ Tinh yêu thương giúp con người biết cảm thông, thấu hiểu, vị tha; để con người có thêm nhiều cơ hội hiểu nhau, sống tốt đẹp, thân ái với nhau hơn. -I-Tinh yêu thương có thể cảm hóa cái xấu, cái ác; xóa bỏ những ngăn cách, hận thù, làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp, nhân văn (Thí sinh lấy dẫn chứng trong văn học và thực tế.)
Xã hội khống có tình yêu thương sẽ chỉ toàn điều ích kỉ, dối trá, lừa lọc, tàn nhẫn.
c) Bàn luận
-Tinh yêu thương phải thật lòng, phải xuất phát từ trái tim.
Những người đón nhận tình yêu thương cũng phải cho đi yêu thương. "Bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũng phảng phất hương thơm."
Phê phán những biểu hiện sống thờ ơ, vô cảm, thiếu ý thức về tình yêu thương, không biết trân trọng những điều ý nghĩa có được từtình yêu thương.
3. Kết đoạn
Khẳng định: "Con người sống không có tình thương cũng giống nhưvườn hoa không có ánh nâng mặt trời. Không có gì đẹp đẽ và hữu ích có thể nảy nở trong đó được"-Vích-to Huỵ-gỏ.
Bài học nhận thức và hành động; liên hệ bản thân.
Câu 2.
|
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim.
Mai về miền Nam trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn nảy. (Trích Viếng lăng Bác, Viễn Phương, Ngữ văn 9, Tập hai NXB Giáo dục Việt Nam 2015, tr. 58) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Mở bài
- Giới thiệu vài nét về tác giả Viễn Phương- là một cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời chống Mĩ cứu nước
- Vài nét về bài thơ “Viếng lăng Bác”- bài thơ là dòng cảm xúc nghẹn ngào của tác giả khi đến thăm lăng, nó còn là một nén hương thơm dâng lên chủ tịch Hồ Chí Minh
- Vị trí đoạn thơ: trích trong phần cuối của văn bản, nói về cảm xúc của tác giả khi trực tiếp trông thấy di hài Bác và trước lúc ra về.
2. Thân bài
a. Cảm xúc khi vào lăng, nhìn thấy di hài Bác (Khổ 3)
- “Giấc ngủ bình yên”: nói giảm nói tránh nhằm giảm đi nỗi đau, vừa thể hiện thái độ nâng niu, trân trọng giấc ngủ của Bác.
- “vầng trăng sáng dịu hiền”: nhân hóa chỉ ánh đèn tỏa ra từ lăng, đó cũng là ẩn dụ chỉ vẻ đẹp tâm hồn thanh cao của Người
- “Trời xanh”: ẩn dụ Bác trường tồn, vĩnh hằng cùng non sông đất nước
- Nhà thơ dùng nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “nghe nhói ở trong tim”, nhà thơ như nghe thấy nỗi đau cứ nhức nhối như cắt cứa trong tim mình
⇒ Cảm xúc trong lăng của nhà thơ với Bác thành kính mà xúc động
b. Những tình cảm, cảm xúc trước lúc ra về (Khổ 4)
- “Mai về miền Nam thương trào nước mắt”: cảm xúc trực tiếp lưu luyến không muốn rời xa
- Phép liệt kê, ẩn dụ “con chim, đóa hoa, cây tre” cùng với điệp ngữ “muốn làm”: niềm dâng hiến tha thiết, mãnh liệt, muốn làm một điều gì đó vì Bác
- Hình ảnh cây tre được lặp lại tạo kết cấu đầu cuối tương ứng
⇒ Chủ thể “con” đến đây không xuất hiện thẻ hiện ước nguyện này không phải của riêng tác giả mà là của tất cả mọi người, của dân tộc ta đối với Bác.
c. Nghệ thuật của đoạn thơ
- giọng điệu thành kính, thiêng liêng của tác giả dành cho vị cha già kính yêu của dân tộc
- Các hình ảnh thơ gần gũi, trong sáng, đẹp đẽ
- Sử dụng nhuần nhuyễn các biện pháp nghệ thuật đặc biệt là phép ẩn dụ.
- Ngôn ngữ thơ giản dị mà cô đọng
3. Kết bài
- Tổng kết những thành công về nội dung, nghệ thuật làm nên đoạn thơ và góp phần làm nên thành công của tác phẩm.
Đề thi vào 10 môn Văn Thanh Hóa năm 2020
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
Mỗi một người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận. Đó là lí do để chúng ta không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác. Cha mẹ ta, phần đông, đều làm công việc rất đỗi bình thường. Và đó là một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy. Để trân trọng. Không phải để mặc cảm. Để bình thản tiến bước. Không phải để tự ti. Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả đều là bác sĩ nổi tiếng thì ai sẽ là người dọn vệ sinh bệnh viện? Nếu tất cả đều là nhà khoa học thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau? Nếu tất cả đều là kĩ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chip vào máy tính? Phần đông chúng ta cũng sẽ là người bình thường. Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày."
(Phạm Lữ Ân, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, NXB Hội Nhà văn năm 2012)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Theo tác giả, một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy là gì?
Câu 2: Xác định một phép liên kết được sử dụng trong câu: Phần đông chúng ta cũng sẽ là người bình thường. Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày.
Câu 3: Nêu tác dụng của câu hỏi tu từ trong những câu sau: Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả đều là bác sĩ nổi tiếng thì ai sẽ là người dọn vệ sinh bệnh viện? Nếu tất cả đều là nhà khoa học thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau? Nếu tất cả đều là kĩ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chip vào máy tính?
Câu 4: Em có đồng tình với quan điểm của tác giả “Mỗi một người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận” không? Vì sao?
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1: (2.0 điểm)
Từ nội dung phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ, trình bày sự cần thiết của việc vươn lên từng ngày ở mỗi người.
Câu 2: (5.0 điểm)
Phân tích tình cảm sâu đậm của ông Sáu dành cho con trong đoạn trích Chiếc lược ngà – Nguyễn Quang Sáng.
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1:
|
Theo tác giả, một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy là gì? |
Phương pháp: căn cứ đoạn trích
Cách giải:
Theo tác giả, một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy là phần đông, cha mẹ ta đều làm công việc rất đỗi bình thường.
Câu 2:
|
Xác định một phép liên kết được sử dụng trong câu: Phần đông chúng ta cũng sẽ là người bình thường. Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày. |
Phương pháp: căn cứ bài Liên kết câu, đoạn văn
Cách giải:
Phép nối: từ nối “nhưng”.
Câu 3:
|
Nêu tác dụng của câu hỏi tu từ trong những câu sau: Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả đều là bác sĩ nổi tiếng thì ai sẽ là người dọn vệ sinh bệnh viện? Nếu tất cả đều là nhà khoa học thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau? Nếu tất cả đều là kĩ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chip vào máy tính? |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Tác dụng của câu hỏi tu từ:
+ Nhấn mạnh mỗi người sẽ làm những công việc khác nhau. Vì vậy mỗi ngườ sẽ có vai trò, sự đóng góp khác nhau cho cuộc đời.
+ Thể hiện sự tha thiết, chân thành của người viết.
+ Câu hỏi tu từ kết hợp với điệp cấu trúc còn tạo nên nhịp điệu cho đoạn văn.
Câu 4:
|
Em có đồng tình với quan điểm của tác giả “Mỗi một người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận” không? Vì sao? |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Học sinh nêu ý kiến của riêng mình. Giải thích phù hợp với các quan điểm đạo đức, pháp luật.
Gợi ý:
Đồng tình. Vì:
- Mỗi người sinh ra sẽ có khả năng khác nhau, không có ai là toàn năng.
- Dù đóng góp trên lĩnh vực nào cũng là góp phần xây dựng xã hội, xây dựng thế giới tốt đẹp.
- Mọi sự đóng góp, cống hiến đều đáng được trân trọng.
-…
Phần II
Câu 1
|
Từ nội dung phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ, trình bày sự cần thiết của việc vươn lên từng ngày ở mỗi người. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: sự cần thiết của việc vươn lên từng ngày ở mỗi người.
2. Giải thích vấn đề:
-Vươn lên là cố gắng tiến tới, đạt tới cái tốt hơn, đẹp hơn trong cuộc sống.
=> Vươn lên trong cuộc sống là điều cần thiết và quan trọng với mỗi cá nhân để làm cho cuộc sống của bản tốt hơn, để làm cho xã hội ngày càng phát triển.
3. Phân tích, bàn luận vấn đề
- Tại sao cần phải vươn lên từng ngày trong cuộc sống?
+ Cuộc sống luôn chứa vô vàn khó khăn, thử thách nếu không nỗ lực vươn lên con người sẽ bị tụt lùi so với cộng đồng xã hội và đến một thời điểm nào đó sẽ trở nên lạc lõng, lạc loài.
+ Sự vươn lên từng ngày thể hiện ý chí mạnh mẽ, tinh thần bền bỉ, cầu tiến của mỗi cá nhân.
+ Người luôn biết vươn lên từng ngày sẽ học hỏi được nhiều điều trong cuộc sống và gặt hái thành công.
+ …
- Để vươn lên trong cuộc sống, mỗi cá nhân cần hoàn thành tốt, đúng thời hạn các mục tiêu mà mình đã đề ra. Đặt ra mục tiêu cụ thể và không ngừng nỗ lực, cố gắng để đạt được chúng;…
- Phê phán những người sống dựa dẫm, thối chí, không có tinh thần cầu tiến trong cuộc sống.
4. Liên hệ bản thân và tổng kết
Câu 2
|
Phân tích tình cảm sâu đậm của ông Sáu dành cho con trong đoạn trích Chiếc lược ngà – Nguyễn Quang Sáng. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm
- Nguyễn Quang Sáng là nhà văn tiêu biểu trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
- Chiếc lược ngà được sáng tác năm 1966, khi tác giả đang hoạt động ở chiến trường Nam Bộ trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt. Được đưa vào tập truyện cùng tên.
- Khái quát câu chuyện: Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến, mãi mới có dịp về thăm nhà. Ông hi vọng gặp lịa đứa con sau tám năm xa cách chưa một lần gặp mặt. Mấy ngày đầu, bé Thu không nhận ba do vết thẹo trên mặt ông Sáu làm ông không giống với người cha chụp chung bức hình với má mà em biết. Em đối xử với ba như với người xa lạ. Lúc nghe bà ngoại nói, bé Thu mới nhận ra cha, tình cha con trỗi dậy mãnh liệt trong em cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. Ở khu căn cứ, người cha dồn hết tình cảm yêu nhớ con vào việc làm một chiếc lược ngà tặng con. Nhưng chưa kịp trao tận tay con, ông đã hi sinh trong một trận càn. Lúc ông hấp hối, ông đã nhờ đồng đội chuyển chiếc lược ngà cho con.
2. Phân tích tình cảm ông Sáu dành cho bé Thu
a. Khi còn ở rừng
- Nhớ thương con, khao khát được gặp con, sống trong tình yêu con
b. Khi gặp con ở bến xuồng
- Trở về sau tám năm xa cách, không thể chờ thuyền cập bến mà nhón chân nhảy thót lên bờ, xua xuồng tạt ra. Rồi ông bước vội những bước dài, kêu to tên con, khom người dang tay đón.
- Khi gặp con, vết thẹo dài trên má đỏ ửng, giần giật, giọng lắp bắp, run run: “Ba đây con”. Nỗi nhớ khiến ông không kiềm nổi sự vội vàng.
- Khi con không nhận ra, bỏ chạy “anh đứng sững lại đó, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy.” Đó là tâm trạng đau khổ, hụt hẫng, thất vọng.
c. Trong ba ngày nghỉ phép ở nhà
- Ông chẳng dám đi đâu xa, tìm cách gần gũi con để hi vọng được nghe tiếng gọi ba.
- Mọi sự cố gắng của ông từ việc giả ngờ không nghe đến việc dồn nó vào thế bí chắt nước nồi cơm sôi đều không có kết quả.
- Trong bữa ăn do nôn nóng, thiếu bình tĩnh, ông đã đánh con. Ông không trách cứ mà chỉ lắc đầu cam chịu, vì tình cảm không dễ gì gượng ép.
- Lúc chia tay, sợ con lại bỏ chạy “anh chỉ đứng nhìn nó, anh nhìn với đôi mắt trìu mến xen lẫn buồn rầu.”
- Khi con nhận ra ba, gọi ba ông đã xúc động đến phát khóc “rút khăn lau nước mắt”. Đó là giọt nước mắt hạnh phúc của người cha.
d. Khi trở về khu căn cứ
- Ông day dứt ân hận mãi vì nóng giận đánh con.
- Lời dặn ngây thơ của con ngày chia tay luôn vang lên trong tâm trí đã thôi thúc ông cố công làm ra chiếc lược ngà.
- Khi kiếm được khúc ngà, ông “hớn hở như một đứa trẻ tìm được quà”, rồi ông dành hết tâm trí, công sức vào việc làm ra cây lược “Anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc” và khắc lên đó dòng “Yêu nhớ tặng Thu – con của ba.”
- Chiếc lược phần nào gỡ rối được tâm trạng của người cha. Nhớ con, ông cây lược ra mài lên tóc cho thêm bóng thêm mượt.
- Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ trở thành một nghệ nhân, sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất, kết tinh tình phụ tử mộc mạc mà kì diệu.
- Nhưng rồi chưa kịp trao cho con, ông đã hi sinh trong một trận càn của giặc. Lúc hấp hối, ông trao cây lược cho người đồng đội, nhờ trao tận tay cho con ông mới nhắm mắt.
=> Cử chỉ ấy cho ta hiểu tình cha con thắm thiết và mãnh liệt của ông Sáu. Đó là ước nguyện cuối cùng của tình phụ tử.
3. Kết bài
Tổng kết về giá trị nội dung và nghệ thuật.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
